Documents
Resources
Learning Center
Upload
Plans & pricing Sign in
Sign Out

Phân tích ki thu_t và nh_ng d_ báo cho VN

VIEWS: 14 PAGES: 11

phan tich ky thuat, ly thuyet

More Info
									      Phân tích kĩ thuật và những dự báo cho VN-Index
      06.07.2007 20:45

                                      Trong thị trường luôn tồn tại 2 trường phái
                              của hai nhà phân tích: Phân tích cơ bản và phân
                              tích kĩ thuật. Hai trường phái này về cơ bản có thể
                              hổ trợ cho nhau trong việc phân tích thị trường mặc
                              dù cũng có những lúc hoàn toàn không thể giải
                              thích được sự khác nhau giữa hai trường phái này.



                                     Khi nói về sự biến động giá trong thời gian
                            qua: Các nhà phân tích cơ bản đều có thể lý giải
                            điều này và nhiều câu hỏi đặt ra cho vấn để này là
“tại sao” và đó là công việc của những người làm công tác quản lý cũng như
những nhà nghiên cứu để có thể tìm ra câu trả lời thích đáng cho vấn đề đó.
       Trong khi đó có phân tích kĩ thuật thể lý giải toàn bộ được điều này nhưng
có thể đưa ra lời dự báo cho tương lai ở một mức độ tin cậy nhất định nào đó và
góp phần trong việc định hướng cho những nhà phân tích nhằm hổ trợ cho những
nhà phân tích cơ bản.
       Mặc khác, Phân tích kỹ thuật không giống như công việc của những nhà
phân tích cơ bản, PTKT không quan tâm tới câu hỏi “cái gì” hơn là “tại sao”. Và
đây là đặc điểm nổi bật của 2 trường phái này và nó luôn tồn tại trong một nền
kinh tế đan xen vừa bổ sung hổ trợ nhau trong việc nghiên cứu và dự báo diển biến
thị trường trong tương lai.
       Đối với những nhà kinh tế những nhà phân tích thị trường chứng khoán thì
sự sụt giảm này có thể nói là một biến động không chắc chắn mà mỗi nhà phân
tích đều có một cách nhìn nhận của riêng mình. Đặc biệt đối với những nhà phân
tích kỹ thuật. Phân tích kĩ thuật là một nghệ thuật trong việc nhìn nhận và dự báo
một vấn đề dựa trên những gì đã diễn ra trong quá khứ mà đối tượng chính cho
mẫu phân tích và dự báo là thị trường chứng khoán, thị trường giao sau, tỉ giá hối
đoái…..
      Phân tích kĩ thuật ra đời rất lâu tại các thị trường phát triển như: Mỹ, Nhật,


                                        1
Đức…Đây là công cụ rất quen thuộc đối với những nhà phân tích nước ngoài,
nhằm dự báo giá chứng khoán trong tương lai và thời điểm lựa chọn giao dịch sao
cho tối ưu nhất dựa vào những chỉ số và những công cụ trong phân tích kĩ thuật
mà nền tảng chính xuất phát từ lý thuyết Dow của Charles H. Dow, Lý thuyết
Sóng Elliot của R.N. Elliot và Dãy số Fibonacci và các công cụ phân tích khác.
       Lý Thuyết Dow
       Những biến động thị trường với mọi xu hướng đều có thể được dự đoán
trước trên cơ sở biến động giá trên các biểu đồ.
       Giả định của Dow:
       Phần lớn các chứng khoán tuân theo xu hướng cơ bản của thị trường.
       Xu thế xu hướng cơ bản của thị trường được hiểu là “chỉ số giá bình quân”
- phản ánh xu thế chung của một số cổ phiếu đại diện cho thị trường.
       Các tiền đề:
       Chỉ sử dụng giá đóng cửa: Giá phản ánh là giá đóng cửa, có thể dự đoán
được, và tác động đến mối quan hệ cung cầu của thị trường
       Sử dụng chỉ số trung bình: Chỉ số trung bình là trung bình hoá tất cả:
       * Các biến động từng ngày
       * Các điều kiện tác động lên cung - cầu các cổ phiếu,
       * Những quyết định đầu tư bất ngờ không dự đoán được
       Giải thích lý thuyết Dow
       Lý thuyết Dow được xây dựng dựa trên 6 nguyên lý cơ bản:
       Nguyên lý 1:
       * Gồm mọi thông tin: các yếu tố về kinh tế, chính trị, các yếu tố tâm lý, khả
năng tăng trưởng lợi nhuận của công ty
       * Tất cả các kiến thức của tất cả những người tham gia vào thị trường (nhà
giao dịch, nhà đầu tư, nhà quản trị danh mục…)
       Nguyên lý 2:
       Thị trường có 3 sự chuyển dịch

                                         2
        1. Sự dịch chuyển chính: (primary movement)
        * Trong thị trường đầu cơ giá lên: (bull market):Là sự dịch chuyển lên trên
một cách rộng lớn, ít nhất là 18 tháng.
        * Thị trường đầu cơ giá xuống: (bear market)
       Là một sự giảm giá kéo dài và sẽ ngừng lại khi có những sự phục hồi đáng
kể trong giá cổ phiếu.
        2. Những phản ứng thứ cấp:
        * Là sự sụt giảm quan trọng trong thị trường đầu cơ giá lên hoặc một sự
tăng giá quan trọng trong thị trường đầu cơ giá xuống
       * Khoảng thời gian dịch chuyển nhìn chung thoái lùi từ 33% - 66% (1/3
đến 2/3)
        * Kéo dài từ 3 tuần đến nhiều tháng, thông thường 3 tháng.
       * Nó chỉ quan trọng trong việc hình thành nên một phần của sự dịch chuyển
chính cũng như dịch chuyển thứ cấp.
        3. Những sự dịch chuyển nhỏ: (minor movements)msự dịch chuyển này thể
hiện như là một biến động nhẹ trong giá qua các ngày giao dịch, thời gian diễn ra
rất ngắn.
        Nguyên lý 3:
        * Mỗi xu hướng thường xảy ra trong ba giai đoạn riêng biệt
        * Trong thị trường giá lên có 3 giai đoạn.
        * Giai đoạn tích luỹ: thể hiện việc mua có hiểu biết các nhà đầu tư tinh
thông
      * Giai đoạn tham gia công chúng: xảy ra khi các mức giá bắt đầu gia tăng
một cách nhanh chóng và những tin tức kinh doanh sẽ được cải thiện
      * Giai đoạn phân phối: khi những tin tức kinh tế trở nên tốt hơn và khi khối
lượng có tính chất đầu cơ và sự tham gia công chúng gia tăng
        * Trong thị trường giá xuống có 3 giai đoạn:
        * Giai đoạn phân phối


                                          3
        * Giai đoạn hoảng loạn
        * Giai đoạn bán bắt buộc
        Nguyên lý 4:
        * Các mối quan hệ giá và khối lượng tạo ra nền tảng cơ bản
        * Mối quan hệ cơ bản là khối lượng tăng khi giá phục hồi và thu hẹp khi giá
giảm.
        * Nếu khối lượng trở nên ứ đọng khi giá tăng và gia tăng khi giá giảm, cảnh
báo rằng xu hướng chính sớm bị đảo ngược.
        Nguyên lý 5:
       Dấu hiệu tăng giá được đưa ra khi sự tăng giá liên tiếp tạo ra các đỉnh cao
hơn và sự giảm giá xen vào tạo thành các đáy cao hơn. Và ngược lại đối với dấu
hiệu giảm giá.
        Nguyên lý 6:
        Phải biết kết hợp chỉ số của các ngành tương hổ cho nhau. Vd:
        * Chỉ số bình quân ngành công nghiệp: là trung bình giá của 20 cổ phiếu
công nghiệp của Mỹ;
       * Chỉ số bình quân ngành giao thông vận tải (Transportation): là trung bình
giá của 12 cổ phiếu ngành giao thông vận tải Mỹ;
      * Trong một nền kinh tế phát triển khi ngành công nghiệp phát triển thì
ngành giao thông vận tải cũng phát triển theo nên 2 chỉ số bình quân ngành công
nghiệp và bình quân ngành giao thông vận tải sẽ củng cố lẫn nhau.
        Các công cụ ứng dụng trong phân tích kỹ thuật.
     Phân kỳ và hội tụ của đường trung bình di động MACD (Moving Average
Convergence Divergence)
       MACD là một công cụ trong phân tích kĩ thuật do Gerald Appel tìm ra vào
thập niên 60. MACD chỉ ra sự khác nhau giữa 2 đường EMA (exponential moving
average)
        Trong đó EMA nhanh hay gọi là đường MACD


                                         4
      * MACD = EMA (12 ngày) - EMA (26 ngày)
      * Đường EMA chậm là đường dấu hiệu
      * Đường dấu hiệu = EMA (9 ngày) của MACD
      Hai đường này sẽ cho biết những dấu hiệu mua và bán khi chúng gặp nhau
và càng có dấu hiệu rõ nét khi chúng cắt qua đường Zero.
      Về cơ bản thì đường dấu hiệu là đường sẽ khẳng định được những tín hiệu
mua – bán khi đường MACD đang tiến tới xu hướng của sự biến động.
      Đường MACD.
      Đường dấu hiệu.
        Khi MACD cắt đường dấu hiệu nằm bên trên đường dấu hiệu và đang đi
lên thì sẽ cho một tín hiêu mua lý tưởng vì đó là một dấu hiệu tăng giá và ngược
lại MACD cắt xuống đường dấu hiệu thì cho tín hiệu giảm giá và đây cũng là thời
điểm tốt nhất để Nhà Đầu Tư bước ra khỏi thị trường vì dự báo một sự sụt giảm về
giá trong tương lai.
      Nhận định:
      Nếu quay lại thời điểm tháng 8 năm 2006 cho thấy một dấu hiệu tương tự
như hiện nay:
       Đường MACD nằm dưới đường zero và sau đó cắt lên trên, nếu xét một
cách tương dối thì có thế thấy hai điểm này giống nhau - Đường MACD nằm dưới
đường EXP ( đường tín hiệu )
      Theo lý thuyết trong phân tích kỹ thuật thì diều này chỉ báo một tín hiệu
mua lý tưởng, năm 2006 chỉ số VN-Index đã bắt đầu tăng vọt từ mức này ( VN-
Index đạt 400 điểm ) và cho đến nay chỉ số VN-Index vào ngày 11/5/2007 là
1.039,6 điểm.
       Nhìn nhận dưới quan điểm của lý thuyết Dow “ tương lai sẽ lặp lại quá
khứ” và nếu điều này đúng ở thị trường chứng khoán Việt Nam, MACD có khả
năng diễn tả lại năm 2006 - thị trường tăng nhẹ trong một khoảng thời gian và sau
đó tăng mạnh như thời điểm tháng 11 năm 2006, cũng lúc này MACD cho thấy
một tín hiệu tăng mạnh khi thị trường không không thể sụt giảm được nữa ( đường



                                       5
MACD chạm đường zero và đảo chiều ).
      Dải Bollinger
      * Đặt trên hai độ lệch chuẩn phía trên và phía dưới đường MA (Moving
average), đường MA thường là 20 ngày
      * Độ lệch chuẩn cho thấy mức giá được phân tán xung quanh giá trị trung
bình như thế nào, và giá sẽ dao động giữa hai dãy băng này.
      * Mua quá nhiều (overbought): khi mức giá vượt quá lên trên khi chúng
đụng đến dải băng trên.
      * Bán quá mức (oversold): giá vượt quá xuống phía dưới khi chúng đụng
dãy băng dưới.
       * Có thể mở rộng hoặc thu hẹp dải băng tùy thuộc sự biến động của đường
trung bình 20 ngày.
      * Thời kỳ biến động giá tăng, khoảng cách giữa hai dãy băng mở rộng.
      * Thời kỳ biến động giá giảm, khoảng cách hai dải băng thu hẹp lai.
      * Độ rộng của dãy băng đo lường sự biến động giá
      * Độ rộng và độ hẹp của dải băng xen kẻ nhau
       * Khi 2 dải băng xa nhau một cách bất thường, tín hiệu xu hướng hiện tại
sắp kết thúc.
       * Khoảng cách giữa hai dải băng thu hẹp lại, tín hiệu thị trường bắt đầu
hình thành xu hướng mới.
      Có thể áp dụng đối với đồ thị hàng tuần hoặc hàng tháng.
      Hoạt động tốt khi đuợc kết hợp với những chỉ số dao động mua quá
mức/bán quá mức.
      Nhận định:
       Theo dõi biểu đồ biến dộng giá cho thấy dãy Bollinger phản ánh khá chính
xác thị trường chứng khoán việt nam theo những lý thuyết về phân tích kỹ thuật.
      Khi đường giá chạm hai biên của đường Bollinger là một chỉ báo thị trường
đảo ngược lại mức biến dộng trước đó. Cũng tương tự chúng ta quay lại thời điểm


                                       6
tháng 8/2006. Đường biến dộng giá chạm mức biên dưới của dãy Bollinger và sau
đó phục hồi và tăng ngược trở lại.
      Mặc dù trong thời diểm khảo sát có thể thấy dãy Bollinger vẫn chưa chính
xác nhưng ở đây cho thấy có thể chấp nhận độ trể của đường này là từ 1-2 ngày
tuỳ theo mức biến động trong giai đoạn của thị trường ổn định hay tăng trưởng.
     Ở giai đoạn năm 2007 vào thời điểm khoảng cuối tháng 2/2007 khi chỉ số
VN-Index đạt con số cao nhất so với trước ( VN-Index khoảng 1.170 điểm ) tại
đây đường biến động giá chạm biên trên của dãy Bollinger- chỉ báo thị trường sụt
giảm. Tuy nhiên mức độ sụt giảm để nắm bắt tốt hơn cần kết hợp với các chỉ số
khác.
        Đường Chỉ số lưu lượng tiền trong giao dịch MFI ( Money Flow Index )
        Tính toán các chỉ số trong MFI như sau:
        Giá đặc trưng = (Giá cao nhất +Giá thấp nhất + Giá đóng cửa) / 3.
        Lượng tiền ( Money Flow ) = (Giá đặc trưng ) x ( khối lượng ).
        Tỉ lệ (MR) = ( lượng tiền tăng / lượng tiền giảm )
        Money Flow Index = 100 - ( 100 / ( 1 + M R ))
      MFI cho biết lượng tiền trong giao dịch của ngày hôm nay như thế nào và
MFI có biên độ biến động thông thường trong thị trường ổn định là 20 và 80.
       MFI được sử dụng như là một chỉ số dao động. Tại mức 80 thì nhìn chung
đây là một tín hiệu cho thấy hành động mua quá mức và ngược lại khi MFI xuống
dưới 20 – bán quá mức.
      Những chuyển dịch ngược chiều nhau của MFI và đường giá thể hiện
những tín hiệu quan trong trong giao dịch. Nếu như giá trên biểu đồ cho thấy giá
có xu hướng tăng trong khi MFI có xu hướng ngược lại thì điều này chỉ ra một sự
giảm dần trong giá và chỉ báo một tín hiệu đảo ngược xu hướng.
      MFI cũng được xem tương tự như đường RSI ( Relative Strength Index )
mà chúng ta sẽ xem xét ở những chỉ số kế tiếp trong phần này.
      Vì thực chất chúng điều dùng dử liệu những ngày giá tăng chia cho những
ngày giá giảm nhưng chỉ khác nhau ở chổ là MFI được đo lường bằng sự thay đổi


                                          7
trong tiền tệ trong khi RSI thì tính bằng sự thay đổi trong giá cổ phiếu .
       Nhận định:
      Trong giai đoạn khảo sát cho thấy tiếp điểm của dường MFI và đường biên
dưới 30 chưa bao giờ bị bức phá, một nhận định rỏ ràng cho điều này về sự sụt
giảm có thể phát biểu như sau: “thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn
2006- 2007 (chỉ tính tron thời điểm khảo sát ) đường dấu hiệu tại các điểm bán quá
mức là chính xác. Theo dữ liệu thống kê trong giai đoạn này thì có 5 điểm mà tại
đó thị trường đảo chiều trong đó có 2 điểm được nhìn nhận theo lý thuyết về phân
tích kỹ thuật là thời điểm vào tháng 8/2006 và cuối tháng 4/2007- những diểm
thấp nhất trong MFI- chỉ báo một tín hiệu phục hồi khi thì trường sụt giảm , MFI
chạm mức thấp nhất, trong trường hợp này có thể thấy không có độ trể nào, một
tín hiệu đáng tin cậy cho nhà đầu tư muốn bước vào thị trường tại mức này.
       Đà tăng trưởng- Momentum
       Momentum thị trường được đo lường bằng sự khác biệt về giá trong một
thời kỳ cố định.
       Công thức tính:
       M = V – VX
       * V là giá đóng cửa mới nhất.
       * Vx là giá đóng cửa của x ngày trước đó.
       VD:
      Một momentum 10 ngày được tính bằng cách lấy giá đóng cửa của ngày
gần nhất trừ cho giá đóng cửa trước đó 10 ngày .
       Những tín hiệu từ Momentum:
       Đo lường tỷ lệ tăng và giảm giá
       Đo lường sự khác biệt giá của hai khoảng thời gian.
       * Giá cả đạt được mức tăng V > mức tăng giá của Vx
       ---->đường Momentum tăng lên
       * Giá cả đạt được mức tăng V = mức tăng giá của Vx .


                                          8
       -----> đường Momentum phẳng
       * Giá cả đạt được mức tăng V < mức tăng giá của Vx.
       ------>đường Momentum bắt đầu giảm.
       Đường Momentum dẫn đến hành động giá.
       * Đường Momentum luôn đi trước một bước các dịch chuyển của giá. Dẫn
đến sự tăng hay giảm trong giá.
       * Khựng lại trong khi xu hướng giá hiện tại vẫn có hiệu lực.
       * Bắt đầu dịch chuyển theo hướng ngược lại khi giá bắt đầu khựng lại.
       Giao điểm của đường Momentum và đường zero như là một tín hiệu giao
dịch
      * Đường xu hướng trên đồ thị Momentum bị phá vỡ sớm hơn các đường xu
hướng trên đồ thị giá.
      * Thị trường đang có xu hướng lên, vị thế mua sẽ chỉ xảy ra tại giao điểm
để vượt lên trên đường zero.
       * Vị thế bán xảy ra tại giao điểm để xuyên xuống đường zero
       Sự cần thiết của đường biên trên và biên dưới
     Cách đơn giản nhất để xác định mức độ quá cao và quá thấp trên đường
momentum là:
       * Kiểm tra lịch sử đường momentum trên đồ thị
     * Vẽ các đường nằm ngang dọc theo các ranh giới trên và dưới đường
momentum
       * Những đường biên này được điều chỉnh về mặt độ dài thời gian, đặc biệt
sau những thay đổi quan trọng trong xu hướng xảy ra
       Nhận định:
       Trên đồ thị cho thấy đường momentum có tín hiệu rỏ ràng tại khi tiến gần
tới đường zero, có 2 trường hợp trong tình huống này:
       1. Đường momentum tiến gần tới đường zero sau đó đảo chiều-điển hình là
thời điểm đầu tháng 1 năm 2007. khi chỉ số Vnidex sụt giảm liên tục trong vài

                                        9
phiên giao dịch và đột ngột tăng mạnh trở lại điều này chỉ báo một tín hiệu khả
quan trên thị trường khi những thông tin bắt đầu được xác nhận.
      2. Đường momentum vượt qua đường zero điều này có thể thấy vời thời
điểm vào giữa tháng 3 năm 2007 khi đó lần đầu tiên trong khoảng thời gian khảo
sát đường momentum vượt xuống dưới đường zero. Từ tín hiệu này cho thấy thị
trường có những bước điều chỉnh thật sự sau một khoảng thời gian dài chỉ số VN-
Index ở mức cao và đường momentum chưa từng vượct qua mức này.
       Chỉ số cường độ tương đối - RSI ( Relative Strenth Index )
       Công thức tính:
       RSI = 100-100/(1+RS)
      RS= (Trung bình phần tăng giá đóng cửa trong X ngày ) chia (Trung bình
phần giảm giá đóng cửa trong X ngày)
       RSI được biểu diễn trên mặt chia đứng từ 0 đến 100.
      Dịch chuyển trên mức 70 được xem là mua quá mức. Dịch chuyển dưới 30
được xem là bán quá mức.
      Vì sự thay đổi xảy ra trong những thị trường giá lên và giá xuống nên mức
80 thường trở thành mua quá mức trong thị trường giá lên và mức 20 trở thành bán
quá mức trong thị trường giá xuống.
       Trong thị trường bán quá mức:
      * Một sự dịch chuyển xuống dưới mức 30 báo trước một tình trạng bán quá
mức, Nhà giao dịch nghĩ rằng thị trường đang ở mức đáy và đang tìm kiếm cơ hội
mua.
       * Một sự cắt trở lại trên đường 30 lúc đó được tận dụng bởi nhiều nhà giao
dịch như một sự xác nhận rằng xu hướng trong dao động đang kéo lên.
       * Trong thị trường mua quá mức
       * Sự cắt trở lại xuống dưới đường 70 có thể thường sử dụng như là tín hiệu
bán.
       Nhận định:



                                        10
       Cũng tương tự như những chỉ số khác đường RSI của VN-Index cũng biến
động trong một biên độ được xác định. Tuy nhiên với chỉ số này có thể thấy mức
độ biến động phù hợp với biên dưới là 20 và biên trên là 80.
      Với RSI có quá nhiều biến động chưa được phản ánh rõ ràng có nhiều biến
động sai và RSI chỉ tạo ra tín hiệu đúng khi nó vượt qua được mức tăng ( giảm )
trước đó.
      Như thời điểm đầu tháng 8, cuối tháng 11 năm 2006 và đầu tháng 5 năm
2007 khi RSI đã bức phá được mức trước đó của nó thì thì trường bắt đầu tiếp tục
xu hướng và tăng mạnh. Tuy nhiên trên quan điểm chung cần kết hợp phân tích
các chỉ số khác để có quyết định dể dàng hơn.
      Tóm lại phân tích kĩ thuật phản ánh điểu gì về VN-Index?
      - Chỉ số VN-Index qua từng giai đoạn có thể được phản ánh chính xác bởi
các công cụ hổ trợ trong phân tích kĩ thuật tại các điểm tín hiệu của các công cụ
này.
      - Mức độ chính xác là tương đối cao, độ trễ của các chỉ số là có thể chấp
nhận được.
       - Giá phản ánh tương đối thông tin trên thị trường và mức độ điều chỉnh tuỳ
thuộc vào từng giai đoạn.


      InTeVes.com (Theo Tổng hợp)




                                        11

								
To top