Docstoc

y án Áp xe phổi 1 (DOC)

Document Sample
y án Áp xe phổi 1 (DOC) Powered By Docstoc
					Áp xe phổi 1
(Trích trong „Thiên Gia Diệu Phương‟ của Lý Văn Lượng, Trung Quốc)

Biện chứng đông y: Ngoại cảm phong ôn bệnh độc, bệnh tà tập kết tại phế tổn thương
huyết mạch, huyết bị nhiệt đốt mà sinh thối thịt thành ung mủ.

Cách trị: Thanh nhiệt giải độc, khử đờm bài mủ.

Đơn thuốc: Thanh nhiệt bài nùng thang.

Công thức: Đông qua tử 30g, Ngân hoa 30g, Công anh 30g, Sinh ý mễ 30g, Tiên lô cǎn
60g, Cát cánh 10g, Đơn bì 10g, Chỉ thực 10g, Đình lịch tử 10g, Xuyên bối 10g, Đào nhân
10g, Tô tử 10g, Hoàng cầm 15g.

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, chia làm 2 lần.

Hiệu quả lâm sàng: Thôi XX, nam, 45 tuổi, sốt cao, ho, nôn ra đờm dính có mủ, mùi hôi
thối, ngực đau, thở gấp, miệng khát, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác hữu lực. Chẩn
đoán là phế ung (áp xe phổi). Cho uống “Thanh nhiệt bài nung thang”. Sau 2 tháng thì
các chứng đều giảm, duy đờm cẫn còn mùi thối. Lại theo bài đó tiếp tục uống 5 thang,
các chứng đều hết, bệnh khỏi

Bàn luận: Điêuử trị phế ung (áp xe phổi) thì trước hết phải làm rõ hư thực. Nói chung nếu
đột nhiên sốt cao, ho đờm dính mà thối, ngực đau, chất lưỡi hồng rêu vàng, mạch hoạt
sác hữu lực là thuộc thực chứng, tức phải lấy thanh phế nhiệt giải độc bài nùng (trừ mủ)
làm chủ yếu, lượng thuốc phải nhiều, nếu hư giữ lượng như cũ tất không chế ngự được
dương cang, âm lại bị tổn thương. Cần chữa trị lúc chưa thành mủ thì tác dụng nhanh
hơn, còn nếu đã thành mủ rồi thì nên dùng phép hoạt huyết bài nùng (trừ mủ), thanh nhiệt
giải độc mới có thể bảo toàn phế khí và tân dịch mà khỏi bệnh. Người nghiện rượu bị
bệnh này thì thường không tốt, nếu xuyễn, tiếng khàn, máu mủ hôi thối móng tay tím
bầm, tức là phổi đã thối nát, tình hình như vậy thì dữ nhiều lành ít. Trong bài “Thanh
nhiệt bài nùng thang” có Ngân hoa, Công anh, Tiên lô cǎn, Hoàng cầm đều là thanh phế
nhiệt giải độc; Đông qua tử, Đơn bì, Chỉ thực, Cát cánh, ý mễ, Xuyên bối đều là thanh
phế nhiệt mà trừ mủ; Đào nhân hoạt huyết hóa ứ, Đình lịch tử, Tô tử đều là giáng khí tiết
phế. Các vị thuốc hiệp đồng do đó chóng đạt hiệu quả hoàn toàn.




Áp xe phổi 2
(Trích trong „Thiên Gia Diệu Phương‟ của Lý Văn Lượng, Trung Quốc)

Biện chứng đông y: Tà nhiệt ẩn ở phế, uất lâu không giải được, phổi thối rữa thành mủ.
Cách trị: Thanh nhiệt giải độc, khử đờm trừ mủ.

Đơn thuốc: Phức phương ngư cát thang.

Công thức: Ngư tinh thảo 30g, Cát cánh 15g, Kim ngân hoa 30g, Cam thảo 5g, hoàng
cầm 10g, Đào nhân 10g, Đông qua nhân 30g, Sinh dĩ nhân 30g, Tượng bối mẫu 10g.

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, người bệnh nặng mỗi ngày 1 thang. Người nhiệt nặng có thể
thêm Hoàng liên 10g, người chính hư có thể thêm Hoàng kỳ 15g.

Hiệu quả lâm sàng: Theo dõi điều trị 40 ca phần lớn có kết quả rất tốt. Hoạn XX, nữ, 19
tuổi, công nhân. Vì sốt, ho đau ngực 4 ngày mà vào viện. Xét nghiệm bạch cầu
12.000/mm3, trung tính 83%. Chụp X quang thấy: phía trên phổi trái có một đám mờ lớn,
ở giữa là vùng trong suốt và mặt dịch phẳng. Chẩn đoán áp xe phổi trái. Sau khi vào viện
nhiệt độ còn liên tục cao 39-40oC, ho kịch liệt, đờm khạc ra như mủ, kém ǎn, miệng khô
khát, đại tiện bí kết, lưỡi đỏ, chất lưỡi vàng nhạt bẩn, mạch hoạt sác. Cho “Phức phương
ngư cát thang”. Uống thuốc 1 tuần, giảm sốt dần, sau 10 ngày thân nhiệt xuống bình
thường. Ho và đờm mủ giảm bớt. Lại uống thuốc trên 2 tuần nữa, các chứng trạng lâm
sàng đều hết. Kiểm tra lại bằng X quang: Viêm ở phía trên phổi trái có hấp thu rõ ràng,
mặt dịch phẳng không còn. Lại dùng bài thuốc trên có gia giảm điều trị 2 tuần nữa. Chụp
X quang kiểm tra lại: viêm ở phía trên phổi trái đã hấp thu duy còn hang chưa hoàn
toànkhép kín. Nói chung tình hình người bệnh tốt được xuất viện. Hai tháng sau kiểm tra
lại, không thấy còn hang ở phía trên phổi trái.




Áp xe phổi 3
(Trích trong „Thiên Gia Diệu Phương‟ của Lý Văn Lượng, Trung Quốc)

Biện chứng đông y: Thấp nhiệt nội uẩn, nhiệt độc làm thương phế.

Cách trị: Thanh nhiệt giải độc, trừ đàm hóa ứ.

Đơn thuốc: Sinh hoàng đậu tương.

Công thức: Hoàng đậu (vừa đủ). Rửa sạch, ngâm vào nước cho nở ra, xay nhuyễn với
nước, lọc bỏ bã đậu là được sữa đậu nành sống. Mỗi ngày uống 3 lần mỗi lần chừng 300
ml (khi cảm thấy vị tanh của đậu tương không nuốt được nữa thì thôi, trẻ em giảm liều).

Hiệu quả lâm sàng: Điền XX, nam, 58 tuổi, nông dân. Ho, khạc đờm, ngực đau gần nửa
nǎm. Lúc đầu sốt lạnh, sườn đau nhức, ho thì rất đau, có lúc nôn ra đờm dính, bệnh kéo
dài, khạc ra một lượng lợn máu mủ, mùi tanh tưởi lạ lùng, thân thể gầy gò, sắc mặt tiều
tụy, miệng hầu khô, rêu lưỡi vàng bẩn, mạch hoạt sác. Bảo người bệnh nhai đậu tương
sống để xem bệnh, người bệnh nhai thì thấy trong miệng có vị ngọt. Dùng “Sinh hoàng
đậu tương” được hơn 10 ngày thì lượng mủ giảm đi, giảm sốt, ǎn được nhiều hơn. Sau
khi uống thuốc 20 ngày, bệnh nhân cảm thấy vị tanh của đậu tương khí có thể nuốt được
nên ngừng uống. Sau đó các chứng đều giảm nhanh, khỏe dần. Theo dõi chưa thấy bệnh
tái phát.

Bàn luận: ứng dụng Sinh hoàng đậu tương để trị áp xe phổi trong thực tế thấy là khá
thích hợp trong thời kỳ mưng mủ và vỡ mủ. Lúc này áp xe vỡ mủ, thân nhiệt gần như
bình thường nhưng khạc ra nhiều máu mủ, thân thể hư nhược. Sữa đậu nành sống có tác
dụng khử đàm tống mủ ra thanh nhiệt giải độc, cầm máu sinh cơ, bổ phế phù chính.
Chẳng những sinh hoàng đậu tương có thể trị áp xe phổi trong điều kiện nông thôn, mà
còn có thể là một phươg tiện để chẩn đoán: tức là nếu bệnh nhân nhai Sinh hoàng đậu
thấy vị thơm ngọt thì phần lớn là áp xe phổi, thấy vị tanh hôi thì phần lớn không phải là
áp xe phổi. Đó chỉ kinh nghiệm chưa có cơ sở khoa học. Theo thông tin các nơi thì trên
lâm sàng có thể điều trị áp xe phổi bằng Ngư tinh thảo, có tên Ngư tinh thảo là vì có vị
tanh của nó. Sinh hoàng đậu tương khí vị cũng tanh, trị áp xe phổi tác dụng khá, hai vị
thuốc này có mối quan hệ gì không, còn đợi nghiên cứu. Ngoài ra Đông qua tử, Qua lâu
tử, Bại tương thảo, Cát cánh, đều cùng có vị tanh, công hiệu trị áp xe phổi của các loại
này đều cần được nghiên cứu.


Áp xe phổi 4
(Trích trong ‘Cổ Kim Y Án Án’ của Du Chấn Toản, Trung Quốc)

Mẹ ông Lục Linh Nghi hàng ngày chỉ ăn thức ăn chay nên trong bao tử và ruột bị khô
sáp. Đến kỳ tắt kinh mà kinh vẫn xuống không ngừng, giống như chứng băng huyết, mời
Dụ Gia Xương đến chữa. Vào khoảng giờ Thân, giờ Dậu bệnh càng phát nặng. Đã cho
uống thuốc thanh Phế nhưng cũng như nước dội vào đá, bệnh không chuyển biến. Người
con sợ quá, lại mời Dụ Gia Xương đến xem mạch và chữa bệnh giúp. Ông thăm mạch,
thấy mạch đi lúc to, lúc nhỏ, khi thì mạch Lao, lúc mạch Phục, khi mạch Huyền Khẩn,
không đều, ông nói: “Có lẽ hiện giờ trong phổi đã sắp thành nhọt, vì năm nay khí trời táo
quá, nhiều người mắc bệnh ho, mà bà cụ là người có tuổi, huyết hư, tân dịch khô ráo, cảm
bệnh chắc nặng hơn người khác nên khó chữa”.

Ông tạm dùng bài Đình Lịch Tả Phế Thang để cho sơ thông Phế khí trước đã rồi sau sẽ
hay. Bệnh nhân uống vào một lúc thì thấy khoan khoái dễ chịu, ăn hơi ngon miệng, dễ
ra đờm, đã nằm nghiêng được. Lục Linh Nghi lấy làm mừng lắm. Nhưng Dụ Gia Xương
bảo: “Chưa chắc chắn gì, chẳng qua tôi thấy bệnh nguy cấp nên tạm dùng như thế để cho
khỏe trong một lúc đó thôi, tôi sợ mau khỏe thì bệnh mau trở lại. Nếu bệnh trở lại, bài
thuốc trước không dùng được nữa. Bây giờ, nhân lúc còn hơi khỏe, phải dùng phương
pháp điều trị khác, may ra đến tiết Đông chí mới có thể yên được, vì táo khí trong người
ta cũng theo táo khí của thời lệnh, cho nên, nay còn bó chặt lại chưa giải ra được. Bao giờ
khí táo kim của trời đất lui thì Phế kim của người ta mới hết táo và bệnh mới khỏi.

Lục Linh Nghi hết sức khẩn khoản xin Dụ Xương cố gắng chữa cho. Trong một thời gian
hơn hai tháng, có lúc bệnh sắp đến chỗ nguy hiểm, có lúc lại yên ổn như thường, cứ thay
đổi như thế luôn, cũng vì bệnh không dùng được thuốc bổ nên không dám cho thuốc bổ
liên tục. Nhưng không bổ thì Tỳ hư không sinh được Phế , mà Phế táo lại thích nhuận
nhưng nhuận quá thì trì trệ, không ăn được.

Dụ Gia Xương liền xoay trở cách chữa đại khái như: Hôm nay Tỳ kém qua, ăn uống
không được thì trong thuốc thanh Phế phải thêm Sâm, Truật vào để bổ Tỳ, ngày mai Phế
táo quá, ho thở mạnh, trong thuốc thanh Phế phải thêm Cống giao (A giao) để nhuận Phế,
cứ thay đi, đổi lại mãi cho đến tiết Lập đông, tự nhiên bệnh nhân nói: “Hôm nay trong
người cảm thấy khỏe lắm, chắc có lẽ bệnh sẽ khỏi”. Thật là lạ, thời tiết vừa hết táo thì
bệnh nhân cũng khỏi táo. Bình thường 5 – 6 ngày không đi tiêu mà hôm đó, vừa cho
uống thuốc nhuận trường đi đại tiêu được ngay. Thì ra táo khí hôm đó đã tống xuống ruột
già. Thế mới biết người ta cũng theo thời lệnh của trời đất mà thay đổi.

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:31
posted:5/8/2011
language:Vietnamese
pages:4