Docstoc

Loat chuyen de TCHV (DOC)

Document Sample
Loat chuyen de TCHV (DOC) Powered By Docstoc
					LOẠT CHUYÊN ĐỀ: TÀI CHÍNH HỌC HÀNH VI


Patrik S¨ afvenblad
Anders Anderson
May 15, 2002
                                NỘI DUNG


CHƢƠNG 1:


          QUYẾT ĐỊNH TRONG ĐIỀU KIỆN RỦI RO


1.1 Sự không thích rủi ro và lý thuyết hữu dụng kỳ vọng:
1.1.1 Vấn đề cần bàn:
Chúng ta nên đánh giá những qyuết định với những tác động đầy rủi ro như
thế nào?
Những áp dụng vào thực tiễn
 Chọn lựa đầu tư
1.1.2 Giới thiệu:
Sự không thích rủi ro là cơ sở của lý thuyết danh mục hiện đại.
Nếu mọi người cố gắng nắm giữ danh mục với kết hợp giữa rủi ro /thu nhập
là tốt nhất, giá sẽ điều chỉnh để cho chúng ta CAPM.
               E [ri] = rf + βi × (E [rm] − rf )                     (1.1)
Nếu trong mọi trường hợp chúng ta có được phương trình 1.1 như đã
chỉ.Chúng ta làm 1 dự đoán theo kinh nghiệm về phần bù rủi ro thị trường
(E [rm] − rf ),ước lượng β và the risk-free rate từ thị trường.
1.1.3 Ý tƣởng cơ bản của không muốn rủi ro :
+ Vì sự trả tiền cho rủi ro cá thể thì có giá trị nhỏ hơn giá trị kỳ vọng
+ Điển hình cho vấn đề này là tiền thì giảm giá trị trong “các quốc gia tốt
trên thế giới”
+ hữu dụng kỳ vọng thì khác với giá trị kỳ vọng:
- hữu dụng kỳ vọng là tổng lượng hữu dụng từ sự chi trả
- Gía trị kỳ vọng là tổng lượng chi trả trực tiếp
Vd:
-Khi bạn may mắn,chẳng hạn như khi bạn trúng vé số, bạn đánh giá tiền
thấp.Suy nghĩ về bản thân,điều này dễ dàng nhất để thấy được việc so sánh
hữu dụng biên của tiền trong thời kỳ giàu có( như khi bắt đầu làm 1 công
việc mới) với hữu dụng biên của tiền trong thời kỳ nghèo khó(việc học, sau
khi mua nhà, khi sinh con)
- Trong khuôn khổ này cũng dễ dàng thấy tại sao người giàu cá cược thấp xa
so với người nghèo.Vì với 1 người giàu,sự chi trả hữu dụng của việc thắng
vé số thì chậm hơn xa so với người nghèo.
Hình 1.1: một chức năng của hữu dụng lõm
Ví dụ thực tế:
-Một tấm vé số mà được thưởng 1000$ hay 0$ với khả năng tương đương sẽ
được bán thấp hơn 500$.
* It nhất là ngay bây giờ the utility curce bắt đầu có tác dụng.Nếu bạn sẵn
lòng trả 500$ cho tấm vé số trên, có phải là bạn sẽ có khả năng trả 50.000$
cho một canh bạc giữa 0$ và 100.000$?Chúng ta sẽ thảo luận tại sao bạn sẽ
sẵn lòng trả 2$ để có 1/1000 lợi tức xổ số 1000$ sau.
- Bảo hiểm bán nhiều hơn giá trị kỳ vọng của tổn thất.Hợp đồng thì không
chắc chắn nó san bằng một mẫu hình tiêu thụ đầy rủi ro.




Điều này giải thích tại sao ngành công nghiệp bảo hiểm thì có sản lượng có
tính chất xã hội dù là sự phân phối lại từ may mắn đến không may mắn có
tốn phí.Cũng lưu ý rằng một vài ngoại lệ của công nghiệp bảo hiểm dường
như có thiên hướng cuốn vào xổ số bảo hiểm(cá cược bh), dạng như “nếu có
động đất ở California thì phải trả X$ hoặc 0$”, dù là nhiều xổ số có thể dễ
dàng tạo ra việc sử dụng thị trường tái bảo hiểm.
1.1.4 Mô hình kinh tế của sự không thích rủi ro :
- Thừa nhận một chức năng của hữu dụng lõm.
- Các ví dụ điển hình sẽ bao gồm




- Hữu dụng biên của 1$ thì thấp hơn thu nhập W thì cao.Do đó sự trả
  thưởng trong “đất nước tốt” được định giá thấp.
 Từ sự không thích rủi ro thì chỉ về việc xếp loại những lựa chọn rủi ro,
  sự thay đổi tuyến tính của chức năng hữu dụng là tương đương, và do đó
                    là tương đương với                       cho tất cả
    hằng số c1 và c2 >0.


1.1.5 Hữu dụng kỳ vọng :
- Tổng hữu dụng qua tất cả những kết quả có thể thực hiện
- Cho một phân phối bình thường và hữu dụng bậc hai chúng ta có



1.1.6 Ví dụ bằng số : 1 vé số đơn giản
- 1 vé số được trả 1$ hoặc 0$ với xác suất như nhau.

-
- Gía trị kỳ vọng = 0.5$
- u(0$)=0
- u(0.5$) = 0.375
- u(1$) = 0.5
- Hữu dụng kỳ vọng thì bằng x (0+0.5)/2 = 0.25, mà phù hợp với hữu
  dụng của 0.293$.
- Trong tình huống này, rủi ro được định giá tại 0.21$ của giá trị kỳ vọng
  của 0.5$
1.1.7 Kết luận cơ bản vé số :
- 1 nhà đầu tư sẽ sẵn lòng trả cao nhất là 0.293$ cho vé số này.
-   Trong nền kinh tế thực, điều này ám chỉ một phần bù rủi ro 71%.
- Điều này thì quá rõ ràng cho cái gì sẽ xảy ra?
- Nhà đầu tư e ngại rủi ro (cao) sẽ bán quyền của họ cho người e ngại rủi
  ro thấp hơn.
1.1.8 Một vé số nhỏ :
- 1 vé số được trả 0.45$ hoặc 0.55$ với xác suất như nhau.

-
- Gía trị kỳ vọng = 0.5$
                      1
- u($0.45) = 0.45 −     0.452 =0.348 75
                      2
                      1
- u($0.55) = 0.55 −     0.552 =0.398 75
                      2

- Hữu dụng kỳ vọng =0.3738 mà phù hợp với hữu dụng của $0.4975.
1.1.9 Kết luận vé số nhỏ :
- 1 nhà đầu tư sẽ sẵn lòng trả cao nhất là 0.4975$ cho vé số này.
- 1 nhóm 10 nhà đầu tư do đó sẽ sẵn lòng trả 0.4975$ cho vé số lớn.
- Trong nền kinh tế thực, điều này ám chỉ một phần bù rủi ro 0.5%
- Bằng việc dàn trãi rủi ro của các nhà đầu tư , phần bù rủi ro có thể giảm.
 Một luận cứ để tăng tiền trong thị trường chứng khoán
 Một luận cứ để đầu tư dàn trãi một cách bằng nhau giữa các nhà đầu tư,
  tất cả xây dựng danh mục thị trường.
+ Điều này cho 1 lý do căn bản cho các ngân hàng, thị trường chứng khoán
và các định chế tài chính trung gian khác.Bằng việc gộp chung rủi ro, ngân
hàng có thể có rủi ro cao tương đối trên việc cho vay của nó mà không bỏ
qua rủi ro đáng kể của người gửi tiền.Sự giống nhau sẽ được nắm giữ bởi
các chủ sở hữu của các cty bảo hiểm.
1.1.10 Một tài sản hữu ích của chức năng hữu dụng mũ âm :
- Khi sử dụng phân phối chuẩn hữu dụng mũ âm cho biểu hiện thực tế của
  sự hữu dụng




                                        1
Hữu dụng của ~ = giá trị kỳ vọng của x - sự không thích rủi ro* phương
             x
                                         2
sai của x

- Cho vé số lớn của chúng ta có               sử dụng công thức trên
  chúng ta thu được :




- Nếu sự chi trả được phân phối chuẩn (thay vì 0/1) với phương sai giống
  nhau, cái vé sẽ có giá trị mất đi không đáng kể.


Sự giàu có hơn có thể ám chỉ những phần bù rủi ro thấp hơn nhƣng ở
đây thì không.
- Cái này được gọi là sự e ngại rủi ro thuần nhất không đổi-CARA.
- Thường được sử dụng như là việc đơn giản hóa giả định trong định giá
  tài sản và những mô hình cấu trúc vi mô thị trường.
 Lý do cơ bản :trong trạng thái cân bằng, tất cả quyền lợi sẽ được phân
  phối cho đến e ngại rủi ro biên tế của tất cả các nhà đầu tư thì
  cânbằng.Dù là nhà đầu tư cá nhân có giảm mức độ e ngại rủi ro thuần
  nhất thì nó là hợp lý để thừa nhận CARA 1 cách cục bộ…khi xem xét
  những mô hình cấu trúc vi mô thị trường.
CHƢƠNG 2: TÀI CHÍNH HÀNH VI


Đây là những slide của Shiller 1998.Bạn có thể download tại


2.1 Giới thiệu tài chính hành vi :
- Tài chính hành vi nghiên cứu những vi phạm của hữu dụng kỳ vọng.
- 1 cách để làm tương thích giá với thực tế?
- Thường được thúc đẩy bởi sự không thích hợp của những mô hình dựa sự
hợp lý.
+ Hầu hết các lý thuyết về hành vi chỉ xem xét con người một cách riêng lẻ.
+ Nó thì không rõ ràng như thể kết quả trạng thái tâm lý cân bằng phù hợp
với hành vi của cá nhân.
+ Quan sát, cho ví dụ, phản hồi giao dịch.
- Tâm lý học dựa trên những bất thường có thể không xuất hiện trên việc
  nghiên cứu.
2.2 Những vấn đề cần bàn:
 - Lý thuyết triển vọng(viễn cảnh)
- Tránh hối tiếc
- Sự bất hòa liên quan đến nhận thức.
- Sự tin cậy
- Sự cả tin.
2.3 Lý thuyết triển vọng(viễn cảnh):
2.3.1 Sự nghịch lý allais:
- Trước hết so sánh 2 vé số:
+A) 1 vé số cung cấp 25% cơ hội thắng 3000
+B) vé số cung cấp 20% cơ hội thắng 4000.
- 65% hành động của họ chọn B
- Sau đó so sánh 2 vé số khác :
+ A) 1 vé số với cơ hội 100% thắng 3000
+ B) 1 vé với 80% cơ hội thắng 4000.
- 80% chọn A
- Điều này vi phạm sự tối đa hóa hữu dụng kỳ vọng và được gọi là “hiệu
  ứng chắc chắn”
 Sự vi phạm đến từ sự khác nhau duy nhất giữa 2 vé số là xác suất được
  nhân lên 4.Sự không đồng nhất có thể thấy từ những điểm chênh lệch về
  quan điểm.Suy nghĩ của A và B như những cơ hội quay bánh xe may rủi
  với 4 -5 kết quả khác nhau.Tôi thích vòng quay mà trả 3000 trong tình
  huống bánh xe đang chỉ (1, 2, 3, 4) € [1, 2, 3, 4] hơn lấy 4000 khi bánh
  xe chỉ (1, 2, 3, 4) € [1, 2, 3, 4, 5]. Nhưng cả 2 trg hợp sự chi trả có thể
  chia ra 4 phần (1) € [1, 2, 3, 4], (2) € [1, 2, 3, 4], …Thêo phân loại như
  trên, tôi thích mỗi 1/5 đặt cược hơn ¼ khi đánh giá một cách tách biệt,
  nhưng tôi thích gói 4/4 hơn 4/5 khi đánh giá như 1 gói.
2.3.2 Sử dụng 1 chức năng hữu dụng có trọng số :
- Những sự kiện cực kỳ không chắc chắn dường như là không thể xảy ra.
- Những sự kiện cực kỳ chắc chắn dường như là chắc chắn xảy ra.
- Những sự kiện rất không chắc chắn được cho nhiều mức độ trọng số.
- Những sự kiện rất chắc chắn được cho ít mức độ trọng số.
* Hình thức này cho chức năng trọng số cho phép lý thuyết triển vọng giải
thích hiệu ứng chắc chắn Allais được lưư ý ở trên.
Từ xác suất 20% và 25% trong phân loại của chức năng trọng số mà ở đó độ
dốc của nó thấp hơn chính nó.Con người có tầm nhìn tấn công vào 2 kết quả
tương đương gần hơn các xác suất và con người hướng đến chọn xổ số mà
trả nhiều hơn nếu thắng.Ngược lại, vé số thứ 2 chọn xác suất 80% được cắt
giảm bởi chức năng trọng số trong khi xác suất 100% thì không; con người
có tầm nhìn tấn công vào 2 kết quả không bằng nhau hơn là những xác suất
và con người hướng đến chọn kết quả là chắc chắn.
2.3.3 Có thể giải thích:
- Rủi ro từ hành vi cho lợi nhuận vô cùng.
- Sự lựa chọn hài lòng
2.3.4 Chức năng giá trị :
- Có một sự gián đoạn tại 1 “điểm tham khảo”
sự ghét rủi ro cục bộ vô tận
- Là lồi cho thua lỗ, lõm cho lợi nhuận
2.3.5 sợ rủi ro gần :
- Bạn sẽ đặt cược 50/50 cho +$200/-$100?
- Bạn sẽ đặt 100 như là những đặt cược?
- nếu bạn có cơ hội chọn bạn sẽ lấy cái cuối cùng trong các chuỗi?
* Điều này vi phạm lý thuyết hữu dụng kỳ vọng từ đó nó nên có thể thực
hiện đánh giá mỗi xổ số trong sự tách biệt.Nếu bạn sẵn lòng chơi 100 lần,
bạn cũng nên sẵn lòng chơi mỗi trò chơi phụ riêng lẻ.
2.4 Tránh hối tiếc:
- Nó thì khó tạo ra một cái lỗi.
- Tương tự như chức năng có giá trị như một nút thắt.
Giải pháp đáp lại của nhà đầu tư
- Cố không tạo ra lỗi
- Phải chắc chắn rằng những quyết địng mà bạn đưa ra có thể được đánh
  giá là thành công bất chấp kết quả.
- Cố đánh giá lại tình trạng ko mong đợi như là ko có tình trạng ko mng
  đợi.
   + Nhân đôi cổ phiếu đang thua lỗ, nó sẽ tăng lên sau đó
   +” Nó là một đầu tư dài hạn” , Telia thấy.
   + Nắm giữu cổ phiểu đang lỗ.
- Bán cổ phiếu đang thắng để ko hối tiếc về việc nắm giữ chúng.
   → “Một người nên ko bao giờ cho phếp sự mạo hiểm có tính suy đoán
trong đầu tư”(sự hồi tưởng)
2.4.1 Tình huống : cổ phiếu ericsson
- Bạn có thể kiểm tra việc này với bạn của bạn.Người vẫn đang sở hữu cổ
phần của Ericson thì lạc quan hơn về tổng quan của cổ phiếu trong tương
lai.
- Giống việc nắm giữ cổ phiếu Telia.
2.5 Bất đồng về nhận thức:
- Khó tiếc nuối nếu lòng tin đã được thử thách mạnh mẽ.
 (Nhiều những điều này trong sự hồi tưởng.)
- Tránh những thông tin mới mà có thể thử thách lòng tin của bạn.




Sau một chiếc xe mua được, người chủ mới tránh những quảng cáo cho
những model cạnh tranh và tìm những quảng cáo cho model đã chọn.
- Những thông tin lý trí theo lòng tin cũ.
    Bằng việc nắm giữ cổ phiếu đang giảm.Kết quả dòng tiền vào nhanh
hơn dòng tiền ra cho cổ phần và chứng chỉ quĩ.
2.6 Việc neo(nguồn tin cậy)
- Mở khoá cho một con số nổi tiếng
    Dow 10000, Nasdaq 5000, Euro/USD 1
- Hình tượng Medialab và Framfab là tương tự nhau và nên có giá trị thị
  trường tương tự.
- Telia và “85”, Telia và “50”
- Đàu tiên bạn phản ứng ngược lại một thay đổi, sau đó chấp nhận nó như
  một sự thật.
 Gía cổ phiếu Internet là một ví dụ
 Chứng khoán Nhật
 EUR/USD
2.6.1 Ví dụ : giá trị ƣớc tính thật sự
- Đề nghị một con số của nhà định giá chuyên nghiệp, cho một giá đề nghị
khác .
- Gía đề nghị là $119,900 → giá trị định giá là $114,204
- Gía đề nghị là $149,900→ giá trị định giá là $128,754
- Biến động 50% một cách mạnh mẽ trong tình huống này:
Nhưng, điều này không thể là một chiến lược có sự lựa chọn nếu một giá
đề nghị cao giúp xua đuổi “những người chuyên săn hàng hạ giá để mua” từ
hành động diễn ra.Điều này dẫn đến việc niêm yết thực tế phổ biến giá đề
nghị rất thấp ở Stockholm.Từ đó tài sản thì không bán ở giá đề nghị, nó
không thực sự là giá đề nghị.
2.6.2 Những cái ngăn trí tuệ:
- Bạn có thể chia đầu tư của bạn vào nhiều ngăn riêng biệt.
* Dài hạn\ ngắn hạn
* Ngăn cách vị thế bằng vị thế.
- Bất chấp hiệu ứng tổng thể của một loạt các quyết định kinh tế nhỏ
- Giúp bạn trong nổ lực của bạn để tránh thua lỗ.
2.7 Sự cả tin:
- Liên hệ mật thiết đến sự phản ứng thái quá, phản ứng dưới mức và sự đại
diện để tìm ra
 Tài liệu tốt: tất cả những nỗ lực, đầu tư trong có vẻ tốt hơn trung bình.
   Đàn ông thì cả tin hơn phụ nữ.
 Sự tin tưởng quá cao trong nguyên tắc để tìm ra
    o Tất cả xxx hoặc yyy đều là kẻ trộm.
    o Mọi người thường thấy những mẫu hình trong dữ liệu ngẫu nhiên.
    o So sánh sự liên hệ giữa hình tượng Medialab và Framfad, hay
      Ericsson và Nokia.
 Dẫn đến mọi người giao dịch quá nhiều, nhưng có thể không nhất thiết
  dẫn đến việc phản ứng quá mạnh mẽ của giá cho những tin tức.
- Xem Statman and Thorley (1999).
2.8 Những tác động khác
2.8.1 Sự không thích hợp của lịch sử
- Dữ liệu lịch sử thì thường được thấy là không thích hợp
- Lòng tin vào thuyết định mệnh, những gì đã được xảy ra là do những
nhân tố riêng biệt trong quá khứ.
- Thêm nữa là linh cảm của khả năng dự báo cho hiện tại.”Tôi sẽ thấy nó
khi nó đến”
- Những sự thật không bình đẳng của các chuyên gia.
2.8.2 Suy nghĩ có tính ma thuật:
- Việc phản ứng lại từ những tín hiệu không có phân tích.
Ví dụ: Khi tôi mua cổ phiếu vào ngày thứ hai, tôi làm ra tiền,khi tôi mua cổ
phiếu vào ngày thứ ba tôi mất tiền, do đó.....
2.8.3 Sự thích thú nhỏ cho giá
- Hiệu ứng tách rời ra.
- Hành vi đánh bạc và sự đầu cơ.
- Suy nghĩ có vẻ là ma thuật.
- Sự chú ý không bình thường và tính có sẵn để tìm ra.
- Sự ảnh hưởng của văn hoá và xã hội.
- Văn hoá toàn cầu
2.9 Kết luận :
Chúng tôi bị ảnh hưởng bởi xu hướng tâm lý
Trong chừng mực nào đó chúng tôi tìm cách vượt qua những cái này bằng
cách sử dụng nguyên tắc ngón tay cái và sự tương tự(đồng dạng)
- Nó thì không rõ ràng làm thế nào hiệu ứng tâm lý làm tăng giá hay mẫu
  hình thu nhập.
- Đó là vân đề thảo luân trong phần tiếp theo.
2.10 Tình huống : không tìm ra nhà quản trị quỹ giá trị hành vi
Nguyên liẹu bên dưới được lấy trực tiếp từ website
UndiscoveredManagers.Đây là một nhà quản trị đầu tư đề nghị 6 quĩ dựa
trên kĩ thuật hành vi thực hiện bởi Fuller Thaler Asset Management Inc.
Đoạn text bên dưới là từ Fall của năm 2000 nhưng thành quả của nó được
cập nhật đến cuối năm 2002.
2.10.1 Triết lý đầu tƣ
- Xu hướng hành vi của người tham gia thị trường chủ chốt có thể tổng kết
trong chứng khoán misprice.
 Báo cáo này ám chỉ rằng một chiến lược ngược sẽ có lợi nhuận.
- Xu hướng như vậy nảy sinh từ những lối về tinh thần có tính hệ thống
  mà giới hạn khả năng một cá nhân ấn định kết quả xác suất tương
  lai.Những người tham gia thị trường thên chốt dự tính một cách ngây thơ
  trong quá khứ, phủ định thông tin về tương lai,và phớtt lờ tín hiệu của sự
  hồi phục
-   Hầu hết những đầu tư trừên thống dựa vào những thông tin cao cấp hay
    năng lực để thêm hiệu quả xử lý thông tin.
- Một phương pháp tài chính hành vi cho đầu tư nên có thể xác nhận được
  qua một thời gian dài hạn hơn là chiến lược đầu tư truyền thống, bởi vì
  hành vi con người thay đổi chậm hơn là năng lực của nhà quản trị cạnh
  tranh để cải thiện việc thu thập và xử lý thông tin của họ
 Đòi hỏi này là câu hỏi, vì giá trị của chiến lược hành vi không phụ thuộc
vào hiện trạng của xu hướng hành vi, nhưng phụ thuộc vào sự vắng mặt của
nnhững nhà kinh doanh cố gắng khai thác sự không hiệu quả.
2.10.2 Chiến lƣợc đầu tƣ:
       Quyết định mua :
 Coi tất cả giao dịch công khai ở Mỹ, những cổ phiếu có P/E thấp rằng có
  thành quả hoạt động dưới mức cho một kỳ chống đỡ.
 Mô hình đọc quyền sử dụng để nhận ra công ty mà được định giá dưới
  dựa vào những nhân tố sau :
- Việc mua nội bộ là đáng kể
- Việc mua lại cổ phần mà làm giảm giá cổ phiếu.
 Phân tích cơ bản bao gồm:
- Tỷ số nợ
- Dòng tiền
- Sự đánh giá liên quan đến ngành công nghiệp
- Tính ổn định tài chính.
Cấu trúc danh mục:
 Đòi hỏi về đa dạng hoá
- Tất cả những lĩnh vực\ngành công nghiệp ≤ 2* S&P 500 tăng thêm
- Vị thế tối đa là 6% trong bất cứ cổ phiếu nào.
 Thường tập trung từ 40 đến 50 cổ phần
       Quyết định bán:
- Thông tin nội bộ đã lộ ra và đã phản ánh trong giá cổ phiếu.
- Việc bán nội bộ.
- Sự định giá cao liên quan đến ngành công nghiệp.
- Sự phát hành cổ phần mới.
2.10.3 Những nét đặc trƣng của quỹ:
 Chỉ số chi phí > 1.4%
 Chuẩn chỉ số giá trị Russell 2000
 Style Box nhỏ hơn giá trị
 Điểm đóng kỳ vọng của quỹ là 300 triệu nhà đầu tư mới.




2.10.4 Kết luận: việc đầu tƣ theo hành vi
      Undiscovered Managers đã vừa chỉ ra thành quả dưới mức liên
       quan đến lấy chuẩn qua 6 chương trình riêng biệt.Nó có nghĩa rằng
       dầu tư hành vi ko thực hiện được ko?
      Chắc chắn là ko, nhưng nó khó thực hiện để đầu tư theo hành vi có
       sinh lợi.
      Nếu nó dễ dàng, mọi người đã thực hiện nó.Có lẽ phân tích kỹ
       thuật là tất cả về việc khai thác hành vi nhà đầu tư, trong trường
       hợp đó, chiến lược của Undiscovered Managers có thể được tái tạo
       bởi hàng trăm nhà đầu tư khác.
      Có lẻ Undiscovered Managers là nạn nhân của sự cả tin của chính
       họ…
2.11 Tình huống: việc cá cƣợc trên đƣờng đua
CHƢƠNG 3: GHÉT THUA LỖ VÀ SỰ CẢ TIN


Chúng ta sẽ xem xét 3 bài báo :
- Ghét thua lỗ và sự bí ẩn của phần bù rủi ro - Benartzi and Thaler (1993)
- Ghét thua lỗ và những mẫu hình thu nhập-Barberis et al. (1999)
- Sự cả tin và khối lượng giao dịch- Statman and Thorley (1999).
3.1 Bối cảnh: sự bí ẩn của phần bù rủi ro Mehra-Prescott
Những quan sát chung
- Theo Siegel (1994), phần bù cổ phần của chứng khoán Mỹ qua trái phiếu
  chính phủ ngắn hạn tính trung bình là 6.1% một năm từ 1926 tới 1992.
- Tác động này xem như là ổn định.
- phần bù rủi ro nên là kết quả của sự ghét rủi ro- nhà đầu tư đòi hỏi thu
  nhập thấp hơn trên trái phiếu bởi vì trái phiếu có ít rủi ro hơn cổ phiếu.
- Tuy nhiên, phần bù rủi ro quan sát được sẽ ám chỉ một thái độ ghét rủi ro
  của 30(đơn vị không quan trọng trong phần này), trong khi sự ghét rủi ro
  trong thực tế thì xoay quanh 2.
- Điều này ám chỉ rằng phần bù rủi ro lịch sử là quá cao.
Qua thời gian dài, nó thực sự trở thành trái phiếu dài hạn(sự chi trả của nó
cố định theo kỳ hạn nhỏ), không phải là cổ phiếu, mà đã có nhiều rủi ro hơn
trong kỳ hạn thực, bất chấp sự thay đổi chậm của nó hàng tháng,rất thay đổi
qua thời khoản thời gian dài, xem Siegel (1994).Hơn nữa, cổ phiếu chiêm
ưu thế hoàn toàn so với trái phiếu: không có kỳ hạn 30 năm từ 1871 mà một
danh mục rộng lớn các cổ phiếu được biểu hiện ra hoặc bằng trái phiếu hoặc
tín phiếu kho bạc.
Cố gắng giải quyết cả sự bí ẩn:
- Nhà đầu tư biên ( nhà đầu tư mà họ đặt giá bằng sự xác định rõ ràng) có
  thái độ ghét rủi ro cao hơn nhà đầu tư trung bình.
Ví dụ chúng ta có thể phản đối lại rằng hầu hết cổ phiếu thì được nắm giữ
bởi người cũ.Từ đó họ sẽ ngay lập tức trở nên kín đáo và living từ thu nhập
đầu tư của họ họ sẽ có khuynh hướng ghét rui ro hơn sự phổ biến trung
bình.
Sự phản đối rõ ràng không hoàn toàn vì hầu hết cổ phiếu được nắm giữ bởi
người giàu có.
- Sự ghét rủi ro có thể là rất cao một cách cục bộ
Tiếp tục thói quen- những người trong công ty tìm ra nó dễ dàng tăng tiêu
chuẩn sống nhưng khó trở lại(mức ban đầu).
Ghét thua lỗ- do sự tác động khung tâm lý mốtự thua lỗ sau đó (ex-post)
trong có vẻ lớn hơn lợi nhuận của cùng mức độ.
3.2 Ghét thua lỗ:
Ý tưởng cơ bản:
- Chúng ta sợ thua lỗ hơn là coi trọng thu nhập với cùng mức độ(size).
- Ghét thua lỗ ám chỉ ghét rủi ro.
- ghét rủi ro thì ko(cần thiết) ám chỉ Ghét thua lỗ
3.3 Ghét thua lỗ và bí ẩn của phần bù rủi ro
Benartzi and Thaler (1993)
Gỉa định rằng nhà đầu tư ghét thua lỗ và đánh giá lại danh mục của họ một
cách thường xuyên.
 - Nó dường như rằng phạm vi đánh giá lại điển hình là một năm.
 - Nếu một phần bù rủi ro cổ phần 6-7% là hợp lý.
3.4 Ghét thua lỗ và những mẫu hình thu nhập:
  Barberis et al. (1999)
  Chú ý bởi vì nó buộc hành vi cá nhân lại với nhau với kết quả là giá cân
   bằng.
 - Nhớ rằng bởi vì ngay cả một số nhà đầu tư ứng xử trong một xu hướng
   chắc chắn…., bởi thái độ sợ thua lỗ, nó không nhất thiết có nghĩa là thị
   trường như một tổng thể sẽ ứng xử theo cách đó.
 - Ví dụ khi chúng ta xem xét tại giao dịch phản hồi, nó tạo ra giao dịch
   phản hồi rõ ràng (việc mua sau khi giá tăng) thực sự sẽ dẫn đến tương
   quan giá một cách phủ định.
  Sử dụng cái gọi là “hiệu ứng nhà-tiền” (“house-money effect”) làm mô
   hình thay đổi thái độ sợ rủi ro.
  Sử dụng một “khung không chịu ảnh hưởng bởi thời gian”(time-less-
   framework)
 - Chú ý sự khác biệt từ Benartzi-Thaler-93.Họ cũng tìm ra rằng sự sợ
   thua lỗ bản thân nó không đủ để giải thích phần bù rủi ro vốn cổ
   phần.Để thay thế họ thêm sự thường xuyên định giá như là biến số.
Kết quả:
 - Gía sẽ dao động quanh giá trị thực
 - Khi nhà đầu tư gặp may mắn, họ cảm thấy giàu có
   Thua lỗ tương lai sẽ được giảm đau thương
   Phần bù vốn cổ phần sẽ giảm
   Nhà đầu tư sẽ thêm sẵn lòng đầu tư vào thị trường chứng khoán.
   Gía sẽ vượt xa hơn.
 - Khi giá rốt cục rớt, hiệu ứng sẽ đảo ngược
   Sự rớt giá ban đầu sẽ làm nhà đầu tư thêm sợ rủi ro
   Điều này sẽ giảm giá trị cổ phần
   Thêm những người cảm thấy rằng họ mất tiền, họ trở nên bình thản hơn
     sợ rủi ro.
 3.5 Thảo luận:
  Việc định giá sai sẽ phổ biến bởi vì tất cả nhà đầu tư là cùng một dạng.
  Nếu chúng ta thêm những nhà đầu cơ hợp lý với thái độ sợ rủi ro là cố
   định cho khuôn khổ này, hiệu ứng sẽ được giảm
  Nếu không có giới hạn về vốn có tính đầu cơ chúng ta sẽ trở lại mô hình
   giao dịch phản hồi
  Sợ thua lỗ sẽ chiếm trong vị thế giao dịch phản hồi, mua sau khi giá
   tăng
  Do đó giá sẽ tương quan phủ định
  Phần bù rủi ro
  Barberis et al. (1999) phản đối rằng thái độ sợ thua lỗ sử dụng bởi
   Benartzi and Thaler (1993) là không đủ giải thích cho phần bù rủi ro
    - Bài báo này thì đúng trong timeless framework, cái khác thì không.
3.5.1 Phần bù rủi ro vốn cổ phần đã thấy bởi Benartzi and Thaler
(1993)
  Barberis et al. (1999) phản đối rằng thái độ sợ thua lỗ sử dụng bởi
   Benartzi and Thaler (1993) là không đủ giải thích cho phần bù rủi ro
   vốn cổ phần .
  Bài báo này thì đúng trong timeless framework, cái khác thì không
  Nếu mọi người sử dụng phạm vi một năm để đánh giá đầu tư trong thị
   trường chứng khoán, khi đó phần bù cổ phần cao được giải thích bởi
   thái độ sợ thua lỗ ngắn hạn.
  Sự thật trong cuộc thử nghiệm việc sử dụng lương hưu.Thaler, Tversky,
   Kahneman and Schwartz (1997), Benartzi and Thaler (1996).
         - Thu nhập một năm → 40% chứng khoán
         - Thu nhập 30 năm → 90% chứng khoán
3.6 Sự cả tin và khối lƣợng giao dịch:
- Sự cả tin dẫn đến khối lượng giao dịch cao
- Đặc biệt là khi thị trường lên
- Khả năng thanh toán tiền mặt có thể giảm đi khi thị trường xuống.
- Hiệu ứng sự sắp đặt(hiệu ứng dây chuyền)(Disposition effect) Statman and
Thorley (1999).
- Nhà đầu tư cá nhân có giao dịch quá nhiều ko?
 Chắc chắn là có.


CHƢƠNG 4:           ĐIỀU PHI LÝ


4.1 Giới thiệu : điều phi lý
- Nó là một chỉ trích thông thường rằng nền kinh tế và tài chính không điều
chỉnh thích hợp điều phi lý.
- Điều phi lý có thể giải thích sự bất thường của giá thực tế không? Gía cổ
phiếu thì quá cao hay quá thấp liên quan đến hành động đánh giá khách quan
của rủi ro và thu nhập tương lai.
- Dù thế nào thì điều phi lý là cái gì?
 Chú ý rằng một vấn đề với điều phi lý là nó khó xác định cái gì chúng ta sẽ
xem xét.Trong tài chính hành vi, ít nhất chúng ta có thể giảm thiểu tác động
đến nhân tố hành vi quan sát được bên ngoài thị trường tài chính.Nó sẽ trở
nên bất khả thi để mô hình hoá toàn bộ thị trường phi lý và ngay cả nếu
chúng ta có thể, nó cũng không cung cấp nhiều sự hiểu biết thấu đáo thú vị
nào.
4.2 Tình huống: sự phi lý phát hành lần đầu của 3Com and Palm
- Palm, nhà chế tạo của Palmpilot là một bộ phận của 3Com.
- 4.1% cổ phần của Palm được phát hành với giá $38 vào 1\3\2000
- Cổ phiếu mở cửa tại $145, đỉnh cao là $165 và đóng củă tại $95.06
- Tại giá đóng cửa, điều này ám chỉ một giá trị phủ định của $21bn đặt vào
phần còn lại của việc kinh doanh của 3Com.
Tại sao ?
Việc bán khống Palm là đầy rủi ro và hầu như không thể.
Small Palm float
Kết luận:
Chúng ta không luôn luôn hoạt động trong một thị trường hợp lý, phải hành
động sao cho phù hợp!
Xem Owen A. Lamont.Tình huống kỳ lạ của palm and 3com.Financial
Times, Mastering Investment, Mastering Investment Part 6:8–10, June 18
2001 2001and New York Times, 3 March 2000, “Palm’s IPO tempts
investors with arbitrage ideas.”
4.3 Mô hình của điều vô lý:
     Sự hợp lý được thừa nhận
        - Những đại lý(agent) sử dụng tính đơn giản, nhưng về cơ bản là
          những nguyên tắc quyết định hợp lý.
     Bầy đàn
        - Những đại lý không chú ý đến những thông tin cá nhân (bí
          mật).
        - Điều này thì có một lý do trực giác trong khuôn khổ REE. Vì
          những tín hiệu tổng hợp từ thị trường chứng khoán thì quá
          chính xác (N lần chính xác như tín hiệu riêng), thu nhập từ việc
          kinh doanh trên thông tin riêng có thể khá thấp và đầy rủi ro.Do
          đó nhìn chung nhà đầu tư có thể tránh kinh doanh trên thông tin
          riêng.
     Mô hình tồn trữ
        - Mô hình này không hoàn toàn ám chỉ điều vô lý. Tuy nhiên nếu
          nhà đầu tư có sự tồn trữ dựa vào những chiến lược, ít nhất một
          số giao dịch sẽ đi ngược với thông tin.Cũng như kinh doanh
          phản hồi.
     Sự điên cuồng tập thể
     Mô hình hành vi
           - Hiệu ứng sự sắp đặt(tính khí)
           - Sự cả tin
           - Tính toán trí tuệ
           - Khác ….
4.4 Sự hợp lý đƣợc thừa nhận:
- Một phiên bản đã xác định là tốt hơn của điều vô lý.
- Những đại lý “hầu hết” là hợp lý, việc ứng xử một cách tối ưu cho một bộ
của các nguyên tắc quyết định.
- Những đại lý sử dụng nguyên tắc quyết định đơn giản.
Một ví dụ sẽ là các nhà đầu tư chọn lựa không xem ảnh hưởng của họ trên
giá thị trường khi đặt lệnh.Điều này trở thành một điểm cực thuận nhỏ, vì
mỗi nhà đầu tư có ảnh hưởng nhỏ đến giá thị trường . Tuy nhiên, ngay cả
nếu sự đòng thuận là nhỏ từ mỗi khía cạnh của một nhà đầu tư cá nhân, nó
có thể thể hiện trong sự bất thường giá thị trường rộng lớn.
- Thông số (giới hạn) của những nguyên tắc này là không chắc chắn.
Trước tiên là ko chắc chắn
Thay đổi một cách ngẫu nhiên, và ko thể quan sát được cái khác hơn qua
hành động.
Kết quả:
- Nhìn chung, sẽ chỉ có sai lệch nhỏ từ REE hoặc giá hợp lý một cách hoàn
hảo khác.
- Kết quả ngắn gọn,tự tương quan sự sai lệch với giá hiệu quả
- Có thể giải thích một cách hợp lý một số bất bình thường quan sát được
trong giá chứng khoán trong ngày.
- Hy vọng nhỏ hay không có hy vọng rằng sự hợp được thừa nhận sẽ cải tiến
hiểu biết của chúng ta về hướng di chuyển của giá trong dài hạn.
4.5 Bầy đàn, những tầng thông tin:
- Những đại lý không để ý đến thông tin cá nhân của họ, có lẽ bởi vì những
đại lý khác được kỳ vọng để biết tốt hơn.
- Có thể cho tăng rộng, nhưng hiệu ứng hợp lý một cách hoàn hảo cho 0/1
quyết định
Một ví dụ điển hình liên quan đến chọn 2 nhà hàng
Trước buổi tối, khách hàng sẽ hướng đến sự ưu thích đối với một trong 2
nhà hàng .dựa trên một ý nghĩ mơ hồ rằng khách hàng trước có thể có một số
thông tin về chất lượng thực phẩm.Sau buổi tối, một số khách hàng sẽ suy
luận hợp lý rằng những khách hàng là kết quả của một tầng thông tin, và có
thể theo cách đó sẵn lòng chọn nhà hàng khác.
- Chúnh ta có thể tưởng tượng một hiệu ứng tương tự trong đầu tư thị trường
chứng khoán .
Mọi người biết rằng Ericsson là một đầu tư tốt.Dựa vào cái gì???
- Nhìn chung những hiệu ứng này thì khó để mô hình hoá, và bởi sự định rõ
kết quả là ngẫu nhiên.
4.6 Chứng cứ thực nghiệm của hành vi ko hợp lý:
Nhà đầu tư thu được lợi nhuận nhưng lại dựa vào tài khoản cổ phiếu đang
thua lỗ.
       Xem Odean (1998)
       Việc tính toán trí tuệ:
         - Gĩư mỗi cổ phiếu của bạn mua\bán trong một tài khoản riêng
           biệt
         - Quên nó khi mà bạn bán nó đi
         - Từ chối chấp nhận thua lỗ.
4.7 Sự sụp đổ của thị trƣờng tài chính – có phải chúng là dấu hiệu của
điều phi lý?
Nhiều tiền lệ mang tính lịch sử
- Thị trường Tulip (Hà lan?), Tulipmania
Bất hợp lý một cách rõ ràng
- Bong bóng South Sea
Một phần là lừa dối
- Khủng hoảng Đông Nam Á 1997
- Bong bóng thị trường chứng khoán Nga
- Và tất nhiên, những cổ phiếu internet
4.7.1 Chứng cứ thực nghiệm :
Một ví dụ được cho trong bài báo Lei et al. (1998), một bài báo mà đã ko
phân phối cho khoá học này.
       Cơ cấu:
         - Để nhà kinh doanh và\hoặc nhà kinh doanh ko chuyên tự chống
           lại nhau.
         - Cơ cấu và sự chi trả đã biết cho mỗi nhà đầu tư
       Kết quả:
         - Gía có thể mâu thuẫn với nhưng nguyên tắc cơ bản.
         - Đặc biệt sự khác biệt lớn giữa giá và nguyên tắc cơ bản khi
           người tham gia thị trường thiếu kinh nghiệm.
         - Sự điều chỉnh dường như giống sự sụp đổ.
         - Không có điều kiện trên động cơ đầu cơ hay nhà kinh doanh
4.7.2 Hành vi kinh doanh ko hợp lý có thể giải thích những bất thƣờng
quan sát đƣợc ?
    Sự cả tin của nhà đầu tư
    Sợ thua lỗ
        - Dường như để giải thích cho một vài quyết định kinh doanh của
          cá nhân đơn lẻ
       - Khó hiểu làm thế nào cái này có thể chuyển vào giá thị trường
       - cf.(?) giao dịch phản hồi mà ở đó kết quả trên tiến trình giá thị
         trường là đối nghịch nhau từ câu trả lời mang tính trực giác
       - Nếu nhà kinh doanh bất hợp lý giao dịch với nhà kinh doanh bất
         hợp lý khác thì điều gì cũng có thể xảy ra.
               Nhưng ko có nhiều mô hình có thể làm được.
   Tuy nhiên giao dịch phản hồi dường như có thể giải thích nhiều chuỗi
    hiện tượng.
4.8 Tình huống: Rose.com bởi bất cứ tên khác
      Việc đo lường hiệu ứng của việc đổi tên một công ty thành “.com”
      Hiệu ứng thông báo một cách mạnh mẽ 80%.
  Điều này có hợp lý?
      Có, nếu việc đổi tên một công ty là tín hiệu đáng tin cậy cho sự
       phát triểntrong tương lai.
      Không, cảm giác thông thường nói cho chúng tôi rằng nó thì ko.
  Tại sao nó xảy ra?
      Có lẽ việc đổi tên công ty “.com” mở ra một vốn góp chung rộng
       lớn của các nhà đầu tư mà nó thì làm tăng giá cổ phần cực độ trên
       tính hợp lý chắc chắn.
      Tương tự việc thay đổi danh sách (cổ đông?) ban đầu hay di
       chuyển trụ sở chính.
      Những người tham gia thị trường không chỉ tin tên thay đổi là “tin
       tức”, họ cũng tin rằng tin tức này chưa phản ánh trong giá cổ phần.
  Kết luận:
      Việc đổi tên một công ty tương tự như việc sử lại cửa sổ, dù không
       gì được thay đổi thực sự, nhận thức của nhà đầu tư về công ty thay
       đổi.
          - Điều này có thể có giá trị lớn vô cùng
          - Có thể làm một IPO được ăn cả ngã về không.
       Thật tốt để biết về bài báo này khi bạn đang lên kế hoạch cho một
        IPO.
         Read Mark Hulbert, New York Times, 15 August 1999, “How dot-
         com makes a company smell sweet.”.


CHƢƠNG 5: BONG BÓNG VÀ SỰ SỤP ĐỔ




5.1 Giới thiệu:
Chúng ta biết rằng:
- Bong bóng tồn tại
- Bong bóng bùng nổ
- Một sự rớt giá mạnh mẽ thì tốt hơn rớt dài và chậm
- Vì giá sẽ phản ánh những thông tin cơ bản nhanh hơn.
Nhưng chúng ta không biết
- Tại sao chúng tồn tại
- Tai sao và khi nào chúng bùng nổ
- Nếu bong bóng và sự sụp đổ có liên quan một cách cơ bản
Phần này của khoá học sẽ cung cấp một số gợi ý như tại sao bong bóng hiện
ra.Có một ít để nói về việc bùng nổ của bong bóng, đây là một điều bí ẩn
kinh tế rộng lớn.
5.2 Định nghĩa bong bóng:
Gía mà không phù hợp với thông tin công cộng.
Thường việc tăng giá vững chắc giống như hình chóp.
5.2.1 Những ví dụ mà chúng ta đều biết(đã biết)
- Iridium (điện thoại vệ tinh), Eurotunnel(đường ngầm Châu âu)
- Ở Thụy Điển, Fermenta, Pricer, Dala djupgas, Empire, Framfab, ...
- Sự sắp xếp theo hệ thống hình chóp ((e.g. Albania, China)
- Chứng khoán tàu lửa thế kỷ 19
Lịch sử thì đầy những đầu tư bị lỗi, nhưng tất cả những cái này không thể là
bong bóng.Thỉnh thoảng chúng ta đầu tư sai hay không may mắn.
Thêm nhiều sự kiện mang tính lịch sử
- Thị trường Tilip (Hà Lan ?), Tulipmania
      Bất hợp lý rõ ràng, tương tự như bong bóng internet
- Bong bóng South Sea
      Một, ít nhất là một phần, bong bóng không thực, theo sau bởi nổ lực
      kiếm tiền từ nhà đầu tư bình thường.
- Bong bóng 1987 và sự sup đổ sau đó .
      Có lẽ phạm vi sự sụp đổ, và do đó cũng của bong bóng được thổi
      phồng bởi bảo hiểm danh mục. Xem Jacobs (1999)
- Khủng hoảng Đông Nam Á 1997
- Bong bóng thị trường chứng khoán Nga
- Và tất nhiên, Chứng khoán internet
5.2.2 Những chứng cứ thực nghiệm của bong bóng
      - Xem Lei et al. (1998).
      - Gía có thể mâu thuẫn với những nguyên tắc cơ bản.
      - Đặc biệt sự khác biệt lớn giữa giá và nguyên tắc cơ bản khi người
         tham gia thị trường thiếu kinh nghiệm.
      - Sự điều chỉnh dường như giống sự sụp đổ.
      - Không có điều kiện trên động cơ đầu cơ hay nhà kinh doanh
5.2.3 Tại sao bong bóng xuất hiện?
      - Phương tiện truyền thông đại chúng thổi phồng?
      - Thiếu nguồn cung (Tulipmania)
      - Không có vốn có tính đầu cơ, bong bóng khó mà đổ vỡ
      - Tăng trưởng của option trong giá chứng khoán (một cách bất ngờ
        những option có giá trị lớn hết hiệu lực mà không có giá trị)
      - Nhiều cơ hôi đầu cơ hơn vốn có sẵn.
    Một ví dụ bên ngoài thị trường tài chính là Mẫu hình chóp Albanian
    năm 1997.Chúng ta đều biết rằng những đầu tư thì kết thúc trong thất
    bại.Mặc dù vậy mỗi người vẫn muốn tiếp tục.(to be on the train)
5.2.4 Nguồn cung của vốn đầu cơ:
      - Gía sẽ ko tăng thêm mà không có việc giao
      - Việc thiếu vốn đầu cơ có thể cho phép bong bóng phình to
5.2.5 Bong bóng đảo ngƣợc:
       Chứng khoán bị định dưới giá một cách khách quan.
       Một số là một phần của sự bất thường gía chứng khoán, như là :
          - Hiệu ứng công ty nhỏ
          - Từ lý thuyết tới hiệu ứng thị trường .
       Sự tăng thêm của giá thì hiếm khi giống sự sụp đổ.
      →Dường như là bong bóng thông thường, nhưng khó đánh giá
      hơn.Có ai đã từng nghe việc mua hoảng loạn chưa?
5.3 Những sụp đổ:
- Đặc trưng cho sự kết thúc của một bong bóng.
- Nhận dạng: Gía sẽ điều chỉnh một cách bất ngờ mà không có thông tin
  cơ bản mới nào như: khả năng sinh lợi, sợ rủi ro tổng thể, niềm tin của
  nhà đầu tư.
- Sự đổ vỡ là một phần không thể thiếu của thị trường tài chính.
5.3.1 Sự đổ vỡ là không thể tránh đƣợc?
- Tài liệu khá ít trên sự đổ vỡ tài chính và đóng vai trò như thông tin.
- Có phải giá cao thì ít thông tin cung cấp hơn giá thấp không?
5.3.2 Tại sao lại có một số sụp đổ “đảo ngƣợc”?
Gía thì không cân đối theo nhiều cách
         - Chứng cứ về chuỗi thời gian
         - Chứng cứ về bộ phận tiêu biểu
         - Những động lực lên-xuống
5.3.3 Những nổ lực giải thích
       Sợ thua lỗ
           - Một số lượng lớn nhà đầu tư sẽ cố gắng cắt giảm thua lỗ ngắn
             hạn
       Bán khống bị nén lại
       Phòng ngừa danh mục, kinh doanh theo chương trình
       Những cú sốc bên ngoài
       Sự thay đổi sở thích đột ngột (hành động cho sự an toàn)
       Tấn công của đầu cơ
           - Những phát ra bất ngờ của những thông tin giá xuống ,`a la
             Hong and Stein.
       Phòng ngừa danh mục(mua và bán có tính hệ thống dựa trên những
        thu nhập sớm hơn phóng đại sự thay đổi giá theo chiều đi xuống)
           - Nhà đầu tư với những thông tin giá xuống sẽ thấy nó đắt để
             duy trì vị thế ngắn hạn.Do đó họ sẽ phá giá để thu lợi nhuận
             trên thông tin giá xuống một cách nhanh hơn.
Nhưng


    Khả năng dự báo gợi ra thị trường không hiệu quả
    Những chứng cứ thực nghiệm chỉ ra những hành vi không hợp lý.Xem
     Lei et al. (1998).
      - Gía có thể mâu thuẫn với những nguyên tắc cơ bản.
      - Đặc biệt sự khác biệt lớn giữa giá và nguyên tắc cơ bản khi người
         tham gia thị trường thiếu kinh nghiệm.
      - Sự điều chỉnh dường như giống sự sụp đổ.
      - Không có điều kiện trên động cơ đầu cơ hay nhà kinh doanh
5.3.4 Sự tấn công có tính đầu cơ:
     Hầu hết đã biết trong thị trường tiền tệ
           - Sự tấn công của Soros vào tỷ giá đồng Bảng Anh
           - Sự tấn công SEK vào năm 1993
     ...nhưng cũng “sự hồi tưởng”, ví dụ,khi Larry Livermore cố găng
      phá vỡ sự hỗ trợ giá bên trong.
     Hiếm khi trong thị trường chứng khoán, có thể là quá xa hoa, Có lẽ
      không có người bảo vệ giá co sự tấn công.
     Lượng thông tin cải thiện trong giá:
          - So sánh vớí tài liệu vùng mục tiêu
          - Sự can thiệp sẽ làm nản lòng bất cứ hàm lượng thông tin nào
            của giá
     Di chuyển giá một cách nhanh chóng cho một mức độ cân bằng dài
      hạn
5.4 Mô hình Hong and Stein:
  Xem Hong and Stein (1999).
    Sử dụng thực tế và sự đè nén của bán khống ngầm như là người
     hướng dẫn.
    Liên hệ đến tính ko đối xứng trong sự thay đổi giá hằng ngày.
5.4.1 Sự thay đổi giá ko đối xứng:
   Xem hình 5.5
    a.k.a. hiệu ứng của đòn bẫy
    Sự rớt giá lớn được theo sau bởi sự phản ứng lại(bật lại), trong khi đó
     sự tăng giá lớn được theo sau bởi sự tiếp tục.
    Là kết quả của độ dốc trong thu nhập.
   Độ dốc thì có mặt trong thu nhập của những phạm vi khác nhau mà
    làm nó khó giải thích việc sử dụng những lý thuyết chuẩn.




Hình 5.5: Một minh hoạ của độ dốc âm trong thu nhập chứng khoán
5.4.2 Sự lựa chọn: Lý thuyết đòn bẫy
    Sự hợp lý của nợ-vốn chủ sở hữu của một công ty chịu ảnh hưởng của
     thu nhập thị trường.
          - Vốn chủ sở hữu thấp hơn làm cho nó rủi ro hơn.
          - Vốn chủ sở hữu cao hơn làm cho nó ít rủi ro hơn.
    Nhưng ai sẽ tin rằng sự thay đổi nội trong đòn bẫy tại giá trịi thị
     trường sẽ có ảnh hưởng trên giá tài sản?
    Và tại sao chỉ với một sự chậm trễ?
5.4.3 Sự lựa chọn: Lý thuyết rủi ro giá
      Một cú sốc giá làm giá rủi ro hơn bản thân nó.
      Như một hệ quả, giá được điều chỉnh đi xuống sau tất cả những dịch
       chuyển chủ yếu của giá.
       - Ẩnh hưởng này sẽ kết hợp với sự thay đổi giá âm, kết quả trong
       một sự đảo ngược khi sự tăng lên tạm thời của rủi ro biến mất.
5.4.4 Sự lựa chọn: sự khác nhau của lý thuyết đánh giá
           Những thông tin hiện hữu và ko hiện hữu
           Thông tin của những người ko tham gia không thể tuân theo.
              - Do sự đè nén của bán khống ( quỹ tương hỗ hay cá nhân)
              - Hoặc chi phí giao dịch (điều này sẽ được tổng kết trong một
                 tình huống cân đối)
           Những nhà đầu tư vắng mặt có đánh giá thấp hơn giá thị trường
           Điều này thì biết và bù trừ vào tài khoản bởi người arbitrage
5.4.5 Thông tin của nhà đầu tƣ vắng mặt:
   Sẽ bộc lộ nếu giá rớt:
         - Nếu nhà đầu tư vắng mặt bắt đầu mua, đánh giá của họ thì đã
           cao tương đối.
         - Nếu nhà đầu tư vắng mặt ko bắt đầu mua, đánh giá của họ thì
           đã thấp tương đối.
   Sự vắng mặt của việc mua hỗ trợ sẽ gây ra cho toàn thị trường đánh
    giá lại sự đi xuống của chứng khoán .
5.4.6 Chúng ta chọn độ dốc của thu nhập….
   Sau một rớt giá, có thể hỗ trợ giá bật lại “quá sớm”
         - Nhà đầu tư hiện tại đánh giá lại sự tăng giá , i.e., một rớt nhẹ.
   Hoặc hỗ trợ giá bật lại “quá trễ”, trong tình huống mà giá sẽ được điều
     chỉnh lại sự rớt giá
5.4.7 …và một hiệu ứng từ khối lƣợng giao dịch:
   Khối lượng giao dịch đại diện cho sự khác nhau trong quan điểm đánh
    giá.
   Khi khối lượng giao dịch cao, nó thì giống hơn rằng những thông tin
    vắng mặt mâu thuẫn với thông tin hiện tại, vì thế thay đổi của một sự
      rớt mạnh trong giá chứng khoán là lớn.Ví dụ độ dốc cao hơn của thu
      nhập.
      Chuyên nghiệp
      Cơ bản tất cả các mẫu hình thu nhập có thể được giải thích.
      Bài phê bình.
      Ko có sự giải thích thoả đáng nào của “khi” nhà đầu tư bị ngăn chặn
      sẽ bắt đầu có thu nhập trong thị trường.
5.5 Case Study: Sản phẩm Avon
    Đoạn text dưới đây cho một ví dụ làm thế nào giá phi lý có thể được
     tìm ra trong sự cải tiến.
    Việc định giá sai một cách cơ bản của Avon được biết đến trong cộng
     đồng.
Piper and Fruhan (1981)
   Một ước tính giá trị tuyệt đối thì quan trọng cho việc duy trì cho giống sự
   hợp lý khi thị trường dường như vô lý dữ dội-như trong thị trường “hai
   tầng” của đầu những năm 1970 khi những cổ phần tăng trưởng bán với tỷ
   số P\E rất cao.Trong nhóm đó, bội số P\E của một công ty dường như
   không nhiều hơn hoặc ít hơn một cách thái quá so với của những nhóm
   khác.
   Một trong những cái yêu thích của thị trường là Avon Products, ,mà giá
   của nó được bán trên 140$, hoặc 60 lần thu nhập vào đầu những năm
   1970 dựa trên việc ghi nhận những khoản thu nhập đáng chú ý của
   nó.Qua thập kỷ trước giá thuần cho mỗi cổ phần của Avon đã tăng trưởng
   với mức lãi suất kép hàng năm là 17%.
   Avon có thể giữ tốc độ lên đó ko? Dù cho phần bù thị trường cao ngất
   ngưỡng của nó, công ty đang chỉ ra những tín hiệu của việc hoá giá- sự
   sụt giảm dần trong khả năng siinh lợi và năng lực của nó để tái đầu tư
   một phần trăm cao của thu nhập.Thu nhập của nó trên vốn chủ sở hữu
   trượt từ 37% năm 1965 xuống 33% năm 1972, và tỷ lệ chi trả cổ tức của
   nó tăng khủng khiếp từ 55% năm 1965 đến 63% năm 1972.
   Một bài báo ở Fortune vào thời điểm đó đã đề nghị rằng cuộc tranh luận
   qua giá trị thật của các cổ phần tăng trưởng được giải quyết bằng cáhc sử
   dụng mô hình định giá cổ tức.Với Avon tác giả yêu cầu việc giảm tỷ lệ
   tăng trưởng một cách đều đặn và tăng tỷ lệ cổ tức một cách đều đặn cho
   công ty sung mãn.Việc áp dụng cho dòng cổ tức dự kiến một lãi suất
   chiết khấu phù hợp cho khả năng rủi ro của cổ phần (14%) anh ta đã tính
   giá trị của nó chỉ là $42.50.
   Có lẽ một số những tranh luận này trên giá trị tuyệt đối đã thấm vào nhà
   đầu tư. Cổ phần của Avon, đã trượt từ 140$ vào tháng 2\1973 xuống
   102$ vào thời điểm công bố của bài báo-một phần trên do sự thất vọng về
   thu nhập trong quý 2 năm 1973-đã sụt giá dài cùng với sự yên lặng của
   thị trường, vươn tới giá thấp nhất là 19$ trong sự rơi xuống vào năm
   1974.Sau đó nó phục hồi lại và đựoc giao dịch trong phạm vi 30$ đến
   60$ cho 5 năm vừa qua.
5.6 Case Study: cận cảnh thị trƣờng vốn
     Tình huống trường kinh tế Harvard (Sahlman and Stevenson)
     1977-84- việc đầu tư vào sự khởi động sản xuất đĩa ở Winchester lên
      đến 400 triệu USD.
     1983-84 - $270 triệu vốn mạo hiểm đã được đầu tư trong 51 lĩnh vực
      tài chính, 21 cho sự khởi động.
     1983-84 - $800 triệu đã tăng lên qua IPO hay seasoned
      offerings(những đề nghị kinh nghiệm)
     1983 giá trị thị trường của 12 công ty lên tới 4,2 tỷ USD, đã rớt
      xuống 1,4 tỷ trong vòng một năm.
     1983 tỷ số P\E ttm(???) cho top 12 công ty ≈ 2000.
     Gía cổ phần của “người chiến thắng” (Quantum) đã giữ nguyên như
      hằng số.Một vài công ty đã rớt 90% liên quan đến giá đề nghị cuối
      cùng.
5.6.1 Bài học rút ra:
    Một câu chuyện tương tự được nói đến trong tình huống về Iomega
    trong chương 10 của Harris
     Tăng trưởng thì ko tương đương với khả năng lợi nhuận.
     Phân tích ngành thì quan trọng như phân tích công ty.
     Nhà đầu tư chuyên nghiệp thì ko được miễn khỏi sự trừng phạt.
     Lạc quan thái quá về công ty của mình.
     Cạnh tranh giết chết lợi nhuận.
     …Và sau tất cả, ổ cứng có sự va chạm khủng khiếp trong việc sử
      dụng máy vi tính. (???)


Bibliography

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:69
posted:2/16/2011
language:Vietnamese
pages:44