Docstoc

TCQT_Harvard

Document Sample
TCQT_Harvard Powered By Docstoc
					            Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
                 Khoa Tài chính doanh nghiệp
                            




       Bài thuyết trình Tài chính quốc tế


                            Đề tài:

Nghiên cứu về đề xuất giảm giá từng bước VND
               để kích thích kinh tế
       của Nhóm Nghiên cứu Harvard




                                      Nhóm:     Bùi Thị Thu Hằng – TC5
                                              Nguyễn Ngọc Thanh – TC5
                                              Phạm Hoàng Nguyên – TC5
                                                     Tô Văn Tâm – TC5
                                                   Hà Phạm Hùng – TC5




        Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 12 năm 2008
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                                             Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32


                                                            MỤC LỤC
                                                                   -*-
Lời mở đầu ....................................................................................................................2
I. Kiến thức cơ bản về phá giá đồng tiền ....................................................................4
     1. Khái niệm phá giá đồng tiền. ......................................................................................... 4
     2. Phân loại ......................................................................................................................... 4
     3. Mục đích của việc phá giá .............................................................................................. 5
     4. Tác động của việc phá giá đồng tiền đối với nền kinh tế. ............................................. 6
     5. Bài học tỷ giá từ Trung Quốc......................................................................................... 7
     6. Phá giá đồng tiền trong trong thời kỳ khủng hoảng tài chính- tiền tệ khu vực
Đông Nam Á (1997-1998). ..................................................................................................... 11
II. Phân tích tác động của việc phá giá VND đối với nền kinh tế. ......................... 15
     1. Tác động tích cực.......................................................................................................... 15
     2. Tác động tiêu cực.......................................................................................................... 18
III. Thực trạng kinh tế Việt Nam trước quyết định phá giá. .................................22
     1. Tình hình cán cân thanh toán ..................................................................................... 22
     2. Tình trạng xuất- nhập khẩu và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp............ 25
     3. Tình hình dư nợ đối với nước ngoài ............................................................................ 27
     4. Xem xét trên bình diện kinh tế Vĩ mô .......................................................................... 28
IV. Các giải pháp thay thế ......................................................................................... 30
     1. Nới lỏng biên độ giao dịch ........................................................................................... 30
     2. Có sự hợp tác mạnh mẽ hơn giữa doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ ............ 31
     3. Các doanh nghiệp ,đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu phải tự tăng năng lực
cạnh tranh hoặc chuyển hướng kinh doanh ......................................................................... 32
     4. Chính phủ cũng đã có những gói giải pháp kích cầu để hỗ trợ doanh nghiệp và
tư nhân .................................................................................................................................... 33
KẾT LUẬN : Quan diểm cá nhân…………………………………………………………34




                                                                  -Trang 2 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32


                                  LỜI MỞ ĐẦU
       Năm 2008, lần đầu tiên từ khi Việt Nam tiến hành cải cách, nền kinh tế phải đối
mặt với một nguy cơ khủng hoảng rất lớn. Các chỉ số kinh tế trong nước liên tục xấu đi và
dường như chúng ta chưa đủ kinh nghiệm để đương đầu với tình hình này.
       Bản thân nền kinh tế, mặc dù có tốc độ phát triển rất cao trong hơn 5 năm gần đây,
vẫn mang nặng dấu ấn của một nền kinh tế kế hoạch hóa và vẫn thiếu sự uyển chuyển cần
thiết của một nền kinh tế thị trường để có thể tự điều chỉnh mình khi môi trường thay đổi.
Một trong những điểm yếu quan trọng của nền kinh tế Việt nam là cơ chế tỷ giá hối đoái.
       Với cơ chế tỷ giá danh nghĩa gần như cố định với đồng dollar Mỹ (USD), tỷ giá
thực của đồng Việt Nam (VNĐ) sẽ có biến động rất lớn nếu tình hình lạm phát tương đối
giữa Việt Nam và Mỹ thay đổi. Khi tỷ giá thực của VNĐ tăng lên, khả năng cạnh tranh
của hàng hóa Việt Nam sẽ giảm xuống nhanh chóng và cán cân thương mại sẽ xấu đi.
       Khi thâm hụt thương mại quá lớn các dòng vốn nước ngoài chảy vào không đủ để
bù đắp khoản thiếu hụt ngoại tệ, ngân hàng trung ương sẽ phải đối mặt với hai lựa chọn:
(i) bán ngoại tệ từ dự trữ quốc gia ra thị trường để duy trì tỷ giá hoặc (ii) phá giá đồng nội
tệ.
       Thường các nước chọn phương án (i) trước cho đến khi dự trữ ngoại tệ cạn kiệt thì
phải thực hiện phương án (ii). Tuy nhiên nếu chỉ vì thâm hụt thương mại quá lớn mà phải
phá giá thì tình hình không quá tổi tệ
       Trong bài thảo luận chính sách số 4 của nhóm nghiên cứu trường Đại học Havard
về kinh tế Việt Nam, nhóm này đề xuất Việt Nam nên từng bước giảm giá VNĐ để kích
thích phát triển kinh tế như một số quốc giá châu Á khác đã làm ,nhóm nghiên cứu đã
xem xét trong điều kiện kinh tế của Việt Nam. Bản báo cáo của nhóm Havard đã phân
tích và đưa ra nhiều mặt tích cực cũng như tiêu cực cực chính sách giảm giá này.Như vậy
nhóm Havard đã ủng hộ đề xuất giải quyết thâm hụt thương mại theo cách (ii). Từ đây
cũng dấy lên một số quan điểm của các chuyên gia kinh tế ,các tổ chức trong và ngoài
nước đề nghị Việt Nam nên giảm giá hay phá giá VNĐ .



                                          -Trang 3 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế              Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32



       Vấn đề phá giá nội tệ chỉ trở nên tồi tệ khi nó đi cùng với một cuộc khủng hoảng
cán cân thanh toán, đôi khi còn được gọi là khủng hoảng tiền tệ. Không may là đa số các
trường hợp gần đây, nhất là ở các nước đang phát triển, việc Ngân hàng Trung ương phải
phá giá nội tệ thường đi kèm khủng hoảng cán cân thanh toán.
       Với tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay thì việc phá giá đồng tiền có phù hợp hay
không?Quan điểm của nhóm Havard có là đúng? Nhóm chúng em với đề tài “Nghiên
cứu về đề xuất giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế của Nhóm Nghiên cứu
Harvard “ xin nêu ra quan điểm của mình trước những quan điểm trái chiều nhau ,ủng hộ
hay không ủng hộ việc phá giá.




                                       -Trang 4 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế              Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

I. Kiến thức cơ bản về phá giá đồng tiền:
1.     Khái niệm phá giá đồng tiền:
       Phá giá: là chủ động làm giảm đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ, nghĩa là làm tăng
lên tỷ giá hối đoái danh nghĩa.
2. Phân loại:
       a) Phá giá tiền tệ:
       Để phá giá là NHTW bỏ một lượng nội tệ ra để mua ngoại tệ vào.
       Tác động của chính sách diễn ra theo 2 hướng làm thay đổi kim ngạch xuất khẩu
và làm thay đổi lượng cung tiền:
       Khi phá giá, nếu các yếu tố khác không đổi thì sức cạnh tranh của hàng trong nước
tăng lên, khả năng xuất khẩu nhiều hơn và hạn chế nhập khẩu. Xuất khẩu tăng và nhập
khẩu giảm, một mặt giúp cải thiện cán cân thương mại, mặt khác làm gia tăng tổng cầu:
       Vì muốn phá giá nên NHTW phải bỏ một lượng nội tệ ra để mua ngoại tệ vào, thực
chất của việc này là phát hành thêm tiền vào nền kinh tế, tức làm tăng lượng tiền mạnh
(H), dẩn đến sự gia tăng về lượng cung tiền, làm giảm lãi suất, kích thích đầu tư và từ đó
làm tăng tổng cầu.
       Tuy nhiên điều cần lưu ý là việc phát hành thêm tiền vào nến kinh tế có thể làm gia
tăng lạm phát. giá cả các hàng hoá khác trong nước có thể tăng nhiều hơn cả mức độ phá
giá đồng tiền vì tâm lý mất long tin vào đồng nợi tệ đang mất giá, thay vì giữ tiền người
dân thích giữ hàng hoá hơn.
       b) Phá giá hối đoái:
       Để phá giá hối đoái chính phủ đơn phương tuyên bố phá giá nội tệ so với một
ngoại tệ (thường là ngoại tệ quan trọng nhất của thị trường), từ đó dưới tác động của các
lực thị trường được tạo ra từ nghiệp vụ kinh doanh chêng lệch giá sẻ làm cho các tỷ giá
khác tăng theo. Tác động cuối cùng của phá giá hối đoái là làm tăng tất cả các tỷ giá kích
thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu mà không làm tăng giá cả hàng hoá trong nước vì
không phải đưa thêm nội tệ vào lưu thông, không gây áp lực lạm phát. Riêng đối với
những hàng hoá có sử dụng nguyên liệu nhập khẩu giá cả có thể sẻ tăng đôi chút nhưng sẻ
thấp hơn mức phá giá đồng tiền.
                                        -Trang 5 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                  Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

         Phá giá hối đoái có thể tiếp tục phát huy tác dụng cho đến khi mất giá trong nước
tăng bằng mất giá đối ngoại của đồng tiền. Đồng thời tiền của nước mà hàng hoá xuất
sang không bị phá giá hoặc phá giá ở mức thấp.
         Phá giá hối đoái chỉ có thể xảy ra trong môi trường:
         i) Mất giá đối ngoại của đồng tiền phải cao hơn mất giá đối nội;
         ii) Các nước nhập khẩu hàng hoá của nước có đồng tiền bị phá giá không đồng
thời phá giá đồng tiền của mình, hoặc phá giá ở mức thấp hơn;
         iii) Các nước không dùng những biên pháp chống phá giá hoặc không áp dụng bán
phá giá hối đoái.
3. Mục đích của việc phá giá:
         NHTW áp dụng chính sách phá giá ngoại tệ nhằm mục đích: kích thích xuất khẩu,
hạn chế nhập khẩu nhằm cải thiện cán cân thương mại và chống suy thoái kinh tế (chính
sách mở rộng)
         Chính phủ sử dụng biện pháp phá giá tiền tệ để có thể nâng cao năng lực cạnh
tranh một cách nhanh chóng và hiệu quả khi nền kinh tế bị suy thoái vì khả năng cạnh
tranh kém nên cầu xuất khẩu ròng giảm dẫn đến tổng cầu giảm đi kèm với mức lạm phát
thấp kéo dài hoặc khi có một cú sốc mạnh và kéo dài đối với cán cân thương mại.
         Trong trường cầu về nội tệ giảm thì chính phủ sẽ phải dùng ngoại tệ dữ trữ để mua
nội tệ vào nhằm duy trì tỷ giá hối đoái và đến khi ngoại tệ dự trữ cạn kiệt thì không còn
cách nào khác, chính phủ phải phá giá tiền tệ.
         Tuy nhiên phá giá đồng tiền cũng có nh ững mặt trái của nó. Nếu nhìn bề ngoài, thì
việc phá giá đồng tiền trong nước làm tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu là điều có lợi.
Tuy nhiên, thực chất hành động đó có nghĩa là chúng ta đang bán rẻ sản phẩm cho nước
ngoài.
         Ví dụ: khi tỷ giá của VND và USD tăng từ 12.000 lên 15.000 thì giá tôm Việt Nam
(150.000đ/kg) bán cho Mỹ giảm từ 12,5USD/kg xuống còn 10USD/kg. Như vậy, mỗi kg
tôm xuất khẩu cho Mỹ mất 2,5USD. Trong khi đó, giá máy tính của Mỹ vẫn là
1000USD/1máy. Nếu trước đây bán 80kg tôm mua được 1 máy tính thì bây giờ bán
100kg tôm mới mua được 1 máy tính. Đây là sự thiệt hại của quốc gia.

                                          -Trang 6 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế               Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

       Vì giá hàng hóa nước ngoài trở nên đắt hơn nên chúng ta giảm tiêu dùng hàng
nước ngoài. Nếu đó là hàng không thể sản xuất trong nước được thì lợi ích tiêu dùng bị
mất mát rất lớn. Nếu đó là hàng có khả năng sản xuất trong nước, giả sử với chất lượng
tương đương nhau thì sẽ bị mất một khoản tổn thất vô ích do phải bù đắp cho chi phí biên
tăng thêm. Còn nếu chất lượng kém hơn thì ngoài tổn thất vô ích đó còn có thêm khoản
mất mát thứ hai từ lợi ích người tiêu dùng: phải tiêu dùng hàng kém chất lượng.
       Đặc biệt việc phá giá đồng tiền là làm mất niềm tin của người nước ngoài đối với
đồng tiền trong nước nói riêng và nền kinh tế nói chung. Sự bất ổn của tỷ giá hối đoái là
môi trường cho nhà đầu cơ nước ngoài thu lợi; các nhà sản xuất trong nước khó có đựoc
chiến lược lâu dài, luôn đứng trước tình trạng bấp bênh về giá cả và khả năng cạnh tranh
của hàng nội địa. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng ngại đầu tư vào một nước mà giá trị
đồng tiền không ổn định.
4. Tác động của việc phá giá đồng tiền đối với nền kinh tế.
       a) Trong ngắn hạn
       Khi giá cả và tiền lương tương đối cứng nhắc thì ngay lập tức việc phá giá tiền tệ
sẽ làm cho tỷ giá hối đoái thực tế thay đổi theo, nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia và
có xu hướng làm tăng xuất khẩu ròng vì hàng xuất khẩu rẻ đi một cách tương đối trên thị
trường quốc tế còn hàng nhập khẩu đắt lên tương đối tại thị trường nội địa. Tuy vậy có
những yếu tố làm cho xu hướng này không phát huy tức thì: các hợp đồng đã thoả thuận
trên cơ sở tỷ giá cũ, người mua cần có thời gian để điều chỉnh hành vi trước mức giá mới
và quan trọng hơn là việc dồn các nguồn lực vào và tổ chức sản xuất không thể tiến hành
nhanh chóng được. Như vậy trong ngắn hạn thì số lượng hàng xuất khẩu không tăng
mạnh và số lượng hàng nhập khẩu không giảm mạnh. Nếu giá hàng xuất khẩu ở trong
nước cứng nhắc thì kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng không nhiều đồng thời giá hàng nhập
khẩu tính theo nội tệ sẽ tăng lên do tỷ giá đã thay đổi dẫn đến cán cân thanh toán vãng lai
có thể xấu đi.




                                        -Trang 7 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                 Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

       b) Trong trung hạn
       GDP hay chính là tổng cầu gồm các thành tố chi cho tiêu dùng của dân cư, chi cho
đầu tư, chi cho mua hàng của chính phủ và xuất khẩu ròng. Việc phá giá làm tăng cầu về
xuất khẩu ròng và tổng cung sẽ điều chỉnh như sau:
      Nếu nền kinh tế đang ở dưới mức sản lượng tiềm năng thì các nguồn lực nhàn rỗi
sẽ được huy động và làm tăng tổng cung.
      Nếu nền kinh tế đã ở mức sản lượng tiềm năng thì các nguồn lực không thể huy
động thêm nhiều và do đó tổng cung cũng chỉ tăng lên rất ít dẫn đến việc tăng tổng cầu
kéo theo giá cả, tiền lương tăng theo và triệt tiêu lợi thế cạnh tranh của việc phá giá. Vì
thế trong trường hợp này, muốn duy trì lợi thế cạnh tranh và đạt mục tiêu tăng xuất ròng
thì chính phủ phải sử dụng chính sách tài chính thắt chặt (tăng thuế hoặc giảm mua hàng
của chính phủ) để tổng cầu không tăng nhằm ngăn chặn sự tăng lên của giá cả trong nước.
       c) Trong dài hạn
       Nếu như trong trung hạn, phá giá tiền tệ kèm theo chính sách tài chính thắt chặt có
thể triệt tiêu được áp lực tăng giá trong nước thì trong dài hạn các yếu tố từ phía cung sẽ
tạo ra áp lực tăng giá. Hàng nhập khẩu trở nên đắt tương đối và các doanh nghiệp sử dụng
đầu vào nhập khẩu sẽ có chi phí sản xuất tăng lên dẫn đến phải tăng giá; người dân tiêu
dùng hàng nhập khẩu với giá cao hơn sẽ yêu cầu tăng lương và gây áp lực làm cho tiền
lương tăng. Cuối cùng việc tăng giá cả và tiền lương trong nước vẫn triệt tiêu lợi thế
cạnh tranh do phá giá. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy lợi thế cạnh tranh do phá giá
bị triệt tiêu trong vòng từ 4 đến 5 năm.
5. Bài học tỷ giá từ Trung Quốc
       Ngày 21/7/2005, trong một thông cáo gây bất ngờ kinh tế toàn thế giới, Ngân hàng
trung ương Trung Quốc cho biết: hủy bỏ tỷ giá hối đoái cố định giữa đồng Nhân dân tệ và
đồng USD (8.28 NDT/USD) đã xác lập trong 10 năm kể từ 1994. Ngay sau đó đồng Nhân
dân tệ đã được cho tăng giá 2.1% ở mức 8.11 NDT/USD.
       Theo bà Dương Hồng Phương, Trưởng phòng Nghiên cứu kinh tế nước ngoài, Vụ
Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), câu chuyện phá giá đồng nhân dân tệ được bắt
nguồn từ đầu những năm 1990. Khi đó, 1 USD chỉ đổi được từ 5,8 đến 5,9 nhân dân tệ.

                                           -Trang 8 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

Tuy nhiên, bước sang 1993, Bắc Kinh cảm thấy phải có biện pháp hỗ trợ mạnh cho xuất
khẩu, một đòn bẩy quan trọng cho tăng trưởng kinh tế ở đất nước hơn 1 tỷ dân này. Trung
Quốc đã quyết định định giá lại đồng bản tệ, mà thực chất là làm cho nhân dân tệ trượt giá
tới 50%. Kể từ 1994 đến nay, Trung Quốc ấn định tỷ giá ngoại tệ ở mức 8,2-8,3
NDT/USD và coi đây là cơ chế tỷ giá thả nổi có kiểm soát. Tuy nhiên, dưới con mắt của
các chuyên gia tài chính quốc tế, thực chất đây là một tỷ giá cố định.
       Những năm đầu tiên sau khi đồng nhân dân tệ bị "cột chặt" vào USD, dư luận thế
giới vẫn chưa quan tâm nhiều đến tác động của nó đối với thương mại toàn cầu. Bởi lúc
đó, các nước G7 vẫn xoáy "mũi dùi" vào việc Nhật Bản định giá thấp đồng yên so với
đôla Mỹ. Tới nửa cuối 2001, kinh tế xứ hoa anh đào vẫn chưa thoát khỏi bĩ cực và để
đánh lạc hướng dư luận, Tokyo đã khởi xướng phong trào đòi định giá lại đồng nhân dân
tệ.
       Dư luận quốc tế bắt đầu chuyển hướng mạnh sang vấn đề này, khi mà các nước G7
cảm thấy mình ngày càng bị thiệt thòi vì chuyện đồng nhân dân tệ phá giá. Tác động lớn
nhất, theo các nước G7, chính là về mặt thương mại. Việc đánh tụt giá đồng nhân dân tệ
đã giúp hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc rẻ đi rất nhiều, có sức cạnh tranh mạnh trên
thị trường quốc tế. Nhờ vậy, trong nhiều năm Trung Quốc liên tục thặng dư thương mại.
Trong tổng số 500 tỷ USD thâm hụt thương mại của Mỹ, có tới 130 tỷ USD bắt nguồn từ
quan hệ buôn bán với Bắc Kinh. Nhật Bản, EU đều thặng dư thương mại nhưng khi giao
thương với Trung Quốc lại bị thâm hụt nặng nề.
       Việc định giá thấp đồng nhân dân tệ cũng mang lại nhiều lợi thế cho Trung Quốc
trong thu hút đầu tư. Trung Quốc đã thay thế Mỹ trở thành nước thu hút FDI (vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài) lớn nhất thế giới. Nếu như trước năm 2001, khi Trung Quốc chưa
gia nhập WTO, số vốn FDI đổ vào đất nước này mới là 6,5 tỷ USD thì đến năm 2002 đã
là 52 tỷ USD. Cuối năm ngoái, con số này là 53,5 tỷ USD và riêng 8 tháng đầu năm nay
đã lên tới 43,6 tỷ USD. Các chuyên gia dự báo, với đà này, số vốn FDI đổ vào Trung
Quốc dự kiến đạt 60 tỷ USD.
       Trong khi đó, thu hút FDI của Mỹ lại liên tục giảm. Nếu như năm 2001 đạt 144 tỷ
USD thì đến năm 2002 chỉ còn 86,6 tỷ USD. 6 tháng đầu năm nay, con số đó là 74 tỷ

                                         -Trang 9 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế              Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

USD, nhưng đến hết tháng 7 nó giảm xuống còn 64 tỷ USD. EU và Nhật Bản cũng rơi
vào tình trạng tương tự. Cùng với tình trạng sụt giảm FDI, khó khăn về việc làm cũng gia
tăng. Mỹ cho rằng kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO, Mỹ đã bị mất 2,6 triệu việc làm
và tỷ lệ thất nghiệp tại đây đã lên tới 5-6%. Tỷ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản và EU cũng tăng
cao, lần lượt là 5-6% và 8-9%.
       Cũng nhờ câu chuyện định giá đồng nội tệ, Trung Quốc đã tăng được một lượng
lớn dự trữ ngoại tệ.
       Trung Quốc hiện đã là "nông trại" và "công xưởng" của thế giới; theo dự đoán của
các chuyên gia, chỉ đến năm 2020 là Trung Quốc sẽ vượt qua Nhật Bản và đến năm 2040
sẽ vượt qua Mỹ để trở thành nước có quy mô GDP lớn nhất thế giới. Trung Quốc đang
giữ kỷ lục thế giới về số năm tăng trưởng liên tục (27 năm) và về tốc độ tăng trưởng cao
(cứ khoảng 8 năm là GDP tăng gấp đôi). Trung Quốc là nước có tỷ lệ tích lũy so với GDP
cao nhất thế giới và liên tục tăng lên (từ năm 2002 đã vượt qua mốc 40%, trong đó từ năm
2004 đã đạt 45%). Trung Quốc là nước có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ ba thế giới, chỉ
sau Đức, Mỹ và trong quan hệ buôn bán với nước ngoài, Trung Quốc luôn luôn ở vị thế
xuất siêu ngày một lớn. Thị phần xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc vừa lớn, vừa rộng
khắp không chỉ ở khu vực có mật độ cao về nhân công không có tay nghề mà ngay cả ở
khu vực có cường độ công nghệ lớn (chiếm 15% hàng nhập khẩu của Mỹ, 13% của châu
Âu). Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã đạt trên 900 tỉ USD, vượt qua Nhật Bản lên đứng
đầu thế giới.
       Từ sự tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc có thể rút ra nhiều bài học cho Việt
Nam.
       Thứ nhất, trong điều kiện xuất phát từ một điểm rất thấp, đất nước muốn chống
được tụt hậu xa hơn, sớm thoát khỏi nước kém phát triển và cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại thì phải tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và liên tục
trong thời gian dài. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam mặc dù đã đạt liên tục trong 25
năm, tốc độ tăng trưởng đã tương đối khá, một số năm đã đạt 8-9%, nhưng vẫn còn thấp
hơn Trung Quốc. Không phải không có lý giải khi có nhiều người đề nghị mục tiêu tăng
hai chữ số.

                                       -Trang 10 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                 Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

       Thứ hai, để tăng cao và liên tục, Trung Quốc đã có tỷ lệ tích lũy rất cao, trong khi
của Việt Nam dù đã tăng lên nhưng cũng mới đạt 35%, còn thấp xa Trung Quốc. Muốn
tăng tích lũy thì phải tiết kiệm tiêu dùng. Đành rằng, trong kinh tế thị trường, tiêu dùng
cũng là động lực của tăng trưởng, nhưng tiêu dùng của một bộ phận dân cư đã vượt xa cả
số làm ra thì nền kinh tế nào cũng không thể chấp nhận được. Trung Quốc có tốc độ tăng
trưởng cao, có dự trữ ngoại tệ lớn, nhưng có tỷ lệ tiêu dùng so với GDP mới đạt 54,1%,
thấp nhất thế giới, nhờ vậy mà hàng hóa của Trung Quốc tràn ngập thế giới; trong khi tỷ
lệ tiêu dùng so với GDP của Việt Nam lên trên 70%. Đáng lưu ý, tốc độ tăng tiền lương
trong các doanh nghiệp nhà nước cao hơn tốc độ tăng của năng suất lao động.
       Thứ ba, tăng lượng vốn là quan trọng, nhưng nâng cao hiệu quả đầu tư còn quan
trọng hơn nhiều. Lượng vốn đầu tư của Việt Nam thấp hơn Trung Quốc, nhưng hệ số
ICOR (suất đầu tư trên một đơn vị tăng trưởng) của Việt Nam tăng nhanh, từ 3,4 lần năm
1995, trong 5 năm qua đã tăng lên khoảng 5 lần (nghĩa là có 1 đồng GDP tăng thêm, cần
có thêm 5 đồng vốn đầu tư), cao gần gấp rưỡi của Trung Quốc. Hệ số ICOR của Việt
Nam cao chủ yếu do tình trạng lãng phí, thất thoát và đục khoét vốn đầu tư còn rất lớn.
Tình trạng tham nhũng ở Trung Quốc diễn ra phổ biến và nghiêm trọng, nhưng việc trừng
trị tham nhũng tại đây cũng rất nghiêm. Mỗi năm có hàng nghìn quan chức bị tử hình,
trong đó có những người giữ chức vụ rất cao.
       Để giảm độ nóng của tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc đang điều chỉnh lại việc đầu
tư, nhưng chủ yếu là giảm đầu tư vào các ngành phát triển quá nóng như sắt thép, nhôm,
xi măng, năng lượng, giáo dục, giao thông,...
       Thứ tư, theo nhận xét của các chuyên gia kinh tế trên thế giới, những nước đang
trong quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, từ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung bao cấp sang cơ chế thị trường cần phải rút ra những bài học kinh nghiệm cho mình
từ sự phát triển của Trung Quốc. Tính chất của tăng trưởng (phát sinh không phải từ đổi
mới công nghệ trong sản xuất mà từ gia công là chủ yếu, khiến phụ thuộc nhiều vào sự
đặt hàng từ bên ngoài); sức cạnh tranh còn thấp do năng suất sản xuất còn yếu kém; thị
phần trong xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khá lớn (59%). Có một
vấn đề quan trọng khác là sự phân bố và thụ hưởng kết quả của tăng trưởng giữa khu vực

                                        -Trang 11 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế               Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn có chênh lệch lớn, mà Trung Quốc cũng đang
phải rút ra và có sự điều chỉnh, nhưng không dễ dàng.
        Thứ năm, trong quan hệ buôn bán với nước ngoài, Trung Quốc luôn luôn ở vị thế
xuất siêu; mức xuất siêu ngày một lớn và thuộc loại nhất nhì thế giới. Việt Nam luôn ở vị
thế nhập siêu, tăng liên tục từ năm 2000 đến 2004 với mức đỉnh điểm gần 5,5 tỉ USD;
năm 2005 tuy đã giảm xuống nhưng vẫn còn trên 4,5 tỉ USD.
        Thứ sáu, mặc dù giá thế giới cao nhưng lạm phát ở Trung Quốc thuộc loại thấp
(bình quân năm trong thời kỳ 2001 - 2005 chỉ vào khoảng 1,3%) nhờ cung hàng hóa lớn
hơn cầu, sức mua của dân cư, đặc biệt là nông dân và vùng sâu trong nội địa còn thấp. Tỷ
giá giữa đồng nhân dân tệ của Trung Quốc với USD gần như cố định; gần đây, đồng nhân
dân tệ có tăng giá hơn chút ít mặc dù Mỹ liên tục đòi Trung Quốc tăng giá đồng nhân dân
tệ mạnh hơn nhiều.
6. Phá giá đồng tiền trong trong thời kỳ khủng hoảng tài chính- tiền tệ khu vực Đông
Nam Á (1997-1998).
        Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính Đông Nam Á, khi các nước trong khu vực đã
phá giá mạnh (như trường hợp của Indonesia, đồng tiền đã mất giá hơn 95%) dẫn đến việc
khan hiếm ngoại tệ và khó khăn trong xuất khẩu đối với Việt Nam, do đồng Việt Nam
trong giai đoạn trước lên giá tương đối cao so với các đồng tiền khác trong khu vực, đồng
thời cũng do nhu cầu mua ngoại tệ của các Ngân hàng trở nên cấp bách để thanh toán L/C
trả chậm và trả nợ vay nước ngoài và thị trường căng về ngoại tệ trong khi cán cân vãng
lai đã bội chi đến mức báo động. Vì thế Ngân hàng Nhà nước đã mở rộng biên độ giao
dịch lên ±5% giúp cho đồng tiền Việt Nam giảm giá 5%, tuy nhiên sức ép giảm giá vẫn
còn cao.
        Đồng thời công khai một cách nhanh chóng và chính xác các chỉ số kinh tế quan
trọng như tỷ giá hối đoái chính thức, tỷ giá thị trường, chỉ số giá, sự biến động giá
vàng…giúp hạn chế đầu cơ, giảm tâm lý hoang mang. Kèm theo đó là thông qua nhiều
hình thức, tốc độ, mức can thiệp để cải cách triệt để và dập tắt nguy cơ bùng nổ trở lại lạm
phát.


                                        -Trang 12 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế              Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

       Trong giai đoạn từ tháng 7/1997 đến đầu năm 1999, đồng Việt Nam vẫn bị định
giá cao khoảng 10%-40% so với các đồng tiền khác trong khu vực. Thực chất điều chỉnh
tỷ giá bằng cơ chế công bố tỷ giá chỉ đạo của NHNN gắn với biên độ quy định là nhằm
tránh công khai phá giá tiền tệ về danh nghĩa, nó giúp các Ngân hàng thương mại áp dụng
khá linh hoạt tỷ giá hối đoái thực tế tuỳ thuộc tình hình tiền tệ và mục tiêu chính sách
kinh tế chung. Còn tỷ giá hối đoái danh nghĩa vẫn thường xuyên được cố định trong
khoảng 10.890 – 11.175 VND/USD tính đến cuối năm 1997.
       Nếu quá ỷ lại vào biên độ tỷ giá, thay vì điều chỉnh hợp lý tỷ giá hối đoái chính
thức sẽ buộc NHNN thường xuyên điều chỉnh biên độ này. Điều đó NHNN khó có thể
kiểm soát được trạng thái ngoại hối của các NHTM. Hơn nữa, nguồn ngoại tệ trong và
ngoài luồng chính thức thường xuyên hoà trộn vào nhau, đầu cơ chênh lệch tỷ giá kiếm
lời nảy sinh. Ví dụ, vào quý IV năm 1997, tỷ giá hối đoái công bố của NHNN suốt hơn
một năm là 11.170-11.175 VND/USD, với biên độ được phép là ±10% thì giá giao dịch
thường xuyên của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là từ 12.292-12.293 VND/USD.
Chênh lệch thấp tới khoảng 7-8% so với tỷ giá thực tế thị trường (tỷ giá hối đoái thị
trường đã vọt lên mức trên 13.000 VND/USD từ tháng 11/1997).
Đơn vị tính: Đồng/USD
                                             1997                          1998
   Tháng
                                     Mua             Bán         Mua           Bán
   1                                 11300           11331       13115         13197
   2                                 11384           11463       13254         13383
   3                                 11552           11592       13048         13122
   4                                 11656           11683       12978         13010
   5                                 11670           11696       12980         13002
   6                                 11644           11664       13030         13065
   7                                 11667           11689       13022         13050
   8                                 11698           11724       13877         13999
   9                                 11817           11851       14416         14510


                                       -Trang 13 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                 Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

   10                                 12048             12126        14041        14089
   11                                 12706             12758        13897        13899
   12                                 13311             13431        13900        13929

Mất giá tháng 12 so với tháng 1       17,80%            18,50%       6,00%        5,50%

                  Hình 1: Tỷ giá hối đoái VND/USD trong 2 năm1997-1998
                           (Tỷ giá thị trường trung bình trong tháng)
                     (Nguồn: Báo cáo thường niên NHNN, 1997 và 1998)
        Hiện tượng đầu cơ và nắm giữ ngoại tệ đã gây căng thẳng giả tạo đối với cung cầu
ngoại tệ và làm phức tạp quản lý của nhà nước. Nhà nước đã giải quyết các bất hợp lý này
bằng cách điều chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Với việc nới rộng thêm nữa biên độ giao
dịch tỷ giá là hết sức nguy hiểm. Kinh nghiêm Thái Lan sau khi mở biên độ giao dịch lên
25% (khoảng trước ngày 1 tháng 7 năm 1997) đã nhanh chóng rơi vào hoảng loạn hối
đoái thực sự, khiến Ngân hàng Trung ương (BOT) nước này tiêu tốn gần 12 tỷ USD để
can thiệp duy trì biên độ mà không đem lại hiệu quả. Vì thế NHNN Việt Nam đã quay trở
lại điều chỉnh tỷ giá hối đoái chính thức từ 11.175 lên 11.800 VND/USD giúp giảm bớt
mức độ bị đánh giá cao của VND, tạo điều kiện rút ngắn khoảng cách chênh lệch về tỷ giá
giữa thị trường liên Ngân hàng và thị trường tự do. Tuy có những lúc tỷ giá tăng cao
nhưng nhanh chóng ổn định.
        Ngày 7/8/1998, NHNN đã tiếp tục phá giá 9,2% đồng Việt Nam thông qua việc thu
hẹp biên độ giao dịch ngoại tệ từ ±10% xuống 7%, đồng thời nâng tỷ giá chính thức từ
11.815VND/USD lên 12.998VND/USD. Tỷ giá đó được ấn định trên trên cơ sở tỷ giá
mua bán trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nên sẽ phản ánh sát hơn tương quan cung
cầu ngoại tệ trên thị trường. Điều đó giúp cho thị trường liên ngân hàng giao dịch sôi
động hơn.
                                       04/04/1                          %     giảm       giá
        TT       Đồng tiền                              02/06/1998
                                    997                              của các đồng tiền
        1        Yên Nhật              124              139,54          -12,53
        2        Mác Đức               1,685            1,7831          -5,82

                                          -Trang 14 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                   Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

       3         Đôla Australia          1,27            1,6345           -28,70
       4         Đôla                    1,44            1,69             -17,36
       5         Đôla Canada
              Singapore                  1,441           1,4577           -1,16
       6         France Pháp             5,676           5,978            -5,32
       7         France      Thuỵ        1,44            1,4771           -2,58
       8      Sĩ Bảng Anh                0,612           0,6107           0,21
       9         Bath Thái               25,99           42,45            -63,33
       10        Won          Hàn        1413            1401             0,85
       11     Quốc
                Rupiad                   3325            11750            -253,38
       12     Indonesia
                 Ringgit                 3,1316          3,9625           -26,53
       13     Malaysia
                Peso                     39,56           39,5             0,15
       14        Đôla Đài
              Philippines Loan           33,42           34,385           -2,89
       15        Rupi Ấn Độ              36,33           40,64            -11,86
       16        Nhân dân tệ             8,297           8,2795           0,21
       17     TQĐồng          Việt       11665           12985            -11,32
 Hình 2: Tỷ giá một số ngoại tệ trong thời gian khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở khu vực
            Nam
                                    Đông Nam Á 1997-1998
                                  (Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
       Trong thời gian 2 năm 1997, 1998 đồng Việt Nam mất giá khoảng 23% (tỷ giá
mua vào) và 22,93% (tỷ giá bán ra) trong 2 năm (hình 1), nhưng so với tốc độ mất giá của
các đồng tiền khác thì đồng Việt Nam lại lên giá (hình 2). Có thể nói tỷ giá VND/USD
tương đối ổn định trong giai đoạn này, điều đó giúp nền kinh tế Việt Nam đã ổn định và
phát triển.
       Cuối năm 1998, doanh số mua bán ngoại tệ liên tục tăng đã ổn định tốt hơn tỷ giá
hối đoái, chênh lệch về tỷ giá giữa thị trường liên Ngân hàng và thị trường tự do được
giảm thiểu khá thấp (dưới 1%) có tác động tích cực đến tình hình tiền tệ chung.
       Ta thấy rằng thay đổi thường xuyên hay cố giữ tỷ giá đều gây ra những tác động
không tốt đến tâm lý thị trường vì thế cần có một cơ chế điều chỉnh hợp lý để tránh những
biểu hiện bất thường của nền kinh tế.
                                          -Trang 15 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế             Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32



II. Phân tích tác động của việc phá giá VND đối với nền kinh tế.
1. Tác động tích cực
       a) Quan điểm của nhóm nghiên cứu Harvard
       Theo tính toán của nhóm nghiên cứu, tỷ giá hiệu dụng thực của VND đã giảm
trong giai đoạn 2000 - 2003, nhưng sau đó đã tăng gần như liên tục (trừ một giai đoạn
giảm giá ngắn trong nửa đầu 2006) khi lạm phát bắt đầu tăng nhanh.
       Tỷ giá thực của VND vào thời điểm tháng 9/2008 đã cao hơn mức của tháng
1/2000 là 20% và cao hơn mức của tháng 1/2004 tới 33%. Và xu hướng tăng tỷ giá thực
của VND vẫn được duy trì trong 3 tháng cuối năm 2008 do đồng USD mạnh lên so với
đồng EURO, cũng như với hầu hết các đồng tiền của châu Á.




             Hình 3: Chỉ số tỷ giá hiệu dụng thực (Tháng 1/2000 - Tháng 9/2008)
   (Nguồn: Tính toán của các tác giả dựa vào số liệu của Tổng cục Thống kê và Thống kê
                                                              Tài chính Quốc tế - IMF).

                                      -Trang 16 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32


       Báo cáo nghiên cứu của Harvard nhận định, trong hai năm 2007 và 2008, Việt
Nam đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài. Đồng thời, để đạt mục tiêu tăng
trưởng cao, Chính phủ đã không ngừng đẩy mạnh đầu tư. Hệ quả của hai sự kiện này làm
thâm hụt ngân sách nặng nề, thâm hụt thương mại kỷ lục và nền kinh tế trở nên quá nóng.
       Một nguyên nhân của tình trạng thâm hụt thương mại là VND đã trở nên quá mạnh
so với các đồng tiền của các đối tác thương mại chủ yếu.
Khi đồng tiền được định giá cao, nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn còn xuất khẩu trở nên đắt
hơn, do vậy lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu sẽ giảm. Là một nền kinh tế dựa nhiều vào
xuất khẩu và ngày càng mở cửa đối với nhập khẩu nên Việt Nam không thể giữ tỷ giá
thực của VND quá cao trong một thời gian quá dài, đặc biệt trong bối cảnh suy giảm toàn
cầu năm 2009.
       Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cho rằng thâm hụt thương mại của Việt Nam hiện
rất cao. Việc đơn giản tăng chi tiêu của Chính phủ trong khi giữ tỷ giá cố định sẽ nới rộng
thâm hụt thương mại trong khi không giúp kích cầu nội địa đáng kể. Không những thế,
các doanh nghiệp trong nước sẽ phải chịu rủi ro cạnh tranh hàng nhập khẩu rẻ tiền.
Với những phân tích trên, Bản thảo luận chính sách số 4 của nhóm nghiên cứu Harvard
cho rằng Chính phủ cần ưu tiên cao cho việc từng bước giảm giá VND và chú trọng đúng
mức tới xu thế và mức tỷ giá hiệu dụng thực.
       b) Nhiều quốc gia khác đã sử dụng phá giá đồng nội tệ của họ (Quan điểm phá giá
tiền tệ để gia tăng xuât khẩu) :
       Không ít các nền kinh tế ở châu Á tỏ ra hài lòng khi đồng tiền này mất giá, thậm
chí còn muốn tận dụng việc đồng NDT mất giá để “nổ phát súng” trong “chiến dịch làm
mất giá ngoại tệ” ở các nước để bảo vệ xuất khẩu. Trong đó, Hàn Quốc và Nhật Bản thể
hiện rất rõ tình trạng này.
       Ngày 19/02, tỷ giá hối đoái trên thị trường Seoul là 1471Won/USD, trong 8 phiên
liên tiếp liên tục mất giá. Trong khi đó, vào ngày 17, Viện nghiên cứu kinh tế Samsung dự
đoán, tỷ giá giữa đồng Won và USD nửa đầu năm nay sẽ duy trì ở mức khoảng
1400Won/USD. Còn ngày 13/03 năm ngoái, tỷ giá hối đoái giữa Won và USD chỉ có

                                        -Trang 17 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                  Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

978,7Won/1USD. Mất giá đồng Won đã thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu của Hàn Quốc.
Mặc dù chịu ảnh hưởng của cơn bão tài chính, tiêu dùng trên các thị trường chính như Mỹ
và Trung Quốc bị thu hẹp, lượng giao dịch toàn cầu bị giảm mạnh, tuy nhiên hàng xuất
khẩu chủ yếu của Hàn Quốc như ti vi, bán dẫn, điện thoại di dộng, màn hình tinh thể lỏng,
xe hơi, đóng tàu vẫn chiếm ưu thế trên thị trường thế giới.
       Chính phủ và giới thương nhân Nhật Bản rất mong “làm mất giá” đồng Yên Nhật
để thúc đẩy xuất khẩu. Quý IV/2008, xuất khẩu của Nhật Bản giảm 13,9%, mức thấp nhất
trong lịch sử. Viện nghiên cứu Hamamatsu (Nhật Bản) ngày 18/02 đã đưa ra báo cáo
doanh thu năm của các công ty đã lên sàn chứng khoán. Theo báo cáo, do đồng Yên tăng
đã khiến thâm hụt kinh doanh cho ngành điện tử, xe hơi. Tháng 11, 12/2008, doanh số
tiêu thụ của ngành chế tạo giảm 14,5% so với cùng kỳ năm 2007. Do đó, chính phủ Nhật
Bản vẫn đang xem xét việc can thiệp thế nào để thúc đẩy xuất khẩu. Gần đây, đồng Yên
cũng bị mất giá.
       c) Xét về ảnh hưởng trực tiếp, nếu giảm giá VND trong năm 2009 sẽ có ảnh hưởng
tích cực tới các doanh nghiệp xuất khẩu.
       Năm 2009 được xác định là một năm tương đối khó khăn với ngành thủy sản khi
các thị trường chính như Mỹ, Nhật, châu Âu đều có khả năng thu hẹp do ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng kinh tế và việc các đồng tiền của các nước cạnh tranh chính trong xuất
khẩu thủy sản với Việt Nam đều giảm giá mạnh trong thời gian qua.
       Việc điều chỉnh tỷ giá sẽ có ảnh hưởng rất tích cực tới các doanh nghiệp thủy sản
trong việc tiếp tục duy trì sức cạnh tranh trong năm 2009 như thủy sản Nam Việt (ANV)
và thủy sản Vĩnh Hoàn (VHC). Hiện ngành thủy sản cũng đang có đề nghị tiếp tục nới
rộng biên độ tỷ giá để hỗ trợ xuất khẩu.
       Cũng như ngành thủy sản, các doanh nghiệp dệt may và giày dép sẽ được hưởng
lợi từ việc giảm giá VND trong năm 2009. Trong những tháng cuối năm 2008, kim ngạch
ngành dệt may giảm mạnh một phần do VND tăng tương đối so với các đồng tiền của các
nước xuất khẩu khác như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia...
       Nhưng, được hưởng lợi lớn nhất trong việc giảm giá VND có lẽ sẽ là ngành dầu
khí. Với tỷ giá liên ngân hàng hiện nay, ngành dầu khí sẽ thu thêm được khoảng 2.500 tỷ

                                           -Trang 18 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                    Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

đồng từ tỷ giá trong năm tới, còn nếu tỷ giá được điều chỉnh 5%, tương đương với việc
ngành dầu khí sẽ thu được thêm khoảng 4.500 tỷ đồng.
2. Tác động tiêu cực.
       a) Quan điểm của nhóm nghiên cứu Harvard
Trong bảng báo cáo của mình, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra những rủi ro gặp phải khi
thực hiện chính sách giảm giá:
       Thứ nhất, nhiều công ty của Việt Nam đã vay USD từ các ngân hàng trong nước và
quốc tế. Nếu nguồn thu nhập chính của họ bằng VND nhưng lại phải trả nợ bằng USD thì
khi tỷ giá USD/VND tăng, lợi nhuận của các doanh nghiệp này sẽ giảm, thậm chí một số
doanh nghiệp có thể không trả được nợ và ngân hàng phải chịu thêm nhiều khoản nợ xấu.
Vì lý do này, việc điều chỉnh tỷ giá nên tiến hành theo từng bước và NHNN phải phát đi
những tín hiệu rõ ràng để những người vay ngoại tệ có thời gian điều chỉnh.
       Thứ hai là lạm phát. Giá nội tệ giảm làm hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn một cách
tương đối. Khi ấy, nếu các nhà sản xuất trong nước có thể cung cấp những hàng hóa thay
thế hàng nhập khẩu với giá rẻ hơn thì người tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ chuyển sang
mua những hàng hóa này.
       Tuy nhiên, thực tế là nhiều hàng hóa mà người dân và doanh nghiệp Việt Nam cần
trong nước lại không sản xuất được, hay nếu sản xuất được thì với mức giá cao hơn hay
chất lượng thấp hơn hàng nhập khẩu. Kết quả là nền kinh tế sẽ “nhập khẩu” lạm phát từ
bên ngoài khi VND giảm giá. đây là một nguyên nhân khiến cho việc tăng thâm hụt ngân
sách tại thời điểm này trở nên rất rủi ro.
       Nếu áp lực lạm phát cao trở lại, việc giảm giá VND sẽ dẫn tới tình trạng leo thang
giá cả. đối với một nền kinh tế nhỏ và mở như Việt Nam, chính sách giảm giá đồng nội tệ
tỏ ra hợp lý hơn việc gia tăng thâm hụt ngân sách. Nếu hai điều này xảy ra cùng một lúc
thì lạm phát sẽ còn tăng nhanh hơn nữa.
       Thứ ba, tỷ giá USD/VND có thể bị “tăng quá mức” khi người trong nước và các
nhà đầu tư nước ngoài mất niềm tin vào khả năng quản lý cung tiền của các cơ quan điều
hành chính sách tiền tệ. Người dân và doanh nghiệp sẽ tranh nhau mua ngoại tệ mạnh hay
vàng khi đồng nội tệ bắt đầu mất giá.

                                             -Trang 19 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế               Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

       Khi ấy, trong nỗ lực bảo toàn tài sản, người ta có thể chấp nhận trả một mức giá
cao bất thường miễn là mua được ngoại tệ, và không một mức lãi suất nào đủ cao để kéo
họ trở lại với đồng nội tệ. Vì lý do này, chính phủ không thể vừa cắt lãi suất vừa giảm giá
đồng tiền.
       Người tiết kiệm bằng VND phải được hưởng lãi suất cao hơn để bù đắp cho việc
VND mất giá. Nói cách khác, tốc độ giảm giá hàng năm của VND phải phản ánh sự khác
biệt về lãi suất tiết kiệm giữa USD và VND.
       b) Ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu:
       Bên cạnh những ảnh hưởng tới các doanh nghiệp xuất khẩu thì việc giảm giá VND
sẽ tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp nhập khẩu và các doanh nghiệp vay bằng ngoại
tệ.
       Cụ thể, với ngành dược, do phải nhập khẩu tới 90% nguyên liệu từ nước ngoài, tỷ
giá USD/VND nếu tăng sẽ ảnh hưởng lớn tới chi phí đầu vào của ngành dược.
       Trong khi đó, việc tăng giá thuốc sẽ tương đối khó khăn khi ngành chịu sự quản lý
chặt chẽ của Cục Quản lý dược. Những công ty có nguồn dược liệu trong nước sẽ chịu
ảnh hưởng thấp hơn từ tăng tỷ giá.
       Đối với ngành sữa, hiện tại, các công ty sữa cũng đang nhập khẩu trên 80% nguyên
liệu đầu vào từ nước ngoài và tỷ giá chắc chắn cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới ngành.
       Ngành thép đang trong tình trạng dư thừa ngắn hạn trên toàn thế giới khiến nhiều
nước phải tìm cách xuất khẩu thép dư thừa trong thời gian qua. Tình hình tương tự cũng
đang diễn ra ở Việt Nam.
       Trên thực tế, trong ngắn hạn, tỷ giá tăng là một lợi thế cho các doanh nghiệp trong
nước trong việc giải quyết hàng tồn kho do giá thép nhập khẩu sẽ kém cạnh tranh hơn.
       Tuy nhiên, về dài hạn, do ngành thép vẫn chủ yếu nhập phôi thép từ nước ngoài, tỷ
giá tăng sẽ có ảnh hưởng tới chi phí đầu vào của ngành thép và các doanh nghiệp trên sàn
(HPG, HSG, KKC, VGS...).
       Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vay bằng ngoại tệ sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ
việc giảm giá VND với mức độ khác nhau. Nhiều công ty của Việt Nam đã vay USD từ
các ngân hàng trong nước và quốc tế. Nếu nguồn thu nhập chính của họ bằng VND nhưng

                                        -Trang 20 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                    Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

lại phải trả nợ bằng USD thì khi tỷ giá USD/VND tăng, lợi nhuận của các doanh nghiệp
này sẽ giảm, thậm chí một số doanh nghiệp có thể không trả được nợ và ngân hàng phải
chịu thêm nhiều khoản nợ xấu.
       Chẳng hạn như PPC với khoản vay khoảng 35-37 tỷ Yên Nhật (gần 400 triệu
USD). Bất kỳ sự tăng giá nào của USD so với VND (và của JPY so với USD) và ngược
lại sẽ có ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận năm 2009 của PPC.
       Việc tăng tỷ giá đương nhiên sẽ là điều cần cân nhắc, bởi nó khiến khoản nợ tính
theo VND tăng lên. Nhưng đó cũng chỉ là một lý do, số nợ so với kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam năm 2008 là hơn 60 tỷ USD, gấp nhiều lần số nợ phải trả.
       Giá nội tệ giảm làm hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn một cách tương đối. Khi ấy,
nếu các nhà sản xuất trong nước có thể cung cấp những hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu
với giá rẻ hơn thì người tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ chuyển sang mua những hàng hóa
này.
       Tuy nhiên, thực tế là nhiều hàng hóa mà người dân và doanh nghiệp Việt Nam cần
trong nước lại không sản xuất được, hay nếu sản xuất được thì với mức giá cao hơn hay
chất lượng thấp hơn hàng nhập khẩu. Kết quả là nền kinh tế sẽ “nhập khẩu” lạm phát từ
bên ngoài khi VND giảm giá. đây là một nguyên nhân khiến cho việc tăng thâm hụt ngân
sách tại thời điểm này trở nên rất rủi ro.
       Nếu áp lực lạm phát cao trở lại, việc giảm giá VND sẽ dẫn tới tình trạng leo thang
giá cả. đối với một nền kinh tế nhỏ và mở như Việt Nam, chính sách giảm giá đồng nội tệ
tỏ ra hợp lý hơn việc gia tăng thâm hụt ngân sách. Nếu hai điều này xảy ra cùng một lúc
thì lạm phát sẽ còn tăng nhanh hơn nữa
       Tỷ giá USD/VND có thể bị “tăng quá mức” khi người trong nước và các nhà đầu
tư nước ngoài mất niềm tin vào khả năng quản lý cung tiền của các cơ quan điều hành
chính sách tiền tệ. Người dân và doanh nghiệp sẽ tranh nhau mua ngoại tệ mạnh hay vàng
khi đồng nội tệ bắt đầu mất giá.
       Khi ấy, trong nỗ lực bảo toàn tài sản, người ta có thể chấp nhận trả một mức giá
cao bất thường miễn là mua được ngoại tệ, và không một mức lãi suất nào đủ cao để kéo


                                             -Trang 21 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế               Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

họ trở lại với đồng nội tệ. Vì lý do này, chính phủ không thể vừa cắt lãi suất vừa giảm giá
đồng tiền..
       Việc không tính được kết quả, đương nhiên khiến một quyết định có thể dẫn đến
nhiều hậu quả không mong muốn. Một kịch bản xấu có thể trông thấy ngay được đó là chỉ
cần tuyên bố phá giá VND, người dân chắc chắn sẽ đổ xô đi mua ngoại tệ. Kinh nghiệm
Thái Lan năm 1997 cho thấy, khi đó cung - cầu ngoại tệ mất cân đối nghiêm trọng, tỷ giá
sẽ tăng vượt tầm kiểm soát.
       Đó là chưa kể tới, khi dân giữ quá nhiều ngoại tệ thì mức độ đô la hóa kinh tế tăng
cao, chính sách tiền tệ sẽ giảm hiệu lực, hậu quả sẽ không hề đơn giản.
       Một vấn đề nữa là mặc dù phá giá đồng nội tệ sẽ khuyến khích xuất khẩu, nhưng
trong điều kiện khó khăn hiện nay, chưa hẳn xuất khẩu sẽ tăng khi phá giá đồng nội tệ.,
thậm chí còn có mặt trái của nó.
       Thứ nhất, chúng ta cần biết rằng giảm giá VND để có lợi cho xuất khẩu nhưng lại
là thiệt hại cho nhập khẩu, trong khi chúng ta đang là một nước nhập siêu.
       Thứ hai, giảm giá VND hiện nay sẽ làm nguồn cung ngoại tệ thiếu thốn, dẫn đến
giá cả tăng cao và hệ quả là giảm cầu tiêu dùng.
       Thứ ba, nền kinh tế chúng ta đang nóng nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế hiện tại
là liều thuốc làm "nguội" rất tốt, nó đã đánh thức nhiều nhà đầu tư, làm cho họ cân nhắc
hơn khi quyết định đầu tư.
       c) Vấn đề “Đôla hóa”
       “Đôla hóa” là một l do khác làm cho việc nới lỏng tiền tệ không kích thích được
nền kinh tế ở Việt Nam. Việc hạ thấp lãi suất tiền đồng khiến người gởi tiền đang có tài
khoản tiết kiệm tiền đồng chuyển sang giữ vàng hay Đôla, với tác động là giảm cầu tiền.
Sự bất cân đối giữa cung và cầu tiền đông fsex tạo ra lạm phát, và nhu cầu Đola tăng sẽ
tạo áp lực khiến tiền đồng bị mất giá. Chúng ta biết rằng khoảng 25% vốn vay ngân hàng
ở Viêt Nam là bằng Đôla chứ không phải tiền VND. Sự giảm giá mạnh và bất ngờ của
tiền đồng so với Đôla sẽ gây khó khăn cho việc trả nợ của nhiều đối tượng đi vay này.
Điều này có thể gây rắc rối cho hệ thống ngân hàng, vốn dĩ đang chật vật với tỷ lệ nợ khó
đòi cao.

                                        -Trang 22 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế              Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

III. Thực trạng kinh tế Việt Nam trước quyết định phá giá.
1. Tình hình cán cân thanh toán:
       Điểm qua báo cáo về tình hình cán cân Ngoại thương Việt Nam năm 2008:
Xuất khẩu:




                      Hình 3: Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu 2008:
       Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu tháng 12/2008 ước tính đạt 4,9 tỷ USD, tăng 16,2%
so với tháng trước chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác tăng, mức tiêu thụ hàng dệt
may mạnh hơn vào tháng cuối năm và lượng gạo xuất khẩu đã tăng trở lại. Tính chung cả
năm 2008, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với
năm 2007, bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô đạt 34,9 tỷ USD,
tăng 25,7%, đóng góp 49,7% vào mức tăng chung của xuất khẩu; khu vực kinh tế trong
                                       -Trang 23 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế              Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, đóng góp 50,3%. Trong tổng kim ngạch hàng hoá xuất
khẩu năm 2008, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng 31%, nhóm
hàng nông sản chiếm . 16,3%. Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của các loại
hàng hoá đều tăng so với năm 2007, chủ yếu do giá trên thị trường thế giới tăng
Nhập khẩu:




                         Hình 4: Tỷ trọng các mặt hàng nhập khẩu 2008:



                                       -Trang 24 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế             Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

       Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu tháng 12/2008 ước tính đạt 5,4 tỷ USD, tăng
16,1% so với tháng trước do một số mặt hàng nhập khẩu tháng này tăng mạnh là: Máy
móc thiết bị tăng 272 triệu USD; xăng dầu tăng 78 triệu USD; thức ăn gia súc tăng 53
triệu USD; sắt, thép tăng 182 triệu USD. So với tháng 12/2007, kim ngạch nhập khẩu
tháng 12 năm nay giảm 25%. Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu
ước tính 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế trong nước
đạt 51,8 tỷ Trong tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2008, tư liệu sản xuất chiếm
88,8%; hàng tiêu dùng chiếm 7,8%; vàng chiếm 3,4% (năm 2007 tỷ trọng của 03 nhóm
hàng này tương ứng là: 90,4%; 7,5%; 2,1%). Nếu loại trừ yếu tố tăng giá của một số mặt
hàng thì kim ngạch nhập khẩu năm nay chỉ tăng 21,4% so với năm 2007.USD, tăng
26,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng 31,7%.
       Điểm đáng chú ý là trong năm 2008, lần đầu tiên tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
vượt tốc độ tăng trưởng nhập khẩu (29,5% so với 27,5%); năm 2007 tốc độ tăng trưởng
nhập khẩu tăng 35,6%, trong khi xuất khẩu là 12,7%. Đây là một thuận lợi góp phần ổn
định cán cân thương mại, hỗ trợ kiềm chế nhập siêu.
       Dù thị trường hiện đang chịu nhiều áp lực nhưng cán cân thanh toán tổng thể của
Việt Nam hiện vẫn có thặng dư khoảng 1 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm 2008.
       Tỷ giá của mỗi đồng tiền còn phụ thuộc vào cán cân thanh toán và mặc dù trên
thực tế, chúng ta đang bị thâm hụt thương mại và Chính phủ cũng đang nỗ lực để điều
chỉnh. Tuy nhiên, tổng thể cán cân thanh toán còn được bù đắp bằng những nguồn vốn
khác. Do đó, đến thời điểm này, tổng thể cán cân thanh toán của Việt Nam được dự báo là
vẫn thặng dư.
Tình hình xuất nhập khẩu trong quý I năm 2009
       Bản đánh giá tình hình kinh tế Đông Á và Việt Nam năm 2008 cũng như triển
vọng năm 2009 được Ngân hàng thế giới (WB) công bố hôm 10-12 cho thấy, mức thâm
hụt tài khoản vãng lai năm 2008 của Việt Nam chiếm khoảng 13% GDP, trước khi có thể
sút giảm vào năm 2009. Thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam đã bắt đầu giảm sau
khi đột ngột tăng cao vào 6 tháng đầu năm 2008, điều này phản ánh tốc độ tăng trưởng
nhập khẩu chậm lại do các biện pháp thắt chặt của Chính phủ và sự tăng trưởng xuất khẩu

                                      -Trang 25 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế               Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

mạnh mẽ. Tuy nhiên, tính cả năm, thâm hụt tài khoản vãng lai vẫn có thể tăng từ mức
10% GDP năm 2007 lên 13% GDP năm 2008 trước khi sút giảm vào năm 2009.
       Mặt khác, Theo Tổng cục Thống kê, xuất khẩu tháng 1/2009 chỉ đạt gần 3,8 tỷ
USD, giảm tới 18,6% so với tháng 12/2008, nhập khẩu tháng 1/2009 cũng giảm rất mạnh,
tới 41,2% so với tháng trước đó và chỉ còn hơn 3,3 tỷ USD. Như vậy, xuất siêu của Việt
Nam trong tháng 1/2009, lần đầu tiên kể từ sau tháng 1/2006, đạt khoảng 467 triệu USD.
Cán cân thương mại tháng 1/2009 đã “đảo chiều” so với dự báo được Tổng cục Thống kê
công bố trước đó là: xuất khẩu ước khoảng 3,8 tỷ USD và nhập khẩu dự kiến đạt 4,1 tỷ
USD, nhập siêu ước khoảng 300 triệu USD.
       Kết luận: Qua những kết quả báo cáo và kết luận trên, chúng ta nhận thấy tỷ giá
của mỗi đồng tiền còn phụ thuộc vào cán cân thanh toán và mặc dù trên thực tế, chúng ta
đang bị thâm hụt thương mại và Chính phủ cũng đang nỗ lực để điều chỉnh. Tuy nhiên,
tổng thể cán cân thanh toán còn được bù đắp bằng những nguồn vốn khác. Do đó, đến
thời điểm này, tổng thể cán cân thanh toán của Việt Nam được dự báo là vẫn thặng dư. Rõ
ràng, mục đích của phá giá đồng tiền là cải thiện cán cân thanh toán, cụ thể là cán cân
thương mại, cán cân vãng lai…. khi chúng rơi vào tình trạng thâm hụt trầm trọng .Tuy
nhiên các cán cân thanh toán của chúng ta vẫn tương đối tốt nên chưa có lý do gì để thực
hiện chứng sách phá giá tiền tệ. Mặc dầu chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn cầu 2008, xuất khẩu của Việt Nam bị ảnh hưởng đáng kể nhưng về cơ bản,Việt Nam
vẫn là một quốc gia nhập siêu và tình hình chênh lệch giữa xuất và nhập chưa thấy có
dấu hiệu bất hợp lý hay bị ảnh hưởng nặng nề .Việc một số các quốc gia khác như Thái
Lan, Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc…. phá giá đồng tiển của họ khiến năng lực cạnh
tranh xuất khẩu của Việt Nam bị ảnh hưởng là có .Nhưng Việt Nam chưa cần thiết tham
gia vào cuộc chiến “phá giá tiền tệ “ để cứu vãn kinh tế như các quốc gia khác.
2. Tình trạng xuất- nhập khẩu và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp:
       Trong bối cảnh chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu , nhu cẩu
tiêu dùng giảm, người dân khắp nơi thắt chặt hầu bao, việc xuất khẩu của các quốc gia sẽ
giảm là điều tất nhiên chứ không riêng gì của Việt Nam. Chúng ta không thể cứ thấy đang
trong tình trạng khó khăn là phá giá đồng bản tệ, tuy về mặt lý thuyết, phá giá có thể giúp

                                        -Trang 26 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế              Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

một quốc gia đang có tình trạng thâm hụt mậu dịch nặng nề cải thiện nhanh chóng cán cân
thanh toán của mình nhưng một câu hỏi lớn được đặt ra: phá giá vào lúc này có thực sự
mang lại hiệu quả như mong đợi hay không? Trước mắt phá giá sẽ làm tăng xuất khẩu
giảm nhập khẩu nhưng những hệ lụy kèm theo sau đó thì sao. Theo ông Trần Du Lịch,
Viện trưởng Viện kinh tế TP HCM cho rằng, trước khi đưa ra quyết định phá giá, các nhà
hoạch định chính sách xuất nhập khẩu và các nhà quản lý điều hành tiền tệ phải giải cho
được bài toán đầu ra cho xuất khẩu. "Tức là phải cân nhắc nếu phá giá thì khu vực xuất
khẩu được gì và cụ thể là ngành nào được? Đồng thời phải dự đoán được các khoản nợ
của nền kinh tế sẽ ra sao?",
       Theo ý kiến của thầy Trần Hoàng Ngân, hiện tại tình hình trước mắt xuất khẩu
đúng là có giảm thật nhưng dù sao các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cũng được
Chính phủ hỗ trợ 4% lãi suất rồi, các doanh nghiệp chỉ còn phải trả ngân hàng 6% ,như
vậy là giảm thiểu được chi phí, tăng đáng kể năng lực cạnh tranh.
       Trong các giải pháp kích cầu tích cực nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khủng
hoảng, nổi bật với chính sách bù lãi suất 4% cho các doanh nghiệp. Mặc dù đây có thể chỉ
là giải pháp tình thế trong một khoảng thời gian không dài, nhưng nó cũng có những triển
vọng tích cực nhằm giảm bớt căng thẳng về ngoại tệ trong ngắn hạn, giúp cân bằng cán
cân thanh toán, một trong những yếu tố để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
       Mặt khác, khi xảy ra phá giá, các doanh nghiệp Việt Nam không nên trông chờ quá
vào hiệu quả của liều thuốc “ phá giá nội tệ “ vì nhiều quốc gia cạnh tranh với Việt Nam
cũng phá giá nội tệ của họ để tăng năng lực xuất khẩu. Ích lợi từ việc phá giá tiền tệ sẽ
thấy rõ ràng trong ngắn hạn nhưng nó chỉ là tạo ra sức mạnh tiền đề của xuất khẩu, sau đó
thì sao? Trong thời buổi suy thoái kinh tế toàn cầu, tổng cầu thế giới giảm khoảng 1000 tỷ
USD, xuất khẩu trước mắt là gặp khó khăn. Theo quan điểm của ông Cao Sỹ Khiêm,
muốn thúc đẩy xuất khẩu thì tăng giá ngoại tệ. Nhưng với Việt Nam tăng giá ngoại tệ lúc
này, không kích thích được xuất khẩu vì thế giới suy giảm và các thị trường đang thu hẹp
việc nhập khẩu, giá thế giới cũng đã giảm mạnh. Khi đó, nếu các DN không tự thân vận
động, tự tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh để khi bước qua thời kì suy thoái thì vẫn
phải chịu thua thiệt trong dài hạn là đương nhiên. Trong bài viết đăng trên báo Sài Gòn

                                       -Trang 27 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

tiếp thị số 46 ra ngày 1/5/2009 của nhóm tác giả đến từ trung tâm nghiên cứu Kinh tế và
Chính sách (CEPR) nhận định: Việt Nam vẫn dựa vào lợi thế cạnh tranh so sánh truyền
thống trong những ngành hàm chứa ít công nghệ, có giá trị gia tăng thấp nên dễ bị tổn
thương, đã được bộc lộ rõ nét trong năm 2008. Tỷ trọng sản xuất những ngành hàm lượng
công nghệ trung và cao rất thấp.
       Việt Nam đang là quốc gia xuất khẩu chủ yếu những mặt hàng chưa nhiều hàm
lượng kỹ thuật, nguyên liệu thô, thực phẩm, sản phẩm thiết yếu, chưa có tính cạnh tranh
cao nên khi phá giá sẽ không cần thiết và không đạt kết quả cao như mong đợi. Lấy ví dụ
như xuất khẩu gạo , cà phê, cao su ..v..v..
       Những mặt hàng xuất khẩu khác ngoài nhóm trên thì nguyên liệu lại chủ yếu lấy từ
nhập khẩu (đến 70%) như xe hơi, thuốc, thiết bị điện tử, công cụ, dụng cụ …vì vậy nên
khí phá giá xảy ra lại chịu tổn thất nặng nề do chi phí đầu vào tăng quá cao khiến giá
thành tăng cao, không thể cạnh tranh với các nước khác.
       Về phía nhập khẩu, các mặt hàng thuộc lĩnh vực nhập khẩu của Việt Nam lại hàm
chứa lượng công nghệ cao, mang tính cạnh tranh cao, khi đó đối với các doanh nghiệp
nhập khẩu, các khoản thanh toán cho các đơn đạt hàng nhập khẩu sẽ tăng vọt vì đồng nội
tệ bị mất giá mạnh khiến họ điêu đứng và có thể bị phá sản nếu không trụ vững.
       Như vậy, nhìn qua cho thấy chính sách phá giá nội tệ làm xuất khẩu chưa biết có
được lợi như mong muốn hay không nhưng nhập khẩu thiệt hại nặng là rõ ràng.
3. Tình hình dư nợ đối với nước ngoài:
       Có một điều thấy rất rõ ràng là nếu phá giá tiền tệ sẽ làm tăng gánh nặng nợ phải
trả nước ngoài :
       “Nếu phá giá đồng nội tệ, khiến cho tỷ giá đang ở mức hơn 17.000 đồng Việt
Nam/1 đô la Mỹ có thể lên đến 18.000 đồng/1 đô la thì không biết số nợ nước ngoài của
Việt Nam hiện là 18 tỉ đô la, quy ra tiền đồng sẽ đội lên đến mức nào, ảnh hưởng đến
quyết toán ngân sách ra sao”, (trích phát biểu của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng –
4/2/2009). Một số doanh nghiệp có cơ cấu nợ nước ngoài, chẳng hạn vay USD sẽ đối mặt
với nguy cơ phá sản hoặc bị thâu tóm vì vay bằng USD thì phải trả bằng USD.


                                         -Trang 28 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế               Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

       Một tác động khác của việc phá giá mạnh tiền đồng là khiến cho nhiều doanh
nghiệp đang nợ nước ngoài không trả được nợ, nhiều doanh nghiệp đang đầu tư máy móc
để đổi mới công nghệ sẽ bị phá sản. Cái mà doanh nghiệp cần là chính sách tỷ giá ổn định
để an tâm làm ăn. Nhiều doanh nghiệp đã nói rằng, phải mất một thời gian rất lâu họ mới
giảm được nỗi ám ảnh về đồng tiền bị mất giá, thoát khỏi ý nghĩ găm giữ ngoại tệ. Vì thế,
không có lý do gì chúng ta lại gieo tâm lý bất ổn cho họ vào lúc này
4. Xem xét trên bình diện kinh tế Vĩ mô:
       Bảo đảm và duy trì sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô luôn luôn là yêu cầu thiết yếu
cho tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, là mục tiêu hàng đầu và tập trung của tổ hợp các
chính sách kinh tế - xã hội của chính phủ, trong đó có chính sách tỷ giá. Có thể có ổn định
và tăng trưởng kinh tế nhất định trong điều kiện tỷ giá không ổn định do sự chi phối của
các nhân tố thị trường, do tương quan giá trị giữa các đồng tiền liên quan đến đồng bản tệ,
do chính sách ưu tiên cho mục tiêu trước mắt nào đó của chính phủ...
       Vì là giá cả của tiền và phản ánh tổng hòa tương quan mức giá chung xã hội trên
thị trường trong nước so với thị trường nước ngoài, nên tỷ giá bản tệ VND không thể cô
lập với các biến động giá trên thị trường hàng hóa và dịch vụ thông thường.
       Trong bối cảnh suy giảm kinh tế, một mặt, việc giảm giá cả các hàng hoá và dịch
vụ chung phổ biến trên các thị trường trong nước và quốc tế hiện nay là cho sức mua thực
tế của đồng bản tệ tăng lên, tức giá trị của VND gia tăng.
       Hơn nữa, khi các đồng ngoại tệ giảm giá do chính sách hạ lãi suất và nới lỏng tín
dụng nhằm kích cầu đầu tư và tiêu dùng trong liệu pháp cả gói chống suy giảm kinh tế ở
các nước phát triển như Mỹ và các nước EU mà tỷ giá VND gắn kết chặt và dường như
không đổi trong suốt thời gian dài, thì điều này cũng đồng nghĩa với xu hướng định giá
đồng bản tệ quá cao, làm mất đi đáng kể lợi thế và sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu
của hàng Việt Nam, với những hệ lụy kinh tế – xã hội khó lường kèm theo (nhất là tình
trạng giảm sút quy mô và thu nhập ngoại tệ từ hàng xuất khẩu, thu hẹp sản xuất, gia tăng
thất nghiệp và các áp lực an sinh xã hội khác…).
       Mặt khác, việc điều chỉnh tăng mạnh tỷ giá VND, chẳng hạn so với USD, tức phá
giá mạnh đồng bản tệ, lại có thể tạo nguy cơ bùng nổ tái lạm phát và thậm chí có thể xuất

                                        -Trang 29 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

hiện tình trạng suy thoái - lạm phát, gây mối nguy hiểm kép, tức vừa có lạm phát cao với
các hệ quả đắt đỏ mà chúng ta vừa trải qua, vừa có sự đình trệ, thậm chí suy giảm mạnh
quy mô và tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, hết sức tiêu cực cho sự ổn định hệ thống tài
chính-tiền tệ và cả thể chế quốc gia mà chúng ta đã chứng kiến những năm cuối thập kỷ
80 của thế kỷ XX …
       Phá giá bản tệ làm chúng ta đối mặt với lạm phát cao.trong năm 2008, Chính phủ
đã nỗ lực thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát và kết quả là
thành công. Sang năm 2009, tình hình vẫn chuyển biến tốt tuy hơi có dấu hiệu của giảm
phát. Tâm lý người dân vừa mới được ổn định. Nay ta phá giá sẽ tạo ra một cú shock bất
ngờ cho nền kinh tế.
       Từ một tỷ giá tương đối ổn định ,một khi phá giá nội tệ sẽ tạo hiệu ứng tiêu cực
trong dân chúng , người dân lo sợ đồng Việt Nam giảm giá sẽ làm giảm giá trị tài sản của
họ nên họ cố sống cố chêt bán VNĐ, tranh thủ mua USD hoặc vàng để giữ, thị trường
nhốn nháo, đồng Việt Nam lại càng mất giá, gây bất ổn tràn lan, như vậy lại càng tạo ra
khủng hoảng.Vấn đề Dollar hóa diễn ra . Các chính sách điều tiết kinh tế của Chính Phủ
sẽ trở nên rất khó khăn.
       Ở một khía cạnh khác, một khi phá giá, giá trị đồng nội tệ giảm mạnh, lãi suất nội
tệ cũng phải giảm mạnh. Như vậy trái phiếu chính phủ sẽ trở nên không còn hấp dẫn đối
với nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Chính phủ sẽ gặp khó khăn khi huy động
nguồn vốn nước ngoài và khi thực hiện các chính sách khác về sau như tài khóa .
       Trong tương lai xa, nếu Chính phủ không thể kiểm soát được tình hình lạm phát và
các hậu quả để lại của việc phá giá. Tổng cầu quốc gia sẽ giảm mạnh, dân chúng thắt chặt
hầu bao chi tiêu, hạn chế tiêu dùng do cảm thấy cuộc sống trở nên khó khăn hơn. Đến
lượt nó sẽ tạo ra một hiệu ứng cộng hưởng tai hại với nền kinh tế.
       Tóm lại, từ những phân tích trên, chúng ta thấy rằng Việt Nam không nên áp dụng
chính sách phá giá VND trong tình hình kinh tế hiện nay. Thay vào đó ta có thể áp dụng
một số giải pháp sau để kích thích phát triển kinh tế:




                                         -Trang 30 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế               Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

IV. Các giải pháp thay thế
1. Nới lỏng biên độ giao dịch :
       Khi kinh tế thế giới suy giảm, các nước giảm nhập khẩu, không thể dùng việc hạ
giá đồng nội tệ để kích thích xuất khẩu như thông thường được.Điều cần thiết lúc này
không phải là phá giá mà là điều chỉnh tỷ giá một cách linh hoạt cho phù hợp với tình
hình.Vào lúc này chúng ta nên thay đổi biên độ giao dịch ,cụ thể là +/- 5% là phù hợp.
       Không phá giá hay thả nổi VND thì giải pháp nâng biên độ dao động là không thể
trì hoãn nhằm tránh những xáo trộn không cần thiết cho nền kinh tế.
       “Điều chỉnh tỉ giá không phải là phá giá”
       Khi tình hình kinh tế thay đổi, lạm phát xảy ra, VND bị mất giá thì phải điều chỉnh
tỷ giá ,đừng hiểu thay đổi tỷ giá ở mức cao là phá giá đồng tiền
Cần hiểu phá giá là làm cho VND mất giá rất nhanh, chứ còn điều chỉnh tỷ giá linh hoạt
thì lại khác . Không điều chỉnh nhanh quá thôi, nhưng phải làm uyển chuyển theo thị
trường chứ. Nội dung của linh hoạt là nó không chết cứng, không cố định trong thời gian
dài.
       Biên độ dao động tỷ giá USD/VND nên được điều chỉnh linh hoạt theo cả hai
chiều, với biên độ và bước đi hợp lý. Trong trường hợp thị trường giảm thì đương nhiên
sẽ điều hành tỉ giá giảm.
       Để minh chứng cho quan điểm này là đúng, vào trước đó ngày 4/2/2009 .Tại cuộc
họp báo thường kỳ của Chính phù ,thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định nhà nước vẫn
điều hành tỷ giá theo cơ chế thị trường dựa trên cơ sở cung cầu ngoại tệ chứ chưa có nhu
cầu phá giá nội tệ. Mặc dù nhiều quốc gia trên thế giới đang phá giá đồng nội tệ vì những
mục đích khác nhau để cứu vãn nền kinh tế, và liệu Việt Nam có chủ trương điều hành
theo hướng này không? Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định rằng, việc điều hành tỷ
giá là ảnh hưởng tổng thể đến nhiều mối quan hệ tài chính, tiền tệ; Chính phủ hiện tại vẫn
điều hành tỷ giá trên nguyên tắc thị trường, với quan điểm như vừa qua là nới rộng hết
biên độ tỷ giá ở mức 3% để hỗ trợ xuất khẩu. Tuy nhiên, hiện tại nguồn cung và cầu ngoại
tệ, đặc biệt là đôla Mỹ hiện đang được cân bằng trong các giao dịch của nền kinh tế nên
Chính phủ chưa có nhu cầu phá giá đồng nội tệ.
                                        -Trang 31 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế              Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

         Ở thời điểm giữa năm 2008 .Ông Ayumi Konishi, Giám đốc Quốc gia của ADB tại
Việt Nam nhận định: Việc Ngân hàng Nhà nước nới lỏng biên độ giao dịch tỷ giá
USD/VND để phản ứng với những thay đổi về cung - cầu ngoại tệ, chứ không có chuyện
Việt Nam phá giá tiền đồng . theo ông Ayumi Konishi, Giám đốc Quốc gia của ADB tại
Việt Nam “chúng tôi không có bất kỳ dự báo nào về sự phá giá hoặc giảm giá mạnh nào
của VND trong tương lai”.
         Cơ sở quan trọng nhất để minh chứng cho việc chúng ta vẫn giữ vững và ổn định
được tỷ giá của VND là khả năng dự trữ ngoại tệ của nền kinh tế .Hiện nay , tổng mức dự
trữ ngoại tệ của Việt Nam ở thời điểm hai quý dầu năm 2008 đạt trên 20 tỷ USD.Trước
một số băn khoăn lo ngại hiện nay cho rằng khi kinh tế thế giới suy giảm trên diện rộng
,các nhà đầu tư nước ngoài sẽ rút vốn ra khỏi Việt Nam làm mất đi một lượng ngoại tệ
lớn, Việt Nam không còn đủ dự trữ ngoại tệ để giữ cho tỷ giá được ổn định.Và sự thật là
không phải như vậy.
        Nhiều nhà đầu tư trong nước cũng đang băn khoăn về khả năng kiểm soát dòng vốn
đầu tư gián tiếp nước ngoài của Chính phủ, nhằm ngăn nguồn vốn này chảy ra khỏi Việt
Nam. Tuy nhiên, Thủ tướng tuyên bố biện pháp đó là không cần thiết và đi ngược lại cam
kết hội nhập và cơ chế kinh tế thị trường mà Việt Nam đang theo đuổi. Hiện tại, nguồn
vốn gián tiếp này chỉ vào khoảng 8 tỷ USD và chuyện nhà đầu tư có rút ra hay không
cũng rất bình thườngCho đến nay ,Chính phủ khẳng định lượng dữ trữ ngoại tệ rất dồi
dào đũ để đáp ứng việc điều tiết tỷ giá. Thậm chí, nguồn cung đô la Mỹ của các ngân
hàng thương mại hiện nay còn dồi dào nên Chính phủ vừa phát hành trái phiếu, mua vào
cho các ngân hàng 1 tỉ đô la nên việc phá giá nội tệ lại càng chưa phải là nhu cầu cấp
bách.
2. Có sự hợp tác mạnh mẽ hơn giữa doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ:
         Các doanh nghiệp xuất khẩu cần phải được khắc phục tình trạng đói thông tin về
bạn hàng và thị trường.
         Tại buổi tọa đàm về “Xúc tiến xuất khẩu Việt Nam năm 2009”, phó Chủ tịch Hiệp
hội chè Việt Nam - Nguyễn Văn Thụ còn đưa ra dẫn chứng: "Không có được thông tin
chính thống, DN phải mua thông tin từ phía nước ngoài. Kinh phí mua thông tin rất đắt,

                                       -Trang 32 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế               Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

lên tới cả chục nghìn USD nhưng nhiều khi cũng không thật sự cập nhật" tại buổi tọa đàm
về “Xúc tiến xuất khẩu Việt Nam năm 2009”
         Tại buổi toạ đàm, Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên thừa nhận:
"Mặc dù có thương vụ ở 55 nước, vụ thị trường ngoài nước, có Cục Xúc tiến thương mại,
Trung tâm thông tin thương mại, công nghiệp, Cổng thông tin thị trường ngoài nước...
nhưng chất lượng thông tin, tính thời sự vẫn còn yếu, chưa cung cấp được những thông
tin mà DN cần".
         Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng như bộ công thương , bộ thương mại phải tìm
cách giúp doanh nghiệp tiếp cận với thông tin thị trường.Và cũng theo cam kết của lãnh
đạo Bộ Công Thương, Bộ sẽ quan tâm hơn nữa đến nhu cầu thông tin thị trường của DN
như nâng cao hiệu quả của Cổng thông tin thị trường ngoài nước, cập nhật diễn biến giá
cả các mặt hàng thị trường chính liên tục trong vòng 10 - 15 ngày và tập trung vào các
mặt hàng DN quan tâm. Không những vậy, Bộ cũng tiến tới xây dựng cổng thông tin XK
Việt Nam bằng tiếng Anh và dự kiến khai trương trong năm nay, phục vụ cả DN trong
nước và nước ngoài để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh
doanh.
3. Các doanh nghiệp ,đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu phải tự tăng năng lực cạnh
tranh hoặc chuyển hướng kinh doanh:
         Trong gần một thập niên trở lại đây, trước những biến động về xu thế cạnh tarnh
toàn cầu ,Việt Nam vẫn chưa có sự thay đổi nhiều về năng lực cạnh tranh công nghệ.nói
riêng trong lĩnh vực xuất khẩu , cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu Việt Nam 2008 còn phụ
thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản ,nông ,lâm ,thủy hải sản..Các mặt hàng công
nghiệp chế biến chủ yếu vẫn mang tính gia công với biểu hiện thương mại nội địa ngành
là chủ yếu ( doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu, phụ liệu ,linh kiện ,thực hiện gia
công rồi xuất khẩu lại) .Nhiều doanh nghiệp khi xuất khẩu ra thế giới lại phải qua nhiều
khâu trung gian vì chưa xây dựng được thương hiệu mạnh cho mình.
         Theo thầy Trần Hoàng Ngân: “Xuất khẩu Việt Nam gặp khó khăn thì cái khó khăn
này là khó khăn toàn cầu, khó khăn của tất cả các khu vực trên thế giới khi nền kinh tế thế
giới đi vào suy thoái, vì vậy các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải chuyển đổi

                                        -Trang 33 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế                Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

hướng kinh doanh. Và vừa rồi chính phủ cũng đã đưa ra một gói xúc tiến thương mại
khoảng 63 tỷ đồng để giúp các doanh nghiệp xuất khẩu tìm kiếm những cơ hội tại các thị
trường mới, như khu vực Trung Đông, v.v. , thì như vậy là cũng sẽ hỗ trợ tới mức tối đa.
Ngoài ra, các doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay cũng đang chuyển hướng vào thị trường
nội địa, đa dạng hóa sản phẩm, sản phẩm chia ra như có sản phẩm phục vụ xuất khẩu và
có sản phẩm phục vụ thị trường nội địa Việt Nam. Như anh biết, thị trường nội địa Việt
Nam là 86 triệu dân, là một thị trường rất hấp dẫn cho việc cung ứng sản phẩm hàng tiêu
dùng, đặc biệt là dệt may, giày dép cũng như là lương thực - thực phẩm. Đây cũng là cơ
hội tốt để các doanh nghiệp xuất khẩu có điều kiện củng cố, nâng cao máy móc, thiết bị,
rồi sắp xếp lại hoạt động của doanh nghiệp mình, đào tạo thêm nguồn nhân lực để đón
đầu cho năm 2010. Tôi nghĩ rằng bên cạnh khó khăn thì cũng có những cơ hội tốt đó.”
4. Chính phủ cũng đã có những gói giải pháp kích cầu để hỗ trợ doanh nghiệp và tư
nhân :
         Đáng kể là gói hỗ trợ lãi suất 4% của Chính phủ trị giá 1 tỷ Dollar. Gói này đủ để
hỗ trợ cho các doanh nghiệp, nhưng bên cạnh đó chính phủ còn đưa ra những giải pháp về
chính sách tài khóa như là giản thuế, rồi giảm thuế, v.v.
         Trong buổi Tọa đàm hôm 4/2/2009 ,trả lời trước báo chí ,thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng có nói: “Thông qua việc hỗ trợ lãi suất 4%, Chính phủ đã tạo thêm cho doanh
nghiệp 420 ngàn tỉ đồng tiền vốn lưu động để phục hồi sản xuất”. Song, thủ tướng cũng
nhấn mạnh, việc hỗ trợ này chỉ đến ở giai đoạn hậu kiểm, khi các doanh nghiệp có hợp
đồng vay vốn tốt, có doanh số, đến giai đoạn trả nợ ngân hàng thì mới được hỗ trợ, chứ
không phải Chính phủ ứng tiền lãi suất trước
         Theo thầy Ngân, “Cái gói kích cầu này thì không phân biệt doanh nghiệp lớn hay
nhỏ, mà thậm chí là cá nhân cũng có thể được hỗ trợ lãi suất khi vay vốn để đáp ứng nhu
cầu sản xuất kinh doanh, cho tất cả các thành phần kinh tế và từ đó có thể tạo những sức
bật để ngăn chận sự suy giảm kinh tế, và tạo điều kiện phát triển bền vững trong tương
lai. Cái gói hỗ trợ lãi suất khoảng trên 17.000 tỷ đồng, thì như vậy sẽ có khoảng hơn 500
ngàn tỷ đồng dư nợ tín dụng sẽ được hỗ trợ 4% một năm. Như vậy các doanh nghiệp mà
sản xuất kinh doanh chỉ phải trả lãi cho ngân hàng khoảng 6% thôi, còn lại 4% thì chính

                                         -Trang 34 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế             Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

phủ hỗ trợ. Và sự hỗ trợ đó sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện là giảm
chi phí sản xuất và mạnh dạn để đầu tư vào sản xuất - kinh doanh để góp phần ngăn chận
sự suy giảm kinh tế “
Nhà nước cần tiếp tục xây dưng một kế hoạch nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, có sự phối
hợp linh hoạt và hiệu quả giữa chính sách tài khóa và tiền tệ trong thời gian sắp tới để
một mặt ngăn cản sự lạm phát cao mặt khác đưa đất nước phát triển bền vững.




                                     KẾT LUẬN
Thông qua việc phân tích những mặt được và không được của việc phá giá VNĐ.
Ý kiến chủ quan của nhóm chúng em là Việt Nam không nên giảm giá hay phá giá
VNĐ vào lúc này. Và đề xuất “giảm giá từng bước VND để kích thích kinh tế của
Nhóm Nghiên cứu Harvard “ xét trong điều kiện và tính hình của kinh tế Việt Nam là
chưa cần thiết.


Nhóm chúng em xin chân thành cám ơn các thầy cô đã theo dõi và nhận xét bài viết của
chúng em.




                                      -Trang 35 -
Tiểu luận môn Tài chính quốc tế             Nhóm sinh viên thực hiện lớp TC5 – K32

DANH SÁCH NHÓM


       STT        Họ và tên                                 Lớp
         10       Bùi Thị Thu Hằng                          TC5
         15       Hà Phạm Hùng                              TC5
         28       Phạm Hoàng Nguyên                         TC5
         37       Tô Văn Tâm                                TC5
         40       Nguyễn Ngọc Thanh                         TC5




                                      -Trang 36 -

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Stats:
views:330
posted:2/16/2011
language:Vietnamese
pages:36
Description: tai chinh quoc te, international finance