Documents
Resources
Learning Center
Upload
Plans & pricing Sign in
Sign Out

Tom tat 1

VIEWS: 27 PAGES: 6

									         BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
       TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG




             BÁO CÁO TÓM TẮT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ




THỬ NGHIỆM NUÔI THU SINH KHỐI VÀ
THU TRỨNG BÀO XÁC Artemia franciscana
  TRONG AO ĐẤT TẠI RUỘNG MUỐI
     Ở CAM RANH, KHÁNH HÒA

              Mã số: B2007-13-18




     Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Tấn Sỹ




             Nha Trang, 6/2010
            DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA
          THỰC HIỆN ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH


Danh sách những người tham gia thực hiện đề tài:
            1. ThS. Bùi Bá Trung
            2. KS. Nguyễn Thị Thúy
            3. KS. Trần Thị Diễm Tuyết
            4. KS. Trần Thị Bích Hà




Đơn vị phối hợp chính:
            1. Công ty muối Cam Ranh
            2. Bộ môn Cơ sở Sinh học nghề cá
  BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

                     THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Thông tin chung:
   - Tên đề tài:
   Thử nghiệm nuôi thu sinh khối và thu trứng bào xác Artemia franciscana
trong ao đất tại ruộng muối ở Cam Ranh – Khánh Hòa
   - Mã số: B2007 – 13 - 18
   - Chủ nhiệm: Nguyễn Tấn Sỹ
   - Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Nha Trang
   - Thời gian thực hiện: 8/2007 – 7/2009
2. Mục tiêu:
       Xây dựng quy trình nuôi thu sinh khối và thu trứng bào xác A. franciscana
trong ao đất tại ruộng muối ở Cam Ranh – Khánh Hòa.

3. Tính mới và sáng tạo:
       Đây là thử nghiệm nuôi thu sinh khối kết hợp thu trứng bào xác trong ao đất
đầu tiên ở Cam Ranh, Khánh Hòa. Trong đề tài này có một số tính sáng tạo như sau:
        - Gây nuôi loài vi tảo có chất lượng tốt trực tiếp trong ao nuôi để làm thức ăn
cho Artemia .
        - Diệt tạp bằng nước ót có độ mặn cao (250 ‰), hạn chế sử dụng các loại hóa
chất.
       - Xử lý phân gà trước khi sử dụng gây nuôi tảo để hạn chế sự ô nhiễm nước
trong ao nuôi.
4. Kết quả nghiên cứu:
      - Có thể gây nuôi tảo trực tiếp trong ao nuôi Artemia bằng phân vô cơ kết hợp
với phân hữu cơ. Phân vô cơ sử dụng 1-2 lần/tuần với nồng độ Urê 10 ppm, NPK 5
ppm, phân gà sử dụng 3 tuần/lần với liều lượng 20 kg/100 m2/lần.
       - Thành phần loài và mật độ tảo phụ thuộc vào nguồn nước cấp và độ mặn
trong hệ thống ao nuôi sinh khối Artemia. Có thể duy trì mật độ tảo thích hợp trong
suốt vụ nuôi cũng như chủ động tạo điều kiện cho loài tảo mong muốn phát triển trong
ao nuôi sinh khối Artemia.
        - Độ mặn và mật độ thả giống có ảnh hưởng đến năng suất sinh khối và năng
suất trứng bào xác Artemia.
      - Nuôi thu sinh khối và thu trứng Artemia ở độ mặn 90 ‰ và mật độ thả giống
100 Nau/lít cho năng suất sinh khối và lượng trứng bào xác cao nhất. Chất lượng sinh
khối không phụ thuộc vào độ mặn và mật độ thả giống ban đầu.
      - Chất lượng sinh khối Artemia ở giai đoạn trưởng thành và tiền trưởng thành
cao hơn so với giai đoạn ấu trùng.
      - Tỷ lệ tươi: khô khi bảo quản sinh khối ở dạng phơi khô là 9,5:1
      - Tỷ lệ nở khi bảo quản trứng trong nước muối bão hòa sau 2 tháng đạt 81%.
5. Sản phẩm:
      - Kỹ thuật chuẩn bị thức ăn trong ao nuôi Artemia và thả giống
       - Xác định độ mặn và mật độ nuôi thích hợp để nuôi thu sinh khối kết hợp thu
trứng bào xác Artemia franciscana
      - Quy trình kỹ thuật nuôi thu sinh khối kết hợp thu trứng bào xác A. franciscana
      - Kỹ thuật thu hoạch và bảo quản sản phẩm sau thu hoạch
      - Kết quả phân tích hàm lượng Protein và thành phần acid béo trong sinh khối
Artemia franciscana
      - Báo cáo tổng kết
6. Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng:
       - Hiệu quả: việc chuyển đổi sử dụng diện tích mặt nước ở khu ruộng muối để
nuôi thu sinh khối Artemia có thể nâng cao hiệu quả kinh tế.
      - Phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu: Đào tạo được 7 Sinh viên Đại
học hoàn thành đề tài tốt nghiệp từ đề tài này.
      - Khả năng áp dụng: Nhu cầu sử dụng sinh khối Artemia franciscana tươi sống
tại Khánh Hòa rất lớn, đặc biệt cho sản xuất giống ốc hương, nhưng hiện nay đối
tượng này vẫn chưa được triển khai nuôi đại trà tại địa bàn nghiên cứu.



                                                   Ngày      tháng      năm
           Cơ quan chủ trì                            Chủ nhiệm đề tài
       (ký, họ và tên, đóng dấu)                        (ký, họ và tên)
                      INFORMATION ON RESEARCH RESULTS


1. General information:
      Project title: Trial Artemia franciscana culturing for biomass and egg
collection in the earthen ponds at Cam Ranh, Khanh Hoa province
      Code number: B2007 – 13 – 18
      Coordinator: Nguyen Tan Sy
      Implementing institution: Nha Trang University
      Duration: from 8/2007 to 7/2009
2. Objective(s): To build Artemia franciscana culturing process for biomass and egg
collection in the earthen ponds at Cam Ranh, Khanh Hoa province.
3. Creativeness and innovativeness:
       This is the first trial for biomass and egg collection of Artemia franciscana in
the earthen ponds at Cam Ranh, Khanh Hoa province. There are some creativeness in
this trial such as:
       - The good quality microalgae species was cultured directly in the pond for
suitable food of Artemia.
       - The high saline water (250 ‰) is supplied into Artemia culture ponds to kill
predators and then additional sea water to lower salinity for suitable culturing Artemia.
       - The chicken manure was treated before used for culturing microalgae to
reduce water pollution.
4. Research results:
       - Algae can be cultured directly in the Artemia ponds with inorganic fertilizers
combined with chicken manure. Inorganic fertilizers are used 1-2 times per week with
the concentration of urea 10 ppm and NPK 5 ppm, chicken manure can be applied at
rate of 20 kg DW/100 m2, and every three weeks consecutively.
       - Species composition and density of microalgae depends on water supply and
salinity in the pond system. Can maintain the suitable density of microalgae during the
culture season as well as stimulate the development of appropriate microalgae in
culture ponds.
       - Salinity and stocking density can affect the yield of biomass and eggs of
Artemia franciscana.
       - Artemia franciscana biomass and eggs productivity reached the highest in
90‰ salinity and stocking density of 100 Nauplii/liter. Quality of biomass does not
depend on salinity and initial stocking density.
       - Quality of Artemia franciscana biomass in adult and juvenile stage higher
than larvae.
       - Rate of fresh: dry is 9,5:1 when storage in the form of dried biomass.
       - Rate of eggs hatched is over 80% when preserved in saturated brine after two
months.
5. Products:
       - Culturing microalgae in the pond of Artemia and stocking technique.
       - To determine the salinity and stocking density suitable for culturing biomass
and egg collection of Artemia franciscana
       - Technical process of culturing for biomass and egg collection of Artemia
franciscana.
       - Harvesting and products storage techniques.
       - The results of analysis on protein content and fatty acids composition of
Artemia franciscana biomass.
       - Final Project report.


6. Effects, transfer alternatives of reserach results and applicability:
       - Efficiency: The conversion area of salt field for culturing of Artemia
franciscana can improve economic efficiency.

       - Transfer alternatives of reserach results: 7 students of aquaculture branch
finished their graduation thesis from this project

       - Applicability: Demand for fresh Artemia franciscana biomass in Khanh Hoa
is very large, especially for culturing Areola babylon (Babylonia areolata) but now
this species has yet been adopted for mass deployment in the study area.

								
To top