Tong quan ve Cau

Document Sample
Tong quan ve Cau Powered By Docstoc
					          Trường Đại học Dược Hà Nội
              Bộ môn Dược Liệu


     Tiểu luận Dược Liệu
           Cây Cau
        Areca catechu




Thực hiện:
     Sinh viên: Nguyễn Thị Thuỳ Dương
           Lớp : A1K62
          MSV: 0701064
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064




Tổng quan tài liệu:

   1. Giáo trình Dược Liệu NXB y học
  2. C. H. Schultz-Schultzenstein (1832). Natürliches
System des Pflanzenreichs..., 317. Berlin, Đức.
    3. N. W. Uhl, J. Dransfield (1987). Genera
   palmarum: a classification of palms based on the
   work of Harold E. Moore, Jr. (Allen Press,
   Lawrence, Kansas).
   4. Website:

   http://data.kew.org/cgibin/vpfg1992/genlist.pl?PA
   LMAE

   http://vi.wikipedia.org/wiki/Cau.




                                    2
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064




                                    3
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064


I. Tổng quát:
  Họ Cau hay họ Cọ, họ Cau dừa hoặc họ Dừa (danh pháp khoa học:
Arecaceae, đồng nghĩa Palmae), là một họ trong thực vật có hoa, thuộc về
lớp thực vật một lá mầm và nằm trong bộ Cau (Arecales). Hiện nay, người ta
biết khoảng 202 (APG: 189) chi với khoảng 2.600 (APG: 2.361) loài, phần
lớn sinh sống ở vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới.


Một số chi

Các chi quan trọng về mặt kinh tế là:

      Areca - Cau
      Arenga
      Attalea
      Bactris
      Borassus - Thốt nốt
      Calamus - Song, mây
      Cocos - Dừa
      Copernicia - Cọ lấy nhựa Carnauba
      Elaeis - Cọ dầu
      Euterpe - Cọ Açaí hay cọ lấy rau ăn (từ cây non)
      Jessenia
      Jubaea - Cọ Chile và cọ Coquito
      Orbignya
      Phoenix - Chà là
      Raphia - Cọ Raffia
      Rhapis
      Roystonea - Cọ hoàng gia
      Sabal - Cọ châu Mỹ
      Salacca - Salak
      Trachycarpus
      Veitchia
      Wallichia
      Washingtonia




                                        4
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064

Chi Cau (danh pháp khoa học: Areca) là một chi của khoảng 50 loài thực
vật thuộc họ Cau (Arecaceae, một số tài liệu gọi là Palmacea hay Palmae),
mọc ở các cánh rừng ẩm ướt của khu vực nhiệt đới từ Malaysia tới quần đảo
Solomon.

Chi Cau có khoảng 50 loài. Ở Malabar, Areca dicksoni mọc hoang dã và
những người nghèo dùng nó thay cho cau thực thụ.

Areca abdulrahmanii J.Dransf. (1980).
Areca ahmadii J.Dransf. (1984).
Areca andersonii J.Dransf. (1984).
Areca arundinacea Becc. (1877).
Areca brachypoda J.Dransf. (1984).
Areca caliso Becc. (1919).
Areca camarinensis Becc. (1919).
Areca catechu L. (1753) : Cau
Areca celebica Burret (1933).
Areca chaiana J.Dransf. (1984).
Areca concinna Thwaites (1864).
Areca congesta Becc. (1923).
Areca costulata Becc. (1919).
Areca dayung J.Dransf. (1980).
Areca furcata Becc. (1877).
Areca guppyana Becc. (1914).
Areca hutchinsoniana Becc. (1919).
Areca insignis (Becc.) J.Dransf. (1984).
Areca insignis thứ insignis
Areca insignis thứ moorei (J.Dransf.) J.Dransf. (1984)
Areca ipot Becc. (1909).
Areca jobiensis Becc. (1877).
Areca jugahpunya J.Dransf. (1984).
Areca kinabaluensis Furtado (1933).
Areca klingkangensis J.Dransf. (1984).
Areca laosensis Becc. (1910).
Areca ledermanniana Becc. (1923).
Areca macrocalyx Zipp. cũ Blume (1839).
Areca macrocarpa Becc. (1909).
Areca minuta Scheff., (1876).
Areca montana Ridl., (1907).


                                     5
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064

Areca multifida Burret (1936).
Areca nannospadix Burret (1931).
Areca nigasolu Becc. (1914).
Areca novohibernica (Lauterb.) Becc. (1914).
Areca oxycarpa Miq. (1868).
Areca parens Becc. (1919).
Areca rechingeriana Becc. (1910).
Areca rheophytica J.Dransf. (1984).
Areca ridleyana Becc. cũ Furtado (1933).
Areca rostrata Burret (1935).
Areca salomonensis Burret (1936).
Areca subacaulis (Becc.) J.Dransf. (1984).
Areca torulo Becc. (1914).
Areca triandra Roxb. cũ Buch.-Ham. (1826).
Areca tunku J.Dransf. & C.K.Lim (1992).
Areca vestiaria Giseke (1792).
Areca vidaliana Becc. (1907).
Areca warburgiana Becc. (1914).
Areca whitfordii Becc. (1907).




II. Cây Cau (Areca catechu):


   1. Đặc điểm thực vật, phân bố và trồng hái:


  Cây có thân cột đơn, mọc cao 15 - 20m, đường kính thân không lớn,
không có lá suốt phần lớn chiều cao. Lá tạo thành một vòng thưa ở ngọn
thân, phiến dài 1 - 2m, có nhiều thùy lông chim, rộng, mềm, có răng không
đều ở ngọn, các thùy ở phía trên dính nhau.
  Cụm hoa là bông mo phân nhánh có mo sớm rụng. Trong cụm hoa, hoa
đực thường ở trên, hoa cái ở dưới.
  Quả hình cầu hay gần hình cầu, dài 4 - 5cm, có vỏ quả ngoài hóa xơ và
hơi nạc, màu vàng và đỏ, hạt tròn có phôi nhũ xếp cuốn, khi già màu nâu
nhạt.


                                    6
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064

  Loài của vùng Ấn Độ - Mã Lai, được trồng ở nhiều nước như Ấn Độ,
Trung Quốc, các nước Đông Dương, Malaixia, Philippin và các nước Đông
Phi.
  Ở Việt Nam, Cau được trồng từ lâu đời ở khắp vùng nông thôn, thị trấn …
để lấy quả ăn trầu, làm lễ vật trong nhà để thờ cúng và cưới xin. Cau còn là
cây trang trí bao quanh các vườn cảnh, trồng ở sân nhà, sân đình chùa.
    Những tỉnh trồng nhiều cau là Hưng Yên, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tỉnh, Thừa Thiên - Huế, Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Kiên
Giang, diện tích khoảng 5 - 6 nghìn ha.
Trồng bằng quả vào mùa xuân, sau 5 - 6 năm đã cho quả; mỗi buồng cau có
tới 200 - 300 quả.


   2. Bộ phận dùng:

  Hạt (Semen Areca) còn gọi là binh lang hay tân lang và vỏ quả (đại phúc
bì)




                                     7
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064




 3. Thành phần hoá học:

Trong hạt có 15% tannin thuộc loại catechin và polyleucoanthocyanidin, 13-
14% dầu béo với thành phần chính là lảuin, myristin, olein, các chất đường
(manna và galactam). Hoạt chất chính là acaloid (0,15-0,67%) ở dạng kết
hợp với tannin. Acaloid chính là arecolin (0,07-0,50%) và những acaloid
phụ là arecaidin(arecain), guvacin, arecolidin và isoguvacin.




                                    8
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064




                        Arecolin




                         Guvacin



                                    9
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064



    4. Kiểm nghiệm:

4.1. Định tính:
   Lấy 0,5g bột + 4-5ml nước + 1-2 giọt dd H2SO4 5%. Đun sôi trong 5
phút, lọc. Lấy 2ml dịch lọc + 1-3 giọt TT Dragendroff. Xuất hiện tủa đỏ.
4.2. Định lượng:
   Cân chính xác 8 gam bột hạt cau cho vào bình nón có nút mài với 80ml
ether etylic và 4 ml dung dịch ammoniac, nút kín, lắc trong 10 phút. Thêm
10 gam Na2SO4 khan, lắc trong 5 phút, rồi để yên. Rót dd ether vào một bình
gạn, lắc vớ 0,50g bột lắc trong 3 phút. Thêm 2,5ml nước cất, lắc 3phút. Để
lắng chiết lấy lớp ether trong. Rửa nước bằng một ít ether ethylic. Gộp các
dịch chiết lại, làm bốc hơi đến khi còn khoảng 20ml, chuyển vào bình gạn,
lắc với 20ml dd H2SO4 0,02N, để lắng, gạn lấy lớp acid. Rửa giấy lọc bằng
nước, mỗi lần 5ml nước. Hợp nước rửa vào dd acid, lọc. Rửa giấy lọc bằng
nước, nước rửa đổ vào dịch lọc. Thêm vài giọt dd methyk đỏ và định lượng
bằn dd NaOH 0,02N đến khi chuyển sang màu vàng.
  Gọi n: số ml dd NaOH 0,02N đã dung, (20 – n) là số ml dd H2SO4 0,02N
kết hợp với acaloid.
  1ml dd acid tương ứng với 0,003104g arecolin.
Hàm lượng % acaloid toàn phần:
               X% = (20 – n).0,3104/ 8
Dược điển Việt Nam quy định dược liệu ít nhất phải có 0,3% acaloid toàn
phần tính theo arecolin.




                                     10
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064




III. Công dụng và một số bài thuốc liên quan:

1. Cau (Hạt)
Hạt quả cau già (Semen Arecae) phơi khô, gọi là Tân lang hay Bình lang
(TQ)

Đã được ghi vào Dược điển Trung Quốc (1997), Dược điển Việt Nam
(1977).

Thu hái chế biến: Bình lang: Mùa thu hoạch khoảng tháng 9 – 12 (không kể
loại cau tứ thời) lấy quả thật già, róc bỏ vỏ ngoài và vỏ già, lấy nguyên hạt ở
trong đem phơi sấy thật khô.

- Binh lang không mùi, vị đắng, chát.

Loại Binh lang hạt già răng ngựa, khô chắc (nặng, chìm trong nước) da màu
nâu nhạt, không mốc mọt, nguyên hạt, da ít nhăn nheo là tốt.

Thủy phần an toàn dưới 10p100.

Dược liệu phải chứa ít nhất 0,3p.100 alcaloid toàn phần tính theo arecolin
(DĐVN - 1977).

Thành phần hóa học: Trong hạt cau có tanin, tỷ lệ trong hạt non độ 70p100
nhưng khi chín chỉ còn 15 – 20p100. Hoạt chất chính là 4 alcaloid (tỉ lệ độ
0,4p100) chủ yếu là arecolin C8H13NO2, arecaidin C17H11NO2, guvacin C-
6H9NO2 guvacolin C17H11NO2 Ngoài ra còn có mỡ béo (14p100) các đường
(2p100), muối vô cơ và một sắc tố đỏ.

Công dụng:

1- Binh lang: Theo Đông y, vị chát, đắng, cay, tính âm, vào 2 kinh Vị, Đại
trường.

Có tác dụng tẩy giun, làm tiêu chất tích đọng, đưa hơi xuống, lợi tiểu.



                                        11
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064

Dùng chữa các chứng bệnh giun sán, ăn không tiêu, đầy bụng, tức ngực, tả
lỵ, viêm ruột, thủy thũng.

Liều dùng: 3 – 10g, dùng sống hay có thể sao lửa nhẹ, sắc uống.

Về mặt dược lý, tác dụng của arecolin gần giống các chất pelletierin,
pilocarpin, muscarin. Arecolin gây chảy nước bọt rất nhiều và làm tăng bài
tiết dịch vị, dịch tràng, làm co nhỏ đồng tử. Dung dịch Arecolin bromhydrat
1p100 có thể dùng để giảm nhãn áp trong bệnh glôcôm. Với liều nhỏ,
arecolin kích thích thần kinh, liều lớn gây liệt thần kinh.

Dung dịch hạt cau có tác dụng độc đối với thần kinh của sán, 20 phút sau khi
thuốc vào tới ruột, con sán bị tê liệt không bám vào thành ruột được nữa.

Lưu ý: Người do yếu mệt mà sinh đầy, trẻ em và phụ nữ có thai không được
dùng Binh lang.

Bài thuốc:

Bài số 1: Chữa đau bụng, đầy bụng, tẩy giun đũa:

Binh lang                             5g

Hắc sửu                              4g

Lôi hoàn                              4g

Mộc hương                             4g

Nhân trần                             5g

Tạo giác                              3g

Chế thành thuốc viên, uống

Bài số 2: Chữa sán:

Vỏ rễ lựu                             40g

Hạt cau                                4g

Đại hoàng                                 4g

                                     12
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064

Nước 600ml (3 bát) sắc lấy 1 bát, uống sáng sớm, chia làm nhiều lần trong
vòng 30 phút, khi đi ngoài ngồi vào chậu nước ấm.

Bài số 3: Chữa sán:

Hạt cau                        15g

Nhân hạt bí đỏ (Nam qua tử)      30g

Tán nhân hạt bí thành bột. Sắc hạt cau lấy nước, uống bột hạt bí với nước
hạt cau.

Bài số 4: Chữa sán:

Hạt cau                        15g

Sơn tra tươi                   500g

(Trẻ em giảm một nửa. Nếu dùng dược liệu khô, người lớn 250g trẻ em
120g). Sơn tra rửa sạch, bỏ hạt. Từ 3 giờ chiều bắt đầu ăn dần dần, đến 10
giờ tối ăn hết, không ăn cơm tối. Sáng hôm sau lấy 30g hạt cau, thêm nước,
đun sôi lấy 1 chén chè con, uống làm 1 lần, cho hết. Nằm nghỉ trên giường.
Khi muốn đại tiện, gắng gượng nhịn một lúc lâu rồi hãy đi đại tiện.

Bài số 5: Tẩy giun đũa, sán:

Hạt cau                        15g

Vỏ lựu                          9g

Hạt bí đỏ                       9g

Sắc uống. Uống khi đói

Bài số 6: Chữa hàn thấp, cước khí thời kỳ đầu, chân đùi sưng đau, hoặc tức
ngực, buồn nôn:

Hạt cau                        12g

Mộc qua                         9g

Trần bì                        4,5g

                                       13
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064

Cát cánh                          6g

Gừng sống                         6g

Tía tô                            3g

Bài số 7: Chữa khí trệ, đau bụng, đại tiện khó:

Hạt cau – Chí thực – Ô dược – Mộc hương: Các vị lượng như nhau. (Mỗi
thứ 6g). Sắc lấy nước đặc uống

2. Cau (Vỏ quả)

Vỏ quả cau già (Pericarpium Arecae) phơi khô, gọi là Đại phúc bì (TQ).

Đã được ghi vào DĐVN (1983), DĐTQ (1997).

Thu hái chế biến: Vỏ quả cau róc ra đem đập cho tơi, ngâm vào nước, vớt ra
phơi khô rồi lại đập tơi, cho róc lớp da ngoài.

Đa phúc bì: không mùi, vị nhạt.

Loại đa phúc bì vỏ khô, mềm, màu vàng ngà, không lẫn tạp chất là tốt.

Thành phần hóa học: Cũng chứa các alcaloid như hạt cau: Arecolin,
arecaidin, guvacolin, guvacin ... nhưng tỷ lệ thấp.

Công dụng:

- Đại phúc bì: Theo Đông y, vị cay, tính hơi ấm, vào 2 kinh Tỳ và Vị.

Có tác dụng đưa hơi đi xuống, làm tiêu thoát nước.

Dùng chữa các chứng bệnh thủy thũng cước khí, bùng đầy tức (tác dụng
chậm nhẹ, không mạnh như Binh lang).

Liều dùng: 5 – 10g. Sắc uống

Lưu ý: Người thế hư, sức yếu dùng phải cẩn thận.

Bài thuốc:



                                       14
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064

Bài số 1: Thuốc bột chính khí gia giảm: Chữa chứng thấp, cản trở tiêu hóa,
khí trệ, trướng đầy:

Đại phúc bì                           9g

Hạnh nhân                             9g

Phục linh bì                         12g

Nhân trần                            12g

Thần khúc                             9g

Mạch nha                              9g

Cuộng Hoắc hương                          6g

Hậu phác                               6g

Trần bì                              4,5g

Sắc uống

Bài số 2: Bột Đại phúc bì, chữa chân sưng phù:

Đại phúc bì                           9g

Mộc qua                               9g

Hạt cau                              9g

Hạt củ cải (La bạc tử)                    9g

Tang bạch bì                          9g

Trầm hương                          1,5g

Hạt tía tô                            6g

Bông kinh giới                        6g

Ô dược                               6g


                                     15
Trường Đại học Dược Hà Nội - Lớp A1K62
    Nguyễn Thị Thuỳ Dương - 0701064

Trần bì                              6g

Lá tía tô                            6g

Chí xác                              6g

Gừng sống                            6g

Sắc uống.




                                   16

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:253
posted:4/1/2011
language:Vietnamese
pages:16