Docstoc

PHAN_TICH_KY_THUAT_-_DA_CHINH_SUA__1_

Document Sample
PHAN_TICH_KY_THUAT_-_DA_CHINH_SUA__1_ Powered By Docstoc
					Chúng ta mải đi tìm những cái thật cao siêu, nhưng hãy xem lại!. Chỗ dựa vững
chắc nhất đang ở ngay dưới chân ta.
Em bảo anh bán đi
Sao anh ham giữ lại?
Em bảo: còn đỏ tiếp
Sao anh cố cãi xanh?

Bảng điện tử màu đỏ,
Và mắt em màu xanh
Sao anh nhìn bảng giá,
Chẳng nói em câu nào?



      PHÂN TÍCH KỸ THUẬT (SƯU TẦM TỪ INTERNET)
      PHẦN I – TỔNG QUAN VÀ CÁC MÔ HÌNH CƠ BẢN
                                     Phân tích kĩ thuật P.1
Thị trường chứng khoán đang trở thành một điểm nóng thu hút sự quan tâm rất lớn của mọt đối tượng
trong xã hội. Cùng với sự quan tâm đó, giới tham gia thị trường chứng khoán cũng bắt đầu quan tâm đến
những kĩ thuật ứng dụng trong phân tích và đánh giá để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp. Hai hệ thống kĩ
thuật phân tích được nói đến nhiều nhất là phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật. Trong khi đa số chúng ta
đều ít nhiều có những kiến thức nhất định về phân tích cơ bản thì số lượng người hiểu và nắm về phân tích
kĩ thuật còn hạn chế, hơn thế nữa khả năng ứng dụng và tính chính xác của nó còn là một vấn đề đang bàn
cãi hàng trăm năm nay. Để thành viên Saga cũng có kiến thức nhất định về khía cạnh phân tích kĩ thuật,
chúng tôi quyết định cung cấp loạt bài nghiên cứu về phân tích cơ bản. Đây là loạt bài lấy từ bài nghiên
cứu của hai thành viên của Saga. Hy vọng có thể giúp các bạn một chút về kiến thức và nhận được góp ý
của các Saganors.

                        ---------------------------------------------------------------------

Lịch sử hình thành
Lịch sử của Phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ cách đây hơn 100 năm, từ một người tên là Charles H. Dow.
Ông là người đã sáng lập lên tạp chí phố Wall (The Wall Street Journal). Sau nhiều năm nghiên cứu, năm
1884 ông đưa ra chỉ số bình quân của giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan trọng nhất thị trường Mĩ thời
gian đó. William Peter Hamilton là người thực sự mang lại sức sống cho những nghiên cứu của Dow bằng
việc tiếp tục nghiên cứu và xuất bản cuốn sách “The Stock Market Barometer” (Phong vũ biểu thị trường
chứng khoán) vào năm 1922. Suốt những năm 1920 và 1930, Richard W. Schabacker là người đã đã đi
sâu vào những nghiên cứu của Dow và Hamilton, Schabacker là người đã đưa ra khái niệm đầu tiên về
Phân tích kỹ thuật. Schabacker từng là chủ biên của tạp chí Forbes nổi tiếng. Ông chỉ ra rằng những dấu
hiệu mà lý thuyết Dow đưa ra được với chỉ số bình quân thị trường vẫn giữ nguyên giá trị và tầm quan
trọng khi áp dụng vào đồ thị của từng cổ phiếu riêng lẻ. Điều này đã được ông thể hiện và chứng minh
trong cuốn sách của mình: “Stock Market Theory and Practice, Technical Market Analysis and Stock
Market Profit”. Như vậy những cơ sở đầu tiên của Phân tích kỹ thuật đã xuất hiện từ trong lý thuyết Dow,
                                                                                                        1
nhưng phải đến Schabacker – người cha của Phân tích kỹ thuật hiện đại tiếp đó là Edward và Magee với
“Technical Analysis of Stock Trend” (cuốn sách đã được tái bản 8 lần) và ngày nay là John Murphy, Jack
Schwager, Martin Pring, … thì mới thực sự ra đời cái tên “Phân tích kỹ thuật ” và được nâng cao, tổng kết
thành một hệ thống lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị
trường tài chính nói chung.

Các quan điểm về Phân tích kỹ thuật
Nguyên lý của thành công trong đầu tư chứng khoán là dựa trên giả định rằng trong tương lai người ta sẽ
tiếp tục lặp lại những sai lầm mà họ đã mắc phải trong quá khứ.
        (Edwin Lefevre, Reminiscenses of a Stock Operator)

Thị trường chứng khoán hay bất kì thị trường nào đều không bao giờ phản ánh đúng giá trị thực của một
hàng hóa được trao đổi bên trong đó mà nó phản ánh giá trị mà nhà đầu tư nhận thức được và cho rằng nó
đáng giá như thế.

Giá của bất kì một chứng khoán đã cho nào đều không chi ra mối quan hệ thực tế giữa cung và cầu mà là
phản ánh kỳ vọng tương lai của cung và cầu.

Vậy “Phân tích kỹ thuật” là gì? Nhiều nhà quan sát coi Phân tích kỹ thuật là một tập hợp những mánh
khóe và cần đến sự tập luyện nghiêm túc thực sự. Những người vận dụng kết quả sau quá trình tập luyện
ấy còn được gọi là “pháp sư”. Nhiều người hiểu về tính đúng đắn của công việc này nhưng họ vẫn đặt ra
câu hỏi về tính chính xác trong dự báo các xu thế chính trên thị trường chứng khoán và thị trường các loại
hàng hóa khác. Bản thân trong những người sử dụng Phân tích kỹ thuật cũng không có một sự thống nhất
về quan điểm về bản chất của Phân tích kỹ thuật vì Phân tích kỹ thuật có thể dược hiểu thuần túy là một
khoa học mà cũng có thể được hiểu là một nghệ thuật.

Hiểu một cách rộng nhất thì Phân tích kỹ thuật luôn cố gắng nghiên cứu tình trạng “sức khỏe hiện tại của
toàn thị trường hay của mỗi chứng khoán với mục đích là nhằm dự báo biến động tương lai của giá bằng
cách dựa trên những kinh nghiệm có được với các hình mẫu kĩ thuật (hay mô hình kĩ thuật) thị trường đã
xuất hiện trong quá khứ và áp dụng lại khi có mô hình tương tự xuất hiện. Giả thuyết căn bản trong Phân
tích kỹ thuật là những kiến thức đã có về giá và hình mẫu đồ thị trong quá khứ sẽ được sử dụng “tham
khảo” nhằm xác định giá có xu thế như thế nào trong tương lai đối với mỗi thị trường cụ thể.

Ta sẽ xem xét một số định nghĩa đã được đưa ra về Phân tích kỹ thuật :
Nick và Barbara Apostolous định nghĩa Phân tích kỹ thuật là “quá trình dự báo biến động giá chứng
khoán trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích những biến động trong quá khứ của giá và các áp lực
cung cầu có ảnh hưởng đến giá”. Tuy nhiên định nghĩa này làm cho Phân tích kỹ thuật dường như trở lên
gần tương đương với phân tích cơ bản - là quá trình ước lượng giá trị chứng khoán hay hàng hóa bằng
cách phân tích các điều kiện kinh tế tài chính cơ bản mỗi công ty, mỗi ngành,…"

Norman Fosback, trong cuốn “Stock Market Logic”:
“Nếu như bản chất của phân tích cơ bản là việc xác định giá trị và xác định mua hay bán cổ phiếu khi giá
trên thị trường sai lệch khỏi giá trị thực, thì Phân tích kỹ thuật lại dựa trên 2 giả thuyết cơ bản khác hoàn
toàn. Thứ nhất, những ước lượng mang tính chủ quan là quá mơ hồ và không thích hợp và thứ hai là dao
động giá trong tương lai có thể dự đoán được qua việc phân tích biến động giá trong quá khứ, phân tích
mối quan hệ cung - cầu và một số yếu tố khác có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả thị trường “

Clifford Pistolese đã đưa ra định nghĩa khá đầy đủ như sau: “Phân tích kỹ thuật là việc sử dụng biểu đồ
giá và khối lượng giao dịch làm cơ sở cho các quyết định đầu tư. Cơ sở căn bản cho hướng tiếp cận này
là ở chỗ các thông tin về giá và khối lượng trên biểu đồ phản ánh tất cả những gì diễn ra về việc mua hay
                                                                                                         2
bán một loại cổ phiếu. Vì biểu đồ cổ phiếu tóm tắt và phản ánh kết quả thực của các giao dịch đã thực
hiện nên Phân tích kỹ thuật là cơ sở duy nhất cho việc ra các quyết định đầu tư”

R. W. Schabacker, người cha đẻ của Phân tích kỹ thuật hiện đại đã mô tả Phân tích kỹ thuật như “một môn
khoa học mới”. Schabacker giải thích rằng tất cả những yếu tố phân tích cơ bản hợp lý đều mang đến tình
trạng thị trường di xuống và chúng được đánh giá, tự động đưa vào và lưu lại trong các mức cân bằng thực
trên biểu đồ chứng khoán. Ông còn mô tả sâu hơn đặc tính của biểu đồ cổ phiếu hay biểu đồ các loại hàng
hóa khác như là một bộ nhớ hoàn hảo của thị trường và khẳng định chắc chắn rằng giá trị chủ yếu của một
biểu đồ giá vượt ra ngoài ý nghĩa thực tế là một bức tranh ghi lại những giao dịch trong quá khứ.

Định nghĩa cụ thể của Schabacker như sau:
“Việc Phân tích kỹ thuật các biến động thị trường là một khía cạnh của phân tích, dựa trên cơ sở những
hiện tượng phát sinh từ chính thị trường, bỏ qua những tác động của các yếu tố trong phân tích cơ bản và
các yếu tố khác.
Trên thực tế Phân tích kỹ thuật có thể được giải thích đơn giản chỉ là phát biểu một cách đối lập lại với
việc xem xét theo trường phái phân tích cơ bản. Khía cạnh cơ bản của phân tích thị trường nhắm mối
quan tâm đặc biệt vào những yếu tố như doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, việc kinh doanh của doanh
nghiệp, tiềm năng, họat động trong quá khứ, thu nhập hiện tại và tương lai, bảng cân đối kế toán, sức
mạnh tài chính, chất lượng của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp, …Các yếu tố kĩ thuật là những gì có thể
được coi là tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng biến động về giá cổ phiếu sau khi đã bỏ qua các
yếu tố thuộc phân tích cơ bản và những yếu tố không thực sự có ảnh hưởng. ”

Còn theo Edward và Magee thì:
“Phân tích kỹ thuật là môn khoa học của sự ghi nhận lại, thường là dưới dạng đồ thị, những hoạt động
giao dịch diễn ra trong quá khứ gây lên những thay đổi về giá, khối lượng giao dịch, … của một chứng
khoán bất kì hay với chung toàn bộ thị trường và sau đó sẽ dựa trên “bức tranh về quá khứ” đó để suy
luận ra xu thế có thể xảy ra trong tương lai”

Không phải ngẫu nhiên mà cuốn sách “Technical Analysis of Stock Trend” của Edward và Magee lại
được tái bản tới 8 lần, đây là quyển sách mang tính đầy đủ nhất và cơ bản nhất khi tìm hiểu về Phân tích
kỹ thuật , vì vậy để có thể hiểu rõ thì rất cần nghiên cứu kĩ cuốn sách này. ở đây sẽ trích dẫn thêm một số
đoạn nhằm giúp người đọc hiểu kĩ hơn ”…những nhà Phân tích kỹ thuật luôn phát biểu với lý luận đầy đủ
còn lượng thông tin, dữ liệu mà phân tích cơ bản nghiên cứu là quá cũ và không con giá trị sử dụng. Bởi vì
tâm lý thị trường không quan tâm đến quá khứ và thậm chí là cả hiện tại, thị trường luôn hướng về phía
trước, cố gắng phản ánh những tăng trưởng trong tương lai, xem xét đo lường và làm cân bằng tất cả
những ước lượng, dự đoán của hàng trăm nhà đầu tư - những người cùng nhìn vào tương lai nhưng dưới
những góc độ hoàn toàn khác nhau và với những cặp kính nhiều màu sắc. Tóm lại, giá thị trường được tạo
lên bởi bản thân thị trường, bao gồm tất cả những thông tin thuộc về cơ bản mà những nguời phân tích
thống kê muốn tìm hiểu cùng với nhiều những nguồn thông tin khác có tầm quan trọng ngang hoặc lớn
hơn nhiều…”

Edward và Magee còn đưa ra 4 điểm căn bản sau về Phân tích kỹ thuật:

   •   Giá trị thị trường của một chứng khoán được xác định duy nhất thông qua tác động qua lại giữa
       cung và cầu.
   •   Cung và cầu chịu ảnh hưởng, ở bất kì thời điểm nào, bởi hàng trăm những yếu tố, một số là ảnh
       hưởng hợp lý, một số hầu như phi lý. Thông tin, ý kiến, tâm lý, dự đoán,…(có thể đúng, có thể
       sai,…) về tương lai kết hợp và trộn lẫn với nhau và với những yếu tố cần thiết khác để tạo thành sự
       cân bằng chung của toàn thị trường. Không một cá nhân nào có thể nắm lấy và định lượng những
       điều này mà thị trường sẽ tự thực hiện.
                                                                                                         3
   •   Bỏ qua những dao động nhỏ thì giá nhìn chung sẽ vận động theo những xu thế giá chung của thị
       trường, những xu thế này là ổn định trong một khoảng thời gian tương đối dài.
   •   Những thay đổi trong xu thế thị trường thể hiện qua sự dịch chuyển của điểm cân bằng cung cầu
       dù là vì bất kì nguyên nhân nào đều có thể xác định sớm hơn hoặc muộn hơn thời điểm thị trường
       biến động.

Cuối cùng ta sẽ xem xét định nghĩa của Steven B. Achelis, tác giả của cuốn sách “Technical Analysis
from A to Z”:
“Phân tích kỹ thuật là việc nghiên cứu giá, với công cụ cơ bản là biểu đồ, nhằm nâng cao hiệu quả của
hoạt động đầu tư…”

Xét cho cùng định nghĩa về Phân tích kỹ thuật cũng chỉ cần đơn giản như vậy còn cụ thể bản chất, cách
thực hiện sẽ được nghiên cứu ở các phần tiếp theo đặc biệt là phần lý thuyết Dow.

                                    Phân tích kĩ thuật P.2
Những giả định cơ sở và những bàn luận xung quanh việc áp dụng Phân tích kỹ thuật vào thị
trường chứng khoán.

1. Những giả định cơ sở
Phân tích kỹ thuật là sự nghiên cứu biến động của thị trường, chủ yếu thông qua việc sử dụng các đồ thị
nhằm mục đích dự đoán các xu thế biến động của giá trong tương lai.

Thuật ngữ “biến động của thị trường” ám chỉ ba yếu tố biến động chính cung cấp thông tin cho quá trình
Phân tích kỹ thuật là giá, khối lượng giao dịch và số lượng hợp đồng chưa tất toán (open interest).
Có 3 giả định làm cơ sở cho việc tiếp cận Phân tích kỹ thuật:
      - Biến động thị trường phản ánh tất cả
      - Giá dịch chuyển theo xu thế chung
      - Lịch sử sẽ tự lặp lại

Biến động thị trường phản ánh tất cả.
Đây có thể coi là nền tảng của Phân tích kỹ thuật. Mọi lý thuyết, phân tích khác muốn được chấp nhận thì
trước tiên phải hiểu và chấp nhận giả định này. Các nhà Phân tích kỹ thuật cho rằng bất cứ yếu tố nào có
khả năng ảnh hưởng đến giá như tâm lý, chính trị hay các yếu tố tài chính của doanh nghiệp, tổ chức. . .
đều được phản ánh rõ trong giá thị trường. Do đó có người cho rằng việc nghiên cứu biến động của giá là
tất cả những gì ta cần và thực sự không thể phản đối lại ý kiến này.

Trên cơ sở nhận thức chung về việc giá phản ánh những biến động trong cung, cầu. Các nhà Phân tích kỹ
thuật chỉ ra rằng khi giá tăng dù vì bất kì lý do gì thì cầu phải vượt cung và thị trường tăng giá. Chúng ta
cũng đều biết và đồng ý rằng động lực chính của cung và cầu là những yếu tố kinh tế căn bản, chúng làm
hình thành lên Bull Market hay Bear Market, còn đồ thị thì không tự nó làm cho thị trường dịch chuyển
lên hay xuống. Đồ thị chỉ có thể phản ánh tình hình thị trường mà thôi.

Giá vận động theo xu thế
Khái niệm về xu thế là khái niệm vô cùng quan trọng trong Phân tích kỹ thuật do đó cần hiểu kĩ về giả
định này trước khi muốn tìm hiểu sâu thêm về nó. Mục đích của việc xác lập đồ thị mô tả những biến
động giá trên thị trường là nhằm xác định được sớm những xu thế giá, từ đó sẽ tham gia giao dịch trên cơ
sở những xu thế này. Trên thực tế những kĩ thuật ở đây đều mang tính lặp lại những xu thế giá có từ trước

                                                                                                               4
tức là mục đích của Phân tích kỹ thuật là nhằm xác định sự lặp lại của những dạng biến động của giá đã
xuất hiện trong quá khứ để có thể tận dụng kinh nghiệm và đưa ra những quyết định phù hợp.

Từ giả định này chúng ta còn có một hệ quả là “một xu thế giá đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của
nó và ít khi có đảo chiều”. Hệ quả này rút ra từ định luật 1 về sự vận động của Newton, do đó nó cách phát
biểu khác như sau: "một xu thế đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó cho đến khi nó đảo chiều”.
Nhìn chung tất cả những nghiên cứu nhằm tiếp cận theo các xu thế đều nhằm để đi theo những xu thế giá
hiện tại cho đến khi có dấu hiệu đảo chiều.

Lịch sử sẽ tự lặp lại.
Phần lớn nội dung của Phân tích kỹ thuật và việc nghiên cứu biến động thị trường đều phải nhằm vào
nghiên cứu tâm lý con người. Chẳng hạn như những mô hình giá, những mô hình này đã được xác định và
chứng minh từ hơn 100 năm nay, chúng giống như những bức tranh về đồ thị biến động giá. Những bức
tranh này chỉ ra tâm lý của thị trường đang là lên giá hay xuống giá. Việc áp dụng những mô hình này đã
phát huy hiệu quả trong quá khứ và được giả định rằng sẽ vẫn tiếp tục có hiệu quả trong tương lai bởi
chúng dựa trên phân tích nghiên cứu tâm lý con người mà tâm lý con người thì thường không thay đổi.
Như thế giả định này có thể được phát biểu là : “Chìa khóa để nắm bắt tương lai nằm trong việc nghiên
cứu quá khứ” hay “tương lai chỉ là sự lặp lại của quá khứ”

2. Những bàn luận xung quanh việc áp dụng Phân tích kỹ thuật vào thị trường chứng khoán

Dự đoán trong phân tích cơ bản đối lập với trong Phân tích kỹ thuật
Trong khi Phân tích kỹ thuật tập trung vào việc nghiên cứu biến động thị trường thì Phân tích cơ bản lại
tập trung vào các động lực kinh tế của cung và cầu - những nguyên nhân gây ra sự vận động của giá.
Phân tích cơ bản tiếp cận theo hướng phân tích các thành tố có liên quan ảnh hưởng đến giá thị trường
nhằm xác định giá trị thực của một loại chứng khoán - giá trị được xác định thông qua cung cầu và cuối
cùng là để xác định các điểm thị trường bán trên giá trị thực tế (overprice) và các điểm thị trường bán dưới
giá trị thực (underprice). Cả hai hướng tiếp cận theo Phân tích cơ bản và Phân tích kỹ thuật đều nhằm xác
định xu thế mà giá có thể vận động tuy nhiên cách tiếp cận là khác nhau: những nhà phân tích cơ bản thì
nghiên cứu nguyên nhân của những biến động thị trường trong khi những nhà Phân tích kỹ thuật lại
nghiên cứu tác động của các biến động ấy.

Một số nhà đầu tư tự coi mình là người theo Phân tích cơ bản hay Phân tích kỹ thuật nhưng thực tế có rất
nhiều sự trùng lặp: nhiều nhà Phân tích cơ bản có áp dụng những nguyên lý của Phân tích kỹ thuật trong
công việc của mình trong khi hầu hết các nhà Phân tích kỹ thuật lại ít nhiều đều có thời kỳ đi theo Phân
tích cơ bản.

Thường thì vào những giai đoạn bắt đầu của một số biến động quan trọng của thị trường những nhà Phân
tích cơ bản không giải thích và không ủng hộ những gì mà thị trường chuẩn bị diễn ra. Chính tại những
thời điểm nhạy cảm này mà hai trường phái phân tích tỏ ra khác nhau nhất. Hai trường phái này rồi sẽ lại
giống nhau ở một số điểm nhưng nếu nhà đầu tư nào muốn dựa vào những điểm đó để làm cơ sở chắc
chắn cho các quyết định của mình thì nó sẽ là quá muộn.

Một cách giải thích cho mâu thuẫn này là “giá thị trường có vai trò chỉ dẫn cho những người nghiên cứu
Phân tích cơ bản” hoặc có thể nói giá thị trường là chỉ số dẫn đạo cho những nhà phân tích cơ bản. Những
người có nghiên cứu về Phân tích kỹ thuật đều có thể nhận thấy những thay đổi về giá có tác động đến thị
trường, hay là họ đã theo nhịp của thị trường, còn những người theo phân tích cơ bản lại chịu ảnh hưởng
từ những biến động ấy. Những thời điểm thị trường lên giá mạnh và giảm giá trầm trọng được ghi nhận
trong lịch sử thường do sự không nhận thức được hoặc nhận thức được quá ít những thay đổi thị trường

                                                                                                           5
và cho đến khi những biến động ấy được nhận thức rộng rãi thì bản thân nó đã chuyển hướng và vận động
theo hướng khác rồi.

Phân tích và chọn thời điểm có đối lập với nhau không?
Quay lại với Phân tích kỹ thuật, quá trình ra quyết định có thể được chia thành 2 giai đoạn là phân tích và
chọn thời điểm. Với những thị trường có “tác động đòn bẩy” lớn chẳng hạn như thị trường tương lai (thị
trường có các công cụ phái sinh như: hợp đồng tương lai - futures và hợp đồng quyền chọn - Options) thì
việc xác định thời điểm tham gia vào có vai trò rất quan trọng bởi hoàn toàn có trường hợp bạn đã phân
tích và theo đúng tình hình thị trường nhưng bạn vẫn có thể mất tiền của mình. Cho dù mức tiền đặt cọc
đối với thị trường tương lai là nhỏ (chỉ khoảng 10%) thì dù chỉ một lượng rất nhỏ giá vận động sai hướng
có thể tác động đẩy nhà đầu tư ra khỏi thị trường và mất toàn bộ mức tiền đặt cọc ấy. Trái lại trong giao
dịch trên thị trường chứng khoán, khi một nhà đầu tư nhận thấy mình đang lệch khỏi thị trường đối với
một loại cổ phiếu nào đó thì anh ta chỉ việc đơn giản là giữ lại cổ phiếu đó và đợi cho đến khi cổ phiếu đó
quay lại xu thế thị trường. Những người đầu tư vào thị trường tương lai sẽ không có đặc quyền ấy. Chiến
lược “mua và nắm giữ” không thể áp dụng để đầu tư kiếm lời trên thị trường tương lai.

Khi phân tích ta có thể áp dụng theo cơ bản hay kĩ thuật, nhưng để trả lời câu hỏi về xác định thời điểm
tham gia vào hay thoát ra khỏi thị trường thì câu trả lời nằm hoàn toàn trong Phân tích kỹ thuật. Việc xác
định thời điểm có ý nghĩa rất quan trọng với quyết định mua hay bán. Do đó khi xem xét các bước tiến
hhành của nhà đầu tư trước khi đưa ra quyết định cuối cùng ta có thể thấy việc áp dụng các nguyên lý của
Phân tích kỹ thuật là không thể bỏ qua tại một số thời điểm của quá trình ra quyết định cho dù ở phần đầu
của quá trình này khi tiến hành phân tích nhà đầu tư có thể áp dung theo phân tích cơ bản.

Tính linh hoạt và tính thích dụng của Phân tích kỹ thuật.
Một trong những thế mạnh lớn của Phân tích kỹ thuật là sự thích dụng của nó trong bất kì phương thức
giao dịch nào và vào với bất kì khoản thời gian giao dịch nào. Không có một phần nào trong giao dịch
chứng khoán hay các chứng khoán phái sinh mà Phân tích kỹ thuật không thể ứng dụng được.

Một nhà phân tích đồ thị có thể sử dụng đồ thị trong bất kì và bao nhiêu thị trường tùy thích, nhưng điều
này là không thể với một người sử dụng Phân tích cơ bản. Điều này là do với mỗi thị trường một người áp
dụng Phân tích cơ bản sẽ phải xử lý một khối lượng dữ liệu khổng lồ, nó cũng nói lên tại sao một người
Phân tích cơ bản chỉ có thể chuyên vào một hay một nhóm nhỏ chứng khoán nhất định - những ưu thế này
của Phân tích kỹ thuật là không thể bỏ qua.

Mỗi thị trường đều phải trải qua những thời kỳ thị trường biến động mạnh và những thời kỳ trầm lắng,
những giai đoạn mà giá biến động theo những xu thế rõ ràng và những giai đoạn mà xu thế của giá rất mờ
nhạt thậm chí là không có một xu thế cụ thể nào. Khi đó những nhà Phân tích kỹ thuật có thể tập trung sự
quan tâm cũng như những nguồn lực của mình vào những thị trường có cu thế vận động rõ ràng hơn và bỏ
qua những thị trường loại kia. Điều này có nghĩa là họ có thể chuyển hướng đầu tư để tận dụng tính luân
phiên tự nhiên của các thị trường. Vào những thời điểm khác nhau có những thị trường trởi lên “nóng”, có
xu thế rõ ràng. Thông thường, tiếp theo những thời kỳ có xu thế giá cụ thể ấy là những thời kỳ giá biến
động khá trầm và hầu như không có xu thế nào rõ rệt, trong khi đó ở một hay một nhóm thị trường khác
lại có những dấu hiệu biến động nóng. Tóm lại, một nhà Phân tích kỹ thuật có thể tìm và tham gia những
thị trường mà họ thấy có khả năng kiếm lời nhanh chóng, còn những nhà Phân tích cơ bản thì không có
tính linh họat ấy do tính chuyên sâu vào một loại thị trường như đã nói ở trên. Mặc dù họ hoàn toàn có
quyền chuyển hướng quan tâm của mình vào một thị trường khác, nhưng điều ấy cũng có nghĩa là họ phải
đối mặt với việc xử lý một khối lượng lớn các dữ liệu của thị trường mới này và rõ ràng là họ sẽ mất rất
nhiều thời gian.


                                                                                                          6
Một lợi thế khác của các chuyên gia Phân tích kỹ thuật là họ có “bức tranh tổng thể về thị trường”. Bởi vì
họ theo dõi và nghiên cứu nhiều loại thị trường khác nhau nên họ luôn có được cảm nhận rất tôt về những
biến động chung nhất của toàn thị trường, tránh được rơi vào tình trạng có những cái nhìn bó hẹp về thị
trường - điều rất dễ xảy ra nếu chỉ chú trọng vào một hay một nhóm nhỏ thị trường nhất định. Đồng thời
bởi vì mỗi thị trường đều xây dựng trên cơ sở những mối quan hệ kinh tế và cùng phản ứng lại những
nhân tố kinh tế theo cách tương tự nhau cho nên biến động giá ở một hay một nhóm thị trường này có thể
là những gợi ý cho việc dự đoán giá ở một hay một số thị trường khác.

Ứng dụng Phân tích kỹ thuật vào các hình thức giao dịch khác nhau.
Các nguyên lý của phân tích lĩ thuật có thể áp dụng trên thị trường chứng khoán cũng như trên thị trường
tương lai. Các hợp đồng tài chính, bao gồm cả các hợp đồng về lãi suất và ngoại tệ trở nên vô cùng phổ
biến trong những thập kỉ gần đây và đã chứng minh chúng là những đối tượng cần quan tâm mới cho phân
tích biểu đồ. Trong giao dịch Options các nguyên lý của Phân tích kỹ thuật đóng vai trò rất lớn, rồi trong
các giao dịch mang tính phòng vệ đầu tư (hedging) việc áp dụng Phân tích kỹ thuật cũng mang lại những
lợi thế rất lớn.

Phân tích kỹ thuật áp dụng vào những khoảng thời gian có độ dài khác nhau.

Đây là một trong những sức mạnh của Phân tích kỹ thuật. Cho dù nhà đầu tư tham gia vào những giao
dịch ngắn chỉ trong một ngày trong đó quan tâm đến từng biến động nhỏ hay đầu tư theo phân tích xu thế
giá thì những nguyên lý chung chưa bao giờ tỏ ra vô giá trị. ý tưởng cho rằng biểu đồ chỉ hữu ích cho phân
tích trong ngắn hạn là sai bởi người ta luôn nói đến những khoảng thời gian dài trong dự báo của Phân
tích kỹ thuật. Cho dù người ta luôn nói rằng để phân tích trong dài hạn thì nên áp dụng phân tích cơ bản
nhưng thực tế cho thấy những dự báo sử dụng Phân tích kỹ thuật trong các biểu đồ tuần, tháng, năm có giá
trị không kém chút nào. Một người khi đã nắm vững Phân tích kỹ thuật thì hoàn toàn có thể áp dụng rất đa
dạng và linh hoạt trên bất cứ thị trường hay lĩnh vực đầu tư nào. Phân tích kỹ thuật có thể dùng không chỉ
để dự báo giá chứng khoán mà có thể áp dụng dự đoán biến động của các loại hàng hóa, các biến động của
nền kinh tế, của lạm phát, lãi suất….

Quá khứ có thể được dùng để dự đoán tương lai hay không?
Hầu hết những những người phản đối Phân tích kỹ thuật đều đưa ra câu hỏi về vấn đề này. Nhưng hãy thử
nhìn lại hầu hết những hình thức dự báo mà chúng ta đã biết đều hoàn toàn dựa trên những nghiên cứu đối
với những dữ liệu trong quá khứ chẳng hạn như dự báo thời tiết hay kể cả Phân tích cơ bản. Liệu còn loại
dữ liệu nào khác để sử dụng trong phân tích?

Trong thống kê có hai loại là thống kê mô tả và thống kê quy nạp. Thống kê mô tả nhằm đưa ra dữ liệu
dưới các dạng biểu đồ khác nhau. Còn thống kê quy nạp lại mang tính tổng quát hoá, dự đoán, ngoại suy,
ước lượng tức là những thông tin được suy ra từ việc phân tích dữ liệu. Như vậy các biểu đồ giá mang tính
chất và dáng dấp của phân tích mô tả, còn những nhà Phân tích kỹ thuật lại thực hiện công việc xử lý
những dữ liệu về giá cần đến thống kê quy nạp.

Trong một cuốn sách về thống kê có viết “ bước đầu tiên của dự đoán hoạt động kinh doanh hay dự đoán
một hiện tượng kinh tế trong tương lai là tập hợp các quan sát ghi nhận được trong quá khứ”. Phân tích đồ
thị cũng chỉ là cũng chỉ là một dạng của phân tích chuỗi thời gian, đều dựa trên cơ sở phân tích quá khứ -
đó là tất cả những gì ta cần khi phân tích một chuỗi thời gian. Dạng thông tin duy nhất mà chúng ta có thể
sử dụng là những thông tin trong quá khứ. Chúng ta chỉ có thể dự tính tương lai bằng cách áp dụng vào
tương lai đó những kinh nghiệm có được trong quá khứ. Bất kì một ai nếu cứ dựa vào đây để phản đối lại
Phân tích kỹ thuật thì người đó cũng nên đặt câu hỏi với tính chính xác của mọi dự báo trong phân tích cơ
bản bởi chúng cũng đều dựa trên dữ liệu trong quá khứ.

                                                                                                         7
Lý thuyết “Bước đi ngẫu nhiên” - random walk
Lý thuyết “bước đi ngẫu nhiên” cho rằng những biến động của giá là một chuỗi hoàn toàn độc lập và
những biến động trong quá khứ của giá hoàn toàn không phải là một chỉ số đáng tin cậy cho việc dự đoán
xu thế tương lai. Tóm lại biến động của giá là ngẫu nhiên và hoàn toàn không thể dự đoán được. Lý thuyết
này dựa trên cơ sở lý thuyết “Thị trường hiệu quả”, trong đó cho rằng giá thị trường sẽ dao động xung
quanh giá trị thực của nó. Thuyết này cũng cho rằng chiến lược đầu tư tốt nhất vào thị trường chỉ đơn giản
là mua và nắm giữ, cũng có nghĩa là nó chống lại tất cả những cố gắng muốn “chiến thắng” thị trường. Lẽ
dĩ nhiên trong bất kì thị trường nào cũng có những yếu tố ngẫu nhiên hay còn gọi là độ nhiễu, những rõ
ràng nếu nói tất cả các biến động của giá đều là ngẫu nhiên thì khó có thể đồng tình. Đây có lẽ là một
trong những phần mà những quan sát thực nghiệm, những kinh nghiệm thực hành có giá trị hơn những kĩ
thuật thống kê công phu, kinh nghiệm là cái giúp cho mỗi người tự chứng minh cho suy nghĩ của riêng
mình. ở đây khái niệm ngẫu nhiên cần được hiểu đơn giản là việc không thể xác định được các hình mẫu
kĩ thuật đã có trong hệ thống, tức là những hình mẫu đồ thị giá mà người ta dùng để dự đoán xu thế tương
lai của giá là hoàn toàn không thể nhận ra được. Tuy nhiên cho dù kể cả những chuyên gia giảng dạy trong
lĩnh vực trong lĩnh vực này cũng đôi khi không thể xác định được sự xuất hiện của các hình mẫu kĩ thuật
thì điều này cũng không có nghĩa là những hình mẫu giá đó không tồn tại.

Điều này dẫn ra một câu hỏi là liệu xu thế thị trường có thực sự có ích lợi với những người đang hàng
ngày phân tích hay tham gia vào thị trường nơi những xu thế (nếu có) đang hiện diện thực tế. Nhưng nếu
nhìn bất cứ một đồ thị nào ta đều có thể thấy một xu thế của giá. Làm sao những người ủng hộ cho thuyết
“bước ngẫu nhiên” giải thích cho những xu thế giá này nếu giá là ngẫu nhiên liên tục - nghĩa là những gì
xảy ra vào ngày hôm qua, vào tuần trước, … đều không có ảnh hưởng vào những gì có thể xảy hôm nay
và ngày mai? Làm sao họ giải thích được khả năng sinh lời thực tế của rất nhiều những chiến lược kinh
doanh theo xu thế thị trường?

Và nhiều câu hỏi khác:

   •   Làm sao chiến lược mua và nắm giữ cổ phiếu có thể sử dụng trong thị trường giao dịch các hợp
       đồng tương lai, nơi mà việc xác định thời điểm tham gia và rút lui khỏi thị trường là yếu tố sống
       còn?
   •   Liệu những hợp đồng dài hạn có thể được nắm giữ suốt thời kì thị trường đi xuống?
   •   Làm sao nhà đầu tư có thể biết được sự khác biệt giữa một Bull Market và một Bear Market nếu
       như giá biến động hoàn toàn không theo qui luật và không theo xu thế nào?
   •   Thậm chí là có tồn tại Bull Market hay Bear Market hay không nếu không tồn tại các xu thế giá
       trên thị trường?

Khó có thể xác định liệu mọi kết quả thống kê có thể hoàn toàn chững minh hay bác bỏ lý thuyết “bước
ngẫu nhiên”. Dẫu sao thì ý tưởng thị trường mang tính ngẫu nhiên là hoàn toàn bị bác bỏ trong “cộng đồng
Phân tích kỹ thuật”.Trong khi không thể bác bỏ tính hợp lý của việc tiếp cận thị trường theo khuynh
hướng kĩ thuật thì bản thân thuyết “Thị trường hiệu quả” lại có nội dung rất gần với giả thuyết cơ bản của
Phân tích kỹ thuật là “thị trường phản ánh tất cả”. Những nhà nghiên cứu cho rằng bởi vì thị trường phản
ánh quá nhanh (gần như ngay lập tức) tất cả các thông tin nên không có cách nào để tận dụng ưu thế của
thông tin trên thị trường. Cơ sở của Phân tích kỹ thuật như đã nói ở trên cho rằng những thông tin quan
trọng về thị trường đều đã được phản ánh từ lâu trong các biến động giá trước khi nó được mọi người biết
đến. Mọi chuyên gia đều cho rằng cần phải nghiên cứu và theo dõi kĩ biến động của giá chứ không thể dựa
vào những thông tin tài chính căn bản để hi vọng kiếm lời.

Nhìn chung việc quan sát đồ thị và nhận thấy sự ngẫu nhiên hay tính nhiễu của thị trường chỉ xảy ra với
những người không hiểu sâu sắc qui trình hoạt động của thị trường. Nó cũng giống như một điện tâm đồ,
với một người không được đào tạo thì anh ta sẽ hoàn toàn không biết ý nghĩa của nó là gì, nhưng với một
                                                                                                        8
bác sĩ thì lại khác, những đốm sáng tối trên đó chắc chắn sẽ cung cấp được rất nhiều thông tin. Như thế
sự cảm nhận về tính ngẫu nhiên hay tính nhiễu của thị trường sẽ dần mất đi khi trình độ phân tích biểu đồ
của một người ngày càng tăng.

                                   Phân tích kĩ thuật P.3
Các khái niệm và công cụ cơ bản sử dụng trong quá trình Phân tích kỹ thuật.

Các loại biểu đồ.
Hiện nay trên Thị trường chứng khoán các chuyên viên phân tích dùng rất nhiều các loại biểu đồ khác
nhau để phân tích, trong đó có 3 loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất đó là: biểu đồ dạng đường
(Line chart), biểu đồ dạng then chắn (Bar chart), biểu đồ dạng ống (Candlestick chart).

Biểu đồ dạng đường (Line chart).
Dạng biểu đồ này từ trước tới nay thường được sử dụng trên Thị trường chứng khoán, và cũng là loại biểu
đồ được dùng một cách phổ biến nhất trong các ngành khoa học khác dùng để mô phỏng các hiện tượng
kinh tế và xã hội…và nó cũng là loại biểu đồ được con người dùng trong thời gian lâu dài nhất. Nhưng
hiện nay trên Thị trường chứng khoán do khoa hock kỹ thuật phát triển, diễn biến của Thị trường chứng
khoán ngày càng phức tạp cho nên loại biểu đồ này ngày càng ít được sử dụng nhất la trên các Thị trường
chứng khoán hiện đại. Hiện nay nó chủ yếu được sử dụng trên các Thị trường chứng khoán mới đi vào
hoạt động trong thời gian ngắn, khớp lệnh theo phương pháp khớp lệnh định kỳ theo từng phiên hoặc
nhiều lần trong một phiên nhưng mức độ giao dịch chưa thể đạt được như Thị trường chứng khoán dùng
phương pháp khớp lệnh liên tục.Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ sử dụng, lý do chính là vì nó được sử
dụng trên tất cả các Thị trường chứng khoán trên khắp thế giới từ trước tới nay. Hiện nay loại biểu đồ này
ít được sử dụng để phân tích trên các Thị trường chứng khoán hiện đại vì các Thị trường chứng khoán
hiện đại ngày nay thường diễn biến khá phức tạp, mức độ dao động trong thời gian ngắn với độ lệch khá
cao, nếu dùng loại biểu đồ này để phân tích thì thường mang lại hiệu quả thấp trong phân tích.

                             Ví dụ về dạng biểu đồ dạng đường (line chart):




                                       Đồ thị biến động VNIndex
                                (tính đến ngày 18/01/2007 - bsc.com.vn)
                                                                                                            9
Hiện nay trên các Thị trường chứng khoán hiện đại đang dùng một số loại biểu đồ trong Phân tích kỹ thuật
mang lại hiệu quả cao đó là Bar chart và Candlestick chart.

Biểu đồ dạng then chắn (Bar chart)

                            Ví dụ về dạng biểu đồ dạng then chắn (Bar chart):




                                        Cổ phiếu General Electric

Trên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên thế giới hiện nay các chuyên viên phân tích thường dùng
loại biểu đồ này trong phân tích là chủ yếu lý do chính vì tính ưu việt của nó đó là sự phản ánh rõ nét sự
biến động của giá chứng khoán.
Hai kí tự mà dạng biểu đồ này sử dụng đó là:




loại biểu đồ này thường được áp dụng để phân tích trên các Thị trường chứng khoán hiện đại khớp lệnh
theo hình thức khớp lệnh liên tục, độ dao động của giá chứng khoán trong một phiên giao dịch là tương
đối lớn.


Biểu đồ dạng ống (Candlestick chart)

                           Ví dụ về dạng biểu đồ dạng ống (Candlestick chart):




                                                                                                             10
                             Đồ thị biến đông giá của YAHOO, 18/1/2007
                                 (nguồn: http://www.stockcharts.com)

 Đây là dạng biểu đồ cải tiến của biểu đồ dạng then chắn (Bar chart), nó được người Nhật Bản khám phá
và áp dụng trên Thị trường chứng khoán của họ đầu tiên. Giờ đây nó đang dần được phổ biến hầu hết trên
các Thị trường chứng khoán hiện đại trên toàn thế giới. Dạng biểu đồ này phản ánh rõ nét nhất về sự biến
   động của giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh định kỳ.




                                                                                                      11
                                Hai kí tự mà loại biểu đồ này sử dụng là:




                                  Phân tích kĩ thuật - P.4
Xu thế, Đường xu thế, Kênh

Xu thế
Khái niệm xu thế sẽ được giới thiệu kĩ hơn trong phần Lý thuyết Dow. Xu thế gồm có cả xu thế giá tăng
và xu thế giá giảm. Xu thế giá tăng gồm liên tiếp những đỉnh giá cao dần và đáy giá cao dần (đỉnh trước
cao hơn đỉnh sau và đáy trước cao hơn đáy sau). Một xu thế giá tăng sẽ được coi là vẫn duy trì cho đến khi
xuất hiện một đáy mới thấp hơn đáy trước nó. Ngược lại xu thế giá giảm cũng sẽ được coi là vẫn đang tiếp
diễn cho đến khi xuất hiện một đỉnh mới cao hơn đỉnh trước nó.

Đường xu thế
Xu thế giá tăng và xu thế giá giảm cũng được nghiên cứu dưới dạng các đường xu thế. Với xu thế giá tăng
ta có đường xu thế giá tăng, đây là đường nối các điểm đáy cao dần lên và đường xu thế giảm là đường
nối các đỉnh thấp dần. Đường xu thế có thể kéo dài thậm chí nhiều năm. Qui trình vẽ một đường xu thế
khá đơn giản nhưng cũng rất dễ nhầm. Điều căn bản là phải có những dấu hiệu chắc chắn về sự xuất hiện
một xu thế giá. Khi muốn vẽ một xu thế giá tăng ta phải có ít nhất hai điểm đáy mà đáy sau cao hơn đáy
trước. Tất nhiên điều kiện cần và đủ để có thể vẽ được một đường thẳng là phải có hai điểm, tuy nhiên
người ta thường đợi cho đến khi xuất hiện một đáy thứ ba cao hơn hai đáy trước và đường xu thế đi qua cả
3 đáy (một cách tương đối). Điều này có nghĩa là đường xu thế có thể không đi qua đáy thứ ba mà chỉ đi
sát, nhìn chung như thế là đạt yêu cầu. Nhưng một đường xu thế đi qua cả đáy bao giờ cũng được coi là
một đường xu thế chính xác và có độ tin cậy cao.




                                                                                                       12
Khi một đường xu thế đã được xác nhận về độ chính xác thì nó sẽ trở nên rất hữu ích bởi tính chính xác ấy
đảm bảo chắc chắn hướng chuyển động ổn định của giá. Với xu thế giá tăng, sau mỗi đợt tăng biến động
điều chỉnh xuất hiện sẽ kéo giá xuống sát hoặc đến đúng đường xu thế những sẽ không xuống thấp hơn
nếu xu thế thị trường vẫn đang ổn định. Đường xu thế lúc này là biên thấp nhất của dao động giá. Tương
tự, với thị trường đang có xu thế giá giảm thì đường xu thế sẽ là biên cao nhất cho mọi dao động giá. Như
thế, các đường xu thế chính xác của thị trường sẽ là các biên dao động cơ sở để xác định mức giá mua và
bán tối đa và tối thiểu hợp lý.

Nếu chuyển động của đồ thị vượt lên đường xu thế giảm hoặc xuống dưới đường xu thế giá tăng thì đây là
dấu hiệu, có thể nói là sớm nhất, cho sự thay đổi trong xu thế thị trường.

Kênh
Kênh là khoảng giao động của giá, nếu giá sẽ dao động trong một dải thì dải đó gọi là kênh. Dải dao động
đó được xác định bởi hai đường biên là đường xu thế và đường kênh (channel line), hai đường này song
song với nhau. Vấn đề là làm sao có thể xác định được hai đường này.




Sau khi đã xác định được đường xu thế như trên, giả sử với xu thế giá tăng, ta vẽ đường kênh là một
đường song song với đường xu thế và đi qua đỉnh giá rõ nhất đầu tiên. Nếu ở lần tăng giá tiếp theo giá
tăng đến gần hoặc chạm vào đường kênh rồi lại giảm xuống đến gần đường xu thế thì khả năng có thể tồn
tại một kênh dao động của giá. Với xu thế giá giảm việc vẽ và xác định kênh là hoàn toàn tương tự, tất
nhiên là theo hướng ngược lại.




                                                                                                      13
Mỗi lần giá chạm vào hoặc đến gần đường kênh rồi quay trở lại xuống đến đường xu thế là một lần kênh
được kiểm tra thành công. Kênh tồn tại càng lâu với càng nhiều lần thử thành công thì vai trò cũng như độ
tin cậy của nó càng lớn. Kênh có thể sử dụng cho kiếm lời trong ngắn hạn và thậm chí một số nhà đầu tư
táo bạo còn sử dụng đường kênh để tiến hành những giao dịch ngược hướng với xu thế thị trường nhằm
tìm kiếm những khoản lợi lớn hơn cho dù giao dịch ngược hướng thị trường có thể là một chiến thuật
nguy hiểm và phải trả giá đắt.

Khi chuyển động của giá trên thị trường phá vỡ đường xu thế thì có thể gây ra sự đảo chiều của xu thế thị
trường, nhưng nếu đường kênh bị chuyển động của giá phá vỡ (khi giá vượt ra ngoài đường kênh) thì tác
động lại hoàn toàn ngược lại: đây là dấu hiệu cho sự gia tăng sức mạnh của xu thế hiện tại, thậm chí một
số nhà đầu tư tin tưởng rằng việc giá chuyển động làm mất đi đường kênh sẽ xác nhận cho một xu thế ổn
định trong thời gian dài và là cơ hội cho những nhà đầu tư thực hiện những hợp đồng dài hạn.

Ngược lại, khi giá không lên được đến đường kênh mà quay ngược trở lại quá sớm thì đây lại là dấu hiệu
dự báo sớm sự suy giảm của xu thế hiện tại và là dấu hiệu cho thấy có thể chuyển động của giá sẽ phá vỡ
đường xu thế.




Nói chung việc chuyển động của giá không thể đạt đến sát một trong hai đường biên của kênh có thể là
một dấu hiệu sớm cho thấy xu thế giá có thể thay đổi và khả năng chuyển động của giá có khả năng sẽ phá
vỡ đường biên còn lại của kênh. Với xu thế giá tăng, có thể có hai trường hợp (trong các hình vẽ ở hai


                                                                                                       14
trường hợp này ta giả định ban đầu kênh đang có xu thế hướng lên- xu thế tăng giá, hoàn toàn tương tự
nếu muốn xem xét đối với xu thế giá giảm).

Nếu chuyển động của giá vượt qua đường kênh một khoảng lớn thì đây là dấu hiệu cho thấy xu thế lên giá
đang mạnh lên, thường ta sẽ phải vẽ một đường xu thế mới dốc hơn từ điểm đáy cuối cùng song song với
đường kênh mới. Thực tế cho thấy đường xu thế mới này hoạt động tốt hơn đường cũ.




Nếu giá không đạt được đến đường kênh và chuyển động phá vỡ đường xu thế thì điều này chỉ ra rằng xu
thế thị trường đổi ch iều thành xu thế giá giảm. Hai đỉnh mới xuất hiện (đỉnh 5 và 7) sẽ là cơ sở để vẽ
đường xu thế giá giảm, tương tự ta sẽ vẽ đường kênh song song đường xu thế và đi qua đáy 4. Chú ý là ở
đây có sự đổi vai trò đường xu thế ban đầu trở thành đường kênh và ngược lại.




Ngoài ra kênh và các đường kênh còn mang một ý nghĩa khác: Khi giá chuyển động phá vỡ xu thế hiện tại
- xuất hiện ‘breakout’ từ kênh hiện tại, giá thường sẽ chuyển động một khoảng bằng với độ rộng của kênh
đó.

Như thế, để xác định điểm dừng của chuyển động này ta có thể tính tương đối chính xác bằng cách đo độ
rộng của kênh vừa bị phá vỡ và dự kiến điểm dừng từ điểm giá vượt ra ngoài kênh (Tuy nhiên cần luôn
luôn lưu ý rằng trong hai đường biên của kênh thì đường xu thế luôn có vai trò quan trọng và đáng tin cậy
hơn, đường kênh chỉ là một công cụ kĩ thuật xuất phát từ đường xu thế).


                                                                                                        15
                                   Phân tích kĩ thuật P.5
Mức hoàn lại - Khung giao dịch - Hỗ trợ và Kháng cự

Mức hoàn lại.
Trong bất kì một đồ thị nào ta đều thấy sau một giai đoạn giá chuyển động theo xu thế của thị trường thì
giá sẽ hoàn lại một chút trước khi quay trở lại chuyển động theo xu thế cũ. Những chuyển động ngược xu
thế này thường có độ lớn ở vào những khoản có thể dự đoán được và được gọi là mức hoàn lại. Mức hoàn
lại trung bình thường gặp nhất là 50%. Bên cạnh đó còn có các mức hoàn lại thường thấy khác đó là các
mức 1/3 và 2/3. Nói cách khác, nếu chia một xu thế giá thành ba phần thì nói mức hoàn lại thấp nhất là
33% và cao nhất là 66% có nghĩa là ở giai đoạn điều chỉnh của xu thế đó giá sẽ hoàn lại ít nhất 1/3 mức
tăng (hay giảm) mà nó đạt được trong xu thế trước đó và mức hoàn lại đó không vượt quá 2/3 mức tăng
(hay giảm) trước đó đạt được. Nếu mức hoàn lại cao hơn thì khả năng sẽ xảy ra sự đảo chiều thị trường
tức là giá sẽ chuyển động theo xu thế đảo ngược xu thế trước mà không quay lại chuyển động theo xu thế
đó.

Khung Giao Dịch.
Thị trường có thể ở một trong 3 xu thế là xu thế tăng, xu thế giảm và xu thế dao động ngang. Nhiều người
cho rằng thị trường chỉ có thể tăng hoặc giảm, nhưng thực tế có đến 1/3 thời gian giá chuyển động theo
một hình mẫu dạng ‘phẳng’ nằm ngang gọi là khung giao dịch. Khung giao dịch là một dải nằm ngang
trên đồ thị trong đó bao gồm các dao động của giá trong một giai đoạn dài. Nói chung hầu hết các biến
động của thị trường sẽ diễn ra bên trong khung giao dịch. Tuy nhiên khi thị trường có biến động dạng
khung giao dịch thì lại rất khó kiếm được lợi nhuận. Khung giao dịch phản ánh thời kỳ mà áp lực cung cầu
là tương đối cân bằng và giá duy trì ở mức cân bằng thị trường. Đôi khi người ta còn gọi thời kỳ mà giá
biến động theo khung giao dịch là thời kỳ không có xu thế thị trường. Hầu hết các công cụ kinh tế đều
được tạo ra để có thể áp dụng vào các thị trường có xu thế tăng hoặc giảm rõ rệt còn khi thị trường ở dang
không có xu thế rõ rệt thì các công cụ này nhìn chung hoạt động kém hiệu quả, thậm chí là không thể áp
dụng. Đây cũng chính là thời kỳ gây khó chịu nhất cho những người đi theo Phân tích kỹ thuật và gây ra
nhiều lỗ nhất. Trong những tình huống ấy nhà đầu tư luôn phải đối mặt với một trong ba quyết định là
mua, bán hay đứng ngoài không tham gia vào thị trường và thông thường thì quyết định không tham gia
vào thị trường luôn là quyết định sáng suốt nhất.

Thực tế cũng có một số phương pháp có thể áp dụng để kiếm lời khi thị trường xuất hiện dạng khung giao
dịch, chẳng hạn như sử dụng các chỉ số dao động thị trường (Oscillators) mà ta sẽ nghiên cứu ở phần sau.
Nhìn chung rất khó có thể dự đoán sự xuất hiện trong tương lai của mô hình khung giao dịch. Mô hình này
cũng có thể kéo dài trong nhiều tháng, một năm hay nhiều năm. Cũng giống như kênh, khung giao dịch
cũng có các đường biên bên trên và bên dưới, đây chính là các đường kháng cự và hỗ trợ của khung (ta sẽ
nghiên cứu về kháng cự và hỗ trợ ở phần sau). Những “sự phá vỡ” (break out) ra ngoài khung có thể là các
dấu hiệu quan trọng để tiến hành các giao dịch. Tuy nhiên cũng cần lưu ý bởi giá cũng thường dao động
vượt ra ngoài khung nhưng chỉ với một lượng nhỏ, sau đó quay trở lại bên trong khung. Đôi khi nguyên
nhân của hiện tượng này là do những lệnh dừng mà nhà đầu tư đã đặt và những lệnh này tác động đến
những vùng giá nằm ngoài khung. Khi những lệnh này kết thúc thì giá sẽ trở lại dao động bên trong khung
giao dịch nếu không có những lý do liên quan đến những yếu tố tài chính cơ bản hay có sự xuất hiện khối
lượng giao dịch lớn duy trì sự vượt ra ấy. Nhìn chung nhà đầu tư không nên đi theo ngay những
“breakout” mới xuất hiện mà nên chờ thêm một dao động tiếp theo xác nhận “breakout” này cho dù điều
này có thể làm chậm lại một chút nhưng sẽ tránh được rất nhiều dấu hiệu sai và tránh được những khoản
lỗ.



                                                                                                       16
Hỗ trợ và kháng cự
Việc nghiên cứu về mức hỗ trợ và kháng cự là một trong những vấn đề khá quan trọng đối với Phân tích
kỹ thuật. Nó cho phép người nghiên cứu có thêm những cơ sở mới trong việc chọn các loại cổ phiếu để
mua hay bán, trong dự đoán các biến động tiềm năng, trong việc chỉ ra những thời điểm mà thị trường có
thể gây ra rắc rối cho nhà đầu tư. Trên thực tế, nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm đã xây dựng cho họ một
“hệ thống đầu tư” riêng dựa hầu hết vào những nguyên lý về mức kháng cự và hỗ trợ. Việc nghiên cứu về
mức kháng cự và hỗ trợ một cách đầy đủ cần rất nhiều thời gian và cần thêm nhiều yếu tố khác, người viết
chỉ xin đưa ra một số khía cạnh cơ bản nhất với mục đích đưa ra cơ sở lý thuyết cơ bản nhất về khái niệm
quan trọng này của Phân tích kỹ thuật.




Mức kháng cự và hỗ trợ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu phân tích các hình mẫu kỹ thuật.
Những kiến thức cơ bản về mức kháng cự và hỗ trợ sẽ giúp người nghiên cứu dễ dàng hiểu bản chất và
các ứng dụng của các hình mẫu đó.

Mức hỗ trợ thường được dùng khá thông dụng. Trên thị trường phố Wall, bạn có thể nghe thấy việc một
nhóm nhà đầu tư luôn sẵn sàng hỗ trợ thị trường bằng cách mua tất cả các chứng khoán chào bán nếu giá
giảm 5 điểm. Vậy mức hỗ trợ là gì? Ta có thể định nghĩa mức hỗ trợ là việc mua thực tế hay khả năng
mua với khối lượng đủ để làm ngưng lại xu thế giảm của giá trong một thời kỳ đáng kể (tương đối dài).
Mức kháng cự lại ngược lại với mức hỗ trợ: đó là việc bán, trong thực tế hay tiềm năng, một khối lượng
đủ để thoả mãn tất cả các mức chào mua, do đó, làm giá ngừng không tăng nữa trong một khoảng thời
gian nhất định. Như thế mức kháng cự và hỗ trợ là gần giống theo thứ tự với khối lượng cầu và khối lượng
cung. Mức hỗ trợ là mức giá ở đó mức cầu cho một cổ phiếu là đủ để, ít nhất là, làm dừng xu thế giảm giá
của thị trường và cũng có thể đổi chiều xu thế đó, tức là làm xu thế giá đi xuống quay ngược đi lên. Từ đó
ta có định nghĩa về mức kháng cự, đó là mức giá mà ở đó lượng cung đủ để giá sẽ ngừng không tăng nữa
và có thể chuyển động ngược lại đi xuống. Theo lý thuyết thì mỗi mức giá có một lượng cung và cầu nhất
định. Nhưng khoản hỗ trợ thể hiện sự tập trung của cầu còn khoảng kháng cự thể hiện sự tập trung của
cung. Như vậy với một hình mẫu giá nhất định, chẳng hạn ta xét với hình mẫu dạng hình chữ nhật (mô
hình này phản ánh giai đoạn thị trường gồm rất nhiều những dao động nhỏ của giá theo hướng ngang đồ
thị chứ không hướng lên hay hướng xuống rõ rệt, hai đường nối các đỉnh và các đáy của thị trường trong
giai đoạn này gần như song song, không cần thiết phải song song 100% nhưng độ lệch phải rất nhỏ, hay
có thể nói là một dạng của khung giao dịch), đường nối các đỉnh có thể coi là mức kháng cự, còn đường
nối các đáy được coi là mức hỗ trợ.

                                                                                                       17
Nhìn chung trong giai đoạn hai mức này còn phát huy hiệu lực thì giá sẽ không vượt quá mức kháng cự và
không xuống dưới mức hỗ trợ. Nhưng với tư cách một nhà đầu tư ta sẽ quan tâm hơn đến việc xác định tại
sao và yếu tố nào làm xuất hiện các mức kháng cự và hỗ trợ ở một mức giá nhất định. Các chuyên gia còn
tập trung nghiên cứu thời điểm giá lên đạt đến mức kháng cự và khi nào giá xuống đến mức hỗ trợ.

Cơ sở của những dự đoán này cũng là những dữ liệu cơ bản hình thành nên lý thuyết về hỗ trợ và kháng
cự, đó là khi giá trị giao dịch có xu hướng bị tập trung tại một số mức giá có khối lượng các cổ phiếu được
giao dịch lớn. Điều đáng chú ý là tại bất kì mức giá nào xuất hiện mức khối lượng giao dịch lớn thường
đều trở thành điểm đảo chiều đối với xu thế hiện tại của thị trường và mọi điểm đảo chiều đều có xu
hướng lặp đi lặp lại thường xuyên và hoàn toàn mang tính tự nhiên. Có một thực tế quan trọng mà nhiều
khi một số người quan sát và phân tích biểu đồ một cách ngẫu nhiên không nhận ra đó là: những mức giá
đó đang dần dần chuyển vai trò từ hỗ trợ thành kháng cự và ngược lại từ kháng cự thành hỗ trợ. Nếu như
biến động của giá vượt qua một đỉnh giá đã được hình thành trước đó thì đỉnh này sẽ đóng vai trò là
khoảng đáy của xu thế giảm giá (điều chỉnh) sẽ xuất hiện sau xu thế tăng hiện tại và một đáy sau khi đã bị
giá vượt xuống dưới sẽ trở thành khoảng đỉnh của xu thế tăng sẽ xuất hiện ngay sau đó.

Quá trình hình thành một xu thế thông thường.
Ta sẽ xem xét các ví dụ:

Giả sử một cổ phiếu đang trong xu thế tăng mạnh và tăng từ mức giá 12 lên đến 24, đồng thời trên thị
trường cũng đang có một khối lượng cổ phiếu lớn đang được chào bán. Kết quả của việc này là thị trường
có thể phản ứng và hình thành một xu thế điều chỉnh trung gian (tạm thời), làm giá giảm xuống còn 18,
hoặc cũng có thể phản ứng của thị trường làm xuất hiện hàng loạt những dao động nhỏ quanh mức, chẳng
hạn, từ 24 xuống đến 21 tạo thành một dạng hình mẫu mang tính củng cố xu thế hiện tại. Sau thời gian
điều chỉnh hoặc củng cố này sẽ xuất hiện một đợt tăng giá mới và đưa giá lên đến 30, tại đó cung lại đầy
và dư, làm ngưng lại đợt tăng giá này. Lúc đó lại có thể xuất hiện một trong hai dạng mô hình điều chỉnh
hay củng cố. Nếu xảy ra điều chỉnh, câu hỏi đặt ra là xu thế giảm tạm thời này sẽ xuất hiện ở mức nào?
Câu trả lời là mức giá 24, đây là đỉnh đầu tiên của xu thế tăng giá chính (cấp 1) trên thị trường - mức giá
này thấp hơn mức giá hiện tại và tại đó lại xuất hiện tổng giá trị giao dịch rất lớn. Khi đó nó đóng vai trò
và hoạt động như một mức kháng cự, tạo ra sự ngưng tăng hay đảo chiều của đợt tăng giá đầu tiên. Sau
khi bị vượt qua thì vai trò của nó lại là mức hỗ trợ, làm ngưng hay có thể đảo chiều, dù rất ít xu thế giảm
giá đang diễn ra trên thị trường.

Một ví dụ tương tự đưa ra với một cổ phiếu đang trong xu thế giá giảm. Giả sử cổ phiếu đang ở một đỉnh
lớn của toàn thị trường ở mức giá 70, giá giảm xuống còn 50. ở tại mức 50 xuất hiện một đỉnh điểm diễn
ra các giao dịch nhưng chỉ mang tính tạm thời. Thị trường có tổng khối lượng giao dịch lớn, giá tăng lên,
có thể lại trượt xuống một chút như một dạng kiểm tra mức giá 50 có thực sự là một điểm dừng quan trọng
của thị trường hay không. Sau đó xuất hiện giai đoạn hồi phục đưa giá lên 60. Tại mức 60 sức mua yếu
dần, xu thế giá đảo lại và đi xuống, giá sẽ giảm mạnh hơn ở đợt giảm mới này và làm xuất hiện một mức
đáy thấp hơn là 42. Đến đây, lặp lại thời kỳ trước, nhu cầu mua lại tăng lên và lại xuất hiện quá trình hồi
phục lần hai. Chúng ta có thể tự tin chờ đợt hồi phục từ mức giá 42 này lên sẽ tăng lên đến mức kháng cự
(đã được kiểm tra là “mạnh”) đó là mức giá 50. ở đợt giảm lần đầu mức giá này đóng vai trò mức hỗ trợ,
bây giờ nó đóng vai trò mức kháng cự, mức đáy lúc trước trở thành mức đỉnh của thị trường.

Vậy ta đặt ra câu hỏi tại sao có sự chuyển vai trò ở hai ví dụ trên? Ta bắt với ví dụ thứ 2 trước. Giá đầu
tiên giảm xuống đến 50 và xuất hiện khối lượng giao dịch tương đối lớn, rồi lại đảo chiều tăng lên 60
nhưng lực tăng yếu dần. Ở mức giá 50, rất nhiều cổ phiếu đã được giao dịch, với mỗi người bán đều có ít
nhất một người mua tương ứng. Một số người đã mua nhưng với chủ định nắm giữ trong ngắn hạn và đã
bán đi, bây giờ họ không còn quan tâm đến loại cổ phiếu này. Một số khác là những nhà đầu tư ngắn hạn
và thậm chí cả một số chuyên gia có thể đã mua ở mức giá 50 bởi đơn giản là họ thấy thị trường đang ở
                                                                                                           18
một mức đáy tạm thời và mua với mong muốn kiếm lãi khi giá tăng lên theo dự kiến của họ, hoàn toàn có
thể giả sử họ đã thực hiện được mục đích của mình và đã thoát ra khỏi thị trường trước khi giá tụt xuống
dưới mức 50. Với đa số những nhà đầu tư còn lại, quyết định mua của họ là do họ thấy mức giá 50 là mức
giá thấp đủ thảo mãn họ bởi chỉ vài tháng trước giá cổ phiếu được bán trên mức 70, rõ ràng 50 là một mức
giá hời, đồng thời họ cũng cho rằng giá sẽ lại lên và lên nữa trong thời gian dài.

Nhưng hãy đặt mình vào vị trí của những người vừa mua cổ phiếu đó. Họ nhìn thấy giá tăng hàng ngày,
lên 55 rồi lên 58 rồi đến 60, những nhận định của họ lúc trước có vẻ đúng và họ vẫn tiếp tục nắm giữ cổ
phiếu. Rồi xu thế tăng này yếu đi, giá lại giảm xuống còn 57, 55 rồi 52 rồi lại về 50. Họ có lo lắng một
chút những rồi lại vẫn cho rằng 50 là mức rất rẻ, vẫn hời, đặc biệt khi thị trường dừng lại ở mức giá 50
trong một thời gian ngắn.

Rồi giá lại giảm tiếp phá vỡ mức giá 50. Lúc đầu có thể họ vẫn hi vọng đây chỉ là mức giảm tạm thời, là
một chút biến động của giá và thị trường sẽ hồi phục nhanh chóng. Thế nhưng hi vọng ấy mất đi khi xu
thế giảm giá vẫn tiếp tục và không hề tỏ ra là sẽ có điều chỉnh. Những nhầ đầu tư bắt đầu tỏ ra lo lắng, có
điều gì đó không ổn đã xảy ra. Cho đến khi giá giảm còn 45, mức giá hời lúc trước không còn là một quả
cam ngọt nữa mà là một quả chanh.

Với ví dụ thứ nhất về xu thế tăng giá của thị trường. Khi giá tăng từ 12 đến 24 các nhà đầu tư đều cho rằng
24 là mức giá tương đối cao so với 12 (mức giá mà họ đã mua vào) do đó họ bán, khi mà sau đó giá giảm
xuống một chút đến 20, họ đều tự chúc mừng cho sự sáng suốt của mình. Nhưng rồi xu thế giá lại đảo
chiều, giá tăng vọt lên 30, họ sẽ không còn cảm thấy như vậy nữa. Họ ước gì mình vẫn nắm giữ cổ phiếu
đó và có thể muốn mua lại cổ phiếu này, tất nhiên là không mua cao hơn 24, rõ ràng nếu giá giảm xuống
còn 24 sẽ có rất nhiều nhà đầu tư lại mua vào với hi vọng kiếm lời nhiều hơn.

Những ví dụ trên đây phản ánh một cách chung nhất tâm lý của những nhà đầu tư trên thị trường và tác
động của họ tới việc hình thành cũng như sự chuyển vai trò của mức kháng cự và hỗ trợ. Qua đó ta cũng
nhận thấy rằng tại một mức giá kháng cự hay hỗ trợ, nếu giá dao động quanh nó càng lâu thì vai trò và sức
mạnh của nó càng lớn và một xu thế giá phải thực sự mạnh mới có thể phá vỡ hay vượt qua được nó. Một
mức kháng cự hay hỗ trợ được duy trì càng lâu thì những biến động có khả năng vượt qua nó càng có ý
nghĩa và có thể được coi là những dấu hiệu cho những biến động lớn của thị trường.

Thêm một nhận xét nữa là khối lượng giao dịch cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong xác định các mức
kháng cự và hỗ trợ. Nếu mức kháng cự hay hỗ trợ hình thành mà không có dấu hiệu gì về sự thay đổi
trong khối lượng giao dịch thì mức độ tin cậy cũng như độ bền vững của chúng là không cao. Trái lại nếu
một mức hỗ trợ chẳng hạn được hình thành với khối lượng giao dịch rất lớn, điều này có nghĩa là tại đó
nhu cầu giao dịch là rất lớn, rõ ràng mức độ phản ánh cũng như ý nghĩa của nó là cao và quan trọng hơn
nhiều

                                    Phân tích kĩ thuật P.6
                            Các hình mẫu kỹ thuật (Chart Patterns)

Hình mẫu kĩ thuật hay còn gọi là các mô hình giá hoặc hình mẫu giá là các “bức tranh” hay các mô hình
biến động nhất định của giá xuất hiện trên biều đồ giá thị trường. Trong Phân tích kỹ thuật, các hình mẫu
kỹ thuật có vai trò vô cùng quan trọng bởi mục tiêu sau cùng của các nhà phân tích là tìm ra được sự lặp
lại của một dạng biến động nhất định của giá đã xuất hiện trong quá khứ ở hiện tại và tận dụng những kinh
nghiệm có được trong quá khứ về mô hình này cũng như những kết quả đã thống kê được để có một
phương án tốt nhất cho quyết định đầu tư trong hiện tại.
                                                                                                           19
Hình mẫu kỹ thuật dù được áp dụng khá rộng rãi với nhièu đối tượng chứ không chỉ riêng chứng khoán
chẳng hạn như áp dụng trong các giao dịch ngoại hối, trong phân tích các thị trường Futures của các hàng
hoá thông thường,… và còn áp dụng trong cả dài hạn lẫn ngắn hạn, tuy nhiên ta có thể phân chia một
cách tổng thể nhất thành hai loại là mô hình mang tính cung cố hay duy trì xu thế hiện tại của thị trường
và mô hình làm đảo chiều xu thế hiện.

Dưới đây ta cũng chỉ nghiên cứu được những mô hình chủ yếu và quan trọng nhất trong phân tích kỹ thuật
còn rất nhiều dạng khác đều là biến thể của các dạng cơ bản này.

Ascending triangle - Tam giác hướng lên
Mô hình tam giác hướng lên nhìn chung được coi là một dạng mô hình trung gian mang tính củng cố hay
báo hiệu sự tiếp tục xu thế hiện tại của thị trường. Tuy nhiên đôi khi nó cũng mang tính đảo ngược.
Thường thì mô hình này cần ít hơn ba tháng để hoàn thiện và khi xuất hiện thường kèm theo sự gia tăng
của khối lượng giao dịch. Với mô hình này ta có thể nhận thấy sự hội tụ của hai đường kháng cự và hỗ trợ
thể hiện bằng sự thu hẹp khoảng cách giữa các đỉnh và các đáy của thị trường, kéo dài hai đường kháng cự
và hỗ trợ chúng sẽ cắt nhau ở đỉnh tam giác ở phía phải đồ thị. Đường kháng cự nằm ngang và đường hỗ
trợ hướng lên cho thấy các mức giá cao có xu thế giữ nguyên còn các mức giá thấp nhất lại có xu thế tăng
dần lên, điều này cũng có nghĩa là người mua có động cơ mạnh hơn người bán.




“Breakout” (break-out có nghĩa là điểm xuất hiện sự đảo chiều của xu thế thị trường, ở đây sẽ dùng
nguyên văn tiếng Anh) sẽ xuất hiện ở khoảng giữa điểm 2/3 và 3/4 chiều ngang của mô hình (tính từ điểm
bắt đầu mô hình đến điểm cắt nhau của hai đường kháng cự và hỗ trợ)."Breakout" phá vỡ đường kháng cự
sẽ chứng tỏ mô hình mang tính củng cố còn nếu phá vỡ đường hỗ trợ sẽ chỉ ra rằng mô hình mang tính
đảo chiều. Có một cách để ước lượng mức giá mục tiêu thấp nhất mà sự đột phá ra ngoài mô hình này có
thể đạt tới là xác định mức giá của điểm giao nhau dự kiến của hai đường kháng cự và hỗ trợ kéo dài. Tiếp
đó ta đo chiều cao của mô hình tam giác tức là khoảng cách (đo theo chiều thẳng đứng) giữa điểm cao
nhất của đường kháng cự và điểm thấp nhất của đường hỗ trợ, rồi cộng khoảng này vào mức giá của giao
điểm vừa đo ở trên nếu là "breakout" hướng lên và sẽ lấy mức giá của giao điểm trừ đi khoảng này nếu là
"breakout" hướng xuống.

Cup and Handle (mô hình cốc và chuôi):
Mô hình cốc và chuôi xuất hiện khi thị trường đang trong xu thế lên giá và nó củng cố xu thế đó của thị
                                                                                                          20
trường. Mô hình này gồm hai phần: phần “cốc” và phần cái “chuôi”, mô hình “cốc” kéo dài trong 1 đến 6
tháng còn mô hình chuôi kéo dài trong 1 đến 4 tuần. Phần cốc hình thành sau một đợt tăng giá của thị
trường và có dạng đáy vòng xuống. Khi mô hình “cốc” hoàn thành một mô hình khung giao dịch sẽ tiếp
tục hình thành ở phía bên phải và tạo nên cái “chuôi” (như hình vẽ).




Thường thì tính củng cố của mô hình sẽ được đảm bảo hơn nếu xu thế tăng giá ban đầu kéo dài trong vài
tháng tức là đảm bảo nó không quá yếu. Cũng cần lưu ý với dạng của mô hình cốc: đáy của nó càng vòng
càng tốt và nếu như nó quá nhọn và gần giống với chữ V thì rất dễ chuyển tính chất thành mô hình đảo
chiều. Một mô hình cốc hoàn hảo sẽ có hai thành cốc cao ngang nhau, độ sâu của nó hoàn lại khoảng 1/3
hoặc ít hơn mức tăng giá trước đó, tất nhiên điều này ít khi xảy ra. Với thị trường có độ bất ổn lớn
(volatile) thì mức hoàn lại có thể trong khoảng 1/3 đến ẵ, them chí có thể đạt đến 2/3.

Mô hình “chuôi” làm cho đợt gia tăng giá ở bên phải “cốc” ngừng lại và biến động nhỏ trong một khung
giao dịch và có thể kéo lùi giá lại một chút so với thành “cốc”.Toàn bộ chiều cao của khung thường đạt
mức 1/3 chiều cao “cốc”. "Breakout" xuất hiện sẽ phá vỡ mức kháng cự và tiếp tục xu thế tăng giá của thị
trường.

Descending Triangles - tam giác hướng xuống




                                                                                                      21
Mô hình tam giác thường xuất hiện trong thị trường xuống giá và cũng mang tính củng cố (hay duy trì) xu
thế hiện tại. Thời gian tồn tại của mô hình này là khoảng 1 đến 3 tháng. Hai đường kháng cự và hỗ trợ có
xu hướng hội tụ, đường kháng cự hướng xuống còn đường hỗ trợ nằm ngang.

Về điểm xuất hiện "breakout", điểm giá mục tiêu sau "breakout" cũng như mối quan hệ giữa điểm hội tụ
hai đường kháng cự, hỗ trợ và độ dài của mô hình ta có thể xem ở phần mô hình tam giác hướng lên.

Mô hình này phản ánh tâm lý người mua cho rằng cổ phiếu đang vượt quá giá trị thực của nó và mức giá
hợp lý phải thấp hơn do đó mà đường kháng cự đi xuống trong khi đường hỗ trợ nằm ngang.Rõ ràng nếu
xuất hiện "breakout" thì giá sẽ tiếp tục giảm.Điểm khác biệt với mô hình tam giác hướng lên là ở chỗ khối
lượng giao dịch sẽ ít dần đi và càng ít khi tiến gần đến điểm hội tụ.

Symmetrical triangle - hình mẫu kỹ thuật tam giác cân




Nói chung một hình mẫu tam giác được xem xét như là một hình mẫu dạng tiếp tục xu thế của thị trường
hoặc là một hình mẫu củng cố của xu thế. Tuy nhiên, đôi khi nó đánh dấu một sự đảo ngược của khuynh
hướng. Nói chung hình mẫu kỹ thuật “tam giác cân” được xem xét như là những mẫu trung gian chuyển
                                                                                                    22
tiếp của xu thế biến động giá chứng khoán. Thông thường nó cần khoảng một tháng để hình thành, ít khi
nó cần đến ba tháng để hình thành. Sự hội tụ của hai đường kháng cự và hỗ trợ đã mang lại cho chúng ta
hình dáng của hình mẫu kỹ thuật “tam giác cân”. Trên thị trường chứng khoán dạng hình mẫu kỹ thuật này
khá dễ dàng để nhận biết nó, ngoài ra hình mẫu kỹ thuật này cũng được các chuyên viên Phân tích dùng
như một công cụ đáng tin cậy để giao dịch, nhưng các chuyên viên cũng cảnh báo rằng tín hiệu đáng tin
cậy để giao dịch đó là sự xuyên chéo một trong hai đường trendline bởi đường biểu diễn sự biến động giá
chứng khoán một cách rõ ràng.

Flags and Pennants - Mô hình cờ chữ nhật và cờ đuôi nheo

Hình mẫu kỹ thuật Flags & Pennants là những mô hình continuation - tiếp tục xu thế của thị trường trong
ngắn hạn, nó đánh dấu một bước củng cố để tiếp tục lấy lại xu thế của thị trường. Thông thường trước khi
xảy ra những hình mẫu kỹ thuật này thì được xác nhận bằng sự tăng hoặc giảm giá mạnh kết hợp với khối
lượng giao dịch lớn, nó đánh dấu điểm chính giữa của xu thế biến động giá (thực chất nó là những hình
mẫu kỹ thuật mang tính chất củng cố của xu hướng biến động giá chứng khoán). Để được xem xét là một
hình mẫu kỹ thuật mang tính continuation - tiếp tục xu thế của thị trường - nó cần được xác nhận bằng một
khuynh hướng diễn ra trước đó.




Rectangle - hình mẫu kỹ thuật hình chữ nhật




                                                                                                      23
Hình mẫu kỹ thuật hình chữ nhật – Rectangle – là một dạng mô hình tiếp tục xu thế của thị trường, nó
trông giống như trong một kênh giao dịch cho đến cuối của xu thế biến động giá chứng khoán. Hình mẫu
kỹ thuật này có thể được nhận biết một cách rõ ràng thông qua hai đường nối các đỉnh và các đáy trong xu
thế biến động giá chứng khoán. đường nối các đỉnh và các đáy của xu thế biến động giá chứng khoán tạo
thành đỉnh và đáy của hình chữ nhật. Những hình chữ nhật đôi khi được xem như những khung giao dịch,
những khu vực củng cố hoặc bế tắc trong sự biến động của giá chứng khoán. có nhiều sự tương đồng giữa
mô hình “hình chữ nhật” – Rectangle và mô hình “tam giác cân” - Symmetrical triangle, trong khi cả hai
đều là những hình mẫu kỹ thuật tiếp tục khuynh hướng của thị trường, chúng đều mang lại những thông
tin khá quan trọng đó là dự báo những đỉnh và đáy của xu thế. Không như với hình mẫu kỹ thuật tam giác
cân, hình mẫu kỹ thuật hình chữ nhật chỉ hoàn thiện cho tới khi "breakout" xuất hiện. thỉnh thoảng những
tín hiệu sớm có thể được nhận biết, nhưng thường thì dấu hiệu "breakout" khó có thể xác định trước một
cách sớm và chính xác. Rectangle có thể diễn ra trong một vài tuần hoặc trong vài tháng, thông thường thì
hình mẫu này diễn ra trong khoảng ba tuần, trong trường hợp lý tưởng Rectangle có thể diễn ra trong
khoảng ba tháng, nói chung những dấu hiệu "breakout" do những Rectangle diễn ra trong thời gian dài
thường tin cậy hơn những dấu hiệu "breakout" được mang lại bởi những Rectangle diễn ra trong khoảng
thời gian ngắn hơn.

                                   Phân tích kĩ thuật P.7
Double bottom (Mô hình hai đáy)

Mô hình hai đáy hình thành khi giá tạo thành hai điểm đáy liên tiếp trên cùng một đồ thị. Mô hình này chỉ
hoàn thiện khi giá tăng vượt qua điểm bắt đầu hình thành đáy thứ hai (tức là vượt qua đường Neckline sau
khi đã chạm đến đáy thứ hai). Mô hình hai đáy là thời kỳ chuyển đổi xu thế giảm giá thành xu thế tăng
giá, nó mang tính đảo chiều. Có điều là mô hình này tương đối dễ nhận ra nên cũng rất dễ nhầm do đó nhà
đầu tư nên cẩn thận khi quyết định tham gia trong thời kỳ này. Thực tế thống kê cho thấy nếu nhà đầu tư
nóng vội tham gia ngay từ đầu thì xác xuất thất bại là 64% còn nếu họ cố gắng đợi đến khi xuất hiện
"breakout" (đảo chiều) thật sự thì xác xuất thất bại chỉ còn 3%.




                                                                                                       24
Để có thể nhận diện chính xác mô hình, nhà đầu tư nên chú ý đến một số vấn đề: đáy thứ hai không nên
xuống vượt quá đáy thứ nhất; khoảng thời gian giữa hai đáy cũng là một dấu hiệu quan trọng-thời gian
càng dài thì độ chính xác càng cao-ít nhất phải là một tháng và có thể kéo dài nhiều tháng.

Double top (Mô hình hai đỉnh)




Mô hình hai đỉnh hình thành khi đường biểu diễn sự biến động của giá chứng khoán hình thành hai đỉnh
trên biểu đồ. Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá chứng khoán rơi xuống dưới mức sàn đáy (điểm dưới
cùng của đáy) của toàn mô hình. Mô hình hai dỉnh là mô hình thể hiện sự đảo ngược của xu hướng tăng
giá chứng khoán – nó đánh dấu quá trình chuẩn bị cho xu hướng đi xuống của xu hướng tăng giá trong
hiện tại (nó báo hiệu cho một thị trường giảm giá). Vì đây là mô hình rất hay thường gặp và rất dễ nhận ra
nên khi nhận định về thị trường chúng ta nên xem xét một cách cẩn then. Bolkowski ước tính mức thất bại
của mô hình này là 65% nếu nhà đầu tư đợi đến mức đột biến giá (Breakout) mới tiến hành giao dịch thì
mức rủi ro giảm xuống còn 17%.

                                                                                                       25
Falling wedge (Mô hình cái nêm hướng xuống):




Mô hình Falling wedge là một hình mẫu kỹ thuật dạng bullish (chỉ báo thị trường tăng giá), mô hình bắt
đầu thì biên khoảng cách giữa hai đường xu thế rộng sau đó độ rộng giảm dần khi giá chứng khoán giảm.
Sự biến động của giá hình thành một hình chóp nón hướng xuống dưới do các đỉnh và đáy dần hội tụ.
Hình mẫu kỹ thuật Falling wedge trượt hướng xuống phía dưới và có dấu hiệu bullish (chỉ báo thị trường
tăng giá), tuy nhiên dấu hiệu bullish (chỉ báo thị trường tăng giá) này sẽ không thể được nhận ra cho đến
khi có "breakout" (đảo chiều xu thế ) khỏi đường kháng cự. Khi mô hình mang tính continuation (tiếp tục
xu thế của thị trường), thì Falling wedge vẫn sẽ hướng xuống dưới và xu hướng này ngược với xu thế của
thị trường hiện tại. Khi nó mang tính reversal (đảo ngược với xu thế của thị trường), thì Falling wedge
hướng trượt xuống dưới cùng với xu thế của thị trường. Nhưng cho dù Falling wedge thuộc loại nào thì nó
vẫn là hình mẫu kỹ thuật báo hiệu sự tăng giá!


Head and shoulders top (hình mẫu kỹ thuật đỉnh đầu vai)




                                                                                                      26
Đỉnh đầu vai là một hình mẫu kỹ thuật hết sức phổ biến đối với những nhà đầu tư vì nó là một hình mẫu
kỹ thuật đáng tin cậy nhất trong tất cả những hình mẫu kỹ thuật được trình bày trong đề tài nghiên cứu
này, đồng thời nó cũng thường được nhận ra một cách dễ dàng. Những nhà phân tích kỹ thuật ít kinh
nghiệm thường mắc lỗi đối với hình mẫu kỹ thuật này vì họ nhận thấy nó xuất hiện khá phổ biến trên biểu
đồ. Những nhà phân tích kỹ thuật chuyên nghiệp thường nhận biết hình mẫu kỹ thuật này thông qua
những biến cố thực sự. Đỉnh đầu vai là loại hình mẫu kỹ thuật đảo ngược xu thế của thị trường. Nó là dấu
hiệu quan trọng đánh dấu sự đảo chiều của xu thế biến động giá chứng khoán từ xu thế tăng giá chuyển
thành xu thế giảm giá.
Hình mẫu kỹ thuật đỉnh đầu vai thực ra là sự mô phỏng theo hình dáng đầu và hai vai của con người, hình
mẫu gồm ba đỉnh cao nhọn được tạo bởi ba điểm khôi phục - tăng giá trở lại sau khi giá giảm trong sự
biến động của giá chứng khoán. Đỉnh đầu tiên – vai trái – xuấn hiện khi giá chứng khoán tăng đạt tới đỉnh
của nó và sau đó giảm xuống. Đỉnh thứ hai – cái đầu- xảy ra khi giá chứng khoán tăng lên đến một đỉnh
cao mới cao hơn đỉnh của vai trái rồi sau đó lại giảm xuống. Đỉnh thứ ba – vai phải – xuất hiện khi giá
chứng khoán tăng một lần nữa nhưng không cao bằng đỉnh thứ hai, rồi lại giảm xuống sau khi đã đạt được
đỉnh của nó. Đỉnh của hai “vai” chắc chắn sẽ thấp hơn đỉnh của “đầu”. Trong mô hình phân tích cổ điển
thì hai đỉnh của hai vai phải cân bằng với nhau nhưng điều quan trọng nhất quyết định của mô hình này đó
chính là đường nối hai đáy của hai vai gọi là đường “vòng cổ” – neckline – mô hình sẽ bị phá vỡ khi
đường vòng cổ bị xuyên chéo bởi giá chứng khoán và giá chứng khoán tiếp tục giảm xuống dưới đường
“vòng cổ” – neckline – các chuyên viên Phân tích kỹ thuật cho rằng mô hình không được khẳng định là
đúng cho tới khi giá chứng khoán giảm xuống dưới đường “vòng cổ” – neckline.


Rounding bottom (hình mẫu kỹ thuật đáy vòng cung)




                                                                                                      27
Rounding bottom là một hình mẫu kỹ thuật đảo ngược xu hướng biến động thị trường – reversal – dài hạn,
nó thường được dùng để phân tích với biểu đồ hàng tuần. Nó đại diện cho một thời kỳ củng cố dài hạn
trong xu thế biến động của giá chứng khoán, nó là mô hình chuyển tiếp từ một khuynh hướng giảm giá
liên tục – Bearish – sang một khuynh hướng tăng giá mạnh – bullish. Sự xác nhận của khuynh hướng tăng
giá mới – bullish – khi khuynh hướng biến động giá chứng khoán vượt qua đường miệng của vòng cung,
nó đánh dấu một khuynh hướng mới trong quá trình biến động của giá chứng khoán, như một mức hỗ trợ
của sự đột biến giá chứng khoán, đường này cũng được coi là mức kháng cự của xu thế mới. Tuy nhiên,
Rounding bottom đại diện cho sự đảo chiều của sự biến động giá chứng khoán trong dài hạn và mức hỗ
trợ mới cũng trở thành không mấy quan trọng nữa.

Triple bottom (hình mẫu kỹ thuật ba đáy)




Mô hình ba đáy được hình thành bởi ba đáy phụ riêng biệt với mức xấp xỉ bằng nhau. Mô hình ba đáy
được xem như là mô hình cải tiến của mô hình đỉnh đầu vai ngược, mô hình ba đáy là hình mẫu dạng đảo
ngược xu thế biến động của thị trường. Thứ duy nhất để phân biệt giữa mô hình ba đáy và mô hình đỉnh
đầu vai ngược đó chính là đỉnh - “đầu” – nằm giữa hai “vai”. Mô hình ba đáy biểu diễn xu thế giảm xút
trong quá trình nó trở thành một xu thế tăng giá. như vậy nó chỉ còn hợp lệ khi nó vẫn trong quá trình
giảm xút so với hai đỉnh ở giữa hay là nó chưa đi xuyên chéo qua đường vòng cổ – neckline – vượt qua
mức kháng cự của mô hình. Bởi vì hình mẫu kỹ thuật này rất dễ nhầm lẫn với nhiều hình mẫu kỹ thuật
khác cho nên cach chuyên viên phân tích khuyên rằng để ứng dụng mô hình này một cách có hiệu quả cao
nhất trong quá trình đầu tư, chúng ta nên chờ đợi một dấu hiệu "breakout" một cách rõ ràng thông qua sự
                                                                                                       28
xuyên chéo của đường biểu diễn giá chứng khoán với đường kháng cự của mô hình – neckline – trước khi
nhận định đây có phải thực sự là hình mẫu kỹ thuật dạng “ba đáy” hay không

Triple top (hình mẫu kỹ thuật ba đỉnh)




Mô hình ba đỉnh được xem là mô hình cải tiến của mô hình đỉnh đầu vai. Tương tự như mô hình “ba đáy”
thứ duy nhất để phân biệt một cách rõ ràng giữa mô hình này với mô hình đỉnh đầu vai đó chính là đỉnh
“đầu” nằm giữa hai “vai”, trong mô hình “ba đỉnh” thì ba đỉnh xấp xỉ cao bằng nhau, nhưng trong mô hình
“đỉnh đầu vai” thì hoàn toàn khác, đỉnh đầu cao hơn hẳn so với hai vai hai bên. Như hình minh hoạ ở bên
dưới thì mô hình “ba đỉnh” được hình thành từ ba đỉnh sắc nhọn, cả ba đỉnh có độ cao gần bằng nhau. Một
đỉnh trong bộ ba xuất hiệ khi giá chứng khoán đang ở trong giai đoạn tăng giá, sự tăng giá lên tới mức
kháng cự của mô hình sau đó giá chứng khoán giảm xuống mức hỗ trợ của mô hình, sau đó xuất hiện sự
tăng giá trở lại nhưng chỉ đạt đến mức kháng cự ngang bằng với mức kháng cự của mô hình và lại giảm
xuống, sự tăng giá trở lại mức kháng cự thứ ba trước khi giá chứng khoán bị giảm một cách nhanh chóng
xuống dưới mức hỗ trợ của mô hình. Hình mẫu kỹ thuật ba đỉnh là một hình mẫu dạng đảo chiều của thị
trường nó đánh dấu một thời kỳ chuyển tiếp giữa một xu thế tăng giá và một xu thế giảm giá. Điều kiện
đầu tiên của mô hình đó là phải được bắt đầu băng một xu thế tăng giá. Các chuyên viên phân tích khuyên
rằng nhà đầu tư nên đợi sự xuất hiện của sự xuyên chéo giữa đường biểu diễn giá chứng khoán với đường
hỗ trợ của mô hình – neckline – một cách rõ ràng. nếu giá chứng khoán không giảm mạnh sau sự xuất hiện
đỉnh thứ ba thì đó không phải là mô hình “ba đỉnh”. Đôi khi trong thực tế mô hình “ba đỉnh” không thực
sự xảy ra một cách hoàn hảo ví dụ như ít khi ba đỉnh có độ cao xấp xỉ bằng nhau, mà sự bằng nhau chỉ
mang tính chất có sự sai lệch có thể chấp nhận được.

Phân tích kĩ thuật P.8 - Sử dụng đường hỗ trợ và đường kháng cự trong phân tích

Đường hỗ trợ và kháng cự là một trong những công cơ bản được các tay buôn chứng khoán sử dụng để
phân tích và xác định vùng biến động của giá cổ phiếu trên thị trường. Có thể ở Việt Nam, khái niệm
đường hỗ trợ, đường kháng cự còn rất lạ lẫm đối với nhiều nhà đầu tư song khái niệm này được nhắc tới
và sử dụng rất phổ biến trong phân tích kĩ thuật, thậm chí còn được coi là kim chỉ nam, là sách gối đầu
giường của nhiều tay chơi cổ phiếu. Bài viết này nhằm cung cấp các kiến thức cơ bản nhất về mức hỗ
trợ, mức kháng cự cũng như cách xác định các mức giá có khả năng xảy ra trong tương lai.

Một trong những tiên đề nổi tiếng, có tính kinh điển trong phân tích kĩ thuật đó là "giá cả của cổ phiếu
chịu sự tác động mạnh mẽ của mức hỗ trợ và mức kháng cự". Hỗ trợ là thuật ngữ dùng để chỉ các tác
động giữ cho giá cổ phiếu luôn cao hơn một mức nào đó, còn kháng cự ngược lại, là thuật ngữ được sử
                                                                                                           29
dụng để chỉ các tác động khiến cho giá cổ phiếu luôn thấp hơn một mức nhất định nào đó. Người ta đã
nghiệm ra rằng lịch sử luôn lặp lại, nếu trong quá khứ các mức giá đã từng đóng vai trò là giá kháng
cự,thì chúng có xu hướng sẽ lặp lại vai trò đó trong tương lai. Việc biểu diễn được các đường hỗ trợ hay
kháng cự trên đồ thị cổ phiếu sẽ giúp nhà đầu tư xác định được tầm quan trọng của chúng trong quá khứ
cũng như tiên liệu được các biến động trong tương lai. Khi nhận thấy thị trường đang giao dịch với mức
giá gần với và hướng về các mức trên, ta có thể đưa ra một số dự báo hợp lý về giá cả cổ phiếu trong
thời gian tới, từ đó có được các quyết định đầu tư cho riêng mình.

Vậy thế nào là hỗ trợ, thế nào là kháng cự và hình thù của chúng trên các đồ thị cổ phiếu ra sao? Để giải
quyết được câu hỏi này, hãy cùng quan sát một đồ thị có biểu diễn các đường kháng cự và đường hỗ trợ
tại các mức giá hết sức rõ ràng và dễ nhận biết. Sử dụng các thông tin rút ra từ bảng này ta có thể biết
được liệu các mức kháng cự hay hỗ trợ này có lặp lại không khi giá cổ phiếu có xu hướng chạm tới các
mức giá đó. Tuy nhiên, trước khi đi sâu khám phá những bí ẩn đằng sau các biểu đồ, hãy cùng tìm hiểu
một số thuật ngữ và các nguyên nhân dẫn tới sự hình thành của các đường này.

Bất kì ai thường xuyên theo dõi các kênh thông tin tài chính, đọc các tạp chí đầu tư như Financial
Times, vào các website chuyên ngành đầu tư chứng khoán của các thị trường lớn đều có thể nghe được
và đọc được các lời nhận xét của các chuyên gia tài chính như, đại loại như là "Tôi cho rằng mức hỗ trợ
của Dow là 7300" hay "Dow chắc chắn sẽ có mức kháng cự là 8100" Vậy thì bản chất tài chính của
kháng cự hay hỗ trợ là gì, và tại sao người ta lại nhắc đến nó nhiều như vậy. Robert Edwards và John
Magee trong tác phẩm kinh điển của họ có tựa đề "phân tích kĩ thuật xu thế biến động cổ phiếu"
(Technical analysis of stock trend) đã định nghĩa như sau:
Hỗ trợ là việc mua, có thể trên thực tế hoặc tiềm năng, một khối lượng lớn cổ phiếu trong một giai đoạn
nhất định nhằm ngăn chặn không cho giá của chúng giảm thêm nữa. Kháng cự, ngược với hỗ trợ, là
việc bán một lượng lớn cổ phiếu nhằm đáp ứng các lệnh mua, khiến cho mức giá không tăng thêm nữa.
Xét về quan hệ cung cầu thì hỗ trợ là mức giá mà tại đó cầu lớn hơn cung, còn kháng cự là mức giá tại
đó cầu nhỏ hơn cung.




                                                                                                        30
Hãy cùng quan sát bảng 1 để thấy rõ hơn. Đây là biểu đồ chứng khoán của công ty Rubbermaid từ tháng 6
năm 1997 đến tháng 9 năm 1998. Đồ thị thể hiện ba lần giá cổ phiếu lên cao hơn mức 27.5 điểm ( tại A ,B
,C), sau đó lại đảo chiều và giảm giá. Kế đó, sau khi vượt qua mức 27.5 điểm vào tháng 1 năm 1998 giá cổ
phiếu lại tụt xuống (điểm D ,E ,F) trước khi tăng lên tới mức 35 điểm. Một đường thẳng được kẻ sao cho
càng gần với cả sáu điểm này càng tốt. Trong bảng này, ta thấy mức giá đóng vai trò kháng cự tại điểm A-
C, sau đó đảo chiều và đóng vai trò hỗ trợ tại điểm D-E.

Để giải thích được hành vi của thị trường, chúng ta cần phân tích rõ đồ thị này hơn chút nữa. Sau khi sụt
giảm mạnh từ mức 30 điểm vào giữa tháng 7 năm 1997, giá cổ phiếu sau đó đã tăng lên mức 27.5 (điểm
A) vào tháng 8, lại sụt giảm, rồi tăng lên mức 27.25 điểm vào tháng 8, sau đó lại sụt giảm. Chu kì này lại
tiếp diễn một lần nữa vào tháng 1 năm 1998, sau đó lại được đẩy từ mức 27.5 điểm lên mức 29.5 điểm vào
tháng 2.

Giả định rằng trước khi diễn ra sự sụt giá vào giữa tháng 7 năm 1997, các nhà đầu tư mua cổ phiếu ở mức
giá dưới 30 điểm đã kiếm được một khoản lợi nhuận sau khi bán lại các cổ phiếu này cho các nhà đầu tư
mới ở mức giá 30 điểm. Nhưng ngay sau đó, nhiều người trong số các cổ đông mới này đã đau khổ khi
phải chứng kiến tiền đầu tư của mình bỗng nhiên giảm đi mất 15% chỉ sau một đêm ngắn ngủi (giá giảm
xuống mức 25.5 điểm) và đương nhiên ai cũng mong ngóng ngày giá tăng để giảm bớt khoản lỗ.

Mặt khác, các nhà đầu tư đã lỡ cơ hội kiếm lời từ việc tăng giá ngay trước đó (từ thấp hơn 30 lên 30 điểm)
thì lại coi đây là một cơ hội tốt để mua vào, đơn giản vì mới chỉ hai ngày trước đó, mức giá còn ngất
ngưởng 30 điểm. Chính vì tâm lý này nên giá cổ phiếu đã tăng lên mức 27.5 (điểm A), và các cổ đông
mua cổ phiếu ở mức giá 30 cũng nhẹ nhõm hơn một chút vì mức lỗ của họ chỉ còn 2.5 điểm thay vì 4.5
điểm như trước đây. Nhiều người chấp nhận mức lỗ này, và không muốn kéo dài tình trạng lo lắng cho túi
tiền của mình, họ quyết định bán cổ phiếu ra, khiến cho giá sụt xuống. Chu trình này lặp lại (điểm B và C)
cho đến khi một bộ phận lớn các nhà đầu tư không chấp nhận mức lỗ 2.5 điểm và vẫn quyết định nắm giữ
cổ phiếu, khiến cho mức giá tiếp tục tăng và vượt qua mức 27.5 vào tháng 2 năm 1998, tiếp tục tăng lên
mức 29.5 điểm.
Tại mức giá này, nhiều nhà đầu tư cảm thấy hài lòng với quyết định nắm giữ cổ phiếu của mình, chấp
nhận mức lỗ 0.5 điểm, lo sợ vì mức giá duy trì yếu trong thời gian dài, họ quyết định liên lạc với người
môi giới của mình để bán cổ phiếu, khiến cho giá lại giảm xuống mức 27.5 (điểm D). Hiện tượng này tiếp
tục xảy ra thêm hai lần nữa (điểm E, F) cho đến khi những nhà đầu tư chấp nhận chịu mức lỗ nhỏ đã ra
khỏi thị trường, lúc này giá cả lại được đẩy lên mức 30 điểm vào tháng 5 năm 1998.

Quá trình trên không chỉ xảy ra tại mức giá này mà nó xảy ra ngay tại mỗi mức giá cổ phiếu được giao




                                                                                                       31
dịch. Mặc dù điều này có
vẻ quá đơn giản, nhưng đó
là một trong những kiểu ra
quyết định của các nhà đầu
tư giúp hình thành nên mức
hỗ trợ và mức kháng cự.
Một vài nhân tố quan trọng
hơn cả sẽ có ảnh hưởng lớn
đến biểu hiện của giá cả,
tuy nhiên nếu không tính
tới các nhân tố này, các
mức hỗ trợ và kháng cự này
có thể có những tác động rõ
rệt đến hình dạng của bảng
biểu chứng khoán thường
ngày. Nhưng quan trọng
hơn cả, bằng cách kết hợp
kiến thức về mức hỗ trợ,
mức kháng cự cùng với các
công cụ phân tích cơ bản và
phân tích kĩ thuật khác,
chúng ta có thể có những sự
so sánh, dự đoán xu hướng biến động của giá cả, chớp thời cơ làm giàu, hơn là bị động gánh chịu và sửng
sốt trước những biến đổi bất ngờ của nó.



Bảng thứ hai lại là một ví dụ khác, thể hiện biến động theo từng ngày của cổ phiếu OSSi (Outback
Steakhouse). Kể từ đầu năm 1998 tới giữa tháng 2, giá cổ phiếu tăng từ 28.5 lên 34.5 điểm (tại A). Hãy
chú ý tới phần đường biểu diễn nằm sát nhau ngay trên đường hỗ trợ được kẻ tại mức 34.5, và những biến
động của giá cả trong vài tháng tiếp đó khi nó tăng giảm chạm mức hỗ trợ 4 lần tại B, C, D, E. Từ điểm E
cho đến cuối tháng 7, giá tăng lên tới tận mức đỉnh điểm là 41(tại F), ngay sau đó lại tụt dốc rất nhanh
xuyên qua đường hỗ trợ, xuống mức 32.5 vào đầu tháng 8.




                                                                                                      32
Vì F là điểm cao nhất trong cả thời kì phân tích, ta sẽ kẻ một đường thẳng từ điểm G đến điểm E, kéo
thẳng đường này sang phía phải (gọi là đường xu thế). Hãy chú ý rằng điểm dừng H trước ngày giá giảm
từ 36 xuống 32.5 điển (I) nằm ngay trên đường này. Sự sụt giảm tương đối lớn ngay ngày sau đó cho thấy
đường xu thế này đóng vai trò như một đường hỗ trợ, một khi vượt qua được "rào cản" này, giá sẽ rớt tự
do. Đồng thời điều này cũng có nghĩa là đường hỗ trợ và kháng cự không nhất thiết phải là đường ngang,
nó có thể là một đường xiên. Trên thực tế, cũng có thể coi chính các đường xu thế này như đường hỗ trợ
hay kháng cự.




Quay lại với các điểm nằm trên đường hỗ trợ (A, B, C, D, E). Vì mức giá giảm xuống dưới 34.5 nên giá
đã phá vỡ đường hỗ trợ và đường xu thế. Trong tháng 8 mức giá chủ yếu giao động nhẹ quanh mức 34.5,
                                                                                                    33
lúc này đường xu thế không còn đóng vai trò như một đường hỗ trợ nữa, nó đã đảo chiều và đóng vai trò
như một đường kháng cự cho đến khi giá giảm xuống mức thấp hơn, đến tháng 9, cổ phiếu này được giao
dịch ở mức 26.

Mức độ quan trọng và đáng tin cậy trong việc dự đoán tương lai của đường hỗ trợ hay kháng cự trong
phân tích kĩ thuật liên quan trực tiếp đến sô lần giá chạm tới các đường này và chuyển động ngược trở lại.
Trong đồ thị số 4, có ít nhất là 7 lần giá đạt tới mức kháng cự/hỗ trợ và sau đó đảo chiều. Con số này
chứng tỏ rằng các đường này rất có ý nghĩa và đáng tin cậy, có thể dùng để dự đoán các biến động của giá
trong tương lai. Nó có đáng tin 100% không? Tất nhiên là không, chẳng có phương pháp phân tích nào lại
đáng tin 100% bởi thị trường còn chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố, tuy nhiên theo như đồ thị này thì
khả năng giá sẽ đảo chiều là rất lớn.




Theo đồ thị trên, khi mức giá không giữ xu thế tăng nữa, chúng ta sẽ kẻ một đường xu thế mới để thể hiện
hướng biến động mới của giá cả. Một đường thẳng nối từ F, kéo dài qua J là đường xu thế mới. Một
đường thẳng khác nối từ H, song song với đường xu thế trên có vẻ "bao trọn" được biên giao động của giá
trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 9, đây chính là môt hình hỗ trợ-kháng cự đường xiên điển hình.

Nhìn chung, hỗ trợ và kháng cự không phải là công cụ dự đoán chính xác 100% sự biến động của giá cả
trong tương lai, thay vào đó chúng là công cụ dùng để cảnh báo các nhà đầu tư về một số điểm cần xem
xét thẩm tra kĩ càng. Bằng cách sử dụng đường hỗ trợ và kháng cự kèm với các chỉ số khác, chúng ta có
thể biết được các tác động của chúng (nếu có) đối với giá cổ phiếu, với độ chính xác tuỳ theo số lần giá cả
chạm mức kháng cự hay hỗ trợ.

 (PHẦN DƯỚI ĐÂY CŨNG LÀ MÔ HÌNH CƠ BẢN VÀ CÓ THÊM VÍ DỤ, ĐƯỢC LƯỢC TỪ MỘT
                               NGUỒN KHÁC)




                                                                                                         34
Các mô hình cơ bản ( phần 1 )
Phân tích kĩ thuật có thể rất đơn giản hoặc rất phức tạp, phụ thuộc vào khả năng bạn thao tác với dữ liệu
thị trường. Những công cụ “thô sơ” bao gồm các mô hình biểu đồ, như tam giác, 2 đỉnh – 2 đáy , đầu và
vai, mô hình cờ, và tất nhiên, cơ bản nhất nhưng quan trọng nhất, là đường xu hướng. Đôi khi bạn
không cần những máy tính và phần mềm quá rườm rà cho dù đôi khi chúng có thể giúp bạn phân tích
nhanh và dễ dàng hơn.

                                                                     Các mô hình tiếp diễn

                                                                     Xu hướng thị trường có khuynh
                                                                     hướng tiếp tục duy trì. Khi nào biến
                                                                     động giá còn tuân theo 1 xu hướng
                                                                     xác định và không phá vỡ đường xu
                                                                     hướng đó, thì xu hướng đó vẫn còn
                                                                     sức mạnh và là 1 xu hướng tiếp
                                                                     diễn. Ngoài ra còn có 1 số mô hình
                                                                     biến động giá cũng cho thấy xu
                                                                     hướng vẫn còn tiếp tục.

                                                                     Mô hình cờ tăng ( bullish flag) –
                                                                     Mô hình cờ tăng xuất hiện khi thị
                                                                     trường đang có 1 xu hướng tăng
                                                                     mạnh, và có thể bị gián đoạn bởi 1
sự tạm nghỉ hoặc biến động ít ( sideways) do việc giao dịch giảm trong 1 vài nến ( candles), và sau đó thị
trường tiếp tục 1 xu hướng mạnh tiếp diễn. Khoảng gián đoạn chống lại xu hướng chính có thể diễn ra
trong vài ngày.

Thị trường có đặc thù là luôn dao động giữa 1 chu kì các điểm dao động cao và chu kì các điểm dao
động thấp, và đó là lý do tại sao mô hình cờ là 1 dạng thị trường chậm lại 1 nhịp để xác định lại mức
trước khi quay trở lại xu hướng tăng.




Mô hình cờ giảm (Bearish flag) Mô hình cờ giảm xuất hiện khi thị trường đang có 1 xu hướng giảm
mạnh, và có thể bị gián đoạn bởi 1 sự tạm nghỉ hoặc biến động ít ( sideways) do việc giao dịch giảm
trong 1 vài nến ( candles), và sau đó thị trường tiếp tục 1 xu hướng giảm mạnh tiếp diễn. Cũng như mô

                                                                                                        35
hình cờ tăng, vùng “cờ” là thời gian ngắn thị trường củng cố và xác định trước khi trở lại với 1 xu hướng
giảm mạnh.




Tam giác đối xứng hay cờ hiệu (pennants)– 1 trong những mô hình tam giác phổ biến – tam giác
nhọn là mô hình tiếp diễn. Giá có khuynh hướng dao động ngày càng yếu , với điểm cao và điểm thấp
ngày càng có biên độ nhỏ dần và giá hướng đển đỉnh nhọn của tam giác. Sự phá vỡ của giá ra khỏi mô
hình tam giác theo 1 hướng thì xu hướng đó sẽ nổi trội hơn – và trong ví dụ phía trên , giá xuống mạnh.

Tam giác giảm (descending triangle) – 1 trong những mô hình tam giác hiệu quả báo trước sự tiếp
diễn của xu hướng giảm . Thị trường đang nóng lòng tìm kiếm 1 xu hướng mua khi đã chạm mức cản
(support) rất nhiều lần trong vài candle liên tiếp. nhưng đỉnh của các nên trong dãy ngày càng thấp hơn
và giá hướng đến điểm mũi nhọn trong tam giác. Và cũng như các mô hình tam giác khác, khi người
mua quyết định rằng họ không thể giữ giá lâu hơn nữa tại mức chặn đáy của tam giác này, giá sẽ phá vỡ
mức cản, và kì vọng giá sẽ tiếp tục xuống theo xu hướng trội hơn.

                                                                     Tam giác tăng (Ascending
                                                                     triangle ) – Tam giác tăng ngược
                                                                     lại với tam giác giảm. Người bán
                                                                     giữ giá tại mức chặn trên
                                                                     (resistance) của tam giác nhưng
                                                                     người mua tiếp tục đẩy giá lên cao
                                                                     hơn, tạo nên mức giá thấp của nến
                                                                     sau cao hơn nến trước cho đến khi
                                                                     mức chặn trên bị phá vỡ. Cũng
                                                                     giống như các tam giác khác, giá
                                                                     sẽ tiếp diễn theo xu hướng trội hơn
                                                                     sau khi phá vỡ mức cản.




                                                                                                       36
Chiếc tách và tay cầm ( cup and handle or cup and saucer) : Thị trường giảm đột ngột , sau đó giao
dịch với mức độ thấp trong 1 thời gian ngắn, và sau đó tăng đột ngột tạo thành 1 hình chữ U dạng cái
tách. Sau đó giá tiếp tục đánh võng tạo thành cái tay cầm phía bên phải cái tách, chạm mức cản trên
(resistance) 1 vài lần. Khi giá đã đủ xung lực để phá vỡ mức cản , nó sẽ tiếp tục bứt phá mạnh tạo mức
cao hơn với khối lượng lớn, và đôi khi có thể tạo ra 1 khoảng trống (gap) tại điểm bứt phá để xác định 1
                                                      xu hướng tăng mạnh.




                                                    Các mô hình cơ bản ( phần 2 )
                                                    Như cái tên của nó, đây là những mô hình đổi chiều
                                                    cho thấy dấu hiệu xu hướng đã kết thúc và thị
                                                    trường đã sẵn sàng đổi sang 1 xu hướng khác
                                                    ngược với hướng ban đầu, hoặc có thể, dao động
                                                    ngắn ( sideways) trong 1 thời gian.

                                                    Mô hình cơ bản: Các mô hình đổi chiều

                                                   Cùng với mô hình tiếp diễn, đường xu hướng
                                                   (trendline) là mô hình cơ bản để xem xét. Nếu giá
                                                   phá vỡ đường xu hướng, và tiếp tục bứt phá, đây là
                                                   sự xác nhận của 1 sự đổi chiều xu hướng. Luôn
                                                   nhớ rằng, tất cả các mô hình đều có thể áp dụng
                                                   cho mọi khung thời gian (time frames) – theo giờ,
ngày, tuần, tháng, năm hoặc có thể theo biểu đồ phút.

Mô hình 2 đỉnh – (double tops): Hiện tượng này xuất hiện khi giá đạt đến một điểm cao rõ rệt, vượt
hẳn điểm trước đây, sau đó quay lại điểm đó và lại vượt lên. Khi thời gian 2 đỉnh liên tiếp của sự tăng
giá này cách nhau càng lâu thì càng thể hiện khả năng tăng giá của đồ thị này. Sự biến đổi của mô hình
này tương tự như hiện tượng mà người ta gọi là mô hình các đỉnh “M” hay 1-2-3 đợt sóng tăng giá. Tuy
nhiên, sự tăng giá thứ 2 thường thấp hơn sự tăng giá đầu tiên đối với mô hình này. Trong hầu hết các
trường hợp, những điểm quyết định thường là những điểm tăng giá, đó là những điểm đánh dấu khả
năng xuất hiện một mức giá trần mong đợi, và một mức giá thấp tạm thời. Nếu giá giảm xuống thấp hơn
mức đó, đó là sự xác nhận đỉnh mô hình và dấu hiệu khuyên bạn nên bán.




                                                                                                      37
Mô hình 2 đáy (double bottom) – nguyên tắc của mô hình này giống như sự ngược lại của mô hình 2
đỉnh. Tương tự mô hình này được gọi là mô hình các đáy “W” hoặc 1-2-3 đợt sóng giảm giá. Trong tất cả
các trường hợp của mô hình này, giá đạt đến một mức thấp rõ rệt, có sự bật lên 1 chút, sau đó rớt xuống
mức thấp để thử lại 1 lần nữa, và cuối cùng tăng trở lại. Khi giá vượt khỏi mức cao tạm thời, khi đó đáy
mô hình được xác nhận và thị trường nên bán.



Mô hình đảo ngược các đỉnh “đầu và vai” (Head-and-shoulders top reversal)– Mô hình đảo ngược
khuynh hướng truyền thống này xuất hiện khi thị trường tạo ra một điểm cao mới (left shoulder), giảm
xuống, tăng lên đến đỉnh mới cao hơn (head) và giảm trở lại, sau đó tăng tới 1 đỉnh cao mới sau 1 thời
gian có thể là bằng với đỉnh bên trái (left shoulder) và sau đó thì giảm trở lại. Điểm mấu chốt ở đây là “1
đường tiệm cận” - “neckline” hoặc là 1 đường nằm ngang mà có thể nối 2 điểm thấp trên đồ thị.



Khi giá rớt xuống thấp hơn “neckline”, đó là dấu hiệu kết thúc sự tăng giá và có khả năng bắt đầu 1 đợt
                                                                      giảm giá của thị trường. Tuy nhiên,
                                                                      trong nhiều trường hợp giá có
                                                                      khuynh hướng đi ngược với xu
                                                                      hướng thị trường vì vậy sự dừng lại
                                                                      chưa tạo ra một xu hướng giảm giá
                                                                      ngay. Đôi khi điểm dừng lại của
                                                                      đường tiệm cận xuất hiện như 1 sự
                                                                      gián đoạn hoặc báo hiệu 1 xu
                                                                      hướng giảm giá mạnh, ủng hộ cho
                                                                      sự đảo ngược về giá.

                                                                  Mô hình “ đầu và vai” là một trong
                                                                  nhiều loại mô hình đồ thị khác nhau
                                                                  mà được sử dụng để hoạch định
                                                                  cho chiến lược về giá. Các nhà
                                                                  phân tích đo lường khoảng cách từ
                                                                  đỉnh “head” đến đường tiệm cận
của đồ thị sau đó trừ đi khoảng cách từ điểm ngừng của đường tiệm cận để tính toán xem giá có thể
giảm đến mức nào.

                                                                                                         38
Mô hình đảo ngược các đáy “đầu và vai” (Head-and-shoulders bottom reversal)– Có thể nói mô
hình 2 đáy là nghịch đảo của mô hình 2 đỉnh, các đáy “vai và đầu” thì cũng giống các đỉnh “vai và đầu”
nhưng ngược lại. Điều này có nghĩa là giá trượt xuống 1 mức thấp (left shoulder), tăng trở lại sau 1 thời
gian, sau đó giảm xuống đến 1 mức thấp hơn (head), lại tăng trở lại và sau cùng là hạ xuống lần nữa
đến 1 mức thấp xấp xỉ với mức “left shoulder” (right shoulder).




Đường tiệm cận của đồ thị rất quan trọng. Khi giá vượt khỏi đường tiệm cận này, mô hình đảo ngược kết
thúc và 1 xu hướng tăng tiềm năng có thể xuất hiện. Cùng với các đỉnh “ vai và đầu”, có thể có 1 vài giao
dịch về phía sau và phía trước theo cả 2 phía của đường tiệm cận khi thị trường quyết định chọn hướng
đi, và khoảng cách giữa đường tiệm cận và đỉnh “head” có thể được sử dụng để dự đoán xem giá có thể
biến động như thế nào.

Mô hình “sụt giá theo 1 mũi nhọn” (Falling wedge) – Mô hình này xuất hiện khi thị trường đang trong
xu hướng đồng loạt giảm giá và các loại giá cao giảm nhanh hơn các loại thấp, giống như dạng mũi
nhọn. Người bán có thể đẩy giá đến mức thấp hơn nhưng do có 1 lượng mua hỗ trợ để giữ thị trường
không bị giảm giá thấp hơn. Cuối cùng sức mạnh của bên bán bắt đầu cạn dần và không thể khiến giá
thị trường giảm thấp hơn nữa, và thị trường bắt đầu bật dậy khi thế lực của bên bán vượt hẳn bên mua.
Những mô hình như thế này thường có hướng tăng giá và là điềm báo có 1 sự thay đổi khuynh hướng
thị trường.



 Mô hình “tăng giá theo 1 mũi nhọn” (Rising wedge) – Mô hình này ngược lại với mô hình trên và
xuất hiện khi thị trường ở xu hướng tăng giá. Người mua tiếp tục đẩy đẩy các loại giá thấp trong ngày
lên, nhưng người mua đã giữ cho giá thị trường không lên quá cao. Sau cùng việc mua đã giảm và
người bán nắm thị trường, và đẩy giá xuống thấp hơn mũi nhọn tạm thời của xu hướng tăng giá. Những
mô hình như thế này thường có hướng giảm giá và là điềm báo có 1 sự thay đổi khuynh hướng thị
trường.




                                                                                                        39
Mô hình “kim cương” (diamond pattern) – Đây là 1 mô hình hiếm thấy xuất hiện thường xuất hiện
những thị trường giá cao. Sự hay thay đổi tăng lên ở các mức giá cao hơn, tạo ra 1 phạm vi của giá trần
và giá sàn trong 1 giao dịch rộng hơn để tạo nên 1 đoạn rộng nhất của mô hình “ kim cương”. Sau đó sự
thay đổi này giảm xuống về phía phải của các mức giá cao và dãy biến động giá trở nên hẹp hơn khi xu
hướng giống như dạng “mô hình tam giác” để kết thúc diễn biến của mô hỉnh “ kim cương”. Sự hay thay
đổi theo hướng thấp, cao, thấp liên tiếp nhau này thường tự tạo ra chiều hướng của mình đến khi kết
thúc.




                                                                                                     40
Các mô hình cơ bản ( phần cuối )

Còn rất nhiều khái niệm khác cần được đề cập đến trong bất kỳ bàn luận nào về các mô hình đồ thị cơ
bản vì chúng là 1 phần không thể thiếu của bất kỳ kỹ thuật phân tích nào.

Mức giá sàn (support) và mức giá trần (resistance) – như những gì đã đề cập trong bài viết này, các
kỹ thuật phân tích bắt đầu với những đường xu hướng. Đường xu hướng cũng là điểm đầu tiên của các
mức giá sàn và giá trần. Dự kiến 1 đường xu hướng để quyết định vùng giá sàn và giá trần trong tương
lai luôn đem lại hiệu quả. 1 đường xu hướng dọc theo các mức giá thấp là 1 đường hướng lên và và
ngược lại nếu đi qua các điểm giá cao là 1 đường hướng xuống và đó là ranh giới quan trọng để vượt
qua nếu thị trường định thay đổi xu hướng.

Tuy nhiên đường xu hướng không chỉ là nguồn gốc của các mức giá sàn và giá trần. 1 trong những
phương pháp phổ biến để quyết định các mức giá sàn và giá trần là dựa vào 1 dãy đồ thị và các mức giá
trước đây của chúng, sau đó quan sát xem mức giá nào là mức giá cao, mức giá thấp và mức gần nhất
dễ đạt đến nhất. Phương pháp quyết định mức giá sàn và mức giá trần dựa trên bất kỳ dãy đồ thị ở các
                                                                    khung thời gian như mỗi giờ, mỗi
                                                                    ngày, mỗi tuần và mỗi tháng. 1
                                                                    loạt giá cao và thấp nhiều lần tập
                                                                    trung ở các vùng giá thấp nhưng
                                                                    không phải là 1 mức giá nhất
                                                                    định. Thay vào đó nếu có 1 miền
                                                                    giá trần và giá sàn hẹp sẽ hiệu
                                                                    quả hơn.

                                                                    Nhiều đỉnh và đáy cũng là các
                                                                    mức giá sàn và giá trần. Những
                                                                    đoạn giá bỏ trống trên đồ thị cũng
                                                                    được xem như những mức giá
                                                                    trần và giá sàn tốt. Đường dịch
                                                                    chuyển trung bình, đặc biệt là
                                                                    những đường dài hạn, có thể
                                                                    cung cấp các mức giá sàn và giá
                                                                    trần. Ngoài ra còn có cách khác
để nhận biết các mức giá sàn và giá trần như là qua các góc hình học từ các điểm quan trọng xác định,
1 khái niệm liên quan đến W.D.Gann (1 người kinh doanh chứng khoán và hàng hóa trước đây đã qua
đời vào năm 1955).
                                                                                                      41
Cuối cùng, các mức giá trần và giá sàn có thể quyết định bởi các mức giá “tâm lý” (psychological price
levels). Chúng thường là những số được làm tròn nhưng lại rất có ý nghĩa trong 1 thị trường. Ví dụ như
đối với dầu thô thì mức giá “tâm lý” là khoảng 60$/ thùng. Đối với đậu nành, thì mức giá có thể là 5$
hoặc 6$/giạ hay vải cotton là 0.5$/ pao(0.45g). Những điểm giá này xác định các mức giá tăng hoặc
giảm khi thị trường tạm ngưng để củng cố lại.

Nhiều mô hình đồ thị được phát triển là kết quả của sự biến động của giá trong vùng giá sàn và giá trần.
Ví dụ như mô hình 2 đáy có thể hình thành bởi vì thị trường tìm ra được mức giá sàn từ 1 điểm đáy
trước, hoặc là mô hình tam giác được định hình khi giá không thể vượt qua mức giá sàn và giá trần của
đường xu hướng trong ngắn hạn cho đến khi có sự phá vỡ xuất hiện.

Một điểm quan trọng cần chú ý về các mức giá sàn và giá trần là khi mức giá sàn quan trọng hoặc là 1
miền giá bị phá vỡ theo hướng giảm, thì mức giá hoặc miền giá đó có thể sẽ trở thành mức giá trần
quan trọng. Cũng như thế, 1 mức giá trần hoặc 1 miền giá quyết định sẽ bị phá vỡ theo hướng tăng sau
đó có thể trở thành mức giá mức giá sàn hoặc vùng giá quan trọng.

Sự quay trở lại xu hướng cũ (retracement) – 1 cách khác để tìm ra vùng giá trần và giá sàn là bằng
cách tìm ở “retracement” của sự di chuyển các mức giá quan trọng. Giá biến động có nghĩa là có sự
chống lại xu hướng đang tồn tại. Những biến động này có thể gọi là sự điều chỉnh của thị trường
(correction). Một khi thị trường đã vượt ra khỏi xu hướng ban đầu, điều đầu tiên mà nhiều người giao
dịch muốn biết là sự biến đổi này hay sự điều chỉnh này sẽ đi đến đâu.

Dựa trên những nghiên cứu về giá trước đây, 1 “retracement” phổ biến là khoảng 50% xu hướng cũ. Ví
dụ như 1 thị trường đang có xu hướng tăng chắc chắn thường bắt đầu từ mức giá 100 và tăng dần lên
đến 200. Sau đó sẽ có điều chỉnh, thông thường thì thị trường hiếm khi biến động theo 1 chiều. Vậy khi
nào giá của 1 thị trường sẽ đổi hướng? Những nhà phân tích dựa trên “retracement” thì đặt ra 1 mục tiêu
khoảng 150 hay 50% của sự dịch chuyển giá từ 100 đến 200 và mong rằng giá sẽ bật lên và trở lại
hướng tăng sau khi chạm đến 1 mức nào đó. Sự điều chỉnh “retracement” thấp hơn 50% chỉ sổ trung
bình là 1 xu hướng mạnh, ngược lại là 1 xu hướng yếu.

Mức 50% không chỉ là 1 mức “retracement” phổ biến. Một số nhà phân tích sử dụng mức từ 33% đến
67% như các mức trần và mức sàn. Còn theo các số liệu mang tính quy luật thì sử dụng mức từ 0.382%
đến 0.618% của 1 sự di chuyển ưu tiên như các mức trần và mức sàn quyết định.

Cho dù bạn sử dụng như 1 mục tiêu “ retracement” như thế nào thì bạn có thể đạt được 1 giá trị cao nếu
như nó trùng khớp với dạng mức sàn và mức trần quan trọng như 1 đường xu hướng, mức cao hoặc
thấp trước đây hay 1 khoảng trống.




                                                                                                     42
Vùng trống (gap) – Vùng trống là những vùng mà không có giao dịch nào xảy ra. Dãy giá thấp sau cùng
thì cao hơn dãy giá cao đối với 1 dịch chuyển của 1 vùng trống hướng lên. Dãy giá cao sau cùng thấp
hơn dãy giá thấp trước đó để tạo ra sự dịch chuyển của 1 vùng trống hướng xuống. Ví dụ như nếu thị
trường gần đến mức 100 trong 1 phiên và sau đó mở rộng đến 105 ở phiên tiếp theo thì sẽ có 1 vùng
trống hiển nhiên trên đồ thị.

Với các giao dịch điện tử 24/24 thì vùng trống ít có khả năng xuất hiện khi thị trường dễ di chuyển từ
mức giá đến mức giá khác. Tuy nhiên đối với những thị trường chỉ có các phiên trong ngày mà gồm
những hàng hóa mang tính vật chất nhất ( ví dụ như chứng khoán) thì các vùng trống có thể lộ ra bởi
những tin tức hoặc hướng phát triển có giá trị trong 1 đêm mà tạo ra 1 sự thay đổi đột ngột về giá. Các
vùng giá trống là biểu hiện tiêu biểu của sự thay đổi mạnh của thị trường và sau đó sẽ tạo ra các mức
giá sàn và giá trần quan trọng trên đồ thị.




                                                                                                    43
Vùng trống không thể được mô tả như 1 dấu hiệu nghịch đảo hay tiếp diễn mà những vùng trống khác
nhau có nghĩa khác nhau – đôi khi chúng có những ảnh hưởng không nhỏ chút nào. Có 3 dạng vùng
trống chính sau đây:
         •      Vùng trống chạy trốn (breakaway gap). Vùng trống này xuất hiện ở đầu của 1 sự thay đổi
             về giá khi giá không theo hướng cũ mà đột nhiên đi ngược chiều hoặc vượt ra khỏi đồ thị đã
             hình thành như tạo ra 1 hướng đi hay 1 dạng tạm giác. Điểm “breakaway” có thể do những
             điều kiện mới mà người giao dịch đã biết hoặc việc mua hay bán bị kiềm lại xảy ra trong 1
             hướng đi mạnh.
         •      Vùng trống đo lường được (measuring gap). Khi thị trường dịch chuyển lên hay xuống,
             nó có thể đột nhiên thay đổi tạo ra 1 vùng trống cao hơn hoặc thấp hơn với 1 mức phát triển
             mới. Một số nhà phân tích xem vùng trống dạng này như 1 điểm nửa chừng để đi đến 1
             đích giá cuối cùng. Rõ ràng là không thể biết chắc điều này đến khi chấm dứt sự dịch
             chuyển vì vậy những vùng trống như dạng này chỉ là 1 mẹo nhỏ được sử dụng trong phân
             tích. Tuy nhiên, bạn có thể liên kết các vùng trống với các vùng giá trần và giá sàn xác định
             như là sự tăng lên hay giảm xuống để mục tiêu giá tiềm năng.
         •      Vùng trống suy yếu (exhaustion gap). Vùng trống này xuất hiện ở cuối của 1 sự dịch
             chuyển mở rộng và phản ánh sự bùng phát cuối cùng của việc mua ở thị trường hướng lên
             hoặc là bán ra ở thị trường hướng xuống. Một khi việc mua hoặc bán này xảy ra thì sẽ
             không có thêm người mua hoặc bán nào mới để duy trì xu hướng – thế lực để vận hành xu
             hướng đã suy yếu. Kết quả là sự thay đổi trong xu hướng có thể tạo ra những chuyển động
             đột ngột ngược với định hướng như là sự tranh giành muộn của người mua hoặc người
             bán để tránh vị thế kém của họ. Đây là 1 dạng tình huống mà đôi khi tạo ra 1 vùng đỉnh hay
             1 vùng đáy trên đồ thị. Các hoạt động của giá trong 1 ngày hoặc nhiều ngày có thể bị cô lập
             bởi các vùng trống suy yếu và sau đó 1 vùng trống ly khai sẽ đột nhiên quay ngược lại.
Chiếc cốc có tay cầm
Các hình mẫu thuộc phương pháp thống kê. Các hình mẫu được đúc kết và phát hiện dựa vào các quan
sát, các kinh nghiệm, các phép thống kê. Cũng như các phương pháp thuộc nhóm thống kê khác, mỗi
hình mẫu cần phải được giải thích (hay hợp lý hóa) bằng các hành vi tâm lý của các nhà đầu tư trên thị
trường. Bài viết này sẽ giới thiệu một hình mẫu: chiếc cốc có tay cầm.

1. Nhận diện

Chiếc cốc có tay cầm có 2 phần: đáy và tay cầm. Phần đáy bên trái được hình thành khi thị trường đi đến
cuối thời kỳ suy thoái, phần đáy bên phải được hình thành khi thị trường bắt đầu tăng trưởng. Phần tay
cầm được hình thành bởi giai đoạn điều chỉnh đầu tiên của chu kỳ tăng trưởng. Phần đáy cốc càng tròn
càng tốt, nhưng đặc điểm quan trọng nhất là phần tay cầm. Phần đi xuống và đáy của tay cầm có số lượng
giao dịch thấp và phần đi lên của tay cầm có khối lượng giao dịch và sức tăng giá càng mạnh càng tốt. Khi
phần đi lên của tay cầm vượt qua miệng cốc, đó là lúc mua vào.

2. Nguyên nhân và ý nghĩa

Nếu đối chiếu với sóng Elliot thì chiếc cốc có tay cầm tương ứng với sóng 1 sóng 2 và sóng 3. Phần đáy
của chiếc cốc được hình thành khi thị trường đang ở giai đoạn chuyển mình giữa suy thoái, dập dềnh và
tăng trưởng, lúc này thị trường vẫn còn tràn ngập sự hoang mang của các nhà đầu tư, sự tăng trưởng là
chưa chắc chắn, mua vào lúc này là sự mạo hiểm.

Khi giá tăng đến một ngưỡng nào đó, do còn thiều lòng tin vào thị trường, nhiều nhà đầu tư thấy được giá
dù không nhiều so với giá mua vào lúc đáy hoặc so với giá mua vào khi còn cao sẽ tìm cách bán ra kiếm
lời ngắn hạn hoặc cắt lỗ. Hành động này tạo nên phần bên trái và phần đáy tay cầm của chiếc cốc, tương
đương với sóng 2 Elliot, giai đoạn điều chình đầu tiên của sự tăng trưởng.

                                                                                                         44
Khi giá cả tiếp tục tăng, kỳ vọng về thị trường được nâng lên giúp đẩy giá cổ phiếu tăng mạnh mẽ với
khối lượng giao dịch lớn. Khi phần đi lên của tay cầm vượt qua miệng cốc với khối lượng giao dịch lớn và
sức tăng giá mạnh, tín hiệu này củng cố vững chắc về sự tăng trưởng của thị trường. Đây là thời điểm tốt
để mua vào vì sự mạo hiểm đã được giảm bớt và giá cả cũng thấp vừa phải, hứa hẹn sẽ cho lợi nhuận lớn.
Sau khi hoàn chỉnh phần tay cầm, khi giá lên đến đỉnh sẽ hoàn chỉnh sóng 3 Elliot.

3. Sử dụng

Xét ví dụ về Công ty cổ phần Pin Ắcquy Miền Nam




                                      Nhấn để xem kích thước thật

                               Nguồn đồ thị http://www.vietstock.com.vn

   •   Tại thời điểm số 1, lúc này đã hình thành nên dạng cốc có tay cầm. Phần đáy của tay cầm có số
       lượng giao dịch rất nhỏ, trạng thái dằng co. Phần cuối của tay cầm xuyên phá qua ngưỡng miệng
       cốc tại thời điểu số 1 với khối lượng giao dịch tăng vọt, thời điểm số 1 chính là thời điểm mua vào.
   •   Tại thời điểm số 2, hình mẫu chiếc cốc tay cẩm được hình thành với phần đáy rộng hơn chiếc cốc
       ở thời điểm 1 và phần tay cầm rất hẹp, phần đáy của tay cầm có số lượng giao dịch lớn và phần
       miệng cốc bị xuyên phá tại thời điểm số 2 với khối lượng giao dịch lớn củng cổ vững chắc cho sự
       tăng trưởng PAC.
   •   Tuy nhiên chú ý rằng chiếc cốc có tay cầm áp dụng đúng nhất cho giai đoạn đầu của chu kỳ tăng
       trưởng tương ứng với thời điểm số 1. Tại thời điểm số, mô hình chiếc cốc không còn được hoàn
       hoàn nữa, phần đáy bị biến dạng nhiều do trải trên một thời kỳ rộng, độ chính xác của hình mẫu tại
       thời điểm số 2 không cao như thời điểm 1. Tuy nhiên hình mẫu tại thời điểm số 2 dù sao cũng có
       tính chất củng cố vững chắc cho chu kỳ tăng trưởng.

Xét ví dụ khác về Công ty Cổ phần DT & TM DIC



                                                                                                        45
                                     Nhấn để xem kích thước thật

                               Nguồn đồ thị http://www.vietstock.com.vn

   •   Thời điểm số 1 tạo thành hình chiếc cốc có tay cầm. Phần đáy tay cầm có khối lượng nhỏ, phần
       cuối của tay cầm tại thời điểm số 1 xuyên phá ngưỡng giá của miệng cốc với khối lượng tăng vọt
       hứa hẹn một chu kỳ tăng trưởng cho DIC. Thời điểm số 1 chính là điểm mua vào.

Xét ví dụ khác về Công ty Cổ Phần Giống Cây Trồng Trung Ương NSC




                                     Nhấn để xem kích thước thật

                               Nguồn đồ thị http://www.vietstock.com.vn

   •   Sau khi phần đáy cốc được hình thành, tại thời điểm số 1 tuy giá đã vượt quan miệng cốc nhưng
       khối lượng giao dịch không mạnh vượt trội, lúc này sự tăng trưởng là chưa đáng tin cậy, vẫn trong
                                                                                                      46
       giai đoạn điều chỉnh giằng co. Phải đến thời điểm số 3, giá NSC xuyên phá ở điểm cao hơn miệng
       cốc với số lượng vượt trội khẳng định một giai đoạn tăng trưởng vững chắc; điểm số 3 chính là
       điểm mua vào.

Đến đây sẽ có nhiều người tỏ ý tiếc vì không mua được giá tại đáy để tối đa hóa lợi nhuận mà phải mua
giá cao hơn tại các thời điểm mua vào trong các ví dụ trên. Tuy nhiên vào thời điểm mà giá chạm đáy,
chẳng ai có thể khẳng định được đó là đáy và khả năng rủi ro rất cao. Nếu bạn áp dụng mô hình chiếc cốc
có tay cầm bạn đã chấp nhận không mua được đáy, tức là chấp nhận không đạt tối đa lợi nhuận nhưng
giảm thiểu rủi ro vì xu thế tăng trưởng là chắc chắn. Hãy nhớ: thuận theo thị trường thì sống; chống lại thị
trường thì chết; tham thì thâm.

Bàn thêm: Nhiều người hỏi tôi làm thế nào để biết thị trường đã chạm đáy - tôi sẽ chỉ cho bạn đáy khi thị
trường đã có đáy. Không có căn cứ nào để xác định đáy thị trường khi nó chưa xảy ra, mặc dù nhiều
người bằng sự nhạy cảm của mình có thể xác định được đáy, dường như vấn đề này thuộc về năng khiếu
và không có phương pháp luận rõ ràng và không phải ai cũng có năng khiếu đó. Vì vậy nếu bạn không
được cảm giác thiên phú này, hãy chấp nhận bỏ qua một phần lợi nhuận để đổi lấy sự an toàn.

Quay lại với ba ví dụ ở trên, tôi chỉ mua vào DIC, NSC và PAC khi hình mẫu chiếc cốc được hoàn thiện,
chấp nhận mất phần lợi nhuận do không mua được giá tại đáy. Lúc này giá của DIC là 42.0; NSC là 58.0,
và PAC là 46.0. Trong ba tuần sau đó giá đỉnh của DIC là 61.0 (tăng 45%); giá đỉnh của NSC là 73.5
(tăng 27%) và giá đỉnh của PAC là 60.0 (tăng 30%); cho đến thời điểm viết bài, cả ba cổ phiếu trên vẫn
có chiều hướng tiếp tục tăng. Những tỷ lệ lợi nhuận này dù chưa phải tối đa nhưng vẫn là những con số
hấp dẫn và chắc chắn.

Nằm ngang
1. Nhận diện

Hình mẫu được hình thành sau đợt suy thoái và hình thành xu thế dập dềnh và biên độ dao động giá nằm
dưới 7 đến 8%. Khối lượng giao dịch trong thời kỳ này nhỏ giọt tạo nên các phiên chợ chiều. Hình mẫu
này cần được hình thành trong thời gian càng dài thì đảm bảo tính chính xác cao, ít nhất là 4 tuần.

2. Nguyên nhân và ý nghĩa

Lúc này đã vào cuối đợt suy thoái, người cần bán tháo đã kịp bán tháo hết, người không kịp bán sẽ tiếp tục
nắm giữ cổ phiếu với giấc mộng hồi phục giá cả ít nhất là ngang với lúc mua. Trong giai đoạn này, phần
lớn các nhà đầu tư hời hợt với thị trường và diễn biến tâm lý trên thị trường lúc này rất đa dạng:

   •   Một số người sẽ tin rằng đây là một giá cả tốt và tìm cách thu gom.
   •   Một số người cảm thấy sợ hãi sau đợt suy thoái nên không dám tham gia thị trường.
   •   Một số người đang nắm giữ cổ phiếu sẽ cảm thấy chán ngán và mất kiên nhẫn hoặc cần tiền để giải
       quyết các công việc khác nên chấp nhận bán lỗ.
   •   Một số người cảm thấy dùng dằng vì sợ hãi mua vào thì giá giảm, không mua thì mất cơ hội sở
       hữu cổ phiếu với giá thấp.
   •   Một số người thực hiện chiến dịch “nhảy sạp”, mua bán với sự chênh lệch 2 đến 3%.
   •   Tất cả các yếu tố dùng dằng đó tạo nên một thị trường ảm đạm và dập dềnh lên xuống kéo dài.

3. Cách sử dụng

                                                                                                          47
Để tránh nhầm lẫn với các phiên điều chỉnh trong thời kỳ giảm giá giống như một cái bẫy chết người, cần
chờ đợi hình mẫu kéo dài ít nhất là một tháng. Một đặc tính khác cần phải chú ý là khối lượng giao dịch
nhỏ giọt và biên động dao động giá dưới 7 đến 8%.

Để củng cố thêm sự an toàn khi mua bán trong thời kỳ này tốt nhất là lựa chọn các công ty có các chỉ số
cơ bản tốt để tiến hành tích trữ. Nếu không phải là nhà đầu tư dài hạn, có thể chỉ giải ngân một phần vốn
để hạn chế rủi ro trong trường hợp giá cả tiếp tục đi xuống.

Trong giai đoạn này vẽ 2 đường hỗ trợ và kháng cự mà giá dao động trong khoảng đó, khi giá vượt qua 2
đường hỗ trợ và kháng cự này là những tín hiệu cần chú ý: có thể đó là sự hình thành xu thế giá mới theo
chiều hướng tăng hoặc giảm. Nếu nhà đầu tư không áp dụng chiến lược nhảy sạp mà thực hiện tích trữ chờ
đợi xu thế giá lên thì khi giá cả đi xuống dưới đường hỗ trợ cần hết sức cảnh giác và thường xuyên theo
dõi sự biến động của thị trường để đề phòng thua lỗ lớn do sự chuyển đổi thành xu thế đi xuống.

Xét ví dụ về Công ty cổ phần đường Biên Hòa - BHS




                                          Nhấn để xem kích thước thật

Giá của BHS nằm trong ngưỡng 40 – 44 kéo dài trong suốt 3 tháng 7, 8, 9. Trong suốt thời gian này khối
lượng giao dịch của BHS rất nhỏ, đường MACD gần như trùng lắp với đường trung bình của chính nó.
Vào đầu tháng 9 giá của BHS bắt đầu xuyên phá ngưỡng 44 với khối lượng giao dịch tăng vọt báo hiệu
bắt đầu một chu kỳ tăng trưởng mới của BHS.

Xét ví dụ về công ty cổ phần DIC

                           PHẦN II – PHÂN TÍCH ĐỒ THỊ
Cách chỉ báo (Indicators)
Đây có thể được coi là một phần quan trọng trong phân tích kỹ thuật. Bạn có thể tính tóan sự phụ thuộc của 2 chỉ
báo chính: đường đi và cường độ của xu hướng thì bạn hầu như chắc chắn làm chủ hướng đi của xu hướng thị

                                                                                                                   48
trường. Điều quan trọng khi sử dụng công cụ chỉ báo là phải hiểu rõ các chỉ báo đó xây dựng để phục vụ điều gì và
tác dụng của nó như thế nào? Và như vậy bạn có thể hiểu được và áp dụng các chỉ báo đó một cách hiệu quả.

1. Chỉ báo về giao động (Volatility Indicators)

    •     Average True Range
    •     Bollinger Bands
    •     Commodity Channel Index
    •     Moving Average (Variable)
    •     ODDS Probability Cones
    •     Relative Volatility Index
    •     Standard Deviation
    •     Standard Error Bands
    •     Volatility, Chalkin's

2. Chỉ báo về xung lượng (Momentum Indicators)

    •     Accumulation Swing Index
    •     Chande Momentum Oscillator
    •     Commodity Channel Index
    •     Dynamic Momentum Index
    •     Intraday Momentum Index
    •     Linear Regression Slope
    •     MACD
    •     Mass Index
    •     Momentum Indicator
    •     Price Oscillator
    •     Price Rate-Of-Change
    •     Random Walk Index
    •     Range Indicator
    •     Relative Momentum Index
    •     Relative Strength Index
    •     Stochastic Momentum Index
    •     Stochastic Oscillator
    •     Swing Index
    •     Trix
    •     Ultimate Oscillator
    •     Williams' %R
    •     Williams' Accumulation-Distribution

3. Chỉ báo theo chu kỳ (Cycle Indicators)

    •   Cycle Lines
    •   Detrended Price Oscillator
    •   Fibonacci
    •   Fourier Transform
    •   MESA Sine Wave Indicator

4. Chỉ báo cường độ thị trường (Market Strength Indicators)

    •    Accumulation-Distribution
    •    Chaikin Money Flow
    •    Chaikin A/D Oscillator

                                                                                                               49
   •     Demand Index
   •     Ease of Movement
   •     Herrick Payoff Index
   •     Klingler Oscillator
   •     Money Flow Index
   •     Moving Average (Volume Adjusted)
   •     Negative Volume Index
   •     On Balance Volume
   •     Open Interest
   •     Positive Volume Index
   •     Price Volume Trend
   •     Trade Volume Index
   •     Volume
   •     Volume Oscillator
   •     Volume Rate-Of-Change

5. Chỉ báo mức hỗ trợ và kháng cự (Support and Resistance Indicators)

   •      Andrew's Pitchfork
   •      Envelope
   •      Fibonacci Arcs, Fans, Retracements
   •      Gann Lines, Fans, Grids
   •      Ichimoku Kinko Hyo
   •      Projection Bands
   •      Projection Oscillator
   •      Quadrant Lines
   •      Speed Resistance Lines
   •      Tirone Levels
   •      Trendlines

6. Chỉ báo về xu hướng (Trend Indicators)

   •     Aroon
   •     Commodity Selection Index
   •     DEMA
   •     Directional Movement
   •     Forecast Oscillator
   •     Linear Regression Indicator
   •     Linear Regression Slope
   •     Linear Regression Trendline
   •     MACD
   •     Moving Averages (all methods)
   •     Parabolic SAR
   •     Performance
   •     Polarized Fractal Efficiency
   •     Price Oscillator
   •     Qstick Indicator
   •     r-squared
   •     Raff Regression Channel
   •     Standard Deviation Channel
   •     Standard Error
   •     Standard Error Bands
   •     Standard Error Channel
   •     TEMA
                                                                        50
   •    Time Series Forecast
   •    Vertical Horizontal Filter


1 - Tổng quan
Newton một nhà vật lý, toán học thiên tài cũng là mdột nhà đầu tư chứng khoán. Kết quả kinh doanh của
ông: phá sản với câu nói nổi tiếng của mình “Tôi có thể cân được khối lượng của linh hồn nhưng không thể
đo được sự điên rồ của con người”. Câu chuyện trên là một ví dụ về phân tích kỹ thuật bằng phép cân linh
hồn của Newton. Vậy bản chất phân tích kỹ thuật là gì và tại sao một thiên tài về cân đo đong đếm như
Newton vẫn có thể thất bại trên thị trường?

Bài viết này sẽ giới thiệu tổng quan về phân tích kỹ thuật: khái niệm, các yếu tố liên quan và cách thức sử
dụng chung.

1. Phân tích kỹ thuật là gì

Phân tích kỹ thuật sử dụng các mô hình toán học (đồ thị, biến đổi miền, xác suất thống kê, …) dựa trên dữ
liệu thu thập về thị trường trong quá khứ và hiện tại để chỉ ra trạng thái của thị trường tại thời điểm xác
định, thông thường là nhận định xu hướng thị trường đang lên, xuống hay “dập dềnh” hoặc nhận định tương
quan lực lượng giữa sự tăng và sự giảm giá. Phân tích kỹ thuật không để ý đến các chỉ số tài chính, tình hình
phát triển hay các thông tin về thị trường về doanh nghiệp mà chỉ chú trọng vào tập các dữ liệu về giá cả,
khối lượng, … của cổ phiếu thu thập được tại các phiên giao dịch trong quá khứ.

Chính vì chỉ dựa vào tập dữ liệu đã tồn tại trên thị trường – tức là các thông tin trong quá khứ - phân tích kỹ
thuật không phải là công cụ để dự đoán tương lai giá cả của cổ phiếu. Những kết luận thu được từ các biện
pháp phân tích kỹ thuật chỉ thị trạng thái của thị trường đã xảy ra trong quá khứ; thời điểm rút ra kết luận về
trạng thái của thị trường luôn luôn đi sau so với sự kiện đã xảy ra. Khoảng thời gian chênh lệch đó gọi là độ
trễ.

Xét ví dụ về một phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng trung bình động.
Giá CK trong 5 phiên đến ngày 18/05/2007 của Công ty cổ phần nhựa Đồng Nai – Mã CK DNP

 Ngày Giá Thay đổi %thay đổi Khối lượng
 18/05 76.000  2.000   2,70%     56.350
 17/05 74.000  2.000   2,78%     36.190
 16/05 72.000 -3.500  -4,64%     43.350
 15/05 75.500  3.500   4,86%     30.550
 14/05 72.000  3.000   4,35%     52.750
(Nguồn SSI)

Vậy giá trị trung bình động trong 5 phiên của DNP vào ngày 18/05/2007 là

                        (76.000 + 74.000 + 72.000 + 75.500 + 72.000) / 5 = 73.900 đ

Tập hợp các giá trung bình động của DNP trong các ngày khác nhau sẽ được đường trung bình động giá
trong 5 phiên của DNP



                                                                                                          51
                                        Nhấn để xem kích thước thật

Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn

Bằng mắt thường quan sát đường trung bình động có thể nhận định rằng xu thế của DNP đến thời điểm ngày
18/05/2007 là tăng giá, liệu sau ngày 18/05/2007 giá CP của DNP có tiếp tục tăng không?

Trở lại với câu chuyện về Newton, với khả năng toán học của mình, việc am hiểu và áp dụng các biện pháp
toán học trong phân tích kỹ thuật đối với ông không phải là điều khó khăn. Nhưng phân tích thị trường
không phải là khoa học chính xác, không thể dùng toán học để dự đoán một mong đợi 100%; do đó sự thất
bại của Newton là một điều hợp lý bởi ông không thể dự đoán được tương lai chỉ bằng phép cân khối lượng
của linh hồn.

2. Các thuộc tính và tính chất

Một phép phân tích kỹ thuật thông thường có các thuộc tính và tính chất sau.
- Số phiên tính toán: số phiên lấy dữ liệu tính toán cho một giá trị của phân tích. Trong ví dụ về trung bình
động của DNP ở phần đầu, số phiên lấy dữ liệu là 5 phiên. Nhà đầu tư càng ngắn hạn bao nhiêu thì càng
chọn số phiên tính toán càng nhỏ bấy nhiêu.
- Độ trễ: Khoảng thời gian từ lúc trạng thái thị trường đã xảy ra cho đến khi phép phân tích chỉ ra được trạng
thái đó. Trong cùng 1 phương pháp phân tích, số phiên tính toán càng lớn thì độ trễ càng lớn. Nhà đầu tư
càng ngắn hạn bao nhiêu thì càng mong muốn độ trễ nhỏ bấy nhiêu.
- Độ nhạy: Sự kịp thời trong phản ánh các biến động của thị trường của thị trường.. Tính chất này ngược lại
với độ trễ.
- Độ chính xác: Tính ít sai xót trong phản ánh các biến động của thị trường. Tuy nhiên độ chính xác và độ
nhạy lại đối nghịch với nhau.

3. Vai trò của phân tích kỹ thuật

Phân tích kỹ thuật đóng vai trò là công cụ trợ giúp nhà đầu tư với ba chức năng chính: báo động, xác thực và
dự đoán.

                                                                                                         52
Với vai trò là công cụ báo động, phân tích kỹ thuật cảnh báo sự xuyên phá các ngưỡng an toàn (resistance
và support: chúng ta sẽ tìm hiểu về hai khái niệm này trong các bài viết khác) và thiết lập nên các ngưỡng an
toàn mới hay nói cách khác là thiết lập mức giá mới thực sự thay vì dao động quanh một mức giá cũ. Đối
với nhà đầu tư việc nhận biết các dấu hiệu về sự thay đổi mức giá càng sớm càng tốt giúp cho họ sớm có
hành động mua vào hoặc bán ra kịp thời.

Với vai trò là công cụ xác nhận, mỗi phương pháp phân tích kỹ thuật được sử dụng kết hợp với các phương
pháp kỹ thuật khác hoặc các phương pháp phi kỹ thuật để xác nhận về xu thế của giá. Việc kết hợp và bổ trợ
lẫn nhau giữa các phương pháp kỹ thuật khác nhau giúp nhà đầu tư có được kết luận chính xác và tối ưu
hơn.

Với vai trò là công cụ dự đoán, nhà đầu tư sử dụng các kết luận của phân tích kỹ thuật để dự đoán giá cả của
tương lai với kỳ vọng về khả năng đoán tốt hơn. Tuy nhiên như trên đã nói, bản chất của phân tích kỹ thuật
không phải là dự báo tương lai mà là chỉ thị trạng thái thị trường trong quá khứ với một độ trễ; do đó nếu sử
dụng như một công cụ dự đoán nhà đầu tư cần phải tính đến một xác suất an toàn và chấp nhận rủi ro khi dự
đoán là không phù hợp. Không ai có thể nói trước tương lai chỉ bằng thông tin trong quá khứ. Tuy nhiên
nhờ có phân tích kỹ thuật, khả năng đoán sai do đoán mò hoặc a dua đám đông được hạn chế rất nhiều.

Mỗi phương pháp kỹ thuật được áp dụng sẽ thể hiện các vai trò trên với các ưu nhược điểm khác nhau. Chi
tiết về các vai trò sẽ được nêu trong các bài viết trình bày cụ thể về từng phương pháp.

4. Biến động giá, Resistance và Support

Giá một CP biến động liên tục trên thị trường theo thời gian trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trên quan
điểm phân tích kỹ thuật, sự biến động giá trong một giai đoạn nhất định được chia làm 2 loại: “dập dềnh”
(trading market) và có xu thế (trending market). Biến động có xu thế được chia ra làm hai loại là biến động
tăng và biến động giảm (trending up và trending down). Các loại biến động này đều có thể nhận ra bằng mắt
thường hoặc thực hiện thống kê.

Biến động “dập dềnh” là giai đoạn giá CP thực sự tăng và không thực sự giảm. Trong giai đoạn này, giá của
CP liên tục dao động lúc lên lúc xuống nhưng xoay quanh một mức giá cố định. Trong một vài phiên ngắn
hạn giá cả có thể đi lên hoặc đi xuống nhưng nhìn chung trong cả thời kỳ giá không lên và cũng không
xuống.

Biến động có xu thế là giai đoạn giá CP đi lên hoặc đi xuống rõ ràng. Mặc dù có sự tăng và giảm giá xen kẽ
trong ngắn hạn một vài phiên nhưng nhìn chung trong cả giai đoạn giá theo xu hướng đi lên hoặc đi xuống.
Nếu giá đi lên ta gọi là giai đoạn biến động tăng, nếu giá đi xuống ta gọi là biến động giảm




                                                                                                        53
                                       Nhấn để xem kích thước thật


                                 Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn

Hình trên là ví dụ về các giai đoạn biến động giá các nhau. Các dải nằm giữa hai đường màu xanh và màu
đỏ là là các biến động dập dềnh không có xu hướng tăng hay giảm. Mỗi giai đoạn biến động dập dềnh đều
có hai giá trị ngưỡng là Resistance và Support (Tạm dịch là kháng cự và hỗ trợ). Hai giá trị ngưỡng này là
phạm vi dao động giá của biến động dập dềnh. Theo đó sự xuyên phá hai ngưỡng này đồng nghĩa với việc
thị trường không còn ở giai đoạn biến động dập dềnh nữa mà đã chuyển sang biến động có xu thế. Nếu giá
vượt lên trên ngưỡng Resistance thì thị trường đã chuyển sang xu thế biến động tăng, phe bò tót thắng thế.
Nếu giá trị vượt xuống dưới ngưỡng Support thì thị trường đã chuyển sang xu thế biến động giảm, phe gấu
đã thắng.

5. Biến động giá và nhiệm vụ của phân tích

Trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, giá của CP trải qua nhiều loại biến động. Đối với mỗi giai đoạn biến
động dập dềnh hoặc có xu thế, các câu sau hỏi được đặt ra đối với phân tích kỹ thuật:

   •   Nếu CP đang ở giai đoạn biến động dập dềnh thì giai đoạn tiếp theo là biến động tăng hay biến động
       giảm?
   •   Nếu CP đang ở giai đoạn biến động có xu thế thì thời điểm hiện tại đã là lúc kết thúc chưa hay biến
       động có xu thế này vẫn còn tiếp tục và kéo dài trong bao lâu?
   •   Nếu CP đang ở giai đoạn biến động có xu thế thì sau khi kết thúc biến động này thì giai đoạn tiếp
       theo liệu có phải là giai đoạn biến động theo xu thế ngược lại không hay sẽ biến động dập dềnh?

Nếu giải đáp được các câu hỏi trên nhà đầu tư sẽ nhanh chóng có được quyết định mua vào hoặc bán ra
đúng đắn, đặc biệt đối với các chuyên gia lướt sóng kiếm lợi nhuận bằng giá chênh lệch khi bán và khi mua:

   •   Nếu CP đang ở giai đoạn biến động dập dềnh mà giai đoạn tiếp theo là biến động tăng thì nên mua
       vào. Khi giá đã lên cao hơn có thể bán ra để kiếm lời. Ngược lại nếu giai đoạn tiếp theo là biến động
       giảm thì nên bán ra để tránh lỗ.
   •   Nếu xu thế hiện tại là xu thế tăng và đang ở giai đoạn đầu của xu thế này thì nên mua vào thuận theo
       xu thế để bán ra khi giá đã lên cao hơn. Ngược lại nếu xu thế hiện tại là xu thế giảm và đang ở giai
       đoạn đầu của xu thế này thì nên bán ra thuận theo xu thế để giảm lỗ. Khi giá đã xuống thấp hơn có
       thể mua vào lại để bán ra khi thị trường phục hồi.

                                                                                                       54
Việc áp dụng một phép phân tích kỹ thuật cần phải giải đáp được một vài trong số các câu hỏi trên, cũng có
khi phải phối hợp các phép phân tích kỹ thuật và phi kỹ thuật khác để trả lời được nhiều hơn một câu hỏi và
tăng độ chính xác cho mỗi câu trả lời.

6. Phân loại các biện pháp phân tích kỹ thuật

a. Phân tích tương quan (Leading Indicators)

Các phương pháp phân tích tương quan chỉ ra tương quan lực lượng giữa sự tăng giá và sự giảm giá, tương
quan lực lượng giữa phe mua và phe bán trong một thời kỳ xác định. Sự tương quan đó ánh xạ thành một
giá trị đại diện xác định. Nếu sự tăng giá là lớn hơn sự giảm giá thì giá trị này lớn, nếu sự tăng giá là nhỏ
hơn sự giảm giá thì giá trị này nhỏ. Sự tăng giá càng áp đảo bao nhiêu thì giá trị này càng lớn bấy nhiêu, sự
giảm giá càng áp đảo bao nhiêu thì giá trị này càng nhỏ bao nhiêu. Tên tiếng anh của nhóm phương pháp
này là Leading Indicators – leading có nghĩa là dẫn dắt hàm ý chỉ ra sự tăng giá hay sự giảm giá đang giữ
thế chủ đạo trên thị trường, dẫn dắt diễn biến của thị trường.

Ví dụ điển hình của nhóm phương pháp này là phương pháp RSI. Để tính RSI trên dữ liệu giá cổ phiếu DNP
trong 5 phiên như ví dụ ở phần đầu:

Trung bình sự thay đổi giá các phiên tăng trong 5 phiên

                             AG = (2.000 + 2.000 + 3.500 + 3.000) / 5 = 2.100

Trung bình sự thay đổi giá các phiên giảm trong 5 phiên

                                           AL = (3.500) / 5 = 700

Hệ số tương quan phản ánh giữa sức tăng và sức giảm giá là tỷ số AG/AL, quy chuẩn về thang 100 sẽ tính
được RSI là:

                                    RSI = 100 – 100/ (1 + AG/AL) = 75

Căn cứ vào tiêu chuẩn của RSI khi giá trị lớn hơn 70, có thể kết luận sự tăng giá đang dẫn dắt thị trường với
sức mạnh nghiêng về sự tăng giá.

Xét ví dụ về một phương pháp phân tích tương quan là đồ thị RSI của Công ty Cổ phần Nhựa Đồng Nai -
DNP




                                                                                                         55
                                        Nhấn để xem kích thước thật

                                  Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn

(1) Sớm phản ánh sức tăng giá mạnh của thị trường, tại nơi mà RSI vượt qua 70 sức mua vào rất lớn, giá cả
tăng vọt. Trạng thái này gọi là oversold.

(2) RSI vượt qua giá trị 50 phản ánh sức mua đang thắng thế trên thị trường, giá cả đang tăng lên nhưng
chưa mạnh.

Phân tích tương quan là căn cứ để nhà đầu tư nhận biết các tín hiệu mua và bán. Sử dụng phân tích tương
quan khi thị trường đang ở trạng thái biến động dập dềnh là một ý kiến tốt.Đối với thị trường biến động có
xu thế, các tín hiệu mua và bán của phân tích tương quan sẽ chính xác hơn nếu tuân theo xu thế chung của
thị trường: mua khi giá đang lên và bán khi giá đang xuống. Chi tiến hơn về sử dụng phân tích tương quan
sẽ được nêu trong các phần sau.

b. Phân tích xu thế (Lagging Indicators)

Các phương pháp thuộc nhóm này chỉ ra xu thế chung của thị trường trong một thời kỳ xác định. Xu thế đó
có thể là tăng giá, có thể là giảm giá hoặc trạng thái “dập dềnh”. Theo cách đó nếu chỉ dựa vào 1 giá trị tính
toán được của phương pháp này thì không đủ để nhận định xu thế của thị trường mà phải dựa vào một dãy
các giá trị của các thời kỳ khác nhau để vẽ nên đường xu thế của thị trường (Xem lại ví dụ ở phần đầu về
công ty cổ phần nhựa Đồng Nai).

Các phương pháp phân tích xu thế có tính chất trễ nghĩa là khi phát hiện ra dấu hiệu thị trường đang theo xu
thế tăng hay giảm giá thì thực chất xu thế này đã xảy ra – vì vậy tên tiếng Anh của phương pháp này là
Lagging Indicators với lagging có nghĩa là trễ.

Phân tích xu thế không trực tiếp phát sinh các tín hiệu mua và bán cho các nhà đầu tư nhưng phân tích xu
thế xác nhận và bổ sung tính chất đúng đắn trong các quyết định mua và bán của nhà đầu tư. Tuy nhiên Khi

                                                                                                          56
sử dụng phân tích xu thế cần chú ý khi thị trường biến động dập dềnh sẽ làm mất tác dụng của phân tích xu
thế. Chi tiết hơn về sử dụng phân tích xu thế sẽ được nên trong các phần sau.

c. Phối hợp sử dụng phân tích tương quan và phân tích xu thế

Phân tích tương quan cung cấp những tín hiệu cảnh báo sớm về tiềm năng của thị trường. Những cảnh báo
sớm này tỏ giúp cho các nhà đầu tư nhanh chóng đưa ra quyết định mua và bán phù hợp. Phân tích xu thế
tuy không đưa ra được các tín hiệu nhanh chóng như phân tích tương quan nhưng phân tích xu thế là một
công cụ xác thực tính đúng đắn của phân tích tương quan. Phân tích tương quan chỉ có thể cảnh báo chính
xác nhất nếu được kết hợp với phân tích xu thế, giảm thiểu các tín hiệu không chính xác, giảm rủi ro cho
nhà đầu tư. Chi tiết hơn về việc sử dụng phối hợp phân tích tương quan và phân tích xu thế sẽ được nêu
trong các phần sau.

7. Nghịch lý

Mong đợi của nhà đầu tư là có một phân tích nhạy cảm ánh xạ kịp thời các biến động của thị trường, đồng
thời phải mô tả chính xác ý nghĩa của các biến động đó. Tuy nhiên hai yếu tố nhạy cảm và chính xác không
bao giờ song hành. Nếu một phương pháp càng nhạy bén với các biến động của thị trường thì nó càng phản
ánh thiếu chính xác trạng thái của thị trường. Sử dụng phân tích kỹ thuật quá nhạy và thiếu chính xác, nhà
đầu tư sẽ nhận được các kết luận sai lầm dẫn đến các quyết định sai lầm. Ngược lại một phương pháp nếu
muốn mô tả thị trường càng ít sai sót bao nhiêu thì nó càng phải ít nhạy với các biến động thị trường nghĩa
là luôn đi sau sự biến động của thị trường. Nếu sử dụng phân tích quá chính xác lại không nhạy cảm, nhà
đầu tư sẽ chậm chân để mất cơ hội làm ăn vì kết luận chính xác được rút ra là quá muộn.

Xét ví dụ về đường trung bình động Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản Bến Tre




                                       Nhấn để xem kích thước thật

                                 Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn

 Hình trên mô tả hai phân tích sử dụng trung bình động: đường màu tím (SMA – 5) là trung bình động trong
5 kỳ nhạy cảm với thị trường, đường màu đỏ (SMA – 20) là trung bình động trong 20 kỳ ít nhạy cảm hơn
với thị trường.

(1) Cho thấy SMA – 5 quá nhạy với xu thế của thị trường khi mô tả xu thế tăng của thị trường trong ngắn

                                                                                                       57
hạn, tuy nhiên xu thế đúng của thị trường lúc này là “dập dềnh” tăng nhẹ và SMA – 20 đã phản ánh chính
xác.

(2) Cho thấy SMA – 20 tuy đúng nhưng không kịp phản ánh xu thế tăng của thị trưởng: phải sau 12 phiên
tăng giá liên tiếp SMA – 20 mới cho thấy xu thế tăng, trong khi SMA – 5 đã chỉ ra điều này từ phiên thứ
tăng thứ 3. Lúc này nhà đầu tư đã để vượt mất quá nhiều cơ hội.

8. Máy hiển thị giao động và phân tích tương quan

Do phân tích tương quan đóng vai trò phát sinh các tín hiệu mua và bán chủ đạo, vì vậy cần nghiên cứu chi
tiết hơn về phân tích tương quan với công cụ phổ biến của nó là máy hiển thị dao động.

Máy hiển thị dao động là đồ thị các giá trị của một phân tích tương quan theo thời gian. Mục này sẽ nêu các
yếu tố phân tích sử dụng trong máy hiển thị dao động để phát hiện và củng cố các quyết định mua và bán
của nhà đầu tư.




                                       Nhấn để xem kích thước thật

                             Các yếu tố phân tích sử dụng trong máy dao động
                                 Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn

a. Phân kỳ

Phân kỳ đóng vai trò phát sinh các tín hiệu mua và bán hoặc giữ vai trò là một cảnh báo về sự thay đổi xu
thế. Có 2 loại phân kỳ là phân kỳ dương và phân kỳ âm. Phân kỳ dương là phân kỳ mà giá trị của phân tích
tăng nhưng giá của chứng khoán đang có xu hướng giảm; phân kỳ dương báo hiệu về sự thay đổi xu hướng
sắp tới của giá là tăng giá. Phân kỳ âm là phân kỳ mà giá trị của phân tích giảm nhưng giá của chứng khoán
tăng; phân kỳ âm báo hiệu về sự thay đổi xu thế sắp tới sẽ là giảm giá.

Điều này không có nghĩa là tại thời điểm mà nhà đầu tư nhìn thấy chu kỳ dương hoặc chu kỳ âm thì xu thế
giá sẽ thay đổi trong tương lai gần, rất khó xác định khi nào sự thay đổi xu thế sẽ xảy ra. Vì vậy không thể
ra quyết định mua hoặc bán chỉ dựa vào phân kỳ mà phải sử dụng với vai trò củng cố bổ trợ với các tín hiệu
                                                                                                        58
khác.

b. Siêu mua /Siêu bán

Siêu mua và siêu bán là hai ngưỡng giá trị của phân tích. Mọi giá trị nằm trên ngưỡng siêu mua thì tại đó nó
thể hiện phe bò tót đang thắng thế áp đảo trên thị trường, giá CP tăng. Mọi giá trị nằm dưới ngưỡng siêu bán
là giá trị mà tại đó nó thể hiện phe gấu đang thắng thế áp đảo khiến giá CP giảm.

Phân tích việc xuyên phá các ngưỡng giá trị này nhằm chỉ ra khi giá CP đang biến động dập dềnh nhằm chỉ
ra xu thế sắp tới của giá CP sẽ là tăng giá hay giảm giá. Trong trường hợp giá CP biến động có xu thế, sử
dụng các ngưỡng siêu mua hoặc siêu bán thường hay cho tín hiệu không phù hợp nếu việc mua và bán đi
ngược lại xu thế của thị trường. Tuy nhiên vẫn có thể sử dụng các tín hiệu mua hoặc bán khi giá trị siêu mua
hoặc siêu bán bị xuyên phá nhưng phải thuận theo xu thế chung thị trường mà không được đi ngược lại. Cụ
thể nếu có tín hiệu mua và biến động là tăng thì có thể mua, nếu có tín hiệu bán và biến động là giảm thì có
thể bán; xu thế càng mạnh mẽ thì tín hiệu càng đáng tin cậy. Nếu đi ngược lại xu thế: mua khi đang biến
động giảm hoặc bán khi biến động tăng thì nhiều khả năng các tín hiệu mua hoặc bán được sinh ra do sự
xuyên phá các ngưỡng siêu mua hoặc siêu bán này không đáng tin cậy.

c. Đường trung bình

Đường trung bình là ngưỡng trung bình giá trị của phân tích. Sự xuyên phá ngưỡng này báo hiệu sự đổi
chiều phần thắng thuộc về phe bò tót hay gấu. Nếu sự xuyên phá là vượt ngưỡng trung bình, thế trận đổi
chiều nghiêng phần thắng về phe bò tót. Ngược lại nếu sự xuyên phá là xuống dưới ngưỡng trung bình điều
đó có nghĩa thế trận đổi chiều nghiêng phần thắng về phe gấu.

9. Nhận biết các tín hiệu mua và bán

 Để đưa ra các quyết định mua và bán hợp lý, cần có một số tín hiệu khác nhau bổ trợ lẫn nhau nhằm tăng
cường độ chính xác của các tín hiệu và giảm thiểu rủi ro đối mới mỗi quyết định. Các dấu hiệu sau được sử
dụng để báo hiện việc mua hoặc bán:



   •    Nếu giá trị của máy dao động từ dưới vượt qua ngưỡng siêu mua rồi quay trở lại xuống dưới ngưỡng
        này, đồng thời xu thế giá là đi xuống hoặc biến động dập dềnh. Điều đó cảnh báo thị trường sẽ
        chuyển sang xu thế giảm giá hoặc đang ở giai đoạn đầu của xu thế giảm giá. Đây là tín hiệu bán ra.
   •    Nếu giá trị của máy dao động từ dưới vượt qua ngưỡng siêu bán rồi quay trở lại lên trên ngưỡng này,
        đồng thời xu thế giá là đi lên hoặc biến động dập dềnh. Điều đó cảnh báo thị trường sẽ chuyển sang
        xu thế tăng giá hoặc đang ở giai đoạn đầu của xu thế tăng giá. Đây là tín hiệu mua vào.



   •    Nếu xu thế giá đang tăng mạnh, khi giá trị của máy dao động vượt qua ngưỡng siêu mua có nghĩa là
        đang ở giai đoạn đầu của xu thế tăng giá và sẽ tiếp tục tăng. Đây là tín hiệu mua vào.
   •    Nếu xu thế giá đang giảm mạnh, khi giá trị của máy dao động vượt qua ngưỡng siêu bán có nghĩa là
        đang ở giai đoạn đầu của xu thế giảm giá và sẽ tiếp tục giảm, Đây là tín hiệu bán ra.




                                                                                                       59
   •   Nếu giá trị máy dao động đang ở dưới ngưỡng siêu bán nhưng có sự xuất hiện của phân kỳ dương thì
       đó là tín hiệu mua vào. Chú ý tính thuận theo xu thế: nếu thị trường ở trạng thái dập dềnh hoặc xu
       thế là tăng hoặc giảm nhẹ thì có thể mua, nếu thị trường ở trạng thai giảm mạnh thì tín hiệu này
       không đáng tin.
   •   Nếu giá trị máy dao động đang ở trên ngưỡng siêu mua nhưng có sự xuất hiện của phân kỳ âm thì đó
       là tín hiệu bán ra. Chú ý tính thuận theo xu thế: nếu thị trường ở trạng thái dập dềnh hoặc xu thế là
       giảm hoặc tăng nhẹ thì có thể bán, nếu thị trường ở trạng thái tăng mạnh thì tín hiệu này không đáng
       tin.



   •   Nếu giá trị máy dao động tăng vượt qua giá trị trung bình và có sự xuất hiện của phân kỳ dương và
       xu thế giá đi lên thì đó là tín hiệu mua vào.
   •   Nếu giá trị máy dao động giảm xuống xuyên qua giá trị trung bình và có sự xuất hiện của phân kỳ
       âm và xu thế giá đi xuống thì đó là tín hiệu bán ra.



Xét ví dụ về sử dụng ngưỡng siêu mua và siêu bán của phân tích RSI đối với cổ phiếu Công ty Cổ phần
Hàng Hải Hà Nội - MHC




                                       Nhấn để xem kích thước thật

                                 Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn

   •   Thời điểm số (1), (5) là thời điểm giai đoạn đầu của xu thế tăng giá mạnh, ngưỡng siêu mua bị xuyên
       phá, thuận theo xu thế của thị trường, đây là lúc nên mua vào.
   •   Thời điểm số (2), (3), (4) là thời điểm mà giá CP đã vượt từ dưới ngưỡng siêu bán lên trên. Tại các
       thời điểm này còn có sự xuất hiện của phân kỳ dương, đây là tín hiệu mua vào. Để tăng cường chính
       xác cần theo dõi thêm xu thế lúc đó của thị trường. Tại thời điểm số (2), về dài hạn giá CP đang theo
       xu thế giảm, nhưng trong ngắn hạn 5 ngày thì tại thời điểm đó giá đang tăng, nếu tuân theo xu thế
                                                                                                        60
        ngắn hạn thì có thể mua vào nhưng phải bán ngay ra khi có thể vì sự tăng giá chỉ là ngắn hạn. Tại
        thời điểm số (3) và số (4) cho thấy những dấu hiệu chắc chắn hơn vì biến động lúc đó là dập dềnh,
        các tín hiệu khẳng định nên mua vào vì tin tưởng ở sự lên giá trong tương lai.
    •   Thời điểm số (6) là thời điểm nên bán ra vì ngưỡng siêu bán đã bị xuyên phá trong xu thế biến động
        giảm giá mạnh của thị trường. Việc bán ra ở thời điểm này nhằm mục đích giảm lỗ, chờ đợi sự hồi
        phục lại của thị trường để tiếp tục mua vào.


Xét ví dụ về sử dụng ngưỡng trung bình của phân tích MACD đối với chứng chỉ quỹ VF1




                                       Nhấn để xem kích thước thật

                                 Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn

    •   Tại thời điểm số (2) có sự xuyên phá vượt lên trên ngưỡng trung bình, đồng thời có sự xuất hiện của
        phân kỳ dương, đây là tín hiệu mua vào.
    •   Tại thời điểm (1) và (3) có sự xuyên phá xuống dưới ngưỡng trung bình, đồng thời có sự xuất hiện
        của phân kỳ âm, đây là các tín hiệu bán ra. Đặc biệt điểm số (4) có xu thế biến động giá đi xuống,
        việc bán ra là cần thiết để giảm lỗ.

10. Kết luận

Phân tích chứng khoán là một nghệ thuật hơn là một ngành khoa học chính xác. Vì vậy cần phải sử dụng kết
hợp nhiều phương pháp khác nhau để đạt đến kết quả tốt nhất. Thậm chí ngay trong cùng một phương pháp
cũng có nhiều cách sử dụng khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh cụ thể. Vì vậy cần phải trải qua rèn luyện
kiến thức và thực hành để tự đào tạo bản thân đạt được sự nhạy bén và chính xác mà không một phương
pháp nào có thể đạt được.

2 - Trung bình động và xu thế

Trung bình động tại một thời điểm là giá trị trung bình của giá trong một giai đoạn tính đến thời điểm
đó. Trung bình động là kim chỉ nam xác định xu thế đi lên hay đi xuống của giá.
                                                                                                         61
Trong phân tích khoa học kỹ thuật và quản lý, trung bình động đã được ứng dụng rất rộng rãi. Vì vậy tất
yếu trong phân tích thị trường chứng khoán với tư cách là một khoa học, trung bình động đã được ứng
dụng ơhổ biến và rộng khắp.

(Xem Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan. để có khái niệm tổng quát về phân tích kỹ thuật)

Về phân loại các phương pháp phân tích kỹ thuật, trung bình động thuộc nhóm phương pháp phân tích xu
thế, vì vậy trung bình động có các thuộc tính và tính chất của các phuơng pháp phân tích xu thế - Xem
Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

1. Các phương pháp trung bình động

Trung bình bình động được tính bằng nhiều phương pháp khác nhau. Khuôn khổ bài viết này chỉ giới
thiệu hai phương pháp tính trung bình động được sử dụng phổ biến.

1.1. Trung bình đơn SMA

Trung bình đơn tại một phiên là lấy giá trị trung bình của phiên đó và các phiên trước.

Gọi

      •   SMAt là giá trị trung bình động tại phiên t.
      •   Pt là giá của CP tại phiên t.
      •   n là số phiên tính trung bình động

Giá trị của trung bình đơn tại phiên t là

                                  SMAt = (Pt + Pt – 1 + Pt – 2 + … + Pt – n + 1) / n

1.2. Trung bình hàm mũ EMA

Gọi

      •   EMAt là giá trị trung bình động hàm mũ tại phiên t
      •   Gọi Pt là giá CP tại phiên t
      •   n là số phiên tính trung bình động

Giá trị của trung bình hàm mũ tại phiên t là

                                   EMAt = ((Pt – EMAt – 1) * M) + EMAt – 1

                             (Với hệ số M thường được lấy với giá trị = 2 / (1 + n))




                                                                                                          62
                                     Nhấn để xem kích thước thật
               Đường trung bình động giá CP của Công ty Cổ phần Hàng hải Hà Nội - MHC
                               nguồn ảnh đồ thị - www.vietstock.com.vn


2. Trung bình động và độ trễ

Cũng như phần lớn các mô hình kỹ thuật khác, trung bình động dựa vào thông tin trong quá khứ mà không
tính toán đến các giá trị tương lai, vì vậy trung bình động chỉ thị xu thế tăng hoặc giảm trễ hơn sau khi sự
kiện đã xảy ra. Như vậy trung bình động không dự đoán trước tương lai mà chỉ là công cụ xác định xu thế
hiện thời của thị trường.

Để điều chỉnh độ trễ của trung bình động, cần phải điều chỉnh số phiên tính trung bình độ hoặc lựa chọn
phương pháp tính trung bình động có độ trễ ít hơn. Nếu số phiên lấy trung bình động càng lớn thì độ trễ
càng cao và ngược lại số phiên lấy trung bình động càng nhỏ thì đỗ trễ càng thấp. Trong hai loại trung
bình động nêu ở trên thì với cùng số phiên lấy trung bình động thì EMA cho độ trễ thấp hơn so với SMA.

Việc điều chỉnh độ trễ sẽ ảnh hưởng đến tính chính xác và tính nhạy đối với các biến động của thị trường.
Nếu độ trễ nhỏ, trung bình động rất nhạy với các biến động thị trường, phản ánh kịp thời các biến động
này nhưng khả năng trung bình động phản ánh sai càng lớn. Ngược lại đỗ trễ càng lớn, trung bình động
càng ít nhạy và phản ánh muộn các biến động của thị trường nhưng sự phản ánh của trung bình động
chính xác hơn so với độ trễ nhỏ. Nếu sử dụng đỗ trễ nhỏ, nhà đầu tư có thể nhanh chóng nhận biết biến
động của thị trường để kịp thời nắm bắt cơ hội nhưng có thể phải trả giá cho các dấu hiện sai lầm do khả
năng sai là rất lớn. Nếu sử dụng độ trễ lớn, nhà đầu tư có thể hạn chế khả năng sai xót nhưng lại chậm
nắm bắt cơ hội đầu tư.

3. Chọn số các phiên tính trung bình động

 Số phiên tính trung bình động càng lớn thì các phân tích rút ra từ trung bình động càng thể hiện trong dài
hạn, vì vậy lựa chọn số phiên tính trung bình động phụ thuộc vào chiến lược của các nhà đầu tư. Các
chuyên gia khuyên rằng số phiên tính trung bình động nên bằng ½ số phiên trong một chu kỳ “lướt sóng”
mà nhà đầu tư dự định:
Số phiên tính trung bình động = Số phiên trong 1 chu kỳ lướt sóng / 2 + 1

Bảng sau số phiên tính trung bình động tùy thuộc theo mục tiêu của nhà đầu tư

Mục tiêu
Rất ngắn hạn    5 – 10 ngày
                                                                                                         63
Ngắn hạn 11 – 25 ngày
Trung bình 25 – 100 ngày
Dài hạn 100 – 200 ngày

Thông thường nhà đầu tư nên sử dụng cùng lúc 2 trung bình động trong phân tích, một trung bình động
với số phiên tính toán ngắn và một trung bình động có số phiên tính toán dài. Hai trung bình động này sẽ
bổ trợ lẫn nhau trong phân tích của nhà đầu tư và làm giảm các yếu điểm về tính nhạy và tính chính xác
của cả hai do độ trễ của cả hai mang lại.


4. Sử dụng trung bình động để xác định và xác nhận xu thế

Mục này sẽ giới thiệu cụ thể về cách thức xác định và xác nhận biến động có xu thế của thị trường bằng
phương pháp phân tích trung bình động.


   •   Nếu đường trung bình động đi lên, xu thế hiện tại của thị trường là đi lên. Nếu đường trung bình
       động đi xuống, xu thế hiện tại của thị trường là đi xuống. Chú ý đến tính ngắn hạn và dài hạn của
       trung bình động do việc lựa chọn số phiên tính toán.
   •   Nếu giá ở trên đường trung bình động, xu thế hiện tại của thị trường là đi lên, nếu giá ở dưới
       đường trung bình động, xu thế hiện tại là đi xuống. Hãy cảnh giác với thị trường khi đang ở trạng
       thái dập dềnh. Khoảng cách giữa giá và trung bình động càng lớn thì biểu hiện của xu thế càng
       mạnh.
   •   Nếu trung bình động ngắn hạn vượt lên trên trung bình động dài hạn hơn, xu thế của thị trường là
       đi lên. Nếu trung bình động ngắn hạn nằm dưới trung bình động dài hạn, xu thế của thị trường là đi
       xuống. Nếu khoảng cách này càng lớn thì biểu hiện của xu thế càng mạnh.
   •   Nếu giá vượt qua ngưỡng Resistance trước báo hiện xu thế tăng giá, việc đường trung bình động
       xuyên phá ngưỡng này khẳng định chắc chắn xu thế tăng của giá. Nếu giá vượt xuống dưới
       ngưỡng Support trước báo hiệu xu thế giảm giá, việc đường trung bình động xuyên phá ngưỡng
       này khẳng định chắc chắn xu thế giảm của giá.


Xét ví dụ về đường trung bình động của Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển công nghệ – FPT
Ví dụ này sử dụng 2 đường trung bình động tính toán trong 5 phiên SMA - 5 (màu tím) và trung bình động
tính toán trong 20 phiên SMA – 20 (màu đỏ), đường màu xanh nước biển thể hiện biểu đồ giá. Ví dụ này
minh hoạ về sử dụng trung bình động xác nhận xu thế biến động giá.




                                                                                                         64
                                    Nhấn để xem kích thước thật
                               Nguồn ảnh đồ thị - www.vietstock.com.vn


   •   Giai đoạn từ giữa tháng 2 đến giữa tháng 3, thị trường ở trạng thái biến động dập dềnh với hai
       ngưỡng resistance và support thể hiện bằng hai đường kẻ ngang xanh và đỏ.
   •   Tại các thời điểm số (1) và (2) giá CP xuyên phá các ngưỡng resistance và support, tuy nhiên việc
       xuyên phá này chỉ là tạm thời và giá sớm trở lại dao động trong các ngưỡng resistance và support.
       Việc khẳng định thị chuyển hướng sang biến động có xu thế chỉ dựa vào việc giá xuyên phá các
       ngưỡng resistance và support không đủ chắc chắn với xác suất sai xót lớn.
   •   Đến thời điểm số (3), giá CP xuyên phá ngưỡng support, đến thời điểm số (4) sau đó đến lượt
       trung bình động SMA – 5 xuyên phá ngưỡng này, lúc này có thể khẳng định giá CP đã chuyển
       hướng sang biến động có xu thế với một xác suất chắc chắn hơn.


Xét ví dụ về đường trung bình động của Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh – REE
Ví dụ này sử dụng 2 đường trung bình động tính toán trong 5 phiên SMA - 5 (màu tím) và trung bình động
tính toán trong 20 phiên SMA – 20 (màu đỏ), đường màu xanh nước biển thể hiện biểu đồ giá.




                                      Nhấn để xem kích thước thật

                               Nguồn ảnh đồ thị - www.vietstock.com.vn


   •   Trong giai đoạn trước tháng 11 năm 2006, biến động thị trường luôn ở trạng thái dập dềnh, việc sử
       dụng phân tích xu thế trong giai đoạn này tiềm ẩn nhiều khả năng sai xót. Xét về tính chính xác
       trong giai đoạn này SMA – 20 tỏ ra chính xác hơn, đường trung bình động không đi lên không đi
       xuống, SMA – 5 trong ngắn hạn vẫn có lúc lên hoặc xuống nhưng chỉ thể hiện xu thế trong giai
       đoạn rất ngắn.
   •   Tại thời điểm số (1) các dấu hiện sau thể hiện xu thế tăng của giá:


                                                                                                      65
           •   Các đường trung bình động của SMA – 5 và SMA – 20 đi lên.
           •   Ngưỡng Resistance bị xuyên phá bởi giá, tiếp đó các đường trung bình động SMA – 5 và
               SMA – 20 lần lượt xuyên phá ngưỡng này khẳng định xu thế tăng của giá.
           •   Giá cao hơn giá trị trung bình động.
           •   Giá trị trung bình động SMA – 5 vượt giá trị trung bình động SMA – 20

   •   Tại thời điểm số (2) các dấu hiện sau thể hiện xu thế giảm của giá:

           •   Các đường trung bình động SMA – 5 và SMA – 20 đi lên.
           •   Ngưỡng Support bị xuyên phá bởi giá, tiếp đó các đường trung bình động SMA – 5 và
               SMA – 20 lần lượt xuyên phá ngưỡng này khẳng định chắc chắn xu thế giảm của giá.
           •   Giá đã xuống thấp hơn giá trị trung bình động.
           •   Giá trị trung bình động SMA – 5 đã xuống thấp hơn giá trị trung bình động SMA – 20.

   •   Tại cả 2 thời điểm số (1) và số (2): SMA – 5 thể hiện tính nhạy bén, nhanh chóng thể hiện và xác
       nhận xu thế tăng hoặc giảm của giá trước SMA – 20.

4 - Aroon thể hiện xu thế
Năm 1995, Tushar Chande giới thiệu Aroon với tư cách là phương pháp phân tích kỹ thuật xác định xu
thế giá cả của thị trường và cho biết xu thế đó mạnh đến đâu?

Ý tưởng tính toán Aroon dựa trên việc xác định phiên có giá cao nhất (hoặc nhỏ nhất) cách phiên hiện tại
bao xa trong số các phiên lấy dữ liệu tính. Nếu phiên có giá cao nhất nằm cách xa phiên hiện tại thì xu thế
thị trường có sự chuyển mình sang giảm giá, nếu phiên có giá thấp nhất nằm cách xa phiên hiện tại thì xu
thế thị trường có sự chuyển mình sang xu thế tăng giá.

Với vai trò nhận định xu thế giả trên thị trường, đồ thị giá trị của Aroon có hai loại: Loại thứ nhất bao gồm
2 đồ thị biểu thị hai giá trị là Aroon up và Aroon down thể hiện sức mạnh tăng và giảm giá trên thị trường.
Loại thứ 2 biểu thị sự tương quan giữa sức tăng và sức giảm giá trên thị trường bằng cách lấy hiệu của
Aroon up và Aroon down, đồ thị loại này có dạng một máy dao động.

Xem trước Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan

1. Cách tính Aroon

Giả sử cần tính giá trị Aroon up và Aroon down cho phiên hiện tại: gọi n là số phiên lấy dữ liệu để tính
Aroon, tup là số phiên trước phiên hiện tại có giá cao nhất trong n phiên, tdown là số phiên trước phiên hiện
tại có giá thấp nhất trong n phiên.

                                       Aroon up = 100 (n – tup) / n
                                    Aroon down = 100 (n – tdown) / n
                               Aroon tương quan = Aroon up – Aroon down

Ví dụ tính Aroon cho phiên hiện tại với dữ liệu lấy trong 14 phiên trước đó. Trong 14 phiên này, phiên có
giá cao nhất xảy ra cách hiện tại 5 phiên, phiên có giá thấp nhất xảy ra cách phiên hiện tại 8 phiên.




                                                                                                           66
                                 Aroon up = 100 (14 – 5) / 14 = 64,29
                                Aroon down = 100 (14 – 8) / 14 = 42,86
                              Aroon tương quan = Aroon up – Aroon down

2. Sử dụng Aroon

Bằng cách dựa vào khoảng cách từ phiên hiện đến phiên có giá cao nhất hoặc thấp nhất. Nếu giá cao nhất
vừa được thiết lập trong các phiên gần phiên hiện tại, Aroon up có giá trị lớn hơn 50, theo thời gian nếu
giá cao nhất này không được phá bỏ thì giá trị Aroon up sẽ giảm dần. Nếu giá thấp nhất vừa được thiết lập
trong các phiên gần phiên hiện tại thì Aroon down có giá trị lớn hơn 50, theo thời gian nếu giá thấp nhất
này không được phá bỏ thì giá trị Aroon down sẽ giảm dần

Nếu Aroon up có giá trị nhỏ hơn 50 nghĩa là phiên có giá cao nhất nằm cách xa phiên hiện tại, xu thế tăng
giá đã mất nếu đang là xu thế tăng giá. Nếu Aroon down có giá trị nhỏ hơn 50 nghĩa là phiên có giá thấp
nhất nằm cách xa phiên hiện tại, xu thế giảm giá đã không còn nếu đang là xu thế giảm giá. Nếu Aroon up
và Aroon down xấp xỉ nhau, tức là phiên có giá thấp nhất và phiên có giá cao nhất ở gần nhau, thị trường
không đi theo xu hướng rõ rệt, xu thế nếu có cũng rất yếu.

Để rõ ràng hơn, Aroon tương quan được sử dụng để xác định tương quan giữa Aroon up và Aroon down
đại diện cho tương quan giữa xu thế tăng và xu thế giảm. Aroon tương quan càng gần 0 thì biến động càng
không có xu thế tăng hoặc giảm rõ ràng mà có dạng dập dềnh, Aroon tương quan lớn hơn 0 và càng lớn
hơn bao hiêu thì xu thế tăng giá của thị trường càng lớn bấy nhiêu, Aroon tương quan nhỏ hơn 0 và càng
nhỏ hơn bao nhiêu thì xu thế giảm giá của thị trường càng lớn bấy nhiêu.

Xét ví dụ về Công ty Cổ phần Lương thực Thực phẩm Safoco (SAF)




                                    Nhấn để xem kích thước thật
                                Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn

                                                                                                       67
   •    Tại vòng tròn số (1): Aroon tương quan rât lớn, xu thế giá là tăng và xu thế này rất mạnh.
   •    Tại vòng tròn số (2): Aroon tương quan rât nhỏ, xu thế giá là giảm và xu thế này rất mạnh.
   •    Tại vòng tròn số (3): Xu thế giá xấp xỉ 0, xu thế tăng và giảm không rõ ràng.

4 - Chỉ số sức mua/bán tương đối RSI
Năm 1978 J. Welles Wilder giới thiệu chỉ số RSI, từ đó đến nay RSI và trở thành một trong các chỉ số
phổ biến và hiệu quả được sử dụng trong phân tích kỹ thuật. Đây là một chỉ số thuộc nhóm các phương
pháp tương quan phản ánh tương quan sức mạnh sự tăng giá và giảm giá trong một thời kỳ.

Ôn lại – Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan



1. Tính toán RSI

RSI phản ánh mối quan hệ giữa sức tăng giá và sức giảm giá của một CP trong một thời kỳ xác định bằng
cách lấy tỷ số giá trung bình của các phiên tăng và giá trung bình các phiên giảm trong thời kỳ đó.

Gọi n là số các phiên trong thời kỳ xác định cần tính RSI.
Gọi giá trung bình các phiên tăng trong n phiên là AIn = Tổng giá các phiên tăng / n
Gọi giá trung bình các phiên giảm trong n phiên là ADn = Tổng giá các phiên giảm / n

Chỉ số sức bền tương đối được tính bằng công thức
RSI = 100 – 100 / (1 + RS) (1)

Trong đó RS = AIn / ADn là tỷ số giá trung bình các phiên tăng và giá trung bình các phiên giảm

Xét ví dụ về một phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng trung bình động.
Giá CK trong 5 phiên đến ngày 18/05/2007 của Công ty cổ phần nhựa Đồng Nai – Mã CK DNP

Ngày     Giá Thay đổi %thay đổi Khối lượng
18/05   76.000  2.000     2,70%     56.350
17/05   74.000  2.000     2,78%     36.190
16/05   72.000 -3.500    -4,64%     43.350
15/05   75.500  3.500     4,86%     30.550
14/05   72.000  3.000     4,35%     52.750

(Nguồn SSI)

Trung bình sự thay đổi giá các phiên tăng trong 5 phiên

                            AG = (2.000 + 2.000 + 3.500 + 3.000) / 5 = 2.100

Trung bình sự thay đổi giá các phiên giảm trong 5 phiên

                                                                                                     68
                                         AL = (3.500) / 5 = 700

Hệ số tương quan phản ánh giữa sức tăng và sức giảm giá là tỷ số AG/AL, quy chuẩn về thang 100 sẽ tính
được RSI là:

                                   RSI = 100 – 100/ (1 + AG/AL) = 75

2. Ý nghĩa

RSI xác định tương quan sức mạnh giữa phe mua và phe bán bằng cách phản ánh tỷ số tăng giá và tỷ số
tăng giá vào giá trị của RSI. Giá trị này nằm trong khoảng 0 đến 100.

Giá trị 50 của RSI gọi là giá tị trung bình tại đây sức mua và bán có tương quan ngang bằng nhau. RSI lớn
hơn 50 và càng lớn thì phản ánh sức mua càng lớn hơn sức bán, giá cả đang tăng. RSI nhỏ hơn 50 và càng
nhỏ thì phản hánh sức bán càng lớn hơn sức mua, giá cả đang xuống.

RSI có hai ngưỡng siêu mua và siêu bán là 70 và 30, nếu giá trị của RSI lớn hơn 70 thị trường đang ở
trạng thái siêu mua với sự áp đảo của phe mua, nếu RSI nhỏ hơn 30 thị trường đang ở ngưỡng siêu bán và
phe bán đang áp đảo

Số phiên (giá trị của n) sử dụng để tính trung bình giá các phiên tăng và giá các phiên giảm càng lớn thì
RSI càng chính xác theo ý nghĩa của công thức là phản ánh tương quan sức tăng và sức giảm của giá. Tác
giả J. Welles Wilder cho rằng nên lấy 14 phiên để tính RSI.




                                      Nhấn để xem kích thước thật

                            (nguồn ảnh đồ thị: http://www.vietstock.com.vn )

3. Sử dụng RSI

Đồ thị của RSI là một máy dao động, chi tiết về sử dụng máy dao động trong phân tích chứng khoán đã
được nên trong bài Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan
                                                                                                       69
Như mọi loại máy hiển thị dao động kác, phân tích RSI dựa vào 3 ngưỡng:

   •   Siêu mua: mọi giá trị RSI ≥ 70 được gọi là siêu mua.
   •   Siêu bán: mọi giá trị RSI ≤ 30 được gọi là siêu bán.
   •   Trung bình: Ngưỡng 50 được gọi là trung bình, RSI > 50 báo hiệu về sự thắng thế của phe mua,
       RSI < 50 báo hiệu sự thắng thế của phe bán


Chi tiết về các thông số của RSI và cách thức sử dụng RSI giống như mọi máy hiển thị dao động khác đã
được nêu trong Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

5 - MACD - Trung bình động hội tụ/phân kỳ
Kể từ khi được Gerald Appel giới thiệu, MACD đã trở thành một trong những công cụ phân tích kỹ
thuật đơn giản và tin cậy nhất. MACD được tính toán dựa trên hiệu số của hai đường trung bình động
dài hạn và ngắn hạn, giá trị trả về thuộc nhóm phân tích tương quan: tương quan giữa trung bình động
dài hạn và trung bình động ngắn hạn.

Chi tiết về phân tích tương quan xem: Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

Chi tiết về trung bình động xem: Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế.

Xem trước

   •   Phân tích kỹ thuật (3): RSI - Chỉ số sức mua/bán tương đối.
   •   Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế.
   •   Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

1. Tính toán

Về mặt tính toán MACD lấy một giá trị trung bình động của giá trong ngắn hạn trừ cho giá trị trung bình
động trong dài hạn. Thông thường MACD sử dụng EMA – 12 làm trung bình động ngắn hạn và EMA –
26 làm trung bình động dài hạn và cho hiệu số trên.

Như vậy nếu MACD > 0 thì trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn.Nếu MACD < 0
thì trung bình động dài hạn nhỏ hơn trung bình động ngắn hạn.

Đồ thị các giá trị của MACD là một máy hiển thị dao động phản ánh tương quan giữa trung bình động
ngắn hạn và trung bình động dài hạn. Thông thường đồ thị này được vẽ kèm với đồ thị trung bình động
EMA – 9 của chính MACD và đồ thị MACD – Histogram là hiệu số của MACD và trung bình động EMA
– 9 của chính MACD. Về MACD - Histogram sẽ được nêu trong một bài khác.

2. Ý nghĩa

So với các phương pháp phân tích khác, MACD thuộc về cả hai nhóm phân tích xu thế và phân tích tương
quan, MACD vừa chỉ ra xu thế của thị trường vừa xác định các tín hiệu mua và bán trên cùng một đồ thị.

Như đã biết trong bài viết về trung bình động, khoảng cách giữa trung bình động ngắn hạn và trung bình
động dài hạn thể hiện xu thế tăng hoặc giảm của thị trường. Nếu trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung
bình động dài hạn thì xu thế là tăng giá và MACD có giá trị dương. Nếu giá trị MACD dương và ngày
                                                                                                      70
càng lớn thì xu thế thị trường tăng ngày càng mạnh, phe bò tót ngày càng thắng áp đảo. Nếu trung bình
động ngắn hạn nhỏ hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là giảm giá và MACD có giá trị âm. Nếu giá trị
MACD âm và ngày càng nhỏ thì xu thế thị trường giảm ngày càng mạnh, phe gấu ngày càng thắng áp đảo.
Đường trung bình của MCAD là 0 nơi mà trung bình động giá ngắn hạn gặp trung bình động giá dài hạn,
tại đây bắt đầu có sự đổi chiều về xu thế của thị trường.

Ví dụ về MCAD giá cổ phiếu Công ty cổ phần Nhựa Đồng Nai - DNP




                                     Nhấn để xem kích thước thật

                              (Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn )

   •   Đồ thị trên tại các thời điểm số 1 và 2, đường MACD (Màu xanh) giao cắt đường zero, tại đây các
       đường đồ thj trung bình động EMA - 12 và EMA - 26 giao cắt nhau trên đồ thị giá.
   •   Trên đồ thị MACD, đường EMA - 9 của chính MACD được vẽ trên cùng đồ thị với màu tím và
       MACD - Histogram được vẽ trên cùng đồ thị với các cột màu xanh dương.

3. Sử dụng

Khi sử dụng MACD cần chú ý các tín hiệu sau để phát lênh mua hoặc bán:

   •   Sự giao cắt giữa MCAD và đường trung bình động EMA của chính MACD: Nếu đường MACD ở
       cắt đường trung bình động EMA của chính nó và đi xuống dưới đường này thì đó là tín hiệu bán ra
       để cắt lỗ. Nếu đường MACD cắt đường EMA của chính nó và đi lên trên đường này thì đó là tín
       hiệu mua vào. Sự giao cắt này được gọi là cò súng khai hỏa các tín hiệu mua và bán khác chính
       xác. Tuy nhiên cũng chú ý rằng khi các tín hiệu này xảy ra thì thường sự việc đã xảy ra rồi. Tuy
       không thể mua đáy bán đỉnh được nhưng việc bạn sớm mua vào hay bán ra ở đầu một xu thế lên
       giá hoặc giảm giá cũng là một món hời.
   •   Sự giao cắt giữa MCAD và đường zero. Sự giao cắt này chỉ là sự khẳng định lại tăng phần chắc
       chắn về xu thế mà các phép phân tích khác chỉ ra. Thông thường sự giao cắt này xảy ra khá muộn
       với độ trễ lớn nhất là khi sử dụng MCAD với hai đường trung bình động trong 9 ngày và 26 ngày.
       Do đó không thể dùng sự giao cắt này làm tín hiệu để phát lệnh mua/bán.

                                                                                                     71
Các tín hiệu trên cần kết hợp với nhiều tín hiệu trên các phân tích khác để có kết quả chính xác hơn.

   •   Xác định xu thế tăng hoặc giảm hoặc dập dềnh.
   •   Các dấu hiện về phân kỳ âm, phân kỳ dương.
   •   Ngưỡng siêu mua/siêu bán

Về các tín hiệu này đã trình bày trong 3 bài

   •   Phân tích kỹ thuật (3): RSI - Chỉ số sức mua/bán tương đối.
   •   Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế.
   •   Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

Khi phối hợp các tín hiệu trên với nau cần nhớ đến nghịch lý của việc áp dụng phân tích kỹ thuật: Việc áp
dụng và chờ đợi càng nhiều tín hiệu để tăng phần khẳng định chính xác hơn của một quyết định mua bán
có thể làm tăng phần chậm trễ cho quyết định mua bán đó và ngược lại việc áp dụng quá ít tín hiệu để ra
quyết định mua bán cho kịp thời cơ có thể lại kém phần chính xác. Quyết định chính xác nhất là không
quyết định.

Xét ví dụ sau về giá của chứng chỉ quỹ VF1:




                                       Nhấn để xem kích thước thật


                                (Nguồn ảnh đồ thị www.vietstock.com.vn )

   •   Trong giai đoạn cuối tháng 2 năm 2007, RSI đạt trên ngưỡng 50 và tiến dần đến ngưỡng siêu mua,
       phân kỳ dương xuất hiện và có sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó tại
       thời điểm số (1) là tín hiệu mua vào. Từ lúc đó cho đến thời điểm số (2) (giao đoạn ngay trước và
                                                                                                       72
       ngay sau tết), thị trường có dạng dập dềnh nhưng MACD luôn ở trên đường trung bình động EMA
       của chính nó vì vậy nhà đầu tư vẫn ôm chặt chứng chỉ quỹ của VF1 chờ thời.
   •   Sang đầu tháng 3 giá của VF1 vẫn tăng tốt, ngưỡg siêu mua đã bị xuyên phá tại thời điểm số (2).
       Sang đến giữa tháng 3 tại thời điểm số (3), MACD đã giao cắt đường trung bình động EMA của
       chính nó và đi xuống dưới đường này, các tín hiệu trên đồ thị RSI đã phá vỡ và đi xuống dưới
       ngưỡng siêu mua cùng với sự xuất hiện của phân kỳ dương khẳng định đã đến lúc cần phải rút lui
       khỏi thị truờng.
   •   Vào giữa tháng 4, tại thời điểm số (4), lúc này RSI đã phá vỡ ngưỡng siêu bán và đi lên trên giá trị
       này, phân kỳ dương xuất hiện cho thấy sự khởi sắc của thị trường. sự giao cắt giữa MACD và
       EMA của chính nó báo hiệu tín hiệu mua vào. Tuy nhiên sự giao cắt này không đảm bảo một sự
       chắc chắn cho những sự kiện bất ngờ xảy ra sau đó đối việc phát hành của chứng chỉ quỹ VF1 đã
       đẩy giá của VF1 tụt dốc.


Hãy chú ý đến các thời điểm RSI xuyên phá các ngưỡng siêu mua, siêu bán và sự giao cắt của MACD và
các đường trung bình động EMA của chính nó xảy ra sau đó trên đồ thị giá của cổ phiếu của công ty Cổ
phần Hàng Hải Hà Nôi (MHC).




                                      Nhấn để xem kích thước thật
6 - MACD-Histogram dự đoán MACD
Thomas Aspray giới thiệu MACD – Histogram vào năm 1968 như một giải pháp làm giảm thiểu độ trễ
của MACD. Như đã biết sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động EMA của chính nó là phát
pháo lệnh cho các hành vi mua và bán của nhà đầu tư. Tuy nhiên nếu ngồi chờ phát pháo lệnh này thì sự
việc có thể đã trễ. Vì vậy MACD – Histogram được ra nhằm mục đích dự đoán sự xuất hiện của phát
pháo lệnh trước khi nó xảy ra, nhờ đó nhà đầu tư có thể ra quyết định mua/bán kịp thời hơn so với việc
chờ đợi sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó.

Xem trước:

   •   Phân tích kỹ thuật (5): MACD - Trung bình động hội tụ/phân kỳ.

                                                                                                         73
   •   Phân tích kỹ thuật (3): RSI - Chỉ số sức mua/bán tương đối.
   •   Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế.
   •   Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

1. Tính toán

Giá trị của MACD – Histogram được tính bằng hiệu của MACD và giá trị trung bình động EMA của
chính MACD. Thông thường nếu chọn MACD được tính bằng hiệu hai đường trunhg bình động của giá là
EMA – 12 và EMA – 26 thì giá trị trung bình động EMA của chính MACD được chọn là 9 phiên.

Đồ thị MACD – Histogram được vẽ trên cùng đồ thị với MACD dưới dạng biểu đồ hình cột. Nếu MACD
vượt đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD – Histogram dương và biểu đồ cột quay lên
trên. Nếu MACD nằm dưới đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD – Histogram âm và biểu
đồ cột quay xuống dưới.

Hình dưới là đồ thị MACD – histogram của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá (DXP) minh hoạ về đồ thị
MACD – Histogram dưới dạng các cột màu xanh. Khi MACD – Histogram bằng 0 là lúc có sự giao cắt
giữa MACD và trung bình động của chính nó.




                                      Nhấn để xem kích thước thật


                              (Nguồn ảnh đồ thị: www.vietstock.com.vn )

2. Ý nghĩa

MACD phản ánh sự chênh lệch giữa giá trị của MACD và giá trị trung bình động EMA – 9 của chính
MACD.

Nếu giá trị của MACD – histogram dương và càng lớn thể hiện phe bò tót càng thắng thế trên thị trường.
Nếu giá trị MACD – histogram âm và càng nhỏ thì phe gấu càng thắng thế trên thị trường.

Việc giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó là một hiệu lệnh cho hành vi mua vào
hoặc bán ra. Tại điểm giao cắt này MACD – Histogram có giá trị 0. Bằng việc dựa vào sự tăng giảm của
MACD – Histogram để dự đoán việc MACD – Histogram bằng 0 sẽ xảy ra, nhờ đó MACD – Histogram
đưa ra khuyến cáo về một hành vi mua bán của nhà đầu tư nên đến sớm hơn. Kỹ thuật sử dụng để dự đoán
như vậy chính là phân kỳ dương và phân kỳ âm.

Hình dưới là đồ thị MACD – histogram của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá (DXP) minh hoạ về sự xuất
hiện của phân kỳ dương và âm trên MACD – Histogram sớm dự báo sự giao cắt cắt của MACD và trung
bình động của chính nó.




                                                                                                     74
                                     Nhấn để xem kích thước thật


                              (Nguồn ảnh đồ thị: www.vietstock.com.vn )

3. Sử dụng

Nếu đường MACD đang ở trên đường trung bình, giá cả đang lên nhưng MACD – Histogram có sự xuất
hiện của phân kỳ âm thì dấu hiệu này cảnh báo về sự giao cắt của MACD với trung bình động của chính
nó và sẽ thấp hơn trung bình động. Lúc này nhà đầu tư có thể ra quyết định bán ra sớm hơn việc chờ đợi
sự giao cắt mới ra quyết định bán.

Nếu đường MACD đang ở dưới đường trung bình, giá cả đang xuống nhưng MACD – Histogram có sự
xuất hiện của phân kỳ dương thì dấu hiệu này cảnh báo sự giao cắt của MACD và đường trung bình động
EMA của chính nó và cao hơn trung bình động. Lúc này nhà đầu tư có thể ra quyết định mua vào sớm hơn
là việc chờ đợi sự giao cắt mới ra quyết định mua.

Chú ý rằng việc sử dụng MACD – Histogram để phán đoán cũng như sử dụng MACD giao cắt trung bình
động EMA của chính nó được sử dụng dựa trên sự phối hợp bổ trợ với các phép phân tích khác.

Ngoài ra vì MACD – Histogram dự đoán sự giao cắt của MACD nên dù có độ trễ ít hơn so với MACD
nhưng tính chính xác lại kém hơn. Sử dụng một biện pháp phỏng đoán gián tiếp qua một dấu hiện dự đoán
khác thì sẽ kém an toàn hơn là sử dụng phép dự đoán trực tiếp.

Xét ví dụ về giá cổ phiếu của Công ty Cổ phần bao bì Bình Dương – HBD




                                                                                                     75
                                     Nhấn để xem kích thước thật

                             (Nguồn ảnh đồ thị: www.vietstock.com.vn )


  •   Tại khoảng thời gian số 1, có rất nhiều tín hiệu xuất hiện lần lượt tại các thời điểm khác nhau: sự
      giao cắt của giá và đường trung bình động SMA – 5, giá rót rất mạnh sau khi giao cắt đường này,
      RSI cắt ngưỡng siêu mua và đi xuống dưới, sự xuất hiện của phân kỳ âm trên MACD – Histogram
      và sự giao cắt của MACD với đường trung bình động của nó. Tín hiệu cuối cùng về sự giao cắt của
      MACD với đường trung bình động của nó là phát pháo lệnh chắc chắn nhất đòi hỏi nhà đầu tư phải
      rút lui gấp nếu không muốn bị thua lỗ thêm mặc dù lúc đó giá có tăng trong ngắn hạn một vài
      phiên. Ví dụ này cho thấy việc sớm dự báo giảm giá giúp nhà đầu tư sớm thoát khỏi thị trường hơn
      là chờ đợi phát pháo lệnh cuối cùng.
  •   Tại khoảng thời gian số (2), có nhiều tín hiệu báo hiệu về sự tăng giá mạnh: Giá giao cắt trung
      bình động SMA – 5 và vượt lên rất mạnh so với trung bình động, sự xuất hiện của phân kỳ dương
      trên MACD - Histogram, RSI vượt lên ngưỡng siêu bán. Tuy nhiên phát pháo lệnh cuối cùng và
      chắc chắn nhất là sự giao cắt của MACD và trung bình động của nó đã không xảy ra và giá đã
      không thực sự tăng mạnh và nhanh chóng giảm. Ví dụ này điểm hình cho tính chất sớm nắm bắt
      thời cơ mang lại nhiều lợi nhuận hơn nhưng khả năng chính xác kém hơn.
  •   Tại khoảng thời gian số (3), nhiều dấu hiệu về sự tăng giá xuất hiện: phân kỳ dương xuất hiện
      đồng thời trên RSI và MACD – histogram, RSI vượt lên trên ngưỡng siêu bán. Những tín hiệu này
      xảy ra trước phát pháo lệnh cuối cùng là sự giao cắt giữa MACD và trung bình động của chính nó.
      Tuy nhiên cũng cần cảnh giác với biến động dập dềnh của giá trong giai đoạn này.
  •   Tại khoảng thời gian số (4): sự xuất hiện của phân kỳ âm, ngưỡng siêu mua trên RSI không còn và
      sự giao cắt và rớt mạnh của giá so trung bình động thúc giục sự rút lui của nhà đầu tư. Lúc này
      chưa có phát pháo lệnh cuối cùng là sự giao cắt MACD và trung bình động của chính nó, giá đã có
      sự tăng trở lại. Giá sắp tới sẽ như thế nào? Cần phải chờ đợi những tín hiệu chắc chắn hơn hay phải
      rút lui cho kịp thời?

7 - Vấn đề khối lượng
                                                                                                      76
Các bài viết trước đã đề cập đến một số phương pháp phân tích phổ biến dựa trên giá cả của cổ phiếu
qua các phiên. Tuy nhiên sự phỏng đoán và xác nhận về giá cả trong tương lai không chỉ phụ thuộc vào
giá của cổ phiếu tại mỗi phiên mà còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác trong đó có khối lượng giao dịch
trong ngày. Do đó kỳ này sẽ đề cập đến các vấn đề về khối lượng giao dịch trên thị trường và nguyên
tắc chung của các phương pháp phân tích dựa trên khối lượng giao dịch trước khi đề cập cụ thể đến
một số phương pháp phân tích thuộc loại này trong các bài viết tiếp theo. Xem trước:

   •   Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.
   •   Phân tích kỹ thuật (5): MACD - Trung bình động hội tụ/phân kỳ.
   •   Phân tích kỹ thuật (6): MACD Histogram dự đoán MACD.

1. Giới thiệu chung

Như đã biết, giá cả trên thị trường được quyết định bằng cuộc đấu giữa cung và cầu theo nguyên tắc thuận
mua và bán. Sự thuận mua vừa bán này được phản ánh không chỉ qua mức giá cân đối cung cầu mà qua cả
khối lượng khớp thành công giữa hai bên: nói cách khác bán phải có người mua. Mua mà không có người
bán hoặc bán không có người mua là những trạng thái cần phải chú ý trên thị trường, phản ánh mức cung
cầu mất cân đối nghiêm trọng. Hãy xem xét các tình huống sau đây:

   •   Không ai mua mà cũng chẳng ai bán: đây là trường hợp thị trường đóng băng, hai phe mua bán
       lừng chừng thăm dò, hàng hóa không được giao dịch hoặc giao dịch với số lượng rất ít trên thị
       trường.
   •   Mua mà không ai bán: số lượng mua vào rất lớn nhưng số lượng bán ra nhỏ, khối lượng giao dịch
       thành công rất ít hoặc không có giao dịch thành công. Tình huống này xảy ra khi hàng hoá khan
       hiếm, rất nhiều người muốn mua, nhưng không có hàng bán trên thị trường, những người có hàng
       thì ôm chặt không bán ra để chờ giá lên cao hơn. Lúc này cầu lấn át cung.
   •   Bán mà không ai mua: số lượng bán ra rất lớn nhưng số lượng mua vào nhỏ. Khối lượng giao dịch
       thành công là không có hoặc rất nhỏ. Tình huống này xảy ra khi hàng hóa bị coi rẻ, người có hàng
       thì bán tống bán tháo tìm cách rút lui khỏi thị trường, người chưa có hàng thì chẳng muốn mua
       vào. Lúc này cung lấn át cầu.
   •   Mua và bán đều thỏa mãn: khối lượng giao dịch trao đổi trên thị trường lớn, bên mua và bán gặp
       nhau và đều thỏa mãn. Cung cầu lúc này ở trạng thái cân bằng.

2. Dòng chảy tiền tệ

Một số phương pháp dựa trên khối lượng thường được đặt tên goi là dòng chảy tiền tệ (money flow) hàm
ý chỉ lượng tiền được rút ra hoặc đưa vào thị trường đối với một loại cổ phiếu. Lượng tiền này thực chất là
kết quả của khối lượng giao dịch thành công trên thị trường và giá cả của cổ phiếu trên thị trường. Nếu giá
cả tăng thì tương ứng với khối lượng là một lượng tiền được đổ vào thị trường: giá càng tăng cao, khối
lượng giao dịch càng lớn thì lượng tiền đổ vào càng lớn. Nếu giá giảm thì tương ứng với khối lượng là
một lượng tiền được rút ra khỏi thị trường: giá càng giảm mạnh, khối lượng giao dịch càng lớn thì tiền rút
ra càng lớn.

3. Ý nghĩa chung

   •   Khi giá cả đang tăng, khối lượng giao dịch ít phản ánh tình trạng hàng hóa trên thị trường khan
       hiếm. Khi đến một mức giá nào đó hoặc đến một giai đoạn mùa vụ nào đó, khi những người nắm
       giữ cổ phiếu cảm thấy được giá thì họ sẽ tìm cách bán ra, sự bán ra của họ gặp đúng nhu cầu hàng
       của phe mua khiến cho khối lượng giao dịch thành công tăng cao, tốc độ tăng giá sẽ hãm lãi hoặc
                                                                                                        77
       giảm giá. Một trường hợp khác là phe mua vào cảm thấy nếu tiếp tục mua vào với giá cao sẽ nguy
       hiểm nên họ chấm dứt việc mua vào, lượng cầu giảm khiến cho khối lượng khớp thành công không
       có sự biến đổi tăng đột biến.
   •   Khi giá cả đang giảm, khối lượng giao dịch ít phản ánh tình trạng hàng hóa trên thị trường bị coi
       rẻ. Khi đến một mức giá nào đó hoặc đến một giai đoạn mùa vụ nào đó, một số nhà đầu tư cảm
       thấy được giá hời và muốn mua vào. Nhu cầu của họ gặp lượng cung bán ra lớn trên thị trường
       khiến cho khối lượng khớp thành công tăng cao, tốc độ giảm giá chậm lại hoặc tăng giá. Một
       trường hợp khác là phe bán ra cảm thấy nếu tiếp tục bán ra sẽ bị hớ nên họ chấm dứt bán ra, lượng
       cung giảm khiến cho khối lượng khớp thành công không có sự biến đổi tăng đột biến.
   •   Khi giá cả “dập dềnh” với khối lượng giao dịch nhỏ, thị trường ở trạng thái đóng băng. Lúc này
       không dễ đoán trước được điều gì.
   •   Khi giá cả “dập dềnh” với khối lượng giao dịch lớn tiềm ẩn một khả năng về sự thay đổi xu thế
       trong tương lai gần nhưng khó dự đoán. Trong trạng thái này cần theo dõi liên tục và thường xuyên
       các biến động trạng thái của thị trường dựa trên sự kết hợp với các phương pháp phân tích khác.

Dưới đây là hai ví dụ minh họa vềý nghĩa của khối lượng. Chú ý rằng ví dụ này chỉ minh họa về ý nghĩa
chứ không minh họa về cách sử dụng.

Xét ví dụ về Công ty Cổ phần Dịch vụ Ô tô Hàng Xanh(HAX)




                                    Nhấn để xem kích thước thật
                            (Nguồn ảnh đồ thị http://www.vietstock.com.vn )


   •   Suốt giai đoạn số 1, giá cả biến động dập dềnh, khối lượng giao dịch quá nhỏ, nhà đầu tư không
       hào hứng nhiều với cổ phiếu này, đường MACD luông sát với đường trung bình động EMA của
       chính nó, giai đoạn này khó có thể dự đoán trước được điều gì.
   •   Trong suốt giai đoạn từ thời điểm số (2) đến thời điểm số (5) là thời điểm giá CP tăng vọt. Xuất
       phát từ thời điểm số (2) với sự không hào hứng của nhà đầu tư nên khối lượng giao dịch nhỏ. Tiếp
       theo đó với sự tăng giá liên tiếp, nhiều nhà đầu tư găm hàng lại không bán ra nên khối lượng giao
       dịch vẫn thấp. Đến thời điểm số (3) một số nhà đầu tư cảm thấy được giá liền bán ra gặp đúng cơn
       khát của các nhà đầu tư khác nên khối lượng giao dịch lớn, giá vẫn tiếp tục tăng vì cầu vẫn lấn át.
                                                                                                        78
       Những người có hàng lại tiếp tục găm hàng cho đến thời điểm số (4) thì cảm thấy được giá và lại
       bán ra nhưng vẫn bị cầu lấn át. Lúc này khả năng về một sự thay đổi xu thế đã gần kề khi đã hai
       lần xảy ra hiện tượng những người có hàng cảm thấy được giá trong đợt tăng giá liên tục này.
   •   Từ thời điểm số (5) đến số (6) có thể coi là biến động dập dềnh với khối lượng lớn tiềm ẩn nguy cơ
       về sự thay đổi giá khó đoán trước. Trong giai đoạn này nếu quan sát trên MACD sẽ thấy sự tiến sát
       đến EMA – 9 của chính MACD và khi hai đường này giao nhau đã khẳng định sự xuống giá.


Xét ví dụ khác về công ty CP Hàng Hải Hà Nội - MHC




                                      Nhấn để xem kích thước thật

                            (Nguồn ảnh đồ thị http://www.vietstock.com.vn )


   •   Giai đoạn số 1 có thể coi là một giai đoạn biến động dập dềnh với khối lượng lớn tiềm ẩn nguy cơ
       khó đoán trước, trong ngắn hạn giai đoạn này được chia thành các kỳ giảm và tăng giá với khối
       lượng lớn.
   •   Giai đoạn số 2 là giai đoạn giảm giá, khối lượng giao dịch nhỏ được kết thúc bằng những cú xốc
       lại về khối lượng giao dịch lớn hơn trong những phiên giảm giá cuối cùng. Ở cuối giai đoạn này có
       một phiên giá lên với khối lượng lớn hơn các phiên trước, đây là lúc mà một số nhà đầu tư vội
       vàng bán ra để giảm lỗ khi thấy có dấu hiệu phục hồi lại.
   •   Các giai đoạn số (3) và (4) là lúc giá biến động dập dềnh, khối lượng giao dịch nhỏ bởi sự giằng co
       giữa phe mua và bán. Giai đoạn này rất khó dự đoán tuy nhiên cần chú ý xu hướng đi xuống.


4. Cách sử dụng chung

Khối lượng giao dịch thành công, khối lượng đặt mua hoặc đặt bán được coi là nhiều hay ít còn tùy thuộc
vào số lượng của cổ phiếu được phát hành trên thị trường và phụ thuộc vào tương quan với khối lượng
giao dịch trong các phiên giao dịch của cổ phiếu đó. Một khối lượng có thể được coi là nhiều đối với cổ
                                                                                                        79
phiếu này những cũng có thể ít với khối lượng khác. Hơn nữa sự biến đổi của khối lượng giao dịch mới
tạo thành ý nghĩa nếu dựa vào khối lượng để phân tích, Vì vậy, thông thường, các phương pháp phân tích
dựa trên khối lượng đều dựa vào sự biến đổi khối lượng giao dịch trên thị trường chứ không phụ thuộc vào
một giá trị cụ thể của phân tích. Điều đó có nghĩa là các phương pháp này nhìn nhận vào chiều, hướng của
đồ thị mà không chú ý đến giá trị hiện tại trên đồ thị hoặc nếu có thì giá trị này phải được quy chuẩn.

Dựa theo xu thế của đồ thị, các phương pháp phân tích theo khối lượng sử dụng hai yếu tố trên đồ thị là sự
xuất hiện của các phân kỳ dương/phân kỳ âm và tốc thay đổi đột biến về khối lượng giao dịch trên thị
trường:

   •   Theo đó một phân kỳ dương xuất hiện thì phỏng đoán và xác nhận về một xu thế tăng giá trên thị
       trường, một phân kỳ âm xuất hiện thì phỏng đoán và xác nhận về một xu thế giảm giá trên thị
       trường.
   •   Một sự biến động đột biến về khối lượng giao dịch sẽ phỏng đoán và xác nhận về sự thay đổi xu
       thế trên thị trường.

Các phương pháp phân tích về khối lượng cần kết hợp với các phương pháp phân tích khác nhằm tăng
cường tính chính xác, giảm độ trễ trong phỏng đoán và xác nhận về sự xu thế giá cả trên thị trường.

Về cách sử dụng chi tiết sẽ được nêu cụ thể theo từng phương pháp phân tích trong các bài viết tiếp theo.

8 - OBV - Chỉ số cân bằng khối lượng
Tiếp theo bài viết số 7 đã giới thiệu một số vấn đề cơ bản về khối lượng và các phương pháp phân
tích dựa trên khối lượng; bài viết này sẽ giới thiệu về một phương pháp phân tích đơn giản dựa trên
khối lượng giao dịch trong ngày - chỉ số cân bằng khối lượng (OBV – On balance volume). Phương
pháp này đã được Joe Granville trình bày trong cuốn sách của ông Granville's New Key to Stock Market
Profits xuất bản năm 1963.

Xem trước:

   •   Phân tích kỹ thuật (7): Vấn đề về khối lượng.
   •   Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

1. Tính toán

OBV được định nghĩa tính toán như sau:
Gọi i là giao dịch ngày hôm nay, i – 1 là giao dịch của ngày hôm trước.

   •   Nếu giá đóng cửa phiên ngày hôm nay cao hơn phiên trước:
       OBVi = OBVi – 1 + khối lượng giao dịch ngày i

   •   Nếu giá đóng cửa ngày hôm nay thấp hơn ngày hôm trước:
       OBVi = OBVi – 1 - khối lượng giao dịch ngày i

   •   Nếu giá đóng cửa ngày hôm nay bằng với hôm trước:
       OBVi = OBVi – 1




                                                                                                        80
Phương pháp phân tích bằng OBV sử dụng phương hướng của OBV trên đồ thị chứ không dựa vào giá trị
cụ thể của OBV, nghĩa là giá trị của OBV không quan trọng. Vì vậy có thể quy ước OBV của thời điểm i
= 0 hoặc i = -1 sử dụng làm gốc đồ thị có giá trị OBV = 0

2. Ý nghĩa

OBV là giá trị tích lũy khối lượng giao dịch thành công trải các phiên: cộng thêm khối lượng giao dịch
nếu tăng giá và trừ đi khối lượng giao dịch nếu giảm giá.

Ý nghĩa của OBV đánh giá sức tăng hoặc giảm của giá dựa trên khối lượng được giao dịch thành công.
Nếu giá tăng nhưng khối lượng giao dịch nhỏ, đồ thị OBV tăng chậm, giá giảm nhưng khối lượng giao
dịch nhỏ, đồ thị OBV giảm chậm. Nếu giá tăng với khối lượng giao dịch lớn OBV tăng mạnh, nếu giá
giảm với khối lượng giao dịch lớn thì OBV giảm mạnh.

Như vậy căn cứ vào sức tăng của OBV và việc hình thành phân kỳ âm hoặc dương của OBV để kết luận
và khẳng định tính chắc chắn của xu thế tăng hoặc giảm giá hiện tại.

Ví dụ về OBV của Chứng chỉ quỹ VF1 – Nguồn đồ thị www.vietstock.com.vn:




                                      Nhấn để xem kích thước thật

                                (Nguồn đồ thị: www.vietstock.com.vn )

   •   Tại thời điểm số (1), tuy giá cả đang lên nhưng có sự chững lại về khối lượng giao dịch, OBV tăng
       nhẹ không đáng kể, dự đoán thời kỳ thay đổi xu thế sắp bắt đầu.
   •   Tại thời điểm số (2), giá giảm, khối lượng giao dịch giảm, OBV giảm nhẹ không đáng kể. Đây là
       thời điểm ngày 03 và 04/05/2007 khi VF1 thay đổi giá trị phát hành và được cho là “lừa” nhà đầu
       tư. Diễn biến thị trường lúc đó số lượng đặt bán tăng rất mạnh nhưng số lượng mua vào ít, giá của
       VF1 giảm mạnh nhưng khối lượng giao dịch thành công không lớn.


                                                                                                         81
Xét ví dụ khác về OBV của công ty Cổ phần cáp treo núi Bà Tây Ninh TCT – Nguồn đồ thị
www.vietstock.com.vn




                                      Nhấn để xem kích thước thật


                                (Nguồn đồ thị: www.vietstock.com.vn )

   •   Trong giai đoạn từ cuối tháng tư cho đến đầu tháng 6, giá cổ phiếu của TCT liên tục tăng, đồ thị
       RSI cho thấy giao dịch của cổ phiếu này ở trạng thái siêu mua. Tuy nhiên OBV tăng rất nhẹ thể
       hiện khối lượng giao dịch trên thị trường rất nhỏ. Đây là thời điểm TCT bị nghi đang làm giá:
       những người nắm phần lớn cổ phiếu này đặt lệnh mua rất lớn và đặt lệnh bán rất nhỏ giọt nên giá
       tăng nhưng khối lượng giao dịch mỗi phiên không lớn, dư mua sau mỗi phiên còn rất nhiều.

3. Sử dụng

Như đã biết sử dụng OBV cần phải dựa vào tính chất lên xuống tăng giảm của OBV chứ không phải dựa
vào giá trị: cụ thể là tính chất phân kỳ âm và phân kỳ dương để xác nhận tăng phần chắc chắn của khẳng
định về xu thế tăng hoặc giảm của giá.

Nếu đồ thị OBV thể hiện một phân kỳ âm trong khi giá đang có xu thế lên, điều này cảnh báo về khả năng
thay đổi xu thế của giá sang giảm. Nguyên nhân là các phiên giá giảm có khối lượng giao dịch xen lẫn các
phiên giá tăng có khối lượng giao dịch nhỏ. Điều này có nghĩa là giữa các phiên tăng giá do cầu lớn và
khan hiếm hàng dẫn đến khối lượng giao dịch nhỏ, đã xuất hiện xen kẽ những phiên giảm giá do một số
nhà đầu tư bán ra vì cảm thấy được giá dẫn đến khối lượng khớp lớn. Vậy xu thế tăng giá đã bắt đầu suy
yếu.


                                                                                                      82
Nếu đồ thị OBV thể hiện một phân kỳ dương trong khi giá đang có xu thế giảm, điều này cảnh báo về khả
năng thay đổi xu thế của giá sang tăng. Nguyên nhân là các phiên giá tăng có khối lượng giao dịch lớn xen
kẽ các phiên giảm giá có khối lượng giao dịch nhỏ. Điều này có nghĩa là giữa các phiên giảm giá do cung
lớn và bán tháo hàng thừa dẫn đến khối lượng giao dịch nhỏ, đã xuất hiện xen kẽ những phiên tăng giá do
một số nhà đầu tư gom hàng vì cảm thấy giá hời dẫn khối lượng khớp lớn. Vậy xe thế giảm giá đã bắt đầu
suy yếu.

Về vấn đề bán tháo và thu gom khi giá đang lên hoặc giảm, xem lại bài Phân tích kỹ thuật (7): Vấn đề
khối lượng.

Xét ví dụ về giá cổ phiếu của công ty CP Nhựa Bình Minh - BMP – Nguồn đồ thị www.vietstock.com.vn:




                                      Nhấn để xem kích thước thật

                                 (Nguồn đồ thị: www.vietstock.com.vn)

   •   Trên đồ thị OBV có sự xuất hiện của phân kỳ dương trong khi trên đồ thị gia thể hiện một xu thế
       giá giảm. Điều này cảnh báo về sự xuất hiện trở lại của xu thế giá tăng.

Xét ví dụ về công ty Cổ phần nhựa Đã Nẵng – DNP – Nguồn đồ thị www.vietstock.com.vn:




                                                                                                         83
                                     Nhấn để xem kích thước thật

                                (Nguồn đồ thị: www.vietstock.com.vn )

   •   Trong giai đoạn giữa tháng 3, phân kỳ âm xuất hiện trên đồ thị giá và đồ thị OBV khẳng định xu
       thế giảm của giá.
   •   Trong giai đoạn cuỗi tháng 3 đầu tháng 4, thể hiện sự biến động dập dềnh của giá.
   •   Trong giai đoạn giữa tháng 5, phân kỳ dương xuất hiện trên đồ thị giá và đồ thị OBV khẳng định
       xu thế tăng của giá.

9 - A/D Line - Đường tích lũy/phân bổ
Sau khi chỉ số cân bằng khối lượng OBV ra đời , Marc Chaikin đã công bố đường tích lũy/phân bổ -
Accumlation/Distribution Line A/D Line như một trong những phương pháp phân tích dựa vào tổng
khối lượng tích lũy qua các phiên. Tuy nhiên khác với OBV chỉ thuần túy dựa khối lượng , A/D Line
đưa thêm vào một hệ số điều chỉnh căn cứ theo giá đóng cửa qua mỗi phiên nhằm phản ánh chính xác
hơn trạng thái của thị trường bằng sự kết hợp tính toán giữa giá và khối lượng.

Xem trước

   •   Phân tích kỹ thuật (8): OBV - Chỉ số cân bằng khối lượng
   •   Phân tích kỹ thuật (7): Vấn đề về khối lượng.
   •   Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

1. Tính toán

Marc Chaikin sử dụng hệ số giá đóng tỷ lệ - Close Location Value CLV làm hệ số điều chỉnh căn cứ theo
giá đóng cửa của cổ phiếu trong mỗi phiên:

                                 CLV = ((C - L) - (H - C)) / (H - L) )


                                                                                                    84
                                        Trong đó C là giá đóng cửa
                                               L là giá sàn
                                               H là giá trần



Theo công thức trên thì:

   •   Nếu giá đóng cửa tăng kịch trần thì CLV = +1
   •   Nếu giá đóng cửa giảm kịch sàn thì CLV = -1
   •   Nếu giá đóng cửa bằng giá tham chiếu thì CLV = 0
   •   Nếu giá đóng cửa trên giá tham chiếu và dưới giá trần thì CLV là số âm nằm trong khoảng 0 .. +1
   •   Nếu giá đóng cửa dưới giá tham chiếu và trên giá sàn thì CLV là số âm nằm trong khoảng 0 .. -1

Nếu như OBV đơn thuần sử dụng tổng tích lũy khối lượng thì A/D Line sử dụng tổng tích lũy khối lượng
nhân với hệ số giá đóng tỷ lệ (Volume x CLV), nghĩa là:

Gọi A/D Linei là giá trị của đường tích lũy tại phiên i. Khi đó:

                                A/D Linei = A/D Linei – 1 + Volume x CLV

Cũng giống như OBV, A/D Line chỉ quan tâm đế phương hướng mà không để ý đến giá trị nên A/D Line0
hoặc A/D Line-1 được quy ước có giá trị bằng 0.

2. Ý nghĩa

OBV là giá trị tích lũy khối lượng giao dịch thành công đã có sự điều chỉnh về tỷ lệ tăng giá trải các phiên.
Về ý nghĩa A/D Line cũng giống như OBV nhưng không giống OBV chỉ dựa thuần túy vào khối lượng
giao dịch thành công để xét đoán tâm lý, hành vi nhà đầu tư và trạng thái của thị trường, A/D Line còn thể
hiện các yếu tố trên trong mối quan hệ với giá cả qua các phiên nhờ hệ số điều chỉnh CLV. Do có sự tham
gia của giá và khối lượng, nên A/D Line có thể coi một dạng phân tích phản ánh dòng chảy tiền tệ vào và
ra khỏi thị trường đối với loại cổ phiếu đang xem xét nên A/D Line cho nhiều tín hiệu và sự xác nhận hơn
OBV.

Nếu OBV đánh giá sức tăng hoặc giảm của giá dựa trên khối lượng được giao dịch thành công và sự tăng
giảm của giá. Nếu giá tăng mạnh nhưng khối lượng giao dịch nhỏ hoặc giá giảm nhẹ nhưng khối lượng
giao dịch lớn thì đồ thị A/D Line tăng chậm. Nếu giá giảm mạnh nhưng khối lượng giao dịch lớn hoặc giá
tăng mạnh nhưng khối lượng giao dịch nhỏ thì đồ thị A/D Line giảm chậm. Chỉ khi khối lượng giao dịch
lớn với giá tăng mạnh thì đồ thị A/D Line mới tăng mạnh và chỉ khi cả giá và chỉ khi khối lượng giao dịch
lớn với giá giảm mạnh thì đồ thị A/D Line mới giảm mạnh.

Như vậy căn cứ vào sức tăng của A/D Line và việc hình thành phân kỳ âm hoặc dương của A/D Line để
kết luận và khẳng định tính chắc chắn của xu thế tăng hoặc giảm giá hiện tại. Do có hệ số điều chỉnh CLV
nên cách hiểu về ý nghĩa phân kỳ âm và phân kỳ dương của OBV sẽ có sự khác biệt cần phải điều chỉnh.

Khi một phân kỳ âm xuất hiện, điều này nghĩa là đã có sự xen kẽ một số phiên bán tháo với khối lượng
lớn với giá giảm mạnh, các phiên tăng tiếp theo có khối lượng nhỏ hoặc giá tăng không mạnh nên không
thiết lập được đỉnh mới cao hơn đỉnh cũ. Các hiện tượng này cảnh báo về sự suy giảm sức tăng của giá
nếu giá đang ở xu thế tăng hoặc củng cố cho sức mạnh sụt giảm nếu giá đang trên xu thế giảm.

                                                                                                          85
Khi một phân kỳ dương xuất hiện, điều này nghĩa là đã có sự xen kẽ một số phiên thu gom với khối lượng
lớn với giá tăng mạnh, các phiên tăng tiếp theo có khối lượng nhỏ hoặc giá giảm không mạnh nên không
thiết lập được đáy mới thấp hơn đáy cũ. Các hiện tượng này cảnh báo về sự suy giảm sức giảm của giá
nếu giá đang ở xu thế giảm hoặc củng cố cho sức mạnh tăng nếu giá đang trên xu thế tăng.

3. Cách sử dụng

Cũng giống như OBV, A/D Line sử dụng phân kỳ âm và phân kỳ dương làm tín hiệu cảnh báo về sự thay
đổi xu thế của giá cả hoặc xác nhận và củng cố tính chắc chắn của xu thế này.



   •   Nếu phân kỳ âm xuất hiện trong khi giá đang ở xu thế tăng thì phân kỳ âm cảnh báo về khả năng
       thay đổi xu thế giá tăng hiện tại.
   •   Nếu phân kỳ âm xuất hiện trong khi giá đang giảm thì phân kỳ âm khẳng định tính chắc chắn của
       sự giảm giá.
   •   Nếu phân kỳ dương xuất hiện trong khi giá đang ở xu thế giảm thì phân kỳ dương cảnh báo về khả
       năng thay đổi xu thế giá giảm hiện tại.
   •   Nếu phân kỳ dương xuất hiện trong khi giá đang ở xu thế tăng thì phân kỳ dương khẳng định tính
       chắc chắn của sự tăng giá.

Xét ví dụ về giá cổ phiếu của Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh – BMP – Nguồn đồ thị
www.vietstock.com.vn




                                      Nhấn để xem kích thước thật

                                  Nguồn đồ thị www.vietstock.com.vn

Trong suốt 2 tháng 11 và 2 năm 2006, giá của cổ phiếu BMP có xu thế tăng, phân kỳ dương trên đồ thị
A/D Line xuất hiện liên tục trong hai tháng này xác nhận tính chắc chắn của xu thế tăng giá. Thực tế xu
thế này đã kéo dài sang hết tháng 01/2007 với sức tăng giá mạnh. Tuy nhiên trong tháng 01/2007 này, đồ
                                                                                                        86
thị A/D Line có dạng dập dền không hình thành phân kỳ dương tạo thành cảnh báo về sự suy yếu của xu
thế tăng giá hiện tại. Kết quả là bước sang tha giá cổ phiếu chuyển sang trạng thái dập dềnh, dao động
mạnh và bắt đầu đi xuống trong tháng 03, 04 nắm 2007.

Xét ví dụ về giá cổ phiếu của công ty Cổ phần Đầu tư công nghệ - FPT – Nguồn đồ thị
www.vietstock.com.vn




                                      Nhấn để xem kích thước thật

                                 Nguồn đồ thị www.vietstock.com.vn

Một phân kỳ âm đã xuất hiện trên đồ thị A/D Line vào tháng 01 năm 2007 trong khi giá của cổ phiếu FPT
đang theo xu thế tăng lên. Hiện tượng này cảnh báo về sự thay đổi xu thế tăng giá hiện thời trong giai
đoạn tới. Kết quả thể hiện ở giá cổ phiếu của FPT bắt đầu ngừng xu thế tăng vào tháng 2 và bắt đầu đi
xuống từ tháng 03 năm 2007.

10 - Oscillator - Máy dao động Chaikin
Như đã giới thiệu trong bài viết trước về đường tích lũy phân bổ A/D Line, bài viết này sẽ giới thiệu
về phương pháp bổ trợ cho A/D Line. Phương pháp này được đặt tên là Chaikin oscillator – Máy dao
động Chaikin lấy then tên của tác giả Marc Chaikin.

Xem trước

   •   Phân tích kỹ thuật (9): A/D Line - Đường tích lũy/phân bổ
   •   Phân tích kỹ thuật (7): Vấn đề về khối lượng.
   •   Phân tích kỹ thuật (6): MACD Histogram dự đoán MACD.
   •   Phân tích kỹ thuật (5): MACD - Trung bình động hội tụ/phân kỳ.
   •   Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

1. Tính toán


                                                                                                     87
Giống như MACD tính bằng hiệu số hai giá trị trung bình hàm mũ của giá thì phương pháp Chaikin
Oscillator được tính toán bằng hiệu số hai giá trị trung bình hàm mũ của A/D Line . Hiệu số giữa trung
bình hàm mũ trong 3 phiên và trung bình hàm mũ trong 10 phiên thường được sử dụng.

2. Ý nghĩa

Do cùng một cách tính toán, vì vậy xét về ý nghĩa, Chalkin Oscillator áp dụng đối với sự tăng giảm của
A/D Line có ý nghĩa tương tự như MACD áp dụng đối với sự tăng gjảm của giá cả. Theo đó, Chalkin
Oscillator xác nhận xu thế tăng hoặc giảm của A/D Line từ đó xác định xu thế tăng hoặc giảm của giá.

Nếu Chaikin Oscillator dương tức là trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn, xu thế
của A/D Line là tăng; ngược lại nếu Chaikin Oscillator âm tức là trung bình động ngắn hạn nhỏ hơn trung
bình động dài hạn, xu thế của A/D Line là giảm. Nếu đường trung bình động ngắn hạn giao cắt đường
trung bình động dài hạn Chaikin Oscillator sẽ thay đổi giá trị từ dương sang âm (hoặc ngược lại) xuyên
qua đường trung bình (giá trị 0); tín hiệu này cảnh báo về sự thay đổi xu thế từ tăng sang giảm hoặc từ
giảm sang tăng hoặc ngừng xu thế tăng, giảm chuyển sang biến động dập dềnh.

Về thực chất Chaikin Oscillator phân tích chỉ ra xu thế của A/D Line chứ không trực tiếp chỉ ra xu thế của
giá cả. Tính chất gián tiếp này giúp cho Chaikin Oscillator phán đoán với độ trễ ít hơn A/D Line; tuy
nhiên, bù lại Chaikin Oscillator sẽ phản ánh kém chính xác hơn A/D Line. Do đó việc sử dụng Chaikin
Oscillator cần phải chú ý kết hợp với các phương pháp khác nhằm tăng tính chính xác phân tích.

Chi tiết hơn về ý nghĩa của MACD và A/D Line, xin đọc các bài viết:

   •   Phân tích kỹ thuật (9): A/D Line - Đường tích lũy/phân bổ
   •   Phân tích kỹ thuật (5): MACD - Trung bình động hội tụ/phân kỳ.

3. Sử dụng

Giống như MACD, Chalkin Oscillator sử dụng hai dấu hiệu là phân kỳ âm (hoặc dương) và sự giao cắt
giữa đường Chalkin Oscillator và giá trị trung bình 0. Khi sử dụng Chalkin Oscillator cần phải có sự phối
hợp với các tín hiệu khác để đảm bảo sự chính xác hơn trong dự đoán và xác nhận.

Chi tiết hơn về sử dụng, Chalkin Oscillator, có thể tham tham khảo về cách dùng tương tự của phương
pháp MACD nêu trong bài viết: Phân tích kỹ thuật (5): MACD - Trung bình động hội tụ/phân kỳ.

Ví dụ về công ty cổ phần Nhựa Đồng Nai - DNP




                                                                                                         88
                                      Nhấn để xem kích thước thật

                                 Nguồn đồ thị - www.vietstock.com.vn

Trên đồ thị Chaikin Oscillator xuất hiện phân kỳ dương trong thời gian đủ dài vào tháng 2 và tháng 3 năm
2007. Sự phân kỳ dương kéo dài đến khi đường Chaikin Oscillator giao cắt đường trung bình giá trị 0, sự
giao cắt này xảy ra trước khi đồ thị A/D Line thiết lập các đỉnh cao mới để tạo thành phân kỳ dương.
Đồng thời trên đồ thị giá, ngưỡng kháng cự (Resistance) bọ phá bỏ. Các tín hiệu liên tiếp trên củng cố và
khẳng định sự tăng giá của DNP.

Vào tháng 6/2007, phân kỳ âm xuất hiện trên Chaikin Oscillator với độ dốc rất lớn, trước đó phân kỳ
dương trên đồ thị A/D Line đã chấm dứt đồng thời với dấu hiện đồ thị Chaikin Oscillator giao cắt giá trị 0
cảnh báo về xu thế giảm giá. Tiếp đó, phân kỳ âm xuất hiện trên cả hai đồ thị A/D Line và Chaikin
Oscillator liên tục trong thời gian dài xác nhận xu thế giảm giá đang xảy ra của DNP.

11 - Độ lệch chuẩn
Độ lệch chuẩn là khái niệm sử dụng bổ biến trong toán học thống kê. Bài viết này sẽ bàn luận về ý
nghĩa độ lệch chuẩn khi sử dụng làm công cụ phân tích kỹ thuật, các bài viết sau sẽ trình bày cụ thể
từng phương pháp thuộc nhóm này.

Xem trước

   •   Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế.
   •   Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

1. Tính toán

Nếu gọi X là giá trị của cổ phiếu, E(X) là trung bình động của X, S là phương sai, d là độ lệch chuẩn. Độ
lệch chuẩn sẽ được tính toán như sau:

                                                                                                        89
                                   S = E[(X – EX)2] = E(X2) – [E(X)]2

                                        d = Căn bậc hai của S
Về trung bình động E(X) xem bài - Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế.

2. Ý nghĩa độ lệch chuẩn

Trong thống kê độ lệch chuẩn xác định mức độ ổn định của số liệu thống kê xoay quanh giá trị trung bình
. Giá trị của độ lệch chuẩn càng thấp thì mức độ ổn định của số liệu càng lớn, dao động quanh giá trị trung
bình càng nhỏ. Giá trị độ lệch chuẩn càng cao thì mức độ ổn định của số liệu càng nhỏ, dao động quanh
giá trị trung bình càng lớn. Như vậy nếu giá của cổ phiếu có độ lệch chuẩn nhỏ, mức độ biến thiên giá của
cổ phiếu này quanh trung bình động thấp, nếu độ lệch chuẩn lớn, mức độ biến thiên giá của cổ phiếu
quanh trung bình động cao.

Hãy hình dung trong ví dụ sau: vào cuối học kỳ người ta lấy hai học sinh cùng có điểm trung bình 5,0 để
xét cho đi thi học sinh giỏi. Học sinh thứ nhất có độ lệch chuẩn là 0 vì điểm trong học kỳ của học sinh này
toàn điểm 5; học sinh thứ 2 có độ lệch chuẩn lớn hơn 0 vì điểm trong học kỳ của học sinh này có cả hai
loại điểm 10 và điểm 0. Người ta nói học sinh thứ nhất học đều và ổn định hơn học sinh thứ hai. Nếu cử
học sinh thứ nhất đi thi thì sẽ an toàn hơn vì không sợ bị điểm liệt và mang tiếng xấu về cho trường,
nhưng cử học sinh thứ hai sẽ có khả năng sinh lợi lớn hơn vì có thể đoạt giải nhất mặc dù rủi ro bị liệt là
tương đương. Điều này cũng có ý nghĩa tương tự về mức độ sinh lời và rùi ro trong chứng khoán, càng
chấp nhận rủi ro cao thì sinh lời càng lớn.

Trong xác xuất thống kê, nếu gọi X là giá cổ phiếu với trung bình là a, theo mô hình phân phối chuẩn có
các xác suất sau:

   •   P(a – d < X < a + d) = 68,26%
   •   P(a – 2d < X < a + 2d) = 95,44%
   •   P(a – 3d < X < a + 3d) = 99,74%

Điều này có nghĩa xác suất để giá cổ phiếu nằm trong khoảng từ trung bình giá trừ đi độ lệch chuẩn (a – d)
cho đến trung bình giá cộng với độ lệch chuẩn (a + d) là 68.26% tức là gần 70%. Chú ý rằng 70% là
ngưỡng mà nhiều nhà kinh doanh và quân sự mong đợi: “nếu khả năng chắc thắng 70% thì cứ việc tiến
hành”. Vì vậy nếu giá cổ phiếu không nằm trong khoảng 70% (vượt trên ngưỡng a + d hoặc xuống dưới
ngưỡng a - d) thì đó sẽ là các tín hiệu cảnh báo cần phải chú ý.

12 - Bollinger Band - Dải băng Bollinger
Tiếp theo bài trước bàn về độ lệch chuẩn, bài này sẽ giới thiệu một phương pháp sử dụng độ lệch
chuẩn là dải băng Bollinger (Bollinger Bands) của tác giả John Bollinger.

Xem trước

   •   Phân tích kỹ thuật (11): Độ lệch chuẩn
   •   Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế.
   •   Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

1. Tính toán


                                                                                                         90
Về tính toán và vẽ đồ thị, dải băng Bollinger sử dụng độ lệch chuẩn và được vẽ bởi hai đường đồ thị trên
cùng đồ thị giá của cổ phiếu: một đường goi là băng trên (upper band) và một đường gọi là băng dưới
(lower band):

   •   Băng trên được vẽ bởi giá cổ phiếu cộng với độ lệch chuẩn.
   •   Băng dưới được vẽ bởi giá cổ phiếu trừ đi độ lệch chuẩn.

Về cách tính độ lệch chuẩn, xem bài Phân tích kỹ thuật (11): Độ lệch chuẩn

2. Ý nghĩa

Trong bài viết về độ lệch chuẩn đã chỉ ra xác suất giá cổ phiếu nằm trong dải băng Bollinger là xấp xỉ
70%. Nếu giá cổ phiếu không nằm trong dải băng Bollinger, tức là thuộc về phần xác suất 30% còn lại thì
các tín hiệu này cần phải chú ý.

   •   Khi sức tăng của giá quá mạnh, cầu lớn hơn cung nhiều, giá cổ phiếu sẽ vượt quá băng trên (upper
       band). Nếu giá cổ phiếu liên tục nằm trên dải băng trên thì điều này có nghĩa là sức tăng giá của cổ
       phiếu vẫn rất mạnh và được khẳng định chắc chắn.
   •   Khi sức giảm của giá quá mạnh, cung lớn hơn cầu nhiều, giá cổ phiếu sẽ đi thấp hơn băng dưới
       (lower band). Nếu giá cổ phiếu liên tục nằm dưới dải băng dưới thì điều này có nghĩa là sức giảm
       giá của cổ phiếu vẫn rất mạnh và được khẳng định chắc chắn.

Nếu giá cổ phiếu vượt ra ngoài dải băng bollinger rồi trở lại vào trong dải băng ngay sau đó thì đây là tín
hiệu cảnh báo về sự suy giảm sức mạnh của tăng hoặc giảm giá khi sự tăng hoặc giảm giá đã đạt đến sự
căng thẳng quá mức. Điều này giống như sự bùng phát cuối cùng rồi lịm dần của sự sống vào thời điểm
hấp hối.

3. Cách sử dụng:

Dựa vào giá vượt ra ngoài dải bollinger: khi giá cổ phiếu vượt ra ngoài dải Bollinger và tiếp tục nằm ở
ngoài dải thì xu thê tăng hoặc giảm giá hiện tại sẽ tiếp tục:

   •   Nếu giá nằm quá dải trên (upper band) và kéo dài liên tục thì tín hiệu này khẳng định xu thế tăng
       sẽ tiếp tục tăng mạnh.
   •   Nếu giá nằm dưới dải dưới (lower band) và kéo dài liên tục thì tín hiệu này khẳng định xu thế giảm
       sẽ tiếp tục giảm mạnh.

Dựa vào giá vượt ra ngoài dải bollinger rồi quay trở lại nằm trong dải:

   •   Nếu giá cổ phiếu vượt quá dải trên (upper band) rồi sau đó thiết lập một đỉnh giá khác nằm trong
       dài bollinger thì tín hiệu này cảnh báo sự chấm dứt xu thế tăng giá hiện tại và chuyển sang xu thế
       giảm hoặc dập dềnh. Tín hiệu này sẽ là cảnh báo đảo chiều sang giảm và được khẳng định chắc
       chắn hơn nếu sau đó giá cổ phiếu rớt xuống dưới đường trung bình động tương ứng của dải băng
       Bollinger Band.
   •   Nếu giá cổ phiếu xuống dưới dải dưới (lower band) rồi sau đó thiết lập một đáy giá khác nằm trong
       dài bollinger thì tín hiệu này cảnh báo sự chấm dứt xu thế giảm giá hiện tại và chuyển sang xu thế
       tăng hoặc dập dềnh. Tín hiệu này sẽ là cảnh báo đảo chiều sang tăng và được khẳng định chắc
       chắn hơn nếu sau đó giá cổ phiếu vượt lên trên dưới đường trung bình động tương ứng của dải
       băng Bollinger Band.

                                                                                                          91
Tuy nhiên để có kết luận chính xác hơn về các dấu hiệu đảo chiều này, cần phải có sự kết hợp với các
phương pháp phân tích khác.

Xét ví dụ về công ty Cổ phần Vận Tải Hà Tiên – HTV sử dụng Dải băng bollinger tính trong 20 phiên.




                                      Nhấn để xem kích thước thật


                               Nguồn đồ thị http://www.vietstock.com.vn

   •   Tại các thời điểm xác định bằng các đường kẻ màu đỏ và xanh, giá cổ phiếu đã vượt quá băng trên
       (upper band) hoặc xuống thấp hơn băng dưới (lower band), nếu so sánh lên đồ thị RSI sẽ thấy các
       thời điểm này tương ứng với các ngưỡng siêu mua và siêu bán. Điều này khẳng định sức tăng
       (hoặc giảm giá) hiện tại là rất mạnh. Đặc biệt trong giai đoạn tháng 2, các đỉnh của giá liên tục
       được thiết lập cao hơn băng trên (upper band) khẳng định sức tăng giá rất mạnh và còn tiếp diễn
       dài trong giai đoạn này.
   •   Tại các vùng được khoanh tròn là các tín hiệu giá cổ phiếu vượt ra ngoài dải băng bollinger rồi trở
       lại vào trong dải băng này.
   •   Vòng tròn số 1 và số 4 là khoảng thời gian mà một đỉnh của giá cổ phiếu được thiết lập nằm trên
       băng trên và một đỉnh tiếp theo sau đó được thiết lập nằm trong dải băng bollinger. Tín hiệu này
       cảnh báo về sự đảo chiều của giá cổ phiếu sang giảm và càng được khẳng định chắc chắn hơn khi
       giá cổ phiếu đi xuống dưới đường trung bình động SMA-20.
   •   Vòng tròn số 2 và số 3 là khoảng thời gian mà một đáy của giá cổ phiếu được thiết lập nằm thấp
       hơn băng dưới và một đdáy tiếp theo sau đó được thiết lập nằm trong dải băng bollinger. Tín hiệu
       này cảnh báo về sự đảo chiều của giá cổ phiếu sang tăng. Tuy nhiên vòng tròn số 3 được khẳng
       định chắc chắn và có sức tăng mạnh mẽ hơn vì giá cổ phiếu sau đó đã xuyên phá và vượt lên trên
       đường trunh bình động SMA – 20.

13 - Độ rộng băng Bollinger - Bollinger Band Width – BBW

                                                                                                        92
Tiếp theo bài viết trước về dải băng Bollinger, bài viết này giới thiệu về một phương pháp khác sử
dụng độ lệch chuẩn: Phương pháp này dựa vào độ rộng của dải băng bollinger.

Xem trước

   •   Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan
   •   Phân tích kỹ thuật (11): Độ lệch chuẩn
   •   Phân tích kỹ thuật (12): Dải băng Bollinger - Bollinger Band

1. Tính toán

Phương pháp này lấy giá trị dải trên trừ cho giá trị của dải dưới của dải băng Bollinger – (Bollinger Band)
để lấy khoảng cách giữa hai dải vì vậy phương pháp này được gọi là độ rộng của dải băng Bollinger Band.
Giá trị này bằng hai lần độ lệch chuẩn.

                      BBW = Giá trị dải trên - Giá trị dải dưới = 2 x Độ lệch chuẩn

2. Ý nghĩa

Độ lệch chuẩn phản ánh mức độ biến đổi đồng đều của giá. Nếu giá trị của BBW lớn thể hiện giá cả có sự
biến động đột biến. Nếu giá trị của BBW nhỏ thể hiện giá cả có sự biến động đồng đều và ổn định.

Thông thường trong một thị trường có xu thế tăng giá hoặc thị trường suy thoái với xu thế giảm giá, BBW
sẽ có giá trị lớn, giá trị này càng lớn thể hiện tốc độ tăng hoặc giảm giá càng mạnh. Còn trong một thị
trường biến động dập dềnh không xu thế, giá cả ổn định, BBW sẽ có giá trị nhỏ, giá trị này càng nhỏ thể
hiện mức độ biến động giá càng nhỏ.

Trong thị trường tăng trưởng, khi BBW đạt đến mức cực đại tạo thành 1 đỉnh, giá cả trên thị trường sẽ có
chiều hướng đi vào ổn định trong ngắn hạn, những ngày này được gọi là những ngày phân phối, một chu
kỳ tăng trưởng sẽ có một số ngày phân phối – thông thường từ 3 đến 5 ngày phân phối. Khi BBW đạt đến
mức rất lớn, thể hiện thị trường đang ở trạng thái phấn khích với giá cả tăng vọt rất nhanh, lúc này khả
năng thị trường đi vào suy thoái rất cao và khi BBW đạt đến cực đại với giá trị rất lớn và bắt đầu đi xuống
chính là lúc báo hiệu về một thị trường suy thoái đang bắt đầu.

Khi thị trường suy thoái và bắt đầu đi vào ổn định trong trung hạn, BBW sẽ có giá trị nhỏ và kéo dài, khi
BBW tăng trở lại sẽ là tín hiệu cảnh báo về khả năng thị trường sẽ có một xu thế mới hình thành – tăng
hoặc giảm giá.

3. Cách sử dụng

BBW chỉ được sử dụng như một công cụ thẩm tra lại tính chính xác về sự tăng trường và suy thoái của thị
trường, không nên dùng BBW như một công cụ độc lập để dự đoán. Sử dụng BBW cần chú ý đến đỉnh có
giá trị lớn và đáy có giá trị nhỏ của BBW.

Khi BBW đạt đến đỉnh với giá trị lớn và bắt đầu đi vào suy giảm, tín hiệu này là dấu hiệu cho thấy xu thế
hiện tại đã kết thúc. Khi BBW đạt đến đáy với giá trị nhỏ và bắt đầu tăng trở lại, tín hiệu này là dấu hiệu
cho thấy xu thế dập dềnh kết thúc và khả năng thị trường sẽ hình thành xu thế tăng hoặc giảm giá.

Xét ví dụ về giá cổ phiếu của công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết (BBT)
                                                                                                         93
                                        Nhấn để xem kích thước thật

                                Nguồn đồ thị http://www.vietstock.com.vn

Tại những thời điểm được kẻ bằng đường thẳng màu đỏ, BBW đã đạt đến đỉnh với giá trị lớn, đây cũng là
lúc kết thúc xu thế tăng giá của BBT. Tại thời điểm được kẻ bằng đường thẳng màu xanh, BBW đã đạt
đến đáy với giá trị nhỏ và bắt đầu tăng trở lại, đây là lúc xu thế dập dềnh kết thúc, thị trường bắt đầu tăng
trưởng trở lại.

14 - Thống kê - Ngày tích lũy.phân phối
Một số nhà phân tích sử dụng thống kê để xác nhận và dự đoán xu thế. Biện pháp họ sử dụng là tổng
hợp số liệu trong quá khứ để nhận biết ra các hình mẫu đặc trưng đại diện cho các tình huống trên thị
trường, thậm chí ngày nay một số nhà phân tích đầu tư sử dụng những hệ thống máy tính tốc độ cao để
tăng cường khả năng tổng hợp thống kê số liệu với mong muốn rút ra quy luât của thị trường.

Xem trước

   •   Phân tích kỹ thuật (7): Vấn đề khối lượng.
   •   Phân tích kỹ thuật (8): Chỉ số cân bằng khối lượng - On Balance Volume - OBV

1. Thống kê

Một số nhà phân tích sử dụng thống kê để xác nhận và dự đoán xu thế. Biện pháp họ sử dụng là tổng hợp
số liệu trong quá khứ để nhận biết ra các hình mẫu đặc trưng đại diện cho các tình huống trên thị trường,
thậm chí ngày nay một số nhà phân tích đầu tư sử dụng những hệ thống máy tính tốc độ cao để tăng cường
khả năng tổng hợp thống kê số liệu với mong muốn rút ra quy luât của thị trường. Quay ngược lại, khi
nhìn ra các hình mẫu đặc trưng này, họ suy đoán với giả định rằng lịch sử có thể tái lập lại với một xác
suất nào đó. Việc này xem chừng có sự nhầm lẫn giữa nguyên nhân và kết quả: sử dụng kết quả là các
                                                                                                           94
hình mẫu để khẳng định nguyên nhân là sự vận động của thị trường. Tuy nhiên thống kê là một phương
pháp nghiên cứu khoa học lâu đời và có tính bền vững của nó. Tâm lý hành vi của nhà đầu tư tác động đến
thị trường cũng là một lĩnh vực khoa học cần được nghiên cứu, bản chất của việc dùng thống kê để phân
tích chính là nghiên cứu ứng xử của nhà đầu tư theo phương pháp thống kê. Vì vậy khi nhận ra một hình
mẫu dựa vào thống kê, để khẳng định rằng hình mẫu này không chỉ là hình ảnh của lịch sử mà còn là kim
chỉ nam trong tương lai của các nhà đầu tư, cần phải xác định nguyên nhân tâm lý của các nhà đầu tư trên
thị trường gắn liền với hình mẫu đó.

Bài viết này sẽ đề cập đến một số phương pháp được phát hiện ra nhờ các chuyên gia thống kê thường
xuyên quan sát thị trường và phát hiện ra quy luận biến động của thị trường.

2. Ngày tích lũy và ngày phân phối

Giá tăng, giá giảm là chuyện bình thường trên thị trường chứng khoán. Vấn đề là bản chất các ngày tăng
và ngày giảm là gì. Ai cũng biết giá cả trên thị trường được xác định bằng cung và cầu của các nhà đầu tư.
Điều gì ẩn giấu sau cung và cầu. Qua thống kê người ta chỉ ra rằng trong một thị trường tăng (hoặc giảm)
sẽ có các ngày tích lũy và ngày phân phối được thể hiện qua giá cả và khối lượng.

Khi xu thế của thị trường là tăng giá: trong các ngày tích lũy giá sẽ tăng mạnh hoặc khối lượng giao dịch
sẽ nhỏ hoặc là cả hai; trong các ngày tích phân phối sẽ tăng yếu thậm chí đứng giá hoặc giảm giá hoặc
khối lượng giao dịch lớn (có thể xảy ra trước) hoặc là cả hai.

Khi xu thế của thị trường là giảm giá: trong các ngày tích lũy giá sẽ giảm mạnh hoặc khối lượng giao dịch
sẽ nhỏ hoặc là cả hai; trong các ngày phân phối giá sẽ giảm yếu thậm chí đứng giá hoặc tăng giá hoặc khối
lượng giao dịch lớn (có thể xảy ra trước) hoặc là cả hai.

Đó là quy luật thống kê mà các nhà đầu tư đã chỉ ra khi nghiên cứu các số liệu của thị trường. Quy luật
này cần được giải thích bằng hành vi tâm lý của các nhà đầu tư để có được tính chính xác cao.

Khi thị trường đi lên, đối với các nhà đầu tư lẻ, họ tìm cách “tích lũy”: người có cổ phiếu thì tìm cách giữ
chặt không bán ra để chờ giá lên cao hơn, người không có thì tìm cách mua vào gây nên tình trạng khan
hiếm hàng trong khi nhu cầu lớn; kết quả là giá cổ phiếu tăng mạnh trong các ngày tích lũy nhưng khối
lượng giao dịch nhỏ. Trong quá trình tích lũy đó, một số nhà đầu tư cảm thấy được giá và không muốn
tiếp tục mạo hiểm thêm sẽ bán cổ phiếu ra thị trường: hành động bán ra gặp đà mua vào khi giá tăng của
các nhà đầu tư khác nên khối lượng giao dịch thành công sẽ tăng vọt, đi kèm đó là sự tăng giá sẽ yếu hơn,
thậm chí là đứng giá hoặc giảm giá do có sự pha loãng cầu bằng lượng cung được bán ra; những ngày này
được gọi là ngày “phân phối”. Tương tự khi thị trường đi xuống, các nhà đầu tư nhỏ có xu thế bán tống
bán tháo cổ phiếu và hạn chế mua vào trong các ngày tích lũy khiến hàng hóa trở nên thừa thãi vượt quá
lượng cầu nhỏ đẩy giá giảm mạnh. Khi tích lũy xảy ra vài ngày, một số nhà đầu tư cảm thấy giá cả đã đạt
đến mức hấp dẫn để mua vào họ sẽ tìm cách thu gom khiến giá giảm chậm lại thậm chí đứng giá hoặc tăng
giá đi cùng với khối lượng giao dịch lớn.

Tuy nhiên con cá mập của thị trường lại là các quỹ đầu tư chứ không phải là các nhà đầu tư lẻ, những quỹ
đầu tư này cũng tham gia vào sự hình thành của các ngày tích lũy và phân phối nhưng cách tiếp cận của
họ khác với các nhà đầu tư lẻ. Hãy hình dung thế này nếu một quỹ đầu tư muốn thâu tóm 10 triệu cổ phiếu
A nào đó, giả sử khối lượng giao dịch trung bình của cổ phiếu A là 1 triệu cổ phiếu/ngày, họ sẽ phải mất
10 ngày để mua vào. Nếu ngày nào họ cũng mua vào 1 triệu cổ phiếu sẽ tạo ra hiện tượng khan hiếm đẩy
giá cổ phiếu tăng vọt và họ sẽ mất một khoản tiền lớn. Vì vậy xen kẽ các ngày thu gom mang tính chất
tích lũy, họ sẽ bán ra tại một số ngày, “phân phối” lại cổ phiếu để điều chỉnh làm chững lại sự tăng giá,

                                                                                                          95
qua đó thâu tóm 10 triệu cổ phiếu với khoản tiền phải bỏ ra thấp hơn so với việc mua vào liên tục. Tương
tự nếu muốn bán cổ phiếu, các quỹ đầu tư cũng thực hiện bán dần và xen kẽ các ngày phân phối bên cạnh
các ngày tích lũy khiến cho tốc độ giảm giá chậm lại nhờ đó họ sẽ bán được giá hơn.

Như vậy thị trường đang trong xu thế tăng hoặc giảm giá bao gồm các ngày tích lũy được xen kẽ bởi các
ngày phân phối điều chỉnh. Thông thường sau 3 đến 5 ngày phân phối, xu thế tăng hoặc giảm sẽ kết thúc.
Nguyên nhân là tính chất mạo hiểm ngày càng tăng khi giá đã tăng cao, các ngày phân phối xen kẽ gây ra
trạng thái căng thẳng cho các nhà đầu tư lẻ và loại bỏ dần các nhà đầu tư yếu bóng vía; đối với các quỹ
đầu tư khoảng thời gian sau 3 đến 5 ngày phân phối cũng là lúc họ hoàn thành kế hoạch thu gom hoặc bán
tháo. Các phép thống kê cũng chỉ ra thông thường sau khoảng 3 đến 5 phân phối là chấm dứt xu thế tăng
hoặc giảm.

Hai hình dưới là các đợt có ngày phân phối trong 1 chu kỳ tăng giá của công ty cổ phần Bê Tông Châu
Thới (BT6) và công ty Cổ phần Hóa An (DHA). Những ngày này có giá giảm, chững lại hoặc có khối
lượng giao dịch tăng đột biết (có thê xảy ra trước khi giá cả đang ở mức đỉnh).




                                      Nhấn để xem kích thước thật

                               Nguồn đồ thị http://www.vietstock.com.vn




                                                                                                      96
                                     Nhấn để xem kích thước thật

                              Nguồn đồ thị http://www.vietstock.com.vn

Xét ví dụ về giá cổ phiếu của công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết (BBT) đã nêu trong bài Độ rộng dải băng
Bollinger - Bollinger Band Width




                                     Nhấn để xem kích thước thật


                              Nguồn đồ thị http://www.vietstock.com.vn

Để ý rằng trong đợt tích lũy tăng giá của BBT có xen lẫn các ngày phân phối lân cận các ngày mà BBW
lập một đỉnh và đáy tương ứng.


                                                                                                      97
15 - Thống kê - Sóng Elliot
Những người yêu thích phân tích kỹ thuật không lạ gì với lý thuyết sóng Elliot – lấy theo tên tác giả là
Ông Ralph Nelson Elliott (1871-1948). Bản chất lý thuyết này được Elliot phát hiện dựa vào thống kê
tổng hợp các số liệu trong quá khứ: lý thuyết này khẳng định rằng một chu kỳ tăng giá tuân theo 5 sóng
chủ và 3 sóng điều chỉnh.

Xem trước

   •    Phân tích kỹ thuật (14): Thống kê, tích lũy và phân phối.

1. Giới thiệu

Những người yêu thích phân tích kỹ thuật không lạ gì với lý thuyết sóng Elliot – lấy theo tên tác giả là
Ông Ralph Nelson Elliott (1871-1948). Bản chất lý thuyết này được Elliot phát hiện dựa vào thống kê
tổng hợp các số liệu trong quá khứ: lý thuyết này khẳng định rằng một chu kỳ tăng giá tuân theo 5 sóng
chủ và 3 sóng điều chỉnh.




                                       Nhấn để xem kích thước thật

       Nguồn ảnh Lâm Minh Chánh, MBA - http://www.tinnhanhchungkhoan.vn/tintuc.php?nid=1161

   •    Sóng chủ 1. Tích lũy xuất phát từ thị trường suy thoái và còn yếu, rất khó nhận ra sóng số 1 này.
        Do vừa mới thoát ra thị trường suy thoái nên đầu tư và lúc này mang tính chất mạo hiểm, không
        hấp dẫn với các nhà đầu tư do không có nhiều kỳ vọng vào sự hồi phục của thị trường.


                                                                                                            98
   •   Sóng chủ 2. Phân phối điều chỉnh lại sóng 1, nhiều nhà đầu tư thực hiện “bán lúa non” do tâm lý
       hoảng sợ dưới ảnh hưởng của đợt suy thoái trước. Tuy nhiên sóng 2 này thực sự là cuộc kiểm tra
       về sự hồi phục của thị trường nếu điểm thấp nhất của sóng 2 cao hơn điểm xuất phát của sóng 1,
       điều này khẳng định tính chắc chắn của sự phục hồi, các nhà đầu tư đã hưng phấn hơn và các quỹ
       đầu tư đang thực sự mua vào.
   •   Sóng chủ 3. Vượt qua đợt điều chỉnh tại sóng 2, tâm lý nhà đầu tư phấn khích và tin tưởng thị
       trường hơn. Điểm cao nhất của sóng 2 thường cao hơn điểm cao nhất của sóng 1 theo tỷ lệ 1,618/1.
   •   Sóng chủ 4. Điều chỉnh và phân phối lại sóng 3 do nhà đầu tư vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của
       thị trường suy thoái, thực hiện bán ra để thu lời khi cảm nhận thấy có lãi. Sóng 4 điều chỉnh ở mức
       0.382 – 0.618 của sóng 3.
   •   Sóng chủ 5. Các nhà đầu tư thực sự phấn khích thoát hẳn ảnh hưởng của đợt suy thoái. Tuy nhiên
       đợt sóng đang đến lúc cao trào, việc tham gia vào thị trường lúc này thực sự nguy hiểm.
   •   Sóng điều chỉnh A. Thị trường đã bắt đầu điều chỉnh đi vào suy thoái. Mặc dù giá xuống nhưng
       các nhà đầu tư vẫn tin tưởng và rất phấn khích với thị trường, các quỹ đầu tư bắt đầu ngừng thu
       gom khi đã mua đủ số lượng theo kế hoạch.
   •   Sóng điều chỉnh B: Sóng B là sự kiểm tra lại tín hiệu về khả năng suy thoái. Giá tăng trở lại nhưng
       đỉnh không vượt qua đỉnh của sóng 5, tuy nhiên khối lượng giao dịch thấp và giá có thể đi ngang.
       Các quỹ đầu tư đã ngừng hẳn thu gom, các nhà đầu tư vẫn tin tưởng thị trường nhưng đã có sự
       hoảng loạn xuất hiện. Các tín hiệu này khẳng định thị trường đã vượt qua trạng thái đỉnh điểm và
       sẵn sàng đi vào suy thoái bất kể lúc nào.
   •   Sóng điều chỉnh C: Con gấu đã thực sự trưởng thành lấn át bò tót, thị trường bắt đầu đi vào suy
       thoái. Điểm thấp nhất của sóng C thấp hơn điểm thấp nhất của sóng A ít nhất 1.618 lần.

2. Ý nghĩa

Nếu đối chiếu với nguyên tắc ngày phân phối sẽ nhận ra các điểm tương đồng. trong đó các sóng số 2, 4,
A, C tương ứng với các ngày phân phối phù hợp với tâm lý hành vi của các nhà đầu tư. Tuy nhiên cần chú
ý rằng ngày phân phối không chỉ là các ngày giảm giá: đó có thể là các ngày có khối lượng giao dịch đột
biến, hoặc vẫn tăng giá nhưng giá tăng chậm lại.

Hơn nữa cần phải tránh máy móc và suy rộng hơn khi áp dụng sóng Elliot cũng như ngày phân phối. Hai
lý thuyết này không khẳng định tất yếu đến đợt sóng thứ 5 hay sau ba ngày phân phối thì giá sẽ đi theo
chiều hướng giảm mà cần phải hiểu là: khi đến đợt sóng thứ 5 hoặc sau 3 đợt phân phối thì xác suất giá
giảm sẽ cao hơn (đến 70%) và sẽ là thiếu khôn ngoan nếu tăng cường mua chứng khoán vào thời điểm này
thay vì lên kế hoạch sẵn sàng bán ra. Thực tế ngày nay đã có nhiều đợt sóng elliot kéo dài hơn 5 đợt sóng
hoặc hơn 3 ngày phân phối.

3. Cách sử dụng

Hãy quan sát về sóng Elliot trên đồ thị VN-Index trong đợt sốt chứng khoán từ tháng 11/2006 cho đến
tháng 04/2007. Sóng đỉnh cao nhất là sóng 5 diễn ra vào cuối tháng 02 đầu tháng 03/2007, do đợt sốt quá
nóng nên bản thân sóng 5 không tạo thành đỉnh nhọn theo đúng lý thuyết nội dung của sóng này tạo thành
một đợt sóng Elliot nhỏ do niềm tin vào thị trường của các nhà đầu tư vẫn còn rất lớn.




                                                                                                       99
                                       Nhấn để xem kích thước thật

                               Nguồn đồ thị http://www.vietstock.com.vn

Xét ví dụ về công ty Công ty cổ phần Bê tông 620 Châu Thới – BT6




                                       Nhấn để xem kích thước thật

                                Nguồn đồ thị http://www.vietstock.com.vn

Đồ thị BT6 cho thấy có 2 đợt sóng dạng Elliot từ tháng 01/2007 đến đầu tháng 03/2007 và giữa tháng
04/2007 đến giữa tháng 06/2007. Qua đồ thị của BT6 chúng ta dễ nhận thấy sóng chủ có thể nhiều hơn
hoặc ít hơn 5 sóng so với lý thuyết. Vấn đề ở đây là phần lớn số sóng chủ là từ 5 sóng trở lên và khi số
sóng chủ đã đạt đến 5 sóng thì khả năng thị trường xoay chiều là rất lớn, trạng thái nhà đầu tư đang phấn
khích và rất dễ xì hơi, lúc này cần hạn chế mua vào và có một kế hoạch để bán cổ phiếu.

Nếu để ý đến đồ thị MACD sẽ thấy khi đường MACD vượt lên trên đường trung bình động EXP của
chính nó là tín hiệu mua vào rất sát với sóng chủ 3 và khi đường MACD cắt và đi xuống dưới đường trung
bình động EXP của chính nó là tín hiệu bán ra rất sát với sóng điều chỉnh B.


                                                                                                       100
Xét lại ví dụ về công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết - BBT với phương pháp độ rộng dải băng Bollinger -
Bollinger Band Width - BBW




                                      Nhấn để xem kích thước thật


                               Nguồn độ thì http://www.vietstock.com.vn

Để ý rằng khi sóng Elliot đến cao trào và xuất hiện các sóng điều chỉnh A, B, C cũng là lúc BBW đạt đỉnh
với giá trị rất lớn (thời điểm có các đường kẻ màu đỏ). Trong đợt tăng giá theo sóng Elliot, BBW lập các
đỉnh và đáy tại lân cận các sóng 2 và 4.




                                      Nhấn để xem kích thước thật


                                                                                                    101
Giá của cổ phiếu dao động trong ngưỡng 36 – 40 với khối lượng giao dịch nhỏ giọt kéo dài từ tháng 7 đến
hết tháng 8. Đặc biệt giai đoạn nửa cuối tháng 8, giá cổ phếu gần như đi ngang và giao dịch rất yếu. Sang
đầu tháng 9, ngưỡng 40 bị xuyên phá với khối lượng giao dịch tăng vọt rồi đi xuống nhẹ với khối lượng
giao dịch yếu báo hiệu một chu kỳ tăng giá mới sắp bắt đầu.

   16 - Acc / Swing Index
   Giới thiệu:

   Chỉ báo này là một trong những chỉ báo phổ biến nhất được ngài Welles Wilder chế ra. Nó là chỉ số cho biết có
   phân kỳ (divergence) hay củng cố tiếp tục xu hướng giá hay không? Nhưng chúng ta cũng có thể sử dụng để
   nhận biết những tín hiệu mua và bán. Đây là chỉ báo được thiết kế để sử dụng cho futures nhưng chúng ta có thể
   sử dụng chúng để kinh doanh chứng khóan hay tỉ giá hối đoái (stock or currency) mà vẫn cho những tín hiệu
   mua bán cực kỳ chính xác. Cái nền tảng của chỉ số này là sự tổng hợp của cái chỉ số Swing Index (đã giới thiệu
   rồi).




                      a)
   b)
        Trong hình vẽ trên Acc/Swing Index (ASI) có xu hướng đi xuống và bất ngờ đảo chiều đi lên, điều này xác
        nhận đường giá cũng đảo chiểu theo làm cho xu hướng xuống giá không còn nữa.

        Cách sử dụng:

        Tín hiệu mua: khi đường ASI bị gãy (break) và nằm trên đường xu hướng giảm giá hoặc nằm trên đường
        kháng cự.
        Tín hiệu bán: khi đường ASI bị gãy và nằm phía dưới đường xu hướng tăng giá hoặc nằm phí dưới đường
        hỗ trợ.

      Tóm lại ASI là một chỉ báo dùng tốt nhất để xác nhận một cái mẫu mô hình đồ thị (patterns).
   c) Chỉ báo ngắn hạn Swing Index

        Giới thiệu:

        Chỉ báo Swing Index là một kỹ thuật dùng chỉ báo để tiên đóan xu hướng giá sẽ vận động trong tương lai
        với một chu kỳ rất ngắn (thường là 3 phiên). Nó cho biết những tín hiệu mua bán đầu cơ ngắn hạn khá

                                                                                                             102
   chính xác

   Cách sử dụng:

   - Khi đường chỉ báo Swing Index cắt đường zero và hướng đi lên phía trên thì đường giá sẽ có xu hướng
   tăng giá và sẽ tiếp tục tăng trong ngắn hạn. Đây là tín hiệu mua
   - Khi đường chỉ báo Swing Index cắt đường zero và hướng đi xuống phía dưới, thì đường giá sẽ có xu
   hướng giảm giá và sẽ tiếp tục giảm trong ngắn hạn. Đây là tín hiệu bán

   Chì báo này là một trong những chỉ báo mà các nhà đầu tư rất ngắn hạn (intraday) thường hay sử dụng, và
   nó được phát huy sức mạnh nếu dùng kèm với chỉ báo Acc/Swing Index (sẽ giới thiệu tiếp theo)

   Sau đây là hình ảnh minh họa chỉ báo này:




d) Mức Hỗ trợ và mức Kháng cự (Support and Resistance Level)

   Giới thiệu:

   Đây là cấp độ giá mà các nhà đầu tư chấp nhận ở mức sàn và trần của sự chuyển động giá thị trường. Mức
   sàn này thông thường được cho là đường hỗ trợ và mức trần là kháng cự. Mức hỗ trợ thì luôn nằm dưới giá
   hiện hành còn mức kháng cự thì nằm trên.

   Mức hỗ trợ xảy ra khi thị trường đang giảm và mức kháng cự xảy ra khi thị trường đang tăng. Đôi khi thị
   trường sẽ kiểm tra lại các mức này, xem chúng có vững chắc hay không và khi những mức này vẫn còn tồn
   tại thì ta có thể nói đây là những mức kháng cự hay hỗ trợ.

   Mức kháng cự nó giống như là khỏang trống của đường giá, ở tại vị trí đó thị trường không thể vượt qua
   mức này, nó là chướng ngại vật lớn của đường giá, một cái mức mà ở nơi đó người bán đông hơn là người
   mua.

   Cấu tạo:

   Khi sử dụng bar chart hay candlestick, cái cơ bản của đường hỗ trợ là chúng ta tìm ra những mức giá thấp
   nhất của các phiên giao dịch và nối lại với nhau bằng 1 đường thẳng sao cho phần lớn các giá đều nằm phía
   bên trên đường thẳng này. Trong một vài trường hợp đường hỗ trợ được vẽ từ một số điểm cao nhất, bất
                                                                                                        103
       chấp một số điểm nằm ngòai đường hỗ trợ. Lý do mà chúng ta phải tìm kiếm mức hỗ trợ là muốn tận dụng
       tốt thời điểm để mua và giảm bớt rủi ro.

       Kháng cự có nghĩa là quá tầm tay hay còn được hiểu là vùng đỉnh của đường giá. Chúng thường tạo ra các
       đỉnh hoặc số ít là các đỉnh nhỏ. Ở vùng đó mức kháng cự có cường độ là rất lớn nhưng thị trường cũng sẽ
       thường xuyên thử lại mức này để xem chúng có thật sự bền vững hay không?

       Cách sử dụng:

       - Mua ở mức hỗ trợ và bán ở mức kháng cự. Bán khi đường giá xuyên qua mức hỗ trợ và đi xuống
       (breakdown) và mua khi đường giá vượt qua mức kháng cự theo hướng đi lên (breakout). Một đường hỗ trợ
       bị đường giá bẻ gãy khúc nó sẽ trở thành mức kháng cự cho xu hướng tiếp theo. Và ngược lại mức kháng
       cự bị gãy khúc nó sẽ trở thành mức hỗ trợ.

       - Một vài nhà đầu tư sử dụng mức hỗ trợ và kháng cự để xác định xu hướng và họ thường thấy dễ dàng khi
       ra quyết định mua khi đường giá hiện tại nằm trên mức hỗ trợ và bán khi đường giá nằm sát phía dưới mức
       kháng cự. Trong khi đó một số nhà đầu tư khác thì đợi cho mức kháng cự hay hỗ trợ bị gãy khúc thì họ mới
       ra quyết định mua-bán.

       - Cắt lỗ (Stop losses) thường không nằm trong phạm vi này, các nhà đầu tư ngắn hạn (day traders) cũng tìm
       kiếm những điểm dừng (non-trade) dựa trên các mức hỗ trợ và kháng cự này . Đôi khi các mức này đối lập
       với các kỹ thuật chỉ báo và các nhà đầu tư ngắn hạn phải biết cách sử dụng uyển chuyển thì mới thành công
       được. Đối với nhà đầu tư dài hạn (long-term traders) thì họ sử dụng mức hỗ trợ hay kháng cự như là một
       cách kinh doanh kinh điển.




               e)


17-Kênh xu hướng (Trend Channels)
Cấu tạo:

Kênh xu hướng bắt đầu từ đường xu hướng cơ bản và 1 đường song song tạo ra phần bên trong chứa đường giá.
Trong trường hợp kênh xu hướng tăng, thì được vẽ bởi 1 đường xuyên qua các đỉnh và 1 đường song song sao cho
phần bên trong ôm hết đường giá. Trong trường hợp kênh xu hướng giảm được vẽ bởi 1 đường xu hướng nối các
đáy và 1 đường song song sao cho phần bên trong ôm hết đa số đường giá.
                                                                                                            104
Cách sử dụng:

- Kênh xu hướng có thể sử dụng như là mục tiêu của các chỉ báo, nó định hướng được phạm vi mà khả năng
đường giá di chuyển được.
- Trong phần xu hướng thị trường, đôi lúc rất khó tìm đường hỗ trợ hay kháng cự, đặc biệt là thị trường đang tăng
hoặc giảm. Khi thị trường đang tăng hay giảm đường giá chạy bên trong kênh xu hướng ta dễ dàng xác định được
đỉnh hay đáy qua kênh xu hướng.
- Nếu đường giá nằm ngòai kênh xu hướng và tiếp tục hướng đi đó ta có thể mở rộng kênh xu hướng hiện tại để
dự đóan các điểm tiếp theo của giá hướng tới. Khi đường xu hướng bị gãy ta có thể sử dụng chúng như là 1 đường
hỗ trợ hay kháng cự.




Biến tấu:

- Kênh xu hướng sử dụng để giới hạn sự nhấp nhô của giá, nhưng nó không đảm bảo độ chính xác đáng tin cậy. ví
dụ dưới đấy cho thấy thị trường có thể tạo ra nhiều kên xu hướng nhỏ (kênh xu hướng phụ) trong một kênh xu
hướng chính lớn và nó rất thường xảy ra nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Nó không chỉ là đường giá giảm trong
kênh xu hướng giảm mà đôi lúc giá tăng trong kênh xu hướng giảm.




                                                                                                             105
- Đôi lúc các nhà đầu tư không quan tâm giá trị vượt qua kênh xu hướng này, mà đa số là dè dặt khi đường giá
vượt ra khỏi kênh xu hướng. Khi đường giá từ dưới vượt qua kênh xu hướng và nó bẻ gãy kênh xu hướng tạo ra
điểm thóat (breakout) và lúc đó kênh xu hướng sẽ trở thành đường hỗ trợ hay kháng cự.
18 - Andrew's Pitchfork
Giới thiệu:

Andrew's Pitchfork được phát triển dựa trên đường nằm giữa (median line) của đường hỗ trợ (support line), đường
kháng cự (resistance line) và sức kéo đường giá về đường nằm giữa này. Và được mô tả như hình phía dưới.

Andrew's Pitchfork bao gồm:

    •   Tay cầm (handle)
    •   Nhánh xu hướng kháng cự
    •   Đường giữa (median line)
    •   Nhánh xu hướng hỗ trợ

Hình vẽ minh họa:




                                                                                                               106
Các bước để hình thành Andrew's Pitchfork:

- Điều quan trọng nhất phải tìm được cái trục hay là mức thóai lui (nó nằm trên đồ thị và phía dưới góc trái).
- Sau đó là tìm cái trục hay mức thóai lui tiếp theo (nó là đường chấm gạch màu cam nối điểm đầu trục thứ nhất và
trục thứ 2)
- Tìm mức thóai lui (trên đồ thị là đường thẳng màu cam bắt đầu từ bên trái và đi xuống bên phải).

Phần mềm phân tích sẽ tự động vẽ các nhánh kháng cự cũng như là nhánh hỗ trợ và đồng thời cũ vẽ luôn đường
giữa. Lưu ý các nhánh này chỉ là tên gọi để sử dụng cho kỹ thuật Andrew's Pitchfork của ngài Alan Andrews.

Cách sử dụng:

- Nó cũng giống như cách sử dụng của đường hỗ trợ và kháng cự, nghĩa là mua tại đường hỗ trợ và xem xét bán ở
đường kháng cự. Nếu đường giá xuyên qua đường giữa và có hướng như được mô tả như hình vẽ trên thì cho thấy
đường giá có khuynh hướng bị hút về đường giữa.

- Cuối cùng Andrew's Pitchfork có thể sử dụng một cách hiệu quả cho việc kinh doanh nông sản như: lúa mạch, lúa
mì, ngũ cốc... và futures (Đây chỉ là câu nói đùa của tôi)
19 - Average True Range (ATR)
ATR là chỉ báo được định nghĩa bởi ông Wilder, nó là chỉ báo về giao động và tiếp tục xu hướng vĩ đại cho mỗi
phiên giao dịch khác nhau:

    •   Khỏang cách giá cao nhất trong ngày đến giá thấp nhất trong ngày.
    •   Khỏang cách giá đóng cửa ngày hôm qua đến giá cao nhất đến ngày hôm nay.
    •   Khỏang cách giá đóng cửa ngày hôm qua đến giá thấp nhất đến ngày hôm nay.

ATR là 1 thể đơn giản của vùng trung bình giá vượt qua x-phiên (trong đó x là số phiên giao dịch do người sử dụng
xác định).

Cách sử dụng:


                                                                                                                107
ATR có giá trị cao thường xảy ra khi thị trường bán tống các cổ phần 1 cách hỏang lọan, nó mang ý nghĩa là thị
trường sẽ sụt giảm khi đa số những nhà đầu tư đều cho là mức giá này là đạt kỳ vọng và lượng người bán ra khá
cao. Ngược lại ATR có giá trị thấp thường mang ý nghĩa thị trường đang trong lúc ít có vận động (sideways).

ATR có thể sử dụng kết hợp với DMI và có thể sử dụng để nhận biết điểm phá vỡ (breakout) trong 1 kênh xu
hướng. Cũng có thể sử dụng kết hợp với các chỉ báo giao động khác để xác định tín hiệu mua và bán.

Ví dụ minh họa:




Theo ví dụ trên, ta sử dụng kết hợp ATR với DMI cho tín hiệu mua ở đầu tháng 11/2006. và tín hiệu bán khi ATR
đang ở mức cao khi ở giai đọan giữa tháng 3. Hiện tại chúng ta thấy xu hướng chính vẫn là xu hướng xuống giá.

    20 - Đường xu hướng (trendline)
    Đường xu hướng là công cụ cơ bản nhất của phương pháp phân tích bằng đồ thị.

    1. Đường xu hướng tăng (Uptrend):

    a. Cấu tạo:

    -      Sử dụng giá mở cửa, cao nhất, thấp nhất hay đóng cửa để vẽ đường xu hướng. điều quan trọng nhất ở đây
        là khỏang thời gian chúng ta cần xét đến là bao lâu, cái này người ta gọi là khung thời gian (time frame).
        Thông thường ở VN người ta chọn là ngày, tuần, tháng và sau đó là năm.

    -     Nếu đường giá đang chuyển động là tăng theo 1 đường thẳng thì ta nối các điểm thấp nhất và kéo dài ra
        cho đến ngày hoện hành thì ta đưỡc 1 đường xu hướng tăng, với 3 điểm thấp nhất ta có thể xác định được
        đường xu hướng này. Nếu càng nhiều điểm thì đường xu hướng này càng có giá trị chính xác.

    b. Sử dụng:

    -     Đường xu hướng tăng cho biết thị trường sẽ tiếp tục với xu hướng đó cho đến khi xu hướng đó bị gãy
        (broken). Trong xu hướng tăng giá, cái cơ hội mua xảy ra khi đường giá nằm trên đường xu hướng này.
                                                                                                                 108
    Đường xu hướng tăng giá nhằm giúp đỡ nhà đầu tư kiểm tra lại tín hiệu mua của thị trường bằng cách:
    đường giá di chuyển gần sát hay phía dưới đường xu hướng tăng và sau đó nó hồi phục và chuyển động
    theo hướng lên trên đường xu hướng tăng.

-     - Ngược lại nếu đường xu hướng tăng bị gãy thì nó sẽ cho tín hiệu bán khi đường giá cắt qua đường xu
    hướng hướng tăng và có hướng đi xuống.




2. Đường xu hướng giảm (downtrend):

a. Cấu tạo: Nếu đường giá đang chuyển động giảm ta vẽ 1 đường thẳng nối các điểm cao nhất của đường giá
   và kéo dài ra cho đến ngày hiện hành, ta được 1 đường xu hướng giảm. Nối càng nhiều điểm thì đường xu
   hướng này càng chính xác. Đường này có ý nghĩa là: hướng đi tòan bộ của 1 xu hướng. Nó có thể đo được
   xu hướng bị gãy như thế nào.
b. Sử dụng:

-     Đường giá luôn nằm dưới đường xu hướng này, đâu là cơ hội mua tốt nhất của thị trường trong tương lai.

-     “ Tăng theo bậc thang, giảm dần theo độ cao”. Với ý nghĩa như vậy khi thị trường đang đi xuống là vô
    cùng nguy hiểm đối với những nhà đầu tư vì họ sẽ có những cuộc mua bán hết lớn trong giai đọan này. Nó
    giống như công việc đóng đinh vậy: khi đóng 1 cái đinh to thì chúng ta phải đóng thật chậm

-     Nhưng khi thị trường đi xuống , xu hướng này sẽ kết thúc khi có sự giao dịch lớn và ít biến động, thông
    thường thì chúng ta phải chờ cho đến khi đường xu hướng bị gãy trước khi nói rằng xu hướng cũ đã kết
    thúc. Xu hướng xuống bị gãy khi giá nằm phía dưới đường xu hướng và chuyển động vượt qua đường xu
    hướng. nhưng phải cẩn thận với các bẫy của người bán; cái bẫy này là hiện tượng mua nhiều tạo ra tại 1 thời
    điểm và đường giá vượt đường xu hướng trong khỏang thời gian ngắn nhất định, sau đó lại tiếp tục xu
    hướng xuống chứ không phải thật sự là bị bẻ gãy đường xu hướng.




                                                                                                          109
21 - Aroon
Là một chỉ báo được viết bởi Tusher Chande. Aroon tiếng Phạn (Sanskrit) có nghĩa là "Bình minh ló sáng" hay
"hòang hôn sớm mai". Aroon cho phép người sử dụng biết trước sự thay đổi giá của cổ phần trong một phạm vi xu
hướng đang diễn ra. Có nhiều thông tin về chỉ số này trong tạp chí Technical Analysis of Stocks & Commodities
xuất bản tháng 9/1995 do ông Tushar Chande viết.

 Sự thay đổi biết trước này được đo lường bởi số phiên (periods) đã diễn ra trước đó, cụ thể là: x-phiên cao và x-
phiên thấp nhất. Aroon gồm có 2 đường; 1 là để diễn tả x-phiên cao (Aroon Up) và đường kia diễn tả x-phiên thấp
(Aroon Down).

Thực tế nó được vẽ giống như “stochastic” và được tỉ lệ trong phạm vi từ 0 đến 100. Chúng được mặc định giá trị là
14 phiên. Nếu là cổ phần tăng trong 14 phiên liên tục thì Aroon Up =100, khi cổ phần đó giảm 14 phiên liên tục thì
Aroon Down = 100. Nếu cổ phần đó không tăng 14 phiên thì Aroon Up = 0 và không giảm 14 phiên thì Aroon
Down = 0.

Giải thích cho dễ hiểu: một phần nhỏ trong những vấn đề lâu đời của hệ thống mua bán (trading system) là khó xác
định xu hướng đang diễn ra hoặc phạm vi đang mua bán của thị trường có sẵn: Chỉ báo tiếp tục xu hướng cũng
giống như là MACD và Moving Averages, các bẫy của thị trường (whipsaw) hoặc không có xu hướng, bế tắc, các
vùng quá mua (overbought), quá bán (oversold). Chỉ báo Aroon sẽ giúp chúng ta xác định xu hướng tiếp tục hoặc
chỉ dẫn các vùng quá mua, quá bán rất tốt.

Cách sử dụng: có 3 trạng thái cơ bản nhất về chỉ số Aroon: mức độ cao nhất tại 0 đến 100, so sánh sự di chuyển
giữa Aroon Up và Aroon Down, điểm giao cắt giữa Aroon Up và Aroon Down.
                                                                                                                 110
1. Mức độ: Khi Aroon Up ở lằn 100 thì cho biết cường độ là rất mạnh. Nếu Aroon Up liên tục ở vùng giữa 70 và
100 thì đó là một cái xu hướng tăng. Tương tự như thế nếu Aroon Down ở lằn 100 thì cho biết khả năng là yếu nhất,
nếu Aroon Down liên tục ở vùng 70 đến 100 thì đó là 1 xu hướng giảm.

Một xu hướng tăng giá mạnh là Aroon Up phải liên tục nằm trong vùng giữa 70 và 100 trong khi Aroon Down phải
liên tục nằm trong vùng giữa 0 và 30. Tương tự như vậy cho xu hướng giảm giá mạnh.

2. So sánh sự di chuyển: mỗi khi Aroon Up và Aroon Down di chuyển song song (xấp xỉ tại những mức giống
nhau) là củng cố xu hướng cho đến khi mức độ được xác lập hay điểm giao cắt giữa chúng xảy ra.

3. Điểm giao cắt: Khi Aroon Down cắt trên Aroon Up thì cho biết khả năng là yếu nhất, giá sẽ bắt đầu giảm mạnh .
Khi Aroon Up cắt trên Aroon Down thì khả năng là mạnh nhất, giá sẽ bắt đầu tăng.

Ví dụ minh họa: với hình dưới chúng ta thấy những vùng màu xanh lá là những thời kỳ có xu hướng tăng rất mạnh,
còn những vùng màu tím là thời kỳ có xu hướng giảm giá mạnh. Còn hiện tại là xu hướng tăng nhưng yếu (vì Aroon
Down không nằm trong vùng 0-30)




22 - Ichimoku Kinko Hyo
Giới thiệu:

Là một kỹ thuật đồ thị của người Nhật được tạo ra trước thế chiến thứ 2 và được sử dụng để ngắm vẽ chân dung.
Nó có thể định được hướng đi tiếp theo của đường giá và khi đó nó sẽ báo cho chúng ta khi nào nhảy vào hay
thóat ra khỏi thị trường. Đây là chỉ báo độc lập không cần sự giúp đỡ của các kỹ thuật phân tích nào khác.

Cái từ Ichimoku có nghĩa là "cái nhìn thóang qua", Kinko có nghĩa là "trạng thái cân bằng" giữa giá và thời gian còn
Hyo theo tiếng Nhật có nghĩa là "đồ thị". Ichimoku Kinko Hyo có nghĩa là "Cái nhìn thóang qua về sự cân bằng của
đồ thị giữa giá và thời gian". Nó có cái nhìn bao quát về giá và dự đóan hướng đi đến 1 vị trí mới khá vững chắc.

Chỉ số này được sáng chế bởi 1 phóng viên báo của Nhật với bút danh là "Ichimoku Sanjin" nó có nghĩa là
"người đàn ông vượt núi". Đồ thị Ichimoku đã trở thành công cụ khá phổ thông cho các nhà đầu tư Nhật,
không chỉ riêng cho thị trường cổ phiếu mà nó còn được sử dụng cho currency, bond, futures, commodity
và options markets cũng rất tốt. Đây là 1 kỹ thuật được công bố cách đây 30 năm nhưng trong những năm
gần đấy mới thật sự gây được chú ý bởi lợi ích mà nó đem lại.

                                                                                                                111
Cấu tạo:

Đồ thị Ichimoku gồm có 5 đường. Tính tóan chủ yếu cho 4 đường này bao hàm: điểm giữa, cao, thấp và đường
trung bình đơn giản. Bây giờ để đơn giản hóa, đồ thị được hòan tất phải phản ánh được triển vọng của sự biến
động giá.

5 đường được biểu thị trên hình vẽ trên và được tính tóan như sau:

   1.   Tenkan-Sen = Conversion Line = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 9 phiên
   2.   Kijun-Sen = Base Line = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 26 phiên
   3.   Chikou Span = Lagging Span = Giá đóng cửa hôm nay, được vẽ cho 26 phiên sau
   4.   Senkou Span A = Leading Span A = (Tenkan-Sen + Kijun-Sen) / 2, được vẽ cho 26 phiên đầu
   5.   Senkou Span B = Leading Span B = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 52 phiên, được
        vẽ cho 26 phiên đầu.

    Kumo = Cloud = Area between Senkou Span A and B.

Ichimoku sử dụng 3 phiên chủ yếu theo chuẩn: 9, 26 và 52. Khi xưa Ichimoku được tạo ra (vào năm 1930)
lúc đó 1 tuần giao dịch 6 ngày và chuẩn được chọn tương ứng là: 1tuần rưỡi, 1 tháng và 2 tháng. Nhưng
bây giờ 1 tuần hiện chỉ giao dịch có 5 ngày thì chuẩn được chọn thay đổi tương ứng là: 7, 22 và 44 phiên.

Diễn giải:

Như chúng ta đã thấy, theo công thức tính tóan Ichimoku thì nó là 1 thể đơn giản của đường trung bình
(Moving Average). Và cũng giống như đường trung bình, những tín hiệu mua bán được xác định qua kỹ
thuật giao cắt giữa các đường: Tính hiệu tăng giá (bullish) khi Tenkan-Sen cắt Kijun-Sen từ dưới lên.
Ngược lại tính hiệu giảm giá (bearish) khi Tekan-Sen cắt Kijun-Sen từ trên xuống.

                                                                                                               112
Ngòai ra, có những vùng biểu hiện cường độ khác nhau cho tín hiệu mua và bán của đồ thị Ichimoku. Nếu
có 1 tín hiệu tăng giá được xác định bởi kỹ thuật giao cắt (tín hiệu cắt tăng giá) thì tại thời điểm đó đường
giá phải nằm trên đám mây Kumo đây là 1 tín hiệu mua khá chắc chắn (rất mạnh). Trái lại nếu có 1 tín
hiệu cắt giảm giá tại thời điểm đó đường giá nằm dưới đám mây Kumo thì đây là tín hiệu bán rất mạnh.
Thứ 2 là 1 tín hiệu mua bán bình thường xày ra nếu đường giá nằm lân cận với đám mây Kumo và khi
đường giá nằm trong đám mây Kumo này. Thứ 3 là 1 tín hiệu yếu xuất hiện nếu có 1 tín hiệu cắt tăng giá
xuất hiện trong khi đó đường giá nằm phía dưới đám mây Kumo . Một cách khác 1 tín hiệu yếu xảy ra nếu
có 1 tín hiệu cắt giảm giá xuất hiện trong khi đó đường giá nằm trên Kumo.

Một chú ý đáng quan tâm là kỹ thuật đồ thị Ichimoku chỉ ra sự gắn bó giữa mức hỗ trợ (support) và mức
kháng cự (resistance). Đây là những mức có thể dự báo trước xu hướng nhờ công cụ Kumo. Kumo có thể
sử dụng để nhận diện xu hướng phổ biến của thị trường. Nếu đường giá nằm trên Kumo và xu hướng phổ
biến sẽ nói rằng thị trường sẽ tăng. Và nếu đường giá nằm dưới Kumo thì xu hướng phổ biến sẽ là giảm.

Phần cốt lõi của kỹ thuật Ichimoku là Chikou Span. Đây là đường được sử dụng để đo cường độ tín hiệu
mua và bán. Nếu Chikou Span nằm dưới đường giá và tín hiệu bán xảy ra thì khi đó cường độ bán của thị
trường là rất lớn. Nếu không nó sẽ là 1 tín hiệu yếu. Ngược lại nếu tín hiệu mua xầy ra và Chikou Span
nằm trên đường giá thì khi đó thị trường sẽ tăng (upside). Nếu không nó sẽ là 1 tín hiệu mua yếu. Đây là 1
chỉ báo tổng hợp để hình thành các tín hiệu khác.

Ứng dụng:

Phần lớn Phân tích kỹ thuật truyền thống dựa vào giá mở cửa, cao nhất, thấp nhất, đóng cửa và đường
trung bình giá. Mặt khác cũng có thể sử dụng sự giao động của đường giá trong khi những số Fibonacci có
1 tỉ lệ cố định. Nhưng cùng cho 1 kết quả chung là mức hỗ trợ và kháng cự luôn được thể hiện như 1 điểm
hoặc 1 đường.
Với đồ thị Ichimoku thì Kumo là mức hỗ trợ hay kháng cự khá vững chắc và nó còn có thể sử dụng để tiên
đóan trước các mức được hình thành trong tương lai. Vì vậy nó rất quan trọng với mức hỗ trợ/kháng cự
thông qua sự xuất hiện của Kumo là những đám mây nhấp nhô.

Sau đây là ví dụ minh họa:




                                                                                                         113
Theo ví dụ trên chúng ta thấy tín hiệu bán xuất hiện 9/4/2007 với 2 mũi tên màu xanh (như trên hình vẽ)
vì đường giá đã xuyên qua mức hỗ trợ Kumo. Sau đó đường giá tiếp tục xu hướng đi xuống và nằm phía
dưới đám mây Kumo. Tín hiệu mua xuất hiện 21/5/2007 với 2 mũi tên màu đỏ (hình vẽ) vì đường giá đã
xuyên qua mức kháng cự Kumo và tiếp tục xu hướng đi lên, và mức hỗ trợ mới được hình thành bởi đám
mây Kumo như trên hình vẽ.

23 - William's %R
William's %R là 1 chỉ báo về xung lượng (momentum) để đo mức quá mua (overbought)/ quá bán (oversold) của 1
cổ phần. William's %R được ông Larry Williams tạo ra. Chỉ số này được coi là 1 chỉ báo được xu hướng tương lai
khá chuẩn.

Chỉ số này được giao động từ 0% cho đến -100% và được chia thành 3 vùng:

- Quá mua (overbought): có giá trị từ 0 cho tới -20 đại diện cho thời kỳ giảm giá (bearish)

- Quá bán (oversold): có giá trị từ -80 cho tới -100 đại diện cho thời kỳ tăng giá (bullish)

- Vùng không cho tín hiệu: có giá trị từ -20 cho đến -80 là vùng để xác nhận 1 tín hiệu (signal), chúng ta có thể đợi
chỉ báo cắt qua đường -50 để xác nhận sức mạnh tiếp theo của 1 xu hướng.

Cách sử dụng:

Nó cũng giống như tất cả các chỉ báo khác về vùng quá bán/quá mua. Nó cho chỉ báo tốt nhất về sự thay đổi giá
của cổ phần trước khi có sự đánh giá của nhà đầu tư. Ví dụ nếu chỉ báo này đang trong vùng quá mua thì nó mách
bảo cho chúng ta giá cổ phần sẽ quay đầu đi xuống trước khi cổ phần này được bán tháo (lưu ý nên dùng kèm với
MACD là 1 chỉ báo rất tốt về sự thay đổi giá của cổ phần). Nếu chỉ báo này nằm trong vùng không cho tín hiệu (-20


                                                                                                                  114
cho đến -80) trong 1 khỏang thời gian đủ dài thì đường giá sẽ tiếp tục đi lên hay đi xuống của xu hướng hiện hành
và được đo mạnh hay yếu nhờ mức -50.

Hiện tượng nhà đầu tư bán nhiều khi chỉ số này nằm trong vùng quá mua (overbought), nếu xảy ra trong khỏang
thời gian dài thì chúng ta nên thóat ra cổ phần này trước khi đường giá có tín hiệu giảm giá trị.

Sau đây là hình minh họa chỉ số này:

Đây là sự kết hợp của chỉ số William's %R và chỉ số MACD cho tín hiệu mua và bán




24 - Parabolic SAR
Đây là chỉ báo rất tốt về xu hướng tiếp theo của thị trường, một câu châm ngôn của những nhà đầu tư nhiều kinh nghiệm là "Xu
hướng là bạn của chúng ta".Welles Wilder cho đây là chỉ báo đảo chiều (reversal) đáng tin cậy về mặt thời gian/giá. Nó bao
gồm một lọat các điểm gọi là các điểm Stop And Reverse (SAR). Nếu phá vỡ những mức bảo vệ này thì thị trường sẽ được coi
là đảo chiều.

Giống như giá bắt đầu 1 xu hướng thì những điểm SAR cũng bắt đầu chuyển động chậm vượt ra ngòai và hình thành 1 xu
hướng đi lên.

Công thức thính tóan: SAR tomorrow = SAR today + AF (EP trade - SAR today)

trong đó:

- AF bắt đầu là 0.02 (giá trị mặt định) và sau khi tăng thêm 0.02 cho mỗi thanh giá và hướng tăng đột biến cho đến khi giá trị nó
là 0.2.

                                                                                                                            115
- EP = điểm tăng giá quá xa. Mỗi khi giá tăng trong 1 xu hướng tăng giá nó sẽ thiết lập ghi nhớ các vị trí hiện hành. Ngược lại
khi thị trường xuống giá thì nó sẽ ghi nhớ những điểm đặt đó.

Đây là chỉ báo giúp cho nhà đầu tư hiểu rõ 1 xu hướng. Nó là 1 chỉ báo dễ sử dụng. Một điều hiển nhiên là đường giá luôn đi
xuyên qua SAR trong mọi hướng. Nhà đầu tư nên dừng lại và suy ngẫm khi SAR bị xuyên qua.

Dưới đây là ví dụ cụ thể, các vị trí được đánh dấu cho thấy đường giá đi xuyên qua các đường SAR (màu đỏ).




25 - Kết hợp chỉ số RSI và ADX ( phần 1 )
                                                    Điều mà chúng ta quan tâm nhất là quá trình xác định khi nào giá
                                                   bắt đầu đi theo xu hướng. Và 1 công cụ có thể hỗ trợ việc đó là chỉ
                                                   số định hướng trung bình ( Average Directional Index ) – ADX




                                                                                                                            116
Hầu hết người giao dịch đều tập trung vào các chỉ số xung lượng (momentum) phổ biến để tìm kiếm tín hiệu vượt
mua / vượt bán ( overbought / oversold ), và các chỉ số giá / xung lượng phân kì ( divergence) xác điểm điểm kết
thúc của xu hướng.

Chúng ta hãy xem xét chỉ số RSI nhanh xác định tín hiệu vượt mua ./ vượt bán như thế nào trên đồ thị USD/JPY :




Thật rõ ràng ! chỉ số xung lượng RSI đã phản ánh chính xác thị trường, và nếu bạn mới bắt đầu về kĩ thuật thì chỉ
số trên chắc sẽ gây ấn tượng mạnh với bạn ! Tuy nhiên, tất cả các công cụ kĩ thuật không đơn giản như vậy. chúng
ta hãy xem 1 ví dụ khác về sự thay đổi giá :




                                                                                                              117
2 tín hiệu RSI đầu tiên ( vượt bán và vượt mua ) rất chính xác.

Tuy nhiên, các tín hiệu sau đó liên tiếp chỉ mức vượt bán nhưng giá vẫn tiếp tục tăng cao.

Điều gì đã xảy ra?

Đơn giản, chỉ số xung lượng cung cấp tín hiệu vượt mua / vượt bán trong 1 thị trường dao động và chưa chắc
chắn. Tuy nhiên, nó sẽ bị mất tác dụng khi thị trường bắt đầu đi theo xu hướng , và đó là những gì diễn ra tại biểu
đồ trên.




                                                                                                                118
                                                                            Trong kì xu hướng, các chỉ số xung
lượng hầu hết đều nằm ở vị thế vượt mua / vượt bán cao và không phản ánh được chính xác diễn biến thị trường.
Tại thời điểm này chúng ta cần bỏ qua tín hiệu xung lượng . Điều mà chúng ta quan tâm nhất là quá trình xác định
khi nào giá bắt đầu đi theo xu hướng. Và 1 công cụ có thể hỗ trợ việc đó là chỉ số định hướng trung bình ( Average
Directional Index ) – ADX

Nhìn vào biểu đồ dưới đây:




Trên biểu đồ có sử dụng công cụ chỉ số ADX (xanh lá cây) với +DI (xanh dương) và –DI (đỏ).

2 đường +DI và –DI biểu hiện xung lượng tích cực và tiêu cực của giá. Khi xu hướng rõ ràng đường +DI sẽ vượt từ
dưới lên khỏi đường –DI , và ngược lại.

ADX là đường chỉ số định hướng trung bình cho cả xu hướng tăng và xu hướng giảm. Có nghĩa là khi giá tăng hay
giảm theo 1 chiều rõ ràng ( theo 1 xu hướng – xu hướng tăng hoặc giảm ) , ADX vượt mức 30 cho biết xu hướng
đang trong giai đoạn phát triển.

Tôi thường dành nhiều chú ý cho đường ADX, và khi nó tăng vượt mức 30, có thể phớt lờ tín hiệu RSI.

Tuy nhiên, ADX là 1 chỉ số chậm và nó chỉ đi theo sau 1 khoảng thời gian khi các chỉ số xung lượng đã báo tín hiệu
vượt mua / vượt bán. Làm cách nào để hiệu quả?

Trước tiên phải xác định nếu chỉ có các đường chỉ số xung lượng vào vùng cảnh báo, điều này chưa đủ để xác
định cơ hội giao dịch. Trong ví dụ trên khi đường RSI nhanh tiến tới vùng vượt mua, chúng ta cần đánh giá biến
động giá không chỉ trên biểu đồ ngày mà còn trên những khung thời gian ngắn hơn.

Trong những tình huống chúng ta sẽ xem xét đến các điểm đỉnh và đáy ( top and bottom) trước khi ADX vượt mức
25-30. Một lý do đáng tin cậy là xu hướng luôn có qui luật – đó là bước sóng.

Hình vẽ trên cho thấy trong 1 xu hướng tăng vẫn có các điểm đỉnh và đáy , nhưng trong 1 “khung”, và khi điểm đáy
bị phá vỡ, đó là dấu hiệu của 1 sự đảo ngược xu hướng.

                                                                                                              119
                                                           Để rõ ràng hơn chúng ta có thể vẽ thêm 1 đường kẻ
                                                           hỗ trợ ( support line) dưới các điểm đáy , và khi nó bị
                                                           phá vỡ, đó có thể là 1 tín hiệu báo xu hướng đã kết
                                                           thúc. Một rủi ro nhỏ là giá có thể quay lại để tái lậ lại
                                                           đường support sau khi đã “xuyên qua” nó, và điều này
                                                           thỉnh thoảng xảy ra trong xu hướng tăng, do đó chúng
                                                           ta cần xem xét khi ADX bắt đầu giảm thì xu hướng có
                                                           thể đã kết thúc, kết hợp với đường RSI nhanh cung
                                                           cấp tín hiệu vượt mua hoặc vượt bán.

                                                           Vì vậy khi thêm ADX vào danh mục chỉ số của bạn,
                                                           bạn có thể đánh giá được xu hướng đang xảy ra hay
                                                           không. Đây là 1 vũ khí hiệu quả hỗ trợ cho các công
                                                           cụ của bạn, cung cấp




                                                                          Kết hợp chỉ số RSI và ADX ( phần
                                                                          2)
                                                                          Chúng ta cần quan tâm đến lợi ích từ
                                                                          việc kết hợp kiến thức về RSI và ADX
                                                                          vào trong một hệ thống đơn giản. Cả
                                                                          ADX và RSI đều là những công cụ hiệu
                                                                          quả và sự kết hợp giữa chúng dường
                                                                          như sẽ đem lại 1 khả năng rất lớn . Tôi
                                                                          thích sử dụng RSI chủ yếu như 1 chỉ số
                                                                          xác định tín hiệu mua mua trong xu
                                                                          hướng lên. Và ADX là chỉ số đo lường
                                                                          sức mạnh của xu hướng đó.

                                                                          Dưới đây là 1 số yếu tố làm cách nào 2
                                                                          chỉ số này có thể phối hợp nhau trong 1
                                                                          hệ thống để xác định thời điểm vào thị
                                                                          trường khi xu hướng mạnh và mua tại
                                                                          điểm đáy. ( tôi tập trung phân tích vào
                                                                          việc kì vọng giá lên nhưng lập luận này
                                                                          vẫn có thể áp dụng tốt cho kì vọng giá
                                                                          xuống )

                                                                           Khi đường ADX đang tăng, đây là chỉ
                                                                           số xác định xu hướng mạnh đang diễn
                                                                           ra. Trong 1 vài trường hợp đợi đến khi
có điểm thích hợp vào thị trường sẽ không hiệu quả bởi vì xu hướng tăng có thể bi vuột mất và điểm vào thị trường
để tối đa lợi nhuận của bạn đôi khi quá chậm. Trong trường hợp này chúng ta phải vào ngay khi có xu hướng
mạnh. Để thực hiện điều này như là 1 nguyên tắc đơn giản, chúng ta có thể dựa vào sức tăng của ADX ( chúng ta
cũng có thể xem 1 số chỉ số khác đang tăng báo hiệu xu hướng tăng đang diễn ra ) , và đặt lệnh MUA, bất kì lúc
nào RSI đang thấp hơn ngưỡng cao 85. Nguyên tắc này giúp chúng ta xác định nhanh chóng điểm vào trong hầu
hết mọi trường hợp và kết quả cho thấy chỉ cần giao dịch khi ADX tăng là 1 ý tưởng rất hay. Đường RSI sẽ giúp
tránh mua ở mức vượt mua ( overbought) khi vượt qua 85, tránh được những tình huống quá mạo hiểm.

Đường RSI, tuy nhiên, có vai trò rất quan trọng khi mà ADX đang theo chiều ngang hoặc hạ xuống. Trong trường
hợp này nguyên tắc là nếu đường ADX không tăng chúng ta phải hoãn lại điểm vào lệnh. Một khi đường ADX
không đưa cho chúng ta 1 tín hiệu tốt về sức mạnh của xu hướng, cần bổ sung thêm những chỉ số khác để xác
định thị trường có tiềm năng tăng như thế nào. Nếu không chúng ta không thể chọn được điểm tốt vào thị trường
khi xu hướng lên. Một vài đường như đường trung bình động MA 20 cũng không hiệu quả khi áp dụng với các chỉ
số này.


                                                                                                                120
Bây giờ, sau khi đặt lệnh vào thị trường với sự kết hợp giữa 2 chỉ số ADX và RSI, chúng ta cũng sẽ kết hợp chúng
để xác định điểm ra. Khi thị trường đang tăng, nhưng xu hướng không còn mạnh . chúng ta sẽ dựa vào đường RSI
xác định điểm đóng lệnh thuận lợi nhất để thu lợi nhuận. Một ví dụ khi bạn đang giao dịch với RSI 9 tăng đến 75 –
80 điểm, đây là tín hiệu cho thấy sự hiệu chỉnh sắp xảy ra. Nếu xu hướng thị trường không còn mạnh chúng ta nên
vui vẻ với khoảng lợi nhuận có được thay vì đợi đến việc đóng lệnh khi có sự hiệu chỉnh. Tuy nhiên nếu ADX vẫn
tiếp tục tăng chúng ta có thể mạo hiểm với hi vọng xu hướng tiếp tục tăng hơn nữa. Khi ADX tăng cúng ta có thể
phớt lờ đường RSI để tiếp tục đạt lợi nhuận. Việc nhẫn nại cho phép chúng ta tích lũy lợi nhuận và tiếp tục quan
sát RSI và thị trường. Đôi khi ADX tăng nhưng không đủ sức để giữ sức mua tiếp tục cao khi RSI đạt mức vượt
mua và có thể 1 số người mua sẽ đặt lệnh đổi chiều. Lúc này chúng ta nên lập tức thoát lệnh. Hoặc chúng ta có thể
phớt lờ RSI cho đến khi đạt mức lợi nhuận mong muốn.

Dưới đây là lập luận của 1 hệ thống mà theo tôi khá hiệu quả. ( nhưng nếu bạn áp dụng bạn phải theo cách thức
của mình). Tât cả những con số tôi đưa ra chưa được kiểm tra hay đánh giá 1 cách khách quan. Một ví dụ là
đường 20 –day MA chỉ là 1 con số mà tôi nghĩ đến trong đầu. Nhưng nó đủ để giúp bạn có những thông tin cần
thiết để bắt đầu và bạn có thể tự xây dựng các nguyên tắc giao dịch trong khung thời gian thích hợp nhất.

Đặt lệnh mua:

   -     Đường MA 20 phải tăng

   -    Nếu đường ADX tăng ( ADX hôm nay cao hơn 0.2 so với hôm qua )           đặt lệnh mua nếu đường RSI nhỏ
       hơn 85

   -     Nếu đường ADX không tăng     đặt lệnh mua nếu đường RSI 14 nhỏ hơn 50. Một số nhà giao dịch thích
       lựa chọn RSI ở mức 60, nhưng 1 số khác lại chọn thấp hơn 40

Ra khỏi thị trường:

   -     Đường ADX không còn tăng , thoát lệnh buy nếu đường RSI 9 lớn hơn 75

   -    Nếu đường ADX đang tăng , và lợi nhuận đã lớn hơn mức mong đợi          bán khi đường RSI 9 lớn hơn
       mức 75

   -     Bạn cần xác lập thêm 1 vài nguyên tắc thoát lệnh để tránh thua lỗ. Bạn có thể sử dụng thời gian qui định
       tối đa thoát lệnh cho mỗi khung thời gian – khi giá bắt đầu xuống thấp hơn đường MA 20 hoặc đường MA
       20 bắt đầu giảm ( xem nguyên tắc vào lệnh thứ 1 )



Chúc bạn may mắn và có được
giao dịch thành công !
                                                                       (CUCXUONGKHOGAM@GMAIL.COM)




                                                                                                              121
“LIST OF BOOK:”
+ Stock books 001
10 Minute Guide To Investing In Stocks.pdf
17 Money Making Candle Formations.pdf
17 Money Making Candlestick Formations.pdf
18 Trading Champions Share Their Keys To Top Trading Profits.pdf
25 Rules Of Trading.pdf
A Comparison Of Dividend Cash Flow And Earnings Approaches To Equity Valuation.pdf
Achelis, Steven - Technical Analysis From A To Z.pdf
Admati And Pfleiderer-A Theory Of Intraday Patterns - Volume And Price Variability.pdf
Advanced International Trade.pdf
Aggarwal And Conroy-Price Discovery In Initial Public Offerings And The Role Of The Lead
Underwriter.pdf
Ahn And Cheung-The Intraday Patterns Of The Spread And Depth In A Market Without Market Makers -
The Stock Exchange Of Hong Kong.pdf
Alan Farley - 3 Swing Trading Examples, With Charts, Instructions, And Definitions To Get You Sta.pdf
Alan Farley - Pattern Cycles - Mastering Short-Term Trading With Technical Analysis (Traders'
Library).pdf
Alan Farley - The Master Swing Trader.pdf

'+ Stock books 002
Al-Suhaibani And Kryzanowski-An Exploratory Analysis Of The Order Book, And Order Flow And
Execution On The Saudi Stock Market.pdf
Algora, Myths Of The Free Market [2003 Isbn0875862233].pdf
An Analysis Of Order Submissions On The Xetra Trading System.pdf
An Empirical Analysis Of Stock And Bond Market Liquidity.pdf
Andrew Willis - The Insiders Guide To Trading The World Stock Markets.pdf
Anshumana And Kalay-Can Splits Create Market Liquidity - Theory And Evidence.pdf
Application Of Multi-Agent Games To The Prediction Of Financial Time-Series.pdf
Ari Kiev - 1998 - Trading To Win - The Psychology Of Mastering The Markets - Isbn 0471248428 -
26.pdf
Aust Vs Int'l Equity Portfolio Journal.pdf
Bangia, Diebold, Schuermann And Stroughair-Modeling Liquidity Risk, With Implications For
Traditional Market Risk Measurement And Management.pdf
Barbara Star - Hidden Divergence.pdf
Barclay And Hendershott-Price Discovery And Trading After Hours.pdf
Basic Financial Strategies.pdf
Ben Branch - The Predictive Power Of Stock Market Indicator.pdf
Ben Gilad - Early Warning Using Competitive Intelligence 2004.chm
Benjamin Van Vliet - 2004 - Modeling Financial Markets Using Visual Basic Net And Databases To
C.pdf

'+ Stock books 003
Barry Rudd - Stock Patterns For Day Trading And Swing Trading.pdf

'+ Stock books 004
Bessembinder And Venkataraman-Does An Electronic Stock Exchange Need An Upstairs Market.pdf
Big Profit Patterns Using Candlestick Signals And Gaps - Stephen W Bigalow.pdf
                                                                                                  122
Bill Williams - Trading Chaos.pdf
Borsellino Lewis 2001 - Trading Es And Nq Futures Course.pdf
Bradley, Donald - Stock Market Prediction.pdf
Breman And Subrahmanyam-Investment Analysis And Price Formation In Securities Markets.pdf
Brett Steenbarger - Psychology Of Trading.pdf
Brooks And Kim-The Individual Investor And The Weekend Effect - A Reexamination With Intraday
Data.pdf
Building Winning Trading Systems With Tradestation - Wiley.pdf
Building Your E-Mini Trading Strategy - Giuciao Atspace Org.pdf

'+ Stock books 005
C C Gaither, A E Cavazos-Gaither - Statistically Speaking - A Dictionary Of Quotations.pdf
C R Geisst - Undue Influence - How The Wall Street Elite Puts The Financial System At Risk.pdf
Chande, Tushar - Technical Analysis - How To Develop And Imp.pdf

'+ Stock books 006
Cbot - A Six-Part Study Guide To Market Profile.pdf
Chan, Chockalingam And Lai-Overnight Information And Intraday Trading Behavior - Evidence From
Nyse Cross.pdf
Chan, Jegadeesh & Lakonishok - Momentum Strategies.pdf
Choosing A Trading System That Actually Works.pdf
Chordia, Roll And Subrahmanyam -Commonality In Liquidity.pdf
Chordia, Roll And Subrahmanyam -Market Liquidity And Trading Activity.pdf
Chordia, Sarkar And Subrahmanyam -An Empirical Analysis Of Stock And Bond Market Liquidity.pdf
Client Expectations.pdf
Combining Bollinger Bands & Rsi.pdf
Common Sense Commodities A Common Sense Approach To Trading Commodities.pdf
Competition Between Exchanges Euronext Versus Xetra.pdf

'+ Stock books 007
Commodity Trading Advisors - Risk, Performance Analysis, And Selection.pdf
Crash Profits Make Money When Stocks Sink And Soar Martin Weiss.pdf
Cynthia Kase - Multi-Dimensional Trading.pdf
Dan%edelsson And Payne-Measuring And Explaining Liquidity On An Electronic Limit Order Book -
Evidence From Reuters D2000-21.pdf
Daniel A Strachman - Essential Stock Picking Strategies.pdf
Danielsson Saltoglu-Anatomy Of A Market Crash - A Market Microstructure Analysis Of The Turkish
Overnight Liquidity Crisis.pdf
David C Stendahl - Money Management Strategies For Serious Traders.pdf
Day Trading Basket Stocks - Underground Trader.pdf
Daytrading University - Advanced Daytrading Two-Day Seminar.pdf

'+ Stock books 008
David Dreman - Contrarian Investment Strategies - The Next Generation.pdf

'+ Stock books 009
Daytrading University Trading Course.pdf

'+ Stock books 010
Day Trading University.pdf
                                                                                                  123
'+ Stock books 011
De Jong, Nijman And Roell-A Comparison Of The Cost Of Trading French Shares On The Paris Bourse
And On Seaq International.pdf
De Matos And Fernandes-Testing The Markov Property With Ultra-High Frequency Financial Data.pdf
Dean Lebaron's Treasury Of Investment Wisdom 30 Great Investing Minds - Wiley.pdf
Death.doc
Demarchi And Foucault-Equity Trading Systems In Europe - A Survey Of Recent Changes.pdf
Dennis D Peterson - Developing A Trading System Combining Rsi & Bollinger Bands.pdf
Deutsche Bank - Asset Valuation Allocation Models 2001.pdf
Deutsche Bank - Asset Valuation Allocation Models 2002.pdf
Deutsche Borse Group - From Trading Floor To Virtual Marketplace.pdf
Divorcing the Dow - Using Revolutionary Market Indicators to Profit From the Stealth Boom Ahead.pdf
Donald Coxe - The New Reality Of Wall Street.pdf
Doug Henwood - Wall Street - How It Works & For Whom.pdf
Doug Henwood - Wall Street - How It Works.pdf

'+ Stock books 012
Dow.pdf
Economics - How The Stock Market Works.pdf
Eday - Trading In Mind.pdf
Elder Alexander - Come Into My Trading Room - A Complete Guide To Trading.pdf
Elder Alexander - Trading For A Living.pdf
Electronic Trading Systems In Europe And Development Potentialities For Russia.pdf
Eleswarapu And Venkataraman-The Impact Of Legal And Political Institutions On Equity Trading Costs
A Cross-Country Analysis.pdf
Eleswarapu, Thompson And Venkataraman-The Impact Of Regulation Fair Disclosure Trading Costs And
Information Asymmetry.pdf
Emotion Free Trading Book.pdf
Encyclopedia Of Chart Patterns, 2nd Edition [2005 Isbn0471668265].pdf

'+ Stock books 013
Encyclopedia Of Trading Strategies.pdf
Engle And Lange-Predicting Vnet - A Model Of The Dynamics Of Market Depth.pdf
Engle-The Econometric Of High-Frequency Data.pdf
Exchange Rules For The Frankfurt Stock Exchange.pdf
Expected And Unexpected Cost Of Trading In The Xetra.pdf
F E James Jr - Monthly Moving Averages An Effective Investment Tool .pdf
Fernando-Commonality In Liquidity-Transmission Of Liquidity Shocks Across Investors And
Securities.pdf
Fishea And Robeb-The Impact Of Illegal Insider Trading In Dealer And Specialist Markets - Evidence
From A Natural Experiment.pdf
For Dummies Investing Online For Dummies 5th Edition.pdf
Foucault And Kadan-Limit Order Book As A Market For Liquidity.pdf
Foucault And Lescourret-Information Sharing, Liquidity And Transaction Costs In Floor-Based Trading
Systems.pdf
Foucault, Kadan And Kandel-Limit Order Book As A Market For Liquidity.pdf
Frino, Mcinish And Toner-The Liquidity Of Automated Exchanges - New Evidence From German Bund
Futures.pdf
Futures Magazine - The Art Of Day-Trading.pdf
                                                                                                   124
Gann - How To Trade.pdf

'+ Stock books 014
Gann, W D - New Stock Trend Detector.pdf
Getting An Investing Game Plan - Creating It Working It Winning It (Wiley - 2003).pdf
Gg38 World Bank, Reshaping The Future (2005) Yyepg Lotb.pdf
Gillet And Lavoie-Krach, Bonnes Nouvelles Et R%c9actions %c0 Bruxelles, Toronto Et New York.pdf
Giot And Grammig-How Large Is Liquidity Risk In An Automated Auction Market.pdf

'+ Stock books 015
Gann, W D - Unpublished Stock Market Forecasting Courses.pdf

'+ Stock books 016
George Angell - Sniper Trading Workbook.pdf
George Fontanills - The Options Course - High Profit Low Stress Trading Methods.pdf
Goodhart And O'hara-High Frequency Data In Financial Markets Issues And Applications.pdf
Griffiths, Turnbullb And White-Re-Examining The Small-Cap Myth Problems In Portfolio Formation
And Liquidation.pdf
Guide To Effective Daytrading-Wizetrade.pdf
Hamao And Hasbrouck-Securities Trading In The Absence Of Dealers - Trades, And Quotes On The
Tokyo Stock Exchange.pdf
Handbook For Investment Committee Members How To Make Prudent Investments For Your
Organization Wiley Finance Series Ebook-Yyepg.pdf
Harris, Sofianos And Shapiro-Program Trading And Intraday Volatility.pdf
Harry D Schultz - Bear Market Investing Strategies.pdf
Hartmann, Manna And Manzanares-The Microstructure Of The Euro Money Market.pdf
Hedges On Hedge Funds How To Successfully Analyze (2005).pdf
Hollifield, Miller, Sandas And Slive-Liquidity Supply And Demand In Limit Order Markets.pdf

'+ Stock books 017
Gerald Appel - Technical Analysis.pdf

'+ Stock books 018
Greg Morris - Candlestick Charting Explained.pdf

'+ Stock books 019
Houweling, Mentink And Vorst-How To Measure Corporate Bond Liquidity.pdf
How I Made 2 Million In The Stock Market.pdf
How i trade living.pdf
How Large Is Liquidity Risk In An Automated.pdf
How The Stock Market Works.pdf
How To Make Money Shorting Stocks In Up And Down Markets.pdf
How to read charts.pdf
Hrishikesh D Vinod - Preparing For The Worst.pdf
Huang And Stoll-The Components Of The Bid-Ask Spread - A General Approach.pdf
Hw Brands - Masters Of Enterprise.pdf


'+ Stock books 020
Individual Investor´s Guide To Investment.pdf
                                                                                                 125
Inside The Guru Mind Warren Buffet [R Heller].pdf
Insurances Strategies.pdf
Inter'l Vs Aust Shares.pdf
Investment Performance And Investor Behavior.pdf
Investment Psychology Explained Classic Strategies To Beat The Markets - Wiley.pdf
Investment science.pdf
Investment Strategies.pdf

'+ Stock books 021
Ito And Hashimoto-High-Frequency Contagion Of Currency Crises In Asia.pdf
J K Lasser - Pick Stocks Like Warren Buffett.pdf
J R Hedges Iv - Hedges On Hedge Funds - How To Successfully Analyze And Select An Investment.pdf
Jack Schwager - Guide To Winning With Automated Trading Systems (Course Manual).pdf
Jack Schwager - Stock Market Wizards.pdf
Jack Schwager - The New Market Wizards.pdf
Jake Bernstein - Dearborn Trade Publishing - No Bull Investing.pdf
Jake Bernstein - How To Trade The New Single Stock Futures.pdf

'+ Stock books 022
Investment Valuation - Damodaran.pdf
Investment Vehicles.pdf
J R Hill G Pruitt And L Hill - The Ultimate Trading Guide.pdf

'+ Stock books 023
Jake Bernstein - Market Masters.pdf
Jake Bernstein - Stock Market Strategies That Work.pdf

'+ Stock books 024
Jake Bernstein - The Compleat Day Trader Vol I.pdf
Jake Bernstein - The Compleat Day Trader Vol Ii.pdf
Jake Bernstein - Trade Your Way To Riches.pdf

'+ Stock books 025
Jan L Arps - Surfing The Market Waves - The Swing Trader's.pdf
Jay Kaeppel - The Four Biggest Mistakes In Futures Trading.pdf
Jeff Cooper - Intra-Day Trading Strategies, Proven Steps.pdf
Jeff Cooper - The 5 Day Momentum Method.pdf
Jens Clever - Master Trader.pdf
Jesse Livermore - Reminiscences Of A Stock Operator.pdf
Joe Ross - How To Spot A Trend.pdf
Joe Ross - Trading Spreads And Seasonals.pdf
John Allen Paulos - Mathematician Plays The Stock Market.pdf

'+ Stock books 026
Joe Ross - Trading Futures By The Book.pdf

'+ Stock books 027
John Bollinger - Bollinger On Bollinger Band.pdf
John Grisham - The Broker.pdf
John Hayden - How To Use The Rsi.pdf
                                                                                              126
John J Murphy - Charting Made Easy.pdf
John J Murphy - Intermarket Technical Analysis - Trading Strategies For The Global Stock, Bond,
Commodity, And Currency Markets.pdf

'+ Stock books 028
Joe Ross - Trading The Ross Hook.pdf

'+ Stock books 029
John J Murphy - Intermarket Technical Analysis - Trading Strategies.pdf
John J Murphy - Technical Analysis Of The Financial Markets.pdf

'+ Stock books 030
John L Person - Swing Trading Using Candlestick Charting With Pivot Point.pdf
John Piper - The Way To Trade.pdf
John Wiley & Sons, Getting Started In Bonds, 2nd Edition [2003 Isbn0471271233].pdf
John Wiley & Sons, The Vital Few Vs The Trivial Many - Invest With The Insiders, Not The Masses,
Revised Edition [2005 Isbn0471681954].pdf
John Wiley Sons - Valuation - Maximizing Corporate Value.pdf
John Wiley Sons Stock Trader Almanac 2005 38th Ed.pdf
Jorda And Marcellino-Modeling High-Frequency Fx Data Dynamics.pdf
Just One Thing Twelve Of The World's Best Investors Reveal The One Strategy You Can't Overlook.pdf
K R Murphy, B Myors - Statistical Power Analysis.pdf

'+ Stock books 031
Ken Wolff - 2002 - Trading On Momentum Advanced Techniques For High Percentage Day Trading -
Isbn.pdf
Kevin Hagerty - Day Trading Course.pdf
L Williams - The Right Stock At The Right Time - Prospering In The Coming Good Years.pdf
Larry Lewin - The Secrets Of Emotion Free Trading.pdf
Larry Swing - Practical Guide To Swingtrading.pdf
Larry Williams - How To Trade Better.pdf
Larry Williams - Long-Term Secrets To Short-Term Trading.pdf
Larry Williams - The Secret Of Selecting Stocks For Immediate And Substantial Gains.pdf

'+ Stock books 032
Latest Developments At The Fwb - Xetra Best Slide 13.pdf
Le Beau, Charles & Lucas, David W - Day Trading Systems & Methods.pdf
Lee, Fok And Liu - Explaining Intraday Pattern Of Trading Volume From The Order Flow Data.pdf
Lee, Mucklow And Ready-Spreads, Depths, And The Impact Of Earnings Information - An Intraday
Analysis.pdf
Leigh Stevens - Essential Technical Analysis.pdf
Leslie N Masonson - All About Market Timing.pdf
Letting Your Profits Run.pdf
Louis B Mendelsohn - Trend Forecasting With Technical Analysis.pdf
M Wolfinger - Create Your Own Hedge Fund - Increase Profits And Reduce Risk With Etfs And
Options.pdf
Madhavan-Market Microstructure-A Survey.pdf
Mann, Venkataraman And Waisburd-Stock Liquidity And The Value Of A Designated Liquidity Provider
Evidence From Paris Euronext.pdf

                                                                                                  127
'+ Stock books 033
Marc Boucher - Short-Term Trading Course.pdf
Marcel Petro - Market Timing.pdf
Mark Crisp - 123 Trading Signal.pdf
Mark Crisp - 7 Habits Of A Higly Sucsessfull Trader.pdf
Mark Douglas - The Disciplined Trader.djvu

'+ Stock books 034
Mark Douglas - The Disciplined Trader.pdf
Mark Douglas - Trading In The Zone.pdf

'+ Stock books 035
Mark R Conway & Behle, Aaron N - Professional Stock Trading.pdf
Market Making And Reversal On The Stock Exchange.pdf
Market neutral strategies.pdf
Markus Heitkoetter - How To Make Money With Trading Systems.pdf
Marshall J Jones - Learn Day Trading.pdf
Martin J Pring - Investment Psychology - Part 1.pdf

'+ Stock books 036
Mcgraw Hill Understanding Stocks.pdf
Mcgraw-Hill - Brealey & Myers - Finance - Investment Valuation, 2nd Edition.pdf
Mcgraw-Hill, Buy The Rumor, Sell The Fact - 85 Maxims Of Wall Street And What They Really Mean
[2004 Isbn0071427953].pdf
Mcgraw-Hill, Investments, 5th Edition - Vol I [2001 Isbn0072503661].pdf
Mcgraw-Hill, Investments, 5th Edition - Vol Ii [2001 Isbn0072503661].pdf
Mcgraw-Hill, The Triumph Of Contrarian Investing - Crowds, Manias, And Beating The Market By
Going Against The Grain [2004 Isbn007143240x].pdf
Mcmillan And Speight-Nonlinear Dynamics In High Frequency Intra-Day Financial Data.pdf
Mechanical Trading Systems.pdf
Micheal Mcdonald - Predict Market Swings With Technical Analysis.pdf
Mike Sincere - Understanding Stocksreduced.pdf
Money Management Risk Control For Traders.pdf
Moriarty Sfsg.pdf
Morris And Song Shin-Liquidity Black Holes.pdf

'+ Stock books 037
Michael Covel - Trend Following.pdf

'+ Stock books 038
Murphy - Tech Analysis Of The Financial Markets.pdf
N Tengler - New Era Value Investing - A Disciplined Approach To Buying Value And Growth Stocks.pdf
Neural Prediction Of Weekly Stock Market Index(1).pdf
New Trading Dimensions - How To Profit From Chaos In Stocks, Bonds, And Commodities - Bill
Williams.pdf

'+ Stock books 039
O'reilly - Online Investing Hacks.chm
Oliver Velez - Swing Trading Tactics.pdf
Online Trading Academy - Electronic Trading Guide For Nasdaq L2(9908).pdf
                                                                                              128
Other Trading Books.htm
Pagano And Schwartz-A Closing Call’s Impact On Market Quality At Euronext Paris.pdf
Parlour And Seppi-Liquidity-Based Competition For Order Flow.pdf
Patterns In Three Centuries Of Stock Market Prices.pdf
Paul Levine - The Midas Method Of Technical Analysis.pdf
Pedro V Marcal - Market Timing And Technical Analysis.chm
Performance Asx Resources.pdf
Persaud-Liquidity Black Holes.pdf
Pis Fsg.pdf
Place Of Insurance.pdf
Plan Process.pdf
Portfolio Risk Reduction.pdf
Pring, Martin J - Technical Analysis For Short-Term Traders.pdf

'+ Stock books 040
Perry Kaufman - Smarter Trading.pdf
Perry Kaufman - Trading Systems & Methods.pdf
Pristine's Cardinal Rules Of Trading.pdf

'+ Stock books 041
P Dorsey, J Mansueto - The Five Rules For Successful Stock Investing.pdf

'+ Stock books 042
Probability And Statistics Textbook.pdf

'+ Stock books 043
Protecting Your Wealth In Good Times And Bad.pdf
R G Hagstrom - The Warren Buffett Way 2nd Edition.pdf
R Imperiale - The Micro Cap Investor - Strategies For Making Big Returns In Small Companies.pdf
R Nowakowski - Games Of No Chance.djvu
Real Options In Practice.pdf
Resource Stocks In Portfolio.pdf
Richard D Wyckoff - The Day Trader's Bible - Or My Secret In Day Trading Of Stocks.pdf
Richard Smitten - Trade Like Jesse Livermore (2005).pdf
Rob Booker - Fairygod Trader.pdf
Robert Fisher - Fibonacci Applications And Strategies For Traders.pdf
Robert J , Elliott P And Ekkehard Kopp, «mathematics Of Financial Markets» (Springer Finance).pdf
Robert M Nideffer - Calming The Mind.pdf

'+ Stock books 044
Robert Slater - Soros Unauthorized Biography.pdf
Rudolf Wittmer - Can Technical Analysis Still Beat Random Systems.pdf
Ryan Jones - Money Management.pdf
S A Mccrary - Hedge Fund Course.pdf
S and C.pdf
Sarin And Saudagaran-Testing For Micro-Structure Effects Of International Dual Listings Using Intraday
Data.pdf
Secrets Of The Millionaire Traders Vol I.pdf
Secrets Of The Millionaire Traders Vol Ii.pdf
Sfo Raschke 0803.pdf
                                                                                                    129
Sheldon Natenberg, «option Volatility & Pricing - Advanced Trading Strategies And Techniques».djvu

'+ Stock books 045
Simple Technical Trading Rules And The Stochastic Properties.pdf
Speculative Investor Behavior In A Stock Market.pdf
Stephen W Bigalow - Big Profit Patterns Using Candlestick.pdf
Steve Mitchell - Shortcuts & Secrets To Winning The Stockmarket Game.pdf
Steve Mitchell - Stock market game.pdf
Stevie Nison - Japanese Candlestick Charting Techniques.pdf
Stochastic Modeling In Economics And Finance.djvu
Strategic Analysis And Trading Tactics.pdf
Street Smarts (Laurence Connors).pdf
Streetsmart Guide To Valuing A Stock.pdf
Technical Stock Analysis - Bollinger Bands And Rsi.pdf

'+ Stock books 046
Stan Weinstein - Secrets For Profiting In Bull And Bear Markets.pdf

'+ Stock books 047
The Best Trendline Methods Of Alan Andrews & 5 New Trendline Techniques.pdf
The Candlestick Course - Steve Nison.pdf
The Day Trader's Course [Rus](By Kin Www Netz Ru) Pdf.pdf
The Equity Options Strategy Guide.pdf
The Five Minute Investor.pdf
The Intelligent Investor - The Definitive Book On Value Investing.pdf

'+ Stock books 048
The Financial Analyst Handbook -Ch 11- Market Timing And Technical Analysis.pdf
The Little Book That Beats The Market.pdf
The Little Book.pdf
The Mathematics Of Financial Modeling And Investment Management.pdf
The Penny Stock Trading Sysyem.pdf
The Pocketbook Of Economic Indicators.pdf
The Stock Market For Dummies.pdf
The Superstock Investor - Profiting From Wall Streets Best Undervalued Companies.pdf

'+ Stock books 049
Thomas And Patnaik-Serial Correlation In High-Frequency Data And The Link With Liquidity.pdf
Tony Oz - How I Make A Living Trading Stocks.pdf
Traders Press - 1996 - The Geometry Of Stock Market Profits - Isbn 0934380279 - 160s - Ocr.pdf
Trading And Investment - Applied Quantitative Methods For.pdf

'+ Stock books 050
Traders - Risks, Decisions And Management In Financial Markets.pdf
Trading As A Business.pdf
Trading By The Book Ross Joe.djvu
Trading Psychology.pdf
Trading Strategies - John Murphy S Ten Laws Of Technical Trading.pdf
Tradingmarkets Com - Trading Strategies - How To Use S&P 500 Futures To Get A Heads Up On Stock
Price Action.pdf
                                                                                             130
Training Intelligent Agents Using Human Internet Data, Sklar, Iat99.pdf
Trend Forecasting With Technical Analysis.pdf
Turtletrader.pdf

'+ Stock books 051
Tyler Bollhorn - Market Perspectives.pdf
Understanding Stocks.pdf
Understanding Technical Stock Analysis.pdf
Understanding Technical Stock Market Indicators.pdf
Using Neural Networks And Genetic Algorithms To Predict Stock Market Returns.pdf
Using Up Gaps To Anticipate Upward Price Moves.pdf
Valuation Of Cash Flows Investment Decisions Capital Bud.pdf
Valuation Of Stocks.pdf
Vejay Gupta - Financial Analysis Using Excel Brealey Myers.pdf
Venkataraman-Automated Versus Floor Trading An Analysis Of Execution Costs On The Paris And New
York Exchanges.pdf
Vince Ralph - Mathematics Of Money Management.pdf
Vladimir Daragan - How To Win The Stock Market Game.pdf
Walter Bressert - Intraday Timing For Low Risk Swing Trading.pdf
WD Gann Course.pdf
When Buy Means Sell - Mcgraw Hill.pdf
Wiley Finance, Fabozzi Series, Short Selling - Strategies, Risks, And Rewards [2004
Isbn0471660205].pdf
Wiley Trading, Study Guide For Come Into My Trading Room - A Complete Guide To Trading [2002
Isbn0471225401].pdf
William J O'neil - How To Make Money In Stocks.pdf

'+ Stock books 052
Williams - Undeclared Stockmarket Secrets.pdf

'+ Stock books 053
Elder Alexander - Entries & Exits Study Guide.pdf
Wyckoff, Richard D - The Day Trader's Bible - Or My Secret In Day Trading Of Stocks.pdf
Xetra - Europe’s Premier Trading Platform.pdf
Xetra Xxl The New Dimension.pdf
Xetra%ae Release 7 1 Market Model.pdf
Xetraxxl Marketmodel.pdf
Yale Hirsch - Stock Traders Almanac 2005.pdf
Yen Yee Chong - 2004 - Investment Risk Management - Isbn 0470849517 - 223s.pdf
Zacks - The Power Of Earnings Reports.pdf

'+ Stock books 054
Elder Alexander - Entries And Exits.pdf

'+ Stock books 055
Day Trading University.zip

'+ Stock books 056
1fta Forex Trading Course.pdf
All About Forex Market In Usa.pdf
                                                                                            131
Amazing Forex System.pdf
Bortucene & Macy - The Day Trade Forex System.pdf
E123system.pdf
Edaytradingmind.pdf
Epocketbook.pdf
Eswingtradingbook.pdf
Etheebookoftechnicalmarketindicators.pdf
Fc Power Trading Course -Forex Capital Markets- (2003).pdf
Forex Manual - 10 Keys To Successful Trading.pdf
Forex Manual In English.pdf
Forex Report - Predicting Price Movement.pdf
Forex Strategy.pdf
Forex Study Book For Successful Foreign Exchange Dealing.pdf
Forex Study Book.pdf
Forex Studybook[Rus](By.Kin Www.Netz.Ru).pdf
Forex Trading - Avoiding Mistakes.pdf
Forex Trading With Candlestick And Pattern(1).pdf
Forex, Foreign Exchange, Currency, Technical Analysis, Elliot Wave Theory, Trading Guide.pdf
Forexintro.pdf
Forexmanual.pdf
Forex_Arbitrage_Calculator.zip
Forex_BrainTrading_system.zip
Forex_BrainTrading_system_No_Up.zip
forex_trading_system.zip
He Global Money Markets.pdf
Introduction To Foreign Exchange.htm
Introduction To Forex Trading.pdf
Mark Mcrae - Sure Fire Forex Trading.pdf
Mcrae, Mark - Sure-Fire Forex Trading.pdf
Myfairygodtrader - Booker - Forex Trading Auctions.pdf
One More Zero. How To Trade The Forex Like A Pro In One Hour.doc
RoyalForex.pdf
Staying Out Of Trouble Trading Currencies With Channels.pdf
Sure Fire Forex Trading (Mark Mcrae).pdf
Sure-Fire Forex Faq.doc
Technical Analysis-Forex Trading With Candlestick And Pattern.pdf
The Forex Market Phenomena.pdf
The Interaction Between The Frequency Of Market Quotes Spread And Volatility In Forex.pdf
The Pocketbook of Economic Indicators.pdf
Trading Ebook - Trading Forex.pdf
Wiley - Currency Strategy A Practitioner's Guide To Currency Trading, Hedging And Forecasting Eb.pdf
Wiley - Currency Strategy A Practitioner's Guide To Currency Trading, Hedging And Forecasting.pdf

'+ Stock books 057
101 Option Trading Secrets - Kenneth.R.Trester.pdf
DeMark,Tom - DeMark on day-trading options.pdf
Fontanills - The Options Course - High Profit And Low Stress Trading Methods, 2nd Ed.pdf
John Wiley & Sons - 2002 - The Option Trader's Guide To Probability, Volatility And Timing (A Mar.pdf
John Wiley & Sons - 2005 - The Options Course High Profit & Low Stress Trading Methods, 2nd
Editi.pdf
                                                                                                  132
Mcgraw-Hill,.Stock options and the new rules.pdf
Options And Options Trading A Simplified Course.pdf
Options Essential Concepts and Trading Strategies, 2nd Edition.pdf
Options Trading Primer By Marketwise Trading School.pdf
Profit With Options Essential Methods For Investing Success - Wiley.pdf
Profit With Options.pdf
The Option Course With Exercise.pdf
The Option Trader Handbook - Strategies And Trade Adjustments.[2004.Isbn0471567078].pdf
The Options Edge Winning The Volatility Game With Options On Futures - Mcgraw Hill.pdf
Using Options To Buy Stocks - Build Wealth With Little Risk And No Capital.pdf

'+ Stock books 058
Wayne A. Thorp - Analyzing Supply & Demand Using Point & Figure Charts.pdf
Wayne A. Thorp - Measuring Internal Strength - Wilders RSI Indicator.pdf
Wayne A. Thorp - Point & Figure Charts Revisited.pdf
Wayne A. Thorp - Screening For Momentum Stocks.pdf
Wayne A. Thorp - Technical Analysis.pdf
Wayne A. Thorp - Testing Trading Success.pdf
Wayne A. Thorp - The MACD A Combo of Indicators for the Best of Both Worlds.pdf
Wayne A. Thorp - When to Buy & Sell Using the Stochastic Oscillator.pdf

'+ Stock books 059
Betting.pdf
Beyond Technical Analysis.doc
CAI discretionary risk matrix.pdf
CitiGroup on TrendFollowing.pdf
Does Trend Following Work.doc
Does Trend Following Work.pdf
Does trendfollowing work on stocks.pdf
Exchange-Traded-Funds.pdf
Fibonacci Analysis.zip
Maximizing Gains With Trade Management.pdf
moral-reasoning.pdf
Optimal MA Crossovers.pdf
Prospect Theory.pdf
Psychology of Trading.zip
risk-reward-margin.pdf
Secrets of Todays Top Traders.pdf
Tom Peters - 100Ways.pdf
Trend Following-15-150EMACrossover.csv
turtles-matter.pdf
Van Tharp - Money Management Report.pdf
Van Tharp - Stop Worrying Yourself out of Profits.pdf
Van-Tharp - The Flow of the Markets.pdf
Van-Tharp - Trading Systems.pdf
Whats In Your Head.pdf


Code: �?Select �?

                                                                                          133
http://rapidshare.com/files/6936842/Stock_books_001.rar
http://rapidshare.com/files/6966046/Stock_books_002.rar
http://rapidshare.com/files/6955654/Stock_books_003.rar
http://rapidshare.com/files/6963971/Stock_books_004.rar
http://rapidshare.com/files/6964484/Stock_books_005.rar
http://rapidshare.com/files/6964773/Stock_books_006.rar
http://rapidshare.com/files/6966457/Stock_books_007.rar
http://rapidshare.com/files/6967264/Stock_books_008.rar
http://rapidshare.com/files/6968205/Stock_books_009.rar
http://rapidshare.com/files/6968606/Stock_books_010.rar
http://rapidshare.com/files/6969311/Stock_books_011.rar
http://rapidshare.com/files/6970843/Stock_books_012.rar
http://rapidshare.com/files/6971496/Stock_books_013.rar
http://rapidshare.com/files/6971865/Stock_books_014.rar
http://rapidshare.com/files/6972859/Stock_books_015.rar
http://rapidshare.com/files/6973162/Stock_books_016.rar
http://rapidshare.com/files/6974010/Stock_books_016.rar
http://rapidshare.com/files/6974485/Stock_books_017.rar
http://rapidshare.com/files/6974961/Stock_books_018.rar
http://rapidshare.com/files/6975305/Stock_books_019.rar
http://rapidshare.com/files/6976083/Stock_books_020.rar
http://rapidshare.com/files/6976522/Stock_books_021.rar
http://rapidshare.com/files/6976896/Stock_books_022.rar
http://rapidshare.com/files/6977411/Stock_books_023.rar
http://rapidshare.com/files/6977828/Stock_books_024.rar
http://rapidshare.com/files/6978298/Stock_books_025.rar
http://rapidshare.com/files/6978951/Stock_books_026.rar
http://rapidshare.com/files/6979693/Stock_books_027.rar
http://rapidshare.com/files/6980705/Stock_books_028.rar
http://rapidshare.com/files/6981165/Stock_books_029.rar
http://rapidshare.com/files/6981503/Stock_books_030.rar
http://rapidshare.com/files/6981810/Stock_books_031.rar
http://rapidshare.com/files/6982414/Stock_books_032.rar
http://rapidshare.com/files/6982765/Stock_books_033.rar
http://rapidshare.com/files/6984044/Stock_books_034.rar
http://rapidshare.com/files/6984587/Stock_books_035.rar
http://rapidshare.com/files/6985328/Stock_books_036.rar
http://rapidshare.com/files/7021344/Stock_books_037.rar
http://rapidshare.com/files/7112278/Stock_books_038.rar
http://rapidshare.com/files/7112570/Stock_books_039.rar
http://rapidshare.com/files/7113070/Stock_books_040.rar
http://rapidshare.com/files/7114084/Stock_books_041.rar
http://rapidshare.com/files/7114530/Stock_books_042.rar
http://rapidshare.com/files/7114888/Stock_books_043.rar
http://rapidshare.com/files/7115492/Stock_books_044.rar
http://rapidshare.com/files/7115856/Stock_books_045.rar
http://rapidshare.com/files/7116669/Stock_books_046.rar
http://rapidshare.com/files/7116973/Stock_books_047.rar
http://rapidshare.com/files/7117364/Stock_books_048.rar
                                                          134
http://rapidshare.com/files/7117635/Stock_books_049.rar
http://rapidshare.com/files/7117861/Stock_books_050.rar
http://rapidshare.com/files/7118244/Stock_books_051.rar
http://rapidshare.com/files/7118469/Stock_books_052.rar
http://rapidshare.com/files/7118765/Stock_books_053.rar
http://rapidshare.com/files/7119199/Stock_books_054.rar
http://rapidshare.com/files/7119553/Stock_books_055.rar
http://rapidshare.com/files/7120253/Stock_books_056.rar
http://rapidshare.com/files/7121299/Stock_books_057.rar
http://rapidshare.com/files/7121452/Stock_books_058.rar
http://rapidshare.com/files/7121839/Stock_books_059.rar




pass= static




                                                          135

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Stats:
views:302
posted:8/9/2011
language:Vietnamese
pages:135
Description: phan tich ky thuat, ly thuyet