Docstoc

AN UONG THEO THUYET AM DUONG

Document Sample
AN UONG THEO THUYET AM DUONG Powered By Docstoc
					          Ăn uống quá độ và bừa bãi rất đễ sinh ra bệnh tật.
                             Hƣớng Dẫn Cách Ăn UốngTheo
                                 Nguyên Tắc Âm Dƣơng


Nhằm giúp quý vị nội trợ biết thức ăn, thức uống nào Âm hay Dƣơng chúng tôi xin nêu dƣới
đây một số thức ăn thông thƣờng ở gia đình với đặc tính Âm Dƣơng của nó. Cách phân chia
này là kết quả của sự nghiên cứu lâu dài trên thực tiễn của chúng tôi. Tất nhiên chúng tôi có
tham khảo thêm cách phân chia của GS OSHAWA và cách phân chia thực phẩm theo Tây y,
tuy nhiên ngoài nhiều điểm chúng tôi nhất trí với GS.OSHAWA, có một số điểm chúng tôi
đánh giá khác hẳn.
Dƣới đây là Bảng phân loại thực phẩm theo Âm Dƣơng Hàn Nhiệt (Hàn, Nhiệt là biểu hiện
của Âm Dƣơng) do chúng tôi nghiên cứu trong hơn 20 năm qua. Vì khuôn khổ của bài viết ở
đây chúng tôi chỉ giới thiệu một số thực phẩm thông thƣờng chứ không ghi đầy đủ tất cả các
loại thực phẩm cũng nhƣ không ghi đầy đủ các tiêu chuẩn để đánh giá biết thực phẩm nào
Âm hay Dƣơng, Lạnh hay Nóng đƣợc. Mong bạn đọc thông cảm.
Tuy nhiên căn cứ vào bảng phân loại này và bảng phân loại triệu chứng Âm Dƣơng Hàn
Nhiệt dƣới đây, các bạn cũng sẽ biết mình thuộc tạng (bệnh) nào và biết đƣợc thức ăn, thức
uống nào mát, lạnh (hàn) hay ấm, nóng (nhiệt) để từ đó chọn thức ăn thích hợp với cơ thể
mình lúc ăn uống ngỏ hầu bảo vệ đƣợc sức khỏe (Ẩm Thực Dƣỡng Sinh).
Quy tắc áp dụng thông thƣờng để ít bị bệnh là làm sao cho cơ thể đƣợc quân bình âm dƣơng
tức là nóng lạnh trong cơ thể đừng chênh lệch nhau quá nhiều.
Cụ thể là ngƣời tạng Hàn hoặc bệnh Hàn thì tránh ăn, uống các thức ăn có tính lạnh.
Ngƣời tạng Nhiệt hoặc bệnh Nhiệt thì tránh ăn (uống) các thức ăn có tính nóng.
Ngoài ra còn phải biết ăn uống có điều độ. Ăn uống quá độ và bừa bãi rất đễ sinh ra bệnh tật.
Tuy nhiên mọi phân loại dù sao cũng có tính tƣơng đối mà thôi. Vì thực tế việc trị bệnh
không phải đơn giản.
Đa số trƣờng hợp bạn có thể sử dụng bảng phân loại này một cách có hiệu quả. Nhƣng cũng
có trƣờng hợp khá nhức tạp ngoài sự hiểu biết của các bạn. Khi đó các bạn cần phải hỏi ý
kiến của thầy thuốc có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này.
Chúc các bạn gặt hái đƣợc nhiều kết quả sau khi nghiên cứu bài viết này của chúng tôi. Sau
cùng mong đƣợc sự góp ý của các bạn để cho bảng phân loại thức ăn ngày càng hoàn chỉnh
và chính xác hơn. Vì “Ngƣời ta có thể biết ít, biết nhiều chứ không ai có thể biết đủ”.

               ÂM CHỨNG                                    DƢƠNG CHỨNG

 1. Thƣờng cảm thấy lạnh, hay ớn lạnh, sợ 1. Thƣờng cảm thấy nóng, hay bứt rứt trong
 nƣớc.                                    ngƣời, không sợ gió, sợ lạnh: thích gió.

 2. Thƣờng ít khát nƣớc (hay uống nóng).      2. Thƣờng khát nƣớc (hay uống lạnh).

 3. Thƣờng ngủ sớm (dở thức khuya).           3. Thƣờng thức khuya (giỏi thức khuya).

 4. Thƣờng ngủ nhiều (dễ ngủ).                4. Thƣờng ngủ ít (mất ngủ).




                                             1
5. Thƣờng ăn ít, kém ăn.                         5. Thƣờng ăn nhiều, ngon miệng.

6. Thƣờng chậm tiêu.                             6. Thƣờng mau tiêu.

7. Thƣờng tiêu chảy, phân mềm, tiểu trong, 7. Thƣờng táo bón, kiết, tiêu vàng, đỏ, gắt
nhiều.                                     (đái láo). Đái vắt.

8. Thƣờng yếu kém về tình dục.                   8. Mạnh về tình dục.

9. Hay nằm, ngồi, lƣời biếng.                    9. Hay đi, đứng, siêng năng.

10. Da mềm, lạnh (mát) xanh.                     10. Da cứng, ấm (nóng), hồng.

11. Mạch chậm, yếu, chìm, nhỏ.                   11. Mạch nhanh, nổi to.

12. Huyết áp thƣờng thấp.                        12. Huyết áp thƣờng cao.

BẢNG CHẨN ĐOÁN ÂM TẠNG – DƢƠNG TẠNG

 DẤU HIỆU ÂM TẠNG

 1) Da tái xanh, nhợt nhạt, mịn màng, bủng, mỏng.
 2) Mình mát, tay chân lạnh.
 3) Da thịt mềm nhão, ít lông, lỗ chân lông nhỏ.
 4) Xƣơng cốt thƣờng nhỏ nhắn, yếu mềm.
 5) Tóc mềm, nhỏ sợi – đôi khi quăn – mày lợt.
 6) Ánh mắt nhu hòa, êm dịu, kín đáo.
 7) Tiếng nói êm ái, chậm chạp, nhỏ nhẹ.
 8) Cử điệu chậm, đi đứng chậm, phản ứng chậm, ăn uống chậm.
 9) Lãnh đạm, tiêu cực, thụ động, kém hăng hái, nhiệt tình.
 10) Ít ăn các thức Cay, Mặn, Hăng, Nồng, Sống.



 DẤU HIỆU DƢƠNG TẠNG

 1) Da hồng hào, sậm màu, sần sùi, săn chắc, dầy.
 2) Mình ấm nóng, tay chân ấm áp.
 3) Da thịt chai cứng, nhiều lông, lỗ chân lông lớn.
 4) Xƣơng cốt thƣờng to lớn, cứng chắc
 5) Tóc cứng, to sợi, thƣờng thẳng, mày đậm.
 6) Ánh mắt mạnh mẽ, sỗ sang, lộ liễu.
 7) Tiếng nói rổn rảng, nhanh, mạnh.
 8) Cử điệu lanh lẹ, đi đứng nhanh, phản ứng nhanh, ăn uống nhanh.
 9) Nhiệt tình, tích cực, năng động, hăng hái.
 10) Hay ăn các thức Cay, Mặn, Nồng, Sống.



                                                 2
CÁC LOẠI THỰC PHẨM DƢỜI ĐÂY CÓ TÍNH MÁT HOẶC LẠNH (THUỘC ÂM)

 CỐC LOẠI        Gạo trắng

 RAU, ĐẬU, CỦ    Cà tím, cà chua, đậu Haricot vert, đậu đũa, dƣa leo, mƣớp, khổ
                 qua, dƣa gang, củ sắn, Artichaut, giá, nấm, rau xà lách, rau sam,
                 mồng tơi, khoai lang, khoai tây, khoai tím, khoai từ, đậu petit
                 bois, đậu xanh, đậu nành, rau muống, bầu, bí đao, rau dền, lá
                 khoai lang (rau lang), rau cần, rau má, rau đắng, khổ qua, trái su,
                 cải bắp, lá mơ, củ sắn, củ dền.

 TRÁI CÂY        Đu đủ, cam, chanh, chuối xiêm, me, dƣa gang, lê, nho, bứa, đào,
                 đào lộn hột, trái thanh long, măng cụt, ổi, khế, lựu, anh đào, táo,
                 dừa, mảng cầu xiêm, dâu, dƣa hấu, dƣa hƣờng, dƣa vàng.

 SỮA - TRỨNG     Sữa chua (yaourt/yogurt), sữa trâu, trứng vịt, trứng vịt lộn.

 THỊT            Trâu, heo, gà ác, vịt.

 THỦY SẢN        Lƣơn, cá thờn bơn (cá lƣỡi trâu), cá thác lác, cá trê, cá xạo, cá
                 bống, cá chạch, cá kèo, cá mè, cá tra cá vồ, cá bong lau, cá dứa,
                 cá hồng, cá chốt, cá ngác, rắn, ba ba, rùa, ốc bƣơu, ốc lác, ếch
                 nhái, cóc, nghêu, sò hến.

 DẦU ĂN          Dầu mè, dầu đậu nành, dầu hoa hƣớng dƣơng.

 THỨC UỐNG       Nƣớc đá, nƣớc đá lạnh, nƣóc đá trà, nƣớc sâm, trà Thái Nguyên
                 (chè Bắc, trà tƣơi, trà Huế trà lài, trà Sói, trà Sâm, trà Vối, Nƣớc
                 Seven up, rƣợu chat, Cognac, Champagne, bia, nƣớc mơ, nƣớc
                 tắc (trái quất).

 NƢỚC GIA VỊ     Nƣớc tƣơng, dấm thanh, dấm tiêu, tàu vi yểu (hắc xì dầu).

 GIA VỊ          Dƣa cải, dƣa giá, dƣa leo ƣớp chua, dƣa cà pháo.

 CHẤT NGỌT       Đƣờng phèn, đƣờng thốt nốt, đƣờng cát mỡ gà, đƣờng cát đen.

 CHẾ BIẾN        Nấu canh, luộc, hầm (ninh, tần), đun (chƣng) cách thủy, ƣớp
                 chua, phơi sƣơng.




CÁC LOẠI THỰC PHẨM DƢỚI ĐÂY CÓ TÍNH ẤM HOẶC NÓNG (THUỘC
DƢƠNG)

 CỐC LOẠI        Gạo lức, bắp nếp, bo bo.

 RAU, ĐẬU CỦ     Củ cải trắng, cà rốt, cà bát, cà pháo, rau cúc tần (tần ô), rau om,
                 rau răm, rau húng cây, rau húng lũi, ngò gai, bắp chuối, thì là,
                 húng chanh (tần dầy lá). Kinh giới, xà lách son (cresson), đậu
                 ván, đậu ngự, đậu đen, đậu đỏ, bí đỏ, bí rợ, măng tre, hẹ, gừng,
                 nghệ, riềng, tỏi củ nén.




                                     3
 TRÁI CÂY                Thơm (dứa), khóm… sầu riêng, mít, vải, nhãn, na (mảng cầu ta).
                         Xoài, sapôche (hồng xiêm), quit, hồng, vú sữa, chuối già (chuối
                         tiêu), chối cau, bƣởi, chôm chôm, lê-ki-ma (quả trứng gà).

 SỮA VÀ CÁC THỨC Sữa bò, sữa dê, bơ (butter), phó-mách (fromage), cheese các
 ĂN LÀM BẰNG loại.
 SỮA TRỨNG

 TRỨNG                   Trứng gà, trứng ngỗng, trứng cút.

 THỊT                    Thỏ, dê, bò, ngựa, gà, cừu, chim se sẽ, bồ câu, ngỗng, gà tây.

 THỦY SẢN                Tôm càng, tôm hùm, tôm tích, tôm thẻ, tép, cá chép, cá thu, cá
                         ngừ, cá tai tƣợng, cá trắm cỏ, cá chim, cá lóc, cá lóc bong, cá rô,
                         cá nục, cá bạc má, cá chẽm, cá chày, cá cam, cá lòng tong, cá hú.

 DẦU ĂN                  Dầu olive, dầu dừa, đậu phọng, dầu cá.

 THỨC UỐNG               Cacao, rƣợu mạnh (rƣợu đế, Whisky), sirô, trà sen (loại trà có
                         ƣớp mùi hƣơng sên nhân tạo), trà Lipton, nƣớc khoáng, Soda.

 NƢỚC GIA VỊ             Nƣớc mắm, nƣớc muối.

 GIA VỊ                  Hành, tiêu, tỏi, ớt, muối hột, muối bọt, bột ngọt, dƣa kiệu, dƣa
                         hành, dƣa tỏi, kim chi (của Đại Hàn), dƣa chua.

 CHẤT NGỌT               Đƣờng cát trắng, mật ong.

 CHẾ BIẾN                Nƣớng, phơi khô, ƣớp muối, kho mặn, kho khô.

Bùi Quốc Châu

   Ăn uống quân bình âm dƣơng để điều chỉnh độ đƣờng
                              Last update was 09-14-2007


Nhập Thất thƣờng xuyên, tập luyện hằng ngày chƣa đủ mà còn phải thay đổi cách ăn uống
nữa. Cả ba tiến trình này ngƣời bịnh tiểu đƣờng không đƣợc bỏ qua bất cứ một tiến trình nào.
Thiếu một trong ba thì độ đƣờng sẽ lên, bịnh tái phát. Nhƣng ăn uống thế nào gọi là quân bình
Am Dƣơng?
1-An uống để dƣơng hóa cơ thể
Tiểu đƣờng là bịnh thịnh Am vì hầu hết ngƣời tiểu đƣờng đều có thể trạng mập phì (trừ trƣờng
hợp đặc biệt). Cơ thể mập là Am thịnh. Vì vậy, phải ăn uống những thức ăn thịnh Dƣơng để cơ
thể quân bình dần dần. Điều đặc biệt lƣu ý là tuy thuộc Am, nhƣng bịnh tiểu đƣờng lại không
thích hợp với một số thực phẩm Dƣơng tính. Ví dụ, tuy gạo lứt Dƣơng, nhƣng khi ăn gạo lứt
phải cẩn thận vì chất cám bên ngoài Dƣơng, còn chất gạo bên trong lại chứa nhiều tinh bột sẽ
biến thành đƣờng khi vào cơ thể. Ví dụ củ cà rốt cũng Dƣơng lại không thích hợp với một số
trƣờng hợp tiểu đƣờng. Chúng ta không thể áp dụng thức ăn theo nguyên tắc Am Dƣơng một
cách phổ quát cho bịnh tiểu đƣờng đƣợc. Chúng ta phải biết cách sử dụng các loại thức ăn
Dƣơng phù hợp với bịnh tiểu đƣờng (bảng liệt kê các thức ăn dành cho bịnh tiểu đƣờng sẽ
đƣợc nói đến sau).




                                            4
 2-Không nên ăn chung với ngƣời không mắc bịnh
 Ngƣời bịnh tiểu đƣờng nên ăn các thức ăn dành riêng cho mình. Nếu có thể thì nên ăn riêng.
 An cơm chung với gia đình, chúng ta rất khó kiêng cử, giữ gìn vì thực đơn dành cho ngƣời
 không mắc tiểu đƣờng hoàn toàn khác chúng ta. Nên mua các loại thức ăn cần thiết cho căn
 bịnh của mình. Chế biến, nấu nƣớng cho phù hợp. Không thể tiếp tục ăn thức ăn mình thích,
 uống thức uống mình quen dùng mà phải thay đổi hoàn toàn thức ăn, thức uống, thay đổi cả
 cách thức nấu nƣớng. Có nhƣ vậy bịnh mới không tái phát. An uống ở tiệm hay nhờ ngƣời
 khác nấu giúp, rất khó tuân thủ nghiêm ngặt các loại thức ăn, thức uống làm cho độ đƣờng
 tăng cao.
 Ăn riêng, ăn theo sự hƣớng dẫn, mua sắm các loại thực phẩm dành cho mình là một trong
 những điều kiện quan trọng để tự chữa trị bịnh tiểu đƣờng.
 3.An vừa đủ no, uống vừa đả khát
 Ngƣời bịnh tiểu đƣờng phải chế ngự tính thèm ăn, thèm uống và tính ăn không dừng lại đƣợc.
 Việc chế ngự này không bao giờ làm đƣợc nếu không trải qua một Kỳ Nhập Thất. Trái lại, nếu
 cho cơ thể làm quen đƣợc một thời gian ngắn Ngƣng An, Ngƣng Uống thì việc ăn uống sẽ
 hoàn toàn thay đổi. Nhờ đó chúng ta ăn thế nào cũng ngon miệng và có thể dừng lại bất cứ lúc
 nào. Mỗi bữa ăn, ta chỉ nên ăn vừa đủ no, uống vừa đả khát. Ta không nên ăn nhiều nhƣ trƣớc.
 An uống ít, nhƣng đầy đủ các chất cần thiết cho cơ thể làm việc, hoạt động, chớ không phải ăn
 thiếu thốn để phải rơi vào tình trạng đói ăn. Nhiều ngƣời kiêng cử quá độ làm cho cơ thể suy
 yếu là một sai lầm cần phải tránh.
 4. An uống điều độ và có giờ giấc
 Mỗi ngày ăn mấy lần vào lúc nào là điều cần đƣợc quan tâm. Chúng ta nên tập tính điều độ
 trong ăn uống giúp cho bộ tiêu hóa làm việc tốt hơn. Không nên ăn quá nhiều lần và ăn bất cứ
 giờ giấc nào. Nếu 3 bữa thì giờ nào? Trƣờng hợp bận rộn, thay vì ăn trái thời, ta có thể bỏ một
 hay hai bữa ăn tốt hơn là ăn vội vàng, nhai không kỹ hoặc ăn xong phải làm việc trí não hoặc
 chân tay ngay.
 Đã trải qua một vài lần Nhập Thất thì việc bỏ một hoặc hai bữa ăn là việc dễ dàng. Khoa học
 đã chứng minh rằng mỗi khi cơ thể tiêu hóa thức ăn thì phải điều động 50 % lƣợng máu xuống
 bộ tiêu hóa, làm suy yếu sức đề kháng của cơ thể. Vì vây, ăn uống bất cứ giờ giấc nào là điều
 cần nên tránh.
 Tóm lại, chúng ta nên ăn uống quân bình âm dƣơng, ăn thức ăn của ngƣời bịnh, điều độ, vừa
 đủ no và có giờ giấc. Làm thật đúng các điều vừa nói, nhất định ta chế ngự hoàn toàn và nhanh
 chóng căn bịnh oái oăm làm đau khổ và giết chết nhiều ngƣời.
 Muốn tìm hiểu rõ về các bƣớc trị liệu bịnh tiểu đƣờng, quý vị có thể order trực tiếp các tài liệu
 qua website của Hội: www.tienthienkhicong.org hay liên lạc trực tiếp với Nguyễn Định: (714)
 725-1522




  ÂM DƢƠNG HÀI HÒA TRONG TRUYỀN THỐNG ẨM THỰC VIỆT
                                     GsTs. Nguyễn Văn Luật
Truyền thống văn hóa ẩm thực là một mảng văn hóa trong kho tàng văn hóa vật chất và tinh




                                               5
thần đã có từ hàng ngàn năm. Tới nay, trong tri thức dân gian không những bao gồm sự tích
luỹ hiểu biết tƣờng tận những loại thực phẩm, mà còn biết kết hợp hài hòa, liên kết hợp lý
giữa chúng trong một bữa ăn, và ngay trong cả một món ăn nhƣ nem gián, lẩu mắm, ốc hầm
chuối già, thịt vịt nấu chao, thịt trâu riềng mẻ, thịt chó mơ lông + riềng mẻ.
Trong phong cách ăn uống của dân tộc ta, cơ sở để đánh giá các món ăn là tính nhiệt (nóng),
hàn (lạnh), bình (mát), ấm (giữa nhiệt và bình). Cơ sở này cũng đƣợc dùng trong y học cổ
truyền khi bốc thuốc Nam hay thuốc Bắc. Thức ăn có vị chua, vị đắng thuộc "bình" hoặc
"ấm"; mặn thuộc "ấm". Những thực phẩm có tính nhiệt và ôn; vị cay, vị ngọt đều thuộc
"dƣơng". Còn thực phẩm có tính hàn và bình, có vị chua, vị đắng và vị mặn đều thuộc "âm".
Các vị thức ăn đƣợc phân loại quy về âm dƣơng và ngũ hành. Chiếu vào ngũ hành thì chua
thuộc "mộc", đắng thuộc "hỏa", ngọt thuộc "thổ", cay thuộc "kim" và mặn thuộc "thủy".
Các nhà y học cổ truyền với thuyết âm - dƣơng cho rằng, khi ăn vào, thức ăn sẽ tạo ra những
biến đổi trong cơ thể, nhƣ làm cho cơ thể nóng/ấm lên tạo cảm giác hƣng phấn, hay làm cho
cơ thể mát mẻ, dễ chịu. Ngƣợc lại, thức ăn có thể làm cho ngƣời ta cảm thấy bức rứt khó
chịu, hay cảm giác bị ức chế, nặng nề. Nếu chọn thức ăn có tác dụng điều hòa cơ thể đến thế
cân bằng âm - dƣơng, thì có thể giữ đƣợc trạng thái thoải mái, hƣng phấn, khỏe mạnh.
Nghiên cứu xác định đƣợc tính vị của mỗi loại thức ăn thì có thể chọn đƣợc thức ăn góp phần
chữa cho mỗi căn bệnh, hợp với thể trạng của mỗi bệnh nhân. Thức ăn dƣơng tính có tác
dụng ôn dƣơng, nhƣ hành, gừng, hồ tiêu, rƣợu, thịt dê. Thức ăn âm tính có tác dụng thanh
nhiệt, bổ âm, nhƣ bạc hà, dƣa hấu, ba ba.
Nguyên lý "Tƣơng sinh, Tƣơng khắc" giữa các yếu tố đƣợc y học cổ truyền vận dụng trong
cách ăn uống chữa bệnh. Tính vị thức ăn đƣợc phân loại theo âm - dƣơng: chua là cực âm.
Cay là cực dƣơng. Từ âm tới dƣơng là: chua; ngọt; mặn, đắng, cay. Chua cho ta cảm giác
thanh, nhẹ mát. Cay sẽ tạo ra cảm giác nóng, tăng sự tuần hoàn của máu. Khi kết hợp hài hòa
trong một món ăn cả chua lẫn cay sẽ có khả năng kích thích dịch vị rất mạnh, do có sự giao
hòa âm - dƣơng tƣơng xứng.
Nhƣ vậy, sự kết hợp hài hòa những chất dinh dƣỡng trong khẩu phần ăn không những phải
bảo đảm về chất lƣợng và số lƣợng, mà còn cần đạt đƣợc cân bằng về âm dƣơng ngũ hành,
những nhân tố cơ bản của sự hình thành, tồn tại và phát triển của con ngƣời, cũng nhƣ của cả
vũ trụ. Tất cả đều dựa trên cơ sở lập luận nhƣ sau:
Tự nhiên cũng nhƣ con ngƣời đều chịu ảnh hƣởng tƣơng khắc tƣơng sinh của âm dƣơng. Từ
thái cực hỗn mang biến hóa sinh ra lƣỡng nghi, hay âm dƣơng. Âm dƣơng kết hợp với nhau
thành ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Ngũ hành theo dòng vận động mà kết hợp với nhau
tạo thành Tam Tài: trời, đất và ngƣời bao trùm lên tất cả.
Về vai trò của gia vị trong kết hợp âm dƣơng trong món ăn - vị thuốc.
Các nhà y học phƣơng Đông đã khái quát vấn đề ăn uống và sức khỏe nâng lên thành học
thuyết "Y thực đồng nguyên". Nội dung cơ bản của học thuyết này đƣợc xem là phép ăn uống
chữa bệnh. Trong công trình nghiên cứu về thuốc sớm nhất, có niên đại hơn 2.000 năm trƣớc
còn giữ lại đƣợc, đã khuyến cáo có những loại thức ăn đồng thời cũng là những vị thuốc có
giá trị chữa bệnh rất cao, nhƣ gia vị gừng, tỏi, và các loại khác nhƣ muối, vừng, hạt sen, ngó
sen, long nhãn, táo, nho,... Khi nào bệnh nặng thì mới nên kết hợp giữa ăn uống và dùng
thuốc, kết hợp giữa Đông y và Tây y.
Một món ăn đƣợc coi là ngon lành phải đạt đƣợc sự cân bằng giữa hàn, nhiệt, ôn, bình, nói
chung là giữa âm và dƣơng. Sử dụng đúng cách các gia vị có hƣơng vị làm dấy lên mùi thơm



                                              6
ngon, vừa có tác dụng kích thích dịch vị, vừa có tác dụng trung hòa hàn nhiệt, cân bằng âm
dƣơng, làm cho ngƣời ăn không phải chịu những phản ứng phụ có hại. Một số ví dụ:
Chất gia vị gừng đứng đầu các chất dùng làm thức ăn có tính "nhiệt", có thể dùng để trung
hòa hàn nhiệt, giải độc, giải cảm. Khi dùng thức ăn có tính hàn hay bình, nhất là đối với
ngƣời có "máu hàn", mà không có gừng thì dễ bị rối loại tiêu hóa, thể hiện ở đi cầu (đại tiện)
không bình thƣờng. Cụ thể là, khi dùng món ăn có tính hàn nhƣ thịt trâu, thịt bò, thịt vịt, rau
cải, cải bắp, bí đao,... hay có tính bình nhƣ rau khoai lang,... thì cần phải có gia vị gừng với
vai trò trung hòa âm dƣơng, cũng để ăn ngon miệng hơn.
Để giải cảm, nếu là sốt cảm hàn thì dùng cháo gừng; còn nhƣ khi bị sốt cảm nóng thì dùng
cháo hành.
Ớt cũng thuộc loại có tính nhiệt, tính bình, có tác dụng giải độc. Ớt đƣợc dùng với nhiều món
ăn mang tính hàn và bình nhƣ cá, cua, mắm, nem chua.
Tỏi có tính âm, hơi nhiệt, nên ăn với thịt trâu, thịt vịt, mang tính bình, hơi hàn.
Lá chanh, hay chanh mang tính ôn, hơi hàn một chút, có thể trung hòa tính âm của thịt gà./.
Ẩm Thực Dƣỡng Si
Nhập Thất thƣờng xuyên, tập luyện hằng ngày chƣa đủ mà còn phải thay đổi cách ăn uống
nữa. Cả ba tiến trình này ngƣời bịnh tiểu đƣờng không đƣợc bỏ qua bất cứ một tiến trình nào.
Thiếu một trong ba thì độ đƣờng sẽ lên, bịnh tái phát. Nhƣng ăn uống thế nào gọi là quân
bình Am Dƣơng?
1-An uống để dƣơng hóa cơ thể
Tiểu đƣờng là bịnh thịnh Am vì hầu hết ngƣời tiểu đƣờng đều có thể trạng mập phì (trừ
trƣờng hợp đặc biệt). Cơ thể mập là Am thịnh. Vì vậy, phải ăn uống những thức ăn thịnh
Dƣơng để cơ thể quân bình dần dần. Điều đặc biệt lƣu ý là tuy thuộc Am, nhƣng bịnh tiểu
đƣờng lại không thích hợp với một số thực phẩm Dƣơng tính. Ví dụ, tuy gạo lứt Dƣơng,
nhƣng khi ăn gạo lứt phải cẩn thận vì chất cám bên ngoài Dƣơng, còn chất gạo bên trong lại
chứa nhiều tinh bột sẽ biến thành đƣờng khi vào cơ thể. Ví dụ củ cà rốt cũng Dƣơng lại
không thích hợp với một số trƣờng hợp tiểu đƣờng. Chúng ta không thể áp dụng thức ăn theo
nguyên tắc Am Dƣơng một cách phổ quát cho bịnh tiểu đƣờng đƣợc. Chúng ta phải biết cách
sử dụng các loại thức ăn Dƣơng phù hợp với bịnh tiểu đƣờng (bảng liệt kê các thức ăn dành
cho bịnh tiểu đƣờng sẽ đƣợc nói đến sau).
2-Không nên ăn chung với ngƣời không mắc bịnh
Ngƣời bịnh tiểu đƣờng nên ăn các thức ăn dành riêng cho mình. Nếu có thể thì nên ăn riêng.
An cơm chung với gia đình, chúng ta rất khó kiêng cử, giữ gìn vì thực đơn dành cho ngƣời
không mắc tiểu đƣờng hoàn toàn khác chúng ta. Nên mua các loại thức ăn cần thiết cho căn
bịnh của mình. Chế biến, nấu nƣớng cho phù hợp. Không thể tiếp tục ăn thức ăn mình thích,
uống thức uống mình quen dùng mà phải thay đổi hoàn toàn thức ăn, thức uống, thay đổi cả
cách thức nấu nƣớng. Có nhƣ vậy bịnh mới không tái phát. An uống ở tiệm hay nhờ ngƣời
khác nấu giúp, rất khó tuân thủ nghiêm ngặt các loại thức ăn, thức uống làm cho độ đƣờng
tăng cao.
Ăn riêng, ăn theo sự hƣớng dẫn, mua sắm các loại thực phẩm dành cho mình là một trong
những điều kiện quan trọng để tự chữa trị bịnh tiểu đƣờng.
3.An vừa đủ no, uống vừa đả khát




                                                7
Ngƣời bịnh tiểu đƣờng phải chế ngự tính thèm ăn, thèm uống và tính ăn không dừng lại đƣợc.
Việc chế ngự này không bao giờ làm đƣợc nếu không trải qua một Kỳ Nhập Thất. Trái lại,
nếu cho cơ thể làm quen đƣợc một thời gian ngắn Ngƣng An, Ngƣng Uống thì việc ăn uống
sẽ hoàn toàn thay đổi. Nhờ đó chúng ta ăn thế nào cũng ngon miệng và có thể dừng lại bất cứ
lúc nào. Mỗi bữa ăn, ta chỉ nên ăn vừa đủ no, uống vừa đả khát. Ta không nên ăn nhiều nhƣ
trƣớc. An uống ít, nhƣng đầy đủ các chất cần thiết cho cơ thể làm việc, hoạt động, chớ không
phải ăn thiếu thốn để phải rơi vào tình trạng đói ăn. Nhiều ngƣời kiêng cử quá độ làm cho cơ
thể suy yếu là một sai lầm cần phải tránh.
4. An uống điều độ và có giờ giấc
Mỗi ngày ăn mấy lần vào lúc nào là điều cần đƣợc quan tâm. Chúng ta nên tập tính điều độ
trong ăn uống giúp cho bộ tiêu hóa làm việc tốt hơn. Không nên ăn quá nhiều lần và ăn bất cứ
giờ giấc nào. Nếu 3 bữa thì giờ nào? Trƣờng hợp bận rộn, thay vì ăn trái thời, ta có thể bỏ
một hay hai bữa ăn tốt hơn là ăn vội vàng, nhai không kỹ hoặc ăn xong phải làm việc trí não
hoặc chân tay ngay.
Đã trải qua một vài lần Nhập Thất thì việc bỏ một hoặc hai bữa ăn là việc dễ dàng. Khoa học
đã chứng minh rằng mỗi khi cơ thể tiêu hóa thức ăn thì phải điều động 50 % lƣợng máu
xuống bộ tiêu hóa, làm suy yếu sức đề kháng của cơ thể. Vì vây, ăn uống bất cứ giờ giấc nào
là điều cần nên tránh.
Tóm lại, chúng ta nên ăn uống quân bình âm dƣơng, ăn thức ăn của ngƣời bịnh, điều độ, vừa
đủ no và có giờ giấc. Làm thật đúng các điều vừa nói, nhất định ta chế ngự hoàn toàn và
nhanh chóng căn bịnh oái oăm làm đau khổ và giết chết nhiều ngƣời.
Muốn tìm hiểu rõ về các bƣớc trị liệu bịnh tiểu đƣờng, quý vị có thể order trực tiếp các tài
liệu qua website của Hội: www.tienthienkhicong.org hay liên lạc trực tiếp với Nguyễn Định:
(714)

                                           ĂN UỐNG HỢP LÝ


                                   Đông y dựa vào nền tảng "âm-dương" mà cốt lõi là hai chữ "quân
                                   bình" hay "cân đối" để giải thích vấn nạn trên. Qui luật của đất trời là
                                   sự quân bình. Ai giữ quân bình thì sống, ai không giữ quân bình thì
                                   chết. Việc ăn uống cũng vậy.

                                   Đông y quan niệm ngƣời khỏe là ngƣời quân bình về âm dƣơng, khí huyết.
                                   Đau ốm là tình trạng mất sự cân bằng và mất cân bằng sinh ra bệnh tật.
                                   Nguyên tắc điều trị bệnh là thiết lập lại sự cân bằng. Nguyên tắc phòng
                                   ngừa bệnh tật là giữ sao cho luôn đƣợc quân bình. Nhƣ vậy, ngƣời khỏe
 Ăn uống hợp lý tạo sự             mạnh ăn uống sao cho luôn giữ đƣợc hài hòa, còn ngƣời đau ốm ăn uống
 cân bằng giúp cơ thể              sao cho tái lập lại đƣợc sự quân bình trên. Đó là lý do khi trong ngƣời nóng
 khỏe mạnh                         nhiệt, ngƣời ta thƣờng tìm thứ gì mát để mà ăn.

 Nguồn:                            Điều thú vị là Đông Y lại cho rằng thức ăn, thuốc men, hay bất cứ thứ gì có
 icde2005.is.tsukuba.ac.jp         thể cho vào cơ thể ngƣời đều không quân bình. Vì vậy mới có thứ này mát,
                                   thứ kia nóng. Vì mỗi ngƣời là một thế giới riêng, không ai giống ai, nên
nếu có mất quân bình tức là khi có bệnh thì thƣờng cũng không giống nhau. Do đó, một món ăn có thể là "nóng"
đối với ngƣời này nhƣng lại là "mát" đối với ngƣời khác. Dƣa hấu là nóng với ngƣời này nhƣng với ngƣời khác
thì lại rất là mát. Bánh mì là nóng đối với một số ngƣời nhƣng lại là mát đối với ngƣời khác, còn với nhiều




                                                     8
ngƣời khác nữa thì lại là quân bình, ăn hoài chẳng sao cả. Chẳng lẽ cả thế giới những ngƣời ăn bánh mì đều
"nhiệt" cả sao?

Nhƣ vậy, theo Đông y, cần phải ăn uống cho cân đối, cho quân bình mới khỏe đƣợc. Quân bình trong việc ăn
uống nghĩa là:

- Chọn món ăn căn cứ vào tình hình sức khỏe của chính mình chứ không phải của
                                                                                       Có thể bạn chưa
ngƣời khác. Tránh ăn uống thiên lệch về một hƣớng bất lợi cho sức khỏe. Nhiều          biết
ngƣời thích ăn mãi một món nào đó vì cho là không thấy có gì xảy ra. Cần thận
trọng, đến một lúc nào đó, cơ thể đang cân bằng sẽ không thể tự điều chỉnh giữ cân Sách giáo khoa Đông y cổ
                                                                                    xưa khuyến cáo: "Ăn quá
bằng đƣợc nữa đối với việc ăn thái quá, dẫn đến tình trạng mất quân bình và lâm cay hại phế, ăn quá ngọt
bệnh. Thói quen ăn quá cay, quá mặn, quá ngọt, quá béo... là điều tối kỵ trong Đông hại tỳ, ăn quá chua hại
y. Sách giáo khoa Đông y cổ xƣa khuyến cáo: "Ăn quá cay hại phế, ăn quá ngọt hại can, ăn quá đắng hại tâm,
                                                                                    ăn quá mặn hại thận".
tỳ, ăn quá chua hại can, ăn quá đắng hại tâm, ăn quá mặn hại thận". Món ăn ấm và
mát ít gây tác hại hơn là món quá lạnh hay nóng.

- Chọn món ăn cần căn cứ vào thời gian: giờ giấc trong ngày, ngày trong mùa, trong năm. Buổi sáng, buổi trƣa
nên ăn thứ ấm nóng tức nhiều dƣơng, để có sức mà làm việc; buổi chiều, buổi tối nên ăn thứ mát lạnh tức ít
dƣơng, để giúp cơ thể nghỉ ngơi. Mùa hạ nóng ăn thứ mát, mùa đông lạnh ăn thứ nóng. Mùa khô ăn thứ mát,
nhiều nƣớc nhƣ rau trái, mùa mƣa bão lũ tránh bớt rau trái mà tăng cƣờng thịt cá. Mỗi ngƣời tự ghi nhận lấy
kinh nghiệm và điều chỉnh cho phù hợp với chính mình.

- Chọn món ăn cần căn cứ vào tình hình công việc làm của mình. Công việc làm chân tay nặng nhọc sẽ tổn
nhiều dƣơng nên chú ý ăn nhiều: thịt, cá. Công việc làm trí óc hoặc nhàn hạ chân tay tổn nhiều âm nên ăn uống
nhiều thứ âm nhƣ rau trái. Làm việc trong môi trƣờng nóng – dƣơng, nên dùng nhiều nƣớc, rau trái - âm. Làm
việc trong môi trƣờng lạnh – âm, nên chú ý thịt cá - dƣơng.

Tóm lại, ăn uống cho phù hợp với tình hình quân bình âm dƣơng của mình là bí quyết của dinh dƣỡng theo
Đông y. Và... chẳng nên cãi nhau làm gì về món ăn này hay thức uống nọ nóng hay mát.

ThS.BS. Lê Hoàng

                                            Kính chào quý anh chị,

 Xin hỏi quý anh chị, có phƣơng pháp nào hiệu quả về ăn uông để giảm cân khoảng 15-20 kg ?
                      Ăn và uống những gì trong ngày, trong tuần, tháng ?
                              Khoảng bao lâu sẽ thấy kết quả ??

                                          Xin cám ơn nhiều nhiều !

                               -----------------------------------------------------

           Để xem chúng ta có phát phì hay không , chúng ta có thể dùng công thức sau :

                                               CÔNG THỨC 1:

                  Chiều cao ( tính bằng cm) – 100 x ( 0.9 Kg ) = trọng lƣợng lý tƣởng

 Đối chiếu với cách tính này để qui định trọng lƣợng bình quân của mỗi ngƣời nam, còn đối với
                                 phụ nữ thì trừ bớt thêm 5 Kg .

                                               CÔNG THỨC 2:

                   Chỉ số IMC = trọng lƣợng kg / ( chiều cao x chiều cao bằng mét )



                                                       9
                                      Diễn dịch Kết quả 1:

                                           Nếu IMC :

                          < 20 : có thể có vấn đề sức khỏe ở 1 số ngƣời
              20 - 25 : trọng lƣợng thích hợp, vừa cho phần lớn mọi ngƣời !!!!!!!
                        25 - 27 : có thể có vấn đề sức khỏe ở 1 số ngƣời
                             > 27 : khả năng sinh bệnh khá / rất cao


                                      Diễn dịch Kết quả 2:

                                          IMC kg/m2 :

                < 18,5 : thiếu trọng lƣơng; khả năng có vấn đề sức khỏe khá cao

  18,5 - 24,9 : trọng lƣợng thích hợp, vừa cho phần lớn mọi ngƣời; khả năng sinh bệnh thấp
                                              !!!!!!!
          25,0 - 29,9 : trọng lƣợng quá tải ; khả năng sinh bệnh đƣợc ghi nhận !!!!!!!

30,0 - 34,9 : trọng lƣợng vừa phải (Obésité; Classe I (modérée)) ; khả năng sinh bệnh vừa phải
                                              !!!!!!!
 35,0 - 39,9 : nghiêm trọng (Obésité; Classe II (sévère) ) ; khả năng sinh bệnh nghiêm trọng
                                              !!!!!!!
        > 40 : rất cao (Obésité; Classe III (massive )) ; khả năng sinh bệnh rất cao !!!!!!!


   Cách tính trọng lƣợng chấp nhận đƣợc, khả dĩ tốt cho sức khỏe, theo chiều cao của bạn:

          18,5 = p / (h x h) ; p = 18,5 x (h x h) = trọng lƣợng cần có của bạn (min) kg
           20 = p / (h x h) ; p = 20 x (h x h) = trọng lƣợng cần có của bạn (moy) kg
           25 = p / (h x h) ; p = 25 x (h x h) = trọng lƣợng cần có của bạn (max) kg

                              p: trọng lƣợng cần có của bạn (kg)
           18,5; 20; 25 : IMC (min, moy, max) : sức khỏe tƣơng đối tốt, ít sinh bệnh
                              h : chiều cao của bạn tính bằng mét

                                           xem tiep :
                    http://thucduong.vn/forums/index.php?showtopic=1270




Công thức ăn nào của Thực dƣỡng mà áp dụng cho ngƣời bình thƣờng cũng làm giảm cân hết,
kể cả ngƣời gầy còm. Những ngƣời càng mập mạp, da căng bóng nhƣ mọng nƣớc, cơ bắp
mềm nhũn thì càng sụt nhiều cân sau 7 ngày áp dụng đầu tiên và có thể còn tiếp diễn dài dài từ
1 đến 4 tháng mới thấy lên cân trở lại. Mẹ tôi sụt 8 cân sau 1 tuần, tôi sụt 4 cân, còn em trai tôi



                                              10
sụt 6 cân, sau đó thấy bình bình không tăng không giảm vài tháng rồi bắt đầu lên cân lại, tôi và
em tôi vốn thuộc diện gầy, còn mẹ tôi đƣợc coi là có trọng lƣợng trung bình. Có những trƣờng
hợp áp dụng sụt tới vài chục kí nếu ngƣời áp dụng thuộc trƣờng hợp nhƣ tôi miêu tả ở trên.
Nhƣng đặc điểm chung của tất cả các trƣờng hợp là trong khi sụt cân, thấy sức khỏe tốt hơn
trƣớc, trừ phi ngƣời đó áp dụng số 6 hay số 7 thì không tính, vì có thể xuất hiện những phản
ứng mạnh nhƣ đau đầu, rối loạn kinh nguyệt, đau nhức, thấy tái lại 1 số bệnh cũ rất kịch liệt
sau đó khỏi tuyệt căn...

Những ngƣời ăn Thực dƣỡng lâu năm trông đều có vẻ gầy so với chuẩn chung của xã hội,
nhƣng cơ thể săn chắc hơn nên đôi khi vẫn có cân nặng gần đạt cái tiêu chuẩn mà bạn đã đƣa
ra ở trên.
                       +                                   Q   u       o   t   e   P   o   s   t




               b   a       Ì   €   i




                                              May 9 2008, 12:27 PM
Bài viết #3
                                                                   *




QUOTE(BAS @ May 9 2008, 10:29 AM)
Công thức ăn nào của Thực dƣỡng mà áp dụng cho ngƣời bình thƣờng cũng làm giảm cân hết,
kể cả ngƣời gầy còm. Những ngƣời càng mập mạp, da căng bóng nhƣ mọng nƣớc, cơ bắp
mềm nhũn thì càng sụt nhiều cân sau 7 ngày áp dụng đầu tiên và có thể còn tiếp diễn dài dài
từ 1 đến 4 tháng mới thấy lên cân trở lại. Mẹ tôi sụt 8 cân sau 1 tuần, tôi sụt 4 cân, còn em trai
tôi sụt 6 cân, sau đó thấy bình bình không tăng không giảm vài tháng rồi bắt đầu lên cân lại,
tôi và em tôi vốn thuộc diện gầy, còn mẹ tôi đƣợc coi là có trọng lƣợng trung bình. Có những
trƣờng hợp áp dụng sụt tới vài chục kí nếu ngƣời áp dụng thuộc trƣờng hợp nhƣ tôi miêu tả ở
trên. Nhƣng đặc điểm chung của tất cả các trƣờng hợp là trong khi sụt cân, thấy sức khỏe tốt
hơn trƣớc, trừ phi ngƣời đó áp dụng số 6 hay số 7 thì không tính, vì có thể xuất hiện những
phản ứng mạnh nhƣ đau đầu, rối loạn kinh nguyệt, đau nhức, thấy tái lại 1 số bệnh cũ rất kịch
liệt sau đó khỏi tuyệt căn...

Những ngƣời ăn Thực dƣỡng lâu năm trông đều có vẻ gầy so với chuẩn chung của xã hội,
nhƣng cơ thể săn chắc hơn nên đôi khi vẫn có cân nặng gần đạt cái tiêu chuẩn mà bạn đã đƣa
ra ở trên.


Cám ơn bác BAS đã trả lời,



                                              11
 Chi tiết của "pp mà tôi đang áp dụng" (trộn lung tung) là :
 - 10 ngày đầu : gạo lứt muối mè : xuống đƣợc khoảng 3,5 kg
 - ngày 11 trở đi : gạo lứt muối mè và ăn rau cải xào, tofu, hành tây, uống nƣớc gạo lứt.
 Có lúc lên kg lại, và bây giờ thì xuống tổng cộng là 4,5 kg, sau 1 tháng 1 tuần ăn nhƣ đã nói.


 Không biết với " cách " nhƣ đã nêu trên, tôi có thể tiếp tục giảm ký (cho đủ 15 kg) trong thời
 gian tới không ?? Và khoảng chừng bao lâu ?

 " trừ phi ngƣời đó áp dụng số 6 hay số 7 thì không tính" : nghĩa là sao ?? Khác biệt ra sao giữa
 6, 7 ??? (ví dụ ?) pp 6, 7 là dùng cho ngƣời " bịnh" ?? hay là có hiệu quả hơn ???

 Cám ơn.



                 +                                         Q   u   o   t   e   P   o   s   t




 QUOTE
 trừ phi ngƣời đó áp dụng số 6 hay số 7 thì không tính, vì có thể xuất hiện những phản ứng
 mạnh nhƣ đau đầu, rối loạn kinh nguyệt, đau nhức, thấy tái lại 1 số bệnh cũ rất kịch liệt sau đó
 khỏi tuyệt căn...

 Bạn nên đọc kỹ câu trả lời của ngƣời khác hơn.

 Cái mà bạn đã ăn chỉ mới là sử dụng thực phẩm sạch, chƣa phải các công thức chuẩn của Thực
 dƣỡng. Nếu 10 ngày đầu chỉ dùng gạo lứt, muối mè mà giảm ít cân thế là do dùng quá nhiều
 mè, ngoài ra còn có thể do nấu cơm không tra muối hoặc nấu quá dƣ nƣớc, chƣa kể lƣợng
 nƣớc uống hàng ngày có thể quá nhiều.

 Đậu phụ là loại thực phẩm rất âm và khó tiêu, ăn vào gây mất sức và làm tăng cân, chúng tôi
 thƣờng chỉ dùng tƣơng lâu năm là loại chế phẩm đậu nành dƣơng nhất. Nếu chia tổng khối
 lƣợng thức ăn 1 ngày ra làm 10 phần, nếu đã ăn 2 phần là rau nấu chín thì chắc chắn phải thêm
 chút ít thịt để bữa ăn trở nên quân bình. Nếu ăn chay thì ngày không thể dùng quá 1 phần rau.
 Tóm lại, chế độ ăn càng dƣơng, nhiều cốc loại, ít rau, ít hoặc không có trái cây và rau sống thì
 càng có tác dụng trong việc làm giảm cân và cải thiện sức khỏe, chế độ ăn càng âm, ít cốc loại,
 nhiều rau, thịt, trái cây và rau sống thì càng dễ gây tăng cân và đau ốm. Những ngƣời ăn quá
 nhiều rau, trái cây và rau sống hay bị các bệnh mãn tính, còn những ngƣời ăn quá ít cốc loại,
 ăn nhiều và lẫn lộn cả rau, trái cây, rau sống và thịt cá thì dễ mắc các bệnh cấp tính.

04/06/2008-11:17 AM) Văn hóa ẩm thực và vai trò của rau gia vị KTNT- ẩm thực là nét văn




                                              12
hoá độc đáo của dân tộc ta, nó thể hiện tính cộng đồng và hài hoà với thiên nhiên vũ trụ. Với
ngƣời Việt, có khi chỉ là củ gừng, vài lá hành cũng mang giá trị lớn, tạo nên sức hấp dẫn và
những tác dụng kỳ diệu của món ăn.
GS. Trần Văn Khê vừa có bài thuyết trình dài mà tinh tế và rất hấp dẫn về ẩm thực Việt. GS.
Khê cho rằng, ẩm thực Việt mang tính tập thể, dân chủ.. Cơm và thức ăn đựng chung, ai thích
món nào, bao nhiêu tùy ý, không chia thành từng phần nhỏ lẻ từng đĩa của ai ngƣời nấy
dùng... Thức ăn Việt đa dạng, đa mùi vị. Chủ tịch Hội Làm vƣờn Việt Nam Nguyễn Ngọc
Trìu nhiều lần say sƣa nói về cách ăn của ta. Tính văn hóa thể hiện ở chỗ cách lấy thức ăn
nhƣ thế nào, ngƣời trẻ khỏe thì gắp miếng xƣơng xẩu, miếng ngon, mềm dành kính ngƣời già
và trẻ nhỏ.
Truyền thống văn hóa ẩm thực là một giá trị lớn trong kho tàng văn hóa của dân tộc ta.
Những món ăn không chỉ thể hiện sự hiểu biết tƣờng tận từng loại thực phẩm mà còn là sự
kết hợp hài hòa, hợp lý trong một bữa ăn và ngay trong một món ăn nhƣ nem rán, lẩu mắm;
ốc hầm chuối xanh, thịt vịt nấu chao, nem chua + ớt, thịt trâu + riềng mẻ, thịt chó + mơ
lông...
Trong phong cách ăn uống của ngƣời Việt, cơ sở để đánh giá các món ăn là tính nhiệt (nóng),
hàn (lạnh), bình (mát), ấm (giữa nhiệt và bình). Cơ sở này cũng đƣợc dùng trong y học cổ
truyền. Thức ăn có vị chua, đắng thuộc bình hoặc ấm; mặn thuộc ấm. Những thực phẩm có
tính nhiệt và ôn, vị cay, ngọt đều thuộc dƣơng. Thực phẩm có tính hàn và bình, có vị chua,
đắng và mặn đều thuộc âm. Kinh nghiệm: Mùa hè ăn cá đồng (mát); Mùa đông ăn cá biển
(mặn-dương) cũng đƣợc lý giải trên cơ sở âm, dƣơng (GS.Trần Văn Khê).
Các vị thức ăn đƣợc phân loại quy về âm dƣơng và ngũ hành. Chiếu vào ngũ hành thì chua
thuộc mộc, đắng thuộc hỏa, ngọt thuộc thổ, cay thuộc kim, mặn thuộc thủy.
Các nhà y học cổ truyền với thuyết âm -dƣơng cho rằng, khi ăn vào, thức ăn sẽ tạo ra những
biến đổi trong cơ thể, nhƣ làm cho cơ thể nóng lên, tạo cảm giác hƣng phấn, hay làm cho cơ
thể mát mẻ, dễ chịu. Ngƣợc lại, thức ăn có thể làm cho ngƣời ta cảm thấy bứt rứt, khó chịu.
Thức ăn dƣơng tính có tác dụng ôn dƣơng nhƣ hành, gừng, hồ tiêu, rƣợu, thịt dê... Thức ăn
âm tính có tác dụng thanh nhiệt, bổ âm nhƣ bạc hà, dƣa hấu, ba ba... Khi xác định đƣợc tính
vị của từng loại thức ăn, có thể dùng chúng để hỗ trợ điều trị một số bệnh.
Nguyên lý tƣơng sinh, tƣơng khắc giữa các yếu tố đƣợc y học cổ truyền vận dụng trong cách
ăn uống chữa bệnh. Tính vị thức ăn đƣợc phân loại theo âm - dƣơng: Chua là cực âm. Cay là
cực dƣơng. Chua cho ta cảm giác thanh, nhẹ, mát. Cay tạo cảm giác nóng, tăng sự tuần hoàn
của máu. Khi kết hợp hài hòa trong một món ăn cả chua lẫn cay có thể kích thích dịch vị rất
mạnh.
Sự kết hợp hài hòa chất dinh dƣỡng trong khẩu phần ăn không những phải bảo đảm về chất
lƣợng và số lƣợng mà còn cần đạt đƣợc cân bằng về âm dƣơng, ngũ hành. Tất cả đều dựa trên
cơ sở lập luận nhƣ sau:
Tự nhiên cũng nhƣ con ngƣời đều chịu ảnh hƣởng tƣơng khắc tƣơng sinh của âm dƣơng. Từ
thái cực Hỗn Mang biến hóa sinh ra lƣỡng nghi, hay âm dƣơng. Âm dƣơng kết hợp với nhau
thành ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Ngũ hành theo dòng vận động mà kết hợp với
nhau tạo thành tam tài: Trời, Đất và Ngƣời bao trùm lên tất cả.
Các nhà y học phƣơng Đông đã khái quát vấn đề ăn uống và sức khỏe nâng lên thành học
thuyết Y thực đồng nguyên. Nội dung cơ bản của học thuyết này đƣợc xem là phép ăn uống
chữa bệnh. Trong công trình nghiên cứu về thuốc sớm nhất, có niên đại hơn 2.000 năm trƣớc



                                             13
còn giữ lại đƣợc, đã khuyến cáo có những loại thức ăn đồng thời cũng là vị thuốc có giá trị
chữa bệnh rất cao, nhƣ gừng, tỏi, vừng, hạt sen, ngó sen, long nhãn, táo, nho...
Gừng đứng đầu các chất dùng làm thức ăn có tính nhiệt, có thể dùng để trung hòa hàn nhiệt,
giải độc, giải cảm. Khi dùng thức ăn có tính hàn hay bình, nhất là đối với ngƣời có máu hàn
mà không có gừng thì dễ bị rối loạn tiêu hóa. Cụ thể là, khi dùng món ăn có tính hàn nhƣ thịt
trâu, thịt bò, trai, sò ốc, hến, thịt vịt, rau cải, cải bắp, bí đao..., hay có tính bình nhƣ rau khoai
lang cần phải có gừng. Ai hay buồn nôn nên thủ củ gừng, khi đi tầu xe xảy ra sự cố thì nhấm
một lát gừng là khỏi.
Để giải cảm, nếu là sốt cảm hàn thì dùng cháo gừng; còn nhƣ khi bị sốt cảm nóng thì dùng
cháo hành. ớt cũng thuộc loại có tính nhiệt, tính bình, có tác dụng giải độc. ớt đƣợc dùng với
nhiều món ăn mang tình hàn và bình nhƣ cá, cua, mắm, nem chua... Tỏi có tính âm, hơi nhiệt,
nên ăn với thịt trâu, thịt vịt. Lá chanh hay quả chanh mang tính ôn, hơi hàn một chút, có thể
trung hòa tính âm của thịt gà.

Những loại rau gia vị này có thể mua đƣợc ở bất kỳ chợ nào hoặc tự trồng trong chậu cảnh.
Chỉ cần biết kết hợp giữa các loại thực phẩm và rau quả ta sẽ có món ăn -bài thuốc rất có giá
trị.

                                       Ăn âm dƣơng ngũ hành
Đúng thật là gia vị tinh tế mang chức năng điều chỉnh hài hoà âm dƣơng ngũ hành trong ẩm thực Việt.
Các cụ ở nhà quê nói cấm sai! Và nhƣ nhà văn Nguyễn Tuân sành ẩm thực Việt và có lẽ không chỉ ẩm
thực Việt, khi ra nƣớc ngoài, thiếu cái ăn Việt, cùng hƣơng vị Việt, với nghiệm sinh riêng, Nguyễn Tuân
đã cho đó là... thiếu quê hƣơng. Và đôi khi, thiếu quê hƣơng, cũng hàm nghĩa là thiếu những món gia vị
quê nhà, khiến món ăn lạ trở nên thiếu hài hoà, thiếu điều chỉnh, thiếu đi những li ti xanh tƣơi bé nhỏ có
thể gây những hẫng hụt tâm hồn.

... Năm 2005, tôi sang Paris thăm hai bạn gái, cả hai đều nghệ sĩ, một hát opera, một chơi dƣơng cầm, đều mê
làm vƣờn, mê hoa lá cỏ cây, mê hoa hồng leo, hoa hồng không leo, nở vàng nở đỏ, nở hồng và mấy loại hoa
khác đua nhau nở tƣng bừng khắp vƣờn... Thế rồi tôi phát hiện ở cả hai khu vƣờn của hai cô bạn nghệ sĩ, đều
thấp thoáng đan xen những luống rau húng bạc hà, cần tây, rau giấp cá, ớt chỉ thiên và vài cây chanh nhỏ, lá non
mƣớt mƣợt, cùng vài ba cây cà chua bi, quả bé nhƣ hòn bi ve, lúc lỉu chín đỏ, đƣợc trồng ngay gần cửa sổ ca sĩ
hát. Còn ngƣời chơi dƣơng cầm kia không mê ớt, nhƣng rất mê húng quế và rau dại có hình dáng, mùi hƣơng y
hệt ngải cứu, hái ở bờ rào vƣờn, đem về trộn trứng gà, rán lên thành món trứng ngải cứu, ăn vào ngƣời mát rƣợi,
hết hẳn đau đầu. Bạn tôi tin: gia vị trong thức ăn Việt là những liều thuốc hiệu nghiệm. A, cô dƣơng cầm còn
thích trồng cây sả, cho vào cá kho thơm lừng căn bếp sáng choang hiện đại, toàn đồ điện, không vƣơng một
nhõn bồ hóng... Ôi, họ đã rời xa Vũng Tàu và Hà Nội quê hƣơng hàng bao ngàn cây số, cả hai đã định cƣ hàng
vài chục năm mà vẫn còn vấn vƣơng gia vị Việt đến thế kia ƣ?

Tôi làm khách, bạn sai ra vƣờn hái rau thơm, chao ơi là dặn dò cẩn thận: mỗi thứ chỉ hái một ít thôi đấy, còn để
dành lần sau,... Lần nào làm món Việt, bạn cũng phải tính toán sử dụng gia vị vƣờn nhà, nếu làm nhiều món mà
thiếu quá, mới phải phóng xe xuống quận 13, đi chợ Việt, mua giá, bột nghệ, tôm tƣơi làm bánh xèo, mua rau
mùi Hà Nội, ngò gai, rau diếp, rau ngổ, húng Láng, rồi mua miến, mộc nhĩ, nấm hƣơng, củ su hào, cà rốt làm
nhân gói món nem, rán thơm lừng, mời anh bạn Pháp, vợ bỏ, không con cái, cứ chủ nhật lại giải phiền bằng
cách làm khách của vợ chồng cô ca sĩ, và “moa” chỉ ăn hai món: bánh xèo và nem rán nhá, không ăn đồ Tây
đâu, cơm Việt thôi, ngon tuyệt trần đời.

Tôi ngồi ăn, bí mật quan sát anh ta, không sao nhớ tên, cứ gọi đại là Ôliu (thứ quả muối ăn rất ngon), và anh ta
đành kệ tôi, cứ hồn nhiên ăn bốc, rau thơm vƣờn cuốn chung với bánh xèo, rồi ghém với nem và chấm thật đẫm,




                                                      14
rồi húp nƣớc chấm bạn tôi pha khéo một cách ngon lành... Vừa ăn, anh ta vừa khen cô bạn ca sĩ là “phù thuỷ bếp
Việt”. Sao tôi cũng đi mua cá, mua thịt, mua gà mà không làm đƣợc các món Việt ngon thế này nhỉ? Tôi đùa,
chỉ vào đám gia vị lỉnh kỉnh của bạn tôi bày trong bếp: Vì Ôliu chƣa biết nêm nếm các loại gia vị Việt, nên chƣa
biết cách làm món ăn Việt thôi. Học thì sẽ biết. Vợ chồng bạn tôi liền khuyên Ôliu lấy vợ Việt, để đƣợc ăn món
ngon Việt hàng ngày, anh ta tròn mắt: Lấy vợ Việt nấu ăn giỏi đâu có dễ nhƣ tôi nấu món ăn Pháp? Thế thì
chúng tôi chịu rồi, Ôliu!...

Triết lý gia vị trong ẩm thực Việt cũng tuân thủ rất khéo triết lý âm dƣơng ngũ hành trong quan niệm chung về
con ngƣời và vũ trụ theo cách nghĩ thuần phác của nông dân Việt. Gia vị, do đó, không chỉ là yếu tố phụ, đƣợc
thêm vào, mà gia vị đã đƣợc nâng cấp mỹ học, để tạo thành sự hoà điệu của một thứ tổng phổ, có vẻ đẹp toàn
diện. Thứ tổng phổ này hiển thị trong sự pha chế tổng hợp các nguyên liệu: rau với rau, hoặc rau với gia vị, với
cá, tôm, thịt, đậu, trứng... Các món canh Việt chính là hàng trăm khả năng kết hợp hài hoà, nhƣ món canh chua
cá lóc với hàng chục loại rau quả gia vị, món canh cua rau rút (nhút) khoai sọ cũng vậy. Ngƣời Việt không có ý
niệm canh suông hoặc ghét phải nấu canh suông đến nỗi ví von: Nấu canh suông ở truồng mà nấu! Cho nên,
nguyên tắc bổ sung lẫn nhau giữa các loại nguyên liệu là nguyên tắc chế biến hàng đầu, sao cho món ăn ngon,
trƣớc tiên phải đủ ngũ chất: bột-nƣớc-khoáng-đạm-béo. Sau đó, món ngon còn phải đủ ngũ vị: ngọt, mặn, chua,
cay, đắng... Khi bày biện, xào xáo, còn phải kết hợp đủ ngũ sắc: đỏ, đen, xanh, trắng, vàng... Tất cả công cuộc
bếp núc mang đầy sự tích hợp này là để dẫn tới cách ăn mang tính tổng hợp của ngƣời Việt. Ngồi quây quần
quanh một mâm cơm, có càng nhiều món càng tạo ra nhiều cách phối hợp của từng ngƣời ăn, trong một miếng
ăn cũng có đủ mấy loại thức ăn. Và khi ăn kiểu này, 5 giác quan chính của ngƣời Việt đều đƣợc thoả mãn: mũi
ngửi mùi thơm nức của món ăn, mắt nhìn màu sắc món ăn bày biện hài hoà, tai nghe tiếng nhai, cắn giòn tan
ngon lành, lƣỡi nếm náp vị ngon ngọt của thức ăn ngon và tay cầm, nắm xôi, cháy, thịt gà... không cần đũa, thật
ngon miệng và thoải mái.

 ... Hài hoà tất cả những yếu tố trên trong ăn uống, chính là ngƣời Việt đạt đến nghệ thuật thƣởng thức cái ngon
 của bữa ăn Việt, trong sự tổng hợp của mọi cái ngon: thức ăn ngon, tiết trời thuận, chỗ ăn đẹp, bát đũa sạch sẽ,
 bạn bè thân thiết ngồi quanh mâm, trò chuyện tƣơng đắc, vui vẻ, hạnh phúc, sung sƣớng. Đúng là dân gian đã
  nghiệm sinh, không sai một li: Rƣợu ngon phải có bạn hiền/ Không mua, không phải không tiền không mua!
                   Ăn uống cũng phải học bởi rất nhiều bệnh tật "từ miệng mà ra".



               Ăn uống mà cũng phải học bởi rất nhiều bệnh tật "từ miệng mà ra".

 Ăn nhƣ thế nào?
 Trƣớc hết là ăn đủ 3 chất tạo hình: đạm, đƣờng, béo và cân đối giữa các chất (ăn đúng). Nên
 ăn nhiều đạm động vật vì có nhiều axit amin mà cơ thể không tổng hợp đƣợc.
 Tốt nhất ăn nhiều cá, ít nhất 3 bữa/tuần vì cá dễ tiêu hóa và cung cấp các tố chất cần thiết cho
 cơ thể để chống ôxy hóa nhƣ omêga 3, omega 6, có nhiều trong cá thu, cá ngừ, cá điêu hồng,
 basa…
 Ăn dầu tốt hơn ăn mỡ động vật vì có nhiều axit béo không bão hòa, dễ tiêu hóa và hấp thụ hơn.
 Cần ăn nhiều rau xanh, trái cây là nguồn cung cấp vitamin và các yếu tố vi lƣợng và đa lƣợng
 (muối khoáng) rất cần cho các phản ứng sinh hóa học trong cơ thể; thiếu nó dẫn đến bệnh tật
 hoặc các khiếm khuyết cho cơ thể, nhất là đối với các bà mẹ mang thai và cho con bú, trẻ em,
 ngƣời cao tuổi, ngƣời bệnh…
 Ngày nay còn có các loại thực phẩm chức năng, trong đó có nhiều loại đƣợc sản xuất từ cây
 cỏ. Đây đƣợc xem là một xu thế mới nhƣng sản phẩm nào, xuất xứ từ đâu, hãng sản xuất,



                                                       15
 thành phần nhƣ thế nào, đã đƣợc phép lƣu hành ở nƣớc ta chƣa mới là quan trọng – để ngƣời
 tiêu dùng lựa chọn đúng và an toàn.
 Song không nên coi thƣờng thực phẩm tƣơi ngon, sạch sẽ, an toàn và tổ chức tốt bữa ăn gia
 đình với các thức ăn bổ dƣỡng truyền thống; các phƣơng pháp tự nhiên nhƣ phơi nắng cho trẻ
 nhũ nhi và trẻ nhỏ để có đủ vitamin D giúp hấp thụ tốt canxi, phòng tránh bệnh còi xƣơng.
 Đừng quên sữa…
 Sữa là một thực phẩm rất tốt cho mọi lứa tuổi. Sữa rất phong phú về chủng loại, có loại cho trẻ
 sơ sinh thiếu tháng, nhẹ cân; loại cho trẻ táo bón, tiêu chảy; loại dành cho trẻ không dung nạp
 đƣờng lactose; loại dùng cho bà mẹ mang thai và cho con bú; loại giàu canxi dành cho ngƣời
 lớn tuổi; loại dành cho ngƣời bệnh nuôi bằng ống thông qua mũi và có cả loại dành riêng cho
 ngƣời bị bệnh đái tháo đƣờng… nên cần tìm hiểu kỹ thông tin trƣớc khi chọn sữa.
 Tuy nhiên, vẫn xin nhấn mạnh rằng: Với trẻ em, không có sản phẩm sữa nào tốt bằng sữa mẹ
 dễ tiêu hóa, hấp thụ và hợp vệ sinh. Nó có kháng thể từ mẹ truyền cho kể cả Interferon chống
 đƣợc virus mà không loại vac-xin nào có đƣợc.
 Học cách ăn cách uống
 Trong ăn uống: đừng quên lời dạy của tiền nhân: Mặn quá hại tim, ngọt quá hại thận, đắng quá
 hại gan, cay quá hại mắt…
 Ngon mắt, ngon mũi, ngon miệng, đó vừa là sự khéo của các bà nội trợ, vừa là văn hóa ẩm
 thực, nhất là những món ăn truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam cần đƣợc phát
 huy và phổ biến rộng rãi.
 Ăn uống cũng cần biết quân bình âm dƣơng, hàn nhiệt. Ngƣời có tính hàn (sợ lạnh) nên ăn các
 loại thực phẩm cay ấm, ngƣời có tính nhiệt (sợ nóng, thích mát lạnh) nên ăn thực phẩm có tính
 mát lạnh.
 Cần tìm hiểu những thức ăn hợp nhau khi chế biến chung để có lợi cho tiêu hóa hấp thu và sức
 khỏe.
 Sau cùng là uống đủ nƣớc. Bao nhiều nƣớc là đủ? Sẽ không có câu trả lời chính xác nhƣng nên
 uống đều đặn, không nên chờ khát mới uống. Khi khát, uống từ từ từng ngụm, tránh uống một
 hơi làm toát mồ hôi lại càng thêm khát, làm nặng gánh cho tim gây mệt mỏi. Không nên uống
 nƣớc đá vì đó chỉ là thói quen, ngoài ra không có một ích lợi nào cả. Không nên uống rƣợu,
 bia, chỉ nên uống chừng mực, tránh quá chén dẫn say xỉn, vừa tổn hại sức khỏe, vừa có thể gây
 tai nạn, thậm chí thoái hóa giống nòi.
 Không nên nhậu rƣợu với các món ăn nội tạng động vật, đó là một nguyên nhân gây nên bệnh
 gout mà nhiều y văn đã nhắc tới. Không nên uống nhiều các thức uống có ga, nƣớc ngọt đóng
 chai, nhất là trẻ em vì dễ bị béo phì.
 Cà phê, trà nói chung là thức uống tốt, nhất là chè xanh nhƣng không nên uống quá nhiều, quá
 đặc, không nên uống ngay sau khi ăn và không nên uống sau 4 giờ chiều dễ làm mất ngủ ban
 đêm.


                                       Sổ Tay
                                    Dƣỡng Sinh Ohsawa
Tỉ lệ quân bình trong một ngày:




                                             16
Khoảng từ 79-90% đồ ngũ cốc nguyên cám, từ 30-10% rau quả khô hoặc xanh.
- Ngũ cốc gồm: Lúa mì, gạo lức, kê, bắp, bo bo, lúa mạch, đại mạch, hắc mạch, kiều mạch
v.v…
- Các loại rau quả và gia vị nên dùng:
+Cà rốt, củ cải, bí ngô, hành tỏi, kiệu tây, bắp su trắng, rau dền, rau xà lách son, rau má, rau
bồ ngót, cải bẹ xanh v.v… (rau củ mọc thiên nhiên và rau củ sạch không sử dụng phân hóa
học và thuốc trừ sâu)
+Nƣớc uống: Nƣớc thiên nhiên trà bancha, trà gạo lức, trà củ sen, trà bồ công anh.
+Chất béo: Dầu mè, dầu phộng (mức tối đa là 2 muỗng canh dầu một ngƣời một ngày)
+Trái cây: Trái gất, dâu tây, hạt dẻ, trái cây thiên nhiên và đúng mùa.
+Đƣờng: Nếu sức khỏe ổn định thì có thể sử dụng đôi chút đƣờng đen, đƣờng thốt nốt, đƣờng
phèn, mạch nha.
Những thức uống, món ăn nên tránh dùng đến là:
+ Tất cả các loại cà, măng, giá, nấm khoai tây, đậu leo, rau bá hợp, dƣa gang, bắp su đỏ, củ
cải đƣờng.
+ Bơ, sửa, đồ ăn chế bằng phó mát.
+ Trái cây: Các đồ tƣơi sống và đƣờng (trong lúc đang trị bệnh)
+ Gia vị: Tiêu ớt, cà ri.
+ Nƣớc uống: Luôn luôn uống nƣớc ấm (khoảng 37 độ C) và khoảng 3 xị (0,75 lít) trở lại.
Sau đây một số điều cần lƣu lý:
Về tâm trạng: Không vui, không khỏe thì không nên ăn và cũng không đƣợc nấu ăn.
Về đại tiện: Phân luôn màu vàng, chặt không rã nát và đúng giờ vào buổi sáng. Nếu là phân
khác là âm hơn, hoặc dƣơng hơn thì cần phải điều chỉnh lại.
Về tiểu tiện: Phụ nữ không đi tiểu quá 3 lần trong ngày. Nam không đi quá 4 lần trong ngày.
Lƣu ý đƣờng ruột đang tốt là một ngày chỉ đi đại tiện một lần vào buổi sáng và chỉ nên súc
miệng một lần vào buổi tối (Bột chà răng).
Nƣớc uống: Một ngƣời quá âm, hay bệnh về gan thì nên sử dụng trà gạo lức rang và trà bồ
công anh.
Trà củ sen tốt cho ngƣời bệnh phổi, trà bancha tốt cho bệnh tim mạch, đƣờng ruột, bao tử (tốt
nhất là đƣợc sự hƣớng dẫn của ngƣời có kinh nghiệm).
Dầu mè gừng: Giả nát, hoặc mài gừng tƣơi, vắt lấy nƣớc cốt trộn đều với một lƣợng dầu mè
tƣơng đƣơng. Dùng xoa hay đánh gió khi cảm, sốt, xoa bóp khi nhức mỏi, tức, trặc, đau bụng,
sƣng u, bôi lên vết lỡ ở tai, mũi, ghẻ lác, xức dầu trị gầu và rụng tóc, chỉ nên làm vừa đủ dùng
trong 2-3 ngày, vì để lâu gừng thối, có mùi khó chịu, có thể dùng xen kẻ với áp nƣớc gừng.
Cao hạ nhiệt: Ngâm đậu nành với nƣớc cho mềm, giả nát và trộn thêm ít bột gạo cho khỏi
nhão, rồi đem đắp lên trán để hạ sốt, (xem chừng thân nhiệt hạ còn 38.5 độ thì lấy ra ngay)
hoặc đắp những chỗ viêm nhức, (không dùng trong trƣờng hợp ban, sởi, tót, rạ đầu mùa).
Bột gạo lức sống: Nhai nhỏ gạo lức sống và hạt muối sống, hoặc giả thành bột mịn trộn nƣớc
và tí muối cho dẻo, đem đắp vào vết thƣơng, vết lở loét, hoặc ghẻ chốc.




                                              17
Những trở ngại trong dƣỡng sanh, trị liệu theo pháp thực dƣỡng thiên về giáo dục, chữa con
ngƣời hơn là chữa bệnh. Nghĩa là giúp bệnh nhân tự suy xét lại bản thân mình về mọi mặt từ
thể chất đến tinh thần, hầu tránh đi những việc làm có hại cho mình và cho ngƣời khác, đồng
thời tổ chức đƣợc một nếp sống lành mạnh, vui tƣơi và hữu ích hơn, bởi vậy nếu sử dụng
phƣơng pháp thực dƣỡng thuần túy để chữa bệnh có tính cách tạm thời, thƣờng sẽ không
thành công theo ý muốn, sau đây là một số trở ngại cho việc áp dụng phƣơng pháp này trong
trị liệu:

1.   Quá muộn: Đối với những trƣờng hợp quá muộn, nghĩa là cơ thể đã suy thoái trầm
trọng, ví dụ nhƣ đến mức cùng thì phƣơng pháp thực dƣỡng một đƣờng lối trị bệnh dựa vào
cơ thể chế miễn nhiễm tự nhiên có thể không đủ thời gian cứu con bệnh, tuy nhiên, nếu áp
dụng phƣơng pháp này, những bệnh nhân quá muộn vẫn hƣởng đƣợc nhiều lợi ích nhƣ không
bị đau đớn hành hạ và ra đi êm thắm.

2.   Thiếu niềm tin và ý chí: Nếu không tin tƣởng tuyệt đối vào những hƣớng dẫn
của phƣơng pháp này, bệnh nhân rất dễ sai phạm hoặc bỏ dở nửa chừng do ý kiến của những
ngƣời không am hiểu vấn đề, hoặc dễ bị lôi cuốn bởi những món ăn thức uống “cấm kỵ”

3.   Thiếu nghiên cứu: Niềm tin và ý chí đƣợc củng cố qua sự nghiên cứu lý thuyết
sách báo Thực Dƣỡng và học hỏi những ngƣời có kinh nghiệm, nhất là những ngƣời đồng
bệnh đã và theo phƣơng pháp này. Đồng thời phải lƣu tâm theo dõi những biến chuyển của cơ
thể và vận dụng những điều đã nghiên cứu, học hỏi để lấy kinh nghiệm cho bản thân.

4.   Không đƣợc gia đình, thân nhân hỗ trợ: Nếu những ngƣời trong gia
đình bệnh nhân, nhất là những ngƣời có phận sự chăm sóc trực tiếp không hiểu biết, hoặc
không đồng tình ủng hộ, thì có thể vì lòng “thƣơng” sẽ làm “hại” diễn tiến cải thiện sức khỏe
theo phƣơng pháp Thực Dƣỡng.

5. Những      sai lầm khác: Ngoài những sai lầm đã nói nhƣ: Nhai không kỹ, ăn nhiều,
uống nƣớc nhiều, nhịn ăn không cẩn thận, v.v… Ngƣời mới thực hành thƣờng mắc một số sai
lầm khác nhƣ:
- Dƣơng quá độ: Nhiều ngƣời lầm tƣởng yêu cầu của Thực Dƣỡng là “Càng dƣơng càng tốt”,
nên ra sức ăn thật mặn, cố nhịn nƣớc dù khát, vận động thể lực tối đa, hoặc ăn toàn các món
nƣớng, rang, chiên, dù đang trong mùa hè, v.v. sự việc này có thể vƣợt mức chịu đựng của cơ
thể, gây ra tình trạng kiệt sức, hoặc những phản ứng mãnh liệt dẫn đến sự “phá giới” vô cùng
nguy hiểm. Các bạn nhớ cho chủ trƣơng của phƣơng pháp Thực Dƣỡng là quân bình và chế
độ.
- Không biết linh động: Thƣờng đây là những ngƣời không chịu đọc sách báo Thực Dƣỡng và
thiếu tìm hiểu thực tế. Thí dụ trẻ con và ngƣời già răng yếu không biết nấu nhừ, hoặc xay, giã
nhỏ vật thực trƣớc khi ăn, hoặc không biết chế biến thực phẩm cho dễ ăn, hoặc có ngƣời cứ
ăn mãi gạo lức muối mè lâu ngày sinh chán, v.v…
Trong vụ này, mọi sự vật đều vận động và biến hóa không ngừng, nào ngày đêm đắp đổi, nào
bốn mùa luân chuyển, khi nắng khi mƣa và cuộc sống con ngƣời cũng đa dạng. Vì vậy, để có
thể tồn tại, sống vui qua năm tháng của đời ngƣời, chúng ta không nên đóng khung vào một




                                             18
khuôn mẫu hoặc một công thức cố định, mà phải biết thích ứng với mỗi đổi thay, khác biệt
của từng cá nhân theo thời gian và không gian. Đồng thời cũng nên biết không có hiện tƣợng
nào thuần Âm hoặc thuần Dƣơng, mà bao gồm cả Âm lẫn Dƣơng. Trong sinh hoạt hàng ngày
cũng nhƣ trong chữa trị bệnh, chúng ta tuân theo nguyên lý này; lẽ dĩ nhiên có lúc Dƣơng hơn
và có lúc cần Âm hơn.

Phép Dinh Dƣỡng Cần Đƣợc Tuân thủ Triệt Để từ Ba Tuần
đến Một Tháng
Vài phản ứng có thể xảy ra cần đƣợc biết đến vào thời kỳ đầu sau khi áp dụng phƣơng pháp
dinh dƣỡng này:
- Cảm giác suy nhƣợc, cảm thấy chân bị bại liệt từng phần, do nơi nguồn gốc tâm linh và
cũng do nơi giảm thiểu số luợng huyết dịch lƣu thông trong cơ thể, sau khoảng 15 ngày đến 1
tháng, trạng chứng này sẽ mất đi.
Thƣờng tim đập chậm lại, nhất là khi ta dùng một số lƣợng muối khá nhiều, vô hại.
- Đau đầu thƣờng xảy ra vào những ngày đầu trong thời gian ăn số 7.
- Trạng thái buồn nôn, cũng thuờng hay mửa cả đồ ăn và mật (đảm trấp), ớn cơm (nói chung
các đồ ăn ngũ cốc). Đừng ngại cứ ăn ít lại, vài ngày sau sẽ ăn ngon trở lại, vẫn cứ làm việc
nhƣ bình thƣờng.
- Chảy máu cam máu mũi, đôi khi thổ huyết, hoặc tiện huyết (phẩn có vấy máu). Cũng gặp
trƣờng hợp chảy máu tai; hầu hết các trạng thái khủng hoảng này đều đƣợc cải thiện sau đó.
- Nhất là ở thiếu nữ thƣờng có sự ngƣng chỉ kinh nguyệt, thay đổi từ 1 đến 6 tháng, sau đó
kinh nguyệt sẽ trở lại.
- Về phía nam giới, đôi khi có trạng chứng bất lực trong một thời gian ngắn, có thể cũng cùng
một trạng chứng nhƣ trên.
- Rất thƣờng xảy ra trƣờng hợp táo bón vào lúc đầu do nơi sự thiếu nƣớc và do sự giảm thiểu
số lƣợng thực phẩm, nhƣng không có gì đáng quan tâm, chớ dùng thuốc nhuận trƣờng, không
có nguy hại vì không có đản bạch tinh (proteins) động vật. Chịu khó chờ đợi, sự đi tiểu sẽ
đƣợc điều hòa trở lại. Trong một thời kỳ nào đó, nghe phân không có mùi hôi thúi gì cả.
- Trong tháng đầu, hầu hết đều gầy hẳn xuống.
- Ở những ngƣời mắc bệnh phong thấp thƣờng có sự gia tăng đau nhức và sƣng khớp xƣơng
tạm thời.
- Về phƣơng diện tinh thần, hình nhƣ luôn có một thời kỳ hay nổi xung (dễ phát cáu), chán
đời do một số nơi cảm giác khát nƣớc đến bắt khó chịu. Ngƣời ta thƣờng hay bỏ cuộc vào
thời kỳ này, việc rất thƣờng thấy; cần phải tiên liệu trƣớc để chịu đựng.
- Giấc ngủ bị rút ngắn lại, thƣờng có mộng mị liên miên vào lúc đầu, đôi khi rất nhanh;
nhƣng trái lại, không hề có sự mất ngủ.
- Thƣờng thƣờng nƣớc tiểu có mầu rất đậm và chứa nhiều chất lạ. Cả đến khi khối lƣợng
nƣớc tiểu trong trở lại, nhƣng vẫn phải giữ cho đƣợc màu vàng sẫm. Đôi khi có trƣờng hợp
sƣng bọng đái nhẹ.
- Đôi khi có phản ứng cảm sốt bất thình lình trong vòng 24 đến 48 giờ, rồi dứt đi cũng thình
lình nhƣ thế mà không thấy có dấu hiệu chi hết.



                                             19
- Mặc dù có cảm giác mệt mỏi lúc đầu, cũng cần phải tiếp tục công việc và cố gắng tập một
vài cử động thể dục hàng ngày.
- Sự tiếp tục dùng thức ăn thuộc động vật trong khi giảm uống và ăn nhiều muối thêm sẽ rất
có hại.

Giải Đáp Một số thắc mắc thông thƣờng liên quan đến tâm
trạng
- Ngại thiếu chất đạm bạch tố (Proteines) thuộc động vật :
Các chất đạm bạch tố thực vật đã có đủ, các acid anime strong loại ngũ cốc và rau quả nhƣ:
Biến đậu (Lentilles), đậu xanh chẳng hạn đủ bổ túc cho chỗ thiếu thốn ấy. Một vài loại thảo
mộc có giá trị bổ túc cho đồ ăn ngũ cốc hơn hẳn các món ăn thịt cá, hoặc sữa nhƣ bánh dầu
mè (xác mè sau khi ép lấy dầu rồi), hay xác dầu quỳ (công cuộc khảo cứu của bà Randoin).
Nó chỉ thua có mỗi một thứ đản bạch tố ở trứng mà thôi. Các đồ ăn bổ túc cho loại ngũ cốc là
những đồ ăn mang tới cho cơ thể những chất không có trong ngũ cốc.
- Sợ thiếu sinh tố C chăng?
Các cuộc khảo cứu thảo mộc mới đây ở Nhật và ở Anh đã chứng tỏ rằng trong các loại ngũ
cốc (Paoviatamine C) sự chịu nóng tới ngoài 150 độ và cơ thể ngƣời ta có thể tổng hợp và
chuyển hóa nó thành sinh tố C.
Ngoài ra, trong các thức ăn, thực dụng nhƣ ngò tây (persil) và bồ công anh (Pissenlit) chẳng
hạn, ngƣời ta cũng nhận thấy có nhiều sinh tố C trong cám hay cà chua (tomate) và đƣợc kèm
với một hàm lƣợng phong phú tƣơng đƣơng về sinh tố A.
Các sinh tố khác thì đều có đầy đủ cả. Đại loại nhƣ sinh tố B và PP có nhiều trong các loại
ngũ cốc và sinh tố E trong mầm ngũ cốc. Về sinh tố D thì trong mầm các loại ngũ cốc còn
nguyên cám và trong bột kiều mạch (Flocon Davoine).
Còn lại các sinh tố thuộc nhóm F do nơi các acid béo bất bão hòa trong các loại dầu thảo mộc
sinh ra. Các acid béo giúp đắc lực cho sự biến hóa chất Cholesterol ở cơ thể ngƣời. Các thức
loại nên dùng: dầu mè (vừng) và dầu quỳ (Tourynesil) cả dầu Ô liu (cảm lảm) nữa. Trong các
chất béo có nguồn gốc động vật và chất magarine. (loại mỡ trứng) đều có tác dụng độc hại.
(công cuộc khảo cứu của bà Randoin đăng tải trong Công báo của Viện Vệ sinh thực phẩm
năm 1975).
- Sợ sự hạn chế nƣớc uống sẽ làm cho thận mệt chăng?
Trái hẳn lại, chúng ta hãy nhớ lại những kết quả tuyệt hảo trong thực chế khô của Volhard
trong việc chữa trị chứng sƣng thận cấp tính khuếch tán (Ngƣời Đức đã dùng từ 7 đến 10
ngày để áp dụng thực chế khô này)
Ngoài ra, thận tạng có khả năng bài tiết chất muối (CINa) trội hơn khả năng ngƣời thƣờng
tƣởng tới. Thận tạng của ngƣời có thể thải ra cứ mỗi lít nƣớc tiểu la 30 gram CINa và còn
hơn thế nữa. Cho dù ăn 4, 5 muỗng cà phô muối mè mỗi ngày cũng không dung chứa tới trên
10 gram CINa mỗi ngày, đó là điều rất thƣờng.
Kết Luận:
Cơ bản của thực chế này là đúng theo cơ bản các phép dinh dƣỡng cổ truyền của phần đông
dân chúng nông thôn vạm vỡ ở Âu châu, ở các xứ Đông Dƣơng, nhất là ở miền cực Đông. Sự




                                             20
quân bình dinh dƣỡng ấy đã bị đảo lộn ở Tây Phƣơng. Ở đây chỉ có thể sửa đổi gia giảm một
cách rất khôn ngoan.
Các yếu tố có thể thay đổi đƣợc trong phép ăn này tùy theo tạng thể hoặc căn bệnh, là số
lƣợng nƣớc và muối, rồi đến tỷ độ tƣơng quan về số lƣợng đồ ăn ngũ cốc và rau quả, là sự
chọn lựa một số ngũ cốc hoặc rau quả, và dĩ nhiên thời kỳ cần phải thay đổi các tỷ lƣợng giữa
những yếu tố này cho thích hợp với ngƣời bệnh.

 PHÂN ĐỊNH ÂM DƢƠNG MỘT SỐ MÓN ĂN VÀ THỨC
                                         UỐNG
Chú ý:
Âm có ký hiệu ÂM Dƣơng có ký hiệu DƢƠNG

 3 ÂM - …Âm hơn hết 3 DƢƠNG - …Dƣơng hơn hết

 2 ÂM - ….Âm nhiều 2 DƢƠNG - …Dƣong nhiều

 1 ÂM - ….Âm 1 DƢƠNG - …Dƣơng



 Ký Hiệu        Âm

 2 Âm           Nếp, các loại gạo mạch
 1 Âm           Bo bo (Ý Nhĩ), bắp (ngô)

                Đậu nành, đậu phọng, đậu đen, đậu trắng, đậu xanh

 3 Âm           Các loại cà, khoai tây, măng, giá, nấm.
 2 Âm           Dƣa leo, bắp chuối, khoai mì, môn tím
 1 Am           Rau muống, mồng tơi, su xanh, khoai mỡ tím, khoai lang, mứt biển
                Bầu, khổ qua, đậu ve, đậu đủa, rau dền, su hào, hoai mở trắng

 3 Âm           Gừng, ớt, tiêu, nƣớc chanh, me, cà ri, chao, giấm gaọ
 2 Âm           Tƣơng đậu phụ, mẻ (cơm chua), tƣơng cải, va ni, rau răm
 1 Âm           Bơ mè, tỏi, rau cần, rau hung quế

 3 Âm           Kem lạnh, nƣớc đá, thức uống có đƣờng, rƣợu, cà phê
 2 Âm           Nƣớc trái cây, bia
 1 Âm           Trà đọt, nƣớc khoáng, nƣớc lã

 3 Âm           Đƣờng cát
 2 Âm           Đƣờng thốt nốt, đƣờng thô (vàng, đen, nâu) đƣờng trái cây

 Ký Hiệu        Dƣơng

 1 Dƣơng        - Gạo mì, gạo tẻ




                                             21
 2 Dƣơng         - Kê, gạo mì đen

                 Đậu Ván
                 Đậu đỏ lớn hạt, xích tiểu đậu

 3 Dƣơng         - Củ sắn dây, khoai mài
 2 Dƣơng         Diếp quắn đắng, lá bồ công anh, rau đắng, xà lách son, rau má,
 1 Dƣơng         - củ cải trắng, củ sam, cà rốt
                 Bắp cải, bông cải, cải cay, cải ngọt, cải tần ô, rau câu chỉ, phổ tai

 3 Dƣơng         - Muối tự nhiên
 1 Dƣơng         - Quế, hồi, hắc hƣơng, rau mùi, hành, kiệu, poa rô rau dắp cá, ngò, nghệ,
                 tƣơng đậu nành

 3 Dƣơng         - Trà rễ đinh lăng, nhân sâm
 2 Dƣơng         - Cà phê thực dƣỡng, trà củ sen
 1 Dƣơng         - Trà 3 năm, trà sắn dây, trà gạo rang, sữa thảo mộc

 1 Dƣơng         - Mạch nha, chất ngọt hạt cốc
 1 Dƣơng         - chất ngọt rau củ, mật ong

                       CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨC VÀ RANG MÈ
                       PHÂN LƢỢNG GẠO LỨC, NƢỚC VÀ MUỐI:
Một lon gạo (lon sữa bò) + hai lon nƣớc (lon sữa bò) + một phần tƣ muỗng cà phê muối hầm
(chú ý, không đƣợc dùng muối iốt “iode” và muối bột, muối đã chế biến). Lƣợng nƣớc có thể
thêm bớt tùy theo loại gạo.
CÁCH NẤU GẠO LỨC BẰNG NỒI THƢỜNG:
(Không đƣợc nấu bằng nồi cơm điện): Nấu nƣớc sôi, đổ gạo và một pbần tƣ muỗng cà phê
muối hầm vô nƣớc sôi, khuấy đều, đậy nắp, nấu cho sôi bùng lên rồi tắt lửa. Nhắc nồi xuống
vẫn đậy nắp để 15 phút. Sau đó, nhắc nồi lên bếp, nấu tiếp lửa nhỏ cho đến khi chín.
CÁCH NẤU GẠO LỨC BẰNG ÁP SUẤT:
Một gạo + một rƣỡi nƣớc (đong bằng lon sữa bò) + một phần tƣ muỗng cà phê muối hầm.
Cho gạo, nƣớc, muối vô nồi một lƣợt. Nấu sôi xì hơi, tắt lửa. Để 15 phút. Sau đó, nấu tiếp,
lửa nhỏ, cho đến khi chín.
CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨC TỐT NHẤT: CHƢNG CÁCH THỦY BẰNG NỒI ÁP
SUẤT:
Một chén gạo lức nấu với hơn một chén nƣớc. Nếu cơm khô, thêm nƣớc, nếu cơm nhão, bớt
nƣớc (1 ký gạo lức + 1 muỗng cà phê muối hầm). Gạo lức + nƣớc + muối để vô tô và đặt tô
này vào nồi áp suất có nƣớc. Nƣớc trong nồi áp suất cho vừa đủ để khi nấu sôi lên không bị
tràn nƣớc vào tô gạo. Bật lửa, chƣng cách thủy tô gạo lức đã có nƣớc, đến khi nghe sôi kêu
nồi đợt đầu 15 phút, tắt lửa, để yên đó. Sau 20 phút, bật lửa lên nấu tiếp, nghe sôi kêu nồi đợt
hai 5 phút thì tắt lửa. Để 30 phút sau là chín cơm.
CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨC BẰNG CÁCH CHƢNG CÁCH THỦY TRONG NỒI
THƢỜNG:



                                                  22
Một chén gạo lức nấu với hơn một chén nƣớc (1 ký gạo lức + 1 muỗng cà phê muối hầm).
Nếu cơm khô, thêm nƣớc, nếu cơm nhão, bớt nƣớc. Gạo lức + nƣớc + muối để vô tô và đặt tô
này vào nồi có nƣớc. Nƣớc trong nồi cho vừa đủ để khi nấu sôi lên không bị tràn nƣớc vào tô
gạo. Bật lửa, chƣng cách thủy tô gạo lức đã có nƣớc, đến khi nghe sôi xì hơi đợt đầu 30 phút,
tắt lửa để yên đó. Sau 15 phút, bật lửa lên nấu tiếp, nghe sôi xì hơi đợt hai 10 phút thì tắt lửa.
Để 30 phút sau là chín cơm.
CÁCH GIỮ CƠM GẠO LỨC KHÔNG THIU:
Không đậy nắp kín mà dùng rá để đậy nồi cơm. Không đƣợc để cơm trong tủ lạnh.
CÁCH HÂM CƠM GẠO LỨC:
Khoét một lỗ tròn giữa nồi cơm cho đến đụng đáy nồi, đổ nƣớc vô, (lƣợng nƣớc đủ tráng đáy
nồi để cơm không bị khét khi hâm). Đậy nắp nồi cơm, nấu cho nƣớc bốc hơi lên, mở nắp hồi
khuấy đều. Dùng muỗng ép cơm cho bằng mặt và cứng. Đậy nắp nồi, để lửa riu riu khoảng 5
phút, tắt lửa.
CÁCH RANG MÈ:
Mè vàng còn vỏ, đổ mè vào thau nƣớc đầy, đãi vớt lấy mè nổi trên mặt nƣớc và bỏ sạn cát
chìm xuống dƣới thau. Phơi khô mè sạch đã vớt, đựng trong hộp đậy nắp. Nếu mua mè sạch,
không phải đãi nữa.
Khi rang mè, nhúng tay cho ƣớt để bóp sơ mè cho thấm nƣớc mới rang thì mè thơm hơn là
rang khô. Rang lửa đều và nhỏ, khuấy đều mè, đến khi nghe mè nổ lách tách, rang thêm nột
chút nữa là mè chín.
Đổ mè chín ra thau, phải đậy kín liền. Mƣời phút sau, mè nguội, bỏ vô cối nghiền chung với
muối hầm. (nghiền, không phải giã). Một muỗng cà phê muối hầm nghiền với 12 muỗng mè.
Phân lƣợng này thay đổi tùy theo tuổi tác và loại bệnh. Mè trộn muối rồi chỉ đƣợc sử dùng 4
ngày. Ăn tiếp, phải rang mè mới.
CÁCH ĂN CƠM GẠO LỨC VỚI MUỐI MÈ:
Khi múc cơm ra chén, không đƣợc xới cơm đều, chỉ xắn cơm trong nồi từ trên xuống dƣới để
lấy đủ âm dƣơng. Ăn bao nhiêu thì xắn bấy nhiêu ra chén. Để nguyên phần cơm dƣ ngày mai,
không đƣợc xới lên. Một chén cơm trộn đều với 4 muỗng cà phê muối mè đã nghiền.
Ăn bằng muỗng cà phê, một lần ăn 1 muỗng cà phê cơm trộn mè, không đƣợc nhiều hơn, để
nhai nát cơm cho dễ. Phải nhai cho đến khi cơm thành nƣớc và cảm thấy ngọt mới đƣợc nuốt
và chỉ nuốt một lần, không đƣợc nuốt nhiều lần; vì nuốt nhiều lần sẽ bị khát nƣớc. Khi ăn
không đƣợc hở môi, không dƣợc nói chuyện. Ăn bất cứ giờ nào, không cần đúng bữa. Trƣớc
khi ngủ hai tiếng, không đƣợc ăn. Dùng số lƣợng chén cơm nhiều ít tùy ý, nhƣng không nên
ăn no một lần, một chén cơm có thể ăn nhiều lần.
CÁCH RANG GẠO LỨC DÙNG ĐỂ ĂN:
Nấu cơm gạo lức chín bình thƣờng. Xới cơm ra mâm phơi khô. Khi phơi cơm, phải trở cơm
thƣờng xuyên mới khô đều và cơm rang đƣợc dòn. Mỗi ngày phơi cơm, chiều mang vô, mai
phơi tiếp, không nên phơi ban đêm ngoài sƣơng. Nhớ đậy cơm phơi bằng vải mỏng để tránh
bụi và các con vật nhỏ không bám vào cơm. Phơi cơm ba nắng gắt, đến nắng thứ ba, lấy gạo
đang phơi còn nóng đổ vô chảo đang nóng để rang thì gạo mới dòn và xốp. Rang gạo đến khi
hạt gạo vừa vàng và thơm thì tắt lửa và đổ gạo đã rang vào một xoong sạch, đậy nắp liền, gạo
sẽ thơm.




                                               23
Đậy nắp khoảng 30 phút trở lên, khi sờ tay thấy gạo còn ấm, không phỏng tay, cho muối hầm
vào (lƣợng muối hầm bao nhiêu cũng đƣợc), đậy nắp lại. Khi gạo nguội hoàn toàn, đổ ra vợt
rây, bỏ muối, lấy gạo. Chú ý, nếu cho muối hầm vào gạo còn nóng thì gạo sẽ hút nhiều muối,
không đƣợc. Nếu cho muối vào gạo đã nguội thì gạo sẽ không thấm đƣợc muối. Nếu răng
yếu, có thể xay gạo rang thành bột rồi cho nƣớc nóng vào để ăn; hoặc không xay thành bột thì
có thể ăn bằng cách ngậm gạo lứt rang trong miệng cho mềm, rồi nhai cho đến thành nƣớc,
mới đƣợc nuốt.
GẠO LỨC RANG DÙNG ĐỂ UỐNG:
Rang gạo lức sống đến khi gạo vàng đậm là đƣợc, để nguội đựng vô keo, dùng từ từ. Nếu bị
bón: hai tiếng một lần, nhai 1 muỗng cà phê muối mè rang rồi. Và trƣớc khi ngủ, nhai 4
muỗng cà phê muối mè rang, nhai đến lúc không còn mặn mới đƣợc nuốt. (khoảng 5 phút.)
Nƣớc uống tùy theo bệnh: Bệnh tim mạch, đƣờng ruột, bao tử, vôi cột sống: dùng lá trà ba
năm.
CÁCH PHƠI LÁ TRÀ BA NĂM:
Nấu nƣớc sôi, cho lá trà tƣơi vào rồi vớt ra liền (đó là cách rửa trà). Sau đó ủ một đêm, phơi
chỗ mát, một ngày xốc lên ba lần (sáng, trƣa, chiều), phơi khoảng 1 tuần đến 10 ngày, lá trà
khô, cho vô bao, để chỗ không ẩm. Khi dùng, sao khử thổ bằng cách đổ lá trà đã rang thơm
xuống nền gạch tàu, rồi hốt lên liền, không đƣợc để lâu. Có thể mua 4 miếng gạch tàu, nếu
nhà không lót gạch tàu. Lá trà rang để nguội cho vô bao để dành.
CÁCH NẤU NƢỚC TRÀ
Cách 1: Lấy 10 lá trà khô, rửa sạch bằng nƣớc lạnh, vò nát lá trà, cho vô bình thủy và đổ 3 xị
nƣớc sôi vô (3 xị=0.75 lít). Để khoảng 15 phút, trà sẽ ra đủ chất và để nguyên lá nhƣ vậy
trong bình thủy, khi uống rót nƣớc thôi.
Cách 2: Nấu 10 lá trà đã rửa sạch, nấu sôi 15 phút, đổ nƣớc trà vô bình thủy giữ nóng, bỏ lá
trà.
ĐÁNH RĂNG
Không đƣợc dùng kem đánh răng vì có chất hóa học. Đánh răng bằng bột thuốc theo pháp
dƣỡng sinh. Một ngày chỉ đánh một lần buổi tối. Các lần khác súc miệng bằng nƣớc muối.
Phụ chú: ĂN GẠO LỨC MUỐI MÈ THEO SỐ 7: Nghĩa là ngoài gạo lứv muối mè, không
đƣợc ăn bất cứ thức ăn gì (Kể cả rau củ và trái cây cũng không đƣợc ăn)
CÁC TRỢ PHƢƠNG THEO PHƢƠNG PHÁP DƢỠNG SINH
1- Cách xông đau nhức:
1 ký muối hột và một ký củ cải trắng cho vào 4 lít nƣớc nấu sôi. Đổ nƣớc sôi này ra xô, rồi
dùng vật cản gác trên nặt nƣớc để chân không đụng vô nƣớc bị phỏng và gác chân lên xông,
dùng mền quấn bít kín lại đến ngang rốn. Nƣớc xông nguội thì cho chân vô ngâm 5 phút, rồi
ngâm chân vô nƣớc lạnh trong một phút. Xông chân liên tục 2 tuần.
2 – Cách đắp nƣớc gừng chỗ đau và khối u trong cơ thể:
200 gram gừng tƣơi giã nhuyễn cho vào bọc vải mùng. Nấu 2 lít nƣớc sôi cho bọc gừng vô
rồi hạ bớt lửa liền và để lửa nhỏ riu riu, không đƣợc tắt lửa để giữ nƣớc còn nóng. Nắm góc
khăn để nhúng khăn vô nồi nƣớc gừng và vắt khăn ráo. Gấp khăn làm 4 đắp lên chỗ đau với
độ nóng chịu đƣợc và phủ lên khăn nóng này một khăn khô bên ngoài để giữ nóng. Trong lúc
đắp khăn nóng thứ nhất, lo chuẩn bị nhúng khăn thứ hai vô nƣớc gừng nóng và vắt ráo để vô



                                             24
thau. Khăn thứ nhất đã nguội thì lấy khăn ra, rồi đắp khăn nóng thứ hai tiếp theo. Đắp từ 25
đến 30 phút một lần. Một ngày đắp ba lần hay ít nhất cũng phải đắp hai lần mới có kết quả.
Chú ý lúc đang cho con bú, không đƣợc đắp nƣớc gừng, vì sẽ bị tắt sữa.
3 – Cách dán cao khoai môn (củ nhỏ) chỗ đau vào buổi tối trƣớc khi ngủ
Khoai sọ củ nhỏ rửa sạch và gọt vỏ. Chín phần khoai sọ đã giã nhuyễn, (hoặc mài nhuyễn,
hoặc xay nhuyễn) trộn cho đều với một phần củ gừng đã gọt vỏ và đã giã nhuyễn. Đổ hỗn
hợp này vô miếng vải mùng, bề dày hỗn hợp độ một phân rƣỡi. Đắp lên chỗ đau, bó lại để
không bị rớt khoai ra và đắp nguyên đêm.
4 – Viêm Nhiễm Âm hộ-Ung Thƣ Tử cung
4 cây cải xậy tƣơi độ 1 ký (cải làm dƣa muối) + 4 lít nƣớc + 1 nắm muối. Nấu chín cải, đổ
nƣớc ra chậu, cho thêm nƣớc lạnh cho vừa đủ nóng, ngồi vào chậu nƣớc này để ngâm mông
và phủ mền lên ngang rún 30 phút. Sau đó tắm cho sạch. Ngâm mông 2 tuần liên tục. Đắp
nƣớc gừng và dán cao khoai sọ từ rún trở xuống (Xem số 2 trang 10 và số 3 trang 10). Uống
nƣớc lá trinh nữ hoàng cung và lá trà bồ công anh (xem số 38 trang 15). Mỗi tối lấy bông gòn
bằng ngón tay út nhúng vô dầu mè và lăn bột Denti (Bột Denti chữa bệnh) rồi nhét vô đƣờng
tiểu, sáng đi tiểu ra. Nhét nhƣ vậy từ 1 tuần đến 10 ngày. Trƣờng hợp bị huyết trắng thì nhét
bông gòn tẩm dầu mè và bột Denti giống nhƣ vậy trong 5 ngày. Ăn cơm gạo lức muối mè
theo số 7.
5 - Bệnh Hay Đau Bụng - Nhức Đầu - Trúng gió méo miệng trong vòng 5 phút-phong giựt-
Tăng huyết áp-Ỗn định thần kinh.
1 muỗng canh bột sắn dây cho một chút xíu nƣớc lạnh (nƣớc nấu chín để nguội), khuấy lên
để bột không bị ốc trâu, rồi mới cho 1 bát nƣớc sôi vào, khuấy lên thấy bột trong là chín. Nếu
bột chƣa trong thì cho vào nồi để lên bếp lửa khuấy cho chín, rồi cho một muỗng cà phê nƣớc
tƣơng Tamari vào khuấy đều. Uống hỗn hợp này lúc bụng đói, hoặc lúc trúng gió, hoặc vào
buổi tối và trùm mền cho đổ mồ hôi. Sau đó, lau khô ngƣời và thay quần áo. Không đƣợc ra
gió trƣớc một tiếng đồng hồ.
6 – Ăn Không Tiêu
Dầm 1 miếng chanh muối lâu năm với nƣớc nóng để uống, hoặc ngậm 1 miếng nhỏ chanh
muối (chanh muối lâu năm), ngậm một lúc rồi nuốt.
7 - Cảm
15 lá trà 3 năm + nửa trái chanh muối lâu năm (trái nhỏ, trái lớn thì một phần ba) + 1 lóng
gừng bằng ngón chân cái nƣớng cho chín rồi băm nhuyễn. Ba thứ này nấu với một chén rƣỡi
nƣớc cho sôi, sắc lại còn 1 chén, vớt bỏ lá trà, rồi chế nƣớc này vào chén có 1 muỗng canh
bột sắn dây đã đƣợc tán ra với 1 muỗng canh nƣớc khuấy lên, nếu bột trong là chín, bột chƣa
trong thì bắc lên bếp khuấy sơ thêm cho chín bột. Sau đó, cho vào một muỗng nƣớc tƣơng
Tamari và khuấy đều. Ăn nóng rồi trùm mền cho ra mồ hôi, không ra gió trƣớc 1 tiếng đồng
hồ.
8 – Đau cổ họng-viêm họng hạt và viêm nhiễm thanh quản, thực quản
Đánh răng bằng bột Denti, sau đó ngậm 1 phần 4 muỗng cà phê bột Denti (loại ngậm, không
phải loại đánh răng), ngửa cổ để khò khò cho nƣớc bột này thấm vô cổ họng, rồi ngậm đến
khi hết mặn nuốt luôn, sau đó không đƣợc uống nƣớc, vì sẽ làm trôi thuốc.
9 – Đàm trong cổ-mệt đứt hơi




                                             25
Để trị đàm, buổi tối, trƣớc khi đi ngủ, ngậm 1 phần 8 trái chanh muối, nuốt từ từ đến hết
chanh muối rồi ngủ, không đƣợc uống nƣớc vì sẽ làm trôi thuốc. (Chanh này đã ngâm muối 3
năm). Ăn gạo lức muối mè theo số 7 trong 1 tháng. Răng yếu, có thể xay cơm gạo lức rồi trộn
muối mè. Xay bằng cối xay thịt của Liên Sô. Chú ý, cũng phải nhai cơm cho nát thành nƣớc
và cảm thấy vị ngọt mới đƣợc nuốt.
10 - Bệnh Nhức Đầu Kinh Khủng
1 lon nếp nấu chín trộn với hành hƣơng sống đã thái nhỏ, túm vào khăn, đắp lên đầu. Vừa
cảm thấy nóng chịu không nổi thì lấy ra, rồi lại đắp vào, liên tục đắp nhƣ vậy cả vùng đầu và
thái dƣơng, cho đến khi nếp nguội. Một ngày đắp 1 lần.
11- Thú Độc Cắn
Dùng dây cột phần trên chỗ bị cắn để nọc độc không theo máu chảy về tim, sau đó lấy bông
gòn nhúng vô nƣớc tƣơng Tamari đắp lên chỗ bị cắn. Và lấy hai lòng đỏ trứng gà có trống
khuấy đều với hai muỗng canh nƣớc tƣơng Tamari và uống.




                                             26

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Tags:
Stats:
views:1168
posted:3/30/2011
language:Vietnamese
pages:26
Description: extremely helpful materials for Health