Docstoc

nguy co phat trien bong bong thi truong o viet nam

Document Sample
nguy co phat trien bong bong thi truong o viet nam Powered By Docstoc
					Nguy cơ phát triển “bong bóng” của chứng khoán Việt Nam

TS. Phan Minh Ngọc (Đại học Kyushu, Nhật Bản)                                         08:18' PM - Thứ hai,
Thời báo kinh tế Việt Nam                                                                      19/02/2007


Mối quan tâm về thị trường chứng khoán Việt Nam có lẽ chưa bao giờ nóng như
gần đây, đặc biệt sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO.

Thị trường đã liên tục phá vỡ những kỷ lục mới, khi tâm lý đầu cơ hầu như chi phối
hoàn toàn các nhà đầu tư nội địa, theo sau những đánh giá lạc quan và các động thái
đầu tư chiến lược của các nhà đầu tư nước ngoài.

Cải cách kinh tế đang đi đúng quỹ đạo, và triển vọng tăng trưởng kinh tế đang rất
sáng sủa là hai trong số những yếu tố chính làm các nhà đầu tư nước ngoài đổ tiền
vào thị trường Việt Nam. Trong khi đó, thị trường đang ở trạng thái hưng phấn quá
mức, được quản lý còn khá lỏng lẻo, và cực kỳ rủi ro cho những nhà đầu tư amateur
mù mờ.

Thị trường bùng nổ

Ở Việt Nam hiện nay, dân chúng đổ xô vào mua chứng khoán như thể không còn
ngày mai. Người ta chỉ quan tâm đến chuyện mua mà không cần quan tâm đến các
doanh nghiệp phát hành chứng khoán đang làm gì, có tỷ suất P/E hay lợi tức như
thế nào.

Kết quả của làn sóng đầu cơ này là sự thăng hoa của VN-Index, từ 100 điểm vào
lúc khai trương năm 2000 lên trên 750 điểm trong tuần qua. Giá chứng khoán tăng
từng ngày mà không vì lý do cụ thể gì. Trong thời kỳ 2002-2005, thị trường đã tăng
trưởng với tốc độ gộp 19%/năm. Hơn thế nữa, chỉ trong 3 tháng gần đây, VN-Index
đã tăng gần 19%, mà theo các chuyên gia thì không có tiền lệ ở trên thế giới.

Tuy vậy, bất chấp sự phát triển có tính bùng nổ của thị trường chứng khoán gần
đây, nó vẫn còn quá nhỏ bé về quy mô. Sau hơn 4 năm đi vào hoạt động, số lượng
công ty niêm yết hiện nay mới chỉ là trên 60, so với 24 công ty năm 2000.

Mặc dù khối lượng vốn hóa ước tính đã đạt trên 3 tỷ USD, tăng một cách ấn tượng
so với con số 16,8 triệu USD vào năm 2000, nó mới chỉ tương đương với gần 6%
GDP - một con số quá nhỏ so với mức 20-30% GDP của các nước trong khu vực.

Xét về trị giá khối lượng cổ phiếu giao dịch hàng ngày, con số này của thị trường
chứng khoán Việt Nam mới đạt khoảng 6,6 triệu USD, thấp xa so với mức 314 triệu
USD/ngày của Thái Lan.

Với những con số không mấy ấn tượng về quy mô thế này, thật ngạc nhiên tại sao
thị trường chứng khoán Việt Nam lại thu hút được sự quan tâm mạnh mẽ của giới
đầu tư như vậy.

Trên thực tế, thị trường chứng khoán Việt Nam có một số điểm đủ làm hưng phấn
các nhà đầu tư. Trước tiên, còn rất nhiều công ty sáng giá chưa được niêm yết, đặc
biệt các đại gia trong các ngành chủ chốt như viễn thông, ngân hàng, xây dựng, bất
động sản... Thị trường giao dịch cổ phiếu không chính thức (OTC) có quy mô rất
đáng kể, trị giá khoảng trên 4 tỷ USD, và đang hoạt động rất sôi động. Nếu cộng
dồn thị trường OTC này với thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu chính
phủ và các giấy tờ có giá khác (ước tính khoảng 5 tỷ USD) thì bức tranh sẽ trở nên
hoàn toàn khác.

Ngoài ra, Chính phủ còn có kế hoạch nâng quy mô thị trường chứng khoán lên tới
20-30% GDP vào năm 2010. Đây là điều xem ra nằm trong tầm tay, với hàng loạt
công ty đang chờ niêm yết trên thị trường và nhiều công ty đã niêm yết đang chuẩn
bị phát hành thêm cổ phiếu.

Tâm lý phong trào

Tuy không thể phủ nhận rằng tiềm năng phát triển của thị trường chứng khoán Việt
Nam còn rất lớn, nhưng vấn đề đáng lo ngại ở đây là những nhà đầu tư tham gia
vào cuộc chơi này đa phần là các nhà đầu tư nội địa cò con - những người coi thị
trường chứng khoán chỉ như một kênh đầu tư thay thế cho vàng và bất động sản.

Hầu như không có một tổ chức kinh doanh chứng khoán nội địa (của người Việt
Nam) nào cả. Theo một ước tính của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, có đến 90%
các nhà đầu tư là các cá nhân người Việt Nam.

Phần lớn các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp là những tổ chức do người nước ngoài
thành lập tại Việt Nam. Con số và quy mô của các tổ chức này còn nhỏ nhưng đang
phát triển khá nhanh. Điều quan trọng là họ hoạt động với một sự lạc quan có
chừng mực.

Một báo cáo đầy lạc quan về thị trường Việt Nam của Merrill-Lynch hồi đầu năm
nay (khi cho rằng mức thu lãi từ thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tăng với tốc
độ 35%/năm hay hơn) đã thổi phồng trạng thái hoan hỉ của giới đầu tư nội địa, làm
nhiều người ảo tưởng rằng các nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ đổ xô vào thị trường
chứng khoán Việt Nam. Với tâm lý phong trào, thị trường đã liên tục bị đẩy đến
những cơn sốt nối tiếp nhau.

Trong khi đó, đa phần các nhà đầu tư nước ngoài có cái nhìn tỉnh táo hơn về thị
trường, mà theo họ tuy vẫn rất có triển vọng nhưng không đến mức quá cao như dự
đoán của Merrill-Lynch (một số cho rằng chỉ vào khoảng 15-20%).

Về điểm này, có thể nói sự sụt giảm mạnh của VN-Index từ sau tháng 4, và gần đây
là cuối tháng 11 (có ngày rớt tới 60 điểm) xem ra lại là một điều tích cực vì ngoài
việc nó tạo một cơ hội mua vào cho những nhà đầu tư chiến lược trong dài hạn (đặc
biệt là nhà đầu tư nước ngoài), nó còn là điều cảnh tỉnh cho các nhà đầu tư nội địa
rằng thị trường chứng khoán mới nổi là con phố hai chiều, kể cả trong bối cảnh có
tăng trưởng kinh tế nhanh.
Góp thêm vào trạng thái lạc quan quá mức này còn là hành động của một số ngân
hàng nước ngoài lớn như ANZ, Standard Chartered Bank, và HSBC bỏ tiền mua cổ
phần của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Những động thái đầu tư
chiến lược của ngân hàng nước ngoài với trị giá cao đã củng cố thêm cho suy luận
mang tính đầu cơ rằng vốn nước ngoài đang ào ạt tìm đường vào Việt Nam.

Nhà đầu tư nước ngoài vẫn bị trói tay

Thực tế không đúng như kỳ vọng của giới đầu tư nội địa. Rào cản về hành chính và
luật lệ đã làm nản lòng nhiều nhà đầu tư.

Ví dụ, nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán trực tiếp từ nước ngoài với điều kiện
phải có mã số kinh doanh (mà để lấy được nó thì rất phức tạp), và phải có mặt để ký
các mẫu chứng từ, hoặc phải ủy quyền cho một công ty môi giới nội địa (là điều rất
rủi ro trong con mắt của họ, trong trường hợp giao dịch không thành công).

Bởi vậy, giải pháp tối ưu cho nhiều nhà đầu tư vẫn còn muốn đầu tư vào Việt Nam
là đầu tư thông qua các quỹ đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, tuy vẫn còn nhỏ về mặt
quy mô và tổ chức, nhưng ít nhất thì cũng đang hoạt động một cách rất bài bản và ít
rủi ro hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Triển vọng cải cách và phát triển

May mắn thay là các nhà làm luật Việt Nam đang tiếp tục tiến trình cải cách thị
trường, tuy còn chậm.

Đã có những dấu hiệu cho thấy một số doanh nghiệp nhà nước đang/sẽ được cổ
phần hóa và sẽ đồng thời được đưa lên sàn giao dịch trong những năm tới, và thị
trường OTC sẽ được hợp nhất với thị trường chứng khoán. Khi thị trường chứng
khoán đạt đến quy mô 10-15% GDP thì nó sẽ tạo ra động lực để hình thành các tổ
chức đầu tư.

Sự nới lỏng tỷ lệ nắm giữ quyền sở hữu tối đa trong doanh nghiệp nội địa từ 30%
lên 49%, và thậm chí còn có thể lên đến 100% đối với một số ngành, cũng sẽ đem
lại thêm nhiều cơ hội để thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ.

Động thái củng cố thị trường chứng khoán Việt Nam tập trung vào Sở Giao dịch
chứng khoán Tp.HCM, để Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội tập trung vào các giao
dịch OTC cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là một hướng đi tích cực.

Tuy vậy, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn là một công trình đang thực
hiện dang dở theo đúng nghĩa, với nguy cơ phát sinh rõ ràng sự thao túng thị trường
và giao dịch nội gián, cũng như sự tồn tại của các giao dịch gian lận hoặc mất khả
năng thanh toán khác.
Trong khi đó thì các nhà đầu tư nội địa không mấy hay biết về những rủi ro này và
chỉ bận tâm tranh nhau vơ vét một khối lượng chứng khoán có hạn, đặc biệt khi
thấy thị trường lên sốt. Có lẽ quan hệ cung và cầu trên thị trường này luôn ở mức
mất thăng bằng nghiêng về cầu.

Thị trường trái phiếu bị “vạ lây”

Bên cạnh thị trường chứng khoán, một nguồn cung tài chính hiển nhiên khác là thị
trường trái phiếu. Nhưng thị trường này và sản phẩm của nó quá nghèo nàn và ít
hấp dẫn dân chúng và doanh nghiệp.

Sự phát triển lệch lạc của thị trường chứng khoán với lợi nhuận kiểu bong bóng đã
làm lu mờ sự tồn tại của thị trường trái phiếu trong con mắt nhà đầu tư. Còn đối với
doanh nghiệp thì huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu vẫn rẻ hơn nhiều so
với phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Đây là một điều mà Chính phủ phải có biện pháp điều chỉnh nếu muốn huy động đủ
vốn cho các chương trình phát triển dài hạn với nhu cầu vốn khổng lồ, 140 tỷ USD
trong 5 năm đến 2010, hay tương đương với gần 250% GDP hiện tại.

Thay cho lời kết

Mặc dù thị trường chứng khoán vẫn chưa phải là kênh huy động vốn chính của các
doanh nghiệp Việt Nam, nhưng nếu xét đến thực tế là các ngân hàng vẫn cho các
nhà đầu tư chứng khoán vay vốn (do đó tạo thêm rủi ro cho hệ thống ngân hàng) và
hiệu ứng lan truyền tâm lý, sự sụp đổ không tránh khỏi của thị trường chứng khoán
bong bóng sẽ không chỉ làm lung lay hệ thống ngân hàng mà còn làm xói mòn lòng
tin của các nhà đầu tư vào nền kinh tế, dẫn đến giảm tăng trưởng.

Một trong các biện pháp cần làm quyết liệt để làm nguội bớt thị trường chứng
khoán Việt Nam, đưa giá cả trở về với giá trị thực của chúng là việc thúc đẩy tiến
trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước và đưa chúng lên sàn càng sớm càng
tốt.

Ngoài ra, cần bãi bỏ sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp Nhà nước và doanh
nghiệp tư nhân để khuyến khích việc lên sàn của các doanh nghiệp tư nhân (theo
Nghị định 144 thì doanh nghiệp tư nhân phải có lãi trong 2 năm trước khi lên sàn,
trong khi đó doanh nghiệp Nhà nước chỉ cần 1 năm).

Lưu ý rằng quy mô thị trường tăng nhờ niêm yết mới chứ không phải nhờ giá cổ
phiếu tăng mới là điều cốt yếu và có tính bền vững, đưa thị trường chứng khoán về
đúng chức năng của mình, đồng thời tạo điều kiện cho sự ra đời và hoạt động hữu
hiệu của các thị trường vốn khác ở Việt Nam.

Mặc dù Chính phủ cho rằng họ nhận thức được vấn đề này, nhưng cho đến nay mới
chỉ có một số tiến triển nhỏ trên thị trường chứng khoán, cũng như những thay đổi
nhỏ theo hướng bớt sự lạc quan thái quá vào thị trường.

(Tài liệu tham khảo: Euromoney, Asiamoney, The Economist)
                                                            Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Stats:
views:49
posted:2/16/2011
language:Vietnamese
pages:5
Description: tai chinh doanh nghiep, corporate finance, chinh sach co tuc, thi truong hieu qua, cau truc von