Docstoc

Ap_dung_TCHV

Document Sample
Ap_dung_TCHV Powered By Docstoc
					ÁP DỤNG TÀI CHÍNH HÀNH VI CHO ĐẦU
         TƯ THEO GIÁ TRỊ
By Whitney Tilson
T2 Partners LLC
Info@T2PartnersLLC.com
www.T2PartnersLLC.com
November 2005

                      Tài chính hành vi là cái gì?
Peter Bernstein trong Against the Gods phát biểu rằng chứng cứ “ khám
phá những mẫu hình lặp lại điều vô lý, ko thống nhất và thiếu khả năng
trong cách mà con người đi đến những quyết định và những chọn lựa khi
đối mặt với điêù ko chắc chắc”.
Tài chính hành vi nổ lực giải thích như thế nào và tại sao xúc cảm và những
lỗi về nhận thức (kinh no) ảnh hưởng đến những nhà đầu tư tạo ra thị
trường chứng khoán bất thường như bong bóng và sự sụp đổ.
Nhưng những thiếu sót của con người có phải là đồng nhất và có khả năng
dự báo như là có thể là: a) tránh và b) mạo hiểm vì lợi nhuận.
                  Tại sao tài chính hành vi là quan trọng?
“Đầu tư ko phải là trò chơi mà ở đó những gã có IQ 160 thắng những gã
với IQ 130…Một lần bạn có trí thông minh bình thường, cái mà bạn cần là
khí chất để kiểm soát sự ham muốn mạnh mẽ mà mọi người mắc phải
những vấn đề trong đầu tư”-Warren Buffett
                     Những lỗi tinh thần thông thường
    1) Sự cả tin
    2) Việc hướng quá khứ gần nhất vào tương lai xa.
    3) Hành vi bầy đàn (bằng chứng xã hội) lái những ham muốn trở thành
        một phần của đám đông hoặc giả định rằng đám đông là chúa.
    4) Sự ngẫu nhiên mang tính sai lầm, việc thấy những mẫu hình mà ko
        có hiện hữu
    5) Xu hướng giao phó và kiên định.
    6) Sợ những cơ hội, kết quả của một xu hướng mạnh mẽ cho đóng
        khung vị thế.
    7) “Anchoring” trên dữ liệu không liên quan.
    8) Sợ thua lỗ quá mức.
    9) Sử dụng những tính toán cảm tính để xử lý một số tiền (như là thắng
        bạc hay phần thưởng ko mong đợi) một cách khác với tiền khác.
    10) Cho phép việc kết nối có tính cảm xúc không tính đến lý do (bất
        chấp lý do)
    11) Sợ sự ko chắc chắn
    12) Ôm chặt sự chắc chắn ( tuy nhiên ko phù hợp_)
13) Ước tính quá mức sự có khả năng của những sự kiện chắc chắn dựa
   trên những dữ liệu rất đáng nhớ hoặc kinh nghiệm ( xu hướng có
   tính sống động, mạnh mẽ)
14) Trở nên đờ người bởi sự quá tải thông tin.
15) Nhược điểm cho hành động do sự phong phú của những lựa chọn
   hấp dẫn.
16) Sợ quyêt định sai lầm và cảm thấy ngu ngốc (tránh hối tiếc)
17) Bỏ qua những điểm dữ liệu quan trọng và việc tập trung một cách
   quá mức vào những dữ liệu khác ít quan trọng hơn.Đưa ra kết luận
   từ số lượng ví dụ giới hạn.
18) Miễn cưỡng nhận lỗi.
19) Sau khi tìm ra dù một sự kiện có xuất hiện hay ko, việc ước tính quá
   mức mức độ mà sẽ được dự báo kết quả đúng.
20) Việc tin rằng thành công đầu tư của một người là sự hiểu biết hơn là
   do một thị trường đang tăng lên, những thất bại thì ko phải lỗi của
   người đó.
21) Nhược điểm cho đánh gái một cách chính xác đầu tư của một người
   là miền thời gian.
22) Khuynh hướng chỉ tìm kiếm thông tin mà xác nhận cho quan điểm
   hay quyết định của người đó.
23) Khuyết điểm cho nhận ra sự tác động luỹ tích lớn của những số
   lượng nhỏ qua thời gian.
24) Việc quên khiunh hướng mạnh mẽ của sự thoái lui tới mức trung
   bình.
25) Sự hiểu biết rối ren của kiến thức.
                            Sự cả tin
1) 19% mọi người nghĩ rằng họ thuộc về 1% giàu có của gia đình Mỹ.
2) 82% mọi người nói rằng họ ở trong 30% tài xế an toàn.
3) 80% sinh viên nghĩ rằng họ sẽ hoàn thành trong nửa top trên của
   lớp.
4) Khi yêu cầu làm một dự báo tại mức tin cậy là 98%, những người là
   đúng chỉ chiếm 60-70%.
5) 68% luật sư trong tình huống liên quan đến công dân tin rằng bên họ
   sẽ thắng.
6) Những bác sĩ trước sau như một đánh giá quá cao khả năng của họ
   cho tìm ra bệnh chắc chắn.
7) 81% chủ doanh nghiệp mới nghĩ rằng doanh nghiệp của họ có ít nhất
   70% cơ hội thành công, nhưng chỉ có 30% nghĩ bất cứ một doanh
   nghiệp nào giống doanh nghiệp của họ sẽ thành công giống như vậy.
8) Những sinh viên đại học được yêu cầu ước tính mất bao nhiêu thời
   gian để hoàn thành luận văn của họ dưới 3 viễn cảnh: tình huống tốt
   nhất, ttrung bình (kỳ vọng) và tình huống xấu nhất.Ước tính trung
   bình lần lượt là 27.4 ngày, 33.9 ngày và 48.6 ngày.Mức trung bình
   thật sự là 55.5 ngày.
9) Nhà quản trị quỹ tương hỗ, nhà phân tích và điều hành doanh nghịêp
   tại một hội nghị được yêu cầu viết ra họ sẽ có bao bhiêu tiền khi về
   hưu và người trung bình trong phòng có bao nhiêu.Con số trung bình
   lần lượt là 5 triệu $ và 2.6 triệu $.Vị giáo sư hỏi đã nói rằng, bất
   chấp người nghe, tỷ số này luôn khoảng chừng 2:1.
10) 86% bạn cùng trường Harvard của tôi nói rằng họ trong tốt hơn bạn
   cùng lớp của họ.
Có thể dẫn đến việc sai lệch vòng tuần hoàn quá mức của năng lực và
đòn bẫy cao quá mức, sự tập trung kinh doanh và danh mục.
                     Thông tin và sự cả tin
Thỉnh thoảng thông tin thêm có thể dẫn đến quyết định xấu nhất, sự cả
tin và giao dịch quá mức.
Heuer nghiên cứu của 8 nhà chấp chuyên nghiệp (thiết lập việc cá cược
lẻ taị trường đua ngựa)
- Việc dịch chuyển từ 5 mẫu dữ liệu quan trong nhất đến 40 đã giảm ko
đáng kể sự chính xác của việc chấp.
- Nhưng đã làm nhân đôi sự cả tin của họ.
- Kết quả tương tự với bác sĩ và nhà tâm lý học
- Kết luận:” Nhà phân tích có kinh nghiệm có một sự hiểu biết ko hoàn
toàn về thông tin gì họ thật sự sử dụng trong việc ra ý kiến.Họ ko biết
về phạm vi mà ý kiến của họ được xác định bởi một vài nhân tố có ảnh
hưởng lớn hơn là sự tổng hợp có tính hệ thống của tất cả thông tin có
sẵn.Nhà phân tích sử dụng nhiều những thông tin ít có sẵn hơn là họ
nghĩ”
Andreassen nghiên cứu trên sự quá tải thông tin dẫn đến giao dịch quá
mức.
         Herd-Like Behavior ( hành vi giống bầy đàn)
  Một hiện tượng có “chứng cứ xã hội”.
  Từ 1984 đến 1995, quỹ hỗ tương chứng khoán trung bình đã báo cáo
    một thu nhu nhập hàng năm 12.3%(đấu với 15.4% cho S&P), chưa
    nhà đầu tư trung bình nào trong một quỹ hỗ tương chứng khoán đã
    kiếm được 6.3%.Điều đó có nghĩa rằng qua 12 năm này, nhà đầu tư
    quỹ hỗ tương trung bình sẽ có gần gấp đôi số tiền bằng cách đơn
    giản là mua và nắm giữ quỹ hỗ tương trung bình, và gần ba lần
    bằng cách mua và nắm giữ chỉ số S&P 500.
  Qua thời kỳ giống nhau, quỹ hỗ tương trái phiếu trung bình đã thu
    được 9.7% hàng năm, trong khi đó nhà đầu tư trung bình trong một
    trái phiếu hỗ tương hoa hồng kiếm được 8% hàng năm.
      -Một sự chênh lệch hẹp hơn quỹ cổ phần.
         - Trái phiếu thì dễ dàng hơn để định giá và do đó thị trường trái
         phiếu thì ko dễ bị tổn thương từ bong bóng và sự sụp đổ.
   Một nhân tố mấu chốt trong việc định hình bong bóng:
                Việc làm theo đám đông
   Làm theo đám đông: cuộc thử nghiệm của Solomon Asch
         - 35% chủ thể đã làm theo ý kiến của nhóm ngay cả khi họ biết
            rằng là sai.Bởi vì họ thì cảm thấy ko thoải mái để trở thành
            phần thiểu số chống lại phần đa số mạnh mẽ.
         - Kích thước của nhóm thì ko có vấn đề
         - Nhưng nếu ngay cả một người đã cho câu trả lời đúng, chủ
            thể đã ở xa sự phù hợp để cũng cho câu trả lời đúng




                        Thêm vào bong bóng
Sự cả tin, chứng cứ xã hội, sự hiểu lầm việc làm thành chùm ngẫu nhiên, sự
quá mức của dữ liệu gần đây và nổi bật- hiệu ứng lollapalooza
Wall Street Journal, 4/30/04:
   Nhà đầu tư biết rằng nó thì quan trọng để thoát ra, tuy nhiên- đó là bài
   học mà họ đã rút ra từ cái hố của sự tích trữ tăng giá cao của dot-
   com.Và họ xuất hiện để tin rằng họ sẽ có thể thoát ra trước khi một
   chứng khoán sa lầy, như được minh hoạ bằng nhiều cuộc thử nghiệm
   được hướng dẫn bởi Vernon Smith, một giáo sư tại trường đại học
   George Mason, người đã góp phần vào giải Nobel kinh tế năm 2002.
   Trong những cuộc thử nghiệm này, người tham gia sẽ kinh doanh cổ
   phiếu chi trả cổ tức mà giá trị của nó đã đặt ra rõ ràng. Luôn luôn vẫn
   vậy, một bong bóng sẽ điịnh hình, với sự sụp đổ chứng khoán sau đó
   cho giá trị cơ bản của nó. Người tham gia sẽ tập hợp lại cho buổi
   họp(thử nghiệm) thứ hai.Mặc dù vậy, chứng khoán đã vượt mức giá trị
   cơ bản đã định của nó, dù cho bong bóng sẽ định hình nhanh hơn và nổ
   sớm hơn.
   “ những chủ thể thì rất lạc quan rằng họ sẽ ngửi thấy điểm đổi chiều”,
   ông Smith nói. “Họ luôn báo cáo rằng họ đã ngạc nhiên bởi làm thế nào
   nó đảo chiều một cách nhanh chóng và thoát ra một cách khó khăn tai
   bất cứ giá thuận lợi nào.”
    Nhưng mang người tham gia trở lại cuộc thử nghiệm thứ ba, và chứng
    khoán giao dịch gần với giá trị cơ bản của nó, nếu nó giao dịch tại tất cả,
    nghiên cứu của giáo sư chỉ ra.”
                                 Sợ thua lỗ
   Mọi người cảm thấy đau khổ của thua lỗ gấp đôi cái dễ chịu mà họ nhận
    được từ một thu nhập tương tự.
   Case study: 2 xúc sắc 6 mặt, A và B.A thì được điểm 1-1-1-1-1-13. B
    thì được 2-2-2-2-2-2. Mọi người thích B hơn dù giá trị kỳ vọng của A
    thì cao hơn ( 3 so với 2).
   Case study: từ chối bán tại mức lỗ.
      - Philip Fisher, Common Stocks and Uncommon Profits:
            “Có một nhân tố phức tạp mà làm cho cách trình bày những lỗi
       của nhà đầu tư thêm khó khăn. Đây là cái tôi của mỗi chúng ta.Không
       ai trong chúng ta thích nhận chiính bản thân anh ta rằng anh ta đã
       sai.Nếu chúng ta có một lỗi trong việc mua 1 chứng khoán nhưng có
       thể bán tại mức lợi nhuận nhỏ, bằng cách này hay cách khác chúng ta
       mất đi cảm giác của việc trở nên ngu xuẩn.
       Mặt khác, nếu chúng ta bán tại mức lỗ nhỏ chúng ta khá ko vui về vấn
       đề bình an vô sự. Sự phản tác dụng này, trong khi hoàn toàn tự nhiên
       và bình thường, thì hầu như chắc chắn là một trong nhữnh nguy hiểm
       mà chúng ta tự cho phép mình trong toàn bộ tiến trình đầu tư.
       Thêm nữa tiền có khả năng mất đi bởi nhà đầu tư nắm giữ 1 chứng
       khoán họ thật sự ko muốn cho tới khi họ có thể “at least come out
       even” hơn từ bất cứ một lý do đơn giản nào.Nếu những mất mát thật
       sự này được cộng vào lợi nhuận mà có thể tạo nên qua việc tái đầu tư
       thích hợp của nguồn quỹ này nếu như việc tái đầu tư được tạo ra khi
       cái lỗi được hiểu rõ đầu tiên, chi phí của tự buông thả trở nên lớn thật
       sự.”
                               Sự giao phó
 “Một nghiên cứu của 2 nhà tâm lý người Canada đã mở ra một số hấp dẫn
   về con người trường đua: vừa sau đặt cược, họ tin tưởng nhiều hơn cơ
   hội chiến thắng của con ngựa của họ hơn là ngay lúc trước khi họ đặt
   cược.
   Lý do cho những biến đổi là…nỗi ám ảnh không hoàn toàn của chúng ta
   khao khát là (và xuất hiện) đồng nhất với cái mà chúng ta vừa làm.
   Chỉ một lần chúng ta tạo ra 1 lựa chọn hay một chỗ đứng, chúng ta sẽ
   đụng độ cá nhân và giưũa cá nhân với nhau nhấn mạnh hành vi đồng nhất
   với sự giao phó đó.Những nhấn mạnh đó sẽ là nguyên nhân chúng ta đáp
   lại trong những cách thanh minh cho quyết định sớm hơn của chúng ta.”
   – Influence
  Dẫn đến sự bóp méo thông tin.”Thông tin mà đồng nhất với những suy
   nghĩ hiện tại của chúng ta thì được nhận thức và xử lý dễ dàng.Tuy
  nhiên, vì suy nghĩ của chúng ta đấu tranh theo bản năng cho sự đồng
  nhất, thông tin mà ko đồng nhất với ý niệm tinh thần(trí tuệ) của chúng ta
  có khuynh hướng ko được nhận thấy, hiểu được trong cách bị bóp méo,
  hoặc được hợp lý hoá cho hợp với những giả định và lòng tin hiện tại.Do
  dó, những thông tin mới có khuynh hướng được hiểu và làm sáng tỏ theo
  cách củng cố thêm lòng tin hiện tại.”
  - Grizelda and Beth nghiên cứu
     Ví dụ của sự giao phó và cũng “bộ não có một năng lực đáng chú ý
  cho việc kiềm chế (refraining # reframing) gần kết quả để thấy setbacks
  trong ánh sáng có thể xảy ra tốt nhất.Bạn có thể thấy nó khi các quan
  chức trường trung học quyết định trường đó rằng loại bỏ chúng thật sự là
  ko tốt lắm.”
 Case study: “Tôi mắc một lỗi lớn trong việc ko bán một vài cổ phần lớn
  hơn của chúng ta trong suốt The Great Bubble. Nếu bây giờ những chứng
  khoán này có đề giá (được giá?) đầy đủ, bạn có thể ngạc nhiên cái mà tôi
  đã nghĩ cách đây 4 năm khi giá trị thực chất bên trong của chúng thì thấp
  hơn và giá của chúng thì cao hơn xa.Tôi cũng thế”. –Warren Buffett,
  2003 Berkshire Hathaway annual report .
 Một trong những nguy hiểm lớn của việc nói \viết một cách công khai về
  vị thế của nó.
                   Việc thả neo (Nguồn tin cậy)
  Thả neo trên giá mua bán
     - “Khi tôi đã mua một số tại X và nó đã tăng lên tới X 1\8, tôi thỉnh
       thoảng dừng việc mua có lẽ hy vọng nó sẽ đi xuống . Chúng tôi đã
       bở lỡ hàng tỷ khi thả neo.Tôi đòi hỏi chúng tôi khoảng 10 tỷ $. Tôi
       sắp đặt mua 100 triệu cổ phần, trước chia tách, tại 23$. Chúng tôi đã
       mua một ít và nó đã tăng một ít và tôi nghĩ nó có thể giảm lại một
       ít.Ai biết? Việc non nớt vụng về đó, việc miến cưỡng trả thêm một
       ít.Chi phí cho chúng tôi lớn”-Buffett
     - Việc bán của Denny tại những mức giá khác nhau.
  Thả neo trên giá lịch sử (hay giá tiêu biểu)
     - Từ chối mua một cổ phần hôm nay bởi vì nó thì rẻ hơn năm vừa rồi
       hay có giá cao trên cổ phần (Berkshire Hathaway )
     - Từ chối bán bởi vì nó cao hơn trong quá khứ.
  Neo trên sự am hiểu lịch sử
     - Dell là nhà sản xuất họp hàng hoá hay MBIA thì gấp ba lần.
  Neo trên sự am hiểu\dữ liệu ban đầu
     - Những mô tả nhà hàng thử nghiệm
  Neo trên con số vô nghĩa
     - Taversky and Kahneman nghiên cứu: quay vòng bánh xe và ước tính
       phần trăm nước ở UN là thuộc Châu Phi
  Việc học những bài học sai bởi việc hiểu lầm sự ngẫu
                        nhiên
 Từ chối làm ra tiền với một quyết định tốt
        - 5 lỗi phồng ra to hơn của Chris Davis
        - Ví dụ của Munger về quản trị dầu bằng cách tự chúc mừng
            bản thân họ.
 Từ chối thua lỗ tiền với một quyết định tồi.
        - Những rủi ro được tính toán thì OK.
        - Ví dụ của Bob Rubin về sự khôn ngoan (từ Trong một thế
            giới ko chắc chắn)
 Việc mổ xẻ cuộc thử nghiệm lừa gạt.
                          Những lỗi khác
 Việc tính toán trí tuệ (tinh thần\mất trí)
         - Đầu tư có tính đầu cơ với “found money” hay một lượng
             nhỏ tiền.
                   Sự chi trả cho sự tàn phá hàng loạt.
         - Không có cái như “nhà tiền”
 Những sự kết nối xúc cảm
         - Việc trả thêm cho một xe mới khi nâng cấp.
         - Tôi thích thức ăn của McDonald, quà của Cantalupo cho
             những đứa trẻ của tôi.
         - Chiết khấu trên quần áo Cutter & Buck (đặc quyền)
         - Trở thành những người bạn của nhà quản trị.
 Sợ sự ko chắc chắn.
 Ôm chặt sự chắc chắn (tuy nhiên ko thích hợp)
         - Tương lai thì ko chắc chắn và khó dự báo, ở nơi như quá
             khứ được biết
         - Tập trung trên biểu đồ chứng khoán (ko thích hợp)
 Xu hướng có tính mạnh mẽ
         - “Mọi người có khuynh hướng đánh giá thấp những sự kiện
             có khả năng thấp khi chúng ko xảy ra gần đây và đánh giá
             cao chúng khi chúng có xảy ra.”- Buffett
         - Sự hoang mang sau WorldCom và Enron căng lên.
         - Dự đoán quá khứ gần vào tương lai xa
                 o Buffett: Việc lái xe khi “nhìn vào gương chiếu hậu
                     thay vì nhìn gương chắn gió.”
                 o Cisco vào tháng 3\2000, McDonald vào tháng 3\2000
 Việc lo lắng về cái gì khác sẽ nghĩ :
         - Klarman: “Như một nhà quản trị tiền, nó thì lúng túng tiềm
             tàng và khó khăn để phải giải thích cho nhà đầu tư của bạn
             tại sao mà bạn sở hữu một cái tên mà đã đi đến phá sản. Vì
             thế sự xúi giục là từ bỏ chúng.”
 Mất khả năng đưa ra kết quả từ quá nhiều những sự lựa chọn.
         - Cuộc thử nghiệm: Việc bán mức trong một siêu thị
         - Thất bại của tôi xảy ra vào tháng 7 và tháng 10, năm 2002
         - … và cuối cùng diễn ra vào tháng 3\2003
 Hiện tượng thoát nạn trong đường tơ kẽ tóc (near-miss)
         - Khe hẹp làm bằng máy
         - Hành hình kiểu linsơ: “Những viên đạn dài hầu hết ko bao
           giờ thành công”.

 Tình trạng giam cầm (quod) xu hướng và hiệu ứng cho tiền
    - Nghiên cứu quyền thừa kế
    - Cà phê của Thaler sắm vai (mugs) cuộc thử nghiệm
          • $5.25 vs. $2.75 cho một ca 6$
    - Việc lựa chọn những card ngoài một cuộc thử nghiệm deck.
            Việc định giá cho một card có giá trị 1.92$ cho $1.86 or
            $6.00 or $9.00
 Xu hướng tư lợi
    - Descarte: Người đàn ông thì không thể hiểu bất cứ một luận cứ
        nào gây cản trở doanh thu của anh ta.
    - Scandal quỹ tương hỗ:
            Munger: “Nó thì như thể nếu người nào đó đến gần bạn và
            nói, chúng ta hãy giết mẹ của bạn và chia bảo hiểm nhân thọ
            50\50”.
    - Sự ngăn cách cumg cấp sự sinh động cho hàng rào.
 Khiếm khuyết để nghĩ về kết quả thứ hai và thứ ba
    - Sự làm luật uỷ thác cho small class sizes
 Sợ hối tiếc
    - Khiếm khuyết cho hành động
                 Khiếm khuyết cho hành động
  Khiếm khuyết cho mua
    - Status quo bias
    - Sợ hối tiếc
    - Mất khả năng lự chọn
    - Qúa tải thông tin
    - Hy vọng rằng chứng khoán sẽ giảm xuống xa hơn (việc ngoại
       suy quá khứ gần đây vào tương lai; tính tham lam) hoặc quay lại
       mức giá rẻ hơn trước (anchoring)
    - Tiếc cho việc ko mua sớm hơn (nếu chứng khoán vừa tăng)
       Office Depot at $8 (vs. $6)
  Khiếm khuyết cho bán
     - Status quo bias
     - Sợ hối tiếc
      -   Qúa tải thông tin
      -   Hiệu ứng cho tiền
      -   Chứng cứ gần đây mạnh mẽ (nếu chứng khoán vừa đang tăng)
      -   Ko muốn bán tại mức lỗ (nếu chứng khoán vừa đang giảm)
      -   Nếu tôi ko sở hữu nó, tôi có mua nó ko? Hoặc nếu chứng khoán
          rớt 25%, tôi sẽ hăng hái mua thêm?
              Không quyết định là một quyết định
          Những mẹo để áp dụng tài chính hành vi
  Trở nên khiêm nhường
-     Tránh đòn bẩy (vay mượn), đa dạng hoá, giảm đến mức tối thiểu
   việc giao dịch
  Trở nên kiên nhẫn
-     Đừng cố gắng làm giàu nhanh
-     Một chứng khoán xem xét ko bao giờ tăng
-     Làm cho hoà hợp bên ngoài sự ồn ào ( Tune out the noise)
-     Chắc chắn thời gian trên giới hạn của bạn (chứng khoán thay vì
   option; ko vay mượn)
  Tìm một đối tác- người mà bạn thật sự tin tưởng- ngay cả nếu ko ở
    công ty của bạn
  Viết ra những mục cần kiểm tra, ví dụ 4 câu hỏi của tôi:
-     Điều này có trong phạm vi năng lực của tôi ko?
-     Nó có phải là một kinh doanh tốt?
-     Tôi có giống một nhà quản trị? (Nhà tổ chức, người cung vốn, tính
   chính trực)
-     Chứng khoán có phải là rẻ ko thể tin được ko? Tôi có phải lo sợ với
   tính tham lam?
  Tích cực tìm kiếm ý kiến trái ngược
-     Cố gắng bác bỏ những giả thiết xác nhận; tìm những quan điểm trái
   ngược; Chuyển nhượng cho ai đó để nhận vị thế đối hay mời nhà phân
   tích thị trường đi xuống trình bày (phương pháp của Pzena).
-     Bí mật bỏ phiếu kín (???)
-     Hỏi “cái gì là nguyên nhân thay đổi ý định của tôi?”
  Đừng neo trên thông tin\sự am hiểu\giá chứng khoán lịch sử.
-     Gĩư một ý kiến mở
-     Cập nhật ước tính ban đầu của bạn về giá trị thực chất.
-     Xoá đi giá lịch sử trong ý tưởng của bạn; đừng rơi vào bẫy “Tôi đã
   bỏ lỡ nó”
-     Hãy suy nghĩ về việc nó là giá trị công ty chứ ko phải giá chứng
   khoán
-     Thiết lập những mục tiêu mua và bán
  Thừa nhận và học hỏi từ những lỗi- nhưng học những bài học đúng và
    ko ám ảnh
-     Đặt luận điểm đầu tư ban đầu của bạn trong bài viết mà bạn có thể
   tham khảo trở lại nó
-     Bỏ đi lỗi của bạn và tiến lên; bạn ko phải làm nó trở lại giống cách
   bạn làm mất nó
-     Nhưng hãy cẩn thận về việc yếu bóng vía và bán tại đáy
  Đừng trở nên ngu xuẩn bởi sự ngẫu nhiên
  Hiểu và thu lợi từ sự thoái lui về mức trung bình
  Thủ thuật trí tuệ
     - Làm ra vẻ giống như bạn ko sở hữu nó(Steinhard thu tiền mặt)
     - Bán một ít và gác nó lại (Einhorn)
                    Recommended Reading
                         (in rough order of priority)
• Poor Charlie’s Almanack
• Influence, Robert Cialdini
• Why Smart People Make Big Money Mistakes,
Belsky and Gilovich
• The Winner’s Curse, Thaler
• Irrational Exuberance, Shiller
• Against the Gods: The Remarkable Story of Risk,
Bernstein
• See overview of the field at
http://www.investorhome.com/psych.htm

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:15
posted:2/16/2011
language:Vietnamese
pages:10