Docstoc

tu dienCK

Document Sample
tu dienCK Powered By Docstoc
					Kiến thức chứng khoán
Phân loại           Từ điển chứng khoán

Chủ đề              A
AAA : Trái phiếu được sắp hạng cao nhất về mức an toàn. Trái phiếu đô thị,
và công ty được đánh giá cao nhất, được chi trả vốn và lãi đầy đủ như mong
đợi khi đáo hạn. Standard & Poor's đánh giá trái phiếu theo thứ tự AAA, AA,
A và Moody's Investors Service đánh giá theo Baa, và cao hơn như Aaa. Đây
là loại trái phiếu được xem là có cấp độ đầu tư an toàn, phù hợp để ngân
hàng và tổ chức tiết kiệm mua để làm chứng khoán đầu tư.

ABANDON : Xoá bỏ - Huỷ bỏ. Hành động từ bỏ quyền mua hay bán một số
cổ   phần    của      công     ty     trước    ngày     đáo    hạn

ABANDONMENT : Sự từ bỏ. Tự ý từ bỏ tài sản hay quyền hạn đối với tài
sản, không cố gắng đòi lại tài sản hay chỉ định người thừa kế. Trong hầu hết
các tiểu ban, quyền sở hữu tài sản bị từ bỏ được trao cho liên bang hưởng lợi
ban đầu, hay giao cho tiểu bang nếu không tìm thấy người sở hữu. Trong
luật phá sản, việc từ bỏ tài sản là biện pháp để trả lại thế chấp cho chủ nợ
đã được bảo đảm với sự đồng ý của người thụ uỷ phá sản.

ABA TRANSLT NUMBER : Mã số chuyển ABA. Mã số dùng trong việc giao
hoán chi phiếu giữa các ngân hàng. Môi giới ngân hàng và tổ chức tiết kiệm
có mã số ABA riêng do American Bankers Association thiết lập. Mã số chuyển
có hai phần cách nhau bằng dấu trừ (-) Phần đầu cho biết thành phố, tiểu
bang hay địa phận nơi ngân hàng toạ lạc, phần thứ nhì xác định chính ngân
hàng. mã số chuyển nằm phía góc phải phía trên chi phiếu dưới dạng tử số
của phân số. Mẫu số là ký hiệu Tuyến Chi Phiếu (Check Routing Symbol) xác
định Ngân Hàng Dự trữ Liên Bang của tổ chức tiết kiệm.

AGREEMENT : Thoả hiệp ABC. Thoả hiệp giữa công ty môi giới và một trong
các nhân viên của công ty. chấp (satisfaction or mortgage) chứng nhận nợ
đã                    được                      trả                  đủ.

ACROSS THE BOARD : Cùng hướng - Toàn diện. Biến chuyển thị trường
chứng khoán có ảnh hưởng đến hầu hết chứng khoán theo cùng một hướng.
Khi thị trường tăng toàn bộ thì tất cả chứng khoán cũng đều tăng theo.

ACROSS-THE-BOARD (ATB) TARIFF REDUCTION : Gia giảm toàn bộ
quan thuế biểu. Cũng còn gọi là gia giảm quan thuế biểu theo đường thẳng
(linear tariff reduction), đây là công cụ dùng trong các cuộc thương lượng
mua bán quốc tế nhằm tránh sự thương lượng gia giảm theo từng hạng mục.
Các quốc gia đồng ý tuân theo sự gia giảm phần trăm trong tỷ lệ quan thuế
đối         với         những         hàng        hoá       ấn        định.

ACTING IN CONCERT : Thông đồng. Hai hay nhiều nhà đầu tư cùng làm
việc với nhau để cùng đạt một mục tiêu đầu tư. Thí dụ, họ cùng mua tất cả
cổ phần của công ty mà họ muốn tiếp thu. Những nhà đầu tư này phải báo
cho Hiệp Hội Chứng Khoán (SEC -- Securities and Exchange . Commission -
uỷ Ban Chứng Khoán là thị trường chứng khoán) nếu họ có ý định loại trừ
thành phần lãnh đạo công ty mà họ muốn tiếp thu hay có ý định nắm quyền
kiểm soát công ty. hành động này sẽ bất hợp pháp nếu như họ thông đồng
để    lôi    kéo    giá    chứng    khoán     lên    để     hưởng    lợi.

ACTIVE ACCOUNT : Tài khoản hoạt động tích cực. Tài khoản có số ký thác
và số rút tiền thường xuyên cập nhật trong thời khoảng kế toán. Ngoài ra,
đó là tài khoản thẻ tín dụng hay Mức Tín Dụng Ngân hàng (Bank line or
credit) cho biết số vốn và số chi trả tiền lãi đáo hạn trên báo cáo tài khoản
khách        hàng.       Ngược        lại       là     Inactive      Account.

ACTIVE BOND CROWD : Nhóm mua bán trái phiếu tích cực. Nhân viên
phòng trái phiếu NYSE có trách nhiệm về số lượng lớn nhất trái phiếu đang
mua bán. Ngược lại nhóm tích cực là nhóm dự phòng (carbinet crowd) tức là
nhóm mua bán loại trái phiếu ít khi được đưa ra mua bán. Nhà đầu tư mua
bán trái phiếu trong nhóm tích cực sẽ có cơ hội mua chứng khoán t trái
phiếu giá tốt hơn là trong thị trường trì trệ vì ở thị trường này chênh lệch
giữa     giá     đặt     mua       và     giá      đặt     bán     rất    xa

ACTIVE BOX : Trong kho tồn trữ năng động - tính năng động của chứng
khoán thế chấp. Thế chấp có sẵn để bảo đảm cho số tiền vay của Broker hay
cho vị thế tài khoản margin của khách hàng (Margin account - tài khoản vay
tiền để mua chứng khoán), để ở một nơi - gọi là hộp an toàn (box) tức là nơi
chứng khoán của khách hàng của broker hay của chính broker-dealer
(broker mua bán cho chính mình) được giữ an toàn. Chứng khoán trái phiếu
dùng để thế chấp phải do công ty sở hữu hoặc do khách hàng thế chấp cho
công ty, sau đó broker thế chấp cho ngân hàng cho vay. Đối với tiền vay
trong tài khoản margin, khách hàng phải thế chấp chứng khoán cho broker.

ACTIVE MARKET : Thị trường năng động, thị trường mua bán tích cực. Thị
trường mua bán một số lượng lớn chứng khoán trái phiếu hay hàng hoá.
Chênh lệch giữa giá đặt mua và giá đặt bán không cách xa mấy trong thị
trường năng động, ít hơn trong mua bán âm thầm. Ngoài ra ,số lượng chứng
khoán mua bán trên thị trường theo từng khối .các nhà quản lý tiền thuộc tổ
chức thích loại thị trường như thế vì việc mua bán theo từng khối lớn chứng
khoán sẽ ít có ảnh hưởng làm xáo trộn biến chuyển giá cả khi việc mua bán
có                      tính                    tích                   cực..

ACTIVE TRUST : Uỷ thác toàn quyền. Tài khoản uỷ thác trong đó người thụ
uỷ (trustee) có bổn phận đặc biệt đã ấn định để thực hiện uỷ thác di chúc
(Testamentary trust) do một chúc thư đề ra. Người thụ uỷ có thầm quyền
bán tài sàn để trả đủ cho người chủ nợ và phân phối tài sản cho những người
thừa kế. Nó ngược lại với uỷ thác của người bảo trợ (grantor trust) hay uỷ
thác thụ động, nghĩa là không được tự do quyết định thực hiện.

ACTIVITY CHARGE : Phí hoạt động. Lệ phí trả vào tài khoản ngân hàng để
thanh toán giá phí dịch vụ. Vài phí hoạt độ sẽ tăng vọt lên khi số cân đối tài
khoản rớt xuống thấp hơn một mức nào đó, thí dụ như phí dịch vụ hàng
tháng trên tài khoản chi phiếu.Các phí khác là phí giao dịch mua bán dựa
trên việc sử dụng tài khoản, thí dụ phí từng hạng mục trong việc viết chi
phiếu hay phí dịch vụ trong việc rút tiền bằng máy tự động.
ACT OF BANKRUPTCY : Thừa nhận bị vỡ nợ. Hành động (hay cách ứng xử)
được xem là thừa nhận bi vỡ nợ - thường là không có khả năng trả nợ khi
đáo hạn. Người cho vay nợ, người tin tưởng người vay đã phạm phải hành
động phá sản có thể đệ trình kiến khăn việc tài trợ sản xuất bằng số tiền vay
mới. điếu này làm tăng các thủ đoạn khác nhau để loại bỏ điều khoản bảo
đảm bổ sung như thu hồi hay chuyển đổi trái phiếu hoặc thay đổi trong thoả
thuận                               giao                                 kèo.
AFTER DATE (A.D) Từ thời điểm đã ghi trở đi. Sau thời điểm đã ghi (thông
báo). Một thông báo đính kèm theo hối phiếu hay giấy báo trả tiền cho biết
rằng công cụ sẽ được chi trả sau thời điểm được ghi trong thông báo đó (thí
dụ, 30ngày sau thời điểm đã ghi). Một công cụ loại này là hối phiếu có kỳ
hạn (định kỳ) có thể đáo hạn trước khi được thế chấp.

AFTER HOURS DEAL : Giao dịch mua bán sau giờ chính thức (sau giờ đóng
cửa). Giao dịch mua bán trên thị trường chứng khoán đã kết thúc sau khi
đóng cửa cửa chính thức mua bán. Thông thường mua bán này được ghi
nhận     báo     cáo    vào      ngày     hành    chính     kế     tiếp.

AFTER SIGHT : Sau khi đã thấy, sau khi trình ra. Thông báo rằng hối phiếu
hay giấy báo trả tiền sẽ được chi trả sau khi nó được trình ra để nhận chi
trả. Người bán vẫn còn quyền sở hữu số hàng hoá đang vận chuyển cho đến
khi chứng từ vận chuyển được trình cho ngân hàng chi trả và ngân hàng này
chấp                                                                nhận.

AFTERMARKET : Thị trường sau khi phát hành. Mua bán cổ phần trên thị
trường chứng khoán sau khi công ty phát hành cổ phần ra công chúng. Giá
cả của cổ phần lúc này tăng hay giảm tuỳ theo thị trường cung cầu, không
còn theo giá căn bản như lúc công ty mới phát hành cổ phần.

AFTERTAX BASIS : Tỷ lệ căn bản sau khi đóng thuế. Tỷ lệ căn bản để so
sánh lợi nhuận của trái phiếu công ty (phải đóng thuế) và trái phiếu đô thị
(miễn thuế). Thí dụ, trái phiếu công ty chi trả 10% sẽ có lợi nhuận sau khi
đóng thuế là 7,2% đối với người nằm trong khung thuế 28%. Vì thế bất cứ
trái phiếu đô thị nào trả cao hơn 7,2% sẽ cho hoa lợi cao hơn loại trái phiếu
công                ty               chi             trả                10%.

AFTERTAX REAL RATE OF RETURN : Tỷ lệ lợi nhuận thực sau khi đóng
thuế. Số tiền mà nhà đầu tư có được sau khi đã điều chỉnh theo lạm phát. Số
tiền này xuất phát từ lợi tức và tư bản kiếm được (capital gains) trong các vụ
đầu tư. Trong lạm phát mỗi dollar đều mất đi một phần giá trị vì thế nhà đầu
tư phải theo dõi tỷ lệ lợi nhuận thực sau khi đóng thuế kể từ khi ông ta cam
kết về vốn. Nói chung, nhà đầu tư tìm một tỷ lệ lợi nhuận tương xứng nếu
không       nói      là      vượt      hơn      tỷ      lệ     lạm       phát.

ALLOCATION : Vị thế, số lượng tỷ lệ cổ phần đầu tư. Số lượng cổ phần
được mua trong một danh mục đầu tư (portfolio) theo một tỷ lệ so sánh với
Bonds, với tiền mặt v.v... Merill Lynch increased the stock allocation in his
benchmark portfolio to 50%: Công ty đầu tư Merill Lynch đã gia tăng tỷ lệ
đầu tư cổ phần chứng khoán trong danh mục đầu tư của họ lên tới 50%.
ALLONGE: Phiếu bảo chứng. Chứng tự kèm theo công cụ chi trả (negotiable
instrument) để thêm bảo chứng như khi ký chi phiếu trả cho bên thứ ba. Khi
ngân hàng vay tại phòng Cho Vay Có Chiết Khấu (Discount Window) của
Ngân Hàng Dự trữ Liên Bang , ngân hàng phải bổ sung vào một phiếu kèm
theo giấy hứa trả nợ , hối phiếu, hoá đơn được giao cho ngân hàng Dự Trữ
Liên              Bang               để             thế             chấp.

ALLOTMENT: Phân bổ. Số chứng khoán chia ra cho mỗi thành viên trong
tập đoàn ngân hàng đầu tư được thành lập để bao tiêu phân phối chứng
khoán mới, gọi là người đăng ký bao tiêu (subscribers.) hay người được phân
phối (allottees). Trách nhiệm tài chính của người đăng ký bao tiêu được ghi
trong thông thông báo phân bổ do nhà quản lý bao tiêu soạn thảo.

ALLOWANCE: Tiền chiết khấu, tiền trợ cấp, tiền khấu trừ.
1. Kế toán: Tài khoản để điều chỉnh trị giá tài sản thông qua phí của lợi tức
hiện     hành,     đây     là    số     dự       trữ   cho     khấu     hao.
2. Ngân hàng: Dự trữ tiền vay bị mất (Loan loss Reserve) dùng cho số phí sẽ
mất       theo      dự      kiến      đối       với     nợ      khó      đòi.
3. Uỷ thác: Chứng thực (di chúc) quyết định của an toàn cho người thụ uỷ
tài sản ; thí dụ như tiền trợ cấp cho người goá bụa.
4. Mua bán: Khấu trừ trị giá hoá đơn được người bán hàng hoá chấp nhận để
bù      đắp       vào      số      hư       hại      hay      thiếu      sót.

ALPHA:                       Hệ                  số                     Alpha.
1. Hệ số đo lường phần lợi nhuận đầu tư có phát sinh rủi ro đã tính tới. Nói
cách khác, hệ số alpha là phương pháp toán học ước tính số lợi nhuận mong
muốn có từ giá trị vốn có của đầu tư, như tỷ lệ phát triển lợi nhuận cho môi
cổ phần. Nó khác số lợi nhuận có được do biến động giá (volatility) , loại này
được tính bằng hệ số Beta. Thí dụ, hệ số alpha là 1,25 cho biết chứng khoán
có dự kiến tăng 25% trong một năm khi lợi nhuận trên thị trường và hệ số
Beta của chứng khoán đều bằng không. Một vụ đầu tư có giá thấp tính theo
hệ số alpha bị đánh giá dưới giá trị, nhưng đây được xem là một lựa chọn
tốt. (Đầu tư tốt vì có tiềm năng tăng giá sau này). Trong trường hợp quỹ hỗ
tương đầu tư, alpha đo lường mối quan hệ giữa diễn biến của quỹ và hệ số
Beta                      trong                   3                      năm.
2. Tại thị trường chứng khoán Luân , từ ngữ alpha stocks dùng cho các công
ty mua bán lớn nhất và tích cực nhất có thể so sánh với từ Blue Chips của
Hoa Kỳ. Việc cải cách xuất phát từ Big Bang (xem phần sau) năm 1986 đưa
đến kết quả là các cổ phần có giá trị nhất thường đem lại doanh thu 80%,
đều chịu các luật lệ mua bán nghiêm ngặt hơn là chứng khoán Beta hay
Gamma.

ALTERED CHECK : Chi phiếu bị sửa đổi. Chi phiếu hay công cụ chi trả khác
có ngày đáo hạn, số dollar hay tên người được trả tiền bị sửa đổi hay bôi xoá
, thường là mục đích lừa đảo. Ngân hàng có thể từ chối chi trả phiếu nếu
nghi       ngờ      có        sự      cạo        sửa        tự      ý       .

ALTERNATIVE MINIMUM TAX (AMT) : Thuế tối thiếu lựa chọn. Là loại
thuế liên bang được đạo luật Tax Refrom Act of 1986 cải tiến lại nhằm mục
đích bảo đảm rằng các cá nhân hay công ty giàu có phải chi trả thêm ít nhất
một số lợi tức . Đối với cá nhân, AMT được tính bằng cách cộng các mục
được ưu đãi thuế như thua lỗ thụ động (passive losses), lãi được miễn thuế
của trái phiếu có mục đích riêng (Private-purpose Bond) phát hành sau ngày
7.8 l986 và số khấu trừ đối với đóng góp từ thiện bằng chứng khoán, bất
động sản, tác phẩm nghệ thuật, và các tài sản tăng giá theo lợi tức gộp có
điều chỉnh, sau đó trừ cho $ 40.000 cho một cặp vợ chồng cùng nộp chung
hay $ 30.000 nếu nộp riêng ; 24 % số còn lại sẽ chịu thuế. Số được miễn
thuế được huỷ bỏ theo cách 25 xu cho 1 dollar đối với lợi tức AMT vượt quá
$150.000 cho cặp vợ chồng cũng nói ( $ 112.500 đối với cá nhân ) AMT của
công ty cũng được miễn thuế nhưng với tỷ lệ 20 % sổ sách (báo cáo tài
chính) cao hơn tổng số lợi tức chịu thuế cộng với với các mục ưu tiên thuế
khác như tăng giá trị số đóng góp từ thiện được miễn thuế miễn thuế , số
thặng dư khấu hao tăng tốc của tài sản được đưa vào phục vụ sau năm 1986
, lãi được miễn thuế của trái phiếu có mục đích riêng phát hành sau
1.7.1986 và các ưu đãi công nghiệp đã ấn định . Sau năm l984 AMTcủa công
ty được thiết lập dựa trên định nghĩa của thuế và tiền kiếm được và lợi
nhuận      chứ    không     phải     dựa    trên   lợi   tức    sổ    sách.

AMERICAN BANKERS ASSOCIATION (ABA) : Hiệp hội Ngân hàng Hoa
Kỳ. Hiệp hội mậu dịch quốc gia của các ngân hàng thương mại thương mại ở
Hoa Kỳ được thành lập năm1875. Phần lờn trong số l4.000 ngân hàng Hoa
Kỳ là hội viên của hiệp hội, là tổ chức bảo trợ cho các hội nghị và hội thảo
chuyên đề và khuyến khích phát triển khả năng chuyên môn trong hoạt
động ngân hàng thông qua các trường ngân hàng ABA và một chi nhánh
giáo dục của ABA đó là Học Viện Ngân HàngHoa Kỳ (American Institute of
Banking).ABA cũng đại diện cho ngànhh ngân hàng trước quốc hội và các cơ
quan              thành               lập             liên             bang.

AMERICAN DEPOSITARY RECEIPT: Biên nhận ký thác tại Hoa Kỳ (ADR)
Biên nhận cho các cổ phần của công ty nước nước ngoài,các cổ phần này
được ngân hàng Hoa Kỳ giữ trong hầm an toàn và cho phép cổ đông có
quyền nhận cổ tức và tư bản kiếm được. Thay vì phải mua cổ phần của công
ty nước ngoài ở các thị trường nước ngoài, người dân Hoa Kỳcố thể mua các
cổ phần này ngay tại Hoa Kỳ dưới hình thức ADR. ADR có cả hàng trăm loại
cổ phần của nhiều quốc gia khác nhau. ADR được tính bằng dollar và được
mua bán trên thị trường chứng khoán và thị trường tự do(Over-the-Counter)
theo cùng cách như chứng khoán phát hành tại Hoa Kỳ.
AMERICAN STOCK EXCHANGE (AMEX): Thị trường chứng khoán Hoa Kỳ.
Thị trường chứng khoán số lượng mua bán đứng thứ nhì tại Hoa Kỳ. Toạ lạc
tại số 86 Taivity Place ở cuối Manhattan, mãi đến năm 1921 người ta vẫn
được biết Amex với cái tên Curb và mãi đến ngày nay nó vẫn ám chỉ là Curb.
Nói chung, các chứng khoán và trái phiếu mua bán tại Amex là thuộc các
công ty từ nhỏ đến bậc trung , ngược lại với các công ty khổng lồ có cổ phần
mua bán tại NYSE (New York Stock Exchange), cá biệt , một phần lớn các
công ty dầu hoả và gas mua bán tại Amex.Amex cũng là nơi mua bán các
hợp đồng options của nhiều loại chứng khoán ở NYSE và một vài loại chứng
khoán ở thị trường ngoài danh mục .ở Amex, cổ phần nước ngoài được mua
bán    nhiều    hơn    ở   bất   cứ    thị   trường    nào   ở    Hoa    Kỳ.
AMERICAN STOCK EXCHANGE AUTOAMOS : Hệ thống Autoamos tại
Amex. AMEX(American Stock Exchange) sử dụng hệ thống Automatic Amex
Option Switch để mua bán hợp đồng options. Autoamos được dùng để mua
bán hằng ngày từ các đại diện mua bán (broker) tới các chuyên viên Amex
rồi chuyển ngược các báo cáo đã thực hiện được của chuyên viên (Specialist)
về cho broker. Autoamos tự động thực hiện mua bán từ 4 đến 6 loại cổ phần
được người mua bán nhiều nhất của Standard & Poor's 100 index option.
Đồng thời Autoamos có khả năng thực hiện những lệnh mua hợp đồng từ
broker       lên       đến      20       hợp        đồng       cổ       phần.
AMERICAN STOCK EXCHANGE AUTOPER: Hệ thống Autoper ở Amex.
Amex sử dụng hệ thống Autoper qua đường dây tự động hằng ngày từ
broker đến chuyên viên tại hiện trường mua bán (floor) và gửi báo cáo của
chuyên viên về lại broker sau khi đã thực hiện các lệnh mua bán của broker.
AMERLIAN-STYLE OPTION: Hợp đồng option theo kiểu Hoa Kỳ. Mua bán
hợp đồng option bất cứ lúc nào miễn là trước ngày đáo hạn, khác với kiểu
châu Âu là phải đợi đến ngày đáo hạn chứ không được mua bán trước.
AMORTIZATION SCHEDULE: Thời biểu chi trả dần. Bảng thông thường
dùng trong thế chấp và tiền vay chi trả dần, cho biết số chi trả đáo hạn, số
tiền đáo hạn trong mỗi kỳ chi trả dần, giảm số cân đối vốn , số năm cần để
thanh toán hết số nợ. Chi trả dần trong một năm đối với tiền vay $ $1000 lãi
10%.Chi trả hằng tháng (P&l) : 87,92. Đạo luật Bank Merger Act of 1960
cho các cơ quan lập pháp ngân hàng quyền chấp thuận hay không chấp
thuận sát nhập ngân hàng hay sát nhập các công ty cha thuộc ngành ngân
hàng. Justice Deprartment có thể can thiệp vào nếu nó không đồng ý. Một
lãnh vực liên quan đến luật chống Trust là ý niệm quyền lực thị trường
(market power) liên quan đặc biệt đến hoạt động liên doanh (JointVenture)
giữa các nhóm tổ chức tài chính như hệ thống máy trả tiền tự động .Theo
quan điểm phổ biến, qua kinh nghiệm phân xử các vụ kiện cáo cho rằng
những người điều hành hệ thống không thể ngăn cản những ngân hàng
ngoài hội viên nếu như dịch vụ cung cấp (thí dụ, quyền sử dụng ATM do các
ngân hàng khác sở hữu) được dân chúng chấp nhận rộng rãi vì giới hạn sự
tham gia của ngân hàng sẽ gây thiệt hại cho các ngân hàng muộn tham gia.
APPARENT AUTHORITY: Thẩm quyền hiển nhiên. Theo luật pháp chung
thì người chủ phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của nhân viên mình.
Khi bên thứ ba đã tín nhiệm sự đại diện của nhân viên, thì người chủ không
thể nói rằng nhân viên của mình thiếu thầm quyền để bào chữa cho việc làm
trái                                luật                                pháp.
APPORTIONMENT: Sự phân chia. Phân chia giới tuyến các quyền, sở hữu
chủ hay chi phí giữa người mua và người bán trong chuyển nhượng tài sản.
Trong uỷ thác và tài sản, đây là sự phân chia lợi tức và chi phí quản lý giữa
hai hay nhiều tài khoản, thí dụ vốn và lợi tức tiền lãi hay phân chia thuế tài
sản giữa những người thụ hưởng tài sản. Ngược lại phân chia là phân bổ, là
lợi nhuận kiếm được hay chi phí được đưa vào một tài khoản độc nhất nhằm
để                                  kết                                  toán.
APPRAISAL : Đánh giá ước định. Bảng ước tính trị giá thị trường của tài sản
do chuyên viên đánh giá thiết lập dựa trên phân tích các dữ kiện xác thực.Trị
giá thị trường của tài sản thường dùng làm căn bẳn xác định trị giá thế chấp
để ngân hàng cho vay, nó có thể dựa trên chi phí thay thế, số bán so với tài
sản hay lợi tức ước định trong từng tương lai từ số tài sản phát sinh ra lợi
tức.
APPRAISED VALUE: Trị giá đã được thẩm định . Trị giá thị trường của một
tài sản đã được thẩm định viên đủ tiêu chuẩn đánh giá. Trị giá thẩm định
chia một hạng mục có thể cao hơn hay thấp hơn giá người ta chi trả cho nó,
điều này tuỳ thuộc vào giá thị trường của tài sản tương đương với hạng mục
đó. Việc thẩm định dựa trên giá phí thay thế hạng mục hay trị giá bán lại đã
tăng            hay           giảm          (theo         thời         gian          ).
APPRECLATION:                           Tăng                   giá                 trị.
1.Tăng trị giá tài sản do tăng giá trị trên thị trường, được đánh giá tăng, hay
tăng      lợi     tức     kiếm     được      khi   so    với      thời   kỳ     trước.
2.Tăng giá trị một loại tiền tệ nào đó so với loại tiền tệ khác mà không có
bất cứ thay đổi trị giá chính thức nào có nghĩa là do nhu cầu thị trường đòi
hỏi        chứ        không        phải       do      phá       giá      tiền       tệ.
APPROVED LIST : Bảng liệt kê (danh sách) được thừa nhận.
1. Ngân hàng: trái phiếu hay chứng khoán mà ngân hàng có thể giữ lại để
đầu tư, thông thường căn cứ trên việc đánh giá của công ty đánh giá trái
phiếu như Standard Poor's, Moody's, Fitch's và các công ty khác. Luật lệ dự
trữ liên bang giới hạn số đầu tư của ngân hàng quốc gia trong việc chỉ được
đầu tư vào trái phiếu chứng khoán có cấp độ đầu tư đã được các công ty
dịch vụ đánh giá xác định. Thí dụ các trái phiếu chứng khoán đã được.
Standard Poor's đánh giá từ B (BBB) trở lên. Các ngân hàng cấp tiểu bang
(có giấy phép kinh doanh cấp tiểu bang) cũng chịu lệ thuộc quy định đầu tư
như thế, giống ngân hàng quốc gia theo đạo luật dự trữ liên bang.
2.Đầu tư: bảng danh sách đầu tư được quyền giao cho người thụ uỷ tài sản
theo quy chế tiểu bang hay do ban quản trị quỹ hỗ tương đầu tư thực hiện
APPROVED PREFERRED SHARE TRUST (ADST) : Uỷ thác cổ phần ưu đãi
được chấp thuận. Tại Anh, uỷ thác được công ty lập ra vì lợi ích của công
nhân và được tài trợ bằng cách mua cổ phần của chính công ty. Thuế đánh
trên cổ tức ADST được hoãn cho đến khi bán cổ phần và được và được trả
theo                    tỷ                 lệ                có                 giảm.
ARBITRAGE: Mua bán song hành Lợi nhuận có được từ chênh lệch giá khi
mua và bán chứng khoán, trái phiếu, hàng hoá cùng loại cùng lúc trên hay
hay nhiêu thị trường. Thí dụ nhà mua bán song hành cùng lúc mua một hợp
đồng về vàng tại thị trường New York và bán cùng lúc một hợp đồng về vàng
tại thị trường Chicago họ kiếm được lợi nhuận vì lúc đó giá ở hai thị trường
khác nhau (Người mua bán song hành có giá bán cao hơn giá mua). Mua bán
song hành theo chỉ số sẽ khai thác chênh lệch giá giữa hợp đồng futures chỉ
số chứng khoán và giá chứng khoán cơ sở. Bằng cách tận dụng chệch lệnh
giá tiền giữa các thị trường, nhà mua bán song hành thực hiện chức năng
kinh tế làm cho mua bán tại các thị trường này có hiệu quả hơn.
ARBITRAGE BONDS: Trái phiếu song hành. Trái phiếu do nhà nước đô thị
phát hành để có được lãi suất thích hợp bằng cách tái tài trợ trái phiếu có lãi
suất cao trước khi đáo hạn. Số tiền thu được từ chi phiếu tái tài trợ với lãi
suất thấp được đầu tư vào công phiếu cho đến khi trái phiếu lãi suất cao đáo
hạn. Trái phiếu song hành luôn luôn đặt vấn đề miễn thuế, đạo luật Tax
Reform        Act    of     1986    đã     huỷ    bỏ    việc     này    từ    lâu     .
ARBITRAGEUR: Nhà mua bán song hành. Người làm dịch vụ mua và bán
cùng lúc cùng một loại cổ phần, tiền tệ... nhằm vào sự chênh lệch giá cả
giữa            hai          thị         trường         để           kiếm          lời.
ARBITRATION: Trọng tài phân xử. Một hình thức khác thay cho vụ kiện tài
toà án, nhằm dàn xếp tranh chấp giữa broker và khách hàng cũng như giữa
các công ty môi giới chứng khoán. Theo thông lệ các điều khoản phân xử
trước các tranh chấp đã có ghi trong thoả hiệp tài khoản với broker, nó đảm
bảo rằng các tranh chấp sẽ được phân xử bởi bên thứ ba có tính khách quan
và không đưa ra toà án. Năm 1989, SEC (Securities and Exchange
Commission) chấp thuận các thay đổi bao quát yêu cầu broker thông báo rõ
ràng khi có các điều khoản này, ngăn cấm bất cứ một giới hạn nào về quyền
của khách hàng trong việc đệ đơn xin phân xử và đặt ra các tiêu chuẩn
nghiêm ngặt về trọng tài phân xử. Xem: Board of Arbitration.
ARM'S LENGTH TRANSACTION: Giao dịch mua bán ngoài - Giao dịch mua
bán giữa những người chưa biết nhau. Giao dịch mua bán giữa các bên
không quen biết nhau (trước đây không có liên hệ hay không ở cùng một
đơn vị (unaffiliated) đó là trường hợp một người mua sẵn sàng mua và một
người bán sẵn sàng bán, mỗi bên đều vì lợi ích của riêng mình. Giá cả trong
giao dịch mua bán này căn cứ trên trị giá thị trường công bằng (theo giá thị
trường). Giao dịch mua bán giữa công ty cha và các công ty con không phải
là loại mua bán ngoài. Giao dịch mua bán theo loại này sẽ tránh được những
xung đột quyền lợi.Thí dụ, theo luật lệ hiện hành, cha mẹ có thể cho con
thuế bất động sản và vẫn có quyền đòi các khấu trừ số tài sản miễn là họ.
ASSUMABLE MORTGAGE: Thế chấp nợ được sang tay. Thế chấp cho người
vay có quyền ký chuyển nhượng số nợ còn thiếu trong số nợ của ông ta, đến
người khác trên số bán tài sản thế chấp, mà không bị trả tiền phạt trước.
Người mua chấp nhận chi trả số tiền vay đúng thời hạn và các điều khoản
cho phần còn lại của thế chấp và người bán vẫn chịu trách nhiệm thứ nhì đối
với số nợ. Thế chấp của Department or Veterans Affairs và thế chấp do
Federal Housing Administration thường là loại được người mua chấp nhận
theo                       tính                  cách                   trên.
ASSUMED INTEREST RATE: Lãi suất được thừa nhận. Tỷ lệ lợi tức đầu tư
được tuỳ thuộc vào cách chọn lựa phương thức bảo hiểm nhân thọ - để duy
trì     trả     tiền    không       có   gì     thay    đổi      khi   chết.
ASSUMPTION: Đảm nhiệm - Đảm đương. Liên đới chịu trách nhiệm các
món nợ của người khác,thường thường bằng thoả hiệp đảm nhiệm
(assumption agreement) trong trường hợp đảm nhiệm về thế chấp, người
bán chịu trách nhiệm thứ nhì trừ khi người cho vay không bắt buộc.
AT PAR: Theo mệnh giá. Giá bằng với mệnh giá hay giá danh nghĩa của
chứng                                                                 khoán.
AT LIMIT : Theo giá giới hạn. Nhà đầu tư chỉ thị cho broker mua hay bán
chứng khoán hay hàng hoá theo giá ấn định. Theo giao dịch mua bán với giá
giới hạn (at-limit transaction), nhà đầu tư cũng cho biết thời hạn để broker
mua         bán       (thí      dụ,     trong       vòng       2      ngày).
AT RISK: Đang có rủi ro. Cho thấy có nguy cơ thua lỗ. Nhà đầu tư góp vốn
trách nhiệm hữu hạn có thể đòi quyền được khấu trừ thuế chỉ khi nào họ có
thể chứng minh rằng họ có khả năng nhận biết những cái không thể nhận
biết được về lợi nhuận và thua lỗ trong đầu tư. Không thể thực hiện được
khấu trừ nếu thành viên góp vốn không được thông báo đầy đủ về rủi ro
kinh tế thí dụ, nếu Tổng thành viên bảo đảm sẽ trả lại toàn bộ vốn cho
thành viên góp vốn dù cho việc kinh doanh mạo hiểm sẽ thua lỗ.
AT SIGHT: Cụ thể thấy trước mắt Cho thấy một công cụ trả như hoá đơn
bán hàng hay hối phiếu để được chi trả khi trình cho người chi trả (drawee).
AT THE CLOSE: Vào lúc đóng cửa thị trường chứng khoán. Lệnh mua và
bán chứng khoán trong 30 giây cuối của một vụ mua bán tại thị trường
chứng khoán. Broker không bảo đảm các lệnh như thế sẽ được thực hiện.
AT THE MARKET: Theo thị trường. Mua bán theo giá thị trường khi đang
thực           hiện            giao          dịch          mua           bán.
AT THE MONEY: Có giá tương đương - Hoà vốn. Theo giá hiện hành, như
trường hợp một hợp đồng option có giá thực hiện (Exercise price - giá điểm,
giá thực thi) tương đương hay gần ứng giá chứng khoán hay hợp đồng
futures                                  cơ                                sở.
AT THE OPENING: Vào lúc mở cửa thị trường chứng khoán. Lệnh của khách
hàng đưa cho broker để mua hay bán chứng khoán theo giá lúc thị trường
mở cửa. Nếu lệnh không được thực hiện vào lúc này thì sẽ tự động huỷ bỏ.
ATTACHMENT: Tịch biên tài sản. Lệnh (trát) được quyền thu giữ tài sản sau
khi toà án quyết định phán quyết chi trả cho chủ nợ. Sau khi toà án xét xử
và quyết định công bố, chủ nợ phải có giấy xử lý tài sản được quyền thu giữ
một phần lương công nhân (garnishment) hay giấy thu giữ tài sản cá nhân
trong phạm vi quyền hạn nơi người vay cư trú thường là đô thị hay phân khu
tiểu bang (county). Giấy được quyền giữ tài sản thế chấp, giấy này nói rằng
sẽ có quyền tịch thu tài sản của người vay thay cho số tiền đã cho vay hay
số    tiền   đã      ứng     trước   dựa    trên     mức    độ    tín   dụng.
ATTEST: Chứng thực. Văn kiện cam kết chắc chắn về một sự kiện hay tình
trạng, bổn phận hay trách nhiệm do người làm ra văn kiện ký, thường là có
sự hiện diện của công chúng viên hay một người khách quan nào đó. Trong
trường hợp chúc thư, người làm di chúc ký tên với sự hiện diện của hai hay
nhiều     người     chứng      hay    trước    một     công    chứng     viên.
ATTORNEY AT LAW: Luật sư - Người được uỷ quyền về luật pháp người
được tiểu bang cấp giấy chứng nhận hoạt động về luật pháp, được phép tư
vấn và đại diện cho khách hàng trước toà án trong các vụ kiện hay trước cơ
quan      hành      chánh.      Thông     thường      đó    là     luật    sư.
ATTORNEY IN FACT: Người được uỷ nhiệm theo thực tế sự việc. Người
được người khác chỉ định để làm việc như một người trung gian dưới danh
nghĩa của người chỉ định .Văn kiện uỷ nhiệm là loại viết tay, và thường là
văn kiện uỷ nhiệm quyền hạn của người uỷ nhiệm và có thể có tính tổng
quát hay giới hạn ở một số hoạt động nào đó đã được ấn định.
AUCTION MARKET: Thị trường đấu giá. Hệ thống mua và bán chứng khoán
thông qua Broker trên các thị trường chứng khoán, nó khác với thị trường
ngoài danh mục (Over-the-counter thị trường tự do) đây là nơi mua bán
bằng thương lượng. Thị trường chứng khoán New York (New York Stock
Exchange-NYSE) là thí dụ tiêu biểu nhất, thị trường có hệ thống đấu giá đôi
hay thị trường song phương (two- sided market) lý do là vì không giống với
cuộc đấu giá thông thường theo truyền thống là chỉ có một người ra giá và
nhiều người mua (trả giá) ở đây chúng ta có nhiều người bán và nhiều người
mua. Trong bất cứ cuộc đấu giá nào, giá được đặt ra là do đấu giá cạnh
tranh giữa các brokers hoạt động như người trung gian cho người mua và
người bán. Hệ thống này có những chức năng theo một trật tự nhờ một vài
luật           lệ             mua           bán            như           sau:
1. Giá đặt mua hay giá đặt bán đầu tiên theo giá đã định thì ưu tiên hơn giá
đặt     mua       và     đặt     bán     khác     có     cùng    mức      giá.
2. Giá mặt mua cao nhất và giá đặt bán thấp nhất được đấu giá giữa các
brokers                ở               sàn               mua                 bán.
3. Cuộc đấu giá mới bắt đầu khi nào không còn tất cả giá đặt bán và giá đặt
mua                 theo                 giá                đã               cho.
4.    Các     vụ     mua     bán      bí     mật     đều     bị     ngăn    cấm.
5. Giá đặt mua và giá đặt bán phải được xướng lên rõ ràng cho mọi người
đều nghe. Ngoài ra, đấu giá có cạnh tranh cũng dùng cho việc bán công khố
phiếu                                 ngắn                                  hạn.
AUCTION-RATE PREFERRED STOCK: Chứng khoán ưu đãi theo lãi suất
đấu                                                                           giá.
AUTHORIZED INVESTMENT: Đầu tư được uỷ nhiệm. Đầu tư do người được
uỷ quyền hay người thụ uỷ thực hiện sau khi có chỉ thị viết trong công cụ uỷ
thác. Đối chiếu với đầu tư hợp pháp tuân theo luật lệ của các cơ quan thẩm
quyền về ngân hàng tiểu bang hay luật lệ tiểu bang liên quan đến các đầu tư
được phép thực hiện bởi các người được uỷ quyền và ngân hàng tiết kiệm hỗ
tương                                    đầu                                   tư.
AUTHORIZED SETTLEMENT AGENT: Người trung gian được uỷ quyền
thanh toán. Ngân hàng được uỷ quyền để đệ trình chi phiếu hay chi phiếu
giao ngay (Cash items) cho ngân hàng dự trữ liên bang để thu nhận. Trong
lĩnh vực thẻ ngân hàng, ngân hàng được uỷ quyền để thanh toán hối phiếu
cho       việc       thanh       toán        trao       đổi        mua      bán.
AUTHORIZING RESOLUTION: Nghị quyết uỷ quyền. Vụ kiện cho phép cơ
quan địa phương hay chính quyền địa phương phát hành công phiếu.
AUTHORIZED SHARES (STOCKS): Cổ phần có thẩm quyền phát hành. Số
cổ phần tối đa thuộc bất cứ hạng loại nào trong công ty được phép phát
hành theo các điều khoản thành lập công ty. Thông thường một công ty
trong tương lai tăng chứng khoán có thẩm quyền phát hành tuỳ theo các cổ
đông phiếu quyết định. Công ty không cần phải phát hành tất cả các cổ phần
có thẩm quyền phát hành và có thể ngay từ lúc đầu giữ lại tối thiểu số cổ
phần đã phát hành để hạ bớt thuế và chi phí . Nó còn được gọi là chứng
khoán         có        thầm        quyền          được          phát      hành.
AUTOMATED CLEARING HOUSE (ACH): Nhà giao hoán thanh lý được tự
động hoá. Phương tiện giao hoán thanh lý (clearing) dựa trên hệ thống vi
tính đối với trao đổi bên Nợ và bên Có theo hệ thống điện tử giữa các tổ
chức tài chánh . Dữ liệu nhập của ACH có thể được thay thế cho chi phiếu
trong việc chi trả qua lại như thế chấp, hoặc trong đóng góp ký thác trực...
AVAILABLE CREDIT: Tín dụng có sẵn. Tín dụng sẵn sàng được dùng để
mua mới một cái gì, đôi khi còn được gọi là mua để ngỏ. Trong lãnh vực thẻ
ngân hàng, có sự khác biệt giữa số cân đối chưa trả bình quân (average
outstanding balance - số cân đối hiện hành bình quân) và mức giới hạn tín
dụng đã được công nhận trước của người có thẻ. ngoài ra, đây là phần chưa
được sử dụng của mức tín dụng ngân hàng (line or credit).
AVAILABLE                 FUNDS:               Quỹ              có           sẵn.
1. Loại quỹ ngân hàng có thể dùng để đáp ứng yêu cầu về số trên vay hay
được giữ trong danh mục đầu tư, tuỳ thuộc vào sự cạnh tranh thị trường,
nhu cầu tín dụng lãi suất thị trường và các yếu tố khác. Tổng số quỹ tương
đương với số tiền mặt có trong tay (vault cash) và chi phiếu được các ngân
hàng khác chi trả (tiền mặt và tiền phải trả từ các ngân hàng trên bảng cân
đối   tài   khoản)     cộng   với    tổng     số   tiền   vay      và  đầu     tư.
2. Số cân đối đã có trong tài khoản người ký thác, đây là số có thể sẵn sàng
dễ đầu tư, đem chi trả cho người tín dụng hay chuyển vào tài khoản khác.
AVAILABLE RESERVE: Dự trữ có sẵn. Chênh lệch thuần giữa số cân đối dự
trữ thặng dư được lưu trữ tại tài khoản dự trữ tại Ngân Hàng Dự Trữ Liên
Bang hay tại văn phòng chi nhánh và quỹ đã mượn tại phòng cho vay có
chiết                khấu                  (Discount                Window)
AVAL: Đảm bảo chi trả của bên thứ ba. Từ ngữ Châu Âu có nghĩa là bảo
đảm chi trả của bên thứ ba cho hoá đơn hàng hoá hay giấy hứa trả nợ, người
bảo          đảm         phải         ký          tên         bối         thự.
AVERAGE: Chỉ số trung bình. Trung bình cộng số học tương ứng và có điều
chỉnh của các chứng khoán đã được lựa chọn để tính chỉ số này. Nó cho ta
biết biến chuyển tổng quát của thị trường hay các lãnh vực quan trọng của
thị trường. Trong số các chỉ số thông dụng nhất có chỉ số trung bình công
nghiệp Dow Jones, chỉ số trung bình vận tải của Dow Jones. Bởi vì việc đánh
giá chứng khoán cá nhân liên quan đến việc đo lường chiều hướng giá cả của
chứng khoán nói chung hay của một nhóm công nghiệp nên các chỉ số trung
bình nhiều loại khác nhau là công cụ phân tích rất quan trọng.
AVERAGE ANNUAL YIELD: Lợi nhuận trung bình hàng năm. Lợi nhuận
trung bình mỗi năm trong suốt thời hạn của chứng chỉ ký thác (Certificate or
Deposit - CD) nhiều năm, với giả định rằng trên lãi kết hợp vẫn giữ trong ký
thác. Hoa lợi trung bình năm của CD sẽ cao hơn hoa lời hằng năm thực tế
bởi vì nó bao gồm tiền lãi có được trong khoảng thời gian dài hơn .
AVERAGE           BALANCE:           Cân         đối       bình         quân.
AVERAGE COLLECTED BALANCE : Số cân đối thu trung bình. Số dollar
trung bình trong số ký thác ở tài khoản chi phiếu trong suốt thời gian kế
toán, tương đương với các số cân đối hàng ngày trong sổ cái trừ cho chi
phiếu         chưa        thu        chia         cho         số        ngày.
AVERAGE DAILY BALANCE: Số cân đối trung bình hằng ngày. 1. Số trung
bình trong tài khoản ký thác, tương đương với tổng số cân đối ký thác hằng
ngày trong suốt thời gian kế toán, thường là một tháng, chia cho số ngày.
2. Phương pháp tính phí tài chánh thẻ tín dụng, tính bằng cách lấy số cân đối
bắt đầu mỗi ngày cộng cho phí mới trong ngày đó, trừ cho chi trả dùng để
mua, lấy tổng số kết quả chia cho số ngày trong thời gian làm hoá đơn và
nhân               cho              phí                tài             chánh.
AVERAGE DAILY FLOAT: Số bình quân thả nổi hằng ngày. Trị giá dollar
bình quân của chi phiếu hay hối phiếu đang được thu nhưng chưa ghi vào
bên có của tài khoản như quỹ đã thu hay quỹ đã có sẵn. Ngoài ra nó còn ám
chỉ     các    hạng     mục     đang      thu     (items    in    collection).
AVERAGE DOWN: Trung bình theo chiều xuống. Chiến thuật nhằm hạ thấp
giá trung bình phải trả cho cổ phần công ty. Thí dụ một nhà đầu tư muốn
mua 1.000 cổ phần có thể mua 400 cổ phần theo giá thị trường hiện hành
và mua chia làm 3 lần, mỗi lần 200 cổ phần khi giá rớt. Như thế giá phí
trung bình sẽ thấp hơn nếu mua một lần tất cả 1.000 cổ phần. Nhà đầu tư
cũng kéo giá trung bình xuống để bớt thiện thòi về thuế. Hãy nói thí dụ như
sau : một người nào đó mua cổ phần với giá $20/cổ phần, sau đó giá rớt
xuống còn $10. Thay vì không làm gì cả, nhà đầu tư có thể mua với giá $10
sau đó bán lỗ cổ phần đã mua với giá $20, như thế có thể dùng để bù trừ
cho số tiền khác đã kiếm được trong thời gian tính thuế. Tuy nhiên theo quy
luật Mua Bán Phủi Tay (wash sale) nói rằng để được quyền khai là đã thua
lỗ, nhà đầu tư không được bán chứng khoán đã mua với giá $20 ít nhất là 30
ngày      sau        khi      mua     chứng      khoán    với    giá     $10.
AVERAGE EQUITY: Vốn trung bình. Số cân đối trung bình hằng ngày trong
tài khoản mua bán. Công ty môi giới chứng khoán tính vốn hàng ngày của
khách hàng như là một phần phương cách để theo dõi lời và lãi trong giao
dịch mua bán chưa hoàn tất, nó được gọi là điều chỉnh theo thị trường (mark
to market).Khi các giao dịch mua bán kết thúc, số lợi nhuận và thua lỗ được
ghi lại vào tài khoản của mỗi khách hàng cùng với hoa hồng của công ty môi
giới . Dù cho vốn biến động hằng ngày là chuyện bình thường, nhưng vốn
trung bình là chỉ dẫn hữu ích để thực hiện các quyết định mua bán và đảm
bảo có đủ vốn để đáp ứng các quy định về tài khoản Margin (tài khoản vay
tiền               để               mua             chứng            khoán).
AVERAGE LIFE: thời gian hữu dụng trung bình. Số năm tính đến thời điểm
khi 1/2 dollar trị giá vốn của chứng khoán sẽ được chi trả .Thời gian hữu
dụng trung bình là một phương pháp tốc ký tính thời điểm thu hồi trái phiếu,
nó xác định hoa lợi khi đáo hạn của trái phiếu. Cách tình này chỉ có tính
phỏng chừng bởi vì nó căn cứ trên số chi trả trước của người vay và các yếu
tố khác .Thí dụ, thế chấp thông thường 30 năm sẽ chi trả trước nhanh hơn
nhiều so với các thể chế khác. Phân nửa thời gian hữu dụng của trái phiếu
công ty và đô thị thường được xác định bằng số chi trả trước nhanh hơn
nhiều so với các thế chấp khác phân nửa thời gian hữu dụng của trái phiếu
công ty và đô thị thường được xác định bằng số chi trả trước vào quỹ dự
phòng chi trả (Sinking Fund). Ngoài ra nó còn được gọi là thời gian hữu dụng
tính theo trung bình (Weighted AverageLife) trong lãnh vực chứng khoán
được thế chấp bảo đảm hay đáo hạn trung bình (Average Matusity) trong
lãnh     vực     trái     phiếu   công    ty    và   trái  phiếu    đô    thị.
AVERAGE OUTSTANDING BALANCE: Số cân đối trung bình chưa chi trả
(số cân đối trung bình đang hiện hành) Số cân đối trung bình chưa chi trả
trong danh mục đầu tư thẻ tín dụng, bao gồm số cân đối chi trả tiền lãi được
hoãn lại không tính trong các thời kỳ làm hoá đơn trước đây. Số cân đối
trung bình chưa chi trả là một phương pháp đo lường khả năng lợi nhuận và
cách dùng tài khoản, nó tương đương với tổng số tài khoản chia cho số tài
khoản               có            số           cân          đối           này
AVERAGE TICKET: Thẻ trung bình. Giao dịch mua bán thương nghiệp trung
bình trong chương trình thẻ ngân hàng. Nó còn được gọi là hối phiếu trung
bình. Nó được tính bằng cách chia tổng số phí dollar được tính trong một
khoảng thời gian cho số bán hối phiếu. Nó biểu hiện hoạt động của tài khoản
và gián tiếp đo lường lệ phí trao đổi thẻ ngân hàng do các ngân hàng khác
chi                                                                       trả.
AVERAGE UP: Trung bình theo chiều lên. Mua chứng khoán lên thị trường
đang tăng giá để hạ thấp tổng số giá phí, thí dụ, mua từng đợt cùng một số
lượng cổ phần theo từng giá $50, $52, $54, $58 như vậy giá phí trung bình
sẽ là $53,50, đây là một thực tế toán học nhưng nó không xác định được
chứng      khoán       có    đáng    mua     theo   giá   đó    hay    không.
AVERSIO:                                   Trọn                           gói.
1. Trong thương mại, đây là việc bán một đơn vị có khối lượng lớn thay vì
bán                                   từng                              phần.
2. Trong bảo hiểm, aversio periculi có nghĩa bảo hiểm toàn bộ thua lỗ, mất
mát.
AWARD:                Quyết          định         -        Chấp          nhận
1. Quyết định của hội đồng trọng tài sau khi nghe các lời tranh cãi của các
bên trong một vụ tranh chấp theo tính cách hoặc ủng hộ bên này hay ủng
hộ                                  bên                                    kia.
2. Chấp nhận giá đặt mua có cạnh tranh trong mua bán tại thị trường đấu
giá đối với công khố phiếu Hoa Kỳ hay trái phiếu đô thị.
AWAY FROM THE MARKET: Chưa đúng giá thị trường Cách diễn tả được sử
dụng khi giá đặt mua của lệnh có giới hạn (limit order) thấp hơn hay giá đặt
bán cao hơn giá thị trường hiện hành của chứng khoán. Lệnh có giới hạn
chưa đúng giá thị trường sẽ được chuyên viên giữ lai để sau này thực hiện
tiếp trừ khi có lệnh mua hoặc huỷ bỏ (Fill Or Kill - FOK)..
  BABY BOND: Trái phiếu có mệnh giá nhỏ Trái phiếu nợ khả hoán hay trực
tiếp có mệnh giá dưới $1.000 dollar, thường từ $25 đến $500. Trái phiếu có
mệnh giá nhỏ làm cho thị trường trái phiếu vừa tầm với nhà đầu tư nhỏ (ít
tiền), vì lẽ đó mở ra một nguồn quỹ thích hợp với các công ty không đủ điều
kiện tham gia vào các thị trường tài chánh lớn . Nhưng ngược lại, trái phiếu
đòi hỏi phí quản lý cao hơn (tương ứng với tổng số tiền được tăng) đối với
việc phân phối và tiến trình thực hiện và không có thị trường lớn và năng
động để bảo đảm khả năng chuyển đổi ra tiền mặt (khả năng thanh toán)
như            các         trái        phiếu            thông          thường.
BACK CONTRACTS: Hợp đồng còn lâu mới đáo hẹn Hợp đồng futures còn
lâu mới đáo hạn. Nó được gọi là Back months hay Distant contracts (hợp
đồng còn nhiều tháng nữa mới đáo hạn). Ngược lại với front contracts (hợp
đồng             gần          đến           ngày            đáo           hạn).
BACKDATING: Ghi lùi ngày tháng Tổng quát: Sắp đặt ngày tháng (thời
điểm) văn kiện giấy tờ chi phiếu hay các công cụ khác sớm hơn ngày đã ấn
định. Quỹ hỗ tương đầu tư : đặc tính cho phép người trong quỹ được sử
dụng sớm hơn một số tiền ấn định trong một khoảng thời gian ấn định. Với
phí bán được giảm. Định lùi lại ngày tháng, thường đi kèm với một vụ giao
dịch mua bán lớn, là làm cho một trị giá có hiệu lực từ trước để mua trước
thời điểm nhằm đáp ứng các quy định của số trên đã hứa chi trước hay các
quy       định     của      thư    xác       định      (mua      hay      vay).
BALANCE SHEET: Bản cân đối tài khoản Báo cáo tài chánh còn gọi là báo
cáo tình hình hay báo cáo vị thế tài chánh, cho biết tình trạng tài sản của
công ty, nợ và vốn cổ đông vào một thời điểm ấn định, thường là lúc cuối
tháng. Đây là một cách để xem xét một công ty kinh doanh dưới dạng một
khối vốn (tài sản) được bố trí dựa trên nguồn của vốn đó (nợ và vốn cổ
đông). Vốn tương đương với nợ và vốn cổ đông nên bản cân đối tài khoản là
bản liệt kê các hạng mục sao cho hai bên đều bằng nhau. Không giống với
bản báo cáo lời lỗ là bản cho biết kết quả của các hoạt động trong một
khoảng thời gian, bản cân đối tài khoản cho biết tình trạng các sự kiện kinh
doanh tại một thời điểm. Nó là một ảnh chụp (tĩnh) chứ không phải là một
cuốn phim (động) và phải được phân tích dựa trên sự so sánh các bản cân
đối tài khoản trước đây và các báo cáo hoạt động khác.
BALANCE        SHEET    RATIOS:     Các     tỷ    lệ   cân   đối   tài   khoản
1. Tỷ lệ dùng để xác định tình trạng tài chánh và các thay đổi vị thế tài
chánh của công ty dựa trên các dữ kiện báo cáo trong bản cân đối tài khoản.
Một số tỷ lệ đặc biệt được áp dụng trong ngân hàng. Quan trọng nhất là tỷ lệ
vốn (đo lường tỷ lệ vốn cổ đông đối với tổng tài sản) và tỷ lệ thanh toán (đo
lường khả năng ngân hàng để trang trải số tiền ký thác được rút ra và chi trả
quỹ nhằm thoả mãn nhu cầu tín dụng của người vay). Các tỷ lệ hữu ích khác
là tỷ lệ tiền vay đối với số ký thác (tổng số tiền vay chia cho tổng số ký
thác) tỷ lệ thanh lý (charge-off ratio), tỷ lệ xoá nợ vì khó đòi (số xoá sổ
thuần được tính theo số phần trăm của tổng số tiền cho vay). Tỷ lệ dự trữ
tiền vay mất đứt (số dự trữ tiền vay mất đứt đối với trên vay có khả năng
mất đứt tính theo số phần trăm tổng số trên cho vay) và tỷ lệ tiền cho vay
chưa trả (Nonperforming loans - tiền vay quá hạn chưa trả) đối với tổng số
tiền                                  cho                                 vay.
2. Tỷ lệ kế toán do nhân viên tín dụng ngân hàng dùng để đánh giá sức tín
dụng của người vay. Các tỷ lệ thường được sử dụng rộng rãi nhất là : tỷ lệ
đo lường sức chứng khoán (Acid test ratio) hay tỷ lệ thử biết ngay (quick
ratio) (tài sản ngắn hạn chia cho nợ hiện hành), tỷ lệ hiện hành (current
ratio) (tài sản hiện hành chia cho nợ hiện hành) và tỷ lệ trang trải nợ (vốn
lưu động chia cho nợ dài hạn). Tỷ lệ tài chánh có thể được đo lường dựa trên
các tỷ lệ trong các năm trước hay các chỉ số công nghiệp để tính cho nhanh
và     dễ    so    sánh.    các    tỷ    lệ   quan    trọng    như    tỷ    lệ.
BID BOND: Cam kết của bên đấu thầu Cam kết thực hiện của bên đấu thầu
về một hợp đồng dự án quốc tế. Sự cam kết được yết thị như là bằng chứng
về khả năng của người đấu thầu có thể thực hiện các điều khoản trong hợp
đồng. Tín dụng thư hỗ trợ là một phương pháp thông thường để thông báo
cam             kết           của            bên           đấu           thầu.
BID - TO - COVER RATIO: Tỷ lệ giá đặt mua trúng thầu vô giá đặt mua
khác Số giá đặt mua đạt được trong cuộc đấu giá công trái khi so sánh với số
giá đặt mua được chấp nhận. Tỷ lệ cao (trên 2,0) cho biết là việc đặt giá
mua rất năng nổ và cuộc đấu giá coi như thành công : Tỷ lệ thấp cho biết
nhà nước có khó khăn trong việc bán trái phiếu, và thông thường kéo theo
cái đuôi "Tail" dài, có nghĩa là có chênh lệch lớn giữa hoa lợi trung bình và
hoa lợi cao (giá đặt mua trung bình và giá đặt mua thấp nhất được chấp
nhận)
BlD WANTED (BW): Bố cáo đấu giá Thông báo của người có chứng khoán,
trái phiếu muốn bán và sẵn sàng xem xét các giá đặt mua. Bởi vì giá cuối
cùng tuỳ thuộc vào thương lượng nên giá đặt mua theo bố cáo đấu giá
không cần phải ấn định trước. Bố cáo đấu giá thường có trên các tờ yết giá
được            phát            ở           các           thị          trường.
BIDDING UP: Giá đặt mua tăng Giá đặt mua chứng khoán liên tiếp được
nâng lên vì ngại rằng giá đang tăng vọt sẽ làm cho các lệnh mua bán không
thể thực hiện được. Nhà đầu tư muốn mua một số lượng lớn cổ phần trong
thị trường đang tăng giá lúc đó người nay đang dùng lệnh có giới hạn (lệnh
mua theo giá ấn định hoặc thấp hơn) để đảm bảo được giá có lợi nhất, tuy
nhiên vì lệnh đặt bán đang tăng trên thị trường, nên nhà đâu tư phải tăng
mức giới hạn trong lệnh mua lên để tiếp tục tích luỹ cổ phần. Đến một mức
độ nào đó người mua tạo ra giá mua tăng gây áp lực trên chứng khoán,
nhưng lúc đó hầu hết giá đã tăng ngoài vòng kiểm soát của ông ta.
BIG BANG: Bùng nổ cải tổ Sự điều chỉnh của các thị trường chứng khoán ở
London vào ngày 27-10-1986, biến cố nay có thể so sánh với biến cố May
Day ở Hoa Kỳ. Nó đánh dấu giai đoạn quan trọng tiến đến một thị trường tài
chánh thế giới duy nhất. BIG BLUE : Công ty IBM Tên thông dụng của
Interational Business Machines Corporation (công ty IBM), do bảng hiệu của
công                ty               sơn              màu                xanh.
BlG BOARD: Thị trường chứng khoán New York Tên thông dụng của New
York                  Stock                  Exchange                   (NYSE).
BATCH: Một mẻ - Đợt Nhóm chi phiếu, hối phiếu hay các công cụ chi trả
được tập hợp thành một đơn vị để Văn Phòng Điều Hành xử lý sau đó trong
suốt ngày làm việc. Nó còn được gọi là "khối" (Block). Hãy đối chiếu với On-
line                                                                 Processing.
BATCH HEADER RECORD: Số sách tập hợp các danh mục chính
1. Sổ sách có 94 danh mục địa chỉ ngân hàng để gởi sổ chi trả ACH
(Automated Clearing House). Mã này có thể không cùng với mã số chuyển
ABA nếu số chi trả được tiến hành thông thường thông qua một ngân hàng
tương                                                                       tác.
2. Mã số nhận dạng một nhóm tài khoản được xử lý như một đơn vị.
BD FORM : Tờ khai BD Hồ sơ của công ty môi giới chứng khoán phải cập
nhập hoá và nộp cho SEC, trong đó ghi chi tiết về tài chính và cán bộ công
nhân                                                                       viên.
BEAR:              Người          đầu           cơ           giá          xuống
BEAR BOND: Trái phiếu trong thị trường chiều xuống Trái phiếu được xem
như là có thể tăng trị giá trong thị trường có chiều xuống, có nghĩa là lúc lãi
suất thị trường tăng. Trái phiếu điển hình chi trả cho nhà đầu tư một loạt
tiền mặt cố định theo trị giá dollar và theo thời điểm chi trả, nó sẽ giảm giá
khi lãi suất thị trường tăng. Thí dụ, một vài loại trái phiếu nào đó như chứng
khoán thế chấp có lãi suất tách riêng (interest-only strip) chỉ lấy theo lãi
suất hay chứng khoán được thế chấp bảo đảm - chi trả tiền lãi theo khả
năng tăng trị giá trong thị trường chiều xuống bởi vì số chi trả lại của số thế
chấp cơ sở đã bị chậm lại, việc trả lại chậm này làm tăng tổng số tiền mặt
mà nhà đầu tư mong nhận được trong thời gian hiệu lực của đầu tư.
BEAR HUG: Bí quá phải làm (bị con gấu ôm) Giá đặt mua cao (Takeover -
giá đặt mua nhằm mua lại một công ty - giá đặt mua để tiếp quản công ty)
vì thế có giá và các đặc tính hấp dẫn ban giám đốc công ty bị mua (target
company), ban giám đốc có thể phản đối vì các l› do khác nhưng phải chấp
nhận      nếu      không    muốn       bị   các      cổ    đông     phản     đối
BEAR MARKET: Thị trường rớt giá lâu dài -Thị trường theo chiều hướng
xuống Giá rớt trong một thời khoảng kéo dài. Thị trường chứng khoán theo
chiều xuống dẫn đến việc người ta dự báo hoạt động kinh tế sẽ giảm và thị
trường trái phiếu theo chiều xuống là hậu quả của lãi suất thị trường gia
tăng.
BEAR RAID: Đột kích của người đầu cơ giá hạ Nhà đầu tư nỗ lực đầu cơ giá
chứng khoán bằng cách bán khống một số lượng lớn cổ phần. Những người
đầu cơ khống bỏ túi số chênh lệch giữa giá ban đầu vô giá mới thấp hơn giá
ban đầu sau khi thực hiện đầu cơ giá. Việc này trái với luật lệ của SEC, theo
luật SEC chỉ được bán khống theo giá tăng một gạch (uptick) (giá sau cùng
cao hơn giá trước đó) hay theo giá cộng gạch o (zero plus tick) (giá sau cùng
không thay đổi nhưng cao hơn giá sau cùng trước giá khác).
BEAR SPREAD: Mua bán theo chênh lệch trong thị trường giá hạ - Chênh
lệch do đầu cơ giá hạ Sách lược trong thị trường option nhằm kiếm lời khi
giá chứng khoán hay . hàng hoá bị rớt giá. Người theo sách lược này có thể
mua phối hợp hợp đồng Call Options và Put Options cùng một loại chứng
khoán theo giá điểm (giá thực thi) khác nhau - để kiếm lợi khi giá rớt. Hoặc
là nhà đầu tư có thể mua hợp đồng put options ngắn hạn và hợp đồng put
options dài hạn để kiếm lời từ số chênh lệch giữ hai hợp đồng khi giá hạ.
BEAR SQUEEZE: Nhà đầu cơ giá hạ bị nghiền nát Sự can thiệp chính thức
của ngân hàng trung ương và thị trường ngoại hối để buộc nhà đầu cơ tiền
tệ bán không tiền tệ (bán tiền tệ vay mượn) phải bảo kê vị thế của họ, nhằm
ngăn chặn nhà đầu cơ tìm cách kiếm lời thật nhanh. Thông thường việc này
được thực hiện bằng cách cấm mua tiền tệ địa phương nhiều hơn số có sẵn
trong thị trường ngoại hối và thường làm. cho nhà đầu cơ tiền tệ thua lỗ
nặng.
BEARER BOND: Trái phiếu thuộc người giữ Trái phiếu chi trả cho người giữ
(mang) hơn là trả cho người sở hữu có đăng ký trong sổ của ngân hàng phát
hành hay đơn vị đại lý phát hành. Trái phiếu này là công cụ chi trả không
căn cứ vào bản ghi quyền sở hữu. Người được chi trả là người có trái phiếu
và giữ nó một cách trung thực (hợp pháp) . Tiền lãi trái phiếu được trả nửa
năm một lần khi phiếu lãi (coupon) được cắt ra và trình cho ngân hàng để
lãnh tiền lãi, giống như chi phiếu. ngược lại với trái phiếu đăng ký
(Registered                                                            Bond):
BEARER DEPOSITARY RECEIPT (BDR): Biên nhận tồn trữ ký thác thuộc
người mang Biên nhận số tồn kho được thịết lập cho người mang. BDR được
phát hành cho số cổ phần trong các công ty nước ngoài.
BEARER DEPOSIT NOTE (BDR): Chứng chỉ ký thác thuộc người mang
Chứng chỉ thuộc người mang được phát hành cho số ký thác ngân hàng.
Trong khi chứng chỉ ký thác (CD - Certificate of deposits) là loại ký thác có
lãi   thì  BDR     là  loại   công    cụ   có   chiết    khấu   (khấu    trừ).
BEARER FORM: Thể thức trái phiếu thuộc người mang Loại trái phiếu không
đăng ký trong sổ sách của công ty phát hành và vì thế có thể chi trả cho
người nào có trái phiếu. Trái phiếu thuộc người mang có phiếu lãi đinh kèm
(coupon) trái chủ sẽ gởi hay trình phiếu lãi này vào ngày đáo hạn lãi để
nhận lãi, vì thế có tên khác là Coupon Bond. Chứng chỉ chứng khoán thuộc
người mang có thể chi trả mà không cần bối thự mà chỉ cần được chuyển
giao. Cổ tức được chi trả bằng cách trình phiếu lãi, nó đã được định ngày chi
trả và số chi trả. Hầu hết các chứng khoán phát hành ngày nay, ngoại trừ
chứng khoán nước ngoài, đều dưới hình thức đăng ký, kể cả trái phiếu đô thị
phát               hành              từ               năm               1983.
BED AND BREAKFAST: Bán trễ mua sớm Chứng khoán được bán vào cuối
ngày trên thị trường chứng khoán sau đó được mua lại vào buổi sáng kế
tiếp. Nhà mua bán có ý định tạo ra một vụ thua lỗ để bù trừ vào số tư bản
kiếm được bị đánh thuế. Nếu giá mua lại ngay kế tiếp rớt giá mạnh so với
giá bán thì nhà mua bán không bị lỗ do đó không được bù trừ vào thuế.
BELLY UP: Phá sản Tiếng lóng nói về một người vay, công ty hay dự án
phát triển bị phá sản và không có khả năng chi trả cho chủ nợ. Ngoài ra,
một ngân hàng hay tổ chức tiết kiệm và cụ thể là tổ chức tài chánh bị cơ
quan          lập       pháp        tài       chánh          đóng        cửa.
BELLWETHER: Chứng khoán đầu đàn Chứng khoán được xem như là kim
chỉ nam của chiếu hướng thị trường. Trong lãnh vực chứng khoán, chứng
khoán IBM (International Business Machines) trong một thời gian dài được
xem là kim chỉ nam (chứng khoán đầu đàn) bởi vì các nhà đầu tư thuộc tổ
chức sở hữu rất nhiều chứng khoán này và những người này có nhiều khả
năng kiểm soát cung và cầu trên thị trường chứng khoán. Các hoạt động
mua bán của các tổ chức tài chánh có khuynh hướng ảnh hưởng đến các nhà
đầu tư nhỏ và do đó ảnh hưởng đến thị trường nói chung. Trong lãnh vực
trái phiếu, trái phiếu kho bạc dài hạn 20 năm được xem là trái phiếu đầu đàn
(kim chỉ nam), nó biểu thị chiều hướng mà tất cả các trái phiếu khác có khả
năng                     biến                   chuyển                   theo.
BELOW MARKET RATE: Lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường Lãi suất thấp
hơn lãi suất thông lệ trong một thị trường đã biết, nó có thể lập ra để giúp
đỡ cho người mua có lợi tức thấp hay bình thường, như lãi suất trong thế
chấp được trái phiếu Doanh Thu Có Thế Chấp (Mortgage Revenue Bonds) tài
trợ, đó là lãi suất ban đầu thấp trong thế chấp có lãi suất điều chỉnh còn gọi
là                                 Teaser                                Rate.
BELOW                 PAR:               Dưới            mệnh               giá
BENCHMARK: Định chuẩn, căn bản cho lãi suất, giá cá trên thị trường Mức
chuẩn xác cho giá cả, lãi suất của chứng khoán trên thị trường khi so sánh
với mức lên xuống của lãi suất đối với trái phiếu nhà nước. Other benchmark
Treasury issues increased more sharply. (lãi suất căn bản khác của trái
phiếu kho bạc nhà nước tăng mạnh hơn nữa). tuần một lần sẽ thanh toán
thế chấp 30 năm dứt điểm trong vòng khoảng 17 năm, làm giảm đáng kể số
lệ phí tài chánh cho người vay. Xem : Alternative Mortgage Instruments.
BLACK FRIDAY: Ngày thứ sáu đen tối Thị trường tài chánh rớt giá trầm
trọng. Ngày thứ sáu đen tối đầu tiên xảy ra vào ngày 2l-9-1869 khi một
nhóm nhà tài chánh cố gắng cô lập (ép giá -corner) thị trường vàng do đó
đẩy mạnh sự hỗn loạn kinh doanh tiếp theo sau khủng hoảng (depression -
suy thoái kinh tế). Khủng hoảng năm 1873 cũng bắt đầu vào ngày thứ sáu
và từ đó từ ngữ ngày thứ sáu đen tối dùng để chỉ sự thất bại nào làm ảnh
hưởng           đến        các       thị        trường        tài       chánh.
BLACK KNIGHT: Hiệp sĩ đen, người tiếm quyền Một nhà đầu tư sắp tới sẽ
tham gia vào một vụ tiếp thụ (takeover) (Tiếm quyền có hữu ý xấu hay đặt
giá mua không ai mong để cố mua các cổ phần có quyền kiểm soát trong
công                                                                       ty).
BLACK MARKET: Chợ đen Thị trường hàng lậu và dịch vụ bất hợp pháp.
Chợ đen nổi lên khi thị trường tiêu thụ phát triển (consumer market - thị
trường tiêu thụ nhiều hơn sản xuất) hàng cấm hay hàng hiếm. Thị trường
chợ đen tăng trưởng mạnh trong nền kinh tế hoạch định và trong những giai
đoạn             khẩn           cấp           của          quốc            gia.
BLACK MONDAY: Ngày thứ hai đen tối Ngày 19-10-1987 khi chỉ số trung
bình công nghiệp Dow Jones rớt xuống đến mức kỷ lục là 508 điểm mà tuần
trước đó cũng đã rớt mạnh rồi, nguyên do là vì nhà đầu tư lo lắng mức giá
chứng khoán bị thổi phồng (quá cao), ngân sách liên bang và cán cân
thương mại bị thâm hụt, và ảnh hưởng của hoạt động thị trường nước ngoài.
Nhiều người đã đổ tội cho chương trình mua bán bằng hệ thống vi tính đã
đưa đến sự lên xuống bất bình thường (bất ổn định) cực điểm này.
BLACK-SCHOLES OPTIONS PRICING MODEL: Công thức toán học được
dùng rộng rãi để định giá các hợp đồng option. Mô hình do Fisher Black và
Myron Scholes triển khai để phán đoán hợp đồng options có được định giá
công bằng hợp lý không. Mô hình liên kết các yếu tố như : bất ổn định (tăng
giảm bất thường) của lợi nhuận công ty, mức lãi suất thị trường, mối tương
quan của giá chứng khoán cơ sở với giá điểm (strike price - giá thực thi) của
hợp đồng option đáo hạn. Các định giá hiện nay sử dụng mô hình này được
Options                             Monitor                           Service.
BLUE LIST: Bản danh sách xanh (Trái phiếu đô thị). ấn bản tài chánh hàng
ngày liệt kê các trái phiếu được đem ra bán bởi khoảng 700 nhà mua bán và
các ngân hàng, có mệnh giá hơn 3 tỷ dollar. Bản danh sách xanh phần lớn
có nội dung về các dữ kiện thuộc trái phiếu đô thị Với những tin tức về giá
hoa lợi và các dữ kiện đúng, bản danh sách xanh là nguồn tin tức đầy đủ để
hiểu các hoạt động và khối lượng trong thị trường cấp hai của loại trái phiếu
được miễn thuế. Một vài loại trái phiếu công ty do cùng những người buôn
bán này đưa ra mua bán cũng được liệt kê trên bản danh sách xanh. Tên đầy
đủ    của    nó     là   Blue    list    of    Current  Municipal   Offerings.
BLUE SKY LAWS: Luật bảo vệ nhà đầu tư Tên thông dụng của luật lệ chứng
khoán được thiết lập nhằm bảo vệ nhà đầu tư không mua nhầm chứng
khoán vô giá trị. Luật lệ này thay đổi theo từng tiểu bang nhưng có chung
những điều ngăn cấm tương tự về lừa đảo và quy định đăng ký hầu hết các
cổ phần được đem ra bán ngoại trừ trái phiếu đô thị. Nhiều tiểu bang theo
khuôn                mẫu                luật            liên            bang.
BOARD:                                    Hội                            đồng
1. Bộ phận lãnh đạo chính thức của một tổ chức ; Hội Đồng Quản trị (Board
of Directors) của ngân hàng hay công ty, Hội Đồng Thụ uỷ (Board of
Trustees) của ngân hàng tiết kiệm hỗ tương hay Hiệp Hội Tiết Kiệm và Cho
Vay.
2. Chữ tắt của Hội Đồng Thống Đốc (Board or Governors) của Hệ Thống Dự
Trữ                                   Liên                              Bang.
3.Tên thông dụng của thị trường chứng khoán, đặc biệt dùng cho NYSE (New
York     Stock      Exchange)       hay      còn    gọi    là   Big    Board.
BOARD BROKER: Người môi giới ở thị trường Chicago Nhân viên của
Chicago Board Options Exchange (thị trường mua bán hợp đồng options ở
Chicago) người này điều hành các lệnh mua bán chưa phù hợp với thị
trường, nên các lệnh này chưa thể thực hiện ngay, lúc đó họ sẽ thông báo
cho các thành viên thị trường để những người này thi hành các lệnh đó.
BOARD OF ARBITRATION: Hội đồng trọng tài Nhóm 3 người hay vài người
được chỉ định để phán quyết các vụ kiện giữa các công ty chứng khoán và
các khách hàng đòi quyền bồi thường do khách hàng đệ trình. Phân xử hai
bên (trọng tài phân xử - arbitration) là phương thức được thừa nhận bởi
NASD (National Association of Securities Dealers), Municipal Securities Rule
Making Board (Hội Đồng Làm Luật về Trái Phiếu Đô Thị) và các thị trường để
giải quyết các vụ tranh chấp, nó được áp dụng cho cả công ty thành viên lẫn
công            ty           không             là         thành          viên.
BULGE: Tăng nhất thời Giá cả tăng nhanh và tạm thời - áp dụng cho tất cả
hàng hoá hay thị trường chứng khoán, hoặc một loại hàng hoá hay chứng
khoán              cá           nhân              nào           đó           .
BULK FILING: Xử lý nhanh hồ sơ chi phiếu Hoạt động xử lý chi phiếu liên
quan đến phân loại thật nhanh chi phiếu và số tồn của các chi phiếu được
huỷ theo chu trình soạn sẵn bản kê khai (statement preparation cycle) hơn
là theo số tài khoản. Xử lý hàng loạt sẽ tiết kiệm thời gian và sức lao động
bởi vì chi phiếu được xếp thành nhóm chỉ một lần theo số tài khoản của
khách hàng khi in và phát cho khách hàng các báo cáo tài khoản chi phiếu.
BULL: Người đầu tư giá tăng Người nghĩ rằng giá sẽ tăng. Người ta có thể
lạc quan về triển vọng của một loại chứng khoán cá nhân, trái phiếu hay
hàng hoá, một mảng của một ngành công nghiệp hay toàn thể thị trường.
Trong ý nghĩa tổng quát hơn, bunish có nghĩa là lạc quan, vì thế người ta có
thể        lạc          quan       về       tổng        thể        kinh        tế.
BULL BOND: Trái phiếu có chiều lên Trái phiếu được gọi là khả năng tăng trị
giá trong thị trường có chiều lên (bull market) có nghĩa là khi lãi suất thị
trường đang giảm. Trong thực tế hầu hết các trái phiếu sẽ tăng trị giá trong
một thị trường có lãi suất giảm, các trái phiếu đặc biệt diễn biến tốt trong thị
trường chiều lên là loại trái phiếu riêng về phần vốn có thế chấp bảo đảm
(principal only strip mortgage - backed securities) (PO). PO bao gồm toàn
thể số chi trả vốn thế chấp hoạt động tốt trong thị trường lãi suất giảm bởi
vì người thế chấp tái tài trợ tiền vay của họ theo lãi suất thị trường thấp hơn.
Nhà đầu tư được chi trả lại số đầu tư ban đầu nhanh hơn, làm tăng hoa lợi
lượng            tiền           mặt            của           trái           phiếu.
BULL NOTE: Trái phiếu theo chiều lên - trái phiếu có bảo hộ giá Tại Anh,
trái phiếu có kèm hợp đồng option bảo hộ giá. Trị giá trái phiếu dựa trên chỉ
số tài chánh hay giá hàng hoá vào thời điểm thu hồi. Trị giá thu hồi của loại
trái phiếu này cao hơn vốn nếu giá cơ bản (reference price - giá tham khảo)
tăng      nhưng       thấp    hơn      vốn   nếu     giá     cơ     bản     giảm.
BULL MARKET: Thị trường theo chiều lên Giá lên của chứng khoán, trái
phiếu hay hàng hoá kéo dài nhiều ngày.Thị trường theo chiều lên thường kéo
dài ít nhất một vài tháng và có đặc tính là số lượng mua bán cao.
BULL SPREAD: Mua và bán theo chiếu lên Sách lược về hợp đồng option
được thực hiện bằng hợp đồng put option và call option - cách này sẽ đem
lại lợi nhuận nếu như chứng khoán cơ sở tăng giá. Có 3 loại mua và bán
song hành theo chiều lên như sau : - Mua và bán song hành theo chiều
đứng: cùng lúc mua và bán hợp đồng options cùng loại với giá điểm (strike
price - giá chọn lựa) khác nhau nhưng cùng ngày đáo hạn. - Mua và bán
song hành theo lịch: cùng lúc mua và bán hợp đồng option cùng loại, cùng
giá nhưng khác ngày đáo hạn. - Mua và bán đong hành theo đường chéo:
phối hợp mua và bán song hành theo chiều đứng và theo lịch, theo đó nhà
đầu tư mua và bán hợp đồng options cùng loại, nhưng khác giá điểm và
khác ngày đáo hạn. Thí dụ, nhà đầu tư tin tưởng rằng chứng khoán XYZ sẽ
tăng, có thể là tương đối, nhà đầu tư mua một hợp đồng call option XYZ, giá
điểm 30 với phí mua option 11 /2 và bán một hợp đồng call option XYZ giá
điểm 35 với phí option 1/2 cả hai hợp đồng đều chưa có lời (out of the
money) giá phí thuần của chênh lệch hay chênh lệch giữa hai phí mua
options là $1. Nếu chứng khoán tăng lên 35 trước khi đáo hạn, hợp đồng call
option giá điểm 35 không còn giá trị và hợp đồng call option 30 có giá trị $5.
Vì thế chênh lệch này cho lợi nhuận $4 trên số đầu tư $1. Mặt khác nếu giá
chứng khoán giảm, cả hai hợp đồng đáo hạn và không còn giá trị, nhà đầu
tư            mất             toàn            bộ            phí            option.
BLULLDOG BOND: Trái phiếu Bulldog Tại Anh, trái phiếu do con nợ nước
ngoài phát hành (người nước ngoài vay tiền phát hành). Trái phiếu Bulldog
được tính theo đơn vị đồng Pound Anh, tỷ lệ lợi nhuận cố định và thường chi
trả                 lãi               từng               1/2                 năm.
BLLET:      Chi    trả    một    lần    một   -   ấn    định    một    lần    một
1. Trong tài chánh, chi trả lại số cân đối tiền vay trong một kỳ (trong một
lần).
2. Trong thị trường chứng khoán, trái phiếu hay giấy nợ được cung cấp theo
một lãi suất đã ấn định trước với thời điểm đáo hạn cố định.
CALENDAR: Lịch (thời biểu) bán chứng khoán Danh sách các chứng khoán
sẽ được đưa ra bán. Trái phiếu đô thị trái phiếu công ty, công phiếu, các
chứng      khoán      mới    đều     có      lịch  riêng     cho    mỗi     loại.
CALENDAR SPREAD: Mua và bán song hành theo lịch Sách lược mua bán
hợp đồng options bằng cách mua 2 hợp đồng option có cùng loại chứng
khoán nhưng khác ngày đáo hạn. Nếu giá điểm (exercise price= strike price
= giá thi hành) giống nhau thì gọi là chênh lệch theo chiều ngang (horizontal
spread). Nếu giá thi hành khác nhau thì gọi là chênh lệch theo đường chéo
(diagonal spread). Nhà đầu tư lời hay lỗ là do chênh lệch giá hẹp hay rộng
(ít                                 hay                                 nhiều).
CALL: Lệnh gọi (Lệnh thu hồi) hợp đồng option theo chiều lên
1. Ngân hàng : người cho vay yêu cầu chi trả sớm số tiền vay bởi vì người
vay đã không làm đúng các cam kết trong hợp đồng như duy trì số bảo hiểm
tương xứng hay chi trả đúng định kỳ, hoặc trong tiền vay hoạt kỳ (Demand
Loan) người cho vay thực hiện quyền của người cho vay là yêu cầu chi trả lại
đủ     số      tiền      vay    vào       bất     kỳ      thời    điểm     nào.
2. Lệnh gọi của tổng kiểm soát dược tổng kiểm soát viên tiền tệ gởi cho
ngân hàng quốc gia để lập báo cáo theo lệnh gọi (call report) hay báo cáo
tình             hình             (Report              of            Condition).
3. Lệnh của cơ quan lập pháp gởi cho một ngân hàng đang khó khăn yêu cầu
ngân hàng huy động thêm vốn, đôi khi gọi là lệnh gọi vốn.
4. Quyền thu hồi trái phiếu đang lưu hành trước khi đáo hạn. Thời điểm đầu
tiên khi nhà phát hành có thể ra lệnh gọi trái phiếu có ấn định trong tập
quảng bá mỗi kỳ phát hành trái phiếu, trong giao kèo có ghi điều khoản về
lệnh                                                                         gọi.
5. Quyền mua một số lượng cổ phần đã ấn định theo một giá ấn định và
theo                thời              điềm                 cố              định.
CALL BUYER: Người mua hợp đồng Call Option. Nhà đầu tư mua một hợp
đồng chứng khoán trong một thời gian ấn định với giá ấn định của một loại
cổ phần. Nếu giá cổ phần lên, người mua lời, ngược lại người mua lỗ.
CALL          DATE:          Thời          điểm        có        lệnh         gọi
CALL FEATURE: Đặc tính có lệnh gọi (lệnh thu hồi) Một phần trong thoả
thuận giữa nhà phát hành trái phiếu với người mua được gọi là indenture
(giao kèo) trong đó có ghi thời biểu và giá thu hồi trái phiếu trước thời hạn.
Hầu hết trái phiếu công ty và (trái phiếu đô thị đều có đặc tính là sau 10
năm thì có để có lệnh gọi (trái chủ thường gọi là "call protection") trái phiếu
nhà                nước                thì               không                có.
CALL LOAN: Lãi suất của broker cho khách hàng vay, được đăng trên báo.
CALL MONEY: Tiền sẵn sàng để sử dụng - Tiền để sẵn Ký thác hoạt kỳ, số
ký thác đầu tiên đặt trong quỹ thị trường tiền tệ ngắn hạn (money - market
funds). Nó còn được gọi là money at call, là tiền có thể chi trả lại theo yêu
cầu. Tại Đức, Pháp, Nhật và Anh tiền có sẵn là tài sản dự trừ khi được ngân
hàng trung ương đặt để cho cơ quan chiết khấu hay các tổ chức tài chánh
tương                                                                         tự.
CALL LOAN RATE: Lãi suất Brokers cho khách hàng vay ở ngân hàng để
cho                      khách                     hàng                     vay.
CALL OPTION: Hợp đồng Call Option. Hợp đồng mua hay bán theo giá đi
lên. Quyền được mua 100 cổ phần của một loại chứng khoán hay chỉ số
chứng khoán nào đó với giá đã ấn định trước, trước khi đến ngày đáo hạn
cũng đã định trước, đổi lại người mua hợp đồng call option phải trả một phí
mua (premium). Nếu giá chứng khoán đi đúng hướng theo dự đoán của
người mua hợp đồng call option tức là hướng đi lên thì người mua sẽ có lời
trong khi chỉ đầu tư một số tiền nhỏ (phí mua hợp đồng) hơn là phải bỏ
nhiều tiền để thực sự mua số chứng khoán. Đối với người bán, hợp đồng này
có thể đem lại lợi tức phụ. Người bán sẽ bỏ quyền sở hữu chứng khoán nếu
như          hợp         đồng        option          được       thực        thi.
CALL PREMLUM: Phí mua Call Option - Phí trả cho hợp đồng. CALL (chiều đi
lên) Số tiền mà người mua hợp đồng Call option phải trả cho người bán để
có quyền mua một loại chứng khoán hay chỉ số chứng khoán theo giá đã ấn
định và theo thời hạn đã ấn định. Trong lãnh vực trái phiếu (ưu đãi, khả
hoán) đây là số tiền trên mệnh giá mà nhà phát hành phải trả cho nhà đầu
tư      để       thu      hồi     trái      phiếu       trước     thời     hạn.
CALL PRICE: Giá thu hồi theo lệnh gọi (thu hồi) Giá mà nhà phát hành chi
trả để thu hồi trái phiếu hay chứng khoán ưu đãi theo điều khoản có lệnh gọi
hay đặc tính có lệnh gọi (tức thu hồi trước thời hạn). Nó còn được gọi là
Redemption Price (giá chuộc lại) để bù đắp cho người sở hữu trái phiếu hay
chứng khoán bị thiệt thòi về lợi tức và không còn quyền sở hữu, giá theo
lệnh gọi thường cao hơn mệnh giá chênh lệch này là phí trả cho lệnh gọi (call
premium).
CALL PROTECTION: Khoảng thời gian không có lệnh thu hồi Khoảng thời
gian trong đó nhà phát hành không được thu hồi trái phiếu. Trái phiếu nhà
nước Hoa Kỳ thường không có đặc tính lệnh gọi, trừ một ngoại lệ là trái
phiếu dài hạn 30 năm có thể có lệnh gọi sau 25 năm. Trái phiếu công ty và
đô thị thường có thời gian không có lệnh gọi là 10 năm. Nhà đầu tư sống
bằng lợi tức trái phiếu phải chắc rằng nó có bảo đảm thời gian không có lệnh
gọi bởi vì nếu không có bảo đảm, trái phiếu có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào
như           đã         ấn        định          trong         giao        kèo.
CALL PROVISION: Điều khoản về lệnh gọi (thu hồi) Điều khoản thoả thuận
giữa công ty phát hành trái phiếu và cổ phần ưu đãi với người mua về việc
thu hồi lại trái phiếu và cổ phần trước ngày đáo hạn với giá đặc biệt trong
trường                      hợp                      đặc                   biệt.
CALL      REPORT:         Báo    cáo     theo      lệnh    gọi    (yêu    cầu).
1. Báo cáo lợi tức và tình hình hàng quý theo quy định của cơ quan giám sát
đầu ngành tổ chức tài thánh : Ngân Hàng Quốc Gia báo cáo cho Tổng kiểm
soát tiền tệ, ngân hàng thành viên tiểu bang báo cáo cho Ngân Hàng Dự Trữ
liên                                 Bang                                 v.v...
2. Báo cáo phát triển kinh doanh của viên chức phụ trách lệnh gọi của ngân
hàng                    (bank                   calling                officer).
CALL SPREAD: Mua và bán đồng thời hợp đồng Call Option Nhà đầu tư
cùng lúc mua một hợp đồng call option và bán một hợp đồng call option
cùng       loại      chứng      khoán,       khác        ngày     đáo      hạn.
CALL WRITER: người bán hợp đồng Call option Người viết (bán) hợp đồng
chứng khoán theo giá hợp đồng và thời gian ấn định trước để người mua có
thể căn cứ vào đó để mua theo giá và thời gian đó.
CAPITAL TURNOVER: Quay vòng vốn Số bán hằng năm chia cho vốn cổ
đông bình quân (trị giá thuần) khi được so sánh trong một thời khoảng, nó
sẽ cho biết mức độ công ty có thể phát triển mà không cần phải đầu tư thêm
vốn. Tổng quát, công ty có lợi nhuận biên tế cao thì có vốn quay vòng thấp
và ngược lại. Nó còn được gọi là quay vòng vốn cổ đông.
CAPPING: Bán giựt giá Tung ra bán để kéo giá xuống. Bán nhiều cổ phiếu
một lúc để gây hoang mang, áp lực mọi người bán ra giá rẻ.
CAPITALIZATION RATIO: Tỷ lệ tư bản hoá Phân tích cơ cấu vốn của công
ty để biết nợ, chứng khoán ưu đãi, chứng khoán thường, vốn cổ đông - mỗi
thứ chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng số vốn công ty. Tỷ lệ rất hữu ích
để ước tính rủi ro tương đối và mức hỗ trợ tài chánh mà người sở hữu chứng
khoán ở các mức độ tương ứng có được. Xem Bond Ratio.
CAPITALIZE:                       Tư                     bản                 hoá
1. Chuyển lợi tức đã liệt kê thành số vốn, gọi là trị giá tư bản hoá, bằng cách
chia                       cho                       lãi                    suất.
2. Phát hành cổ phần để tài trợ cho chi tiêu vốn (hiếm khi thực hiện).
3. Ghi phần chi tiêu vốn (capital outlays - kinh phí vốn) như là phần thêm
vào tài khoản tài sản, chứ không phải như là chi phí.
CASH MANAGEMENT BILL: Phiếu nợ quản lý tiền mặt Công cụ nợ ngắn
hạn do công khố Hoa Kỳ phát hành có thời hạn 50 ngày, nó là một dạng
khác của phiếu kho bạc (treasury notes) hay trái phiếu kho bạc ngắn hạn.
Phiếu nợ quản lý tiền mặt được bán cho các nhà đầu tư thị trường tiền tệ
theo đơn vị tối thiểu là 1 triệu dollars. Phiếu nợ được phát hành để trang trải
cho thiếu hụt lên mặt tạm thời, thí dụ ngay trước khi đến ngày đáo hạn thu
thuế     chủ    yếu    -    như    15      tháng    4     hay  15     tháng    6.
CASH MARKET: Thị trường tiền mặt. Giao dịch mua bán bằng tiền mặt hay
thị trường tại chỗ được hoàn tất, có nghĩa là quyền sở hữu hàng hoá được
chuyển từ người bán sang người mua và việc chi trả thực hiện ngay lúc giao
hàng hoá. Thị trường tiền mặt khác với thị trường hợp đồng futures, trong
đó hợp đồng hoàn tất vào thời điểm ấn định trong tương lai.
CASH            POSITION:               Vị         thế         tiền          mặt
1. Tài sản tiền mặt trong ngân hàng, đồng nghĩa với khả năng thanh toán
bằng tiền mặt (liquidity). Nói đúng là vị thế tiền mặt là mức đo lường tiền
mặt có trong tay bao gồm tiền mặt trong kho an toàn và tiền mặt trong máy
trả tiền, tiền mặt có từ việc bán tài sản ngắn hạn như chứng chỉ ký thác, trái
phiếu nhà nước, thoả thuận mua lại v.v... Ngoài ra còn bao gồm số cân đối
tài khoản dự trữ thặng dư, số ký thác ở các ngân hàng khác, các chi phiếu
đang                                                                         thu.
2. Vị thế dự trữ trong tài khoản dự trữ của ngân hàng tại Ngân Hàng Dự Trữ
Liên         Bang         hay         ngân        hàng         tương         tác.
CASH RATIO: Tỷ lệ tiền mặt Tỷ lệ tiền mặt và chứng khoán dễ mua bán đối
với nợ hiện hành, cốt lõi của tỷ lệ thanh lý nhanh (quick ratio). Tỷ lệ tiền
mặt cho biết mức độ nợ có thể được thanh lý nhanh như thế nào. Đôi khi nó
còn          được        gọi        là         tỷ        lệ       thanh         lý
CASH             RESERVE:              Dự          trữ         tiền          mặt
1. Tiền mặt trong kho an toàn của ngân hàng có thể được dùng để thoả mãn
các quy định dự trữ của ngân hàng hội viên. Tiền mặt có trong tay bao gồm
tiền giấy và tiền đồng, có thể được dùng để đáp ứng các quy định dự trữ
theo                                   luật                                pháp.
2. Xoay tua mức tín dụng tối đa (line of credit) kèm theo tài khoản chi phiếu
cho phép người tiêu thụ viết chi phiếu có số lượng cao hơn số cân đối tài
khoản mà không phải chi trả phí thấu chi. Nó còn được gọi là Cash Reserve
Checking                  hay                 Overdraft                Protection
CASH SETTTEMENT: Sắp xếp chi trả bằng tiền mặt - Thanh lý bằng tiền
mặt
1. Điều khoản chi trả trong vài hợp đồng option và futures không yêu cầu
giao chứng khoán hàng hoá cơ sở. Đối với hợp đồng options, chênh lệch giữa
giá chi trả cho chứng khoán cơ sở và giá thực thi của hợp đồng sẽ được chi
trả bằng tiền mặt cho người mua option vào thời điểm thực thi hợp đồng.
Đối với hợp đồng futures, thị trường thiết lập giá khi trả vào ngày cuối cùng
mua bán và tất cả số chưa giải quyết còn lại được điều chỉnh theo thị trường
căn                  cứ                  vào                giá              đó.
2. Trong chứng khoán mua bán theo hợp đồng option việc giao chứng khoán
được mua theo thời điểm mua bán chứ không theo thời điểm chi trả.
CASH SECURITIES EQUIVALENT: Chứng khoán tương đương tiền mặt Bất
cứ loại chứng khoán của ngân khố, chứng chỉ ký thác sẵn sàng được chuyển
thành                                     tiền                              mặt.
CASH SURRENDER VALUE: Trị giá không còn là tiền mặt Trong lãnh vực
bảo hiểm, số tiền công ty bảo hiểm sẽ giao lại cho người mua bảo hiểm để
huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm. Đôi lúc được viết tắt CSVLI (Cash Surrender
Value of line Insurance), nó được ghi như là một tài sản trên trên bảng cân
đối tài khoản của một công ty có bảo hiểm nhân thọ lấy trên số vốn.
COMMODITY-BACKED BOND: Trái phiếu có hàng hoá bảo đảm Trái phiếu
liên quan chặt chẽ với giá hàng hoá cơ sở. Nhà đầu tư có trái phiếu liên quan
với giá bạc hay vàng sẽ nhận tiền lãi tuỳ theo giá kim loại hiện hành chứ
không phải theo trị giá dollar cố định. Theo ý nghĩa này trái phiếu là rào cản
chống lại lạm phát vì nó theo giá chung của hàng hoá (chứ không theo giá
tiền                                                                      giấy).
COMMODITY CREDIT CORPORATION: Công ty tín dụng hàng hoá Công ty
nhà nước tài trợ cho số trợ giá nông phẩm. Cơ quan tài trợ để bảo đảm tín
dụng thư ngân hàng nhằm trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu.
COMMODITY PAPER: Chứng từ cam kết bằng hàng hoá Tiền vay để tồn
kho hay tiền ứng trước được hàng hoá bảo đảm. Nếu hàng hoá quá cảnh,
vận đơn được thực hiện bởi một người bình thường mang nó (common
carrier). Nếu hàng hoá được tồn kho, biên nhận uỷ thác thừa nhận là hàng
hoá đang tồn kho và tiền thu được từ việc bán hàng hoá sẽ được thông báo
đến người cho vay, đây cũng còn là biên nhận kho liệt kê hàng hoá. Đó là
các chứng từ (vận đơn, biên nhận uỷ thác, biên nhận kho) có thể được dùng
để     bảo     đảm      cho    số     tiền     vay    hay    tiền    ứng  trước.
COMMODITY PRICE INDEX (CPI): Chỉ số giá hàng hoá Một tham khảo có
giá trị về giá tiền mặt tại chỗ của hàng hoá hay giá hợp đồng Futures. Chỉ số
giá hàng hoá do các cơ quan nhà nước soạn thảo hay do các thị trường riêng
- để theo dõi biến chuyển giá thị trường. Chỉ số giá cả dùng năm cơ bản để
đo lường biến chuyển giá cả trong một khoảng thời gian cố định, thường là
hằng ngày, hàng tháng và hàng năm.ở Hoa Kỳ chỉ số giá bán sẽ là chỉ số
chính      thức     của      giá    nông        nghiệp    và      công   nghiệp.
COMMODITY TRADING ADVISER (CTA): Nhà tư vấn Mua bán hàng hoá
(hợp                                                                      đồng)
COMMON LAW: Luật theo tập tục - Tiền lệ Bộ phận luật dựa trên các quyết
định pháp luật và tiền tệ. Ngày nay nhiều ý niệm luật pháp bao gồm cả luật
lệ về hợp đồng đều rút từ luật theo tập tục và tiền lệ.
COMMON            MARKET:         Thị        trường      chung       Âu    Châu
COMMON STOCK: Chứng khoán thường, cổ phần đại chúng Các đơn vị sở
hữu của công ty cổ phần (public company). Sở hữu chủ (cổ đông) có quyền
bỏ phiếu bầu hội đồng quản trị hay các vấn đề quan trọng khác cũng như
được nhận cổ tức của chứng khoán. Trong trường hợp công ty bị phá sản,
chủ nợ có bảo kê hay không có bảo kê, trái chủ và cổ đông có chứng khoán
ưu đãi sẽ được ưu tiên hơn các cổ đông có chứng khoán thường. Tuy nhiên,
nói chung chứng khoán thường có nhiều tiềm năng kiếm lời hơn.
COMMON STOCK EQUIVALENT: Tương đương chứng khoán thường Chứng
khoán ưu đãi (preferred stock) hay trái phiếu có thể chuyển sang chứng
khoán thường hay chứng chỉ (warrant) mua chứng khoán với giá đặc biệt
hay giá thấp hơn giá thị trường. Chứng khoán dùng để chuyển qua chứng
khoán thường có tiềm năng làm loãng trị giá của cổ đông sở hữu chứng
khoán thường đang lưu hành và việc hoán chuyển hay thực hiện được người
ta nhận biết khi thấy tỷ lệ lợi nhuận/cổ phần bị giảm hoàn toàn.
COMMON STOCK FUNDS: Quỹ chứng khoán thường, quỹ hỗ tương đầu tư
chỉ        đầu        tư        vào         chứng        khoán         thường.
COMMON STOCK RATIO: Tỷ lệ chứng khoán thường Số phần trăm tổng số
tư bản hoá tiêu biểu bằng chứng khoán. Theo quan điểm chủ nợ, tỷ lệ cao
tiêu biểu có một khoảng cách an toàn trong trường hợp thanh lý. Tuy nhiên,
trên quan điểm nhà đầu tư, tỷ lệ cao có nghĩa là thiếu đòn bẩy tài chánh
(leverage). Những gì tỷ lệ sẽ phải tuỳ thuộc phần lớn thì đó là sự ổn định
của lợi nhuận. Công ty phục vụ công cộng về điện có thể hoạt động với tỷ lệ
thấp vì lợi nhuận được ổn định. Theo quy luật chung, khi tỷ lệ chứng khoán
công ty công nghiệp dưới 30%, nhà phân tích sẽ kiểm tra mức ổn định lợi
nhuận và mức trang trải phí ổn định trong khoảng thời gian khó khăn cũng
như        trong      khoảng         thời      gian      thuận       lợi     .
COMMON TRUST FUND: Quỹ uỷ thác có tính cách chung
COMMUNITY          BANK:       Ngân      hàng     phục    vụ    cộng      đồng
CUM DIVIDEND: Có kèm cổ tức Kèm theo cổ tức, dây nói về một chứng
khoán mà người mua có quyền nhận một cổ tức đã được thừa nhận. Các
chứng khoán có kèm cổ tức là chứng khoán được mua bán vào ngày thứ
năm hay trước đó tính từ ngày ghi sổ trở về trước (record date - xem phần
sau). Khi đã thông báo ngày ghi sổ về cổ tức đó, thì các vụ mua bán từ ngày
thứ năm trở đi sẽ không có cổ tức nữa (phải chờ đến kỳ hạn sau).
CUM RIGHTS: Chứng khoán có quyền kèm theo Cổ đông với chứng khoán
có các quyền, nghĩa là muốn nói về các chứng khoán cho phép người mua,
mua một số lượng đặc biệt các chứng khoán chưa được phát hành. Ngày
chấm dứt là ngày chứng khoán chuyển từ chứng khoán có đặc quyền (cum
rights) sang chứng khoán không có đặc quyền, nó được quy định trong bản
quảng bá (prospectus) cùng với bản phân phối các đặc quyền.
CUMULATIVE PREFERRED: Chứng khoán ưu đãi tích luỹ Chứng khoán ưu
đãi có cổ tức bị huỷ bỏ vì thiếu lợi nhuận hay vì lý do nào khác, sẽ được tích
luỹ lại cho đến khi nào có đủ tiền trả. Nó được ưu tiên hơn cổ tức thường (cổ
tức của chứng khoán thường): cổ tức tích luỹ được trả trước rồi mới đến cổ
tức thường. Ngày nay, hầu hết chứng khoán ưu đãi đều có tính chất tích luỹ.
CURRENCY BOARD: Ban tiền tệ Một tổ chức định chế phát hành giấy nợ
ngân hàng nội địa được bảo đảm bằng tài sản dự trữ. Giấy nợ ngân hàng
được trao đổi theo lãi suất cố định. Ban tiền tệ không nhận ký thác hay phát
hành trái phiếu, tiền hay các công cụ nợ khác. Không giống ngân hàng trung
ương, các Ban Tiền Tệ không dùng công cụ tiền tệ hoá nợ để quản lý tài sản
dự                                                                              trữ.
CURRENCY EXPOSURE: Phải gánh chịu thiệt hại về tiền tệ Chênh lệch giữa
món nợ tính bằng một loại tiền tệ và tài sản lưu động bằng một loại tiền tệ
khác khi giao dịch mua bán được thanh toán bằng nhiều loại tiền tệ. Người
nợ phải gánh chịu thiết thời nếu tài sản của ông ta bị đánh giá theo loại tiền
tệ có giá trị không xác định lúc kết thúc giao dịch. Nếu người nợ bán tài sản
để trả nợ, số tiền thu được có thể thấp hơn mệnh giá của món nợ.
CURRENCY FUTURES: Hợp đồng futures tiền tệ Hợp đồng trong thị trường
futures về cung ứng một loại tiền tệ như đông dollar Mỹ, đồng pound Anh,
đồng franc Pháp, đồng mark Đức, đồng franc Thuỵ Sĩ, đồng yên Nhật. Các
công ty nào có bán sản phẩm khắp thế giới có thể bảo vệ rủi ro tiền tệ bằng
cách            mua              các            hợp          đồng           futures.
CURRENCY IN CIRCULTION: Tiền tệ luân chuyển Tiền giấy và tiền đồng
luân chuyển trong kinh tế. Được xem như thành phần của tổng số tiền luân
chuyển có cả tài khoản ký thác rút khi có yêu cầu (Demand Deposit- tài
khoản hoạt kỳ) trong ngân hàng.
DAILY INTEREST: Lãi hàng ngày. Lãi kiếm được từ thời điểm ký thác cho đến thời
điểm rút ra. Ngoài ra, tiền lãi tài khoản ký thác được kết hợp hàng ngày và được ghi
vào bên có tài khoản ký thác được kết hợp hàng ngày và được ghi vào tài khoản của
người ký thác thời khoảng khác nhau.Thí dụ, ký thác $100 trong 1năm (365 ngày) sẽ
kiếm được $ 0,84 tiền lãi kết hợp hàng ngày trong vòng 30 ngày, $2,53 trong 90 ngày,
$5,13 trong 180 ngày và $10,67 sau khi tròn năm. Xem Compound Interest.

DAILY TRADING LIMIT: Giới hạn mua bán hàng ngày. Số tối đa mà thị trường hàng
hoá và hợp đồng option được phép tăng hay giảm. Khi thị trường đạt đến mức giới hạn
sớm và giữ như vậy suốt ngày, nó được nói là đang ở mức giới hạn cao nhất hay thấp
nhất trong ngày. Thị trường thường áp đặt giới hạn mua hay bán hằng ngày trong mỗi
hợp đồng. Thí dụ, Chicago Board of Trade giới hạn bằng 2 điểm ($2000 cho mỗi hợp
đồng) tăng hay giảm trong hợp đồng option của future về công phiếu.
DAISY CHAIN: Mua bán giữa người đầu cơ giá thị trường (market manipulators) để
tạo ra một nhu cầu giả tạo về số lượng mua bán như mồi nhử lôi cuốn nhà đầu tư hợp
pháp. Khi những người mua bán này tăng giá lên, nhà đầu cơ giá tung những chứng
khoán trái phiếu ra, sau đó bỏ mặc cho những nhà đầu tư thiếu cảnh giác ôm số chứng
khoán        khoán       đó     vì       không       có       người      mua        lại.
DATA CAPTURE: Hệ thống thu dữ kiện Hệ thống điện tử thu hồi phiếu bán thẻ ngân
hàng thương mại nhận trực tiếp từ hệ thống chi trả mua bán lẻ của thương buôn hay
máy đăng ký tiền mặt điện tử (Electronic cash register). Hệ thống thu dữ kiện của ngân
hàng còn được gọi là draft capture (hệ thống thu hồi phiếu) làm tăng tốc độ thu quỹ
cho các ngân hàng thương nghiệp xử lý thẻ và các tài khoản thương nghiệp của họ
bằng cách loại bỏ thời gian trôi nổi của thư tín trong việc xử lý phiếu ghi thẻ ngân
hàng.
DATA ENCRYPTION STADARD (DES): Tiêu chuẩn mã hoá dữ kiện Được ngành tài
chính thừa nhận nhằm bảo vệ các thông tin giao dịch mua bán bảo mật (sensitive
transaction information) bao gồm số cân đối tài khoản, mã số chứng minh ngân hàng
(còn gọi là khoá số của nhà phát hành) và mã số mở tài khoản của người sử dụng
(consumer account access codes). DES là tiêu chuẩn chung do Nation Institute of
Standards and Technology phát hành và cũng được biết dưới tên DEA (Data Encryption
Algorithm)       và       được      ngành        tài      chánh       chấp       nhận.
DATE DRAFT: Hối phiếu cố định thời điểm Hối phiếu hoạt kỳ được chi trả theo thời
điểm     ấn     định,không     liên    quan    gì    tới   thời   điểm    chấp     nhận.
DATE OF RECORD: Ngày báo sổ Ngày tháng đó cổ đông phải sở hữu chính thức để
được hưởng cổ tức.Thí dụ, hội đồng quản trị công ty tuyên bố có cổ tức và ngày 1/11
và trả ngày1/12 đối với cổ đông được báo sổ ngày 15/11. Sau ngày báo sổ, chứng
khoán             không             có          cổ           tức          (ex-dividend).
DATED DATE: Ngày đã ghi sổ - Ngày bắt đầu tính lãi. Ngày tháng theo đó lãi tích luỹ
được tính trên trái phiếu mới hay các phương thức nợ khác. Người mua trả cho nhà
phát hành một số tương đương với lãi suất tích luỹ kể từ ngày đã ghi sổ đến ngày
thanh toán trái phiếu. Tiền chi trả lãi suất đầu tiên của trái phiếu được làm lại cho
người                                                                               mua.
DATED SECURITIES: Chứng khoán có định thời điểm cố định để thu hồi (chuộc lại).
DATING: Thời gian gia hạn Trong giao dịch thương mại, đó là khoảng thời hạn mà nhà
cung cấp dành cho khách hàng .Thí dụ, 90 ngày thay vì 30 ngày. Trong các ngành có
tính thời vụ cao và có khoảng cách thời gian dài, thời gian được gia hạn (dating) phối
hợp với tài trợ bằng tài khoản thu, giúp cho nhà sản xuất có vốn yếu có thể tiếp tục sản
xuất. Dating còn gọi là gia hạn theo thời vụ (Seasonal dating) hay gia hạn đặc biệt
(special                                    of                                   dating).
DAY CYCLE: Chu kỳ ban ngày Chu kỳ tiến hành ban ngày để chuyển bên nợ hay bên
có của trung tâm của trung tâm giao hoán thanh toán tự động giữ các hiệp hội giao
hoán     trong     vùng,    thường      từ   8    giờ    sáng    đến    1   giờ     trưa.
DISINTERME DIATION: Bỏ trung gian ngân hàng Chuyển quỹ từ tài khoản hoa lợi
thấp ở các tổ chức ngân hàng truyền thống sang đầu tư có hoa lợi cao trong thị trường
chung. Thí dụ, rút quỹ từ tài khoản sổ tiết kiệm trả hoa lợi 5,5% để mua công phiếu
ngắn hạn có hoa lợi 10%. Ngược lại, ngân hàng có thể trả lãi suất cao hơn cho người
ký thác, sau đó tính với người mượn cao lên, điều này đưa đến tình trạng tiền bị hạn
chế và hoạt động kinh tế bị giảm xuống. Do điều chỉnh này của ngân hàng, việc bỏ
trung     gian    ngân     hàng     không    còn     là   vấn    đề   kinh    tế    nữa.
DISINVESTMENT: Đầu tư giảm Giảm đầu tư tư bản vốn hoặc là bằng cách thanh lý
hàng hoá tư bản (như nhà máy và trang thiết bị) hay bằng cách không duy trì hoặc
không thay thế tài sản tư bản sắp sửa dùng hết hay đã cũ kỹ.
DISPOSABLE INCOME: Lợi tức sử dụng tuỳ ý Lợi tức cá nhân còn lại sau khi đóng,
các sắc thuế và các phí nhà nước không có tính cách thương mại. Tiền này có thể tiêu
dùng cho các nhu cầu thiết yếu hay không thiết yếu hay có thể tiết kiệm.
DISPROPORTIONATE SHARING ARRANGEMENT: Thoả thuận phân chia không
đồng đều Trong thoả thuận này, tổng thành viên sẽ chịu một phần giá phí của chương
trình nhưng sẽ nhận tỷ lệ doanh thu cao hơn (không đồng đều). Thông thường trong
thoả thuận, tổng thành viên chịu 10% giá phí chương trình và nhận 25% lợi thuận.
Tổng thành viên chỉ chịu một loại giá phí còn nhà đầu tư phải chịu cả hai loại giá phí:
giá phí khấu trừ vào thuế và giá phí không được khấu trừ vào thuế.
DISSECTING: Phân tích thời gian mua bán chứng khoán trong ngày Trong một ngày
mua bán ở thị trường chứng khoán New York, từ 9 :30 sáng tới 4:00 chiều, tính tỷ lệ số
lượng mua bán cổ phần chứng khoán từng giờ một, tỷ dụ từ 9:30 sáng tới 10:30, số
lượng mua bán là 30 triệu cổ phần, từ 10:30 tới 11:00, số lượng mua bán là 45 triệu cổ
phần
DISTANT CONTRACT: Hợp đồng còn lâu mới đáo hạn Đây nói về hai hay nhiều hợp
đồng futures có thời gian tính đến ngày đáo hạn lâu nhất. đầu tư độc nhất để có quyền
sở hữu hơn 10% chứng khoán có có quyền bầu hiện hành trong một công ty.
DIVESTMENT: Cởi bỏ bớt Chính sách của Nhà Nước nhằm bán các xí nghiệp Nhà nước
cho doanh nghiệp tư nhân. Các xí nghiệp thông thường được bán đứt theo từng giai
đoạn. Việc bán này được sắp xếp thông qua một công ty vô vi lợi được thiết lập vì mục
đích                                                                                 này.
DIVESTITURE: Tái bố trí tài sản - Từ bỏ Bố trí lại tài sản hay đầu tư bằng cách bán
đứt, bán hết cổ phần cho nhân viên, thanh lý v.v... Ngoài ra nó còn có nghĩa là một
công ty được lệnh phân tán một số lượng lớn chứng khoán của Công ty khác mà trước
đây đã giữ để đầu tư. Thí dụ, toà án đã ra lệnh cho Dupont phải tử bỏ (bán hết) chứng
khoán                                    General                                   Motors.
DIVIDED            ACCOUNT:            Tài       khoán        được          phân        ra.
DIVIDEND: Cổ tức. Phân phối lợi nhuận cho cổ đông theo hạng loại của chứng khoán
và được trả bằng hình thức tiền mặt, chứng khoán tạm thời (strips) hoặc sản phẩm hay
tài sản công ty (hiếm khi). Hội đồng quản trị quyết định số cổ tức và thường được trả
hằng quý. Cổ tức phải được công bố rõ ràng như lợi tức trong năm mà người ta được
nhận. Cổ tức quỹ đầu tư hỗ tương được trả dưới dạng lợi tức, thường là từng quý theo
đầu tư của quỹ. Thuế đánh trên cổ tức tuỳ theo đó có phải là tiền phân phối từ lợi tức
tư bản, lợi tức tiền lãi hay cổ tức nhận được hay không. Những phân biệt này phần lớn
đã không còn từ năm 1988 bằng đạo luật Tax Reform Act of 1986.
DIVIDEND          CAPTURE:        Cách     mua     bán     để      thu    lợi    cổ    tức
DIVIDEND DISCOUNT MODEL: Mô hình khấu trừ cố tức Mô hình toán học dùng để
xác định giá chứng khoán sẽ phải bán dựa trên trị giá khấu trừ của kế hoạch chi trả cổ
tức tương lai. Nó được dùng để nhận biết chứng khoán dưới trị giá thị trường
(undervalued stock) tiêu biểu cho tiềm năng lợi nhuận tư bản.
DIVIDEND EXCLUSION: Miễn thuế cố tức ở Hoa Kỳ, điều khoản trước khi có đạo luật
Tax Reform Act of 1986 cho phép trừ vào cổ tức có tiêu chuẩn như lợi tức có thuế theo
qui định của lnternal Revenue Service - $100 cho cá nhân và $200 cho 1 cặp vợ chồng
cùng khai thuế. Năm 1986 Tax Act đã loại bỏ việc này và có hiệu lực từ năm thuế l987.
Các công ty nội địa có thể được miễn thuế lợi tức 80% của số cổ tức nhận từ các công
ty nội địa khác. trước khi có đạo luật 1986, họ được trừ 85%.
DIVIDEND lN ARREARS: Cổ tức trong số nợ còn khất lại- Cổ tức tích luỹ Cổ tức tích
luỹ của chứng khoán ưu đãi tích luỹ, sẽ được trả cho sở hữu chủ hiện hành. Chứng
khoán ưu đãi trong tình hình công ty phát hành đã phục hồi lại triển vọng kiếm lời sẽ
hấp dẫn người mua khi được bán với giá hạ (giá đã khấu trừ) và có cổ tức tích luỹ (cổ
tức         nằm          trong        số       nợ        sẽ          trả      sau         )
DIVIDEND PAYING AGENT: Nhân viên chi trả cổ tức Nhân viên công ty, thường là
ngân hàng thương mại được chỉ định chịu trách nhiệm chi trả cổ tức hàng quý cho cổ
đông có tên trong danh sách. Người này có thể hoặc không thể giống như nhân viên
chuyển giao (Transfer Agent) là người theo dõi thu hồi và phát hành chứng khoán mới.
DIVIDEND PAYOUT RATIO : Tỷ lệ trả cổ tức Phần trăm lợi nhuận trả cho cổ đông
bằng tiền mặt. Thông thường, tỷ lệ chi trả càng cao chừng nào thì chứng tỏ công ty
càng trưởng thành chín chắn chừng đó. Công ty dịch vụ về điện và điện thoại có
khuynh hướng tỷ lệ chi trả cao nhất. Trong khi các công ty đang phát triển nhanh
thường tái đầu tư tất cả lợi nhuận nên không chi trả cổ tức.
DIVIDEND RECORD: Bản báo cáo cổ tức Standard & Poor's Corporation công bố tin
tức về các chính sách của công ty và quá trình chi trả cổ tức.
DIVIDEND REINVESTMENT PLAN: Kế hoạch tái đầu tư cố tức Tự động tái đầu tư cổ
tức của cổ đông có nhiều cổ phần trong công ty. Vài công ty thẩm thấu hầu hết hay tất
cả phí môi giới chứng khoán tương ứng, vài công ty hạ thấp (khấu trừ) giá chứng
khoán. Kế hoạch tái đầu tư cổ tức cho phép cổ đông tích luỹ tư bản trong một thời gian
dài sử dụng trung bình giá phí dollar (dollar cost average). Đối với công ty, kế hoạch tái
đầu tư cổ tức là phương tiện tăng quỹ vốn mà không phải sử dụng giá phí thả nổi trong
việc        phát         hành       chứng        khoán        trái       phiếu       mới.
DIVIDEND REQUIREMENT: Quy định về cổ tức Số lượng lợi nhuận hằng năm cần để
chi trả cổ tức quy định trong hợp đồng về chứng khoán ưu đãi.
DIVIDEND ROLLOVER PLAN: Kế hoạch xoay qua cổ tức Phương pháp mua và bán
chứng khoán gần ngày công ty tuyên bố chứng khoán được chia cổ tức để thu cổ tức
và mua bán lại để kiếm một ít lợi nhuận. Điều này đòi hỏi phải mua cổ phần khoảng 2
tuần trước khi chứng khoán ở vào vị thế không có cổ tức. Sau ngày chưa được chia cổ
tức (ex-dividend) giá sẽ giảm xuống vào khoảng bằng trị giá cổ tức, sau đó sẽ trở lại
giá cũ. Bằng cách bán hơi cao hơn giá mua, nhà đầu tư có thể trang trải giá phí môi
giới, thu lại cô tức, và có một lợi nhuận nhỏ trong 3 hay 4 tuần. Kế hoạch này còn gọi
là          nắm           bắt         cổ         tức         (dividend        capture).
DIVIDEND WARRANT: Chứng chỉ cổ tức Chi phiếu về cổ tức có ghi trên mặt chi
phiếu số cổ tức và số thuế được trừ ra. trong một vài quốc gia chứng chỉ cổ tức được
nộp cho cơ quan thuế để đòi trả lại tiền khi bản thân người có chứng chỉ không có nợ
thuế.
DIVIDEND YIELD: Hoa lợi cổ tức Tỷ lệ phần trăm lợi nhuận hàng năm mà nhà đầu tư
nhận được trên số cổ phần thường hay cổ phần ưu đãi. Hoa lợi dựa trên số cổ tức hằng
năm chia cho giá thị trường của cổ phần (vào thời điểm mua).
DIVIDENDS PAYABLE: Số cổ tức được trả Số Dollar trị giá cổ tức sẽ được chi trả như
đã báo cáo trong bản báo cáo tài chánh. Cổ tức này trở thành một món nợ khi hội đồng
quản trị đã công bố và được liệt kê như món nợ trong báo cáo hàng năm và hàng quý.
DOCUMENTARY COLLECTLON: Thu theo chứng từ Còn gọi là tiền mặt căn cứ trên
chứng từ (cash against documents), một hình thức khác của tài trợ tín dụng thư.
DOCUMENTARY COMMERCIAL BILL: Hoá đơn (hối phiếu) thương mại có kèm
chứng từ Hối phiếu được ngân hàng chấp nhận, có vận đơn và các chứng từ khác đính
kèm. Ngược lại với clean draft (hối phiếu không kèm chứng từ). Chứng từ đính kèm
được giao cho người chi trả khi người này chấp nhận hay chi trả hối phiếu
DOCUMENTARY CREDIT: Tín dụng có chứng từ Tín dụng thư thương mại do ngân
hàng cấp để chi trả theo tên người thừa hưởng, thường là người bán hàng hoá dựa
trên     chứng       từ    giao     nhận    đã     ấn    định      trong  tín    dụng.
DOCUMENTARY DRAFT: Hối phiếu có kèm chứng từ. Trong ngoại thương, đây là hối
phiếu có kèm theo vận đơn và các chứng

EARNING ASSETS: Tài sản sinh lợi Tài sản làm phát sinh tiền lãi hay sản
sinh ra lợi tức - nguồn chính yếu của lợi tức thuận của ngân hàng. Bao gồm
trong loại tài sản này là: tiền cho vay và hợp đồng thuê mướn, ngoại trừ lợi
tức tiền lãi chưa hưởng (unearned interest income) ; trái phiếu Nhà nước,
công ty, đô thị được lưu giữ như chứng khoán đầu tư (investment securities-
), chứng khoán mua theo thoả thuận bán lại (thoả thuận mua lại Repurchase
agreement); tài khoản ký thác định kỳ tại ngân hàng khác, ngân quỹ Liên
Bang bán cho ngân hàng khác và tài sản trong tài khoản mua bán.
EARNING THE POINTS: Điểm lời - Thu được điểm Trong thị trường hối
đoái, đây là tình trạng thị trường khi giá mua của một loại tiền tệ trong thị
trường tương lai rẻ hơn giá thị trường tiền mặt (spot market price - giá thị
trường tại chỗ). Thí dụ, khi tỷ lệ thị trường tiền mặt (tại chỗ nghĩa là giao và
nhận thanh toán ngay) là 1 dollar ăn 1,6500 mark Đức, một tháng sau đó $1
ăn 1,6450 mark Đức, chênh lệch là 0,0050. Người buôn bán lúc bán theo giá
tại chỗ và sau đó 1 tháng mua lại với giá rẻ hơn như vậy là kiếm được điểm
(điểm        lời).    Ngược         lại     là      losing      the      points.
EARNINGS BEFORE TAXES: Thu nhập chưa trừ thuế Lợi nhuận công ty sau
khi    trả      lãi  cho      trái    chủ,     nhưng     chưa     đóng     thuế.
EARNINGS CREDIT: Tín dụng có lãi Yếu tố điều chỉnh để làm giảm chi phí
dịch vụ ngân hàng của tài khoản ký thác, thí dụ tài khoản chi phiếu được
tính bằng cách nhân số cân đối bình quân hàng ngày cho thừa số chung
trong một khoảng thời gian kế toán. Các ngân hàng lớn thường cố định lãi
suất       tín      dụng       theo      lãi      suất     công       khố       phiếu.
EARNINGS MOMENTUM: Lợi nhuận tăng tốc Kiểu tăng tỷ lệ phát triển
trong lợi nhuận mỗi cổ phần (Earnings per Share) từ thời khoảng này đến
thời khoảng khác, thường làm cho giá chứng khoán tăng. Thí dụ, một công
ty có lợi nhuận cho mỗi cổ phần tăng đến 15% năm này và 35% cho năm kế
tiếp tức là có lợi nhuận tăng tốc và sẽ thu thêm được lợi nhuận trong giá
chứng                                     khoán                                    đó.
EARNINGS PER SHARE: Lợi nhuận mỗi cố phần Phần lợi nhuận công ty
phân      bố     cho    mỗi      cổ    phần      của     chứng     khoán      thường.
EQUIPMENT TRUST CERTIFICATE: Chứng chỉ uỷ thác trang thiết bị Trái
phiếu thường được công ty vận chuyển phát hành như công ty đường sắt
công ty vận chuyển tàu biển, trái phiếu dùng để chi trả cho trang thiết bị
mới. Chứng chỉ cho phép trái chủ được quyền đầu tiên đối với trang thiết bị
trong trường hợp vốn và lãi không được trả khi đáo hạn. Quyền sở hữu tài
sản đối với trang thiết bị được lưu giữ theo tên của người thụ uỷ thường là
ngân      hàng,      cho      đến     khi     trái     phiếu    được      trả     hết.
EQUITY:               Vốn            cổ            đông,           tiền           vốn
EQUITY COMMITMENT NOTES: Giấy nợ cam kết về vốn Giấy nợ vốn do
ngân hàng hay công ty chủ quản ngân hàng phát hành. Quy định một lúc
nào đó sẽ được thu hồi trước ngày đáo hạn bằng số tiền thu được từ số
chứng khoán thường mới phát hành. Đây là loại trái phiếu được xem như là
nợ trên quan điểm kế toán, nhằm chi trả cho tiền lãi được khấu trừ vào thuế
và tính vào tỷ lệ quy định vốn/tài sản của nhà phát hành.
EQUITY CONTRACT NOTES: Giấy nợ cho hợp đồng vốn Giấy nợ hay giấy
nợ không có thế chấp bảo đảm (debenture do ngân hàng hay công ty chủ
quản ngân hàng phát hành, có thể chuyển đổi sang chứng khoán thường với
giá chuyển đổi ấn định vào thời điểm trong tương lai. Nó còn được gọi là giấy
nợ vốn. Giấy nợ vốn với điều khoản khả hoán quy định (mandatory
convertible), quy định nhà phát hành sẽ đổi giấy nợ ra cổ phần chứng khoán
thường, có đủ tiêu chuẩn là vốn cấp hai hay vốn ở lớp hai (tier 2 capital -
vốn ở tầng hai) theo hướng dẫn vốn có rủi ro (risk- based capital) được cơ
quan           lập       pháp           ngân         hàng         chấp          nhận.
EQUITY FINANCING: Huy động thêm vốn cổ đông - tài trợ thêm vốn Tăng
số tiền bằng cách phát hành cổ phần thường hay chứng khoán ưu đãi.
Thường thực hiện khi giá chứng khoán cao và khi chỉ cần phát hành cổ phần
với     số       lượng     ít      nhất      cũng       đủ    có      nhiều      vốn.
EQUITY FUNDING: Gây quỹ vốn cổ đông Loại đầu tư phối hợp giữa hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ và quỹ hỗ tương đầu tư. Cổ phần trong quỹ được
dùng thế chấp cho số tiền vay để trả phí bảo hiểm, tạo thuận lợi cho nhà
đầu tư về bảo hiểm nhân thọ và có thêm tiềm năng nâng cao đầu tư.
EQUITY INTEREST: Quyền lợi trong vốn cổ đông Khi được dùng đối với
công ty thì nó có nghĩa là chứng khoán thường và bất cứ loại chứng khoán
nào có thể chuyển đổi, trao đổi hoặc sử dụng như chứng khoán thường. Khi
được dùng trong lãnh vực dự phần (chung vốn) thì nó có nghĩa là quyền lợi
trong     số     vốn   hoặc      lời  hoặc      lỗ   trong    việc    góp     vốn    .
EQUITY KICKER: Ngườl kích thích vốn đầu tư Đóng góp phần sở hữu trong
một vụ kinh doanh có liên quan đến số tiền cho vay. Thí dụ, góp vốn trách
nhiệm hữu hạn vào bất động sản thế chấp cho người xây cất bất động sản
mượn, dưới dạng đồng sở hữu một phần nhỏ trong xây dựng nhà cao tâng
có trị giá gia tăng theo thời gian. Khi toà nhà được bán, thành viên góp vốn
trách nhiệm hữu hạn sẽ nhận lại được số chi trả cao hơn. Đổi lại việc làm
này, người cho vay thường là tính phí lãi suất tiền cho vay thấp hơn lãi suất
bình thường. Hợp đồng futures khả hoán và chứng chỉ đặc quyền mua chứng
khoán là loại kích thích vốn đầu tư, nó làm cho chứng khoán hấp dẫn người
đầu                                                                         tư.
EQUITY OF REDEMPTION: Vốn chuộc lại Quyền của người vay có thế chấp
được chuộc lại tài sản sau khi đã mất khả năng chi trả và để tránh bán đấu
giá tài sản bị tịch thu, bằng cách chi trả số vốn còn lại (chưa trả) cộng tiền
lãi     và      các    phí     khác     cho     người    giữ      thế    chấp.
EQUITY PARTICIPATION: Tham gia vào việc huy động vốn
EQUITY REIT: Vốn cổ đông bất động sản Cơ quan uỷ thác đầu tư bất động
sản giữ vị thế sở hữu bất động sản mà nó đầu tư. Cổ đông trong vốn cổ
đông REIT có cổ tức từ lợi nhuận cho thuê nhà cao tầng và có mức thu tăng
nếu tài sản được bán để kiếm lời. Ngược lại với cho vay để đầu tư bất động
sản.
EQUITY        SECURITY:        Chứng      khoán     vốn    của      cổ    đông
Chứng khoán : Cổ phần thường và ưu đãi. Chứng chỉ dự phần (góp vốn)
trong         thoả        thuận        phân        chia       lợi      nhuận.
Chứng chỉ tổ chức trước, đăng ký mua trước, cổ phần khả chuyển, chứng chỉ
uỷ thác bỏ phiếu hoặc chứng chỉ ký thác cho chứng khoán vốn cổ đông .
Quyền lợi dự phần có giới hạn, quyền lợi trong liên doanh hoặc chứng chỉ
quyền          lợi      trong        uỷ       thác        doanh        nghiệp.
Chứng khoán khả hoán, đặc quyền đăng ký mua chứng khoán hoặc chứng
chỉ                                 đặc                                quyền.
Hợp đồng Put, Call Option được quyền ưu tiên trong việc mua hay bán chứng
khoán                       vốn                    cổ                   đông.
Nếu giá thị trường của chứng khoán đang nói đến ở trên có chiều hướng theo
giá chứng khoán thường thì nó là chứng khoán vốn cổ đông.
EQUIVALENT BOND YIELD: Lợi nhuận của trái phiếu tương đương So sánh
hoa lợi trái phiếu đã khấu trừ (trái phiếu bán dưới mệnh giá) và hoa lợi trái
phiếu có Coupon (giấy lãi suất), Cũng còn gọi là tỷ lệ tương đương coupon.
Thí dụ: nếu công phiếu ngắn hạn 90 ngày, 10% lãi suất và có mệnh giá
$10.000 bán giá $9.750 thì hoa lợi trái phiếu tương đương sẽ là :
$250/$9750                           x                       365/90=10,40%
EQUIVALENT TAXABLE YIELD: Lợi nhuận có thuế tương đương So sánh
hoa lợi có thuế của trái phiếu công ty và hoa lợi miễn thuế của trái phiếu đô
thị. Tuỳ theo thuế biểu, lợi nhuận đã trừ thuế của nhà đầu tư đối với trái
phiếu đô thị có thể lớn hơn trái phiếu công ty có lãi suất cao hơn. Thí dụ,
một người nằm trong khung thuế 20% thì trái phiếu đô thị lãi suất 10% sẽ
có hoa lợi có thuế tương đương là 13,9%. Xem Yield Equivalence để biết
phương                                 pháp                               tính.
ERROR RESOLUTION: Giải quyết sai sót Tiến trình sửa chữa lại các giao
dịch gây tranh cãi đối với tài khoản ngân hàng của người sử dụng. Một người
tuyên bố rằng ngân quỹ đã bị một người không có thẩm quyền chuyển đi mà
chưa có sự đồng ý trước hay giao dịch mua bán đã bị nhập vào không rõ
ràng vì sai sót của kế toán ngân hàng, thì người này có thể sửa lại sai sót
bằng cách báo cho tổ chức giữ lại tài khoản đó. Một khi đã được thông báo,
tổ chức tài chánh có từ 10 đến 45 ngày để thẩm tra lời khiếu nại và ghi lại
bên     có    số    ngân      quỹ     đã     ghi   bên  nợ    vì     sai    sót.
EVERGREEN FUND: Ngân quỹ liên tục (luôn luôn mới) Đầu tư khởi đầu
trong một công ty mới. Không giống như vốn đầu tư có tính rủi ro (mạo
hiểm), ngân quỹ này được tiêm vào từng giai đoạn sau đầu tư ban đầu trong
suốt     những       năm       đầu      tăng     trưởng   của      công      ty.
EX-ALL: Không có gì cả Bán chứng khoán không có cổ tức, các quyền,
chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán (wạrrant) hay bất cứ đặc quyền nào
kèm                     theo                     chứng                   khoán.
EX-COUPON: Không có phiếu lãi (coupon) (lãi của trái phiếu)
EX-DIVIDEND: Không có cổ tức Thời khoảng giữa thông báo có cổ tức và
chi trả cổ tức kế tiếp. Nhà đầu tư mua cổ phần trong thời khoảng này sẽ
không có cổ tức. Giá chứng khoán sẽ tăng theo số cổ tức khi thời điểm
không có cổ tức đến gần và sau đó sẽ giảm theo số cổ tức sau thời điểm đó.
EX-DIVIDEND DATE: Thời điểm không có cổ tức Thời điểm chứng khoán
không có cổ tức, tiêu biểu là 3 tuần trước khi cổ tức được trả cho cổ đông
trong bản liệt kê danh sách. Các cổ phần liệt kê trên NYSE không có cổ tức 4
ngày hành chánh trước thời điểm liệt kê danh sách. Các thị trường khác
thường         theo          quy         luật       này      của          NYSE.
EX-LEGAT: Chưa có tính pháp luật Trái phiếu đô thị không có ý kiến hợp
pháp của cơ quan về luật trái phiếu in lên trái phiếu đó, như hầu hết các trái
phiếu đô thị đều có. Khi loại trái phiếu này được mua bán, người mua phải
được     báo     là     trái     phiếu     chưa     có  tính     luật     pháp.
EX- PIT TRANSACTION: Mua bán không chính thức - Mua bán ngoài thị
trường Mua bán hợp đồng hàng hoá ngoài hiện trường mua bán của thị
trường nơi hàng hoá thường được mua bán, và có những thời hạn đã ấn
định.
EX-POST MONITORING: Theo dõi về trước Sau khi đo lường số ứng trước
tín dụng nhằm đáp ứng các luật lệ về nghiệp vụ ngân háng. Để đủ tiêu
chuẩn có được mức tối đa thấu chi (overdraft cap), ngân hàng phải có hệ
thống theo dõi bằng vi tính để kiểm soát việc xuất nhập ngân quỹ trong tài
khoản                                  khách                              hàng.
EX-RIGHTS: Không có quyền (đăng ký mua trước chứng khoán) Không có
quyền đăng ký trước (right) để mua chứng khoán công ty với giá hạ đơn giá
thị trường hiện hành cho đến thời điểm cụ thể nào đó. Sau thời điểm này các
quyền đăng ký trước được mua bán tách ra khỏi chính chứng khoán đó. xem
:Ex-Warrants.
EX-STOCK DIVIDENDS: Không có cố tức bằng chứng khoán Trong khoảng
giữa thời điểm bố cáo và chi trả cổ tức. Nhà đầu tư mua cổ phần trong thời
khoảng này không được hưởng cổ tức chứng khoán đã bố cáo; thay vào đó,
người bán cổ phần lại được hưởng, đây là người sở hữu chứng khoán có thời
điểm ghi sổ cuối cùng trước khi khoá sổ và lúc đó chứng khoán sẽ là chứng
khoán không cổ tức chứng khoán. Chứng khoán sẽ có lại cổ tức chứng khoán
sau                thời                 điểm             chi                trả.
EX-WARRANTS: Không có chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán Chứng
khoán bán cho người mua không còn có quyền đối với chứng chỉ đặc quyền
kèm theo chứng khoán. Chứng chỉ đặc quyền cho phép người sở hữu mua
chứng khoán vào các thời điểm trong tương lai với giá đặc biệt. Người nào
mua chứng khoán vào ngày 3/6 mà chứng khoán này đã nằm trong thời
điểm 1/6 tức thời điểm không có kèm chứng chỉ đặc quyền thì sẽ không
nhận được chứng chỉ nàỵ. Nó thuộc tài sản của cổ đông của sổ báo ngày
1/6.
EXACT INTEREST: Lãi chính xác Lãi do ngân hàng hay tổ chức tài chánh
khác trả và được tính theo một năm 365 ngày, ngược lại là lãi thường chỉ
tính có 360 ngày. Tỷ lệ chênh lệch là 1,0139 - có thể rất quan trọng khi lãi
tính   theo   ngày     được    tính   trên   một     khối  lượng   tiền    lớn.
EXCEPTION ITEM: Công cụ chi trả ngoại lệ Chi phiếu không thể chi trả vì lý
do      này      hay      lý       do      khác,      như     lệnh      ngừng
EXEMPT TRANSACTION: Giao dịch mua bán không bị ràng buộc theo luật
lệ Giao dịch mua bán ngoại lệ là những giao dịch mua bán được miễn các
quy định về đăng ký và quảng bá. Nó bao gồm các giao dịch như sau :
+ Giao dịch mua bán của một đơn vị đơn độc, riêng biệt không phải là nhà
phát                   hành                    chứng                    khoán.
+ Giao dịch mua bán không thuộc nhà phát hành về các chứng khoán hiện
hành      (mua      bán      trong       thị    trường     thông     thường).
+ Giao dịch mua bán với các tổ chức tài chánh (ngân hàng, tổ chức tiết
kiệm, công ty uỷ thác, công ty bảo hiểm, kế hoạch hưu trí và phân chia lợi
nhuận, các broker-dealer v.v...) Giao dịch tự nguyện (không theo yêu cầu)
+ Giao dịch uỷ thác tài sản. Giao dịch theo thoả thuận riêng. Giao dịch giữa
nhà         phát         hành           và         nhà        bao         tiêu.
+ Giao dịch với nhân viên nhà phát hành, người góp vốn (thành viên) hay
với ban quản trị nếu không có hoa hồng gián tiếp hay trực tiếp cho sự móc
nối này. Sự miễn trừ theo các quy định về đăng ký và quảng bá không có
nghĩa là giao dịch này được miễn trừ các điều khoản về việc chống lừa đảo.
EXERCISE: Sử dụng quyền thi hành hợp đồng chứng khoán Sử dụng quyền
có ghi trong hợp đồng chứng khoán. Trên quan điểm mua bán hợp đồng
options, người mua hợp đồng call option có thể thực hiện quyền mua cổ
phần cơ sở với giá theo hợp đồng bằng cách báo cho người bán option.
Quyền của người mua put option được thực hiện khi người mua put options
bán cổ phần cho người bán put option với giá đã thoả thuận trong hợp đồng
options.
EXERCISE LIMIT: Giới hạn sử dụng (thực hiện) Giới hạn số hợp đồng
option của bất cứ 1 loại nào có thể thực hiện trong khoảng thời gian ngắn 5
ngày hành chính. Đối với hợp đồng option chứng khoán, giới hạn thực hiện
thường              là               2.000              hợp              đồng.
EXERCISE NOTICE: Thông báo thực hiện hợp đồng chứng khoán Thông báo
của broker cho biết một khách hàng muốn thực hiện quyền mua chứng
khoán cơ sở trong hợp đồng option. Thông báo như thế được chuyển đến
người bán option (option seller) thông qua corporation clearing.
FACE-AMOUNT CERTIFICATE COMPANY: Công ty phát hành chứng chỉ
theo mệnh giá Chứng chỉ (công cụ nợ) do công ty đầu tư phát hành cam kết
trả cho nhà đầu tư một số tiền như đã công bố (mệnh giá) vào thời điểm ấn
định. Nhà đầu tư cho chứng chỉ (mua chứng chỉ) từng số tiền theo từng giai
đoạt hoặc trả một lần tiền.
FACE-AMOUNT CERTICATE: Chứng chỉ theo mệnh giá Loại trái phiếu nợ
của công ty chuyên phát hành chứng chỉ theo mệnh giá, một trong ba loại
quỹ hỗ tương đầu tư được đạo luật Investment Company Act of 1940 giải
thích rõ. Sở hữu chủ trả cho nhà phát hành theo từng thời kỳ và người phát
hành hứa sẽ trả cho người mua theo mệnh giá khi đáo hạn hay trị giá bỏ
cuộc (surrender value) nếu như chứng chỉ được giao lại trước thời hạn.
FACE VALUE: Mệnh giá Trị giá trái phiếu, tín phiếu (note), thế chấp hay các
chứng khoán đã có ghi trên chứng chỉ hay công cụ đó. Trái phiếu công ty
thường được phát hành với mệnh giá $1.000. Trái phiếu đô thị với mệnh giá
$5.000,trái phiếu nhà nước liên bang $10.000. Mặcdù giá trị trái phiếu biến
động từ lúc phát hành đến lúc thu hồi, nhưng nó vẫn được thu hồi theo
mệnh giá khi đáo hạn, trái chủ thường nhận được một chênh lệch nhỏ thêm
vào mệnh giá là trị giá căn cứ trên đó để tính lãi suất. Vì thế trái phiếu 10%
lãi suất với mệnh giá $1000 thì trái chủ có tiền lãi là $100 mỗi năm. Mệnh
giá    còn    được     gọi    là   Par     Value     hay     Nominal     Value.
FACILITIMES MANAGEMENT: Điều hành phương tiện Hoạt động của
phòng xử lý dữ kiện của ngân hàng phục vụ do bên thứ 3 thực hiện, thông
thường là theo thoả thuận hợp đồng trong nhiều năm. Điều nay giúp cho
ngân hàng bớt được gánh nặng phải duy trì một hệ thống hợp máy vi tính và
để cạnh tranh với các công ty khác trong lãnh vực chuyên môn xử lý dữ
kiện, đồng thời giúp cho ngân hàng dễ dàng đáp ứng đầy đủ quy định về an
toàn                                                                       EDP.
FIREWALLS: Luật lệ phòng ngừa Luật lệ nói về việc để riêng phần bao tiêu
chứng khoán của một ngân hàng ra khỏi các hoạt động thu gom và cho vay
số ký thác. Luật lệ này bao gồm việc giới hạn chia sẻ thông tin giữa ngân
hàng và đồng ngân hàng của nó có chứng khoán phát hành, các quy định về
chia riêng nhân viên và giới hạn số chứng khoán bán cho khách hàng ngân
hàng.
FIRM COMMITMENT: Cam kết chắc chắn. Thoả thuận bao tiêu chứng
khoán theo đó ngân hàng đầu tư mua đứt chứng khoán của nhà phát hành
để cung ứng ra công chúng, còn gọi là firm commitment underwriting (cam
kết chắc chắn bao tiêu). Người bao tiêu, tức là ngân hàng đầu tư như theo
thoả thuận gọi như thế sẽ kiếm được lợi nhuận do chênh lệch giữa giá mua
với giá đã được ấn định theo giá cạnh tranh hay giá thương lượng - và giá
cung ứng cho công chúng (giá bán ra thị trường). Bao tiêu có cam kết chắc
chắn khác với các thoả thuận có điều kiện để phân phối chứng khoán, trái
phiếu, như cam kết ủng hộ và cam kết làm hết sức mình. Từ ngữ bao tiêu
thường không dùng trong các cam kết có điều kiện như thế, nó chỉ được
dùng chính xác trong bao tiêu có cam kết chắc chắn, đôi khi gọi là thoả mua.
FIRM ORDER: Đặt hàng cố định Cung ứng để bán hàng hoá hay dịch vụ
trong một giai đoạt quy định. Nếu người mua chấp nhận sự cung ứng trong
thời gian quy định thì người bán buộc phải bán theo các điều khoản đã đưa
ra. Ngược lại, nếu người mua không chấp nhận (trả lại) thì việc cung ứng
của         người        bán        không          còn         hiệu         lực.
FIRM QUOTE: Báo giá cố định Danh từ ngành chứng khoán liên quan đến
giá đặt mua lố tròn hay giá cung ứng chứng khoán do người tạo thị trường
(market maker) đưa ra và không đồng nhất với bản định giá danh nghĩa
(hay định giá tạm thời) (nominal quote-subject quote). Theo luật lệ thực
hiện của National Association of Securitises Dealer's (NASD) các bản định giá
cần thương thảo hay xem xét lại nhiều hơn để đồng nhất với bản định giá
danh                                                                      nghĩa.
FIRREA:        Luật    cải     tổ     cơ    chế      công    ty     tài     chính
FIRST BOARD: Bảng thứ nhất Ngày tháng giao hợp đồng futures do
Chicago Board of Trade và các thị trường futures thiết lập.
FIRST CALL DATE: Thời điểm có lệnh gọi thứ nhất- Thời điểm có lệnh gọi
đầu tiên Ngày đầu tiên ấn định trong giao kèo của công ty hay trong hợp
đồng trái phiếu đô thị theo đó một phần hay toàn bộ trái phiếu đô thị được
thu hồi với giá đã ấn định. Thí dụ, trái phiếu XYZ đáo hạn năm 2010 có thể
có lệnh thứ nhất vào ngày 1-5-1993, có nghĩa là nếu XYZ muốn, XYZ có thể
trả dứt điểm cho cổ đông bắt đầu từ ngày tháng đó năm 1993. Các broker
môi giới trái phiếu định giá các hoa lợi của trái phiếu như thế bằng cả hai
hoa lợi: hoa lợi khi đáo hạn (tức năm 2010) và hoa lợi đến khi có lệnh gọi
(1993).
FIRST- CLASS PAPER: Chứng từ (giấy nợ) cấp cao nhất, loại 1 Cũng còn
gọi là Fine paper, chi phiếu hay hối phiếu được rút ở Ngân hàng hay Trung
Tâm Tài Chánh chính (trọng yếu nhất, cấp cao nhất ).%
FIXED ECHANGE RATE: Tỷ giá hối đoái cố định Tỷ giá hối đoái đã định giữa
tiền tệ các nước. Tại hội nghị tiền tệ quốc tế ở Bretton Woods năm 1944,
một hệ thống tỷ giá hối đoái thiết lập, hệ thống tồn tại đến thập niên 1970
khi hệ       thống   tỷ giá hối đoái thả nổi được công nhận.
FIXED-INCOME INVESMENT: Đầu tư lợi tức cố định Chứng khoán trả theo
tỷ lệ lợi nhuận cố định. Đó là loại công phiếu, trái phiếu công ty, đô thị trả lãi
suất cố định khi đáo hạn và chứng khoán ưu đãi trả cổ tức cố định. Các đầu
tư như thế thuận tiện trong thời gian lạm phát thấp, nhưng không bảo vệ sở
hữu chủ chống lại việc giảm sức mua trong giai đoạn lạm phát gia tăng, bởi
vì trái chủ hay cổ đông của chứng khoán ưu đãi chỉ nhận được số lãi hay cổ
tức    như     đã   ấn   định    trong   khi   giá    hàng    hoá    tăng    lên.
FIXED PRICE: Giá cố định Đầu tư : trong việc phát hành chứng khoán trái
phiếu mới ra công chúng, giá theo đó ngân hàng đầu tư trong nhóm bao tiêu
đồng ý bán ra công chúng. Giá này duy trì cố định cho đến khi nào nhóm
bao tiêu (syndicate) không còn hiệu lực nữa. Từ riêng của loại hệ thống này
là hệ thống cung ứng giá cố định (fixed price offerring system). Trái lại, trái
phiếu Âu Châu cũng được bán thông qua nhóm bao tiêu (underwriting
syndicate - đại lý bao tiêu) nhưng được cung ứng trên cơ sở là cho phép
khách hàng xét lựa chọn. Thí dụ, chênh lệch bao tiêu có thể được điều chỉnh
để phù hợp với người mua cá biệt nào đó. Hợp đồng : loại hợp đồng có giá
đã định trước và không thể thay đổi bất chấp giá thực tế của sản phẩm.
FIXED RATE (LOAN): Tiền cho vay có lãi suất cố định Loại tiền cho vay có
lãi suất không biến chuyển theo các điều kiện thị trường chung. Loại này
gồm có tiền vay có thế chấp theo lãi suất cố định (fixed rate mortgage) (còn
gọi là tiền vay có thế chấp thông thường - conventional mortgage) và tiền
vay của người tiêu thụ trả theo từng kỳ (consumer installment loan) cũng
như tiền vay kinh doanh có thế chấp lãi suất cố định (fixed rate business
loan). Tiền vay lãi suất cố định thường có lãi suất gốc cao hơn trên vay lãi
suất linh hoạt như tiền vay thế chấp lãi suất điều chỉnh (ARM) bởi vì người
cho vay không được bảo vệ khi phí tiền tệ tăng lúc họ lập lãi suất cố định
tiền                                   cho                                   vay.
FLOOR OFFICIAL: Viên chức tại sàn giao dịch Nhân viên thị trường mua
bán chứng khoán, người có mặt tại hiện trường mua bán chứng khoán để
dàn xếp các sự việc trong phương thức đấu giá như vấn đề về quyền ưu tiên
trong việc đấu giá. Viên chức tại hiện trường thi hành các quy định ngay tại
chỗ và những phán quyết của họ thường được người ta chấp nhận .
FLOOR PLANNING: Hoạch định cho hàng kho Tiền vay ngân hàng dùng để
tài trợ cho hàng kho của người mua bán. Người mua bán phát ra một biên
nhận uỷ thác (trust receipt) cho ngân hàng và chi trả cho ngân hàng khi
hàng kho được bán. Loại hoạch định này có chênh lệch lợi nhuận thấp hơn
và ít được thích hơn các hình thức cho vay thương mại khác. Ngoài ra còn có
rủi ro, ngân hàng phải gánh chịu mất mát tiền bạc nếu như người mua bán
bán hàng hoá mà không thông báo với người cho vay (ngân hàng) đó gọi là
selling out of trust. Việc tài trợ cho người mua bán loại này thường được thực
hiện    chỉ    khi    nào    hàng     hoá     được    nhiều   người     yêu    cầu.
FLOOR TlCKET: Phiếu hiện trường giao dịch Tóm tắt thông tin được đại diện
có đăng ký đưa vào phiếu lệnh khi nhận được lệnh mua hay bán từ khách
hàng. Phiếu hiện trường cho broker tại hiện trường những thông tin cần có
để điều hành mua chứng khoán. Quy luật ngành chứng khoán quy định rõ
phải      có      các      thông      tin      trên     phiếu     hiện     trường.
FLOOR TRADER: Người buôn bán tại sàn giao dịch Thành viên của thị
trường chứng khoán hay thị trường hàng hoá, đây là người buôn bán cho
chính họ hay bằng tài khoản của riêng họ. Người buôn bán tại hiện trường
phải tuân thủ luật lệ mua bán tương tự như các chuyên viên thị trường là
người mua bán với tư cách đại diện cho người khác. Đừng lẫn lộn từ ngữ này
với                                   floor                                 broker.
FLOATATION COST: Giá phí thả nổi Giá phí của chứng khoán hay trái phiếu
mới phát hành. Giá phí thay đổi theo số bao tiêu rủi ro và công việc phân
phối        cụ      thể.        Nó        bao       gồm       2       yếu       tố:
1. Số bù đắp kiếm được của nhà ngân hàng đầu tư (người bao tiêu) do
chênh lệch giữa giá phải trả cho nhà phát hành (công ty hay cơ quan nhà
nước)         và       giá       cung         ứng       ra       công       chúng.
2. Chi phí của nhà phát hành (dịch vụ luật pháp, kế toán, in ấn và các chi
phí ngoài dự kiến) . Các nghiên cứu SEC cho biết là giá phí thả nổi của
chứng khoán cao hơn trái phiếu, có nghĩa là thường thường chứng khoán
được phân phối rộng rãi hơn và có nhiều bất ổn hơn đối với trái phiếu là loại
thường được bán từng khối lớn cho một vài nhà đầu tư. SEC cũng nhận thấy
rằng giá phí thả nổi có số phần trăm trong tổng số tiền kiếm được lớn hơn
đối với nhà phát hành nhỏ nếu so với nhà phát hành lớn hơn . Điều này là vì
dịch vụ pháp lý của nhà phát hành và các chi phí khác có khuynh hướng
tương đối lớn và cố định. Ngoài ra, số phát hành nhỏ thường thuộc nhà phát
hành kém ổn định nên đòi hỏi nhiều chi phí để phát triển quảng bá và tiếp
thị. Một chứng khoán được phát hành bao gồm đặc quyền cung ứng (right
offering) thì việc bán và bao tiêu rủi ro không đáng kể do đó phí thả nổi nhỏ,
đặc biệt nếu giá dưới giá (under- pricing) đáng kể. Chênh lệch bao tiêu là
điểm then chốt làm giá phí thả nổi thay đổi, đóng khung từ 23,7% của tầm
mức phát hành nhỏ chứng khoán thường đến mức thấp 1,25% của mệnh giá
trái phiếu cấp cao. Mức chênh lệch được xác định bằng thương lượng lẫn giá
đặt                      mua                        cạnh                     tranh.
FLOW         OF       FUNDS:         Dòng        chuyến     dịch      của      quỹ.
FLOW-THROUGH: Lưu lượng trôi nổi. Từ ngữ dùng để diễn tả cái cách lợi
tức, số giảm trừ và số tín dụng bắt nguồn từ hoạt động kinh doanh được sử
dụng như thế nào đối với thuế cá nhân và chi phí cho lợi nhuận mặc dù mỗi
loại   đã    phải     chịu   trực    tiếp    số     lợi    tức   và    giảm    trừ.
FUNDS STATEMENT: Báo cáo ngân quỹ. Đây là loại báo cáo tài chánh
nhằm phân tích tại sao vốn hoạt động của công ty gia tăng hay giảm đi.
FUNDS              TRANSFER:                Chuyển              ngân          quỹ.
1. Chuyển ngân quỹ giữa các tài khoản có liên hệ hay cho tài khoản bên thứ
ba.
2. Chuyển ngân quỹ bên ngoài giữa một tổ chức tài chánh nơi xuất phát
ngân quỹ và một tổ chức tài chánh nơi nhận ngân quỹ đó.
FUNGIBILITY: Tương đương như nhau. Có cùng giá trị hay chất lượng. Một
chứng khoán tự do chuyển đổi với một loại chứng khoán khác và có thể dùng
thay cho chứng khoán đã được mua bán thì chứng khoán có được xem là
chứng                    khoán                     tương                    đương.
FUNGIBLES: Có thể chuyến đổi - Có thể hoán đổi. Công cụ mang tay,
chứng khoán trái phiếu hay hàng hoá có trị giá tương đương, có thể thay thế
cho nhau, có thể hoán đổi với nhau. Các hàng hoá như đậu nành hay lúa mì,
cổ phần thường của cùng một công ty, giấy bạc dollar tất cả thuộc loại có
thể hoán đổi. Đặc tính có thể hoán đổi với nhau của các hợp đồng option,
dựa theo ngày đáo hạn thông thường và giá điểm, mà người mua và bán có
thể bán tống bán tháo vị thế của họ bằng cách mua bán bù qua sớt lại thông
qua công ty giao hoán thanh lý hợp đồng options (Options Clearing
Corporation - công ty giao hoán và thanh lý về options).
FURTHEST MONTH: Tháng xa nhất Trong mua bán hàng hoá và hợp đồng
option, tháng xa nhất tính từ lúc thiết lập hợp đồng. Thí dụ, hợp đồng
futures công khố phiếu có thể có những hợp đồng đang được giữ gồm hợp
đồng 3, 6 và 9 tháng. Hợp đồng 9 tháng là hợp đồng có tháng xa nhất và
hợp     đồng      3     tháng     là     hợp      đồng       tháng    gần     nhất
FUTURE ADVANCE: ứng trước cho tương lai Điều khoản trong thoả thuận
tiền vay có thế chấp cho phép người cho vay . ứng trước ngân quỹ sau khi
tiền cho vay đầu tiên đã chấm dứt và đã chi hết ngân quỹ cho số tiền vay
này, mà không cần phải có chứng từ thế chấp khác hay phải thêm thế chấp.
Thí dụ, hầu hết trong lãnh vực tài trợ xây dựng, tiền vay có thế chấp để xây
dựng được bảo đảm bằng chính công trình xây dựng đã được tài trợ. Tiền
ứng trước để xây dựng được thực hiện theo từng công đoạn xây dựng đã
được ấn định theo thời khoá biểu lập trước và thường theo thứ tự ưu tiên đối
với khách hàng đã liệt kê sau thời điểm hoàn tất cho vay nhưng trước khi chi
thêm                                    ngân                                  quỹ.
FUTURE        DATING:        Định       thời     điểm        trong    trong      lai
FUTURE         ESTATE:           Tài        sản         trong       tương        lai
FUTUR INTEREST: Quyền lợi tương lai Quyền lợi trong đất đai hay tài sản
cá nhân cho người giữ có quyền được . sở hữu (right of possession) mặc dù
không phải là chủ sở hữu (ownership). 'Có quyền lợi" (a vested interest -
quyền lợi được giao cho) mang ý nghĩa là có quyền đòi chi trả như : đòi khi
trả vào một thời điểm ấn đinh, đòi chi trả số tài sản đã: uỷ thác, thí dụ -
quyền lợi của công nhân trong kế hoạch hưu trí của công ty, tiền chi trả khi
hưu trí. quyền lợi phụ thuộc này chỉ chuyển được chủ quyền sở hữu
(ownership) khi nào có biến cố đặc biệt xảy ra thí dụ như khi người bảo trợ
hay     người     lập     ra   uỷ      thác     chết.      Xem     Remainderman.
FUTURES COMMISSION MERCHANT (FCM): Người mua bán hợp đồng
futures để có hoa hồng Công ty hay cá nhân tham gia chào mời hay chấp
nhận các lệnh mua hay bán hợp đồng futures. Người này chấp nhận lấy tiền
mặt hay chứng khoán để mua bán kiếm chênh lệch (margin trading) và phải
theo    các    luật    lệ   trong    thị   trường    hợp    đồng    futures.
FUTURES CONTRACT: Hợp đồng Futures Thoả hiệp mua và bán một số
lượng đặc biệt hàng hoá hay công cụ tài chánh với giá riêng nào đó theo
ngày đáo hạn trong tương lai đã được ấn định. Giá được thiết lập giữa người
mua và bán tại hiện trường thị trường hàng hoá sử dụng hệ thống la to để
báo giá. (open outcry báo giá bán hay giá mua bằng cách la to lên) . Một
hợp đồng futures cam kết cho người mua được mua hàng hoá làm cơ sở
trong hợp đồng và người bán phải bán, trừ khi hợp đồng được bán cho người
khác trước khi thiết lập ngày tháng hợp đồng, điều này xảy ra khi người mua
bán muốn kiếm một lợi nhuận hay chặn đứng thua lỗ. Các hợp đồng mua
bán option theo đó người mua option có thể chọn hoặc là có hay là không
thực      hiện      option      theo     ngày      tháng     thực      hiện.
FUTUES MARKET: Thị trường hợp đồng futures Thị trường hàng hoá nơi
hợp đồng futures được bán mua. Mỗi thị trường mua bán khác nhau những
loại hợp đồng cá biệt. Các thị trường chính là Amex Commodity Exchange,
The Commodity Exchange Inc (Comex), the New York Coffee, Sugar and
Cocoa Exchange, The New York Cotton Exchange, The New York Mercantile
Exchange và New York Futures Exchange tất cả ở New York, The Chicago
Board of Trade, The International Monetary Market, the Chicago Mercantile
Exchange, The Chicago Rice and Cotton Exchange và Mid America
Commodity Exchange of Trade, tại thành phố Kansas, Mo ; và Minneapolis
Grain                 Exchange                tại               Minneapolis.
FUTURES OPTION: Hợp đồng Futures có chọn giá theo ý muốn. Hợp đồng
option          trên          một         hợp          đồng          future.
FVO (FOR VALUATION ONLY): Chỉ để đánh giá.

GOOD MONEY: Tiền có giá trị nội tại cao Ngân quỹ: quỹ liên bang, có giá trị
thanh lý cùng ngày ngược lại với quỹ thanh lý nhà. Quỹ này được hiểu ngầm
theo                                hai                                  cách:
1.      Quỹ       đòi       hỏi    3       ngày        để       thanh       lý.
2. Quỹ dùng để thanh lý các giao dịch trong đó có một ngày thả nổi. Luật
Gresham's: lý thuyết cho rằng tiền có giá trị nội tại cao hơn, tiền tốt sẽ dần
dần được rút ra khỏi vòng lưu chuyển và thay thế bằng đồng tiền có giá trị
nội                     tại                    kém                        hơn.
GOOD-THIS- MONTH ORDER (GTM): Lệnh đến cuối tháng Lệnh mua hay
bán chứng khoán trái phiếu (thường với giá giới hạn hay giá ngưng do khách
hàng định) có giá trị đến cuối tháng. Trong trường hợp giá giới hạn, khách
hàng chỉ thị cho broker hoặc là mua với giá giới hạn hoặc giá cao hơn. Trong
trường hợp giá ngưng, khách hàng chỉ thị broker đăng ký thị một khi có một
dịch vụ mua bán chứng khoán thực hiện theo giá ngừng đã ấn định.

GOOD THROUGH: Lệnh suốt. Lệnh mua hay bán chứng khoán trái phiếu
hay hàng hoá theo giá đã ấn định trước vào thời khoảng đã định, trừ khi huỷ
bỏ, thực hiện hay thay đổi. Nó là loại lệnh có giới hạn và có thể là GTW đã
xác    định,   GTW     trong    thời    khoảng     ngắn    hơn    dài  hơn.
GOOD-TILL- CANCELED ORDER (GTC): Lệnh đến khi nào huỷ bỏ. Lệnh
của khách hàng công ty môi giới để mua và bán chứng khoán, thường (chưa
đánh                                                                     vào)
GROSS REVENUES: Tổng doanh thu của tài sán góp vốn. Tất cả doanh thu
có từ hoạt động sinh lợi của các tài sản do thành viên góp vốn sở hữu. Từ
ngữ Gross Revenues không bao gồm doanh thu có từ lợi tức tiền lãi hay
thương vụ bán, tái tài trợ hay do bố trí khác về các tài sản thuộc thành viên
góp                                                                      vốn.
GROSS SALES: Số bán gộp. Tổng số bán thuần theo trị giá bảng liệt kê
hàng hoá, không có khấu trừ số bớt giá cho khách hàng, lợi nhuận hay tiền
lãi hoặc bất cứ một điều chỉnh nào khác. Xem Net Sales.
GROSS SPREAD: Chênh lệch gộp. Chênh lệch giữ giá chứng khoán cung
ứng cho công chúng và giá mà nhà báo tiêu trả cho nhà phát hành. Số
chênh lệch này được chia cho phí điều hành, khấu trừ của người mua bán
(hay của người bao tiêu) và hoa hồng cho nhóm bán selling concession)
(khấu trừ cho nhóm bán). Xem Concession, Flotation (floatation) Cost.
GROSS YIELD: Hoa lợi gộp. Hoa lợi của trái phiếu trước khi trừ thuế.
GROUP BANKING: Nhóm nghiệp vụ ngân hàng. Hình thức của công ty mẹ
(công ty chủ quản) trong đó một nhóm quản lý có quyền kiểm soát một vài
ngân hàng đang tồn tại. Mỗi ngân hàng trong nhóm có Hội đồng Quản Trị
riêng, công ty chủ quản liên kết các hoạt động của tất cả các ngân hàng
trong nhóm và nắm đa số chứng khoán vốn trong các ngân hàng thành viên.
Xem     Banker's    bank,    Chain    Banking,     lnterlocking   Directorate.
GROUP NET ORDER: Thứ tự thuần của nhóm. Một thứ tự được tập đoàn
bao tiêu chấp nhận vì quyền lợi của tập đoàn. Các loại hoa hồng được chi trả
cho thành viên tuỳ theo sự góp phần của họ trong tập đoàn bao tiêu.
GROUP OF SEVEN: Nhóm G-7 . Một nhóm quốc tế hay gồm cán bộ trưởng
tài chánh của 7 quốc gia công nghiệp hàng đầu, gặp nhau để liên kết chính
sách kinh tế và tiền tệ. Nhóm này còn gọi là nhóm G-7 gồm Nhật, Tây Đức,
Pháp, Anh, ý, Canada, và Hoa Kỳ được tổ chức năm 1986.
GROUP OF TEN: Nhóm 10 Mười nước kỹ nghệ hoá chính yếu, cố gắng phối
hợp tiền tệ và các chính sách tài chánh để tạo ra một hệ thống kinh tế thế
giới ổn định hơn.

HEAVY MARKET: Thị trong nặng nề (giá đi xuống). Thị trường chứng
khoán, trái phiếu hàng hoá bị rớt giá do cung ứng ồ ạt để bán nhiều hơn
lệnh đặt mua.

HEDGE/HEDGING: Phòng hộ giá - Bảo hộ giá. Chiến lược dùng để bù đắp
lại rủi ro đầu tư. Một bảo hộ toàn hảo là một bảo hộ loại bỏ khả năng kiếm
lời lẫn thua lỗ trong tương lai. Thí dụ cổ đông rất lo âu về giá chứng khoán
sụt, họ có thể lập rào cản bảo hộ các chứng khoán bằng cách mua Put
Option về chứng khoán hay bán call option. Một người nào đó có 100 cổ
phần chứng khoán XYZ đang bán với giá $70 cổ phần, có thể bảo hộ vị thế
của mình bằng cách mua put option cho phép ông ta quyền được bán 100 cổ
phần với giá $70 vào bất cứ thời điểm nào trong vòng vài tháng kế tiếp. Nhà
đầu tư này có thể phải trả một số tiền nào đó gọi là phí mua option để có
quyền này. Nếu chứng khoán XYZ trong thời gian này bị rớt giá, nhà đầu tư
có thể thực hiện option, có nghĩa là bán chứng khoán với giá $70 theo đó
bảo vệ được giá $70 cho các chứng khoán XYZ. Các cổ đông cùng có chứng
khoán XYZ cũng có thề bảo hộ vị thế của họ bằng cách bán Call Option.
Trong việc mua bán này, ông ta bán quyền để mua chứng khoán XYZ với giá
$70 cổ phần cho vài tháng tới . Đổi lại ông ta nhận được phí mua bán option.
Nếu chứng khoán XYZ rớt giá, lợi tức có từ phí option sẽ bù lại khoảng rớt
giá                    của                    chứng                   khoán.
Bán khống (bán chứng khoán vay mượn) là cách khác được sử dụng rộng rãi
trong kỹ thuật bảo hộ giá. Nhà đầu tư thường cố gắng bảo hộ giá chống lại
lạm phát bằng mua tài sản vì nó tăng giá nhanh hơn lạm phát.
Các công ty thương mại lớn muốn bảo đảm giá họ sẽ nhận hay chi trả một
loại hàng hoá, sẽ bảo hộ vị thế của họ bằng cách mua và bán đông lúc trong
thi trường hợp đông futures. Thí dụ Hershay's công ty socola sẽ bảo hộ
nguồn cung cấp cacao trong thị trường hợp đồng futures để giới hạn rủi ro
do               giá               cacao               tăng              lên.
HEDGE CLAUSE: Điều khoán bảo hộ. Điều không được khẳng định thường
thấy trong văn kiện thị trường, các bản báo cáo nghiên cứu chứng khoán hay
văn bản khác phải làm để đánh giá đầu tư, nó có ý miễn cho người viết trách
nhiệm về tính chính xác của thông tin có được từ nguồn đáng tin cậy. Bất
chấp các điều khoản này có thể làm giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý, người
viết vẫn có thể chịu trách nhiệm vì tính cẩu thả khi sử dụng thông tin. Ngôn
ngữ điển hình cho điều khoản bảo hộ là : "thông tin được cung cấp ở đây là
thông tin lấy được từ các nguồn đáng tin cậy nhưng tính xác thực thì không
được                       đảm                      bảo                     .
HEDGE FUND: Quỹ bảo hộ. Từ ngữ ngành chứng khoán dùng để mô tả quỹ
hỗ tương đầu tư nào đó dùng các kỹ thuật bảo hộ. Thí dụ, quỹ Prudential-
bache Option Growth đã sử dụng hợp đồng futures về chỉ số thị trường
chứng khoán và bán khống với hợp đồng option chứng khoán để giới hạn rủi
ro (có nghĩa "kiếm tiền trong bất cứ hoàn cảnh thị trường nào"). Xem
Hedge/Hedging.
HEDGE RATIO: Tỷ lệ bảo hộ giá. Tỷ lệ hợp đồng option so với hợp đồng
Futures mà người mua đã mua để loại trừ rủi ro trong giao dịch mua bán. Tỷ
lệ dựa trên hệ số delta của hợp đồng option. Thí dụ, nếu hợp đồng Future
thay đổi $1 thì sẽ làm thay đổi phí option là $0,5, tỷ lệ sẽ là 2 hợp đồng
option          cho          mỗi          hợp           đồng         futures.
HEDGED TENDER: Đặt giá thầu có bảo hộ. Bán khống (Selling short - bán
chứng khoán vay mượn) một số lượng cổ phần đang được đặt giá thầu để
bảo vệ giá không rớt trong trường hợp tất cả cổ phần này không được chấp
nhận (chấp nhận theo giá đặt mua thầu). Thí dụ, công ty ABC hay công ty
khác muốn mua công ty ABC tuyên bố giá đặt thầu là $52/ cổ phần khi cổ
phần ABC đang bán với giá thị trường là $40. Bây giờ giá thị trường cổ phần
- ABC tăng dần bằng giá đặt thầu (giá đặt mua cao hơn giá thị trường -
Tender offer) là $52. Nhà đầu tư muốn bán tất cả 2000 cổ phần với giá $52
nhưng không thể chắc chắn bán được 2000 cổ phần. Với giá đề nghị $52/ cổ
phần, nhà đầu tư nghĩ rằng chắc chỉ bán được 1.000 cổ phần do đó ông ta
sẽ bán khống 1.000 cổ phần được chấp nhận theo giá đó và khi giá đặt thầu
hết hiệu lực (hết hạn) và giá thị trường cổ phần ABC bắt đầu rớt giá thì nhà
đầu tư vẫn bán được hết 2.000 cổ phần với giá $52 hoặc là sát với giá đó.
Một nửa cho người đã đặt giá thầu và một nửa thì đã bán khống.
HEMLINE THEORY: Lý thuyết gấu váy cho thị trường. ý kiến kỳ quặc cho
rằng giá chứng khoán biến chuyển cùng chiều hướng tổng quát như
hemlines (gấu váy) của váy dài phụ nữ. Váy ngắn trong thập niên 1920 và
thập niên 1960 được xem là dấu hiệu của chứng khoán tăng giá, trong khi
đó váy dài trong thập niên 1930 và 1940 được xem là biểu thị giá hạ. Dù đôi
lúc nó kỳ lạ như lời tiên tri, lý thuyết gấu váy phiếu như thế được lập ra cho
danh mục đầu tư thiên về trái phiếu (bond-oriented portfolios) với Kicker -
phần lợi thêm - của việc chuyển đổi ra chứng khoán, dự trù để bảo hộ chống
lại                                   lạm                                 phát.
HIGH RATIO LOAN: Tiền vay có tỷ lệ cao. Tiền vay có thế chấp có số lượng
được người cho vay ứng trước gần bằng với trị giá tài sản đã được đánh giá.
Thông thường, tỷ lệ tiền vay/trị giá tài sản thế chấp cao hơn 80% được xem
là tiền vay có tỷ lệ cao. Người cho vay trong trường hợp này thường yêu cầu
người     vay    phải    có      bảo    hiểm    tiền  vay     có   thế   chấp.
HIGH-TECH STOCK: Chứng khoán công ty kỹ thuật cao. Chứng khoán của
các công ty liên quan đến các lãnh vực kỹ thuật máy vi tính, bán dẫn, kỹ
thuật sinh học, ngành rô-bốt, chứng khoán kỹ thuật cao thành công có lợi
nhuận phát triển trên mức trung bình và vì thế giá chứng khoán rất hay thay
đổi.
HIGH-YLELD BOND: Trái phiếu hoa lợi cao. Trái phiếu được xếp loại BB hay
thấp hơn và trả hoa lợi cao để bù đắp lại rủi ro cao. Xem Junk Bond.
HIGHLY LEVERAGED TRANSACTION: Giao dịch mua bán có hỗ trợ tài
chánh cao. Tiền vay ngân hàng tài trợ cho việc thụ đắc một công ty, tái tư
bản hoá hay mua lại cổ phần công ty với sự hỗ trợ tài chánh (leveraged
buyout - mua lại cố phần công ty để tiếp quản công ty đó với sự hỗ trợ tài
chánh bên ngoài mà lúc đó việc tài trợ này dẫn đến việc số nợ của người vay
tăng gấp đôi và tỷ lệ nợ/tài sản trên 50% hoặc khi người vay có tổng số nợ
(kể cả chứng khoán ưu đãi) vượt quá 75% tổng số tài sản. Ngoài ra, số tiền
vay có thể được lập ra với sức bật (hỗ trợ tài chánh) cao nhờ sự điều chỉnh
nghiệp vụ ngân hàng hay nhờ đơn vị bao tiêu. HIGHS : Giá chứng khoán đạt
giá cao mới. Chứng khoán đạt đến giá cao mới trong mua bán hằng ngày
suốt 52 tuần hiện tại nó được liệt kê bằng chữ highs trong báo hằng ngày).
Các nhà phân tích kỹ thuật xem tỷ lệ giữa chứng khoán có giá cao mới và
chứng khoán có khung giá thấp mới trong thị trường chứng khoán là một
điều rất đáng quan tâm để vạch ra các chiều hướng đầu tư trong thị trường
chứng                                                                   khoán.
HIRE PURCHASE (HP): Đặt trước lấy sau. Một giao dịch buôn bán trong đó
người mua ký thác trước (đặt cọc) số mua hàng hoá và trở thành người sở
hữu khi số đối còn lại được trả (khi trả đủ số còn thiếu lại). Không giống như
người                mua                theo             tín             dụng,
HOLDING COMPANY AFFILIATE: Công ty nhập vào công ty chủ quản
(công ty mẹ). Ngân hàng hay công ty ngoài ngân hàng thuộc sở hữu của
công ty chủ quản ngân hàng hay công ty chủ quản tiết kiệm và cho vay. Các
hoạt động ngoài ngân hàng như điều hành một công ty cho vay có thế chấp
hay công ty con xử lý dữ kiện có thẩm quyền hoạt động nếu được quyết định
là "có liên quan chặt chẽ với dịch vụ ngân hàng" và "kèm theo một sự việc
đích thực" (thực sự có công việc để làm). Xem : Holding Company.
HOLDING PERIOD: Thời gian lưu giữ. Khoảng thời gian một tài sản được
chính phủ lưu giữ. ở Hoa Kỳ, các tài sản vốn được lưu giữ 6 tháng hay hơn
nữa thì được hưởng thuế đặc biệt về vốn kiếm được. Xem Anticipated
Holding                 Period,                Investment               Letter.
HOLDING THE MARKET: Duy trì thị trường - lưu giữ thị trường. Tham gia
thị trường bằng lệnh mua đủ để đỡ giá chứng khoán hay hàng hoá nhằm ổn
định chiều hướng đang xuống. Quan điểm SEC xem "lưu giữ" là hình thức
vận động bất hợp pháp, ngoại trừ trường hợp ổn định việc phát hành chứng
khoán mới đã thông qua SEC trước đó bệnh viện hay bệnh xá. Bệnh xá loại
này sau đó được điều hành theo hợp đồng thuê mướn bởi tổ chức không vụ
lợi hay một công ty hoạt động kinh doanh như công ty bệnh viện Hoa Kỳ.
Trái phiếu doanh thu bệnh viện, là một loại khác của trái phiếu phát triển
công nghiệp, được miễn thuế, nhưng việc miễn thuế cũng có giới hạn. Xem
Revenue                                                                   Bond.
HOT CARD: Thẻ ngân hàng không còn hiệu dụng. Thẻ ngân hàng không thể
dùng để chi trả, thường là vì thẻ đã được báo cáo là mất hay bị đánh cắp
hay       do       nhà       phát       hành       đã        huỷ      bỏ.     .
HOT ISSUE: Phát hành nóng - Trái phiếu nóng. Trái phiếu mới phát hành
được đa số công chúng mua. Theo thường lệ, trái phiếu phát hành nóng tăng
vọt giá trong lần phát hành đầu tiên, vì số cầu nhiều hơn số chứng khoán có
sẵn. Theo luật lệ của National Association or Securities Dealers thì việc phân
phối trái phiếu phát hành nóng do nhóm bao tiêu ngân hàng đầu tư thực
hiện.                             Xem                               Underwrite.
HOT MONEY: Tiền nóng. Quỹ đầu tư luôn thay đổi cách kiếm hoa lợi cao,
ngắn hạn. Người mượn theo tiền nóng, như ngân hàng phát hành chứng chỉ
ký thác có hoa lợi cao, sẽ phải bị loại bỏ ngay khi có người mượn khác trả lãi
suất                                   cao                                 hơn.
HOT              STOCK:               Chứng              khoán            nóng.
1.            Chứng            khoán            bị            đánh          cắp
2. Chứng khoán mới phát hành mà giá đã nhanh chóng tăng lên.
HOTS: Trái phiếu kho bạc ngắn hạn mới phát hành. Trái phiếu nóng. Tại
Anh, đây là từ ngữ thân mật để chỉ Trái Phiếu Kho Bạc ngắn hạn vào ngày
phát                                                                      hành.
HOUSE:       Tự    doanh     -    Thị     trường     chứng     khoán    London.
1. Công ty hay cá nhân tham gia kinh doanh với tư cách broker tự mình mua
bán trong hoạt động ngân hàng đầu tư hay chứng khoán và các dịch vụ
tương                                    quan                                 .
2.       biệt       danh        của         London        Stock      Exchange.
HOUSE ACCOUNT: Tài khoản của công ty môi giới chứng khoán. Tài khoản
được xử lý tại trụ sở chính của công ty môi giới hay được quản lý bởi ban
điều hành của công ty. Nói cách khác tài khoản này được phân biệt với tài
khoản thông thường do nhà buôn điều hành trong khu vực. Thường thì nhà
buôn không nhận hoa hồng trên tài khoản của công ty môi giới mặc dù tài
khoản         nằm        trong       khu         vực       của       họ.      .
HOUSE CALL: Lệnh gọi của công ty môi giới. Thông báo của công ty môi
giới cho biết là vốn của khách hàng trong tài khoản vay mượn chứng khoán
ở dưới mức cho phép. Nếu vốn khách hàng dưới mức này, broker phải có
lệnh gọi khách hàng để nộp thêm tiền mặt hay chứng khoán. Nếu khách
hàng không cung ứng theo mức chênh lệch yêu cầu, vị thế của họ sẽ bị
thanh lý. Mức giới hạn của lệnh gọi công ty môi giới thường cao hơn mức của
National Association of Secunties Dealers (NASD), nhóm tự điều chỉnh (self-
regulatory group) và các thị trường chính có phạm vi quyền hạn vượt trên
các luật lệ này. Một quy định duy trì chênh lệch như thế được bổ sung vào
các quy định ban đầu về chênh lệch được thiết lập bởi đạo luật T của Hội
Đồng Dự Trữ Liên Bang. Xem House Maintenance Requirement, Margin Call.
HOUSE MAINTENANCE REQUIREMENT: Quy định duy trì của công ty môl
giới chứng khoán. Các luật lệ thiết lập trong nội bộ và được thông qua của
các công ty môi giới chứng khoán trong chứng khoán tín phiếu có liên quan
đến tài khoản vay mượn chứng khoán (tài khoản margin của khách hàng)
các quy định duy trì của nhà môi giới thiết lập mức độ vốn phải được duy trì
để tránh gia tăng vốn thêm vào hay đem bán hết thế chấp. Mức này thường
cao hơn mức NASD và thị trường chứng khoán đòi hỏi. Xem House Call,
Minimum                                                        Maintenance.
HOUSE OF ISSUE: Công ty bao tiêu phát hành. Công ty ngân hàng đầu tư
bao tiêu việc phát hành chứng khoán hay trái phiếu và bán trái phiếu, chứng
khoán          ra        công         chúng.        Xem         Underwrite.
HOUSE PAPER: Giấy nợ trong nhà, giấy nợ nội bộ. Hối phiếu do công ty cha
hay công ty con rút ra và một công ty sát nhập (công ty con) chấp nhận.
HOUSE REQUIREMENT: Quy định của công ty môi giới chứng khoán. Số
lượng vốn tối thiểu mà khách hàng phải duy trì trong tài khoản Margin (tài
khoản vay tiền để mua chứng khoán) tuỳ theo luật lệ của từng công ty môi
giới chứng khoán (hầu hết các công ty đều có quy định duy trì cao hơn quy
định                               nhà                                nước).
HOUSE RULES: Luật lệ công ty môi giới. Thuật ngữ ngành chứng khoán nói
về luật lệ nội bộ và các chính sách của công ty môi giới liên quan đến việc
mở và điều hành tài khoản của khách hàng và các hoạt động của khách
hàng trong các tài khoản như thế. Luật lệ công ty môi giới được thiết lập để
bảo đảm là công ty có điều kiện thuận tiện tuân thủ các quy định của giới
chức thẩm quyền về Theo luật thuế của Mỹ năm 1984, tính bình quân lợi tức
được sử dụng khi lợi tức của một người trong năm hiện tại vượt quá 140%
lợi tức trung bình đóng thuế trong 3 năm trước. Đạo luật Tax Reform Act of
1986 huỷ bỏ cách tính bình quân lợi tức.

INCOME BOND: Trái phiếu lợi tức. Món nợ theo đó việc chi trả lãi suất phụ thuộc vào
lợi nhuận có đủ từ năm này sang năm khác. Trái phiếu như thế được mua bán phẳng
(flat) có nghĩa là không có lãi suất tích luỹ - và đây thường là một cách lựa chọn khác
thay      vì      tuyên     bố   phá     sản      .    Xem     :   Adjustment     Bond.
INCOME CAPITAL CERTIFICATE (ICC): Chứng chỉ vốn có lợi tức. Công cụ tài chánh
do nhà nước lập ra để giúp đỡ các tổ chức tiết kiệm đang gặp khó khăn. Các tổ chức
tiết kiệm cần huy động vốn sẽ phát hành ICC cho nhà nước để đổi lấy tiền mặt hay giấy
hứa trả nợ. Chứng chỉ này sẽ được thu hồi khi tổ chức tiết kiệm phục hồi lại được vốn
thuần          và       có     lại      được         sức      mạnh       tài     chánh.
INCOME DISTRIBUTION: Số phân phối lợi tức. Lợi nhuận trả cho nhà đầu tư trong
quỹ hỗ tương đầu tư hay uỷ thác theo đơn vị. Lợi tức được phân phối theo tỷ lệ sở hữu
cổ phần, tính từ tổng lợi nhuận trừ cho lệ phí quản lý và thuế.
INCOME EFFECT: Hiệu quả của lợi tức. Tác động của thay đổi giá cả trên sức mua
của người tiêu thụ. Khi giá của một loại sản phẩm giảm thì người tiêu thụ có lợi tức ổn
định sẽ có nhiều trên hơn đế có thể chi tiêu các sản phẩm khác. Trong khi hiệu quả của
lợi tức tạo nên sự phát triển trong một vài lĩnh vực thì một ngành nào đó có giá đang
hạ           lại        kiếm       được          lợi       nhuận        kém        hơn.
INCOME FUND: Quỹ hỗ tương đầu tư về lợi tức. Một loại quỹ hỗ tương đầu tư nhằm
tìm một lợi tức hiện hành ổn định từ việc đầu tư vào các trái phiếu chi trả tiền lãi.
INCOME INVESTMENT COMPANY: Công ty đầu tư kiếm lợi tức. Công ty quản trị,
điều hành quỹ hỗ tương đầu tư nghiêng về kiếm lợi nhuận cho các nhà đầu tư, những
người đánh giá lợi tức sẽ phát triển thêm lên. Các quỹ này có thể đầu tư trái phiếu hay
chứng khoán có cổ tức cho hay có thể viết (bán) Call Option có bảo kê bằng chứng
khoán.                     xem                     lnvestment                  Company.
INCOME LIMITED PARTNERSHIP: Tổ chức góp vốn trách nhiệm hữu hạn, nhằm
kiếm lợi tức. Góp vốn trách nhiệm hữu hạn về bất động sản, dầu hoả, gas, trang thiết
bị thuê mướn, mục đích là kiếm lợi tức cao, hầu hết có thể bị đánh thuế. Góp vốn như
thế được lập ra là để cho các tài khoản có điều kiện để tránh thuế giống như tài khoản
hưu trí cá nhân, tài khoản kế hoạch Keogh hay kế hoạch hưu trí.
INCOME LIMITS: Các giới hạn của lợi tức. Mức tối đa mà các gia đình có lợi tức bình
thường hay thấp có thể kiếm được, đủ để trả tiền nhà hay tiền vay có thế chấp lãi suất
thấp. Mức giới hạn dựa trên tầm cỡ gia đình và địa điểm địa lý.
INCOME PROPERTY: Tài sản có lợi tức. Bất động sản được mua vì nó có phát sinh ra
lợi tức. Tài sản có thể trong phần góp vốn trách nhiệm hữu hạn có lợi tức, hay do cá
nhân hoặc do công ty sở hữu. Người mua cũng hy vọng kiếm được lợi nhuận tư bản khi
bán                                         tài                                      sản.
INCOME PROPERTY MORTGAGE: Tiền hay có thế chấp tài sản có phát sinh lợi tức
xem                                  Conlmercial                               Mortgage.
INCOME SHARES: Cổ phần lợi tức. Một trong hai loại hay hạng loại của chứng khoán
vốn do quỹ mục đích kép (dual purpose fund) phát hành hay do công ty đầu tư phân
đôi, loại kia là cổ phần vốn (catpital shares). Người giữ cổ phần lợi tức nhận cổ tức của
cả hai hạng loại cổ phần, xuất phát từ lợi tức (cổ tức và lãi suất) do danh mục đầu tư
mang lại, trong khi đó người giữ cổ tức tư bản (vốn) nhận lợi nhuận tư bản chi trả cho
cả hai hạng loại. Cổ phần lợi tức thông thường có một bảo đảm lợi tức ít nhất, nó có
tính                                        tích                                      luỹ.
INCOME STATEMENT: Xem Profit and Loss Statement. Báo cáo lợi tức. Báo cáo tài
chính cho biết tóm tắt các hoạt động tài chánh của một công ty trong một thời khoảng
ấn định, kể cả lời lỗ thuần trong thời khoảng đã nêu. Báo cáo này thường có kèm theo
Bản Cân Đối Tài Khoản liệt kê tài sản và nợ của công ty trong cùng thời khoảng. Báo
cáo được lập hằng quý và hằng năm sau đó nộp cho SEC .
INCOME STOCK: Chứng khoán lợi tức. Loại chứng khoán cấp cao (blue-chip) được
mua để kiếm lợi nhuận đều đặn và lâu dài . khác vì họ có số lượng lệnh vượt quá khả
năng thực hiện, hay cho các công ty không có người mua bán tại hiện trường. Những
broker này được gọi là broker 2 dollars bởi vì hoa hồng của họ cho một cuộc mua bán
lố tròn là bấy nhiêu. Broker độc lập được các broker kia bồi dưỡng bằng các lệ phí mà
trước đây được quy định cố định nhưng nay có thể thương lượng. Xem Give Up.
INDEX: Chỉ số. Phức hợp thống kê dùng để tính những biến đổi trong kinh tế hay
trong thị trường tài chánh, thường được diễn tả bằng số phần trăm thay đổi dựa trên
năm căn bản hay dựa vào tháng trước. Thí dụ, chỉ số giá tiêu thụ sử dụng năm 1967
làm năm căn bản, chỉ số này được thiết lập trên số hàng hoá và dịch vụ tiêu thụ chính
yếu, nó chuyển biến lên xuống khi tỷ lệ lạm phát biến chuyển. Khoảng đầu thập niên
1980, chỉ số đã tăng từ 100 năm 1967 đến gần khoảng 300, có nghĩa là giỏ hàng hoá
mà chỉ số dựa vào để tính đã tăng giá hơn 200% Các chỉ số cũng tính toán mức lên
xuống của thị trường chứng khoán, trái phiếu, hàng hoá, phản ánh giá cả thị trường và
số cổ phần trong công chúng của các công ty. Một vài chỉ số nổi tiếng là chỉ số NYSE,
chỉ số AMEX, chỉ số Standar & Poor's và chỉ số Value Line. Các chỉ số ít quan trọng hơn
thuộc các nhóm công nghiệp như ngành đồ uống, đường sắt hay máy vi tính cũng được
theo dõi. Các chỉ số thị trường chứng khoán hình thành nền tảng cho mua bán trong
hợp     đồng      options   chỉ   số.    Xem     :    Stock   Indexes    and    Averages.
INDEX ARBITRAGE: Mua và bán song hành theo chỉ số. Xem Abitrage.
INDEX FUND: Quỹ hỗ tương đầu tư về chỉ số. Quỹ hỗ tương đầu tư có danh mục đầu
tư gắn liền với chỉ số có tầm rộng như chỉ số Standard & Poor's và vì thế các diễn biến
của nó phản ảnh toàn cảnh thị trường. Nhiều nhà đầu tư thuộc tổ chức, nhất là những
người tin tưởng lý thuyết năng lực thị trường, đầu tư vào quỹ chỉ số với giả định rằng
việc cố gắng phá vỡ chỉ số trung bình thị trường trong suốt việc đầu tư là điều vô ích và
các đầu tư của họ trong các quỹ này ít nhất cũng theo kịp thị trường.
INDEX CLAUSE: Điều khoản điều chỉnh theo chỉ số. Còn gọi là điều khoản duy trì trị
giá (maintenance- of-value), một điều khoản trong hợp đồng quốc tế nhằm bảo vệ các
bên không bị tác động bởi biến động tỷ giá hối đoái. Điều khoản có những điều chỉnh
quy định trong giá hợp đồng trong trường hợp có các thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến.
INDEX OF LEADING INDICATORS: Xem Leading lndicators. Chỉ số của các biểu thị
hàng                                                                                 đầu.
INDEX OPTIONS: Hợp đồng option về chỉ số. Hợp đồng Call option và Put option về
chỉ số chứng khoán. Các loại hợp đồng này được mua bán tại New York, Mỹ và ở
Chicago Board Options Exchanges. Các chỉ số có tầm rộng bao gồm một phạm vị rộng
lớn các công ty và các ngành công nghiệp, trong khi đó các chỉ số tầm hẹp bao gồm
chứng khoán trong một ngành công nghiệp hay một khu vực của kinh tế. Hợp đồng
option chỉ số cho phép nhà đầu tư mua bán trong một thị trường riêng biệt hay một
nhóm công nghiệp mà không phải mua theo cá nhân tất cả chứng khoán. Thí dụ, một
người nào đó nghĩ rằng chứng khoán dầu hoả sẽ rớt giá họ có thể mua một put option
về chỉ số dầu thay vì bán khống cổ phần trong nửa tá công ty dầu hoả.
INDEX                    PARTICIPATION:                     xem                  Basket.
INDEXED INVESTMENT: Đầu tư theo chỉ số. Xem Gold indexed Investment, Market
index                                                                            deposit.
INDEXING:            Lập        mục          lục        -      Tính         chỉ       số.
1. Hướng danh mục đầu tư của một người gắn liền với chỉ số có tầm rộng như Standard
& Poor's cũng như tương ứng với diễn biến của nó - hoặc mua cổ phần trong một quỹ
chỉ                                                                                   số.
2. Kết hợp trên lương, thuế, hay các lợi suất khác với một chỉ số. Thí dụ, một hợp đồng
lao động có thể yêu cầu tính chỉ số tiền lương đối với số giá tiêu thụ để bảo vệ chống
lại sự thiệt hại sức mua trong thời gian lạm phát gia tăng.
INDICATED YIELD: Hoa lợi được báo trước. Tỷ lệ lãi Coupon hay cổ tức theo tỷ phần
trăm của giá thị trường hiện hành. Đối với chi phiếu lãi suất cố định, nó giống như hoa
lợi hiện hành. Đối với chứng khoán thường, nó là giá thị trường chia cho cổ tức hằng
năm. Đối với chứng khoán ưu đãi, nó là giá thị trường chia cho cổ tức theo hợp đồng.
INDICATION: Sự báo hiệu. ước chừng những gì mà phạm vi mua bán của chứng
khoán sẽ phải là (giá đặt mua và giá đặt bán) khi mua bán lại tiếp tục sau khi việc mua
bán bị đình hoãn hay bị ngưng vì bất quân bình của các lệnh hay vì lý do khác, cũng
còn         gọi         là       thị          trường       được          báo         hiệu
INSIDE MARKET: Thị trường nội bộ Bản báo giá đặt mua và giá đặt bán giữa những
người mua bán cho hàng kho của nâng họ. Khác với thị trường bán lẻ, ở đây bảng báo
giá là giá mà khách hàng trả cho người mua bán. Nó còn được gọi là lnterdealer
Market,      Wholesale       Market      (thị      trường     mua       bán     sỉ)     .
INSIDER: Người trong nội bộ. Người có cơ hội biết những tin tức then chốt (quan
trọng) trước khi tin tức được thông báo ra công chúng. Thường thường từ ngữ này
muốn nói đến các thành viên hội đồng quản trị, các viên chức cao cấp và các công
nhân then chốt nhưng theo định nghĩa mở rộng hợp pháp thì nó cũng bao gồm cả thân
nhân và những người có một vị trí có thể khai thác dự liệu trên tin tức nội bộ này. Luật
pháp cấm những người trong nội bộ mua bán nhờ những hiểu biết nội bộ.
INSIDER LENDING: Cho nguời trong nội bộ vay Tiền cho các giám đốc và các viên
chức ngân hàng vay. Luật ngân hàng quy định rằng số tiền cho người nội bộ vay phải
cùng lãi suất và các điều khoản tín dụng như cho khách hàng vay.
INSOLVENCY: Không có khả năng thanh toán. Không có khả năng trả nợ khi đáo hạn.
Xem                Bankruptcy.              Crash               Flow,            Solvency.
INSTALLMENT CONTRACT: Hợp đồng trả dần (trả góp). thoả thuận chi trả cho hàng
hoá đã mua, số chi trả vốn và lãi được thực hiện theo từng thời khoảng kế tiếp nhau.
Nó còn được gọi là Installment Sales Paper và Installment Paper (giấy nợ trả góp) .
INSTALLMENT CREDIT: Tín dụng trả dần dần, trả từng kỳ. Tiền vay được chi trả lại
cùng với tiền lãi số vốn vay và tiền lãi được chi trả lại theo các thời khoảng bằng nhau.
Đây là loại tiền vay được trả lại dán dần cho đến hết theo một thời biểu chi trả dần đã
ấn định. Loại tiền vay này được bảo đảm bằng tài sản cá nhân thí dụ tiền vay mua xe
hơi - chứ không phải hàng bất động sản. bán lẻ và cung ứng thêm nhiều dịch vụ tài
chánh có liên quan. Xem : Floatation Cost, Secondary Distribution, Underwrite.
INVESTMENT BANKING: Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Bán và phân phối số chứng
khoán mới phát hành do một đơn vị trung gian tài chánh thực hiện (tức ngân hàng đầu
tư) người này mua chứng khoán (cổ phần) từ nhà phát hành dưới dạng mình là người
chủ và chấp nhận rủi ro khi phân phối chứng khoán cho các nhà đầu tư. Tiến trình mua
và phân phối cổ phần (chứng khoán) được gọi là bao tiêu (underwriting). Thông
thường, vài ngân hàng đầu tư tham gia vào việc cung ứng (bán) cổ phần (chứng
khoán), môi ngân hàng đồng ý bán một phần cổ phần đã được đề nghị đem ra bán, đổi
lại   họ     sẽ    nhận     một    phần     lệ     phí   bao     tiêu   gọi  là    Spread.
INVESTMENT BANKING (SECURITIES) BUSINESS: Doanh nghiệp nghiệp vụ ngân
hàng đầu tư. Doanh nghiệp được thực hiện bởi broker, dealer hay người chuyên mua
bán trái phiếu đô thị, trái phiếu nhà nước của loại trái phiếu mới phân phối, mới được
bao tiêu - với tư cách là người mua bán cho chính mình hoặc mua hay bán trái phiếu
theo lệnh và vì lợi ích của người khác với tư cách là người trung gian môi giới (broker).
INVESTMENT CERTIFICATE: Chứng chỉ đầu tư Chứng chỉ chứng minh có đầu từ
trong một hiệp hội tiết kiệm và cho vay và cho biết số tiền đầu tư. Chứng chỉ đầu tư
không có quyền bỏ phiếu và không có dính líu gì đến trách nhiệm cổ đông. Nó còn
được gọi là chứng chỉ vốn hỗ tương đầu tư. Xem Mutual Association.
INVESTMENT CLUB: Câu lạc bộ đầu tư. Nhóm người góp chung tài sản để phối hợp
các quyết định đầu tư. Mỗi thành viên của câu lạc bộ đóng góp một số vốn nhất định
cộng thêm số tiền được đầu tư mỗi tháng hay mỗi quý các quyết định mua chứng
khoán hay trái phiếu nào sẽ do các thành viên bỏ phiếu. Ngoài việc giúp mỗi thành viên
có nhiều kiến thức hơn về đầu tư, các câu lạc bộ này giúp những người có ít tiền tham
gia vào các đầu tư lớn hơn mà chỉ trả ít hoa hồng hơn. National Association of
Investment          Clube        đóng          tại       Royal        Oak,       Michigan.
INVESTMENT COMPANY: Công ty đầu tư. Công ty, có tính phí điều hành, đầu tư các
quỹ góp vốn chung của các nhà đầu tư nhỏ vào chứng khoán trái phiếu tương ứng với
các mục tiêu đầu tư đã đề ra. Nó cung cấp cho các người góp vốn các dịch vụ quản lý
chuyên nghiệp, đa dạng hoá và linh hoạt mà nếu là cá nhân thì khó mà thực hiện được.
Có       hai        loại      công        ty        đầu       tư       cơ       bản      :
1. Công ty đầu tư mở rộng, thường được biết là quỹ hỗ tương đầu tư, có một số lượng
cổ phần thả nổi trong công chúng (vì thế mới có tên là mở rộng) và sẵn sàng để bán
hay thu hồi theo trị giá tài sản thuần hiện hành của chứng khoán trái phiếu đó.
2. Công ty đầu tư có giới hạn người tham gia (closed end) được biết với cái tên uỷ thác
đầu tư, giống như công ty kinh doanh, nó có một số cổ phần cố định trong công chúng
và được mua bán như chứng khoán, thường là trên các thị trường chính.
-Các công ty theo kiểu mở rộng được chia ra làm hai loại, dựa trên các chính sách giá
phí                                        bổ                                        sung.
1. Quỹ có phí (chứng khoán trái phiếu) được bán trong thị trường ngoài danh mục (thị
trường không chính thức) bởi broker tự mua bán, người này không nhận hoa hồng
thương vụ, thay vào đó họ cộng "phí tải" (loading fee) vào trị giá tài sản thuần vào lúc
mua. Phí này tiêu biểu là 8,5% có khấu trừ cho số lượng có mức thấp 4%. Không có
lấy      phí       khi       cổ      phần       của       quỹ      được      bán.      ..
2. Quỹ không có phí, được các công ty bảo trợ bán trực tiếp. Các công ty như thế
không tính phí tải, dù sao cũng có thu các phí nhỏ nhưng không có gì là bất bình
thường. Các nhà buôn bán trong công ty đầu tư có giới hạn kiếm được doanh thu
thương vụ từ số hoa hồng làm trung gian bình thường, hợp pháp. Cả hai công ty đầu tư
mở rộng và giới hạn đều tính phí điều hành hàng năm, thông thường định mức từ 1/2
% đến 1%) trị giá đầu tư. Theo đạo luật công ty đầu tư 1940, bản báo cáo đăng ký và
bản quảng bá của mỗi công ty đầu tư phải cho biết các mục tiêu đầu tư đặc biệt. Theo
cơ bản, các công ty được xếp loại như sau : quỹ chứng khoán thường đa loại hoá, quy
cân đối (bao gồm trái phiếu chứng khoán thường, chứng khoán ưu đãi), quỹ chứng
khoán ưu đãi và trái phiếu (có đặc điểm lợi tức cố định), quỹ đặc biệt (trong ngành
công nghiệp, nhóm công nghiệp, tầm cỡ (công ty), quỹ lợi tức (chứng khoán trái phiếu
có hoa lợi cao), quỹ hiệu suất (performance fund) (chứng khoán phát triển) ; quỹ mục
tiêu kép (một hình thức của công ty có giới hạn cho người ta cơ hội chọn lựa hoặc là cổ
phần có cổ tức hay cổ phần tư bản kiếm được) và quỹ thị trường tiền tệ (các công cụ
thị                         trường                         tiền                      tệ).
INVESTMENT COUNSEL: Cố vấn đầu tư Người có trách nhiệm cung cấp tư vấn cho
khách hàng và điều hành các quyết định đầu tư. Xern Portfoho Manager.
INVESTMENT CREDIT: Tín dụng đầu tư Sự gia giảm trong nợ thuế lợi tức qua nhiều
năm do nhà nước cho phép đối với các công ty thực hiện các đầu tư mới trong các
hạng loại tài sản nào đó, cho trang thiết bị ban đầu. Nó ,cũng gọi là tín dụng thuế đầu
tư. Tín dụng đầu tư được thiết lập để khuyến khích kinh tế bằng cách tăng cường chi
tiêu tư bản, kể từ 1960 nó là một đặc điểm của luật thuế lúc có lúc không. Vì số phần
trăm cũng thay đổi. Năm 1985 số phần trăm là 6% hay l0% của giá mua, tuỳ thuộc vào
thời gian tồn tại của tài sản. Giống như tín dụng, tín dụng đầu tư được khấu trừ từ hoá
đơn thuế chứ không từ lợi tức trước khi đánh thuế: và độc lập với trị giá giảm theo thời
gian (khấu hao). Đạo luật Tax Reform Act or 1986 thường huỷ bỏ tín dụng đầu tư có
hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố) cho các tài sản đã thực hiện sau ngày 1-1- 1986 .
Đạo luật 1986 cũng cho phép gia giảm 35% trị giá tín dụng mang sang từ những năm
trước.
INVESTMENT GRADE: Cấp độ đầu tư Trái phiếu được đánh giá từ hạng AAA đến
BBB.                          Xem                        Junk                      Bond.
INVESTMENT HISTORY: Trong quá trình đầu tư Nội dung kinh nghiệm có từ trước,
lập nên "thông lệ đầu tư" liên quan đến tầm quan trọng của mối liên hệ giữa công ty và
khách hàng. Thí dụ, luật lệ thực hiện công bằng của NASD cấm bán chứng khoán trái
phiếu mới cho thành viện trong gia đình của người buôn bán đang phân phối, nhưng
nếu có đủ tiền trong quá trình đầu tư trong đó có mối liên hệ đặc biệt giữa người buôn
bán và khách hàng, thì thương vụ trên không vi phạm luật pháp.
INVESTMENT IN PROPERTIES: Đầu tư trong tài sản. Số đóng góp vốn thực tế được
chi trả hay phân bổ vào các tài sản mua, phát triển, xây dựng hoặc cải thiện theo quy
định của chương trình. Số lượng có sẵn cho đầu tư tương đương tổng số tiền thu được
đã được huy động trừ cho lệ phí ban đầu chỉ chi một lần) (front-end fees).
INVESTMENT INCENTIVE: Phần khuyến khích cho đầu tư. Trợ cấp tài chánh, ưu đãi
thuế hay giảm bớt luật lệ quy định với ý định khuyến khích đầu tư, đặc biệt là đầu tư
trực tiếp của nước ngoài. Trong ngoại thương, các quốc gia thường dùng các phần
khuyến khích cho nhà đầu tư nước ngoài để thiết lập các nhà máy sản xuất làm tăng lợi
tức xuất khẩu. Nhưng du lịch thì ngoài lệ nếu có phần khuyến khích thì cũng có ít chỉ
dành cho các ngành phục vụ du lịch, ngành này sử dụng (tiêu thụ) nhiều vốn nội địa
hơn                           là                       chúng                          có.
INVESTMENT INCOME: Lợi tức đầu tư Lợi tức từ chứng khoán trái phiếu và các đầu
tư khác ngoài kinh doanh; như cổ tức, tiền lãi chênh lệch về hợp đồng option, lợi tức từ
tác quyền hay trợ cấp hàng năm (annuity), và lợi nhuận tư bản trên chứng khoán, trái
phiếu, hợp đồng option, future kim loại quý. Theo đạo luật Tax Reform Act or 1986 tiền
lãi trên tài khoản vay chứng khoán để bán có thể được dùng để bù vào lợi tức đầu tư
mà không có giới hạn. Lợi tức đầu tư kiếm được do các hoạt động thụ động không
được tính theo các lợi tức thụ động khác. Lợi tức đầu tư còn gọi là lợi tức thực tế chưa
có (unearned income) và lợi tức theo danh mục đầu tư (Portfolio income).
INVESTMENT LETTER: Thư có chủ định đầu tư: Mua bán riêng chứng khoán mới, thư
khẳng định (letter of intent) giữa nhà phát hành chứng khoán và người mua được thiết
lập để nói rằng chứng khoán hiện đang được mua dưới dạng đầu tư chứ không phải
mua để bán lại. Đây là điều cần thiết nhằm tránh đăng ký chứng khoán với SEC (theo
các điều khoản của SEC: Điều 144, người mua chứng khoán như thế rốt cuộc có thể
bán lại chứng khoán cho công chúng nếu như hội đủ các điều kiện đặc trưng, kể cả
phải có một thời gian lưu giữ ít nhất là 2 năm). Sự sử dụng thư chủ định đầu tư làm
phát sinh ra các từ ngữ : chứng khoán thư và trái phiếu thư ám chỉ các chứng khoán
trái      phiếu        không       đăng     ký.    Xem        :     Letter      Security.
INVESTMENT MANAGER: Nhà quản lý đầu tư: Cũng còn gọi là nhà quản lý quỹ, một
người quản lý quỹ đầu tư như là quỹ hưu trí hay quỹ hỗ tương đầu tư. Nhà quản lý sẽ
xác định các tiêu chuẩn đầu tư thí dụ như hoa lợi cao hay phát triển đều đặn.
INVESTMENT PERFORMANCE REQUIREMENTS (IPR): Các quy định thực hiện
đầu tư: Các điều kiện đặt ra cho đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Một quốc gia có thể
quy định rằng nhà đầu tư nước ngoài đồng ý trước là sẽ đầu tư theo một số tối thiểu
tiền tệ mạnh, tuân thủ các luật lệ có trong nước chủ nhà hoặc cung cấp một số phần
trăm cố định công việc cho nước chủ nhà. IPR được xem là phần đổi lại của một quốc
gia đã đầu tư vốn vào hạ tầng cơ sở và các phương tiện hoạt động kinh doanh. Đối với
ngoại thương, IPR là một loại rào cản không sử dụng quan thuế biểu, nhưng nó được
nhiều                quốc             gia          sử             dụng              đến.
INVESTMENT SECURITIES: Chứng khoán đầu tư: Chứng khoán dễ mua bán do ngân
hàng giữ trong danh mục đầu tư của tài khoản trong bản cân đối tài khoản. Chứng
khoán đầu tư cùng với số tiền cho vay là nguồn chính yếu của lợi nhuận ngân hàng, và
thường có 2 chức năng then chốt : là nguồn thanh toán của ngân hàng hay là nguồn
ngân quỹ để thoả mãn nhu cầu tiền vay hoặc nhu cầu tiền mặt của khách hàng và là
nguồn bổ sung lợi nhuận từ số tư bản kiếm được cụ thể khi đem bán chứng khoán.
Chứng khoán ở cấp độ đầu tư của ngân hàng có thể được chấp nhận làm thế chấp để
đáp ứng các quy định bảo đảm về số dự trữ phải lưu giữ. Chứng khoán đầu tư của
ngân hàng được tính như trị giá sổ sách (kế toán) được chi trả dần hay giá phí mua ban
đầu trừ cho số chi trả dần hoặc số bù dần vào mệnh giá. Tài sản trong tài khoản mua
bán được tách riêng khỏi danh mục đầu tư chứng khoán đầu tư và các chứng khoán
khác mà ngân hàng có đủ điều kiện để bao tiêu và bán lại cho công chúng hay tổ chức
tài chánh và cũng tách rời khỏi chứng khoán được lưu giữ theo thoả thuận mua lại. Tài
sản trong danh mục đầu tư mua bán được điều chỉnh theo trị giá thị trường hằng ngày.
Xem          Barbell      Portfolio,      Bond     Swap,        Laddered       Portfolio.
INVESTMENT SERVICE BUREAU: Văn phòng dịch vụ cho nhà đầu tư: Dịch vụ công
cộng của NYSE nhằm đáp ứng thư tra vấn về tất cả các loại đầu tư có liên quan đến
chứng                         khoán                      trái                      phiếu.
INVESTMENT SERVICE CENTER (ISC): Trung tâm dịch vụ đầu tư: Còn gọi là Trung
Tâm Đầu Tư, một cơ quan được thiết lập trong một quốc gia đang phát triển để xử lý
các đơn xin đầu tư của nước ngoài trong các dự án hay các phương tiện trong nước.
Trong một vài quốc gia, ISC có thể cấp giấy cho phép nhập khẩu và đầu tư nhưng
thẩm quyền của Trung Tâm thường bị giới hạn theo các yêu cầu thông thường.
INVESTMENT STRATEGY: Sách lược đầu tư: Lập kế hoạch phân bố tài sản giữa các
lựa chọn như chứng khoán, trái phiếu, những chứng cụ tương đương tiền mặt và bất
động sản. Một sách lược đầu tư phải được vạch ra dựa trên quan điểm của nhà đầu tư
về lãi suất, lạm phát, phát triển kinh tế và các yếu tố khác, cũng phải kể đến tuổi tác
nhà đầu tư, sức chịu đựng rủi ro, số tư bản(vốn) có sẵn để đầu tư và nhu cầu tương lai
cho tư bản như tài trợ cho việc giáo dục cấp trung học cho con cái hay mua một căn
nhà. Nhà tư vấn đầu tư sẽ giúp nghĩ ra một sách lược như thế. Xem Investment
Advisory                                                                         Service.
INVESTMENT STRATEGY COMMITTEE: Uỷ ban sách lược đầu tư: Uỷ ban trong
phòng nghiên cứu của công ty môi giới. Uỷ ban thiết lập toàn bộ sách lược đầu tư mà
công ty sẽ giới thiệu đến khách hàng. Giám đốc nghiên cứu, nhà kinh tế chủ chốt và vài
nhà phân tích hàng đầu đều có chân trong uỷ ban này. Nhóm sẽ tư vấn cho khách
hàng về số lượng tiền đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu, hay các công cụ tương
đương tiền mặt, cũng như những nhóm công nghiệp, chứng khoán cá nhân hay trái
phiếu            có           vẻ             hấp          dẫn           cá          biệt.
INVESTMENT TAX CREDIT: Tín dụng thuế đầu tư. Xem Investment Credit.
INVESTMENT TRUST: Uỷ thác đầu tư. Xem Investment Company.
INVESTMENT VALUE OF A CONVERTIBLE SECURITY: Trị giá đầu tư của một
chứng khoán khả hoán. Giá ước tính theo đó chứng khoán khả hoán sẽ được định giá
bởi thị trường nếu nó không có đặc điểm khả hoán. Trị giá đầu tư chứng khoán khả
hoán của công ty được xác định bởi các công ty dịch vụ tư vấn đầu tư và theo lý thuyết
sẽ không bao giờ thấp hơn giá của chứng khoán đã nói. Người ta tính được trị giá này
bằng cách ước tính giá bán của trái phiếu bất khả hoán (thẳng straight) hay cổ phần ưu
đãi của cùng công ty phát hành. Trị giá đầu tư phản ánh lãi suất vì thế thị trường của
chứng khoán tăng khi lãi suất hạ và ngược lại. Xem Premium Over Bond Value.
INVESTOR RELATIONS DEPARTMENT: Phòng quan hệ với nhà đầu tư Trong các
công ty quan trọng đã liệt kê, đây là vị trí của một ban chịu trách nhiệm về các quan hệ
với nhà đầu tư và báo cáo đến trưởng phòng tài chánh hay giám đốc ngoại giao (giám
đốc về quan hệ bên ngoài). Nhiệm vụ thực tế có thể thay đổi tuỳ vào công ty có giữ
được mối quan hệ chung về tài chánh bên ngoài hay không. Các trách nhiệm tổng quát
như                                            sau                                      :
-Để biết rằng công ty được thông hiểu, trong phạm vi hoạt động và mục tiêu của công
ty và được xem như có thuận lợi trong thị trường tài chánh và tư bản, điều này có
nghĩa là phải có dữ liệu đưa vào bản báo cáo hàng năm và cho các tài liệu phát hành
khác, phối hợp các diễn văn của ban điều hành cấp cao và các báo cáo chung với nỗ
lực tạo quan hệ với cộng đồng tài chánh và thường xuyên tăng cường tính nhất quán
và        tạo       hình       tượng          một      công        ty      tích     cực.
-Để đảm bảo đầy đủ và đúng thời điểm các thông tin tài liệu cho dân chúng biết và làm
việc với ban pháp chế trong việc tuân thủ
JUNIOR MORTGAGE: Thế chấp cấp thấp (về thứ tự) Thế chấp có giá trị thứ tự thấp
hơn các thế chấp khác. Thí dụ thế chấp cấp 2, cấp 3. Nếu người nợ bị vỡ nợ, thế chấp
cấp 1 sẽ được giải quyết trước rồi mới đến thế chấp cấp thấp.
JUNIOR REFUNDING: Chi trả bằng trái phiếu mới. Chi trả hoàn lại nợ nhà nước có
đáo hạn từ 1- 5 năm bằng cách phát hành trái phiếu mới có đáo hạn từ 5 năm trở lên.
JUNIOR SECURITY: Chứng khoán cấp thấp (về thứ tự). Chứng khoán có quyền ưu
tiên thấp hơn chứng khoán cấp cao trong việc đòi tài sản hay lợi tức. Thí dụ, chứng
khoán ưu đãi thì ưu tiên sau giấy nợ, nhưng giấy nợ - một loại trái phiếu không bảo
đảm lại thấp hơn trái phiếu thế chấp. Chứng khoán thường thì lại thấp hơn tất cả chứng
khoán công ty. Một vài công ty như công ty tài chánh có chứng khoán trái phiếu thấp
hơn cấp cao (trung cao) và thấp hơn cấp thấp, cái trước ưu tiên hơn cái sau nhưng cả
hai              thấp              hơn             nợ              cấp               cao.
JUNK BOND: Trái phiếu cấp thấp về giá trị. Trái phiếu có giá trị tín dụng xếp loại BB
hay dưới BB do các cơ quan đánh giá xếp loại. Mặc dù đã được sử dụng thông thường
nhưng từ này làm người ta liên tưởng đến một nghĩ xấu nên các nhà phát hành và
người sở hữu thích dùng từ trái phiếu hoa lợi cao hơn là dùng từ trên. Các trái phiếu giá
trị cấp thấp được phát hành bởi các công ty không có các bảng ghi nhận theo dõi lâu
dài về thương vụ và lợi nhuận hay bởi các công ty có khả năng tín dụng có vấn đề. Nó
là phương tiện thông thường của việc tài trợ để mua đứt công ty khác. Vì nó có nhiều
bất ổn và trả hoa lợi cao hơn trái phiếu cấp độ đầu tư, nên nhiều nhà đầu tư các chứng
phiếu nhiều rủi ro đặc biệt chú tâm mua bán trái phiếu này. Các tổ chức có những trách
nhiệm về uỷ thác tài sản (fiduciary) không được đầu tư vào loại trái phiếu này (are
regulated).                    Xem                      Fallen                    Angels.
JURISDICTION: Pháp quyền, phạm vi quyền hạn. Được American Bankers association
định nghĩa là "quyền pháp định, quyền hay thẩm quyền nghe và quyết định một vụ
kiện, như quyền hạn của toà án". Từ này thường được đề cập trong các cuộc tranh cãi
về tài chánh và đầu tư có liên quan đến phạm vi quyền hạn của các giới chức khác
nhau có quyền quy định trên lãnh vực này. Thí dụ, hội đồng dự trữ liên bang, không
phải SEC (như người ta tưởng) có quyền hạn trong vụ kiện
KEY MANAGEMENT: Quản lý bộ khoá (mã số). Trong tiến trình xử lý dữ
kiện và chuyển ngân quỹ bằng điện tử, đây là việc kiểm soát mã số nhận
dạng độc nhất cho mỗi tổ chức tài chánh trong mạng lưới. Ngân hàng không
bao giờ chuyển bộ khoá rõ ràng - vì như vậy thì coi như không được mã hoá,
nên sẽ dùng công thức mã hoá được chấp nhận chung để ngăn ngừa những
việc không được giao cho thẩm quyền . Các ngân hàng thay đổi mã số từng
thời kỳ gọi là bộ khoá của nhà phát hành (keys) vì lý do an toàn.

KEY RATE: Lãi suất then chốt. Lãi suất kiểm tra trực tiếp hay gián tiếp lãi
suất cho vay của ngân hàng và giá phí tín dụng mà người vay phải trả.
KEY RATIO: Tỷ lệ then chốt. Tỷ lệ do nhà phân tích tài chánh dùng để đánh
giá bản báo cáo tình trạng tài chánh và lợi tức của ngân hàng. Các tỷ lệ được
xác định bao gồm: tỷ lệ vốn/ tài sản ; tỷ lệ số dự trữ cho tiền cho vay bị
mất/ tổng số tiền cho vay ; tỷ lệ thanh toán và tỷ lệ thực hiện như tỷ lệ lợi
nhuận / tài sản (ROA - Return on Assets), lợi nhuận / vốn cổ đông (ROE-
Return on Equity) và tỷ lệ lợi nhuận của mỗi cổ phần. Tỷ lệ then chốt là một
biểu thị tổng quát cho ta biết diễn biến hoạt động của ngân hàng và có thể
đem         so      sánh        với      số        liệu     năm         trước.
KEYNESIAN ECONOMICS: Kinh tế theo phái Keynes. Nội dung tư tưởng
kinh tế xuất phát từ nhà kinh tế học người Anh và là nhà cố vấn nhà nước
John Maynard Keynes (1883-1946), tác phẩm đánh dấu một bước ngoặt,
The General Theory of Employment Interest anh Money, được xuất bản năm
1935. Viết suốt thời kỳ đại khủng khoảng, Keynes tin rằng sự can thiệp tích
cực của nhà nước trong thị trường là phương pháp duy nhất để bảo đảm kinh
tế phát triển và ổn định. Ông ta giữ lập luận cơ bản là số cầu không đủ sẽ
gây ra nạn thất nghiệp và số cầu quá mức gây ra lạm phát. Vì thế nhà nước
sẽ phải tác động lôi kéo mức độ của toàn thể số cầu bằng cách điều chỉnh
mức chi tiêu của nhà nước và thuế khoá. Thí dụ, để tránh giảm phát Keynes
ủng hộ gia tăng chi phí nhà nước và có chính sách tháo khoán tiền tệ (easy
money) sẽ đưa đến kết quả là có nhiều đầu tư hơn, công ăn việc làm nhiều
hơn và gia tăng tiêu thụ. Kinh tế theo phái Keynes đã có ảnh hưởng rất lớn
đối với các chính sách kinh tế chung của các quốc gia công nghiệp, kể cả Mỹ.
Tuy nhiên trong thập niên 1980 sau các giai đoạn suy thoái liên tục, phát
triển chậm, tỷ lệ lạm phát cao tại Mỹ, người ta có một quan điểm ngược lại,
các nhà chủ trương chính sách tiền tệ và phái cung cấp (supply siders) đã
buộc tội việc can thiệp quá mức của nhà nước đã gây ra những rắc rối cho
nền kinh tế. Xem Aggregate Supply, Laisser-Faire, Macroeconomics,
Monetarist,                      Supply-side                      Economics.
KICKBACK: Tiền đút lót, tiền cò. Tài chánh: cách thực hiện theo đó các
công ty thương vụ tài chánh thưởng cho những người buôn bán bằng tiền
mặt, những người đã giảm giá chứng từ mua trả góp thông qua họ. Nhà
nước và các hợp đồng tư : người bán chi trả bí mật cho một người nào đó có
công trong việc đưa cho hợp đồng hay thực hiện một thương vụ - đây là tiền
đút lót bất hợp pháp. Quan hệ lao động : việc làm bất hợp pháp theo đó
người chủ đòi chi lại phần trăm tiền lương đã được luật pháp hay hợp đồng
công đoàn lao động quy định, nếu công nhân còn muốn tiếp tục làm việc.
KICKER: Tác nhân khuyến khích. Đặc điểm thêm vào cam kết nợ thường lập
ra để tăng cường tính thị trường, bằng cách cung cấp triển vọng góp vốn cổ
đông. Thí dụ, trái phiếu có thể chuyển đổi thành chứng khoán nếu cổ phần
đạt đến mức giá nào đó. Điều này làm cho trái phiếu hấp dẫn hơn đối với
nhà đầu tư bởi vì trái chủ có tiềm năng hưởng lợi ích an toàn vốn cổ đông
cộng thêm tiền chi trả lãi. Ngoài ra, đặc điểm này là có được những đặc
quyền và chứng chỉ ưu tiên mua chứng khoán. Vài loại tiền cho vay có thế
chấp cũng có những đặc điểm khuyến khích này dưới dạng tham gia sở hữu
dưới hình thức phần trăm thu nhập ròng (Tổng thu nhập) Kickers (đặc điểm
khuyến        khích)       còn      được       gọi       là      Sweeteners.
KILLER BEES: Người bảo vệ kẻ yếu. Những người giúp đỡ công ty tự vệ
chống lại các nỗ lực muốn tiếm quyền của một công ty khác (takeover bid -
đặt giá mua cao hơn giá thị trường nhằm tiếm quyền công ty kia). Killer
Bees thường là những ngân hàng đầu tư lập ra các sách lược nhằm làm cho
mục tiêu tiếm quyền trở nên kém hấp dẫn hay khó mà thụ đắc.
KITING: Mánh khoé (tài chánh) thả bổng, nâng trị giá. Hoạt động ngân
hàng                      thương                     mại                   :
1. Ký thác và rút chi phiếu trong các tài khoản tại hai hay nhiều ngân hàng,
theo đó hưởng được lợi thế thả nổi, có nghĩa là, hưởng được khoảng thời
gian ngân hàng ký thác thu tiền từ ngân hàng chi trả.
2. Lừa đảo bằng cách thay đổi các con số trên chi phiếu để tăng mệnh giá
chi phiếu. Chứng khoán trái phiếu : kéo giá chứng khoán lên mức cao bằng
những phương pháp mua bán theo mánh khoé lôi kéo (vận động).

LAST TRADING DAY : Ngày mua bán sau cùng. Ngày mua bán cuối cùng,
trong ngày này một hợp đồng future có thể được thanh toán. Nếu hợp đồng
không được bù trừ thì hoặc là một thoả hiệp giữa bên mua và bên bán phải
được thoả thuận hoặc là hàng hoá vật chất phải được người bán giao cho
người                                                                    mua.
LATE CHARGE: Phí phạt do chậm trả. Tiền phạt do chi trả chậm tiền vay có
thế chấp hay tiền vay chi trả từng kỳ sau khi đã hết thời gian gia hạn. Lệ phí
phạt do trả chậm được tính theo số phần trăm của số cân đối chưa trả (số
nợ chưa trả) và nếu không được trả thì không thể cộng vào số nợ lãi của tiền
vay                      (Tính                     riêng                      ra).
LATE TAPE: Lên bảng chậm. Chậm lên màn hình các biến chuyển giá vì việc
mua bán trên một thị trường chứng khoán đặc biệt quá bề bộn. Nếu trên
màn hình chậm hơn 5 phút thì con số đầu tiên của một giá sẽ bị xoá bỏ. Thí
dụ, mua bán với giá 62 3/4 được báo cáo là 2 3/4. Xem Digit Deleted.
LATENT DEFECT: Khuyết điểm tiềm ẩn. Tình trạng không hoàn hảo của bản
chất, đặc tính sản xuất hay cấu trúc của một sản phẩm làm cho việc kiểm
nhận chuyên sâu, hợp lý không thể thực hiện rõ ràng được.
LAUNDERED MONEY: Tiền được tẩy. Xem Money Laundering.
LAW OF ONE PRICE: Quy luật một giá. Lý thuyết kinh tế cho rằng sự cạnh
tranh làm cân bằng giá cả của các sản phẩm giống hệt nhau, được bán trong
các quốc gia khác nhau khi loại bỏ hàng rào mậu dịch và không tính giá phí
vận chuyển. Quy luật một giá là tiền đề căn bản của lý thuyết mậu dịch tự
do.
LAY OFF: Làm giảm rủi ro - Giãn công nhân. Ngân hàng đầu tư: làm giảm
rủi ro trong cam kết hỗ trợ theo đó nhà ngân hàng đồng ý mua và bán lại
cho công chúng bất cứ phần nào của chứng khoán phát hành không được cổ
đông, những người đang giữ quyền mua, đăng ký đặt mua. Rủi ro này là trị
giá thị trường sẽ hạ trong suốt từ 2 đến 4 tuần khi cổ đông đang quyết định
thực hiện hay bán các quyền của họ hay không. Để giảm thiểu tối đa rủi ro,
nhà              ngân            hàng             đầu             tư              :
1. Mua tất cả các quyền đang đem bán, cùng lúc đó bán các cổ phần tiêu
biểu                cho              các                quyền                này.
2. Bán khống một số lượng cổ phần tương đương với các quyền có thể là
không muốn thực hiện - tiêu biểu có thể lên đến 1/2% số phát hành. Nó còn
gọi là Laying Off. Lao động: không ghi tên công nhân trong bảng lương một
thời gian dài hay tạm thời vì kinh tế đang xuống hay sản xuất bị cắt bớt chứ
không phải do họ làm việc yếu hay vi phạm các quy định của công ty.
LEAD             BANK:           Ngân           hàng             chủ           trì.
1 Ngân hàng trù liệu, sắp xếp một nhóm cho vay (loan syndication), trong
đó có một số ngân hàng mua phần tham gia cho mình. Ngân hàng chủ trì sẽ
thu lệ phí quản lý cho việc tập hợp nhóm cho vay và trù liệu các điều khoản
tài trợ. Trong thị trường trái phiếu Châu âu, ngân hàng hoạt động như một
đơn vị trung gian cho các thành viên trong tập đoàn (hay nhóm) bao tiêu.
2. Ngân hàng đầu tư quản lý việc bao tiêu chứng khoán. Nó còn gọi là nhà
quản       lý    hàng     đầu     hay      nhà      bao     tiêu     quản       lý.
LEADER:                                 Hàng                                 đầu.
1 Chứng khoán hay các nhóm chứng khoán ở tuyến đầu trong một thị trường
đang vọt lên hay rớt xuống. Tiêu biểu là các chứng khoán tuyến đầu được
các tổ chức mua hay bán thật mạnh vì họ muốn chứng tỏ vai trò lãnh đạo
của      họ      trong     thị    trường      thuộc       ngành       của      họ.
2    Sản      phẩm    có   nhiều   cổ    phần    trong     nhiều    thị   trường.
LEADING INDICATORS: Các biểu thị hàng đầu. Thành tố của chỉ số được
Commerce Department's Bureau of Economic Analysis Mỹ phát ra hằng
tháng. Năm 1985 số thành tố là số trung bình tuần lễ làm việc của các công
nhân sản xuất, số trung bình hàng tuần của các trái quyền (quyền được
hưởng chi trả) về bảo hiểm thất nghiệp, những lệnh mới đặt hàng tiêu thụ
và nguyên vật liệu; hiệu suất bên bán (các công ty nhận cung ứng từ từ
chậm dần từ bên cung cấp) ; thành lập kinh doanh thuần (net business
formation), các hợp đồng về nhà máy và trang thiết bị, các giấy phép xây
dựng mới, các thay đổi hàng kho, các giá nguyên vật liệu dễ thay đổi, giá
chứng khoán, nguồn cung cấp tiền tệ (M2) và số vay mượn kinh doanh, tiêu
thụ. Chỉ số của các biểu thị hàng đầu, có các thành tố chỉ số được điều chỉnh
theo lạm phát, dự đoán rõ ràng sự lên lên xuống xuống của chu kỳ kinh
doanh.
LIMIT ORDER: Lệnh giới hạn. Lệnh mua hay bán chứng khoán theo giá ấn
định hay giá tốt hơn, broker sẽ thực hiện việc mua bán trong một giới hạn
giá. Thí dụ, khách hàng đặt lệnh giới hạn mua chứng khoán công ty XYZ với
giá 30 khi chứng khoán đang bán giá 32. Dù giá chứng khoán là 30 1/8
broker sẽ không thực hiện việc mua bán. Tương tự, nếu khách hàng đặt lệnh
giới hạn bán chứng khoán XYZ với giá 33 khi giá hiện tại là 31, broker cũng
không thực hiện mua bán cho đến khi giá chứng khoán là 33.
LIMIT ORDER INFORMATION SYSTEM: Hệ thống thông tin lệnh giới hạn.
Hệ thống điện tử thông báo tin tức cho những người đăng ký các chứng
khoán trái phiếu đã được mua bán trên các thị trường hiện hành nơi họ mua
bán , cho biết về chuyên gia mua bán, số lượng các lệnh, giá đặt bán và giá
đặt mua. Điều này giúp cho những người đăng ký mua được giá thích hợp
nhất.
LIMIT PRICE: Giá có giới hạn. Giá trong lệnh có giới hạn. Thí dụ một khách
hàng có thể đặt ra một lệnh có giới hạn để bán cổ phần với giá 45 hay mua
với giá 40. Broker sẽ thực hiện lệnh theo giá có giới hạn này hay giá tốt hơn
(bán      từ    45      trở     lên,    mua      từ     40     trở    xuống).
LIMIT UP, LIMIT DOWN: Giới hạn cao nhất - thấp nhất Biến chuyển giá tối
đa được cho phép trong hợp đồng futures hàng hoá trong suốt một ngày
mua bán. Trong trường hợp cá biệt thị trường biến chuyển mạnh, giá hợp
đồng futures có thể tăng đến mức giới hạn tối đa hay hạ đến mức tối đa
trong       khoảng       thời      gian      vài      ngày       liên    tiếp.
LIMITED COMPANY: Công ty hữu hạn. Hình thức kinh doanh thông dụng
nhất ở Anh, công ty đăng ký theo đạo luật công ty có thể so sánh với tổng
công ty (incorporation - liên hiệp công ty) theo đạo luật tiểu bang ở Mỹ. Viết
tắt : Ltd hay PLC. LIMITED DISCRETION : Tự do quyết định có giới hạn.
Thoả hiệp giữa broker và khách hàng cho phép broker thực hiện một số mua
bán nào đó mà không cần hỏi ý kiến khách hàng - Thí dụ, bán một vị thế
hợp đồng option đến ngày đáo hạn hay bán một chứng khoán vừa mới có tin
không                                 thuận                                lợi.
LIMITED PARTNERSHIP: Góp phần (vốn) có trách nhiệm giới hạn về nợ và
quyền hạn (góp vốn trách nhiệm hữu hạn). Tổ chức được thành lập bởi tổng
thành viên góp vốn (General Partner), người quản lý một dự án và những
thành viên góp vốn, người đầu tư tiền bạc nhưng có trách nhiệm hữu hạn về
nợ và không tham gia vào việc điều hành quản lý hằng ngày và thường
không thể thua lỗ hơn số vốn mà họ đóng góp. Thường thường thành viên
góp vốn nhận lợi tức tư bản kiếm được, lợi thế về thuế ; còn tổng thành viên
thì thu phí theo số phần trăm tư bản kiếm được và lợi tức. Góp vốn trách
nhiệm hữu hạn nằm trong lãnh vực thuê mướn bất động sản, dầu hoả và
gas, trang thiết bị nhưng nó cũng có ở ngành tài chánh công nghiệp điện
ảnh, nghiên cứu và phát triển, và các dự án khác. Góp vốn trách nhiệm hữu
hạn công cộng được bán thông qua công ty môi giới với đầu tư tối thiểu
$5.000, trong khi góp vốn trách nhiệm hữu hạn tư nhân tập hợp với nhau
khoảng dưới 35 thành viên, mỗi thành viên đầu tư hơn $20.000. Xem :
Income Limited Partnership, Master Limited Partnership, Oil and Gas Limited
Partnership, Passive, Research and Development Limited Partnership,
Unleveraged                                                                  Program.
LIMITED PRINCIPAL: Chuyên viên trọng yếu (người tạo thị trường) có
trách nhiệm hữu hạn, trong các lãnh vực đặc biệt. Người đã qua kỳ thi khả
năng chuyên môn để được chứng nhận có đủ kiến thức và chuyên môn tư
vấn công việc kinh doanh của một hội viên trong một hay nhiều lãnh vực
chuyên môn cao đặc biệt (có giới hạn từng khu vực. Nếu chuyên viên trọng
yếu trong lãnh vực đặc biệt muốn có vai trò chức năng trong một hay nhiều
lãnh vực chuyên môn tổng quát dành cho tổng chuyên viên trọng yếu về
chứng             khoán              thì           họ             phải            được
LIQUIDITY PREFERENCE THEORY: Lý thuyết ưu tiên cho khả năng thanh
toán tiền mặt. Lý thuyết thích tiền mặt. Theo lý thuyết phái Keynes thì nhà
đầu tư mong muốn giữ tiền bằng tài sản lưu động (tài sản dễ chuyển đổi ra
tiền mặt) thí dụ như tài khoản chi phiếu- hơn là giữ tiền trong tài sản không
linh hoạt (khó chuyển ra tiền mặt) (thí dụ như chứng khoán, trái phiếu, bất
động      sản).    Việc     ưa     thích      này    được     giải     thích     bằng:
1. Động cơ thúc đẩy giao dịch mua bán hay sự mong muốn có tiền sẵn để
chi                       dùng                         khi                        cần.
2. Động cơ phòng xa, có đặc tính là người ta lưỡng lự khi để tiền dính cứng
vào       tài      sản       khó        chuyển        đổi      ra       tiền      mặt.
3. Động cơ đầu cơ, họ tin rằng lãi suất thị trường có thể tăng trong tương lai.
Theo lý thuyết phái Keynes, tiền lãi là số chi trả đối với nhà đầu tư, nó
thuyết phục nhà đầu tư từ bỏ khả năng thanh toán bằng tiền mặt của họ,vì
thế các vụ đầu tư dài hạn sẽ làm cho lãi suất cao hơn lãi suất của đầu tư
ngắn hạn. Chênh lệch này được gọi là chênh lệch khả năng thanh toán tiền
mặt. Lý thuyết này khác với thuyết kì vọng(Expectation Theory).
LIQUIDITY RATIO: Tỷ lệ khả năng thanh toán bằng tiền mặt. Tính khả
năng của một công ty có thể đáp ứng các món nợ ngắn hạn đến ngày đáo
hạn.     Xem      Current     Ratio,     Net     Quick    Assets,      Quick     Ratio.
LIQUIDITY RISK: Rủi ro về thanh lý Rủi ro khi ngân hàng phải bán lỗ tài
sản để đáp ứng nhu cầu tiền mặt. Thí dụ, người ký thác yêu cầu có tiền mặt
ngay. Rủi ro về thanh lý thường được giải nghĩa theo tỉ lệ khả năng thanh lý
có       sẵn        và       số        yêu        cầu       về       ngân         quỹ.
LIS PENDENS: Vụ kiện đang xử Tiếng La tin để chỉ một vụ kiện đang xử,
đây là thông báo theo luật định báo cho tất cả các bên là đang có một vụ
kiện cáo có thể ảnh hưởng đến các quyền liên quan đến một tài sản nào đó.
Thông         báo       này       được          đăng       trên        nhật       báo.
LISTED OPTION: Hợp đồng option đã liệt kê. Put option hay Call option mà
thị trường đã có thẩm quyền mua bán, gọi chính xác là hợp đồng option đã
mua                 bán                  trên               thị                trường.
LISTED SECURITY: Chứng khoán, trái phiếu đã đăng ký. Chứng khoán hay
trái phiếu được công nhận mua bán bởi một trong các thị trường có tổ chức
và đăng ký ở Mỹ, thị trường này liệt kê hơn 6.000 loại chứng khoán trái
phiếu của khoảng 3.500 công ty. Tổng quát, lợi ích của việc được đăng ký là:
1.          Có           một            thị         trường           trật           tự.
2.       Khả        năng        thanh          toán       bằng         tiền       mặt.
3.        ấn        định        giá        công       bằng          hợp        lý.
4. Báo cáo số bán và báo giá liên tục và chính xác.
5.      Thông       tin     về      các      công     ty      có      liệt    kê.
6. Luật lệ nghiêm ngặt bảo vệ sở hữu chủ chứng khoán trái phiếu. Mỗi thị
trường có quy định liệt kê riêng, trong số đó NYSE là chặt chẽ nhất. Chứng
khoán trái phiếu liệt kê bao gồm chứng khoán, trái phiếu, trái phiếu khả
hoán, chứng khoán ưu đãi, chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán, các
quyền ưu tiên mua chứng khoán, và các hợp đồng options, tuy nhiên không
phải tất cả hình thức nào của chứng khoán trái phiếu đều được chấp nhận
trên tất cả các thị trường. Các chứng khoán trái phiếu không liệt kê được
mua bán trên thị trường ngoài danh mục. Xem Listing Requirements, Stock
Exchange.
LISING REQUIREMENTS: Các quy định về liệt kê. Một chứng khoán phải
hội đủ các điều kiện về luật lệ trước khi được liệt kê để mua bán trên một thị
trường. Trong số các quy định của NYSE có: công ty phải có tối thiểu 1 triệu
cổ phần do dân chúng giữ và có trị giá thị trường tổng cộng tối thiểu 1,6
triệu dollars cũng như lợi tức thuần hàng năm trên 2,5 triệu dollars chưa trừ
thuế                 lợi              tức               liên               bang.
LIVING TRUST: Uỷ thác giữa những người còn sống. Xem Inter Vivos Trust.
LOAD: Phí (tính vào người mua) - Phí bán. Phí bán do nhà đầu tư trả tức là
người mua cổ phần trong quỹ hỗ tương đầu tư có phí hay trợ cấp hằng năm.
Người ta tính loại phí này khi cổ phần hay số đơn vị cổ phần được mua; phí
để rút tiền gọi là phí chặn hậu (Back-End Load) (hay Rear-End Load). Quỹ
nào không tính phí này gọi là quỹ không phí bán. Xem: Investment
Company.
LOADING: Tính thêm phí. Phần tính thêm lệ phí rủi ro nhiều loại khác nhau
của            ngân            hàng            để           chiết          khấu.
LONG BOND: Trái phiếu dài hạn. Trái phiếu có thời hạn trên 10 năm. Vì trái
phiếu này lưu giữ tiền của khách hàng một thời gian dài nên nó có nhiều rủi
ro hơn trái phiếu ngắn hạn có cùng chất lượng do đó thường có hoa lợi cao
hơn.
LONG            COUPON:              Lãi         coupon           trả        lâu.
1. Lần chi trả đầu tiên của trái phiếu phát hành có thời khoảng dài hơn các
kỳ chi trả còn lại, hay lâu hơn chính trái phiếu phát hành. Các thời biểu theo
thông lệ thì yêu cầu chi trả theo từng kỳ 6 tháng nên lãi coupon trả lâu là
kết quả của việc trái phiếu được phát hành hơn 6tháng trước khi đến ngày
đáo hạn chi trả đợt đầu tiên theo thời khoá biểu. Xem: Short Coupon.
2. Trái phiếu có lãi, có thời gian đáo hạn trên 10 năm.
LONG DATE FORWARD: Thời điểm còn lâu. Hợp đồng thị trường hối đoái
có tính đầu cơ liên quan đến các vị thế sau hơn một năm. Giao dịch mua bán
có rủi ro cao vì có thể có một bên đối tác sẵn sàng ở vào vị thế đối nghịch.
LONG HEDGE: Bảo hộ giá lâu dài -Mua hợp đồng để bảo hộ giá.
1. Hợp đồng futures được mua để bảo vệ chống lại sự tăng giá phí thanh
toán một cam kết tương lai. Cũng còn gọi là mua bảo hộ giá. Người bảo hộ
giá được hưởng lợi từ chênh lệch cơ bản thấp (chênh lệch giữa giá tiền mặt
hiện tại và giá tương lai) nếu mua hợp đồng future dưới giá tiền mặt hiện
tại, và từ chênh lệch cơ bản lớn nếu mua hợp đồng future cao hơn giá tiền
mặt                                     hiện                                  tại.
2. Mua hợp đồng futures hay call option để đề phòng lãi suất giảm, cũng như
để giữ cứng hoa lợi hiện tại của chứng khoán lợi tức cố định.
LONG LEG: Bên mua- Đứng về bên mua. Một phần của mua và bán song
hành hợp đồng option ( option spread) tiêu biểu một cam kết mua chứng
khoán cơ sở. Thí dụ, nếu mua và bán song hành bao gồm mua call option và
bán    put   option     thì    mua    call   gọi   là   đứng     về   bên  mua.
LONG MARKET VALUE (LMV): Trị giá thị trường hiện hành (đứng về phía
người mua).. Trị giá thị trường hiện hành của chứng khoán do một khách
hàng sở hữu, căn cứ trên giá đóng cửa của ngày hôm trước. Đồng nghĩa với
Current                                Market                             Value.
LONG       POSITON:         Vị    thế      sở    hữu      -     Vị   thế   mua.
1. Quyền sở hữu chứng khoán, cho người đầu tư quyền chuyển giao quyền
sở hữu cho người khác bằng cách bán hay tặng, quyền nhận bất cứ lợi tức
nào có từ chứng khoán và quyền nhận lời hay lỗ khi trị giá chứng khoán thay
đổi.
2. Quyền sở hữu chứng khoán trái phiếu của nhà đầu tư do công ty môi giới
giữ.
LONG SPREAD: Mua và Bán song hành nghiêng về bên mua. Tất cả việc
mua và bán song hành có thể phân biệt thành hai loại "Long" (mua) và
"Short" (bán). Mua và bán song hành nghiêng về bên mua hay bên bán tuỳ
thuộc vào hợp đồng người mua và bán song hành nghiêng về bên mua hay
nghiêng về bên bán, nghĩa là hợp đồng đó gần hay xa thời điểm giao nhận.
Thí dụ: Mua và bán song hành theo chiều lên (bull spread) (còn gọi là long
spread) xảy ra khi nhà đầu tư mua một hợp đồng gần đến ngày đáo hạn và
bán      một        hợp       đồng       còn      lâu       mới     đáo     hạn.
LONG STRADDLE: Mua hàng hai. Mua một Call Option và một Put Option
của cùng chứng khoán cơ sở, cùng giá điểm và tháng đáo hạn.
LONG                        TERM:                       Dài                  hạn
1. Thời gian lưu giữ 6 tháng hay hơn, tuỳ theo đạo luật Tax Refrom Act of
1986 và có thể được áp dụng để tính thuế tư bản kiếm được (mãi đến năm
1988)
2. Phương thức đầu tư trong thị trường chứng khoán trong đó nhà đầu tư
muốn tăng giá trị bằng cách lưu giữ chứng khoán chừng một năm trở lên.
3. Trái phiếu có thời hạn từ 10 năm trở lên.Xem Long Bond, Long Term
Debt, Long Term Financing, Long- Term Gain, Long- Term Loss.
LONG-TERM DEBT: Nợ dài hạn. Nợ có thời hạn từ một năm trở lên. Thường
thường, tiền lãi được trả từng kỳ trong suốt thời hạn của tiền cho vay, và số
vốn có thể được trả khi giấy nợ hay trái phiếu đáo hạn. Tương tự, trái phiếu
dài     hạn       có      thời     hạn        từ     10      năm      trở    lên.
LONG- TERM FINANCING: Tài trợ dài hạn. Nợ và tất cả vốn cổ đông không
thể     hoàn       trả      trong     1năm.        Xem       Long-Term     Debt.
LONG-TERM GAIN: Tiền kiếm được (tiền lời) dài hạn.
MARKET ECONOMY: Kinh tế thị trường. Nền kinh tế nơi giao dịch thương
mại phần lớn nằm trong lãnh vực tư. Vốn, lao động, nguyên vật liệu v.v...
phần lớn được phân bố theo cùn và cầu và sự can thiệp của nhà nước vào
giá cả và các hoạt động kinh tế ở mức độ tối thiểu. Tuy nhiên trong thực tế,
sự can thiệp của nhà nước trong thị trường thương mại là vấn đề của mức
độ. Theo mức độ tối thiểu, tất cả Nhà nước đều thiết lập các tiêu chuẩn môi
trường, sức khoẻ và lao động, điều chỉnh một vài giá cả trong lãnh vực công.
MARKET IF TOUCHED ORDER (MIT): Mua bán khi lệnh đến mức. Lệnh
đến mức mua bán. Lệnh mua hay bán chứng khoán hay hàng hoá ngay khi
đạt đến giá thị trường đã định trước, tới điểm này nó trở thành lệnh thị. Khi
bắp đang bán giá $4,75/bashel một người nào đó có thể tham gia thị trường
nếu Lệnh Đến Mức để mua là $4,50. Ngay khi giá giảm còn $4,50 hợp đồng
sẽ được mua với danh nghĩa khách hàng theo bất cứ giá thị trường nào đang
hiện         hành         khi        lệnh      được         thực        hiện.
MARKET INDEX: Chỉ số thị trường. Các con số tiêu biểu cho các trị giá
nghiêng về thành tố nào đó tạo nên chỉ số. Thí dụ, chỉ số thị trường chứng
khoán thì nghiêng về phần giá cả và số cổ phần đang hiện hành (do cổ đông
và người mua giữ) của các loại chứng khoán. Chỉ số chứng khoán Standard
and Poor's 500 là một trong những chỉ số thông dụng nhất, nhưng vẫn có vô
số các chỉ số khác theo dõi chứng khoán trong các nhóm công nghiệp khác
nhau.
MARKET INDEX DEPSIT: Ký thác theo chỉ số thị trường. Tài khoản tiết
kiệm hay chứng chỉ ký thác trả lãi suất theo chỉ số hàng hoá hay chỉ số thị
trường
MARKET LEADER: Công ty hàng đầu trong thị trường. Một công ty có thị
phần lớn nhất trong một ngành công nghiệp. Công ty hàng đầu ấn định giá
cả của ngành và tiêu chuẩn dịch vụ bằng cách đặt một khuôn mẫu cho
ngành                                công                            nghiệp.
MARKET LETTER: Bản tin thị trường. Bản tin cung cấp cho khách hàng
công ty môi giới hay bản viết của một nhà phân tích đầu tư độc lập, đã đăng
ký với SEC như là một cố vấn đầu tư và bán các bản tin cho người đăng ký
mua. Các bản tin này ước định chiều hướng lãi suất, kinh tế, và thị trường
nói chung. Bản tin của công ty môi giới đăng lại các đề xuất của các phòng
ban nghiên cứu thuộc công ty. Các bản tin độc lập tuỳ thuộc cá tính của
người viết - thí dụ, chỉ tập trung vào chứng khoán đang tăng giá hay các đề
nghị của họ dựa trên phân tích kỹ thuật bản đánh giá Hulbert là bản đánh
giá               thuộc                thể            loại               này.
MARKET MARKER: Nhà tạo thị trường. Người sẵn sàng đứng ra thực thi các
lệnh mua và bán theo danh nghĩa khích hàng hay cho tài khoản của riêng
ông ta, hay theo sổ ghi nhận các lệnh mua bán. Nhà tạo thị trường là một
người nào đó chấp nhận rủi ro mua bán bằng chấp nhận sở hữu tài sản được
mua bán, và thực thi các giao dịch mua bán theo giá đã thông báo trong
công chứng. Chênh lệch giữa giá đặt mua và giá đặt bán của nhà tạo thị
trường không quá lớn để phải loại trừ các giao dịch mua bán theo giá đã
báo. Trong thị trường có tổ chức. như thị trường chứng khoán hay thị trường
hợp đồng Futures nhà tạo thị trường (được cơ quan nhà nước hay chính trị
trường      cấp      giấy     phép.      .   Xem     make      a     Market.
MARKET-NOT-HELD ORDER (MARKET NH): Lệnh tự do quyết định. Lệnh
thị có tầm mức lớn về số lượng chứng khoán cho phép broker tại sàn mua
bán được tự do quyết định về giá cả hoặc định thời điểm thực hiện lệnh thị.
MARKET ORDER: Lệnh thị. Lệnh mua hay bán chứng khoán với giá tốt.
nhất đang có. Hầu hết các lệnh được thực hiện trên thị trường chứng khoán
đều                        là                   lệnh                      thị.
MARKET OUT CLAUSE: Mua bán ngoài điều khoản. Điều khoản giải toả đôi
lúc được ghi vào thoả thuận bao tiêu theo loại cam kết, chắc chắn, cơ bản là
cho phép người bao tiêu không bị rằng buộc với cam kết mua nếu như có các
biến chuyển phát triển ngược chiều quan trọng (phát triển không lợi) làm
ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán trái phiếu nói chung. Việc này hiếm
thấy ở các nhà ngân hàng đầu tư lớn, họ ít khi viết "outs" (các ngoại lệ) tăng
các thoả thuận vì trị giá của bàn cam kết của họ là một vấn đề được quan
tầm tối đa (giá trị bản cam kết được đặt lên hàng đầu).
MARKET                 PRICE:               Giá             thị        trường.
Giá được báo cáo sau cùng của chứng khoán được bán trên một thị trường.
Đối với chứng khoán trái phiếu bán trên thị trường ngoài danh mục, các giá
đặt bán và giá đặt mua hiện hành được phối hợp vào một thời điểm đặc biệt
sẽ tạo ra giá thị trường cho chứng khoán. Đối với chứng khoán không được
mua bán tích cực, nhà định giá (kiểm định viên) hay các nhà phân tích có
thể xác định giá thị trường loại chứng khoán này khi cần - thí dụ như để
thanh lý một tài sản. Trong thế giới kinh doanh chung, giá thị trường ám chỉ
giá đã được bên mua và bên bán đồng ý về một sản phẩm hay dịch vụ và
được         xác       định         bằng        số       cùng      và      cầu.
MARKET         RATE       OF       INTEREST:       Lãi     suất   thị  trường.
1 . lãi suất được xác định bằng số cung và cầu ngân quỹ trong thị trường
tiền tệ. Lãi suất thị trường tăng giảm tuỳ thuộc số cầu ngân quỹ, điều kiện
thị         trường           và         chinh         sách       tiền        tệ.
2. lãi suất của ngân hàng nhằm hấp dẫn người ký thác, nó có thể tương ứng
hay     cao     hơn     lãi     suất    của    những      người   cạnh   tranh.
MARKET RESEARCH: nghiên cứu thị trường. Khảo sát tầm mức, đặc tính và
tiềm năng thị trường trước khi phát triển sản phẩm hay dịch vụ mới để biết
dân chúng muốn gì. Nghiên cứu thị trường là bước đầu tiên của tiếp thị -
Phạm vi bao gồm từ khái niệm ban đầu về sản phẩm đến phân phối cuối
cùng đến người tiêu thụ. Trong thị trường chứng khoán, nghiên cứu thị
trường liên quan đến các yếu tố phân tích kỹ thuật như số lượng, giá cả tăng
giảm, tầm rộng thị trường. Các nhà phần tích căn cứ vào các yếu tố này để
tiên           đoán              chiều           hướng          giá          cả.
MARKET RISK: Rủi ro về thị trường. Khả năng đầu tư sẽ thay đổi giá khi
các điều kiện trong thị trường thay đổi. Chứng khoán bất ổn định hay đầu cơ
sẽ có tiềm năng lớn hơn về giá lời hay giá lỗ so với các đầu tư có giá ổn
định.                    Xem                    Systematic                 Risk.
MARKET SEGMENTATION THEORY: Lý thuyết phân mảng thị trường. Lý
thuyết về lãi suất thị trường nói rằng các thị trường ngắn hạn và dài hạn
hoạt động độc lập với nhau và nhà đầu tư có những sở thích thời gian đáo
hạn cố định khác nhau. Nó còn gọi Segmented Marketes Theory (Lý thuyết
thị trường được phân mảng). Những người ủng hộ lý thuyết này cho rằng lãi
suất ngắn hạn và dài hạn có thị trường riêng của nó, mỗi thị trường có người
mua và bán riêng của nó, và không dễ gì thay đổi lần nhau.
MARKET VALUE ON THE TRADE DATE: Trị giá thị trường vào thời điểm
mua bán. Tổng số lượng mua để giữ lại (kể cả hoa hồng) hoặc tiền thu được
thuần     của     bán       khống     (bán    chứng      khoán   vay   mượn).
MARKET VALUE-WEIGHTED INDEX: Chỉ số nghiêng về trị giá thị trường.
Chỉ số có những thành tố hướng theo tổng trị giá thị trường của các cổ phần
đang hiện hành (do cổ đông và người mua giữ). Nó cũng còn được gọi là :
chỉ số nghiêng về tư bản hoá (capitalization-weighted index). Sự thay đổi giá
cả của một thành tố có tác động tương ứng đối với toàn thể trị giá thị trường
của chứng khoán trái phiếu. Thí dụ, chỉ số kỹ thuật vi tính đượ mua bán trên
thị trường AMEX (American Stock Exchange) có 30 chứng khoán thành tố. Tỷ
trọng của mỗi chứng khoán chuyển biến liên tục dùng với những thay đổi giá
cả chứng khoán và số lượng cổ phần đang hiện hành . Chỉ số biến chuyển
cùng          với       giá      chứng          khoán        thay        đổi.
MARKETABILITY: Tính thị trường (dễ dàng mua bán nhanh chóng). Đặc
tính của một loại chứng khoán cá biệt nào đó có thể mua và bán nhanh
chóng và dễ dàng. Một loại chứng khoán có số lượng lớn cổ phần đang lưu
hành và được mua bán tích cực được xem là thích hợp mua bán và cũng dễ
đổi ra tiền mặt (dễ thanh toán bằng tiền mặt). Theo cách dùng thông
thường, tính thị trường có thể đổi thành tính dễ chuyển đổi ra tiền mặt (dễ
thanh toán bằng tiền mặt) nhưng tính dễ thanh toán bằng tiền mặt nhấn
mạnh đến sự bảo tồn (giữ vững) trị giá khi chứng khoán được mua bán.
MARKETABLE SECURITIES: Chứng khoán trái phiếu dễ bán. Chứng khoán
trái phiếu được bán dễ dàng. Trong bảng cân đối tài khoản công ty, nó là tài
sản có thể sẵn sàng dễ đổi ra tiền mặt. Thí dụ, chứng khoán trái phiếu nhà
nước chứng từ chấp nhận của ngân hàng, giấy nợ thương mại. Để giữ việc
thực hành kế toán theo lối cũ, những cái này được tính theo giá phí hay trị
giá thị trường, hễ giá nào thấp hơn thì tính theo giá đó.
MARKETING: tiếp thị. Chuyển dịch hàng hoá và dịch vụ từ người cung cấp
đến người tiêu thụ. Điều này bao hàm nguồn gốc sản phẩm, thiết kế, phát
triển, phân phối, quảng cáo, kích thích (khuyến mãi), thông báo rộng rãi
cũng như phân tích thị trường để biết rõ thị trường nào tương hợp.
MATCHED                ORDERS:             Kết           hợp           lệnh.
1. Kỹ thuật lỏi kéo bất hợp pháp bằng cách bù đắp lệnh mua và lệnh bán để
tạo ra ấn tượng (giả tạo) hoạt động của chứng khoán, nhờ đó tạo cho giá
tăng lên làm lợi cho những người tham gia vào mưu đồ này.
2. Hành động của nhà chuyên môn tạo ra một giá mở cửa hợp lý sát với giá
đóng cửa trước đây. Khi việc tích luỹ một loại lệnh hoặc mua hay bán - đây
nên trì trệ trong việc mở rộng mua bán trên một thị trường, nhà chuyên môn
cố gắng tìm cách cân bằng ngược lại các lệnh hoặc mua giữ lại hoặc bán từ
số chứng khoán tồn của riêng họ để làm giảm mức chênh lệch.
MATCHED SALE-PURCHASE TRANSACTION: Giao dịch mua bán kết hợp
(ở Hoa Kỳ). Phương thức của Uỷ ban Thị Trường Mở Rộng Liên Bang theo đó
Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang ở New York bán chứng khoán trái phiếu nhà
nước cho người buôn bán không thuộc diện ngân hàng dựa trên số chi trả
trong quỹ liên bang. Thoả hiệp yêu cầu người buôn bán bán trở lại chứng
khoán trái phiếu vào một thời điểm đặc biệt trong khoảng từ 1 đến 15 ngày.
Fed chi trả cho người buôn bán lãi suất bằng lãi suất chiết khấu. Giao dịch
này cũng còn gọi là thoả hiệp mua lại ngược chiều, nó làm giảm số cung ứng
tiền trong những thời khoảng tạm thời vì làm giảm số cân đối trong ngân
hàng của người buôn bán và do đó làm tăng thêm quỹ dự trữ. Vì thế Fed có
thể điều chỉnh mức bành trướng tiền tệ bất bình thường vì lý do thời vụ hay
các       lý      do       khác.     Xem        Repurchase       Agreement.
MATCHING ORDERS: Các lệnh phối hợp ăn khớp. Hoạt động của các lệnh
tham gia cùng lúc ban đầu để mua hay bán một loại chứng khoán nhằm tạo
ra một diễn biến mang vẻ mua bán tích cực trong chứng khoán (có tính bất
hợp                                                                  pháp).
MATERIAL INFORMATION: Thông tin cụ thể. Bất cứ dữ kiện nào tác động
đến quyết định của nhà đầu tư để mua một loại chứng khoán nào đó.
MATRIX TRADING: Mua bán ma trận. Đánh đổi trái phiếu, theo đó người
buôn bán tạm cách lợi dụng sự lầm lạc tạm thời trong khác biệt chênh lệch
hoa lợi giữa các trái phiếu trong cùng một loại nhưng mức độ giá trị khác
nhau hay giữa các trái phiếu ở các hạng loại khác nhau.
MATURE ECONOMY: Kinh tế sung mãn. Kinh tế của quốc gia có dân số ổn
định hay đang giảm, và chẳng bao lâu kinh tế phát triển thật mạnh. Nền
kinh tế như thế có đặc tính là: giảm chi tiêu về đường sá và nhà máy, gia
tăng tương đối chi tiêu tiêu thụ. Nhiều nền kinh tế Tây Âu được xem là sung
mãn hơn kinh tế Mỹ và ngược hẳn với các nền kinh tế đang phát triển nhanh
ở                                  Viễn                                  Đông.
MATURITY             DATE:         Ngày          tháng         đáo        hạn.
1. Ngày tháng theo đó số vốn của giấy nợ, hối phiếu, chứng từ chấp nhận
(của ngân hàng) trái phiếu hay các công cụ nợ khác đến ngày đáo hạn và
được chi trả. Cũng giống như thế, đó là ngày kết thúc hay ngày đáo hạn
theo    đó     nợ   trả   từng   kỳ    (trả   góp)   phải    được    trả   hết.
2. Trong việc chuyển giao sở hữu tài khoản thu (factoring), ngày tháng đáo
hạn là ngày tháng đáo hạn trung bình của tài khoản thu được chuyển giao,
khi người được chuyển giao (factor) gửi trực tiếp tiền hằng tháng đến người
bán           số         tài        khoản          thu          đã        bán.
MATURITV GAP: Thời gian đáo hạn cách khoảng. Xem Gap, Gapping.
MATURITY TICKLER: Sổ đăng ký số tiền cho vay. Xem Loan Register.
MAXIMUM CAPITAL GAINS MUTUAL FUND: Quỹ hỗ tương đầu tư nhằm
có tư bản kiếm được tối đa. Quỹ có mục tiêu sẽ đem lại tư bản kiếm được lớn
cho cổ đông Trong thị trường giá lên (đầu cơ giá lên - bull market) nó hầu
như tăng nhanh hơn thị trường chung hay quỹ đầu tư hỗ tương theo lối
thông thường. Nhưng trong thị trường đang rứt giá, nó hầu như rớt giá
nhanh hơn mức trung bình của thị trường. Sự bất ổn định có hướng gia tăng
này là kết quả của chính sách đầu tư trong các công ty nhỏ, phát triển
nhanh có chứng khoán mang đặc tính bất ổn định hơn các chứng khoán
trong     các     công    ty   lớn    có    tổ    chức,    điều    hành    tốt.
MAXIMUM LOAN VALUE: Trị giá tiền cho vay tối đa. Số lượng tối đa mà
một Broker-dealer có thể cho một khách hàng vay để mua chứng khoán căn
cứ          theo         quy         định        của          nhà        nước.
MAY DAY: Ngày 1 tháng 5. Ngày 1-5-1975 khi không còn hoa hồng môi giới
tối thiểu cố đinh ở Mỹ. Thay vào đó là tỷ lệ uỷ thác để thực hiện các vụ mua
bán trao đổi, các broker được phép tính phí theo ý của họ. May Day có kèm
theo nhưng thay đổi như công ty môi giới giá hạ thực hiện các lệnh mua hay
bán với hoa hồng thấp nhưng không có tư vấn đầu tư. Sự chấm dứt hoa
hồng cố định cũng đánh dấu sự ra đời của ngành môi giới được đa dạng hoá
bằng các dịch vụ tài chánh có tầm rộng, tận dụng kỹ thuật vi tính và các hệ
thống               truyền              thông             tân             tiến.
MEAN PRICE: Giá trung bình cộng. Trong thị trường tiền tệ, hàng hoá và
chứng khoán, đây là giá trung bình giữa giá đặt mua và giá đặt bán.
MEAN RETURN: Lợi nhuận trung bình. Trong phân tích chứng khoán, trị giá
mong đợi hay trung bình của tất cả lợi nhuận có thể có trong các đầu tư
thuộc danh mục đầu tư. Trong việc lập ngân sách tư bản (vốn), nó là trị giá
trung bình của số lợi nhuận phân phối có thể có. Danh mục đầu tư tiếp cận
với phân tích đầu tư nhằm định lượng mối liên hệ giữa rủi ro và lợi nhuận.
Nó giả định rằng trong khi các nhà đầu tư có những sở thích về mức độ rủi
ro khác nhau thì nhà đầu tư sáng suốt sẽ luôn luôn tìm kiếm tỷ lệ lợi nhuận
tối đa theo mỗi mức độ rủi ro có thể chấp nhận được. Đó là lợi nhuận trung
bình hay mong đợi mà nhà đầu tư cố gắng tối đa hoá theo mỗi mức độ rủi
ro. Nó còn được gọi là Lợi Nhuận Kỳ Vọng (Expected Return). Xem Capital
Asset      Pricing    Model,     Efficient    Portfolio,   Portfolio   Theory.
MECHANIC'S LIEN: Quyền giữ thế chấp về xây dựng. Quyền giữ thế chấp
trên các nhà cao tầng hay các công trình xây dựng, được nhà nước cho phép
đối với các nhà thầu, chủ công nhân và các nhà cung cấp nguyên vật liệu
dùng trong xây dựng hay sửa chữa. Quyền giữ thế chấp có hiệu lực cho đến
khi những người này được chi trả đầy đủ và trong trường hợp thanh lý họ
được      chi     trả    ưu    tiên     trước    những     chủ      nợ   khác.
MEDIUM-TERM BOND: Trái phiếu có thời hạn trung bình. Trái phiếu có thời
hạn đáo hạn từ 2 đến 10 năm. Xem lntermediate Term, Long Term, Short
Term.
MEMBER BANK: Ngân hàng thành viên (ở Hoa Kỳ). Ngân hàng là thành
viên của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, bao gồm tất cả các ngân hàng có giấy
phép quốc gia (national chartered banks) và các ngân hàng có giấy phép
tiểu bang. Đây là điều kiện để có tư cách thành viên và để được chấp nhận .
Ngân hàng thành viên được quy định mua chứng khoán trong Ngân Hàng Dự
Trữ Liên Bang trong khu vực tương đương 6% vốn cơ bản nội bộ (Paid-in
Capital) hay thặng dư cơ bản nội bộ. Phân nửa đầu tư này được lưu giữ như
tài sản của ngân hàng thành viên, còn phân nửa còn lại có thể có lệnh gọi
của Fed bất cứ lúc nào. Ngân hàng thành viên cũng được yêu cầu duy trì
một số phần trăm ký thác để dự trữ dưới hình thức tiền tệ trong kho an toàn
và duy trì số cân đối ký thác ở Ngân Hàng Dự Trữ liên Bang trong khu vực
của ngân hàng thành viên. Số cân đối dự trữ này có thể tạo nên một phạm
vi chuyển dịch tiền và các dịch vụ khác bằng cách sử dụng hệ thống mạng
thông tin Fed để nối các ngân hàng ở các nơi trong nước.
MEMBER FIRM: Công ty thành viên. Công ty môi giới có ít nhất một tư cách
thành viên trên một thị trường chính, dù sao theo quy luật thị trường tư cách
thành viên là tư cách dưới danh nghĩa của một nhân viên chứ không phải
cho chính bản thân công ty. Một công ty như thế được hưởng các quyền và
các đặc quyền của thành viên như quyền bỏ phiếu về chính sách mua bán
trao đổi cùng với các cam kết của thành viên như cam kết giải quyết các
tranh chấp với khách hàng thông qua phương thức trọng tài về thị trường
(mua                       bán                     trao                   đổi).
MEMBER ORDER: Lệnh của thành viên. Lệnh của một thành viên bao tiêu
đối với một khách hàng lẻ hay thuộc tổ chức. Mỗi thành viên bao tiêu nhận
hoa hồng theo các lệnh do nhà quản lý bao tiêu giao. Các lệnh của thành
viên thông thường có thứ tự ưu tiên thấp nhất trong giai đoạn thực hiện lệnh
(so          với         lệnh         của         khách         hàng)         .
MEMBER SHORT SALE RATIO: Tỷ lệ bán khống của thành viên. Tỷ lệ tổng
số cổ phần được bán khống cho các tài khoản của các thành viên NYSLE
trong một tuần chia cho tổng số bán khống cùng tuần. Bởi vì nhà chuyên
môn, người buôn bán tại hiện trường, và người buôn bán ngoài hiện trường
mua bán cho tài khoản các thành viên thường được xem như là người có đầu
óc tốt nhất trong lãnh vực kinh doanh, nên tỷ lệ mà họ dùng là một biểu thị
có giá trị để biết chiều hướng thị trường. Tỷ lệ 82% ( hay cao hơn được xem
như có tính đầu cơ giá hạ (giá hạ một thời gian dài), tỷ lệ 68% hay thấp hơn
thì có tính tích cực và giá lên lâu dài (đầu cơ giá lên). Tỷ lệ bán khống của
thành viên được đăng cùng với số thống kê lố tròn của NYSE trong ấn bản
ngày thứ hai báo Wall Street và trong tuần báo tài chánh Barron.
MEMO ENTRY: Số liệu nhập để ghi nhớ. Ghi vào bên nợ hay bên có của tài
khoản khách hàng, số liệu này được ghi vào sổ nhật ký giao dịch của ngân
hàng vào một thời điểm khác với thời điểm giao dịch mua bán thực sự xảy
ra. Số liệu trong sổ nhật ký được nhập vào tổng số cái vào cuối ngày.
MEMORANDUM INVOICE: Bản liệt kê hàng hoá để ghi nhớ. Thông báo của
người bán gửi cho người mua, trong đó có ghi số lượng, trị giá, chi tiết vận
chuyển, giao nhận vv.... Bản liệt kê ghi nhớ có thể trở thành hồ sơ xác định
các          điều        khoản        giao        dịch       mua          bán.
MUNICIPAL BOND INSURANCE: Bảo hiểm trái phiếu đô thị. Các chính
sách bao tiêu bởi nhà bảo hiểm tư, bảo đảm trái phiếu đô thị trong trường
hợp) vỡ nợ (không đủ tiền chi trả). Hoặc là thực thể nhà nước phát hành
hoặc là nhà đầu tư mua bảo hiểm này. Nó dự phòng trái phiếu do nhà (đầu
tư mua theo mệnh giá có thể bị vỡ nợ. Một số công ty bảo hiếm lớn đều có
loại bảo hiểm này, nhưng phần lớn do hai tổ chức : Ambec Indemnity
Corporation (trước đây gọi là American Municipal Bond Assurance
Corporation) một vài đơn vị của Citicorp, và Municipal Bond Assurance
Corporation (MBAC), vốn chung của các nhà bảo hiểm tư. Trái phiếu đô thị
có bảo hiểm thường được đánh giá cao nhất do có tính thị trường cao (mua
bán dễ và nhanh) và giá phí phát hành thấp. Tuy nhiên, theo quan điểm của
nhà (đầu tư, hoa lợi của nó thấp hơn trái phiếu không bảo hiểm có tương tự
giá trị vì giá phí bảo hiểm bị nhà phát hành chuyển qua cho nhà đầu tư. Một
vài đơn vi uỷ thác đầu tư và quỹ hỗ tương đầu tư dành riêng trái phiếu đô thị
có bảo hiểm cho nhà đầu tư sẵn sàng mua bán với hoa lợi thấp hơn đôi chút
bù            lại         là        có         thêm          an          toàn
MUNICIPAL BOND INSURANCE ASSOCIATION: Hiệp hội Bảo Hiểm Trái
Phiếu        Đô       Thị.      Xem       Municipal     Bond       lnsurance.
MUNICIPAL IMPROVEMENT CERTIFICATE: Chứng chỉ về cải thiện đô thị.
Chứng chỉ do nhà nước địa phương phát hành thay cho trái phiếu để tài trợ
cho các cải thiện và dịch vụ của đô thị, như mở rộng vỉa hè, lắp đặt hệ thống
cống rãnh, sửa chữa, đường phố. Các cam kết nợ như thế được chi trả lấy từ
loại thuế ấn định đặc biệt đánh trên những người được hưởng lợi từ các cải
thiện này, và số tiền chi trả có thể được giao cho nhà thầu thực hiện công
trình. Tiền lãi trên chứng chỉ thường được miễn thuế nhà nước Xem General
Obligation                                                              Bond.
MUNICIPAL INVESTMENT TRUST (MIT): Uỷ thác đầu tư trái phiếu đô thị.
Đơn vị uỷ thác đầu tư mua trái phiếu đô thị và chuyển lợi tức miễn thuế đến
cổ đông. Trái phiếu trong danh mục uỷ thác đầu tư thường được giữ lại cho
đến ngay đáo hạn, không giống như các trái phiếu liên tục mua bán trong
danh mục đầu tư trái phiếu đô thị mở rộng. MIT được bán thông qua broker,
phí vào khoảng 3% số vốn được chi trả, với số đầu tư nhỏ nhất là $1000. Uỷ
thác này có tính chất đa dạng hoá, danh mục đầu tư được quản lý chuyên
nghiệp, có chi tiền lãi hằng tháng, có thể so sánh với tiền chi trả hằng nửa
năm của trái phiếu đô thị cá nhân ở Hoa Kỳ, nhiều quỹ MIT chỉ đầu tư chứng
khoán trái phiếu trong một tiểu bang. Thí dụ, các cư dân tại California chỉ
mua MIT của California, tất cả tiền lợi được miễn thuế liên bang, tiểu bang
và địa phương. Ngược lại một cư dân California mua MIT quốc gia có thể
phải đóng thuế tiểu bang và địa phương trên số trên lãi có từ trái phiếu
ngoài     tiểu    bang      trong    danh     mục    đầu     tư    của    quỹ.
MUNICIPAL NOTE: Giấy nợ đô thị. Theo cách dùng thông thường, đây là
cam kết nợ của đô thị có ngày đáo hạn gốc là 2 năm hay ngắn hơn.
MUNICIPAL REVENUE BOND: Trái phiếu thu nhập đô thị. Trái phiếu được
phát hành để tài trợ cho các công trình công cộng như cầu, đường hầm hay
hệ thống cống rãnh và được hỗ trợ trực tiếp từ các thu nhập của các kế
hoạch này. Thí dụ, nếu trái phiếu thu nhập đô thị được phát hành để xây
một cây cầu, phí cầu đường thu từ người đi xe sử dụng cầu này được đem
chi trả hết cho trái phiếu. Trừ khi có những quy định đặc biệt trong giao kèo,
người giữ trái phiếu không có quyền đòi nợ trên các nguồn khác của nhà
phát                                                                     hành.
MUNICIPAL SECURITIES RULEMAKING BOARD: Hội đồng đặt luật lệ cho
trái    phiếu     đô     thị.    Xem     Self-Regulatory    -     Organization.
MUTUAL ASSOCIATION: Hiệp hội hỗ tương đầu tư. Hiệp hội tiết kiệm và
cho vay được tổ chức như hợp tác xã do các hội viên sở hữu. Các ký thác của
hội viên tiêu biểu cho số cổ phần. Cổ đông bỏ phiếu về các vấn đề của hiệp
hội và nhận lợi tức dưới hình thức cổ tức. Không giống công ty cấp tiểu bang
S & L, thiểu số trong ngành công nghiệp, các hiệp hội hỗ tương đầu tư
không được phép phát hành chứng khoán. Và nó thường do Office Of Thrit
Supervision (OTS) cấp giấy phép hoạt động (chartered) và tuỳ thuộc vào
Savings Association Insurance Fund (SAIF). Các ký thác theo nguyên tắc kỹ
thuật phụ thuộc vào một thời khoảng chờ đợi trước khi được rút ra, mặc dù
trên thực tế số tiền được phép rút ra theo yêu cầu, khả năng thanh toán
bằng tiền mặt của hiệp hội được bảo đảm bằng khả năng mượn từ Federal
Home     Loan Bank dùng thế             chấp nhà làm         vật thế     chấp.
MUTUAL COMPANY: Công ty hỗ tương đầu tư Công ty có quyền sở hữu và
lợi nhuận được phân phối cho các hội viên theo tỷ lệ của số công việc mà họ
làm cho        công ty. Các hình          thức thông dụng nhất là :
1. Công ty bảo hiểm hỗ tương, có các hội viên là người nắm giữ chính sách,
có quyên chỉ định các giám đốc và những người được uỷ thác và nhận cổ tức
hay phần khấu trừ trên số phí bảo hiểm sau này (future premiums).
2. Ngân hàng tiết kiệm hỗ tương theo điều khoản tiểu bang, có các hội viên
là người ký thác được chia lợi nhuận thuần nhưng không tham gia vào việc
quản trị. 3. Hiệp hội tiết kiệm và cho vay liên bang, hiệp hội hỗ tương đầu tư
có hội viên là người ký thác có quyền bỏ phiếu và nhận cổ tức.
MUTUAL EXCLUSION DOCTRINE: Học thuyết loại bỏ có tính hỗ tương (ở
Hoa Kỳ). Học thuyết này chủ trương loại bỏ thuế liên bang đối với tiền lãi
của trái phiếu đô thị. Học thuyết cho rằng các tiểu bang và chính quyền địa
phương không được đánh thuế các tài sản nhà nước (trung ương). Nhà nước
liên bang sẽ đáp lại bằng cách không đánh thuế liên bang đối với tài sản nhà
nước địa phương. Đồng nghĩa với Mutual Reciprocity, Reciprocal Immunity.
MUTUAL FUND: Quỹ hỗ tương đầu tư. Quỹ được điều hành bởi công ty đầu
tư nhằm huy động vốn cổ đông và đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu, hợp
đông option, hàng hoá hay các chứng khoán thị trường tiền tệ. Các quỹ này
giúp nhà đầu tư được lợi thế đa dạng hoá và được sự quản lý chuyên môn. Vì
các dịch vụ này mà họ phải tính phí điều hành, tiêu biểu từ 1% trở xuống
của tài sản hằng năm . Quỹ hỗ tương đầu tư (có thể đầu tư theo) kiểu năng
động mạo hiểm (cấp tiến) hay thận trọng dè dặt (bảo thủ). Nhà đầu tư sẽ
phải đánh giá khả năng chịu đựng rủi ro của họ trước khi quyết định xem
quỹ nào tương xứng với họ. Ngoài ra, việc định thời điểm mua hay bán còn
tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế, tình trạng thị trường chứng khoán trái phiếu,
lãi         suất          và          các         nhân          tố        khác.
MUTUAL FUND CUSTODIAN: Người giám hộ quỹ tương đầu tư ngân hàng
thương mại hay công ty uỷ thác cung ứng dịch vụ giữ an toàn cho các chứng
khoán trái phiếu thuộc sở hữu của quỹ hỗ tương đầu tư và cũng có thể đóng
vai trò nhân viên chuyển giao, thực hiện chi trả hay thu nhận đầu tư từ cổ
đông. Người giám hộ quỹ tương đầu tư phải tuân thù các luật lệ được nhà
nước                                   quy                                 định.
MUTUAL IMPROVEMENT CERTIFICATE: Chứng chỉ cải thiện hỗ tương.
Xem Municipal Improvement Cerrificate.
NAKED RESERVE: Không có theo quy định về dự trữ: Không cần có số dự
trữ căn cứ trên số ký thác (không cần có chứng chỉ về vàng)
NAKED TRUST: Uỷ thác thụ động- (không theo di chúc). Xem Grantor
Trust. NARROW MARKET: Thị trường hạn hẹp. Thị trường chứng khoán trái
phiếu hay hàng hoá có đặc tính mua bán yếu ớt, giá có nhiều biến động ảnh
hưởng đến khối lượng hơn trường hợp mua bán năng động tích cực. Thị
trường của một loại chứng khoán nào đó bị nói là hạn hẹp nếu như giá cả rớt
xuống hơn một điểm giữa các mua bán lố tròn mà không có sự giải thích rõ
ràng nào, nó nói lên tình trạng kém tiền lãi và có quá ít lệnh đặt mua bán.
Từ ngữ thị trường mỏng (thin và thị trường kém tích cực (inactive market)
đồng         nghĩa          với        thị        trường         hạn       hẹp.
NARROW MONEY: Số tiền dùng ngay (tính năng động nhất). Tổng số gộp
linh hoạt nhất trong nguồn cùng tiền tệ của một quốc gia. Các nước khác
nhau có các phương cách thanh toán khác nhau, nhưng số tiền để dùng ngay
thường          nằm           ở        khung           M0        đến         M1.
NARROW-RANGE SECURITY: Trái phiếu trong khung hạn chế. Tại Anh,
trái phiếu nợ có lãi cố định. Luật Nhà nước ấn định tính chất của đầu tư do
người thụ uỷ tài sản thực hiện, theo Luật này gần một nửa số đầu tư phải là
đầu      tư     vào     trái     phiếu      (đầu     tư    có      bảo    đảm).
NARROWING THE SPREAD: Thâu hẹp chênh lệch. Thu hẹp mức chênh
lệch giữa giá đặt mua và giá đặt bán của một chứng khoán. Đây là kết quả
của việc đặt mua và cung ứng của các nhà tạo thị trường và các chuyên
viên. Thí dụ giá đặt mua một chứng khoán mà hầu hết mọi người đều sẵn
lòng chi trả là $10/cổ phần và giá đặt bán - giá thấp nhất mà ai cũng sẵn
sàng bán là $10 3/4 . Nếu broker hay nhà tạo thị trường ngỏ ý mua cổ phần
với giá $ 10 1/4 trong khi giá đặt bán vẫn ở mức $10 3/4 thì có nghĩa là
chênh          lệch          đã         được          thu         hẹp        lại.
NASD: National Association of Securities Déaler - Hiệp hội quốc gia của
người mua bán chứng khoán. Tổ chức không vụ lợi được thành lập dưới sự
liên kết hỗ trợ của Investment Banker's Conference và Securities and
Exchange Commission nhằm tuân thủ theo đạo luật Maloney. Các thành viên
NASD bao gồm hầu hết các nhà ngân hàng đầu tư và các công ty đầu tư có
liên quan mua bán trên thị trường ngoài danh mục. Hoạt động dưới sự giám
sát    của     SEC,    các      mục     tiêu   cơ     bản    của     NASD     là:
1.    Tiêu     chuẩn      hoá     các     thực    hiện    trong     lãnh    vực.
2. Thiết lập các tiêu chuẩn đạo đức luân lý trong mua bán chứng khoán trái
phiếu. 3. Cung cấp một bộ phận đại diện để cố vấn cho nhà nước và nhà đầu
tư        về        các         vấn         đề        lợi      ích       chung.
4. Thiết lập và củng cố các luật lệ công bằng và hợp lý về mua bán chứng
khoán. 5. Thiết lập một bộ phận kỷ luật có khả năng thực thi các điều khoản
trên. NASD cũng quy định các thành viên phải duy trì một số tài sản ứng phó
nhanh, số tài sản này phải nhiều hơn số nợ hiện hành vào bất cứ thời điểm
nào. Chỉ đạo kiểm tra và kiểm toán định kỳ để bảo đảm mức độ khả năng
thanh toán cao và tính trung thực tài chánh trong các thành viên. Phòng đặc
trách về các công ty đầu tư chuyên quan tâm đến các vấn đề của các công
ty đầu tư và có trách nhiệm xem xét lại tài liệu thương vụ công ty trong
mảng       đó      của       ngành      chứng      khoán      trái     phiếu.
NASD FORM FR-1: Tờ khai thể thức 1-NASD. Thể thức quy định cho những
nhà mua bán nước ngoài trong việc đăng ký chứng khoán trái phiếu đối với
các phát hành trái phiếu chứng khoán trong tiến trình phân phối, theo đó họ
đồng ý tuân theo các luật lệ của NASD liên quan đến phát hành nóng (hot
issue). Theo luật Fair Practice của NASD, các công ty tham gia vào việc phân
phối phải cung ứng ra công chúng một cách ngay thẳng hợp pháp với giá
cung ứng chung. Bất cứ một thương vụ bán nào được lập ra nhằm đầu tư
vốn trên việc phát hành nóng- như trong ngày đầu tiền mua bán lại bán với
số chênh lệch quá lớn theo giá vượt giá cung ứng chung thì sẽ vi phạm luật
lệ của NASD. Các vụ vi phạm bao gồm bán cho các thành viên trong gia đình
những người mua bán hay cho công nhân, giả định rằng các thương vụ bán
như thế không được bảo vệ như "thực hiện đầu tư thông thường". NASD
Form FR-1 còn gọi là tờ khai xác nhận tổng thể (blanket certification form).
NASDAQ: National Association of Securities Dealers Automated Quotations
System, thuộc National Association of Securities Dealers và do cơ quan này
điều                                                                    khiển.
NEW ISSUE: Phát hành mới. Chứng khoán hay trái phiếu lần đầu tiên phát
hành ra công chúng, sự phân phối này phải theo các luật lệ của nhà nước.
Phát hành mới có thể lần đầu tiên được cung ứng bởi công ty trước đây
thuộc tư nhân hay là các chứng khoán trái phiếu được phát hành thêm bởi
công ty đã cổ phần hoá và có liệt kê thường xuyên trên các thị trường chứng
khoán . Việc cung ứng mới ra công chúng phải đăng ký với nhà nước. Các
mua bán riêng không đăng ký với nhà nước trong trường hợp thư xác nhận
thực hiện (letter of intent) khẳng định là chứng khoán trái phiếu được mua
để đầu tư chứ không để bán lại cho công chúng. Xem Hot Issue, Letter
Security                                                          Underwrite.
NEW MONEY : Có số tiền mới. Số tài chánh dài hạn có thêm do phát hành
trái phiếu chứng khoán mới hay do số chứng khoán trái phiếu vượt quá số
CKTP     đang    đáo    hạn     hoặc   do   CKTP    đang    được    trả    lại.
NEW MONEY PREFERRED: Số tiền mới được ưu đãi. Chứng khoán ưu đãi
được phát hành sau khi Nhà nước loại bỏ thuế cho nhà đầu tư nhân cổ tức
chứng khoán ưu đãi đã được tăng từ 60% đến 85%, bằng với số loại bỏ thuế
trên số cổ tức chứng khoán thường. Sự thay đổi đã làm lợi cho các tổ chức
tài chánh, như công ty bảo hiểm đã giới hạn số lượng chứng khoán thường
mà họ có khả năng giữ tiêu biểu là 5% tài sản. Việc ưu đãi cho số tiền mới
đã cho cơ hội có được các lợi thế về thuế trong đầu tư trái phiếu có tiền lãi
phải đóng thuế đầy đủ. Sự huỷ bỏ thuế cho công ty về số cổ tức đã giảm
xuống         còn        80%         bắt       đầu       từ        năm1982.
NEW TIME: Thời điểm mới. Mô tả giao dịch mua bán một loại chứng khoán
trong suốt hai ngày mua bán sau cùng trong tài khoản. Giao dịch mua bán
vào thời điểm mới được thanh toán trong giai đoạn kế tiếp. Khi broker hay
nhà tạo thị trường không được thông báo về ý định của nhà đầu tư muốn
hoãn thanh toán thì xem như là nhà đầu tư muốn thanh toán trong tài khoản
hiện                                                                    hành.
NEW YORK CLEARING HOUSE ASSOCIATION: Hiệp hội trung tâm giao
hoán thanh lý New York. Hiệp hội ngân hàng giao hoán thanh lý lâu đời nhất
và lớn nhất ở Hoa Kỳ. Trung tâm thuộc 11 ngân hàng trung tâm tiền tệ, là
người điều hành CHIPS (Clearing House Interbank Payments System - Hệ
thống chi trả liên ngân hàng của trung tâm giao hoán thanh lý), nó điều
hành khoảng
OFFER BY PROSPECTUS: Cung ứng bằng tập quảng bá. Xem Inital public
Offering
OFFER DOCUMENT: Tài liệu về cung ứng tiếp quản. Thông báo của công ty
đến cổ đông bao gồm các chi tiết giá đặt mua để tiếp quản của công ty khác.
Thông báo cho biết giá mỗi cổ phần và giải thích mục tiêu tiếp quản sẽ đem
lợi        như           thế        nào         cho          cổ         đông.
OFFER FOR SALE: Cung ứng để bán. Xem Inital public Offering
OFFER LIST: Danh sách để nghị riêng. Trong thương lượng mậu dịch quốc
tế, danh sách các sản phẩm không lệ thuộc vào thương lượng, hay sản
pơhẩm       có     thuế      quan     được     giảm      hay       huỷ     bỏ.
OFFERING:       Cung    ứng    ra   công   chúng:    Xem     public   Offering
OFFERING CIRCULAR: Tài liệu về cung ứng. Xem Prospectus.
OFFERING DATE: Ngày tháng (thời điểm) cung ứng. Thời điểm chứng
khoán hay trái phiếu đầu tiên được bán ra công chúng. Xem: Dated Date,
Public                                                               Offering.
OFFERING PRICE: Giá cung ứng. Giá mỗi cổ phần lúc chứng khoán trái
phiếu mới (lần đầu ) được cung ứng hay cung ứng lần thứ hai để bán ra công
chúng. Thí dụ, nếu chứng khoán XYZ mới phát hành được định giá là $ 40/cổ
phần thì giá cung ứng $40. Khi cổ phần quỹ hỗ tương đầu tư đã có trong dân
chúng, cổ phần được bán với trị giá thuần tài sản cũng gọi là giá cung ứng
hay giá đặt bán công với chi phí bán nếu có. Trong quỹ không phí, giá cung
ứng bằng với trị giá tài sản thuần. Trong quỹ có tính phí, phí tính được cộng
vào trị giá tài sản thuần để có giá cung ứng. Xem Offer
OFFRING SCALE: Giá cung ứng theo tỉ lệ thời hạn. Giá của loại trái phiếu
có ngày đáo hạn khác nhau do nhà bao tiêu cung ứng ra công chúng. Giá
cung ứng này cùng có thể diễn đặt bằng từ ngữ: hoa lợi khi đáo hạn.
OFFER WANTED (OW): Thông báo cần người cung ứng (cần mua). Bố cáo
của một người có khả năng mua chứng khoán cho biết ông ta đang tìm một
người có khả năng cung ứng chứng khoán. Chữ viết tắt OW thường thấy
trong Tờ Hồng (tờ liệt kê chứng khoán) và Tờ Vàng (liệt kê trái phiếu công
ty) được NQB phát hành dành cho loại chứng khoán trái phiếu do người buôn
bán trên Thị Trường Ngoài Danh Mục mua bán. Xem Bid Wanted.
OFFICIAL LIST: Danh sách chính thức. Trong thị trường chứng khoán,
danh sách chứng khoán mua bán trên thị trường cấp một, còn gọi thị trường
chính. Danh sách chính thức được phát hành hằng ngày cùng với thông báo
về các giao dịch mua bán trong suốt một ngày hành chính. Danh sách bao
gồm giá chứng khoán, số phất hành mới, thời điểm có cổ tức.v.v...
OFFICIAL NOTICE OF SALE: Bố cáo chính thức về thương vụ bán. Bố cáo
của chính quyền đô thị mời ngân hàng đầu tư đệ trình cuộc đấu thầu cạnh
tranh cho việc phát hành trái phiếu sắp tới. Bố cáo cho biết tên của viên
chức đô thị để biết thêm chi tiết và cho biết các thông tin cơ bản về việc
phát hành như mệnh giá và các điều kiện quan trọng. Báo Bond Buyer
thưòng          đăng         các         như        cáo        như        thế.
OFFICIAL STAFF COMMENTRY: Chú giải của Ban Cán Bộ. Bản chủ giải
được Ban Cán Bộ Nhà Nước soạn thảo nhằm giải thích các vấn đề trong
những phần quan trọng của luật lệ bảo vệ người tiêu dùng.
OFFICIAL STATEMENT: Báo cáo chính thức. Bản báo cáo chi tiết để phát
hành trái phiếu đô thị. Thông báo tài chính của nhà nước đang hoạt động
cung ứng trái phiếu đô thị trong đó có ghi mục đích của việc phát hành và
nhà đầu tư sẽ được chi trả lại như thế nào. Báo cáo chính thức cho biết rõ
các thông tin thích đáng về tình trạng tài chính của nhà phát hành
OFFICIAL STAEMENT: Báo cáo của viên chức, báo cáo chính thức. Xem
legal Opinion. OFFSET: Bù đắp, bù trừ, cân đối. Thanh toán hợp đồng Option
Kế                                     toán                                  :
1. Số lượng tương đương hay số cân bằng ngược với số lượng khác bên phần
đối xứng trong cùng số cái hay trong sổ cái tài khoản khác. Xem Absorbed.
2.    Số     lượng    làm    triệt   tiêu    hay    giảm    một    món     nợ.
Ngân                                                                    hàng:
1. Quyền hợp pháp của ngân hàng giữ lại quỹ ký thác để trang trải cho số
tiền cho vay không được trả - gọi là quyền bù lỗ (right of offset).
2. Con số chứa trong thẻ ngân hàng kết hợp với mã số do người giữ thẻ nhớ
sẽ tiêu biểu cho số chứng minh của người ký thác - gọi là Pan- Pin Pari.
Chứng      khoán,    trái    phiếu,    hàng     hoá,    hợp   đồng     option:
Chấm dứt giao dịch liên quan đến mua hay bán một option có cùng những
đặc điểm khi đã nắm giữ một hợp đồng. Bảo hộ giá, như bán khống (bán
chứng         khoán       vay       mượn)         một       chứng       khoán
OPTION: Hợp đồng mua hoặc bán dựa vào giá cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số.
Tổng quát : quyền mua và bán tài sản đổi lại để được một số trên dựa trên
thoả thuận. Nếu quyền này không được thực hiện sau một thời khoản ấn
định, hợp đồng option đáo hạn và người mua option sẽ thiệt mất tiền. Xem :
Exercise. Chứng khoán trái phiếu : thoả thuận giao dịch chứng khoán trái
phiếu liên quan mật thiết với chứng khoán, hàng hoá hay chỉ số chứng
khoán. Hợp đồng option được mua bán trên nhiều thị trường.
1. Call option cho người mua quyền được mua 100 cổ phần của chứng khoán
cơ sở với giá cố định trước thời điểm được ấn định trong tương lai - thường là
3,6 và 9 tháng. Để được quyền này, người mua Call Option trả cho người
bán, gọi là người viết (tác giả - writer), một phí gọi là premium (phí mua
option) phí này sẽ bị mất nếu người mua không thực hiện option trước thời
điểm ấn định theo thoả thuận. Vì thế người mua Call sẽ dự đoán giá cổ phần
cơ sở sẽ tăng trong thoảng thời gian ấn định. Thí dụ, một Call Option trên
100 cổ phần XYZ có thể giao cho người mua quyền được mua các cổ phần
này với giá $100/cổ phần bất cứ lúc nào trong vòng 3 tháng kế tiếp. Để mua
option đó, người mua có thể phải trả phí option là $2/cổ phần hay $200/100
cổ phần. Nếu lúc đó hợp đồng option XYZ đang bán với giá $95/cổ phần,
người mua option sẽ có lợi nếu giá chứng khoán XYZ tăng, nếu XYZ tăng vọt
lên $120/cổ phần trong 2 tháng, người mua option có thể thực hiện option
để mua 100 cổ phần với giá $100 và sau đó bán lại với giá $120/cổ phần,
giữ lại số chênh lệch đó làm lợi nhuận (trừ phí $2/cổ phần). Ngược lại, nếu
XYZ rớt xuống dưới $95 và giữ nguyên trong 3 tháng, vào cuối thời điểm này
Call option đáo hạn và người mua Call sẽ không phận lại được $2/cổ phần
phí      option     đã      bỏ     ra      (tổng      cộng     là,     $200).
2. Ngược lại Call Option là Put option, nó cho người mua quyền được bán
một số cổ phần ấn định với một giá ấn định trong một thời khoảng ấn định.
Người mua Put Option kỳ vọng giá chứng khoán cơ sở sẽ rớt. Một người nào
đó nghĩ rằng giá chứng khoán XYZ sẽ rớt có thể mua một Put option chứng
khoán XYZ có giá trị 3 tháng gồm có 100 cổ phần với giá $100/cổ phần và
trả phí option là $2 . Nếu XYZ rớt xuống còn $80/cổ phần, người mua Put
sau đó có thể thực hiện quyền bán 100 cổ phần XYZ với giá $100, trước hết
người mua sẽ mua 100 cổ phần với giá $80 cổ phần và sau đó bán cho người
bán Put option (người viết - tác giả) với giá $100/cổ phần như thế kiếm lời
được $l8/cổ phần (lời $20/cổ phần trừ cho phí option ) . Thực tế, hầu hết các
Call và Put Option ít khi được thực hiện. Thay vào đó, nhà đầu tư mua và
bán option trước khi đáo hạn, họ mua bán nhằm vào giá phí option tăng hay
giảm. Bởi vì người mua option chỉ phải đặt một số tiền nhỏ phí option) cho
một số lượng lớn chứng khoán nên mua, bán option sẽ cho ta nhiều đòn bẩy
tài chánh (hỗ trợ tài chánh) và có thể đạt được lợi nhuận khổng lồ. Các nhà
buôn bán option có thể viết option có bảo kê trong đó họ có chứng khoán cơ
sở, hoặc là viết option khống ( có rất nhiều rủi ro) trong trường hợp họ
không có chứng khoán cơ sở: Thông thường, người buôn bán option thua lỗ
nhiều phí option vì mua bán không thành công trước khi đạt được mua bán
có                nhiều               lợi               nhuận               .
Các nhà buôn bán thành thạo hơn thì lại kết hợp Call là Put Option khác
nhau theo vị thế rải ra và hàng hai. Họ lời hay lỗ là do mức chênh lệch rộng
hay hẹp (ít hay nhiều) giữa giá cả option. Option chứng khoán thưởng được
trao cho các nhà điều hành công ty nếu như công ty đạt được những mục
tiêu tài chánh nào đó, như đạt được mức bán hay lợi nhuận mong đợi. Nhà
điều hành được tặng option mua chứng khoán công ty với giá thấp hơn giá
thị trường và bán chứng khoán này ra thị trường để kiếm lời. Xem Call,
Coverea option Deep In (Out Of) The Money, In The Money, Naked Option,
Option              Writer,             Out             of            Money.
OPTION AGREEMENT: Thoả thuận option. Tờ khai của khách hàng công ty
môi giới khi mở tài khoản option. Nó ghi chi tiết các thông tin tài chánh về
khách hàng, người đống ý tuân theo các luật lệ mua bán Option Thoả ước
này còn gọi là tờ khai thông tin option, nó đảm bảo với broker là các nguồn
tài chánh của khách hàng,đủ để chịu đựng được thua lỗ có thể xảy ra trong
mua bán option . Khách hàng phải nhận được một bản quảng bá từ OCC
(Options    Clearing    Corporation)   trước   khi    bắt  đầu     mua    bán
OPTIONAL DIVIDEND: Lựa chọn cổ tức. Cổ tức được trả bằng tiền mặt hay
bằng chứng khoán. Cổ đông có quyền lựa chọn loại chi trả cổ tức.
OPTIONAL PAYMENT BOND : trái phiếu được chi trả theo lựa chọn. Trái
phiếu có vốn và lãi được trả tuỳ theo lựa chọn của trái chủ hoặc là bằng một
hay nhiều loại tiền tệ nước ngoài hay bằng tiền tệ nội địa.
OPTION HOLDER: Người còn giữ option, sở hữu chủ hợp đồng option.
Người nào đó mua một Call hay Put option nhưng chưa thực hiện hay bán
nó. Người giữ Call muốn giá chứng khoán cơ sở tăng, còn người giữ Put thì
muốn          giá        chứng        khoán          cơ       sở        giảm.
OPTION MUTUAL FUND: Quỹ hỗ trong đầu tư option. Quỹ hỗ tương đầu tư
mua hay bán option để tăng trị giá cổ phần của quỹ. Quỹ hỗ tương đầu tư
option có thể theo đường lối bảo thủ (dè dặt thận trọng) hay cấp tiến (năng
động mạo hiểm). Thí dụ, quỹ bảo thủ có thể mua chứng khoán và tăng lợi
tức cổ đông bằng phí option do bán Call và Put option theo số chứng khoán
trong danh mục đầu tư. Loại quỹ này được gọi là quỹ lợi tức option Hoàn
toàn ngược lại là quỹ phát triển option mua Call và put option theo chứng
khoán mà nhà quản lý quỹ nghĩ rằng sẽ rớt giá hay tăng giá mạnh, nếu nhà
quản lý đúng thì sẽ kiếm được thật nhiều lợi nhuận thông qua việc thực hiện
option. Đòn bẩy tài chánh trong option sẽ giúp quỹ có thể tăng lợi nhuận
theo           bội        số         nhân          gấp          mấy       lần.
OPTION PREMIUM: . Phí option. Số tiền cho mỗi cổ phần mà người mua
option trả cho người bán option để có quyền mua (call) hay bán (Put) chứng
khoán cơ sở theo một giá ấn định trong một thời khoảng đã ấn định. Giá phí
option được định giá theo số tăng 1/8 hay 1/16 của 1% và được in trong
bảng option của các nhật báo. Phí option $5/cổ phần có nghĩa là người mua
option sẽ phải trả $500 cho một option l00 cổ phần. Xem Call Option. Put
Option.
OPTION SERIES: Loạt option. Các option cùng hạng loại (Call option hay
Put option cùng chứng khoán cơ sở) và cũng có cùng giá thực hiện và tháng
đáo hạn . Thí dụ tất cả Call option 80 tháng 10 XYZ là một sê ri cũng như tất
cả      Put        option     100       tháng7      ABC        xem    Option.
OPTION SPREAD: Rải option ra - Mua và bán song hành hợp đồng option.
Mua và bán option cùng hạng loại vào cùng một lúc. Nhà đầu tư áp dụng
sách lược mua và bán song hành option hy vọng đạt được lợi nhuận từ số
chênh lệch nhiều hay ít (rộng hay hẹp) giữa các option khác nhau. Mua và
bán song hành option có thể được thực hiện có lợi nhuận trong cả thị trường
lên                 hay              xuống.                Thí             dụ:
1. Tham gia hai option với cùng giá thực hiện, nhưng có thời điểm đáo hạn
khác nhau. Thí dụ, nhà đầu tư có thể mua Call option 60 tháng từ XYZ (hợp
đồng Call option giá thực hiện $60/ cổ phần đáo hạn tháng 7 theo chứng
khoán                       công                    ty                  XYZ).
2. Tham gia hai option có giá điểm (giá thực hiện) khác nhau nhưng có cùng
thời điểm đáo hạn. Thí dụ, nhà đầu tư mua Call 60 tháng 4 XYZ và bán Call
70 tháng 4, theo chứng khoán công ty XYZ) Luật pháp : hướng dẫn xuất
phát từ toà án pháp quyền court of jurisdiction) hay quy tắc luật lệ. Các
công cụ chi trả : yêu cầu của người chi trả đối với người thực hiện, như trên
chi phiếu ghi "trả theo lệnh của (khi được đại diện bởi) John Doe" . Mua bán
: yêu cầu mua, bán, giao nhận hàng hoá hay dịch vụ mà nhà phát hành lệnh
đã      cam         kết     theo      các     thời      điểm       ấn    định.
ORDER MEMORANDUM: Phiếu ghi lệnh hay còn gọi là Order Ticket. Bản kê
khai đăng ký các lệnh bao gồm các chỉ dẫn của khách hàng liên quan đến
việc sắp xếp (thoả thuận) một lệnh mua hay bán). Bản ghi nhớ các lệnh bao
gồm các thông tin như tên và số tài khoản khách hàng, thứ loại chứng
khoán, loại giao dịch (mua, bán, bán khống v.v. . .) và các chỉ dẫn đặc biệt
(như thời điểm hoặc các giới hạn về giá). Nó đồng nghĩa với Order Memo,
Order                                                                  Ticket.
ORDER ROOM (ORDER DEPARTMENT); Phòng đặt lệnh (mua hay bán).
Phòng trong công ty môi giới chứng khoán chịu trách nhiệm chuyển lệnh đến
một        thị       trường      thích       hợp       để       thực     hiện.
ORDER TICKET: Phiếu lệnh. Thể thức được một đại diện có đăng ký (người
thực hiện tài khoản) của công ty môi giới hoàn tất dựa trên chỉ thị của khách
hàng. Nó cho biết lệnh là lệnh mua hay bán, số đơn vị, tên chứng khoán, loại
lệnh (lệnh thị, lệnh giới hạn hay lệnh ngưng) tên khách hàng và mã số. Sau
khi thực hiện lệnh trên hiện trường mua bán hay phòng thương vụ công ty
(nếu ngoài danh mục), giá được viết và khoanh tròn trên phiếu lệnh và
người broker hoàn tất được chỉ danh bằng số. Phiếu lệnh phải được giữ lại
trong     một       thời     gian     theo      quy      định    của     luật.
ORDINARY INCOME : Lợi tức thông thường. Lợi tức có từ các hoạt động
thông thường của cá nhân hay công ty kinh doanh, nó khác với tư bản kiếm
được có từ việc bán tài sản. Trước khi có luật thuế nhà nước, thuế tư bản
kiếm được dài hạn thấp hơn thuế lợi tức thông thường. Luật thuế sau này
xoá bỏ thuế suất ưu đãi này, nhưng nó vẫn giữ từ ngữ ấn định riêng này để
có thể trong tương lai gia tăng thuế suất lợi tức thông thường.

ORDINARY INTEREST: Lãi thông thương. Lãi được tính theo 360 ngày một
năm thay vì 365 ngày cách tính sau gọi là lãi chính xác)


Kiến thức chứng khoán
Phân loại           Từ điển chứng khoán

Chủ đề              P
PAPERLESS        ENTRY:     Mục    nhập     không    cần      đến    giấy    tờ.
1. Chuyển ngân quỹ bằng điện thoại hay bằng chỉ thị từ máy vi tính chứ
không        phải      bằng     chi       phiếu      hay        hối      phiếu.
2. Ký thác chi trả bằng máy điện tử từ cơ quan nhà nước hay tổ chức tư
nhân        vào       tài     khoản        của      người         ký       thác.
PAR: Theo mệnh giá. Tương đương với trị giá danh nghĩa hay trị giá trên
mặt của chứng khoán. Thí dụ, một trái phiếu bán theo mệnh giá nghĩa là có
cùng giá trị số trên đã được phát hành hay số tiền sẽ được trả khi đến ngày
đáo hạn như trái phiếu mệnh giá $1000. Đối với cổ phần thường, mệnh giá
do công ty phát hành thiết lập. Có thời, mệnh giá tiêu biểu cho đầu tư
nguyên thuỷ nằm sau mỗi cổ phần chứng khoán về hàng hoá, tiền mặt, dịch
vụ, nhưng ngày nay không còn như vậy nữa. Thay vào đó, mệnh giá là một
số lượng được quy cho cái gì (như $1 cho một cổ phần), được dùng để tính
toán trị giá tính bằng tiền của các cổ phần thường trong bằng cân đối tài
khoản công ty. Mệnh giá không có liên hệ gì với trị giá thị trường, trị giá này
được xác định bởi các tính toán về trị giá tài sản thuần, hoa lợi và các kỳ
vọng của nhà đầu tư về lợi nhuận tương lai. Một vài công ty phát hành
chứng              khoán            không               mệnh                giá.
Xem                               Stated                                 Value.
Mệnh giá càng quan trọng đối với trái phiếu và chứng khoán ưu dãi. Lãi suất
của trái phiếu dựa trên số phần trăm của mệnh giá trái phiếu -- một trái
phiếu lãi suất 10% sẽ trả hàng năm l0% mệnh giá trái phiếu. Cổ tức chứng
khoán ưu đãi thường, thường được trả theo số phần trăm mệnh giá của
chứng          khoán        ưu        đãi        đã          phát         hành.
PAR BOND: Trái phiếu theo mệnh giá. Trái phiếu đang bán theo mệnh giá,
ngang bằng với trị giá danh nghĩa hay trị giá bề mặt của trái phiếu. Một trái
phiếu công ty có thể được thu hồi ( chuộc lại ) vào ngày đáo hạn với giá
$100 là một trái phiếu theo mệnh giá khi nó mua bán trên thị trường với giá
$1000.
PAR EXCHANGE RATE: Tỷ giá hối đoạn danh nghĩa (theo lý thuyết). Xem
par                                of                                 exchange.
PAR      GRADE:       Cấp     độ      cơ'    bản.     Xem      basis     grade.
PAR           VALUE:           Mệnh            giá.         Xem           PAR..
PORTFOLIO: Danh mục đầu tư. Kết hợp sở hữu từ hai trở lên các đầu tư
Chứng khoán, trái phiếu, hàng hoá, bất động sản, công cụ tương đương tiền
mặt, hay các tài sản khác bởi một cá nhân hay nhà đầu tư thuộc tổ chức.
Mục đích của danh mục đầu tư là làm giảm rủi ro bằng cách đa loại hoá đầu
tư.      Xem       Portfolio     Beta       Score,       Portfolio      Theory.
PORTFOLIO BETA SCORE: Hệ số Beta danh mục đầu tư Sự bất ổn định
của toàn thể danh mục đầu tư chứng khoán trái phiếu của cá nhân, được đo
lường bằng hệ số Beta của chính chứng khoán trái phiếu đó. Hệ số Beta đo
lường bất ổn định của một loại chứng khoán liên quan đến toàn thể thị
trường giống như chỉ số Standard & Poor's 500. Beta bằng 1 có nghĩa là
chứng     khoán     bất    ổn    định     cùng     mức    với     thị   trường.
PORTFOLIO INCOME: Lợi tức trong danh mục đầu tư. Xem Investment
Income.
PORTFOLIO INSURANCE: Bảo hiểm danh mục đầu tư. Người quản lý danh
mục đầu tư sử dụng hợp đồng futures về chỉ số chứng khoán để bảo vệ danh
mục đầu tư chứng khoán chống lại thị trường giảm giá. Thay vì bán chứng.
khoán khi bị giảm giá, nhà quản lý bán hợp đồng futures với giá hạ hơn,
dùng lợi nhuận chênh lệch này bù lại cho số trong danh mục đầu tư chứng
khoán. Các thị trường nào không có khả năng vào ngày Thứ Hai Đen (Black
Monday) để xử lý một số lượng lớn chứng khoán trái phiếu một cách có hiệu
quả và thường xuyên làm gián đoạn buôn bán (circuit breaker) thì xem như
việc bảo hiểm danh mục đầu tư không còn tác dụng. Xem Program Trading.
PORTFOLIO INVESTMENT: Đầu tư không đủ để kiểm soát công ty. Đầu tư
quá ít không đủ để cho nhà đầu tư kiểm soát một phần hay toàn bộ một
công           ty            nghĩa            là           dưới            51%
PORTFOLIO LENDER: Người cho vay giữ nguyên danh mục cho vay. Người
cho vay thường là người đầu tiên cho vay có thế chấp, người này giữ số tiền
cho vay trong danh mục cho vay của mình cho đến khi đáo hạn (cho đến khi
người vay trả nốt nợ) và không bán số tiền cho vay này cho nhà đầu tư
trong thị trường cấp hai. Người cho vay này hưởng lợi tức thuần từ chênh
lệch cho vay tức chênh lệch giữa tài sản sinh lãi. và nợ ký thác, ngược lại với
ngân hàng cho vay có thế chấp, người này có lợi nhuận từ lệ phí.
PORTFOLIO MANAGER: Nhà quản lý danh mục đầu tư Chịu trách nhiệm
chuyên môn về Danh Mục Đầu Tư Chứng Khoán cho cá nhân hay nhà đầu tư
thuộc tổ chức. Họ còn được gọi là nhà quản lý tiền bạc (money manager),
nhất là khi có các dịch vụ cá biệt thì gọi là Cố Vấn Đầu Tư (investment
counsel). Nhà quản lý có thể làm việc cho quỹ hỗ tương đầu tư, quỹ hưu trí,
kế hoạch chia lợi nhuận, phòng uỷ thác ngân hàng, công ty bảo hiểm. Để
được trả phí quản lý này, nhà quản lý có trách nhiệm của người được uỷ thác
tài sản nhằm quản lý tài sản một cách thận trọng và chọn lựa cơ hội đầu tư
chứng khoán, trái phiếu, công cụ tương đương tiền mặt, bất động sản sao
cho đạt được lợi nhuận tốt nhất vào bất cứ thời điểm nào. Xem Portfolio
Theory,                           Prudent--Man                             rule.
PORTFOLIO THEORY: Lý thuyết về danh Mục Đầu Tư Phương thức quyết
định đầu tư khôn ngoan nhất cho phép nhà đầu tư phân loại xếp hạng, đánh
giá, và kiểm soát được lợi nhuận và rủi ro. Nó cũng còn gọi là Lý thuyết
Quản Lý Danh Mục Đầu Tư hay Lý Thuyết Hiện Đại Về Danh Mục Đầu Tư. Cơ
bản của lý thuyết là thẩm định mối tương quan giữa rủi ro. Lý thuyết bắt
đầu bằng việc phân tích chứng khoán theo như thông lệ, chuyển trọng tâm
phân tích đặc tính đầu tư cá nhân bằng xác định mối tương quan số liệu giữa
các loại chứng khoán trái phiếu trong toàn thể danh mục đầu tư. Phương
thức         lý         thuyết         có        4         giai      đoạn         :
- Đánh giá chứng khoán trái phiếu : mổ tả toàn thể bối cảnh tài sản trong
phạm             vi          rủi         ro          và         lợi         nhuận.
- Quyết định phân bố tài sản : xác định tài sản sẽ được phân bố như thế nào
giữa     các      loại    đầu     tư,    trái    phiếu     hay    chứng     khoán.
- Tối ưu hoá danh mục đầu tư : điều hoà rủi ro và lợi nhuận khi chọn lựa trái
phiếu chứng khoán để đầu tư, như xác định danh sách chứng khoán nào cho
lợi    nhuận       tốt    nhất     với     mức     độ     rủi   ro    vừa     phải.
- Đo lường hiệu suất (performance measurement) : chia mức hiệu suất mỗi
chứng khoán (rủi ro) thành các loại liên quan đến thị trường (hệ thống và
liên      quan         đến       ngành        công       nghiệp      (số       dư).
POSLTION                           :                     Vị                    thế.
1 . Ngân hàng : Số cân đối thuần của ngân hàng trong lãnh vực ngoại tệ.
2.     Tài      chánh      :     điều      khiển     tài     chánh     công     ty.
PREFERRED ORDINARY SHARE: Cổ phần thưởng được ưu tiên. Vốn có
quyền về cổ tức ở giữa khung cổ phần ưu đãi và cổ phần thường.
PREFERRED STOCK: Chứng khoán ưu đãi. Loại chứng khoán vốn (capital
stock) chi trả cổ tức theo lãi suất ấn định và ưu tiên hơn chứng khoán
thường trong việc chi trả cổ tức và thanh lý tài sản. Chứng khoán ưu đãi
thường không có quyền bỏ phiếu. Hầu hết chứng khoán ưu đãi là loại tích
luỹ, nghĩa là nếu cổ tức bị cho qua (không được chi trả vì lý do nào đó), nó
sẽ được tích luỹ lại và phải được chi trả trước cổ tức của chứng khoán
thường. Cổ tức bị cho qua đối với chứng khoán ưu đãi không tích luỹ
(noncumulate preferred stock) thì coi như là không bao giờ có lại. Chứng
khoán ưu đãi có dự phần (participating preferred stock) cho cổ đông có
quyền chia lợi nhuận cao hơn số cổ tức đã được tuyên bố cùng với các cổ
đông thường, nó khác với chứng khoán ưu đãi không dự phân có cổ tức quy
định theo giới hạn. Chứng khoán ưu đãi điều chỉnh (adjustable-preferred
stock) chi trả cổ tức có điều chỉnh, thường theo từng quý, dựa trên sự thay
đổi lãi suất công khố phiếu hay lãi suất thị trường tiền tệ. Chứng khoán ưu
đãi khả khoán (convertible preferred stock ) là loại có thể đổi ra một số cổ
phần thường đã ấn định và vì thế biến) động hơn chứng khoán bất khả hoán,
loại này giống với trái phiếu lợi tức cố định Xem Convertible, Cumulative
Preferred, Par- ticipating Preferred, PIK Securities ; Prior-preferred Stock.
PREFERRED STOCK RATIO: Tỷ lệ chứng khoán ưu đãi. Chứng khoán ưu
đãi theo mệnh giá được chia cho đổng số tư bản hoá. Kết quả là số phần
trăm tư bản hoá - trái phiếu và trị giá thuần được tiêu biểu bằng chứng
khoán                                      ưu                                  đãi.
PRELIMINARY INVOICE: Bản hoá đơn trù bị, sơ bộ. Tài liệu do người bán
gởi trước cho người mua trong đó đề xuất các điều khoản mua bán trong giai
đoạn đầu của một giao dịch mua bán. Bản hoá đơn trù bị có thể là cơ bản
cho các thương lượng sau này hoặc có thể được người mua chấp nhận là tài
liệu       chung         cuộc      về       điều      khoản        mua        bán.
PRELIMINARY PROSPECTUS: Bản quảng bá sơ bộ. Tài liệu đầu tiên do
nhà bao tiêu số phát hành chứng khoán mới phổ biến cho các nhà đầu tư
sắp sửa đầu tư. Tài liệu cho biết chi tiết tài chánh về việc phát hành nhưng
không bao gồm tất cả thông tin như bản quảng bá sau cùng hay bản quảng
bá theo luật định và một phần tài liệu có thể được thay đỏi trước khi phát
hành bản quảng bá sau cùng. Bởi vì một phân bìa của bảng quảng bá sơ bộ
in bằng mực đỏ nên nó được gọi là red herring (cá trích đỏ).
PREMIUM: Tiền thưởng - Chênh lệnh cao hơn mệnh giá - Phí mua option-
Phí                                    bảo                                   hiểm.
1.    Tổng     quát     :   số   chi    trả   thêm    như    là    tiền   thưởng.
2.                                    Trái                                  phiếu:
a) Số tiền có được do trái phiếu bán cao hơn mệnh giá. Thí dụ, trái phiếu
mệnh giá $1.000 khi bán được $1.100 thí tiền chênh lệch (premium) là
$100. Điều này cũng áp dụng cho loạt chứng khoán ưu đãi. Xem Premium
Bond
b) Số tiền (trị giá) có được khi giá thu hồi của nhà phát hành vượt quá mệnh
giá      trái     phiếu     được      thu     hồi.    Xem       Call    Premium.
Bảo hiểm: phí trả cho công ty bảo hiểm để thực hiện bảo hiểm. Số chi trả 1
lần hay nhiều lần cần thiết lập nên quỹ trợ cấp hàng năm.
Hợp đồng option: (hợp đồng đặt giá trước) : giá phí mà người mua put
option hay call option phải trả cho người bán hợp đồng option. Phí mua
option được xác định bởi các lực lượng cùng và cầu của thị trường.
Chứng                                                                      khoán:
a) Phí được trả bởi người bán khống bán chứng khoán vay mượn - short
seller)       khi     mượn        chứng       khoán      để      bán       khống.
b) Trị giá của giá một chứng khoán cao hơn chứng khoán khác. Thí dụ, nhà
phân tích chứng khoán có thể nói là chứng khoán công ty thực phẩm XYZ
bán với giá chênh lệch hơn 15% của chứng khoán công ty thực phẩm khác,
có nghĩa là chứng khoán này có trị giá cao hơn chứng khoán cùng ngành.
Tuy nhiên, nó không nhất thiết là chứng khoán vượt giá. Thật ra, nó cho biết
là: công chúng đầu tư chỉ có thể nhận biết tiềm năng thị trường của nó khi
nó tiếp tục tăng giá. Tương tự như thế, nhà phân tích có thể nói rằng chứng
khoán ngành thực phẩm đang bán chênh lệ 20% đối với chỉ số Standard &
Poor's 500, cho biết giá tương đối mạnh đối với toàn thể thị trường.
c) Trong phát hành chứng khoán trái phiếu mới, trị giá giá mua bán cổ phần
cao               hơn            giá            phát            hành              .
d) Trị giá cao hơn trị giá thị trường được chi trả trong việc đưa ra giá đệm để
tiếp        quản        (tender       offer).      xem      Premium          Raid.
PREMIUM BOND: Trái phiếu có chênh lệch giá cao hơn. Trái phiếu có giá
bán cao hơn mệnh giá hay giá thu hồi. Thí dụ trái phiếu có mệnh giá $1.000
được gọi là trái phiếu có chênh lệch giá nếu được bán với giá $1.050.
PRICE-DIVIDEND RATIO (P/D): Tỷ lệ giá cổ tức. Giá thị trường của
chứng khoán chia cho cổ tức mỗi cổ phần vào năm trước Tỷ lệ P/D xác định
trị giá tài sản của một loại chứng khoán đã có trong danh mục đầu tư của
nhà                                      đầu                                    tư.
PRICE/EARNINGS RATIO (P/E): Tỷ lệ giá/lợi nhuận. Giá chứng khoán
chia cho lợi nhuận mỗi cổ phần. Tỷ lệ P/E có thể hoặc là sử dụng lợi nhuận
được báo cáo trong năm sau cùng (gọi là tỷ lệ P/E theo dõi : trailing P/E tỷ lệ
P/E đã qua) hoặc là dùng dự đoán của nhà phân tích và lợi nhuận năm tới
(gọi      là    tỷ       lệ   P/E     sắp      tới     :    forward       P/E).
Tỷ lệ P/E đã qua được liệt kê cùng với giá chứng khoán và hoạt động mua
bán trong báo hằng ngày. Thí dụ, chứng khoán đang bán giá $20/cổ phần có
lợi nhuận $1 trong năm qua thì có tỷ lệ P/E đã qua là 20. Nếu cùng chứng
khoán đó dự trù có lợi nhuận $2 năm tới, nó sẽ có tỷ lệ giá/1ợi nhuận ( P/E )
sắp                  tới                là               10                   .
Tỷ lệ P/E cũng còn gọi là bội số, nó cho nhà đầu tư ý niệm là họ đang chi trả
bao nhiêu cho sức kiếm lợi nhuận của công ty. Tỷ lệ P/E càng cao thì nhà
đầu tư càng chi trả nhiều và vì thế họ mong rằng càng cần có nhiều lợi
nhuận Chứng khoán có tỷ lệ P/E cao với bội số cao hơn 20 là loại chứng
khoán của công ty trẻ đang phát triển nhanh. Chứng khoán này có nhiều rủi
ro hơn chứng khoán có tỷ lệ P/E thấp bởi vì kỳ vọng phát triển cao dễ bị biến
động hơn phát triển thấp. Chứng khoán tỷ lệ P/E thấp thường ở trong các
ngành phát triển thấp, đã chín chắn (trưởng thành) hay ở trong nhóm chứng
khoán không còn được chiếu cố tức là ở các công ty chất lượng cao, tổ chức
tốt và thuộc loại lão làng có lợi nhuận ổn định và thường xuyên trả cổ tức.
Thông thường chứng khoán có tỷ lệ P/E thấp có hoa lợi cao hơn chứng khoán
có tỷ lệ P/E cao và chứng khoán này thường không trả cổ tức (dùng cổ tức
để                     phát                    triển                    thêm).
PRICE ESCALATION: Giá leo thang, nâng giá. Giá sản phẩm hay dịch vụ
tăng cao hơn bình thường. Thường thường sự gia tăng này là do có thêm giá
phí. Thí dụ, hàng xuất khẩu có giá cao hơn hàng nội địa vì có thêm phí vận
chuyển, phí tài chánh. Lương lao động cao hơn hay giá phí bộ phận rời cũng
làm        cho       giá      leo      thang        (làm      nâng        giá).
PRICE GAP: Lỗ hổng của giá. Từ ngữ được dùng khi giá chứng khoán hoặc
là vọt lên hay rơi tuột xuống khung giá mua bán sau cùng mà không có gối
đầu. Thí dụ, chứng khoán có thế tăng vọt vượt lên giá đóng cửa $20 cổ
phần, trong khi khung giá ngày hôm đó là $18 - $20. Qua ngày hôm sau
khung giá mở cửa là $22 -$24 vì có tin sẽ có công ty khác tiếp quản
(Takeover Bid). Hoặc là khi công ty báo cáo lợi nhuận thấp hơn mong đợi và
do đó khung giá $18 - $20 sẽ rớt xuống khung giá $13 - mà không có khung
giá nào nằm giữa hai khung giá trên. Các nhà phân tích kỹ thuật, xem lỗ
hổng giá cả là nhưng chuyển biến quan trọng, họ ghi nó lên biểu đồ bởi vì lỗ
hổng này thường biểu thị vị thế mua hay bán quá mức.
PRICE INDEX: Chỉ số giá cả. Chỉ số trung bình giá bán lẻ và giá bán buôn
(bán sỉ) của hàng hoá hay dịch vụ . Chỉ số này dùng để đo lường lạm phát,
nó tính theo số phần trăm giá trung bình căn cứ trên năm cơ bản nào đó. Chỉ
số giá tiêu thụ (consumer cusdexes) thường được gọi là chỉ số giá bán lẻ
(Retail price Index - RPI) hay CPI (Cousumer price index). Chỉ số bán buôn
(bán sỉ) (Wholesale indexes) thường được gọi là chỉ số giá sản xuất
(Producer price index - PPI) hay chỉ số giá bán buôn (Wholesale price index -
WPI)
PRICE LEADER: Công ty làm chủ giá cả. Đầu sỏ giá cả. Công ty có đủ sức
mạnh thị trường trong một ngành công nghiệp để có thể phá vỡ (không bị
ảnh hưởng, cạnh tranh giá cả. Công ty làm chủ giá cả sẽ ấn định giá trong
tập đoàn đầu sỏ chuyên ngành (oligopoly) và các đối thủ cạnh tranh phải
theo để tránh chiến tranh giá cả. Việc định giá không phạm pháp nhưng khi
các đối thủ cạnh tranh âm mưu hợp lực hạ giá đến mức tối thiểu, thì cuộc
chiến giá cả sẽ phát triển. Trong hầu hết các quốc gia việc này là bất hợp
pháp.
PRICE LEVEL ADJUSTED MORTGAGE (PLAM): Tiền vay có thế chấp được
điều chỉnh theo mức giá. Một hình thức tiền vay có thế chấp chi trả tăng dầu
(graduated payment mortgage) trong đó lãi suất chi trả được giữ cố định
nhưng số cân đối hiện hành được điều chỉnh theo lạm phát tuỳ thuộc chỉ số
giá cả tương ứng. theo từng giai đoạn, tuỳ theo thời biểu định kỳ được cả hai
người vay và người cho vay chấp thuận số cân đối hiện hành đang nợ được
xem xét lại để tương ứng với trị giá tài sản và số chi trả hàng tháng cũng
được xem xét lại theo cách tính tương ứng này. Xem Alternative Mortgage
Instrument.
PRICE        LIMIT      :    Giới    hạn    về     giá.    Xem    Limit     Price.
PRICE         METHOD:        Phương      thức     giá.    Xem     Piece      rote.
PRICE-NET TANGIBLE ASSETS RATIO: Tỷ lệ giá/tài sản hữu hình thuần.
cho          tài      sản         hữu       hình        thuần       của         nó
PURPOSE LOAN: Tiền vay có mục đích. Tiền vay được chứng khoán trái
phiếu bảo đảm và được dùng để mua chứng khoán trái phiếu khác theo luật
lệ     tín      dụng     và    tài    khoản      margin      của   nhà      nước.
PURPOSE STATEMENT: Báo cáo mục đích. Tờ khai do người vay đệ trình
có ghi chi tiết mục đích vay có chứng khoán trái phiếu bảo đảm. Người vay
đồng ý không dùng tiền vay để mua chứng khoán trái phiếu trái với quy định
của nhà nước. Xem : Nonpurpose Loan, Regulation U. PUT : Hợp đồng Put
option.                      Xem                    Put                    option.
PUT BOND: Trái phiếu có quyền trả lại trước ngày đáo hạn. Trái phiếu cho
phép người giữ trái phiếu thu hồi (chuộc) số tiền theo các thời khoản ấn định
trước ngày đáo hạn và nhận đầy đủ mệnh giá. Trái chủ được phép giao lại
trái phiếu cho nhà phát hành một lần trong thời gian còn hiệu lực phát hành
hoặc lâu hơn. Đổi lại đặc quyền này: trái chủ phải chịu thiệt thòi một ít hoa
lợi khi chọn trái phiếu put thay vì chọn trái phiếu có lãi suất không thể chuộc
lại        (       thu        hồi      )       trước        thời      hạn        .
PUT BUYER: người mua hợp đồng Put option. Nhà đầu tư trả phí mua hợp
đồng option theo một thời gian ấn định để có quyền bán chứng khoán cơ sở
theo                  giá                đã                ấn                định.
PUT OPTION: Hợp đồng Put option (mua, bán chứng khoán theo chiều
xuống). -Trái phiếu : quyền của trái chủ thu hồi mệnh giá trái phiếu trước
thời hạn . xem : Put Bond . Hợp đồng option : hợp đồng cho quyền bán một
một số trái phiếu đã ấn định theo giá ấn định trong một thời hạn nhất định.
Người mua hợp đồng put option được quyền này, đổi lại họ phải chi trả phí
mua option (option premium). Người bán put option cho người mua quyền
này, để đổi lại họ được nhận phí mua option. thí dụ, người mua hợp đồng
option công ty XYZ giá điểm 70 đáo hạn tháng 5 (XYZ May 70 Put) có quyền
bán 100 cổ phần công ty XYZ với giá $70 cho người bán hợp đồng put option
bất cứ lúc nào cho đến ngày đáo hạn tháng 5. Người mua put option hy vọng
chứng khoán sẽ rớt giá trong khi đó người bán hợp đồng put option lợi hy
vọng chứng khoán sẽ đứng giá, tăng giá hay rớt xuống một giá ít hơn lợi
nhuận           do       phí       mua        option       mang        lại       .
PUT SPREAD: Mua và bán song hành hợp đồng put option. Nhà đầu tư mua
một hợp đồng Put Option của một loại chứng khoán nào đó và bán một hợp
đồng put option của cùng loại chứng khoán nhưng khác ngày đáo hạn, giá
điểm                      hoặc                    cả                   hai.
PUT THROUGH: Xong xuôi, thành tựu. Giao dịch mua bán cùng lúc kết thúc
(do một nhà buôn bán thực hiện trên một thị trường chứng khoán ). Trong
buôn bán hoàn tất (put through sale), một khách hàng bán và một khách
hàng    mua      một    khối   lượng     lớn  một    loại  chứng    khoán.
PUT TO SELLER : Bán lại cho người bán. Nhóm từ ngữ được sử dụng khi
hợp đồng put option được thực hiện. Người viết ( hay bán ) hợp đồng option
(option writer) cam kết mua lại cổ phần cơ sở theo giá đã thoả thuận. Thí
dụ, hợp đồng put option XYZ tháng 7 - 40 (XYZ June 40 Put - hợp đồng put
option công ty XYZ giá $40, đáo hạn tháng 7) "Put to seller" (được bán lại
cho người bán), người viết sẽ phải mua lại 100 cổ phần công ty XYZ với giá
$40/ cổ phần của người giữ hợp đồng ( người đã mua hợp đồng put option)
cho dù trị giá thị trường hiện tại của cổ phần công ty XYZ có thể thấp hơn
$40/                                  cổ                              phần
PUT WRITER: Người bán hợp đồng Put option. Nhà đầu tư nhận phí mua
hợp đồng option theo một thời gian ấn định và cam kết mua chứng khoán cơ
sở theo giá đã ấn định khi người mua hợp đồng put option muốn bán.

PYRAMIDING : Tiến hành theo kiểu hình kim tự tháp. .
Tổng quát : hình thức bành trướng kinh doanh bằng cách sử dụng đòn bẩy
tài   chánh     để    xây    dựng    cơ    cấu    công    ty   phức    hợp
Lừa đảo : mưu đồ trên số trị giá không tồn tại, thường tiến hành theo dạng
hình học với một chuỗi chặt chẽ , ngày nay bị xem là bất hợp pháp. Một thí
dụ nổi tiểng là trường hợp lừa đảo của Ponzi vào cuối thập niên l920 người
đầu tư được Ponzi trả lợi nhuận bằng số tiền của người đầu tư mới cho đến
khi            sự             việc           bị            đổ           bể
Đầu tư : sử dụng lợi nhuận không có thực của một vị thế chứng khoán trái
phiếu hay hàng hoá làm thế chấp để mua thêm vị thế bằng quỹ mượn của
Broker.

Q- TIP TRUST: Uỷ thác Q-tip. Uỷ thác lợi ích tài sản kết thúc có đủ tiêu
chuẩn. Loại uỷ thác này cho phép được chuyển tài sản giữa vợ với chồng.
Người uỷ thác Q- Tip chuyển thẳng lợi tức của tài sản đến người phối ngẫu
suốt đời nhưng có quyền phân phối tài sản khi người phối ngẫu mất. Loại uỷ
thác này cho người uỷ thác có đủ tiêu chuẩn được khấu trừ không giới hạn
nếu có người phối ngẫu mất trước. Uỷ thác Q-Tip dùng để cung cấp cấp
dưỡng cho người phối ngẫu trong khi vẫn giữ tài sản của mình riêng ra ngoài
tài sản của người phối ngẫu kia (như là thành viên hôn nhân tương lai) nếu
như           người          uỷ           thác         mất           trước.
QUADRATIC PRICING MODEL: Biểu mẫu định giá bình phương
QUADRATIC PRICLNG MODEL : Biểu mẫu đánh giá tài chánh cho biết thị
trường tối ưu cho sản phẩm hay dịch vụ mới và giá/hoa lợi tối ưu của một
sản phẩm mới. Tiềm năng lợi nhuận cao nhất thuộc về các sản phẩm quen
thuộc dành cho một nhóm khách hàng đặc biệt được ấn định thí dụ như công
ty môi giới phục vụ trọn gói, dịch vụ ngân hàng riêng tư, ở đây dịch vụ
thường là sản phẩm có tính hàng hoá thí dụ như công ty môi giới giá thấp
hay                     thẻ                    tín                    dụng.
QUADRILATERAL TRADE AGREEMENT: Thoả thuận mậu dịch hỗ tương
bốn bên. Thoả thuận mậu dịch quá cảnh giữa 4 quốc gia.
QUALIFIED ACCEPTANCE: Chấp nhận có đủ tiêu chuẩn. Một giới hạn trong
các điều khoản chấp nhận bởi người sở hữu hối phiếu. Những người ra lệnh
chi trả hay người bối thự được giải toả khỏi số nợ khi sự chấp nhận có đủ
tiêu chuẩn trừ khi có thông báo trước là người sở hữu từ chối chấp nhận nó.
QUALIFIED BLOCK POSITIONER: Người có đủ tư cách mua bán từng khối
lượng lớn chứng khoán. Người mua bán tham gia vào việc mua hay bán từng
khối lượng lớn chứng khoán với khách hàng và người mua bán này hội đủ tất
cả    điều   kiện    quy   định     về    vốn   đầu    tư    thuần    tối   thiểu.
QUALIFIED ENDORSEMENT: Bối thự có tiêu chuẩn hạn định. Bối thự (ký
vào mặt sau chi phiếu hay công cụ chi trả - Negotiable Instrument) để
chuyển một số tiền cho một người khác chứ không phải cho người được trả,
nó muốn nói đến sự giới hạn số nợ của người bối thự. "Không có nguồn hỗ
trợ'" (without recourse) là thí dụ dễ thấy nhất trong việc bối thự, nó có nghĩa
là nếu công cụ không được chấp nhận thì người bối thự không có trách
nhiệm. Bối thự có tiêu chuẩn là loại có giới hạn (như "chỉ để ký gửi) do đó
người ta thích dùng từ ngữ bối thự có giới hạn (restricted endorsements).
QUALIFIED INDEPENDENT APPRAISER: Người định giá độc lập có đủ tư
cách (hội đủ tiêu chuẩn). Một người có thể là kỹ sư dầu mỏ độc lập hội đủ
tiêu chuẩn hay nhà định giá bất động sản có đủ tư cách và tính độc lập,
người này tự mình đảm trách việc đánh giá một loại tài sản nào đó và là
người : A. Được cấp giấy chứng nhận và đăng ký để thực hiện nghiệp vụ tới
bộ phận chuyên viên tương ứng hoặc bộ phận pháp định, nếu có thể nói là
đúng theo hoạt động công việc của ông ta như theo yêu cầu. Ông ta là người
có thể chứng tỏ chính ông ta có đủ tiêu chuẩn khả năng đánh giá loại tài sản
mà ông ta tự đảm nhận B. Được hoàn toàn độc lập, trong đó :
- Ông ta được thông tin về mục đích được đánh giá và sẽ dựa trên chương
trình               vì               mục               đích                chung.
- Ông ta đã dựa vào chứng từ đây đủ, xác thực về trị giá và đã dựa trên
đánh- giá theo kinh nghiệm và phán đoán của riêng ông ta.
- Ông ta không có quyền lợi hiện tại hay quyền lợi dự tính trong tương lai,
hợp     pháp     và    có    lợi,    trong    tài   sản     được    đánh      giá.
- Ông ta không có quyền lợi trong giao dịch được đề xuất liên quan đến tài
sản hoặc ở trong các bên đang thực hiện giao dịch mua bán đó.
- Việc thuê mướn ông ta và tiền công không phụ thuộc vào trị giá đã được
ông ta thiết lập hoặc phụ thuộc vào bất cứ điều gì hơn là cung cấp bản báo
cáo       để      hưởng       lệ      phí      đã     được       định       trước.
- Ông ta không phải là người của tổng giám đốc thành viên (sponsor).
QUALIFIED OPINION: ý kiến theo tiêu chuẩn. ý kiến của kiểm toán viên
kèm theo bản báo cáo tài chánh yêu cầu xem xét lại giới hạn của kiểm toán
hay những ngoại tệ mà nhà kiểm toán đưa vào bản báo cáo. Lý do có ý kiến
này là : một vụ kiện cáo nếu như thua sẽ ảnh hưởng nặng nề đến tình trạng
tài chánh công ty; nợ thuế chưa giải quyết liên quan đến một vụ chuyển giao
không bình thường ; không có khả năng xác định một phần hàng kho vì
không      đến    được    địa     điểm.    Xem    :     Accountant's      Opinion.
QUALIFIED OTC MARKET MAKER: Nhà tạo thị trường đủ tiêu chuẩn trong
thị trường ngoài danh mục (thị trường tự do). Nhà mua bán tạo một thị
trường bằng chứng khoán mua bằng tài khoản Margin ở thị trường ngoài
danh mục (margin - tài khoản vay tiền để mua chứng khoán) và người này
hội đủ điều kiện theo quy định số vốn đầu tư thuần tối thiểu.
QUALIFIED PLAN OR TRUST: Kế hoạch hay uỷ thác theo tiêu chuẩn . Kế
hoạch hoãn thuế do người chủ thiết lập cho công nhân theo luật lệ Nhà
nước. Kế hoạch này thường có đóng góp của người chủ - thí dụ, kế hoạch
phân chia lợi nhuận hay hưu trí - và cũng có thể có đóng góp của công nhân.
Số tiền này được dành tiết kiệm và sẽ được chi trả khi về hưu hay thôi việc.
Công nhân chỉ đóng thuế khi nào rút tiền. Khi người chủ chi trả cho các kế
hoạch như thế, họ sẽ được khấu trừ khi đóng thuế và có các lợi thế thuế
khác.     Xem     :     401     (K)    Plan,    Salary       Reduction    Plan.
QUALIFIED THIRD - MARKET MARKER: Nhà tạo thị trường cấp ba đủ tiêu
chuẩn. Người mua bán tạo một thị trường bằng chứng khoán được liệt kê
trên thị trường và hội đủ điều kiện theo quy định vốn đầu tư tối thiểu.
QUALIFYING ANNUITY: Tiền trợ cấp hàng năm đủ tiêu chuẩn. Tiền trợ cấp
hàng năm được mua theo (hay thiết lập ra) chương trình đầu tư cho tài
khoản hưu trí cá nhân, một loại như kế hoạch hay uỷ thác đủ tiêu chuẩn đó
là kế hoạch hưu trí và phân chia lợi nhuận. Xem: Keogh Plan
QUALIFYING RATIO: Tỷ lệ theo tiêu chuẩn. Tổng số chi phí nhà cửa hằng
tháng bao gồm số chi trả lại vốn, thuế và bảo hiểm được tính bằng số phần
trăm tổng lợi tức hàng tháng; hoặc là tổng số nợ hàng tháng tính theo số
phần trăm tổng lợi tức hàng tháng. Tỷ lệ theo tiêu chuẩn, theo kinh nghiệm
người cho vay, sẽ xác định khả năng chi trả của người vay.
QUALIFYING SHARE: Cổ phần có đủ tư cách. Sở hữu cổ phần chứng khoán
thường đủ để có tư cách là giám đốc một công ty phát hành.
QUALIFYING STOCK OPTION: Hợp đồng option chứng khoán có đủ tiêu
chuẩn. Đặc quyền thưởng cho một công nhân công ty, nó cho phép công
nhân được mua một số cổ phần của chứng khoán vốn với giá đặc biệt theo
các điều kiện được chấp nhận trong luật nhà nước. Theo luật thì:
1. Kế hoạch hợp đồng option này phải được cổ đông chấp nhận.
2.             Không              được            chuyển               nhượng.
3. Giá điểm (exercise price - giá thực hiện) phải thấp hơn giá thị trường vào
thời      điểm      hợp      đồng       option       được       phát     hành.
4. Người được thưởng không sở hữu quá 5% số chứng khoán có quyền bỏ
phiếu hay 5% trị giá tất cả các loại chứng khoán hiện hành (10% nếu vốn cổ
đông       dưới      $1      triệu      dollar     -       ở      Hoa      Kỳ).
Công nhân được thưởng không phải đóng thuế lợi tức vào thời điểm được
thưởng hay vào thời điểm thực hiện hợp đồng option. Nếu giá thị trường
xuống dưới giá option thì có thể phát hành hợp đồng option khác có giá điểm
thấp hơn. Mỗi công nhân giới hạn trong $100.000 trị giá chứng khoán bao
gồm trong hợp đồng option được thực hiện trong một năm theo lịch
(calendar                                                                year).
QUALIFYING UTILITY: Công ty tiện ích công cộng theo tiêu chuẩn (ở Hoa
Kỳ). Công ty tiện ích công cộng trong đó cổ đông có thể được hoãn thuế khi
tái đầu tư $750 cổ tức ($1.500 cho cặp vợ chồng cùng đăng ký) vào chứng
khoán công ty. Mãi đến cuối năm 1985 chỉ tính thuế khi bán chứng khoán.
Kế hoạch này được đạo luật Economic Recovery Tax Act of 1981 ban hành
như là phương tiện giúp cho các công ty tiện ích công cộng gia tăng vốn đầu
tư. Hầu hết các công ty có tư cách để lập kế hoạch này đều là các công ty về
điện.
QUALITATIVE           ANALYSIS:          Phân         tích      định      tính.
Tổng quát: phân tích để đánh giá các nhân tố quan trọng không thể đo
lường                     chính                    xác                    được.
Phân tích chứng khoán và tín dụng: phân tích liên quan đến các câu hỏi về
kinh nghiệm, đặc tính, năng lực tổng quát của ban quản trị, đạo đức công
nhân và tình trạng mối quan hệ lao động chứ không liên quan đến các dữ
kiện        tài      chánh        thực        tế       của        công       ty.
QUALITATIVE MARKET RESEARCH: Nghiên cứu định tính thị trường.
Dùng phương pháp phỏng vấn người tiêu thụ và tập trung vào những nhóm
để xác định một sản phẩm đã biết có hấp dẫn thị trường không hay tại sao
lại hấp dẫn thị trường. Sự chính xác của các kết quả tùy thuộc vào tầm mức
lại tính chất của mẫu. Nghiên cứu định tính thường dùng để kiểm nghiệm
các          ý         niệm          về          sản          phẩm          mới.
QUALITY ADJUSTMENT: Điều chỉnh chất lượng. Trong hợp đồng futures
hàng hoá thì bất cứ hợp đồng nào cũng đều có ấn định khung cấp độ có thể
chấp nhận được của hàng hoá, cấp độ cơ bản (base grade) được thừa nhận
khi tính giá hợp đồng và điều chỉnh chất lượng khi tính giá thanh toán để
giao theo các cấp độ khác có thể chấp nhận được. Số giá thanh toán được
điều chỉnh trong giao dịch mua bán hợp đồng futures khi hàng hoá cung ứng
khác       với     quy     định      trong      hợp      đồng      ban      đầu.
QUALITY ALLOWANCE: Trợ cấp cho chất lượng. Xem Allowance.
QUALITY AUDIT: Kiểm tra chất lượng. Tiến trình chứng nhận chất lượng
sản                                    phẩm                                    .
QUALITY               CIRCLE:            Nhóm              chất          lượng.
Kỹ thuật quản lý công ty áp dụng đầu tiên tại Nhật. Các nhóm chất lượng
bao gồm các nhóm công nhân làm việc với nhau để xác định vị thế của vấn
đề,    quản     lý   kiểm    tra   chất    lượng,    cải    tiến   năng    suất.
QUALITY CONTROL: Kiểm soát chất lượng. Tiến trình bảo đảm rằng sản
phẩm làm ra phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng cao. Giám sát hàng hoá vào
nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình sản xuất do người hay máy móc
thực hiện là một phần quan trọng trong tiến trình kiểm soát chất lượng.
QUALITY OF EARNINGS: Chất lượng lợi nhuận. Nhóm từ ngữ mô tả lợi
nhuận công ty có được do gia tăng số bán và kiểm soát giá phí nó khác với
lợi nhuận giả tạo do trị giá hàng kho tăng vì lạm phát hay do có các tài sản
khác. Trong thời kỳ lạm phát cao, chất lượng lợi nhuận có hướng giảm bởi vì
phần lớn lợi nhuận công ty bắt nguồn từ trị giá hàng kho tăng. Trong thời kỳ
lạm phát thấp, công ty đạt được số bán cao và giữ được giá phí thấp sẽ có
chất lượng lợi nhuận cao - một nhân tố thích hợp cho nhà đầu tư, những
người sẵn sàng chi trả cao để có lợi nhuận chất lượng cao.
QUANT: Nhà phân tích. Người có kỹ năng toán học và tin học chuyên cung
cấp dịch vụ hỗ trợ bằng số liệu và phân tích trong ngành chứng khoán.
QUANTITATIVE ANALYSIS: Phân tích định lượng. Phân tích liên quan đến
các nhân tố có thể đo lường được, nó khác với phân tích định tính như phân
tích về đặc tính của ban quản trị hay tình trạng đạo đức của công nhân.
Trong phân tích tín dụng và chứng khoán trái phiếu, phân tích định lượng là
phân tích về trị giá tài sản, giá phí vốn các khuôn mẫu thương vụ được dự
trù và đã có một quá trình, giá phí, lợi nhuận, có tính toán theo phạm vi lớn
trong các lãnh vực kinh tế, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán trái
phiếu. Mặc dù các nhân tố định lượng và định tính khác nhau nhưng chúng
ta có thể kết hợp chúng lại để có những đánh giá tài chánh và kinh doanh có
cơ      sở      và     hoàn      chỉnh.     Xem:       Qualitative     Analysis.
QUANTITATIVE MARKET RESEARCH: Nghiên cứu định lượng thị trường.
Dùng phương pháp lập bản câu hỏi theo đường bưu điện, để xác định số
người tiêu thụ của một sản phẩm. Các biểu mẫu được chia thành các hạng
loại như lợi tức hay tuổi tác, để đo lường sự hấp dẫn của sản phẩm đối với
các nhóm dân số đã chọn lựa. Sách lược sản phẩm hay quảng cáo có thể
thiết lập dựa trên các dữ kiện nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu định lượng
được     áp    dụng     cơ    bản   cho     các   sản     phẩm     đang     có.
QUANTITY THEORY OF MONEY: Lý thuyết về lượng tiền.Lý thuyết nhằm
cố gắng đặt mối tương quan giữa số lượng tiền và giá cả trong nền kinh tế.
Nó tìm cách giải thích lạm phát có thể được kiểm soát bằng chính sách tiền
tệ như thế nào nghĩa là kiểm soát bằng nguồn cùng tiền tệ. Lý thuyết này đã
bị tấn công bởi sự hiện diện của công cụ gần như là tiền tệ (quasi- money
hay near money) là khả năng của các tổ chức tài chánh ngoài ngân hàng
nhằm phát triển và giới thiệu các hình thức mới của tín dụng.
QUARTERLIES: Các báo cáo hàng quý. Các báo cáo tài chánh chuyển tiếp
về tình trạng của một công ty cổ phần, báo cáo được lập ra từng quý trong
năm             tài           chánh           của            công           ty.
QUARTERLY:                                Hằng                            quý.
Tổng                quát:              mỗi              ba              tháng.
Chứng khoán: thời gian cơ sở để lập báo cáo lợi nhuận gửi cho cổ đông, nó
cũng      là     khung      thời    gian     để     chi      trả    cổ     tức.
QUARTERLY SECURITIES COUNT: Kiểm tổng số chứng khoán hằng quý.
Mỗi      broker-dealer       (công     ty     môi      giới)     phải     thực
hiện kiểm soát việc kiểm tổng số chứng khoán, thẩm tra các chứng khoán
đang chuyển đi, so sánh các kết quả tổng số với bản ghi nhận chứng khoán
và ghi lại tất cả số chênh lệch chứng khoán chưa giải quyết ít nhất là từng
quý.
QUARTER STOCK: Chứng khoán 1/4. Chứng khoán có mệnh giá .$25/cổ
phần.
QUASI          AUTONOMOUS             GOVERNMENT              ORGANIZATION
(QUANGO): Tổ chức Nhà Nước Bán Tự Quản. Một bộ phận bán chính thức
được một cơ quan nhà nước tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ công cộng.
Các quango thường là các uỷ ban được chỉ định để đảm trách các công tác
trong một thời gian giới hạn. Các uỷ ban thường được thiết lập để làm đề
xuất chính sách không phổ cập, sau đó các viên chức được lựa chọn trong uỷ
ban sẽ được tự do thực hiện. Chi phí cho quango do dân chúng trả.
QUASI - CONTRACT: Hợp đồng bán chính thức. Một hợp đồng được các bên
ngầm đồng ý thực hiện, mặc dù chưa hoàn tất một thoả thuận.
QUASI - MONEY: Tiền để đó sử dụng sau - Tiền chưa dùng. Xem Broad
Money. Quasi - money là tiền đang có và số ký thác tiết kiệm cộng với số ký
thác                                  ngoại                                 tệ.
QUASI-PUBLIC CORPORATION: Công ty bán công. Công ty điều hành
theo tư cách tư và thường có chứng khoán mua bán trong công chúng,
nhưng cũng có uỷ thác công và thường được nhà nước hỗ trợ cho các món
nợ trực tiếp của công ty. Thí dụ, COMSAT (Communications Satellite
Corporation - công ty truyền thông vệ tinh) được quốc hội Hoa Kỳ bảo trợ để
tăng cường phát triển không gian, FNMA (Fannie Mae - Federal National
Mortgage Association) được thành lập để phát triển thị trường thế chấp cấp
hai            (the            second           mortgage              market).
QUICK ASSETS: Tài sản dễ đổi ra tiền mặt. Tài sản hiện hành của một
doanh nghiệp trừ hàng tồn kho, nó có thể đổi ra tiền mặt khi cần chỉ trong
một thời gian ngắn, thường từ một năm trở lại. Nó còn gọi là tài sản lưu
động      (liquid   assets    -   tài  sản      dễ     đổi   ra    tiền   mặt).
QUICK RATIO: Tỷ lệ chuyển đổi nhanh. Tiền mặt, chứng khoán dễ mua bán
(marketable Securities) và tài khoản thu chia cho số nợ hiện hành, không kể
đến hàng kho, tỷ lệ dễ chuyển đổi ra tiền mặt quan trọng này tập trung vào
tài sản dễ chuyển đổi ra tiền mặt (liquid assets - tài sản lưu động) của công
ty và nó giải quyết vấn đề: "Nếu việc mua bán ngừng, công ty này có đủ sức
thanh toán nợ hiện hành bằng số tài sản khả hoán đang có trong tay", Giả
định rằng không có việc gì xảy ra làm chậm trễ hay cản trở số tiền thu về, tỷ
lệ chuyển đổi nhanh bằng 1 hay gần bằng 2 là đạt yêu cầu. Nó cũng được
gọi là tỷ lệ thử acid, tỷ lệ chuyển đổi nhanh tài sản.
QUID PRO QUO: Đổi chác. Tổng quát: theo từ latin có nghĩa là " Một cái gì
đó cho một cái gì đó" (cho cái gì đi để lấy lại cái gì đó - bánh ích đi bán quy
lại). Theo thoả thuận hỗ tương, một bên cung cấp hàng hoá hay dịch vụ đổi
lại
họ nhận hàng hoá hay dịch vụ khác. Ngành chứng khoán: thoả thuận giữa
một công ty sử dụng công trình nghiên cứu để thực hiện tất cả thương vụ
mua bán với công ty cung cấp công trình nghiên cứu đó, thay vì chi trả trực
tiếp cho công trình này. Đây được gọi là chi trả bằng dollar mềm (soft
dollars)                                                                       .
QUIET PERIOD: Thời kỳ chờ đợi. Thời kỳ nhà phát hành đang trong giai
đoạn đăng ký ("in registration") và chịu lệnh cấm của nhà nước trong việc
xúc tiến bán ra công chúng. Nó định ngày tháng từ lúc có quyết định bao
tiêu đến 40 hay 90 ngày sau ngày tháng có hiệu lực.
QUIET TITLE ACTION: hành động xoá bỏ êm thắm quyền sở hữu hành
động hợp pháp dẫn đến việc loại bỏ bất cứ quyền lợi hay quyền đòi chi trả
của người khác trên một tài sản. Đây là phương thức dùng để xoá bỏ các
khiếm khuyết quyền sở hữu bất động sản khi văn kiện tước quyền đòi chi trả
không                      thể                    thực                     hiện.
QUITCLAIM DEED: Văn kiện tước quyền đòi chi trả. tài liệu trong đó chủ
quyền, quyền đòi chi trả hay quyền sở hữu tài sản hoặc bất động sản bị tước
bỏ khỏi một người khác mà không cần trình bày là chủ quyền như thế là có
hiệu lực. Thông thường đây là trường hợp không có giao kèo hay giấy bảo
đảm dựa trên quyền đòi chi trả hiện hành của người có quyền giữ thế chấp
trước                                                                        đó.
QUOTA: Hạn ngạch. Cũng còn gọi là hạn mức số lượng (QR - quantity
restriction), sự giới hạn do Nhà nước áp đặt cho các hạng mục mậu dịch.
Hạn ngạch nhập khẩu được thực thi để bảo vệ các ngành công nghiệp nội địa
khỏi bị cạnh tranh làm thiệt hại. Hạn ngạch xuất khẩu thường được dùng bởi
các quốc gia lệ thuộc vào các tập toàn hàng hoá, để kiểm soát lượng chảy ra
của sản phẩm và duy trì - giá cả hoặc để kiểm tra tính đồng nhất của người
sử dụng sau cùng hàng nhập khẩu. Hạn ngạch có thể có tính toàn cầu nghĩa
1à áp dụng đồng đều cho tất cả các quốc gia. Nếu hạn ngạch có tính tuyệt
đối, thì số lượng được cố định trong một thời khoảng ấn định. Nếu hạn ngạch
linh động thì giới hạn số lượng sẽ được điều chỉnh khi hoàn cảnh thay đổi.
Khi hạn ngạch tỷ lệ quan thuế biểu nhập khẩu được áp dụng thì số đơn vị
không giới hạn của hạng mục trong hạn ngạch có thể tham dự vào thị
trường nhập khẩu nhưng sẽ tính theo thuế quan cao hơn đối với số đơn vị
vượt         quá         số         đã         ấn          định       trước.
QUOTA PRORATION: Theo tỷ lệ hạn ngạch. Phương tiện điều chỉnh hàng
nhập vượt quá hạn ngạch. Sự điều chỉnh được thực hiện - tại cảng nhập. Số
hàng nhập vượt mức hạn ngạch sẽ được tồn kho tạm thời. Khi hàng hoá
được phép nhập vào, số phân bổ trong hạn ngạch tương lai sẽ bị trừ bớt.
QUOTA-SHARE TREATY: Hiệp ước phân chia hạn ngạch. Một hợp đồng tái
bảo hiểm. Thoả thuận phân chia hạn ngạch xác định phần trăm rủi ro được
nhà           tái          bảo           hiểm            đảm          nhận.
QUOTATION:              Định         giá          -          báo        giá.
Kinh doanh: ước tính giá trên dự án hay giao dịch thương mại.
Đầu tư: giá đặt mua cao nhất và giá đặt bán thấp nhất đang hiện hành của
chứng khoán hay hàng hoá. Khi nhà đầu tư hỏi về giá chứng khoán công ty
XYZ (xin báo giá) thì có thể được trả lời là "60 đến 60 1/2" có nghĩa là giá
đặt mua (giá cao nhất mà người mua nào cũng muốn chi trả) hiện hành là
$60/ cổ phần và giá đặt bán (giá thấp nhất mà người bán sẵn sàng chấp
nhận) là $60 1/2. Giá này là giá mua bán lố tròn tức là một lố là 100 cổ
phần                              chứng                              khoán.
QUOTATION BOARD: Bảng báo giá. Bảng báo giá điều khiển bằng điện tử
tại công ty môi giới chứng khoán cho biết các bảng giá hiện hành và các dữ
kiện tài chánh khác như cổ tức, khung giá chứng khoán và số lượng mua bán
hiện                                                                   hành
QUOTED COMPANY: Công ty đã được định giá. Công ty cổ phần hay công
ty                đã               được                liệt              kê.
QUOTED PRICE: Giá đã báo. Giá bán và mua sau cùng của chứng khoán
hay hàng hoá đã có

SECOND-PREFERRED STOCK: Chứng khoán ưu đãi hạng nhì. Chứng khoán
ưu đãi dưới mức chứng khoán ưu đãi khác liên quan đến quyền ưu tiên được
cổ tức và tài sản khi thanh lý. Cổ phần ưu đãi hạng nhì thường được phát
hành kèm đặc tính khả hoán hay chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán
warrant để thêm phần hấp dẫn nhà đầu tư. Xem : Junior Security, Preferred
Stock,      Prior-      Preferred      Stock,     Subscription      Warrant.
SECOND ROUND: Vòng nhì. Giai đoạn trung gian của tài trợ vốn mạo hiểm
venture capital - vốn đầu tư liều lĩnh tiếp theo sau tiền đầu tư gốc ( seed
money, hay tiền đầu tư ban đầu start - up) và các giai đoạn vòng đầu trước
giai đoạn lưng chừng (mezzanine level), khi công ty đã đến điểm chín mùi để
thành một công ty tiếm quyền (mua đứt một công ty khác bằng tiền vay -
leveraged buyout - mua đứt có đòn bẩy tài chánh) bằng ban quản lý hay
bằng việc cung ứng đầu tiên cổ phần ra công chúng ( IPO ) - Initial Public
Offering.
SECONDARY DISTRIBUTION: Phân phối cấp hai. Bán ra công chúng số
chứng khoán trái phiếu đã phát hành trước đây do các nhà đầu tư lớn thường
là các công ty, tổ chức hay những công ty được sát nhập đang giữ, nó khác
với chứng khoán trái phiếu mới phát hành hay phân phối đầu tiên, lúc này
người bán là công ty phát hành. Giống như cung ứng đầu tiên, việc cung ứng
lần thứ nhì cũng do Ngân Hàng Đầu Tư xử lý, hoặc là một mình hay cùng
nhóm bao tiêu nghĩa là họ mua của người bán với giá thoả thuận sau đó bán
lại số chứng khoán trái phiếu đó, thỉnh thoảng với sự giúp đỡ của nhóm bán,
với giá cung ứng ra công chúng cao hơn để kiếm lợi nhuận chênh lệch gọi là
spread. Bởi vì việc cung ứng phải đăng ký với nhà nước, nên nhà quản lý
nhóm bao tiêu củng cố hay giữ giá thị trường một cách hợp pháp bằng cách
đặt mua ( đấu thầu ) cổ phần trong thị trường tự do (thị trường mở rộng).
Người mua chứng khoán cung ứng theo cách này không phải trả hoa hồng vì
tất        cả        giá        phí       do        người        bán       chịu.
Nếu loại chứng khoán có liên quan này được liệt kê thì bảng tổng hợp sẽ
thông báo việc phát hành suốt ngày mua bán, mặc dù lúc đó việc cung ứng
chưa được thực hiện cho đến khi thị trường đóng cửa. Trong lịch sử phân
phối lần thứ hai cấp độ thật lớn có trường hợp cung ứng của Ford Foundation
về chứng khoán công ty Ford Motor năm l956( khoảng $658 triệu ) do 7
công ty xử lý theo thoả hiệp liên kết quản lý và số bán cổ phần của Howard
Hughes ($566 triệu) thông qua Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Smith năm
1966. Một hình thức tương tự với phân phối lần thứ 2 được gọi là cung ứng
đặc biệt (special offering), nó giới hạn số thành viên của NYSE và hoàn tất
trong ngày mua bán. Xem: Exchange Distribution, Registered Secondary
Offering, Securities and Exchange Commission Rules 144 and 237.
SECONDARY EXCHANGE MARKET(SEM) : Thị trường hối đoái cấp hai(thứ
cấp). Thị trường không chính thức của hối đoái trong quốc gia có hệ thống tỷ
giá hối đoái kép (dual - exchange - rate system). SEM là thị trường hợp pháp
nhưng có tỷ giá dành cho loại giao dịch không được ưu tiên, không thuận lợi
bằng tỷ giá hối đoái chính thức dành cho các giao dịch mua bán được ưu đãi.
Trong quốc gia đang phát triển tiền của công nhân từ nước ngoài gởi về
thường         thường        được        chuyển         đổi     theo      SEM.
SECONDARY LIABILITY: Nợ thứ cấp( cấp hai). Nợ hợp pháp phụ thuộc, thí
dụ nợ của người bối thự khi hối phiếu không được chi trả hay khi người viết
hối    phiếu     không     trả    được     nợ.    Xem     Contingent   Liability.
SECONDARY              MARKET:            Thị        trường        Cấp         II.
l. Thị trường chứng khoán và thị trường ngoài danh mục nơi chứng khoán
được mua và bán tiếp theo sau lần phát hành đầu tiên(phát hành gốc) tức là
lần thực hiện ở Thị Trường Cấp I. Số tiền thu được ở Thị Trường cấp II thuộc
về người mua bán và nhà đầu tư chứ không thuộc về công ty đầu ty đầu tiên
phát           hành           chứng            khoán         trái        phiếu.
2.Thị trường nơi mua bán các công cụ thị trường tiền tệ ngắn hạn giữa các
nhà                                     đầu                                   tư.
SECONDARY MORTGAGE MARKET: Thị Trường Thế Chấp Cấp II. Mua bán,
trao đổi số tiền vay có thế chấp đang hiện hành và chứng khoán trái phiếu
có thế chấp bảo đảm. Như thế người cho vay gốc (đầu tiên) có thể bán số
cho vay trong danh mục đầu tư của mình để có tiền mặt cho vay thêm. Tiền
vay có thế chấp của người cho vay được cơ quan nhà nước (ở Hoa Kỳ như
Federal Home Loan Morgage Corporation và Federal National Mortgage
Association) và các ngân hàng đầu tư mua. Các cơ quan và ngân hàng này
đến lượt họ lập ra một thế chấp chung để gói gọn thành chứng khoán có thế
chấp bảo đảm sau đó bán cho nhà đầu tư, nó được gọi là Chứng khoán qua
trung gian bảo đảm (Pass- Through Securities hay Chứng Chỉ Dự Phần
(Partcipation certificates). Vì thế Thị Trường Thế Chấp Cấp II bao gồm tất cả
các hoạt động bên ngoài Thị Trường Cấp I, nó đứng giữa người mua nhà và
người         cho        vay        có      thế        chấp       đầu      tiên.
SECONDARY OFFERING: Cung ứng cấp hai. Xem Secondary Distribution.
SECONDARY RESERVES: Số dự trữ cấp hai( thứ yếu). Tài sản đầu tư trong
trái phiếu ngắn hạn dễ mua bán thường là công phiếu ngắn hạn hay trái
phiếu nhà nước ngắn hạn. Số dự trữ theo luật định trong ngân hàng nhà
nước không sinh lợi, nhưng số dự trữ cấp hai là nguồn bổ sung để thanh
toán (dễ, chuyển ra tiền mặt). Tiền lãi của dự trữ này có thể dùng để điều
chỉnh vị thế dự trữ của ngân hàng. Nếu số cầu tiền vay thấp, ngân quỹ ký
thác thường được đầu tư vào trái phiếu ngắn hạn và dễ đổi ra tiền mặt. Số
dự trữ cấp hai không được liệt kê thành hạng mục trong bàn cân đối tài
khoản                                  riêng                               lẻ.
SECONDARY STOCKS: Chứng khoán cấp II. Dùng theo cách thông thường
để chỉ chứng khoán có số tư bản hoá thị trường nhỏ (market capitalization),
chất lượng kém, có nhiều rủi ro hơn chứng khoán cấp cao (blue chip) theo
chỉ số Dow Jones. Chứng khoán cấp II thường có hoạt động khác hơn chứng
khoán cấp cao, nó được theo dõi bằng chỉ số trị giá thị trường Amex (Amex
Market Value Index), chỉ số tổng hợp NASDAQ, các chỉ số được sử dụng rộng
rãi như S&P. Chứng khoán cấp II còn được gọi là second - tier stocks (chứng
khoán                 lớp                thứ             hai)                .
SECTOR: Khu vực (chứng khoán ) chuyên ngành. Một nhóm cá biệt chứng
khoán làm nền tảng cho một ngành. Nhà phân tích chứng khoán thường
theo dõi một khu vực cá biệt trong thị trường chứng khoán như chứng khoán
ngành            hàng           không           hay        hoá          chất.
SECTOR FUND: Quỹ đầu tư theo khu vực chuyên ngành. Quỹ hỗ tương đầu
tư         chuyên         đầu         tư         vào      một         ngành.
SECULAR : Dài hạn thông thường. Dài hạn (10-50 năm hay lâu hơn), khác
với     khung      thời    gian    theo      vụ     mùa   hay     chu     kỳ.
SECURED BOND: Trái phiếu có bảo đảm. Trái phiếu được bảo đảm bằng thế
chấp tài sản, công cụ nợ hay quyền giữ thế chấp. Tính chất xác thực của
chứng khoán phải được nói rõ trong giao kèo. Trái phiếu có bảo đảm khác
với trái phiếu không bảo đảm gọi là giấy nợ (debenture - giấy chứng nhận
nợ)                                                                          .
SECURED CREDIT: Tín dụng được bảo đảm. Xem Secured Loan.
SECURED CREDIT CARD: Thẻ tín dụng được bảo đảm. Thẻ tín dụng ngân
hàng được bảo đảm bằng tài khoản tiết kiệm. Nhà phát hành sẽ giữ thẻ tín
dụng tương đương với mức tín dụng của người có thẻ và được quyền dùng
tài khoản ký thác để trả hoá đơn tính tiền thẻ tín dụng nếu người có thẻ
không thể chi trả. Thẻ tín dụng có bảo đảm chỉ được phát hành cho những
người có khả năng chi trả dựa trên quá trình tín dụng của ông ta không có gì
trục                                                                    trặc.
SECURED CREDITOR: Chủ nợ được bảo đảm. Một bên có giữ thế chấp hay
có quyền đòi chi trả trên tài sản. Người cho vay có thế chấp được giữ một
quyền lợi an toàn trong thế chấp nơi cư trú của người vay. Ngân hàng nào có
quyền lợi an toàn trong tài sản của người vay được xem là chủ nợ được bảo
đảm                                                                          .
SECURED DEBT: Nợ có bảo đảm. Nợ được bảo đảm bằng thế chấp tài sản
hay      vật    thế     chấp.     Xem      :    Assign,  Hypothecation       .
SECURED LOAN: Tiền cho vay được bảo đảm. Tiền cho vay được bảo đảm
bằng việc chuyển nhượng quyền giữ tài sản và một quyền lợi an toàn trong
tài sản cá nhân hay tài sản thực. Người vay có thế chấp giao cho người cho
vay một thế chấp trong tài sản đã được tài trợ. Tiền cho vay kinh doanh có
thể được bảo đảm bằng tiền mặt, hàng kho. Tài khoản thu, trái phiếu dễ
mua bán, và các thế chấp có thể chấp nhận. Trong trường hợp người vay
không thể chi trả theo các điều khoản tín dụng ban đầu, người cho vay có
thể được quyền hợp pháp đòi chi trả và bán thế chấp. Ngược lại với tiền vay
không bảo đảm, nó chỉ được bảo đảm bằng lời hứa chi trả bằng giấy hứa trả
nợ. Xem : Asset- Based Lendir. ,Finacing Statement, Security Agreement,
Side                                                                Collateral.
SECURITIES ANALYST: Nhà phân tích chứng khoán. Cá nhân thường do
công ty môi giới, ngân hàng hay tổ chức đầu tư thuê mướn, người này thực
hiện nghiên cứu đầu tư và khảo sát điều kiện tài chánh của công ty hay một
nhóm công ty trong một ngành và khảo sát bối cảnh các thị trường chứng
khoán. Nhiều nhà phân tích chuyên về một ngành độc nhất hay một khu vực
và đề xuất mua, bán, giữ lại đầu tư trong lãnh vực đó. Trong số các biểu thị
tài chánh của công ty, các nhà phân tích theo dõi chặt chẽ doanh số và phát
triển lợi nhuận, cơ cấu vốn, khuynh hướng của chứng khoán, tỷ lệ P/E
(giá/lợi nhuận), số chi trả cổ tức, lợi nhuận từ đầu tư vốn. Nhà phân tích
chứng khoán đẩy mạnh việc phổ biến tài chánh công ty bằng các cuộc hội
thảo có hỗ trợ thông qua các hiệp hội địa phương. Xem Forcasting,
Fundamental                                                          Analysis.
SECURITIES            LOAN:        Cho         vay      chứng          khoán.
1. Broker cho một người khác vay chứng khoán thường là để trang trải ( bảo
kê ) bán khống (short sale - bán chứng khoán vay mượn) của khách hàng.
Broker cho vay được bảo đảm bằng tiền thu được do việc bán chứng khoán
đó.
2. Theo ý nghĩa tổng quát, tiền cho vay được thế chấp bằng số chứng khoán
có tính thị trường (dễ mua bán) số vay này bao gồm số tiền khách hàng vay
của Broker- Dealers để mua hay giữ chứng khoán. Số tiền vay phải theo luật
lệ của nhà nước về tài khoản Margin (tài khoản vay tiền để mua chứng
khoán), cũng như số tiền cho vay của ngân hàng và của người cho vay khác
phải theo luật nhà nước. Số tiền do ngân hàng cho Brokers vay để bảo kê vị
trí khách hàng cũng được thế chấp bằng chứng khoán nhưng số tiền vay như
thế được gọi là tiền vay của Broker hay tiền vay theo lệnh gọi (call loans).
Xem                              :                            Hypothecation,
SECURITlZATION: Trái phiếu hoá (chuyển ra trái phiếu). Chuyển đổi tiền
cho vay ngân hàng và tài sản khác ra trái phiếu dễ mua bán để bán cho nhà
đầu tư. Tổ chức tồn trữ ký thác hay nhà đầu tư ngoài ngân hàng có thể mua
loại trái phiếu này. ở mức độ rộng hơn, tài trợ cho công ty bằng giấy nợ có
lãi suất thả nổi và chứng từ nợ thương mại Châu Âu thay thế tiền vay của
ngân hàng như là phương tiện cho vay, là một hình thức trái phiếu hóa.
Bằng cách hàng phiếu hoá tiền cho vay ngân hàng và tài khoản thu tín dụng,
tổ chức tài chánh thay thế tài sản ngân hàng trong bảng cân đối tài khoản
nếu hội đủ một số điều kiện nào đó - làm tăng tỷ lệ vốn và lập ra tiền cho
vay mới bằng số tiền thu được do bán trái phiếu cho nhà đầu tư. Tiến trình
này nối kết có hiệu quả thị trường tín dụng (thị trường thế chấp trong đó
người cho vay lập ra tiền cho vay mới) và thị trường vốn bởi vì tài khoản thu
của ngân hàng gom lại thành trái phiếu được bảo đảm bằng tập hợp các thế
chấp, tiền vay mua ô tô, tài khoản thu của thẻ tín dụng, cho thuê, và các
loại nợ tín dụng khác khi ngân hàng mong nhà đầu tư với tư cách người giữ
nợ sau cùng thì ngân hàng có khuynh hướng nghiêng về hoạt động với tư
cách người bán tài sản hơn hơn là người cho vay theo danh mục đầu tư
(nghĩa là tất cả tiền cho vay của họ đều nằm trong danh mục đầu tư của
riêng họ). Trái phiếu hoá (chứng khoán hoá) cũng định nghĩa lại ý nghĩa chất
lượng tài sản về phương diện ngân hàng, tiêu chuẩn bảo kê tiền vay vì người
cho vay sẽ xem chất lượng tiền cho vay trong ý nghĩa khả năng dễ mua bán
của nó trong thị trường vốn chứ không phải theo khả năng có thể chi trả lại
của người vay. Với mục đích báo cáo theo luật định, tiền cho vay được
chuyển sang một loại trái phiếu và được bán như trái phiếu có tài sản bảo
đảm thì có đủ tiêu chuẩn để xem đó là thương vụ bán tài sản. Người bán
không còn chịu rủi ro thua lỗ từ số tài sản đã chuyển đổi và không phải chịu
trách nhiệm với người mua vì người vay bị vỡ nợ hay có sự thay đổi trị giá
thị trường của trái phiếu đã bán. Sự chuyển đổi tài sản trong đó người mua
có nguồn hỗ trợ (recourse) dựa vào tổ chức bên bán thì được xem là số vay
mượn        hay      tài    trợ      được      tài    sản      bảo     đảm.
SECURITY: Bảo đảm thế chấp - Chứng khoán (cổ phần thường, ưu đãi, trái
phiếu). Tài Chánh : vật thế chấp do người nợ giao cho người cho vay để đảm
bảo số nợ, nó được gọi là thế chấp bảo đảm Collateral Security. Thí dụ, vật
bảo đảm cho số tiền vay có thế chấp là bất động sản đang được mua bằng
số tiền vay. Nếu không trả được nợ, người cho vay có thể giữ bất động sản
bảo đảm đó và bán đi. Cá nhân bảo đảm (personal security) ám chỉ một
người hay một công ty bảo đảm cho số nợ cam kết đầu tiên của một người
khác. Đầu tư : công cụ cho biết có một vị thế sở hữu trong công ty (chứng
khoán ), một chủ nợ có liên hệ với một công ty hay một bộ phận nhà nước
(trái phiếu ), hay có quyền về sở hữu trong các công cụ tiêu biểu bằng hợp
đồng option, quyền đăng ký mua, chứng chỉ đặc quyền đăng ký mua.
SECURITY AGREEMENT: Thoả thuận về sự an toàn. Chứng từ cho người
cho vay có một quyền lợi an toàn trên số tài sản được thế chấp. Thoả thuận
này do người vay ký, nó cho biết đầy đủ chi tiết về tài sản thế chấp và địa
điểm để người cho vay có thể nhận diện nó và người vay ký chuyển nhượng
cho người cho vay quyền được bán hay phát mãi tài sản thế chấp nếu người
vay không thể trả nợ. Thoả thuận an toàn có thể bao gồm giao kèo cho vay
để điều hành việc ứng trước ngân quỹ và có một thời biểu chi trả lại vốn và
lãi hoặc yêu cầu người vay phải bảo hiểm tài sản thế chấp. Thỏa thuận an
toàn có thể bao gồm quyền giữ thế chấp nhưng không sở hữu đối với tài sản
vô hình như khoản thu của tài khoản hay quyền giữ thế chấp có quyền sở
hữu (possessory lien ) trong đó người cho vay giữ tài sản thế chấp thí dụ
như chứng chỉ chứng khoán cho đến khi tiền cho vay được trả đầy đủ. Trong
vài loại tiền vay, thoả thuận an toàn cũng là hồ sơ tài trợ để nạp cho cơ
quan có thẩm quyền nếu như có chữ ký của hai bên, người vay và người cho
vay.
SECURITY INTEREST: Quyền lợi an toàn. Quyền đòi chi trả đối với tài sản
được người vay thế chấp để bảo đảm cho số chi trả món nợ. Quyền lợi của
người cho vay được gọi là quyền giữ thế chấp, nó gắn liền với tài sản của
người vay và bao gồm 2 quyền : quyền tịch biên và quyền ưu tiên hàng đầu.
Người cho vay đệ trình hồ sơ tài trợ, thường giống như chứng từ thoả thuận
an toàn sẽ được cơ quan thẩm quyền thông báo cho các chủ nợ khác biết.
Tiến trình này được gọi là hoàn thiện quyền giữ thế chấp, thông thường được
thực hiện trong loại tiền vay thương mại có quyền giữ thế chấp nghĩa là có
quyền hợp lệ hơn các chủ nợ khác và hơn bên thứ ba. Xem Perfected Lien .
SECURITY MARKET LINE: Giới tuyến an toàn thị trường. Mối liên hệ giữa
tỷ lệ lợi nhuận theo quy định trong đầu tư và các rủi ro thông thường của
chứng     khoán    cùng   loại   (systematic   risk   trong   đầu    tư    đó.
SECURITY RATINGS: Đánh giá chứng khoán. Ước tính về rủi ro tín dụng và
đầu tư của việc phát hành chứng khoán do các cơ quan ước tính thương mại
thực                                                                     hiện.
SEED MONEY: Tiền gốc. Số đóng góp đầu tiên của nhà tư bản mạo hiểm
vào số tài chánh hay vốn theo yêu cầu để bắt đầu kinh doanh (start -up
business). Số tiền này thường dưới hình thức vay nhưng thường được xem là
không quan trọng hay dưới hình thức đầu tư bằng trái phiếu khả hoán hay
chứng khoán ưu đãi. Số tiền gốc làm căn bản cho việc tư bản hoá thêm (đầu
tư thêm vốn) nhằm điều chỉnh sự phát triển được ăn khớp. Xem : Mezzanine
Level,
SEEK A MARKET: Tìm kiếm thị trường. Tìm người mua (nếu là người bán)
hay     tìm    người   bán     chứng    khoán    (nếu    là   người     mua).
SEGMENTATION: Sự phân thành từng mảng. Phân chia tập hợp thế chấp
thành các nhóm có lãi suất và các đặc tính chi trả giống nhau như cam kết
nợ có thế chấp được bảo đảm, tiền cho vay của ngân hàng được trái phiếu
hoá hay tài sản ngân hàng được chuyển thành trái phiếu dễ mua bán để bán
trên thị trường cấp hai. Điều này làm nâng cao trị giá trái phiếu đối với nhà
đầu tư khi trái phiếu được bán để nhà đầu tư có nhiều cơ hội lựa chọn hơn
loại   chứng     chỉ  qua   trung    gian   bảo    đảm     bằng   thế    chấp
SELLING, GENERAL, AND ADMINISTRATIVE (SG&A) EXPENSES: Chi
phí bán, tổng quát và quản lý. Nhóm chi phí báo cáo trong bản báo cáo lời lỗ
của công ty giữa giá phí hàng bán (cost of goods sold) và khấu trừ lợi tức
(income deduction). Chi phí này bao gồm các mục như : lương và hoa hồng
cho nhân viên bán hàng, quảng cáo và cổ động, du lịch và giải trí, lương và
chi phí khối văn phòng, lương ban điều hành . Chi phí SG&A không bao gồm
các mục như tiền lãi hay khấu trừ dần tài sản vô hình, những phần này được
liệt kê trong phần khấu trừ lợi tức. Xem Operating Profit (or Loss).
SELLING GROUP: Nhóm bán. Nhóm người mua bán (dealers) do viên chức
quản lý (giám đốc) nhóm bao tiêu chỉ định, hoạt động như một bộ phận hay
nhân viên làm việc cho các nhà bao tiêu khác để bán chứng khoán mới phát
hành hay phát hành lần thứ hai ra công chúng. Nhóm bán thông thường bao
gồm các thành viên của nhóm bao tiêu nhưng khác nhau về tầm vóc số
người và mức độ phát hành, đôi khi nhóm bán bao gồm hàng trăm Dealers .
Nhóm bán làm việc theo chỉ đạo của thoả thuận nhóm bán còn gọi là thoả
thuận của Dealer được chọn lựa (selected dealer agreement. Thoả thuận
công bố các mục và mối quan hệ, thiết lập hoa hồng thường gọi là hoa hồng
cho nhóm bán - selling concession - giảm giá bán cho nhóm bán và thời hạn
hoạt động của nhóm, thường là 30 ngày. Nhóm bán có thể hay không thể bị
buộc        phải     mua        cổ      phần      không       bán       được.
SELLING OFF: Bán tống bán tháo. Bán chứng khoán hay hàng hoá vì áp lực
phải tránh giá càng giảm xuống nữa. Nhà phân tích kỹ thuật gọi đó là sell-off
bán          tống       bán        tháo       .         Xem        Dumping.
SELLING ON THE GOOD NEWS: Bán theo thời điểm có tin tốt. Bán chứng
khoán ngay sau khi có thông báo tin tức lạc quan về việc phát triển. Hầu hết
các nhà đầu tư vui mừng vì có tin sản phẩm mới được thành công hay có lợi
nhuận cao, họ sẽ mua chứng khoán vì nghĩ rằng nó sẽ lên cao hơn, do đó
làm cho giá chứng khoán tăng. Một vài người nào đó bán chứng khoán theo
thời điểm có tin tốt tin tưởng rằng chứng khoán sẽ lên đến giá tột đỉnh khi
người ta được khích lệ vì kinh tế phát triển nên sẵn sàng mua chứng khoán.
Do đó, tốt hơn hết là bán ngay vào thời điểm này hơn là chờ có thêm tin tốt
hay giữ chứng khoán, vì có thể thông báo kế tiếp sẽ là thông báo đầy thất
vọng. So sánh với Buying On The Bad News (mua theo thời điểm có tin xấu).
SELLING SHORT: Bán khống. Bán hợp đồng futures chứng khoán hay hàng
hoá mà bản thân người bán không có chứng khoán, hàng hoá. Kỹ thuật này
dùng để: 1. Kiếm lợi nhuận khi đoán giá sẽ hạ. 2. Bảo vệ lợi nhuận trong vị
thế mua xem (Selling Short Against The Box). Nhà đầu tư mượn chứng chỉ
chứng khoán để giao vào thời điểm bán khống. Nếu sau đó người bán có thể
mua loại chứng khoán đó với giá thấp hơn thì người bán được lợi nhuận, tuy
nhiên nếu giá tăng người bán sẽ lỗ. Hàng hoá được bán khống có nghĩa là
người bán hứa sẽ giao hàng hoá theo giá đã ấn định vào một thời điểm trong
tương lai. Hầu hết hàng hoá bán khống đều có bảo kê trước khi giao. Thí dụ
về việc bán khống chứng khoán: Nhà đầu tư tiên đoán giá cổ phần công ty
XYZ sẽ giảm, ông ta chỉ thị cho broker của ông ta bán khống 100 cổ phần
XYZ khi đang có giá $50/cổ phần. Sau đó broker cho nhà đầu tư vay 100 cổ
phần XYZ bằng số chứng khoán tồn kho của riêng ông ta hoặc cổ phần trong
tài khoản Margin của chủ hàng khác hoặc cổ phần mượn của broker khác.
Các cổ phần này dùng để thanh lý với broker mua trong vòng 5 ngày của
giao dịch bán khống, và tiền thu được sẽ đảm bảo cho số tiền vay. Bây giờ
nhà đầu tư ở vào vị thế gọi là vị thế bán (short position) nghĩa là nhà đầu tư
vẫn không sở hữu 100 cổ phần XYZ và lúc nào đó phải mua cổ phần trả lại
cho broker đã cho mượn. Nếu giá thị trường cổ phần XYZ rớt xuống còn
$40/cổ phần, nhà đầu tư có thể mua 100 cổ phần với giá $4.000 trả lại cho
broker đã cho mượn như thế đã trang trải được việc bán và được lợi nhuận
$1.000 hay $10/cổ phần. ở Hoa Kỳ, luật T của Federal Reserve Board quy
định luật lệ về việc bán khống. Xem : Lending at a Rate, Short Sale Rule.
SELLING SHORT AGAINST THE BOX: Bán khống dựa trên hộp an toàn.
Bán khống ,chứng khoán mà người bán thực sự có chứng khoán nhưng được
giữ trong hầm an toàn (safe keeping) gọi là Box trong hầm của Phố Wall .
SETTLEMENT DATE: Thời điểm thanh lý. Thời điểm lệnh thực hiện phải
được thanh lý hoặc là người mua chi trả chứng khoán bằng tiền mặt, hoặc là
người bán giao chứng khoán và nhận tiền bán chứng khoán này. Trong cách
cung ứng thông thường chứng khoán và trái phiếu, thời điểm thanh lý là 5
ngày hành chánh sau khi việc mua bán đã được thực hiện . Đối với hợp đồng
option có liệt kê và chứng khoán nhà nước, việc thanh lý được quy định là
ngày     hành     chánh     kế     tiếp.     Xem   :    Seller's    Option    .
SETTLEMENT           OPTION          :       Lựa     chọn        thanh      lý.
1. Thị trường hối đoái: hợp đồng trong đó người bán có lựa chọn để thanh lý
một hợp đồng tương lai (forward contract vào bất cứ thời điểm nào trong
một          khoảng          thời          gian       ấn          định        .
2. Chứng khoán, trái phiếu : sự lựa chọn của người bán nhằm cung cấp trái
phiếu, chứng khoán vào bất cứ lúc nào từ 5 ngày sau thời điểm giao dịch
(theo cách thanh lý thông thường của công ty đến trễ nhất là 60 ngày sau
thời               điểm                  giao              dịch               .
SETTLEMENT PRICE: Giá thanh toán. Trong hợp đồng futures, con số được
xác định bằng khung giá kết thúc và được dùng để tính lời, lỗ mua bán . Giá
thanh toán dùng để xác định lời lỗ lệnh gọi margin (lệnh yêu cầu đóng thêm
tiền vào tài khoản vay tiền để mua chứng khoán, giá hoá đơn hàng hoá cung
ứng. Ngoài ra, đây là giá một công cụ tài chánh làm cơ sở cho hợp đồng
option khi hợp đồng được thi hành giá điểm, giá thực thi.
SETTLOR : Người tặng, uỷ thác. Người lập ra uỷ thác giữa những người còn
sống (Inter Vivos Trust) khác với uỷ thác theo di chúc (testamentary Trust -
uỷ thác chỉ có hiệu lực khi người uỷ thác mất). Người biếu tặng (người uỷ
thác)       còn      được       gọi      là      Donor,       G      rantor,
SEVERALLY BUT NOT JOINTLY: Riêng rẽ, không liên đới, phần nào ra
phần đó. Hình thức thoả thuận dùng để thiết lập trách nhiệm về việc bán
một phần chứng khoán được bao tiêu . Thàn h viên nhóm bao tiêu đồng ý
mua một phần chứng khoán phát hành (riêng ra) nhưng không đồng ý chịu
trách nhiệm pháp lý chung (jointly) đối với các cổ phần không được các
thành viên khác của nhóm bao tiêu bán. Một hình thức ít thông dụng hơn về
thoả thuận bao tiêu được gọi là thoả hiệp riêng rẽ và chịu trách nhiệm
chung, thành viên nhóm bao tiêu không những đồng ý bán số cổ phần đã
phân bổ, cho họ mà còn chịu trách nhiệm về số cổ phần không được số
thành viên còn lại bán


Kiến thức chứng khoán
Phân loại           Từ điển chứng khoán

Chủ đề             T
T CALL: Lệnh gọi đóng thêm tiền hay chứng khoán. Xem Margin Call.
TAIL:       Khoảng      cách     thời     gian,     chênh       lệch,     đuôi.
Bảo hiểm: thời khoảng giữa lúc nhận lợi tức phí bảo hiểm và chi trả theo
quyền đòi chi trả. Thí dụ, công ty tái bảo hiểm có thời khoảng từ lúc nhận
phí bảo hiểm đến lúc phải trả bảo hiểm (tail) dài hơn khi so sánh với công ty
bảo                      hiểm                     tai                     nạn.
Đấu giá trái phiếu kho bạc : chênh lệch giá giữa giá đặt mua có cạnh tranh
thấp nhất (lowest competitive bid) được công khố Hoa Kỳ chấp nhận đối với
trái phiếu kho bạc ngắn, trung và dài hạn với giá đặt mua trung bình của tất
cả công phiếu cung ứng, để mua các công phiếu như thế. Xem Treasuries.
Bao tiêu: số thập phân đặt phía sau số tròn dollar của giá đặt mua do một
nhà bao tiêu tương lai trong đấu thầu có cạnh tranh đặt bao tiêu. Thí dụ,
trong giá đặt mua là $97,3347 của một loại trái phiếu phát hành nào đó, thì
số           đuôi           thập          phân             là          0,3347.
TAILGATING:            Đi        cửa        hậu          -        Ăn        có.
Một hoạt động không đạo đức của một broker, sau khi khách hàng đã đặt
lệnh mua hay bán một chứng khoán nào đó thì broker cũng đặt một lệnh
cùng một loại chứng khoán như thế cho tài khoản của riêng mình. Broker hy
vọng kiếm được lợi nhuận hoặc là nhờ các thông tin mà khách hàng đã biết
hay đoán biết, hoặc là nhờ việc mua của khách hàng với số lượng đủ để tạo
áp           lực           trên         giá            chứng            khoán.
TAKE: Lợi nhuận, tiền xổ số, tiền hối lộ, tịch thu, chấp nhận.
Tổng                                                                     quát:
1. Lợi nhuận hiện thực (nhận được) trong một vụ giao dịch.
2.    Tổng    số   thu     của   công    ty    xổ     số    hay    đánh    bài.
3. Bắt đầu hối lộ, như trong câu "đang hối lộ" (being on the take).
Luật pháp: tịch thu tài sản. Khi con nợ không thể trả nợ có thế chấp bảo
đảm     thì   người    cho   vay    sẽ    tịch    thu    vật    thế    chấp    này.
Chứng khoán: chấp nhận giá cung ứng trong một vụ giao dịch giữa brokers
và       dealers      (người      mua        bán       cho       chính      mình).
TAKE        A      BATH:        Đi      tắm         -      Thua       sạch      sẽ.
Chịu thua lỗ nặng trong một vụ đầu cơ hay đầu tư như trong câu "tôi đã
thua     sạch    sẽ     số   chứng     khoán       công     ty     XYZ    stock...).
TAKE A FLIER: Đầu cơ, có tham vọng kiếm lời, mạo hiểm.
Đầu cơ, có nghĩa là mua chứng khoán với ý thức là vụ đầu tư này có rất
nhiều                                    rủi                                    ro.
TAKE          A         POSITION:            Giữa         một         vị       thế.
1. Mua chứng khoán trong công ty với ý định giữ một thời gian dài hoặc nếu
có thể chiếm quyền kiểm soát công ty. Một người thụ đắc chiếm vị thế có từ
5% trở lên số chứng khoán đang lưu hành của công ty phải trình bản thông
tin đến nhà nước cũng như việc mua bán với công ty bị tiếp quản đó.
2. Từ ngữ được sử dụng khi broker/dealer lưu giữ chứng khoán, trái phiếu
trong kho, vì thế họ có thể ở vị thế mua hay bán (long or short). Xem Long
Position                             Short                                Position.
TAKE               DELIVERY:                 Nhận               số            giao.
1. Kết thúc một giao dịch chứng khoán vào thời điểm thanh toán. Người mua
nhận phần giao theo cách thanh toán thông thường, nghĩa là trong vòng 5
ngày        theo       thời      điểm        giao        dịch       mua        bán.
2. Hành động thanh lý một giao dịch mua bán hợp đồng Futures bằng cách
nhận số hàng hoá cơ sở. Nhà mua bán ít khi thanh lý hợp đồng Futures, thay
vào      đó     họ      bán    hợp      đồng        trước      khi    đáo      hạn.
TAKE- OR- PAY CONTRACT: Hợp đồng nhận trực tiếp hay trả lại.
Thoả thuận giữa người mua và người bán cam kết rằng người mua trả một
số tiền tối thiểu để mua sản phẩm hay dịch vụ chưa được giao.
Loại hợp đồng này thường được sử dụng trong ngành tiện ích công cộng để
hỗ trợ trái phiếu tài trợ cho các nhà máy điện mới. Hợp đồng này có điều
kiện là người mua điện sau này sẽ nhận lượng điện từ nhà phát hành trái
phiếu, nếu công trình không hoàn tất sẽ trả lại cho trái chủ số tiền họ đã đầu
tư. Hợp đồng nhận hay trả là cách thông thường nhất để bảo vệ trái chủ.
TAKE-OUT COMMITMENT: Cam kết mua rút ra trong tương lai (mua tiền
vay                                  ngắn                                     hạn).
Thoả thuận giữa ngân hàng thế chấp và nhà đầu tư dài hạn, theo đó nhà
đầu tư đồng ý mua tiền vay có thế chấp vào thời điểm ấn định trong tương
lai. Nhà đầu tư được gọi là take-out lender, tiêu biểu như công ty bảo hiểm
hay                tổ               chức                  tài               chánh.
Xem           :         Take-out         Lender,            Take-out         Loan.
TAKE-OUT LENDER: Người cho vay dài hạn mua tiền vay ngắn hạn có thế
chấp.
Tổ chức tài chánh cung cấp tiền cho vay có thế chấp dài hạn dựa trên tài sản
thực, dùng để thay thế số tài trợ chuyển tiếp ngắn hạn, hoặc tiền cho vay
xây dựng của đơn vị tiết kiệm và cho vay, ngân hàng hay ngân hàng thế
chấp.
Tổ chức cấp tiền cho vay dài hạn hay tài trợ thường xuyên thường là công ty
bảo hiểm hay nhà đầu tư thuộc tổ chức sẵn sàng đầu tư dài hạn trong tài
sản sinh lợi hiện thực bằng số tư bản kiếm được từ số bán cuối cùng của tài
sản, ngoài ra còn có lượng tiền mặt từ số tiền chi trả thuê mướn của người
thuê                                        tài                                       sản.
TAKE      OUT      LOAN:       Tiền     cho      vay     dài    hạn     lấy    lần    lần.
Tài trợ dài hạn thường được hoạch định như tiền vay có thế chấp chi trả dần
dần và cố định cho dự án xây dựng nhà cửa, phát triển văn phòng hoặc là
được kết hợp sử dụng tài sản có sinh lãi. Hình thức mới gần đây là tiền vay
có thế chấp lãi 0, trong đó tiền lãi được trả ngay một kỳ hay được trả dồn
một         lần        (balloon           payment)            khi        đáo         hạn.
TAKE         THE       OFFER:           Chấp         nhận         giá       đặt      bán.
Cách diễn tả người mua sẵn sàng chấp nhận giá đặt bán của người bán đang
báo giá ngược lại với Hit the Bid (chấp nhận giá đặt mua).
TAKEDOWN:           Phần       chia,      giá      có     hạ      (có      khấu      trừ).
1. Phần chia chứng khoán theo tỷ lệ cho ngân hàng đầu tư có dự phần khi
phát hành lần đầu tiên hay lần thứ hai các chứng khoán.
2. Giá của chứng khoán được phân bố cho thành viên nhóm bao tiêu, đặc
biệt là trong phát hành trái phiếu đô thị. Xem Underwrite.
TAKEOUT:        Rút     tiền,    thay      thế     ngắn      hạn     bằng     dài    hạn.
Tài chánh bất động sản: tiền vay có thế chấp dài hạn dùng để chi trả cho
tiền vay xây dựng ngắn hạn (Interim loan). Xem Standby Commitment.
Chứng khoán: rút số tiền mặt từ tài khoản công ty môi giới, sau một vụ mùa
hay bán phát sinh ra một số cân đối dư thuần (net credit balance-kết số dư
tín                                   dụng                                        thuần).
TAKEOVER:           Giành        quyền          kiểm       soát,       tiếm        quyền.
Thay đổi quyền kiểm soát lợi tức của một công ty. Việc giành quyền kiểm
soát có thể là một thụ đắc thân thiện hay một đấu thầu không thiện ý (hay
đặt giá mua) một công ty đang là mục tiêu để tiếm quyền (target company)
và có thể phải đối đầu với kỹ thuật chống cá mập (sharp repellent-mùi hôi
chống cá mập). Một hành động tiếm quyền có ác ý (nhằm mục tiêu thay thế
ban điều hành hiện tại) thường được cố thực hiện bằng cách đưa ra giá đệm
(tender offer-đưa ra giá mềm-giá mua cao hơn giá thị trường). Các phương
thức khác có thể là các đề xuất sát nhập tự nguyện các uỷ viên ban quản trị
(directors), gom góp (tích luỹ) dần dần các cổ phần trong thị trường tự do
hay tìm cho được những quyền uỷ nhiệm (proxy rights) để thiết lập một ban
quản                                        trị                                      mới.
TAKEOVER ARBITRAGE: Sách lược song hành tiếm quyền. Xem Risk
Arbitrage.
Taking            delivery            :             Nhận             cung            ứng.
1. Tổng quát: chấp nhận nhận hàng hoá từ phương tiện chuyên chở thông
thường hay phương tiện vận chuyển bằng tàu, thông thường lập chứng từ
bằng cách ký vào vận đơn hay các giấy biên nhận khác.
2. Hàng hoá: chấp nhận cung ứng hàng hoá cụ thể theo hợp đồng futures
(spot market-thị trường trả ngay bằng tiền mặt). Các quy định về giao hàng
(cung ứng) như tầm mức của hợp đồng và số lượng hàng hoá cần thiết, được
thiết    lập     theo      thị    trường         nơi     hàng      hoá      mua      bán.
3. Chứng khoán: chấp nhận nhận chứng chỉ chứng khoán hay trái phiếu mới
mua     gần     đây     hay     mới      chuyển       từ    tài    khoản      khác     tới.
TALON:                   Phần                   chia                còn                lại.
Một hình thức được cổ đông áp dụng cho phiếu lãi (coupon) thuộc người
mang (bearer bond coupons) khi một nguồn cùng đang có lại bị cạn.
TAN: Giấy nợ trả trước thuế. Xem : Tax Anticipation Note.
TANDEM            LOAN:          Tiền        vay          được         bao          cấp.
Chương trình tiền vay có thế chấp được trợ cấp (bao cấp) trong đó nhà nước
mua tiền vay có thế chấp theo giá cao hơn giá thị trường công bằng hợp lý,
và bán lại cho một cơ quan nhà nước. Chương trình nhằm trợ giúp tài chánh
cho nhà xây dựng phát triển của dự án xây dựng chung cư không vì mục
đích kiếm lợi. Nhà nước sẽ trả phần chênh lệch-giữa giá mua và giá bán-sử
dụng việc đánh giá tín dụng để đảm bảo cho phần khấu trừ (chênh lệch) mà
các cơ quan xây dựng chung cư không đủ sức gánh vác và đổi lại họ sẽ chấp
nhận      một    số     thua    lỗ    (nếu     có     trong      giao     dịch     này).
TANGIBLE              ASSET:            Tài           sản           hữu            hình.
Bất cứ tài sản nào không hội đủ điều kiện của định nghĩa tài sản vô hình
(intangible asset) là loại quyền không cụ thể đối với những thứ được xem là
tiêu biểu cho một quyền lợi trên thị trường như nhãn hiệu cầu chứng, bản
quyền. Vì thế tài sản hữu hình rõ ràng là những thứ tồn tại cụ thể như tiền
mặt, bất động sản, máy móc. Tuy nhiên trong kế toán, các tài sản như tài
khoản thu được xem là tài sản hữu hình mặc dù nó không giống tính cách cụ
thể hơn gì môn bài hay hợp đồng cho thuê, cả hai loại này được xem như tài
sản vô hình. Nói tóm lại, nếu một tài sản có một hình thức cụ thể thì nó là
hữu hình nếu không thì phải tham khảo bản danh sách mà các nhà kế toán
đã      quyết       định     cái      nào      là       tài     sản       vô       hình.
TANGIBLE        COST:      Giá     phí    hữu      hình-     Giá     phí     thực     tế.
Từ ngữ dùng trong lãnh vực khoan dầu và gas có nghĩa là giá phí của những
hạng mục có thể sử dụng qua một thời gian như: các túi dầu (casings), các
thiết bị lắp ráp tốt, đất đai, bể chứa, nó khác với giá phí vô hình như khoan
dầu, thử nghiệm và chi phí địa chất. Trong thoả thuận phân chia thành viên
góp vốn trách nhiệm hữu hạn (limited partnership) được mọi người sử dụng
thì giá phí hữu hình do giám đốc thành viên gánh vác còn giá phí vô hình thì
do thành viên chịu, thường thường được thực hiện nhằm mục đích giảm
thuế. Tuy nhiên trong trường hợp giếng dầu cạn, tất cả trở thành giá phí vô
hình.                    Xem                      Intangible                       Cost.
TANGIBLE         NET       WORTH:          Trị      giá      thuần       hữu       hình.
Tổng số tài sản trừ đi tài sản vô hình và tổng số nợ, nó còn được gọi là tài
sản hữu hình thuần (net tangble asset). Tài sản vô hình bao gồm các lợi ích
không cụ thể như danh tiếng, bản quyền, quyền sao chép, và nhãn hiệu cầu
chứng.
TAP STOCK: Trái phiếu viền vàng (cấp cao) dưới mức đăng ký mua.
Trái phiếu này được bán trong thị trường mở rộng, nó có thể ngắn hạn
(short taps) hay dài hạn (long taps). Nó còn được gọi là undersubscripbed
gilts.
TAPE:                Băng               truyền                 thông                 tin.
1. Dịch vụ báo cáo giá cả và mức độ các vụ giao dịch trên các thị trường
chính. Nó còn được gọi là băng truyền thông tổng hợp (composite tape) hay
ticker tape (băng điện báo) (bởi vì âm thanh phát ra khi máy in vào băng
trước             khi            xử             lý              tính              toán).
2. Dịch vụ truyền thông của Dow Jones và mạng điện thoại điện toán khác,
thường             được            gọi           là            Broad               Tape.
Xem                                 Consolidate                                    Tape.
TARGET BALANCE: Số cân đối có mục đích. Số cân đối đạt tiêu chuẩn để
được                        miễn                          lệ                        phí.
Số cân đối mong muốn trong tài khoản ký thác để có đủ các tiêu chuẩn tối
thiểu đạt được lợi nhuận, hay hoa lợi huề vốn (break-even yield). Có nhiều
loại công thức để định giá tài khoản ký thác có khả năng trang trải phí dịch
vụ. Nếu tài khoản chi phiếu được định giá riêng ra khỏi các tài khoản ký thác
khác, thì ngân hàng có thể khẳng định rằng khách hàng nào giữ được số cân
đối tối thiểu trong tài khoản thường xuyên thì có đủ điều kiện để miễn lệ phí
viết chi phiếu. Ngân hàng cũng có thể miễn phí dịch vụ cho khách hàng nào
có số cân đối tài khoản tiết kiệm cao. Thí dụ như chứng chỉ thị trường tiền tệ
ngắn hạn, kết hợp với các tài sản được lưu giữ ký thác, số cân đối bù đắp do
một     công     ty    giữ    có    giá    trị    cao     hơn    mức       ấn  định.
TARGET COMPANY: Công ty mục tiêu của sự tiếp quản.
Công ty được chọn là mục tiêu hấp dẫn để tiếp thu. Người thụ đắc (người
tiếp quản) trong tương lai có thể mua hơn 5% chứng khoán của công ty sẽ
bị tiếp quản mà không thông báo ra công chúng, nhưng họ phải báo cáo tất
cả các vụ giao dịch mua bán và cung cấp các thông tin khác cho nhà nước,
cho thị trường nơi công ty bị tiếp quản có liệt kê, và cho chính công ty mục
tiêu tiếp quản một khi đã thụ đắc hơn 5%. Xem Stockhold Purchase,
Schedule      13D,     Sleeping     Beauty,      Tender     Offer,     William  Act.
TARGET         PRICE:       Giá      để      tiếp      quản;       giá      có   lời.
Tài chánh: giá theo đó nhà tiếp quản (acquirer-người thụ đắc) nhắm vào để
mua một công ty trong hoạt động tiếm quyền (takeover).
Hợp đồng options: giá của chứng khoán cơ sở mà sau đó một hợp đồng
option sẽ trở nên có lợi cho người mua nó. Thí dụ, người nào đó mua một
hợp đồng call option của công ty XYZ, giá điểm $50 (XYZ call 50) với phí
mua option là $200 có thể được giá có lợi (giá đạt được mục tiêu kiếm lời-
target price) là $52, sau giá này người ta có thể bù lại phí mua option
(premium) đã trả cho người bán và hợp đồng call option sẽ có lời khi thực
hiện.
Chứng khoán: giá mà nhà đầu tư hy vọng chứng khoán mà ông ta vừa mới
mua sẽ tăng lên trong một thời khoảng ấn định. Nhà đầu tư có thể mua
chứng khoán công ty XYZ là $20 thì giá có lời (target price) có thể là $40
trong                      vòng                        một                     năm.
TARGET            RATE:           Tỷ          lệ         có         mục        đích.
1. Tỷ lệ do uỷ ban tài sản- nợ của ngân hàng thiết lập, là mục tiêu mong
muốn để tái định giá số ký thác hay tiền cho vay đang đáo hạn.
2. Tỷ lệ lợi nhuận nội tại còn được gọi là tỷ lệ rào cản (hurdle rate- tỷ lệ lợi
nhuận       tối     thiểu)     trong       việc      lập     ngân       quỹ     vốn.
TARIFF:             Quan           thuế            biểu,         thuế          biểu.
1. Thuế nhà nước đánh trên xuất khẩu và nhập khẩu, thường là để tăng
doanh thu (gọi là quan thuế biểu doanh thu- revenue tariff), hay để bảo vệ
các công ty nội địa chống lại sự cạnh tranh nhập khẩu (gọi là hàng rào quan
thuế biểu- protective tariff- quan thuế biểu bảo vệ). Quan thuế biểu cũng có
thể được thiết lập để điều chỉnh lại sự mất cân đối chi trả. Tiền thu được
bằng quan thuế biểu được gọi là duty hay customs duty (thuế hải quan).
2. Biểu thuế hay biểu phí thường dùng cho hàng hoá vận chuyển.
TAX                    ABATEMENT:                        Giảm                  thuế.
Chánh quyền đô thị hay khu vực giảm thuế bất động sản tính theo trị giá (ad
valorem) lý do là vì vùng đó đang ở trong tình trạng đặc biệt như bị thiên tai
hay                  vì                 lý                  do                 khác.
TAX AND LOAN ACCOUNT: Tài khoản thuế và cho vay (ở Hoa Kỳ).
Tài khoản trong tổ chức ký thác khu vực tư nhân, dưới danh nghĩa của ngân
hàng dự trữ liên bang cùng với tư cách là cơ quan tài chánh của Hoa Kỳ,
phục vụ như một kho chứa tiền mặt lưu động sẵn sàng cho ngân khố Hoa
Kỳ. Số thuế lợi tức thu được, số đóng góp của người chủ vào quỹ bảo hiểm
xã hội và số chi trả chứng khoán nhà nước Hoa Kỳ theo thường lệ, đều nhập
vào           tài       khoản         thuế          và        cho        vay.
TAX AND REVENUE ANTICIPATION NOTE (TRAN): Giấy nợ trả trước
thuế và doanh thu. Đây là trái phiếu nợ ngắn hạn của đô thị. Xem Tax
Anticipation                                                            Note.
TAX ANTICIPATION BILL (TAB): Công phiếu ngắn hạn trả thuế trước, dự
phòng thuế. Cam kết nợ ngắn hạn do ngân khố đưa ra trong đấu thầu có
cạnh tranh với khung đáo hạn từ 23 đến 273 ngày. Tiêu biểu thì TAB đáo
hạn trong vòng từ 5 đến 7 ngày sau ngày đáo hạn hàng quý số chi trả thuế
của công ty nhưng các công ty có thể bỏ thầu theo mệnh giá theo thời hạn
cuối cùng của thuế trong việc chi trả thuế mà không làm thiệt thòi quyền lợi
về lợi tức. Sau này, TAB đã được bổ sung bằng công phiếu ngắn hạn quản lý
tiền mặt (cash management bills), đáo hạn từ 30 ngày trở xuống và được
phát hành từng khối có giá trị tối thiểu 10 triệu dollars. Các công cụ này
được định thời điểm trùng khớp với ngày đáo hạn của các trái phiếu đang lưu
hành, cung cấp thêm cho ngân khố khả năng linh động trong việc quản lý
tiền mặt trong khi giúp đỡ một số lớn nhà đầu tư đầu tư an toàn vào các quỹ
đầu                      tư                     tạm                      thời.
TAX ANTICIPATION NOTE (TAN): Giấy nợ dự phòng thuế. Cam kết nợ
ngắn hạn của nhà nước hay chính quyền đô thị nhằm tài trợ cho chi phí tiêu
dùng hiện hành trong khi chờ đợi số tiền thuế sẽ nhận được. TAN sẽ rải đều
lượng tiền mặt và được thu hồi một khi nhận được doanh thu thuế cá nhân
và                                   công                                  ty.
TAX AVOIDANCE: Tránh thuế. Dùng các phương tiện hợp pháp để giảm nợ
thuế. Hoạch định cách đóng thuế hay dùng cách ẩn thuế là những công cụ
tránh     thuế    được    phép.   (Tax    planning     and    Tax  shelters).
TAX             BASIS:          Căn           bản          tính         thuế.
Tài chánh: phí gốc của một tài sản trừ đi khấu hao tích luỹ sau đó sẽ tính lời
hay lỗ để tính thuế. Vì thế một tài sản thụ đắc giá $100.000 được khấu hao
khoảng $40.000 thì sẽ có thuế căn bản dựa trên $60.000 với giả định là
không có một điều chỉnh nào ; số bán tài sản đó được $120.000 thì vẫn chịu
thuế        tư      bản      kiếm      được       dựa       trên    $60.000
Đầu tư: giá theo đó người ta mua chứng khoán hay trái phiếu cộng với hoa
hồng của công ty môi giới. Luật quy định rằng chênh lệch giá (premium) trả
cho     việc    mua   một    công   cụ    đầu    tư    thì  được  trả    dần.
TAX BRACKETTAX AND REVENUE ANTICIPATION NOTE (TRAN): Giấy
nợ trả trước thuế và doanh thu. Đây là trái phiếu nợ ngắn hạn của đô thị.
Xem                    Tax                 Anticipation                 Note.
TAX ANTICIPATION BILL (TAB): Công phiếu ngắn hạn trả thuế trước, dự
phòng thuế. Cam kết nợ ngắn hạn do ngân khố đưa ra trong đấu thầu có
cạnh tranh với khung đáo hạn từ 23 đến 273 ngày. Tiêu biểu thì TAB đáo
hạn trong vòng từ 5 đến 7 ngày sau ngày đáo hạn hàng quý số chi trả thuế
của công ty nhưng các công ty có thể bỏ thầu theo mệnh giá theo thời hạn
cuối cùng của thuế trong việc chi trả thuế mà không làm thiệt thòi quyền lợi
về lợi tức. Sau này, TAB đã được bổ sung bằng công phiếu ngắn hạn quản lý
tiền mặt (cash management bills), đáo hạn từ 30 ngày trở xuống và được
phát hành từng khối có giá trị tối thiểu 10 triệu dollars. Các công cụ này
được định thời điểm trùng khớp với ngày đáo hạn của các trái phiếu đang lưu
hành, cung cấp thêm cho ngân khố khả năng linh động trong việc quản lý
tiền mặt trong khi giúp đỡ một số lớn nhà đầu tư đầu tư an toàn vào các quỹ
đầu                        tư                     tạm                      thời.
TAX ANTICIPATION NOTE (TAN): Giấy nợ dự phòng thuế. Cam kết nợ
ngắn hạn của nhà nước hay chính quyền đô thị nhằm tài trợ cho chi phí tiêu
dùng hiện hành trong khi chờ đợi số tiền thuế sẽ nhận được. TAN sẽ rải đều
lượng tiền mặt và được thu hồi một khi nhận được doanh thu thuế cá nhân
và                                    công                                   ty.
TAX AVOIDANCE: Tránh thuế. Dùng các phương tiện hợp pháp để giảm nợ
thuế. Hoạch định cách đóng thuế hay dùng cách ẩn thuế là những công cụ
tránh     thuế     được    phép.    (Tax   planning     and    Tax    shelters).
TAX              BASIS:          Căn           bản          tính          thuế.
Tài chánh: phí gốc của một tài sản trừ đi khấu hao tích luỹ sau đó sẽ tính lời
hay lỗ để tính thuế. Vì thế một tài sản thụ đắc giá $100.000 được khấu hao
khoảng $40.000 thì sẽ có thuế căn bản dựa trên $60.000 với giả định là
không có một điều chỉnh nào ; số bán tài sản đó được $120.000 thì vẫn chịu
thuế        tư       bản      kiếm       được       dựa      trên      $60.000
Đầu tư: giá theo đó người ta mua chứng khoán hay trái phiếu cộng với hoa
hồng của công ty môi giới. Luật quy định rằng chênh lệch giá (premium) trả
cho     việc    mua     một   công    cụ   đầu    tư    thì  được    trả   dần.
TAX BRACKET: Khung thuế. Điểm trên biểu thuế suất lợi tức nơi lợi tức có
thuế hạ, nó còn được gọi là khung thuế biên tế (marginal tax bracket -
khung thuế tăng theo số tiền kiếm thêm). Nó được tính bằng số phần trăm
áp dụng cho số tiền kiếm thêm vượt ra ngoài số căn bản trong khung thuế
đó. Theo hệ thống thuế tăng dần theo lợi tức (progressive tax), việc tăng lên
của số lợi tức có thuế đưa đến thuế biên tế cao hơn theo hình thức các
khung              thuế           ở           mức           cao            hơn.
TAX CLEARANCE: Khoảng trống của thuế - Khe hở của thuế. ý kiến tư vấn
của cơ quan thuế cho biết một hoạt động hay giao dịch ấn định nào đó sẽ
không        tạo     ra     nợ     thuế     (trách     nhiệm      về     thuế).
TAX CREDIT: Tín dụng thuế. Trực tiếp giảm theo số tiền trong nợ thuế,
khác với khấu trừ thuế là loại giảm thuế chỉ tính theo phần trăm của khung
thuế của người đóng thuế. (Thí dụ, người đóng thuế trong khung thuế 31%
sẽ nhận được 31 xu cho mỗi khấu trừ $1 dollar). Trong trường hợp tín dụng
thuế, người đóng thuế nợ $10.000 tiền thuế sẽ nợ $9.000 nếu như ông ta
được hưởng tín dụng thuế $1.000. Theo một vài điều khoản, những tín dụng
thuế được cấp cho người hồi hưu trên 65 tuổi, thuế lợi tức trả cho nước
ngoài, chi phí chăm sóc trẻ em, phục hồi tài sản lịch sử nổi tiếng, hướng dẫn
nghiên cứu và phát triển, xây dựng nhà cho người có lợi tức thấp, cung cấp
việc làm cho những người không có điều kiện kinh tế (những người kém kinh
tế).
TAX-DEDUCTIBLE INTEREST: Tiền lãi có thể khấu trừ vào thuế.
1. Số chi trả lãi trên tiền vay thế chấp lần thứ nhất, mức tín dụng trên vốn
nhà và tiền vay thế chấp lần thứ hai phụ thuộc vào vốn - giá mua gốc của
người vay cộng với chi phí sửa chữa. Tiền vay vốn được lấy ra để dùng vào y
tế hay học hành không lệ thuộc vào những giới hạn này.
2.       Số       chi     trả      lãi     của      người       tiêu       thụ.
TAX DEFERRED: Thuế được hoãn. Từ ngữ diễn tả một vụ đầu tư có lợi
nhuận tích luỹ (lợi nhuận thu dần dần) được miễn thuế cho đến lúc nào nhà
đầu tư thực hiện cụ thể quyền sở hữu chúng (lấy lợi nhuận ra). Thí dụ, người
có tài khoản hưu trí cá nhân được hoãn chi trả thuế trên số tiền lãi, cổ tức,
tư bản tăng giá, nếu ông ta chờ cho đến sau 59 1/2 tuổi mới nhận số tiền
này. Các loại công cụ đầu tư được hoãn thuế bao gồm : kế hoạch Keogh, trợ
cấp hàng năm, bảo hiểm nhân thọ có thể thay đổi (variable life insurance),
bảo hiểm suốt đời, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ phổ thông, mua chứng
khoán cho công nhân hay kế hoạch tái đầu tư cổ tức và loạt trái phiếu tiết
kiệm           EE         và           HH       của           Hoa           Kỳ.
TAX-DEFERRED ANNUITY: Trợ cấp hàng năm được hoãn thuế. Phương
tiện đầu tư thường được dùng để tạo lợi tức cho người hưu trí, thường được
bán thông qua công ty bảo hiểm, kế hoạch trợ cấp hàng năm chi trả một tỷ
lệ lợi nhuận có đảm bảo và số tiền đầu tư vào kế hoạch này được miễn thuế
nhà nước cho đến khi hưu trí. Kế hoạch trợ cấp hàng năm có thể là loại chi
trả một lần hay nhiều lần và có thể được sắp xếp để trả cho người thừa
hưởng còn sống theo sự chỉ định của người giữ hợp đồng.
TAX-DEFFERED SAVINGS: Số tiết kiệm được hoãn thuế. Kế hoạch tiết
kiệm hay đầu tư cho phép cá nhân để riêng ra một phần lợi tức hiện hành
trong kế hoạch tiết kiệm đã định, và được hoãn chi trả thuế lợi tức trên số
vốn và tiền lãi kiếm được. Tài khoản hưu trí cá nhân (individual retirement
account - IRA) cho phép cá nhân có tổng lợi tức hàng năm là bao nhiêu thì
được để riêng biệt một số lợi tức ấn định hàng năm vào tài khoản tiết kiệm
hay đầu tư và sẽ rút tiền ra vào lúc được 59 1/2 tuổi. Số tiền rút ở tài khoản
sẽ được tính thuế theo thuế suất ban đầu. Xem All Savers Certificate.
TAX EVASION: Trốn thuế. Sử dụng các phương tiện bất hợp pháp để giảm
nợ thuế. Lẩn tránh thuế thường liên quan đến việc không công bố rõ ràng lợi
tức và nộp tờ khai thuế không đúng sự thật. Người trốn thuế sẽ bị phạt hành
chánh                      hay                    hình                      sự.
TAX-FREE ROLLOVER: Số mang sang được miễn thuế. Tái đầu tư tài khoản
tiết kiệm đã được hoãn thuế như tài khoản hưu trí cá nhân (IRA - Individual
Retirement Account). Nhà nước có quy định trong vòng bao nhiêu ngày thì
được tái đầu tư mà không bị phạt. Số nào không tái đầu tư thì phải chịu phạt
theo          tỷ        lệ          nhà        nước          ấn           định.
TAX-EXEMPT MONEY MARKET FUND: Quỹ thị trường tiền tệ ngắn hạn
được miễn thuế. Quỹ thị trường tiền tệ ngắn hạn được đầu tư vào trái phiếu
đô thị ngắn hạn, các trái phiếu này được miễn thuế và vì thế phân phối lợi
tức miễn thuế cho cổ đông. Các quỹ này chi trả lợi tức thấp hơn quỹ có thuế
và phải được định giá trên căn bản sau khi đóng thuế.
TAX-EXEMPT SECURITY: Trái phiếu được miễn thuế. Cam kết nợ có tiền
lãi được miễn thuế nhà nước. Nó thường được gọi là trái phiếu đô thị (hay
đơn giản là Municipal) dù là nó có thể do nhà nước, một cơ quan, quận, thị
xã hay các khu vực, phân khu chính trị phát hành. Trái phiếu được Full Faith
And Credit bảo trợ (trái phiếu được chi trả bằng tiền thu thuế, số vay mượn
và các doanh thu khác- có nghĩa là rất đảm bảo) hay do doanh thu trước của
cơ quan phát hành bảo đảm. ở Hoa Kỳ lợi tức có từ loại trái phiếu đô thị
được miễn thuế này thì được miễn thuế lợi tức liên bang cũng như miễn thuế
trong phạm vi quyền hạn nơi trái phiếu phát hành. Vì thế, cam kết nợ của
thành phố New York được miễn thuế 3 lần (triple tax-exempt) đối với cư dân
thành phố có lợi tức bị chịu thuế liên bang, tiểu bang và địa phương. (Không
ai trong số cư dân mà không phải chịu thuế đô thị ngoại trừ trái phiếu được
miễn thuế). (ở Hoa Kỳ) quỹ hỗ tương đầu tư (mutual funds) đầu tư riêng về
trái phiếu miễn thuế chuyển giao phần thuận lợi về thuế này cho cổ đông.
Tuy nhiên, trong khi cổ tức của quỹ được hoàn toàn miễn thuế trong bảng
khai thuế Liên bang của cổ đông thì họ chỉ được miễn thuế lợi tức của tiểu
bang một phần đối với số lợi tức bắt nguồn từ tiểu bang nơi ở của người
đóng thuế (taxpayer's home state), giả định rằng không có các thoả thuận
liên tiểu bang dành riêng được nói đến. Lợi nhuận từ nhà đầu tư có từ trái
phiếu được miễn thuế thì thấp hơn trái phiếu công ty, bởi vì số miễn thuế đã
là số bù đắp thêm. Khung thuế của nhà đầu tư cao chừng nào thì sự chọn
lựa loại miễn thuế càng trở nên hấp dẫn hơn. Hoa lợi trái phiếu đô thị thay
đổi tuỳ theo các nhân tố kinh tế địa phương, khả năng nhận thức của nhà
phát hành khi chi trả và mức đánh giá chất lượng chứng khoán do một trong
cơ    quan    đánh    giá   thiết    lập.  Xem:    Moral   Obligation    Bond.
TAX HAVEN: Nơi ẩn trú thuế. Quốc gia hay vương quốc có thuế suất thấp.
Các công ty nước ngoài sẽ thiết lập cơ sở ở đây để tiết kiệm được thuế.
Bahamas, quần đảo Cayman, Liechtenstein là những nơi ẩn trú thuế nổi
tiếng.
TAX HOLIDAY: Khoảng thời gian được miễn thuế. Một thời khoảng giới hạn
trong việc miễn thuế dành cho các xí nghiệp tiên phong. Khoảng thời gian
dùng để miễn thuế này dùng để lôi cuốn đầu tư trong các ngành có giá trị
cao.
TAX INVOICE: Bản kê khai hàng hoá có thuế. Bản kê khai hàng hoá do
người bán có đăng kí xuất ra để thu thuế trị giá gia tăng (Value- added
taxes-VAT). Bản kê khai hàng hoá (hoá đơn hàng hoá) cho biết giá mua
hàng hoá hoặc dịch vụ và thuế tăng thu đánh trên hàng hoá đó, nó được
người mua dùng để khai số giảm trừ thuế đầu vào từ số VAT.
TAX LIEN: Quyền giữ tài sản vì lý do thuế. Quyền giữ tài sản bắt buộc vì
không trả thuế lợi tức hay thuế tài sản. Quyền giữ tài sản vì thuế ưu tiên hơn
quyền giữ tài sản của ngân hàng để bảo đảm với cùng tài sản đó, đặt người
cho vay vào vị thế thấp hơn để có thể thu nợ của người vay đã trễ hạn mà
người       này       cũng        là      người      đang        nợ      thuế.
TAX LOSS CARRYBACK, CARRY FORWARD: Mang lui thua lỗ, mang sang
thua lỗ để giảm thuế. Trong thuế có một thuận lợi là nó cho phép một công
ty hay cá nhân được dùng số thua lỗ để giảm số nợ thuế. Công ty có thể bù
đắp vốn năm hiện hành hay thua lỗ hoạt động thuần (net operating losses)
dựa trên lợi nhuận trong 3 năm ngay trước đó, với năm đầu tiên gần nhất.
Sau khi mang lui, nó có thể mang sang (còn gọi là carryover) số thua lỗ vốn
5 năm và số thua lỗ hoạt động thuần lên tới 15 năm. Sau đó nó sẽ xem như
đã phục hồi lại sức tài chánh. Các cá nhân có thể mang sang thua lỗ vốn cho
đến khi họ sử dụng hết số năm không giới hạn để bù đắp (thay cho) tư bản
kiếm được. Tuy nhiên, không giống như công ty, cá nhân thường không thể
mang lui thua lỗ để áp dụng vào bản khai thuế năm trước. Đạo luật nhà
nước kiềm chế mua đứt (buyout- mua một số phần trăm quyền kiểm soát
công ty) vì động cơ thuế bằng cách giới hạn việc sử dụng NOL khi một công
ty bị thua lỗ đã có quyền sở hữu thay đổi từ 50% trở lên trong thời gian 3
năm. Có một số điều khoản trong luật lệ phức hợp nói về việc mang lui thua
lỗ trong giao dịch mua bán các hợp đồng futures hàng hoá.
TAX OPINION: ý kiến về thuế ý kiến hợp pháp của luật sư về thuế của nhà
phát hành trái phiếu tuyên bố (để tính thuế nhà nước) rằng cam kết nợ có
thế chấp được bảo đảm (CMO- Collateralized Mortgage Obligation) sẽ được
người giữ nó xử lý như thế nào. Trong lãnh vực trái phiếu đô thị, ý kiến về
thuế cũng nói rằng trái phiếu tuân thủ theo quy chế nhà nước sẽ được miễn
thuế    lợi    tức   nhà  nước    trên  số     tiền   lãi  của    trái  phiếu.
TAX-ORIENTED LEASE: Hợp đồng cho thuê nghiêng lợi thế về thuế. Xem
True Lease. Tax planning: Hoạch định về thuế. Tối thiểu hoá nợ thuế thông
qua việc hoạch định tài chánh cá nhân, đầu tư vào các vụ đầu tư được hoãn
thuế, trái phiếu miễn thuế hoặc tìm cách tránh thuế cho tư bản kiếm được
trong phần đầu tư thụ động như uỷ thác bất động sản. Nó khác với trốn thuế
(tax     evasion)      là  cố     tình   không       trả    thuế     đã    nợ.
TAX PREFERENCE ITEMS: Hạng mục thuế ưu đãi. Hạng mục được luật
thuế xác định rằng người đóng thuế phải tính vào khi tính toán thuế tối thiểu
có lựa chọn (AMT- Alternative Minium Tax). Theo đạo luật nhà nước các
hạng mục ưu đãi bao gồm: 100% trị giá thua lỗ thụ động thuần (net passive
losses) (có nghĩa là không có giao dịch mua bán quyền lợi mà theo luật
thông thường cho phép đối với quyền lợi đã có trước khi thông qua); lợi ích
từ khấu hao tích luỹ (được tính theo nhiều cách khác nhau đối với tài sản cá
nhân hay tài sản thực); vài giá phí vô hình nào đó, số thặng dư của trị giá
thị trường công bằng vào thời điểm thực hiện đối với giá phí Option của hợp
đồng Option chứng khoán tặng thưởng (incentive stock options); tiền lãi
được miễn thuế trên trái phiếu vì mục đích riêng (private purpose bonds)
của chính quyền đô thị phát hành và số trị giá gia tăng không tính thuế của
tài sản được đóng góp vào các việc từ thiện. Các ưu đãi cho công ty thường
giống như của cá nhân nhưng có thêm: chi phí tăng số dự trữ nợ khó đòi khi
chúng vượt quá mức kinh nghiệm thực tế (có thể áp dụng cho các ngân hàng
nhỏ và các tổ chức tài chánh khác), số lợi nhuận căn cứ trên số phần trăm
hoàn tất kết toán đối với các hợp đồng dài hạn được thực hiện, tiền kiếm
được do bố trí tài sản người buôn bán trong năm có bố trí (ngược lại với
phương pháp kế toán trả dần- và trị giá tương đương 50% chênh lệch giữa
lợi tức trong sổ sách công ty và nợ thuế tối thiểu có lựa chọn (AMT-
Alternative minium tax). Ưu đãi sau cùng là nhằm vào lợi nhuận báo cáo đến
cổ      đông       nhưng    không      đánh       thuế     thường       xuyên.
TAX RETURN: Tờ khai thuế. Tờ khai do người đóng thuế soạn để liệt kê
từng mục lợi tức và chi phí trong thời khoảng thuế ấn định. Việc định thuế
dựa         trên      các      thông       tin       trong       tờ       khai.
TAX SELLING: Bán để được trừ thuế. Bán các chứng khoán, thường vào
cuối năm, để bù đắp thua lỗ trong danh mục đầu tư, nó có thể dùng để bù
đắp vào tư bản kiếm được và do đó hạ thấp số nợ thuế của nhà đầu tư.
Xem: Long Term Gain, Long Term Loss, Selling Short Againts The Box, Short
Term        Gain     or   Loss,      Swap,      Thirty-day     Wash      Rule.
TAX SHELTER: Nơi tránh thuế- Chỗ dựa để tránh thuế. Phương pháp do nhà
đầu tư sử dụng để tránh hay giảm nợ thuế một cách hợp pháp. Chỗ dựa
tránh thuế hợp pháp bao gồm những phương thức sử dụng khấu hao tài sản
như bất động sản hoặc trang thiết bị, trợ cấp cạn kiệt trong việc khai thác
dầu hoả và gas. Góp vốn trách nhiệm hữu hạn theo thông lệ cũng là cách
giúp cho nhà đầu tư hạn chế nợ và thuế bao gồm thua lỗ hoạt động "chảy
qua" (flow through) có thể dùng để bù đắp lợi nhuận từ các nguồn khác. Đạo
luật nhà nước đã hạn chế việc này bằng cách quy định rằng thua lỗ thụ động
chỉ có thể bù đắp cho lợi tức thụ động (passive income- lợi nhuận của người
không tham gia trực tiếp đầu tư), bằng cách kéo dài thời biểu khấu hao, mở
rộng các luật lệ về chứng minh rõ ràng rủi ro (at risk) để kể thêm các đầu tư
về bất động sản. Các công cụ cho phép phát triển vốn được hoãn thuế như
IRA (tài khoản hưu trí cá nhân- individual retirement account) và kế hoạch
Keogh (nó cũng cho khấu trừ thuế hiện hành đối với người đóng thuế có đủ
tiêu chuẩn), kế hoạch khấu trừ lương, bảo hiểm nhân thọ đóng phí một lần
một (single premium life insurance), cũng là những nơi tránh thuế phổ biến
như       là      trái     phiếu     đô      thị     được      miễn       thuế.
TAX SPARING: Thời gian tiết kiệm được thuế. Một loại Tax Holiday (khoảng
thời gian được miễn thuế), thường thường được quốc gia đưa ra như một
phần ưu đãi đầu tư. Khoảng thời gian của Tax Holiday có thể vô hạn, kéo dài
suốt thời gian hoạt động của xí nghiệp hoặc cho đến khi được huỷ bỏ.
TAX STRADDLES: Mua bán hàng hai để tránh thuế. Kỹ thuật theo đó hợp
đồng options hay futures được dùng để loại bỏ rủi ro kinh tế trong khi vẫn
tạo ra một vị thế thuận lợi về thuế. Cách thông dụng nhất là nhà đầu tư có
tư bản kiếm được sẽ phải chiếm một vị thế tạo ra một bù đắp thua lỗ "nhân
tạo" (giả tạo) trong năm thuế hiện hành và trì hoãn lợi nhuận cho đến năm
thuế sau. Đạo luật nhà nước dần dần loại bỏ việc này bằng cách quy định
những người buôn bán điều chỉnh trị giá theo thị trường (mark to the
market)vào cuối năm và phải kể thêm lợi nhuận chưa hiện thực vào lợi tức
có thể chịu thuế. Đạo luật nhà nước đề xuất một thay đổi theo đó có một
ngoại lệ cho người viết (bán) hợp đồng Call Options có bảo kê bị phủ nhận
nếu người đóng thuế không giữ được hợp đồng call option trong vòng 30
ngày sau khi chứng khoán có liên hệ bị thua lỗ, hoặc là nếu cuối cùng có lợi
nhuận hay có sắp xếp lại hợp đồng Option thì được đưa vào năm tới.
TAX       SWAP:         Chuyển     đổi     thuế.     Xem      Bond      Swap.
TAX UMBRELLA: Chiếc dù thuế- Che thuế. Số lỗ thuế được mang sang,
xuất phát từ các thua lỗ của công ty trong những năm qua, nó bảo vệ (che
chắn) lợi nhuận trong năm hiện hành hay những năm kế tiếp khỏi bị đóng
thuế.        Xem:         Tax       Loss       Carryback,       Carryforward.
TAXABILITY: Khả năng có thể bị đánh thuế. Rủi ro của lợi tức đầu tư bị xói
mòn                  vì             phải               chịu               thuế.
TAXABLE EQUIVALENT YIELD: Hoa lợi tương đương có thuế. Tổng số lợi
tức, kể cả lợi tức kiếm được trên số trái phiếu được miễn thuế (trái phiếu đô
thị). Lợi tức không thuế được tính lại này là lợi tức kiếm được trong danh
mục đầu tư trên căn bản là có thể so sánh với lợi tức có thuế trước khi thực
sự             trả            bất           cứ            thuế             nào.
TAXABLE ESTATE: Tài sản (bất động sản) có thuế. Một phần tài sản thừa
hưởng phải chịu thuế tài sản sau khi khấu trừ các chi phí được cho phép đã
phải gánh chịu khi thanh lý tài sản, kể cả chi phí làm đám tang, thuế còn nợ,
các      khoản        khấu     trừ     về     hôn      nhân,     từ      thiện.
TAXABLE INCOME: Lợi tức có thuế. Số lợi tức (sau khi trừ đi các khoản
khấu trừ được cho phép và các điều chỉnh lợi tức) phải chịu thuế. Trong bản
khai thuế lợi tức nhà nước của một cá nhân, lợi tức có thuế là tổng lợi tức đã
điều chỉnh (tổng số tiền lương công nhân, nhân viên, cổ tức tiền lãi, tư bản
kiếm được, lợi tức kinh doanh v.v...trừ đi số điều chỉnh của phần đóng góp
vào tài khoản hưu trí cá nhân, chi phí vận chuyển, chi phí kinh doanh chưa
trả), trừ đi các khoản khấu trừ đã liệt kê hay các khoản khấu trừ tiêu chuẩn
và tổng số miễn thuế cá nhân. Một khi đã biết số lợi tức có thuế, cá nhân
người đóng thuế sẽ tìm tổng số thuế lợi tức phải đóng để biết khung thuế
của ông ta, bằng cách soát lại trong bảng thuế nhà nước hay bằng cách tính
thuế theo bảng thuế suất. Tín dụng thuế giảm nợ thuế theo đơn vị tiền, lợi
tức thuần của một cá nhân làm việc cho chính mình (tự làm chủ - self
proprietorship) và các khoản đóng góp vào thành viên góp vốn được tính
trong tổng lợi tức đã điều chỉnh và vì thế là loại lợi tức có thuế do đó phải
làm tờ khai thuế cá nhân. Lợi tức có thuế của một liên doanh còn gọi là lợi
tức thuần trước khi đóng thuế (net income before taxes) bao gồm tổng
doanh thu trừ phí hàng hoá đã bán, chi phí bán và quản lý, tiền lãi và các
hạng               mục              bất               thường             khác.
TAXABLE MUNICIPAL BOND: Trái phiếu đô thị có thuế (ở Hoa Kỳ). Cam
kết có thuế của nhà nước hay một thực thể nhà nước địa phương, đây là một
phát sinh khác của đạo luật Tax Reform Act of 1986 (đạo luật giới hạn việc
phát hành các trái phiếu được miễn thuế như thông lệ). Trái phiếu đô thị có
thuế được phát hành như loại trái phiếu có mục đích riêng (private purpose
bond) nhằm tài trợ cho các dự án bị hạn chế như sân vận động thể thao,
như trái phiếu doanh thu đô thị có nguồn thu (caps apply), như trái phiếu có
mục đích chung (public purpose bonds) khi vượt quá giới hạn 10% phục vụ
cho                     mục                      đích                    riêng.
TAXPAYER IDENTIFICATION NUMBER (TIN): Số chứng minh của người
đóng thuế (ở Hoa Kỳ). Số chứng minh IRS cần có trước khi mở những tài
khoản. Đối với cá nhân hay người chủ thì số thuế là số an toàn xã hội của cá
nhân. Số chứng minh thuế doanh nghiệp là số chứng minh của người chủ.
TEAR SHEET: Tờ xé rời. Tờ giấy lấy từ một trong các sổ rời (loose-leaf book
: sổ gồm các giấy rời) tập trung các báo cáo chứng khoán của S&P. Tờ này
cung cấp các dữ kiện tài chánh và bối cảnh cơ bản của hơn 4.000 công ty.
Broker thường xé rời tờ này và gửi cho khách hàng (do đó mới có tên tờ xé
rời).
TEASER             RATE:          Lãi           suất         như           đùa.
1. Lãi suất ban đầu của tiền vay có thế chấp mà người cho vay tính với tiền
vay có thế chấp có lãi suất điều chỉnh (adjustable rate mortgage). Lãi suất
này ít hơn lãi suất tính với tiền vay có thế chấp lãi suất cố định theo tiêu
chuẩn và còn thấp hơn lãi suất theo chỉ số đầy đủ tính trên tiền vay có thế
chấp với lãi suất điều chỉnh . Đến lượt số chi trả thấp này sẽ làm cho việc tài
trợ tiền vay có thế chấp càng thuận lợi hơn cho nhiều người sắp sửa mua
nhà. Lãi suất được định lại theo lãi suất thị trường sau một thời khoảng vài
tháng                     đến                      một                    năm.
2. Lãi suất ban đầu cao được đề nghị với người ký thác đầu tư trong tài
khoản tiết kiệm chi trả theo lãi suất thị trường tiền tệ ngắn hạn. Khi tài
khoản ký thác theo thị trường tiền tệ ngắn hạn (money market deposit
account - MMDA) được giới thiệu với công chúng, một vài ngân hàng đã đề
nghị lãi suất cao đến 21% thông qua hợp đồng mua lại và đã được chuyển
vào MMDA khi tài khoản có lãi suất cao này trở thành hợp pháp.
TECHNICAL ANALYSIS: Phân tích kỹ thuật. Nghiên cứu số cùng và cầu
chứng khoán và hàng hoá dựa trên các nghiên cứu số lượng và giá cả. Nhà
phân tích dùng các biểu đồ hay chương trình vi tính để nhận dạng và lập kế
hoạch chiều hướng giá trong thị trường, chứng khoán, hay hàng hoá tương
lai. Hầu hết các phân tích được thực hiện để phân tích ngắn và trung hạn,
nhưng một vài nhà phân tích cũng tiên đoán các chu kỳ dài hạn dựa trên
biểu đồ và các dữ kiện khác. Không giống nhà phân tích cơ bản, nhà phân
tích kỹ thuật không quan tâm đến vị thế tài chánh của công ty.
TECHNICAL RALLY: Phục hồi có tính kỹ thuật. Giá hợp đồng futures hàng
hoá hay chứng khoán tăng nhẹ trong chiều hướng tổng quát đang giảm. Việc
phục hồi như thế có thể xảy ra bởi vì nhà đầu tư đang săn lùng các giao kèo
hay vì nhà phân tích đã lưu ý ta về một mức giá đỡ (support level) đặc biệt
nào đó, ở mức này chứng khoán sẽ nảy lên (tăng lên). Tuy nhiên phục hồi có
tính kỹ thuật không kéo dài và ngay sau đó giá lại tiếp tục sụt giảm.
TECHNICAL SIGN: Dấu hiệu có tính kỹ thuật. Chiều hướng ngắn hạn mà
nhà phân tích kỹ thuật có thể xác định là rất quan trọng trong chuyển biến
giá cả chứng khoán hay hàng hoá. Xem : Technical Analysis.
TECHNOLOGY TRANSFER: Chuyển giao kỹ thuật. Tiến trình chia sẻ kiến
thức và kỹ năng kỹ thuật đạt được do nghiên cứu và triển khai, thường
thông qua giấy phép bản quyền hay thông qua thoả thuận liên doanh. Trong
ngoại thương, chuyển giao kỹ thuật thì được cho rằng có giá trị hơn là đầu tư
tư bản nước ngoài vì lúc đó chúng ta không thể không học hỏi về kỹ thuật.
TELEPHONE BILL PAYMENT: Chi trả hoá đơn qua điện thoại. Dịch vụ ngân
hàng cho phép khách hàng chi trả thương phiếu (merchant bill), xác minh số
cân đối tài khoản, chuyển ngân quỹ giữa các tài khoản bằng lời nói chỉ thị
đến đại diện dịch vụ của khách hàng hoặc là dùng điện thoại trực tiếp. Nó
còn được gọi Bank-by-phone hay pay-by-phone trong lãnh vực dịch vụ tài
chánh, chi trả hoá đơn bằng điện thoại hấp dẫn một số nhỏ khách hàng ruột
(trung thành) nhưng không hấp dẫn nhiều người sử dụng phần lớn là vì nó
giới hạn số chi trả hoá đơn và số chuyển ngân quỹ. Ngoài ra hầu hết các
khách hàng không xem việc chi trả hoá đơn bằng chi phiếu là bất tiện. Chi
trả hoá đơn bằng điện thoại rất phổ biến vào thập niên 1970 trong các hiệp
hội tiết kiệm và cho vay, họ muốn cung cấp cho khách hàng các tài khoản
giao dịch mà trong lúc đó họ không được phép cung cấp tài khoản chi phiếu,
vì thế số chi trả được lấy thay từ tài khoản tiết kiệm. Nhiều ngân hàng
thương mại và tổ chức tiết kiệm cung cấp dịch vụ chi trả hoá đơn bằng điện
thoại với hy vọng rằng chi phiếu sau cùng rồi cũng có thể được thay thế
bằng hệ thống điện tử chuyển ngân quỹ, dù sao cho đến nay việc thay thế
chi     phiếu      vẫn     chưa     được     thực    hiện     bao      nhiêu.
TELEPHONE             ORDER:          Lệnh       qua       điện         thoại.
1. Chỉ thị bằng miệng (bằng lời nói) để chuyển ngân quỹ từ tài khoản ngân
hàng này sang tài khoản khác hay từ ngân hàng này sang ngân hàng khác.
2. Lệnh mua theo đường bưu điện được tính vào thẻ ngân hàng hay thẻ du
lịch-giải trí, không cần có chữ ký và khách hàng có quyền và có trách nhiệm
như khi mua với tư cách cá nhân. Xem Signature on File.
TELEPHONE SWITCHING: Chuyển đổi bằng điện thoại. Tiến trình chuyển
tài sản từ một quỹ Hỗ Tương Đầu Tư hay Danh Mục Đầu Tư Trợ Cấp Hàng
Năm Có Thay Đổi (Variable Annuity Portfolio) đến quỹ, danh mục đầu tư
khác bằng điện thoại. Việc chuyển này có thể thực hiện giữa chứng khoán,
trái phiếu hay quỹ thị trường tiền tệ của riêng một họ quỹ (family of funds)
hay từ một quỹ trong một họ đến quỹ trong họ khác. Việc chuyển đổi liên
quan đến các danh mục đầu tư trong hợp đồng trợ cấp hàng năm không bị
đánh thuế lợi nhuận như chuyển đổi quỹ Hỗ Tương Đầu Tư.
TELEPHONE TRANSFER: Chuyển bằng điện thoại. Chuyển số cân đối tài
khoản từ tài khoản này sang tài khoản khác hay từ người trả sang người
nhận bằng điện thoại chứ không bằng giấy uỷ quyền viết tay hay công cụ chi
trả như thông lệ, tài khoản đang ghi nợ có thể là tài khoản chi phiếu, tiết
kiệm hoặc nếu chỉ có vài ba cuộc chuyển bằng điện thoại thì nó có thể là tài
khoản ký thác theo thị trường tiền tệ ngắn hạn (MMDA-money market
deposit                                                             account).
TELLER: Nhân viên thu phát. Nhân viên ngân hàng nhận tiền ký thác, chi
phiếu tiền mặt và thực hiện các dịch vụ khác cho dân chúng. Trong hầu hết
các tổ chức tài chánh, các thu phát ngân làm việc sau quầy. Các ngân hàng
lớn phân công nhiệm vụ Teller theo loại công việc: Mail Teller xử lý số ký
thác ngân hàng sẽ được gửi đến bằng đường bưu điện; Loan Teller lưu giữ
chi trả cho tài khoản khách hàng; Note Teller điều hành việc thu ngân quỹ
trên số giấy nợ và hối phiếu do các ngân hàng khác chi trả. Xem: Customer
Service                Representive                Head                Tellers.
TELLER'S CHECK: Chi phiếu của nhân viên thu phát ngân. Xem Cashier's
Check.
TELEX FOR AUTHORITY TO PAY: Gởi điện báo cho cơ quan thẩm quyền
chi trả. Một yêu cầu huỷ bỏ một điểm tương phản trong tín dụng thư. Nhà
nhập khẩu được ngân hàng thông báo (advising bank, negotiating bank)
thông báo về các điểm tương phản (điểm không đúng). Các điểm này sẽ
được sửa lại bằng bản tu chỉnh hay được huỷ bởi ngân hàng, của nhà nhập
khẩu        trước    khi     chi      trả     cho     nhà      xuất     khẩu.
TEMPERED BY WORRIES: Làm âu lo. Any short term enthusiasm was
temped by worries that tomorrow release of Dec job data. (Một số người
thích lãi suất ngắn bị lo âu về con số có việc làm tháng 12 vào ngày mai).
TEMPORARY LOAN: Tiền vay tạm thời. Tiền vay vốn hoạt động (vốn lưu
động) ngắn hạn để tài trợ cho hàng kho hay tài khoản thu của công ty. Tiền
vay này thường có thời hạn dưới 1năm và được xác minh bằng giấy hứa trả
nợ hay giấy nợ ngắn hạn (warrant) do người vay phát hành. Tiền vay tạm
thời (ngắn hạn) có thể không được bảo đảm hoặc được bảo đảm bằng quyền
giữ thế chấp trên số tài sản của công ty. Tài sản lưu động có được nhờ tài
trợ tạm thời cuối cùng sẽ được chuyển thành tiền mặt qua chu kỳ mua bán
của công ty khi công ty bán hàng kho để lấy tiền mặt hay khi thu tiền cho tài
khoản         thu.     Xem:        Collateral     Loan,      Term        Loan.
TEN PERCENT GUIDELINE: Chỉ dẫn về 10%. Chỉ dẫn của nhà phân tích
trái phiếu đô thị cho rằng nợ được tài trợ vượt quá 10% trị giá định thuế của
một     tài    sản   trong    chính     quyền   đô    thị  là    quá    đáng.
TENANCY BY THE ENTIRETY: Cùng chung sở hữu như một thực thể duy
nhất. Vợ và chồng cùng liên đới tài sản, mỗi người có quyền sở hữu và
hưởng thụ ngang nhau, và có quyền thừa hưởng của người còn sống
(survivorship) khi người kia chết. Mặc dù tương tự như joint tenancy (liên đới
sở hữu), một hình thức thông dụng nhất của quyền sở hữu tài sản của một
cặp vợ chồng, nhưng cùng quyền sở hữu như một thực thể duy nhất
(tenency by the entirety) xem tài sản như một đơn vị độc nhất, điều này có
nghĩa là không có người nào có thể bán tài sản mà không có người kia đồng
ý. Ngoài ra chủ nợ không thể ép buộc bán tài sản để trả nợ cho một người.
Người phối ngẫu còn sống được quyền hưởng trọn vẹn tài sản. Xem:
Community Property, Joint Tenants With Right of Supervivorship, Tenancy in
Common.
TENDER           DOCUMENT:             Tài         liệu        đấu     thầu.
1. Công ty hay nhà nước đưa hồ sơ chính thức để mua hàng hoá hay dịch
vụ. Những đặc điểm, khả năng, phương thức và nhân viên được chỉ định đi
mua        sẽ     được     ghi      trong      tài      liệu     đấu   thầu.
2. Công ty đưa ra tài liệu về việc bán chứng khoán. Người đưa ra đấu thầu
yêu cầu các giá đặt mua phải trên giá bán tối thiểu đã ấn định.
TENANCY IN COMMON: Sở hữu chung. Tài sản do hai hay nhiều người sở
hữu theo cách khi một trong số họ chết, lợi tức không thể phân chia của
người mất được chuyển sang người thừa kế và không chuyển cho những
người cùng sở hữu còn sống. Thoả thuận này khác với sở hữu (tenancy) liên
kết (xem Joint tenants with the right of Survivorship) và sở hữu toàn vẹn
(một thoả thuận tương tự đề cập đến một cặp vợ chồng khi một người mất
thì người vợ hay người chồng tự động được nhận phần chia của người kia).
TENANT:       Người     thuê,    người     sở    hữu.      Bất    động  sản:
1.      Người       giữ     hay       sở      hữu        tài     sản   thực.
2. Người thuê. Chứng khoán: người sở hữu một phần một loại chứng khoán.
Xem Joint Tenants with Right of Survivorship, Tenancy in Common.
TENDER: Giá đệm, bỏ thầu, giao, tiền theo pháp luật (tiền hợp pháp).
1. Hành động từ bỏ cổ phần của một người nào đó để đáp ứng một giá mua
đã ấn định- xem Tender offer (một người nào đó bản cổ phần của mình theo
giá bán đã được một người khác ấn định thường cao hơn giá thị trường vì
người đặt giá này muốn chiếm quyền kiểm soát công ty có cổ phần đó).
2. Đệ trình giá đặt mua chính thức để mua chứng khoán, như trong đấu thầu
công                khố              phiếu                 Hoa            Kỳ.
3. Cung cấp tiền hay hàng hoá để chi trả một món nợ trước hay quyền đòi
chi trả (lệnh phiếu) như trong việc giao hàng hoá theo hợp đồng futures đã
đến                                                                     hạn.
4. Phương tiện đã được thoả thuận để thanh toán các giao dịch mua bán tài
chánh, như tiền tệ Hoa Kỳ được mệnh danh là "tiền tệ hợp pháp đối với tất
cả        các       món       nợ,        công         cũng       như     tư".
TENDER BOND: Trái phiếu theo hợp đồng put option. Xem Put Bond. Trái
phiếu được quyền bán lại nhà phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn.
Tender offer: Đưa ra giá đệm (giá cao hơn giá thị trường). Mua các cổ phần
của một công ty, thường với giá có chênh lệch cao hơn giá thị trường của cổ
phần bằng tiền mặt hay chứng khoán hay cả hai, thông thường là nhằm mục
đích chiếm quyền kiểm soát của một công ty đang là mục tiêu hấp dẫn
(target company). Việc đưa ra giá đệm có thể xuất phát từ các thương lượng
đầy thiện ý giữa công ty và công ty muốn tiếp quản hay có thể do tự ý hoặc
không thân thiện dẫn đến việc công ty bị tiếp quản có các biện pháp chống
lại. Nhà nước quy định người muốn tiếp quản (corporate suitor) đã có trong
tay từ 5% trở lên số cổ phần của công ty bị tiếp quản phải thông báo rõ ràng
cho nhà nước, cho chính công ty bị tiếp quản (target company) và cho thị
trường có liên quan. Xem: Schedule 13D, Takeover, Treasury Stock.
TENDER PANEL: Nhóm đệm (trong đấu thầu). Phương pháp tài trợ dùng
trong việc bán giấy hứa trả nợ, (giấy nợ Châu Âu) thông qua RUF (Revolving
Underwriting Facility- Phương tiện bao tiêu tuần hoàn) Tổ hợp bao tiêu
(Syndicate) bao gồm từ 15 đến 20 ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu
tư được người vay (hay đại diện của người vay) uỷ nhiệm đưa ra giá đặt mua
chào mời trên căn bản cố gắng hết sức mình (best effort) cho việc tài trợ dự
án. Nhóm hoạt động như một nhân viên trung gian bên bán cho các ngân
hàng đang thoả thuận một phương tiện tín dụng. Nhóm đệm bên bán cho
phép sắp xếp mua bán giấy nợ Châu Âu với một số lớn nhà đầu tư đang tìm
kiếm giấy nợ trung hạn (từ 5 đến 7 năm). Nó cũng tách ngân hàng gốc ra
khỏi các ngân hàng thực sự mua giấy nợ, do đó phải trải đều rủi ro tín dụng
cho phần lớn số ngân hàng tham gia. Phần đóng góp của ngân hàng gốc
trong việc cung ứng chiếm một phần nhỏ thường khoảng 10% tổng số tài
trợ.
TENOR:        Lề      thói     hằng       ngày,      quy      định     thời    hạn.
1. Đánh dấu để nhớ thời điểm đáo hạn của giấy nợ hay công cụ tài chánh.
2. Vạch rõ thời điểm khi hối phiếu được trả : ngay khi trình (on sight), theo
số ngày ấn định sau khi trình, theo số ngày ấn định sau thời điểm ký hối
phiếu.
3. Điều khoản thiết lập để chi trả một hối phiếu, nghĩa là : khi được trình ra
(đối với hối phiếu trả ngay khi trình - Sight draft) hay vào thời điểm tương
lai (đối với hối phiếu trả ngay khi trình - Sight draft) hay vào thời điểm
tương     lai    (đối    với     hối    phiếu    định      kỳ    -  Time     draft).
TERM:           Kỳ         hạn,         điều        khoản,         nhiệm        kỳ.
1. Khoảng thời gian trong đó các quy định của hợp đồng sẽ được thực hiện.
Từ ngữ này cũng ám chỉ khoảng thời gian trong đó phải thực hiện chi trả tiền
vay hay phải chi trả tiền lãi của chứng chỉ ký thác hay trái phiếu. Nó cũng
ám chỉ khoảng thời gian có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Xem :
Term                                  Life                               Insurance.
2. Điều khoản ấn định bản chất của một thoả hiệp hay hợp đồng như trong
terms       and       conditions      (điều      khoản        và     quy     định).
3. Khoảng thời gian phục vụ của một viên chức hay thành viên ban quản trị
đã được bầu hay chỉ định. Thí dụ, các thống đốc hệ thống Dự Trữ Liên Bang
được         chỉ       định         với       nhiệm          kỳ      14       năm.
TERM BOND: Trái phiếu định kỳ (dài hạn). Trái phiếu có độc nhất một thời
điểm đáo hạn, ngược lại với serial bond (loạt trái phiếu - seri trái phiếu).
Thông thường, nhà phát hành phải để số tiền chi trả bắt buộc vào quỹ thanh
toán nợ (sinking fund - quỹ dự phòng nợ) trong nhiều năm trước khi đến
ngày đáo hạn. Nhà phát hành trái phiếu đáp ứng các quy định về thanh toán
nợ bằng cách mua trái phiếu đã phát hành trong thị trường tự do (open
market), thu hồi trái phiếu theo giá thị trường, nó có thể thấp hơn giá theo
lệnh gọi của quỹ thanh toán nợ (sinking fund call price). Việc dự phòng trước
quỹ thanh lý nợ sẽ rải đều trách nhiệm của nhà phát hành đối với trái phiếu
nợ chung (general obligation bond) trong suốt thời gian hiệu lực của trái
phiếu; nhà phát hành trái phiếu doanh thu có thể chi trả dịch vụ nợ bằng
doanh                        thu                      trái                   phiếu.
TERM CERTIFICATE: Chứng chỉ theo định kỳ. Chứng chỉ ký thác (certificate
of deposit) có thời gian đáo hạn dài. CD như thế có kỳ hạn từ một năm đến
10 năm, dù sao hầu hết các chứng chỉ định kỳ đều là loại một năm hay 2
năm. Người có chứng chỉ thường nhận lãi suất cố định, được chi trả làm hai
kỳ trong thời gian hiệu lực và phải chịu phạt nặng khi rút tiền sớm (early
withdrawal penalties) tức là khi chứng chỉ được chi trả trước thời hạn đã ấn
định.
TERM FEDERAL FUNDS: Ngân Quỹ Liên Bang theo kỳ hạn. Số cân đối tài
khoản dự trữ được mua trong các thời khoảng lâu hơn một ngày, nhưng
thường ít hơn 90 ngày. Ngân hàng mua ngân quỹ Liên Bang trong một thời
khoảng kéo dài khi họ thấy nhu cầu vay sẽ kéo dài vài ngày, hoặc khi họ tin
rằng lãi suất ngắn hạn sẽ tăng và họ muốn khoá chặt lãi suất hiện hành.
Ngân quỹ Liên Bang được mua theo kỳ hạn kéo dài giống như ngân quỹ Liên
Bang cách đêm, không bị lệ thuộc vào quy định dự trữ và thỉnh thoảng được
ưa thích hơn là mua các công cụ nợ khác có cùng thời gian đáo hạn.
TERM LIFE INSURANCE: Bảo hiểm nhân thọ theo kỳ hạn. Hình thức bảo
hiểm nhân thọ được soạn thảo có một thời khoảng ấn định, nó quy định
người có hợp đồng chỉ chi trả giá phí bảo vệ cái chết, có nghĩa là không thiết
lập trị giá tiền mặt như trong bảo hiểm suốt đời. Cứ mỗi lần ký lại hợp đồng
phí bảo hiểm sẽ cao hơn bởi vì người được bảo hiểm sẽ già hơn và theo
thống kê thì dễ chết hơn. Bảo hiểm theo kỳ hạn thì rẻ hơn nhiều so với bảo
hiểm suốt đời, nó giúp cho người có hợp đồng bảo hiểm (policyholder) có cơ
hội chọn lựa để sử dụng tiền tiết kiệm đầu tư cho riêng họ.
TERM LOAN: Tiền vay theo kỳ hạn. Tín dụng trung hạn và dài hạn có bảo
đảm 9 thường thời hạn từ 2 đến 10 năm) do ngân hàng thương mại, công ty
bảo hiểm hay công ty tài chánh thương mại trao cho một công ty thường là
để tài trợ vốn trang thiết bị hay để cung cấp vốn lưu động. Tiền vay được trả
dần trong một thời khoảng cố định, đôi khi kết thúc bằng số chi trả dồn
(balloon payment). Người vay theo thoả hiệp vay có kỳ hạn thông thường
theo quy định là phải có vốn lưu động tối thiểu và nợ tối thiểu so với các tiêu
chuẩn tỷ lệ trị giá thuần, phải giới hạn cổ tức và phải duy trì sự nhất quán
liên                tục              ban               điều              hành.
TERM MATURITY: Đáo hạn theo kỳ hạn. Đây là một loại đáo hạn trong đó
toàn bộ trái phiếu đáo hạn vào một thời điểm duy nhất. Xem Maturity Date.
TERM MORTGAGE: Tiền vay định kỳ có thế chấp. Tiền vay có thế chấp
không chi trả dần, thường thường có thời gian đáo hạn dưới 5 năm, trong đó
chỉ chi trả lãi theo một thời khoảng ấn định, sau đó số vốn hiện hành khi đáo
hạn sẽ được chi trả dồn một lần (balloon payment). Xem Standing Mortgage.
TERM REPURCHASE AGREEMENT: Thoả thuận mua lại theo định kỳ. Thoả
thuận mua lại có thời gian đáo hạn hơn một ngày. Nó còn gọi là Term Repo.
Ngân hàng và tổ chức tiết kiệm có dư tiền mặt thường đầu tư vào trái phiếu
nhà nước (thay vì chứng chỉ ký thác, nó có thời gian đáo hạn tối thiểu là 7
ngày. Trong thoả thuận mua lại, ngân hàng mua trái phiếu của dealers
(người mua bán cho chính mình) hay của ngân hàng (không mua bán cho
mình - non dealers bank) với thoả thuận sẽ bán lại sau này với giá đã định
trước. Chênh lệch giữa giá mua và giá bán lại tức là số lãi. Thoả thuận mua
lại định kỳ có thể trả hoa lợi cao hơn thoả thuận mua lại qua đêm (overnight
repos) bởi vì người bán chấp nhận rủi ro lãi suất trong một thời gian dài hơn
là          thoả         thuận         mua         lại        qua         đêm
TERMINAL BONUS: Tiền bồi dưỡng cuối cùng. Trong bảo hiểm, số chi trả
tiền mặt được lập ra ngoài số tiền thu được của hợp đồng bảo hiểm khi hợp
đồng đáo hạn hay khi người được bảo hiểm chết. Tiền bồi dưỡng này được
chi trả từ số lợi nhuận thuần kiếm được do đầu tư, được hợp đồng bảo hiểm
chi trả theo quyền hạn tự do hành động của Nhà Bảo Hiểm.
TERMINAL MARKET: Thị trường đầu cuối. Thị trường hàng hoá toạ lạc tại
Trung Tâm Mua Bán chính. Giao dịch mua bán tại thị trường đầu cuối phần
lớn tập trung vào hợp đồng Futures, mặc dù hàng hoá thuộc thị trường tại
chỗ (thị trường tiền mặt, spot market) cũng có thể được mua bán. Thị
trường không thuộc đầu cuối (nonterminal) được thiết lập tại trung tâm sản
xuất.
TERM SHARE: Cổ phần định kỳ. Một đơn vị tài chánh không thể được chi trả
tiền mặt theo yêu cầu, thí dụ cổ phần trong hiệp hội tín dụng hay hiệp hội
tiết               kiệm               và                cho               vay.
TERMINATION STATEMENT: Báo cáo kết thúc. Báo cáo giải toả quyền đòi
chi trả hay quyền lợi bảo đảm của người cho vay trong số tài sản của người
vay khi nợ đã được trả đầy đủ và kết thúc báo cáo tài trợ đã nạp trước đây.
Nhà nước quy định người cho vay phải ký báo cáo kết thúc, để xoá tên người
vay      trong      quyền     giữ      tài      sản     làm     thế      chấp.
TERMS OF TRADE: Đáp số của mậu dịch. Còn gọi là Trade Terms, một
phương thức đo lường diễn biến thực hiện kinh tế của một quốc gia. Khi
được xác định bằng trị giá xuất khẩu so sánh với nhập khẩu. Một quốc gia có
đáp số mậu dịch thích hợp sẽ nhận nhiều biên nhận xuất khẩu hơn là phải
chuyển tiền cho nhập khẩu hoặc trị giá tăng thêm của xuất khẩu lớn hơn
nhập khẩu. Ngược lại, quốc gia có đáp số mậu dịch không thích hợp sẽ phải
chuyển tiền cho nhập khẩu nhiều hơn là nhận từ xuất khẩu.
TEST:        Kiểm        tra,     bản        tiêu      chuẩn       tỷ       lệ.
Tổng quát: kiểm tra để xác định kiến thức, khả năng, chuyên môn.
Tài chánh: tiêu chuẩn dùng để đo lường phù hợp theo quy định tỷ lệ tài
chánh của giao kèo và các thoả thuận cho vay khác. Thí dụ, tài sản hiện
hành đối với tiêu chuẩn tỷ lệ nợ hiện hành, nợ đối với tỷ lệ trị giá thuần.
Chứng khoán: từ ngữ được dùng liên quan đến biến chuyển giá cả đang tiến
gần đến mức giá đỡ (support level) và mức giá đề kháng (resistance level)
của hợp đồng future hàng hoá, chứng khoán hay thị trường đã thiết lập trước
đây. Mức thử nghiệm (test) được chấm dứt nếu các mức giá này không bị
thâm nhập và không còn giá trị nếu giá cả tiếp tục tăng lên mức thấp nhất
hay cao nhất. Thí dụ, các nhà phân tích nói rằng nếu chỉ số công nghiệp Dow
Jones vừa qua hình thành trên căn bản vững chắc là 1.000 và giá cả đang
rớt từ 1.100, giai đoạn thử nghiệm bắt đầu đến gần. Nếu giá cả một khi lại
tăng lên khi chỉ số Dow đang giảm 1.000 và tiếp tục đi lên nữa thì thử
nghiệm chấm dứt. Nếu giá rớt xuống dưới 1.000 thì thử nghiệm thất bại.
Xem                             Technical                             Analysis.
TEST NUMBER: Số kiểm tra. Số đầu trong số chi trả bằng hệ thống điện tử
chuyển ngân quỹ hay số chỉ dẫn chi trả xác định ngân hàng xuất phát. Nó
còn được gọi là key hay test key. Số này thay đổi mỗi lần chuyển tải giữa
các     ngân    hàng     để   ngăn      ngừa     người    ngoài   lợi   dụng.
TESTAMENTARY TRUST: Uỷ thác di chúc. Uỷ thác do di chúc lập ra, nó
khác với uỷ thác giữa những người còn sống (inter vivos trust) được thiết lập
trong       suốt       cuộc      đời       của       người      bảo        trợ.
TESTAMENTARY TRUSTEE: Người thụ uỷ di chúc. Người được uỷ quyền để
quản lý một uỷ thác, gồm các tài khoản trong công ty môi giới, sự uỷ quyền
này do người nay đã chết lập ra. Thẩm quyền của người thụ uỷ di chúc được
lập ra bằng di chúc sau cùng của người nay đã chết, người này là người đã
lập                ra                sự                uỷ                thác.
TESTATOR: Người lập di chúc. Người đã chết có để lại di chúc hợp pháp để
phân phối tài sản cho những người thừa hưởng. Đôi khi còn gọi là settlor.
Hãy               so                 sánh              với              trustor.
THEORETICAL VALUE (OF A RIGHT): Trị giá lý thuyết. Trị giá thị trường
của đặc quyền đăng ký (market value of subscription right) được xác định
theo toán học sau khi việc phát hành được tuyên bố hay trước khi chứng
khoán chưa có đặc quyền (ex-rights). Công thức bao gồm trị giá thị trường
hiện hành của chứng khoán thường, giá đăng ký mua, số đặc quyền đủ mua
một cổ phần chứng khoán : Trị giá lý thuyết = Trị giá thị trường CK thường
trừ (-) Giá đăng ký mua 1 cổ phần/ Số đặc quyền đủ mua một cổ phần cộng
(+)                                                                           1
Vì thế, nếu giá thị trường chứng khoán thường là $50/cổ phần, giá đăng ký
là $45/cổ phần, tỷ lệ đăng ký là 4 lấy 1 (có 4 đặc quyền thì mua được một
cổ      phần),     thì      trị     giá    một     quyền       sẽ     là     1:
50             -             45/           4+1=              5/5=             1
THIN CAPITALIZATION: Tư bản hoá yếu (mỏng). Công ty có quá ít vốn
đăng ký và có quá nhiều nợ. Trong vài quốc gia, tiền lãi trong một phần số
nợ được xem là loại cổ tức có thuế, theo đó sẽ làm giảm số tiền lãi có thể
khấu                trừ                vào              lợi              nhuận.
THIN MARKET: Thị trường mỏng manh (dễ mất quân bình). Thị trường
trong đó có ít giá đặt mua để mua và có ít giá đặt bán để bán. Đặc tính thị
trường mỏng có thể áp dụng cho toàn thể một hạng loại (lớp) chứng khoán
hay hợp đồng futures hàng hoá - như chứng khoán nhỏ trên thị trường ngoài
danh mục hay thị trường nhôm. Thị trường mỏng có thể ám chỉ một loại
chứng khoán cá biệt nào đó không có liệt kê mua bán trên thị trường chính
hay mua bán trên thị trường ngoài danh mục. Giá cả trong thị trường mỏng
thường bất ổn định hơn trong các thị trường có khả năng chuyển đổi ra tiền
mặt (khả năng thanh toán) lớn, bởi vì một vài vụ mua bán có thể ảnh hưởng
mạnh đến giá cả. Nhà đầu tư thuộc tổ chức mua hay bán từng khối lớn
chứng khoán có khuynh hướng tránh các thị trường mỏng bởi vì họ khó mà
tham gia vào hay rút ra khỏi vị thế mà không ảnh hưởng trực tiếp cụ thể đến
giá                                 chứng                                khoán.
THIRD COUNTRY ACCEPTANCE: Giấy chấp nhận của nước thứ ba. Trong
mậu dịch quốc tế, đây là giấy chấp nhận của ngân hàng rút ở một ngân
hàng trong một quốc gia không phải ở quốc gia của nhà nhập khẩu hay xuất
khẩu, và được chi trả bằng tiền tệ quốc gia của ngân hàng chấp nhận. Giấy
chấp nhận của nước thứ ba còn gọi là refinance bills, thường được nhà xuất
khẩu sử dụng để có số tài trợ ngân hàng theo lãi suất thị trường hợp lý
(competitive rates - lãi suất thị trường cạnh tranh), kể từ thập niên 70, Nhật
và Hàn Quốc đã tài trợ một phần lớn số xuất khẩu kể cả xuất khẩu đến các
quốc gia châu Âu thông qua giấy chấp nhận ngân hàng tính theo đơn vị đồng
dollars Hoa Kỳ làm cho giấy chấp nhận càng được phát triển trong những
thập                      niên                    cuối                     này.
THIRD - COUNTRY DUMPER: Người phá giá thuộc nước thứ ba. Một quốc
gia cho phép nhà sản xuất bán dưới giá phí tại thị trường nước ngoài. Thí dụ,
quốc gia A cho phép hàng xuất khẩu được phá giá ở quốc gia B. Quốc gia C
sẽ tố cáo quốc gia A bởi vì việc buôn bán của quốc gia A với quốc gia B sẽ
ảnh hưởng xấu đến việc mua bán giữa quốc gia C và quốc gia B.
THIRD PARTY CONTROL: Kiểm soát của bên thứ ba. Kế toán trưởng tài
khoản bên thứ ba yêu cầu thành viên duy trì thêm hồ sơ, tài khoản dưới sự
kiểm soát của bên thứ ba xảy ra khi một người đưa lệnh mua bán không
phải là khách hàng cũng không phải là thành viên của NFA (National Futures
Accociation - Hiệp hội quốc gia về hợp đồng Futures) hay là một trong những
AP (Associated Person - Người cộng tác). Bên thứ ba này không thể thực
hiện quyền hạn tự do hành động trừ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
1. Thành viên có văn bản làm bằng chứng uỷ quyền mua bán của khách
hàng.
2. Thành viên có giấy xác nhận của khách hàng cho biết ông ta đã nhận tài
liệu thông báo rõ ràng thích đáng. Các yêu cầu trên không cần thiết nếu bên
thứ ba là thành viên trực hệ trong gia đình của khách hàng.
THIRD MARKET: Thị trường thứ ba- thị trường cấp III. Broker và Dealers
không phải thành viên của thị trường chính và nhà đầu tư thuộc tổ chức,
mua bán trên thị trường ngoài danh mục các chứng khoán có liệt kê trên thị
trường chính. Thị trường cấp III trở nên quan trọng trong thập niên 1950 khi
các nhà đầu tư thuộc tổ chức bắt đầu mua chứng khoán thường để ngăn
ngừa lạm phát và khi tỷ lệ hoa hồng cố định vẫn còn hiện hành trên các thị
trường. Bằng cách mua bán từng khối lớn với các công ty không phải là
thành viên của thị trường chứng khoán chính, họ vừa tiết kiệm được tiền hoa
hồng (vì có thể thương lượng) vừa tránh được tác động làm rối loạn giá cả
do việc mua bán lớn trên các thị trường gây ra. Sau khi tỷ lệ hoa hồng cố
định bị huỷ bỏ, một số công ty hoạt động tích cực ở thị trường cấp III đã trở
thành các công ty thành viên do đó họ có thể quan hệ mua bán với các công
ty thành viên khác cũng như với các công ty không phải là thành viên. Cùng
lúc đó, các công ty thành viên bắt đầu gia tăng việc chuyển từng khối lớn
chứng khoán ra khỏi hiện trường mua bán (sàn mua bán- floor) của các thị
trường chính, thực tế là đang trở thành các người dự phần trong thị trường
cấp III. Tuy nhiên, trước khi bán chứng khoán ra khỏi thị trường chính cho
người không phải là thành viên, công ty thành viên phải thoả mãn tất cả các
lệnh có giới hạn (limit order) trong sổ chuyên viên (specialist's book) có
cùng    một    giá   hay    có   giá   cao    hơn.   Xem     off-floor    order.
THIRD      -   PARTY       CHECK:     Chi    phiếu    cho    bên     thứ     ba.
1. Chi phiếu được chi trả thông qua ngân hàng, ngoại trừ chi phiếu trả cho
chính người viết chi phiếu đó (nghĩa là chi phiếu được viết để lấy tiền mặt).
Bên thứ nhất trong giao dịch là ngân hàng trong đó chi phiếu được rút ra.
Bên thứ nhì là người rút tiền bằng chi phiếu dựa trên quỹ ký thác trong ngân
hàng. Bên thứ ba là người được trả tiền, người bối thự chi phiếu.
2. Chi phiếu bối thự kép- Trong trường hợp này, người được chi trả bối thự
chi phiếu bằng cách ký tên phía sau, sau đó chuyển chi phiếu cho người tiếp
theo, người bối thự chi phiếu ưu tiên đổi chi phiếu lấy tiền mặt. Người nhận
chi phiếu có nhiều người bối thự thường miễn cưỡng nhận nó trừ khi họ có
thể     xác     minh     chữ     ký     của    từng     người       bối     thự.
3. Hối phiếu chi trả qua trung gian (payable-through drafts) và các lệnh chi
trả khác (negrotiable orders) không do công ty cung cấp trực tiếp phục vụ.
Thí dụ, một chi phiếu được viết ra dựa trên quỹ hỗ tương đầu tư thị trường
tiền tệ được giải quyết không phải bởi công ty hỗ tương đầu tư mà tiêu biểu
bởi ngân hàng thương mại là ngân hàng cung cấp dịch vụ cho bên thứ ba
hay "chi trả qua trung gian". Lệnh trả tiền, hối phiếu cổ phần liên hiệp tín
dụng và chi trả rút ra dựa trên tài khoản công ty môi giới là loại "chi trả qua
trung         gian"         hay        cho         bên          thứ          ba.
THIRD PARTY CREDIT: Tín dụng cho bên thứ ba. Tín dụng tạo điều kiện
dễ dàng cho việc bán hàng hoá và dịch vụ theo thoả thuận với một người
nào đó chứ không phải với người bán. Thương buôn bán lẻ chấp nhận thẻ tín
dụng ngân hàng và thẻ du lịch giải trí như là số chi trả hàng hoá, nó thường
ít tốn kém hơn là cấp tín dụng trực tiếp, bởi vì thương buôn được nhẹ bớt
phần chi phí tài trợ cho tài khoản thu tín dụng và thu tiền chi trả. Đổi lại, số
chi trả của chiết khấu thương buôn (marchant discount) tính bằng số phần
trăm doanh số thuần, thương buôn có thể có ngay số tín dụng cho phiếu bán
bằng thẻ ngân hàng đã ký thác ở một ngân hàng. Nếu tỷ lệ chiết khấu
thương buôn là 2%, thương buôn có thể nhận $98 cho mỗi $100 trong
doanh số tín dụng. Hễ chừng nào thương buôn còn theo các điều khoản của
tín dụng thì thương buôn còn có thể không bị thua thiệt tín dụng hay thua lỗ
vì    lừa   đảo.      Xem      Private    Label  Credit,    Revolving   Credit.
THIRD PARTY PAYMENNT: Chi trả cho bên thứ ba. Xem Third party
transfer.
THIRD PARTY TRANSFER: Chuyển ngân quỹ cho bên thứ ba. Số chi trả
được ký gửi vào tài khoản của một người nào đó chứ không phải cho người
đề xuất chi trả hay người đáng lẽ nhận đầu tiên. Số chi trả đó có thể là: chi
phiếu trả cho bên thứ ba (third party checks) được chuyển bằng bối thự, chỉ
thị của người tiêu dùng hoặc là số chi trả thông qua hệ thống điện tử. Xem
Telephone                                Bill                         Payment.
THIRTY - DAY VISIBLE SUPPLY: Nguồn cùng hiển nhiên trong vòng 30
ngày. Tổng số lượng tiền của trái phiếu đô thị mới, có thời khoảng đáo hạn
từ 13 tháng trở lên số này được lập biểu gia nhập thị trường trong vòng 30
ngày. Số liệu được cung cấp vào ngày thứ sáu trong báo Bond Buyer.
THIRTY - DAY WASH RULE: Quy tắc trước sau 30 ngày. Luật của nhà
nước quy định rằng thua lỗ của việc bán chứng khoán không được dùng như
thua lỗ trong mục tiêu về thuế (có nghĩa là bù vào số lợi nhuận bị thuế), nếu
người ta mua số chứng khoán tương đương trong vòng 30 ngày trước hay 30
ngày                 sau                thời             điểm              bán.
THRIFT INSTITUTION: Tổ chức tiết kiệm. Tổ chức đầu tiên được thành lập
như một tổ chức tồn ký thác cho số tiền tiết kiệm của người tiêu thụ, các
hình thức thông dụng khác là hiệp hội tiết kiệm và cho vay và ngân hàng tiết
kiệm. Theo thông lệ, tổ chức tiết kiệm cho vay hầu hết quỹ ký thác của tổ
chức trong thị trường thế chấp nơi cư trú và tiếp tục công việc này sau khi
luật pháp đầu thập niên 1980 mở rộng tầm phạm vi dịch vụ ký thác của tổ
chức và cho phép họ thực hiện các mục cho vay thương mại và cho người
tiêu thụ vay. Các liên hiệp tín dụng (credit union) đôi khi cũng nằm trong
loại tổ chức tiết kiệm, bởi vì nguồn ký thác chính của liên hiệp cũng là số tiết
kiệm của cá nhân, mặc dù là theo thông lệ họ chỉ cho người tiêu thụ vay một
số nhỏ, không cho vay có thế chấp. Xem: Depository institutions
deregulation and monetary control act, mutual association, mutual savings
bank.
THROWBACK RULE: Quy luật trả lui. Trong lãnh vực uỷ thác, luật nhà nước
quy định rằng tài sản uỷ thác được phân bổ trong bất cứ năm thuế nào có số
vượt mức cho phép năm đó thì được xem như (vì mục tiêu thuế) là lợi tức đã
kiếm được và đã phân bổ trong năm trước. Nói cách khác, nó được tính lui
vào        năm           trước         hay      những         năm        trước.
TICK: Nhích một chút- (lên hay xuống) một gạch. Biến chuyển giá theo
hướng xuống trong mua bán chứng khoán. Các nhà phân tích kỹ thuật quan
sát biến chuyển nhỏ (tick) liên tục tăng hay giảm của chứng khoán để có
một ý niệm về chiều hướng chứng khoán. Từ ngữ này cũng có thể áp dụng
trên toàn thị trường. Xem closing tick, Downtick, Minus tick, Plus tick, Short
sale rule, Technical Analaysis, Uptick, Zero-minus tick, Zero-plus tick.
TICKER: Băng điện báo. Hệ thống cung cấp báo cáo chạy theo bảng hình
các hoạt động mua bán trên các thị trường chứng khoán, còn được gọi là
ticker tape. Tên này bắt nguồn từ một cái máy hồi xưa in thông tin bằng
cách bấm lỗ trên băng giấy tạo nên tiếng kêu tíc tắc rõ ràng khi băng chạy
qua. Băng điện báo ngày nay là màn hình máy vi tính và từ ngữ này ám chỉ
cả consolidated tape (băng tổng hợp) là loại cho biết ký hiệu chứng khoán,
giá cuối cùng, số lượng mua bán trên thị trường và từ ngữ cũng ám chỉ dịch
vụ tin tức bằng băng điện báo. Xem: Quotatiom Board, ticker tape.
TICKER SYMBOL: Ký hiệu băng hình (băng điện báo). Chữ cái xác định
chứng khoán trên băng tổng hợp dùng cho mục đích mua bán, như XON là
exxon corporation (công ty exxon). Xem: Stock symbol, Ticker tape.
TICKER TAPE: Băng điện báo (màn hình máy vi tính). Công cụ truyền ký
hiệu chứng khoán, giá cuối cùng và số lượng chứng khoán đang được mua
bán đến các nhà đầu tư trên khắp thế giới. Trước khi phát minh ra máy vi
tính, máy này có một công cụ in phát ra tiếng to có âm tíc tắc. Kể từ năm
1975, NYSE và AMEX sử dụng băng tổng hợp, nó cho biết về thị trường
chứng khoán New york và thị trường chứng khoán vùng nơi xuất phát một
vụ mua bán. Các hệ thống khác được gọi là điện báo mới, nó chạy bảng
thông báo tin tức kinh tế, tài chính, thị trường mới nhất. Ticker Tape còn gọi
đơn giản là Tape. Xin xem minh hoạ về băng tổng hợp dưới đây.
TL                 MMM&P            IBM&T                    XON&M
3S41 5/8           83 1/2           4S124 1/4                2S41
Phần mẫu của băng tổng hợp


Trên cùng là 4 công ty: Trades in time Inc, Minnesota Mining and
Manufacturing, IBM, Exxon. Chữ cái đứng sau ký hiệu cho biết thị trường
chứng khoán Pacific (Pacific Stock Exchange), T là thị trường cấp III (third
market), M là thị trường Trung Tây (Midwest exchange) không có chữ gì thì
có nghĩa là thị trường chứng khoán New York (NYSE : New York Stock
Exchange). Các ký hiệu khác không minh hoạ trong bảng này là X tức
Philadelphia Stock Exchange - B là Boston Stock Exchange, O là các thị
trường khác kể cả thị trường cấp IV (Instinet). ở hàng dưới, con số đứng
trước chữ S là số nhân của 100 cổ phần. Như thế 300 cổ phần của Time, Inc
đã được mua bán với giá 41 5/8 tại NYSE; 100 cổ phần của Minnesota
Mining đã được mua bán ở Pacific Stock Exchange với giá 83 1/2 và tiếp
tục...
TIED AID: Viện trợ có ràng buộc (có điều kiện). Viện trợ có điều kiện trao
cho một Nhà Nước để có điều kiện mua hàng hoá hay dịch vụ ở quốc gia
khác.
TIED LOAN: Tiền cho vay có ràng buộc (có điều kiện). Một biến thể của
viện trợ có điều kiện, theo đó được một nhà nước trao cho một nhà nước
khác        với       các       điều      khoản         nhân       nhượng.
TIED OUTLET: Cửa hàng có ràng buộc. Xem Typing Contract.
TIERED RATE ACCOUNT: Tài khoản xếp theo thang lãi suất. Tài khoản tiết
kiệm trả lãi suất tính theo tỷ lệ số tiền đầu tư có trong tài khoản. Tiêu biểu
là số cân đối trong tài khoản càng cao chừng nào thì lãi suất càng cao từng
đó. Tài khoản tiết kiệm có thời hạn dài hơn thì được trả lãi suất cao hơn tài
khoản             có           thời          hạn           ngắn             hơn.
TIGER: Chữ đầu viết tắt của Treasury Investors Growth Receipt, một hình
thức chứng khoán lãi suất 0 (zero-coupon security) đầu tiên do công ty môi
giới Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Smith sáng tạo ra. Tiger là loại trái phiếu
được nhà nước bảo đảm, nó được tách khỏi phần coupon (Phần lãi - dưới
hình thức một mảnh giấy đính kèm vào trái phiếu). Cả phần gốc (phần vốn -
corpus) trái phiếu và phần coupon được bán riêng ra với giá khấu trừ rất cao
so với mệnh giá. Nhà đầu tư nhận số tiền theo mệnh giá Tiger khi trái phiếu
đáo hạn nhưng không nhận chi trả tiền lãi từng kỳ. Tuy nhiên, theo luật lệ
Internal Revenue Service, những người giữ Tiger vẫn phải nợ thuế lợi tức về
số tiền lãi mà họ đã kiếm được như số tiền lãi quy cho trái phiếu có coupon
đầy đủ (full coupon bond - trái phiếu có lãi bằng hay hơn lãi suất thị trường).
Để tránh phải chịu thuế vì không có hưởng gì về lợi tức mà phải chi trả thuế
này, hầu hết nhà đầu tư đưa Tiger vào tài khoản hưu trí cá nhân hay Keogh
hoặc       các      kế      hoạch       hoãn      thuế     (tax       deffered).
TIGHT MARKET: Thị trường chặt chẽ. Thị trường tổng quát hay thị trường
của một loại chứng khoán nào đó được ghi nhận là mua bán tích cực và
chênh lệch giữa giá đặt mua và giá đặt bán không cách xa bao nhiêu (chênh
lệch ít). Ngược lại là thị trường lỏng lẻo (slack market) có đặc tính là mua
bán yếu ớt và chênh lệch lớn (giữa giá đặt mua và giá đặt bán). Xem :
Spread.
TIGHT MONEY: Tiền tệ hạn hẹp. Tình trạng kinh tế trong đó rất khó khăn
để đảm bảo có tín dụng (khó vay), thường là do dự trữ nhà nước giới hạn
nguồn cùng tiền tệ. Ngược lại là tiền tệ rộng rãi (easy money). Xem :
Monetary                                                                  Policy.
TIME BILL OF EXCHANGE: Hối phiếu định kỳ (có kỳ ngắn hạn). Hối phiếu
được chi trả vào một thời điểm nào đó chứ không phải khi lúc trình (thí dụ
như             được            trả          sau           30             ngày).
TIME DEPOSIT: Ký thác định kỳ (ngắn hạn). Tài khoản tiết kiệm hay chứng
chỉ ký thác được giữ trong tổ chức tài chánh theo kỳ hạn cố định, được hiểu
là người ký thác chỉ có thể rút tiền khi có báo trước. Trong khi ngân hàng có
quyền quy định phải báo trước 30 ngày để rút tiền từ tài khoản tiết kiệm thì
tài khoản theo số gửi tiền thường được xem như loại quỹ sẵn sàng và dễ
dàng rút ra. Mặt khác, chứng chỉ ký thác được phát hành có kỳ hạn ấn định
từ 30 ngày trở lên và nếu rút sớm sẽ bị phạt. Các tổ chức tài chánh được tự
do thương thảo chi trả theo bất kỳ hạn mà khách hàng muốn đối với ký thác
kỳ hạn hay chứng chỉ, miễn là thời hạn phải ít nhất 30 ngày và chi trả lãi
suất cao hay thấp như thị trường chấp nhận. Xem : Depository Institutions
Deregulation and Monetary Control Act, Regulation Q.
TIME DRAFT: Hối phiếu định kỳ (ngắn hạn). Hối phiếu được chi trả theo
thời gian ấn định hay đã xác định trong tương lai, nó khác với sight draft (hối
phiếu chi trả ngay trước mắt), nó được chi trả khi trình ra hay giao cho.
TIME LETTER OF CREDIT: Tín dụng thư có kỳ hạn (ngắn hạn). Tín dụng
thư chi trả vào một thời điểm ấn định (thí dụ trong 30 ngày).
TIME LOAN: Tiền cho vay định kỳ ngắn hạn. Tiền vay doanh nghiệp ngắn
hạn được chi trả đủ một lần vào thời điểm đáo hạn ấn định, thí dụ như 30,
60, 90 hay 120 ngày. Tiền lãi của loại tiền vay này thường được khấu trừ
trước khi cho vay. Nó khác với demand loan (tiền vay hoạt kỳ), người cho
vay không thể thu hồi (ra lệnh gọi - call) hay yêu cầu trả lại tiền vay định kỳ
trước thời hạn. Tiền vay định kỳ được trả lại bằng doanh thu tài sản, thí dụ
như số tiền bán hàng kho hay số tiền thu của tài khoản thu. Xem Discount,
Term       Loan       (tiền     cho      vay     định      kỳ     dài     hạn).
TIME - OUT: Tạm ngưng. Tình trạng của hệ thống dịch vụ ngân hàng trong
tuyến (on line), ở đây khách hàng không đáp ứng được yêu cầu giao dịch
mua bán theo giới hạn thời gian ấn định, được gọi là Response Time (thời
gian trả lời). Sau đó máy nhận đầu cuối sẽ ngưng liên lạc từ người điều
khiển chủ chốt và khách hàng sẽ phải bỏ giao dịch mua bán.
TIME - SALE FINANCING: Tài trợ định kỳ ngắn hạn cho số bán. Hình thức
cho vay gián tiếp (tài trợ cho người buôn bán dealer financing), trong đó
ngân hàng hay bên thứ ba mua hợp đồng buôn bán trả dần (của người buôn
bán) với giá có khấu trừ vào mệnh giá và người vay sẽ chi trả cho người cho
vay. Điều này thường được thực kết hợp với kế hoạch cho hàng kho của
người              buôn              bán            (floor            planning).
TIME SPREAD: Mua bán song hành Option theo thời hạn. Sách lược về hợp
đồng Option trong đó nhà đầu tư mua và bán hợp đồng Put Option và Call
Option có cùng giá thực hiện (exercise price - giá điểm - strike price) nhưng
khác ngày đáo hạn. Mục đích của việc này và của các sách lược hợp đồng
Option khác là nhằm kiếm lợi nhuận do sự chênh lệch phí mua Option
(option premium) là giá phải trả để mua Options. Xem Calendar Spread,
Horizontal                                                              Spread.
TIME             VALUE:             Trị         giá          thời          gian.
Tổng quát: trị giá dựa trên thời gian mà nhà đầu tư phải đợi cho đến khi đầu
tư đáo hạn, nó được xác định bằng cách tính trị giá hiện tại của nhà đầu tư
lúc       đáo        hạn.       Xem        :       Yield      to       Maturity.
Hợp đồng options: đó là một phần của phí mua option chứng khoán, nó phản
ảnh thời gian còn lại của một hợp đồng option trước khi đáo hạn. Phí option
bao gồm trị giá thời gian và trị giá nội tại (intrinsic value) của hợp đồng
option.
Chứng khoán: chênh lệch giữa giá một công ty đưa ra để tiếp quản và giá
trước khi tiếp quản xảy ra. Thí dụ, nếu công ty XYZ sẽ bị tiếp quản với giá
$30/cổ phần trong thời gian 2 tháng, cổ phần XYZ hiện tại đang bán với giá
$28,50. Chênh lệch $1,50/cổ phần là giá phí thời gian mà người có cổ phần
XYZ phải gánh chịu nếu họ muốn đợi 2 tháng để có giá $30/cổ phần. Khi 2
tháng từ từ trôi qua, trị giá thời gian cũng từ từ co lại và biến mất vào ngày
tiếp quản. Thời gian mà nhà đầu tư giữ cổ phần XYZ có một giá trị bởi vì thời
gian này có thể dùng để đầu tư vào việc khác đem lại lợi nhuận cao hơn.
Xem:                               Opportunity                             Cost.
TIME - WEIGHTED RETURN: Lợi nhuận nặng về thời gian. Phương pháp
tính toán danh mục đầu tư dùng để đo lường diễn biến đầu tư (thay đổi về
lợi tức và giá cả) dưới dạng số phần trăm tư bản (vốn) "đang hoạt động", nó
loại bỏ ảnh hưởng của số tư bản thêm vào hay rút ra và việc định thời điểm,
vì các yếu tố này làm lệch lạc việc tính toán lợi nhuận nặng về số dollar
(dollar-weighted return-lợi nhuận tính theo số dollar). Bởi vì khó thực hiện
cụ thể tính toán lợi nhuận nặng về thời gian nên các ngành chấp nhận con số
ước chừng với giả định là tất cả số tư bản thêm vào và rút ra xảy ra cùng
một lúc vào giữa giai đoạn báo cáo. Vì thế hiệu suất bằng lợi nhuận trên số
trị giá tài sản vào lúc bắt đầu tính toán cộng với lợi nhuận trên số thuần của
số thêm vào và rút ra trong suốt giai đoạn sau đó chia cho 2. Các giai đoạn
(thường là từng quý) được nối kết nhau để cho ta tổng số lợi nhuận trung
bình.
TIMES FIXED CHARGES: Phí cố định theo từng kỳ. Xem Fixed-Charge
Coverage.
TIP:        Tiền    boa,       tuy      dô      (mẩu     tin   quan      trọng).
Tổng quát: chi trả trên mức giá phí hay chi phí thông thường; nó chỉ trả
thêm cho một công việc có dịch vụ như cho thêm người hầu bàn, người phục
vụ khách sạn, người lái taxi (cab driver) và những người phục vụ khác.
Đầu tư: thông tin do người này chuyền sang người khác để làm cơ sở mua
hay bán chứng khoán. Thông tin này được xem là có giá trị cụ thể và không
phổ biến trong dân chúng. Nhà nước quy định chặt chẽ việc sử dụng các
thông tin này đối với những người được gọi là người trong nội bộ, và trong
một vài trường hợp các phiên toà (court cases) đã đề ra các trách nhiệm
pháp lý của người nhận, sử dụng và chuyển các thông tin đó (gọi là tipee).
Xem               :             Insider            Inside,          Information
TITLE: Quyền được đòi hỏi, quyền sở hữu. Quyền đòi chi trả hợp lệ theo luật
định đối với việc sở hữu tài sản thực (real property), có văn tự, chứng chỉ
quyền sở hữu làm bằng chứng. Người cho vay sẽ cấp tài trợ tiền vay có thế
chấp cho người mua chỉ khi nào người bán giữ quyền sở hữu không có tranh
chấp           của         tài          sản         đang        nói         đến.
TITLE COMPANY: Công ty xác minh quyền sở hữu. Công ty xác minh quyền
sở hữu tài sản thực, thường được thực hiện liên kết với giấy chuyển nhượng
tài sản thực từ người mua sang người bán. Người sở hữu hợp lệ được xác
định thông qua việc kiểm tra toàn bộ hồ sơ ghi chép về tài sản trong tiến
trình xác minh quyền sở hữu (title search). Công ty này sẽ cấp một chứng
chỉ    sở     hữu   chủ    dựa     trên    việc   kiểm     tra của   công    ty.
TITLE DEFECT: Thiếu sót trong quyền sở hữu. Quyền đòi chi trả hợp lệ ở
trong tình huống khó xác định người sở hữu thực của tài sản hay người
chuyển quyền sở hữu tài sản đến người khác. Nó còn được gọi là cloud on
title hay clouded title (quyền sở hữu không rõ ràng), như khi quyền sở hữu
không được ghi chép rõ ràng chính xác hay khi quyền sở hữu tài sản thế
chấp thứ hai đã được huỷ bỏ khi nợ đã được trả đủ.
TITLE INSURANCE: Bảo hiểm quyền sở hữu. Bảo hiểm ngăn ngừa mất mát
do thiếu sót trong quyền sở hữu, được phát hiện sau khi tài sản được chuyển
từ người mua sang người bán và người mua đã nhận mua tiền vay mới có
thế chấp. Điều này bảo vệ người vay ngăn cản các quyền đòi chi trả không
có xác định trong tiến trình xác minh quyền sở hữu hay các quyền đòi chi trả
không được liệt kê đặc biệt như là trường hợp ngoại lệ trong hợp đồng bảo
vệ                       quyền                        sở                    hữu.
TITLE SEARCH: Rà soát quyền sở hữu. Tiến trình xác minh người sở hữu
thực sự của tài sản bằng việc xem xét lại cẩn thận hồ sơ ghi chép địa chính
của nhà nước, thường thường dưới sự chỉ dẫn của chuyên viên về lãnh vực
này. Việc thẩm tra này cũng xác định là có các quyền giữ thế chấp hiện hành
nào không, hay có những vướng mắc nào trong tài sản không và xác định
các kết quả trong việc cấp bản sao lục (abstract) quyền sở hữu của công ty
xác               minh                quyền               sở              hữu.
TOEHOLD PURCHASE: Mua dần dần (một cách âm thầm). Số tích luỹ dưới
5% các cổ phần của công ty bị tiếp quản (target company-công ty đang là
mục tiêu để tiếp quản) do người thụ đắc (người muốn tiếp quản) thực hiện.
Một khi đạt đến 5%, người thụ đắc theo quy định phải báo bằng văn bản đến
nhà nước, thị trường chứng khoán tương ứng (nơi mua bán cổ phần đó) và
ngay chính công ty bị tiếp quản, người thụ đắc phải giải thích những gì đang
xảy          ra         và         mong          muốn           điều        gì.
Xem            :           Schedule          BD,          William          Act.
TOKYO STOCK PRICE INDEX (TOPIX): Chỉ số giá chứng khoán Tokyo.
Xem                   Nikkei                   Stock                 Average.
TOLL REVENUE BOND: Trái phiếu doanh thu phí giao thông.
Trái phiếu đô thị được bảo đảm bằng doanh thu phí giao thông do người sử
dụng dự án công cộng được xây dựng bằng tiền thu được từ trái phiếu. Trái
phiếu doanh thu phí giao thông được đề xuất để xây dựng cầu cống, đường
hầm                        và                    đường                      xá.
Xem                      :                   Revenue                    Bond.
TOM NEXT: Kế ngày mai, kể từ ngày mốt. Xem Tomorrow Next.
TOMBSTONE: Bảng cáo thị bán chứng khoán, bố cáo. Quảng cáo do ngân
hàng đầu tư đăng trên báo hàng ngày nói về việc bán chứng khoán cho công
chúng. Bảng quảng cáo có đầy đủ chi tiết căn bản về việc phát hành và liệt
kê các thành viên nhóm bao tiêu liên quan đến việc phát hành, nó được
nhập thành nhóm bao tiêu theo thứ tự ABC tuỳ theo tầm mức tham gia của
họ. Bảng quảng cáo không phải là "một đề nghị mua hay chào mời một đề
nghị mua" mà là kêu gọi sự chú ý đến tập quảng bá (prospectus). Đôi khi
còn gọi là thông báo cung ứng (bán) (offering circular). Bảng bố cáo cũng có
thể do công ty ngân hàng đầu tư lập ra để thông báo vai trò của nó trong
một vụ mua bán riêng (private placement), sát nhập công ty hay tiếp quản
một công ty, đối với công ty thì để thông báo một vụ mua bán quan trọng
hay quan hệ mua bán bất động sản, đối với một công ty trong cộng đồng tài
chánh thì để thông báo thu nhận thêm người hay thông báo người chủ đã
chết.
Xem                    :                  Mezzanine                   Bracket.
TOMORROW NEXT (TOM NEXT): Kế tiếp từ ngày mai. Từ ngữ trong thị
trường hối đoái và thị trường tiền tệ ngắn hạn để chỉ các giao dịch mua bán
được thực hiện vào ngày mai hay cung ứng vào ngày làm việc kế tiếp. Thí
dụ, một loại tiền tệ được mua vào ngày thứ ba có thể được cung cấp vào
ngày thứ sáu hoặc tại ngày cung cấp tại chỗ (spot) cộng thêm một ngày. Nó
còn được gọi là rollover hay T/N. Giá thị trường tại chỗ cho việc cung cấp hai
ngày sau được điều chỉnh theo chênh lệch tính theo ngày dôi ra. Xem Spot
Next.
TON: $100 triệu. Biệt ngữ của người buôn bán chứng khoán có nghĩa là
$100                                triệu                              dollars.
TOP - DOWN APPROACH TO INVESTING: Phương pháp đầu tư đi từ trên
xuống. Phương pháp theo đó nhà đầu tư trước hết xem xét các khuynh
hướng trong toàn thể nền kinh tế, kế đó chọn lựa những ngành và công ty
sẽ có lợi trong chiều hướng đó. Thí dụ, nhà đầu tư nghĩ rằng lạm phát sẽ ở
mức thấp như thế sẽ hấp dẫn đối với ngành bán lẻ vì sức chi tiêu của người
tiêu thụ sẽ được nâng cao do lạm phát thấp. Sau đó nhà đầu tư xem xét các
cơ sở bán lẻ quan trọng để biết công ty nào có triển vọng có lợi nhuận tốt
nhất trong thời gian gần. Phương pháp ngược lại là phương pháp đầu tư đi từ
dưới          lên        (bottom-up        approach       to       investing).
TOPIX: Chỉ số giá chứng khoán Tokyo. Xem Nikkei Stock Average.
TOPPING OUT: Đã đến đỉnh. Từ ngữ chỉ một thị trường hay một loại chứng
khoán đã vào thời kỳ cuối của tăng giá và bây giờ người ta mong là nó đứng
giá              hay            có           thể          giảm             giá.
TOPPING UP CLAUSE: Điều khoản lấp đầy. Ngôn ngữ trong loại tiền cho
vay mà một bên có hai người (back-to-back-loan-tiền cho vay có hai người ở
một bên chịu trách nhiệm) hoặc loại tiền cho vay tính theo hai loại tiền tệ
(two-currency loan), nhằm bảo vệ người cho vay không bị thiệt thòi khi tiền
tệ bị phá giá. Người vay theo yêu cầu phải trả thêm một số tiền bằng loại
tiền tệ đang giảm giá nếu hai loại tiền tệ này bị giảm giá theo số lượng đó.
Điều khoản dự phòng này có thể gây ra một số vấn đề nếu một bên của hợp
đồng cho vay không cần đến số tiền tệ đóng thêm, hay phải báo cáo chi trả
lấp đầy này như là lợi tức có thêm. Sự lệ thuộc vào số chi trả đặc biệt này có
thể được giảm bớt bằng cách chuyển sự rủi ro tín dụng (bất tiện như nói
trên) vào một ngân hàng, nhưng đổi lại phải chịu lệ phí ngân hàng.
TOTAL CAPITAL: Tổng số vốn. Phương thức của nhà giám sát ngân hàng
để đo lường khả năng chất lượng vốn để tính số dự trữ vốn trên rủi ro. Tổng
vốn được tính như sau: vốn cổ đông lớp 1 (tier 1) (chứng khoán thường và
chứng khoán ưu đãi có đủ chất lượng) cộng với vốn lớp hai (số dự trữ cho
tiền vay có khả năng bị mất, nợ phụ thuộc, chứng khoán ưu đãi không tính
trong                        vốn                    lớp                     1).
TOTAL CAPITALIZATION: Tổng số tư bản hoá. Cơ cấu vốn (capital
structure) của một công ty bao gồm nợ dài hạn và tất cả hình thức của vốn
cổ                                                                       đông.
TOTAL COST: Tổng giá phí. Kế toán: (thường viết ở dạng số nhiều), tổng số
giá cố định, giá phí có thể thay đổi từng phần (semivariable sosts) và giá phí
thay đổi (giá phí lưu động- variable costs). Đầu tư: Giá hợp đồng chi trả cho
một loại chứng khoán cộng với hoa hồng công ty môi giới cộng với bất cứ
tiền lãi tích luỹ nào liên quan đến người bán (nếu chứng khoán là trái phiếu).
Con số này không được lẫn lộn với căn bản giá phí (cost basis) dùng để tính
thuế tư bản kiếm được, nó có thể có liên quan đến các nhân tố khác như trả
dần           dần         chênh        lệch       giá        trái       phiếu.
TOTAL LEASE OBLIGATION: Tổng số nợ trong hợp đồng thuê mướn. Tổng
số giá phí trực tiếp của một hợp đồng thuê mướn của người tiêu thụ, bao
gồm tiền thuê hàng tháng, tiền lãi và bất cứ số nợ phụ thuộc (chi trả dồn)
đáo hạn vào thời điểm cuối hợp đồng và trị giá thị trường hợp lý (trị giá còn
lại) của tài sản vào lúc kết thúc hợp đồng thuê mướn. Người cho thuê cũng
phải nói cho người thuê biết rằng hợp đồng cho thuê có tính đến việc người
thuê được lựa chọn mua lại tài sản khi kết thúc hợp đồng hay không. Hợp
đồng cho thuê mở rộng có thể quy định chi trả dần nhiều lần tuỳ theo trị giá
tài sản, nhưng nhà nước có thể giới hạn số lần chi trả dồn tính theo tháng.
TOTAL OUTSTANDING UNITS: Tổng số các đơn vị hiện hành.
Tất cả đơn vị được phát hành vào thời điểm hoặc trước thời điểm kết thúc
(kết thúc bán các đơn vị tham gia vào một chương trình).
TOTAL RESERVES: Tổng số dự trữ. Tổng số ký thác mà tổ chức tồn ký thác
có thể tính theo các quy định dự trữ hợp pháp của họ. Nó bao gồm số cân
đối tài khoản dự trữ trong tài khoản ký thác tại ngân hàng dự trữ trong suốt
tuần lễ gần nhất, tiền tệ (ngoại hối) và tiền đúc trong hầm an toàn ngân
hàng, kể cả tiền mặt đang chuyển đi hay nhận về từ ngân hàng dự trữ.
TOTAL RETURN: Tổng lợi nhuận. Lợi nhuận hàng năm của đầu tư bao gồm
trị giá gia tăng, cổ tức hay tiền lãi. Đối với trái phiếu được giữ đến ngày đáo
hạn, tổng lợi nhuận là hoa lợi khi đáo hạn (yield to maturity). Đối với chứng
khoán đó là trị giá gia tăng được dự kiến bằng cách sử dụng tỷ lệ giá/lợi
nhuận hiện hành. Trong mua bán hợp đồng options, tổng lợi nhuận có nghĩa
là cổ tức cộng với tư bản kiếm được cộng với lợi tức phí option.
TOTAL VOLUME: Tổng số lượng. Tổng số cổ phần hay hợp đồng mua bán
một loại chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng futures hàng hoá, hay hợp đồng
option trong một ngày cá biệt nào đó. Đối với các chứng khoán và trái phiếu,
đây là tổng số các vụ mua bán trên các thị trường quốc gia như NYSE và
AMEX và trên các thị trường vùng. Đối với các hợp đồng futures hàng hoá
hay hợp đồng options, nó tiêu biểu cho số lượng các vụ mua bán đã được
thực hiện khắp thế giới trong một ngày. Đối với chứng khoán trên thị trường
ngoài danh mục tổng số lượng được tính bằng chỉ số NASDAQ.
TORRENS CERTIFICATE: Chứng chỉ Torrens. Chứng chỉ sở hữu tài sản
được cơ quan Nhà nước phát hành tại vài tiểu bang. Xuất phát từ Robert
Torrens, một nhà cải cách ruộng đất ở úc, hệ thống Torrens cho phép
chuyển tài sản mà không cần khảo sát quyền sở hữu tài sản. Theo hệ thống
Torrens, quyền sở hữu tài sản được phổ biến sau khi chứng chỉ phát hành và
chẳng          bao       lâu        nữa         sẽ       có        hiệu      lực.
TORT: Làm thiệt hại. Hành động sai lầm, chứ không phải là vi phạm hợp
đồng, gây cho một bên bị mất tài sản hay bị thương tổn thân thể. Người vi
phạm        sẽ      chịu     trách      nhiệm       về      các     thiệt    hại.
TOTTEN TRUST: Uỷ thác Totten. Uỷ thác không chính thức trong đó tài sản
được ký thác vào tài khoản do người lập ra uỷ thác đó kiểm soát, người bảo
trợ (grantor)- giữ ký thác cho người khác- được chỉ định là người thừa
hưởng. Khi người sở hữu tài khoản chết, tài sản được chuyển sang người
thừa hưởng, nhưng bị đánh thuế như một phần tài khoản của người bảo trợ.
Nếu tài khoản có liên kết sở hữu (có nhiều người sở hữu) thì sẽ áp dụng luật
lệ về tài khoản đồng sở hữu khi tất cả những người sở hữu tài khoản chết,
người thừa hưởng sẽ trở thành người sở hữu hợp pháp.
TOUT: Chào hàng. Quảng cáo tích cực một loại chứng khoán nào đó, thường
do quảng cáo viên công ty, các công ty giao dịch với quần chúng, broker,
nhà phân tích thực hiện, họ là những người mong muốn có lãi trong việc
quảng cáo chứng khoán. Chào hàng một chứng khoán sẽ không đạo đức nếu
nó              lừa            dối             nhà              đầu           tư.
TRADE:              Buôn          bán-           Giới          buôn         bán.
Tổng                                                                       quát:
1. Mua hay bán hàng hoá và dịch vụ giữa các công ty, hay quốc gia, nó còn
được gọi là commerce. Số lượng hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu trừ cho số
lượng xuất khẩu tạo thành cán cân mậu dịch (balance of trade). Xem: Tariff,
Trade,                                                                    Deficit.
2. Các đơn vị kinh doanh bán sản phẩm được gọi là thành viên thương mại.
Như thế, họ sẽ nhận phần khấu trừ (discount) từ giá mà công chúng phải
trả.
3. Nhóm các nhà sản xuất cạnh tranh trên cùng thị trường. Các công ty này
thành lập các hiệp hội buôn bán và xuất bản các báo chí thương mại.
4. Các công ty thực hiện công việc kinh doanh với nhau. Thí dụ tài khoản chi
đối với các nhà cung cấp được gọi là tài khoản mua bán để chi (trade
accounts payable), từ ngữ tín dụng thương mại (trade credit) dùng để mô tả
các khoản chi như là nguồn tài trợ vốn lưu động (working capital). Công ty
chi trả hoá đơn ngay lập tức sẽ nhận khấu trừ thương mại khi có thể.
5. Đồng nghĩa với trao đổi hiện vật (barter- đổi chác) trao đổi hàng hoá và
dịch          vụ         mà        không         dùng         tiền        tệ.
Chứng khoán: Thực hiện giao dịch mua hay bán chứng khoán trái phiếu hay
hợp đồng future hàng hoá. Một vụ mua bán hoàn tất khi người mua và người
bán đồng ý theo giá mua bán chứng khoán cho riêng tài khoản ông ta để
kiếm lợi ngắn hạn, ngược lại với nhà đầu tư giữ vị thế của ông ta và hy vọng
kiếm                       lợi                   dài                     hạn.
TRADE ACCEPTANCE: Giấy chấp nhận mậu dịch. Xem Acceptance.
TRADE ASSOCIATION: Hiệp hội mua bán. Một tổ chức hỗ tương quyền lợi,
không vị lợi, được thành lập để cung cấp dịch vụ cho hội viên, nâng cao tiêu
chuẩn học hỏi và chuyên nghiệp, gây ảnh hưởng đến các cơ quan Nhà nước
thông qua các hoạt động hành lang (lobbying, gây ảnh hưởng gián tiếp qua
các            tiếp         xúc         không           chính          thức).
TRADE BALANCE: Cán cân mậu dịch. Xem Balance of trade.
TRADE COMPARISON: Bản so sánh trong giao dịch mua bán.
Bản ghi nhớ hay phiếu được trao đổi giữa hai broker-dealer tham gia vào
một giao dịch mua bán. Nó được so sánh và xác lập các chi tiết của giao dịch
mua                                                                      bán.
TRADE CONFIRMATION: Xác lập giao dịch mua bán. Bản hoá đơn hay bản
so sánh của một vụ mua bán được gửi cho khách hàng vào ngày hay trước
ngày hành chánh đầu tiên tiếp theo sau thời điểm mua bán.
TRADE CREATION: Sáng tạo mậu dịch. Mua bán gia tăng giữa các quốc gia
khi khu vực mậu dịch tự do, hiệp hội thuế quan hay thị trường chung được
thiết lập. Trong hiệp hội kinh tế vùng, mua bán trong nước tăng trưởng do
quan thuế biểu thấp và gia giảm các hàng rào mậu dịch. Tuy nhiên, mậu
dịch với các nước thứ ba cũng có thể tăng, vì các thị trường hấp dẫn trong
một nước thành viên thường tăng cường mậu dịch ra nước ngoài giữa các
quốc gia thành viên và quốc gia không phải là thành viên.
TRADE CREDIT: Tín dụng thương mại. Mở thoả thuận tài khoản với người
cung cấp hàng hoá và dịch vụ, và một hồ sơ chi trả của công ty với người
cung cấp, nợ mua bán bao gồm trong tài khoản chi của công ty. ở Hoa Kỳ
Dun & Bradstreet là cơ quan thu thập tài liệu thông tin tín dụng thương mại
lớn nhất, đánh giá các công ty thương mại, và cung cấp các báo cáo. Các dữ
kiện tín dụng thương mại cũng được các cơ quan mậu dịch tiến hành chuyên
biệt hoá vào các ngành khác nhau. Tín dụng thương mại là một nguồn quan
trọng bên ngoài cho vốn lưu động một công ty; dù tín dụng như thế có thể
sẽ rất tốn phí. Tỷ lệ 2% trong 10 ngày, thuần trong vòng 30 ngày (nếu trả
trong vòng 10 thì khấu trừ 2%, trả toàn bộ số tiền khi đáo hạn 30 ngày) có
nghĩa là lãi suất hàng năm là 36% nếu không trả hết. Mặt khác, cũng cùng
tỷ lệ đó thì lãi suất vay sẽ khoảng 15% nếu chi trả được thực hiện trong 60
ngày                       thay                    vì                    30..
TRADE DATE: Thời điểm buôn bán. Ngày thực hiện mua bán chứng khoán
hay hợp đồng future hàng hoá. Thời điểm thanh toán (settlement date)
thường tiếp theo sau thời điểm mua bán khoảng 5 ngày hành chánh, nhưng
có thể thay đổi tuỳ theo giao dịch và phương thức giao nhận được sử dụng.
Xem Delayed Delivery, Delivery Date, Regular-way Delivery (and
Settlement);                           Seller's                      Option.
TRADE DEFICIT OR SURPLUS: Thâm thủng hay thặng dư mậu dịch. Số
nhập khẩu vượt quá xuất khẩu (thâm thủng mậu dịch) hay số xuất khẩu
vượt quá nhập khẩu (thặng dư mậu dịch), đưa đến cán cân mậu dịch
(balance of trade) âm hay dương. Cán cân mậu dịch được thiết lập bởi các
vụ giao dịch hàng hoá và các động sản (movable goods) khác và chỉ là nhân
tố gồm tài khoản hiện hành lớn (bao gồm dịch vụ và du lịch, vận tải, các
hạng mục vô hình như tiền lãi và lợi nhuận kiếm được ở nước ngoài) trong
toàn thể cán cân chi phó (balance of payments). Các yếu tố ảnh hưởng đến
cán cân mậu dịch một quốc gia bao gồm: tiền tệ của các quốc gia mạnh hay
yếu đối với tiền tệ của các quốc gia mà họ mua bán (thí dụ, đồng dollar
mạnh của Hoa Kỳ làm cho hàng hoá sản xuất tại các quốc gia khác tương đối
rẻ đối với người Mỹ), lợi thế về sản lượng trong khu vực sản xuất quan trọng
(thí dụ, ngành ô tô Nhật) hay kinh tế nội địa của các quốc gia đang buôn
bán có sản lượng thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu.
TRADE DEFLECTION: Chuyển hướng mậu dịch. Trong hiệp hội mua bán
vùng, thí dụ thị trường chung, sự chuyển mậu dịch từ một quốc gia này sang
quốc gia khác. Mậu dịch và đầu tư có thể chuyển hướng vì thuế xuất nhập
khẩu cao, luật lệ phức tạp, tiền tệ mất ổn định, nguồn nguyên liệu hiếm,
tầm mức thị trường nhỏ, hay các yếu tố kinh tế khác.
TRADE FAIR: Hội chợ mậu dịch. Triển lãm quốc tế được Nhà nước hay một
ngành      tổ    chức     để    gia    tăng     mậu    dịch    trong   nước.
TRADE GAP: Lỗ hổng (thâm thủng) mậu dịch. Thâm thủng trong tài khoản
cán cân thương mại của quốc gia, một thành tố của cán cân chi phó quốc
gia.
TRADE - IMPACTED AREA: Vùng mậu dịch bị chèn ép. Vùng địa lý nơi
cạnh tranh nước ngoài tạo nên số bán đáng kể và làm nhiều người mất việc
(đối          với            người          trong          vùng          đó).
TRADE MARK: Nhãn hiệu cầu chứng. Một tên riêng, ký hiệu, phương châm
hay biểu tượng để nhận biết một sản phẩm, dịch vụ hay công ty. ở Hoa Kỳ,
quyền về nhãn hiệu, tức là quyền ngăn cấm những đối thủ cạnh tranh sử
dụng nhãn hiệu tương tự để bán buôn hay quảng cáo, nó phát sinh từ quyền
sử dụng - nghĩa là việc đăng ký cơ bản là để thiết lập sự tồn tại hợp pháp
của một nhãn hiệu. Nhãn hiệu được đăng ký với U.S Patent and Trademark
Office có hiệu lực 20 năm và đăng ký lại nếu còn sử dụng. Các sản phẩm có
thể vừa có tính cách đặc quyền vừa được bảo vệ bằng nhãn hiệu, lợi ích của
việc này là khi môn bài hết hạn thì nhãn hiệu có thể tiếp tục tính cách độc
quyền vô thời hạn. Nhãn hiệu được xếp vào loại tài sản vô hình trong bản
cân                      đối                     tài                 khoản.
Mặc dù, giống như đất đai, nhãn hiệu có hiệu lực vô thời hạn và không thể
chi trả dần dần nhãn hiệu theo thời gian ước tính không quá 40 năm.
TRADER:             Người          buôn         bán         tự       doanh.
Tổng quát: bất cứ người nào mua hay bán hàng hoá, dịch vụ để kiếm lợi
nhuận, còn gọi là Dealer hay Merchant. Xem : Barter; Trade.
Đầu                                                                       tư:
1. Cá nhân mua và bán các loại chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng option
hoặc hàng hoá như lúa mì, vàng hoặc tiền tệ nước ngoài (tỷ giá hối đoái)
cho riêng tài khoản của họ nghĩa là như một dealer hay người chủ chứ không
phải Broker (người môi giới) hay nhân viên (agent) trung gian.
2. Cá nhân mua và bán chứng khoán hay hàng hoá cho riêng tài khoản của
ông ta trong khoảng thời gian ngắn để kiếm lời nhanh, còn gọi là speculator
(người                                   đầu                                 cơ).
TRADE MISSION: Phái đoàn thương mại. Một nhóm doanh nghiệp được
Nhà nước bảo trợ để thăm viếng một nước khác nhằm bán sản phẩm hay
dịch vụ. Phái đoàn đầu tư (investment missions) là công cụ để gia tăng đầu
tư trực tiếp nước ngoài, thường là tại các nước đang phát triển.
TRADE PAPER: Giấy nợ mua bán. Xem Acceptance, Short Term Paper.
TRADE REFERENCE: Tài liệu tham khảo về mậu dịch. Tài liệu tham khảo do
cơ quan báo cáo tín dụng cung cấp, tài liệu liệt kê tín dụng đã trải qua của
nhà cung cấp mậu dịch của một công ty, bao gồm các điều khoản mua bán,
số cân đối tín dụng cao nhất hay số lượng đáo hạn năm trước, số lượng đã
quá hạn, các điều khoản của số bán và quá trình chi trả. Bản báo cáo này
được dùng như bản tham khảo tín dụng tổng quát của một tổ chức và nó có
khả    năng      đáp      ứng   tìm    hiểu   các    món     nợ    hiện    hành.
TRADE       REPORT:        Báo    cáo   mậu    dịch.    Xem     Credit   Report.
TRADING ACCOUNT ASSETS: Tài sản trong tài khoản mua bán.
Tài khoản để riêng ra do ngân hàng quản lý để mua (bao tiêu) trái phiếu nhà
nước và các trái phiếu khác cho tài khoản mua bán của riêng ngân hàng hay
để bán lại cho ngân hàng khác hay công chúng để kiếm lời chứ không để đầu
tư trong danh mục đầu tư của riêng ngân hàng. Tài sản để mua bán được
tách ra (cách lý) khỏi danh mục đầu tư. Nó được ghi riêng khi thụ đắc (khi
có trong tay) cho đến khi được giải quyết hay bán đi và nó được ghi theo giá
thực tế khi mua hay bán trái phiếu này. Tài sản mua bán lưu giữ cho các
ngân hàng khác được cập nhật giá cả theo thị trường (điều chỉnh theo trị giá
thị                      trường                   hiện                    hành).
TRADING AUTHORIZATION: Uỷ quyền mua bán, thẩm quyền mua bán.
Chứng từ cho nhân viên công ty môi giới hoạt động như một nhân viên
(broker) có quyền hạn của người được uỷ nhiệm trong các giao dịch mua
bán                cho                một              khách               hàng.
TRADING COMPANY: Công ty mua bán. Công ty chuyên về mua, phân
phối,      tiếp      thị      cho     sản     phẩm        công      ty     khác.
TRADING DIVIDENDS: Cổ tức mua bán giữa các công ty. Kỹ thuật mua và
bán chứng khoán trong các công ty khác do một công ty thực hiện nhằm tối
đa hoá số cổ tức mà công ty có thể thu hoạch được. Việc này rất có lợi bởi vì
80% số lợi cổ tức mà công ty nhận được từ số chứng khoán của các công ty
khác được miễn thuế theo quy định của Internal Revenue Service. Xem
Dividend                                                               Exclusion.
TRADING ESTATE: Khu bãi Mậu dịch. Xem Industrial Park.
TRADING         FLAT:       Mua     bán     không     lời   lỗ.    Xem      Flat.
TRADING HALT: Ngưng (tạm thời) mua bán. Xem Suspended Trading.
TRADING HOUSE: Trung tâm mua bán (nhà mua bán). Một công ty hoạt
động như một chủ thể trong giao dịch mua bán quốc tế liên quan đến các
công ty khác. Trung tâm mua bán định vị thế người mua và bán quốc tế,
thường là tại các vùng đã hoạch định và theo các loại sản phẩm ấn định. Họ
mua và bán cho riêng tài khoản của họ thường là theo thoả thuận mua bán
đối tác lớn. Vài trung tâm là công ty con của công ty sản xuất lớn.
TRADING PATTERN: Mô hình mua bán. Chiều hướng kéo dài của giá chứng
khoán hay giá hợp đồng future hàng hoá. Mô hình này lên đồ thị bằng cách
vẽ một đường nối tất cả các giá cao nhất mà chứng khoán đã đạt được và
một đường khác nối tất cả các giá thấp nhất mà người ta đã mua bán trong
cùng một khung thời gian. Hai đường này sẽ cho biết hoặc là giá đang lên
hay đang xuống, nó chỉ rõ mô hình mua bán dài hạn của chứng khoán. Xem
Trendline.
TRADING POST: Tụ điểm mua bán các chứng khoán cá biệt nào đó. Địa
điểm cụ thể trên hiện trường mua bán (sàn mua bán floor) của một thị
trường chứng khoán, nơi mua bán các chứng khoán cá biệt nào đó. Chính nơi
đây các chuyên viên của một loại chứng khoán thực hiện các chứng năng tạo
thị trường và chính nơi đây nhóm đông (crowd) (các broker tại hiện trường -
floor brokers có các lệnh mua bán về chứng khoán đó) tụ họp. Thí dụ, NYSE
có 22 tụ điểm mua bán, xử lý hầu hết 100 loại chứng khoán. Xem Floor
Broker,           Floor         Trader,        Make         a         Market.
TRADING RANGE: Tầm mức (phạm vi) mua bán, khung mua bán.
Hàng hoá: mức giới hạn mua bán do thị trường hợp đồng futures hàng hoá
thiết lập đối với một loại hàng hoá nào đó. Mức giá của một hợp đồng future
hàng hoá không thể cao hơn hay thấp hơn mức giới hạn trong suốt một ngày
mua         bán.        Xem       :     Limit      up,       Limit      down.
Chứng khoán: phạm vi giữa giá cao nhất và giáp thấp nhất mà một loại
chứng khoán hay thị trường đã mua bán. Thí dụ, khung mua bán (trading
range) của chứng khoán công ty XYZ có thể từ $40 đến $60 trong 2 năm
qua. Nếu chứng khoán hay thị trường có vẻ nằm trong khung giá hẹp, nhà
phân tích nói rằng đây là thị trường có khung giá cuối cùng, nó sẽ biến
chuyển lên hay xuống đáng kể. Xem : Flag, Pennant, Triangle, Wedge.
TRADING UNIT: Đơn vị mua bán. Số cổ phần, trái phiếu hay các chứng
khoán khác thông thường được chấp nhận theo mục đích mua bán bình
thường trên các thị trường chứng khoán. Xem odd lot, round lot, Unit of
trading.
TRADING VARIATION: Biến số mua bán. Phân số được bổ sung vào giá
mua bán chứng khoán. Thí dụ, chứng khoán được bổ sung lên hay xuống
bằng 1/8 điểm để có thể thành số tròn gần nhất. Giá hợp đồng options trên
$3 thì được bổ sung bằng 1/8, nhưng dưới $3 thì bổ sung bằng 1/16. Trái
phiếu công ty và trái phiếu đô thị bổ sung bằng 1/8, công phiếu trung hạn
và dài hạn và trái phiếu thì 1/32, công phiéu ngắn hạn thì 1/64. Xem: plus.
TRADING VOLUME: Khối lượng mua bán, Số giao dịch mua bán được ghi
nhận tại thị trường chứng khoán hay hàng hoá trong một thời khoảng ấn
định.
TRANCH        CD:     CD     có    chia  nhiều    phần.    Xem:     Tranches.
TRANCHES: Phần chia của một số lượng (trị giá), đợt phát hành.
1. Loại đáo hạn có rủi ro hay các loại hạng khác có trong chứng khoán có
nhiều hạng loại (multi-class security) như CMO (collateralized mortgage
oligation- cam kết nợ có thế chấp được bảo đảm) hay REMIC được chia ra
(split). Thí dụ, tiêu biểu là CMO có 4 phần chia loại (tranches) A, B, C và Z
đại diện cho các trái phiều chi trả nhanh, trung bình, chậm, cộng thêm một
phần chia (tranch) không có phiếu lãi (coupon) nhưng được nhận lượng tiền
mặt từ số thế chấp còn lại sau khi các phần chia khác đã được thoả mãn.
Các dạng phức tạp khác của CMO có nhiều loại phần chia và một phần chia Y
bao gồm trong thời biểu quỹ chi trả trái phiếu (sinking fund).
2. Tại Anh, các phát hành chứng khoán lãi suất cố định thường được nhà
nước, chánh quyền địa phương hay các công ty sắp xếp trước, sau đó phát
hành từng đợt kế tiếp nhau dược gọi là tranches (những đợt phát hành). Vì
thế người ta sẽ nói có những loạt phát hành mới của các chứng khoán hiện
hành. Một dạng khác của từ ngữ này là Tranchettes ám chỉ các đợt phát
hành nhỏ các chứng khoán viền vàng (gilt-edged securities) (công phiếu) do
nhà nước bán cho ngân hàng Anh Quốc, sau đó ngân hàng bán ra thị trường
vào            những           thời           điểm            thích           hợp.
3. Số đơn vị chứng chỉ ký thác dollar Châu Âu dưới mức $10-$30 triệu
dollars được bán cho các nhà đầu tư nhỏ theo đơn vị $10.000. Số đơn vị này
có các chứng chỉ riêng biệt và có cùng lãi suất, ngày phát hành, ngày chi trả
lãi và ngày đáo hạn với công cụ đầu tiên gọi là Tranch CD.
TRANCHETTES:             Các        phần        chia.       Xem          Tranches.
TRANSACTION:                 Giao             dịch            mua             bán.
Kế toán: sự kiện hay tình trạng được thừa nhận bởi một thực thể trong sổ
sách                                    kế                                   toán.
Chứng khoán: thi hành một lệnh mua hay bán chứng khoán hay hợp đồng
futures hàng hoá. Sau khi người mua và người bán đồng ý giá cả, người bán
có bổn phận cung ứng chứng khoán hay hàng hoá liên quan, và người mua
có       bổn         phận       nhận         nó.        Xem         :       Trade.
TRANSACTION             ACCOUNT:           Tài       khoản         giao       dịch.
1. Tài khoản ký thác, từ tài khoản này người giữ tài khoản được phép rút
tiền hay chuyển ngân quỹ bằng công cụ chi trả hay chuyển nhượng, lệnh rút
tiền để chi trả, chuyển ngân quỹ bằng điện thoại, hay các công cụ tương tự
để        chuyển        ngân        quỹ        cho        bên         thứ       ba.
2. Tài khoản ký thác hoạt kỳ, tài khoản NOW, tài khoản NOW cấp cao, và
các tài khoản khác có đủ điều kiện để dùng công cụ chi trả, nó lệ thuộc vào
các quy định dự trữ (phải tuân theo các quy định về dự trữ).
TRANSACTION CONTROL HEADER RECORD: Phiếu hồ sơ có tiêu đề để
kiểm soát giao dịch mua bán. Tại Hoa Kỳ, thẻ hồ sơ nhận dạng người sử
dụng hệ thống Thương Mại Tự Động và đề xuất mở đầu một giao dịch mua
bán.       Phiếu      hồ      sơ       cũng       gọi      là       a      Record.
TRANSACTION COST: Giá phí giao dịch mua bán. Giá phí mua hay bán
chứng khoán, nó bao gồm phần lớn là hoa hồng cho công ty môi giới. Số hạ
của giá mua (markdown) hay số tăng của giá bán (markup) của người mua
bán, hay phí cho người buôn bán (thí dụ, ngân hàng và broker-dealer sẽ tính
phí giao dịch trong mua bán trái phiếu kho bạc) nhưng cũng bao gồm cả lệ
phí trực tiếp như lệ phí cho cơ quan nhà nước, các thuế chuyển giao do nhà
nước       ấn      định     hay       các      thuế      trực       tiếp     khác.
TRANSACTION STATEMENT: Tài liệu diễn đạt giao dịch mua bán. Tài liệu
giải thích các điều khoản của thoả thuận giữa người mua và người bán.
TRANSFER:                    Chuyển                     ngân                  quỹ.
1. Chuyển ngân quỹ từ tài khoản này sang tài khoản khác như từ tài khoản
chi         phiếu        sang          tài        khoản          tiết        kiệm.
2. Chi trả bằng hệ thống điện tử từ ngân hàng này qua ngân hàng khác
thông      qua    hệ     thống     giao     hoán      thanh     lý     tự    động.
3. Giấy sang tên bất động sản chuyển từ người mua sang người bán, điều
này xảy ra khi làm xong hồ sơ tiền vay có thế chấp.
4. Điều khoản trong tín dụng thư cho phép người thừa hưởng chuyển số tiền
tín dụng đã có đó cho bên thứ ba (người thừa hưởng cấp hai - người thừa
hưởng sau người thứ nhất - secondary beneficiary). Người thừa hưởng cấp
hai phải trình hối phiếu cho ngân hàng chi trả hay ngân hàng thông báo để
nhận                         số                     chi                     trả.
5. Chuyển chứng khoán, trái phiếu từ người sở hữu này sang người sở hữu
khác và ghi việc thay đổi quyền sở hữu trên hồ sơ đăng ký.
6. Chấp nhận đảm đương assumption) tiền vay có thế chấp do người-vay-
mới                                  thực                                 hiện.
TRANSFER AGENT: Cơ quan chuyển giao. Cơ quan thường là ngân hàng,
do công ty chỉ định nhằm lưu giữ hồ sơ của chủ sở hữu chứng khoán và trái
phiếu, huỷ bỏ hay phát hành chứng chỉ và giải quyết các vấn đề chứng chỉ bị
mất, hư hỏng hay bị đánh cắp (ngăn ngừa việc phát hành quá mức là nhiệm
vụ của Registrar - Phòng lưu trữ và theo dõi). Một công ty cũng có thể tự
phục       vụ       mình       bằng     phòng       chuyển      giao     riêng.
TRANSFER OF MORTGAGE: Chuyển giao thế chấp. Việc ký chuyển giao thế
chấp hoặc là do người vay (người thế chấp) hoặc do người cho vay (người
nhận thế chấp) thực hiện. Người nhận tài sản có thể nhận nó với tính cách
phụ thuộc vào thế chấp có nghĩa là vẫn trong tình trạng người vay ban đầu
vẫn còn duy trì thế chấp hiện tại, thay thế bằng thế chấp khác hay chấp
nhận thế chấp có cùng lãi suất và các điều khoản. Trong trường hợp như
thế, người sở hữu mới sẽ trở thành người chịu trách nhiệm chi trả lại món
nợ.                  Xem                  Assumable                  Mortgage.
TRANSFER PAYMENTS: Tiền chuyển giao chi trả. Tiền trợ cấp của Nhà
Nước trao cho các mục tiêu đã chủ định thay vì mua hàng hoá và dịch vụ.
Tiền chuyển giao chi trả bao gồm tiền phúc lợi trong nước, tiền cứu trợ tai
hoạ,         tiền         viện       trợ         nước        ngoài        v.v...
TRANSFER PRICE: Giá chuyển giao. Giá cả được tính bởi một cá thể đơn vị
trong một công ty có nhiều đơn vị (công ty có nhiều chi nhánh) trên số giao
dịch giữa các đơn vị với nhau. Nó còn được gọi là giá phí chuyển giao. ý niệm
này được sử dụng khi mỗi một đơn vị được điều hành như một trung tâm lợi
nhuận (profit center - tức là tự quản, tự trị, có ngân sách riêng) có nghĩa là
chịu trách nhiệm về số lợi nhuận trên số vốn đầu tư của riêng đơn vị đó và vì
thế phải quan hệ với các bộ phận nội bộ của công ty trên căn bản "một cánh
tay nối dài" hay trên căn bản thị trường (nghĩa là vẫn tính toán với nhau như
một      công     ty    khác).    Xem     :    Arm's     Length    Transaction.
TRANSFER RISK: Rủi ro khi chuyển tiền. Rủi ro thị trường hối đoái khi
người nợ nước ngoài không thể chi trả bằng loại tiền tệ (ngoại tệ) theo yêu
cầu                        của                     chủ                      nợ.
TRANSFER                 TAX:            Thuế            chuyển           giao.
1. Kết hợp thuế tặng phẩm và tài sản. Xem : Estate Tax, Gift Tax.
2. Thuế nhà nước đánh trên số bán tất cả trái phiếu (trừ cam kết nợ của nhà
nước, nhà nước nước ngoài, chánh quyền đô thị) và chứng khoán. Người bán
sẽ đóng thuế vào lúc quyền sở hữu được chuyển giao và số thuế bằng vài xu
cho        trị       giá        $100       dollar       (ở      Hoa        Kỳ).
3. Các chính quyền địa phương đánh thuế chuyển giao các tài liệu như chứng
từ tài sản, chứng khoán, hay các giấy phép. Người bán hay người bảo trợ chi
trả thuế này bằng tem (con niêm) và thuế được thực hiện tại địa điểm của
cơ quan chuyển giao. ở Hoa Kỳ các nơi có thuế chuyển giao trên số giao dịch
mua bán chứng khoán là New York, Florida, South, Carolina và Texas. Tiểu
bang New York đặt thuế trên giá bán, các tiểu bang khác đánh thuế theo
mệnh giá (đối với loại chứng khoán theo mệnh giá thì tính trị giá là $100).
Trái         phiếu        không          bị         thuế        tiểu       bang.
TRANSFERABLE LETTER OF CREDIT: Tín dụng thư khả chuyển. Tín dụng
thư cho phép người thừa hưởng được lựa chọn chuyển một phần hay tất cả
số tín dụng cho bên thứ ba (người thừa hưởng cấp hai - secondary
beneficiary). Số tín dụng có thể chỉ được chuyển với sự chấp thuận của ngân
hàng phát hành tín dụng thư, và phải được nói rõ ràng trong chứng từ tín
dụng     thư     là   số    tín   dụng       này     có    thể   được   chuyển.
TRANSFERABLE UNDERWRITING FACILITY (TRUF): Phương tiện bao
tiêu khả chuyển. Phương tiện của giấy nợ Châu Âu cho phép nhà bảo kê
(bao tiêu - underwriter) ban đầu, nhà quản lý dự án được quyền chuyển sự
cam kết đến một người đại diện trung gian khác sẵn lòng chấp nhận trách
nhiệm tài chánh. Việc chuyển giao thẩm quyền này phải được thực hiện với
sự đồng ý của tất cả các bên ban đầu đối với phương tiện này và việc chuyển
giao    bao     gồm     cả    về    trách     nhiệm      lẫn   việc   quản    lý.
TRANSIT DEPARTMENT: Phòng trung chuyển chi phiếu. Phòng trong ngân
hàng nơi phân loại chi phiếu hay hối phiếu do ngân hàng ngoài khu vực phát
hành, nó được tập hợp thành từng cấp và gửi đến ngân hàng chi trả để nhận
tiền. Các chi phiếu từ ngân hàng ở xa được chi trả theo cách thông thường,
và số ký thác được tạm hoãn cho đến khi nào nhận được ngân quỹ từ ngân
hàng                                  phát                                 hành.
TRANSIT ITEM: Công cụ chi trả trung chuyển. Chi phiếu hay hối phiếu do
tổ chức tài chánh phát hành chứ không phải ngân phiếu ngân hàng nơi nó
được ký thác. Ngoài ra còn được gọi là công cụ chi trả thuộc tổ chức khác
(on-others items). Loại chi phiếu này khác với chi phiếu do khách hàng của
chính ngân hàng đó viết ra (on-us items - công cụ chi trả trong cùng ngân
hàng), và trình cho ngân hàng chi trả theo cách trình trực tiếp (không qua
trung chuyển), thông qua trung tâm giao hoán thanh lý địa phương. Chi
phiếu rút tiền ở ngân hàng khác thông thường được phân loại và được trình
để nhận tiền trước chi phiếu rút tiền của khách hàng của chính ngân hàng đó
được                nhập               vào                 tài           khoản.
TRANSIT LETTER: Thư (danh mục) chuyển. Tài liệu đi kèm chi phiếu hay
hối phiếu được trình để thu tiền, tài liệu liệt kê số chi phiếu đang được gửi và
tổng số tiền của chi phiếu. Thư (danh mục) tiền mặt đi kèm với chi phiếu
được trình đến ngân hàng khác để lãnh tiền (cash letter) ; thư (danh mục)
chuyển tiền (remittance letter) được sử dụng khi ngân hàng gửi không có
một        tài      khoản        nào        tại       ngân       hàng      nhận.
TRANSIT NUMBER: Mã số chuyển. Xem ABA Transit Number.
TRANSIT TARIFF: Quan thuế biểu trung chuyển. Thuế quan được quốc gia
trung gian áp dụng khi hàng hoá đi ngang địa phận của họ để đến một quốc
gia khác. Quan thuế biểu trung chuyển vẫn là nguồn doanh thu cho một vài
nước đang phát triển, nhưng không còn ở các nước đã phát triển.
TRANSMITTAL LETTER: Thư truyền đạt. Thư được gởi kèm theo hồ sơ tài
liệu, chứng khoán hay hàng gởi trình bày nội dung và mục đích của giao dịch
mua                                                                         bán.
TRANSPOSITION ERROR: Sai lầm do chuyển dịch số. Sai lầm do đảo
ngược hai hay nhiều con số của số tiền trong khi nhập. Thí dụ : 81 thành 18
hay                        92                    thành                      29.
TRAVEL & ENTERTAINMENT (T&E) CARD: Thẻ du lịch và giải trí. Thẻ tín
dụng chi tiêu (charge card) dùng để chi trả các chi phí khách sạn, hàng
không hay các công việc khác. Thẻ du lịch đầu tiên cho Diners Club phát
hành năm 1950 sau đó là American Express năm 1958. Thẻ du lịch khác với
thẻ tín dụng ngân hàng ở vài điểm : thẻ tiêu biểu cho tài khoản tín dụng 30
ngày có số chi trả dứt điểm khi đáo hạn trước khi bắt đầu chu kỳ tính toán
hoá đơn kế tiếp, người giữ tài khoản nhận bản sao hối phiếu số bán gốc (gọi
là Country Club Billing) với báo cáo tính hoá đơn hàng tháng. Một vài kế
hoạch T&E thường là thẻ công ty, cấp cho người giữ thẻ bản tóm tắt hàng
quý      số      chi     phí    đối    với     thẻ.     Xem      Gold    Card.
TRAVELLER'S CHECK: Chi phiếu của người du lịch. Hối phiếu trả tại chỗ
(sight draft) được phát hành thông qua các ngân hàng hoạt động như nhân
viên trung gian bên bán, chi phiếu được bán trực tiếp cho dân chúng. Người
mua trả tiền trước cho chi phiếu và ký hối phiếu hai lần- một lần khi đặt
mua hối phiếu- một lần khi đổi lấy tiền mặt. Hối phiếu được công ty phát
hành chi trả, được bán theo đơn vị từ $10 đến $100 (ở Hoa Kỳ) và theo
nhiều loại tiền tệ nước ngoài, hối phiếu được bảo đảm không sợ mất hay
trộm. Chi phiếu được thương buôn sẵn sàng chấp nhận thay cho tiền mặt và
có thể được đổi ra tiền mặt tại ngân hàng trong và ngoài nước. Chi phiếu du
lịch   do     công    ty     American    Express    phát    hành    đầu   tiên.
TRAVELLER'S LETTER OF CREDIT: Thư tín dụng của người du lịch. Tín
dụng thư ghi địa điểm các ngân hàng tương tác với ngân hàng phát hành, uỷ
nhiệm cho các ngân hàng này chi trả tiền cho người mang đến, theo mức tín
dụng đã cho phép. Ngoài ra nó còn được gọi là tín dụng thư thông tri
(circular letter of credit). Số chi trả được ngân hàng tương tác của ngân
hàng bối thự dựa trên phía đối tác thư tín dụng khi họ chi trả hối phiếu. Loại
tín dụng này thường được dùng để trang trải chi phí du lịch và được khách
hàng         chi       trả      trước.       Xem         Traveler's     check.
TREASURER: Nhân viên ngân quỹ- Kế toán trưởng- Trưởng phòng tài
chánh. Viên chức công ty chịu trách nhiệm về việc nhận (receipt), giám hộ
đầu tư, chi tiêu của quỹ, số tiền mượn và nếu đó là một công ty cổ phần thì
chịu trách nhiệm về việc duy trì một thị trường cho số chứng khoán công ty.
Tuỳ theo tầm vóc của công ty, Treasurer cũng có chức năng kiểm soát viên
có trách nhiệm về kế toán và kiểm toán. Luật lệ của nhiều nơi quy định là
một công ty phải có một Treasurer (trưởng phòng tài chánh). Xem: Chief
finance                               office                            (CFO).
TREASURER'S DRAFT: Hối phiếu của nhân viên ngân khố. Xem Payable
throught                                                                drafts.
TREASURIES: Trái phiếu kho bạc. Cam kết nợ có thể dùng để chi trả
(negotiable debt obligations) của nhà nước được Full faith and credit bảo
đảm (bảo đảm bằng thuế, sức mượn và doanh thu) lợi tức của trái phiếu
được                                  miễn                               thuế.
1. Trái phiếu kho bạc ngắn hạn (treasury bills): trái phiếu ngắn hạn có kỳ
hạn từ một năm trở xuống, được phát hành có khấu trừ vào mệnh giá. Các
cuộc đấu giá trái phiếu ngắn hạn 91 ngày và 182 ngày được thực hiện hàng
tuần và người ta theo dõi chặt chẽ hoa lợi của nó trong thị trường tiền tệ để
biết các dấu hiệu của chiều hướng lãi suất. Có nhiều loại tiền vay lãi suất thả
nổi và thế chấp lãi suất thay đổi có lãi suất chịu ảnh hưởng chặt chẽ với trái
phiếu kho bạc ngắn hạn này. Ngân khố cũng mở đấu thầu loại trái phiếu kho
bạc ngắn hạn 52 tuần, 4 tuần một lần. Thỉnh thoảng ngân khố cũng phát
hành trái phiếu kho bạc quản lý tiền mặt ngắn hạn, trái phiếu kho bạc ngắn
hạn trả thuế trước (tax anticipation bills - trái phiếu kho bạc ngắn hạn dự
phòng thuế) và chứng chỉ nợ ngân khố (treasury certificates of
indebtedness). Trái phiếu kho bạc ngắn hạn được phát hành theo đơn vị tối
thiểu là $10.000 dollar và trên $10.000 thì công thêm $5.000 (trừ loại trái
phiếu kho bạc ngắn hạn quản lý tiền mặt được bán từng khối tối thiểu $10
triệu dollar). Cá nhân nhà đầu tư không đệ trình giá đặt mua có cạnh tranh
(Competitive bid) sẽ được bán trái phiếu kho bạc ngắn hạn theo giá trung
bình của giá đặt mua có cạnh tranh đã cạnh tranh đã trúng thầu. Trái phiếu
kho bạc ngắn hạn là công cụ đầu tiên được dự trữ nhà nước sử dụng theo
các luật lệ về cùng tiền tệ thông qua các hoạt động thị trường mở rộng. Xem
Dutch                                                                       Auction
2. Trái phiếu kho bạc dài hạn (treasury bonds): công cụ nợ dài hạn với kỳ
hạn từ 10 năm trở lên được phát hành theo đơn vị tối thiểu là $1.000 dollar.
3. Trái phiếu kho bạc trung hạn (treasury notes): là loại trung gian giữa
ngắn hạn và dài hạn, có kỳ hạn từ 1 đến 10 năm. Khung đơn vị từ $1.000
đến 1 triệu USD hay cao hơn. Trái phiếu kho bạc trung hạn được bán theo
đăng ký bằng tiền mặt nhằm đổi lấy các trái phiếu nhà nước sắp đáo hạn
hay đang lưu hành hoặc được bán trong các cuộc đấu giá.
TREASURY         BILL:     Xem     trái     phiếu     kho     bạc     ngắn     hạn.
TREASURY         BOND:       Xem     trái     phiếu     kho     bạc     dài    hạn.
TREASURY          CERTIF         ICATE:         Chứng       chỉ      ngân       khố
Chứng chỉ đặc biệt có lãi coupon (phiếu lãi kèm theo chứng chỉ của nợ có
thời         gian         đáo         hạn           dưới         một          năm.
TREASURY        DIRECT:       Trực    tiếp     mua     trái   phiếu     kho    bạc.
Hệ thống thông qua đó một nhà đầu tư cá nhân có thể đặt giá mua không
cạnh tranh (noncompetitive bid) về trái phiếu kho bạc (treasuries) vì thế
không qua người trung gian như ngân hàng hay broker-dealers và để khỏi
trả phí cho những người này. Hệ thống hoạt động thông qua ngân hàng dự
trữ nhà nước và các chi nhánh và giá mua tối thiểu là $10.000 dollars.
TREASURY GENERAL ACCOUNT (TGA): Tổng tài khoản của ngân khố.
Tổng tài khoản của bộ ngân khố được lưu giữ tại ngân hàng trung ương Nhà
nước. Tất cả chi phí chính thức của nhà nước đều được thực hiện từ tài
khoản này. Tài khoản cũng giữ tiền ký gửi trong ngân khố dưới hình thức
vàng.        Xem        Treasury         Tax        and        Loan       Account.
TREASURY INVESTMENT GROWTH RECEIPT: Biên nhận phát triển đầu
tư    của      ngân     khố.     Xem       Strip,    Zero     Coupon      Security.
TREASURY          NOTE:       Trái     phiếu       kho      bạc     trung      hạn.
Trái phiếu nhà nước trung hạn, có lãi coupon (phiếu lãi đính kèm trái phiếu),
thời gian đáo hạn ban đầu dưới 10 năm, được phát hành theo đơn vị $1.000
(ở Hoa Kỳ) hay cao hơn tuỳ theo thời hạn của giấy nợ. Giấy nợ trả lãi nửa
năm        một       lần       và       trả       vốn       khi      đáo       hạn.
TREASURY            SECURITIES:             Trái       phiếu        kho        bạc.
Từ chung để chỉ cam kết nợ có sinh lãi của nhà nước được ngân khố phát
hành như phương tiện vay tiền để đáp ứng chi phí nhà nước mà doanh thu
thuế không đủ để trang trải. Trái phiếu kho bạc dễ mua bán được xếp thành
3 loại: trái phiếu kho bạc ngắn hạn (treasury bill), thời hạn từ 91 đến 365
ngày; trái phiếu kho bạc dài hạn (treasury bond), thời hạn từ 10 năm trở
lên; trái phiếu kho bạc trung hạn thời hạn giữa 1 và 10 năm.
Các loại trái phiếu kho bạc (ở Hoa Kỳ) hiện nay được phát hành theo hình
thức số đăng ký (book entry- ghi số liệu nhập trong sổ). Quyền sở hữu trái
phiếu được lưu giữ trong hệ thống vi tính của ngân hàng nhà nước. Người
mua nhận một báo cáo (một giấy biên nhận) chứ không nhận chứng chỉ.
TREASURY STOCK: Chứng khoán tồn tại. Chứng khoán do công ty phát
hành thụ đắc lại và sẵn sàng xoá bỏ (retirement) hay bán lại. Nó được phát
hành nhưng không lưu hành. Nó không có quyền bỏ phiếu và không chi trả
hay tích tuỹ cổ tức. Nó không bao gồm trong bất cứ trị giá đo lường theo tỷ
lệ            cho            mỗi            cổ           phần            thường.
Trong      số    các    lý    do     để     tồn   lại     chứng      khoán     là:
1. Cung cấp một lựa chọn (alternative) khác để chi trả cổ tức có thuế, bởi vì
số lượng cổ phần đang lưu hành giảm thì sẽ làm tăng trị giá mỗi cổ phần và
giá                                  thị                                  trường.
2. Cung cấp cho hợp đồng options chứng khoán được thực hiện cũng như
cho chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán (warrant) và cho việc trao đổi
các               chứng               khoán                khả              hoán.
3. Chống lại giá đặt mua đệm để tiếm quyền (tender offer) của người thụ
đắc                                    sau                                    này.
4. Thay đổi tỷ lệ nợ đối với vốn cổ đông bằng cách phát hành trái phiếu để
tài     trợ     cho     số     cổ      phần     mua        lại    (reacquisition).
5. Nhằm ổn định giá thị trường trong thời gian phát hành chứng khoán mới.
Nó còn gọi là chứng khoán thụ đắc lại (reacquired stock - chứng khoán được
mua lại) và cổ phần tồn lại (treasury shares). Xem: Issued and Outstanding,
Unissued                                                                   Stock.
TREASURY TAX AND LOAN (TT&L) ACCOUNT: Tài khoản thuế và cho vay
của ngân khố. Số cân đối tài khoản chi phiếu do Bộ Ngân khố duy trì tại các
tổ chức tài chánh, ngân hàng thương mại cơ bản (gốc). Nhà nước thu giữ
tiền thuế được chi trả thông qua tài khoản TT & L. Phần lớn biên lai thu thuế
được ký thác vào các tài khoản này. Một vài số cân đối của ngân khố có thể
được giữ trong các tài khoản ký thác có sinh lãi của các ngân hàng địa
phương.
TREASURY WORKSTATION: Hệ thống hoạt động về ngân quỹ tồn (phòng
ngân quỹ). Hệ thống quản lý thông tin bằng vi tính (loại nhỏ) cho phép nhân
viên ngân quỹ ( treasurer) điều hành tự động báo cáo số cân đối hàng ngày
của số cân đối được thu về, đầu tư ngân quỹ nhàn rỗi trong thị trường tiền
tệ ngắn hạn, chi ngân quỹ cho chủ nợ giao dịch mua bán. Mục tiêu chung là
cải tiến năng suất và hợp nhất cuối cùng việc quản lý ngân quỹ, hệ thống cải
tiến kế toán công ty như nhập số liệu và gửi hoá đơn theo thứ tự. Xem: Cash
Management.
TREND:         Hướng       đi    của       thị   trường        chứng       khoán.
Tổng quát: biến chuyển theo chiều hướng tổng quát. Thí dụ, "có khuynh
hướng tăng lên của số bán công ty XYZ" hay "có khuynh hướng tăng lên của
mua         bán       bằng        vi       tính       trên       Phố        Wall".
Chứng khoán: biến chuyển giá dài hạn hay biến chuyển số lượng mua bán
hoặc là tăng hay giảm hoặc là gần như đứng yên (sideway- biến chuyển ít),
nó tạo lên một đặc tính của một thị trường, hàng hoá hay chứng khoán. Nó
cũng      có      thể    áp     dụng     cho    lãi     suất    và     hoa     lợi.
TREND ANALYSIS: Phân tích chiều hướng của công ty và lượng tiền mặt
trong một vài thời khoảng tế toán để xác định các thay đổi trong vị thế tài
chánh của người vay. Phân tích chiều hướng là phần then chốt để bảo đảm
tín dụng và là công cụ hữu ích, cần thiết để xác định sức tài chánh của người
vay có được cải thiện hay xấu đi không. Các tỷ lệ tài chánh then chốt được
xem xét bao gồm tỷ lệ bảo kê nợ, tỷ lệ luân chuyển (tốc độ chuyển đổi hàng
kho và tài khoản thu ra tiền mặt) và tỷ lệ tài sản chuyển đổi nhanh (để
chuyển ra tiền mặt). (Tỷ lệ tài sản hiện hành chia cho nợ hiện hành). Xem:
Balance              Sheet           Ratios,           Turnover            Ratios.
TRENDLINE: Đường biểu thị hướng đi. Đường biểu diễn kỹ thuật do nhà
phân tích kỹ thuật dùng để vẽ biểu đồ hướng đi vừa qua của chứng khoán
hay hợp đồng futures hàng hoá để tiên đoán biến chuyển giá cả tương lai.
Đường biểu thị khuynh hướng được thiết lập bằng cách nối các giá cao nhất
và thấp nhất của chứng khoán hay hàng hoá đã tăng hay giảm trong một
thời gian nào đó. Góc độ của đường biểu diễn sẽ cho biết chứng khoán hay
hàng hoá đang theo chiều lên hay chiều xuống. Nếu giá tăng cao hơn độ dốc
xuống của đường biểu thị khuynh hướng hay giảm dưới mức độ dốc lên của
đường biểu thị nhà phân tích kỹ thuật nói rằng đang xuất hiện một khuynh
hướng       mới.       Xem:      Technical     Analysis,     Trading     Pattern.
TRIANGLE: Hình tam giác. Mô hình biểu đồ kỹ thuật có hai điểm chuẩn và
một đỉnh nhọn được thiết lập bằng cách nối các biến chuyển giá một loại
chứng khoán bằng một đường thẳng. Trong mô hình tam giác tiêu biểu, chóp
hình quay về bên phải và cũng có hình tam giác ngược lại có chóp quay về
bên trái. Trong hình tam giác cũng có một loạt từ hai giá trở lên được phục
hồi và khi giá rớt thì đỉnh kế tiếp sẽ thấp hơn đỉnh trước đó còn đáy thì cao
hơn đáy trước đó. Trong hình tam giác góc bên phải thì phần dốc của hình sẽ
cho          biết        hướng          phá         vỡ        khuôn         hình.
Nhà phân tích nhận thấy điều này rất quan trọng khi giá chứng khoán phá
vỡ khuôn hình tam giác theo hướng lên hay xuống bởi vì nó thường có nghĩa
là giá chứng khoán sẽ tiếp tục theo chiều hướng đó. Xem Pennant, Technical
Analysis,                                                                 Wedge.
TRICKLE DOWN: Dòng chảy xuống. Lý thuyết cho rằng có thể đạt được
phát triển kinh tế tốt nhất bằng cách cứ để cho các đơn vị kinh doanh phát
triển bởi vì sự phát đạt của họ cuối cùng cũng chảy xuống người có lợi tức
trung bình và thấp, những người này rất có lợi vì sẽ làm tăng hoạt động kinh
tế. Các nhà kinh tế phản đối lý thuyết này nói rằng nó sẽ làm cho sự phát
triển kéo dài hơn là nếu nhà nước trực tiếp cấp phúc lợi cho thành phần lợi
tức     trung       bình     và    thấp.     Xem      Supply-side     Economics.
TRIGGER PRICE: Giá kích phát - giá xuất phát. Giá sàn (giá thấp nhất)
được nhà nước hay một nhóm hàng hoá quốc tế dùng làm giá tham khảo để
can thiệp vào thị trường thương mại nhằm nâng đỡ cho giá được ưu đãi của
một                        loại                     hàng                     hoá.
TRIGGERING           TERM:      Điều   khoản    báo      rõ  (nói    trắng    ra).
Điều khoản trong tín dụng cho người tiêu thụ, khi dùng trong việc quảng cáo
hay trong tập khuyến khích tín dụng (cổ động tín dụng - Credit Promotion):
phải thông báo rõ ràng các thông tin thường xuyên theo như quy định của
luật thành thật khi cho vay (truth in lending). Thí dụ, phí tài chánh tính với
người tiêu thụ phải được báo rõ ràng như phải báo tỷ lệ phần trăm hàng
năm (APR - Annual Percentage Rate) để người tiêu thụ có thông tin đồng
nhất về tín dụng và có thể so sánh với các phí do các người cho vay khác
tính. Ngoài ra, còn phải cho biết lệ phí hàng năm, chi phí kết thúc hồ sơ, chi
phí tín dụng phụ thuộc như số chi trả dồn một lần (balloon payments).
TRILATERAL TRADE: Mậu dịch hỗ tương ba bên. Hoạt động thương mại
giữa                      ba                       quốc                    gia.
TRIN: Tỷ lệ Trin - Tỷ lệ chẩn đoán thị trường. Đo lường sức mạnh thị trường
chứng khoán liên quan đến tỷ lệ tăng - giảm (advance- decline) (số chứng
khoán đã tăng giá chia cho số chứng khoán hạ giá) và tỷ lệ số lượng tăng và
giảm (tổng số lượng cổ phần đã tăng chia cho tổng số cổ phần đã giảm). Thí
dụ, nếu 800 chứng khoán đã tăng giá và 750 chứng khoán đã giảm giá trong
khi đã tăng 68 triệu cổ phần và đã giảm 56 triệu cổ phần thì tỷ lệ trin sẽ là:
0,88
Tỷ lệ Trin thấp hơn 1,00 được xem là thị trường lên và trên 1,00 được xem là
thị trường xuống. Trong thí dụ này tỷ lệ Trin 0,88 là dấu hiệu của thị trường
lên. Tỷ lệ Trin dựa trên số liệu đóng cửa thị trường được gọi là tỷ lệ Trin
đóng       cửa      (closing      trin).      Xem       :     Closing     Tick.
TWO- SIDED MARKET: Thị trường gồm hai bên. Thị trường trong đó bên
đặt giá mua và bên đặt giá bán đều là công ty, trong trường hợp này người
ta cần một chuyên viên và những người tạo thị trường. Như thế cả người
mua và người bán được đảm bảo có khả năng hoàn tất giao dịch mua bán.
Nó còn được gọi là thị trường hai chiều (two-way market).
TWO-TIER BID: Giá đặt mua 2 lớp (tầng). Giá đặt mua tiếp quản (takeover
bid) do người muốn tiếp quản (người thụ đắc acquirer) đưa ra (cao hơn giá
thị trường) để mua các cổ phần cần thiết nhằm chiếm quyền kiểm soát chứ
không phải để lưu giữ cổ phần. Ngược lại là Any-and-all Bid.
TWO-TIER GOLD MART: Chợ vàng hai hệ thống - hai giá. Hệ thống hai
nhánh để đánh giá vàng. Giá chính thức trong được dùng trong buôn bán
vàng giữa các Nhà nước, trong khi giá thị trường được xác định bằng các
giao    dịch   mua     bán    trong    thị    trường   tư    nhân    về  vàng.
TWO-TIER TENDER OFFER: Đặt giá mua (giá đấu thầu) hai lớp.
Giá đặt mua để tiếp thu trong đó nhà đầu tư đã có đủ cổ phần để duy trì sự
kiểm soát, đưa ra giá cao hơn giá các nhà đầu tư còn lại. Giá cao hơn bao
gồm một hỗn hợp tiền mặt và vốn cổ đông trong công ty do người đấu thầu
(đặt giá mua) sở hữu. Những giá đặt mua này được đưa ra để thuyết phục
các cổ đông đáp ứng nhanh đối với giá đệm (tender offer- giá cao hơn giá thị
trường).
TYING CONTRACT: Hợp đồng cột chặt. Cũng còn gọi là tie-in (có ràng
buộc), người bán bán sản phẩm với điều kiện thảo thuận của người mua là
phải           mua            một            sản           phẩm          khác.
TRIPLE       TAX    EXEMPT:       Miễn     thuế    ba    lần   (ở   Hoa   Kỳ).
Đặc tính của trái phiếu đô thị trong đó tiền lãi được miễn thuế liên bang, tiểu
bang, và địa phương cho cư dân tiểu bang đó và đơn vị địa phương phát
hành trái phiếu. Trái phiếu này đặc biệt hấp dẫn trong các tiểu bang có thuế
suất lợi tức cao. Nhiều quỹ trái phiếu đô thị chỉ mua trái phiếu miễn thuế ba
lần và bán ra cho cư dân của tiểu bang hay thành phố nơi phát hành trái
phiếu.       Xem       :     Single-State        Municipal      Bond     Fund.
TRIPLE       WITCHING        HOUR:       Giờ     biến   ảo     gấp    ba   lần.
Giờ mua bán sau cùng vào Thứ Sáu lần thứ ba của tháng 3, 6, 9, 12.
Khi hợp đồng options và futures về chỉ số chứng khoán cùng lúc đáo hạn.
Lúc này các nhà theo sách lược bảo hộ giá và nhà mua- bán-cùng-lúc
(arbitrageur) đua nhau mua bán hàng đống hợp đồng futures, options chỉ số
và các chứng khoán cơ sở gây nên các hoạt động bất bình thường và làm
xáo trộn thị trường (volatility). Giờ biến áo có tỷ lệ thấp hơn xảy ra trong 8
tháng kia, cũng thường vào ngày Thứ Sáu lần thứ ba khi hợp đồng futures
chỉ        số      hay        hợp         đồng       options          đáo     hạn.
TROUBLED         BANK:        Ngân      hàng      đang       gặp       khó   khăn.
Ngân hàng có tỷ lệ tiền cho vay không diễn tiến (nonperforming loan) cao
hơn mức bình thường khi so sánh với các ngân hàng cùng tầm vóc, và có thể
trị giá thuần (phần vốn) bị âm (nợ nhiều hơn tài sản có).
TROUBLED DEBT RESTRUCTING: Tái cơ cấu nợ đang có trở ngại. Tình
trạng người cho vay đồng ý nhân nhượng người vay đang gặp khó khăn tài
chánh. Việc tái cơ cấu nợ của tiền cho vay không diễn tiến (không diễn tiến
tốt),          được           chia           làm          2            loại       :
1. Loại tiền cho vay trong đó người vay chuyển tài sản cho người cho vay.
2. Tiền cho vay trong đó điều khoản tín dụng được bổ sung. Phần này bao
gồm : tịch thu tài sản thế chấp, giảm lãi suất, gia hạn ngày đáo hạn, và
miễn              chi             trả            vốn               và          lãi.
Thông thường, người cho vay thương lượng một thoả thuận giải quyết
(workout agreement) với người vay để bổ sung các điều khoản ban đầu thay
vì đề xuất kiện cáo để tịch thu tài sản của người vay chậm trễ chi trả.
TROUBLED LOAN: Tiền cho vay đang có vấn đề. Tiền cho vay không diễn
tiến, (cũng còn được gọi là tiền cho vay chưa ăn (sour loan- tiền cho vay
đang không thuận lợi - tiền cho vay lên men). Có vài dấu hiệu cảnh báo về
việc này: Số chênh lệch quá ít (thin margins), chênh lệch giữa hoa lợi tiền
cho vay và số chi lãi cho người ký thác, khả năng thanh lý có vấn đề, tình
trạng kinh doanh và công ăn việc làm của công nhân không thuận lợi, thế
chấp không đủ, lợi tức không đủ. Số chi trả lãi hay vốn có thể đã được
thương          lượng           lại         hay         tái          cơ       cấu.
TRUE AND FAIR VIEW: Quan điểm sự thật và công bằng vô tư. Tiêu chuẩn
xem xét dành cho kiểm toán viên tài khoản thương mại. Kiểm toán viên theo
yêu cầu phải xác định tài khoản của một tổ chức có biểu lộ lừa đảo hay sai
lệch không. Sự sơ sót và báo cáo lệch sẽ bóp méo tình trạng tài chánh thực
sự                 của                 một                  tổ               chức.
TRUE        INTEREST         COST        (TIC):      Giá       phí       lãi thực.
1. Tỷ lệ phần trăm hàng năm giá phí quỹ bao gồm phí tài chánh, bảo hiểm
suốt thời gian tín dụng, điểm chiết khấu, lãi chi trả trước. Nhà nước quy định
người cho vay phải thông báo rõ ràng giá phí thực của tín dụng trong thoả
thuận cho vay tín dụng cho người tiêu thụ bằng cách dùng phương pháp cơ
bản tính phí tài chánh của người vay, lệ phí đơn xin tín dụng, và các giá phí
khác.
2. Giá phí thực tế của việc phát hành trái phiếu có tính đến trị giá hiện tại
(trị giá theo thời gian - time value) của tiền tệ. TIC thường được dùng trong
trái phiếu đô thị, đó là lãi suất, được kết hợp từng 1/2 năm, được quyền
khấu trừ vào số chi trả vốn và lãi cho trái chủ theo giá mua ban đầu. Hãy so
sánh                với               Net              Interest              Cost.
TRUE LEASE: Hợp đồng thuê đúng tiêu chuẩn. Hợp đồng cho thuế đúng
theo luật nhà nước và kiểm tra kế toán cho phép người cho thuê được một
số lợi thế về thuế của quyền sở hữu. Nó còn được gọi là Tax-oriented lease.
Người cho thuê được phép khấu hao tài sản trong suốt thời gian sử dụng tài
sản và có thể được hưởng tín dụng thuế chưa sử dụng. Người thuê có thể
khấu trừ số chi trả hợp đồng thuê dưới dạng chi phí vốn từ số thuế lợi tức
ban đầu. Hợp đồng cho thuê hội đủ tiêu chuẩn để xử lý thuế thường là hợp
đồng thuê nhiều năm có hỗ trợ tài chánh, thí dụ hợp đồng cho thuê trang bị;
vốn cho hàng không hay nhà sản xuất. Xem Capital Lease, Finanee Lease,
Operating                                                                    Lease.
TRUNCATION:                                  Cắt                                 bỏ.
1. Dịch vụ ngân hàng trong đó chi phiếu hay hối phiếu đã huỷ, được ngân
hàng khách hàng lưu giữ hay do một ngân hàng khác trong hệ thống thu
tiền chi phiếu, và không được trả lại người viết chi phiếu kèm với báo cáo tài
khoản. Chi phiếu có thể bị cắt bỏ hay ngưng tại ngân hàng nơi chi phiếu ký
thác đầu tiên hay tại ngân hàng nhà nước. Nếu do chính ngân hàng của
khách hàng, nó được gọi là giữ an toàn cho chi phiếu (check safe keeping).
Việc cắt bỏ chi phiếu liên ngân hàng hay liên quan đến một số lớn ngân hàng
sẽ loại bỏ việc xử lý cụ thể chi phiếu, nhưng yêu cầu các ngân hàng phải
tuân theo các luật lệ mới chi phối các quyền và nợ của ngân hàng trình chi
phiếu và ngân hàng chi trả thay mặt cho khách hàng. Cuối cùng, giá phí xử
lý chi phiếu sẽ gia giảm rất nhiều nếu phần lớn ngân hàng tham gia vào
chương             trình          cắt          bỏ            chi             phiếu.
2. Bỏ một hay nhiều con số khi tính tiền lãi tích luỹ trong tài khoản tiết
kiệm. Thí dụ, 1,677754 được cắt bỏ bớt số kể từ số thứ tư - số sẽ trở thành
1,6777.       Ngược        lại    là     Rounding        (làm        tròn       số).
TRUST:          Uỷ        thác       -     Tờ        rớt        (tập        đoàn).
Kinh doanh loại kết hợp công ty tham gia vào các vụ mua bán độc quyền và
kiềm chế, nó hoạt động tự do mãi cho đến khi có đạo luật chống tờ rớt (
trust) vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Từ ngữ này bắt nguồn từ việc sử
dụng uỷ nhiệm bỏ phiếu (voting trust), trong đó một số ít người được uỷ
nhiệm (thụ uỷ) bỏ phiếu cho đa số người có cổ phần trong công ty. uỷ -
nhiệm-bỏ-phiếu-biểu-quyết tồn tại như một phương tiện làm cho việc tái tổ
chức     được    dễ    dàng    trong   công   ty    đang      gặp     khó     khăn.
Xem       :     Investment       Company,      Voting       Trust       Certificate.
Luật pháp: mối quan hệ uỷ thác tài sản (fiduciary) trong đó một người được
gọi là người thụ uỷ (trustee) giữ quyền sở hữu tài sản vì lợi ích của một
người khác gọi là người thừa hưởng (benificiary). Người lập uỷ thác là
creator, settlor, donor (người lập uỷ thác, người trợ cấp, người bảo trợ).
Chính tài sản thì được gọi là corpus, trust res (tài sản uỷ thác), trust estate
hay trust fund (quỹ uỷ thác) - đây là phần gốc, nó khác với bất cứ lợi tức
nào được kiếm ra bằng cách sử dụng nó. Nếu uỷ thác được lập ra khi người
uỷ thác (donor - người bảo trợ) còn sống thì gọi là living trust (uỷ thác khi
còn sống) hay inter vivos trust (uỷ thác giữa người còn sống). uỷ thác lập ra
bởi di chúc thì gọi là uỷ thác chúc thư (testamentary trust). Người thụ uỷ
thường tính lệ phí đối với tài sản uỷ thác đầu tư có tính sản xuất, trừ khi có
quy định hạn chế, người thụ uỷ có thể bán, thế chấp hay cho thuê tài sản
khi ông ta cảm thấy đảm bảo. Xem Charitable Remainder Trust, Clifford
Trust, Investment Trust, Revisionary Trust, Company, Trustee in
Bankruptcy,           Trust        Indenture        Act           of          1939.
TRUST ACCOUNT: Tài khoản uỷ thác. Tên ngắn gọn để chỉ tất cả các loại
tài khoản do phòng uỷ thác ngân hàng hay công ty uỷ thác quản lý.
TRUST COM PANY: Công ty uỷ thác. Một tổ chức, thường kết hợp với ngân
hàng thương mại, tham gia với tư cách người thụ uỷ (trustee), người thụ uỷ
tài sản hay một nhân viên làm việc cho cá nhân hay đơn vị kinh doanh để
quản lý quỹ uỷ thác, tài sản, thoả thuận giám hộ, chuyển giao chứng khoán,
đăng ký chứng khoán và các dịch vụ liên quan khác. Công ty uỷ thác cũng
tham gia các chức năng điều hành đầu tư uỷ thác tài sản và lập kế hoạch về
tài    sản.    Công     ty     hoạt      động     theo  luật     nhà   nước.
TRUST       DEED:      Văn      kiện      uỷ    thác-  Deed       of   Trust.
TRUST DEPARTMENT: Phòng uỷ thác. Phòng trong ngân hàng hay tổ chức
tài chánh tham gia quản lý tài sản trong tài khoản uỷ thác cho uỷ thác cá
nhân, các uỷ thác cho lợi ích công nhân và tài khoản công ty, đồng thời cũng
làm dịch vụ trung gian cho các khách hàng uỷ thác. Các uỷ thác nhỏ hơn thì
thường được quản lý dưới dạng ngân quỹ kết hợp chung (commingled funds)
hay uỷ thác tài khoản chung mà nếu như quản lý riêng rẽ thì sẽ tốn kém
hơn. Phòng uỷ thác ngân hàng cũng giải quyết tài sản cho cá nhân và hoạt
động như nhân viên chuyển ngân quỹ cho các công ty. Ngân quỹ tài khoản
uỷ thác được quản lý riêng rẽ và được tính riêng với các tài sản khác do một
ngân hàng quản lý. Xem Master Trust, Trust Company, Trustee.
TRUST FUND: Quỹ uỷ thác. Tài khoản bao gồm tài sản được lưu giữ theo uỷ
thác                    cho                      người                 khác.
TRUST INDENTURE: Giao kèo trách nhiệm (uỷ thác). Thoả thuận giữa công
ty và chủ nợ ghi chi tiết các điều khoản về số nợ. Các điều khoản này bao
gồm các điều như lãi suất, thời điểm đáo hạn, phương tiện chi trả và thế
chấp. Nó đồng nghĩa với Deed of Trust, Trust Agreement.
TRUST           RECEIPT:             Biên         nhận        uỷ        thác.
1. Thoả thuận được dùng rộng rãi trong tài trợ bằng tín dụng thư, thường
cấp cho người mua hay nhà nhập khẩu hàng hoá. Người mua hứa giữ tài sản
nhận được dưới danh nghĩa ngân hàng thoả thuận tài trợ, mặc dù ngân hàng
vẫn giữ quyền sở hữu hàng hoá. Biên nhận uỷ thác cho phép nhà nhập khẩu
được có sở hữu hàng hoá để sau đó bán lại trước khi chi trả cho ngân hàng
phát                                                                   hành.
2. Một loại thoả thuận an toàn nhằm kiểm tra khoảng thời gian kéo dài tín
dụng đối với những người bán hàng có thời gian tiêu thụ lâu (durable
goods). Thí dụ như người buôn bán xe ô tô, người này sở hữu những xe
trong cửa hiệu và chi trả cho người cho vay bằng tài khoản uỷ thác khi nào
xe được bán. Người cho vay có thể cũng phải nhận một bản báo cáo xin tài
trợ của người vay trước khi cho vay. Xem Floor Planning, Indirect Loan .
TRUSTEE:            Người           thụ         uỷ.       Xem          Trust.
TRUSTEE BANKRUPTCY: người thụ uỷ trong vụ phá sản. Người thụ uỷ do
toà án chỉ định hay do chủ nợ, để quản lý các công việc của một công ty hay
cá nhân bị phá sản. Người thụ uỷ có trách nhiệm thanh lý tài sản của công
ty và thực hiện phân phối các cổ tức thanh lý cho chủ nợ. Trong việc tái tổ
chức, người thụ uỷ có thể hay không thể được chỉ định. Nếu được chỉ định,
người thụ uỷ có trách nhiệm xem xét kế hoạch tái tổ chức được đệ trình và
thường       đảm      nhiệm        trách      nhiệm    cho       công     ty.
TRUSTEE OF A LIVING TRUST: người thụ uỷ uỷ thác của người còn sống.
Người quản lý uỷ thác, bao gồm tài khoản trong công ty môi giới do một
người còn sống thiết lập. Thẩm quyền uỷ thác theo thoả thuận uỷ thác,
không                 phải               theo              di               chúc.
TRUSTOR: Người uỷ thác. Người lập ra uỷ thác cho lợi ích của một người
khác và giao tài sản cho người thụ uỷ (trustee) để phân phối cho người thừa
hưởng.      Nó       còn      được      gọi    là     donor     hay       settlor.
TRUTH IN LENDING LAW: Quy luật thành thật khi cho vay.
Luật lệ xác định rằng người cho vay phải thông báo rõ ràng cho người vay
giá phí thật sự của số tiền vay và thực hiện lãi suất, các điều khoản về tiền
vay phải đơn giản để dễ hiểu. Xem: Consumer Credit Protection Act of 1968,
Right                                of                               Rescission.
TRUTH IN SAVINGS: Thành thật trong tài khoản tiết kiệm. Luật nhà nước
quy định ngân hàng phải thông báo rõ ràng các điều khoản then chốt trong
tài khoản ký thác có trả lãi, kể cả lãi suất chi trả và lệ phí. Nhà nước quy
định tổ chức tài chánh thiết lập sẵn: lãi suất đơn được trả, hoa lợi phần trăm
hàng năm, số cân đối tối thiểu để mở rộng một tài khoản, tiền phạt khi rút
ngân quỹ sớm, và các điều kiện khác có thể làm giảm hoa lợi trong tài
khoản.
TURKEY: Thất bại. Đầu tư không được như ý muốn. Từ ngữ có thể được
dùng để nói về một vụ kinh doanh đang đến thất bại, hay nói về việc mua
một loại chứng khoán hay trái phiếu đã rớt giá trầm trọng hay chứng khoán
mới    phát    hành     không    bán     được   nhiều    hay   phải    bán     lỗ.
TURNAROUND: Xoay vòng. Mua và bán chứng khoán trong một ngày,
thường        là       để       đầu         cơ     (kiếm       lời       nhanh).
TURNAROUND: Quay ngược lại- Đảo ngược tình thế. Sự đảo ngược có lợi
trong số mệnh của một công ty, thị trường hay tổng thể kinh tế. Nhà đầu tư
thị trường chứng khoán dự đoán rằng công ty đang diễn tiến xấu sẽ chứng tỏ
sự cải thiện đáng kể trong việc kiếm lợi nhuận và đạt được lợi nhuận thật
cao     một      khi     công     ty     đảo     ngược     được     tình     thế.
TURNKEY: Chìa khoá trao tay. Dự án do một công ty đã xây dựng hay hoàn
thành, sau cùng được hoàn chỉnh và chuyển giao cho một công ty sẽ sử
dụng nó như thế tất cả người sử dụng đều có sẵn chìa khoá trong tay (có đủ
điều kiện hoạt động) nghĩa là dự án sẵn sàng hoạt động. Từ ngữ này được
dùng trong các dự án xây dựng nhà cửa, sau khi xây dựng xong thì chuyển
giao cho người quản lý tài sản . Cũng có hệ thống vi tính trao tay có nghĩa là
người sử dụng không cần phải có kiến thức đặc biệt về vi tính nhưng vẫn có
thể      sử      dụng        đúng       một      khi     được      lắp       đặt.
TURNOVER: Luân chuyển, doanh số, tốc độ thay thế công nhân.
Tài                                                                       chánh:
1. Số lần tài sản đã có, được thay thế trong suốt một thời khoảng kế toán,
thường là một năm. Xem: Accounts Receivable Turnover, Inventory
Takeover.
2. Tỷ lệ số bán hàng năm của công ty đối với trị giá thuần (vốn) đo lường
mức độ công ty có thể phát triển mà không cần đầu tư thêm vốn khi so sánh
với thời gian qua. ở Anh: có nghĩa là số bán hằng năm.
Liên hệ ngành: tổng số công ăn việc làm chia cho số công nhân được thay
thế         trong          suốt         thời        gian        ấn          định.
Chứng khoán: số lượng cổ phần được mua bán tính bằng số phần trăm tổng
số cổ phần được liệt kê trên một thị trường trong một thời khoảng, thường là
một ngày hay một năm. Tỷ lệ này cũng được áp dụng cho số chứng khoán
của cá nhân và danh mục đầu tư của cá nhân hay nhà đầu tư thuộc tổ chức.
TURNOVER RATIOS: Tỷ lệ luân chuyển. Tỷ lệ tài chánh liên hệ đến doanh
số hay số lượng, thí dụ, luân chuyển của tài khoản thu, còn gọi là tỷ lệ hiệu
quả, luân chuyển tài sản tức sự chuyển đổi tài khoản thu ra tiền mặt. Tỷ lệ
này đo lường hiệu quả của việc chuyển đổi tài sản ra tiền mặt. Xem Liquidity
Ratios.
12B-1 MUTUAL FUND: Quỹ hỗ tương đầu tư 12b-1. Quỹ hỗ tương đầu tư
tính một ít phí quảng cáo đối với cổ đông. Quỹ này không tính phí bán vì thế
khi bán ra công chúng quỹ không cần đến Broker. Thay vào đó, quỹ thường
dựa vào việc quảng cáo và các liên hệ công chúng để thiết lập tài sản của
quỹ. Phí thường vào khoảng từ 1% trở xuống của tài sản quỹ. Quỹ 12b-1
phải theo đăng ký quy định với nhà nước và các phí phải được thông báo
rộng                                                                       rãi.
TWENTY- DAY PERIOD: Thời khoảng 20 ngày (ở Hoa Kỳ). Thời khoảng do
SEC quy định sau khi nộp báo cáo đăng ký và bản quảng bá ban đầu
(preliminary prospectus) về việc phát hành mới hay phân phối lần thứ nhì,
trong giai đoạn này hồ sơ sẽ được xem xét và nếu cần sẽ bổ sung. Cuối thời
hạn 20 ngày, còn gọi là thời khoảng cứu xét (cooling-off period), sẽ đánh
dấu thời điểm có hiệu lực tức là lúc có thể cung ứng chứng khoán trái phiếu
ra công chúng (bán ra công chúng). SEC có thể kéo dài thời khoảng này để
nhà phát hành có đủ thời gian bổ túc hồ sơ còn thiếu sót (deficiency letter -
thư               báo               còn              thiếu               sót).
TWENTY-FIVE           PERCENT          RULE:        Quy       tắc       25%.
Lời khuyên của nhà phân tích trái phiếu đô thị cho biết nợ tồn (bonded debt)
vượt qua 25% ngân sách hàng năm của chính quyền nhà nước là quá mức.
24 HOUR BANKING: dịch vụ ngân hàng phục vụ 24/24.
Dịch vụ ngân hàng tự phục vụ hoạt động luôn cả giờ nghỉ việc của ngân
hàng để phát tiền mặt, nhận ký thác và chuyển ngân quỹ giữa các tài khoản
tại hệ thống máy thu phát ngân tự động. Sự phát triển của hệ thống ATM có
chia phần, cả trong nước và nước ngoài vào thập niên 1980 đã tạo điều kiện
cho người tiêu thụ thực hiện ít nhất là một số chức năng ngân hàng thông
thường ở khắp nơi trong nước và ở mức độ nào đó trong cả phạm vi quốc tế.
TWENTY-PERCENT CUSHION RULE: Quy tắc khoảng cách an toàn 20%.
Nhà phân tích trái phiếu doanh thu đô thị (municipal revenue bonds) cho
rằng doanh thu ước tính từ phương tiện được tài trợ nên vượt quá ngân sách
hoạt động hiện hành cộng giá phí bảo dưỡng và số tiền dành chi trả nợ (debt
service- dịch vụ trả nợ). Khoảng chênh lệch 20% hay khoảng cách an toàn
("cushion") dùng để dự phòng các chi phí không thể ước tính được hay bị sai
lạc        trong        việc        ước        tính        doanh          thu.
TWISTING: Lươn lẹo. Việc làm không đạo đức nhằm thuyết phục một
khách hàng mua bán không cần thiết, nhờ đó broker hay người bán được
hoa hồng. Thí dụ: Broker có thể đề xuất chủ hàng bán một quỹ hỗ tương
đầu tư để lấy phí bán và mua một quỹ khác cũng để lấy phí bán do đó họ
được thêm một hoa hồng. Người bán bảo hiểm nhân thọ thuyết phục người
có hợp đồng huỷ hợp đồng bảo hiểm của người đó hay làm cho nó mất hiệu
lực để bán cho người được bảo hiểm một hợp đồng mới có thể có phí cao hơn
và người bán nhận được một hoa hồng đáng kể. Nó còn được gọi là Churning
(khuấy                                                                động).
TWO-DOLLAR BROKER: Người môi giới của người môi giới.
Broker tại hiện trường mua bán (floor broker - broker tại sàn mua bán)
người thi hành các lệnh mua bán cho các broker khác đang quá bận rộn, họ
được gọi là broker của broker. Các broker này được trả 2 dollars cho một vụ
mua bán lố tròn (round lot- từ 100 chứng khoán trở lên) vì thế mới có tên
broker hai đô la. Ngày nay họ được chi trả hoa hồng thay đổi tuỳ theo trị giá
tiền    của    giao   dịch   mua    bán.    Xem:   Independence      Broker.
200 PERCENT DECLINING BALANCE METHOD: Phương pháp cân bằng
giảm 200%. Xem Double Declining - Balance Depreciation Method (DDB).
TWO NAME PAPER: Chứng từ nợ có hai người đứng tên. Tên chung để chỉ
chứng từ nợ thương mại - giấy chấp nhận thương mại và giấy chấp nhận
ngân hàng - mang hai chữ ký, hoặc là với tư cách người rút tiền hoặc là
người bối thự. Nó còn được gọi là chứng từ mang tên kép (double name
paper). Trong trường hợp người phát hành không thể trả tiền giấy chấp nhận
ngân hàng thì ngân-hàng-chấp-nhận món nợ phải chịu trách nhiệm chi trả.
TWO-PARTY LOAN: Tiền cho vay hỗ tương (có hai bên trách nhiệm). Xem
Back-to-back Loan, Parallel Loan.
Kiến thức chứng khoán
Phân loại           Từ điển chứng khoán

Chủ đề               U
ULTRA VIRES ACTIVITIES: Hoạt động quá mức cho phép. Các hoạt động
ngoài thẩm quyền của nội quy, giấy phép của công ty và do đó đưa đến sự
kiện tụng của cổ đông và bên thứ ba. Xem: articles of incorporation.
UMBRELLA FUND: Quỹ bao trùm. Tài khoản đầu tư bao gồm ngân quỹ
được đầu tư trong các tài khoản khác, thường là ở nước ngoài.
UNABSORBED COST: Giá phí không trang trải được. Thâm thủng trong chi
phí gián tiếp khi doanh thu từ sản phẩm không trang trải được tất cả giá phí.
UNAMORTIZED BOND DISCOUNT: Khấu trừ trái phiếu trả ngay. Chênh
lệch giữa mệnh giá trái phiếu và số tiền thu được khi công ty phát hành bán
trái phiếu, trừ cho phần đã được trả dần (trả góp) nghĩa là xoá chi phí báo
cáo định kỳ trong bản báo cáo lời và lỗ. Vào thời điểm phát hành, công ty có
hai                                 lựa                                 chọn:
1. Công ty có thể chấp nhận ngay chi phí gián tiếp (absorb) như chi phí về
số khấu trừ trái phiếu cộng với giá phí liên quan đến việc phát hành như lệ
phí pháp lý, in ấn, đăng ký và các chi phí tương tự.
2. Công ty có thể quyết định xử lý tổng số khấu trừ và các chi phí như loại
phí hoãn và được ghi nhận là một tài sản được xoá bỏ theo thời gian hiệu lực
của trái phiếu hay theo một thời biểu mà công ty thấy là cần thiết. Số lượng
này vẫn được tính như một chi phí vào bất cứ thời điểm nào nghĩa là nó vẫn
được      coi     là    số     khấu     trừ   trái    phiếu      trả     ngay.
UNAMORTIZED PREMIUMS ON INVESTMENTS: Chênh lệch trả ngay
trong các vụ đầu tư. Một phần trị giá không phải là chi phí theo đó giá chứng
khoán được trả cao hơn mệnh giá (nếu là trái phiếu hay chứng khoán ưu đãi)
hay trị giá thị trường (nếu là chứng khoán thường). Chênh lệch (premium)
được chi trả trong việc tiếp quản một vụ đầu tư thì nằm trong tài sản vô hình
theo như bản chất và theo kế toán lối cũ nó không được xem là chi phí (bị
loại bỏ ra mục chi phí) trong một thời khoảng tương ứng. Xem: Going-
Concern                                                                 Value.
UNAUTHORIZED INVESTMENT: Đầu tư không được uỷ quyền (Không có
thẩm quyền). Đầu tư không được chấp thuận một cách rõ ràng bằng một
công cụ uỷ thác để đúng là một uỷ thác, nó khác với đầu tư không theo luật
định do công ty uỷ thác hay phòng uỷ thác ngân hàng thực hiện. Một vụ đầu
tư nếu không có uỷ quyền có thể hội đủ điều kiện luật nhà nước quy định
đầu tư thông qua người thụ uỷ thác tài sản, nhưng vẫn vi phạm quyết định
của      người      lập      ra     uỷ      thác.     Xem:     Legal      list.
UNAUTHORIZED TRANSFER: Chuyển ngân quỹ không thuộc thẩm quyền.
Rút tiền mặt hay chuyển ngân quỹ (sử dụng thẻ nợ ngân hàng) từ tài khoản
ký thác của khách hàng bởi một người nào đó không phải là người có thẻ.
Trong tình trạng người có thẻ không cẩn thận, tạo điều kiện dễ dàng cho
một người nào đó rút tiền khỏi tài khoản ngân hàng mà không có sự chấp
thuận của ông ta thí dụ như viết mã số mở hay mã số Pin lên chính thẻ nợ
thì khách hàng khó mà kiện cáo ngân hàng để sửa lại lỗi lầm này. Tuy nhiên,
trách nhiệm pháp lý trong việc sử dụng sai mã số PIN lại là một vấn đề mơ
hồ có thể đưa đến việc tranh cãi. Xem: error resolution, unauthorized use.
UNAUTHORIZED USE: Sử dụng khi không có thẩm quyền.
Một người nào đó sử dụng thẻ tín dụng chứ không phải người có thẻ, thí dụ
sau khi thẻ tín dụng bị rớt mất hay bị đánh cắp và số mua (không được
người     có    thẻ     chấp    nhận)     được    tính   vào    tài    khoản.
UNBUNDLING: Không gom chung. Việc định giá (tính giá phí) của dịch vụ
ngân hàng trong đó hoạt động của tài khoản được chia ra thành từng phần
và mỗi hoạt động được tính phí dịch vụ tài khoản riêng. Do đó, Khách hàng
có tài khoản chi phiếu được tính lệ phí theo từng chi phiếu được trả tiền và
mỗi lần rút tiền mặt từ máy thu phát ngân tự động, ngược với lệ phí duy trì
tài khoản hàng tháng. Trong việc định giá dịch vụ riêng lẻ (không gom
chung), ngân hàng cũng có thể tính lãi suất tín dụng của số tiền kiếm được
(earnings credit rate) trên các số cân đối trong tài khoản ký thác, số này sẽ
được dùng để giảm chi phí dịch vụ riêng rẽ. Mục đích của việc tính phí riêng
rẽ này là để định giá dịch vụ ngân hàng cho mỗi lần kiếm được lợi nhuận hay
đo lường được sự thua lỗ, đồng thời lệ phí dịch vụ sẽ công bằng hơn đối với
tất cả khách hàng. Định giá riêng rẽ cũng là nguồn lợi tức lệ phí tiềm tàng
hay lợi tức không sinh lãi, nó có thể dùng để đáp ứng lại chi phí không sinh
lãi như lương công nhân. Ngược lại là account bundling (gom chung tài
khoản).
UNCALLED CAPITAL: Vốn không phải thu hồi (vốn dự trữ Xem: Reserve
capital.
UNCERTIFIED         UNITS:      Đơn      vị    không    có    chứng     nhận.
Cổ phần trong quỹ hỗ tương đầu tư không có cấp chứng chỉ khi nhà đầu tư
mua một số nhỏ cổ phần bằng cách tái đầu tư cổ tức, cổ phần được ghi vào
tài khoản của họ cho đến khi số cổ phần phát triển lên hay khi không còn
muốn                                   giữ                               nữa.
UNCLAIMED BALANCES: Số cân đối không ai đòi. Số cân đối để nhàn rỗi
trong tài khoản ngân hàng, và được xem như tài sản bỏ không (abandoned
property), quyền sở hữu có thể trao lại cho nhà nước sau một thời gian ấn
định. Nó còn được gọi là dormant account (tài khoản nằm im - tài khoản
không                                hoạt                              động).
UNCOLLECTED FUND: Quỹ chưa thu. Một phần của ký thác ngân hàng
thiết lập cho các chi phiếu chưa được ngân hàng ký thác thu, có nghĩa là số
chi trả mà chi phiếu đã được rút ra chưa được ngân hàng báo cho biết. Ngân
hàng thường không để cho người ký thác rút tiền trên quỹ chưa thu. Xem:
Float.
UNCONDITIONAL BID: Đặt mua không điều kiện. Xem: Takeover.
UNCONFIRMED LETTER OF CREDIT: Tín dụng thư không có bảo đảm.
Xem               Confirmed              Letter           of           Credit.
UNCOVERED OPTION: Hợp đồng option không có bảo kê. Hợp đồng option
mà người sở hữu không có giữ công cụ cơ sở (sẽ giao theo hợp đồng option
khi có yêu cầu) (không có chứng khoán làm cơ sở cho hợp đồng). Xem:
Naked Option, Underlying Futures Contract, Underlying Security, Writing
Naked.
UNDATED SECURITY: Trái phiếu không định thời điểm. Trái phiếu không
có                thời                điểm              thu                hồi.
UNDERBANKED: Chưa đủ sức bao tiêu. Nói về việc bao tiêu phát hành
chứng khoán mới khi ngân hàng đầu tư gốc gặp khó khăn trong việc tập tập
hợp các công ty khác gia nhập vào làm thành viên nhóm bao tiêu hay tập
đoàn         bao         tiêu       (syndicate).      Xem:         Underwrite.
UNDERBOOKED: Chưa chính thức mua (mới chỉ hứa). Nói về việc phát
hành mới các chứng khoán trong giai đoạn trước khi đăng ký (preoffering
registration period) khi broker vận động liệt kê các người mua sắp tới, báo
cáo có một bản biểu thị quan tâm (indication of interest - bản hứa sẽ mua
chứng khoán). Ngược lại với underbooked là fully circled (đã chính thức đăng
ký     mua    -    đã     hoàn    toàn    đồng     ý  mua).    Xem:     Circle.
UNDERCAPITALIZATION: Chưa đủ vốn, chưa đủ tư bản hoá.
Tình trạng trong đó một đơn vị kinh doanh không đủ vốn để thực hiện các
chức năng kinh doanh thông thường. Xem: Capitalization, Working Capital.
UNDERDEVELOPMENT:                       Kém            phát              triển.
Chủ yếu là tình trạng kinh niên của quốc gia kém phát triển (Less developed
countries - LDC), có tổng sản lượng trong nước và lợi tức đầu người rất thấp
so với các quốc gia còn lại trên thế giới. Thông thường một quốc gia đang
phát triển có những khu vực đã phát triển, nhưng nó không gợi lại những
hình ảnh của một quốc gia kinh niên kém phát triển. LDC lệ thuộc vào hàng
xuất khẩu các sản phẩm cơ bản để kiếm lợi nhuận, có số vốn đầu tư rất hạn
hẹp và phải dựa vào hạ tầng cơ sở yếu kém để hỗ trợ ngay cả việc phát triển
công       nghiệp      yếu     về      chất     lượng    lẫn     số     lượng.
UNDERGROUND ECONOMY: Thị trường chủ - Kinh tế bí mật ngấm ngầm.
Nó được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau như: parallel market (thị trường
song hành) hay shadow market (thị trường trong bóng tối), entrepreuenrial
market (thị trường thuộc con buôn) trong một nền kinh tế kế hoạch hay có
luật lệ rất nặng nề. Kinh tế bí mật ngấm ngầm (thị trường chui) bao gồm hệ
thống những người trung gian và nhà cung cấp bán hàng hoá hay dịch vụ
cho các công ty và người tiêu thụ bằng lòng trả cao giá hơn cho sản phẩm
không có sẵn trong hệ thống phân phối thông thường. Khi loại hàng hoá hay
dịch vụ bất hợp pháp được mua bán trong thị trường quốc tế thì thị trường
song song được gọi là thị trường chợ đen (Black market).
UNDERLYING: Làm cơ sở (cho một hợp đồng). Các công cụ tài chánh phải
được giao khi chấm dứt một hợp đồng option hay futures. Thí dụ, vật làm cơ
sơ có thể là chứng khoán (trái phiếu) có lãi suất cố định, thị trường hối đoái
hay vốn của các hợp đồng futures (nếu chứng khoán là hợp đồng option trên
hợp                                 đồng                             futures).
UNDERLYING DEBT: Nợ cơ sở. Từ ngữ của trái phiếu đô thị, nợ của một
đơn vị nhà nước trong phạm vi quyền hạn của một thực thể nhà nước lớn
hơn và do đó thực thể lớn hơn này có một phần trách nhiệm tín dụng. Thí
dụ, một hạt có thể phải chia sẻ trách nhiệm với các cam kết nợ tổng quát
của một làng nằm trong hạt đó. Đứng trên quan điểm chính quyền hạt thì nợ
của          ngôi           làng         là          nợ        cơ         sở.
Từ ngữ nợ gối đầu (overlapping debt) cũng được dùng để mô tả nợ cơ sở
nhưng nợ gối đầu cũng có thể nằm trong nhiều đơn vị cùng cấp, thí dụ như
khu vực trường học nằm trên giao điểm các đường ranh giới của hai hay
nhiều                                                                    hạt.
UNDERLYING FUTURES CONTRACT: Hợp đồng futures cơ sở. Hợp đồng
futures làm cơ sở cho hợp đồng option vào thời điểm tương lai đó. Thí dụ,
Chicago Board of Trade cung ứng hợp đồng futures trái phiếu kho bạc. Hợp
đồng futures cơ sở là hợp đồng futures trái phiếu bạc được mua bán ở Board
of Trade. Nếu hợp đồng Option đã được thực hiện, việc cung ứng sẽ được
thực       hiện       bằng       hợp        đồng      futures     cơ      sở.
UNDERLYING LIEN: Quyền giữ thế chấp cơ bản. Quyền đòi chi trả ưu tiên
hơn các quyền đòi chi trả của các chủ nợ khác và được chi trả trước khi các
món nợ kế tiếp được chi trả đầy đủ. Tiền cho vay có thế chấp lần thứ nhất
ưu tiên hơn tiền cho vay có thế chấp lần thứ hai và lần thứ hai được gọi là
quyền giữ thế chấp cấp thấp (junior lien). Người cho vay có thể yêu cầu
người vay ký một thoả thuận phụ (subordination agreement) để tiền vay của
ngân hàng được chi trả trước các món nợ khác thí dụ như tiền vay của cá
nhân người vay đối với công ty có tính cách gia đình (closely-held
corporation) hay công ty góp vốn trong đó người vay là sở hữu chính.
UNDERLYING MORTGAGE: Tiền vay có thế chấp cơ sở (chính yếu, gốc).
Xem                               underlying                            Lien.
UNDERLYING            SECURITY:          Chứng         khoán      cơ      sở.
Hợp đồng options: chứng khoán phải được giao nếu hợp đồng Put option hay
Call option được thực thi. Tuy nhiên, hợp đồng option và futures chỉ số
chứng khoán được thanh toán bằng tiền mặt bởi vì không thể giao chỉ số
chứng                                                                 khoán.
Chứng khoán: chứng khoán thường làm cơ sở cho các loại chứng khoán nào
đó do công ty phát hành. Chứng khoán này phải được giao nếu chứng chỉ
đặc quyền đăng ký (subscription warrant) hay đặc quyền đăng ký
(subscription right) được thực thi, nếu trái phiếu khả hoán hay chứng khoán
ưu đãi được chuyển sang chứng khoán thường và nếu hợp đồng option
chứng khoán thưởng (incentive stock option) được thực thi.
UNDERMARGINED ACCOUNT: Tài khoản Margin dưới tiêu chuẩn. Tài
khoản Magrin (tài khoản vay tiền mua chứng khoán) xuống dưới mức quy
định Margin (mức trị giá tối thiểu phải có trong tài khoản) hay quy định duy
trì mức tối thiểu (minimum maintenant requirements). Kết quả là broker
phải làm một lệnh gọi Margin (yêu cầu đóng thêm tiền, chứng khoán) gửi
cho                                 khách                              hàng.
UNDERPINNING: Củng cố, làm cơ sở. The market's psychological
underpinning are bullish (căn cứ vào tâm lý thị trường thì thị trường sẽ lên
có                      tính                     lạc                  quan).
UNDERSELLING: Bán dưới giá. Trong ngoại thương, bán trong thị trường
nhập khẩu theo trị giá thị trường thấp hơn trị giá công bằng hợp lý.
UNDERSUBSCRIBED ISSUE: Phát hành dưới mức đăng ký. Xem
Oversubscribed                                                             issue.
UNDERVALUED: Dưới trị giá. Chứng khoán bán dưới trị giá thanh toán hay
trị giá thị trường mà nhà phân tích tin là nó chỉ được như vậy.
Chứng khoán một công ty có thể dưới giá trị vì thuộc về ngành không được
ưa chuộng, vì ít người biết đến công ty hay có quá trình kiếm lợi nhuận thất
thường hoặc vì các lý do khác. Các nhà phân tích cơ bản cố gắng điểm mặt
các công ty dưới trị giá để khách hàng mua của họ có cơ hội mua chứng
khoán trước khi nó trở nên có giá trị đầy đủ (fully valued). Các công ty dưới
giá trị thường là mục tiêu cho các nỗ lực tiếp quản (chiếm quyền kiểm soát
công ty- takeover), bởi vì người thụ đắc (người muốn tiếp quản) có thể mua
rẻ     tài   sản    theo    cách     này.    Xem:      Fundamental      Analysis.
UNDERWATER            LOAN:       Tiền     vay       có     giá     trị     thấp.
Tiền cho vay có trị giá thị trường thấp hơn mệnh giá. Nếu bán trong thị
trường cấp hai, người cho vay sẽ phải chịu lỗ. Tiền cho vay bị hạ giá (sink) vì
người vay chi trả trễ nải; lãi coupon dưới lãi suất tiền cho vay có cùng chất
lượng và ngày đáo hạn, hoặc là thế chấp của tiền vay có trị giá thấp hơn vốn
cho vay, hoặc là không có nguồn chi trả. Thí dụ như người cho vay giữ hợp
đồng cho vay dài hạn về ô tô như 5 năm có thể gặp trường hợp trị giá thị
trường của chiếc xe thấp hơn số vốn cho vay còn lại chưa được trả.
UNDERWRITE:                                 Bao                              tiêu.
Bảo hiểm: chấp nhận rủi ro đổi lại được phí bảo hiểm (premium).
Đầu tư: chấp nhận rủi ro trong việc mua tất cả các chứng khoán mới phát
hành của công ty hay đơn vị nhà nước và bán lại cho công chúng trực tiếp
hoặc thông qua người buôn bán. Người bao tiêu được hưởng chênh lệch giữa
giá phải trả cho nhà phát hành và giá bán ra công chúng (public offering
price)     gọi   là   chênh     lệch    bao    tiêu     (underwriting    spead).
Bao tiêu là việc kinh doanh của ngân hàng đầu tư, người theo thông thường
sẽ lập thành nhóm bao tiêu (còn gọi là nhóm mua- Purchase group hay tập
đoàn bao tiêu- Syndicate) chịu chung rủi ro và đảm bảo phân phối thành
công số phát hành. Tập đoàn bao tiêu hoạt động theo thoả thuận giữa
những người bao tiêu, còn gọi là hợp đồng của tập đoàn bao tiêu (syndicate
contract)        hay        hợp        đồng         nhóm        bao          tiêu.
Nhóm bao tiêu chỉ định người quản lý bao tiêu cũng gọi là trưởng nhóm bao
tiêu (lead underwriter), giám đốc tập đoàn bao tiêu hay đơn giản là manage,
thường là ngân hàng đầu tư đầu tiên (ngân hàng gốc). Công ty bắt đầu làm
việc với nhà phát hành nhiều tháng trước để hoạch định chi tiết việc phát
hành và chuẩn bị tài liệu đăng ký để nạp cho nhà nước. Giám đốc bao tiêu
hoạt động như một thành viên của nhóm, sẽ ký thoả thuận bao tiêu (hay
hợp đồng mua) với nhà phát hành. Thoả thuận này nói rõ các điều khoản và
quy định của thoả thuận và trách nhiệm của cả nhà phát hành lẫn nhà bao
tiêu. Trong suốt thời gian cung ứng (bán ra công chúng), thì chính giám đốc
bao tiêu phải chịu trách nhiệm ổn định giá thị trường cổ phần của nhà phát
hành bằng cách phát giá trong thị trường mở rộng, một tiến trình gọi là ổn
định giá (pegging). Giám đốc bao tiêu cũng có thể chỉ định một nhóm bán
(selling group) kết hợp những người buôn bán với chính những người bao
tiêu để trợ giúp việc phân phối chứng khoán. Nói một cách chính xác, việc
bao tiêu hiển nhiên chỉ sử dụng trong ý nghĩ cam kết chắc chắn bao tiêu
(firm commitment underwriting) cũng gọi là bought deal, nghĩa là mua đứt
chứng                khoán               của               công                ty.
Có các loại thoả thuận ngân hàng đầu tư khác mà từ ngữ không được áp
dụng đúng cho lắm, đó là cam kết làm hết sức mình (best effort), cam kết
hoặc là mua tất cả hoặc không mua gì hết (all or none), cam kết sẵn sàng
hỗ trợ (standby). Trong mỗi cam kết này, người ta chia rủi ro cho nhà phát
hành            và              ngân            hàng             đầu            tư.
Thỉnh thoảng từ ngữ cũng được dùng trong cung ứng lần thứ hai có đăng ký
(registered secondary offering), cơ bản cũng giống như tiến trình phát hành
mới ngoại trừ số tiền thu được thuộc về nhà đầu tư bán chứng khoán chứ
không thuộc nhà phát hành. Đối với các thoả thuận này, thì từ ngữ cung ứng
(bán) lần thứ nhì được người ta thích dùng hơn từ bao tiêu là từ thường dùng
riêng       cho        phân         phối      mới        hay        đầu      tiên.
Có hai phương pháp cơ bản dựa vào đó nhà phát hành chọn lựa nhà bao tiêu
và giá phí bao tiêu (chênh lệch bao tiêu- underwriting spread) được xác
định: bao tiêu theo thương lượng (negotiated underwritings) và bao tiêu
theo đấu thầu có cạnh tranh (competitive bid underwritings). Thông thường,
bao tiêu theo thương lượng được dùng trong việc phát hành chứng khoán
vốn công ty và trái phiếu nợ của công ty, trong khi đó phương pháp đấu
thầu có cạnh tranh được chính quyền đô thị và đơn vị tiện ích công cộng sử
dụng.        Xem:         Allotment.        Blowout,        Primary        Market.
UNDERWRITER:              Người       bao      tiêu,      nhà       bảo     hiểm.
Bảo hiểm: công ty chấp nhận giá phí rủi ro về cái chết, hoả hoạn, trộm cắp,
đau yếu v.v... đổi lại được chi trả một số tiền gọi là phí bảo hiểm (premium).
Chứng khoán: ngân hàng đầu tư một mình hay là một thành viên của nhóm
bao tiêu hay tập đoàn bao tiêu (syndicate) đồng ý mua (bao thầu) một phát
hành mới các chứng khoán của nhà phát hành và phân phối cho các nhà đầu
tư để hướng phí bao tiêu (chênh lệch bao tiêu). Xem: Underwrite.
UNDERWRITING AGREEMENT: Thoả thuận bao tiêu. Thoả thuận giữ công
ty phát hành chứng khoán mới để bán ra công chúng và nhà quản lý bao
tiêu với tư cách là thành viên của nhóm bao tiêu. Nó cũng còn gọi là thoả
mua hay hợp đồng mua, nó tiêu biểu cho cam kết của nhà bao tiêu là mua
các chứng khoán và ghi chi tiết giá bán ra công chúng, phí bao tiêu (bao
gồm số khấu trừ và hoa hồng), số tiền thu được thuần cho nhà phát hành và
thời điểm thanh toán. Nhà phát hành đồng ý trả tất cả chi phí phát hành
trong việc chuẩn bị phát hành để sau đó bán lại, bao gồm lệ phí đăng ký với
nhà nước và giá phí về tập quảng bá (prospectus), nhà phát hành cũng đồng
ý cung cấp cho nhà quản lý bao tiêu đầy đủ các bản sao của tất cả tập
quảng bá đầu tiên (sơ bộ). (Cá trích đỏ - red herring- đây là tiếng lóng) lẫn
tập quảng bá nguyên trạng sau cùng. Nhà phát hành đảm bảo:
1. Thực hiện tất cả các hồ sơ theo quy định của Nhà nước và tuân thủ đầy
đủ     các    điều     khoản       của    đạo     luật     về     chứng    khoán.
2. Chịu hoàn toàn trách nhiệm việc hoàn tất, mức chính xác, rõ ràng của các
chứng từ về tất cả các thông tin trong hồ sơ đăng ký và tập quảng bá.
3.    Thông     báo     đầy      đủ    các    vụ     tranh    chấp     còn    tồn.
4.    Sử     dụng     tiền     thu     được     cho     mục     tiêu    đã   nêu.
5.     Tuân     thủ      luật     chứng     khoán       của     nhà     nước.l,e,,,
6. Làm việc để liệt kê trên các thị trường đã đồng ý.
7. Bồi thường cho nhà bao tiêu vì phải chịu trách nhiệm pháp lý những thiếu
sót hay sau lạc mà đúng ra thuộc trách nhiệm của nhà phát hành.
Nhà bao tiêu đồng ý tiến hành việc cung ứng ngay khi Nhà nước thông qua
hồ sơ đăng ký hay vào một thời điểm ấn định sau đó. Nhà bao tiêu được
thẩm quyền bán cho thành viên của nhóm bán. Thoả thuận bao tiêu không
được lẫn lộn với thoả thuận giữa những nhà bao tiêu (agreement among
underwriters).       Xem        Best      Effort,     Firm      Commitment.
UNDERWRITING COMPENSATION: Tiền công bao tiêu. Phí bán trả cho
công ty môi giới chứng khoán để công ty (hay broker-dealer của công ty)
bán hay cung ứng chứng khoán ra công chúng. UNDERWRITING
DISCOUNT: Khấu trừ trong việc bao tiêu. Xem Underwriting Spread.
UNDERWRINTING GROUP: Nhóm bao tiêu. Liên kết tạm thời của các ngân
hàng đầu tư do ngân hàng đầu tư gốc đứng ra tổ chức trong một vụ phát
hành mới các chứng khoán. Hoạt động theo thoả thuận giữa các nhà bao
tiêu, họ đồng ý mua chứng khoán của công ty phát hành theo giá thoả thuận
và giá bán lại theo giá bán cho công chúng, chênh lệch giữa hai giá là phí
bao tiêu (chênh lệch bao tiêu - underwriting spread). Mục tiêu của nhóm bao
tiêu là chia nhau các rủi ro và đảm bảo việc phân phối ra công chúng được
thành công. Hầu hết các nhóm bao tiêu hoạt động theo hợp đồng tập đoàn
bao tiêu có phân chia (divided syndicate contract), có nghĩa là trách nhiệm
pháp lý của các thành viên được giới hạn theo số dư phần cá nhân của
nhóm. Nó còn được gọi là tập đoàn bao tiêu theo phân phối (distributing
syndicate).              Xem:             Underwriting            agreement.
UNDERWRITING MANAGER: Nhà quản lý bao tiêu. Công ty môi giới chứng
khoán chịu trách nhiệm tổ chức bao tiêu, sửa soạn công việc phát hành,
thương lượng với nhà phát hành và các nhà bao tiêu và phân bổ số chứng
khoán                      cho                    nhóm                   bán.
UNDERWRITING SPREAD: Chênh lệch giữa số tiền trả cho nhà phát hành
chứng khoản trong phân phối đầu tiên và giá bán ra công chúng (public
offering price). Số phí bao tiêu thay đổi rất nhiều tuy theo tầm mức phát
hành, sức mạnh tài chính của nhà phát hành, loại chứng khoán liên hệ
(chứng khoán, trái phiếu, các đặc quyền), đặc tính của chứng khoán (ưu
tiên, ít ưu tiên hơn, có bảo đảm, không bảo đảm) và loại cam kết của ngân
hàng đầu tư. Khung phí có thể từ 1% trái phiếu phát hành của công ty tiện
ích công cộng lớn, đến 25% đối với công ty phát hành đầu tiên của công ty
nhỏ. Số phân chia của phí bao tiêu giữa nhà quản lý bao tiêu, nhóm bán, và
những người bao tiêu dự phần cũng thay đổi, như trong phí bảo hiểm hai
điểm thì nhà quản lý (hay giám đốc) được 0,25%, nhóm bán 1%, các nhà
bao tiêu 0,75%. Theo thường lệ, nếu nhà bao tiêu cũng là thành viên của
nhóm bán thì nhận được 1,75% phí bao tiêu và nếu nhà quản lý nằm trong
tất cả 3 loại thì sẽ nhận được 2%. Xem Selling Concession, Underwrite.
UNDERWRITING SYNDICATE: Tập đoàn bao tiêu. Một nhóm công ty môi
giới chứng khoán đồng ý theo văn bản hợp tác liên doanh để phân phối một
loại       chứng        khoán       nào       đó       (Xem       Syndicate).
UNDIGESTED SECURITIES: Chứng khoán chưa tiêu thụ được. Chứng
khoán và trái phiếu mới còn tồn lại chưa phân phối được vì chưa đủ số cầu
của       dân     chúng      theo     giá     cung      ứng    (giá     bán).
UNDISCLOSED PRINCIPAL: Chủ thể không được tiết lộ, chủ thể ẩn danh.
Một chủ thể mà nhân thân không được các chủ thể khác biết được trong một
vụ giao dịch mua bán. Trong hầu hết các trường hợp, người trung gian đại
diện không được phép tiết lộ nhân thân của một chủ thể, mặc dù họ phải
thông báo rõ ràng có sự hiện diện của bên thứ ba trong một giao dịch mua
bán.
UNDISTRIBUTED PROFUTS (EARINGS, NET INCOME): Lợi nhuận chưa
được          phân         phối.         Xem          Retained         Earings.
UNDIVIDED ACCOUNT: Tài khoản chưa phân chia. Xem Eastern Account.
UNDIVIDED INTEREST: Quyền lợi không thể phân chia - Quyền lợi nguyên
khối.
1. Quyền đòi sở hữu không giới hạn đối với tài sản một công ty hay đơn vị
góp vốn như trong tài khoản liên đới sở hữu hay tài khoản sở hữu chung
(tenant in common account). Mỗi người sở hữu có quyền đòi sở hữu toàn bộ
tài                                                                        sản.
2. Từ ngữ trong thị trường cấp hai để chỉ quyền đòi sở hữu của nhà đầu tư
trong toàn thể số tiền cho vay đã được mua mà không có nguồn hỗ trợ
(recourse) từ người đầu tiên lập tiền vay có thế chấp, chứng chỉ qua trung
gian bảo đảm tiền vay có thế chấp, hoặc trái phiếu có thế chấp bảo đảm như
nợ có thế chấp được bảo đảm (CMO - Collateralized Mortgage Obligations).
Quyền đòi chi trả của nhà đầu tư đối với tiền cho vay cơ sở có thế chấp ưu
tiên      hơn       tất     cả      quyền       đòi      chi      trả    khác.
UNDIVIDED PROFITS: Lợi nhuận chưa chia. Tài khoản ghi trên bảng cân
đối tài khoản của ngân hàng cho biết lợi nhuận chưa được dùng chi trả cho
cổ tức hay chưa được chuyển vào tài khoản thặng dư của ngân hàng. Lợi
nhuận hiện hành được ghi vào bên có của tài khoản lợi nhuận chưa chia và
sau đó hoặc là chi cho cổ tức hoặc là tồn lại để nhập vào tổng số vốn cổ
đông. Khi tài khoản tăng trưởng, số lượng tròn (chẵn) có thể chuyển từng kỳ
vào               tài              khoản                thặng               dư.
UNEARNED DISCOUNT: Khấu trừ chưa hưởng. Tài khoản trong sổ sách của
tổ chức cho vay chấp nhận tiền lãi được khấu trừ trước và sẽ được xem là lợi
tức khi đã trải qua thời gian hiệu lực của tiền vay. Theo nguyên tắc kế toán,
tiền lãi như thế đầu tiên được ghi là nợ, sau đó khi đã qua một số tháng nó
dần dần là số tiền kiếm được, như thế nó được thừa nhận là lợi tức và do đó
làm tăng lợi nhuận của người cho vay và làm giảm số nợ tương ứng.
UNEARNED             INCOME:           Lợi       tức         chưa       hưởng.
Kế toán: lợi tức đã nhận những chưa được hưởng như tiền thuê đã nhận
trước hay số ứng trước của khách hàng. Lợi tức chưa hưởng thường được xếp
vào loại nợ hiện hành (current liability) trên bảng cân đối tài khoản của công
ty, chấp nhận là nó sẽ được ghi bên có lợi tức trong chu trình kế toán thông
thường.
Thuế lợi tức: lợi tức có từ các nguồn chứ không phải tiền lương công nhân
viên chức, tiền bồi dưỡng và tiền đền bù cho công nhân, thí dụ như cổ tức,
tiền               lãi,              tiền              cho                thuê.
UNEARNED INTEREST: Tài lãi chưa hưởng. Tiền lãi đã được tổ chức tài
chính thu xong trên số tiền cho vay, nhưng chưa được tính lãi vào phần lợi
nhuận bởi vì tiền vốn cho vay chưa lưu hành đủ thời gian quy định để được
hoàn lại. Nó còn được gọi là khấu trừ hay khấu trừ chưa hưởng.
UNENCUMBERED: Không bị dính mắc, không bị lệ thuộc, tự tại. Tài sản
không bị dính mắc vào bất cứ quyền giữ thế chấp nào (quyền đòi chi trả của
chủ nợ). Thí dụ, một chủ hộ đã chi trả hết số thế chấp thì căn nhà trở thành
tài sản tự tại. Chứng khoán mua bằng tiền mặt thay vì bằng tài khoản
Margin (tài khoản vay tiền mua chứng khoán) là chứng khoán tự tại
UNEAR TRADE PRACTICE: Thực thi mua bán không công bằng, vô tư, hợp
lý. Trong mua bán quốc tế, một hành động của một quốc gia tạo nên gánh
nặng vô lý cho thương mại của nước khác. Các thực thi mua bán mua bán
không công bằng được định nghĩa khác nhau tuỳ theo mỗi quốc gia, nhưng
thông                    thường                  bao                    gồm:
a. Có sự phân biệt đối xử không xác đáng đối với hàng xuất khẩu.
b.                      Bán                     phá                      giá.
c.              Tình              báo             công               nghiệp.
d. Vi phạm bản quyền tác giả, bằng sáng chế, nhãn hiệu cầu chứng.
e.       Trợ       cấp       cho       sản      phẩm        xuất       khẩu.
f. Sử dụng các lao động không có lương (thí dụ, lao động của tù nhân) để
sản              xuất              hàng              xuất              khẩu.
UNIFIED CREDIT: Tín dụng thống nhất. Tín dụng thuế nhà nước có thể
được áp dụng dựa trên thuế tặng dữ, thuế tài sản và theo vài điều khoản ấn
định dựa trên thuế chuyển giao cách khoảng thế hệ (generation-skipping
tranfer                                                                 tax).
UNIFORM BANK PERFORMANCE REPORT: Báo cáo thông nhất diễn biến
ngân hàng. Khảo sát có tính kỹ thuật do hội đồng kiểm tra tổ chức tài chính
nhà nước soạn thảo, dựa trên các báo cáo theo lệnh gọi (call reports) được
nộp từng quý. Bản báo cáo đầu tiên là nói về việc sử dụng quản lý ngân
hàng như công cụ phân tích chính nó. Bản báo có nhấn mạnh chiều hướng
khả năng kiếm lợi nhuận, chất lượng tài sản, khả năng thanh lý, quản lý tài
sản nợ (nguồn và sử dụng ngân quỹ). Bản báo cáo dùng tỷ lệ tài chính để
chứng tỏ tác động của các quyết định quản lý và thay đổi của điều kiện kinh
tế trên bản cân đối tài khoản và lợi nhuận của ngân hàng, cũng như khả
năng ngân hàng trang trải thua lỗ bằng lợi nhuận trong tương lai, chất lượng
tài sản, hoặc tình trạng của danh mục đầu tư cho vay, bảo đảm chất lượng
chuyển ngân quỹ vào quỹ dự trữ tiền vay bị mất để trang trải cho nợ khó đòi
đã dự đoán. Các dữ kiện trong bản báo cáo được thu nhập bằng cách khảo
sát các ngân hàng thương mại, và phân phát cho các ngân hàng có tham
gia, như nó không được thông báo ra công chúng, không giống các dữ kiện
trong           báo           cáo          theo           lệnh           gọi.
UNIFORM DELIVERED PRICE: Giá cung ứng thống nhất. Một giá duy nhất
cho tất cả người tiêu thụ trong một vùng địa lý, bất chấp giá phí cung ứng
thực tế. Đối với nhà xuất khẩu với số lượng lớn, nhất là bán cho nhà nước,
nhất là bán cho nhà nước, giá cung ứng thống nhất có thể ngăn ngừa các
tranh chấp giá cả và loại bỏ những chứng nhận định giá công bằng trùng lặp
(cứ                lặp                đi              lập                lại).
UNIFORM SECURITIES AGENT STATE LAW EXAMINATION. Kỳ thi luật
tiểu bang về nhân viên chứng khoán thống nhất (để tham khảo). Kỳ kiểm
tra được quy định đối với các đại diện có đăng ký trong tương lai tại nhiều
tiểu bang Hoa Kỳ. Ngoài các quy định cuộc thi của các tiểu bang, tất cả đại
diện có đăng ký dù là người của công ty thành viên hay của broker của thị
trường ngoài danh mục hay không đều phải qua kỳ sát hạch (kỳ thi) tổng
quát đại diện mua bán chứng khoán (còn gọi là series 7 examination) do
NASD                                  tổ                               chức.
UNINSURED DEPOSITOR: Người ký thác không được bảo hiểm (ở Hoa
Kỳ). Người ký thác có số ký thác trong tài khoản chi phiếu hay tiết kiệm
trong ngân hàng hay tổ chức tiết kiệm được nhà nước bảo đảm, vượt quá
mức trần (mức cao nhất) của bảo hiểm ký thác thì số vượt mức này không
được                                 bảo                               hiểm.
UNISSUED STOCK: Chứng khoán chưa phát hành. Cổ phần của chứng
khoán công ty có trong quyền hạn của giấy phép kinh doanh nhưng chưa
phát hành. Chúng có ghi tên trên bảng cân đối tài khoản cùng với cổ phần
đã phát hành và đang lưu hành ngoài công chúng. Hội đồng quản trị có thể
quyết định phát hành loại chứng khoán này nhưng thực ra cổ phần chưa
phát hành cần cho các hợp đồng option của công nhân, đặc quyền, chứng
chỉ đặc quyền (warrant) chưa được thực hiện hoặc là không được phát hành
chứng khoán khả hoán trong khi đó các cam kết nợ như thế vẫn còn lưu
hành ngoài công chúng. Chứng khoán chưa phát hành không thể có cổ tức
và không thể có quyền bỏ phiếu. Ta không nên lẫn lộn chứng khoán này với
chứng khoán tồn (treasury stock) là loại đã phát hành nhưng không được lưu
hành                     ngoài                  công                 chúng.
UNIT:                                   Đơn                               vị.
Tổng quát: một phần chia số lượng được công nhận là một tiêu chuẩn đo
lường hay tiêu chuẩn trao đổi. Thí dụ, trong thị trường hàng hoá, một đơn vị
của lúa mì là một bushel, một đơn vị cà phê là một pound, một đơn vị trứng
là    một      tá.     Đơn     vị   tiền    tệ     Hoa      Kỳ   là   dollar.
Ngân hàng: hoạt động ngân hàng của một văn phòng duy nhất, không có chi
nhánh.
Tài                                                                   chính:
1. Phân ban, phòng ban (nhà máy, dây chuyền sản xuất, công ty con) của
một                                   công                                ty.
2. Trong thương vụ hay sản xuất, đó là số lượng chứ không phải trị giá tiền.
Thí dụ, người ta có thể nói: "Số lượng đơn vị giảm nhưng số lượng tiền tăng
sau                khi             giá               được             tăng".
Chứng                                                                khoán:
1. Số lượng tối thiểu của chứng khoán, trái phiếu, hàng hoá hay các loại
khác     được       công    nhận      mua      bán     trên    thị  trường.
2. Nhóm chuyên viên trên thị trường chứng khoán, người duy trì thị trường
được công bằng và trật tự về một loại chứng khoán nào đó.
3. Nhiều loại chứng khoán được mua bán cùng với nhau. Thí dụ, một cổ
phần thường và một chứng chỉ đặc quyền đăng ký có thể bán ghép với nhau
thành                      một                      đơn                   vị.
4. Trong phân phối đầu tiên và lần thứ hai, đó là một cổ phần của chứng
khoán                hay              một              trái           phiếu.
UNIT BANKING: Dịch vụ ngân hàng theo đơn vị duy nhất. Hệ thống dịch vụ
ngân hàng ở vài nơi ngăn cấm việc mở chi nhánh hay hoạt động ngoài phạm
vi của một văn phòng dịch vụ ngân hàng phục vụ chọn gói. Việc này làm
phát triển nhiều ngân hàng nhỏ, độc lập và các công ty chủ quản ngân hàng
(bank holding companies) sở hữu nhiều đơn vị ngân hàng.

Kiến thức chứng khoán
Phân loại           Từ điển chứng khoán

Chủ đề            V-W
Value                              at                               Risk
Giá trị tại mức rủi ro: Là một phương pháp xác định tính nhạy cảm của
danh mục đầu tư hay vị thế của một công ty bằng kỹ thuật thốngkê theo
thông số. Kỹ thuật này sử dụng thông tin the thời gian để dự đoán sự ảnh
hưởng các sự kiện lệch chuẩn đối với giá trị của việc nắm giữ và sự ảnh
hưởng         tổng          hợp          vào           thu        nhập.

Verbal
Bằng miệng: Là một lệnh hoặc một báo cáo miệng giữa các bên trong một
nghiệp vụ nào đó. Thực hiệnhay thi hành lệnh bằng miệng phải tuân theo
các văn bản của nghiệp vụ. Những văn bản này chính là sự bảo đảm.

Volume
Khối lượng: Là tổng số cổ phần chứng khoán, trái phiếu hay các công cụ
khác được mua bán trênmột thị trường nào đó. Số lượng giao dịch được báo
cáo hàng ngày. Các nhà phân tích kỹ thuật rất quan tâm đến số lượng giao
dịch    vì    nó     có    ảnh       hưởng      lớn    tới    giá     cả.

Voting                                                       stock
Chứng khoán có quyền bầu cử: Cổ phần trong công ty cho cổ đông có
quyền bỏ phiếu và quyền ủy nhiệm. Cổ đông này cũng có thể chuyển
nhượng quyền bỏ phiếu cho một người khác và giữ lại quyền hưởng lợi
nhuận.

Vulture                                                              Funds
Quỹ trục lợi: là các tổ chức đầu tư tập trung vào các tài sản đang chiếm
giữ, tài sản này có thể bị chiếm giữ do các hiểm họa về tài chính. Bản thân
tài sản có thể không hư hỏng nhưng chủ sở hữu đang cần gấp tiền mặt.

Warehouse                                                      Receipt
Giấy chứng nhận lưu kho: là một loại chứng từ ám chỉ quyền sở hữu của
một loại hàng hóa tại một nhà kho hoặc một phương tiện lưu giữ đã được
chứng                                                            nhận.

 Warrant
Chứng khế: Từ này có nghĩa khác nhau khi sử dụng cho chứng khoán và
hàng hóa. Ðối với chứng khoán thì đây là một công cụ phái sinh có ngày hết
hạn và giá thực hiện cùng với một số điều kiện khác. Ðối với hàng hóa thì
đây là biên nhận ám chỉ quyền sở hữu đối với một lô hàng cụ thể nào đó.

Wash                                                                 Sale
Bán rửa: Là một thươngvụ bán một chứng khoán hay công cụ nào đó và
tiếp theo là thương vụ mua mà chúng không đem lại lợi ích kinh tế. Nghiệp
vụ này được xem là nghiệp vụ hư cấu. Nó có thể hiểu là tạo ra hoạt động
mua                     bán                  giả                      tạo.

Weakening
Làm suy yếu: Là thuật ngữ phòng hộ hoặc quản lý rủi ro, sử dụng để miêu
tả mất mát tương đối gữa giữa thị trường cơ sở và vòng quay phòng hộ.
Thuật ngữ này ám chỉ rằng giá trị tiền mặt, hàng hóa hoặc thị trường giao
ngay đang trở nên yếu đi so với thị trường tương lai hoặc giao sau.

Weighting
Tỷ trọng: Là khoản trị giá của một chứng khoán so với danh mục đầu tư.
Khoản giá trị này gắnliền với một tài sản, ngành hoặc một lĩnh vực cụ thể
nào                                                                   đó.

Western                                                            Account
Tài khoản kiểu Tây: là một tài khoản bảo lãnh đã phân chia. Cần so sánh
với              tài             khoản               kiểu            Ðông.
Whole                                                                 Loan
Nợ toàn phần: Là một tài sản thế chấp, có thể với mục đích thương mại
hoặc     cư    trú     mà   nó     chưa    được     chứng     khoán    hóa.
Widening
Mở rộng: Là một thuật ngữ thường được sử dụng trong các hoạt động
phòng hộ hoặc quản lý rủi ro. Thuật ngữ này ám chỉ một mức chênh lệch gia
tăng do sự khác biệt giữa thị trường tiền mặt cơ sở và thị trường tương lai.
Từ này còn đề cập đến sự khác biệt giữa hai tháng giao hàng khác nhau của
hai               hợp              đồng               tương              lai.
Wireability
Chứng khoán ghi sổ: Là loại chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ
và       được        chi    trả      bằng       điện      chuyển       tiền.
Writes
Bán: thuật ngữ này diễn tả việc cấp hoặc bán lần đầu của một quyền chọn,
có thể là quyền chọn bán hoặc mua.

Kiến thức chứng khoán
Phân loại           Từ điển chứng khoán

Chủ đề             Y
Yellow Sheets

Tờ vàng: Là bản báo giá hàng ngày thể hiện giá ấn định giữa các nhà
kinhdoanh đối với loại trái phiếu công ty. hầu hết các loại trái phiếu công ty
đề được mua bán ở thị trường phi tập trung.

Yield

Lợi suất: Là tỷ lệ thu nhập trên tài sản. Thường tỷ lệ này được ấn định theo
phần trăm so với mức giá thị trường hiện hành.

Yield Burning

Ðốt cháy hoa lợi: Là hành động gìm thấp mức hoa lợi của trái phiếu kho
bạc đối với tổ chức mua bằng cách tăng giá các loại trái phiếu kho bạc hoặc
tương đương.

Yield to Call

Hoa lợi thu hồi: Cùng họ với loại hoa khi đáo hạn nhưng có vòng đời ngắn
hơn. Ðây là tỷ lệ thu nhập được xác định bởi nguồn thu dự tính hiện tại so
với giá thị trường phổ dụng giả định rằng tài sản này được nắm giữ cho đến
khi thực hiện hoặc chấm dứt quyền chọn đầu tiên. Nếu công cụ này được
mua bán với mức giá chiết khấu (dưới mệnh giá) thì mức hoa lợi thu hồi sẽ
lớn hơn lãi coupon. Nếu như công cụ được mua bán trên mệnh giá thì hoa lợi
thu hồi sẽ thấp hơn lãi coupon.

Yield to Maturity

Hoa lợi khi đáo hạn: Là tỷ lệ thu nhập được xác định bởi nguồn thu dự tính
hiện tại so với giá thị trường phổ dụng giả định rằng tài sản này được nắm
giữ cho đến ngày đáo hạn. Nếu công cụ này được mua bán ở mức chiết khấu
(dưới mệnh giá) thì mức hoa lợi đáo hạn sẽ lớn hơn lãi coupon. Nếu như
công cụ được mua bán trên mệnh giá thì hoa lợi đáo hạn sẽ thấp hơn lãi
coupon.


Kiến thức chứng khoán
Phân loại           Từ điển chứng khoán

Chủ đề           Z
Zero Cost Collar

Cân bằng không chi phí: Là một nghiệp vụ mà chỉ rất ít hoặc không có chi
phí hay kinh phí đối với người khởi xướng. Thông thường khi nắm giữ chứng
khoán người ta thường bảo vệ nó thông qua nghiệp vụ phòng hộ. Ví dụ: một
nghiệp vụ mua một quyền chọn bán dưới giá (lỗ) và bán một quyền chọn
mua dưới giá (lãi). Mức tưởng kim của hai quyền chọn này gần như giống
nhau. Vì vậy người thực hiện phòng hộ này sẽ tiếp nhận rất ít hoặc không có
chi phí. Tuy nhiên, vị thế này có sự suy tính cho lợi nhuận tiềm tàng của việc
nắm giữ công cụ cơ sở. Tất nhiên, việc phòng hộ này chỉ có hiệu nghiệm khi
giá công cụ cơ sở xuống dưới mức thực hiện của quyền chọn bán.

Zero Coupon Bond

Trái phiếu không lãi coupon: Là một loại chứng khoán mà tiền gốc và lãi
đã được khấu trừ để chào bán thấp hơn so với tiền gốc hoặc lãi coupon đã
quy định. Trái chủ sẽ được trả bằng mệnh giá.

Zero Curve

Ðường cung Zero:Là một đường cung thể hiện các mức hoa lợi của các loại
trái phiếu có phiếu lãi bằng không theo trình tự thời gian. Thông thường,
cách tổ chức này được mô tả bằng đồ thị bắt đầu là những loại trái phiếu có
thời gian đáo hạn ngắn nhất và diễn tiến tới các loại có thời gian đáo hạn dài
nhất. Ðường cung này cung cấp cơ sở cho việc định giá các chứng khoán
khác đang sử dụng kỹ thuật tuần hoàn hoặc nội suy.

Zero-Minus-Tick

Sụt không gạch: Là một nghiệp vụ mua bán với giá ngang bằng nghiệp vụ
trước đó, nhưng nghiệp vụ trước đó đã thấp hơn so với nghiệp vụ trước kế
tiếp.
Zero-Plus-Tick

Trồi không gạch: Là một nghiệp vụ mua bán với giá ngang bằng nghiệp vụ
trước nhưng nghiệp vụ trước cao hơn so với nghiệp vụ trước kế tiếp.

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Stats:
views:50
posted:7/11/2011
language:Vietnamese
pages:146