CUOC TRUONG CHINH VAO TRONG LONG DA (KY SU)

Reviews
Shared by: Diep Van
Stats
views:
120
rating:
4(1)
reviews:
0
posted:
6/29/2009
language:
English
pages:
0
Cuộc trường chinh vào trong lòng đá (Ký sự dài kỳ của Đỗ Doãn Hoàng) Kỳ I: Vài dòng với cao nguyên cao nhất Việt Nam Đường Hạnh Phúc là con đường có lịch sử phá đá thủ công nhất, khủng khiếp nhất, đi qua biển đá tai mèo, đá phiến dữ dằn nhất Việt Nam. Một Vạn lý trường thành của Việt Nam. “Cung đường hình chữ em-mờ ngược (W) nổi tiếng trắc trở và… đẹp mắt của cao nguyên Đồng Văn”. Trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, có một vùng chính thức (hiếm hoi) được “tôn xưng” là cao nguyên đá, với nhiều kỷ lục về nhan sắc núi rừng và… sự khắc nghiệt của đá. Đó là vùng cao núi đá phía Bắc tỉnh Hà Giang, gọi theo đúng tên khoa học của nó là cao nguyên Đồng Văn. Đây là nơi có mỏm tột Bắc (chữ của nhà văn Nguyễn Tuân) Lũng Cú vòi vọi, nơi bắt đầu nét vẽ bản đồ tổ quốc. Lâu nay nhiều người cứ lầm tưởng cao nguyên Đồng Văn chỉ gồm có một mình địa giới hành chính huyện Đồng Văn bây giờ, nhưng thực ra, đó là cụm từ chỉ vùng đất mênh mông núi đá gồm hầu như toàn bộ cả 4 huyện Quản Bạ - Yên Minh - Đồng Văn – Mèo Vạc. Cao nguyên Đồng Văn là cao nguyên cao nhất của toàn bộ đất nước Việt Nam, khoảng 1.600m so với mực nước biển (xin lưu ý, Phanxipang cao 3.143m của dãy Hoàng Liên Sơn chỉ là đỉnh núi cao nhất Đông Dương - chứ không phải với tư cách là một cao nguyên). Sở hữu vùng cao nguyên có độ cao đệ nhất xứ sở, ngành du lịch thương mại Hà Giang đã khá bài bản trong việc tổ chức các tua tuyến cho khách tự mình lập kỷ lục: du thám mỏm đất tột Bắc ở bản Séo Lủng của người Lô Lô ở Lũng Cú; tự hào đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng rộng 54m2 (tượng trưng cho đầy đủ các dân tộc anh em trên đất Việt) bay trên mỏm đất “nơi bắt đầu nét vẽ bản đồ tổ quốc”; thăm chợ tình Khâu Vai (Mèo Vạc), xa xôi, nguyên sơ nhất Việt Nam; thăm di tích “nhà Vương” của những thủ lĩnh kiệt suất người Mông - như cha con Vương Chí Sình (người từng được mệnh danh là “vua Mèo” với đội quân “hươu nai” và đoàn ngựa thồ buôn thuốc phiện nổi tiếng) với những kỳ quan, và cả những góc khuất ưu tư của lịch sử, của cái thời “đóng cổng trời nổi phỉ”, của con đường “tận trung báo quốc/ bất thụ nô lệ” (chữ Hồ Chủ tịch tặng Vương Chí Sình)... Thế giới này, có lẽ, duy nhất người Hà Giang dám treo biển Cổng Trời với tư cách một kỳ quan phục vụ du lịch. Cổng trời thường là một đỉnh núi cao nhất trong khu vực, khi người ta đi qua đỉnh núi đó, đến nơi cao nhất, gặp một hẻm núi vếch lên nền trời, nếu dừng lại, nhìn thẳng, cảm giác bạn bước một bước nữa lên đến.. vùng đất của Giàng (trời). Nhìn qua hẻm núi, thấy mây gió vờn nhau, luồng ánh sáng, luồng mây trắng hắt vào mặt ta như hình một họng pháo lớn. Các tỉnh miền núi cao thường có cụm từ cổng trời này, song không ở đâu cổng trời trở thành thương hiệu như ở cao nguyên Đồng Văn. Cụm từ Đóng Cổng Trời đã thành điển tích kể về một trang sử bi tráng, khi những phần tử lầm lạc đóng cổng trời, đứng ở trên cao dùng súng hoả mai và lăn đá hộc chiến đấu “một người địch được trăm người” chống lại cách mạng, hồi năm 1959. Hồi người Pháp tấn công lên chiếm đóng cao nguyên Đồng Văn, chúng cũng bị các chiến binh người Mông đóng cổng trời án ngữ trước biển đá vùng Cán Tỷ, Quản Bạ khiến giặc Tây phải chơi hèn, lập kế vòng sang tận Cao Bằng đánh tập hậu. Thế nên, đi dọc con đường Hạnh Phúc xuyên cao nguyên Đồng Văn, bây giờ, bạn có thể gặp rất nhiều cái cổng trời. Cách thị xã Hà Giang 43km là cổng trời Quản Bạ, thơ, nhạc mà người Hà Giang ai cũng thuộc có đoạn gọi cổng trời Quản Bạ là “Vó ngựa biên cương lộng gió ngàn”, rằng “Đứng trên Cổng trời Quản Bạ/Tưởng mình cưỡi gió ngắm trần gian”. “Là cao nguyên cao nhất Việt Nam, Đồng Văn trở thành nơi duy nhất trên địa cầu dám treo biển “Cổng trời Quản Bạ” (Quan Ba heavens gate) để phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước! Các thông số ghi trên tấm biển Cổng trời quyến rũ như một trang thông tin… cổ suý cho ngành công nghiệp không khói…”. Nay, cổng trời được cắm biển đầy kiêu hãnh, nguyên văn chữ trắng viết trên tấm biển sắt tây màu xanh khổng lồ như sau: “Cổng trời Quản Bạ/ Quan Ba heavens gate (chữ heavens, tiếng Anh, hình như dịch là Thiên Đàng, người Mông không quan niệm về Thiên Đàng, còn người Tây lại không có khái niệm Cổng Trời). – Nơi đây có cổng làm bằng gỗ nghiến dày 150cm, làm vào năm 1939. Có thể ra đóng vào mở. Đường Hạnh Phúc – Hà Giang qua đây từ năm 1962. Là cửa ngõ đầu tiên lên Cao nguyên Đồng Văn. Độ cao trung bình so với mặt biển 1.500m, nhiệt độ trung bình 16 – 17 độ C. (Đứng trên cổng trời) Có thể quan sát cánh đồng Quản Bạ, Cán Tỷ, Bát Đại Sơn... (Nơi đây) Để lại nhiều chiến công trong quá trình dựng nước và giữ nước”. Cao nguyên Đồng Văn quyến rũ tới mức, nó là điểm đến đắt khách và phóng túng đệ nhất Việt Nam, mà tôi nghĩ, đã có quá nhiều thước phim, tấm ảnh, trang sách báo kinh điển viết về “miền đá” thách thức và bí ẩn này, song ngần ấy vẫn là chưa đủ. Cái chưa đủ lớn nhất có lẽ là việc các nghệ sỹ của chúng ta luôn lãng mạn hoá sự đói nghèo, khắc nghiệt của đá. Thí dụ rất thời sự là ống kính của các nhà làm phim Chuyện của Pao chẳng hạn, họ đã tụng ca đá và cuộc sống của Đồng Văn... như trong tiểu thuyết diễm tình. Tới mức, mỗi khi nghĩ đến cao nguyên đá người ta chỉ nghĩ đến vẻ đẹp thuần khiết núi rừng. Có nhiều người vội vã đi qua miên man bất tận đá của cao nguyên Đồng Văn rồi cứ viết chữ, chụp ảnh, quay phim bừa phứa những cảm nhận thấy cây mà chẳng thấy rừng của mình. Có một cao nguyên Đồng Văn tưởng tượng trong không ít “tác phẩm” của những chàng nàng nghệ sỹ “thấy vui cũng vỗ tay vào” kiểu ấy. Chúng ta sẽ bàn điều này vào một dịp khác). Trở lại với cao nguyên Đồng Văn, có lẽ kỷ lục của tất cả các kỷ lục nằm chính ở độ cao nhất Việt Nam của nó. Và, đá. Đây là vầng trán bằng đá tảng kỳ vĩ, vòi vọi, chất ngất, dài miên man nhất Việt Nam (có lẽ vẫn phải nói thêm một vài chữ “nhất” nữa). Đây là biểu tượng của đá, là khúc ca bi tráng của đá. Sự tụng ca sức quyến rũ của đá. Có một nền văn hoá của những người kiêu hùng sống trên đá. Bước chân của họ thật vạm vỡ, như cơ bắp của con báo hoang, như sải cánh của chàng đại bàng núi. Chỉ tính riêng con đường chạy dọc từ đầu đến cuối cao nguyên Đồng Văn (tính trên lãnh thổ tỉnh Hà Giang) đã dài gần 200 km! Nhà xếp bằng đá hộc, đá tảng, ruộng kè đá. Bà con cứ nhặt đá ra khỏi một vùng khoảnh sao cho ít đất thẻo hiện ra, rồi dùng chính cái đá đó xếp viền thành tường rào, thế là được nhà nước cho dăm ba triệu mà... canh tác. Sống trên sự khắc nghiệt của đá, đến lúc chết, bà con cũng nằm dưới đá, mộ kè xếp đá. Cao nguyên Đồng Văn là xứ sở của những dòng sông ngầm, sông luồn sông lủi trong đá, thỉnh thoảng sông lại phun nước nhỏ ra ở một kẽ núi xa xôi. Nước Việt Nam, vì thế không ở đâu thiếu nước sinh hoạt như vùng Mèo Vạc của cao nguyên Đồng Văn. Câu chuyện nóng nhất ở đây, khiến các nhà khoa học, đến giờ phút này vẫn đau đầu cãi cọ nhau, đó là khoan tìm nguồn nước cho bà con sống được làm người. Trong thời kỳ tạo sơn cách đây hàng triệu triệu năm, khoa học đã chứng minh, mặt đất khi ấy còn mềm mụp, đá ở dưới lòng đất đã đội húc cho vỡ bửa lớp đất phủ lên bề mặt mình, đá ào lên chờm nghịch lên bề mặt phía trên. Có một mãnh lực khó hiểu của Tạo hoá, đá già đã tràn chất ngất lên trên (thay vì nằm dưới). Nên cao nguyên Đồng Văn là nơi thống trị của đá. Đá tai mèo xám ngoét, đá tãi ném chộn rộn, đá xám cả bầu trời biên ải. Núi quá cao, dòng sông lại như nhát kiếm dữ tợn, với một mãnh lực khủng khiếp xẻ đôi các đỉnh vòm của cao nguyên mà chảy tít dưới khe sâu. Sông Nho Quế là một ví dụ. Sông như sợi chão nhỏ, nước trắng như bông ở xa xôi dưới đáy vực nghìn mét, tới mức ta không còn nghĩ rằng nước sông vẫn đang chảy nữa. Những hẻm núi từ Mã Pí Lèng trông xuống sông chất ngất. Mã Pí Lèng, theo tiếng quan hoả tức là núi gồ lên như sống mũi con ngựa, núi cao tới mức con ngựa khoẻ của chàng kỵ sĩ người Mông đi qua cũng phải gục ngã, ngất xỉu vì kiệt sức. Với tất cả những chú giải khí hơi dài dòng kể trên, người viết bài này muốn nói một vấn đề: đến tận năm 1959 (tức là khoảng 5 năm sau khi người Pháp bị đánh bật khỏi Điện Biên Phủ và rút khỏi nước ta), cao nguyên Đồng Văn vẫn chưa có đường để bánh xe có thể lăn vào. Đường, từ trăm nghìn năm qua, ở cao nguyên này (trước năm 1963) chỉ là đường mòn để cho người ta đi bộ, hoặc đi bằng ngựa thồ. Những kiếp cuốc bộ, những bước chân ngựa Mèo trệu trạo, trồi thụt, nhục nhằn trên đá. Vùng đất mênh mông, rợn ngợp chỉ có đá, đá và đá ấy chìm khuất trong mây, trong mông muội, thiệt thòi. Và cả trong bí ẩn, với ít nhiều lầm lạc. Có lẽ, bấy giờ, năm 1959, khi quyết định mở đường, người ta cũng không hiểu miền đá rộng và khắc nghiệt đến rợn người Đồng Văn khủng khiếp tới mức nào. Chỉ biết rằng, không mở đường thì không có cách nào đánh thức được cao nguyên đá. Trung ương quyết định mở đường vào Đồng Văn – Mèo Vạc, suốt 6 năm trời, hơn hai triệu công lao động của thanh niên xung phong 6 tỉnh của Việt Nam đã mở được 160km đường từ thị xã Hà Giang vào Mèo Vạc. Xin nhắc lại là: hơn hai triệu ngày công, với lưu lượng ngày nào cũng có cả nghìn thanh niên (chưa kể dân công nghĩa vụ) đổ máu, đổ mồ hôi, lao động thủ công phá đá mở đường trong 6 năm ròng để có được con đường 160km xuyên qua biển đá mênh mông. Con đường ấy, Trung ương đặt tên là Đường Hạnh Phúc, thật ý nghĩa. Có cả một nghĩa trang ở huyện Yên Minh hiện nay, dành để tưởng nhớ những chàng trai cô gái đến từ 8 tỉnh của Việt Nam đã ngã xuống cho con đường Hạnh Phúc được ra đời. Tiếp đến là con đường Quyết Thắng dẫn từ Yên Minh ngược thẳng Mèo Vạc rồi vòng qua Đồng Văn cũng chồng chất khó khăn như đường Hạnh Phúc. Bây giờ, chúng ta có hai con đường lịch sử: gồm đường Hạnh Phúc (nối Hà Giang - Yên Minh - Đồng Văn - Mèo Vạc) và đường Quyết Thắng (nối Yên Minh – Mèo Vạc); hai con đường chạy thành hình vòng thúng (gần tròn) như đôi tay bà mụ xâu chuỗi từng bản làng, nâng bước, vực cao nguyên Đồng Văn thức dậy từ hoang sơ, cam khó, tận khổ. Trước khi kết thúc lời “dẫn chuyện” dài dòng này, tôi xin nói về vài chữ nhất nữa: đường Hạnh Phúc là con đường có lịch sử phá đá thủ công nhất, khủng khiếp nhất, đi qua biển đá tai mèo, đá phiến dữ dằn nhất Việt Nam. Một Vạn lý trường thành của Việt Nam. Con đường ra đời, lần đầu tiên 8 vạn bà con sống trong biển đá ngờm ngợp của cao nguyên Đồng Văn được trông thấy cái... ôtô. Đó là một đại công trường mà lịch sử nước nhà không nên quên lãng như chúng ta đã đối xử với nó trong gần nửa thế kỷ qua. (Lưu ý, đường QL6 từ Hoà Bình lên Điện Biên Phủ khoảng 400km được phá đá phát tuyến suốt gần 20 năm, hoàn thành năm 1941 – nên có thời gọi là Đường 41 – do viên Công sứ Pháp Sanhpulốp làm tổng chỉ huy thi công – nên có thời gọi là đường Sanhpulốp. Đó cũng là một con đường mà lịch sử phải đau đẻ khốc liệt lắm mà ngày nay loài người mới có được, song so với đường Hạnh Phúc thì QL6 đã mở trên nhiều miền đất bằng phẳng, với cơ bản là cao nguyên núi đất, lại do thực dân bắt phu phen làm dưới sự thúc bách dã man của sự xâm lăng, của súng ống và doi cặc bò đánh thẳng tay. Đó là một câu chuyện khác hẳn). 11 tháng treo mình trên vách đá để làm được một khúc đường dốc “Tấm bia ghi nhớ sự kiện thanh niên xung phong 16 dân tộc thuộc nhiều tỉnh thành của Việt Nam phải 11 tháng treo mình trên vách đá để mở đường vào Mèo Vạc. Bia đặt trên đỉnh đèo Mã Pí Lèng huyền thoại”. Bây giờ, trên đỉnh Mã Pí Lèng có một tấm bia đá (lại là đá) tưởng nhớ cuộc chiến khốc liệt với đá này, như sau: “Nhân dân vùng núi tiến kịp vùng xuôi. Trung ương Đảng khi về Việt Bắc quyết định mở đường Hà Giang - Đồng Văn – Mèo Vạc. Ngày khởi công 10/9/1959; ngày hoàn thành 10/3/1965. Thành phần mở đường gồm bà con của 16 dân tộc thuộc các tỉnh Cao Bắc Lạng – Hà Tuyên Thái – Nam Định – Hải Dương. Riêng dốc Mã Pì Lèng, công nhân đã treo mình 11 tháng để mở đường”. Những dòng chữ khiêm tốn, giản dị, mờ tỏ trong mây mù ở cái nơi mà nhìn sông Nho Quế chỉ bé như sợi chão vắt ngang các triền thung lũng xanh như có như không ấy chỉ là lát cắt tí tẹo của một cuộc trường chinh dài dằng dặc của tuổi trẻ Việt Nam chiến thắng sự khốc liệt của đá. Kỳ II: 11 tháng treo mình trên vách đá và một khúc đường dốc Cả quãng Đồng Văn – Mèo Vạc hai mươi bốn cây số đường núi đá này phải làm mất một năm rưỡi, nhưng riêng chỗ dốc Mã Pí Lèng, (chiết tự ra là) Xống – mũi - ngựa này thì phải tốn mất mười một tháng treo mình trên vách đá để đục mìn, bổ đá khắc đá ra mà cấn mặt đường vào vách đá đứng thành vại... “Đường Hạnh Phúc Đồng Văn – Hà Giang hiện nay đã thênh thang chạy qua những vách đá cao và rất nhiều ngọn núi ủ trong mây mù. Nhưng, cách đây gần nửa thế kỷ, lịch sử đã ghi tạc: có khi, để tiến lên được 1km đường khảm giữa cao nguyên đá, hàng nghìn thanh niên xung phong đã phải “chiến đấu” với đá tai mèo suốt cả mười mấy mùa trăng. Và ngày nay, chúng ta đã phải có một nghĩa trang riêng để tưởng nhớ những người đã ngã xuống cho con đường Hạnh Phúc được khai sinh…” Bây giờ, trên đỉnh Mã Pí Lèng có một tấm bia đá (lại là đá) tưởng nhớ cuộc chiến khốc liệt với đá này, như sau: “Nhân dân vùng núi tiến kịp vùng xuôi. Trung ương Đảng khi về Việt Bắc quyết định mở đường Hà Giang - Đồng Văn – Mèo Vạc. Ngày khởi công 10/09/1959; ngày hoàn thành 10/03/1965. Thành phần mở đường gồm bà con của 16 dân tộc thuộc các tỉnh Cao Bắc Lạng – Hà Tuyên Thái – Nam Định – Hải Dương. Riêng dốc Mã Pì Lèng, công nhân đã treo mình 11 tháng để mở đường”. Những dòng chữ khiêm tốn, giản dị, mờ tỏ trong mây mù ở cái nơi mà nhìn sông Nho Quế chỉ bé như sợi chão vắt ngang các triền thung lũng xanh như có như không ấy đã chứa trong nó một phần thân phận của hàng triệu ngày công lao động của nhiều nghìn người trẻ trong vài nghìn ngày xả thân lao động và hy sinh… Hàng nghìn người đã cống hiến thời tuổi trẻ hào hùng nhất của mình cho đại công trường đường Hạnh Phúc (còn gọi là Đường Thanh niên Việt Bắc) sẽ mãi mãi không thể quên cái ngày 10/09/1959, khi mà cuộc trường chinh vĩ đại vào trong lòng đá được nổ súng lệnh. Phải mất ít nhất 7 tháng trời để người ta có thể chuẩn bị đủ nhân, tài, vật, lực, bà con 16 dân tộc tỉnh Hà Giang và nhiều tỉnh bạn mới có được sự khởi đầu nan kia. Dụng cụ chỉ là búa, xà beng, cuốc xẻng và sức trẻ xả thân xây dựng cuộc sống mới, hầu như không có sự trợ giúp gì của máy móc. Cả công trường hàng nghìn người trẻ “đập đá vá trời” suốt đêm ngày, mà chỉ có hai cái xe ôtô tải cũ mèm chạy ì ì như công nông và chục con ngựa thồ tiếp phẩm đi lại như con thoi. Thứ duy nhất tiếp sức cho những “ông bà Nữ Oa” xông vào phá đá kia, đó là kíp mìn, thuốc nổ. Dùng xà beng, khoan đục đá, nhét thuốc nổ vào, đá bửa ra, đập đá làm đường. Cứ như thế, 6 năm ròng, hơn 1.000 thanh niên xung phong lúc nào cũng đủ lưu lượng trên biển đá, cộng thêm hơn 1.000 dân công nghĩa vụ nai lưng ra đập đá nữa, con đường Hạnh Phúc có bề mặt rộng 4,5m cho ôtô đi, cứ nhích từng xăngtimét một chiến thắng sự lạnh lùng khắc nghiệt khó tưởng tượng của cao nguyên đá Đồng Văn. Hôm khởi công, ông Trịnh Văn Đảm, 74 tuổi, nay là Phó ban liên lạc thanh niên xung phong tỉnh Hà Giang, người trực tiếp thi công công trình còn nhớ rất rõ: khởi công từ km số 1 (tại thị xã Hà Giang hiện nay) đến km số 10, nhằm ngày 10/09/1959, có Bí thư tỉnh uỷ Hà Giang Nguyễn Văn Xã và Chủ tịch Uỷ ban hành chính (nay là ủy ban nhân dân) tỉnh Dương Mạc Thạch đến dự rất long trọng. Các đồng chí cùng 1.200 thanh niên xung phong tỉnh Hà Giang bổ nhát cuốc đầu tiên phát lệnh khởi công mở đường Hạnh Phúc. Sau 1 năm khởi công, gian khó trong các chặng đường đánh đá (đặc biệt là các trận địa đá nằm cách thị xã Hà Giang khoảng 20km) gian nan quá sức tưởng tượng, được sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Khu tự trị Việt Bắc (bấy giờ Hà Giang là một tỉnh nằm trong sự quản lý của Khu), số lượng thanh niên xung phong có mặt tại công trường đã lên tới con số 1.039 người (!), cộng thêm lực lượng quan trọng nữa là lực lượng công nhân nghĩa vụ thường xuyên có khoảng 1.000 – 1.200 người. Sức người đến từ các tỉnh bạn như Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, giai đoạn sau cả những người trẻ đến từ Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hải Dương... Xin hãy tưởng tượng, hơn 2.000 người hồ hởi dùng cái sức cơ bắp nhỏ bé của mình “gãi” ngày đêm vào khối đá cao cả nghìn mét, dài rộng mỗi bề hàng trăm cây số ấy. Đường Hạnh Phúc mở đến đâu, hệ thống đường về các xã (từ trục đường Hạnh Phúc), hệ thống trường học, trạm xá, hệ thống điện chiếu sáng cũng đã manh nha hình thành hòng đưa miền đá hoang sơ này tiến dần kịp miền xuôi. Một khúc tráng ca của sức người. Một trang sử đá hào hùng. Nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Tố Hữu... đã lên với đại công trường mở đường Hạnh Phúc trên cao nguyên Đồng Văn và xúc cảm về sức người, sự khốc liệt của đá. Trong bài ký “Mỏm Lũng Cú tột Bắc” (đề gửi nhà văn Đoàn Giỏi), ông Nguyễn Tuân viết: “Núi Hà Giang hùng vĩ nhiều cổng trời, ngựa Hà Giang thon vó và mượt mã... Tôi tới Hà Giang nhiều lần, và mỗi lần tới là lại được đi trên những khúc đường, những con đường mới mở. Hình như lúc nào Hà Giang cũng nắn đường, nối đường, mở đường. Mở đến đâu, khánh thành ngay, thông xe ngay, dù chỉ là từng cung một (...). Trên đường vào Mèo Vạc, tôi dừng xe ở dốc Mã Pí Lèng, đúng chân tấm bia đá ghi công những người mở đường. Cả quãng Đồng Văn – Mèo Vạc hai mươi bốn cây số đường núi đá này phải làm mất một năm rưỡi, nhưng riêng chỗ dốc Mã Pí Lèng, (chiết tự ra là) Xống – mũi - ngựa này thì phải tốn mất mười một tháng treo mình trên vách đá để đục mìn, bổ đá khắc đá ra mà cấn mặt đường vào vách đá đứng thành vại. Ba năm trước, cũng vào tiết thu tôi đứng ở mép vực Mã- pí- lèng nhìn dòng sông Nho Quế như thế này. Hồi ấy, phá đá để khai đường, ầm ầm cây lao xuống vực, ầm ầm đá lao xuống dòng sông tít tắp dưới kia, có hòn đá to bằng cái tủ áo nhưng chỉ lộn nhào vài chục vòng là tan vụn ra thành khói. Và ầm ầm vang dậy những cuộc cuốc mìn, nhưng tan hết khói mìn, tan hết bụi đá, thì chỉ thấy tắc đường (...). Đến đây là cùng đường, trước mặt chỉ có đá. Phải gọt đá đi mà tiến vào phía trước. Phải đục đá mà tiến tới. Trong trận đánh nhau này họ là nam nữ trai tráng gồm mười sáu dân tộc và quê hương thuộc tám tỉnh trên miên Bắc...” (Trích Tuyển tập Nguyễn Tuân, nhà xuất bản Hội Nhà văn). “(Lần lượt từ trên xuống) Ông Minh, ông Thuỳ, ông Đảm và ông Sùng Đại Dùng - những người trực tiếp tham gia phá đá mở đường tại đại công trường đường Hạnh Phúc Hà Giang - Đồng Văn kể chuyện với phóng viên Vietimes. Ông Dùng, vốn là người phụ trách công tác Đoàn Thanh niên trong cả đại công trường, sau này là Chủ tịch đầu tiên của huyện Mèo Vạc, làm đến Chủ tịch mặt trận tổ quốc tỉnh Hà Giang (nay đã về hưu)”. Ông Nguyễn Mạnh Thuỳ và khoảng 70 cựu thanh niên xung phong mở đường Hạnh Phúc đang sống ở thị xã Hà Giang hiện nay còn nhớ rất rõ những ngày mồ hôi và máu họ đã đổ trên cung đường phá đá này. Ông Minh, người trực tiếp mở đường vượt Mã Pí Lèng bây giờ vẫn khoẻ, vẫn mũ phớt hào hoa kể chuyện yêng hùng treo mình trên vách đá khoét lỗ nhét mìn. Ông Minh được gặp nhà văn Nguyễn Tuân tại công trường, rồi rất thần tượng ông nhà văn khụng khiệng ấy, để đến nỗi, bây giờ ông nhiễm luôn cả cái sở thích quanh năm đội mũ phớt của “bác Tuân mũi to”. Ông Đảm, ông Thuỳ, ông Minh cùng chùng lòng xuống khi nhắc đến sự hy sinh của đồng đội khi đánh đá vượt Mã Pí Lèng. Danh sách những người nằm lại với đá Đồng Văn trong quá trình mở đường, ông Đảm nắm rất chi tiết. Song, người mà họ nhớ nhất là ông Đào Ngọc Phẩm. Anh Phẩm người Thái Nguyên, đã có vợ và hai con, hy sinh khi đang cùng Đội cơ dũng (đội những người cơ động, khoẻ mạnh, dũng cảm, cảm tử) thi công khúc phá đá nguy hiểm nhất của dốc Mã Pí Lèng. Bấy giờ anh Phẩm đang là đối tượng cảm tình Đảng (có rất nhiều người được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng với lễ kết nạp ngay tại công trường). Đó cũng là thời điểm mà công trình đường Hạnh Phúc sang Mèo Vạc đi vào giai đoạn sắp hoàn thành. “Công nghệ” của chúng ta bấy giờ đã cao! Bằng chứng là Trung ương cấp cho Đội cơ dũng một cái máy khoan (duy nhất một cái), có thể khoan được lỗ trên vách đá nhét thuốc nổ vào (thay vì khoan tay toàn bộ như mấy năm trước, kể từ khi thi công, năm 1959). Đội cơ dũng đã có một sáng kiến tuyệt vời, họ dùng toàn bộ choòng (xà beng 8 cạnh) - trước đây dùng để khoan lỗ nhét thuốc nổ - cắm dọc vách đá xám cao hàng trăm mét Xống-mũi-ngựa. Rồi anh em dùng dây buộc vào các cái cọc (xà beng) cắm chi chít ven vách đá cao cả nghìn mét so với... mặt sông Nho Quế rồi cảm tử đu người trên các sợi dây đó mà dùng máy khoan khoan đá. Khoan lỗ xong, họ lại đu mình trên các sợi dây vắt dọc hàng cọc xà beng trên vách đá mà tìm chỗ nấp nú. Tìm chỗ an toàn, bắt đầu khai hoả nổ mìn. Đá rơi như trời long đất lở. Cứ thế, họ tiến từng bước dọc khối đá to như... quả đất của Mã Pí Lèng, nhích từng xăngtimét vào phía Mèo Vạc. Phá đá vất vả quá, anh em còn sáng tạo ra cách dựng bờ kè giật cấp (nhằm tạo ra những mặt đường rộng 4,5m, kiên cố cho ôtô đi). Trong xây dựng, mép đường phía mép vực sâu gọi là tả luy âm (vì ngã xuống đó dễ đến với cõi âm hơn cả?), mép đường phía vách đá gồm cả khối núi còn lại gọi là tả luy dương. Việc treo mình 11 (là 335 ngày!) tháng vượt Mã Pí Lèng quá sức vất vả, anh em bảo nhau để đỡ tốn sức, đỡ tốn mìn, cho thợ đá lành nghề dùng các phiến đá lớn kê các bờ kè lớn thòi ra phía mép vực để đường được rộng hơn. Đường qua dốc Xống-mũi-ngựa bấy giờ rộng 4,5m. Đỡ tốn sức, tốn mìn phá đá phía tả luy dương. Vì bốn bề là đá, cho nên việc kè giật cấp (mặt đường rộng hơn về phía mép vực so với phần cốt đường) rất là an toàn. Hôm ấy, đánh đá đến khu vực phải phá bỏ cây gỗ nghiến mọc trên vách đá cao, cây to tới 3 người ôm, ai cũng xuýt xoa tiếc của trời đất nguyên sơ. Làm xong, mọi người chuẩn bị nghỉ trong một vách đá lớn thì có hai bố con người đàn ông Mông đi qua. Vách đá quá cao, hòn đá lớn nó lăn như cơn lốc. Anh Phẩm lao ra đẩy hai bố con người thanh niên Mông tấp vào vách đá. Một hòn đá to bằng cái thúng bất ngờ ập tới, nó nện thẳng vào đầu anh Phẩm. Hất anh bay xuống vực. Thi thể anh mắc ở mép đá cách chỗ mặt đường vừa vỡ đá khoảng 900m sâu. Đồng đội, trực tiếp là ông Minh, ông Thuỳ phải khoan lỗ, đóng cọc xà beng dọc mép đá, rồi trườn như con mối dách xuống chỗ thi thể dập nát của anh Phẩm. Dây chão to bằng cổ tay được buộc vào người ông Minh. Nhìn xuống dòng Nho Quế nhờ nhờ trắng, bé tẹo chảy trong sương mù, ai nấy chóng mặt. Nhưng nghĩa tử là nghĩa tận. Khi ông Minh trườn dọc vách đá dựng trời như “người dơi”, sờ được vào xác anh Phẩm thì xác đã đông máu lại rồi. Đá đè, lại thêm lúc rơi, đầu anh Phẩm cắm xuống vách đá tai mèo. Xương sọ vỡ nát, sờ vào da đầu chỉ thấy lạo xạo như cái túi đựng sỏi. Trong đêm tối bịt bùng, anh em ngồi nhìn thi thể người đồng đội xấu số, nghe tiếng nai tác trong rừng nghiến (loại gỗ vào hàng tứ thiết mọc trên núi đá) mà ai nấy rùng mình. Ông Đình là C trưởng quản lý đội của anh Phẩm, ông Vũ Đắc Điểm, bấy giờ là chỉ huy công trường đã có mặt, quan tài được mang đến tận nơi (khu vực Pả Vi), người ta mai táng anh Phẩm gần một gốc đa. Được gặp Tố Hữu, Nguyễn Tuân, lại được xem đoạn phim đen trắng người ta quay mình đang đội mũ đánh choòng (dùng xà beng khoan lỗ nhồi mìn) vào năm 1966-1967, có thể nói, ông Minh trở về từ công trường với tâm trạng của một người thanh thản được cống hiến cho miền Bắc núi đá gian khó của Hà Giang đi lên. Là người Hải Dương xung phong lên đại công trường, rồi ăn đời ở kiếp với Hà Giang, đã quen với núi rừng và chứng kiến nhiều cảnh thảm khốc, song, ông Minh đến tận giờ phút này vẫn bị ám ảnh bởi cái chết của người đồng đội Đào Ngọc Phẩm. Nhìn thấy máu là cái cảnh cheo leo vách đá Mã Pí Lèng buộc mình vào dây thừng, buộc thi thể rập nát của đồng đội vào dây thừng rồi ra hiệu cho người ta kéo lên giữa trời và đá lại hiện về. Vợ ông Minh được hạ lệnh cấm nấu món thịt gì mà nhừ mềm quá. “Nghĩ đến một món ăn mềm mụp là tôi lại buồn nôn, lại buốt lòng nghĩ đến người đồng đội xấu số đã chết ở Pả Vi năm xưa” – ông Minh nói rồi câm lặng nhìn ra sông Lô đục nhờ đầy lau lách giữa thị xã Hà Giang thời mới. Với những thanh niên xung phong như ông Minh, cái thuở hào hùng phá đá làm đường vào Mèo Vạc kia đã thực sự làm thay đổi đời họ và sẽ hoài niệm ấy sẽ còn theo họ đến suốt cả một đời. Ông Hoàng Văn Hộ nhớ mãi ngày mình cứu sống ông Ngô Minh Hoà, người ở Gia Lộc, Cao Lộc, Lạng Sơn. Sắp nghỉ rồi, trông thấy hòn đá “ngon ăn” quá, đá to bằng gian nhà nằm lểu bểu bên mép vực. Ông Hoà bảo, để tao “ăn” (đẩy xuống vực mở đường) nốt hòn này cho nó gọn, rồi đi ăn trưa nhân thể. Ông Hộ can ngăn vì thấy mép vực quá sâu mà hòn đá thì chông chênh, cái “biển đá” ấy nó có thể kéo những con người nhỏ bé! Nhưng ông Hoà (bấy giờ ngoài 20 tuổi) vẫn quyết tâm “ăn” hòn đá kia. Ông dùng một cái xà beng, đu người lên bẩy. Cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng cả trái đất lên, kiếm cái tay đòn (xà beng) dài một chút. Để an toàn, ông buộc dây vào ngang lưng mình, một đầu buộc vào cái gốc gỗ nghiến cây to bên lề đường. Ai dè! Hòn đá văng đi, cái xà beng bật lên như cái cật tre, vút bay xuống ngàn mét vực sâu, biến mất đến… tận bây giờ. Viên đá lăn như một mảnh của “Ngũ hành sơn” trong Tây Du Ký. Ông Hoà bay theo, dây an toàn giữ ông lại với gốc cây nghiến, nhưng gốc cây cũng bị núi lở làm cho sắp bị kéo xuống vực. Tất cả diễn ra trong tích tắc, như một cú trời long đất lở Ông Hoà cố bám dây leo lên, vừa lúc ông Hộ kịp ra cứu. Vừa cắt dây an toàn thì cây nghiến như bị Thạch Sanh đánh gốc, dần dần, từ từ lăn xuống hẻm núi. Mãi sau này, ông Hộ và ông Hoà gặp nhau vẫn thấy sự kinh hãi trong cú bạt núi “kinh thiên động địa” ấy. Ông Hoà thường đùa, lẽ ra tôi đã chết hôm ấy rồi, giờ thì khó chết lắm đấy. Vậy mà, tuổi già đã kéo ông Hoà đi về thiên cổ cách đây chưa lâu. Ông Nguyễn Văn Đức đang hào hứng với việc kè đá tiến dần cho đường ôtô vào đến khu vực nhà của Vương Chí Sình thì bỗng dưng bị khối đá bứng đi. Ông lao sang bên kia mép vực, đầu gối húc vào mép đá cao, thủng cả cái quần kaki mới diện. May sao, trong tích tắc, trời cho ông bám được một rễ cây ở bên kia mép vực. Và ông leo lên, rễ cây vẫn không bị… đứt. “Bộ trưởng Bộ Giao thông lúc bấy giờ, ông Phan Trọng Tuệ (áo trắng, đang cười, đứng thứ 9 từ trái sang) tại lễ thông xe đường Hạnh Phúc Hà Giang - Đồng Văn. Ảnh chụp tại Đồng Văn. Ông Đảm áo đen, thứ hai từ trái sang. Ảnh do ông Đảm cung cấp”. Thật ra thì, xét kỹ, trong hàng vạn lượt thanh niên xung phong, thanh niên nghĩa vụ làm đường Hạnh Phúc trong suốt 5 năm trời kia, công tác an toàn lao động đã được thực hiện xuất sắc. Sự hy sinh tính mạng như kể là vô cùng thảm khốc, vô cùng đau xót, nhưnng cũng là ở mức… không nhiều. Sức cống hiến và con đường tiến từng xăng ti mét vào Đồng Văn - Mèo Vạc của nhiều nghìn lượt người trẻ mới là kỳ vĩ. Mới là ngoài sức tưởng tượng. Có câu chuyện rất thật mà nhiều cựu thanh niên xung phong làm đường Thanh niên Việt Bắc cùng kể với tôi, rằng: chính những người tối mặt tối mũi chiến đấu với biển đá, trong suốt 5 năm ròng kia, họ cũng không có lúc nào ngẩng mặt lên cổng trời để thấy những gì mình vượt quá nó vĩ đại tới mức nào. Mãi sau này, ngồi ôtô, ở tuổi cổ lai hy, vượt cổng trời Quản Bạ, rẽ mây mù Mã Pí Lèng, anh chị em mới cùng thót tim: độ ấy mình hăng thật! Tuổi thanh niên như chim tung bay thật! Nếu ai đã sống trong những ngày, tại công trường có tổ chức cả triển lãm về tấm gương khi tổ quốc cần, sẵn sàng tự chặt tay mình ngoài trận tuyến La Văn Cầu; tấm gương đội đất rụng trụi cả tóc mây của nữ anh hùng thuỷ lợi Trần Thị Vách; triển lãm về phong trào cờ Ba Nhất, gió Đại Phong, sóng Duyên Hải… thì mới cảm nhận được cái tráng chí xả thân của người trẻ trên công trường làm đường Hạnh Phúc lúc bấy giờ. Sự chờ đợi của tám vạn đồng bào Đồng Văn – Mèo Vạc, ở phía sau mấy cái cổng trời; những người chưa hề biết đến bánh xe tròn từ cuộc sống văn minh kia mới là lời hiệu triệu thiêng liêng nhất. Tổ quốc nơi địa đầu đang đang gọi người trẻ xông lên tuyến đầu để được cống hiến. Tuổi trẻ, bao giờ cũng là như thế. Kỳ III: Hạnh Phúc của những trang sử đá Sáu năm trời ròng rã, tính ra, ít nhất có tới hai triệu ngày công các chàng trai cô gái quằn quại đánh nhau với đá. Và họ đã chiến thắng đá. Hơn tám vạn đồng bào sống sau mấy cái cổng trời đã lần đầu tiên được thấy cảnh ôtô lăn bánh vào quê hương mình. Liệu có niềm kiêu hãnh nào hơn thế, hỡi những phu đường thiện nguyện tuổi đôi mươi? Có nhiều người đã ngã xuống khi con đường chưa được hoàn thành, nhưng dọc đường làm đường ôtô chinh phục cao nguyên Đồng Văn, từng khúc núi được phá đá, anh em đã gọt đá tạo những tấm bia tạc tên đơn vị thi công, tạc tên quê quán anh em “phu đường”, đồng thời ghi rõ ngày khởi công ngày khánh thành cung đường khảm giữa đá. Đã có hàng trăm trang sử đá như thế. Cũng có nhiều người đang buồn da diết vì cái nỗi đường rải nhựa ngày mới này, công nghệ làm đường thời mới của thế kỷ 21 đã nhẫn tâm xoá hết những dấu tích của con đường xưa, kể cả những tấm bia đá tạc. Một thái độ không phải tí nào với xương máu và mồ hôi của cha anh. Có người lại uất ức vì thế hệ cán bộ tỉnh bây giờ thậm chí không cho các cựu Thanh niên xung phong nghèo một chuyến ôtô thăm lại chiến trường xưa. Hàng trăm người ở nhiều tỉnh, đề đạt mãi, xin xỏ mãi vẫn chưa một lần có kinh phí để được họp mặt anh em, để được trở lại Quản Bạ Yên Minh - Đồng Văn – Mèo Vạc mà họ đã oai dũng cống hiến một thời; để sống lại một lần nữa cái thời hào hùng “chân đi nát đá dạ còn ngẩn ngơ” ấy - trước khi về với ông bà tổ tiên. Nhiều người đã ở tuổi gần đất xa trời. Vẫn chưa được coi là cựu Thanh niên xung phong, chưa được nhận kỷ niệm chương Thanh niên xung phong. Có người, khi ban liên lạc cố công làm hồ sơ để vinh dự được nhận kỷ niệm chương, đồng đội chưa kịp làm lễ trao thì “cụ” đã tịch. Mỗi lần gặp lại đồng đội từng “vào sinh ra tử” với đá sáu năm trên cao nguyên đá, họ đều ngậm ngùi khóc. Tuy nhiên, dẫu dỗi hờn, tủi tủi một chút, những người cầm xà beng thực hiện cuộc trường chinh lớn nhất lịch sử dân tộc vào trong lòng cao nguyên đá vẫn hiểu rằng: không có ai quên lãng cái thuở phá đá mở đường ấy cả. Cái gì thuộc về lịch sử thì lịch sử tự khắc biết giữ gìn và tôn vinh. Đó là một kỳ tích, mà đời người ta không phải ai cũng may mắn được tham gia, để thấy mình đã sống không vô nghĩa, đã biết tình nguyện cống hiến vì những đồng bào chịu nhiều thiệt thòi sau rất nhiều dãy núi đá. Quan trọng hơn, là họ đã trưởng thành từ trong gian nan của biển đá. Phần 1: Đá mọc trên đầu người thì Việt Minh mới mở được đường vào Đồng Văn! Đường Hạnh Phúc năm 2007, vẫn chon von thách thức trong hun hút mây mù, người Mông vẫn còn nghèo, đi chân đất hái cỏ ven đường nhựa. Nhưng, nhớ cái ngày phỉ nó thách “đá mọc trên đầu người” thì Việt Minh mới mở được đường qua cổng trời thì sự thức dậy của cao nguyên Đồng Văn quả là một kỳ tích. Như một giấc mơ. Theo cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Giang, tập 2 (1955-1975, xuất bản năm 2000 thì: “Ngày 14 tháng 12 năm 1959, chúng (phỉ) đánh chiếm Lũng Phìn (...) bắt và mổ bụng hai cán bộ thương nghiệp, bắn chết hai người dân địa phương. Ngày 20 tháng 12 năm 1959, Phàn Chỉn Sài chỉ huy một toán quân đánh vào Na Khê, sau đó xuống Bạch Đích bắt hai cán bộ huyện treo lên cành cây làm bia cho bọn phỉ tập bắn”. (Sđd, trang 141). Con đường Hạnh Phúc - Đồng Văn - Mèo Vạc được mở bắt đầu từ năm 1959 đến năm 1965 mới xong, giữa lúc thi công thì có sự kiện buồn: nổi phỉ. Những phần tử lầm lạc của thời ấy đã đóng cổng trời, mổ bụng cán bộ, giết nhiều người. Thậm chí anh em nằm lán còn không dám thắp đèn măng-xông sợ phỉ nó lăn đá sát hại. Thêm nữa, người Pháp, vẫn được xem là con ma xó chăm chắm lo khai thác cái vựa thuốc phiện nổi tiếng trên toàn cõi Đông Dương của cao nguyên Đồng Văn (với sản lượng 25 tấn/năm, lớn nhất trong các “vựa” ở Việt Nam), nhưng, họ vẫn chưa bao giờ làm được một khúc đường ôtô vào Đồng Văn Mèo Vạc. Các nữ TNXP lao động tại công trường Đồng Văn – Hà Giang với hình thức “giải phóng đôi vai”, dùng băng ca vận chuyển đất đá. Ảnh chụp ngày17/7/1960 (tư liệu) Chỉ có đường mòn, đường của ngựa thồ. Điều đó đủ để chúng ta hiểu nổi gian nan khi mở đường Hạnh Phúc. Và sự trắc trở trong giao thông là nguyên nhân chủ yếu khiến vùng đất mênh mông đá này chìm trong mông muội suốt một thời gian dài. Còn nhớ, khi con đường rậm rịch được mở, những phần tử chống đối (phỉ) tung tin nghi ngờ: bao giờ đá mọc trên đầu người thì Việt Minh mới mở được đường vào Đồng Văn. Bao giờ con dê đực nó biết đẻ, bao giờ ngôi mộ người làm đường biến thành cỏ dại thì đường mới vượt qua được Mã Pí Lèng. Ông Sùng Đại Dùng, nay là Phó Chủ tịch mặt trậntổ quốc tỉnh Hà Giang, nguyên là người phụ trách toàn bộ Đoàn viên trong toàn bộ lực lượng Thanh niên xung phong ở đường Hạnh Phúc nhớ lại: nhà tôi giờ vẫn ở đầu cầu Gạc Đì này, đường khởi công từ cổng nhà tôi mà ngược mãi về phía Bắc, vào tận Mèo Vạc. Độ ấy, khởi công tháng 9 năm 1959, vừa thi công được 9km đầu tiên thì nổi phỉ. Phỉ nó vận động nhiều bà con thôi không tham gia làm đường nữa, cầm súng bắn lại người cách mạng. Phức tạp quá, trên mới điều nhiều thanh niên xung phong quay sang sửa sân bay để (dự định sẽ) nhảy dù xuống Lao Và Chải tiễu phỉ. Ta bắn moóc-chie vào đám phỉ ở chỗ cổng trời Cán Tỷ, phỉ nó bỏ chạy, nhiều tên thịêt mạng. Xong đâu đấy, tỉnh mới có chỉ thị, giao cho tôi đi tuyển và đón thanh niên các tỉnh lên giúp Hà Giang làm đường Hạnh Phúc, “chinh phục” cao nguyên Đồng Văn. Khổ sở nhất là vách đá chỗ từ cây số 17-20 của đường Hạnh Phúc, toàn bộ là khoan tay, mất mấy tháng trời mới vượt qua được vài cây số này. Còn đoạn Mã Pí Lèng, phải khiêng nước từ dưới vực sâu lên, đổ vào lỗ khoan tay, treo mình trên vách đá, anh em khoan kẽo kẹt từng xăngtimét đá một. Người ta tính ra, nhiều đoạn, mất đến hơn 20.000 ngày công cho một cây số đường vỡ đá, xếp đá, kè đá (không rải chất liệu gì lên trên) để ôtô ì ì đi được. Lại có người buồn bã thống kê, có khi, hai mùa trăng qua đi, mà con đường Hạnh Phúc bị đá tảng án ngữ, chỉ tiến lên được có một khúc chưa đầy trăm mét. Rõ ràng, từ xưa đến nay, ngay cả bố con “vua Mèo” Vương Chính Đức, Vương Chí Sình thuốc phiện mênh mông, tiền bạc và quyền lực đổ núi nghiêng trời trên cõi Đồng Văn, họ cũng có dám làm đường đâu. Họ phải cho lính dõng và phu phen khiêng võng khiêng cáng rồi cưỡi ngựa ba ngày ròng mới vượt đường hẻm núi đi từ Sà Phìn ra đến ngoài thị xã cơ mà. Khi Vương Chí Sình là đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (năm 1946) rồi, Bác Hồ mời ông ta về Hà Nội họp hẳn hoi, ông ta cũng vẫn phải tuyển tráng đinh được trời sinh có từng đụn thịt đệm dưới gan bàn chân (như chân mèo, chân báo) để khênh ông ta từ Sà Phìn (Đồng Văn) ra thị xã Hà Giang (từ đó có ôtô đón) cơ mà. Phải đi mất ba ngày đường ròng rã. Vậy mà cái đường mòn ấy, người Pháp và người các thổ ty người địa phương vẫn phải giao cho chức sắc ở từng xã, từng bản phụ trách “duy tu bảo dưỡng” cực kỳ nghiêm khắc (để một hòn đá lăn ra đường quan là chức sắc địa phương dính đòn quan trên) thì ngựa và người đi bộ mới đi được đấy. Như thế thì làm gì có ai tin được là: người cán bộ miền xuôi “bạch diện thư sinh” của “Chính phủ Cụ Hồ” có thể làm đường ôtô vào Đồng Văn được?! Song, thực tế thì con đường, dù gian khó vẫn lùi lũi từng ngày từng giờ chiến thắng sự thống trị của cao nguyên đá. Cao nguyên như bé nhỏ dần sau mỗi khúc đường thông xe, và một tấm đá của cao nguyên lại được những anh thợ trẻ người Ninh Bình, Nam Định đẽo gọt thành một tấm bình phong có khắc chữ “Km... Đường Hạnh Phúc Hà Giang - Đồng Văn. Lực lượng thanh niên tỉnh X. thi công.... Khởi công ngày...; hoàn thành ngày...”. Ngoài việc dũng cảm phá đá tiến từng xăngtimét vào cao nguyên đá khắc nghiệt, anh chị em rất tích cực tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống tại các lán công trường thiếu thốn, khắc nghiệt (ảnh chụp năm 1960) Có sức người sỏi đá cũng thành cơm. Đường rồi cũng tiến vào đến tận “dinh vua Mèo” (di tích nhà Vương hiện nay). Khi ông Vương Chí Sình chết, khoảng năm 1962 gì đó, ôtô đã có thể đưa thi hài của ông vào đến tận xã Phố Cáo rồi cơ mà. Từ đó, người ta chỉ khênh một thôi đường nữa là về đến nơi an táng (thay vì đi bộ ba ngày như trước kia). Bấy giờ, ông Đại Dùng được trên điều về làm Chủ tịch Uỷ ban hành chính (Ủy ban Nhân dân) đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của huyện Mèo Vạc - địa danh hành chính cấp huyện vừa mới tách ra từ huyện lớn Đồng Văn. Có đường mới dám tách huyện. Khi đường mở vào đến trung tâm huyện Đồng Văn (bấy giờ mấy huyện miền Bắc núi đá hiện nay cơ bản nằm trong một huyện lớn Đồng Văn) thì niềm vui mở đường lên đến đỉnh điểm. Bộ trưởng Bộ Giao thông, ông Phan Trọng Tuệ lên tận Đồng Văn dự lễ thông xe cơ mà. Khi qua Sà Phìn (nhà Vương), thông xe, mấy ông già trong bản, ra sờ thử cái ôtô kỳ lạ (lần đầu tiên trông thấy) rồi bảo nhau. Con ngựa này to hơn con ngựa ở bản, chẳng thảo nó chạy nhanh thế”. Cựu Thanh niên xung phong Viên Chi Anh (Lạng Sơn) tham gia mở đường Hạnh Phúc nhớ mãi cái cảnh: xe ôtô thông đường đi rồi, 3 cây số sau, bà đứng vệ đường để ý, vẫn nghe văng vẳng tiếng sủa đồng loạt của hàng trăm con chó trong bản vắng. Có lẽ, loài vật trung thành và hồn nhiên cả đời mù mịt ở nơi thậm hoang sơ kia, chúng không thể tưởng tượng được rằng: trên cõi trần lại có một con quái vật kỳ lạ đến từ nền văn minh kỹ trị - là cái… ôtô! Ông Nguyễn Mạnh Thuỳ thì kể câu chuyện ở Đồng Văn, mấy người già nằm sấp xuống mặt đường ngó kỹ càng cả gầm xe ôtô rồi đưa ra kết luận: con ngựa - xe ôtô – này không biết nó ăn cái gì mà đi khoẻ thế. Tao sờ vào nó, nó không vẫy đuôi. Nó cũng không cho tao cưỡi thử, tao ghét nó, thể nào nó cũng ốm chết. Lúc xe chạy, khói tuôn ra, cụ lại bảo: đấy nó bốc khói, sắp chết cháy; lúc đèn phanh đỏ, đấy, nó cháy, lửa cháy hết cả đít con ngựa sắt rồi. Đít nó thành than rồi. Nói thì bảo kể chuyện tiếu lâm, nhưng đúng là niềm vui của tám vạn bà con chưa bao giờ biết đến cái đường ngoài đường mòn bé tẹo chỉ để đi bộ và để ngựa nó đi là rất lớn. Niềm vui của bà con rất mộc mạc. Ông Sùng Đại Dùng, người được giao phụ trách công tác đoàn Thanh niên của toàn bộ đại công trường mở đường Hà Giang - Đồng Văn hồi ấy kể:“Năm 1962, khi sắp thông đường Hà Giang Đồng Văn, phỉ vẫn quấy nhiễu. Ta tiến hành xử bắn một số tên sừng sỏ, như Vàng Chỉn Cáo để làm gương...”. Khỏi phải nói ông Dùng – sau là Chủ tịch uỷ ban hành chính huyện Mèo Vạc – vui đến mức nào khi mà con đường mà tham gia máu thịt để xây dựng đã kéo vào tới cái huyện mà ông làm lãnh đạo. Vả lại, hơn ai hết, ông Dùng là người cực kỳ thấm thía cái khổ của những ngày Đồng Văn chỉ có duy nhất đường mòn vượt qua ba cái cổng trời. Bấy giờ ông làm lính vệ quốc quân, phục vụ tiểu đoàn của lính dõng của “thủ lĩnh” Vương Quỳnh Sơn. Mỗi lúc “cấp trên” đi đâu, ông Dùng và các phu được thuê để khuân vác lại lục tục đi bộ, cõng lúc lỉu những quần áo, chăn màn, một khẩu súng Mỹ và 50 viên đạn đồng. Ông “sếp” thì cưỡi ngựa, ông Dùng và phu phải lục tục cuốc bộ theo sau. Sếp dừng thì ông Dùng và mã phu lại chạy vạy kiếm thóc cho ngựa ăn, lấy nước cho ngựa uống, trải chăn chiếu mắc màn bóp chân, tẩm quất cho sếp sau cả ngày trời trồi thụt trên lưng ngựa. Sáng ra lại đóng gói lên đường từ lúc trời còn tinh sương. Ngày đầu, leo núi từ Phó Bảng, quan Yên Minh, leo dốc cổng trời, nghỉ đêm ở Cán Tỷ... Đêm thứ hai ngủ ở Quyết Tiến. Đi như thế, suốt ba ngày trời thì ra đến thị xã Hà Giang. Cho nên, khi con đường ôtô vào đến Mèo Vạc, ông Dùng cảm nhận rất rõ sự thức dậy của cao nguyên Đồng Văn vòi vọi núi và xám ngoét đá. Ông hiểu sức con người thật kỳ diệu. Kỳ III: Hạnh Phúc của những trang sử đá Những ngày mưa dầm gió bấc, sống trên đá lạnh đến dưới âm mấy độ. Gió rít, rét buốt như muốn long từng đốt ngón tay ngón chân ra. Lại càng đói. Đói hơn là khi đường tiếp phẩm bị sạt. Cả chục ngày ngựa thồ và xe tải không vào được. Anh em bảo nhau ăn ngô sống tự cứu mình trước khi trời cứu! Những cảnh mở đường phá đá kỳ vĩ như thế này, vẫn và sẽ còn diễn ra trong công cuộc đưa miền núi tiến kịp miền xuôi của chúng ta! Phần 2: Bí đỏ muôn năm, vạn tuế su su... Năm nay 67 tuổi, ông Nguyễn Mạnh Thuỳ, cựu thanh niên xung phong làm đường từ Đồng Văn qua Mã Pí Lèng vào Mèo Vạc nhớ rất rõ nỗi khổ và cả tinh thần lạc quan các mạng của hàng nghìn thanh niên đem da thịt phàm trần chọi nhau với miên man núi ở cái nơi nhiều đá nhất Việt Nam ấy. Ông kể, anh em thanh niên xung phong, từ Đồng Văn, có khi muốn ra tỉnh phải đi bộ, chờ xe mất đến mấy ngày trời. Cả tỉnh Hà Giang có hơn hai chục cái xe, cái nào cũng cũ nát như... công nông. Ông Đỗ Đức Mai, hơn ai hết là người rõ nhất “nội tình” này, bởi ông là người được tổ chức điều từ Lạng Sơn lên làm công tác cung ứng lương thực thực phẩm cho đoàn người mở đường trên đá vào Đồng Văn. Ông cho biết, cả công trường khi ấy chỉ có 10 con ngựa thồ và hai cái xe tải cũ do hai ông Quang và Bình lái. Đường mới vỡ đá, cua quá gấp, lại bị sạt lở, nên cả hai cái xe đều được anh em nhớ như in là nó đã từng hơn một lần rơi… xuống vực. Kỷ niệm đau nhất của ông Mai, không chỉ là những hình nhân xanh như tàu lá vì sốt rét ác tính, những cuộc “tống tiễn” thê lương vì “giữa đường đứt gánh” của những chàng trai cô gái trẻ chốn rừng thiêng nước độc – mà lại là một… bữa ăn. Đơn vị cả trăm người thuộc C Lạng Sơn các ông, bấy giờ lương thực khan hiếm, ông là cấp dưỡng, bèn cho người vào bản mua một ít đậu phụ của người Mông về, thả vào nồi nước nấu lên làm canh - kiêm làm thức ăn. Có khi “cơm” hết cả gạo tẻ, phải nấu bằng gạo nếp thật nhão, quấy đều lên rồi cứ thế sột sệt ăn. Nghĩa trang tại Yên Minh, nghĩa trang dành riêng để tưởng nhớ những người đã ngã xuống cho con đường Hạnh phúc Hà Giang-Đồng Văn được ra đời; bên cạnh là cảnh những cựu thanh niên xung phong năm xưa, nay đã nên ông nên bà trở lại khóc thương đồng đội đã hy sinh. Cấp trên đến thăm nhà bếp, nhìn cảnh nồi canh đậu lõng bõng, nhạt tèo; “thủ trưởng” mắng nhà bếp: các anh cho đồng đội ăn cái gì thế này. Thế này thì sống và đánh nhau với đá, với thổ phỉ thế nào được? (Canh đậu) Có khác gì cá bơi trong chậu nước không? Khi được trả lời là mưa lũ, đường sạt, xe tiếp phẩm không vào được, biết làm sao? Thì cấp trên ngậm ngùi… gạt nước mắt. Anh em Thanh niên xung phong ở xã Đoàn Kết, phải phân nhau trực ban lếch thếch xách xô xuống tận sông Nho Quế gánh nước về nấu nướng. Mẹ ông Thuỳ ở quê tít dưới Hải Dương, nghe tin con lên rừng phá núi đá cứ khóc thút thít suốt, bảo: ở rừng xanh núi đỏ thế biết có sống được không. Cuộc sống đạm bạc, thiếu thốn đủ thứ, từ ngọn rau xanh đến giọt nước khe suối, song phần việc mà hàng nghìn công nhân tiến từng bước, vần phá từng cục đá bằng sức lao động thủ công của mình thì thật kỳ vĩ. Bà Viên Chi Anh (thanh niên xung phong Lạng Sơn), hồi ấy đôi tám xuân xanh, chặn trước mũi xe ôtô của đồng chí Trưởng ty Giao thông Lạng Sơnđể được xông phá ra đại công trường, kể: “Chúng tôi đưa ra thành khẩu hiệu. Làm ngày làm đêm, làm thêm tí gà gáy. Luyện tay thành chai/ luyện vai thành ụ. Về sau giải phóng đôi vai chuyển sang khiêng đất đá bằng băng ca, hoặc cải tiến dùng hai cây nứa đặt thành hai đường ray vận chuyển đất đá. Chúng tôi là nữ, mà dám buộc dây an toàn, treo mình trên vách đá cao". Tay búa, tay troòng, một mình khắc tự xoay sở quai búa, khoan choòng. Mà một tay tôi 3 cái mũi troòng cơ. Một mũi 30cm dùng để mở lỗ, tức là lấy búa đục mũi troòng vào đá. Khi có lỗ nhỏ rồi, bèn rút mũi troòng 60cm ra,đút vào, đục đá tiếp. Cuối cùng là rút cái troòng dài 1,2m ra thay cho cái troòng 60cm.Đúng là dũng sỹ. Tôi nhớ, có hôm trời mưa phùn trong mây mù từ sáng đến tối, ở khu vực cổng trời. Lúc tôi treo mình trên vách đá khoan nhiều tiếng đồng hồ xuống thì anh em phát hiện ra ở chỗ “eo” tôi có một vệt sạch sẽ, ướt sẫm như tôi đang thắt cái dây lưng ai đó mới tặng. Nhìn kỹ thì hoá ra đó là vệt của cái dây an toàn tôi đã treo mình suốt cả một ngày. Chỗ ấy không có bột đá bám và không thể khô được (vì dây an toàn dính mưa chưa khô, ngậm nước áp vào đó suốt ngày)... Tôi được có năng khiếu đàn hát, tấu hài, nên được tuyển vào đội văn nghệ phục vụ công trường nên cũng đỡ vất vả hơn. Nhưng, lúc làm thì chả biết ai khổ hơn ai. Nằm trong lán, khỉ chạy ào ào như... gió ở ven rừng. Lợn rừng, nai thì nhiều vô kể. Bà con quý thanh niên mở đường lắm, có vài tàu rau cải, vài quả trứng gà họ cũng mang sang cho. Mỗi lúc họ thịt bò, có khi họ xách cho cả một đùm 5-7kg, cứ là ăn ngấu nghiến như tráng sỹ Lương Sơn Bạc. Sợ nhất vẫn là nạn thiếu nước sinh hoạt. Nước sinh hoạt mang từ sông suối xa tít tắp về, cán bộ cho vào kho khóa lại cẩn thận, bảo quản như báu vật. Mỗi sớm mai, anh em mỗi người được nhà quản lý mở cửa kho, phân phối một ca nước vừa đánh răng vừa tận dụng cho hàng chục các nhu cầu khác nhau mà có lẽ chỉ rơi vào hoàn cảnh ấy người ta mới hình dung được tại sao mình lại sáng tạo ra được cái chu trình tiết kiệm nước tài tình đến thế. Mỗi tuần, anh em được chiếc xe tải cũ như cái chuồng gà của công trường chở lên Phó Bảng tắm một lần. Các thi sỹ cấp công trường cũng đã làm thơ về tình trạng này, rất “kinh điển”, như sau:“Hiếm ngọn rau xanh vì thiếu nước Bí đỏ muôn năm, vạn tuế su su và cải có lông”. Nước thiếu, rau không trồng được. Chỉ ăn những thức ăn củ quả có thể dự trữ lâu dài như su su, bí đỏ quanh năm. Rau cải là thứ rau hiếm hoi mà bà con bản xứ trồng được. Giữa rừng, giữa núi nhưng rau là thứ thiếu hơn cả ngô, gạo, có thể do thói quen canh tác của bà con; có thể nơi này toàn đá, quá ít đất để gieo trồng. Món truyền thống anh em thỉnh thoảng được thưởng thức ấy là rau “cải tuốt nách”. Vì học cách của nhiều bà con: nước không có, hái rau cải từ nương về, họ cặp từng mớ lá rau vào nách (khi mặc áo) mình, tuốt một cái cho rũ bớt đất, rồi đem nấu cho nó... ngọt nước. Chén cải tuốt nách mãi hoá ra quen, “ăn bẩn sống lâu”. Nói vậy chứ, có bí hay là rau cải ăn đã phúc (bí đỏ muôn năm/bí xanh vạn tuế). Thường xuyên thanh niên mở đường phải uống nước suối đun sôi, thả vào đó vài miếng sắn (khoai mì) lát mỏng, gọi là canh sắn cho nó có chất rau củ quả, đỡ háo, giải nhiệt". Cơm nhiều khi chỉ có mắm tôm “khô”, lúc ăn rang lên trên chảo nóng. Nhưng chảo thì nóng mà mỡ lại không có. Mắm tôm trưng, không có mỡ thì nó có mùi… đáng sợ lắm. Nhưng, thà như vậy còn màu mỡ rêu cua hơn là ăn cơm không. Ông Hoàng Văn Hộ, C Lạng Sơn mỉa mai kể. Huy hiệu được “chế tác” với hình cổng trời Quản Bạ, “phiên hiệu” riêng cho những người đã hoàn thành đường Hạnh Phúc (kèm theo đó là giấy chứng nhận) Thiếu nước tới mức, theo như ông Thuỳ, nữ thanh niên xung phong, đến ngày “thấy tháng”, cũng vẫn phải chịu chế độ nước... phân phối (nhưng có “nới tay” thêm một hai ca). Bình thường, mỗi người chỉ được khoảng một hai lít nước cho một ngày. Chỗ khe lấy nước thì nước cứ chảy từng giọt một. Mỗi A (khoảng 12 người) đều cử 2 người đi tìm nước khe gánh về phục vụ đồng đội phá đá. Hai người ấy, hai công điểm ấy, được coi như người đi lao động bình thường. Có khi đi lấy nước còn vất vả hơn đi khoan lỗ troòng phá những núi đá chất ngất từ sáng đến tối. Gáo nước của anh em được quay vòng phát huy tác dụng tối đa: rửa mặt, cất đến chiều rửa chân tay (vì khi đi làm đeo giày bata, chân và bít tất rất... bốc mùi); đêm giặt bít tất; giữ nước lại kẻo nó bốc hơi để hôm sau dùng nước ấy đổ vào lỗ choòng khoan đá mở đường. Trong khi đó, mở đường vượt qua Đồng Văn, sang đỉnh Mã Pí Lèng, anh chị em mới chợt nhận ra cái chân lý đau đớn cho dòng sông Nho Quế lãng mạn: nước sông Nho Quế là thứ nước chỉ để nhìn chứ không thể ăn được. Không một ai đủ sức đi bộ xuống vực sâu ngàn mét, sờ thử xem dòng nước chảy lưng chừng trời Nho Quế ấy có phải là nước thật không. Là nước thì có ăn được không. Con sông chảy như trôi trong mộng, còn cơn khát sau cả ngày treo mình trên vách đá đục đánh đá lại gào réo rất thực. Thành ra, nhìn sông mà khát, thì nỗi khát cứ lớn mãi lên. Chiều về là anh chị em náo nức đem choòng (xà beng, mũi khoan) ra mài rũa cho nhọn sắc phục vụ cuộc chiến đấu mới bắt đầu từ tờ mờ sớm mai. Bởi, có phong trào thi đua hẳn hoi, có chế độ đường sữa cho những người có thành tích lao động hẳn hoi, và trên hết là tinh thần hăng say, sự xả thân cống hiến vì đại công trường của tổ quốc. Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ biết dành phần ai? Ai trong anh em cũng phấn đấu để trở thành kiện tướng đục choòng – có danh hiệu hẳn hoi, giống như một thời miền Bắc xã hội chủ nghĩa có khái niệm về kiện tướng chăn trâu!Có mấy sự kiện, nước rất hiếm ở Sà Phìn, chỗ dinh “vua Mèo” Vương Chí Sình; anh em vui như bắt được mỏ vàng khi ai đó tìm ra một nguồn nước ngầm ở khu vực Lũng Cẩm. Nhớ hồi về tá túc ở nhà Vương, C Lạng Sơn (đơn vị người Lạng Sơn) vớ được mấy cái chum nước mưa bằng đá nhung nhúc con cung quăng. Chị em lấy vải màn căng làm 3 lớp, lọc đi lọc lại mà vẫn chưa hết cung quăng. Cái con vật trơn truội, nhung nhúc, câm lặng ấy thật đáng sợ. Nó cứ bám theo từng gáo nước như một bóng ma ác. Khát, đói, vẫn phải ăn nước trong cái chum ấy. Nhưng rồi, đàn cung quăng đã đi vào tận giấc mơ hãi hùng của nhiều thiếu nữ xung phong mở đường Hạnh Phúc. Có khi, vừa lọc xong, có anh chị em sơ ý đánh rơi cả miếng xà phòng làm chum nước hắc xì, vẫn phải bảo nhau cố mà… ăn. Tìm nước trong hốc đá tai mèo, có khi sức trai gái đương xuân, đi đến kiệt sức chưa gặp một giọt. Di tích nhà Vương (thường gọi là Dinh "Vua Mèo") nay đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng. Kiến trúc cổ, trong một thung lũng đẹp xanh rì sa mộc và các loài hoa dại. Trong đó, là một kho huyền tích về cha con Vương Chí Sình, người thường được gọi là Vua Mèo. Nhưng, với cuộc trường chinh vào tronglòng đá mở đường Hạnh Phúc, khúc đường qua di tích nhà Vương là trắc trở, hiểm nguy với khí hậu khắc nghiệt bậc nhất. Những ngày mưa dầm gió bấc, sống trên đá lạnh đến dưới âm mấy độ. Gió rít, rét buốt như muốn long từng đốt ngón tay ngón chân ra. Lại càng đói. Đói hơn là khi đường tiếp phẩm bị sạt. Cả chục ngày ngựa thồ và xe tải không vào được. Anh em bảo nhau ăn ngô sống tự cứu mình trước khi trời cứu! Chậu nước khe đục ngàu như nước ruộng trâu đằm thì còn lọc được. Chứ nhai ngô răng ngựa ngày này qua ngày khác, anh chị em cố bảo nhau càng nhai ngô càng ngọt, dù chẳng ai có cảm giác ấy. Thò tay ra nhúm một vúm muối trắng bỏ vào miệng nhai với ngô, cũng chẳng thấy… ngọt. Lại phóng mắt từ dốc Cán Tỷ, từ dốc Mã Pí Lèng ra những nương ngô tít dưới thung sâu ngàn thước và ao ước: nếu có một cái máy bay trực thăng xuống vực mà bẻ ngô của người Mông, nhân thể xuống sông Nho Quế quẩy mấy gánh nước thì có khi qua được cơn đói, khát. Kỳ III: Hạnh Phúc của những trang sử đá Trước khi nhắm mắt, anh Chanh khóc: tôi chết, tôi sẽ chết ở đây. Tôi nằm bên vệ đường Hạnh Phúc này. Anh em phải tiếp tục phá đá. Mai đây, con đường được hoàn thành, anh em về lại quê hương Lạng Sơn. Liệu có ai còn nhớ đến tôi không? Tôi sẽ nhớ mọi người lắm đấy... Những chàng trai cô gái khoan troòng phá đá suốt 6 năm trời, tiến từng xăng ti mét vượt qua biển đá mênh mông làm nên con đường Hạnh Phúc dài 160m xuyên qua cao nguyên Đồng Văn, đồng thời cũng là những “cây văn nghệ” xôm trò. Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc tưng bừng của đội văn nghệ đại công trường này được chụp từ 47 năm trước (tính đến năm 2007). Phần ba: “Tôi chết bên vệ đường này, mai kia, đường Hạnh Phúc mở xong: anh em có ai còn nhớ đến tôi? ”Giữa cuộc sống vô vàn khó khăn giữa rừng xanh núi đỏ, có nhiều kỷ niệm bây giờ nghĩ lại còn hãi hùng, còn bi hài và… rớt nước mắt: anh chị em Thanh niên xung phong người Lạng Sơn, rất đông (khoảng 300 người), được tập hợp cả lên vùng Lộc Bình (cây số 14), để chuẩn bị tập kết đi lên đại công trường mở đường Hà Giang - Đồng Văn. Bỗng có tin, một nhóm (nửa quân số) phải ở lại đi làm cầu đường nơi khác. Anh chị em buồn quá, không ai nỡ ở lại với chốn bình yên để đồng đội đi vào nơi sơn lam chướng khí. Bịn rịn, cũng chẳng ai nỡ dứt áo ra đi. Họ bèn chặn xe đồng chí Trưởng ty Giao thông Lạng Sơn lúc bấy giờ (ông Nông Giang Nam) lại ra tối hậu thư: tất cả Thanh niên xung phong Lạng Sơn phải được lên đại công trường gian khó nhất (Đồng Văn) để cống hiến. Không còn cách nào khác, đồng chí phải…nhất trí. Ông Mai hiện giờ còn giữ cái quyết định bước ngoặt đời mình, khi tổ chức kết nạp Đảng cho ông ngay ở tại công trường. Bà Chi Anh, ở tuổi 64 thì nhớ y nguyên cái không khí cập rập, hào hứng thi đua với tinh thần lạc quan cách mạng độ ấy – xúc cảm mà chắc chắn bà sẽ không bao giờ còn gặp lại nữa. Ngày treo mình trên đá, đói khát, tối về, qua nhà kho nhận khẩu phần là 1 ca nước làm vệ sinh cá nhân rồi đi bầu chọn xét duyệt những ai… vinh dự là “người hùng”. “Tranh” nhau từng điểm một. Ai làm tốt, có bằng khen, giấy khen, thư khen của tổ chức ngay lập tức. Có người được phong là kiện tướng đục lỗ troòng, thì bật khóc vì vui. Tại mỗi C (hơn 100 người), anh chị em tổ chức cả những đội “Thạch Sanh đi kiếm củi”, cả Lý Thông đi vào rừng hái măng hái nấm, hái rau rừng về nộp cho nhà bếp “nuôi quân”. Mỗi đơn vị tổ chức nổi lửa kéo bễ rèn sửa lại búa cho chắc, rũa ghè lại choòng cho nhọn cho sắc. Nhớ hai kiện tướng đục lỗ troòng tại công trường Hà Giang - Đồng Văn Sống thành phố biên cương Lạng Sơn thời mới, ông Đàm Văn Kiềm vẫn hằng đau đáu với quãng đời cống hiến của mình và hàng vạn người trẻ khác trên đại công trường Đồng Văn – Hà Giang năm xưa. Ông đã đi trọn cuộc trường chinh vào trong lòng đá Đồng Văn, đến ngày vinh dự được nhận huy hiệu hoàn thành con đường lịch sử. Ông Kiềm cũng là một trong số ít những người còn giữ đầy đủ được toàn bộ giấy tờ, Huy hiệu, kỷ niệm chương liên quan đến những ngày hào hùng (1959-1963) mở đường Hạnh Phúc. Ông nhớ y nguyên lý lịch và sự vinh quang của hai dũng sỹ đục lỗ troòng của công trường vĩ đại. Đó là kiện tướng Lôi Quang Hải người ở thị trấn Đồng Mỏ, Chi Lăng, Lạng Sơn. Trong khoảng 7 tiếng đồng hồ dùng xà beng khoan vào lòng đá, ông Hải đục được hệ thống lỗ troòng (sau đó nhét mìn vào đó nhằm nổ phá đá) tổng cộng có chiều sâu tới 4,2m. Đó là “tráng sỹ” vô địch toàn công trường. Kiện tướng đục lỗ troòng. Người tiếp ngay sau “bảng xếp hạng” là Lý A Pủn, người Lục Bình, Lạng Sơn. Trong quá trình đục “thao diễn” 7,5h đồng hồ ca tụng tay nghề những người thợ phá đá công trường Đồng Văn, ông đã đục được 4,19m lỗ troòng. “Chỉ thua ông Hải có 1cm” – ông Kiềm nhấn mạnh – “Nói thế để anh thấy rằng, cuộc thi đua lập thành tích, nâng cao tay nghề của chúng tôi quyết liệt, dũng mãnh tới mức nào”. Ông Kiềm đã nhớ nằm lòng thông tin, số phận những người đồng đội cùng quê xứ Lạng đã ngã xuống cho đại công trường đường Hạnh Phúc tiến mãi vào lòng cao nguyên hoang rậm Đồng Văn. Nhắc đến họ, ông lại ứa nước mắt. Nhiều người bị bệnh, người sa sẩy suối xiết núi cao, có người (cũng phải nói rất thật là) chết vì điều kiện sống khắc nghiệt mà công việc thì quá khốc liệt. Người nằm xuống trên công trường Đồng Văn – Hà Giang (danh sách dưới đây chỉ tính riêng những đồng chí quê ở Lạng Sơn) gồm: Vũ Đức Lộc, (hy sinh khi mới) 22 tuổi, người Thất Khê, Tràng Định, Lạng Sơn, hy sinh ngày 16/11/1960; Lương Quốc Chanh, 19 tuổi, quê ở xã Gia Lộc, Chi Lăng, Lạng Sơn, hy sinh ngày 18/8/1961; Bạch Kim Hiển, 20 tuổi, người ở thị trấn Đồng Mỏ, Chi Lăng, Lạng Sơn, hy sinh ngày 24/1/1963; Hoàng Văn Dinh, 23 tuổi, quê quán Đô Lương, Hữu Lũng, Lạng Sơn, hy sinh ngày 22/9/1961; Lý Bích Vân, 25 tuổi, hy sinh ngày 31/10/1960; Vi Văn Đạo, bị ốm chết tại Bệnh viện của Khu tự trị Việt Bắc… Nhớ mãi độ làm đến cây 18 (tính từ thị xã Hà Giang đi Đồng Văn), đó là thời gian có cướp tấn công vào lán của nữ thanh niên xung phong. Tên này to lớn, đêm về, nó cừ rờ rẫm trên cơ thể mấy cô gái tơ hơ hớ. Không hiểu nó định trộm của hay trộm… tình. Một cô táo bạo nhất lán (tên là Lý Thị Thào, nười ở Lộc Bình, Lạng Sơn) túm được tay hắn, hắn chạy. Một bàn tay rất to. Từ bấy náo loạn, đêm đêm, nam Thanh niên xung phong phải ngăn cái chiếu lên giữa lán nằm canh gác cho các em nữ. Lại có lực lượng bồng súng đứng gác ở bên ngoài (cứ 2h/ca; một đêm 5 canh là 5 đội gác thay phiên). Ai đứng gác cũng phải học hai từ tiếng quan hoả, là Nác cọ, Chán chí (ai đó, đứng lại); rồi cứ bồng súng nhìn vào đêm đen. Cuối cùng cũng bắt được hắn ta. Một tên tù phản động sổng khỏi trại giam Q.T. Sau này, khi tìm cách chạy trốn, hắn đã bị lực lượng chức năng tiêu diệt. Lại nhớ cái ngày, cả công trường thuộc câu “ca dao” trêu mấy “em” thanh niên xung phong thật thà người Lạng Sơn:“Lửa cháy lên rồi, lửa cháy to Áo quần không cứu, cứu nồi dưa”. Độ ấy, chị Dương Thị B. (người Bắc Sơn, cũng vừa được kỷ niệm chương Thanh niên xung phong) có một mối tình buồn. Tình nhẹ nhàng thời xã hội chủ nghĩa thôi, tức là yêu nhau qua thư từ là chính. Quá đau lòng với mối tình yểu mệnh, chị B. đã đứng sau ngôi lán lợp gianh hoả táng bức tình thư đầy “huyết lệ”, ai dè, cỏ gianh cháy nỏ, tình thư một bức thiêu rụi cả khu lán khổng lồ. Ông Hộ tá hoả đi cứu kho thuốc nổ. Riêng chị em phụ nữ thì chạy đi cứu tư trang hành lý. Nhiều người bối rối ôm cả cối đá, cả vại dưa cà chạy ra ngoài rừng. Chị Viên Chi Anh xinh đẹp thì vào xách quai cái hòm cũ tư trang quần áo ra, nhưng vì hòm đang ở trạng thái không khoá, nên khi xách quai, áo quần bung hết ra. Chị đành bỏ cái hòm cho ngọn lửa, ôm nồi dưa cà muối xổi chạy sơ tán. Nhân thế, anh em mới quyết định làm thơ giễu. “Lửa cháy lên rồi lửa cháy to/ Áo quần không cứu, cứu nồi dưa!”. Tổ chức nghe tin, bèn có lời khen chị Chi Anh có tấm lòng với công sản, bỏ của cá nhân cứu đồ tập thể. Lúc đầu, chuyện phỉ cắt tai, cắt chân, mổ bụng cán bộ, đốt đồi cỏ gianh giết cán bộ lĩnh thưởng đang ầm ĩ, nên ai đó cũng cứ nghi cho “giặc” đốt lán công trường. Sau điều tra ra thì ngọn lửa bốc lên từ một nỗi oan tình. Thoát khỏi nạn “giặc cướp” thì lại đến bệnh tật. Khí hậu quá khắc nghiệt, có những eo núi (chân cổng trời), lúc nào cũng ngột ngạt khí độc, có những nơi, lạnh đến mức tuyết đóng đầy cả một thung lũng rộng. Có khi, đến giờ, có kẻng ra công trường, cả một đội 12 người thì chỉ còn có 2 người đủ sức… nhổm dậy được. Tất cả nằm ốm la liệt như một cái bệnh viện. Kể cả y tá của A (nhóm 12 người) cũng nằm bẹp. Anh chị em đành động viên nhau với một kinh nghiệm thú vị: có kẻng, dù kiệt sức cũng phải lao ra khỏi giường lán. Nếu không vượt qua được cảm giác ấy, nghĩa là ốm, là nằm bẹp đến tối. Dậy được là đi làm được. Nhiều người bị sốt rét trọc hết cả đầu, nhiều người nằm lại với núi rừng biên cương. Nửa thế kỷ trôi qua, những Thanh niên xung phong làm đường Thanh niên Việt Bắc, nhiều người đã mất, số còn lại đều đã lên ông lên bà. Nhưng, những bất cập trong thực hiện chính sách đối với lực lượng Thanh niên xung phong này còn nhiều bất cập, khiến nhiều “cô bác” tỏ ra bất bình… (Trong ảnh là các cựu Thanh niên xung phong làm đường Hạnh Phúc đang sống tại Lạng Sơn khi làm việc với PV Vietimes). Ông Kiềm còn nhớ y nguyên cảm giác khi bôi thuốc chống hắc lào. “Từ thắt lưng đổ xuống, loang lổ vết hắc lào, những vết xám xẹo tròn như đồng xu. Ngứa vô cùng. Đêm về, bôi thuốc (I-ốt, bấy giờ chưa có ASA) do ban chỉ huy công trường phát (vì hầu như ai cũng sốt rét, hắc lào cả), anh chị em cứ nhảy cẫng trên giường hay dưới sàn lán. Vì nó xót như có ai lóc thịt mình ra từng mảng. Hết xót là ngứa, cả trăm người ngồi gãi như… gãy đàn. Sau này, dăm năm sau, những tưởng qua 11 lần chuyển lán, tiến 11 bước vào Đồng Văn, những tưởng nhiều người đã quen nước (vì trước ngã bệnh là lạ nước) nó sẽ khỏi bệnh sốt rét, sốt nóng, hắc lào. Hoá ra không phải. Có người về tận quê hương Lạng Sơn rồi, cuộc chiến tiêu diệt hắc lào, sốt rét vẫn tiếp tục và có phần… dữ dội hơn! Đỉnh điểm của bệnh tật, dĩ nhiên là cái chết. Chắc trong lực lượng Thanh niên xung phong mở đường Thanh niên Việt Bắc, chẳng ai quên được cái chết của anh Lương Quốc Chanh, mới 19 tuổi, quê ở Gia Lộc, Chi Lăng, Lạng Sơn. Anh Dinh chết trong trạm xá Lùng Búng. Anh Chanh cũng chết ở Lùng Búng. Chanh là người vùng cao, bị bệnh đậu lào, cũng là người biết các thuốc lá lẩu chữa bệnh cho mình. Nên anh nằm thiêm thiếp giục anh em vào rừng kiếm gốc cây cỏ tranh về sắc lên cho mình uống. Anh em bỏ việc phá đá đi tìm phương thuốc bí truyền. Song, cũng không cứu được người đồng đội giàu tình cảm Lương Quốc Chanh. Trước khi nhắm mắt, anh Chanh khóc: tôi chết, tôi sẽ chết ở đây. Tôi nằm bên vệ đường Hạnh Phúc này. Anh em phải tiếp tục phá đá. Mai đây, con đường được hoàn thành, anh em về lại quê hương Lạng Sơn. Liệu có ai còn nhớ đến tôi không? Tôi sẽ nhớ mọi người lắm đấy. Nói rồi, anh tắt thở. Mọi người mai táng anh Chanh ở bên kia đồn biên phòng Bạch Đích (ngày nay) – sau này, mộ anh được quy tập về Nghĩa trang riêng giành cho những Thanh niên xung phong ngã xuống trong 5 năm mở đường vào Đồng Văn, Mèo Vạc. Không kém phần sầu thảm là cái chết của anh Vũ Đức Lộc, người Thất Khê, Tràng Định, Lạng Sơn. Năm 1960, khi đang yêu chị Nguyễn Thị Gái (cũng người Lạng Sơn, tham gia trong đơn vị mở đường) rất thắm thiết, anh ngã bệnh và chết. 43 năm sau, bà Gái về quê, lấy chồng, goá chồng và trở lại con đường Hạnh Phúc tìm mộ người yêu. Nấm tròn hiu hắt trong nghĩa trang Thanh niên xung phong mở đường Hạnh Phúc tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang đã làm bà Gái không khỏi buốt lòng. Bà ngất lên ngất xuống, lăn xả trên mộ “người chồng trong mộng” giữa đường đứt gánh. Cũng như năm xưa, khi còn đôi mươi, chị Gái đã áp sát quan tài, nằng nặc đòi nhảy xuống hố chôn chết theo người tình. Năm 2003, đoàn cựu Thanh niên xung phong già nua thuê xe “tăng bo” mấy lần mới vượt được núi đèo vào Yên Minh, mọi người đã hốt hoảng ôm lấy bà gái, ông Kiềm là lãnh đạo đoàn van vỉ: bà thương chúng tôi, đừng đau lòng nữa. Bà có buông nấm mộ anh Lộc ra không? Bà đang bị huyết áp với lại bao nhiêu là bệnh. Bà đột quỵ, ngất ngủng ra giữa rừng núi hoang vu này, thì chúng tôi chết mất. Ai đo huyết áp cho bà được? Nói vậy nhưng ai trong đoàn (cả nhóm cán bộ trẻ thuộc Sở Giao thông – vận tải Hà Giang đi dẫn đường) cũng phải ứa nước mắt. Trang sử đá kỳ vĩ đệ nhất trong lịch sử phá đá mở đường của chúng ta mang tên Đường Hạnh Phúc, khi hoàn thành, nó còn mở ra nhiều trang sử đá khác cho khách du lịch trong và ngoài nước: đó là những căn nhà cổ trong di tích Phố cổ Đồng Văn với “Đêm phố cổ” được treo đèn lồng tổ chức hằng tháng như Hội An; là khu Chợ Đồng Văn được xây bằng đá tảng từ hơn 70 năm trước, đang được đề nghị công nhận là di tích quốc gia… Ai đục được 5m choòng trong ngày thì được phong kiện tướng. Điều đó không đơn giản, choòng là dụng cụ như cái xà beng, gồm 8 cạnh (ta thường thấy là loại 6 cạnh) của Trung Quốc. Anh chị em khoan lỗ trên đá, rồi đổ nước vào, một người giữ, một người đục - xoay cái choòng để thúc nó khoan sâu vào lòng đá. Đục tay, khoan tay. Sẽ có người nghiệm thu, xem ai khoan được nhiều lỗ, cộng độ sâu của các lỗ đó vào thì cuối ngày sẽ có kết quả về chiều dài (sâu) lỗ đục choòng của kiện tướng ấy. Mãi khi công trình đường Hạnh Phúc cơ bản hoàn thành, chỉ còn vài khúc vào Mèo Vạc, anh em mới được cấp cho duy nhất một cái máy khoan DK34 của Tiệp gồm 6 mũi khoan. Còn lại, toàn bộ công việc dời non lấp bể theo đúng nghĩa đen kể trên, chỉ thuần tuý dùng sức lao động chân tay của nam nữ thanh niên 16 dân tộc, thuộc 8 tỉnh nước ta. Ông Thuỳ là người hồn nhiên, yêu thơ văn, nên ngần ấy khó khăn thiếu thốn, với ông chỉ lặn vào thơ văn hơn hớn khí thế: “Dù muỗi rừng vắt núi/Dù thiếu từng hạt muối cọng dưa/ Dù dầu dãi nắng sớm chiều mưa vất vả”; thì cuối cùng thanh niên xung phong làm đường Hạnh Phúc đã... hạnh phúc với “Xe đã đến trên đường Hạnh Phúc/Chở ước mơ, chở muối, chở dầu/ Chở cả niềm tin thắp sáng đêm thâu/ Và thắt chặt mối tình xuôi ngược”. Những vần thơ ở cái phường ven bờ sông Lô nhà ông Thuỳ, đôi chỗ đã có thể là tiếng nói đại diện cho sự cống hiến, hy sinh và ước nguyện của hơn hai triệu ngày công dãi dầu cho con đường thành sợi chỉ đỏ đánh thức khối đá khắc nghiệt đệ nhất xứ sở kia. Niềm vui của họ lặn dưới niềm vui của những em gái trên cao nguyên khuất nẻo, nàng sơn nữ ấy núp dưới cánh dù hoa ngày thông xe vượt cổng trời: “Những cô gái Hớn hở nụi cười Ánh mắt ấy thoát Đã sáng rồi, ngẩng Đường lên bản như Nắng ùa vào chim cất cánh bay cao”. về dưới đêm mặt cổng đây cánh dài ngắm trời dự dù lạnh cờ tung hội hoa lẽo sao mở Với ông Thuỳ, từ một thanh niên nhọc nhằn tha phương cầu thực miền Bắc ải, đại công trường đường Hạnh Phúc đã là lời hiệu triệu của non sông, đã là trường đại học lớn làm thay đổi cuộc đời ông. Vinh quang thay làm người lính đi đầu. Có thể bây giờ người trẻ thích híp-hốp, họ không hát cái bài hát ông Kiềm vừa khóc vừa viết này. Có thể những ai chưa lên cao nguyên Đồng Văn, chưa thấy cái khắc nghiệt của đá xám, mây mù hờn tủi, người ta chưa hiểu hết giá trị nhân văn của cái cuộc trường chinh vào trong biển đá trước đây. Cuộc trường chinh đã khiến cho 8 vạn đồng bào sau điệp trùng núi năm xưa lần đầu tiên được nhìn thấy cái ôtô. Nhưng, có một điều chắc chắn, tất cả những thanh niên xung phong từng mở đường Hạnh Phúc, họ sẽ không cầm được nước mắt, khi nghe ông Kiềm ôm đàn xa vắng hát trong tuổi già bóng xế, hát rằng: “Kìa cổng trời cao, chúng ta quyết vượt qua Kìa vách đá cao là núi đá tai Anh em ơi, chắc tay búa, ta quai troòng/ ta xuyên vượt qua cổng Chúng ta đổ mồ hôi, vách đá kia phải nhường Tiến lên đi, vượt qua đi, ta chẳng ngại khó khăn Ngày mai thông xe, ta tăng ga vượt qua cổng Quản Bạ ơi, chúng tôi đã đến Mã Pí Lèng ơi, ô tô đã đến Mèo Vạc ơi, bao năm mong tháng Mà ngày hôm nay Hạnh Phúc đã đến Đường Hạnh Phúc đã đến rồi”. nào mèo trời. lối. gì. trời. rồi. rồi. chờ. rồi. Kỳ IV: Trăn trở của người giữ sổ tử tại đại công trường phá đá Ông Đảm vẫn nghèo, vẫn buồn và vẫn ao ước có kinh phí để anh em họp mặt trước khi tuổi già khiến cho chẳng ai trong số họ còn đủ sức (và còn sống) đi tìm gặp nhau nữa. Ông ao ước có một chuyến xe, đi và nhớ lại cung đường vượt cổng trời, vượt Mã Pí Lèng “tôi sẽ nhớ từng điểm cua, từng vách đá một, chú ạ” (như lời ông); tôi bảo, dễ thôi mà, ông Đảm không tin! Cao nguyên Đồng Văn, dẫu cực kỳ khắc nghiệt, nhưng vẫn là miền đá đẹp như thiên đường. Ảnh: Na Sơn Ông Trịnh Văn Đảm, năm nay 73 tuổi, vẫn xốc vác, thô mộc hai với hai là bốn, đúng phoóc một anh cán bộ kỹ thuật hệ trung cấp tham gia mở đường Hạnh Phúc từ gần nửa thế kỷ trước. Đường Hạnh Phúc thông vào đến Đồng Văn, khi ông đang làm C trưởng, phụ trách hơn 200 Thanh niên xung phong của tỉnh Thái Nguyên trên công trường; tổ chức điều ông ra Ban tổ chức chính quyền, rồi Ty Giao thông Hà Giang công tác (là một nhân viên bình thường) mãi đến năm 1988 thì nghỉ hưu. Ông Đảm người gốc Thái Nguyên, nhờ con đường Hạnh Phúc, đã phải duyên lấy vợ Hà Giang, Hà Giang trở thành quê hương thứ hai của ông, đến nay cũng coi như trọn một đời người. Sau khi tận tâm tham gia đánh giặc Tây ở Tây Bắc, huyết chiến ở lòng chảo Điện Biên Phủ, sang tận Thượng Lào, anh thanh niên Trịnh Văn Đảm được cử đi học trung cấp giao thông. Năm 1956, khi có lời hiệu triệu mở đường Hạnh Phúc “cứu” miền đá khốc liệt Đồng Văn, anh Đảm là một trong 5 cán bộ kỹ thuật đầu tiên xông lên tuyến đầu. Giờ, điểm quân số lại, chỉ còn ông Đảm và một người đàn ông nữa (trong số 5 người ấy) còn lại trên cõi đời. Ông ấy tên là Đoàn Vũ Cự, cùng quê Thái Nguyên với ông Đảm, trước khi về hưu làm đến Trưởng ty Giao thông Hà Giang. Riêng ông Đảm, cung số của ông chẳng bao giờ rơi vào đường quan lộ. Ông nghỉ hưu trong căn nhà nhỏ, đạm bạc đến khó tưởng tượng ở ven bờ sông Lô. Hồi ông về bên tả ngạn này, nai hoẵng còn đi lại như trâu bò trong rừng gỗ nghiến cổ thụ, giờ phố xá phong quang thế này, là ông mừng rồi. Cái ông mong mỏi hơn cả là làm sao để người đời đừng quên lãng hết cả triệu ngày công, cả 6 năm ròng hàng nghìn thanh niên thuộc 18 dân tộc của 8 tỉnh thành nai lưng phá đá mở đường vào Đồng Văn – Mèo Vạc. Điều này lại càng da diết hơn, khi chúng ta nhớ tới những người đã vì con đường mà vĩnh viễn nằm lại với miền đá. Với ông Đảm và những người đồng đội hãy còn sống của ông, con đường ấy chính là số phận, là cả cuộc đời. Bây giờ, khi đã gần đất xa trời, nhiều thế cựu Thanh niên xung phong mở đường Hạnh Phúc chỉ có một ước mơ đơn giản là: đi thăm lại con đường mà hơn 40 năm trước mình và đồng đội đã xả thân suốt 6 năm trời để làm. Song, ngay cả khi mà nhiều người đã xuôi về thiên cổ, chuyến đi giối già ấy vẫn chỉ nằm trong… dự định. Trong ảnh là lực lượng cựu TNXP Lạng Sơn, sau rất nhiều nỗ lực, và cả những kiến nghị phẫn nộ, các cô các bác mới được một lần trở lại, chụp ảnh ở trước Hội Đồng nhân dân huyện Đồng Văn – nơi ngày mà gần nửa thế kỷ trước, đường Hạnh Phúc đã được cắt băng khánh thành với sự tham dự của Bộ trưởng Bộ Giao thông (vận tải) Phan Trọng Tuệ. Vừa rồi, tóc đã điểm sương, mấy chục Thanh niên xung phong làm đường Hạnh Phúc của tỉnh Lạng Sơn có được tỉnh ưu ái cho kinh phí tổ chức một chuyến về nguồn ngược Đồng Văn, Mèo Vạc. Ông Đảm gặp đồng đội tại thị xã Hà Giang (chứ từ ngày nghỉ hưu, gần 20 năm qua, ông Đảm cũng chưa bao giờ có điều kiện lên đến Đồng Văn), ai nấy bật khóc. Tất cả đều đã lên ông lên bà. Và, quan trọng hơn là dâu bể của cuộc sống mới đã làm cho những “di tích” chứa đựng nhiệt huyết, mồ hôi và cả máu xương của nhiều nghìn lượt người trẻ xông pha trên cung đường Hạnh Phúc Đồng Văn Mèo Vạc đã bị xoá sổ. Điều vô cùng khó hiểu là tại sao người ta lại vô tình đến thế được? Làm đường thì cứ làm, sao lại hất bỏ sạch sành sanh bia đá, kè đá, vách đá từng hằn in vân tay hàng chục hàng trăm người trẻ tuổi kia xuống khe sâu? Có nhất thiết phải phá bỏ những cung đường chưa bao giờ hư hỏng như thế để “giải ngân” cho con đường mới không? Có tiền, nâng cấp được đường xá, là bằng chứng của một cuộc sống đi lên – nhưng có nhất thiết phải tận diệt hàng chục những tấm bia đá chứa trong mình cả trang sử hào hùng của nghìn nghìn người trẻ đi tiên phong đánh thức cao nguyên Đồng Văn kia không? Cái quan trọng hơn là thái độ của ai đó với công quả mà cha anh mình đã đổ máu để dựng nên. Vấn đề không phải là cái bia đá khắc tên đơn vị thi công, hay vài khúc cua ghi dấu kỷ niệm về những người đã ngã xuống cho cuộc trường chinh vào trong lòng đá. Với tư cách là Phó Ban Liên lạc Thanh niên xung phong xây dựng đường Hạnh Phúc, ông Đảm và ông Sùng Đại Dùng (đương kim Phó Chủ tịch mặt trận tổ quốc tỉnh Hà Giang, kiêm trưởng Ban liên lạc TNXP xây dựng đường Hạnh Phúc) đã nhiều lần xin cơ chế, xin kinh phí để tổ chức lễ kỷ niệm ngày khởi công đại công trình đánh thức vùng mênh mông Đồng Văn – Mèo Vạc (sau nửa thế kỷ im hơi lặng tiếng); song mọi đề xuất vẫn không được đáp ứng. Điều này lý giải cho thái độ buồn bã rất... tiêu cực của ông Đảm khi kể với chúng tôi về những ngày “hồ dễ mấy ai quên” trong 6 năm trường kỳ phá đá kia. Chẳng cứ gì những người cống hiến phần đời tươi đẹp nhất của mình cho công trường khổng lồ, kỳ vĩ ấy, bản thân chúng tôi, khi đi tìm tư liệu cho loạt bài này, cũng rất là ngậm ngùi. Bởi hầu như không tìm thấy những trang sách, bài báo nào đề cập đến hơn 2 triệu ngày công đổ xương máu làm nên kỳ tích đường Hạnh Phúc. Cả những thước phim, nghe nói ngày xưa có chụp, có quay và có chiếu, giờ hầu như bị quên lãng. Bản thân những người được coi là chủ đạo trong Ban liên lạc Thanh niên xung phong mở đường Hạnh Phúc, hầu hết cũng chưa từng được xem. “Thanh niên Xung phong Việt Nam cùng hai chuyên gia "Trung Quốc giúp ta làm đường Hạnh Phúc chụp ảnh kỷ niệm tại công trường Đồng Văn - thời gian chụp vào khoảng năm 1962-1963. Chuyên gia Trung Quốc tên là Hà, thứ 3 từ trái sang; chuyên gia Trung Quốc tên là Vương, thứ 6 từ trái sang. Ảnh do ông Đảm cung cấp, đã được chụp lại”. Ông Đảm là người hiếm hoi còn may mắn giữ lại được hai tấm ảnh đen trắng làm kỷ niệm. Một tấm ngày thông xe, chính thức hoàn thành con đường Hạnh Phúc, đường mở đến Đồng Văn. Bộ trưởng Giao thông Phan Trọng Tuệ, độ ấy, có mặt dự buổi lễ. Tấm ảnh thứ hai là khi ông Đảm cùng nhóm anh em chụp ở một căn nhà kiến trúc pha nét Trung Hoa vốn là trụ sở của Đồng Văn cũ. Khi trung ương lên kiểm tra, có mang theo mấy anh nhiếp ảnh (chắc là nhà báo), họ chụp rồi rửa ảnh ngay tại trận. Ông Đảm phải nỉ non “dai như đỉa” thì họ mới ưu tiên cho giữ một tấm. Ai ngờ, qua bao nhiêu binh lửa, vật đổi sao rời, không giữ được một giấy tờ hay Huân huy chương gì, song ông Đảm vẫn còn có được 2 tấm ảnh. Trong ảnh có cả hai đồng chí Hà, đồng chí Vương, là chuyên gia Trung Quốc giúp chúng ta phần kỹ thuật mở đường; ngày chụp là ngày anh em ăn diện bảnh bao liên hoan tiễn chân hai đồng chí về nước ăn Tết! Sau này, nhiều đồng đội và thân nhân những người đã khuất đến gặp ông Đảm để xin “tách rửa” khuôn mặt người thân trong ảnh ra làm... ảnh thờ. Đây là một chi tiết rất buồn. Nó là bằng chứng nói rằng, nỗi đau đáu sợ rằng con đường Hạnh Phúc và chiến công mở đường Hà Giang - Đồng Văn sẽ vĩnh viễn biến mất khỏi cả... ký ức của chúng ta là có thật. Là cần thiết. Nếu lãng quên là có tội. Tôi không nghĩ là vì khó khăn của thời ấy (những năm 1960) mà chúng ta hầu như không lưu giữ được ký ức về việc xây dựng đường Hạnh phúc - Vạn lý trường thành Việt Nam! Chắc có lẽ, chưa một ai đặt mình vào vị trí của những người cống hiến 6 năm tuổi trẻ cho phần công việc khó khăn, khốc liệt, nặng nề và có thể hy sinh tính mạng bất cứ lúc nào của hàng vạn lượt thanh niên xây dựng đường Hạnh Phúc. Không ai nghĩ, ký ức về con đường Hạnh Phúc sẽ đeo bám cả một thế hệ, suốt cả một đời. Ông Đảm còn nhớ y nguyên những ngày lãng mạn như “Ruồi trâu”, tay chân tứa máu vì đập đá tai mèo, nhưng vẫn ca vang những hành khúc xung phong. Đêm về, nằm trong lán ở Lũng Phìn, nhà nước cấp cho tiêu chuẩn 6 lạng gạo lèn vào bụng với bơ vàng, mỡ trắng (của Lào và của LB Nga) khét mù khó nuốt. Nhưng đồng chí Đường (sau làm Ban dân tộc tỉnh) vẫn nằm đọc thơ cho anh em nghe. Từ năm, 1960, ông Đảm đã nghe và thuộc bài thơ của đồng chí Đường, với cái câu bất hủ về cao nguyên đá: “(Người Mông) Sống trong đá chết nằm trong đá” (chứ có lẽ không phải ai đó đã viết ra rồi phổ nhạc như ngày nay chúng ta vẫn được nghe... quảng bá). Có một sự “thuổng” thơ nào đó chăng? Ông Đảm cũng còn nguyên vẹn niềm tự hào giản dị, khi mà đường Hà Giang - Đồng Văn thông vào đến Tráng Kìm, thượng tướng Chu Văn Tấn, Bí thư khu uỷ, Chủ tịch uỷ ban hành chính Khu Tự trị Việt Bắc lên thăm công trình, động viên anh em thanh niên xung phong. Có quay phim đi kèm, đồng chí kỹ thuật quay còn bắt ông Đảm cầm một cành hoa giơ trước ống kính, chõ xuống mặt đường theo cái nghĩa mùa xuân, sự tốt tươi đang đến với khuôn hình của con đường Hạnh Phúc. Sự bố trí quê mùa vậy mà ấm áp cả công trường. Rồi ông Đảm được vinh dự cầm một đầu cái dầm cầu cùng khiêng với bác Chu Văn Tấn, coi như là bác thò tay vào làm việc cùng anh em cho dân dã. Có vậy thôi, sau này anh chị em cũng chả ai được xem thước phim ấy lần nào, dẫu nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng niềm hãnh diện còn lan toả mãi đến mai sau. Đến năm 1973, phải lòng miền Bắc ải Hà Giang, ông Đảm đã cưới bà vợ người Quản Bạ “vó ngựa biên cương lộng gió ngàn”. Từ bấy ông thương mến Hà Giang hơn cả người Hà Giang. Hầu hết hàng nghìn Thanh niên xung phong và công nhân nghĩa vụ mở đường Hạnh Phúc đều chưa từng được xem lại một bức ảnh, một thước phim hay hoài niệm cùng vài bài báo vài cuốn sách viết về sự hiến dâng vì cộng đồng của thế hệ chống chọi và chiến thằng điệp trùng đá tai mèo ấy. Họ không buồn và tiếc nuối sao được, nhất là khi những dấu tích cuối cùng của cuộc chiến với biển đá rợn ngợp kia đang biến mất dần dà. Ông Đảm vẫn nghèo, vẫn buồn và vẫn ao ước có kinh phí để anh em họp mặt trước khi tuổi già khiến cho chẳng ai trong số họ còn đủ sức (và còn sống) đi tìm gặp nhau nữa. Ông ao ước có một chuyến xe, đi và nhớ lại cung đường vượt cổng trời, vượt Mã Pí Lèng “tôi sẽ nhớ từng điểm cua, từng vách đá một, chú ạ” (như lời ông); tôi bảo, dễ thôi mà, ông Đảm không tin! Và, với phương pháp lao động thủ công của 50 năm trước, hàng vạn lượt Thanh niên Xung phong đi mở đường Hạnh Phúc, họ đã phải khoan bao nhiêu lỗ troòng, phá bao nhiêu khối đá để có một cây số đường nhẵn cho xe chạy hôm nay? Ông ngồi lục tìm danh sách những người đã ngã xuống cho con đường khủng khiếp chờm nghịch trên đá kia được khai sinh. Có lẽ ông Đảm là người duy nhất có được bản danh sách này. Ông thẳng thắn: tôi ghi từ ngày làm đường, có ai ngã xuống, tôi lại ghi, chứ chả dám chắc bây giờ xương cốt anh em đang nằm giữa rừng hay là đã được gia đình chuyển cả về quê rồi. Tôi mấy chục năm qua mới có một lần vượt núi vào đến Yên Minh, chưa dám mơ thêm một lần vào Đồng Văn, Mèo Vạc. Ông ghi danh những người ngã xuống, cũng như ông và đồng đội dựng bia đá ghi đủ thứ thông số, kiêu hùng cắm trên mỗi cung đường khi thông xe... Ông vừa rớm khóc, vừa đọc trong sổ tay: Tôi ghi được đây này. Những người hy sinh khi tham gia phá đá mở đường vào Đồng Văn – Mèo Vạc. Nhiều địa danh bây giờ đã thay đổi, có nhiều đoạn tôi ghi nguyên văn cho người ta, mà không biết đúng hay sai nữa. Vì những gì tôi chép trong sổ cũng là những gì mà đồng đội khắc lên bia mộ các anh. Đồng chí Dương Đình Sản, quê ở xã Thượng Đình, Phú Bình, Thái Nguyên. Nguyên nhân chết do nổ mìn, đá rơi ngày 25/1/1961, chết trên đường đi làm về. Đá đè lên thi thể anh, tại dốc Tráng Kìm, khi mai táng, chiếc mũ lie anh đội trên đầu bị đá ném thủng, vỡ hộp sọ. Đồng chí Hoàng Văn Việt, quê xã Đại Xuân, Phổ Yên, Thái Nguyên, hy sinh ngày 11/10/1960 do bệnh sốt rét. Đồng chí này là quân do tôi quản lý, nên tôi biết rất rõ. Đồng chí Đào Ngọc Phẩm, hy sinh khi đang đánh đá vượt cái đỉnh cao nhất của dốc Mã Pí Lèng, do đá đè, ném xuống vực sâu. Anh em phải treo mình vào dây, tụt xuống vực, buộc thi thể anh kéo lên. Mai táng tại gốc cây đa Pả Vi. Lúc anh ấy hy sinh, tôi đã được điều ra công tác ngoài Ban tổ chức chính quyền tỉnh rồi. Đồng chí Vũ Đức Lộc, người Tràng Định, Lạng Sơn, hy sinh ngày 16/11/1960, khi mới 22 tuổi. Đồng chí Bạch Kim Hiển, hy sinh ngày 24/1/1963, người ở Ôn Châu, Đồng Mỏ, Thái Nguyên, khi mới 20 tuổi. Tôi không biết thêm thông tin gì về đồng chí Hiển, sau này chúng tôi cho khắc bia mộ y như thế này. Đồng chí Triệu Văn Khoòng, người ở Đức Xuân, Hoà An, Cao Bằng, là cấp dưỡng của đơn vị, hy sinh trên đường đi lấy củi phục vụ anh em, bị chết đuối. Mai táng ở Km63, từ Tráng Kìm đi La Khê. Hy sinh ngày 11/7/1961. Đồng chí Hoàng Văn Định, người Đô Lương, Hữu Lũng, Lạng Sơn, hy sinh ngày 22/9/1961, khi tròn 27 tuổi. Đồng chí Lương Quốc Chanh, quê Gia Lộc, Bằng Mạc, Lạng Sơn, hy sinh ngày 8/8/1961, khi mới 19 tuổi. Do sốt rét. Đồng chí Nguyễn Thị Gianh, 21 tuổi, quê ở Bảo An, Quản Bạ, Hà Giang. Bị sốt rét, chết ngày 18/9/1960. Đồng chí Lý Thị Vân, người Gia Cát, Cao Lộc, Lạng Sơn, hy sinh ngày 31/10/1960 trên đường đi làm về, triệu chứng con giật.\ Đồng chí Trần Đình Luân, quê ở Việt Hưng, Thường Tín, Hà Đông (nay là tỉnh Hà Tây), hy sinh ngày 9/1/1964. Đồng chí Vũ Cao Vân, bị đá đè trên khi thi công đoạn đường Hạnh Phúc qua xã Pải Lủng, gần đến Mèo Vạc. Cách phố Đồng Văn chỉ 4km. Đây là các đồng chí mà tôi biết, tôi ghi lại, đã được quy tập cả về nghĩa trang thanh niên xây dựng công trường đường Hà Giang - Đồng Văn – Mèo Vạc. Nửa thế kỷ trôi qua, đường lên cao nguyên Đồng Văn giờ đã được cải thiện rất nhiều. Gần hai mươi năm sau khi con đường Hà Giang - Đồng Văn – Mèo Vạc được thông xe, nhà nước ta tiến hành mở thêm tuyến đường Yên Minh lên thẳng Mèo Vạc (gọi là đường Quyết Thắng); cho nên, bây giờ, bạn có thể đi một vòng hình miệng thúng từ Hà Giang qua Yên Minh lên Mèo Vạc rồi vòng về Đồng Văn, trở lại thị xã Hà Giang chỉ trong... một ngày. Một ngày đủ du thám vòng quanh cao nguyên cao và hiểm trở nhất Việt Nam, đi xuyên qua con đường Hạnh Phúc mà phải mất 6 năm ròng rã, hàng nghìn thanh niên của 18 dân tộc anh em mới dùng tay đẽo đập đá làm nên. Thế nên, khi đoàn cựu thanh niên xung phong tỉnh Lạng Sơn, do ông Đàm Văn Kiềm dẫn đầu quyết tâm gom góp kinh phí đi một chuyến giối già thăm lại “chiến trường” Đồng Văn, Mèo Vạc – ai cũng khóc nức nở. Chủ cũng khóc và khách cũng khóc. Ai nấy đã lên ông lên bà, đều đến bờ dốc bên kia của… cuộc đời rồi. Chẳng ai đủ sức tin rằng, kinh tế eo hẹp, mắt mờ chân chậm anh chị em lại còn có dịp trở lại đại công trường lần thứ hai. Có hàng nghìn người cống hiến cho tuổi trẻ ở biển đá khắc nghiệt Đồng Văn kia, đến giờ, họ vẫn chưa một lần được trở lại thăm thành quả mà hơn một nghìn ngày tuổi trẻ họ đã xả thân dựng nên. Đến cái việc thành lập hội cựu Thanh niên xung phong làm đường Hạnh Phúc ở Lạng Sơn cũng ậm ạch mãi mới “được phép”. Khoảng năm 2001, anh em họp nhau lại, chẳng ai được hưởng chế độ gì thì đã đành, đến một hình ảnh, một thước phim hay vài tờ giấy có thông tin về cuộc trường chinh vào trong lòng đá anh em cũng chẳng ai có được chút nào. Ông Đảm chỉ nhớ, có lần, ông đã thấy trên tivi người ta chiếu hình ảnh đen trắng về việc thanh niên các tỉnh Việt Bắc cầm xô cầm chậu, cầm khoan đục đánh đá ở chỗ nào đó rất là nhiều đá xám. Nhìn kỹ hoá ra là làm đường Hạnh Phúc qua xã Sà Phìn, chỗ dinh ông “vua Mèo” Vương Chí Sình. Đại loại thế, tìm mãi thì ông Kiềm mới thấy cái huy hiệu công trường. Ông đã bật khóc, lòng quay quắt nhớ Đồng Văn, Mèo Vạc, nhớ mồ hôi và máu của mình cùng đồng đội đã đổ xuống cho cung đường uốn phẳng như dải lụa hôm nay. Ông rưng rưng: “Họ làm cái huy hiệu rất giỏi. Trên đó có dòng chữ Hoàn thành con đường lịch sử Đồng Văn – Hà Giang. Lại có chữ Đường Thanh niên Việt Bắc năm 1959-1963. Lại vẽ cả hình cong cong vòm vòm của cái cổng trời Quản Bạ, như là biểu tượng của cung đường gian khó và trắc trở nhất Việt Nam. Quản Bạ được mệnh danh là “vó ngựa biên cương lộng gió ngàn”. “Chỗ cổng trời cong cong đục qua đá người ta diễn tả trên huy chương không có chữ. Nhưng mà cháu à, chú đục đá làm đường cả tháng trời sống chết với cổng trời, nhìn cái biết ngay!” – ông Kiềm thủ thỉ. Giọng ông đã chậm chạp đi rất nhiều vì tuổi cao sức yếu. Nhóm cựu Thanh niên xung phong già nua ở Lạng Sơn ai cũng đã mắt mờ chân chậm. Đồng đội gặp nhau toàn cho nhau mượn máy đo… huyết áp, rồi quay ra hỏi “thằng” ấy thằng nọ (đều đã lên ông lên bà) có… còn sống không. “Bạn bè Thanh niên xung phong mở đường Thanh niên Việc Bắc của tôi, giờ tìm gặp nhau, đầu óc tôi cứ lởn vởn cái câu hỏi, họ còn sống hay đã chết. Đó là sự thực. Có thể do tuổi già sức yếu của anh em đồng đội tôi. Có thể do cả cái lo lắng tuổi già lẫn cẫn của bản thân tôi nữa. Nhưng, tôi nhắc lại, đó là sự thật” – ông Mai lẩm bẩm. Nhiều người như bà Nông Thị Liên, mòn mỏi đợi, vừa trân trọng họp con cháu ăn mừng ngày đón kỷ niệm chương thanh niên xung phong thì đã… chết già. Có người như bà Tại, anh em làm xong hồ sơ, lĩnh kỷ niệm chương lung linh về Thành phố Lạng Sơn, chưa kịp mang đến trao cho bà thì được tin bà đã xuôi… về thiên cổ Kỳ IV:Lời tạm kết thúc loạt bài hay là vài dòng tản mạn trên đỉnh Mã Pí Lèng hôm nay Vào thời điểm thông xe đường Hạnh Phúc cách đây gần nửa thế kỷ, phía sau những dãy núi ủ mây ấy có tới 8 vạn đồng bào lam lũ và mến thương của chúng ta đang nao lòng vẫy gọi. Con đường khảm trên đá sau hơn hai triệu ngày công của hàng nghìn thanh niên tình nguyện kia đã thực sự đem đến Hạnh Phúc cho cả mênh mông núi đá của bốn huyện vùng cao phía Bắc tỉnh Hà Giang hiện nay... Chân dung cao nguyên đá. Ảnh: Na Sơn. Vui một chốc lại buồn một chốc. Kiến nghị thành lập mãi mà phải đến tháng 10/2003, ông và đồng đội phải về tận Hà Nội gặp ông Nguyễn Việt Phát, Chỉ huy trưởng Thanh niên Xung phong toàn quốc thì Ban liên lạc Thanh niên Xung phong đường Đồng Văn – Hà Giang mới được thành lập. Có người được truy lĩnh một ít tiền công trạng. Có người vẫn lặng lẽ ngồi chờ. Điều đó không quan trọng. Đau lòng hơn là ngay cả những người đã ngã xuống vĩnh viễn với miền Bắc núi đá biên cương Hà Giang, họ vẫn quá âm thầm, hiu quạnh trong một nghĩa trang tít huyện Yên Minh, Hà Giang. Sự tôn vinh cho cống hiến và sự hy sinh quá lớn kia vẫn hầu như chưa có gì. Mỗi lúc, anh chị em đem chiến công oai hùng của mình ra kể với con cháu, các cháu lại hoài nghi thảng thốt: có thật không ông (bà). Khúc tráng ca kỳ diệu bậc nhất của lịch sử phá đá mở đường, “tiến vào rừng sâu làm giàu cho tổ quốc”, “đưa miền núi tiến kịp miền xuôi”… đã ít nhiều bị bỏ quên? Không lẽ lại bị bỏ quên, anh em Thanh niên Xung phong mở đường Hạnh phúc, năm 2003, quyết tâm góp tiền thuê một chuyến ôtô lên tỉnh Thái Nguyên, tìm vào Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Bắc. Ngày xưa, đây là bảo tàng của khu Tự trị Việt Bắc, có lưu giữ sa bàn và nhiều tư liệu liên quan đến việc mở đường Hạnh phúc vào Đồng Văn, các đồng chí Thanh niên Xung phong Lạng Sơn đã nhiều lần được nhìn thấy tận mắt mà. Lần theo dấu lịch sử gần nửa thế kỷ trước, than ôi, các vị người hùng phá đá già nua của chúng ta chỉ gặp: đào hoa y cựu tiếu đông phong. Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông, một cái cười nhạo. Không còn một dấu vết trưng bày về cái “Vạn lý trường thành của Việt Nam” xưa. Sau nhiều lần sáp nhập, thêm bớt, hình như cái công trình cũ kỹ trên vùng biên cương heo hút kia đã bị coi là chỗ cần phải… bớt đi. Cái sa bàn kỳ vĩ ấy, nó đã biến đi đâu? Khi Tự trị Việt Bắc đã giải thể từ năm 1976, tức là 28 năm trước, ai mà biết được? Ông Đỗ Đức Mai, sinh năm 1934, chậm chạp ở tuổi 73, nhưng cũng xông pha đi tìm dấu tích con đường xưa rất nhiều, ông là người đi từ đầu đến cuối cuộc trường chinh 5 năm phá đá tiến từng xăngtimét vào Đồng Văn, nay lẩm bẩm: tôi hỏi anh Âu Văn Hợp, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Hà Giang, anh ấy cũng thật thà: cháu cũng không hiểu tại sao đường Đồng Văn lại tên là đường Hạnh Phúc, bác ạ. Đấy, đương kim Giám đốc Bảo tàng mà anh ấy còn không biết, trách gì giới trẻ.Ông Mai cũng như ông Hoàng Văn Hộ và các cựu Thanh niên Xung phong khác, thời gian trôi đi một cách tàn nhẫn. Sống thành người được là may chứ nói gì giấy tờ sổ sách. Quê ở Thuỵ Hùng, Cao Lộc, Lạng Sơn, ông Hộ năm nay 66 tuổi. 17 tuổi, mù chữ, ông Hộ xung phong đi mở đường Thanh niên Việt Bắc, ăn rừng ngủ đá 5 năm, trở về học bổ túc làm cán bộ xã Thuỵ Hùng đến khi nghỉ hưu. Giấy tờ của ông đã bị thất lạc toàn bộ hồi chiến tranh biên giới năm 1979. Như ông Đàm Văn Kiềm, sau 5 năm quên mình treo mình trên vách đá mở đường khủng khiếp, sau này về thành đạt mấy chục năm làm cán bộ toà án, viện kiểm sát từ huyện lên tỉnh thì ông ấy mới có điều kiện kinh tế và thời gian ôn cố tri tân (nên giấy tờ huân huy chương còn cả). Chứ anh em lận đận, mấy ai còn thì giờ mà nghĩ đến giữ giấy tờ để về già hưởng chế độ, hoặc an nhàn kể chuyện chiến công cho con cháu nghe? Bà Viên Chi Anh (năm nay 66 tuổi) là người hiếm hoi giữ được vài tấm ảnh khi tham gia thi công tại công trường, lý do là bà rất… xinh đẹp. Bà hay được anh chị em mời chụp ảnh khi có cơ hội (rất rất hiếm khi), rồi anh chị em tặng cho bà một tấm ảnh với lời đề tặng thương “nhớ mãi”. Cái tình tứ trai gái công trường, không ngờ có ngày đã đem lại chút tư liệu ỏn sót cho thế hệ sau phần nào hình dung được về một đại công trường “độc nhất vô nhị” của lịch sử dân tộc! Câu chuyện này có cái gì đó thật bi hài, ỏn sót. Có cái gì đó khiến thế hệ sinh ra sau giải phóng miền Nam chúng tôi cảm thấy có lỗi với giọt mồ hôi, giọt máu của thế hệ cha anh đã đổ xuống cho đường Hạnh Phúc từ gần nửa thế kỷ trước... Tại huyện Đồng Văn, cách thị xã Hà Giang 160km, bây giờ, bà con người Mông đã tham gia trồng hoa hồng thương phẩm rồi chở bằng ôtô về bán ở thị xã Hà Giang, ở thành phố Hà Nội. Cái rét Đồng Văn giờ đã… ra tiền như cái sương mù của Sa Pa, Đà Lạt. Hoa hồng nở được trên đá, làm giàu được cho bà con như thế, là bởi vì có con đường Hạnh Phúc. Vài tiếng đồng hồ từ khi thu hái, hoa đã về thị xã, thành phố được! Phía sau mấy cái cổng trời vòi vọi của cao nguyên cao nhất Việt Nam Đồng Văn là một thế giới nguyên sơ, đầy tiềm năng. Quan trọng hơn, vào thời điểm thông xe đường Hạnh Phúc cách đây gần nửa thế kỷ, phía sau những dãy núi ủ mây ấy có tới 8 vạn đồng bào lam lũ và mến thương của chúng ta đang nao lòng vẫy gọi. Con đường khảm trên đá sau hơn hai triệu ngày công của hàng nghìn thanh niên tình nguyện kia đã thực sự đem đến Hạnh Phúc cho cả mênh mông núi đá của bốn huyện vùng cao phía Bắc tỉnh Hà Giang hiện nay. Giá trị nhân văn của đường Hạnh Phúc là không thể đong đếm. Con không chê cha mẹ khó/ chó không chê chủ nghèo. Sự hy sinh, sự dâng hiến cho lý tưởng của lực lượng Thanh niên Xung phong 8 tỉnh độ ấy cũng là không thể đong đếm. Chúng ta càng không thể nói rằng, con đường ấy to hay bé, dài hay ngắn, bây giờ đem sử dụng còn giá trị hay đã lỗi thời so với công nghệ làm đường với sự tinh nhuệ của máy móc hôm nay... để định giá sự hy sinh kể trên. Ngoài những người vĩnh viễn nằm lại với cả một nghĩa trang công trường ở Yên Minh, con đường Hạnh Phúc chính là Cuộc Đời, Số Phận của hàng nghìn người hùng trở về từ miền đá. Nó là một trang sử bằng đá. Là một sự tụng ca sức người, sự xả thân vì cuộc sống cộng đồng. Có câu chuyện thế này: khi thông đường Hạnh Phúc vào đến phố Đồng Văn, bọn phỉ vẫn còn lẩn quất nói xấu người cộng sản. Bọn chúng bảo: đường vào đến nơi, đá không mọc trên đầu người, con dê đực vẫn chưa biết đẻ, lần này coi như tao thua trong cái việc cá cược cho rằng Việt Minh không phá được núi lớn làm đường Hạnh Phúc. Nhưng tao bảo chúng mày: Việt Minh nó làm đường để nó đi ra nước ngoài cho tiện, nó bỏ chúng mày lại cho giặc Tây bắn chết đấy. Đường vào rồi, nó chỉ khoác một cái túi, đi ì ì một tí là sang đến... nước ngoài thôi. Tất nhiên chẳng ai nghe bọn phản động nữa. Nhưng để thấy rằng, con đường đã đem lại niềm tin lớn cho tám vạn bà con vào con đường cách mạng của chúng ta trong cái buổi còn bị các thế lực nhiễu nhưỡng chống phá. Chuyện nữa, khi đường sắp thông đến Đồng Văn thì Vương Chí Sình (“vua Mèo” – theo cách gọi dân gian) chết, thi hài ông ta được ôtô chở về tận Phố Cáo, gần đến nhà Vương. Vậy là, chuyến đi vĩnh quyết của “Vương” đã được đi bằng ôtô, đi xuyên qua núi đá tai mèo gần vào đến Sà Phìn (quê hương và dinh thự của ông ta). Đó là một điều mà không ai, kể cả Vương Chí Sình có thể tưởng tượng được. Khi anh em thanh niên đánh đá tiến vào đến Sà Phìn, gặp những bãi đất bằng phẳng. Và, anh em vô cùng ngạc nhiên nhìn thấy một chiếc xe ba bánh cũ ghỉ nằm bẹp ghí ở vệ đường. Tất cả ồ lên, ngạc nhiên, bởi làm sao mà ai đó cõng chiếc xe xít-đờ-ca (anh em gọi vui) này trên đường mòn chuột chạy, vượt qua hàng chục dãy núi vào đến đây mà cưỡi? Hỏi ra mới biết là của ông Điếc (?), em trai Vương Chí Sình. Ông này rất ăn chơi, mua xe máy chạy loanh quanh trong thung lũng, sắm máy ảnh về chụp rồi rửa nhặng xị trong sự thán phục của người Mông, người Lô Lô, Pu Péo phía sau cổng trời (thì công tử em trai “vua Mèo” mà lị). Chiếc xe máy, khi bị hỏng, không có thợ chữa (dĩ nhiên), cũng chẳng ai đủ sức khênh nó ra ngoài chỗ có đường cái quan nữa. Nó nằm đó cho đến khi đường đá được mở vào đến Đồng Văn. Nó là chiếc xe bánh tròn đầu tiên giữ kỷ lục chinh phục cao nguyên đá cao nhất Việt Nam. Cũng là bằng chứng về sự mông muội, gian khó một thời. Những đứa trẻ thích thú dừng lại ngắm bức tường thành đá cao chất ngất này, có bao giờ cháu tự hỏi: đơn thuần bằng lao động chân tay, suốt 6 năm trời, bao nhiêu mồ hôi và máu của cha anh chúng đã đổ xuống cho một khúc đường tiến vào trong lòng cao nguyên đá? PS: Và, bây giờ, bạn sẽ nghĩ gì, khi đứng trên đỉnh Mã Pí Lèng vòi vọi, nhìn dòng sông Nho Quế lắt lẻo chảy như một lọn sương mơ tít dưới vực sâu, sờ tay vào tấm bia đá đen tạc công những người “11 tháng trời treo mình trên vách đá” khảm nên con đường Hà Giang – Mèo Vạc? Chắc chắn bạn sẽ không thể tưởng tượng ra sức mạnh, sự gian khó của cuộc trường chinh vào trong lòng đá kia. Bởi, nay, chỉ cần một ngày trời, bạn có thể đi vi vu, kỹ càng một vòng cung miệng thúng, vòng quanh cao nguyên Đồng Văn (chứ không chỉ chạy dọc như đường Hạnh Phúc) bằng ôtô. Cũng vẫn cao nguyên này đây, nửa thế kỷ trước, cha anh tôi, hàng nghìn người trẻ, đã đổ mồ hôi, đổ máu suốt 6 năm trời mới khảm được một rãnh đường xếp đá thô sơ bổ một nhát chạy dọc. Sự hy sinh nào cũng giản dị vậy thôi. Trong buổi lễ long trọng đón nhận kỷ niệm chương Thanh niên Xung phong do Trung Ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tặng 52 đồng chí (trên tổng số 300 của riêng tỉnh Lạng Sơn) tham gia mở đường Hạnh Phúc, ông Đàm Văn Kiềm, trưởng Ban liên lạc Thanh niên Xung phong tỉnh Lạng Sơn tham gia mở đường Thanh niên Việt Bắc đã bật khóc: “(Vào giờ phút này) Chắc các đồng chí trong mỗi chúng ta còn nhớ lời nói và cũng là câu hỏi chối chăng cuối cùng trước khi vĩnh biệt chúng ta của đồng chí Lương Quốc Chanh: Khi làm đường xong rồi, các anh chị về Lạng Sơn có còn nhớ tới tôi - người nằm lại cùng con đường dang dở này không…?". Ai nấy ngậm ngùi, đã gần nửa thế kỷ trôi qua. Và điều rất mừng là Đảng và nhà nước đã ghi nhận công lao đóng góp của thế hệ người đi tiên phong phá đá ấy (dù còn ít nhiều bất cập). Ông Kiềm dẫn công văn của Trung Ương Đoàn: … qua tra cứu những tư liệu lịch sử Thanh niên Xung phong tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh – xây dựng Xã hội Chủ nghĩa giai đoạn 1955-1964 thì những Thanh niên Xung phong do khu đoàn Việt Bắc huy động đi xây dựng tuyến đường Hà Giang - Đồng Văn (thuộc khu Việt Bắc) là đối tượng được xét cấp kỷ niệm chương Thanh niên Xung phong (Thông báo số 71/TB/TƯĐTN ngày 23/12/1998) Kỳ vị Lời IV: “Tổng Trò chỉ chuyện huy” với ông Phạm Đường phỏng Đình Hạnh Dy, Phúc vấn: công đi trường Thâm cung bí sử về đại công trường mở đường phá đá kỳ vĩ nhất Việt Nam… người Tôi đã vô cùng cảm kích bày tỏ sự tri ân những cống hiến lặng thầm mà vĩ đại của gần 3000 ngày ròng rã, suốt 8 năm trời; của hơn 2 triệu lượt ngày công lao động mà nhiều nghìn thanh niên và bà con 6 tỉnh Khu tự trị Việt Bắc cũ đã bỏ ra làm đường Hà Giang – Mèo Vạc. Tôi đã vướng phải nỗi buồn se thắt trong so sánh: từ gần 50 năm trước, chúng ta đã có cả một nghĩa trang riêng dành để tưởng nhớ những thanh niên xung phong đã ngã xuống cho Đường Hạnh Phúc được khai sinh; trong khi đó, những dòng tư liệu, những hình ảnh, những tác phẩm liên quan đến “Vạn lý trường thành của Việt Nam” này hầu như không có gì. Ngoại trừ vài dòng (theo đúng nghĩa đen, tức là vài trăm chữ) trong Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Giang! Và, nữa: hàng nghìn người gần đất xa trời vẫn vời vợi thương nhớ 8 năm tuổi trẻ của mình, nhớ đồng đội mình đã vĩnh viễn “gửi gắm” trên bắc ải Hà Giang. Nhớ, mơ ước một lần được thăm lại chiến trường xưa mà cũng không được. Nhớ, rồi thấy xót xa là tại sao công quả ngần ấy mà thế hệ trẻ bây giờ không có cơ sở nào để nhớ đến, tại sao cái trang sử đá ấy bị lu mờ tàn nhẫn thế? Không “cụ” Thanh niên xung phong (TNXP) nào muốn kể công hay nồng nã đòi vinh danh cá nhân cả. Song, lịch sử thì không nên vô tình đến thế. Như thế là mang tội với sự xả thân của những người đã ngã xuống, của 2 triệu ngày công lao động thủ công đối mặt với rợn ngợp đá. Và mang tội với cả mai hậu nữa. Sau kỳ công sưu tầm những dòng tư liệu, những tấm ảnh mà không ai nghĩ là nó vẫn vô tình còn lại trên thế gian, tôi (được sự ủng hộ đặc biệt của các cựu Thanh niên xung phong khả kính) đã hoàn thành loạt bài dài kỳ về “Cuộc trường chinh vào trong lòng đá” đăng nhiều kỳ trên VTO. Trải quá trình tìm kiếm xuyên qua nhiều tỉnh thành, cuối cùng, không ngờ tôi lại gặp được vị Tổng chỉ huy đại công trường Hà Giang - Đồng Văn – Mèo Vạc tại Hà Nội, nhà ông lại ở ngay gần… khu Lăng Bác và Hội trường Ba Đình lịch sử. Ông Phạm Đình Dy, nguyên Trưởng Ty (Sở) Giao thông tỉnh Hà Giang, người trong cuộc, người trực tiếp giải quyết cả những chuyện đại cục - cụ thể - kỹ thuật và “bếp núc” nhất trong hầu suốt thời gian làm đường Hạnh Phúc. Sau này, ông làm đến Bí thư Tỉnh uỷ Hà Giang, và về hưu vào năm 1991 (lưu ý, hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang đã có nhiều năm hợp nhất thành tỉnh Hà Tuyên). Sau đây là cuộc trò chuyện của chúng tôi. PV Vietimes xin được trích nguyên văn băng ghi âm ra để hầu độc giả. Hơn 2 triệu ngày công, suốt 8 năm làm đường Hà Giang - Mèo Vạc: điều vĩ đại nhất là thuộc về bà con dân công! Nhắc đến hai chữ Đường Hạnh Phúc, mắt ông Phạm Đình Dy sáng rực. Câu chuyện dè dặt của ông Bí thư tỉnh uỷ về hưu sống giữa lòng thủ đô, bỗng xôm trò tới mức đôi chỗ ông “văng tục một cách thân mật”. Đến nửa thế kỷ nay, mới có người có ý định làm một công trình “viết lách” cho ngọn nguồn về cái đại công trình mà ông và hơn 2 triệu ngày công thanh niên xung phong của 6 tỉnh và dân công tỉnh Hà Giang đã phải nai lưng ra đẽo đá ròng rã 6 năm trời (24km khủng khiếp nhất từ Đồng Văn vượt Mã Pí Lèng lên Mèo Vạc làm mất 2 năm nữa là 8 năm), không vui sao được? Ông Dy bảo: - Có nhiều người đã “xui” tôi phải viết lại lịch sử công trường vĩ đại và đáng tự hào vô biên này. Nhưng tôi bận quá, vả lại mình lại không có duyên trong chuyện viết lách.[/ALIGN]Miên man chìm trong hoài niệm về cái ngày Hà Giang (có lúc ghép tỉnh thành Hà Tuyên) không thể hoang sơ hơn ấy. Bấy giờ ông là anh cán bộ của Ty giao thông đi khảo sát mở tuyến đường Hạnh Phúc kỳ vĩ như một Vạn lý trường thành của Việt Nam. Dù sóng sánh tự hào, dù đã chân tình đến độ khoa chân múa tay diễn giải theo lối của người Mông miền bắc ải, ông Dy vẫn rưng rưng: - Cái vĩ đại của việc mở con đường Hạnh Phúc này chính là người dân tham gia mở đường, rất vĩ đại. Đấy là công trình của nhiều người. PV: Của nhiều người, nhiều thế hệ… - Không nói nhiều thế hệ như anh được. Trước đây chả có thế hệ nào làm đường trên vùng phía Bắc tỉnh Hà Giang cả, nói thật là như thế. Trước kia chỉ có cái đường của thằng Tây nó làm để đi từ Hà Nội đi đến Hà Giang. Đi đến Hà Giang là hết, chả có cái đường nào cho xe cộ đi nữa. Chỉ có đi bộ, “thổ ty”, “bang tá” (tầng lớp thống trị trong chế độ phong kiến ở vùng cao – PV) thì đi ngựa kẽo kẹt vượt núi. - PV: Ngày bác công tác ở Hà Giang rồi tham gia “Tổng chỉ huy công trường Đường Hạnh Phúc”, từ Hà Giang lên Đồng Văn, Mèo Vạc (lúc đó chưa thành lập huyện Mèo Vạc) khoảng gần 200 cây số dốc núi, vẫn chỉ là hoàn toàn phải đi bộ… - Đi ngựa, lúc ấy anh nào là cán bộ cấp tỉnh thì có ngựa đi, còn nói chung thì cán bộ là bách bộ thôi. Mà đường thì cũng không phải rộng lớn gì, nó còn nhiều dốc quanh co lắm, trước kia nó là đường người và ngựa đi chứ không có một cái phương tiện thô sơ nào khác. Độ ấy, chúng tôi, mỗi lúc phải đi công tác về huyện, về xã, thì cứ lặng lẽ mà chuẩn bị, mà bàn giao tính toán cho chu toàn cái khối công việc ở nhà, ở cơ quan trong khoảng… 10 ngày là tối thiểu. Vì anh chỉ đi bộ thôi chứ chẳng có phương tiện gì khác, đi bộ suốt 10 ngày trời. - PV: Tính ra, từ khi bác ra công tác còn là một cậu thanh niên đến khi nhận công tác khảo sát, “ngoại giao con thoi” tính toán với chuyên gia trong và ngoài nước, rồi làm Tổng chỉ huy công trình, tính ra là bao nhiêu năm, bác Dy nhỉ ? - Tôi, ngày xưa học trường Bưởi, đến khi kháng chiến toàn quốc thì trường đóng cửa chuyển lên tỉnh Phú Thọ, tôi không theo được vì nhà không có tiền. Tôi học Cao Đẳng kỹ thuật, sắc lệnh do Hồ Chủ tịch kí năm 1948, đó là sắc lệnh số 1, giao cho ông Đặng Phúc Thông (bấy giờ đang là Thứ trưởng) làm hiệu trưởng. Học cái trường ấy xong thì tháng 9.1950, tôi tốt nghiệp ra trường, hồi ấy gọi là Tham Sự. Cấp trên điều tôi đi Miền Bắc, các ông ấy bảo lên Cao Bằng. Thời gian sau, tôi lại được điều động đi làm đường ở tít mãi Bắc Sơn, làm đường ở đấy là phục vụ chủ trương, phục vụ (tạo “gọng kìm sức mạnh”) cho chiến trường Điện Biên Phủ. Nhưng đường ấy làm chưa xong thì chiến dịch Điện Biên Phủ đã thắng lợi rồi. Đến năm 1954, các ông (cấp trên) ngồi tính thế nào, các ông ấy lại bảo: “Ông hồi trước ông ở Cao Bằng quen rồi, bây giờ cử ông đi miền núi”. Bảo đi thì đi thôi, xưa thì dễ lắm, sai cán bộ thì chả ai cãi cọ gì. Tôi bắt đầu lên Hà Giang là đầu năm 1958 và ở đó cho đến năm 1991 thì về hưu (khi đó đang giữ chức Bí thư Tỉnh uỷ). Năm 1958 bắt đầu lên Hà Giang, bây giờ ngồi nhớ lại hồi năm 1958 thế này nhé: cái anh Xã (Bí thư Tỉnh uỷ), cái anh gọi là tính khí rất “nông dân”, tốt bụng lắm. Ông ấy là Bí thư tỉnh ủy, ông ấy hiền lành, ông ấy bảo: “Thế chó nào cái đất này khổ quá ông ạ, đường xá chả có. Bây giờ ông nghiên cứu cho tôi xem bây giờ lên phía Bắc (các huyện Yên Minh, Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc hiện nay – PV) tỉnh ta ấy, xem đường xá có làm được không. Tôi cũng biết là khó khăn lắm, nhưng anh chịu khó nghiên cứu xem: liệu có làm được không?” Mình với một cán bộ nữa mới đem con ngựa đi, đi để xem xét lại cái đường mòn ngày xưa nó thế nào. Chúng tôi có nhõn cái bản đồ tỷ lệ 1/100.000, bản đồ của Tây, nghiên cứu trên bản đồ kỹ đã, rồi chúng tôi lếch thếch cuốc bộ đi… hình dung ra con đường, mất độ gần một tháng trời lặn lội. Về báo cáo với anh Xã thì anh Xã bảo: “Anh báo cáo với tôi thế thì tôi biết vậy thôi chứ về chuyên môn thì tôi không hiểu gì đâu, anh cứ chuẩn bị tất cả đi, hôm nào tôi với anh đi về Khu xin ý kiến. Bấy giờ Hà Giang là một tỉnh nằm trong cái đơn vị hành chính cũ gọi là Khu tự trị Việt Bắc (gồm một số tỉnh hợp lại, do đồng chí Chu Văn Tấn là Bí thư Khu ủy). Thế thì chuẩn bị. Đang cấp tập nghiên cứu thì độp một cái thế nào bên Trung Quốc họ lại cử cho hai cán bộ gọi là công trình sư sang, họ bảo: “Nghe nói bên Hà Giang các ông đang chuẩn bị làm đường, chúng tôi sang hỗ trợ”. Một ông tên là Vương, một ông tên là Hà. Đến năm 1959 thì đường Hạnh Phúc được chính thức khởi công. Khi con đường mở qua sự khắc nghiệt của các cao nguyên vòi vọi, cũng là lúc phong cảnh núi rừng lên hương sắc với ruộng bậc thang ánh nước kỳ ảo, với bản làng xanh tươi. Các cao nguyên thức dậy với sức quyến rũ vốn có của nó. Ảnh: Đỗ Hoàng Duy Nguyên Suýt nữa một nửa con đường Hạnh Phúc đã không được mở theo lối hiện nay! - PV: Chúng tôi được biết, lúc đầu, Vạn lý trường thành đường Hà Giang - Mèo Vạc đã suýt được “phát tuyến” theo lối không giống như đại công trình hiện nay? Và các ông đã phải “chiến đấu” rất vất vả để “cuộc trường chinh vào trong lòng cao nguyên đá lớn nhất Việt Nam” này, khi ra đời, có lợi cho quốc phòng và dân sinh nhất? - Sau khi hai đồng chí chuyên gia Trung Quốc leo lên ngựa đi khảo sát tuyến đường mất một tuần, lúc về, họ bảo tôi rằng: “Đồng chí phát biểu đi, hướng tuyến của các đồng chí thế nào”. Tôi mới đưa bản đồ rồi vẽ cái hướng của tôi ra. Chúng tôi bắt đầu tranh luận. Tôi bảo vệ hướng tuyến như con đường Hạnh Phúc chúng ta đi ngày nay. Còn nhóm bên kia, họ có đến 8 chục cây số đi dọc biên giới (không như hiện nay). Nếu các anh lên Hà Giang nhiều rồi thì rất dễ hình dung nhá. Đi đến Quản Bạ thì họ không đi theo dụ ý của mình, họ bắt vòng lên hết tất cả đường biên giới, ra đến Phó Bảng. Hồi đó mình không nhận thức được tất cả. Tôi phản bác: không ai đi làm đường huyết mạch nội địa mà lại đi theo dọc đường biên cả, nếu bị chia cắt… thì sao? Tôi bảo, không thể chấp thuận cái ý ấy được. Thế thì anh Bí thư Xã anh ấy rất hiền lành, bảo: “Họ gồm hai công trình sư ngoại quốc, cậu có một mình cậu, tớ thấy hơi khó đấy nhỉ?”. Tôi mới bảo: nếu anh chưa thật tin tôi thì tôi về dưới Bộ Giao thông tôi mời cụ Trần Văn Cầu lên, cụ này như vậy là tổ sư về giao thông của Việt Nam. Ông Cầu thì tôi phải gọi bằng bác, tuổi ông bằng tuổi bố tôi. Tôi bảo: “Bác ơi, bác lên bác giúp cháu cái, bây giờ dưới địa phương cháu đang tranh luận với chuyên gia ngoại quốc về hướng tuyến mở đường lên Đồng Văn. Bác phải lên thực địa với chúng cháu một cái”. Thế thì, ông Cầu năm ấy đã ngoài 60 rồi, ông ấy bảo: “Thôi được rồi, tao thấy mày cũng là người tích cực, mày đã cất công về đây rồi thì tao sẽ lên”. Thế thì mình mới lẽo đẽo theo cụ ấy đi ngựa suốt cái tuyến đường ngược Đồng Văn suốt, bước chân ra đi, khi trở về đến thị xã Hà Giang thì 10 ngày đã trôi qua. Ông Cầu bảo tôi: “Mày đi đúng chứ đi như cánh chuyên gia kia thế là sai”. Tôi bảo bác phát biểu thế này cháu biết rồi, nhưng, có khi mời bác lên Tỉnh ủy, bác phát biểu thì tỉnh mới “thông” được. Ông ấy bảo “Không, tao không liên quan, tao ở Trung Ương về, tao phát biểu thế là được rồi”. Hồi đó, dù quá say chuyên môn, nhưng về chức vụ của ông Cầu cũng là Tổng Cục phó - Tổng Cục Giao thông. Tôi cứ bám cụ Cầu, tỷ tê: “Bác phải lên, chứ một mình cháu thế này, cháu nói sợ người ta không nghe”. Ông Cầu bảo: “ Thôi được rồi, mày dẫn tao sáng mai tao lên Tỉnh uỷ”. Ông Xã gọi cả thường vụ với quan điểm, đường đi tuyến nào, đó là một vấn đề rất quan trọng. Tôi chỉ giới thiệu đại biểu, giản dị: “Đây là bác Cầu, một chuyên gia đầu ngành về giao thông, bác đã đi với tôi khảo sát 10 ngày ở toàn bộ miền Bắc Hà Giang rồi, hôm nay bác về bác sẽ phát biểu để các anh trong thường vụ rõ”. Ông ấy bảo: “Nếu đi theo hướng ven sát đường biên giới, giả dụ có chiến tranh xảy ra thì làm thế nào. Mà hơn thế, chẳng ai dại dột đổ cả triệu ngày công đi phá đá để làm cái con đường mà nó chả có qua chỗ dân cư quái nào. Thế làm giao thông mà chẳng chọn cái đường nó đi qua khu dân cư thì có khác gì ngày xưa bọn Tây nó đi làm đường chiến lược phục vụ chiến tranh! Đường phải qua khu dân cư để nhân thể đường còn phục vụ dân sinh, kinh tế chứ”. Ông cụ cũng phát biểu thêm mấy ý rồi cũng không ngồi uống nước nữa. Cụ nói: “Thôi nhé tôi phát biểu thế thôi, tôi đi về đây”. Bí thư Xã bảo: “Mời bác ở lại ăn cơm với anh em chúng tôi”. Cụ Cầu kiên quyết: “Thôi thôi cơm nước cái gì”. Thế cụ Cầu về Hà Nội. Năm hôm sau, tôi mới trả lời cái bên ý kiến cho rằng nên “nắn” đường Hạnh Phúc đi sát biên giới Việt Trung rằng: “Đi cái tuyến ấy thì cũng có nhiều cái hay nhưng trong nội bộ chúng tôi bây giờ dân tình trên tôi khó khăn lắm. Vậy nên, nếu có đường giao thông đi qua để vực bà con dậy thì quý hoá và nhân văn quá. Chứ bỏ hàng triệu ngày công, trong nhiều năm để làm con đường mà nó không có ý nghĩa dân sinh thiết thực (qua khu dân cư) thì không được”. Thế thì 5 hôm sau thì Bí thư Tỉnh uỷ và thường vụ họp, quyết định nghe ý kiến chí lý của chúng tôi. Kỳ V: Thâm cung bí sử về đại công trường mở đường phá đá kỳ vĩ nhất Việt Nam… (Trò chuyện với ông Phạm Đình Dy, vị “Tổng chỉ huy” công trường Đường Hạnh Phúc) "Những cung đường mở núi vừa đẹp, vừa hùng vĩ, đến nỗi chúng ta tự hỏi: có thể những người trẻ tay trần phá đá suốt 8 năm trời để con đường Hạnh Phúc được sinh ra kia, chắc họ cũng không hình dung được là mình có thể tạo ra được kỳ tích đó?" Tại sao có sự kiện thanh niên 6 tỉnh tiến quân lên làm đường cho Hà Giang? Và nên làm đường Hạnh Phúc chỉ trong vài tháng hay là trong… 8 năm? - Chúng tôi được biết, lúc đầu, ý tưởng làm con đường Hà Giang - Đồng Văn (tiếp đó là Đồng Văn – Mèo Vạc), có rất nhiều ý kiến hồn nhiên và ngây thơ. Ngây thơ như kiểu, phỉ nói bao giờ đá mọc được trên đầu người, bao giờ con dê đực đẻ được ra con thì thanh niên thời Cụ Hồ mới làm nổi đường vào Đồng Văn… (cười). Bí thư Tỉnh uỷ sau khi kết luận là nên mở đường vào Đồng Văn theo hướng của tôi vạch ra. Chuyện sau đó buồn cười lắm. “Thế thì anh tính toán đường này làm hết bao nhiêu năm?” - mọi người hỏi tôi. Tôi bảo, theo tính toán của tôi, nếu huy động dân công như thế này thì xin cho phép thi công nỗ lực vào khoảng 4 năm thì mới có thể xong được. Đường vào Đồng Văn tối thiểu phải dài 160km, chưa kể hơn hai chục cây số dốc núi và khó thi công nhất Việt Nam, đó là đường vượt Mã Pí Lèng từ Đồng Văn vào Mèo Vạc. Ông Đức là Phó Chủ tịch tỉnh kiêm Trưởng Ty Công an, mới bảo: “Thế chó nào mà ông tính thế (4 năm) thì lâu quá nhỉ?”. Ông Xã bảo tôi: “Thế ý anh thế nào?” Ông Đức lại bảo: “Có “chó” gì, có 160km chứ gì, tức 160.000m chứ gì, huy động 160.000 nhân công ra (và mỗi người làm một mét đường, có khi chỉ một ngày là xong béng - PV”. (Ông Dy chợt cười hóm hỉnh – PV). Ông Đức ông ấy rất cách mạng, rất tốt, rất hiền lành đấy, lúc nào ngồi họp hay ra công trường cũng cứ thuốc lào xì xụp. Ông Đức tiếp: “Thế chó gì, 160 km thế này thì lâu quá. Tôi tính cứ điều dân công 16 vạn ra thế thì ta tính 16 vạn thì mấy đợt, thì trong một năm quá lắm năm rưỡi, mỗi người một thước”. Tôi mới bảo: “Anh Đức ạ, con tính của anh thì cũng hay đấy nhưng mà thế này: ngoài những chỗ bằng phẳng ít ỏi ra, có rất nhiều chỗ núi đá cao, có chỗ vách dựng trời, có chỗ qua sông qua suối, những chỗ ấy anh giao cho một người phụ trách thì họ làm thế nào. Mà có đông người đi nữa cũng không thể làm được cơ. Đây là tuyến đường hiểm trở bậc nhất nước ta, qua cao nguyên cao nhất nước ta. Chưa bao giờ được mở đường cho xe cơ giới cả. Thời gian không thể tính như thế được”. Ông Xã bảo: “Thôi ông Đức ơi, ông để cho chuyên gia người ta phát biểu”. Ông Đức ông ấy bảo: Thế bây chúng ta cứ đi báo cáo với Khu tự trị Việt Bắc để xin ý kiến. Tôi bấy giờ mới đi Khu. Xuống thì ông Tấn (Bí thư Khu uỷ Chu Văn Tấn – PV) ông ấy lại bận, ông ấy không gặp mà giao cho ông Thanh Phong, cũng là lãnh đạo Khu tiếp. Cái ông “què què” ấy, ông Phong đi theo cách mạng, sát cánh bên Bác Hồ từ “ngày xưa”, hồi những năm 1942 hoặc 1943 gì đó. Ông bảo: “Nghe báo cáo của các anh rất hay, thế là rất cố gắng. Nhưng bây giờ thế này, theo tôi, tuyến đường quá gian khổ, một mình các anh làm không được đâu. Tôi sẽ giúp cho Hà Giang một việc như thế này, nếu các anh nhất trí thì tôi sẽ bàn. Tôi sẽ giao cho 6 tỉnh trong Khu, tỉnh nào cũng phải đưa người lên trên đấy tham gia thi công thì mới làm được cái chỗ quá khó khăn này”. Vì như thế này: bắt đầu làm năm 1959 thì phỉ nổi dậy ở đất Hà Giang (sự kiện “đóng cổng trời, mổ bụng cán bộ, đem người treo lên cây làm bia… tập bắn – PV), các đồng chí cấp trên cũng đã lường trước được tình hình chính trị Hà Giang bấy giờ dễ phức tạp thì phải. Ông Phong bảo thêm: được rồi, một mình các đồng chí làm cũng được nhưng sẽ phải mất rất nhiều thời gian. Tôi sẽ huy động thêm 6 tỉnh trong đó Cao-Bắc-Lạng-Hà-Tuyên-Thái, mỗi anh là một đại đội nhưng… À, có tỉnh là 2 đại đội, gọi là C đấy. Mình bảo phấn khởi quá, nếu có sự hỗ trợ của thanh niên 5 tỉnh bạn nữa thì… tuyệt vời. Vậy là về làm. [IMG=http://files.myopera.com/dodoanhoang/blog/1anh%202.jpg]"Tấm bia ghi nhớ sự kiện Thanh niên xung phong thuộc 16 dân tộc, ở 6 tỉnh của nước ta đã mất cả 11 tháng treo mình trên vách đá chỉ để mở đường vượt dốc Mã Pí Lèng. Tấm bia dựng trên đỉnh Mã Pí Lèng, án ngữ hai huyện Đồng Văn và Mèo Vạc của Hà Giang". Phỉ phá phách, Bí thư Tỉnh uỷ và đoàn cán bộ ngủ trong rừng để đi… ngắm tuyến mở đường! Khởi công chưa được bao lâu thì ở công trường xảy ra vụ việc: tụi kích bác và tụi phỉ nhiễu nó oánh nhặng xị, nó phá công trường. Được cái Tỉnh ủy quyết tâm lắm. Ông Xã ấy, tôi chưa thấy ông Bí thư Tỉnh ủy nào tốt và nhiệt tình như thế. Ông ấy bảo, phải huy động tuyên truyền chống sự xuyên tạc của phỉ. Một hôm ông ấy lại bảo thế này: “Tôi nghĩ mãi rồi ông Dy ạ, tôi thấy cái chỗ Quản Bạ đi qua Cổng trời tôi không biết tiếng Mông nhưng tôi nghe thấy dân người ta bảo: ngày xưa bà con leo núi ra tỉnh là đi theo đường mòn có cái dốc Gia Long cơ, nó gần, nó ngắn mà nó thấp hơn. Chứ chưa chắc đã phải là đi qua cái dốc Quản Bạ bây giờ cái chỗ đẹp nhất, chỗ đứng lên trên đỉnh dốc Cổng trời mà nhìn xuống Quản Bạ có một cặp vú tiên tròn đều gợi cảm (mà nay là thắng cảnh du lịch nổi tiếng – PV) như hiện nay. Ông bảo: “Này ông phải nghe dân tý”. Tôi bảo: “Không! Dân thì tôi nghe nhưng đây là bản đồ trăm nghìn (tỷ lệ 1/100.000) của thằng Pháp ta đang dùng đây, nếu vượt đi sang Quản Bạ thì không có cái đèo nào thấp như cái đèo của Quản Bạ hiện nay (phải tìm chỗ có thể vượt qua mà ít tốn sức làm đường, lúc làm đường xong, đi qua đỡ vất vả, đỡ xa xôi nhất – PV). Còn nếu anh nói đường đi qua dốc Gia Long thì đây đường đồng mức của nó đây. Dốc Gia Long cao hơn con đường qua dốc Quản Bạ mà chúng tôi đang đề nghị mở đường qua”.. Song ông ấy lại ngồi hút thuốc lá trăn trở: “Theo mình thì nên đi khảo sát nghiên cứu tuyến đường một lần cho rõ ràng”. Tôi bảo, được. Ông bất ngờ bảo: “Tớ sẽ đi lội rừng với cậu đấy”. Hai anh em cơm đùm cơm nắm đến Quản Bạ, người thạo đường Gia Long dẫn chúng tôi đi, chuyên môn là tôi phát biểu, tôi chỉ đi cùng với ông Xã để xem đường Gia Long nó ra làm sao. Ngày xưa nó là dốc Gia Long từ cái thời nhà Nguyễn, khi ông Gia Long trị vì, người ta mở đường mòn qua đấy (chắc là trấn ải biên thùy gì đó) cho nên nó có một cái đường cho người đi bộ và ngựa thồ cùng gõ móng. Thế là người ta gọi là dốc Gia Long. Hôm ấy đi người địa phương dẫn đường, nó dẫn thế nào mà đi từ sáng đến sẩm tối vẫn chưa thấy đường ra, mình với ông Xã cũng chủ quan chả mang theo cái gì để ăn mà đi suốt từ sáng ròng rã. Tôi bảo ông Xã: “Người dẫn đường họ nhầm thế nào anh ạ”, mà nó dẫn đi vào cái chỗ toàn phân lợn lòi với hoang thú các thứ um tùm cả lên. Sau này mới biết, đó là đường đi truyền kiếp của bà con, thế mà người mới khám phá cứ tưởng mình lạc trong “tử địa”, rừng nó là rừng nguyên thủy, nguyên sinh. Tối trời vẫn chưa nhìn thấy một nóc nhà nào ngoài rừng rú, dốc cao kinh người. Tôi bảo: đành ngủ giữa đường vậy. Đến lúc tối trời, hầu như mất phương hướng, chúng tôi bảo nhau: có khi càng đi lại càng lạc sâu nữa vào hoang vu. Bây giờ đành ngủ lại. Bốn người ngồi đó, đói ơi là đói, đành nằm đấy vậy. An bài số phận vậy (cười). Gần một tiếng sau nhìn thấy đuốc cháy ngùn ngụt, đuốc chạy thành hàng dài ở đằng sau, mình bảo có khi sống rồi anh Xã ạ. Hơn tiếng đồng hồ nữa thì lửa đuốc mới gần đến, tôi bảo, có khi người địa phương đi rừng đêm về, ta cùng hợp sức hô to cho họ biết, để họ tìm thấy 4 người bọn mình. Cuối cùng thì, họ dẫn giải chúng tôi về huyện. Hồi ấy, khu Quản Bạ đã có huyện quái đâu mà, Quản Bạ vẫn là một xã của huyện Vị Xuyên. Hôm sau, cơm nước xong Xã bảo: “Thôi anh em ta về thôi hả”. Mệt nhưng ông ấy bảo: “Gớm khoa học kỹ thuật nó có khác”. Tức là ông công nhận: bản đồ và những thông số mà chúng tôi đưa ra hoàn toàn khoa học, không thể mở đường qua dốc Gia Long được. Phải qua cổng trời Quản Bạ - vó ngựa biên cương lộng gió ngàn của chúng ta hiện nay! Đến khi về thu khu nữa. Mình lại nhớ cái tay Vanh ngày xưa cùng học với mình trên một lớp thôi, tay ấy là Phó Giám đốc (một đơn vị liên quan – PV) của Khu, hắn bảo: “Khu bảo tôi lên xem tình hình của anh tính toán thi công thế nào”; tôi bảo: “Vâng, mời anh lên, anh bố trí gặp Thường vụ Tỉnh uỷ, tôi sẽ báo với văn phòng để họ thu xếp”. Tay ấy cũng đi thực địa chứ không phải không, nhưng hắn đi lúc tôi bận không đi được. Mình bảo cậu cứ đi thôi có cán bộ đi cùng. Về họp với Thường vụ Tỉnh uỷ, hắn bảo thế này: “Phương án mà anh Dy nói, làm đường mất 4 năm là hoàn toàn sai, không thể làm được, đường này làm thế nào trong 4 năm mà xong được. Theo tôi thì phải 7 năm tới 8 năm mới làm được”. Nghe xong, ông Xã không phát biểu nhưng ông Đức công an bảo: “Nói nhiều thế thì nói làm chó gì, người ta đang bảo làm giảm thời gian đi cho nó nhanh, ông lại bảo là làm mất 7 năm mới 8 năm. Thế thì làm (theo phương án của ông) làm chó gì”. Thế là mình tính đúng, như vậy là chỉ hơn 4 năm (gần 5 năm) một chút thì mới khánh thành, mới thông đường Hạnh Phúc (xin nhắc lại đoạn Đồng Văn – Mèo Vạc mất 2 năm trời đằng đẵng gian khổ đệ nhất nữa). "Những cung đường mở núi vừa đẹp, vừa hùng vĩ, đến nỗi chúng ta tự hỏi: có thể những người trẻ tay trần phá đá suốt 8 năm trời để con đường Hạnh Phúc được sinh ra kia, chắc họ cũng không hình dung được là mình có thể tạo ra được kỳ tích đó?". “Cái dốc Mã Pí Lèng cao thế, liệu có làm đường ôtô qua được không nhỉ?” - Cuối cùng thì “đá cũng đã mọc trên đầu người”, “dê đực cũng đã biết đẻ”. Đường Hạnh Phúc đã sờ thấy được, hạnh phúc đã đến với 8 vạn đồng bào chưa biết đến đường ôtô bao giờ… Hôm khánh thành đường Hà Giang lên Đồng Văn ấy, chúng tôi có mời ông Phan Trọng Tuệ (Bộ trưởng Bộ Giao thông) lên. Ông ấy cũng hoan nghênh, mình mới bảo mời anh đến nghĩa trang dành riêng để tưởng nhớ những anh em đã hy sinh tại công trường đường Hạnh Phúc, ông ấy bảo: “Phải rồi, cậu dẫn tớ đi ngay!”. Ông Tuệ thắp hương rất trịnh trọng và thành tâm. Để có được con đường kỳ vĩ ấy, rất nhiều người trẻ đã vĩnh viễn nằm lại với núi đá biên cương. Có rất nhiều người đã sửng sốt khi “đi thông xe” bên những mép vực cheo leo toàn đá, chỉ có đá và đá. Chính tôi cũng không thể tưởng tượng được sức người có thể… chiến thắng cao nguyên đá một cách ngoạn mục đến thế. Tôi đã dùng cả một buổi tối để thuyết trình về đại công trình cho các quan khách nghe. - Thưa ông Phạm Đình Dy, suốt quá trình đi thu thập tư liệu tản mát trong các thanh niên xung phong làm đường Hạnh Phúc, họ đều đã mắt già chân chậm, chúng tôi nhận thấy rằng: chúng ta còn biết quá ít về lịch sử ra đời của công trường phá đá mở đường vĩ đại nhất lãnh thổ nước ta này. Đến một vài bài báo nhỏ cũng hầu như… chưa có. TNXP 6 tỉnh làm đường xong là trở về và…vĩnh viễn không nghe ai nhắc đến chiến công của họ nữa (dù họ luôn đau đáu nhớ mồ hôi, nhớ máu, nhớ tuổi trẻ 8 năm ròng của mình đã cống hiến ở đó). Và, vì thế, con số về lượng lượt người, lượng ngày công tham gia để có được “Van lý trường thành” chinh phục cao nguyên Đồng Văn rất không thống nhất. Là Tổng chỉ huy công trường, chắc ông biết rất rõ? Quãng độ hơn 1000 Thanh niên xung phong, họ tham gia thi công đường Hạnh Phúc từ khi bắt đầu đến khi bế mạc công trường. Tôi chỉ còn nhớ lại con số thế này nhé, khi tôi tổng kết lên đến Đồng Văn thì công của TXNP là 990.000 ngày công, gần 1 triệu ngày công, còn của dân công là 1triệu 2. Hai con số này tôi nhớ suốt đời, vì nó là máu, mồ hôi, là tuổi trẻ của hàng vạn người suốt hàng nghìn ngày đằng đẵng. Ngày nào cũng đối diện với muôn vàn khó khăn, hiểm nguy. Họ là những người dũng mãnh! Tôi mở ngoặc, đấy là đến Đồng Văn nhé, còn sau này là cái tuyến đến Mèo Vạc thì thế này: khi đó tỉnh có quyết định tách khu vực Mèo Vạc (vốn thuộc Đồng Văn) ra thành huyện riêng. Ông Lương, bấy giờ là Bí thư Tỉnh uỷ lại bảo tôi: “Làm tiếp đường từ Đồng Văn đến Mèo Vạc ông ạ”. Ông ấy bảo nguyên văn, rất thận trọng: “Cái dốc (đèo) Mã Pí Lèng này tôi đi rồi tôi biết rồi, khó thế ông có làm nổi không?” Tôi bảo: “Có lẽ phải để tôi đi khảo sát đã. Liệu có đi được qua vực đá cao hàng mấy cây số mà bà con đi qua vẫn phải buộc mình vào dây mới dám… bò ấy không nhỉ? Đi tuyến ấy hay là tránh cái anh “đầu trâu trán chó” ấy ra mà đi (tránh voi chả xấu mặt nào). Tôi lại đi khảo sát tuyến đường tiến vào Mèo Vạc, phải đi một cái tuyến cao hơn nó nhưng mà để tránh cái chữ chi, 9 cái chữ chi liên tục ngoằn ngoèo. Chỗ ấy rất nổi tiếng, gọi là cái dốc 9 khoanh. Nó nằm như con rắn khổng lồ đang cuồn cuộn… ngủ. Cái dốc biết “ăn thịt” người xấu số. Khảo sát xong, chúng tôi đành quyết định đi theo cái tuyến hiểm trở (để có lợi cho giao thông qua Mã Pí Lèng muôn đời sau này – PV); tuy nhiên, vẫn phải đánh vòng đường vào trong núi chứ không phải đi theo mấp mé ngoài vực được. Kỳ công lắm, cái tuyến này mới là cái tuyến kỳ công trong suốt đoạn từ Hà Giang lên đến Mèo Vạc, cái tuyến dưới cũng đã rất khó khăn nhưng mà không khó bằng anh chàng Mã Pí Lèng. 24 cây số mà làm mất đúng 2 năm mới xong. Hàng mấy nghìn người, làm suốt 1 tháng chỉ được 1 cây số đường (chia trung bình). - Vậy ra, cộng vào là đến 6 năm mới xong con đường khoảng 190 km từ thị xã Hà Giang lên huyện Mèo Vạc ngày nay ? Đúng rồi, xong đường vào Mèo Vạc là vào quãng độ 1965 (đường Hạnh Phúc thông đến Đồng Văn là năm 1963). Có một sự thật là, chúng tôi đã rất hạn chế lượng dân công tham gia mở đường vượt Mã Pí Lèng, vì nó quá khó khăn. Không có kỹ thuật, không bài bản thì… chết ngay. -Anh em thanh niên xung phong mở đường Hạnh Phúc sống ở Hà Giang bây giờ vẫn còn ám ảnh bởi cái chết của bác Hoàng Ngọc Phẩm rất là thương tâm. Thi thể bị nát vỡ sụn nhiều phần, đồng đội của đội cơ dũng (những người… cảm tử) phải đóng xà beng vào làm cọc chi chít để buộc dây qua các xà beng, treo mình tụt xuống vực nghìn mét, buộc thi thể bác Phẩm vào dây kéo lên… Như thế này nhé, ngay khi tớ đi khảo sát phải đeo dây bám chứ không phải có đường mòn để đi khảo sát đâu nhé, đến đâu phải đánh dấu đỏ cho anh em thi công, chứ hồi ấy làm quái gì có máy ngắm máy nghiếc. Chỉ đi với cái thước ngắm bằng mắt xem nó là bao nhiêu phần trăm đó thì mình ghi ra rồi cứ theo cái đó mà đánh đấu đỏ. Đến khi anh em làm phải treo mình trên vách đá 11 tháng trời. Cho đến giờ tớ vẫn thán phục tinh thần của anh em, phải nói là hy sinh cực kỳ. Kỳ VI: Thâm cung bí sử về đại công trường mở đường phá đá kỳ vĩ nhất Việt Nam… (Trò chuyện với ông Phạm Đình Dy, vị “Tổng chỉ huy” công trường Đường Hạnh Phúc) "Nhất định là nhất Việt Nam rồi. Tôi cũng từng đi tham gia mở đường Bắc Sơn – Đình Cả rồi, biết bao nhiêu đèo dốc nổi tiếng ở Việt Nam, chúng tôi cũng đã có mặt và thi công nhưng, nỗi vất vả, sự kỳ vĩ của công trình, những nơi kia không thấm gì so với đường Hà Giang – Mèo Vạc. Tuyến này đi qua biển đá, cao nguyên cao nhất Việt Nam, đến mức, lúc mở đường chúng ta đều phải nắn tuyến, phải đo đạc làm đường ở những nơi từ thuở trời đất sinh ra chưa có đường, chứ không dễ gì “lợi dụng” cơ sở vật chất của lối mòn của người bản xứ". Các ông Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Văn Cao… đã đi thực tế ở công trường Đồng Văn như thế nào? - Chúng cháu nghe nói, ngày xưa, vì công trường quá vạm vỡ, biển đá quá kinh khủng và sự cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam trên công trường là kỷ lục, cho nên các văn nghệ sỹ nổi tiếng đều cố gắng có mặt để chứng kiến không khí ấy rồi sáng tác. Có đúng vậy không, thưa bác? Nhiều chứ, Xuân Diệu có này, Nguyễn Tuân có này, Văn Cao có, Chế Lan Viên cũng có này. Khi nghe Bộ trưởng Bộ Giao thông Phan Trọng Tuệ giới thiệu, chúng tôi vinh dự đón các nghệ sỹ tên tuổi lên đi thực tế. Họ bảo, công trường phá đá tầm cỡ thế mà không lên thì… không phải là nghệ sỹ sống với nhịp đập cơ thể tổ quốc. Lên đến nơi, tưởng ai hóa ra là ông Chế Lan Viên, ông thầy dạy học cũ của tôi. Độ ấy, ông đi dạy hè, dạy tư ấy mà, ông ấy dạy môn Văn. Riêng ông Nguyễn Tuân thì thế này: con ông Tuân lại là bạn học cùng tôi, đi bộ đội cùng nữa. Họ đi thực tế với chúng tôi ngót nửa tháng chứ không ít đâu. Ngày xưa ấy mà, tinh thần nó khác bây giờ. Chứ ngày nay, có mời được mấy ông văn nghệ sỹ lên thì có khi lại phải phong bì phong biếc rồi xe mới pháo ầm ầm. Các ông Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… hồi ấy, ăn uống rất đơn giản. Có một chuyện tôi rất tiếc là thế này, ông Văn Cao ông ấy bảo: “Ông Dy ngồi đây tôi vẽ cho ông một bức tranh thật đẹp”. Tranh vẽ bằng bút chì đen, ông ấy còn vẽ cả con gái tôi thế mà hồi chiến tranh sơ tán cất thế quái nào lại để nó thất lạc mất. - Sao con đường khổng lồ, dữ dằn như thế ra đời, mà không có tác phẩm báo chí, văn chương, nhiếp ảnh hay phim phiếc gì cho nó xứng tầm, bác nhỉ? Dư luận cả nước, cả Trung ương nữa đều coi đó là kỳ tích, rất đáng hoan nghênh! Nhưng mà hồi ấy là thế này. Hồi ấy tớ chê cái ông Trung ương lắm nhé, đáng lẽ nhà nước nên đứng ra khen thưởng những người anh hùng phá đá 8 năm ròng kia một câu. (Thay vì chỉ có sự động viện của Khu Tự trị qua… giấy tờ PV). "Cuộc sống mới mọc lên từ đá" - Chúng cháu đã đi con đường Hạnh Phúc nhiều lần, đã chụp ảnh lại tất cả các cái huy hiệu thanh niên làm đường Đồng Văn (còn gọi là Đường Thanh niên Việt Bắc), cả những huy hiệu có vẽ hình Cổng trời Quản Bạ. Mong muốn của cháu là thế hệ nay và các thế hệ sau nên hiểu ngọn ngành về con đường bất hủ này. Chứ không nên, cứ mỗi một lần lên đấy, thấy những cung đường ngút ngàn trong mây và đá xám, thấy nó kỳ vĩ quá, bọn trẻ và du khách lại hỏi: ngày xưa làm đường này như thế nào mà giỏi thế. Rồi chẳng biết hỏi ai, chẳng ai biết mà giả nhời. Vả lại, những gì xúc cảm được, hiểu được từ đại công trường này có ý nghĩa giáo dục về thiên nhiên, lịch sử, đạo đức cống hiến rất tuyệt vời. Thưa bác Dy, bác có nghĩ rằng: con đường Hạnh Phúc từ Hà Giang lên Đồng Văn, rồi vượt Mã Pí Lèng sang Mèo Vạc là con đường mà việc “đẻ” ra nó vất vả nhất nước ta không? Nhất định là nhất Việt Nam rồi. Tôi cũng từng đi tham gia mở đường Bắc Sơn – Đình Cả rồi, biết bao nhiêu đèo dốc nổi tiếng ở Việt Nam, chúng tôi cũng đã có mặt và thi công nhưng, nỗi vất vả, sự kỳ vĩ của công trình, những nơi kia không thấm gì so với đường Hà Giang – Mèo Vạc. Tuyến này đi qua biển đá, cao nguyên cao nhất Việt Nam, đến mức, lúc mở đường chúng ta đều phải nắn tuyến, phải đo đạc làm đường ở những nơi từ thuở trời đất sinh ra chưa có đường, chứ không dễ gì “lợi dụng” cơ sở vật chất của lối mòn của người bản xứ. Tuy nhiên, sự khắc nghiệt đến đáng sợ ấy cũng đã nhiều người lè lưỡi kể rồi. Tôi muốn nói về vẻ đẹp ngay trong sự khắc nghiệt chết người đó. Qua Mã Pí Lèng đi đường 9 khoanh uốn lượn qua 9 cái dốc. Đường Hạnh Phúc phải nắn sang tuyến như hiện nay để làm cho nó đỡ vất vả. Và con dốc cũ vẫn còn nguyên, rất là huyền thoại, thỉnh thoảng chỉ có vài người bản xứ đi nương đặt chân vào đó thôi. Đường của bà con nó hẹp đến mức con ngựa đi trước thì đá ngựa đi sau. Bụng con ngựa đi cứ chịn vào hai mép đá hai bên hẻm núi. Nó hẹp đến mức như thế cơ mà. Tôi rất tiếc, tôi đã mấy lần nói với cán bộ và bà con huyện Mèo Vạc, rằng các cậu nhớ giữ cái dốc 9 khoanh này để mà làm kỉ niệm nhé. Thế mà anh em nó nghe mình được mấy năm, năm ngoái năm kia tôi lên thì… chẳng còn hình dung đâu là dốc 9 khoanh nữa rồi. Có thể bà con người ta làm nương người ta cũng cuốc đường cũ người ta làm. Nhưng rõ ràng, tôi đã bảo làm ngô thì cứ làm còn cái dốc thì cố gắng giữ để kỷ niệm với tuyến đường đã gắn bó với bà con qua nhiều thế hệ này. Con dốc 9 khoanh nhìn vô cùng gợi cảm. Nếu mà còn, dân nhiếp ảnh các cậu có mà mê tơi (cười). - Bác có nghĩ rằng, như các bác mà cháu phỏng vấn trước đây đều cho rằng sự tôn vinh con đường này cũng như chế độ đãi ngộ những người vất vả trực tiếp làm con đường này có rất nhiều bất cập? Ngày trước, khi chưa có cơ chế thì không nói, nay, việc tôn vinh là cần thiết và là một món nợ của chúng ta với lịch sử? Chả có cái gì, đừng có nói chế độ gì, chả có cái gì (bù đắp cho những cống hiến và hy sinh của cả nghìn thanh niên xung phong cùng hàng nghìn dân công) hết. Làm xong đường, hết 6 hoặc 8 năm trời “đồn trú” trên đá (với người làm đường vào Mèo Vạc) là về thôi. Như vậy đấy. Chứ không phải như bây giờ, hơi một tý là đòi huân chương huân chiếc. Ngày xưa, chúng tôi chả có cái huân chương nào hết. Cũng không có một cái gì, cứ đơn giản như vậy từ anh cấp trên xuống đến anh cấp dưới. Đường xong, khánh thành vui vẻ là xong thôi, lại xông pha đi làm việc khác. Vĩ đại nhất ở đại công trường ấy, là… lực lượng dân công. Và, lực lượng Thanh niên xung phong 6 tỉnh đã “cực kỳ anh hùng” "Những cung đường đã và sẽ chiến thắng - khám phá thế giới của vô tận của đá" - Cháu vừa mới đi một vòng cung Yên Minh – Mèo Vạc - Đồng Văn về, đi cả đường Hạnh Phúc, đường Mèo Vạc và đường Quyết Thắng lịch sử… Năm kia (2005), tôi có lên lại Hà Giang, tôi có yêu cầu Tỉnh ủy là cho tôi đi xem lại con đường này. Tôi thấy anh em có mở rộng con đường, có rải nhựa được - cái đó cũng là hoan nghênh - thế còn, nói chung, tuyến đường ngày xưa như thế nào thì nó vẫn y nguyên như thế không thay đổi. Về sau anh em nó có điều kiện hơn, nó có tiền hơn nó có mở rộng thêm. Nghĩ lại, ngày xưa, vĩ đại nhất là người dân, cậu có biết ngày xưa người dân (hàng nghìn người) tham gia làm đường thì được cái gì không? Mỗi 1 ngày công quy vào cho 1 cân gạo, 1 ngày công cho có 1 cân gạo trong đó thì có 8 lạng gạo và 2 lạng tính vào thức ăn, rau riếc. Không có hơn một tí gì nữa. Mới lại thế này: không có lán trại vì nhà nước có tiền đâu mà làm. Dân giăng bạt giăng ni-lông, người ta tự làm rồi tự chui vào đó tá túc. Bây giờ nói không phải là kể khổ đâu nhưng phải nói là hoàn cảnh đất nước lúc đó cũng không thể khác hơn được, cậu bảo làm cái đường này ông Khu (tự trị Việt Bắc) ông ấy chỉ thêm cho được tý nào thì thêm, còn bản thân “anh” Hà Giang phải móc túi móc tiếc hò nhau mà làm chứ có tài trợ kinh phí gì đâu. - Cháu tưởng kinh phí là khu rót xuống, bấy giờ còn bao cấp mà bác. Bấy giờ, có lẽ dồn tiền vào đi mua mìn là chính. Suốt 6 năm trời phá đá như thế, mà không có máy móc hỗ trợ gì. Khoan lót choòng hoàn toàn bằng tay. Đấy, cái vĩ đại của người dân là ở đấy. Tôi sang Hà Giang bây giờ, nói thật, tôi chỉ nhớ dân là chính, chứ chả nhớ “ông” nào hết. Dân vĩ đại là thế mà đến bây giờ mình ngồi xem lại những thước phim thấy dân vẫn khổ như vậy, mình đền đáp với dân như vậy có cái gì đó như là không thỏa đáng... - Cháu có nghe cái khổ nhất hồi ấy không phải là cái đói mà là nước, nước thì cực kỳ thiếu, cái thứ hai là rau xanh… Cậu có biết Thanh niên xung phong mùa khô này rất khổ, một ngày nam giới có một ca nước sinh hoạt; còn nữ giới một ca rưỡi, một ngày giời, có ngần này, “chúng mày” muốn làm thế nào thì làm. Nước ở trong kho có một người chuyên phân phối? Ừ đúng rồi. Mà đi làm thế này đơn vị nào đóng gần sông suối ấy thì thằng ấy phúc nhất đấy - chứ còn thằng nào đi ngược phía trên kia thì khổ. Thế mà 6 năm trời!6 năm trời đấy. Phải nói là Thanh niên xung phong của 6 tỉnh cực kỳ anh hùng. - Bác có ấn tượng gì đặc biệt về sự kham khổ ghê gớm của anh em thanh niên xung phong làm đường Hạnh Phúc hồi đó? Kham khổ thì như vậy, nhưng sức lao động người dân bỏ ra mình thấy cực kỳ vĩ đại. Mà bù lại cái thiệt thòi vì sự cam go đó cho người ta thì rất khó. Tôi, nhiều lúc, ngồi nghĩ, giờ những kẻ tham ô tham nhũng mà báo chí đã phanh phui, tôi nghĩ phải bắn hết chúng nó ngay lập tức. Nghĩ đến người xưa người ta hy sinh như thế, người ta không đòi hỏi gì; lại nghĩ cái sự thoái hoá trong tham nhũng thì thật đau lòng! - Bác có thấy, cho đến bây giờ chưa có một quyển sách, thước phim hay những tư liệu tham khảo nào nói về đại công trình đường Hạnh Phúc; thậm chí, cháu đọc Lịch sử đảng bộ tỉnh Hà Giang cũng thấy họ không hề nhắc đến…. Nhắc thì có nhắc nhưng có mỗi cái câu tuyến đường như thế thôi, chứ không có kể lể tuyến đường ra làm sao, đầu cua tai nheo thì không có. Bác có nghĩ như thế là không đúng? Anh em thì có nhiều người nó nói với tôi là anh nên viết cái này. Nhưng tôi chưa/không viết được. - Thay mặt độc giả VTO, xin chân thành cảm ơn cuộc trò chuyện khó có thể thẳng thắn hơn, khó có thể sinh động và chi tiết hơn của bác! Bây giờ, tôi nghỉ rồi chứ (nếu vẫn làm Bí thư Tỉnh uỷ Hà Giang, - PV) tôi sẽ bảo lực lượng Thanh niên xung phong cố gắng mà tổ chức lại kỷ niệm, chứ tôi chả thấy anh nào nói tới Thanh niên xung phong của tuyến đường Hà Giang vĩ đại kia cả./. (Source: Vietimes) …………………………………..*** THE END***…………………………………….

Related docs
Việt Nam - Môi Trường Và Cuộc Sống2
Views: 71  |  Downloads: 8
Việt Nam - Môi Trường Và Cuộc Sống2
Views: 43  |  Downloads: 2
Cam On Cuoc Doi
Views: 117  |  Downloads: 2
cuoc hop 16-11---------
Views: 5  |  Downloads: 0
DOI TRONG CUOC DOI
Views: 14  |  Downloads: 1
Tho tinh yeu _cuoc song_350
Views: 2  |  Downloads: 0
cuoc hop 16-11 Tan an02
Views: 5  |  Downloads: 0
Cuoc doi thuyen truong Blood _phan 2_
Views: 6  |  Downloads: 0
Cuoc doi thuyen truong Blood _phan 3_
Views: 3  |  Downloads: 0
cuoc hop 16-11
Views: 5  |  Downloads: 0
20 BI QUYET CUOC SONG
Views: 12  |  Downloads: 1
cuoc hop 16-11 SEP TAN
Views: 5  |  Downloads: 0
premium docs
Other docs by Diep Van
Eat Right, Live Right-The Mediterranean Way
Views: 68  |  Downloads: 6
Adventure Guide Vietnam, Laos and Cambodia
Views: 319  |  Downloads: 34
Sustainable Tourism and Eco-Tourism
Views: 172  |  Downloads: 17
Your Health
Views: 153  |  Downloads: 1
Cancer Terminator
Views: 89  |  Downloads: 2
English for International Tourism
Views: 497  |  Downloads: 93
Principles of Internet Marketing
Views: 139  |  Downloads: 15
Business Ethics and The Market Economy
Views: 62  |  Downloads: 1
SEO-MADE EASY
Views: 117  |  Downloads: 3
Các VQG Và KBTTN Việt Nam_Part2
Views: 122  |  Downloads: 27
Các VQG Và KBTTN Việt Nam_Part1
Views: 323  |  Downloads: 27
Việt Nam - Môi Trường Và Cuộc Sống2
Views: 43  |  Downloads: 2
Việt Nam - Môi Trường Và Cuộc Sống2
Views: 71  |  Downloads: 8
Tiếng Anh Chuyên Ngành Dịch Vụ Khách Sạn
Views: 938  |  Downloads: 130