Nhom 1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ IPO by blue123

VIEWS: 314 PAGES: 28

More Info
									Aa
       TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
          KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP




        BÀI NGHIÊN CỨU MÔN TCDN



     CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG
            ĐẾN IPO


               GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt
               SVTH : Nguyễn Thị Thùy    STT: 42
                      Nguyễn Ngọc Trâm STT: 44
               LỚP : TCDN7- K32




        Tp.HCM ngày 4 tháng 6 năm 2009

                                                   1
                    NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
                            
 -----------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------------------




                                                Tp.HCM ngày….tháng….năm 2009

                                                           GIẢNG VIÊN




                                                                                                  2
                                           MỤC LỤC
                                                                                                        Trang
Lời mở đầu ......................................................................................................4
Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả IPO .........................................................5
 1. Thế nào là một đợt IPO thành công? .......................................................5
 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả IPO .................................................6
    a) Tiềm lực của doanh nghiệp...................................................................6
    b) Lựa chọn nhà bảo lãnh phát hành .........................................................8
    c) Thông tin về doanh nghiệp đến nhà đầu tư ....................................... 10
    d) Lựa chọn thời điểm IPO .................................................................... 11
    e) Gía khởi điểm .................................................................................... 13
    f) Mục đích của nhà đầu tư khi mua cổ phiếu ...................................... 15
    g) Khối lượng phát hành ....................................................................... 19
    h) Các nhân tố khác ............................................................................... 19
Phụ lục 1: Các phương thức bảo lãnh phát hành ......................................... 20
Phụ lục 2: Phân loại IPO ............................................................................. 22
Phụ lục 3: Các bước thực hiện đấu giá ........................................................ 25
Phụ lục 4: Quy trình IPO ............................................................................. 27




                                                                                                                3
           Khi phát triển đến một giai đoạn nhất định do yêu cầu của sự
tăng trưởng không ngừng, ban lãnh đạo bất kỳ công ty nào cũng phải
nghĩ đến việc mở rộng quy mô đầu tư. Phát hành cổ phiếu ra công chúng
là phương pháp được hầu hết các công ty lựa chọn để đáp ứng việc mở
rộng quy mô khi việc huy động vốn thông qua các nhà đầu tư mạo hiểm
có thể khó đáp ứng cho nhu cầu vốn khổng lồ của công ty. Việc phát
hành cổ phiếu như vậy được gọi là phát hành cổ phiếu ra công chúng lần
đầu – IPO (Initial Public Offering).
        Hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng chỉ được tổ
chức một lần duy nhất và nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh
nghiệp vì đây được xem là lần thử thách đầu tiên trong quá trình chuyển
đổi sang hình thức công ty cổ phần đại chúng. Trong bối cảnh kinh tế thị
trường và Việt Nam gia nhập WTO, thực hiện chủ trương của nhà nước,
tới đây sẽ còn rất nhiều, rất nhiều các doanh nghiệp nhà nước nữa tiến
hành IPO trong lộ trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Do đó,
việc nghiên cứu những nhân tố tác động đến kết quả IPO là một việc làm
rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
        Do thời gian chuẩn bị có hạn và kiến thức còn hạn hẹp nên bài
làm chắc chắn còn nhiều thiếu sót, mong cô thông cảm và góp ý để chúng
em rút kinh nghiệm!

                              Tp.HCM ngày 5 tháng 6 năm 2009




                                                                      4
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN KẾT QUẢ IPO

1/ Thế nào đƣợc gọi là một IPO thành công?

      Phát hành lần đầu ra công chúng được coi là thành công khi đơn vị
phát hành huy động đủ số vốn dự kiến thông qua việc bán hết số lượng cổ
phiếu phát hành với giá cả hợp lý.

      Giá bán được coi là hợp lý khi nó phù hợp với cả nhà phát hành -
doanh nghiệp và nhà đầu tư. Đối với nhà phát hành, giá này phản ánh được
hiện trạng và triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai. Sau IPO, doanh
nghiệp tăng được năng lực tài chính, góp phần cải thiện vấn đề quản trị nội
bộ doanh nghiệp, cũng như không bị sức ép từ phía nhà đầu tư do sự kỳ
vọng quá thái, đôi khi vượt quá tiềm năng kinh doanh của doanh nghiệp. Đối
với nhà đầu tư, tiền bỏ ra mua cổ phiếu của doanh nghiệp, không chỉ phụ
thuộc vào bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc không nhỏ vào những
thông tin “đồn thổi”. Nhưng với chi phí bỏ ra ngày hôm nay, nhà đầu tư lại
kỳ vọng trong tương lai giá cổ phiếu sẽ tăng do doanh nghiệp làm ăn phát
đạt, thu nhập không chỉ có từ cổ tức, mà còn thu nhập từ giá trị gia tăng do
chính doanh nghiệp tạo ra.

     Có một số ý kiến cho rằng dấu hiệu rõ ràng nhất của IPO thành công là
giá cổ phiếu sẽ tăng ở giai đoạn sau IPO. Tuy nhiên, nếu xét tình hình khủng
hoảng như hiện nay thì hầu như giá của cổ phiếu nào cũng giảm giá không ít
thì nhiều. Như vậy quan điểm này xem ra không phù hợp với tình hình
khủng hoảng như hiện nay, do đó chúng ta sẽ tạm chấp nhận quan điểm IPO



                                                                         5
  được coi là thành công khi DN huy động được số vốn thông qua bán một
  lượng cổ phiếu với giá hợp lý.


  2/ Các nhân tố ảnh hƣởng đến kết quả IPO

  Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự thành bại của một đợt IPO như:

 Tiềm lực doanh nghiệp
 Lựa chọn nhà bảo lãnh
 Thông tin về doanh nghiệp đến nhà đầu tư
 Lựa chọn thời điểm IPO
 Giá khởi điểm
 Mục đích của các nhà đầu tư khi mua cổ phiếu
 Khối lượng phát hành
 Các nhân tố khác

a) Tiềm lực của doanh nghiệp

         Tiềm lực của doanh nghiệp là yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng
  trực tiếp đến sự thành bại của một đợt IPO. Đây cũng là điều kiện tiên quyết
  để doanh nghiệp được Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp phép IPO và là
  căn cứ để các nhà đầu tư đưa ra quyết định có nên mua cổ phiếu của doanh
  nghiệp hay không, mua ở mức giá nào và số lượng mua là bao nhiêu. Doanh
  nghiệp càng có tiềm lực mạnh, càng thu hút được sự quan tâm của nhà đầu
  tư và do đó xác suất IPO thành công cũng càng cao.

  Tiềm lực của doanh nghiệp (DN) đƣợc thể hiện thông qua:




                                                                           6
 Khả năng sinh lợi của DN và xu thế tăng trưởng trong tương lai: đầu tư có
  nghĩa là mua tương lai và là hoạt động có tính rủi ro. Chỉ có xu thế tăng
  trưởng của lợi nhuận mà DN tạo ra trong tương lai cao hơn mức lợi tức hiện
  tại mới hấp dẫn được nhà đầu tư. Nói cách khác, khi định giá trị tài sản DN
  để đầu tư, thực chất nhà đầu tư không mua tài sản đó mà muốn sở hữu dòng
  thu nhập do tài sản đó mang lại cho họ trong tương lai. Tuy nhiên, một trong
  những đặc tính khó đo lường và mô tả nhất của DN là khả năng sinh lợi. Tất
  nhiên, nhà đầu tư có thể đo lường khả năng sinh lợi dựa trên số liệu kế toán
  trong quá khứ và hiện tại, nhưng rất nhiều cơ hội kinh doanh đòi hỏi việc hy
  sinh lợi nhuận hiện tại để nhận được mức lợi nhuận lớn hơn rất nhiều trong
  tương lai. Do vậy, lợi nhuận hiện tại có thể là một sự phản ánh sai lệch của
  khả năng sinh lợi trong tương lai. Mặt khác, sẽ là sai lầm nếu kết luận hai
  DN có mức lợi nhuận hiện tại bằng nhau sẽ có khả năng sinh lợi như nhau,
  nếu hoạt động kinh doanh của một DN có mức rủi ro cao hơn.
 Tình hình tài chính: một DN có tình hình tài chính lành mạnh sẽ làm giảm
  rủi ro của đồng vốn đầu tư, hay nói cách khác, nhà đầu tư đánh giá cao các
  cơ hội đầu tư tương đối an toàn. Trái lại, những DN có tiềm lực tài chính
  yếu thường gắn với rủi ro cao, nhất là khi DN muốn mở rộng phát triển hoặc
  triển khai các dự án đầu tư. Nhà đầu tư trả giá thấp để bù đắp cho mức rủi ro
  mà họ có thể phải gánh chịu.
 Tài sản hữu hình và tài sản vô hình của DN: tài sản hữu hình của DN bao
  gồm nhà xưởng, máy móc, cơ sở hạ tầng… Như vậy, máy móc, trang thiết bị
  cũ hay mới, trình độ công nghệ hiện đại hay lạc hậu đều ảnh hưởng trực tiếp
  đến việc sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ hiện tại và tương lai, cũng như
  khả năng cạnh tranh sản phẩm của DN trên thị trường. Điều này sẽ quyết
  định thị phần của DN và trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng của nhà
  đầu tư. Song song với tài sản hữu hình là tài sản vô hình thì thương hiệu, bản
                                                                             7
   quyền, bí quyết kỹ thuật, uy tín... là những tài sản vô hình phổ biến của DN.
   Mặc dù tài sản vô hình không có hình thái vật chất cụ thể như các trang thiết
   bị máy móc nhà xưởng khác của DN, nhưng nó lại rất có giá trị và có thể trở
   thành yếu tố quan trọng trong sự thành công hay thất bại của DN. Nếu như
   trước đây, tài sản hữu hình thường được coi là thước đo giá trị và tính cạnh
   tranh của DN trên thị trường thì hiện nay, cách hiểu này đã thay đổi đáng kể
   và tài sản vô hình đang dần trở thành yếu tố quyết định giá trị của DN. Đó là
   chưa kể đến các doanh nghiệp trong lĩnh vực phần mềm như Microsoft thì
   tài sản chủ yếu của họ là tài sản vô hình.
 Yếu tố con người: mặc dù trong thời đại ngày nay công nghệ đã trở thành
  một trợ thủ đắc lực trong quản lý trên mọi phương diện. Tuy nhiên, công
  nghệ dù có hữu dụng đến mấy cũng không đem lại những biến đổi tích cực,
  nếu con người không sẵn sàng hoặc không có khả năng ứng dụng một cách
  hiệu quả. Con người chính là yếu tố quan trọng quyết định giá trị DN. Đặc
  biệt, các nhà quản trị DN trở thành một trong những yếu tố rất đáng quan
  tâm khi xem xét đầu tư vào một cổ phiếu của DN. Một ban lãnh đạo tài năng
  được xem như là xương sống của bất kỳ DN thành công nào. Lãnh đạo có tài
  có thể đưa DN vượt qua khó khăn, đạt được những thành tựu được xã hội
  ghi nhận và ngược lại. Sự ra đi của một nhà quản trị cấp cao cũng là một dấu
  hiệu cho các nhà đầu tư nghi ngờ về tình hình của công ty.

b) Lựa chọn nhà bảo lãnh phát hành
           Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành
   thực hiện các thủ tục trước và sau khi chào bán chứng khoán như định giá
   chứng khoán, chuẩn bị hồ sơ xin phép phát hành chứng khoán, phân phối
   chứng khoán và bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát
   hành.




                                                                             8
        Tính chuyên nghiệp và kinh nghiệm của các tổ chức bảo lãnh sẽ giúp
doanh nghiệp thực hiện các công việc như tư vấn tài chính, tư vấn lựa chọn
phương thức phát hành, chuẩn bị hồ sơ, đưa doanh nghiệp đến gần với nhà
đầu tư tiềm năng…. được diễn ra thuận lợi và đúng tiến độ. Tổ chức bảo
lãnh phát hành với uy tín và mạng lưới rộng lớn của mình sẽ giúp cho việc
phân phối chứng khoán của tổ chức phát hành diễn ra một cách suôn sẻ.
Tuy nhiên, cũng như bất kỳ một doanh nghiệp nào khác, mỗi tổ chức phát
hành cũng có cách thức làm việc, khả năng chuyên môn, uy tín… khác nhau.
Chính vì vậy, khi tiến hành phát hành chứng khoán ra công chúng thì việc
lựa chọn tổ chức bảo lãnh phát hành có ý nghĩa rất quan trọng đến sự thành
bại của đợt phát hành. Việc lựa chọn nhà bảo lãnh nào, có uy tín như thế nào
cũng tác động không nhỏ đến hình ảnh của tổ chức phát hành trong mắt nhà
đầu tư. Chính vì có vai trò to lớn như vậy mà mức phí DN phát hành phải trả
cho nhà bảo lãnh cũng khá cao, có khi lên đến 9% tổng số vốn huy động
được.

        Công ty Chứng Khoán Bảo Việt (BVSC), Công ty Cổ Phần Chứng
Khoán Sài Gòn (SSI), Công ty TNHH Chứng Khoán Ngân Hàng Ngoại
Thương Việt Nam (VCBS), Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán Ngân Hàng
Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam (BSC)…là những công ty có nghiệp vụ bảo
lãnh phát hành chứng khoán tương đối có tên tuổi, uy tín tại Việt Nam.

        Ngoài ra, kết quả IPO của một doanh nghiệp cũng tùy thuộc vào
phương thức bảo lãnh phát hành. Chẳng hạn như nếu bảo lãnh vời cam kết
chắc chắn thì nhà phát hành sẽ đảm bảo huy động đủ số vốn cần thiết bằng
việc bán toàn bộ cổ phiếu phát hành cho nhà bảo lãnh. Với phương thức bảo
lãnh này nhà phát hành sẽ chắc chắn huy động được số vốn cần thiết theo giá
thỏa thuận với tổ chức bảo lãnh. Rủi ro sẽ được chuyển từ nhà phát hành
                                                                         9
  sang nhà bảo lãnh. Do đó các tổ chức bảo lãnh chỉ đồng ý làm đại lý bảo
  lãnh cho những DN có uy tín lớn và thường thì mức phí bảo lãnh cũng khá
  cao. Còn nếu bảo lãnh với cố gắng cao nhất thì rủi ro vẫn nằm trong tay của
  các nhà phát hành. Cổ phiếu có được bán hết hay không, có cần tổ chức đấu
  giá lần 2 hay không, IPO thành công hay thất bại nhà phát hành đều không
  thể biết trước. ( Xin xem thêm phần phụ lục các phương thức bảo lãnh phát
  hành)

c) Thông tin về doanh nghiệp đến nhà đầu tƣ
           Đây cũng là một phần rất quan trọng trong quy trình IPO. Một
  doanh nghiệp cho dù có tiềm lực vững mạnh, có các cơ hội tăng trưởng tốt
  trong tương lai… nhưng nếu những thông tin này không đến được với các
  nhà đầu tư tiềm năng một cách đầy đủ, kịp thời thì cũng khó đảm bảo IPO
  được thành công. Ngược lại, nếu việc thông tin đến nhà đầu tư được thực
  hiện tốt thì sẽ góp phần nâng cao giá trị doanh nghiệp và nhà đầu tư sẽ trả
  giá cao hơn cho mỗi cổ phiếu của DN nếu cổ phiiếu của DN thực sự tốt.
          Để làm được điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chuẩn bị một bản
  cáo bạch thật chi tiết, đầy đủ về mọi mặt của tổ chức phát hành như mô hình
  tổ chức bộ máy, hoạt động kinh doanh, tài sản, tình hình tài chính, hội đồng
  quản trị, phưng án kinh doanh…. Đây là một tài liệu vô cùng quan trọng
  giúp nhà đầu tư có thể có được sự hiểu biết đầy đủ về DN, từ đó có đưa ra
  những quyết định đầu tư đúng đắn nhất. Tuy nhiên, có một đặc điểm chung
  của khối doanh nghiệp cổ phần hoá khi IPO là nhà đầu tư biết rất ít thông tin
  về các doanh nghiệp này vì nội dung các bản cáo bạch thông tin không đầy
  đủ rõ ràng. Nguyên nhân của việc này có thể do hoat động của DN có nhiều
  khuất tất, do đội ngũ lập báo cáo thiếu kinh nghiêm và cũng không loại trừ
  trường hợp DN cố ý che giấu thông tin do xung đột lợi ích bởi lẽ lãnh đạo,

                                                                           10
  cán bộ công nhân viên của DN được mua cổ phần ưu đãi giảm 40% so với
  giá đấu bình quân. Mọi thông tin tốt đẹp quá, phơi bầy quá chắc chắn sẽ đẩy
  giá cổ phiếu bình quân của họ lên cao. Đây cũng là một thực tế cần phải
  được điều chỉnh để trong thời gian tới IPO thành công hơn.
         Ngoài ra, khi doanh nghiệp đã được ủy ban chứng khoán nhà nước
  cho phép tiến hành IPO thì doanh nghiệp cũng cần phải tổ chức những buổi
  gặp mặt trực tiếp với những nhà đầu tư tiềm năng trước khi cổ phiếu được
  đấu giá(thường gọi là những buổi roadshow). Đây là cơ hội để nhà đầu tư
  xác minh lại những thông tin về doanh nghiệp trong bản cáo bạch đồng thời
  giải đáp những thắc mắc cũng như chất vấn ban điều hành doanh nghiệp.
  Mọi động thái của ban quản trị như cách nhìn nhận vấn đề, thái độ chắc
  chắn, quả quyết hay lung túng khi trả lời những câu hỏi về doanh thu, lợi
  nhuận, phân tích cơ hội phát triển…..đều được các nhà đầu tư cân nhắc, xem
  xét rất kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định đầu tư. Thông qua buổi gặp gỡ
  trực tiếp này, doanh nghiệp cũng thăm dò được nhu cầu số lượng cổ phiếu
  mà nhà đầu tư muốn mua, biết được mức giá khởi điểm mà doanh nghiệp
  đưa ra đã phù hợp chưa, nhà đầu tư sẵn sàng mua cổ phiếu ở mức giá nào….
  Từ đó doanh nghiệp sẽ có chiến lược phản ứng kịp thời.


d) Lựa chọn thời điểm IPO
       Việc lựa chọn thời điểm IPO gắn liền với tình hình của thị trường
  chứng khoán. Thực trạng thị trường chứng khoán và diễn biến của thị
  trường niêm yết có ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp, đến giá khởi điểm
  cũng như mức giá mà nhà đầu tư sẵn sàng trả cho một cổ phiếu IPO.
        Để làm rõ vấn đề này, ta hãy so sánh IPO của Vietcombank và
  Vietinbank. Vietcombank và Vietinbank đều xuất thân là những ngân hàng
  quốc doanh hàng đầu ở nước ta tuy nhiên kết quả IPO của hai ngân hang này
                                                                         11
lại khá chênh lệch. Vietcombank IPO vào tháng 12/2007 với số lượng 97,5
triệu cổ phần, mức giá trúng thầu bình quân là 107.860 đ/cp. Trong khi đó
Vietinbank phát hành số lượng cổ phần ít hơn (53,6 triệu cổ phần) nhưng
mức giá trúng thầu bình quân của Vietinbank chỉ là 20.265 đ/cp. Nguyên
nhân của sự chênh lệch khá lớn này không phải vì Vietinbank thua kém
Vietcombank về quy mô, uy tín hay kinh nghiệm mà chủ yếu là do thời điểm
IPO cùa 2 ngân hàng này khác nhau. Vietinbank IPO vào 12/2007, lúc này
thị trường chứng khoán có dấu hiệu đi xuống nhưng vẫn đang còn ở mức
cao (chỉ số VN-Index vào khoảng 920 điểm). Còn Vietinbank IPO vào
12/2008, lúc này thị trường chứng khoán đã sụt giảm nghiêm trọng (chỉ số
VN-Index thời gian này chỉ khoảng 300 điểm).
     Rõ ràng là tình hình hình thị trường có tác động rất lớn đến kết quả
IPO. Không phải ngẫu nhiên mà vào năm 2007 đa số các công ty IPO đều
thu được kết quả khả quan thì bước sang năm 2008, đặc biệt là vào thời
điểm cuối năm, thị trường IPO hết sức ảm đạm. Những khó khăn của nền
kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng khiến cho giới đầu tư
không còn mặn mà với các đợt chào bán công khai. Không chỉ riêng thị
trường chứng khoán Việt Nam xuống dốc mà thị trường chứng khoán thế
giới cũng suy giảm khiến các đợt IPO phải hoãn hàng loạt trên toàn cầu.
Riêng trong tháng 1/2008, số lượng các công ty phải hoãn IPO lên tới 24,
con số lớn nhất trong vòng 1 thập kỷ qua, trong số đó có các tên tuổi khá nổi
tiếng như: hãng thời trang Tommy Hilfiger Corp của Anh, tập đoàn năng
lượng Dong Energy A/S của Đan Mạch, chuỗi bán lẻ thời trang Mooye
International Holding Ltd của Trung Quốc, v.v...
     Tại thị trường Việt Nam công ty Hà Long Long An, chỉ có đúng một
nhà đầu tư duy nhất tham gia đấu giá. Nhà máy sản xuất lắp ráp và đóng mới
ôtô bus (Trabus) đấu giá công khai ngày 14/7/2008 tại Sở giao dịch Chứng
                                                                         12
khoán TP Hồ Chí Minh chỉ thu hút được 7 nhà đầu tư, khối lượng đặt mua
chỉ bằng 1,7% khối lượng đem ra chào bán trong khi nhà máy này chỉ tiến
hành IPO một khối lượng vốn rất nhỏ tương đương 0,5% vốn điều lệ. Công
ty nông sản xuất khẩu Cần Thơ với hơn 10,4 triệu cổ phần được mang ra đấu
giá nhưng chỉ có 33 nhà đầu tư đăng ký mua chưa đầy 1% số cổ phần này
(tương đương 99.400 cổ phần)….
Ngoài ra, một điểm cần lưu ý nữa khi DN tiến hành IPO là phải còn tùy vào
nhu cầu của nhà đầu tư. Ở mỗi thời gian khác nhau nhà đầu tư sẽ chuộng
loại cổ phiếu khác nhau chẳng hạn như vào khoảng quý I năm 2008 cổ phiếu
ngành tài chính-ngân hàng rất được nhà đầu tư quan tâm nhưng thời gian
gần đây, khi thị trường bất động sản có dấu hiệu hồi phục thì cổ phiếu bất
động sản lại giành được ưu tiên của nhà đầu tư. Như vậy, cho dù DN IPO
trong thời kỳ chứng khoán đang lên nhưng nếu không nắm bắt được xu
hướng của thị trường thì IPO cũng khó đạt kết quả như mong đợi.

e) Giá khởi điểm

      Yếu tố quan trọng đối với một đợt IPO đó là giá khởi điểm. Giá khởi
điểm thấp sẽ tăng khả năng đăng ký và làm giảm rủi ro cho những nhà bảo
lãnh phát hành. Tuy nhiên, giá khởi điểm thấp cũng có thể sẽ không phản
ánh được sự quan tâm thực sự của NĐT khi đăng ký và dẫn tới nhiều khả
năng các NĐT sẵn sàng bỏ cọc nếu giá trúng thầu của họ cao so với giá bình
quân. Trong trường hợp giá khởi điểm cao, thường hàm ý rằng công ty được
đánh giá cao. Song mức giá này cũng không thể quá cao vì có thể làm cho
việc phát hành trở nên kém hấp dẫn.

      Trước đây, sau khi thị trường tăng nóng các doanh nghiệp IPO hầu hết
đều thành công với các mức giá khởi điểm rất cao. Tuy nhiên hiện nay, IPO

                                                                      13
khó hấp dẫn nhà đầu tư khi thị trường đi xuống và để có thể IPO thành công
thì một trong các yếu tố là phải có mức giá khởi điểm hợp lý để hấp dẫn nhà
đầu tư.

      Cơ sở để đưa ra mức giá khởi điểm là dựa vào định giá trị cổ phần
(tức là bằng giá trị DN chia cho tổng số cổ phần). Giá trị DN là giá trị thực
tế theo thị trường, có nghĩa là phải định được giá của cả các yếu tố vô hình
như uy tín, vị thế, lợi thế… của doanh nghiệp. Xác định giá trị doanh nghiệp
là khả năng tổng hợp, đánh giá, phân tích và khớp lại các dữ liệu quá quá
khứ và triển vọng phát triển trong tương lai của DN. Bằng việc xác định các
điểm mạnh, điểm yếu và các giá trị cốt lõi của công ty, “Xác định giá trị
Doanh nghiệp” trở thành một công cụ hữu hiệu giúp công ty hiện thực hoá
được cơ hội và gia tăng giá trị cho các cổ đông hoặc nhà đầu tư tương
lai.Trong các trường hợp cần thiết, sẽ vạch ra các kế hoạch và các kiến nghị
chuẩn bị cho các hoạt động tiền và hậu IPO. Ngoài ra nó cũng là cơ sở để
viết một bản báo cáo bạch cho các nhà đầu tư.

      Định giá chứng khoán là khâu khó khăn nhất và phức tạp nhất khi
tiến hành phát hành chứng khoán ra công chúng. Nếu định giá chứng khoán
quá cao thì sẽ khó khăn trong việc bán chứng khoán, còn nếu định giá chứng
khoán quá thấp thì sẽ làm thiệt hại cho tổ chức phát hành. Vì thế, việc định
giá chứng khoán một cách hợp lý sao cho người mua và người bán đều chấp
nhận được là hết sức quan trọng.

Ví dụ như, Sabeco có vốn điều lệ 6.412,8 tỷ đồng. Khối lượng bán qua đấu
giá 128.257.000 cổ phần, tương đương 20% vốn. Giá khởi điểm 70.000đ/cổ
phần, số lượng đăng ký mua tối thiểu 100 cổ phần, số lượng đăng ký mua tối
đa (không phân biệt tổ chức hay cá nhân): 500.000 cổ phần.

                                                                         14
    Phân tích của các Cty chứng khoán, giá khởi điểm 70.000đ/CP của
Sabeco là quá cao, không hấp dẫn các nhà đầu tư. Do đó số lượng đăng ký
mua chưa đến 2/3 số lượng chào bán.

      Theo CTCK Gia Quyền thì chỉ số lợi nhuận của Sabeco có xu hướng
giảm qua các năm 2005, 2006, 2007 và luôn luôn thấp hơn mức trung bình
trong ngành. Nếu tính giá CP theo phương pháp so sánh P/E , với mức giá
70.000đ/CP, thì P/E của Sabeco năm 2008 sẽ là 54, trong khi chỉ số P/E
trung bình của các Cty bia hàng đầu khu vực chỉ có 30. Nếu tính theo
phương pháp chiết khấu dòng tiền thì ước tính giá trị một CP của Sabeco
trong trường hợp chính yếu ở mức 36.491đ/CP, có thể dao động trong
khoảng 29.385đ/CP đến 43.244đ/CP, tuỳ theo quan điểm khác nhau về chi
phí sử dụng vốn bình quân và tốc độ tăng trưởng tương lai. Vậy với mức giá
khởi điểm là 70.000đ/CP được định giá rất cao.

       Tuy nhiên việc đưa ra mức giá khởi điểm của các doanh nghiệp
không dựa hoàn toàn vào kết quả định giá giá trị doanh nghiệp. Ví dụ như:
việc Vietcombank - 1 trong 5 NHTM quốc doanh lớn nhất định giá CP IPO
được coi là "đắt". Theo nhiều chuyên gia đó là họ đã "kỳ vọng" quá cao vào
"thương hiệu" của mình. Trong khi đó, so với NH Công Thương, hay ngân
hàng Đầu tư và Phát triển thì quỹ đất "mặt tiền" đẹp của Vietcombank ở các
địa phương trên cả nước đều không bằng. Cũng có trường hợp giá khởi điểm
đưa ra thấp hơn cả giá trị sổ sách nhằm thu hút các nhà đầu tư. Theo họ, một
giá cung ứng thấp cho lần cung ứng đầu tiên làm tăng giá cổ phần khi được
giao dich sau đó trên thị trường và nâng cao khả năng huy động thêm vốn
của công ty sau này.

f) Mục đích của các nhà đầu tƣ khi mua cổ phiếu

                                                                        15
           Thông thường khi mua cổ phiếu của một doanh nghiệp IPO nhà đầu
   tư thường có hai mục đích chính: đầu tư lâu dài vào công ty hoặc tìm kiếm
   lợi nhuận từ chênh lệch giá sau IPO.

            Về lý thuyết và thực tiễn hoạt động của kinh tế thị trường, người
   tham gia thị trường IPO nên là những NĐT dài hạn với kỳ vọng DN đó sẽ
   phát triển trong tương lai, khi đó giá trị NĐT sẽ được tối đa hoá nhờ tính
   thanh khoản của công ty và giá trị của công ty gia tăng. Nhưng thực tế tại thị
   trường IPO ở nước ta cho thấy một phần lớn các NĐT khi tham gia IPO đều
   suy nghĩ kiếm lợi đơn giản bằng cách đoán giá và đợi kết quả. Nguy hiểm
   hơn còn có những người đầu cơ sử dụng thủ thuật để thổi giá lên cao nhằm
   hưởng chênh lệch. Trong “ trò chơi” này cách thức của các nhà đầu cơ là dự
   kiến giá đặt mua thấp nhất là bao nhiêu đồng/cổ phần thì sẽ trúng đấu giá và
   đặt mua với số lượng lớn cổ phần ở mức giá này, đồng thời thuê một số
   người hoặc tự mình đến tham dự đấu giá và đặt giá mua cổ phần với giá rất
   cao, gấp hàng ngàn lần giá khởi điểm (sẵn sàng bỏ tiền đã đặt cọc với những
   mức giá đặt mua cao “ngất trời”) với mục đích để giá trúng đấu giá thành
   công bình quân sẽ ở mức cao hơn nhiều so với giá đấu giá thành công thấp
   nhất như :
 Cổ phiếu của thủy điện Thác Mơ được mua cao nhất với giá 56 triệu/cổ phiếu,
   trong khi giá khởi điểm chỉ có 20.000 đồng/cổ phiếu, đã đẩy mức giá bình
   quân lên là 67.929 đồng/cổ phiếu. Cổ phiếu của nhiệt điện Bà Rịa cũng có
   giá 40 triệu/cổ phiếu và giá bình quân lên đến 78.528 đồng/cổ phiếu trong
   khi giá khởi điểm chỉ có 15.750 đồng/cổ phiếu.
 Ngoài ra cũng còn có khá nhiều cổ phiếu khác có mức giá cao nhất ở mức
   không tưởng như: cổ phiếu khu công nghiệp Hiệp Phước là 20,1 triệu đồng,
   cổ phiếu KIDO là 80 triệu đồng…Thực tế là không một ai thực hiện những
   mức giá trên cả.
   Ví dụ: Công ty ABC IPO 5.000.000 cổ phiếu với mức giá khởi điểm là
   20.000đ/cp.



                                                                             16
Giả sử khi không có nỗ lực thổi giá của các nhà đầu cơ thì giá trúng thầu và
số lượng tương ứng như sau:
NĐT:                     Giá mua: đ/cp                 Số lượng: cổ phiếu
A                        27.000                        500.000
B                        26.000                        500.000
C                        25.000                        50.000
D                        24.500                        450.000
E                        21.500                        1.500.000
F                        21.000                        2.000.000

Mức giá trúng thầu bình quân:

(27.000x500.000 +26.000x500.000 +…+21.000x2.000.000) /5.000.000
=22.605đ/cp
Bây giờ, giả sử nhà đầu tư F là nhà đầu cơ. Lúc này F sẽ đặt mua thêm một
lệnh khác.
NĐT:                     Giá mua:                      Số lượng:
F                        40.000.000                    10.000
A                        27.000                        500.000
B                        26.000                        500.000
C                        25.000                        50.000
D                        24.500                        450.000
E                        21.500                        1.500.000
F                        21.000                        1.990.000
Mức giá trúng thầu bình quân bây giờ sẽ là:
(40.000.000x10.000 +27.000x500.000 +…+ 21.000x1.990.000) /5.000.000
=102.563 đ/cp


                                                                        17
         Như vậy, chỉ cần một thủ thuật nhỏ nhà đầu cơ đã có thể đẩy giá
trúng thầu bình quân lên rất cao. Ở nước ngoài những lệnh như thế này sẽ
được đánh giá là những lệnh không có thiện chí mua và tự động bị gạt ra.
Tuy nhiên ở Việt Nam thì vẫn chấp nhận những lệnh như vậy. Khi thực hiện
trò chơi này nhà đầu cơ chỉ cần chờ vài tháng sau, khi cổ phần vừa được đấu
giá lên niêm yết và giao dịch tại trung tâm giao dịch chứng khoán, trong
phiên giao dịch đầu tiên, giá khớp lệnh theo cung cầu sẽ xấp xỉ giá đấu giá
thành công bình quân, nhà đầu cơ cổ phần sẽ bán cổ phần ra và thu được
khoản chênh lệch giá rất lớn giữa giá bán đấu giá thành công thấp nhất với
giá khớp lệnh phiên đầu tiên…Hoặc đơn giản hơn, mức giá cao không
tưởng đã đẩy giá bình quân cao hơn mức giá mà những nhà đầu cơ này thực
hiện. Sau đó họ chỉ đơn giản mua lại cổ phiếu này với mức giá thực hiện và
sang tay lại với mức giá bằng hoặc cao hơn mức trung bình để hưởng chênh
lệch, thậm chí là siêu lợi nhuận. Tất nhiên, nhà đầu cơ này sẽ không thực
hiện lệnh mua ở mức giá 40.000.000đ/cp mà chấp nhận mất tiền cọc – chỉ là
10% của giá khởi điểm nhân với mệnh giá. Ở ví dụ trên, số tiền cọc mà nhà
đầu bị mất là 10%(20.000x10.000) = 20.000.000 đồng.
        Với mức giá cao như thế này chắc hẳn không thể làm hài lòng
những nhà đầu tư chân chính. Trong trò chơi này cho dù nhà đầu tư có định
đựơc mức giá hợp lý cũng không thể mua đựơc cổ phiếu và nhà phát hành
cũng phải chịu thiệt hại đối với những cổ phiếu bị bỏ cọc. Hơn nữa, người
lao động nghèo cũng khó thoát khỏi trò chơi này khi mức giá ưu đãi bán cho
cán bộ công nhân viên của công ty cũng chịu ảnh hưởng, vì rằng mức giá mà
họ mua căn cứ trên mức giá bình quân của phiên đấu giá (chỉ được giảm
40%). Còn đối với các cổ đông chiến lược ắt hẳn với mức giá này họ sẽ khó
thực hiện được vì phải mua với giá tối thiểu thấp hơn 20% giá trung bình
của phiên đấu giá.
        Một thực trạng nữa là tình trạng bỏ cọc không mua vào cổ phiếu khi
giá cổ phiếu xuống thấp. Nhà đầu tư thà chấp nhận mất 10% tiền cọc còn
hơn phải mua cổ phiếu với giá cao vì thường thì thời gian trả tiền nhận cổ
phiếu diễn ra sau khi đấu giá một thời gian. Những phiên đấu giá trong thời

                                                                       18
điểm thị trường lên giá đều là những cuộc có mức đấu trung bình vượt xa giá
khởi điểm gấp 2- 3 lần. Phiên đấu giá Công ty Dây và Cáp điện VN (Cadivi)
ngày 30-1-2007 diễn ra trong tình trạng nghẹt thở với số cổ phần đặt mua tới
67 triệu (gấp 20 lần số bán ra). Giá khởi điểm là 40.000 đồng/cổ phiếu, giá
trúng thầu bình quân là 185.369 đồng/cổ phiếu. Đến nay, khi thị trường nằm
trong xu thế xuống giá thì chỉ có 400.000 cổ phiếu được nhà đầu tư nộp tiền
mua (trong tổng số 3,4 triệu cổ phiếu), số còn lại các nhà đầu tư “bỏ của
chạy lấy người” vì đã trót lỡ bỏ giá quá cao, khiến Nhà nước được hưởng
không 12 tỉ đồng tiền bỏ cọc và Trung tâm Giao dịch Chứng khoán phải tổ
chức đấu giá lại bán cổ phần lần hai với giá khởi điểm 40.000 đồng/cổ
phiếu. Nguyên nhân sâu xa của các trò chơi này có lẽ chính là do việc đặt
cọc hiện nay quá thấp, chỉ có 10% trên mức giá khởi điểm.

g) Khối lƣợng phát hành

       Khối lượng phát hành (nhiều hay ít) cũng ảnh hưởng đến giá trúng
thầu. Điều này cho thấy dường như quy luật cung-cầu chi phối giá cả và xu
thế thị trường. Số lượng cổ phiếu phát hành và giá trúng thầu có quan hệ tỷ
lệ nghịch với nhau. Tỷ trọng giữa số lượng đăng ký trên số lượng chào bán
và tỷ lệ NĐT tổ chức trong tổng số NĐT có mức độ ảnh hưởng đến giá trúng
thầu với mức độ tin cậy lên đến 99%.

h) Các nhân tố khác

    Yếu tố pháp luật
    Lựa chọn địa điểm phát hành




                                                                        19
PHỤ LỤC 1: CÁC PHƢƠNG THỨC BẢO LÃNH PHÁT HÀNH

Việc bảo lãnh phát hành được thực hiện theo một trong các phương thức
sau:
- Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ
chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ chứng khoán phát hành cho dù có
phân phối hết hay không.

- Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ
chức bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh
phát hành không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố
gắng hết mức để bán chứng khoán ra thị trường nhưng phần không phân
phối hết sẽ được trả lại cho tổ chức phát hành.

- Bảo lãnh theo phƣơng thức bán tất cả hoặc không bán gì: là phương
thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức phát hành chỉ thị cho tổ chức bảo lãnh phát
hành nếu không bán hết số chứng khoán thì huỷ bỏ toàn bộ đợt phát hành.
Như vậy, phương thức bảo lãnh phát hành này hoàn toàn khác với phương
thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất. Ở phương pháp bảo lãnh phát hành
trước, có thể chỉ có một phần chứng khoán được bán, còn ở phương thức bảo
lãnh phát hành này thì hoặc là tất cả chứng khoán được bán hết hoặc là huỷ
bỏ toàn bộ đợt phát hành và tiền đã bán chứng khoán được hoàn trả lại cho
người mua.

- Bảo lãnh theo phƣơng thức tối thiểu - tối đa: là phương thức bảo lãnh
trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức
bảo lãnh bán tất cả hoặc không bán gì. Theo phương thức này, tổ chức phát

                                                                         20
  hành chỉ thị cho tổ chức bảo lãnh phát hành phải bán tối thiểu một tỷ lệ nhất
  định chứng khoán phát hành. Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ
  thấp hơn tỷ lệ yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ.

  Ở Việt Nam, theo qui định tại Thông tư 01/1998/TT-UBCK ngày
  13/10/1998 của UBCK Nhà nước hướng dẫn Nghị định 48/1998/NĐ-CP
  ngày 11/7/1998 về phát hành cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng thì bảo lãnh
  phát hành được thực hiện theo một trong hai phương thức sau:

 Mua toàn bộ số lượng cổ phiếu hoặc trái phiếu được phép phát hành để bán
  lại. Đây chính là phương thức cam kết chắc chắn vì tổ chức bảo lãnh phát
  hành cam kết mua toàn bộ lượng cổ phiếu hoặc trái phiếu của đợt phát hành.
 Mua số cổ phiếu hoặc trái phiếu còn lại của đợt phát hành chưa được phân
  phối hết (Nếu sổ cổ phần nhà đầu tư từ chối mua nhỏ hơn 30% tổng số cổ
  phần chào bán). Đây thực chất cũng là một dạng của phương thức cam kết
  chắc chắn, nhưng tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết mua phần chứng
  khoán còn lại của đợt phát hành chưa được phân phối hết.




                                                                            21
PHỤ LỤC 2: PHÂN LOẠI IPO
Căn cứ vào cách thức xác định giá, có 2 loại IPO:
   a) Phát hành công khai với giá định trước
Giá cổ phiếu được xác định trước, các nhà đầu tư chỉ đăng kí số lượng cổ
phần muốn mua và sẽ mua với mức giá này.
Việc phát hành sẽ được giới hạn trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu
nhà đầu tư mua hết số cổ phiếu được chào bán trong khoảng thời gian cho
phép thì đợt phát hành thành công. Nếu thời hạn đã hết mà cổ phiếu vẫn
chưa được bán hết thì phải giảm giá bán. Nếu sau một khoảng thời gian xác
định vẫn không bán hết thì công ty phải đăng kí lại với số vốn thấp hơn số
vốn đăng kí.
Thông tin về tình hình hoạt động trong quá khứ, kế hoạch sử dụng vốn trong
tương lai, các rủi ro có thể xảy ra… của công ty được công bố rộng rãi. Nhà
đầu tư sẽ xem xét mức giá chào bán có phù hợp hay không và ra quyết định
đầu tư.
Ưu điểm của phương thức phát hành này là công ty phát hành chủ động,
biết trước được chính xác số tiền thu. Do đó, đối với một nhu cầu vốn xác
định trước, chẳng hạn để mua một tài sản nào đó, công ty phát hành có thể
sử dụng phương thức này. Nhược điểm của phương thức này là không huy
động được số vốn cao nhất.
   b) Phát hành qua phương thức đấu giá để xác định giá
Khác với chào bán với giá định trước, cơ chế đấu giá để xác định giá bán sẽ
được sử dụng trong phương thức này. Thông tin về doanh nghiệp sẽ công bố
công khai và nhà đầu tư phải xác định mức giá mà họ cho là hợp lý nhất và
có thể đem về lợi nhuận cho họ. Mỗi nhà đầu tư sẽ có những quan điểm
cũng như những thông tin khác nhau, và do đó, sẽ đăng ký mua với những
mức giá khác nhau và khối lượng khác nhau. Mức giá thực tế mà các nhà
đầu tư được mua có thể là giá thống nhất (đấu giá theo kiểu Hà Lan) hoặc
theo đúng giá đã đặt mua (đấu giá theo kiểu Anh).


                                                                        22
Ưu điểm của phương thức đấu giá là có thể huy động được số vốn tối đa
đồng thời có thể đánh giá chính xác về giá trị cổ phiếu. Phát hành theo
phương thức này phù hợp với các công ty cần nhiều vốn hoặc cần xác định
chính xác giá trị doanh nghiệp. Các công ty cổ phần hoá ở Việt Nam thường
sử dụng phương thức đấu giá này để thu hút được nhiều vốn.
Nhược điểm của phương thức đấu giá là nhà đầu tư khó xác định mức giá
phù hợp. Đồng thời, đối với những đợt phát hành nhỏ, các nhóm nhà đầu tư
lũng đoạn giá có cơ hội “làm giá” theo mức có lợi cho họ, khi đó, không xác
định được giá trị thực của cổ phiếu.
Các phương thức đấu giá áp dụng trong phát hành cổ phiếu: có 2 phương
thức đấu giá thường dùng phổ biến.
              Phƣơng thức đấu giá theo kiểu Anh (phƣơng thức đa giá)
Tổ chức phát hành sẽ thông báo khối lượng chứng khoán chào bán (có
thể đưa ra giá tối thiểu hoặc không đưa ra giá tối thiểu). Người mua sẽ
đưa ra các mức giá và khối lượng mà họ muốn mua trong các phiếu đặt giá.
Dựa trên những phiếu đặt giá này, người bán sẽ sắp xếp theo thứ tự từ giá
cao nhất đến giá thấp nhất tương ứng với khối lượng chứng khoán đặt mua
tại từng mức giá.
Theo phương thức này, sẽ có nhiều mức giá trúng thầu bắt đầu từ người trả
giá cao nhất, sau đó đến người trả giá thấp hơn cho tới khi hết khối lượng
chứng khoán chào bán. Đặc điểm của phương thức này là tổ chức đấu giá
kín, những người mua sẽ không biết được mức giá người khác đặt mua và
người trúng thầu sẽ thanh toán ở nhiều mức giá khác nhau. Phương thức này
được xem là không có lợi cho người mua nhưng có lợi cho người bán.
Tại Việt Nam hiện nay, IPO được đấu giá theo kiểu Anh còn đấu giá thứ cấp
được thực hiện theo phương thức đấu giá kiểu Hà Lan.
              Phƣơng thức đấu giá kiểu Hà Lan (xem thêm phần phụ
               lục)
Các mức giá đặt mua sẽ được sắp xếp theo thứ tự từ giá cao đến giá thấp
nhất tương ứng với khối lượng đặt mua. Giá trúng thầu là giá thống nhất
                                                                         23
được xác định tại mức giá mà khối lượng chứng khoán được chào bán hết.
Như vậy, tất cả những người trúng thầu sẽ thanh toán tại cùng một mức giá
và mức giá này thường tiến gần đến giá thống nhất trên thị trường. Đặc điểm
của phương thức đấu giá này cũng là tổ chức đấu giá kín, những người mua
sẽ không biết được mức giá người khác đặt mua và giá thanh toán là giá
thống nhất. Đấu giá theo phương pháp này sẽ làm giảm bớt doanh thu phụ
trội của người bán.
Phương pháp phát hành bằng cách đấu giá sẽ đem lại cho tổ chức phát hành
nhiều thuận lợi trong quá trình chào bán vì giá chứng khoán sẽ được xác
định một cách công khai.
Hiện nay, kết luận sử dụng phương thức đấu giá nào ưu việt hơn đối với
thực tiễn thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn nhiều bàn cãi. Trong khi
đó, trên thế giới, đấu giá kiểu Hà Lan là phương thức được sử dụng rộng rãi
hơn trong giới đầu tư tài chính. Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện
nay đang áp dụng hình thức đấu giá cố định giá sàn có yêu cầu đặt cược
10% đối với nhà đầu tư.




                                                                        24
PHỤ LỤC 3: CÁC BƢỚC THỰC HIỆN ĐẤU GIÁ
Bƣớc 1 - Chuẩn bị đấu giá
Cơ quan quyết định cổ phần hóa/Ban chỉ đạo cổ phần hóa xác định giá khởi
điểm của cổ phần đấu giá.
Công bố thông tin về doanh nghiệp chuẩn bị tổ chức đấu giá tối thiểu 20
ngày trước ngày tổ chức đấu giá.
Phối hợp với cơ quan tổ chức đấu giá thuyết trình về doanh nghiệp cho nhà
đầu tư nếu cần.
Bƣớc 2 - Thực hiện đấu giá
Cơ quan tổ chức đấu giá tiến hành nhận đơn đăng ký mua và tiền đặt cọc của
nhà đầu tư theo quy chế đấu giá.
Nhà đầu tư bỏ phiếu tham dự đấu giá bằng các hình thức: Bỏ phiếu trực tiếp
tại doanh nghiệp (nếu tổ chức đấu giá tại doanh nghiệp); Bỏ phiếu trực tiếp
tại tổ chức tài chính trung gian (nếu tổ chức đấu giá tại tổ chức tài chính
trung gian); Bỏ phiếu trực tiếp tại Trung tâm giao dịch chứng khoán/Sở giao
dịch chứng khoán và các đại lý được chỉ định; Bỏ phiếu qua đường bưu điện
do cơ quan tổ chức đấu giá quy định.
Bƣớc 3 - Tổ chức đấu giá và xác định kết quả đấu giá
Cơ quan tổ chức đấu giá tiến hành các thủ tục bóc phiếu tham dự đấu giá và
nhập các thông tin vào phần mềm đấu giá.
Xác định kết quả đấu giá theo nguyên tắc lựa chọn giá đặt mua từ cao xuống
thấp đến khi đủ số lượng cổ phần chào bán. Tại mức giá trúng thầu thấp
nhất, với trường hợp các nhà đầu tư cùng đặt mức giá bằng nhau, nhưng
tổng số cổ phần còn lại ít hơn tổng số cổ phần đăng ký mua thì số cổ phần
của từng nhà đầu tư được mua xác định như sau:
Số cổ phần nhà đầu tư được mua = Số cổ phần còn lại x (Số cổ phần từng
nhà đầu tư đăng ký mua/Tổng số cổ phần các nhà đầu tư đăng ký mua)


                                                                        25
Lập các biên bản liên quan đến buổi đấu giá gửi cho cơ quan quyết định cổ
phần hóa, Ban chỉ đạo cổ phần hóa, doanh nghiệp và cơ quan tổ chức đấu
giá
Công bố kết quả đấu giá cổ phần và thu tiền mua cổ phần.
Bƣớc 4 - Xử lý các trƣờng hợp vi phạm quy chế đấu giá
Việc xử lý các trường hợp vi phạm được thực hiện theo quy định của quy
chế đấu giá.
Nhà đầu tư không được nhận tiền đặt cọc nếu vi phạm quy chế đấu giá.
Bƣớc 5: Xử lý đối với số cổ phần không bán hết trong đấu giá nếu có
Nếu sổ cổ phần nhà đầu tư từ chối mua nhỏ hơn 30% tổng số cổ phần chào
bán thì Ban chỉ đạo cổ phần hóa thực hiện bán tiếp cho các nhà đầu tư đã
tham dự đấu giá theo phương thức thỏa thuận với giá không thấp hơn giá
đấu thành công bình quân của cuộc đấu giá.
Nếu số lượng cổ phần nhà đầu tư trúng thầu từ chối mua từ 30% tổng số cổ
phần chào bán trở lên thì Ban chỉ đạo cổ phần hóa xem xét, quyết định tổ
chức bán đấu giá tiếp số cổ phần từ chối mua (đấu giá lần 2). Giá khởi điểm
trong trường hợp đấu giá lần 2 này không được thấp hơn giá đấu thành công
thấp nhất.




                                                                        26
PHỤ LỤC 4: QUY TRÌNH IPO
Bước 1: Lựa chọn nhà bảo lãnh phát hành
 Khi quyết định thực hiện IPO, công ty phát hành phải lựa chọn nhà bao tiêu
(còn gọi là nhà bảo lãnh). Nhà bảo lãnh thường là một ngân hàng hay một
công ty chứng khoán được thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh. Đợt phát hành nhỏ
chỉ cần một nhà bảo lãnh chính, nhưng nếu đợt phát hành lớn thì phải cần
đến một vài nhà bảo lãnh chính để đảm bảo uy tín và sự thành công cho đợt
phát hành (các nhà bảo lãnh sẽ thành lập một tổ hợp bảo lãnh).
Công ty phát hành và nhà bảo lãnh phát hành thoả thuận với nhau một mức
giá nhất định cho một lượng cổ phiếu xác định, sau đó nhà bảo lãnh phải bán
lại số cổ phiếu đó cho người mua. Chênh lệch giữa giá thoả thuận của nhà
bảo lãnh với công ty phát hành và giá mà nhà bảo lãnh bán cho người mua
được xem như một khoản phí bảo lãnh phát hành.
Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ xin phép phát hành :
Sau khi chấp nhận làm bảo lãnh phát hành, tổ chức bảo lãnh sẽ liên hệ với
các công ty luật và kiểm toán để chuẩn bị hồ sơ đăng ký phát hành. Công
việc quan trọng nhất mà nhà bảo lãnh phải làm là chuẩn bị bản cáo bạch,
được xem như là một quyển sách giới thiệu về công ty phát hành bao gồm
tất cả các thông tin tài chính về công ty phát hành trong vòng 5 năm trở lại
đây, thông tin về ban giám đốc và một bản miêu tả thị trường mục tiêu, đối
thủ cạnh tranh, chiến lược phát triển của công ty. Bản cáo bạch cũng cảnh
báo các nhà đầu tư về mối nguy hiểm của việc mua cổ phiếu này.
Công ty phát hành và nhóm bảo lãnh phát hành cùng nhau xác định mức giá
cho đợt phát hành mới. Mức giá ước lượng này sẽ được ghi vào bản cáo
bạch và mức giá này có thể gần hoặc khác xa với mức giá phát hành cuối
cùng.
Bước 3 : Nộp hồ sơ xin phép phát hành:
Sau khi kết thúc giai đoạn phân tích đánh giá, nhà bảo lãnh sẽ hoàn tất hồ sơ
và nộp lên Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước chờ xét duyệt. Nếu có sai sót


                                                                          27
thì công ty phát hành và nhà bảo lãnh phát hành phải sửa chữa, bổ sung kịp
thời bằng các hồ sơ bổ sung.
Bước 4: Màn vận động (road show:)
Đây là bước quan trọng góp phần thành công trong đợt phát hành cổ phiếu
lần đầu ra công chúng. Vì là các công ty lần đầu phát hành ra công chúng
nên các thông tin liên quan đến công ty hầu như không được nhiều người
biết đến. Do đó, cần phải có một buổi gặp gỡ giữa công ty phát hành, các
nhà bảo lãnh phát hành và các nhà đầu tư tiềm năng để thuyết trình giới
thiệu về công ty cũng như những kế hoạch kinh doanh của công ty.Thông tin
mà ban lãnh đạo sử dụng để thăm dò thị trường là những thông tin đã trình
bày trong bản cáo bạch.
Trong buổi vận động, các nhà đầu tư sẽ phát biểu những phản ứng của họ
đối với phát hành. Qua thăm dò, công ty phát hành và nhà bảo lãnh sẽ lựa
chọn một mức giá chào bán cuối cùng và quyết định kích cỡ của đợt phát
hành, các nhà bảo lãnh sẽ cố đưa ra một mức giá phù hợp căn cứ trên nhu
cầu dự tính của đợt phát hành và tình hình thị trường.
Bước 5 : Công bố phát hành và phân phối cổ phiếu:
Sau khi được Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước thông qua và cấp giấy phép
phát hành, công ty phát hành phải ra thông báo phát hành trên các phương
tiện thông tin đại chúng, đồng thời công bố ra công chúng bản cáo bạch
chính thức và thực hiện việc phân phối chứng khoán trong một thời gian
nhất định kể từ khi được cấp giấy phép.
Bước 6: Kết thúc đợt phát hành:
Công ty phát hành và các nhà bảo lãnh chuyển giao tiền và chứng khoán tuỳ
theo những cam kết mà hai bên đã thoả thuận trong bản cáo bạch.




                                                                        28

								
To top