dap an triet hoc

Document Sample
dap an triet hoc Powered By Docstoc
					Câu 1: Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin. Ý nghĩa khoa học của định nghĩa? 1. Định nghĩa vật chất của Lênin: Phạm trù vật chất là một trong những phạm trù cơ bản, nền tảng của CNDV, nó chứa đựng nội dung thế giới quan và phương pháp luận rất khái quát và sâu sắc. Trong các học thuyết học trước Mác có nhiều quan điểm khác nhau về phạm trù này… Các nhà duy vật cổ đại quan niệm vật chất mang tính trực quan cảm tính và vì thế họ đã đồng nhất vật chất với những vật thể cụ thể, coi đó là cơ sở đầu tiên của sự tồn tại. Hoặc các nhà triết học và khoa học tự nhiên do không hiểu phép biện chứng duy vật đã đồng nhất vật chất với nguyên tử hoặc vật chất với khối lượng - một thuộc tính phổ biến của các vật thể. Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vật lý học đã có những phát minh rất quan trọng đem lại cho con người những hiểu biết mới và sâu sắc về cấu trúc của thế giới vật chất, (như phát hiện ra tia Rơn-ghen, hiện tượng phóng xạ, tìm ra điện tử,…). Chính các phát minh quan trọng này bị các nhà triết học duy tâm lợi dụng để cho rằng “Vật chất tiêu tan mất” và như thế toàn bộ nền tảng của CNDV sụp đổ hoàn toàn. Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên và phê phán CNDT, Lê-nin đã đưa ra một định nghĩa toàn diện, sâu sắc và khoa học về phạm trù vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta sao chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. 2. Phân tích định nghĩa vật chất của Lê-nin: - Khi nghiên cứu định nghĩa vật chất của Lê-nin chúng ta cần phải hiểu và nắm được 3 ý cơ bản sau: - Vật chất là một phạm trù triết học: khi định nghĩa vật chất Lê-nin đòi hỏi cần phải phân biệt vật chất với tính cách là một phạm trù triết học với các khái niệm của KHTN về các đối tượng, sự vật cụ thể ở các trình độ kết cấu và tổ chức khác nhau và các thuộc tính khác nhau tương ứng của chúng. Vật chất ở đây được hiểu với nghĩa là một phạm trù rộng nhất trong hệ thống các phạm trù. - Trong định nghĩa chúng ta cũng nhận thấy có hai mặt của một thuộc tính mà Lê-nin gọi là “đặc tính” duy nhất của vật chất đó là: + Vật chất là “thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác… và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Như vậy, chúng ta hiểu vật chất là thực tại khách quan, là tất cả những gì tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức của con người. Tất cả những gì tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, với cảm giác, và đem lại cho chúng ta trong cảm giác, trong ý thức đều là vật chất. Thuộc tính này đã thể hiện lập trường của CNDV: vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức; cảm giác, ý thức của con người là sự phản ánh hiện thực khách quan. + Thực tại khách quan này con người có thể nhận thức được. Tóm lại: Định nghĩa vật chất của Lê-nin đã bao quát cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của CNDV biện chứng. Đây là định nghĩa đầy đủ nhất, toàn diện nhất, sâu sắc nhất và rộng nhất về vật chất. (3 điểm) 3. Ý nghĩa khoa học và cách mạng của định nghĩa: - Định nghĩa vật chất của Lê-nin có ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận sâu sắc đối với nhận thức khoa học và thực tiễn, vì: - Nó đã giải đáp một cách đầy đủ, khoa học hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học dựa trên quan điểm của CNDV biện chứng. - Chống lại các quan điểm sai trái của CNDT khách quan và chủ quan, khắc phục được các thiếu sót của CNDV siêu hình quy vật chất vào vật thể cụ thể. Chống lại thuyết “bất khả tri luận” phủ nhận khả năng nhận thức của con người. - Định nghĩa đó đã làm rõ tính khái quát, tính phổ biến của phạm trù vật chất, bao quát cả dạng vật chất trong xã hội đó là tồn tại xã hội, tồn tại bên ngoài không phụ thuộc vào ý thức xã hội. Khẳng định sự đúng đắn của nguyên lý về tính vô tận, vô hạn của thế giới vật chất. - Định nghĩa vật chất của Lê-nin đã trang bị thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho các nghành khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới và những quy luật vận động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại. Đồng thời có vai trò định hướng cho sự phát triển của nhận thức khoa học, tránh được sự khủng hoảng tương tự trong vật lý học vào cuối thế ky XIX và đầu thế kỷ XX. Câu 2: Phân tích và làm sáng tỏ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng. 1. Khái niệm vật chất và ý thức: * Vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta sao chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. * ý thức: ý thức là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống,…nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn nhất định. 2. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức: Vật chất và ý thức có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau. Trong mối quan hệ đó, vật chất là cái có trước, quyết định ý thức, ý thức là cái có sau, phụ thuộc vào vật chất, do vật chất quyết định. Khi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định ý thức, thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức của con người, mà phải xuất phát từ thế giới khách quan. Nhưng ý thức có tính độc lập tương đối, có vai trò tác động trở lại đối với sự vận động và phát triển của thế giới vật chất. *Vật chất quyết định ý thức trên 3 phương diện:

- Quyết định nội dung phản ánh của ý thức: bởi vì ý thức bao giờ cũng là sự phản ánh thế giới vật chất và sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo trong phản ánh và theo khuôn khổ của sự phản ánh. Hơn nữa, tự thân ý thức không thể gây ra sự biến đổi nào trong đời sống hiện thực. - Quyết định nguồn gốc ra đời của ý thức: nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội. ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội. ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội. - Quyết định sự biến đổi của ý thức: ý thức phản ánh thế giới hiện thực khách quan, thế giới vật chất, bản thân nó không thể gây ra sự biến đôitrong đời sống hiện thực. Nhưng thế giới vật chất thì luôn vận động và biến đổi không ngừng (vận động là phương thức tồn tại của vật chất), vì vậy khi nó thay đổi dẫn tới làm cho ý thức cũng thay đổi theo. * ý thức cũng có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất, bao gồm các vấn đề sau: - Mối quan hệ giữa ý thức và vật chất vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối. Nghĩa là, vật chất luôn là cái có trước và quyết định ý thức, nhưng ngược lại ý thức cũng có tác động trở lại đối với vật chất. Mối quan hệ này xét về một mặt nào đó tương tự như mối quan hệ nhân quả. - ý thức có tính năng động to lớn, tác động trở lại thế giới vật chất theo hai chiều: ý thức tích cực, tiến bộ, phản ánh đúng quy luật khách quan sẽ thúc đẩy thế giới vật chất phát triển và chỉ đạo hoạt động thực tiễn thành công. Ngược lại, ý thức tiêu cực, lạc hậu, không phản ánh đúng quy luật khách qua thì sẽ kìm hãm sự phát triển, tuy nhiên sự kìm hãm này chỉ là tạm thời, không phải bất biến. + Phương thức phản ánh của ý thức là thông qua hạt động thực tiễn của con người, biến sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất, mà biểu hiện ở chỗ đề ra các đường lối. Chủ trương chính sách đúng đắn, khoa học và phù hợp với tình hình thực tiễn. + Sự tác động của ý thức để thúc đẩy thế giới vật chất phát triển phải có điều kiện: ý thức phải phản ánh đúng hiện thực khách quan, con người vận dụng tri thức đó vào hoạt động thực tiễn, đề ra được những phương án tối ưu chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Câu 3 Quy luËt m©u thuÉn lµ quy luËt quan träng nhÊt cña phÐp biÖn chøng duy vËt lµ h¹t nh©n cña phÐp biÖn chøng duy vËt v× nã v¹ch ra nguån gèc ®éng lùc cña sù vËn ®éng ph¸t triÓn cña thÕ giíi kh¸ch quan vµ v× nã lµ ch×a kho¸ lµ c¬ së gióp chóng ta n¾m cña tÊt c¶ c¸c quy luËt vµ ph¹m trï cña phÐp biÖn chøng duy vËt. v÷ng thùc chÊt

1-Néi dung quy luËt a) M©u thuÉn: Lµ hiÖn t-îng kh¸ch quan vµ phæ biÕn. M©u thuÉn lµ mèi liªn hÖ t¸c ®éng qua l¹i gi÷a c¸c mÆt ®èi lËp trong cïng mét sù vËt. cã xu hø¬ng ph¸t triÓn ng-îc chiÒu MÆt ®èi lËp lµ nh÷ng mÆt, nh÷ng thuéc tÝnh sù vËt ph¸t triÓn. M©u thuÉn lµ hiÖn t-îng kh¸ch quan vµ phæ biÕn M©u thuÉn lµ kh¸ch quan cã nghÜa lµ m©u thuÉn lµ c¸i vèn cã ë mäi sù vËt hiÖn t-îng. M©u thuÉn h×nh thµnh ph¸t triÓn lµ do cÊu tróc tù th©n bªn trong cña sù vËt quy ®Þnh nã kh«ng phô thuéc vµo bÊt kú mét lùc l-îng siªu tù nhiªn nµo vµ kh«ng phô thuéc vµo ý chÝ chñ quan cña con ng-êi. M©u thuÉn lµ hiÖn t-îng phæ biÕn cã nghÜa lµ m©u thuÉn tån t¹i trong tÊt c¶ c¸c lÜnh vùc tù nhiªn, x· héi vµ t- duy. M©u thuÉn tån t¹i tõ khi sù vËt xuÊt hiÖn cho ®Õn khi kÕt thóc. M©u thuÉn tån t¹i ë mäi kh«ng gian, thêi gian, mäi giai ®o¹n ph¸t triÓn. M©u thuÉn nµy mÊt ®i th× m©u thuÉn kh¸c l¹i h×nh thµnh. Trong mçi sù vËt kh«ng ph¶i chØ cã mét m©u thuÉn mµ cã thÓ cã nhiÒu m©u thuÉn v× sù trong cïng mét lóc cã thÓ cã nhiÒu mÆt ®èi lËp. Trong nh÷ng ®iÒu kiÖn cô thÓ kh¸c nhau, m©u thuÉn thÓ hiÖn ra d-íi nhiÒu h×nh thøc ®a d¹ng vµ phong phó kh¸c nhau: + M©u thuÉn bªn trong vµ m©u thuÉn bªn ngoµi.

nhau, tån t¹i trong cïng mét sù vËt hiÖn t-îng t¸c ®éng biÖn chøng víi nhau lµm cho

+ M©u thuÉn c¬ b¶n vµ m©u thuÉn kh«ng c¬ b¶n + M©u thuÉn chñ yÕu vµ m©u thuÉn thø yÕu + M©u thuÉn ®èi kh¸ng vµ kh«ng ®èi kh¸ng. CÇn chó ý: Trong t- duy th«ng th-êng khi nãi ®Õn hai mÆt ®èi lËp lµ nãi lªn m©u thuÉn. Cßn trong t- duy biÖn chøng, kh«ng ph¶i hai mÆt ®èi lËp nµo còng t¹o nªn m©u thuÉn mµ chØ nh÷ng mÆt ®èi lËp t¸c ®éng biÖn ch-ngs víi nhau t¹o nªn sù vËt hiÖn t-îng vµ t¹o lªn sù ph¸t triÓn míi ®-îc gäi lµ m©u thuÉn- m©u thuÉn biÖn chøng. b)C¸c mÆt ®èi lËp cña m©u thuÉn võa thèng nhÊt võa ®Êu tranh víi nhau. Sù thèng nhÊt cña c¸c mÆt ®èi lËp lµ lËp th× kh«ng t¹o ra sù vËt. Theo nghÜa hÑp sù thèng nhÊt lµ sù ®ång nhÊt, phï hîp ngang nhau cña hai mÆt ®èi lËp ®ã lµ tr¹ng th¸i c©n b»ng cña m©u thuÉn.. Sù thèng nhÊt cña c¸c mÆt ®èi lËp lµ t¹m thêi t-¬ng ®èi, nghÜa lµ nã chØ tån t¹i trong mét thêi gian nhÊt ®Þnh, ®ã chÝnh lµ tr¹ng th¸i ®øng im, æn ®Þnh t-¬ng ®èi cña sù vËt, tÝnh t-¬ng ®èi cña sù thèng nhÊt cña c¸c mÆt ®èi lËp lµm cho thÕ giíi vËt chÊt ph©n ho¸ thµnh cacs bé phËn c¸c sù vËt ®a d¹ng phùc t¹p, gi¸n ®o¹n. Sù ®Êu tranh cña c¸c mÆt ®èi lËp lµ sù bµi trõ g¹t bá phñ ®Þnh biÖn chøng lÉn nhau cña c¸c mÆt ®èi lËp (Sù ®Êu tranh hiÓu theo nghÜa t¸c ®éng ¶nh h-ëng lÉn nhau cña c¸c mÆt ®èi lËp chø kh«ng ph¶i theo nghÜa ®en) Sù ®Êu tranh cña c¸c mÆt ®èi lËp lµ tuyÖt ®èi vÜnh viÔn. Nã diÔn ra liªn tôc trong suèt qu¸ tr×nh tån t¹i cña sù vËt kÓ c¶ trong trang th¸i sù vËt æn ®inhj còng nh- khi chuyÓn ho¸ nh¶y vät vÒ chÊt. Sù ®Êu tranh cña c¸c mÆt ®èi lËp t¹o lªn tÝnh chÊt tù th©n, liªn tôc cña sù vËn ®éng ph¸t triÓn cña sù vËt. Còng v× vËy muèn thay ®æi sù vËt t× ph¶i t¨ng c-êng sù ®Êu tranh. Sù ®Êu tranh cña c¸c mÆt ®èi lËp lµ mét qu¸ tr×nh phøc t¹p diÔn ra tõ thÊp ®Õn cao, gåm nhiÒu giai ®o¹n, mçi giai ®o¹n l¹i cã nh÷ng ®Æc ®iÓm riªng. +Giai ®o¹n ®Çu: M©u thuÉn biÓu hiÖn ra ë sù kh¸c nhau cña hai mÆt ®èi lËp song kh«ng ph¶i sù kh¸c nhau nµo còng lµ m©u thuÉn mµ chØ hai mÆt kh¸c nhau nµo liªn hÖ h÷u c¬ víi nhau trong mét chØnh thÓ cã khuynh h-íng ph¸t triÓn tr¸i ng-îc nhau míi t¹o thµnh giai ®o¹n ®Çu cña maau thuÉn, trong giai ®o¹n nµy sù ®Êu tranh ch-a râ vµ ch-a gay g¾t. +Giai ®o¹n sau: Trong qu¸ tr×nh ph¸t triÓn cña m©u thuÉn, sù kh¸c nhau biÕn thµnh ®èi lËp, khi ®ã hai mÆt ®èi lËp cµng râ, cµng s©u s¾c lÉn nhau vµ m©u thuÉn ®-îc gi¶i quyÕt. c)Sù ®Êu tranh vµ chuyÓn ho¸ cña c¸c mÆt ®èi lËp lµ nguån gèc, ®éng lùc cña sù ph¸t triÓn. §Êu tranh cña c¸c mÆt ®èi lËp g©y ra nh÷ng biÕn ®æi cña c¸c mÆt ®èi lËp khi cuéc ®Êu tranh cña c¸c mÆt ®èi lËp trá lªn quyÕt liÖt vµ cã ®iÒu kiÖn chÝn muåi th× sù th× sù ®Êu tranh gi÷a chóng ngµy cµng gay g¾t vµ quyÕt liÖt, nÕu cã ®iÒu kiÖn chÝn muåi th× hai mÆt chuyÓn ho¸ sù n-¬ng tùa, rµng buéc quy ®Þnh lÉn nhau lµm tiÒn ®Ò tån t¹i cho nhau cña c¸c mÆt ®èi lËp. Kh«ng cã sù thèng nhÊt cña c¸c mÆt ®ãi

thèng nhÊt cña hai cò bÞ ph¸ huû, c¸c mÆt ®èi lËp chuyÓn ho¸ lÉn nhau. Sù chuyÓn ho¸ cña c¸c mÆt ®èi lËp chÝnh lµ lóc m©u thuÉn ®-îc gi¶i quyÕt, sù vËt cò bÞ mÊt ®i, sù vËt míi xuÊt hiÖn. C¸c mÆt ®èi lËp cã thÓ chuyÓn ho¸ lÉn nhau víi ba h×nh thøc. -C¸c mÆt ®èi lËp chuyÓn ho¸ lÉn nhau mÆt ®èi lËp nµy thµnh mÆt ®èi lËp kia vµ ng-îc l¹i nh-ng ë tr×nh ®é cao h¬n vÒ ph-¬ng diÖn vËt chÊt cña sù vËt. VÝ dô, M©u thuÉn gi÷a v« s¶n vµ t- s¶n biÓu hiÖn thµnh cuéc c¸ch m¹ng v« s¶n lËt ®é giai cÊp t- s¶n -C¶ hai mÆt ®èi lËp ®Òu mÊt ®i vµ chuyÓn ho¸ thµnh mÆt ®èi lËp míi. VÝ dô Gi¶i quyÕt m©u thuÉn gi÷a n«ng d©n vµ ®Þa chñ (chÕ ®é phong kiÕn) x· héi l¹i xuÊt hiÖn m©u thuÉn míi lµ m©u thuÉn gi÷a t- s¶n vµ v« s¶n (ChÕ ®é TBCN). -C¸c mÆt ®èi lËp th©m nhËp vµo nhau, c¶i biÕn lÉn nhau. Trong sù vËt míi l¹i cã m©u thuÉn míi, c¸c mÆt ®èi lËp trong m©u thuÉn míi l¹i ®Êu tranh víi nhau, lµm cho sù vËt Êy l¹i chuyÓn ho¸ thµnh sù vËt kh¸c tiÕn bé h¬n, cø nh- vËy mµ c¸c sù vËt hiÖn t-îng th-êng xuyªn biÕn ®æi vµ ph¸t triÓn kh«ng ngõng, v× vËy, m©u thuÉn lµ nguån gèc ®éng lùc cña mäi qu¸ tr×nh vËn ®éng ph¸t triÓn cña sù vËt hiÖn t-îng. ý nghÜa ph-¬ng ph¸p luËn V× m©u thuÉn lµ hiÖn t-îng kh¸ch quan vµ phæ biÕn, nªn trong nhËn thËn thøc vµ thùc tiÔn ph¶i t«n träng m©u thuÉn, tøc lµ kh«ng ®-îc lÈn tr¸nh m©u thuÉn còng nh- kh«ng ®-îc t¹o ra m©u thuÉn. V× m©u thuÉn lµ ®éng lùc cña sù ph¸t triÓn nªn muèn thóc ®Èy sù ph¸t triÓn ph¶i nhËn thøc ®-îc m©u thuÉn vµ t×m c¸ch gi¶i quyÕt m©u thuÉn, ph¶i t¹o ra ®iÒu kiÖn thóc ®Èy sù ®Êu tranh cña c¸c mÆt ®èi lËp theo chiÒu h-íng ph¸t triÓn. V× mäi m©u thuÉn ®Òu cã qu¸ tr×nh ph¸t sinh, ph¸t triÓn vµ biÕn ho¸. V× sù vËt kh¸c nhau th× m©u thuÉn kh¸c nhau, mçi m©u thuÉn l¹i cã nh÷ng ®Æc ®iÓm riªng cña nã. Do ®ã ph¶i biÕt ph©n tÝch cô thÓ mét m©u thuÉn cô thÓ vµ t×m c¸ch gi¶i quyÕt m©u thuÉn. “hạnh phúc là đấu tranh” Các-Mác sinh ra trong thời kỳ đấu tranh của giai cấp công nhân(g/c vô sản, bị bóc lột) với giai cấp tư sản(g/c thống trị,bóc lột). Vì vậy g/c công nhân muốn xóa bỏ bóc lột, muốn có hạnh phúc phải đấu tranh chống lại g/c tư sản. Các-Mác muốn xóa bỏ bất công ấy nên đã đưa ra chủ thuyết Cộng Sản để chống lại giai cấp Tư Bản lúc bấy giờ. Câu nói ấy cũng rất đúng trong mọi thời đại. Với xã hội ta hiện nay mặc dù chúng ta đang sống trong hòa bình, nhưng chúng ta phải luôn đấu tranh chống lại sự cám dỗ của đồng tiền, những tiêu cực như tham nhũng, quan liêu, lãng phí hoặc các tệ nạn khác v.v...Vâng đúng vậy"hạnh phúc là đấu tranh"hay "ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh". Vì hạnh phúc đạt được thông qua đấu tranh và mục đích của đấu tranh là giành lại hạnh phúc. Cuộc sống còn tiếp diễn nếu còn đấu tranh, và đấu tranh luôn diễn ra trong sự tồn tại của bất kỳ sự vật - hiện tượng nào

Câu 4 1. Nội dung quy luật: - Mỗi sự vật, hiện tượng đều là một thể thống nhất của 2 mặt chất và lượng và chúng có quan hệ hữu cơ với nhau. Phép biện chứng duy vật đã đưa ra và sử dụng các khái niệm: chất, lượng, thuộc tính, độ, điểm nút, bước nhảy để diễn đạt mối quan hệ giữa chất và lượng trong sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng – cách thức vận động, phát triển. - Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng + Từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất. Sự thống nhất giữa chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn là nó chưa trở thành cái khác. Trong mối quan hệ giữa chất và lượng thì chất là mặt tương đối ổn đinh, còn lượng là mặt biến đổi hơn. Sự vận động và phát triển của sự

vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng. Song không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại của sự vật. Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định (điểm nút) thì mới dẫn đến sự thay đổi về chất. Sự thay đổi căn bản về chất được gọi là bước nhảy. Như vậy, khi lựợng biến đổi đến điểm nút thì diễn ra bước nhảy, chất mới ra đời thay thế cho chất cũ, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ, nhưng rồi những lượng mới này lại tiếp tục biến đổi đến điểm nút mới lại xảy ra bước nhảy mới. Cứ như vậy, quá trình vận động, phát triển của sự vật diễn ra theo cách thức từ những thay đổi về lựợng dẫn đến những thay đổi về chất một cách vô tận. Đó là quá trình thống nhất giữa tính tuần tự, tiệm tiến, liên tục với tính gián đoạn, nhảy vọt trong sự vận động, phát triển. + Sự tác động trở lại của chất đối với lượng. Khi chất mới ra đời, nó không tồn tại một cách thụ động, mà có sự tác động trở lại đối với lượng, được biểu hiện ở chỗ, chất mới sẽ tạo ra một lượng mới cho phù hợp với nó để có sự thống nhất mới giữa chất là lượng. Sự quy định này có thể được biểu hiện ở quy mô, nhịp độ và mức độ phát triển mới của lượng. 2. Ý nghĩa phương pháp luận - Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải chú ý tích lũy dẫn những thay đổi về lượng, đồng thời phải biết thực hiện kịp thời những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi. - Chống lại quan điểm tả khuynh: chủ quan, nóng vội, duy ý chí, khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy. - Chống lại quan điểm hữu khuynh: bảo thủ, trì trệ, khi lượng đã biến đổi đến điểm nút nhưng không thực hiện bước nhảy. - Phải thấy được tính đa dạng của các bước nhảy, nhận thức được từng hình thức bước nhảy, có thái độ ủng hộ bước nhảy, tạo mọi điều kiện cho bước nhảy được thực hiện một cách kịp thời. - Phải có thái độ khách quan và quyết tâm thực hiện bước nhảy khi hội đủ các điều kiện chin muồi. 3. Từ việc nghiên cứu quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại có thể rút ra một vài kết luận có ý nghĩa phương pháp luận với việc học tập và rèn luyện của sinh viên trong trường Đại học như sau: - Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích lũy dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về chất và việc học tập của sinh viên chúng ta cũng sẽ không thể nằm ngoài điều đó. Để có một tấm băng Đại học chúng ta phải tích lũy đủ số lượng các học phần và để học phần có kết quả tốt chúng ta cần phải tích lỹ đủ sống lượng đơn vị học trình của các môn học. Như vậy các kỳ thi có thể coi thời gian học là độ, các kỳ thi là các điểm nút và kết quả kỳ thi đạt yêu cầu là bước nhảy, bởi kết quả kỳ thi tốt - bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn tích lỹ tri thức trong quá trình học tập rèn luyện của chúng ta. Do đó, trong hoạt động nhận thức, hoạt động học tập sinh viên phải biết từng bước tích lũy về lượng (tri thức) để làm biến đổi về chất (Kết quả học tập) theo quy luật. Cũng như trong hoạt động của mình ông cho ta chẳng thường có câu "tích tiểu thành đại". "năng nhặt, chặt bị" đó sao?

Câu 5 1.Khai niem cai rieng, cai chung: -Cai rieng la 1 pham tru triet hoc dung de chi 1 su vat, 1 hien tuong, 1 qua trinh hay 1 he thong cac su vat tao thanh1 chinh the ton tai tuong doi doc lap voi cac cai rieng khac.Vi du 1 ngoi nha cu the.Voi tu cach la 1 su vat, cai trieng la cai ko lap lai. -Cai chung la pham tru triet hoc dung de chi nhung mat, nhung thuoc tinh dc lap lai trong 1 so hay nhieu su vat, hien tuong, qua trinh.Vi du: thuoc tinh cua thu do la trung tam chinh tri, kinh te van hoa cua ca 1 quoc gia. 2.Cai don nhat, cai dac thu, cai pho bien: Theo triet hoc duy vat bien chung: -Cai don nhat la nhung dac diem, nhung thuoc tinh von co chi cua 1 su vat,1 hien tuong va ko dc lap lai o bat cu vat,hien tuong nao hac.Vi du nhu van tay o tung nguoi;so dien thoai v.v... -Cai dac thu la cai lap lai o 1 so su vat va hien tuong.Cai dac thu con dc hieu la hinh thuc bieu hien cua cai pho bien trong cai rieng. --Cai pho bien la cai lap lai o tat ca cac su vat va hien tuong. Phep bien chung duy vat khang dinh su ton tai khach quan cua ca cai pho bien lan cai dac thu va cai don nhat.trong tinh hien thuc cua no,chung ko ton tai tach roi nhau.Cai pho bien,ccai dac thu,cai don nhat la 3 mat cau thanh 1 chinh the thong nhat cua su vat,hien tuong hay 1 qua trinh(cai rieng).Trong qua trinh van dong va phat trien cua su vat,trong dieu kien nhat dinh,cai don nhat co the"tro thanh"cai dac thu;cai dac thu"tro thanh"cai pho bien va nguoc lai. 3.Moi quan he bien chung giua cai chung va cai rieng: -Cai chung chi ton tai trong cai rieng,thong qua cai rieng.Dieu do co nghia la cai chung chi ton tai trong cai rieng chu ko ton tai biet lap,lo lung o dau do beb ngoai cai rieng. -Cai rieng chi ton tai trong moi lien he dua den cai chung,vi bat cu cai rieng nao cung deu ton tai trong muon van moi lien he coi cac su vat,hien tuong,qua trinh khac.Co su lien he ay la vi giua chung co nhung dac diem giong nhau(cai chung)nhat dinh. -Cai chung la 1 bo phan cua cai rieng,cai rieng ko gia nhap het vao cai chung.Do do cai rieng phong phu hon cai chung,cai chung ngeo hon cai rieng.

4.Y nghia phuong phap luan: -Doi voi nhan thuc: +Vi cai chung chi ton tai trong cai rieng,thong qu cai rieng nen muon phat hien ra cai chung,can xuat phat tu nhung cai rieng,tu nhung su vat,hien tuong,qua trinh don le cu the chu ko xuat phat tu y muon chu quan cua con nguoi. +Nam dc cai chung la chia khoa de phat hien va giai quyet nhung van de rieng. -Doi voi hoat dong thuc tien: +Cai chung chi ton tai trong cai rieng nhu 1 bo phan cua cai rieng.Vi vay,bat cu luan diem chung nao khi ap dung vao tung truong hop rieng cung can dc ca biet hoa.Neu ko chu y su ca biet do,dem ap dung nghuyen xi cai chung,tuyet doi hoa cai chung se roi vao sai lam giao dieu.Nguoc lai,neu xem thuong cai chung,chi chu y den cai don nhat,tuyet doi hoa cai don nhat se dan den vo nguyen tac,xet lai. +Vi cai rieng ko ton tai o ben ngoai moi lien he dan den cai chung,cho nen de giai quyet nhung van de rieng 1 cach co hieu qua,ko the lang tranh viec giai quyet nhung van de chung-nhung van de ly luan lien quan voi cac van de rieng do. +Trong hoat dong thuc tien can tao moi dieu kien thuan loi cho cai don nhat hop quy luat phat trien chuyen thanh cai chung,va nguoc lai,chuyen cai chung ko con hop quy luat phat trien thanh cai don nhat.

Khác Cái riêng là một khái niệm dùng để chỉ một sự vật ,một hiện tượng,một quá trình riêng rẻ Zí dụ:Cái bàn,cái cây,sấm sét,bão tố,sự sinh sản,sự hấp thụ. Cái chung là một khái niệm dùng để chỉ những mặt,những thuộc tính chung không những có ở một kết cấu vật chất,mà còn lập lại ở nhiều sự vật,hiện tượng,quá trình riêng rẻ Zí dụ:Cái bàn,cái cây đều được làm từ gỗ,vòi rồng,bão tố được sinh ra từ sự chênh lệch áp suất,sự khuyếch tán,sự bốc hơi là do các phân tử chuyển động hỗn độn. Cái đơn nhất là một khái niệm dùng để chỉ những nét những mặt,những thuộc tính...chỉ có ở một sự vật,hiện tượng mà không lập lại ở sự vật,hiện tượng khác. Zí dụ:Cái cây là một cái riêng,ngoài đặc điểm chung được tạo thành từ gỗ,nó còn có những nét riêng như có hoa,có lá,có quả. Quan niệm của CN Mác-LêNin về mối quan hệ biện chứng giữa cái chung,cái riêng,cái đơn nhất. Cái chung tồn tại trong cái riêng,thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình. Zí dụ:Cây cam là một cái riêng trong 'cây cam' có 'cây' là một cái chung Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung Zí dụ:Cây cam không thể tồn tại một mình,nó chỉ có thể tồn tại khi có sự tương tác với môi trường đất,môi trường không khí,ánh sáng mặt trời. Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài những đặc điểm chung,cái riêng còn có cái đơn nhất Zí dụ:Cây cam ngoài những đặc điểm chung của cái cây có thân,có rễ,có hoa,có lá,có cành còn có những đặc điểm riêng như quả tròn mộng nước,có lớp vỏ dày màu xanh bao bọc bên ngoài. Cái chung đơn giản hơn nhưng sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh những thuộc tính lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại. Zí dụ:Nói cái cây thì ai cũng hiểu,nhưng nói cây cam thì không phải ai cũng có thể hiểu. Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật. Zí dụ:Ban đầu chỉ xuất hiện một loại cây,khi đó cây là cái đơn nhất sau đó quá trình tiến hóa,cây đẻ ra nhiều loại khác nhau như cây cam,cây quýt,cây bưởi nhưng vẫn kế thừa những đặc tính của cây,khi đó cây trở thành cái chung. Ý nghĩa pp luận của cái đơn nhất đối với thực tiễn: Cái chung hầu hết mọi người đều biết,nhưng cái đơn nhất thì rất ít người biết.Trong thực tiễn người ta chỉ quan tâm tới cái riêng là cái tồn tại thực sự,mà cái riêng được tạo thành từ sự kết hợp giữa cái chung và cái đơn nhất,do đó muốn tác động vào thực tiễn cần phải biết cái đơn nhất. (Giáo trình triết học Mác LêNin của bộ giáo dục đào tạo dành cho các trường đại học và cao đẳng (Trang 228-233)) Khác - Cái riêng: Là một phạm trù triết học dùng để chỉ định sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định. - Cái chung: Là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ giống nhau được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ. - Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ giống nhau được lập lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ. - Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính vốn có chỉ ở mọi sự vật hiện tượng, không lặp lại ở các sự vật hiện tượng khác. Nhờ cái đơn nhất mà con người có thể phân biệt được cái riêng này với cái riêng khác. - Theo quan điểm của CNDVBC mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung thể hiện như sau: Thứ nhất: Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng thông qua cái riêng. Điều đó có nghĩa là cái chung thực sự tồn tại, nhưng nó chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng chứ không tồn tại biệt lập, bên ngoài cái riêng. Thứ hai: Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung. Điều đó có ý nghĩa là cái riêng tồn tại độc lập nhưng sự tồn tại độc lập đó không có nghĩa cái riêng hoàn toàn cô lập với cái khác. Ngược lại, bất kỳ cái riêng nào cũng nằm trong mối liên hệ

dẫn tới cái chung. Cái riêng không những chỉ tồn tại cái riêng hoàn toàn cô lập với cái khác. Ngược lại, bất kỳ cái riêng nào cũng nằm trong mối liên hệ dẫn tới cái chung. Cái riêng không những chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung, mà thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa, nó còn liên hệ với cái riêng thuộc loại khác. Thứ ba: Cái chung là bộ phận của cái riêng còn cái riêng không ra nhập hết vào cái chung vì bên cạnh các thuộc tính được lặp lại các sự vật khác, tức là bên cạnh cái chung bất cứ cái riêng nào cũng còn chứa đựng những cái đơn nhất tức là những nét, những mặt, những thuộc tính... chỉ vốn có ở nó và không tồn tại ở bất kỳ sự vật nào khác. Cái riêng phong phú hơn cái chung, còn cái chung sâu sắc hơn cái riêng. Thứ tư: Trong quá trình phát triển khách quan, trong những điều kiện nhất định cái đơn nhất có thể chuyển hóa thành cái chung và ngược lại. Sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung đó là sự ra đời của cái mới. Sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất đó là sự mất dần đi cái cũ. * ý nghĩa của việc nghiên cứu cặp phạm trù này. Cái chung và cái riêng gắn bó chặt chẽ không thể tách rời nên: - Không được tách cái chung ra khỏi cái riêng. Không được tuyệt đối hóa cái chung. Nếu tuyệt đối hóa cái chung sẽ mắc phải quan điểm sai lầm tả khuynh giáo điều. Muốn tìm ra cái chung phải nghiên cứu từng cái riêng, thông qua cái riêng. Phê phán quan điểm sai lầm của phái duy thực: cho rằng chỉ tồn tại cái chung không phụ thuộc vào cái riêng và sinh ra cái riêng. Cái riêng thì hoặc là không tồn tại, hoặc nếu có tồn tại thì cũng là do cái chung sinh ra va chỉ tạm thời. Cái riêng sinh ra và chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định rồi mất đi, cái chung mới là cái tồn tại vĩnh viễn. - Không được tách rời cái riêng ra khỏi cái chung, không được tuyệt đối hóa cái riêng. Nếu tuyệt đối hóa cái riêng sẽ mắc phải quan điểm sai lầm hữu khuynh xét lại, phê phán quan điểm sai lầm của phái duy danh cho rằng chỉ có cái riêng là tồn tại thực sự còn cái chung chẳng qua chỉ là những tên gọi do lý trí đặt ra trong nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta phải biết phát hiện ra cái chung gắn liền với bản chất, quy luật vận động phát triển của sự vật. - Phải phát triển ra cái mới tiêu biểu cho sự phát triển và tạo điều kiện cho nó phát triển trở thành cái chung. Ngược lại, hạn chế và đi đến xóa bỏ dần những cái cũ đã lỗi thời, lạc hậu.

Câu 6 Định nghĩa: Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội. Khác với hoạt động tư duy, trong hoạt động thực tiễn, con người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theo mục đích của mình. Đây là hoạt động đặc trưng và bản chất của con người. Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngừng được phát triển bởi con người qua các thời kỳ lịch sử. Do vậy, thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật chất có mục đích và mang tính lịch sử - xã hội. Hoạt động thực tiễn có ba hình thức cơ bản: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học. Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực tiễn. Đây là hoạt động mà con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra sản phẩm vật chất nhằm duy trì sự tồn tại thiết yếu của mình. Hoạt động chính trị xã hội là hoạt động của các tổ chức cộng đồng người khác nhau nhằm cải biến các mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển. Thực nghiệm khoa học là hoạt động được tiến hành trong đều kiện do con người tạo ra gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu. Đây là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, nó có vai trò ngày càng tăng trong sự phát triển của xã hội. Giữa các dạng hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó hoạt động sản xuất vật chất là cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định. Bởi vì nó là hoạt động khách quan, thường xuyên nhất tạo ra điều kiện cần thiết để con người tồn tại và phát triển; đồng thời cũng tạo điều kiện để tiến hành các dạng hoạt động khác. Còn các dạng hoạt động khác nếu tiến bộ thì tạo điều kiện cho hoạt động sản xuấ t vật chất được tăng cường, nếu phản tiến bộ thì kìm hãm sự gia tăng của sản xuất vật chất. Chính sự tác động lẫn nhau giữa các dạng (hình thức) hoạt động làm cho thực tiễn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng có vai trò quan trọng đối với nhận th ức. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Con người luôn luôn có nhu cầu khách quan là phải giải thích và cải tạo thế giới, điều đó bắt buộc con người phải tác động trực tiếp vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình, làm cho các sự vật vận động, biến đổi qua đó bộc lộ các thuộc tính, những mối liên hệ bên trong. Các thuộc tính và mối liên hệ đó được con người ghi nhận chuyển thành những tài liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất các quy luật phát triển của thế giới. Chẳng hạn, xuất phát từ nhu cầu cần đo đạc diện tích, đo sức chứa của các bình mà toán học ra đời và phát triển... Suy cho đến cùng không có một lĩnh vực nào lại không xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vào việc phục vụ hướng dẫn thực tiễn. Mặt khác, nhờ có hoạt động thực tiễn mà các giác quan con người ngày càng được hoàn thiện; năng lực tư duy

lôgíc không ngừng được củng cố và phát triển; các phương tiện nhận thức ngày càng tinh vi, hiện đại, có tác dụng “nối dài” các giác quan của con người trong việc nhận thức thế giới. Chẳng hạn, từ công việc điều hành, tổ chức nền sản xuất... mà đòi hỏi các môn khoa học quản lý ra đời và phát triển. Hơn nữa, nhận thức ra đời và không ngừng hoàn thiện trước hết không phải vì bản thân nhận thức mà là vì thực tiễn, nhằm giải đáp các vấn đề thực tiễn đặt ra và để chỉ đạo, định hướng hoạt động thực tiễn. Chẳng hạn, các môn khoa học quản lý ra đời nhằm giúp các nhà quản lý tìm ra các biện pháp nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế. Như vậy, thực tiễn vừa là cơ sở, động lực vừa là mục đích của nhận thức. Không những thế thực tiễn còn là tiêu chuẩn để kiểm tra kết quả nhận thức, kiểm tra chân lý. Bởi vì nhận thức thường diễn ra trong cả quá trình bao gồm các hình thức trực tiếp và gián tiếp, điều đó không thể tránh khỏi tình trạng là kết quả nhận thức không phản ánh đầy đủ các thuộc tính của sự vật. Mặt khác, trong quá trình hình thành kết quả nhận thức thì các sự vật cần nhận thức không đứng yên mà nằm trong quá trình vận động không ngừng. Trong quá trình đó, nhiều thuộc tính, nhiều mối quan hệ mới đã bộc lộ mà nhận thức chưa kịp phản ánh. Để phát hiện mức độ chính xác, đầy đủ của kết quả nhận thức phải dựa vào thực tiễn. Mọi sự biến đổi của nhận thức suy cho cùng không thể vượt ra ngoài sự kiểm tra của thực tiễn chịu sự kiểm nghiệm trực tiếp của thực tiễn. Qua thực tiễn để bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện kết quả nhận thức. C. Mác viết: “ Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”. Thực tiễn quyết định nhận thức, vai trò đó đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm mà V.I Lênin đã đưa ra: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản nhất của lý luận nhận thức ”. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn. Việc nghiên c ứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành. Câu 7 : Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên 4.1. Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy. Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong đó có các mặt cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Mỗi mặt của hình thái kinh tế - xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau. Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất - kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế - xã hội. Hình thái kinh tế - xã hội khác nhau có lực lượng sản xuất khác nhau. Suy đến cùng, sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội. Quan hệ sản xuất là “quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác”(1). Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tác động tích cực trở lại lực lượng sản xuất. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho nó. Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội. Các quan hệ sản xuất tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội. Các quan điểm về chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học v.v... các thiết chế tương ứng được hình thành, phát triển trên cơ sở các quan hệ sản xuất tạo thành kiến trúc thượng tầng của xã hội. Kiến trúc thượng tầng được hình thành và phát triển phù hợp với cơ sở hạ tầng, nhưng nó lại là công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó. Ngoài các mặt cơ bản đã nêu trên, các hình thái kinh tế - xã hội còn có quan hệ về gia đình, dân tộc và các quan hệ xã hội khác. Các quan hệ đó đều gắn bó chặt chẽ với quan hệ sản xuất, biến đổi cùng với sự biến đổi của quan hệ sản xuất. 4.2. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau. Trên cơ sở phát hiện ra các quy luật vận động phát triển khách quan của xã hội, C.Mác đã đi đến kết luận: "Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên"(1). Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống, trong đó, các mặt không ngừng tác động qua lại lẫn nhau tạo thành các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội. Đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và các quy luật xã hội khác. Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà các hình thái kinh tế - xã hội vận động phát triển từ thấp đến cao. Nguồn gốc sâu xa của sự vận động phát triển của xã hội là ở sự phát triển của lực lượng sản xuất. Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất đã quyết định, làm thay đổi quan hệ sản xuất. Đến lượt mình, quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho kiến trúc thượng tầng thay đổi theo, và do đó mà hình thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn, tiến bộ hơn. Quá trình đó diễn ra một cách khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan. V.I. Lênin viết: "Chỉ có đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc đểquan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên"(2). Con đường phát triển của mỗi dân tộc không chỉ bị chi phối bởi các quy luật chung, mà còn bị tác động bởi các điều kiện về tự

nhiên, về chính trị, về truyền thống văn hóa, về điều kiện quốc tế v.v.. Chính vì vậy, lịch sử phát triển của nhân loại hết sức phong phú, đa dạng. Mỗi dân tộc đều có nét độc đáo riêng trong lịch sử phát triển của mình. Có những dân tộc lần lượt trải qua các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao; nhưng cũng có những dân tộc bỏ qua một hay một số hình thái kinh tế - xã hội nào đó. Tuy nhiên, việc bỏ qua đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch sử - tự nhiên chứ không phải theo ý muốn chủ quan. Như vậy, quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ qua, trong những điều kiện nhất định, một hoặc một vài hình thái kinh tế - xã hội nhất định. 4.3. Giá trị khoa học của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội Trước Mác, chủ nghĩa duy tâm giữ vai trò thống trị trong khoa học xã hội. Sự ra đời học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã đưa lại cho khoa học xã hội một phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học. Đó là: Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định các mặt của đời sống xã hội. Cho nên, không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng, từ ý chí chủ quan của con người để giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội mà phải xuất phát từ phương thức sản xuất. Xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, quyết định các quan hệ xã hội khác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội. Điều đó cho thấy, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội, phải phân tích một cách sâu sắc các mặt của đời sống xã hội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng. Đặc biệt phải đi sâu phân tích về quan hệ sản xuất thì mới có thể hiểu một cách đúng đắn về đời sống xã hội. Chính quan hệ sản xuất cũng là tiêu chuẩn khách quan để phân kỳ lịch sử một cách đúng đắn, khoa học. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên, tức diễn ra theo các quy luật khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan. Cho nên, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội phải đi sâu nghiên cứu các quy luật vận động phát triển của xã hội. V.I. Lênin viết: "Xã hội là một cơ thể sống đang phát triển không ngừng (chứ không phải là một cái gì được kết thành một cách máy móc và do đó cho phép có thể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hội như thế nào cũng được), một cơ thể mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái xã hội nhất định và cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó"(1). Kể từ khi học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác ra đời cho đến nay, loài người đã có những bước phát triển hết sức to lớn về mọi mặt, nhưng học thuyết đó vẫn nguyên giá trị. Nó vẫn là phương pháp thực sự khoa học để nhận thức một cách đúng đắn về đời sống xã hội. Đương nhiên, học thuyết đó "không bao giờ có tham vọng giải thích tất cả, mà chỉ có ý muốn vạch ra một phương pháp... duy nhất khoa học để giải thích lịch sử"(2). Gần đây, trước những thành tựu kỳ diệu của khoa học và công nghệ, có những quan điểm đi đến phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và đòi phải thay thế bằng cách tiếp cận văn minh. Cách tiếp cận này phân chia lịch sử phát triển nhân loại thành văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh hậu công nghiệp (hay văn minh tin học, văn minh trí tuệ). Thực chất đây là phân chia dựa vào các trình độ phát triển kinh tế, dựa vào trình độ khoa học và công nghệ. Rõ ràng, cách tiếp cận này không thể thay thế được học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, nó không vạch ra mối quan hệ giữa các mặt trong đời sống xã hội và các quy luật vận động, phát triển của xã hội từ thấp đến cao. Câu 7: I- Phuong thuc san xuat la su thong nhat giua luc luong san xuat va quan he san xuat 1. Luc luong san xuat Luc luong san xuat bieu hien moi quan he giua con nguoi voi tu nhien, the hien trinh do chinh phuc tu nhien cua con nguoi. Do la ket qua cua nang luc thuc tien cua con nguoi trong qua trinh tac dong vao tu nhien tao ra cua cai vat chat bao dam cho su ton tai va phat trien cua loai nguoi. Luc luong san xuat bao gom tu lieu san xuat (tu lieu lao dong va doi tuong lao dong) va nguoi lao dong voi kinh nghiem san xuat va thoi quen lao dong. Cac yeu to cua luc luong san xuat co quan he voi nhau. Su phat trien cua luc luong san xuat la su phat trien cua tu lieu lao dong thich ung voi ban than nguoi lao dong, voi trinh do van hoa, khoa hoc, ky thuat cua ho. Nang suat lao dong la thuoc do trinh do phat trien cua luc luong san xuat. Dong thoi, xet den cung, do la nhan to quan trong nhat cho su thang loi cua mot trat tu xa hoi moi. Ngay nay, khoa hoc tro thanh luc luong san xuat truc tiep. Nhung thanh tuu cua khoa hoc duoc van dung nhanh chong va rong rai vao san xuat, co tac dung thuc day manh me san xuat phat trien; nhung tu lieu san xuat, nhung tien bo cua cong nghe va phuong phap san xuat la ket qua vat chat cua nhan thuc khoa hoc. Thoi dai ngay nay tri thuc khoa hoc tro thanh mot bo phan can thiet cua kinh nghiem va tri thuc cua nguoi san xuat v.v. va duoc phat trien manh me. Do la luc luong san xuat to lon thuc day qua trinh phat trien tien bo xa hoi tren the gioi. 2. Quan he san xuat Quan he giua nguoi va nguoi trong qua trinh san xuat duoc goi la quan he san xuat. Cung nhu luc luong san xuat, quan he san xuat thuoc linh vuc doi song vat chat cua xa hoi. Tinh vat chat cua quan he san xuat the hien o cho chung ton tai khach quan doc lap voi y thuc con nguoi. Quan he san xuat bao gom: quan he so huu ve tu lieu san xuat; quan he ve to chuc quan ly trong san xuat; quan he phan phoi san pham. Ba mat tren co quan he huu co voi nhau, trong do quan he so huu ve tu lieu san xuat giu vai tro quyet dinh. Ban

chat cua bat cu kieu quan he san xuat nao truoc het do quan he chiem huu tu lieu san xuat quyet dinh. II. Quy luat ve su phu hop cua quan he san xuat voi tinh chat va trinh do cua luc luong san xuat 1. Quan he san xuat duoc hinh thanh, bien doi, phat trien duoi anh huong quyet dinh cua luc luong san xuat - Luc luong san xuat la yeu to dong nhat va cach mang nhat, la noi dung cua phuong thuc san xuat, con quan he san xuat la yeu to tuong doi on dinh, la hinh thuc xa hoi cua phuong thuc san xuat. Trong moi quan he giua noi dung va hinh thuc thi noi dung quyet dinh hinh thuc. - Luc luong san xuat phat trien thi quan he san xuat bien doi theo phu hop voi tinh chat va trinh do cua luc luong san xuat. Su phu hop do lam cho luc luong san xuat tiep tuc phat trien. Khi tinh chat va trinh do cua luc luong san xuat phat trien den muc nao do se mau thuan voi quan he san xuat hien co, doi hoi xoa bo quan he san xuat cu de hinh thanh quan he san xuat moi phu hop voi luc luong san xuat dang phat trien, lam phuong thuc san xuat cu mat di, phuong thuc san xuat moi xuat hien... - Su phat trien cua luc luong san xuat tu thap den cao qua cac thoi ky lich su khac nhau da quyet dinh su thay the quan he san xuat cu bang quan he san xuat moi cao hon, dua loai nguoi trai qua nhieu hinh thai kinh te - xa hoi khac nhau tu thap len cao, voi nhung kieu quan he san xuat khac nhau. 2. Su tac dong tro lai cua quan he san xuat voi luc luong san xuat - Quan he san xuat phu hop voi tinh chat va trinh do cua luc luong san xuat se tao dia ban rong lon cho su phat trien cua luc luong san xuat, tro thanh dong luc co ban thuc day, tao dieu kien cho luc luong san xuat phat trien. - Khi quan he san xuat da loi thoi, lac hau khong con phu hop voi tinh chat va trinh do cua luc luong san xuat thi no tro thanh xieng xich troi buoc, kim ham su phat trien cua luc luong san xuat. - Quan he san xuat, so di co the tac dong (thuc day hoac kim ham) su phat trien cua luc luong san xuat, vi no quy dinh muc dich cua san xuat; anh huong den thai do lao dong cua quang dai quan chung; kich thich hoac han che viec cai tien cong cu, viec ap dung thanh tuu khoa hoc - ky thuat vao san xuat, viec hop tac va phan cong lao dong, v.v.. - Trong xa hoi co giai cap doi khang mau thuan giua luc luong san xuat va quan he san xuat bieu hien thanh mau thuan giai cap va chi thong qua dau tranh giai cap moi giai quyet duoc mau thuan do de dua xa hoi tien len. Quy luat ve su phu hop cua quan he san xuat voi tinh chat va trinh do cua luc luong san xuat bieu hien su van dong noi tai cua phuong thuc san xuat va bieu hien tinh tat yeu cua su thay the phuong thuc san xuat nay bang phuong thuc san xuat khac cao hon. Quy luat nay la quy luat pho bien tac dong trong moi xa hoi, lam cho xa hoi loai nguoi phat trien tu thap den cao. 3. Su van dung quy luat ve su phu hop cua quan he san xuat voi tinh chat va trinh do cua luc luong san xuat o nuoc ta. Nuoc ta lua chon con duong xa hoi chu nghia bo qua che do tu ban chu nghia tu mot nuoc nong nghiep lac hau, do do xay dung phuong thuc san xuat xa hoi chu nghia la mot qua trinh lau dai va day kho khan, phuc tap. Kinh nghiem thuc te chi ro, luc luong san xuat bi kim ham khong chi trong truong hop quan he san xuat lac hau, ma ca khi quan he san xuat phat trien khong dong bo va co nhung yeu to di qua xa so voi trinh do phat trien cua luc luong san xuat. Tinh hinh thuc te cua nuoc ta doi hoi phai coi trong nhung hinh thuc kinh te trung gian, qua do tu thap den cao, tu quy mo nho len quy mo lon. De xay dung phuong thuc san xuat xa hoi chu nghia, chung ta chu truong xay dung mot nen kinh te hang hoa nhieu thanh phan voi co che thi truong co su quan ly cua nha nuoc nham phat huy moi tiem nang cua cac thanh phan kinh te, phat trien manh me luc luong san xuat de xay dung co so kinh te cua chu nghia xa hoi. Tung buoc xa hoi hoa xa hoi chu nghia, qua trinh do duoc thuc hien khong phai bang go ep ma duoc thuc hien tung buoc thong qua su hon hop cac hinh thuc so huu nhu cong ty co phan, chu nghia tu ban nha nuoc, cac hinh thuc hop tac xa v.v. de dan dan hinh thanh cac tap doan kinh doanh lon, trong do cac don vi kinh te quoc doanh va tap the la nong cot. Chung ta chi bo qua nhung gi cua xa hoi cu khong con phu hop voi xa hoi moi thay the va khong dem lai hieu qua kinh te - xa hoi cao hon; chung ta chu truong thuc hien su chuyen hoa cai cu thanh cai moi theo dinh huong xa hoi chu nghia. Câu 8: 1. Khái niệm hình thái kinh tế – xã hội: Hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù của CNDVLS dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn nhất định, với những quan hệ sản xuất của nó thích ứng với LLSX ở một trình độ nhất định và với một KTTT được xây dựng lên trên những QHSX đó. Phân tích: Phạm trù hình thái kinh tế – xã hội có các đặc trưng: là một chỉnh thể sống, vận động, có cơ cấu phức tạp. Trong đó có 3 mặt cơ bản, phổ biến nhất là: LLSX, QHSX và KTTT. Các mặt đó gắn bó, tác động biện chứng tạo nên những quy luật phổ biến của sự vận động, phát triển xã hội. + Trong các yếu tố cơ bản cấu thành hình thái kinh tế – xã hội thì LLSX là nền tảng vật chất kỹ thuật của mọi hình thái kinh tế – xã hội, QHSX là cơ sở kinh tế, CSHT của xã hội là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội với xã hội khác. KTTT có chức năng, vai trò duy trì, bảo vệ, phát triển CSHT và các mặt của đời sống xã hội. * Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, vì: + Con người tạo nên lịch sử của mình, nhưng không phải theo ý muốn chủ quan mà theo quy luật khách quan. Đó là hoạt động của họ, tuy do ý thức chỉ đạo, nhưng lại diễn ra trong một hoàn cảnh khách quan nhất định mà họ hải tích ứng. + Trong các quan hệ xã hội khách quan lại tạo nên hoàn cảnh thì quan hệ kinh tế xét đến cùng là quan hệ quyết định và quan hệ kinh tế đó lại dựa trên một trình độ nhất định của LLSX. + Sự phát triển của hình thái kinh tế do sự tác động của các quy luật phổ biến khách quan là quy luật QHSX phù hợp với trình độ của LLSX, quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT.

+ Sự phát triển các hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên vừa bao hàm sự phát triển tuần tự theo xu hướng tổng quát chung, vừa bao hàm khả năng một quốc gia này hay một quốc gia khác trong tiến trình phát triển của mình có thể bỏ qua một chế độ này để lên một chế độ xã hội khác cao hơn (lấy ví dụ đối với lịch sử thế giới và Việt Nam). Ý nghĩa: Trước Mác, chủ nghĩa duy tâm giữ vai trò thống trị trong khoa học xã hội. Sự ra đời học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã đưa lại cho khoa học xã hội một phươngpháp nghiên cứu thực sự khoa học. Học thuyết đó chỉ ra: sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thứcsản xuất quyết định các mặt của đời sống xã hội. Cho nên, không thể xuất phát từ ýthức, tư tưởng, từ ý chí chủ quan của con người để giải thích các hiện tượng trong đờisống xã hội mà phải xuất phát từ phương thức sản xuất. Học thuyết đó cũng chỉ ra: xã hội không phải là sự kết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sống sinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, quyết định các quan hệ xã hội khác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội. Điều đó cho thấy, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội, phải phân tích một cách sâu sắc các mặt của đời sống xã hội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng. Đặc biệt phải đi sâu phân tích về quan hệ sản xuất thì mới có thể hiểu một cách đúng đắn về đời sống xã hội. Chính quan hệ sản xuất cũng là tiêu chuẩn khách quan để phân kỳ lịch sử một cách đúng đắn, khoa học. Học thuyết đó còn chỉ ra: sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên, tức diễn ra theo các quy luật khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan. Cho nên, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội phải đi sâu nghiên cứu các quy luật vận động phát triển của xã hội. V.I.Lênin viết: "Xã hội là một cơ thể sống đang phát triển không ngừng (chứ không phải là một cái gì được kết thành một cách máy móc và do đó cho phép có thể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hội như thế nào cũng được), một cơ thể mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái xã hội nhất định và cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó". Kể từ khi học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác ra đời cho đến nay, loài người đã có những bước phát triển hết sức to lớn về mọi mặt, nhưng học thuyết đó vẫn là phương pháp thực sự khoa học để nhận thức một cách đúng đắn về đời sống xã hội. Đương nhiên, học thuyết đó "không bao giờ có tham vọng giải thích tất cả, mà chỉ có ý muốn vạch ra một phương pháp... "duy nhất khoa học" để giải thích lịch sử". Gần đây, có những quan điểm đi đến phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và cho rằng phải thay thế bằng cách tiếp cận văn minh. Cách tiếp cận này phân chia lịch sử phát triển nhân loại thành văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh hậu công nghiệp (hay văn minh tin học, văn minh trí tuệ). Thực chất đây là phân chia dựa vào các trình độ phát triển kinh tế, dựa vào trình độ khoa học và công nghệ. Rõ ràng, cách tiếp cận này không thể thay thế được học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, nó không vạch ra mối quan hệ giữa các mặt trong đời sống xã hội và các quy luật vận động, phát triển của xã hội từ thấp đến cao.

Khác Phân tích ý nghĩa phương pháp luận của phạm trù hình thái kinh tế xã hội và sự vận dụng vào xã hội việt nam
* Hình thái kinh tế xã hội. Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Với những quan hệ sản xuất của nó thích ứng với LLSX ở một trình độ nhất định và với một KTTT xây dựng trên những QHSX đó. * Ý nghĩa của việc nghiên cứu học thuyết. Hình thái kinh tế xã hội. - Nghiên cứu học thuyết. Hình thái kinh tế xã hội cho ta thấy rõ rằng mỗi xã hội đều có quan hệ sản xuất của nó. - Tiêu biểu cho một chế độ kinh tế của xã hội ấy đều là những quan hệ vật chất, đều là hình thức xã hội của một quá trình sản xuất. - Việc phát hiện ra những quan hệ vật chất cơ bản ấy của xã hội đã đặt ra cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu xã hội đã đặt ra cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu xã hội trên quan điểm duy vật và từ đó đi vào phân tích các quan hệ phức tạp khác của đời sống, xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. - Nhờ có sự khái quát khoa học ấy thì mới có khả năng phân tích một cách đúng đắn các hiện tượng và quá trình lịch sử xã hội cụ thể từ đó phân biệt chế độ xã hội này với một chế độ xã hội khác và đồng thời tìm thấy sự giống nhau và khác nhau giữa các xã hội đó. - Học thuyết hình thái kinh tế xã hội đã vạch ra nguồn gốc động lực bên trong của sự phát triển xã hội nó đã đặt cơ sở khoa học cho xã hội hoặc nâng xã hội học lên thành khoa học thực sự. - Học thuyết hình thái kinh tế xã hội là cơ sở lý luận cho đường lối cách mạng của giai cấp vô sản và quần chúng lao động trong xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. - Nó vũ trang cho chúng ta phương pháp khoa học để nghiên cứu sự phát triển xã hội qua các chế độ xã hội khác nhau hiểu rõ cơ cấu chung của hình thái kinh tế xã hội là những quy luật phổ biến tác động chi phối sự vận động và phát triển của xã hội. * Vận dụng của Đảng ta:

- Đảng ta đã vận dụng học thuyết về hình thái kinh tế xã hội để xây dựng hình thái kinh tế xã hội ở nước ta. - Xây dựng nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. - Xây dựng hệ thống chính trị theo nguyên tắc nhân dân lao động là người chủ xã hội, bảo vệ quyền dân chủ của mọi thành viên của xã hội. - Mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp cận và vận dụng những giá trị mới của văn minh nhân loại. - Tạo môi trường cho hoạt động tự do sáng tạo cho mọi sáng kiến cá nhân và đơn vị. Khai thác triệt để yếu tố con người, vì con người, như vậy xây dựng hình thái kinh tế xã hội, XHCN ở nước ta trong thời quá độ là phát triển LLSX và xây dựng QHSX mới theo định hướng XHCN xây dựng một hệ thống chính trị bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động, hoạt động theo nguyên tắc tất cả từ con người vì con người. Tiếp tục cải cách bộ máy Nhà nước xây dựng hoàn thiện Nhà nước CHXHCN Việt Nam Nhà nước của dân do dân và vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức XHCN làm nền tảng cho Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Câu 9: Nguồn gốc giai cấp. Trong xã hội có nhiều nhóm xã hội khác nhau. Sự khác nhau ấy được phân biệt bởi những đặc trưng khác nhau như giới tính, nghề nghiệp, chủng tộc, dân tộc... Những khác biệt ấy tự nó không tạo ra sự đối lập về mặt xã hội. Chỉ có những giai cấp xuất phát từ sự khác biệt căn bản về lợi ích mới tạo ra những xung đột xã hội mang tính chất đối kháng. Mác chỉ ra rằng: "Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất". Sự phân chia một xã hội thành giai cấp trước hết là do nguyên nhân kinh tế. Trong xã hội nguyên thuỷ, lực lượng sản xuất chưa phát triển, năng suất lao động rất thấp, sản phẩm làm ra chưa đủ nuôi sống người nguyên thuỷ. Để tồn tại họ phải sống nương tựa vào nhau theo bầy đàn lệ thuộc nhiều vào tự nhiên, giai cấp chưa xuất hiện. Sản xuất ngày càng phát triển với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Công cụ sản xuất bằng kim loại ra đời thay thế công cụ bằng đá, năng suất lao động nhờ đó tăng lên đáng kể, phân công lao động xã hội từng bước hình thành, của cải dư thừa xuất hiện, những người có chức quyền trong các thị tộc, bộ lạc đã chiếm đoạt của cải dư thừa làm của riêng; chế độ tư hữu ra đời, bất bình đẳng về kinh tế nảy sinh trong nội bộ công xã, đó chính là cơ sở của sự xuất hiện giai cấp. Do có của cải dư thừa, tù binh bắt được trong các cuộc chiến tranh không bị giết như trước. Họ được sử dụng làm nô lệ phục vụ những người giàu và có địa vị trong xã hội, chế độ có giai cấp chính thức hình thành kể từ đó. Như vậy, sự xuất hiện chế độ tư hữu là nguyên nhân quyết định trực tiếp sự ra đời giai cấp. Sự tồn tại các giai cấp đối kháng gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản phát triển cao lại tạo tiền đề khiến cho sự thủ tiêu chế độ tư hữu, cái cơ sở kinh tế của sự đối kháng giai cấp trở thành xu thế khách quan trong sự phát triển xã hội. Đó là lôgíc khách quan của tiến trình phát triển lịch sử. Phân tích 4 đặc trưng cơ bản trong định nghĩa giai cấp của Lênin: + Đặc trưng thứ nhất: giai cấp là những tập đoàn người có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định. Sự khác nhau đó là do địa vị của họ khác nhau. Trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định, nó biểu hiện ở chỗ giai cấp này ở địa vị thống trị, bóc lột, các giai cấp khác ở địa vị bị trị, bị bóc lột. Việc nghiên cứu giai cấp phải gắn liền với hệ thống sản xuất nhất định. Địa vị của một giai cấp lại được quyết định bởi mối quan hệ của giai cấp đó với 3 mặt của QHSX. + Đặc trưng thứ hai: các giai cấp có mối quan hệ khác nhau về quyền sở hữu đối với TLSX. Đây là đặc trưng giữ vai trò quyết định đối với các đặc trưng khác. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm hữu TLSX của xã hội thì giai cấp đó đồng thời cũng đóng vai trò tổ chức quản lý nền sản xuất, phân phối sản phẩm xã hội cho giai cấp đó. Giai cấp đó ở vị trí thống trị, bóc lột các giai cấp khác. + Đặc trưng thứ ba: các giai cấp có vai trò khác nhau trong việc tổ chức lao động xã hội. Vai trò tổ chức lao động xã hội thuộc về giai cấp chiếm hữu TLSX xã hội. + Đặc trưng thứ tư: các giai cấp có những phương thức và quy mô thu nhập khác nhau về của cải xã hội, phụ thuộc vào địa vị của giai cấp đó trong hệ thống sản xuất xã hội nhất định. Thực chất của quan hệ giai cấp là quan hệ bóc lột và bị bóc lột. Quan hệ sở hữu đối với TLSX là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các giai cấp khác nhau trong xã hội. Bốn đặc trưng trên đây của định nghĩa giai cấp có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đặc trưng thứ hai là đặc trưng cơ bản nhất chi phối các đặc trưng khác. Thiếu một trong 4 đặc trưng đó, nhất là đặc trưng thứ 2 thì không thành giai cấp. Những hiện tượng: kẻ giàu người nghèo, kẻ sang người hèn, địa vị cao thấp chỉ là kết quả chứ không phải là nguyên nhân của sự phân chia giai cấp. Nên không thể coi đó là tiêu chuẩn duy nhất để phân định giai cấp.

Câu 10: Vai trò của quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử
a)Vai trò của quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử. *Khái niệm quần chúng nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân. -K/niệm:quần chúng nhân dân là những bộ phận XH có chung lợi ích liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh đạo của 1 cá nhân hay 1 Đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề về kinh tế,chính trị, XH của 1 thời đại lịch sử. -Đặc trưng của k/niệm quần chúng nhân dân. +Quần chúng nhân dân là những người LĐ sản xuất ra của cải vật chất tinh thần cho XH. +Quần chúng nhân dân là những bộ phận dân cư đấu tranh chống lại các giai cấp thống trị trong lịch sử.

+Nói tới quần chúng nhân dân là nói tới các giai cấp,các tầng lớp XH có vai trò thúc đẩy sự tiến bộ XH. -Vai trò của quần chúng nhân dân:Theo quan điểm duy vật lịch sử quần chúng nhân dân có vai trò là người sáng tạo ra lịch sửnghĩa là sự phát triển của lịch sử XH là do hoạt động của quần chúng nhân dân tạo nên. -Vì sao quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử? +Vì quần chúng nhân dân là người SX ra của cải vật chất để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của XH. +Vì quần chúng nhân dân họ là động lực cơ bản của các cuộc cách mạng XH trong lịch sử. +Quần chúng nhân dân giữ vai trò chủ yếu sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần của XH (đương nhiên là không phủ nhận vai trò của các vĩ nhân trong lịch sử như:các nhà tư tưởng lớn,các nhà khoa học,các nhà văn...). *Khái niệm lãnh tụ và vai trò của lãnh tụ. -K/niệm:lãnh tụ là những vĩ nhân-những cá nhân kiệt xuất trưởng thành từ phong trào quần chúng,nắm bắt đc những vấn đề bản chất nhất trong 1 lĩnh vực nhất định của hoạt động thực tiễn và lý luận. -Đặc trưng của lãnh tụ: +Họ là những người có tri thức uyên bác nắm bắt đc xu thế vận động phát triển của lịch sử. +Họ là những người có năng lực tổ chức tập hợp quần chúng nhân dân. +Họ là những người gắn bó,hi sinh vì lợi ích của phong trào dân tộc,quốc tế,thời đại lịch sử. -Vai trò của lãnh tụ: +Họ có vai trò thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của phong trào quần chúng,điều này phụ thuộc vào năng lực cụ thể của từng lãnh tụ. +Họ có vai trò sáng lập ra các tổ chức CM của quần chúng và họ trở thành linh hồn của phong trào đó. +Họ là những người đại diện cho từng phong trào cụ thể,từng thời đại cụ thể,không có lãnh tụ chung cho mọi phong trào quần chúng. =>Kết luận:theo quan điểm duy vật lịch sử,lãnh tụ là người có vai trò đặc biệt quan trọng thúc đẩy quá trình sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân. Theo quan điểm duy vật lịch sử,quần chúng nhân dân và cá nhân lãnh tụ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình phát triển của lịch sử thể hiện:không có phong trào quần chúng thì cũng không có lãnh tụ;sự thống nhất giữa phong trào quần chúng và lãnh tụ đc thể hiện tập trung ở mục đích và lợi ích phong trào quần chúng nhân dân. b)Quán triệt nội dung bài học " lấy dân làm gốc " của Đảng ta: -Bài học " lấy dân làm gốc " đc Đảng ta tổng kết từ đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986. -Bài học " lấy dân làm gốc " là sự thể hiện quan điểm của Đảng ta đánh giá đúng vai trò của quần chúng nhân dân là người sáng tạo,là người xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam. -Bài học "lấy dân làm gốc " nhằm mục đích không ngừng xây dựng và củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân nhằm phát huy vai trò làm chủ của nhân dân LĐ trong sự nghiệp đổi mới đất nước


				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags: triet
Stats:
views:4672
posted:7/10/2009
language:Vietnamese
pages:13