Các ch_ s_ v_ kh_i lu_ng by blue123

VIEWS: 8 PAGES: 11

phan tich ky thuat, ly thuyet

More Info
									      SỬ DỤNG BIỂU ĐỒ KHỐI LƯỢNG TRONG PHÂN TÍCH KỶTHUẬT



      Các nhà đầu tư sử dụng phân tích kỷ thuật thường hay sử dụng những công
cụ hay chỉ số có liên quan trực tiếp đến giá, hay thường hay sử dụng biểu đồ giá
mà quên mất đi khối lượng cũng là một nhân tố không kém phần quan trọng trong
việc xác định một xu hướng của một loại cổ phiếu bất kỳ nào đó. Hôm nay tôi sẽ
giới thiệu cho mọi người một số kỷ thuật phân tích dựa trên khối lượng giao dịch
của một loại cổ phiếu bất kỳ nào đó để giúp cho các nhà đầu tư có thêm một trong
những công cụ hỗ trợ hay có cái nhìn tổng quan hơn về phân tích kỷ thuật.
       Trước tiên là đường Acomulation/Distribution line ( A/D line) đây là
một trong những dấu hiệu về khối lượng phổ biến nhất. Nguyên tắc đơn giản đằng
sau các dấu hiệu về khối lượng chính là khối lượng di chuyển trước giá và các dấu
hiệu về đường hay chỉ số về khối lượng được thiết kế để nhằm nhận diện xu
hướng di chuyển của giá, qua đó bảo vệ các nàh đầu tư trước những di chuyển giá
có thể xảy ra.
      Một dấu hiệu đầu cơ giá lên được đưa ra khi đường A/D là phân kỳ dương,
tuy nhiên các nhà đầu tư cần thận trọgn trong việc xem xét liệu chúng có thể tạo ra
một phản ứng cao hơn hay không? Thông thường thì hiện tượng phân kỳ dương
kéo dài trong hai tuần thì sẽ không đủ lớn tuy nhiên nếu đường A/D mà kéo dài
trên một tháng thì dấu hiệu đầu cơ giá lên được nhận diện một cách mạnh mẽ hơn.
Quan sát đồ thị dưới đây của ALT đường A/D là đường màu đỏ vào cuối tháng 8
thì bắt đầu thể hiện một dấu hiệu phân kỳ dương và gia tăng liên tục cho đến giữa
tháng 10 thể hiện một dấu hiệu đầu cơ giá lên rất mạnh mẽ.




                                        1
        135                                                                                                         135
        130                                                                                                         130
        125                                                                                                         125
        120                                                                                                         120
        115                                                                                                         115
        110                                                                                                         110
        105                                                                                                         105
        100                                                                                                         100
         95                                                                                                          95
         90                                                                                                          90
         85                                                                                                          85
         80                                                                                                          80
         75                                                                                                          75
         70                                                                                                          70
         65                                                                                                          65
         60                                                                                                          60
         55                                                                                                          55
         50                                                                                                          50
         45                                                                                                          45
         40                                                                                                          40
         35                                                                                                          35
         30                                                                                                          30
         25                                                                                                          25

       5000                                                                                                       11000
       4500                                                                                                       10000
       4000                                                                                                        9000
       3500                                                                                                        8000
       3000                                                                                                        7000
                                                                                                                   6000
       2500
                                                                                                                   5000
       2000
                                                                                                                   4000
       1500
                                                                                                                   3000
       1000
                                                                                                                   2000
        500
          0                                                                                                        1000

              2006   2007   February   March   April   May       June   July   August   September   October   November




      Một ý nghĩa khác của đường A/D chính là xác nhận bản chất phía sau của
một sự di chuyển giá tăng. Trong một sự gia tăng mạnh, thì đường A/D vẫn giữ ở
mức tăng hay di chuyển theo xu hướng lên. Nếu giá cổ phiếu di chuyển theo
hướng lên một cách nhanh chóng, nhưng đường A/D thì lưỡng lự trong việc tạo ra
một phản ứng mới cao hơn hay di chuyển bên ngoài xu hướng tăng, lúc đó như là
một dấu hiệu cho thấy rằng áp lực mua là rất yếu hay dấu hiệu đầu cơ giá lên
không đủ lớn. Như trong đồ thị dưới đây của Wal- Mart khi giá tiếp tục tăng
nhưng đường A/D lưỡng lự trong việc tạo ra một phản ứng mới cao hơn đây chính
là dấu hiệu cho thấy rằng dấu hiệu đầu cơ giá lên đang mất dần.




                                                             2
      Ngược lại một dấu hiệu đầu cơ giá giảm được đưa ra khi đường A/D là
một đường phân kỳ âm. Và vấn đề chính ở đây cũng là nhận diện được cường độ
của xu hướng. Nếu như đường A/D thể hiện sự phân kỳ âm trên một tháng và có
mức độ giảm dần thì một dấu hiệu đầu cơ giá xuống là mạnh mẽ. Ngược lại đường
A/D thể hiện sự phân kỳ dương nhưng có mức độ giảm rất thấp hay lưỡng lự trogn
việc tạo nên một phản ứng mới thấp hơn thì thể hiện rằng dấu hiệu đầu cơ giá
xuống chỉ là một sự điều chỉnh xu hướng chính hay dấu hiệu đầu cơ giá xuống
đang mất dần. Xem đồ thị dưới của công ty Delta Air Lines, cho thấy giá cổ phiếu
trong tháng 6 và 7 tạo nên một phản ứng giá cao hơn, tuy nhiên đường A/D tiếp
tục giảm, điều này thể hiện một cảnh báo cho xu hướng giảm vẫn còn tiếp diễn.
Cần lưu ý thêm rằng khi đường A/D bắt đầu thể hiện phân kỳ âm trước khi giá
giảm và vẫn tiếp tục giảm cho đến hki giá bắt đầu vượt xuống điểm support trong
đầu tháng 8. Đồ thị này có thể minh chứng cho một đêìu đã đề cập trước đây chính
là khối lượng di chuyển trước giá.




                                       3
      Nhìn chung thì đường A/D có ý nghĩa trong việc nhận diện xu hướng cũng
như đo lường được bản chất phía sau của một sự dịch chuyển tuy nhiên nó cũng có
một hạn chế chính là đôi khi rất khó nhận diện đưc xu hướng hay trong những
trường hợp giá giảm do chi trả cổ tức thì khó nhận diện được bản chất. Vì vậy nên
sử dụng đường này kết hợp với một vài chỉ số khác để có cái nhìn bao quát hơn.
Và một trong những chỉ số thường được sử dụng kết hợp với đường A/D chính là
Chaikin Osilator hay gọi tắt là đường Chaikin
       Đường Chaikin cũgn tương tự như là MACD tuy nhiên đường Chaikin
chính là sự kết hợp của 2 đường EMA 3 ngày và 10 ngày và được thiết kế là để dự
báo cho đường A/D. Do đó dấu hiệu mà đường Chaikin đưa ra chỉ liên quan trực
tiếp đến đường A/D chứ có liên quan rất ít đến đồ thị giá. Phương pháp chính của
đường Chaikin là dự báo cho đường A/D bằng cách thêm vào một momentum hay
nói cách khác đường A/D chính là đường Chaikin cộng thêm một momentum.
       Dấu hiệu đầu cơ giá lên được đưa ra khi đường Chaikin là phân kỳ dương
và cắt trên đường trung tâm (đường zero). Cần lưu ý rằng là nếu như đường
Chaikin chỉ thể hiện một dấu hiệu phân kỳ dương nhưng không cắt trên đường
trung tâm thì dấu hiệu đầu cơ giá lên là không rõ ràng và đây chỉ là sự gia tăng
ngắn hạn hay một tín hiệu điều chỉnh tạm thời. Xem đồ thị bên dưới của Coca cola
khi đường Chaikin bắt đầu thể hiện một đường phân kỳ dưong vào đầu tháng 10

                                       4
khi đó đường A/D bắt dầu di chuyển lên nhẹ giá cũng tăng lên tuy nhiên đây chưa
phải là một dấu hiệu đầu cơ giá lên. Cho đến cuối tháng 10 khi đường Chaikin tiếp
tục thể hiện sự pâhn kỳ dương và cắt trên đường trung tâm cũng là lúc đường A/D
bắt đầu tăng vọt lên và giá cũng tăng lên theo một cách nahnh chóng.




       Nguyên tắc tương tự trong trường hợp đầu cơ giá giảm, một dấu hiệu đầu
cơ giá xuống được đưa ra khi đường Chaikin thể hiện một đường phân kỳ âm và
cắt dưới đường trung tâm.




                                       5
       Xét đồ thị của Merck ở trên khi đường Chaikin bắt đầu thể hiện một đường
phân kỳ âm vào cuối tháng 11 tuy nhiên đường A/D vẫn tiếp tục tăng và giá vẫn
tăng lên theo, đây là một dấu hiệu hkông rrõ ràng. Tuy nhiên vào giữa tháng 12
khi đường Chaikin vẫn thể hiện đường phân kỳ âm và bắt đầu cắt xuống đường
trung tâm, đây là một dấu hiệu rất rõ ràng biểu hiện là đường A/D cũng đã đi
xuống và giá đã cắt dưới mức hổ trợ sau đó.
       Nhìn chung đường Chaikin là hữu hiệu trong việc thêm vào một đà tăng
trưởng tới đường A/D, nhưng đôi khi nó thêm vào một vài đà răng trưởng quá
lớn gây khó khăn trong việc diễn giải, sự kết hợp của 2 đường EMA ngắn hạn làm
cho đường này trở nên nhạy hơn, nhung cũng phải cần có thể diễn giải dấu hiệu
đưa ra. Vì vậy nên sử dụng nó kết hợp với các khía cạnh khác của phân tích kỹ
thuật thì sẽ tốt hơn, và chúng thường được kết hợp với đường Chaikin Money
Flow ( CMF) dưới đây.
       Đường CMF được tính bằng cách dự báo giá trị hằng ngày của đường A/D,
lấy giá đóng cửa nhân với khối lượng cho mỗi thời kỳ tạo thành Acumumulation/
Distribution Value(A/DV) . Để tính cho ngày kế tiếp thì A/DV của ngày đầu tiên
được di chyển ra và giá trị ngày kế tiếp đựơc thêm vào công thức. CMF thường
được sử dụng phổ biến là 21 ngày đây là một sự diễn giải tốt cho áp lực mua và


                                        6
bán 1 tháng trong quá khứ, bằng cách sử dụng một tháng thì có thể loại bỏ những
biến động ngẫu nhiên, tuy nhiên có thể thay đổi thời kỳ cho phù hợp với từng loại
cổ phiếu, một thờigian ngắn cho biẻu đồ theo tuần hoặc tháng thì thường phù hợp
hơn.
       Dấu hiệu của nắm giữ (Accummulation): sự dao động của CMF tạo ra
dấu hiệu đầu cơ giá lên bằng cách chỉ ra rằng một cổ phiếu là dưói mức tích luỹ.
Đây là 3 yếu tố xác định nếu một cổ phiếu dưới mức tích luỹ, chúng cũng xác định
cường độ của tích luỹ.

             đầu tiên và cũng là nhân tố quan trọng nhất chính là có hay không
giá trị của CMF là lớn hơn 0 (đường trung tâm), nó là dấu hiệu của cho việc mua
và giữ khi dấu hiệu là dương.

              Nhân tố thứ hai chính là thời gian, dao động dương có thể duy trì
trên mức 0 trong bao lâu? hiển nhiên là với một chứng khoán đang giữ vững vị thế
tích luỹ, một thời kỳ tích luỹ mở rộng hay áp lực mua chính là sự đầu cơ giá lên và
dấu đưa ra cho thấy chúng vẫn đang hướng về phân kỳ dương.

             Nhân tố thứ ba chính là cường độ của dao động, không những chỉ
lớn hơn mức 0 mà chúng còn phải duy trì và có thể gia tăng lên mức độ cao hơn.
Một sự phân kỳ dương hơn nữa đang được diễn giải là áp lực mua và giữ là rõ
ràng. Điều này còn được gọi là hiệu chỉnh trên cơ sở mức độ của những dao đông
trước, một sự di chuyển lên trên 10% có thể đủ đáng kể để đưa ra dấu hiệu đầu cơ
giá lên, một sự di chuyển lên trên 25% có thể là một dấu hiệu đầu cơ giá lên là rất
mạnh, chúng ta có thể xem xét mức độ của những dao động trước để chắc chắn.




                                        7
       Trong biểu đồ của Alcoa ở trên CMF thật sự là gia tăng mạnh trong khi giá
cổ phiếu vẫn tiếp tục giảm trong hầu hết tháng 10, đây là một dấu hiệu rõ ràng của
sự mua va giữ. Trong tháng 11 khi giá cổ phiếu giảm nhưng CMF không vượt qua
được mức -10% cho thấy áp lực bán hay phân phối là không mạnh. Cuối tháng 11
giá cổ phiếu tăng trở lại và vượt qua mức kháng cự 31, CMF cũng cao hơn và nằm
trong khu vực dương để xác nhận điểm đột phá(đường thẳng đứng màu xanh lá
cây). Đây rõ ràng là một dấu hiệu đầu cơ giá lên nhưng để có thể thu được nhiều
lợi nhuận hơn nhà đầu tư nên hành động nhanh hơn.
       Dấu hiệu phân phối (Distribution): Sự dao động của CMF tạo ra một dấu
hiệu đầu cơ giá xuống bằng cách chỉ ra ràng một cổ phiếu là đang phân phối hay
đang trong áp lực bán. Cũng như dấu hiệu đầu cơ giá lên trong dấu hiệu đầu cơ
giá xuống cũng có 3 nhân tố cẩn xem xét để xác nhận có hay không một cổ phiếu
đang trong tình trạng bán quá mức.

            Nhân tố đầu tiên cũng là dấu hiệu đầu cơ giá xuống quan trọng nhất
là khi CMF âm, một dấu hiệu âm được diễn giải rằng cổ phiếu đang ở tình trạng
áp lực bán hay phân phối.

          Nhân tố thứ hai của dấu hiệu chính là thời gian của phân kỳ âm, việc
dao động âm trong một thời gian dài tạo nên một bằng chứng hiển nhiên là cổ


                                        8
phiếu đang trong tình trạng bán quá mức hơn. Nếu CMF đang giảm từ 3 đến 4
tuần thì có đến 75% cổ phiếu đang trong tình trạng bán quá mức.

            yếu tố thứ ba của dấu hiệu chính là cường độ của phân phối điều này
có thể được xác định bằng việc hình thành mức độ mới của đường CMF, một sự di
chuyển dưới -10% có thể là gia tăng mức độ phân phối, một sự di chuyển dưới -
25% thì mức độ phân phối là mạnh mẽ.




       Trong biểu đồ của JC Pency ở trên cho thấy là cổ phiếu trãi qua mức độ
phân phối trong vài tuần trứơc khi giá cổ phiếu thật sự giảm( mũi tên đỏ), khi giá
cổ phiếu bắt đầu giảm thì CMF tiếp tục duy trì ở mức âm trong một thời gian dài.
Có thể thấy rằng: thứ nhất CMF âm trước khi giá cổ phiếu giảm, thứ hai CMF duy
trì ở mức âm từ 6 đến 7 tháng (gần 85% thời gian), thứ ba tất cả các giá trị âm đều
thấp hơn -10%, đôi khi thấp hơn -25%.
      Tóm lại CMF không phản ánh sự thay đổi giá mà chỉ tập trung vào giá
đóng cửa liên quan đến một phạm vi dao động trong một thời kỳ, đây chính là ưu
điểm đồng thời cũng là nhược điểm của CMF.
      Ngoài ra trong các dấu hiệu hay chỉ số về khối lượng, thì còn một dấu hiệu
cũng đáng được chúng ta quan tâm đó chính là đường On Balance Volume (
OBV).


                                        9
        OBV là một trong những dấu hiệu đầu tiên và phổ biến nhất trong việc đo lường
dòng khối lượng dương hay âm, khái niệm phía sau dấu hiệu chính là khối lượng đi trước
giá. OBV là một dấu hiệu đơn giản mà được thêm vào khối lượng của một thời kỳ khi giá
tăng hay trừ ra khỏi khối lượng của một thời kỳ khi giá giảm , tổng số tích luỹ của khối
lượng thêm vào và trừ ra trong một thời kỳ hình thành nên đường OBV. Đường này có
thể so sánh với biểu đồ giá để tìm kiếm sự phân kỳ hay hội tụ.

        1.Cách tính:

        OBV được tính bằng cách cộng thêm khối lượng của một ngày để đạt tới
tổng mức tích luỹ khi giá đóng cửa tăng, và trừ ra khối lượng khi giá đóng cửa
giảm.
        Nếu giá đóng cửa ngày hôm nay lớn hơn hôm qua thì OBV được tính như
sau:
            OBV= OBV hôm qua + khối lượng hôm nay
        Nếu giá đóng cửa ngày hôm nay thấp hơn hộm qua thì:
            OBV= OBV hôm qua - khối lượng hôm nay
        Nếu giá đóng cửa hôm nay bằng với giá đóng cửa hôm qua thì
            OBV= OBV hôm qua
        Phương pháp sử dụng và ý nghĩa:
       Lý lẽ phía sau đường OBV chính là sự thay đổi trong đường OBV đi trước
sự thay đổi trong giá. Dấu hiệu của một đường OBV tăng thể hiện dòng tiền vào
một loại cổ phiếu là tưong đối mạnh, sau đó giá cổ phiếu sẽ gia tăng theo.
       Tương tự như những dấu hiệu khác đường OBV cũng đưa ra những dấu
hiệu trực tiếp. Một dấu hiệu gia tăng( bullish) khi OBV đưa ra một dấu hiệu khối
lượng tăng mạnh trong ngày, nếu giá cổ phiếu tăng theo thì OBV có vai trò như là
xác nhận xu hướng tăng của giá. Trong một số trường hợp sự gia tăng giá cổ phiếu
là kết quả của sự gia tăng nhu cầu về cổ phiếu đó của nhà đầu tư dẫn đến xu hướng
tăng mạnh.
      Tuy nhiên nếu giá cổ phiếu di chuyển cao hơn trong khi OBV giảm, thể
hiện một đường phân kỳ âm, đường phân kỳ này gợi ý rằng xu hướng tăng là
không mạnh và cảnh báo rằng xu hướng tăng sẽ không tồn tại.


                                          10
       Giá trị tuyệt đối của OBV không quan trọng, nhưng đường OBV sẽ được
ưa thích hơn và được xem xét nhiều hơn, người sử dụng nên tập trung chú ý về xu
hướng của đường OBV và so sánh nó với xu hướng giá của cổ phiếu đó.
      Xét biểu đồ bên dưới của Intel cho thấy rằng đường OBV có thể sử dụng để
xác nhận cho một xu hướng giá. Đỉnh cao nhất trong tháng 9 của biểu đồ giá được
theo sau bởi giá di chuyển thấp hơn tương ứng với đỉnh của đường OBV, vì thế nó
đề nghị rằng xu hướng giảm vẫn tiếp tục.




                                      11

								
To top