Docstoc

13.5_quan_ly_chat_luong

Document Sample
13.5_quan_ly_chat_luong Powered By Docstoc
					       QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG


  1. Quan niệm về chất lượng sản phẩm
   - Khi nêu câu hỏi” Bạn quan niệm thế
nào là chất lượng sản phẩm” người ta
thường nhận được rất nhiều câu trả lời khác
nhau tuỳ theo đối tượng được hỏi là ai. Các
câu trả lời thường thấy như sau:
  - Đó là những gì họ được thoả mãn tương
đương với số tiền họ được chi trả
   - Đó là những gì họ muốn được thoả mãn
nhiều hơn so với số tiền họ chi trả.
    - Sản phẩm phải đạt hoặc vượt trình độ
của khu vực, hay tương đương hoặc vượt
trình độ thế giới.
   Đối với câu hỏi thế nào là một công việc
có chất lượng ta cũng nhận được một số câu
trả lời khác nhau như thế.
   Trên thực tế, nhu cầu có thể thay đổi theo
thời gian, vì thế cần xem xét định kỳ các yêu
cầu chất lượng để có thể đảm bảo lúc nào
sản phẩm của doanh nghiệp làm ra cũng
thoả mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu
dùng.
   Các nhu cầu thường được chuyển thành
các đặc tính với các tiêu chuẩn nhất định.
Nhu cầu có thể bao gồm tính năng sử dụng,
tính dễ sử dụng, tính sẵn sàng, độ tin cậy,
tính thuận tiện và dễ dàng trong Một số định
nghĩa về chất lượng thường gặp:
  (a) Chất lượng là mức phù hợp của sản
phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng.
  (b) Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu.
   (c) Chất lượng là tập hợp các đặc tính của
một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng
thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu
cầu tiềm ẩn.
  (ISO 8402)
  sửa chữa, tính an toàn, thẩm mỹ, các tác
động đến môi trường.
   Dưới quan điểm của người tiêu dùng,
chất lượng sản phẩm phải thể hiện các khía
cạnh sau:
   - Chất lượng sản phẩm là tập hợp các chỉ
tiêu, các đặc trưng thể hiện tính năng kỹ
thuật hay tính hữu dụng của nó.
   - Chất lượng sản phẩm phải được gắn liền
với điều kiện tiêu dùng cụ thể của từng
người, từng địa phương. Phong tục, tập quán
của một cộng đồng có thể phủ định hoàn
toàn những thứ mà thông thường người ta
xem là có chất lượng.
   Để sản xuất một sản phẩm có chất lượng,
chi phí để đạt được chất lượng đó phải được
quản lý một cách có hiệu quả. Những chi phí
đó chính là thước đo sự cố gắng về chất
lượng. Sự cân bằng giữa hai nhân tố chất
lượng và chi phí là mục tiêu chủ yếu của
một ban lãnh đạo có trách nhiệm.
   Theo ISO 8402, chi phí chất lượng là
toàn bộ chi phí nảy sinh để tin chắc và đảm
bảo chất lượng thoả mãn cũng như những
thiệt hại nảy sinh khi chất lượng không thoả
mãn.
   Theo tính chất, mục đích của chi phí,
chúng ta có thể phân chia chi phí chất lượng
thành 3 nhóm:
  - Chi phí sai hỏng, bao gồm chi phí sai
hỏng bên trong và chi phí sai hỏng bên
ngoài
  - Chi phí thẩm định
  - Chi phí phòng ngừa
  a. Chi phí sai hỏng
  - Chi phí sai hỏng bên trong
  Sai hỏng bên trong bao gồm:
       Lãng phí
       Phế phẩm

       Gia công lại hoặc sửa chữa lại
       Kiểm tra lại các sản phẩm
       Thứ phẩm

       Phân tích sai hỏng



  - Chi phí sai hỏng bên ngoài
      Sửa chữa sản phẩm đã bị trả lại hoặc
   còn nằm ở hiện trường
      Các khiếu nại bảo hành

      Khiếu nại

      Hàng bị trả lại

      Trách nhiệm pháp lý



  b. Chi phí thẩm định
   Những chi phí này gắn liền với việc đánh
giá các vật liệu đã mua, các quá trình, các
sản phẩm trung gian, các thành phẩm… để
đảm bảo là phù hợp với các đặc tính kỹ
thuật. Công việc đánh giá bao gồm:
      Kiểm tra và thử tính năng các vật
   liệu nhập về, quá trình chuẩn bị sản xuất,
   các sản phẩm loạt đầu, các quá trình vận
   hành, các sản phẩm trung gian và các
   sản phẩm cuối cùng, bao gồm cả việc
   đánh giá đặc tính sản phẩm so với các
   đặc thù kỹ thuật đã thoả thuận, kể cả
   việc kiểm tra lại.
       Thẩm tra chất lượng: Kiểm nghiệm

   hệ thống chất lượng xem có vận hành
   như ý muốn không.
       Thiết bị kiểm tra: Kiểm định và bảo

   dưỡng các thiết bị dùng trong hoạt động
   kiểm tra.
       Phân loại người bán: Nhận định và

   đánh giá các cơ sở cung ứng.
  c. Chi phí phòng ngừa
   Những chi phí này gắn liền với việc thiết
kế, thực hiện và duy trì hệ thống quản lý
chất lượng tổng hợp. Chi phí phòng ngừa
được đưa vào kế hoạch và phải gánh chịu
trước khi đi vào sản xuất thực sự.
   2. Sơ lược sự phát triển các chiến lược
về quản lý chất lượng.
   Trong giai đoạn sản xuất chưa phát triển,
lượng sản phẩm sản xuất chưa nhiều, thường
trong phạm vi một gia đình. Người mua và
người bán thường biết rõ nhau nên việc
người bán làm ra sản phẩm có chất lượng để
bán cho khách hàng gần như là việc đương
nhiên, vì nếu không họ sẽ không bán được
hàng. điều này cũng có nghĩa là nhu cầu của
khách hàng được thoả mãn một cách tốt
nhất.
   Công nghiệp phát triển, các vấn đề kỹ
thuật và tổ chức ngày càng phức tạp đòi hỏi
sự ra đời một số người chuyên trách về
hoạch định và quản lý chất lượng sản phẩm.
   Sự xuất hiện các công ty lớn làm nảy sinh
các loại nhân viên mới như:
   - Các chuyên viên kỹ thuật giải quyết các
trục trặc về kỹ thuật
   - Các chuyên viên chất lượng phụ trách
việc tìm ra các nguyên nhân hạ thấp chất
lượng sản phẩm, tiêu chuẩn hoá, dự báo phế
phẩm và phân tích nguyên nhân hàng hoá bị
trả lại. Họ sử dụng thống kê trong kiểm tra
chất lượng sản phẩm.
   - Việc kiểm tra chất lượng sản phẩm
trong giai đoạn này thường được thực hiện
chủ yếu trong khâu sản xuất và tập trung vào
thành phẩm nhằm loại bỏ những sản phẩm
không đạt yêu cầu về chất lượng. Tuy nhiên,
thực tế cho thấy không thể nào kiểm tra
được hết một cách chính xác các sản phẩm.
   Rất nhiều trường hợp, người ta loại bỏ
nhầm, không phát hiện ra các sản phẩm đạt
yêu cầu chất lượng, mặt khác cũng rất nhiều
trường hợp, người ta không phát hiện ra các
sản phẩm kém chất lượng và đưa nó ra tiêu
thụ ngoài thị trường.
   - Thực tế này khiến cho các nhà quản trị
chất lượng phải mở rộng việc kiểm tra chất
lượng ra toàn bộ quá trình sản xuất - kiểm
soát chất lượng. Phương châm chiến lược ở
đây là phải tìm ra các nguyên nhân, các yếu
tố ảnh hưởng đến chất lượng, giải quyết tốt
các điều kiện cho sản xuất từ gốc mới có kết
quả cuối cùng là chất lượng sản phẩm.
Người ta phải kiểm soát được các yếu tố:
  - Con người.
   - Phương pháp sản xuất, quy trình kỹ
thuật.
  - Nguyên vật liệu.
  - Thiết bị sản xuất.
  - Thông tin sản xuất.
   Ngoài việc kiểm tra 5 yếu tố trên, người
ta còn chú ý tới việc tổ chức sản xuất ở công
ty, xí nghiệp để đảm bảo năng suất và kiểm
tra theo dõi.
   Trong giai đoạn này người ta đã đạt được
nhiều kết quả trong việc đưa vào áp dụng
các biện pháp, các công cụ quản lý, ví dụ:
   - Áp dụng các công cụ toán học vào việc
theo dõi sản xuất.
  - Kiểm tra thiết bị, kiểm định dụng cụ đó.
  - Theo dõi năng suất lao động của công
nhân, của máy móc.
    Tuy nhiên, trong kinh doanh muốn tạo
nên uy tín lâu dài phải đảm bảo chất lượng,
đây là chiến lược nhằm đảm bảo niềm tin
nơi khách hàng . Bảo đảm chất lượng phải
thể hiện được ở những hệ thống quản lý chất
lượng đó và chứng tỏ bằng các chứng cứ cụ
thể về chất lượng đã đạt được của sản phẩm.
Ở đây cần một sự tín nhiệm của người mua
đối với nhà sản xuất ra sản phẩm. Sự tín
nhiệm này có khi được người mua đặt vào
nhà cung cấp vì họ chưa biết nhà sản xuất là
ai. Nhà cung cấp làm ăn ổn định, buôn bán
ngay thẳng và phục vụ tốt cũng để tạo tín
nhiệm cho khách hàng đối với một sản phẩm
mới. Sự tín nhiệm này không chỉ thông qua
lời giới thiệu của người bán, quảng cáo, mà
cần phải được chứng minh bằng các hệ
thống kiểm tra trong sản xuất, các hệ thống
quản lý chất lượng trong nhà máy.
   Bảo đảm chất lượng vừa là một cách thể
hiện cho khách hàng thấy được về công tác
kiểm tra chất lượng, đồng thời nó cũng là
chứng cứ cho mức chất lượng đạt được.
   Trong thực tế, từ công nhân đến giám đốc
doanh nghiệp, ai cũng muốn kiểm tra chất
lượng vì có kiểm tra mới đảm bảo được chất
lượng hàng hóa. Nhưng không phải mọi
người trong sản xuất kinh doanh đều muốn
nâng cao chất lượng vì việc này cần có chi
phí , nghĩa là phải tốn kém. Trong giai đoạn
tiếp theo mà người ta thường gọi là quản trị
chất lượng - người ta quan tâm nhiều hơn
đến mặt kinh tế của chi phí chất lượng nhằm
tối ưu hoá chi phí chất lượng để đạt được
các mục tiêu tài chính cho doanh nghiệp.
Quản trị chất lượng mà kém là sự thất bại
trong sản xuất kinh doanh.
   Để có thể làm được điều này, một tổ
chức, một doanh nghiệp phải huy động mọi
nguồn lực của nó, nghĩa là phải quản trị chất
lượng toàn diện. Trong bước phát triển này
của chiến lược quản trị chất lượng, người ta
không chỉ loại bỏ những sản phẩm không
phù hợp mà còn phải tìm cách giảm ở mức
thấp nhất các khuyết tật và phòng ngừa
không để xảy ra các khuyết tật. Kiểm tra
chất lượng trong quản trị chất lượng toàn
diện còn để chứng minh với khách hàng về
hệ thống quản lý của doanh nghiệp để làm
tăng uy tín về chất lượng của sản phẩm.
Kiểm tra chất lượng trong quản trị chất
lượng toàn diện còn mở rộng ra ở nhà cung
ứng nguyên vật liệu nhập vào và ở nhà phân
phối đối với sản phẩm bán ra.
  3. Quá trình hình thành và phát triển
của ISO 9000
  - 1972: Hệ thống ĐBCL của các công ty
quốc phòng Anh. Bộ tiêu chuẩn quốc gia
Anh BS 4778; BS 4891.
  - 1978: Tiêu chuẩn quốc gia Anh BS
5750 (tiền thân của ISO 9001).
  - 1987: Bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000.
  - 1994: Soát xét lần thứ nhất Bộ tiêu
chuẩn ISO 9000.
  - 2000: Soát xét lần thứ hai Bộ tiêu chuẩn
ISO 9000.
  Giới thiệu bộ tiêu chuẩn ISO 9000
ISO 9000 là bộ tiêu chuẩn do tổ chức quốc
tế về tiêu chuẩn hoá ban hành nhằm đưa ra
các chuẩn mực cho hệ thống đảm bảo chất
lượng và có thể áp dụng rộng rãi trong các
lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
    ISO 9000 để cập đến các lĩnh vực chủ
yếu trong quản lý chất lượng: Chính xác hoá
và chỉ đạo về chất lượng, thiết kế triển khai
sản phẩm, quá trình cung ứng, kiểm soát quá
trình, bao gói, phân phối, dịch vụ sau khi
bán, xem xét đánh giá nội bộ, kiểm soát tài
liệu, đào tạo…
   ISO 9000 là tập hợp các kinh nghiệm
quản lý chất lượng tốt nhất đã được thực thi
trong nhiều quốc gia và khu vưc và được
chấp nhận thành tiêu chuẩn quốc gia của
nhiều nước.
  Tại sao phải áp dụng ISO 9000?
  - Do yêu cầu của khách hàng.
  - Do yêu cầu cạnh tranh của thị trường.
  - Do sự bắt buộc của luật lệ mỗi nước.
   - Do doanh nghiệp tự nhận thức sự cần
thiết phải áp dụng để nâng cao hiệu quả
quản lý.
  - Lợi ích về chi phí.
  - Bốn triết lý quản trị cơ bản của bộ ISO
9000
   - Chất lượng hệ thống quản trị quyết định
chất lượng sản phẩm.
    - Làm đúng ngay từ đầu, chất lượng nhất,
tiết kiệm nhất, chi phí thấp nhất.
   - Quản trị theo quá trình (MBP) và quyết
định dựa trên sự kiện, dữ liệu.
- Lấy phòng ngừa làm chính.

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Stats:
views:167
posted:3/16/2011
language:Vietnamese
pages:15
đào tiểu vũ đào tiểu vũ dk36 http://mayphat68.com/
About