Docstoc

Tong quan thanh phan hoa hoc va tac dung sinh hoc cua Canhkicna

Document Sample
Tong quan thanh phan hoa hoc va tac dung sinh hoc cua Canhkicna Powered By Docstoc
					     TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
             BỘ MÔN DƯỢC LIỆU




    TiÓu luËn d¦îc liÖu

Chủ đề: Tổng quan về dược liệu vỏ Canhkina
             ( Cortex Cinchonae)


               Sinh viên thực hiện   : Phạm Thu Hà

               MSV                   : 0701115

               Tổ                    : 3

               Lớp                   : A1K62




               Hà Nội, 5 - 2010
                           CANH KI NA
                            (Cortex Cinchonae)




                             I. Đặt vấn đề
      Canh-ki-na là tên phiên âm tiếng Pháp của cây quinquina. Xuất phát từ Nam
Mỹ, từ lâu vỏ cây canhkina đã được người dân một số vùng trên thế giới sử dụng với
nhiều mục đích, đặc biệt hữu hiệu trong điều trị bệnh sốt rét. Ở nước ta, vỏ cây
canhkina chỉ mới được biết đến và sử dụng vào đầu thế kỷ 20. Đến nay, cây canhkina
đã được trồng ở nhiều vùng trên cả nước và trở thành nguồn dược liệu có giá trị
thương phẩm cao. Sau đây xin trình bày một số kiến thức tổng quan về dược liệu này.




                                                                                      1
                               II. Tổng quan
     1.        Vị trí phân loại
           a. Phân loài thực vật
      Tên khoa học Cinchona sp.
       Dược liệu có nguồn gốc từ nhiều loài thuộc chi Cinchona. Chi này gồm 40 loài
thuộc họ Cà phê Rubiaceae.
      Tùy theo mục đích chữa bệnh hay làm nguyên liệu chiết ancaloid người ta hay
dùng vỏ những cây canhkina khác nhau:
   - Để làm thuốc bổ, chữa sốt thường người ta dùng vỏ cây canhkina đỏ - Cinchona
   succirubra Pavon.
   - Để chiết alcaloid toàn phần người ta có thể dùng vỏ cây canhkina đỏ hoặc vỏ
   canhkina vàng Cinchona calisaya Wedd., hoặc Cinchona ledgeriana Moens.
   - Vỏ cây canhkina xám Cinchona officinalis L. thường được dùng để chế rượu
   khai vị 1.
           b. Mô tả đặc điểm thực vật

Chi Cinchona:

       Cây bụi lớn hay cây gỗ, có thể cao đến 15-20m, lá xanh quanh năm. Lá mọc đối,
có cuống, với 2 lá kèm thường sớm rụng. Phiến lá nguyên hình trứng, có gân lá hình
lông chim. Trong một số loài như canhkina xám, ở góc gân chính và gân phụ có các túi
nhỏ mang lông. Hoa mọc thành chùm xim tận cùng, hoa đều, mẫu 5, cánh hoa màu
trắng, hồng hay đỏ, thường có mùi thơm dễ chịu. Đài có 5 răng, tràng hình ống, loe ở
miệng, với 5 thùy, 5 nhị đính trên ống tràng. Trong nhiều loài có hoa với vòi nhị dài
hoặc ngắn không đều. Bầu dưới, với 2 ngăn mang nhiều noãn. Hạt nhiều, nhỏ, dẹt có
dìa hơi có răng.




      1
          Đỗ Tất Lợi(1999), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học, tr.679.



                                                                                        2
Theo Phạm Hoàng Hộ trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam” có 4 loài thường dùng là:

    8237. Cinchona calisaya Wedd. Kí ninh Pê-ru: Peruvian or Calaysia Bark
     Cinchona.
Đại mộc nhỏ. Lá có phiến xoan ngược, to 8-15×3-6 cm, đầu tà, mặt dưới có domatie,
xếp theo gân-phụ nên trông giống lá cà phê robyusta; cuống 1cm, lá bẹ dài hơn cuống.
Hoa rất thơm, màu ngà tươi: ống vành 9cm, tai có rìa lông dài , đỏ ở mặt trên. Nang
tròn dài 10-16cm, đỏ; hột dẹp, có cánh rìa, dài 4mm.
Gốc Nam Mỹ. Trồng ở Langhanh, Lâm Đồng. Có thời gian xem như cùng loài với C.
oficinalis.
    8238. C. officinalis L. Kí ninh thuốc: Crown Bark, Loxa Bark.
 Đại mộc; cành tròn, không lông. Lá có phiến xoan thon hay thon, to 7-15×2,5-7cm,
gân chánh đỏ, gân-phụ 8-9 cặp, có domatie ở mặt dưới; lá bẹ dài bằng cuống. Chùm-tụ
tán cào 18cm; trục có lông,hoa cao12-17cm; vành có ống đài 10-12 mmm, tai xoan,
tiểu nhuỵ 5. Nang xoan dài, không lông, nâu đỏ; hột dẹp, tròn dài, có cánh, có răng, dài
4-6 mmm.
Trồng ở Langhanh ( Lâm Đồng). Kí ninh là thuốc có tác dụng trị rét, hạn nhiệt tốt,
đắng bổ, trị cóng.
    8239. C. ledgeriana (How,) Moens ex Trimens. Ký ninh thon; Ledger Bark
     Cinchona.
Đại mộc cao 5-10m, vỏ đắng, cành vuông, có ít lông. Lá có phiến bầu dục thon, tà
nhọn hai đầu, mặt dưới đo đỏ và có domatie; lá bẹ xoan. Chùm tụ tán cáo 2-15 cm; đài

                                                                                           3
cao 3-4mm, có lông; vành trắng thơm cao 8mm, tai 3-4mm, rìa lông dài, tiểu nhuỵ 5.
Nang cao 1-1,2cm , mảnh; hột dẹp có cánh mỏng.
Trồng ở Đà Lạt và Langhanh. Vỏ đắng bổ và trị rét, invỉto, chống siêu khuẩn trái rạ.
       8240. C. pubescens Vahl. Kí ninh đỏ; Red-bark Cinchona.
Đại mộc to hơn loài trên, đến 17m; vỏ đỏ, đắng; cành vuông, có lông. Lá có phiến
xoan,dài 20-25cm, đầu tròn hay tà, mặt dưới có lông, đo đỏ, không có domatie; cuống
1 cm, lá bẹ mau rụng. Chùm tụ tán, đài có răng, vành trắng có đốm đỏ, thơm, tiểu nhụy
5. Nang màu đỏ sét, cao 2,5-3,5cm; hột nhiều, có cánh.
Trồng ở vùng Đà Lạt. Công dụng như trên, in vitro, chống nhiều siêu khuẩn.1
             c. Một số loài có thể gây nhầm lẫn

      Do nhân dân thấy canhkina có vị đắng, ngâm vào rượu cho màu đỏ nâu, có tác
dụng bổ và chữa sốt rét cho nên mới gọi một số cây thuốc khác có tác dụng tương tự là
canhkina hay cây ký ninh, hay cây thuốc sốt rét. Thực tế đó là những cây thuốc thuộc
những họ thực vật khác hẳn, cần chú ý tránh gây nhầm lẫn:
         -   Cây “dây ký ninh” - Tinospora crispa - thuộc họ Tiết dê.
         -   Cây “ô môi” - Cassia grandis - thuộc họ Đậu.
         -   Cây “dền” - Xylopia vielana - thuộc họ Na.
         -   Cây “sữa” - Alstonia scholaris - thuộc họ Trúc đào.2
        2.       Lược sử phát hiện, trồng trọt và sử dụng
             a. Trên thế giới

       Canhkina là một trong những loại cây rừng nhiệt đới quan trọng và được biết
đến nhiều nhất. Vị thuốc được mang tên Cinchona, theo truyền thuyết được lấy tên
theo nữ bá tước vương Chinchon, vợ phó vương quốc xứ bò tót Tây Ban Nha. Bà đã có
thời gian sinh sống ở Peru và được chữa khỏi căn bệnh sốt rét từ nước sắc của vỏ cây
có vị đắng do một số thổ dân mang đến. Bà đã mang theo một số vỏ cây này khi trở lại
châu Âu. Vỏ cây canhkina lần đầu tiên được giới thiệu ở Anh vào năm 1658 và chính
thức đi vào ngành Bào chế học Anh vào năm 1677. Các thày thuốc đã ghi nhận loại
thuốc này, do công dụng của nó với bệnh sốt rét, vì thế mà cái tên canhkina được công
nhận chính thức trong khi sự phân loại và đặt tên cây dù đã được thực hiện trước đó lại

1
    Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam III, NXB Trẻ, tr.129.
2
    Đỗ Tất Lợi(1999), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học, tr.678.



                                                                                          4
đi vào quên lãng. Sau khi “bột thuốc phó vương” đến Anh, nó được mang đến Tây Ban
Nha. Ở đó, vỏ cây canhkina đã được các mục sư sử dụng và do ảnh hưởng của Giáo hội
thì cái tên mới “bột thuốc mục sư” trở nên nổi tiếng khắp châu Âu. Gần một thế kỷ sau,
cây mới được các nhà thực vật học chính thức đặt theo tên bà Delcinchon cho những
đóng góp của bà. Cụ thể là Năm 1742, Linaneus chính thức đặt tên chi là Cinchona.
Trong suốt khoảng từ giữa thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 19 vỏ canhkina là phương thuốc
cơ bản trị sốt rét. Nó cũng được sử dụng cho các bệnh về dị ứng, tiêu hóa, miệng họng
và cả bệnh ung thư.




    Drug jar for extract of cinchona bark, Lambeth, London, England, 1710-1740
        Vào năm 1820 thì 2 nhà khoa học người Pháp là Pierre Joseph Pelletier và
Joseph Caventou đã tách được một hợp chất alcaloid từ loại vỏ cây cho hiệu quả chống
sốt rét cao nhất và đặt tên nó là quinine, theo từ của thổ dân da đỏ “quina” nghĩa là vỏ.
Sau khi được phát hiện, phương pháp được phát triển để tách riêng quinine từ vỏ cây
để bán như là thuốc trị sốt rét.




       Nhờ vậy, các nước Nam Mỹ đã thu được nguồn lợi từ việc thu hoạch và chiết
rách alcaloid để sản xuất thuốc quinine. Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ 19, hạt giống của

                                                                                            5
cây Cinchona calisaya và Cinchona pubescens đã được buôn lậu bởi người Anh và
người Hà Lan. Loài calisaya được trồng ở Java bởi người Hà Lan và loài pubescens
được trồng ở Ấn Độ và Srilanca bởi người Anh. Tuy nhiên, hàm lượng quinine trong
những loài này quá thấp cho mục đích thương mại. Do đó, người Hà Lan đã lén đưa hạt
giống Cinchona ledgeriana ra khỏi Bolivia, trả 20$ cho một pound hạt giống và ngay
lập tức thiết lập những đồn điền rộng lớn trồng loài canhkina giàu quinine này ở Java.
Họ nhanh chóng thống trị thị trường sản xuất quinine trên toàn thế giới. Và vào năm
1918, phần lớn nguồn cung cấp quinine trên thế giới nằm dưới sự quản lý của “Cục
kina” ở Amsterdam, Hà Lan.
        Những bước ngoặt trong Chiến tranh thế giới thứ 2 dẫn đến những thay đổi trên
thị trường mà vẫn còn ảnh hưởng đến tận ngày nay. Khi Java bị người Nhật chiếm vào
năm 1942, nguồn cung cấp quinine của những nước đồng minh bị cắt đứt. Nguồn cây
canhkina và vỏ kina của các nước Nam Mỹ một lần nữa lại được sử dụng, nhưng
những đồn điền mới cũng được những nước đồng minh thành lập ở châu Phi. Sự thiếu
trầm trọng nguồn quinine đã làm bùng lên những nghiên cứu để phát triển và sản xuất
quinine tổng hợp. Vào năm 1944, những nhà khoa học đã có thể tổng hợp quinine
trong phòng thí nghiệm. Nó dẫn đến hàng loạt thuốc quinine tổng hợp được cấp bằng
sáng chế sau đó đã được sản xuất hàng loạt bởi một vài công ty dược phẩm, và tất
nhiên, đem lại một nguồn thu lớn.




                        Atabrine - một loại quinine tổng hợp

       Ngày nay, Indonesia và Ấn Độ vẫn canh tác cây cankina, tuy nhiên châu Phi,
với sự mở rộng của những đồn điền từ thời Chiến tranh thế giới thứ 2 vẫn nổi lên là
nguồn cung cấp hàng đầu vỏ canhkina.




                                                                                         6
         b. Ở Việt Nam

      Phải nói rằng, ngay từ khi đặt chân lên đất nước Việt Nam, thực dân Pháp đã
muốn khai thác và trồng thử cây canhkina ở Nam Bộ vào năm 1871, nhưng thất bại.
      Năm 1872, Van Gorkom gửi cho nhà thực vật học Pierre ở Sài Gòn các hạt cây
canhkina nhưng rồi việc trồng cũng không thành.
       Năm 1886, Paul Bert cũng thí nghiệm trồng ở miền Bắc bằng những cây con
đưa từ Pháp sang nhưng cũng thất bại. Paul Bert bèn cử nhà thực vật học Balansa đi lấy
giống về trồng ở sườn núi Ba Vì và Sơn Di trên vùng đồng bằng Mán ở độ cao 500m
nhưng sau Balansa chết và công việc bỏ dở. Sau CTTG II, Yersin thí nghiệm lại, trồng
thử trên dãy núi Trường sơn vùng Hòn Ba, cao nguyên Lang Biang, sau đó chuyển tới
Di Linh và Dran thì cây mọc khá hơn. Vỏ những cây trồng được 3-5 năm chứa 9-11%
quinine.




      Năm 1927, một trại nghiên cứu trồng canhkina được chính thức thành lập ở
miền Nam Trung Bộ, với diện tích 5.000 héc ta, trên cao nguyên 925-1.000m. Khoảng
đất được chia thành từng lô 9hecta. Trên đó 5 hecta để phân xanh, 1 hecta để ươm cây
và 3 hecta để trồng. Các loài trồng ở đây là canhkina đỏ Cinchona succirubra,
Cinchona ledgeriana và một loài lai của Java gọi là loài Malabar.
       Năm 1936, canhkina được trồng trên quy mô lớn hơn ở khoảng giữa Di Linh và
Dran, thu hoạch được khoảng 30.000kg vỏ với tỷ lệ quinine sulfat là 7,42%.
      Năm 1938, lấy được 21.000kg vỏ chế được 1793,330kg quinine, tức là với tỷ lệ
8,50%.
       Nhưng những cây canhkina ở những vùng nói trên cũng bị các giống mốc làm
hại, ngoài ra còn có giống bọ trắng (nhộng của con Rhinoceros Coleoptéres) làm hại
các cây con.

                                                                                         7
      Tại miền Bắc, việc trồng thí nghiệm được tiến hành vào năm 1935. Chừng 40
cây được trồng thí nghiệm ở một đồn điền của Pháp trên cao nguyên 400m ở Ba Vì.
Những cây con lúc đưa đi trồng đã bị ốm cho nên việc thí nghiệm lại thất bại.
      Các cuộc thí nghiệm khác được tiếp tục vào năm 1937 chứng tỏ rằng khí hậu
miền Bắc Việt Nam cũng hợp với cây Canhkina đỏ Cinchona succirubria và loài
Canhkina Cinchona ledgeriana. Độ cao thích hợp nhất là từ 400-700m.
      Do các nhận định trên, năm 1938, trại trồng canhkina ở Thủ Pháp ( Hà Tây)
được thành lập. Ngoài ra còn 2.500 cây canhkina Cinchona succirubra được trồng ở
vùng Suối Rút với độ cao 450m. Nhưng sau này phải bỏ vì không có người trông nom.
Những cây sống sót được đưa cả về Thủ Pháp.
      Năm 1939, 200 cây canhkina Cinchona ledgeriana (phần nhiều bị ốm) được gửi
từ Nam Trung Bộ ra. Đồng thời các hạt từ miền Nam được ươm ở Tam Đảo (cao
500m) sau đưa sang gần trại Thủ Pháp, trên sườn núi Ba Vì cao 400m.
      Song song với việc ươm hạt, người ta còn thí nghiệm cả cách trồng bằng cành.
Kết quả là rất tốt với loài canhkina đỏ Cinchona succirubra, nhưng đối với loài
Cinchona ledgeriana kết quả kém hơn.
      Vào năm 1943, người ta thống kê ở Thủ Pháp có chừng 3 hecta đã trồng
canhkina được 4 tuổi, 3 tuổi và 1 tuổi rưỡi, tất cả chừng 5 vạn cây. Những loài này mỗi
năm cao thêm chừng 0,75m (đối với loài Cinchona ledgeriana) và 1m (đối với loài
Cinchona succirubra). Mỗi năm có 2 thời kỳ mọc nhanh là vào xuân và thu, 2 thời kỳ
mọc kém là hè và đông.
      Một số lớn những cây này đã bị chết trước năm 1945. Qua kháng chiến chống
Pháp vùng này không có ai chăm sóc, một số lớn cây lại bị phá hoại và chết đi. Vào
năm 1958, đếm lại chỉ còn khoảng trên 25 cây.
        Năm 1972, tỉnh Hà Tây đã đặt vấn đề phục hồi và phát triển lại cây canhkina
trên trại Thủ Pháp.1
       3.       Phân bố, thu hái và chế biến
            a. Trên thế giới

      Về phương diện sản xuất, trong vòng 200 năm đầu tiên khi canhkina mới được
sử dụng, người ta chủ yếu dựa vào nguồn hoang dại và các nước Pêru, Bolivia,


1
    Đỗ Tất Lợi(1999), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học, tr.679-680.



                                                                                          8
Equador (Nam Mỹ) gần như độc quyền. Năm 1881, mức sản xuất là 9.000 tấn, đến
năm 1884 sụt xuống còn có 2.000 tấn, do nguồn hoang dại bị giảm sút. Trong khi đó
canhkina trồng ở Srilanca đạt tới 6.000 tấn vòa năm 1885. Ít lâu sau Srilanca phải giảm
bớt do sự cạnh tranh của Java (Indonexia). Năm 1880, sản lượng vỏ canhkina ở Java
mới có 800 tấn, đến năm 1920, lượng vỏ xuất cảng ở đây đã lên tới hơn 10.000 tấn.
Sản lượng này tiếp tục lên cho đến chiến tranh thế giới thứ 2, sau đó lại bị giảm sút và
đến năm 1954 chỉ còn 1.000 đến 2.000 tấn. Trong thời gian này, sản lượng vỏ canhkina
trông lai được tăng ở các nước châu Phi đặc biệt ở Côngô (thuộc Bỉ), sản lượng đạt tới
1.800 tấn vào năm 1948.
       Hiện nay những nước sản xuất canhkina là Pêru, Bolivia và Equador (Nam Mỹ),
Guatemala và một số nước ở Trung Mỹ, rồi đến một số nước châu Phi (Côngô, Ghinê,
Camơrun, Tazania). Indonexia lại tiếp tục sản xuất. Hiện nay người ta ước lượng toàn
thế giới sản xuất chừng 10.000 đến 20.000 tấn canhkina hàng năm. Cuộc chiến tranh
Việt Nam đã là tăng nhu cầu canhkina và tăng giá quinin.
         b. Ở Việt Nam

      Cho đến năm 1978, chỉ còn lại một số nơi có Canhkina như Lâm Đồng (Xuân
Thọ, Tà Nung ở Đà Lạt, Xuân Sơn ở Đơn Dương, Lán tranh ở Đức Trọng, Dinh trang
thượng ở Di Linh), Đắc Lắc (Đắc Nông) và Gia Lai (Biển Hồ, Sa Thầy).
       Ở miền Bắc Việt Nam, tại tỉnh Hà Tây (vùng Thủ Pháp) cho đến năm 1958, chỉ
còn sót lại vài chục cây, nhưng trong khoảng 1960-1970, ta đã khôi phục lại và tiếp tục
nghiên cứu phát triển Canhkina, đưa diện tích tại đây lên tới 60 ha.
        Hiện nay, ta đang nghiên cứu phát triển trồng Canhkina ở Lâm Đồng. Loài được
trồng chủ yếu là Canhkina thon. Nhân giống bằng gieo hạt. Canhkina trồng sau 3-4
năm đã có thể cho vỏ, nhưng tốt nhất là sau 7-10 năm thì thu hoạch vỏ tốt nhất. Bóc vỏ
vào mùa thu hay đầu xuân. Hàm lượng hoạt chất trong cây tuỳ thuộc vào loài trồng và
chất đất ở các độ cao khác nhau. Khi chặt cây, cành để bóc vỏ cần chừa lại gốc để cây
tạo ra thân cành mới.




                                                                                           9
         c. Bộ phận dùng

      Vỏ thân, vỏ cành, vỏ rễ phơi, sấy khô của nhiều loài Canhkina như đã nêu trên.




         d. Thu hái, chế biến

      Tỷ lệ alcaloid toàn phần trong những cây 3 tuổi chừng 6,5%, tăng dần cho tới
năm thứ 5 sau đó giảm dần xuống. Tuy nhiên người ta chờ cho cây lớn tới một mức độ
nào đó rồi mới thu hái vỏ, vì khối lượng vỏ mỗi năm mỗi tăng.
       Thường người ta thu hái vào năm thứ 10, vì tỷ lệ quinine không bị giảm, vỏ dày,
dễ bóc hơn. Tuy nhiên người ta có thể hái vỏ sớm hơn, vào các năm thứ 3 và thứ 4, vì
các cây mọc chen nhau, tranh giành không khí và ánh sáng, trường hợp này người ta
chặt những cây nhỏ, gầy, và cả những cây mọc nhanh quá, vì nếu không chặt bớt
những cây này thì chúng sẽ mọc vượt và làm cớm những cây khác. Có 2 phương pháp
khai thác vỏ: Đào và chặt.
       Ở Java, người ta thường áp dụng phương pháp đào cây bóc lấy vỏ thân cây, vỏ
cành và vỏ cả của rễ vì số lượng vỏ rễ có khi đạt tới mộ nửa lượng vỏ của thân và cành,
có khi đạt tới 4/5 nếu đất xốp, rễ phát triển nhiều. Tại những khu vực này, canhkina
thường được trồng thành 10 khu vực, mỗi năm khai thác một khu vực, rồi trồng lại,
như vậy luôn có cây khai thác đúng tuổi 10 năm.




                                                                                     10
        Ở Ấn Độ, người ta áp dụng phương pháp chặt cây 7-8 tuổi. Ở đây người ta
không đào vì cây được trồng sườn núi dốc cao, nếu đào cây sẽ gây lở đất. Gốc cây còn
lại sẽ cho cây con, như vậy không phải trồng lại như phương pháp trên.
      Trước kia người ta áp dụng phương pháp bóc vỏ cây lúc cây còn đang sống
nhưng nay người ta bỏ không áp dụng nữa.
       Sau khi ngả hay đào cây, người ta khía dọc và ngang vỏ cây, dùng dao nâng
mảnh vỏ lên, có khi người ta bóc những mảnh vỏ dài tới 1m, rộng 8-15 cm. Sau đó
người ta dùng vồ đập để lấy vỏ ra.




       Vỏ lấy ra thường phơi 1 thời gian dưới ánh sáng mặt trời, một thời gian trong lò
sấy ở 80°C. Sau 12-24h phơi sấy xong.
       Ở thị trường Hà Lan, người ta bán vỏ canhkina theo khối lượng và tỷ lệ alcaloid
trong vỏ.1
           e. Mô tả dược liệu
           i. Cảm quan

       Tùy theo là vỏ thân hoặc vỏ cành ta có những mảnh vỏ dẹt hoặc thành từng
mảnh hình máng dày từ 2-6mm. Vỏ rễ mỏng hơn, nhỏ hơn. Màu sắc thay đổi tùy theo
là vỏ cây canhkina đỏ, xám hay vàng hay lai giữa các loài đó. Bẻ ngang có xơ, mùi
thơm nhẹ, vị chát hay rất đắng.



1
    Đỗ Tất Lợi(1999), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học, tr.680-681.



                                                                                     11
          ii. Vi phẫu

       Khi quan sát dưới kính hiển vi, từ ngoài vào trong ta thấy có lớp bần màu đỏ
nhạt, sau đó đến lớp mô vỏ với những tế bào chứa hạt các oxalat canxi, một tai ruột
gồm 2-3 lớp tế bào, các sợi libe dài hình thoi, có khi dài đến 3mm, thành dày, khe hẹp,
có rãnh ngăn.
          iii. Bột

        Bột canhkina có màu đỏ nâu nhạt, với các mảnh bần màu đỏ nhạt, sợi và mảnh
sợi libe, tinh bột. Khi đốt lên có khối màu tím đỏ đặc biệt chủ yếu là do sự có mặt của
các chất cinchonin (phản ứng Grahe).
     4.       Thành phần hoá học
          a. Các chất
          i. Một số chất trong vỏ canhkina

      Vỏ canhkina thường chứa từ 8-10% nước, 4-5% chất vô cơ, một ít tinh bột, chất
gôm, một ít tinh dầu, các chất sterola (cinchola được xác định là β-sitosterol).
      Acid quinic (hexahydrotetrahydroxy benzoic) được chiết từ vỏ canhkina từ năm
1790 nhưng phải một thế kỷ sau người ta mới xác định được cấu trúc:
       Các tanin catechic (còn gọi là acid quinotanic) chiếm 3-5% vỏ. Các tanin này
khi bị oxy hóa sẽ cho một phlobaphen gọi là chất đỏ của canhkina.
        Một chất đắng gọi là quinovin, được Pelletier và Caventou chiết ra từ 1821.
Năm 1859, Halsivetz đã chứng minh đây là một glycosid. Chất quinovin còn gọi là
quinovosid thủy phân bằng acid sẽ cho một đường là quinovose và acid quinovic
(triterpen gồm 2 nhóm carboxyl). Chất này phối hợp với các alcaloid cho vị đắng của
vỏ canhkina.
       Năm 1963, Tschesche đã chứng minh rằng chất quinovin thô chứa
gulomethylosid của acid cincholic (một acid gần với acid quinovic) và chất glucosid
của acid quinovic.
          ii. Hoạt chất chính là các alcaloid

      Hoạt chất chính của canhkina được coi là những alcaloid chiếm từ 3-15% trong
vỏ những cây canhkina trồng.
       Việc nghiên cứu những alcaloid này đã được tiến hành từ lâu, vì trước năm
1850 người ta đã chiết được 4 alcaloid chính.



                                                                                     12
       Năm 1881, Gomes- một người Tây Ban Nha lần đầu tiên đã chiết được alcaloid
đầu tiên từ vỏ canhkina và đặt tên là cinchonin.
       Vài năm sau Pelletier và Caventou cũng chiết được từ một loài canhkina vỏ xám
(C. officinalis) chất cinchonin nhưng tinh khiết hơn. Đến năm 1820, Pellletier và
Caventou đã chiết được từ vỏ một loài canhkina C.cordifolia Multis một alcaloid mới
và đặt tên là quinin.
        Năm 1833, Henry và Delondre chiết được alcaloid gọi là quinidin nhưng đến
năm 1853, Pasteur đã nghiên cứu lại và từ quinidin đã tách ra 2 chất: một là quinidin
chính thức, hai là chất cinchonidin (chất này đã được Winkler tách ra được từ 1827).
       Ngoài 4 alcaloid chính ấy ra, người ta còn tách được từ vỏ canhkina khoảng 20
alcaloid khác nữa với hàm lượng ít hơn. Hiện nay người ta xếp những alcaloid trong vỏ
canhkina làm 2 nhóm:
     Những alcaloid dẫn xuất của quinolein: trong nhóm này có 4 alcaloid chính và
thực tế lại là 2 cặp đồng phân lập thể là cặp quinin-quinidin và cặp cinchonin –
cinchonidin. Quinin và cinchonidin hữu tuyền còn quinidin và cinchonin tả tuyền. Việc
nghiên cứu của 4 chất này kéo dài khoảng 100 năm. Tất cả đều có một nhân quinolein
nối bằng một cầu alcol bậc 2 với một nhân quinuclidic có mang một dãy vinyl. Công
thức gồm 4 carbon bất đối 3, 4, 8 và 9, nhưng trong thiên nhiên người ta chỉ mới biết
được có L-quinin, D-quinin hay quinidin, D-cinchonin, L-cinchonin hay cinchonidin.
Trong quinin và quinidin nhân quinoleic vó một nhóm methoxy ở 6’, nhóm này không
có ở cinchonin và cinchonidin.




   Rabe đã gọi nhân chung của những alcaloid ấy là ruban, do đó quinin có tên là
methoxy-6’vinyl-3 rubanol-9. Woodward và Doering đã tổng hợp hoàn toàn được
quinin vào năm 1944.
   Sau khi khử methyl, quinin sẽ cho cuprein là một alcaloid phenolic.


                                                                                   13
    Chuỗi vinyl có thể hydrogen hóa thành nhóm ethyl. Và ta sẽ được 4 hydrobase
tương ứng với 4 alcaloid chính: Hydroquinin, hydrocinchonin, … có ở trạng thái thiên
nhiên trong vỏ.
    Các epibase tương ứng với quinin và quinidin cũng được tách ra từ năm 1936 (OH
ở vị trí β so với nhân quinuclidic còn trong các base bình thường thì OH alcol ở vị trí
α).
    Từ những nước lọc sau khi tách tinh thể alcaloid, người ta còn thu được những
phần không tinh thể gọi là quinoidin, và từ chất quinoidin này người ta lại tách ra
những alcaloid cetonic như quinotoxin, quininon, (chiếm từ 3-10% số alcaloid toàn
phần), (theo Vacha, Santavy và cộng sự, 1964). Những alcaloid nói trên gặp trong
những chế phẩm bào chế, và hình như vốn không có trong vỏ cây thiên nhiên mà xuất
hiện trong quía trình xử lý chế biến. Ngay từ năm 1853, Pasteur cũng đã thu được
quinintoxin hay quinixin bằng cách đun sôi lâu một dung dịch quinin sulfat trong môi
trường acid. Đây là một đồng phân của quinin, trong đó chức alcol bậc 2 được chuyển
thành chức ceton, và vòng quinuclidic được mở ra.
     Những alcaloid nhân idol:
    Chỉ thấy vết trong những vỏ canhkina làm thuốc. Trong vỏ canhkina Cinchona
pellteriana Wedd., người ta chiết được trên 3% arixin, kèm theo một số alcaloid nhân
indol khác như cinchonamin (indoyl- quinuclidin)
    Trong lá một số cây canhkina người ta thường chỉ chiết được rất ít alcaloid chính
của canhkina, nhưng lại được từ 0,5-0,7% alcaloid nhân indol như quinamin,
cinchophyllamin và isocinchophyllamin (theo Lemen và cộng sự, 1965).1
           b. Kiểm nghiệm
           i. Chiết quinin từ vỏ canhkina

       Cho bột canhkina (100g) và bát sứ, sau rót sữa vôi (hòa 10g vôi với 200ml
nước) và dung dịch NaOH 30% (24ml) vào trộn kỹ. Đun trên nồi cách thủy cho tới
khô, thỉnh thoảng làm tơi các miếng bị vón, sau khi nguội chuyển sang bình cầu rộng
cổ. Ngâm bã tiếp tục trong 3-4h với dung môi benzen mới, thỉnh thoảng lắc, gạn lấy
lớp dịch chiết và gộp với dịch chiết đầu. Lọc vào một bình gạn, lắc dịch lọc với dung
dịch H2SO4 5%, lần đầu 50ml, lần sau 25ml rồi tiếp tục cho đến hết huỳnh quang xanh.
Gộp dịch chiết acid lại, trung tính bắng amoniac. Cho bay hơi dịch chiết trong bát sứ
tới khi thấy bắt đầu kết tinh và để ở tủ lạnh cho tủa hoàn toàn quinin sulfat, lọc chân
không và kết tinh lại bằng nước.

1
    Đỗ Tất Lợi(1999), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học, tr.681-682.



                                                                                     14
          ii. Định tính
    - Đun nóng 0,2g bột canhkina trong ống nghiệm khô sẽ thấy hơi màu tím đỏ bốc
lên. Những hơi này sẽ ngưng tụ ở phần trên của ống thành những giọt màu tím.
    - Lấy 0,10g bột dược liệu thêm 10ml H2SO4 loãng, lắc, để yên, lọc, dịch lọc phải
phát huỳnh quang màu xanh lơ dưới ánh sáng tử ngoại. Lấy 1ml dịch lọc này thêm 0,5
ml thuốc thử Mayer phải cho tủa rõ.
    - Phản ứng huỳnh quang: Dung dịch muối của quinin và quinidin tác dụng với
oxy acid cho huỳnh quang xanh. Huỳnh quang này sẽ mất đi khi thêm halogen acid
hoặc nước clor, nước brom.
    - Phản ứng Thalleoquinin: dung dịch nước muối củ quinin và quinidin trong nước
có huỳnh quang cho thêm nước clor hay brom cho đến hết huỳnh quang, rồi thêm
amoniac thừa sẽ có màu xanh lục hay kết tủa xanh lục.
    - Phản ứng Erythroquinin: dung dịch muối quinin sau khi tác dụng với nước clor
hoặc brom, cho thêm amoniac và một ít kali ferocyanua sẽ xuất hiện màu đỏ. Cho thêm
cloroform vào lắc, màu đỏ sẽ chuyển sang lớp cloroform.
       Andre đã phát hiện phản ứng Thalleoquinin từ năm 1835 và được diễn tả với tên
gọi ngày nay là do Brandes. Nhưng cơ chế của phản ứng gần đây mới được giải thích
rõ. Từ nghiên cứu của Skraup đã cho biết phản ứng chỉ thế õy vào vị trí 6 nhân
quinolin của alcaloid (quinin và quinidin). Bước thứ nhất là sự oxy hóa halogen đã sinh
ra nhiều hợp chất, trong đó dẫn xuất của 6-ceto quinolin cho phản ứng tiếp tục là cơ
bảnm cho thêm amoniac sẽ xuất hiện màu xanh. Trên sắc ký đồ lớp mỏng cho thấy chất
màu gồm nhiều vết “Thalleoquinin”. Điều đó cũng dễ hiểu vì khi cho thêm amoniac có
cetimin tương ứng sinh ra, nó có khả năng ngưng tụ với một phân từ cetoquinolin,
nhưng ở đây sự kết hợp có thể thực hiện qua nguyên tử N của imin không những với
C-6 của cetoquinolin mà còn với C-5. Khi tác dụng với halogen, phản ứng cộng hợp
xảy ra một phần ở nhóm vinyl, một phần thế ở C-5 và C-7, sau đó thế halogen bằng
nhóm-OH, do đó tạo ra một loạt sản phẩm phản ứng có màu xanh. Một trong những
quá trình phản ứng được lựa chọn có nhiều khả năng diễn tả theo sơ đồ sau:
        Ngoài ra có thể định tính alcaloid trong vỏ canhkina bằng phương pháp sắc ký
lớp mỏng. Dùng chất hấp phụ là nhôm oxyd với hệ dung môi khai triển là: n- hexan –
tetraclometan – diethylamin [50:40:10] hoặc chất hấp phụ là silicagel G với hệ dung
môi khai triển là : benzen – MeOH [8:2] .
         iii. Định lượng

      Cân chính xác khoảng 3g bột dược liệu đã qua rây có kích thước lỗ mắt rây
0,125mm và sấy khô ở 60°C đến khối lượng không đổi vào một bình nón 250ml có nút
mài. Thêm 2ml HCl loãng (TT) và 10ml nước, đun nóng trên cách thủy sôi trong 10

                                                                                     15
phút. Để nguội, thêm 5ml dung dịch NaOH 30% (TT) vào 150ml hỗn hợp dung môi
ether – cloroform [3:1]. Lắc đều trong 10 phút. Thêm và hỗn hợp 5g bột mịn gồm
tragacan, lắc đều trong 5 phút. Để yên 5 phút. Lấy chính xác 100ml dịch chiết của ether
cloroform cho vào một bình nón khác rồi bốc hơi tới khô. Hòa tan cắn trong 10ml
ethanol 96° (TT) đã trung tính hóa và đun nóng nhẹ trên cách thủy. Thêm vào dịch
chiết ethanol 10ml nước cất và 5 giọt dung dịch đỏ methyl. Chuẩn độ bằng HCl 0,1N
cho đến khi màu chuyển từ vàng sang đỏ.
      Gọi n là số ml dung dịch HCl 0,1N đã dùng, 1ml dung dịch HCl 0,1N tương ứng
với 0,03094 alcaloid toàn phần biểu thị bằng hỗn hợp đồng phân tử quinin và
cinchonin.
         Hàm lượng phần trăm alcaloid toàn phần trong dược liệu
                     X% = n × 3,094 / 2
         Dược điển Việt Nam quy định ít nhất phải có 6% alcaloid toàn phần.
         Ngoài ra có thể định lượng bằng phương pháp đo quang:
    - Bandelin đã tạo tủa màu alcaloid với thuốc thử Reinecke, lấy riêng tủa, hòa tan
trong aceton rồi đo quang ở 525nm.
    - Sanchez đã định lượng quinin và quinidin bằng phương pháp làm mất nhóm
methyl của –OCH3 bằng H2SO4, phenol sinh ra tạo màu đỏ với thuốc thử diazo. Đo
cường độ màu, tính ra hàm lượng quinin và quinidin trong dược liệu.
    - Monnet định lượng quinin bằng phương pháp đo quang dựa vào phản ứng
erythroquinin.1
       5.        Tác dụng, công dụng và sử dụng canhkina
            a. Trên thế giới
            i.   Sử dụng vỏ canhkina

        Từ khi chính thức được giới thiệu vào năm 1638 cho đến khi các hoạt chất được
tìm ra vào năm 1820 thì vỏ canhkina vẫn là phương thuốc điều trị cơ bản cho bệnh sốt
rét và nó đã cho thấy một số kết quả đáng chú ý. Nó cũng được sử dụng để giảm sốt,
điều trị các bệnh về tiêu hóa, miệng, họng và được dùng trong điều trị ung thư.




1
    Bộ môn Dược Liệu ĐH Dược HN, Bài giảng Dược Liệu I (2004), tr.73-75.



                                                                                     16
        Ngày nay vỏ canhkina tự nhiên vẫn được dùng trong hệ thống dược liệu trên
toàn thế giới. Trong dược liệu Brazin, vỏ canhkina được xem như là thuốc bổ, thuốc
kích thích tiêu hóa và thuốc hạ sốt. Nó được sử dụng cho thiếu máu, chứng ăn không
tiêu, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi nói chung, cảm sốt, sốt rét và như một loại kích thích
giúp ăn ngon miệng. Những phương thuốc dân gian Nam Mỹ khác nói về vỏ canhkina
như một phương thuốc tự nhiên cho ung thư (ung thư vú, ung thư các tuyến, gan, mạc
treo ruột, lá lách), nhiễm khuẩn amip, bệnh về tim, cảm lạnh, tiêu chảy, lỵ, chứng khó
tiêu, cảm sốt, cảm cúm, khó chịu do dùng chất có nồng độ cồn cao, chứng đau lưng, trị
sốt rét, đau dây thần kinh, viêm phổi, đau thần kinh tọa, bệnh thương hàn và bệnh căng
giãn tĩnh mạch. Ở châu Âu, vỏ canhkina được dùng như một loại thuốc chống các bệnh
do động vật nguyên sinh, chống sốt rét, chống đau do co thắt, một loại thuốc bổ đắng
và một loại thuốc hạ sốt. Ở đó nó được sử dụng như một loại thuốc kích thích ăn ngon
miệng, trong trường hợp rụng tóc, nghiện rượu, rối loạn chức năng gan, lá lách và túi
mật; và để điều trị nhịp tim bất thường, thiếu máu, chuột rút và tất cả các loại cảm sốt.
Ở Mỹ, vỏ canhkina được dùng như một loại thuốc bổ và giúp tiêu hóa; để giảm tim đập
nhanh và bình thường hóa các chức năng của tim để kích thích tiêu hóa và kích thích
ăn ngon; điều trị trĩ và căng giãn tĩnh mạch, đau đầu, chuột rút, cảm lạnh, cảm cúm, và
khó tiêu; và được dùng với khả năng làm se, diệt khuẩn, và các thủ thuật gây mê trong
rất nhiều trường hợp khác.
          b. Ở Việt Nam
       Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX người Pháp đã đưa cây canh-ki-na
vào Việt Nam trồng ở tỉnh Lâm Đồng, rồi sau đó đem ra trồng ở Ba Vì của miền Bắc
nước ta, với mục đích chữa bệnh cho quân đội Pháp. Từ đó, cây canh-ki-na đã chính
thức có mặt ở Việt Nam và được thầy thuốc biết đến với nhiều tên gọi khác nhau là:
cây ki ninh (Quinine), cây sốt rét và lấy nó bào chế làm thuốc chữa bệnh sốt rét cho
người dân.
       Vào những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, một
trong những khó khăn của bộ đội ta thường gặp là bệnh sốt rét rất nguy hiểm đến tính
mạng. Trong điều kiện ngành y tế còn nhiều thiếu thốn, vào năm 1946, bác sỹ Nguyễn
Kinh Chi, nguyên là Giám đốc Nha Y tế Trung Bộ đóng tại Huế đã cho bóc và di
chuyển ngay hàng ngàn tấn vỏ cây canhkina ra vùng tự do khu IV một cách an toàn
trước lúc Pháp chiếm giữ cao nguyên Lâm Đồng, sau đó giao cho Viện Bào chế III
chiết xuất chất quinine làm thuốc sốt rét. Thêm vào nguồn dược liệu trong nước, chúng
ta đã nhận được viện trợ từ nước ngoài, trong đó không thể không kể đến nguồn thuốc
kí- ninh từ HAV( tổ chức Hành động giúp đỡ Việt Nam) và từ Liên Bang Nga, nhờ đó



                                                                                       17
mà phần nào đã đáp ứng được nhu cầu thuốc chống lại những cơn sốt rét rừng của bộ
đội và nhân dân.

         c. Các chế phẩm hiện nay

       Hiện nay, người ta chiết quinin nói riêng và các hoạt chất trong vỏ canhkina nói
chung và bào chế thành rất nhiều loại chế phẩm dược dụng: viên nén, viên nhộng,
thuốc tiêm, cồn thuốc,…




Viên nén các hoạt chất từ C. officinalis     Viên nén quinin sulfat




                       Viên nhộng với hoạt chất chính là quinine




                                                                                     18
Rượu thuốc chế từ vỏ canhkina             Thuốc tiêm quinine hydroclorid

      Bên cạnh đó, ở một số nước trên thế giới, canhkina còn được sử dụng trong
công nghiệp thực phẩm và nhiều lĩnh vực khác:




   Nước uống bổ dưỡng của Canada có chứa quinine đang được kiểm nghiệm dưới
                           ánh sáng đèn flourescent




                                                                              19
               Chế phẩm dùng cho tóc                   Sản xuất cà fê

         d. Liều dùng

      Vỏ canhkina dùng làm thuốc chữa sốt, sốt rét, thuốc bổ (thường dùng vỏ
canhkina đỏ). Với liều 1-5 hoặc 10g một ngày dưới dạng thuốc bột , thuốc viên. Vị
đắng cho nên thường làm dưới dạng cao rồi làm thành viên. Canhkina đỏ làm thuốc bổ
dưới dạng rượu có pha thêm đường. Bột canhkina còn dùng rắc lên vết thương, vết
loét.
       Vỏ canhkina chủ yếu hiện nay dùng làm nguyên liệu chiết các alcaloid, chất
quinin. Quinin dùng làm thuốc sốt, thuốc sốt rét với liều 1-2g một ngày, chia làm nhiều
lần uống, mỗi lần 0,5g.
        Quinine sulfate viên 250mg, tương đương 207mg base (30mg muối/kg/24 giờ)
hoặc quinine dihydrochloride ống 0,5mg, tiêm bắp (30mg muối/kg/24 giờ), mỗi đợt
điều trị 7 ngày.
                Liều lượng QNN sulfate        Liều lượng QNN
     Tuổi                                                                    Ghi chú
                    (trong một ngày)           dihydrochloride

     <1tuổi              1 viên            1/8-1/2 ống  2lần/ngày      Vô trùng khi tiêm

   1-<5 tuổi            1,5 viên            1/2 ống  2 lần/ ngày.




                                                                                       20
   5-<12 tuổi                3 viên         2/3 ống  2 lần/ ngày.

   12-15 tuổi                5 viên          1 ống  2 lần /ngày

   > 15 tuổi                 6 viên          1 ống  3 lần/ ngày



       Cinchonin dùng như quinin nhưng liều chỉ bằng 1/3, ngày dùng 0,5-1,5g chia
làm nhiều lần uống. Quinin và nhất là quinidin còn dùng để điều trị một số trường hợp
loạn nhịp tim.
         i.     Thận trọng

Những dấu hiệu xảy ra khi dùng quá liều quinine

       Uống thuốc quinine quá liều có dấu hiệu như tiếng ù tai, giảm thị lực, hoa mắt,
chóng mặt, đau đầu, đau vùng thượng vị, nôn mửa, phát ban đỏ ở da, sốt, lú lẫn và co
giật. Đó chính là triệu chứng của Cinchonisme.
       Do quá liều hoặc dùng thuốc trong thời gian dài, bệnh nhân sốt, nôn, kích thích,
lo sợ, nhầm lẫn, mê sảng, ngất, truỵ hô hấp, da lạnh tím xanh, giảm thân nhiệt, giảm
huyết áp, mạch yếu; ảnh hưởng thính lực (ù tai, chóng mặt, thậm chí điếc); giảm thị lực
(nhìn mờ, rối loạn màu sắc, nhìn đôi, sợ ánh sáng, giảm thị trường, dãn đồng tử, ám
điểm trung tâm)
Chống chỉ định

      Thiếu men G-6-PDH, viêm thần kinh thị giác, rối loạn nhịp tim (không đều,
nhanh thất, nhịp nhanh kịch phát,..)
       Có tiền sử quá mẫn với thuốc quinine hay quinidine. Khi dùng nên thận trọng
trên người già, bệnh nhân có mắc bệnh gan, thận.
      Tác dụng phụ lên thai phụ cũng như liên quan đến khuyết tật thai nhi đến nay
chưa được nghiên cứu rõ ràng.
Tác dụng không mong muốn

   - Toàn thân biểu hiện quá mẫn cảm bằng các triệu chứng: khó thở, cúng miệng,
sưng phồng môi, lưỡi, mặt và phát ban.
   - Hạ huyết áp nếu tiêm thuốc quá nhanh, giảm thị lực, nhìn rối loạn màu sắc nếu
dùng liều cao.


                                                                                     21
    - Kích ứng tại chỗ: buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau thượng vị - mũi ức, ngứa, như-
ng nếu uống thuốc có vị đắng giúp ăn ngon, dể tiêu, cũng nhờ vào tính chất này.
    - Một số bệnh nhân phát ban đỏ, tiêm dưới da rất đau, có thể gây abcès vô khuẩn.
    - Tác dụng trên cơ trơn làm tăng co bóp tử cung đều đặn trong những tháng cuối
của thai kỳ (có tác dụng yếu hơn ergotamine, oxytoxine); lúc mới thụ thai hay khi
không có thai thì tác dụng này rất yếu.
    - Hạ đường huyết, đặc biệt ở phụ nữ có thai và trẻ em.
    - Nếu dùng quá liều có thể ảnh hởng đến thần kinh trung ương, hạ huyết áp và
gây tử vong.
        *Một số tác dụng phụ ít nghiêm trọng hơn nhưng có thể xảy ra, tuy nhiên vẫn
tiếp tục dùng quinine nhưng phải có sự hớng dẫn của bác sĩ như nhìn mờ, đau đầu, hoa
mắt, lơ mơ, lú lẫn.

                         III. Nghiên cứu tác dụng dược lý
     1.      Dược động học
        Quinine hấp thu nhanh và hoàn toàn qua ruột, đạt nồng độ cao trong huyết t-
ương sau khi uống 1-3 giờ và hết ở giờ thứ 8, nồng độ trong huyết tương thường gấp 2-
7 lần trong hồng cầu. Hơn 70% hoạt chất gắn vào proteine huyết tương, qua được rau
thai, sữa mẹ và 5% vào dịch não tuỷ. Quinine qua sữa mẹ với số lượng nhỏ, mặc dù tác
hại hiện tại không rõ nhưng phải hỏi ý kiến thầy thuốc trước khi dùng.
       Về cơ chế tác dụng, quinine gây ra sự căng phồng màng bao quanh ký sinh
trùng sốt rét và nhân. Thuốc cũng làm kết tụ những hạt hemozoine dưới dạng những
đám nhỏ phân chia trong cả bào tương (khác với sự kết tụ thành đám của sắc tố sau khi
dùng 4-aminoquinoleine) với mefloquine cũng có triệu chứng tương tự. Quinine và
mefloquine có tác dụng chống sốt rét đều tạo được phức FPIX, có lẽ sau khi N-chuỗi
thẳng piperidine (ở mefloquine) và acide quiniclinidic (ở quinine) tạo được phức hợp
nguyên tử Fe++ với phorphyrine.
Chuyển hoá và thải trừ

       Thuốc chuyển hoá ở gan, đào thải 20% qua thận và thải hết sau 24 giờ, không
tích luỹ. Thời gian bán huỷ trong huyết tương là 11,09  2,1 giờ (có thể 10-20 giờ).




                                                                                   22
Tương tác thuốc

       Một số thuốc có tương tác với quinine như cimetidin (tagamet, tagamet HB) làm
tăng nồng độ quinine ở huyết tương, nên làm giảm thải trừ ở thận và tăng thời gian bán
huỷ của quinine, trong khi ranitidine, rifampicine ít gây tác dụng phụ này.
      Các thuốc kháng acide chứa nhôm như amphojel, maalox, gaviscon, gelusil,
mylanta... có thể gây giảm sự hấp thu quinine, giảm hiệu quả điều trị.
       Quinine làm chậm hấp thu và tăng nồng độ trong huyết tương của digoxin,
digitoxine trong huyết tương (lanoxin, lanoxicaps) và các glucoside tim liên quan.
      Quinine làm tăng nồng độ trong máu của wafarine (coumadine) và các chất
chống đông liên quan, gây tăng nồng độ thuốc trong máu, gây độc nghiêm trọng.
      Không được phối hợp thuốc với mefloquine vì làm tăng nguy cơ xuất hiện cơn
co giật, nếu cần thì ngưng dùng quinine ít nhất 12 giờ trước khi khởi đầu dùng
méfloquine.
       Rifampicine (rifadine, rimactane), hay rifabutine (mycobutine) có thể làm tăng
tốc độ thải trừ quinine lên 6 lần, làm giảm nồng độ huyết tương của quinine. Nên tham
khảo ý kiến của thầy thuốc để điều chỉnh liều lượng.
       Các thuốc gây acid hoá nước tiểu có thể làm tăng thải trừ quinine theo nước
tiểu. Những chất kiềm hoá nước tiểu (acetazolamide, natri bicarbonate) làm tăng nồng
độ quinine/ máu.
       Quinine tăng tác dụng của thuốc phong bế thần kinh cơ và đối kháng thuốc ức
chế acetylcholine esterase do quinine tác dụng lên các synape thần kinh cơ.
     2.      Dược lực học
        Vỏ canhkina là một loại thuốc bổ chát (do tanin) và đắng, tác dụng chữa sốt và
sốt rét của vỏ canhhkina là do các alcaloid chủ yếu là quinin.
        Quinin là một chất độc đối với tế bào, tác dụng lên đơn bào, amip, ký sinh trùng
sốt rét...Trước đây tuy tác dụng chữa sốt rét của canhkina chỉ là dựa theo kinh nghiệm
của nhân dân. Mãi đến năm 1880, sau khi Laveran phát hiện độc tính của quinin đối
với ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum người ta mới hiểu cơ chế chữa sốt rét
của quinin. Quinin tác dụng chủ yếu lên các dạng vô tính và dạng non, ít tác dụng đối
với các gamet. Vì vậy cần uống phòng quinin vào giữa 2 cơn sốt rét.




                                                                                      23
      Quinin còn có tác dụng ức chế đối với những trung tâm sinh nhiệt của những
người sốt do đó quinin được dùng làm thuốc giảm sốt, nhưng đối với người bình
thường thì quinin ở liều điều trị không có tác dụng làm hạ nhiệt.
      Ngoài tác dụng hạ sốt, chữa sốt rét, quinin còn có tác dụng chống nhiễm trùng,
và chữa cúm, và hơi có tác dụng an thần.
      Người ta dùng quinin dưới dạng uống, tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch. Quinin gây
cứng và loét nơi tiêm, kích ứng mặt trong mạch máu. Quinin loại trừ qua đường tiểu
tiện.
      Với liều cao, quinin làm giảm thần kinh trung ương do đó có thể gây những hiện
tượng như ù tai, chóng mặt, hoa mắt.
      Nó làm chậm nhịp tim, kích thích cơ trơn, quinin còn là một thứ thuốc giục đẻ,
nhưng chỉ có tác dụng làm ra thai với liều cao.
       Những alcaloid khác của canhkina cũng có tác dụng chữa sốt, sốt rét nhưng kém
hơn, và có tác dụng hiệp đồng. Quinidin có tác dụng kích thích cơ tim, dùng chống
rung tim và điều hòa nhịp tim.
     3.       Một số nghiên cứu mới
          a. Thận trọng khi dùng quinine điều trị chuột rút (vọp bẻ)

       Một nghiên cứu vào năm 1998 đã công nhận tác dụng của quinine với chứng
chuột rút, với tác dụng phụ duy nhất là gây ù tai. Vào năm 2002, một nghiên cứu
double – blind placebo đã được tiến hành với 98 người mắc chứng chuột rút về đêm,
họ được cho uống 400mg quinine mỗi ngày trong vòng 2 tuần. Kết quả là quinine đã có
tác dụng với liều điều trị này, nó đã làm giảm những cơn đau thường xuyên với cường
độ mạnh của chứng chuột rút mà không gây tác dụng phụ nào.
        Nhưng gần đây, theo tin tập san về phản ứng có hại của thuốc của Úc
(Australian ADR Bulletin), một hội nghị về dược mới đây trình bày trên 500 báo cáo
về phản ứng có hại của Quinine. Trong số đó 198 trường hợp đề cập đến tình trạng
giảm tiểu cầu và bốn trường hợp đã tử vong; Qua theo dõi 20 ca dùng quinine từ đầu
năm 2000 để điều trị chuột rút cho thấy phản ứng phụ thường xảy ra trong vòng 3 tuần
sau khi dùng thuốc, 2 trường hợp xuất hiện triệu chứng sớm với liều đầu tiên. 15/20
trường hợp có số lượng bạch cầu nằm trong khong [ 0 -14 x109/lít], bệnh nhân buộc
phải nhập viện điều trị bằng truyền tiểu cầu, corticoide và immunoglobuline. Và rất đặc
biệt, 5 trường hợp trong số bệnh nhân trên có test kháng thể kháng quinine dương tính.
Mặc dù kết quả cho thấy quinine có thể ngăn ngừa 1-2 cơn vọp bẻ/ tuần, nhưng không
làm giảm khong thời gian và độ nghiêm trọng cơn chuột rút. Hiện tại, Australia đã


                                                                                     24
chống chỉ định mọi chế phẩm chứa quinine để điều trị chuột rút vì thiếu bằng chứng về
hiệu lực của thuốc này.
                Minh hoạ một trường hợp bệnh nhân nữ, 25 tuổi uống quinine để điều
trị các cơn chuột rút ban đêm (crampe), liều dùng 2 viên/ tuần, trong vòng 2 tháng.
Bệnh nhân xuất hiện ban xuất huyết và lượng tiểu cầu chỉ còn 5 x 109/lít. Ngừng ngay
thuốc Quinine, bệnh nhân nhập viện điều trị bằng prednisolone và immunoglobulin.
Sau một tuần, mức tiểu cầu trở về bình thường và ổn định, phản ứng kháng thể kháng
tiểu cầu do quinine dương tính.
                Như trong trường hợp này, giảm tiểu cầu do quinine thường hồi phục
sau khi ngừng quinine, nhưng phải có trợ giúp qua truyền tiểu cầu, corticoides hoặc
immunoglobuline. Vì cơ chế giảm tiểu cầu là cơ chế phức hợp miễn dịch, nên bệnh
nhân cần tránh dùng mọi chế phẩm có chứa Quinine, kể cơ các loại nước uống
(beverages) chứa một lượng thấp quinine để làm thuốc bổ hoặc để điều trị chứng chán
ăn (anorexia) (do vị đắng của vỏ cây thuốc quiquinna kích thích ăn ngon miệng), bên
cạnh đó bác sĩ cần cân nhắc lợi ích và nguy cơ (risk- effectiveness) trước khi kê đơn
Quinine để điều trị chứng chuột rút ban đêm; Đồng thời, bác sĩ nên tìm các nguyên
nhân khác gây chuột rút (ví dụ mất muối (nhất là mùa nóng), rối loạn điện giải, rối loạn
thần kinh ngoại biên, bệnh neurone vận động.
          b. Thận trọng trong điều trị sốt rét
       Với những tác dụng phục nguy hiểm, hiện nay quinine không còn cho phép bán
không cần đơn nghĩa là không còn trong phạm vi OTC (over the counter). Tại Mỹ cơ
quan quản lý thực và dược phẩm (FDA) đã ban hành quy tắc cuối cùng hủy bỏ việc
chấp nhận cho bán không cần đơn thầy thuốc. Các chế phẩm có quinine để điều trị và/
hoặc dự phòng sốt rét, quinine không phải là thuốc chủ yếu được lựa chọn cho việc
điều ban đầu đa số các loại sốt rét.
        Bệnh sốt rét đòi hỏi chẩn đoán y khoa để vừa xác nhận đúng bệnh vừa xác định
điều trị tốt nhất. Việc theo dõi và điều chỉnh của các thầy thuốc là cần thiết và xác định
là việc điều trị đã lựa chọn có hiệu lực với loại ký sinh trùng đó. FDA cũng rất lo lắng
và quan ngại nếu quinine vẫn còn bán tự do OTC với nhãn đề là điều trị hoặc phòng sốt
rét thì một lượng lớn chế phẩm này sẽ được bán. Quy tắc cuối cùng đòi hỏi là bất kỳ
sản phẩm quinine nào bán theo OTC để điều trị phải có đơn thầy thuốc và có đơn xin
chấp thuận lưu hành ngoài thị trường.
         c. Xu hướng quay trở lại với việc dùng dịch chiết thiên nhiên từ canhkina

      Phương thuốc vỏ canhkina đã được sử dụng trong rất nhiều bài thuốc từ thảo
dược bởi những người dân bản địa Peru qua rất nhiều thế kỷ cho đến tận ngày nay. Vỏ

                                                                                        25
canhkina vẫn là một phương thuốc truyền thống và được sử dụng rất nhiều để điều trị
mọi loại cảm sốt, rất nhiều vấn đề về tiêu hóa, và các loại viêm và rối loạn khác nhau.
Sốt rét được điều trị căn bản nhờ sử dụng nước chiết từ vỏ canhkina cho đến CTTG I
và cả trong những năm chiến tranh. Quinine tổng hợp trở nên phổ biến trong suốt
CTTG II. Dạng tổng hợp của alcaloid này được sử dụng là chủ yếu. Tuy nhiên, từ năm
1960 trở lại đây, ký sinh trùng sốt rét đã kháng lại loại thuốc tổng hợp chloroquinine.
Tình huống này đã mang vỏ canhkina tự nhiên được sử dụng trở lại để điều trị sốt rét.
Tất cả các loại cảm sốt gây nên triệu chứng và trạng thái sốt cho cơ thể đều có thể điều
trị nhờ sử dụng dịch chiết từ vỏ canhkina. Vỏ canhkina ceũng kích thích tiết nước bọt,
hơn thế nữa loại thuốc bổ đắng này làm tăng tiết dịch tiêu hóa và giúp ngon miệng –
giúp cải thiện hệ tiêu hóa kém. Nước sắc từ vỏ canhina được sử dụng làm nước súc
miệng để trị viêm họng, đau họng và những vấn đề về miệng khác rất hiệu quả. Bài
thuốc từ cây canhkina cũng rất hữu dụng trong làm giảm bệnh khớp mãn tính và những
vấn đề liên quan.

                         IV. Tài liệu tham khảo
1. Bộ môn Dược Liệu ĐH Dược HN, Bài giảng Dược Liệu I (2004), tr.70-76.

2. Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam III, NXB Trẻ, tr.129.

3. Đỗ Tất Lợi(1999), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học, tr.678-683.

4. Nhiều tác giả, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam I, NXB Khoa học và kỹ
thuật Hà Nội, tr. 340-344.

5. Trang tin điện tử Viện Sốt rét Ký sinh trùng – Côn trùng Quy Nhơn,
http://www.impe-qn.org.vn/impe-qn/vn/portal/index.jsp, bài đăng ngày 12/07/2005 và
03/11/2008 của Ths. Bs Huỳnh Hồng Quang ( Dịch và tổng hợp từ Malariasite10.2008;
Nature 10.2008; Trop Doct, 8.2008 và Royal Society of Medicine Press, 2008).

6. Morrison, L. D., et al. “Death by quinine.” Vet. Hum. Toxicol. 2003 Dec; 45(6):
303-6.

7. Man-Son-Hing, M., et al. "Quinine for nocturnal leg cramps: a meta-analysis
including unpublished data." J. Gen. Intern. Med. 1998; 13(9): 600–6.

8. Warhurst, D. C., et al. “The relationship of physico-chemical properties and
structure to the differential antiplasmodial activity of the cinchona alkaloids.” Malar. J.
2003Sep1; 2:26.
- Côn trùng Quy Nhơn



                                                                                         26

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags: Canhkina
Stats:
views:1432
posted:3/31/2011
language:Vietnamese
pages:27