Docstoc

files 655

Document Sample
files 655 Powered By Docstoc
					Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



    Chuyªn môc 1: T¨ng tr-ëng vµ ph¸t triÓn kinh tÕ


A. Tổng quan – Nghiên cứu:

      T×nh h×nh s¶n xuÊt kinh doanh th¸ng 10
   n¨m 2007
       Tin v¾n


* Tình hình sản xuất kinh doanh tháng 10 năm 2007
     1. Tổng quan về phát triển kinh tế 10 tháng đầu năm
     2. Sản xuất công nghiệp.

      Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 10 ước đạt 49,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9%
so với tháng 9 và tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2006; nhiều địa phương đã tập
trung giải quyết khó khăn, vướng mắc trong đầu tư kinh doanh nên giá trị sản xuất
công nghiệp tăng khá so với tháng 9 như: Vĩnh Phúc tăng 16,9%, Hải Phòng tăng
6,4%, Thanh Hóa tăng 4,3%, thành phố Hồ Chí Minh tăng 4%. Tính chung cả 10
tháng, giá trị sản xuất công nghiệp đạt gần 468 nghìn tỷ đồng, tăng 17% so với
cùng kỳ (cùng kỳ tăng 16,9%); trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng
10,3% (Trung ương tăng 13,3%, địa phương tăng 3,7%), khu vực ngoài nhà nước
tăng 20,8%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2%. Việc tăng trưởng cao ở
khu vực ngoài nhà nước do hiệu quả sản xuất kinh doanh và số lượng doanh
nghiệp thành lập mới tăng thêm, đồng thời còn do các doanh nghiệp nhà nước tiếp
tục được sắp xếp tổ chức lại và chuyển dần sang khu vực ngoài nhà nước.
      Trong 10 tháng, các sản phẩm công nghiệp đạt mức tăng trưởng cao hơn
mức tăng của toàn ngành là: máy công cụ tăng 83,9%; ôtô tăng 60,5%; xe máy
tăng 28,1%; động cơ điện tăng 25,1%; máy giặt tăng 22%; quạt điện tăng 21,8%;
bia tăng 20,3%; máy biến thế tăng 19,9%. Theo địa bàn sản xuất, các địa phương
có tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp 10 tháng cao hơn mức tăng bình quân
của toàn ngành là: Vĩnh Phúc tăng 42,1%, Bình Dương tăng 24,5%, Hà Tây tăng
23%, Đồng Nai tăng 22%, Hà Nội tăng 20,1%, Cần Thơ tăng 17,1%.

     3. Về nông - lâm - ngư nghiệp
     Trong tháng 10 thời tiết diễn biến phức tạp, cơn bão số 5 và mưa lũ ở miền
Trung và miền núi phía Bắc đã ảnh hưởng gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông
nghiệp. Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương nỗ lực khắc phục hậu quả
do bão lũ gây ra và khôi phục sản xuất, bảo đảm kịp thời vụ.


                                                                               1
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Thu hoạch lúa hè thu: Tính đến 15/10/2007 cả nước đã thu hoạch được 1.910
nghìn ha lúa Hè thu, bằng 93% diện tích gieo cấy, trong đó, các tỉnh phía Nam thu
hoạch 1.776 nghìn ha, bằng 93,6% diện tích gieo cấy. Tuy nhiên do ảnh hưởng của
khô hạn và mưa bão ở đầu vụ làm cho nhiều diện tích lúa hè thu bị mất trắng nên
diện tích cho thu hoạch chỉ chiếm 93,6% diện tích gieo cấy.
      Gieo cấy và thu hoạch lúa mùa: Tính đến ngày 15/10/2007 cả nước đã gieo
cấy được 1.846 nghìn ha lúa mùa, bằng 98% so với vụ trước, trong đó miền Bắc
gieo cấy gần 1.162 nghìn ha; miền Nam gieo cấy 684 nghìn ha. Các tỉnh phía Bắc
đã thu hoạch 763 nghìn ha lúa mùa, chiếm 66% diện tích gieo cấy, trong đó các tỉnh
vùng đồng bằng sông Hồng thời tiết tương đối thuận lợi, đã thu hoạch trên 71%
diện tích, vùng Đông Bắc thu hoạch 57% và vùng Tây bắc thu hoạch 43% diện tích.
      Các tỉnh vùng Bắc Trung bộ do ảnh hưởng nặng của bão lũ, nhiều diện tích lúa
chuẩn bị cho thu hoạch đã bị ngập úng và mất trắng, diện tích thu hoạch lúa mùa
      đạt 77% diện tích gieo cấy và chỉ bằng 75% so với cùng kỳ năm trước. Cùng
với việc thu hoạch lúa mùa, các địa phương phía Bắc đang tích cực gieo trồng cây
vụ Đông. Do ảnh hưởng của mưa bão và gió lớn, một số cây vụ đông bị ngập, gẫy
đổ phải trồng lại. Tính đến 15/10, các địa phương phía Bắc mới tiến hành gieo trồng
được 342 nghìn ha cây vụ đông, chậm hơn cùng kỳ năm trước 17,3%,
      trong đó cây ngô đạt 178 nghìn ha, bằng 99% so với cùng kỳ năm trước,
chiếm 54% tổng diện tích gieo trồng cây vụ đông; diện tích gieo trồng đậu tương
đạt 54 nghìn ha, bằng 82% so với cùng kỳ; ngoài ra diện tích gieo trồng khoai lang,
rau đậu các loại đều thấp hơn cùng kỳ năm trước.
      Chăn nuôi: Nhìn chung đàn gia súc, gia cầm trong cả nước tiếp tục phục hồi
và phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, trong tháng 10/2007,
giá một số nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tăng so với tháng 91, một số mặt hàng
khan hiếm, các công ty phải thay thế bằng loại nguyên liệu khác, ảnh hưởng đến
chất lượng thức ăn chăn nuôi.
      Hiện nay 63 tỉnh, thành phố đã tổ chức tiêm phòng cúm gia cầm đợt I với tổng
số 164,4 triệu gia cầm được tiêm phòng và đã có 37 tỉnh thành phố tổ chức tiêm
phòng đợt II với tổng số 54,4 triệu gia cầm được tiêm.
      Khai thác và nuôi trồng thuỷ, hải sản đạt kết quả khá. Sản lượng khai thác
tháng 10 ước đạt 170 nghìn tấn, nâng sản lượng khai thác 10 tháng lên gần 1,75
triệu tấn, bằng 87,6% kế hoạch và tăng 2% so với cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng
tháng 10 đạt 150 nghìn tấn, nâng tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản 10 tháng lên
1,3 triệu tấn, bằng 76,2% kế hoạch, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2006.

     3. Về thương mại, dịch vụ và du lịch
      Thương mại nội địa: Thị trường trong nước tháng 10 diễn biến khá phức tạp
do tiếp tục phải đối mặt với áp lực tăng giá của một số nguyên liệu đầu vào, ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất của nhiều ngành hàng. Tuy nhiên, nhờ có sự điều
hành tích cực của Chính phủ nên 10 tháng đầu năm 2007 thương mại địa vẫn có
mức tăng trưởng khá. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ
tiêu dùng xã hội tháng 10 ước đạt 63,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng 9.

2
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


Tính chung 10 tháng, tổng mức lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ đạt khoảng 583,8
nghìn tỷ đồng, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm 2006, trong đó ngành thương nghiệp
(chiếm tỷ trọng trên 80%) tăng 21,7%; ngành khách sạn nhà hàng (tỷ trọng 12%)
tăng 22,9%; ngành dịch vụ (tỷ trọng 6,5%) tăng 34,4% và ngành du lịch (tỷ trọng
1%) tăng 31,6%.
      Các hoạt động du lịch khá sôi động, trong tháng 10, nhiều hội chợ triển lãm
và công tác xúc tiến quảng bá du lịch được triển khai rộng khắp ở các thành phố
lớn trong cả nước như: hoạt động kỷ niệm ngày du lịch Bình Thuận, Triển lãm thực
phẩm và khách sạn Việt Nam năm 2007,... Đặc biệt trong tháng 10, ngành du lịch
quốc gia Thái Lan đã làm việc với ngành du lịch Việt nam về việc liên kết phát triển
du lịch đường bộ giữa Việt Nam – Thái Lan trong thời gian tới. Đây là hướng mới
cho sự phát triển du lịch khu vực miền Trung – Tây Nguyên nói riêng và toàn ngành
du lịch Việt Nam nói chung, góp phần tăng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt
Nam trong thời gian tới.
      Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong tháng 10 ước đạt 332 nghìn
lượt người, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm ngoái, đưa lượng khách du lịch quốc tế
trong 10 tháng lên gần 3,5 triệu người, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2006. Số
khách du lịch quốc tế đến từ các nước có mức chi tiêu cao vẫn đạt được tốc độ
tăng trưởng cao như: Malaysia tăng 57%, Nga tăng 56%, Italia tăng 45%, Hà Lan
tăng 44%, Hồng Kông tăng 43,7%, Niu di lân tăng 43%, Pháp tăng 43%, Thái Lan
tăng 38,5%, Bỉ tăng 38%, Úc tăng 34%, Đức tăng 32%, Singapore tăng
      30,6%, Thuỵ Sỹ tăng 30%, Anh tăng 30%, Thuỵ Điển tăng 26%, Tây Ban Nha
tăng 26%, Canada tăng 21%, Hàn Quốc tăng 16%, Đài Loan tăng 14,8%, Indonesia
tăng 11,5%, Nhật Bản tăng 9,6%, so với cùng kỳ năm 2006. Trong tháng 10, công
suất sử dụng phòng đạt mức cao trên 70-80%, nhiều khách sạn cao cấp xếp hạng
4-5 sao tại các trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nha
Trang, Đà Nẵng,... đạt công suất 90-100%.
      Hoạt động vận tải hàng hoá và hành khách tiếp tục giữ vững nhịp độ tăng
trưởng ổn định. Trong 10 tháng năm 2007, khối lượng hàng hoá vận chuyển ước
đạt 310 triệu tấn và 77,6 tỷ TKm, tăng 8% về tấn và 7,3% về TKm so với cùng kỳ
năm trước. Vận tải hành khách đạt 1.266 triệu lượt người với 55,6 tỷ HKKm, tăng
8,5% về lượt hành khách và 9,1% về HKKm so với cùng kỳ năm 2006.
      Thị trường công nghệ thông tin, viễn thông phát triển ổn định, hàng loạt
thỏa thuận hợp tác giữa các doanh nghiệp bưu chính viễn thông với các doanh
nghiệp kinh tế khác được ký kết như giữa VNPT với Prudential Việt Nam; 4 hợp
đồng hợp tác viễn thông lớn được ký kết giữa Việt Nam và Pháp. Vấn đề quản lý
các dịch vụ nội dung Internet như quản lý blog và cơ chế, chính sách phát triển thuê
bao Internet đang dần trở nên bức thiết.
      Trong tháng 10 năm 2007 phát triển mới 2,3 triệu thuê bao điện thoại, tăng
197% so với tháng 8 và tăng 173% so với cùng kỳ năm 2006. Tính chung tổng số
thuê bao điện thoại phát triển mới trong 10 tháng năm 2007 đạt 14,5 triệu thuê bao;
tổng số thuê bao hiện có trên toàn mạng đạt 41,98 triệu máy, trong đó thuê bao di
động chiếm 75%, đạt mật độ 49,5 máy/100 dân. Tháng 10 phát triển mới 110 nghìn

                                                                                  3
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

thuê bao Internet; tính chung tổng số thuê bao Internet phát triển từ đầu năm đến
hết tháng 10 đạt 860 nghìn thuê bao. Tổng số thuê bao Internet quy đổi trên mạng
đạt 4,92 triệu thuê bao, đạt mật độ 5,7 thuê bao/100 dân. Số người sử dụng dịch vụ
Internet là 17,5 triệu người, chiếm gần 21% dân số. Mạng lưới điểm phục vụ bưu
chính tiếp tục hoạt động ổn định và phát triển các loại hình dịch vụ mới. Hiện nay cả
nước có 19.218 điểm phục vụ bưu chính, bán kính phục vụ bình quân đạt
2,4km/điểm; trong đó có 8.021 điểm bưu điện văn hóa xã đã đưa vào phục vụ; tỷ lệ
số xã có báo đến trong ngày đạt 92,7%.


     * Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác
     1. Xuất nhập khẩu khẩu
      Về xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu tháng 10 năm 2007 ước đạt 4.200 triệu
USD, tăng 11,4% so với tháng 9, trong đó xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 1.730 triệu USD; tính chung 10 tháng
đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 39.059 triệu USD, tăng 18,6% so với cùng
kỳ năm 2006, trong đó kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI (không kể
dầu thô) ước đạt 15.597 triệu USD, tăng 30,7%.
      Đến hết tháng 10, có 9 nhóm hàng đạt trên 1 tỷ USD, trong đó có 4 nhóm
hàng đạt trên 3 tỷ USD và 5 nhóm hàng đạt trên 1 tỷ USD, trong đó, dầu thô đạt kim
ngạch 6,56 tỷ USD, giảm 7,5% so với cùng kỳ do điều kiện khai thác của mỏ có
nhiều diễn biến phức tạp làm sản lượng khai thác dầu đạt thấp hơn cùng kỳ; dệt
may đạt 6,41 tỷ USD, tăng 31,1%; giầy dép đạt 3,19 tỷ USD, tăng 9,9%; thủy sản đạt
trên 3 tỷ USD, tăng 10,8%; sản phẩm gỗ đạt 1,9 tỷ USD, tăng 22,4%; điện tử và linh
kiện máy tính đạt 1,73 tỷ USD, tăng 23%; cà phê đạt 1,55 tỷ USD, tăng 84%; gạo đạt
1,36 tỷ USD, tăng 12,7%; cao su đạt trên 1 tỷ USD, giảm 0,2% so với cùng kỳ.
      Một số mặt hàng xuất khẩu tuy kim ngạch xuất khẩu chưa lớn nhưng đạt được
tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2006 là dầu mỡ động thực vật tăng
198%; sản phẩm nhựa tăng 47,7%; hạt tiêu tăng 28,1%; dây điện và dây cáp điện
tăng 25,8%; vali túi xách, ô dù tăng 24,4%; hạt điều tăng 25,4%; sản phẩm gốm sứ
tăng 24,8%, đồ chơi trẻ em tăng 21%; rau quả tăng 15%. Xuất khẩu vào các thị
trường lớn, nhiều tiềm năng tiếp tục tăng cao. Trong 10 tháng năm 2007, xuất khẩu
vào thị trường Mỹ tăng khoảng 26% so với cùng kỳ năm 2006 và chiếm tỷ trọng
21% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; thị trường Nhật Bản tăng khoảng 6%,
chiếm tỷ trọng 11,8%; xuất khẩu vào thị trường EU tăng 28,5%, chiếm tỷ trọng 19%.
      Về nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu tháng 10 ước đạt 5.250 triệu USD, tăng
7,2% so với tháng 9/2009. Tính chung cả 10 tháng, kim ngạch nhập khẩu đạt
47.980 triệu USD, tăng 30,5% so cùng kỳ năm 2006; trong đó các doanh nghiệp
FDI nhập khẩu 17.272 triệu USD, tăng 28,6%; các doanh nghiệp trong nước nhập
30.708 triệu USD, tăng 31,5%. Đa số các mặt hàng nhập khẩu đều tăng so với
cùng kỳ gồm: ô tô nguyên chiếc các loại tăng 79,4%, máy móc thiết bị phụ tùng
tăng 57,8%, máy tính và linh kiện điện tử tăng 41,8%, vải tăng 34,5%, hóa chất các

4
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


loại tăng 33,8%, sắt thép tăng 28,6%, tân dược tăng 27,6%, giấy các loại tăng
16,3%, xăng dầu tăng 12,1%, phân bón tăng 10,9%.
      Về thị trường nhập khẩu, 5 đối tác lớn nhất xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam
là Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc. Trị giá hàng hóa nhập
khẩu từ 5 thị trường này chiếm hơn 50% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
      Nhập siêu 10 tháng đầu năm 2007 ở mức 8.921 triệu USD, bằng 22,8% so với
tổng kim ngạch xuất khẩu (cùng kỳ năm 2006 nhập siêu 3.997 triệu USD, bằng 12%
so với tổng kim ngạch xuất khẩu). Mức nhập khẩu và nhập siêu của 10 tháng đầu
năm 2007 tăng cao so với cùng kỳ năm 2006 chủ yếu do tăng nhập khẩu hàng máy
móc thiết bị và nguyên nhiên liệu để phục vụ đầu tư và sản xuất hàng xuất khẩu;
ngoài ra cũng có nguyên nhân do giá thế giới tăng (như xăng dầu, chất dẻo, sắt
thép,...); việc giảm thuế theo lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế và việc chậm triển
khai các biện pháp phi quan thuế để hạn chế nhập khẩu.


     2. Đầu tư phát triển.
     Vốn đầu tư nước ngoài: Trong tháng 10, vốn của dự án cấp mới và vốn đăng
ký tăng thêm đạt 1.658 triệu USD. Tính chung cả 10 tháng, tổng vốn của dự án cấp
mới và vốn đăng ký tăng thêm đạt 11.265 triệu USD, tăng 36,4% so với cùng kỳ,
trong đó vốn đầu tư đăng ký mới là 9.753 triệu USD với 1.144 dự án được cấp giấy
phép đầu tư, tăng 59% về vốn đăng ký và tăng 33,6% về số dự án so với cùng kỳ
năm trước; vốn tăng thêm là 1.512 triệu USD với 300 lượt dự án tăng vốn, bằng
71,2% về vốn và bằng 71,1% về số dự án so với cùng kỳ. Đáng chú ý là quy mô
của dự án cấp phép mới đã tăng lên với mức bình quân là 8,5 triệu USD/dự án
(cùng kỳ là 6,7 triệu USD/dự án).
      Trong 10 tháng năm 2007, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đứng đầu cả nước về thu hút
vốn đầu tư nước ngoài, với số vốn đăng ký 1,06 tỷ USD, chiếm 10,9% tổng vốn đầu
tư đăng ký; thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ 2 với gần 1 tỷ USD, chiếm 10% tổng
vốn đầu tư đăng ký; Hà Nội đứng thứ 3 với 896 triệu USD, chiếm 9,1%; Bình
Dương đứng thứ 4 với 827 triệu USD, chiếm 8,4%; Vĩnh Phúc đứng thứ 5 với 780
triệu USD, chiếm 8%.
     Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ước đạt 3.710 triệu USD, tăng 18,7% so với
cùng kỳ năm 2006.
    Thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước (vốn
ngân sách tập trung) tháng 10/2007 ước đạt 9,8 nghìn tỷ đồng, bằng 9,7% kế
hoạch năm; tính chung 10 tháng ước đạt 72,1 nghìn tỷ đồng, bằng 72,5% kế hoạch
năm (cùng kỳ năm 2006 đạt 79,7% kế hoạch năm).
     Trong tháng 10/2006, thực hiện Chỉ thị số 836/2007/CT-TTg ngày 2/7/2007
của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng bằng nguồn
vốn nhà nước 6 tháng cuối năm 2007, các Bộ ngành, các địa phương đang khẩn
trương rà soát lại thủ tục đầu tư, tiến độ xây dựng các công trình dự án để điều
chuyển vốn đầu tư các công trình dự án không có điều kiện thực hiện cho các công


                                                                                 5
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

trình, dự án có nhu cầu cấp thiết, cần tập trung vốn để hoàn thành đưa vào sử dụng
trong năm 2007, nhằm hoàn thành mục tiêu về đầu tư phát triển năm 2007.
      Thu hút vốn ODA: Từ đầu năm đến ngày 19/10/2007, nguồn vốn ODA được
hợp thức hoá thông qua các hiệp định ký kết với các nhà tài trợ đạt 3.032 triệu
USD, trong đó vốn vay đạt 2.899 triệu USD và vốn viện trợ đạt 133 triệu USD.
Trong tháng 10, dự án lớn được ký là “Nhà máy nhiệt điện Mông Dương 1” trị giá
931 triệu USD, sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu á. Mức giải ngân
nguồn vốn ODA trong 10 tháng đầu năm 2007 đạt 1.621 triệu USD, bằng 85% kế
hoạch giải ngân cả năm, trong đó vốn vay đạt 1.414 triệu USD, vốn viện trợ không
hoàn lại đạt 207 triệu USD.


     3. Hoạt động tiền tệ và giá cả.
     Về thu ngân sách nhà nước: Mặc dù chịu ảnh hưởng của cơn bão số 5 và các
trận mưa lớn gây lũ quét, lụt lội tại nhiều địa phương trong những ngày cuối tháng 9
và đầu tháng 10/2007, tình hình thu ngân sách nhà nước trong tháng 10 về cơ bản
vẫn diễn biến theo xu hướng thuận lợi với tổng số thu ước đạt 22.285 tỷ đồng, tăng
khoảng 570 tỷ đồng so với tháng 9. Tính chung cả 10 tháng, tổng thu ngân sách
ước đạt 229,3 nghìn tỷ đồng, bằng 81% dự toán năm, (cùng kỳ đạt 83,2% dự toán
năm), tăng 18,2% so với cùng kỳ; trong đó thu nội địa đạt 124,7 nghìn tỷ đồng,
bằng 82,2% dự toán năm, tăng 24,7%; thu từ dầu thô đạt 52,2 nghìn tỷ đồng, bằng
72,9% dự toán, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 49,2 nghìn tỷ đồng, bằng
88,9% dự toán.
     Trong thu nội địa, thu từ khu vực kinh tế quốc doanh đạt 40,3 nghìn tỷ đồng,
bằng 74,8% dự toán năm, tăng 16,2%; thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài đạt 22,2 nghìn tỷ đồng, bằng 71,8% dự toán, tăng 22,1%; thu thuế công
thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt gần 24,3 nghìn tỷ đồng, bằng 87,8% dự toán,
tăng 37,5%; thuế sử dụng đất nông nghiệp đạt 86 tỷ đồng, bằng 106,2% dự toán;
thu từ thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đạt 5,4 nghìn tỷ đồng, bằng
88,1% dự toán; thu phí, lệ phí đạt 3,6 nghìn tỷ đồng, bằng 92,8% dự toán; thu phí
xăng dầu đạt 3,6 nghìn tỷ đồng, bằng 77% dự toán.
     Chi ngân sách nhà nước trong tháng 10 ước đạt 28 nghìn tỷ đồng. Tính chung
cả 10 tháng, tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 280,7 nghìn tỷ đồng, bằng
78,5% dự toán năm (cùng kỳ đạt 80,7% dự toán năm), tăng 15,6% so với cùng kỳ,
trong đó chi đầu tư phát triển đạt 69 nghìn tỷ đồng, bằng 69,4% dự toán năm (riêng
chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 63,7 nghìn tỷ đồng, bằng 68,5% dự toán năm); chi
thường xuyên đạt 147,2 nghìn tỷ đồng, bằng 84,3% dự toán năm; chi trả nợ và viện
trợ đạt 43,6 nghìn tỷ đồng, bằng 88,8% dự toán năm; chi cải cách tiền lương đạt
18,5 nghìn tỷ đồng, bằng 75,2% dự toán năm.
     Bội chi ngân sách nhà nước 10 tháng ước khoảng 38,6 nghìn tỷ đồng, bằng
68,4% dự toán năm.
     Giá tiêu dùng: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 tăng 0,74% so với tháng 9/2007,
cao hơn mức tăng 2 tháng trước đó (tháng 8 tăng 0,55%, tháng 9 tăng 0,51%). Giá


6
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


tiêu dùng tăng cao, ngoài các nguyên nhân đã nêu trong các báo cáo Chính phủ
trong các tháng trước, còn có ảnh hưởng của bão số 5 và lũ lụt ở các tỉnh miền
Trung và miền núi phía Bắc, nhất là đối với giá lương thực, thực phẩm, thuốc bệnh
và các mặt hàng thiết yếu khác. Nhóm hàng có chỉ số giá tăng cao nhất trong tháng
10 là hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,09%, trong đó: lương thực tăng 1,11%,
thực phẩm tăng 1,19%; tiếp đến là nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,51%; dược
phẩm, y tế tăng 0,81%. Tăng thấp hơn là các nhóm hàng: đồ dùng và dịch vụ khác
tăng 0,45%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,41%; may mặc, mũ, nón, giày dép tăng
0,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,21%; giáo dục tăng 0,2%; phương tiện đi
lại, bưu điện tăng 0,04% (trong đó giá dịch vụ bưu chính viễn thông giảm 0,25%);
riêng nhóm hàng văn hóa thể thao giải trí giảm 0,73%. Chỉ số giá vàng tăng 6,04%,
ngược lại, tỷ giá đôla Mỹ giảm 0,6%. So với tháng 12 năm 2006, chỉ số giá tiêu
dùng tháng 10 tăng 8,12%. Trong 10 nhóm hàng tính chỉ số giá tiêu dùng thì nhóm
hàng ăn và dịch dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với 11,78% (lương thực tăng 9,15%,
thực phẩm tăng 12,18%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 11,32%; nhóm hàng đồ
dùng và dịch vụ khác tăng 5,73%; dược phẩm và y tế tăng 6,06%; may mặc, mũ
nón, giầy dép tăng 5,05%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,96%; thiết bị và đồ dùng gia
đình tăng 4,46%; phương tiện đi lại, bưu điện tăng 2,75% (trong đó bưu chính viễn
thông giảm 2,27%); giáo dục tăng 1,82%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 1,5%; Giá
vàng tăng 14,51%, tỷ giá đô la Mỹ chỉ tăng 0,45%.


B. Tin vắn
     1. Xếp hạng khả năng cạnh tranh 2007: Việt Nam tụt hạng
      Đến hẹn lại lên, ngày 31/10 năm nay Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lại
công bố báo cáo thường niên về khả năng cạnh tranh toàn cầu của các quốc
gia. Năm nay, vị trí xếp hạng của Việt Nam là 68 trong danh sách 131 quốc gia
và vùng lãnh thổ.
      Nếu chỉ nhìn đơn thuần vào danh sách như vậy, có thể xem là Việt Nam tụt 4
bậc so với vị trí 64 trong năm ngoái. Tuy nhiên, số quốc gia và vùng lãnh thổ có mặt
trong danh sách năm nay là 131, so với tổng số 122 vào năm ngoái. WEF cũng đưa
ra một thông tin: Nếu loại bỏ những “lính mới”và chỉ xét danh sách những “cựu
binh” từ năm ngoái, thì vị trí xếp hạng của Việt Nam ổn định ở số 64.
      Ngay cả nói như vậy, thì cũng còn một điều không vui là chúng ta đã bị lùi xa
thêm 4 bậc so với những nước đứng đầu danh sách.
      Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nhìn sâu hơn vào danh sách để thấy, qua
một năm, những tiêu chí nào của chúng ta đã cải thiện, và những tiêu chí nào đã
níu chân để chúng ta không vượt lên được.
      Tổng quan về cuộc chạy đua
      Các bảng xếp hạng vẫn được coi là công cụ thích hợp nhất để theo dõi các
cuộc chạy đua. Trong đó, báo cáo của WEF luôn luôn được đặc biệt chú ý, không
chỉ vì truyền thống đã có từ năm 1979, mà còn nhờ qui mô lớn và tính hệ thống rất
cao. Trong báo cáo năm nay, ngoài việc tổng hợp số liệu chính thức từ các tổ chức

                                                                                  7
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

nghiên cứu quốc tế, WEF cũng tổ chức khảo sát ý kiến của 11.000 lãnh đạo doanh
nghiệp trước khi đưa ra kết quả xếp hạng cho 131 quốc gia và vùng lãnh thổ.
      Chỉ số khả năng cạnh tranh toàn cầu năm nay được xây dựng trên cơ sở hơn
100 tiêu chí, được phân vào 12 nhóm gọi là “trụ cột” cho khả năng cạnh tranh.
      12 trụ cột này tạo dựng nên ba chỉ số phụ để từ đó tổng hợp thành chỉ số về
khả năng cạnh tranh, đó là: các yêu cầu căn bản, các yếu tố nâng cao hiệu quả,
các yếu tố sáng tạo và trình độ.
       Các trụ cột cho khả năng cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam
     Chỉ tiêu                                          Xếp hạng
     Nhóm các yêu cầu căn bản                             77
     1. Tổ chức các thể chế                               70
     2. Cơ sở hạ tầng                                     89
     3. Ổn định kinh tế vĩ mô                             51
     4. Giáo dục cơ bản và y tế                           88
     Nhóm các yếu tố nâng cao hiệu quả                    71
     5. Giáo dục đại học và đào tạo                       93
     6. Hiệu quả của thị trường hàng hóa                  72
     7. Hiệu quả của thị trường lao động                  45
     8. Trình độ của thị trường tài chính                 93
     9. Mức độ sẵn sàng về công nghệ                      86
     10. Qui mô thị trường                                32
     Nhóm các yếu tố sáng tạo và trình độ                 76
     11. Trình độ kinh doanh                              83
     12. Sáng tạo                                         64
      Những điểm “sáng”
      Trong số những tiêu chí được xếp hạng cao của Việt Nam, có thể kể 5 tiêu
chí cao nhất: sự tham gia của lao động nữ (hạng 8), sự phát triển các cụm nhóm
trong kinh doanh (hạng 16), thị trường cho hàng nước ngoài (hạng 26), tỉ lệ tiết
kiệm (hạng 21), quan hệ tiền lương và năng suất (hạng 31).
       Nhìn chung, có ba trụ cột được đánh giá là “cao hơn bình quân cả nước” để
kéo vị trí tổng thể của Việt Nam lên. Đó là qui mô thị trường (hạng 32), hiệu quả của
thị trường lao động (hạng 45), và ổn định kinh tế vĩ mô (hạng 51).
      Những điểm “tối”
       Có đến 17 tiêu chí của Việt Nam được xếp hạng “trên 100” trong số 131 quốc
gia và vùng lãnh thổ. Năm yếu tố có điểm thấp nhất là: mức thuế nhập khẩu (hạng
117), sự bảo vệ nhà đầu tư (hạng 121), bản chất của lợi thế cạnh tranh (hạng 126),
sự kiểm soát về phân phối quốc tế (hạng 115), chất lượng các trường dạy quản trị
(hạng 120),
       Đặc biệt, trong năm 2007 tổ chức WEF đã khảo sát ý kiến về 14 tiêu chí
thường bị coi là “tiêu cực”. Những người được hỏi ý kiến sẽ chọn ra 5 tiêu chí “tệ
nhất” đối với quốc gia được chọn.
      Kết quả cho thấy, đối với Việt Nam, bốn yêu tố bị coi là “có vấn đề nhất” gồm:
tham nhũng, cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu lao động có tay nghề, và sự kém hiệu
quả của các cơ quan quản lý nhà nước.



8
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Bốn tiêu chí bị đánh giá thấp kế tiếp là: khả năng tiếp cận nguồn tài chính,
tinh thần làm việc của công nhân trong nước, chính sách không ổn định, và các qui
định về thuế.
      Tuy nhiên, có bốn tiêu chí bị coi là tiêu cực trên thế giới, nhưng được nhìn
nhận “ít có vấn đề” ở Việt Nam, đó là: trộm cắp và tội phạm, bất ổn định chính trị,
chính sách quản lý ngoại hối, chính sách hạn chế lao động.
      Những láng giềng
       Trong số 14 vị trí đứng đầu năm nay, Mỹ vẫn giữ vị trí đứng đầu nhờ những
chỉ số rất cao về giáo dục, công nghệ, và hệ thống quản lý. Liên tiếp 5 vị trí từ số 2
đến số 6 rơi vào tay châu Âu (lần lượt là Thụy Sĩ, Đan Mạch, Thụy Điển, Đức, và
Phần Lan). Đông Á tự hào chiếm 5 vị trí (theo thứ tự là Singapore, Nhật, Hàn Quốc,
Hongkong, và Đài Loan).
      Tuy nhiên, với Việt Nam, có lẽ sẽ dễ đánh giá kết quả hơn nếu chúng ta so
sánh vị trí của mình với các láng giềng.
       Trong số các láng giềng, so sánh chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu năm
nay so với năm 2006, nhóm các nước tăng hạng gồm có Singapore (tăng từ hạng 8
lên hạng 7), Trung Quốc nhích nhẹ từ hạng 35 lên 34, Philippines nhảy 4 bậc từ 75
lên 71.
       Thái Lan đứng nguyên hạng 28, mặc dù các yếu tố chính trị xấu đi nhưng
kinh tế vĩ mô không bị mất ổn định. Giáo dục đại học của Thái Lan được xếp hạng
44 (so với hạng 93 của Việt Nam).
      Indonesia cũng giữ nguyên hạng 54, nhưng nếu loại trừ những tên mới ra
khỏi danh sách thì nước này đứng vị trí 51, nghĩa là tăng ba bậc.
      Campuchia ở vị trí khá lý thú: nếu chỉ xét riêng những nước đã có mặt từ
năm 2006 thì Campuchia tăng từ hạng 106 lên 101. Nhưng do danh sách có bổ
sung thêm một số nước, mà những nước này lại “chen ngang” vào vị trí cao hơn,
nên Campuchia tụt hạng xuống 110.
       Malaysia là nước có vị trí sáng giá thứ nhì trong khu vực, với điểm xếp hạng
rất đồng đều cho mọi mặt. Nhưng nước này đã tụt từ hạng 19 xuống 21, do bị Hàn
Quốc và Bỉ qua mặt.
       Như vậy, trong khu vực, ngoài Malaysia thì chỉ còn Việt Nam là tụt hạng rõ
rệt nhất.
       Cũng có một điểm phụ đáng chú ý trong báo cáo Diễn đàn Kinh tế Thế giới.
Quá trình phát triển được phân làm ba giai đoạn. 131 quốc gia và vùng lãnh thổ
được phân vào 5 nhóm: đang ở giai đoạn 1, đang chuyển tiếp lên giai đoạn 2, đang
ở giai đoạn 2, đang chuyển tiếp lên giai đoạn 3, và đã ở giai đoạn 3.
       Trong khu vực chúng ta, có đến 4 nước vẫn đang ở giai đoạn 1, được coi là giai
đoạn thấp nhất của phát triển. Đó là: Campuchia, Indonesia, Philippines, và Việt Nam.




                                                                                    9
                                 Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      2. Nhìn lại 3 năm hỗ trợ khu công nghiệp ở vùng khó khăn
      Ba năm qua, khoảng 923 tỷ đồng đã được hỗ trợ cho các địa phương
có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ
thuật các khu công nghiệp theo Quyết định 183/2004/QĐ-TTg ngày 19/10/2004
của Thủ tướng Chính phủ.
       Các quan chức ở Vụ Quản lý khu công nghiệp và khu chế xuất (Bộ Kế hoạch
và Đầu tư) cho biết: do điều kiện về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi, nên
việc phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất (gọi chung là khu công nghiệp) ở
các vùng kinh tế trọng điểm, nhất là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đạt hiệu quả
cao hơn so với các địa phương khác về đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp,
thu hút đầu tư, tạo việc làm và tăng thu ngân sách.
      Trong khi tại các địa phương khác có điều kiện hạ tầng kỹ thuật ít thuận lợi
hơn, mặc dù có quyết tâm cao của chính quyền địa phương, nhưng việc phát triển
công nghiệp nói chung và các khu công nghiệp nói riêng vẫn chỉ đạt kết quả thấp.
       Kinh nghiệm triển khai thực hiện cơ chế hỗ trợ vốn từ ngân sách địa phương
cho việc giải phóng mặt bằng tại khu công nghiệp Hòa Khánh (Đà Nẵng) năm 2001
cho thấy: chỉ sau 3 năm khu công nghiệp này đã lấp đầy diện tích đất công nghiệp
cho thuê. Tiếp theo đó, là kết quả thành công của các khu công nghiệp Lệ Môn
(Thanh Hóa), Vũng áng (Hà Tĩnh), Thụy Vân (Phú Thọ), Biên Hòa 1 (Đồng Nai)...
do được hỗ trợ vốn từ cả hai nguồn ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương địa phương.
       Những kết quả tích cực này đã thúc đẩy việc ra đời Quyết định 183 nói trên
của Thủ tướng Chính phủ. Quyết định này chỉ nhằm mục tiêu hỗ trợ các địa phương
đẩy nhanh việc xây dựng khu công nghiệp, tạo mặt bằng sẵn có, giảm chi phí đầu tư mà
trước hết là tiền thuê đất, phí hạ tầng trong khu công nghiệp, qua đó tạo điều kiện thuận
lợi hơn, môi trường kinh doanh hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư vào phát triển công
nghiệp tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
      Quyết định cũng nêu rõ các tiêu chí để xác định đối tượng được thụ hưởng
nguồn vốn hỗ trợ này, đó là các địa phương có tỷ lệ số bổ sung cân đối từ ngân
sách Trung ương cho ngân sách địa phương so với chi ngân sách địa phương lớn
hơn 60%; và có tỷ trọng công nghiệp trong GDP của địa phương thấp hơn tỷ trọng
công nghiệp trong GDP của cả nước ít nhất 10%.
      Thực ra không thể nào hỗ trợ đủ theo yêu cầu của các địa phương để xây
dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tính toán
mức hỗ trợ từ vốn ngân sách Trung ương tối đa không quá 60 tỷ đồng cho mỗi dự
án, và chủ yếu cho 2 hạng mục bức thiết nhất là bồi thường, giải phóng mặt bằng
và công trình xử lý nước thải tập trung cho khu công nghiệp (với một khu công
nghiệp có diện tích bình quân khoảng 50-100 ha).
      Trên cơ sở này, trong kế hoạch năm 2005 đã có 28 dự án được hỗ trợ tổng
vốn 286 tỷ đồng, trung bình khoảng 10,2 tỷ đồng/khu công nghiệp/năm. Năm 2006,
có 31 dự án được hỗ trợ 237 tỷ đồng, trung bình 7,45 tỷ đồng/khu công
nghiệp/năm. Năm 2007, có 36 dự án với 400 tỷ đồng, trung bình 11 tỷ đồng/khu

10
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


công nghiệp/năm. "Với mức chi hỗ trợ này, tuy còn khá hạn chế, nhưng cũng đã
giúp cho chúng tôi đẩy nhanh được phần nào tiến độ xây dựng khu công nghiệp",
nhiều quan chức ở các Ban quản lý khu công nghiệp địa phương cho biết.
       Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng: với mức độ hỗ trợ như đã thực hiện trong
thời gian qua, thì một dự án khu công nghiệp phải mất ít là 5-6 năm mới có thể
nhận được đủ mức hỗ trợ (tối đa không quá 60 tỷ đồng). Như vậy là quá lâu về thời
gian để xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, và vì thế cũng rất khó để thu hút các
nhà đầu tư.
       Một ý kiến khác đáng lưu tâm là: sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế
nói chung và phát triển khu công nghiệp nói riêng ở các địa phương thuộc diện hỗ
trợ có khác nhau, như vậy việc hỗ trợ đồng đều cho các địa phương (mà không tính
tới các địa phương có điều kiện đặc biệt khó khăn như các tỉnh miền núi phía Bắc,
Tây Nguyên, cần mức hỗ trợ cao hơn) có là hợp lý?
       Bên cạnh các địa phương có điều kiện đặc biệt khó khăn, cũng có các địa
phương có điều kiện khá hơn, có khả năng huy động vốn từ các nguồn khác để xây
dựng hạ tầng khu công nghiệp, các địa phương này có cần thiết phải nhận được mức
hỗ trợ ở mức tối đa. Vì thế nên chăng cần có một cơ chế phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và
Đầu tư với địa phương để xác định chuẩn xác nhu cầu nguồn vốn bức bách và cần thiết
nhất để ưu tiên phân bổ vốn, nhằm mang lại hiệu quả thiết thực hơn.
      Trong quá trình xét phân bổ vốn hỗ trợ trong thời gian qua, thực tế cho thấy
tại một số tỉnh như: Quảng Bình, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc
Trăng, Bặc Liêu... đều là những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn
và có các dự án khu công nghiệp, nhưng không được phân bổ vốn hỗ trợ trong các
năm 2005-2006, vì vào thời điểm đó các dự án khu công nghiệp này chưa đuợc
Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư.
        Nhưng đến năm 2007, do nhu cầu bức thiết của các địa phương, một số khu
công nghiệp tuy chưa được thành lập nhưng đã hoàn thành hoặc đang trong quá
trình thẩm tra dự án, đã được đề xuất ưu tiên hỗ trợ ngay trong năm kế họach 2007
(khu công nghiệp Thanh Bình, Bình Long, Lương Sơn...). Đây là sự năng động
đáng ghi nhận, giúp cho các khu công nghiệp này sớm hình thành và phát triển.


      3. Kinh tế Việt Nam sẽ bùng nổ trong 5 năm tới
         Trả lời phỏng vấn phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, ông Peter
Ryder, Tổng Giám đốc điều hành Tập đoàn Indochina Capital nhận định kinh
tế Việt Nam sẽ bùng nổ mạnh mẽ hơn và sẽ có thêm nhiều nhà đầu tư đến
Việt Nam trong 5 năm tới.
         Ông Peter Ryder đã sống và làm việc tại Việt Nam từ năm 1992 và là một
trong những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và bất động sản
nói rằng Việt Nam là thị trường hấp dẫn và năng động thứ hai thế giới (chỉ sau
Trung Quốc) với tốc độ tăng trưởng bình quân 7,6%/năm trong suốt 15 năm qua.



                                                                                 11
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      "Việt Nam hiện có nhiều tiềm lực để phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Những
năm sau chiến tranh thế giới thứ II, nước Mỹ có một thế hệ mới, trẻ trung, năng
động đã tạo ra những diện mạo mới cho đất nước này. Việt Nam cũng đang có
những ưu thế như vậy. Với tốc độ tăng dân số khoảng 1,5%, dân số Việt Nam
được đánh giá là trẻ. Điều này không chỉ tạo ra nguồn nhân lực đầy hấp dẫn mà
còn cho thấy một tiềm lực phát triển của thị trường tiêu dùng", ông nhận xét.
        Mặt khác, theo ông Peter Ryder, Việt Nam là một phần quan trọng của
ASEAN, khu vực kinh tế được đánh giá là rất năng động ở châu Á. Những đặc điểm
văn hoá, ngôn ngữ, tôn giáo của Việt Nam cũng tương đối tương đồng với các quốc
gia có nền kinh tế phát triển trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc. Điều đó cho
thấy Việt Nam đang có những điều kiện vô cùng thuận lợi để đẩy mạnh phát triển
kinh tế.
       Ông Peter Ryder nói rằng kể từ sau khi Intel đầu tư xây dựng nhà máy ở Việt
Nam, nhiều nhà đầu tư lớn trên thế giới cũng đã và đang chú ý đến thị trường này.
Đặc biệt, khác với các quốc gia khác trong khu vực như Thái Lan, Xinhgapo,
Philíppin, sự phát triển kinh tế ở Việt Nam không chỉ nhờ vào xuất khẩu, cho dù,
hiện nay Việt Nam đang là quốc gia xuất khẩu các mặt hàng nông sản, tài nguyên,
may mặc, thuỷ sản... lớn trên thế giới. Thị trường vốn ở Việt Nam cũng đã thực sự
bùng nổ trong 24 tháng qua, và sự phát triển của thị trường này vẫn chưa dừng lại.
Tất cả những yếu tố đó đang là tạo ra một sức hấp dấn vô cùng lớn cho Việt Nam.
       Được thành lập năm 1999, Tập đoàn Indochina Capital hiện quản lý tổng tài
sản trị giá khoảng 1 tỷ USD và là Tập đoàn hàng đầu trong thị trường tài chính
đang phát triển nhanh của Việt Nam. Quỹ Indochina Capital Vietnam Holdings
Limited với số vốn 500 triệu USD, được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán
Luân Đôn vào tháng 3/2007.


    4. Mối quan hệ giữa xuất khẩu nông sản với tăng trưởng
nông nghiệp Việt Nam
      Chúng ta đều biết, Việt Nam là một nước nông nghiệp, vấn đề sản xuất và
xuất khẩu nông sản giữ vị trí quan trọng đối với tăng trưởng nông nghiệp nói riêng
và tăng trưởng kinh tế nói chung. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã nổi lên là
một nước xuất khẩu nông sản mạnh so với khu vực và thế giới, có những mặt hàng
Việt Nam còn được coi là “đại gia” như cà phê, gạo, hạt điều… Tuy nhiên, mức độ
tác động của xuất khẩu nông sản đối với tăng trưởng nông nghiệp còn bấp bênh,
chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó.
      Mối quan hệ giữa xuất khẩu nông sản với tăng trưởng nông nghiệp.
      Sản phẩm của nông nghiệp bao gồm nông sản, lâm sản và thuỷ sản, trong
đó nông sản chiếm tỷ trọng lớn nhất. Vì vậy, khi xem xét mối quan hệ giữa xuất
khẩu nông sản với tăng trưởng nông nghiệp, có thể nhìn nhận qua các vấn đề sau:
      Một là, xuất khẩu nông sản tác động đến việc mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp.

12
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Khi xuất khẩu nông sản tăng, khối lượng nông sản được sản xuất ra ngày
càng lớn, do đó sẽ tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp.
Mặt khác, khi xuất khẩu nông sản tăng còn tạo nguồn thu lớn cho người sản xuất,
từ đó họ có thể tăng vốn để tái sản xuất mở rộng, tăng năng suất lao động, tăng
chất lượng sản phẩm, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu.
      Hai là, xuất khẩu góp phần giải quyết tốt vấn đề công ăn, việc làm.
       Một trong những đặc điểm rất quan trọng của Việt Nam và một số nước đang
phát triển khác là tốc độ tăng lực lượng lao động nhanh, từ đó việc làm luôn là vấn
đề nóng và cần quan tâm của nền kinh tế. Để giải quyết được tình trạng này phải
tăng cầu lao động và xuất khẩu tăng cũng là một trong những biện pháp để mở
rộng quy mô ngành sản xuất nông sản, từ đó tạo thêm việc làm cho người lao
động. Mặt khác, xuất khẩu nông sản tăng kéo theo sự phát triển của ngành công
nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, từ đó nhu cầu lao động bổ
sung tăng lên.
        Khi người lao động có việc làm, thu nhập ổn định sẽ tạo tâm lý yên tâm phấn
khởi và người lao động (đặc biệt là lao động nông nghiệp) sẽ làm việc ngay tại quê
hương mình, giảm tải tình trạng di cư của lao động ra các khu công nghiệp, thành
thị để tìm kiếm việc làm.
       Ba là, xuất khẩu nông sản góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn
lực trong nông nghiệp.
       Nguồn lực trong nông nghiệp bao gồm: đất đai, cơ sở hạ tầng, người lao
động, kinh nghiệm sản xuất… Mỗi quốc gia đều có những cách thức khác nhau
trong việc sử dụng các nguồn lực của mình sao cho có hiệu quả nhất và tận dụng
hết các lợi thế của vùng. Mỗi vùng khác nhau sẽ có lợi thế về một loại nông sản
khác nhau, do đó khi xuất khẩu nông sản tăng lên, thị trường được mở rộng sẽ tạo
điều kiện cho vùng đó sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả cao nhất. Đây cũng là lý do
tại sao Việt Nam lại tạo những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh xuất khẩu gạo của
đồng bằng sông Cửu Long, cà phê của các tỉnh miền Trung Tây Nguyên, vải Lục
Ngạn, nhãn Hưng Yên, thanh long Bình Thuận, bưởi Diễn…
      Bốn là, xuất khẩu nông sản góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
       Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn gắn với công
nghiệp chế biến và thị trường, đưa thiết bị, công nghệ hiện đại vào các khâu sản
xuất nông nghiệp, thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các
thành tựu khoa học, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin nhằm nâng cao
chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường. Vì vậy, xuất
khẩu nông sản tạo điều kiện giải quyết tốt vấn đề đầu ra cho nông sản, thúc đẩy
kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, điều này
rất phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay. Mặt khác, xuất khẩu nông sản
còn có vai trò tích cực trong việc cung cấp thông tin cho người sản xuất, tạo ra sự
phù hợp tốt hơn giữa người sản xuất và thị trường.

                                                                                13
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Năm là, xuất khẩu nông sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp.
      Xuất khẩu nông sản tăng làm đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu, tăng sức
cạnh tranh của sản phẩm, từ đó góp phần thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có giá trị
cao, đảm bảo vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu
cầu của thị trường thế giới. Xuất khẩu nông sản tăng hình thành các vùng sản xuất
chuyên môn hoá, tạo thuận lợi cho việc chăm sóc, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và xoá
bỏ dần cách thức sản xuất manh mún, nhỏ lẻ trước đây.
       Từ những vấn đề trên, có thể thấy rằng, về mặt lý thuyết xuất khẩu nông sản
và tăng trưởng nông nghiệp có mối quan hệ thuận chiều, nhưng trên thực tế các
quốc gia có phát huy được mối quan hệ này hay không còn phụ thuộc rất lớn vào
tình hình cụ thể của quốc gia đó và tăng trưởng nông nghiệp không chỉ chịu tác
động của một nhân tố đó là xuất khẩu nông sản.
      Xuất khẩu nông sản và tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam
        Thực tế, trong những năm qua ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những
bước chuyển mình, tạo ra sự thay đổi lớn trong sản xuất, cơ cấu, chất lượng, giá cả
sản phẩm và uy tín của nông sản trên thị trường quốc tế. Chúng ta có thể nhìn
nhận sự thay đổi đó thông qua một số số liệu ở Bảng 1.
 Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp và tốc độ tăng trưởng XK nông sản
                                                                                 (%)
      Chỉ tiêu                     2003          2004        2005         2006
      Tốc độ TTXKNS(1)             11,5          26,6        61,5         26,5
      Tốc độ TTNN(2)               3,62          4,36        4,04         3,4
        Nguồn: (1) Tác giả tự tính; (2) Niên giám Thống kê 2005
       Từ Bảng 1 có thể thấy, trong giai đoạn từ 2003 – 2005 xuất khẩu nông sản
của Việt Nam đã có sự tăng trưởng đều đặn từ 11,5% năm 2003 lên 26,6% năm
2004 và 61,5% năm 2005. Sự tăng trưởng này làm cơ sở cho tăng trưởng nông
nghiệp cũng tăng đều đặn từ 3,62% năm 2003 lên 4,04% năm 2005. Riêng năm
2006, kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng gặp nhiều khó khăn. Đó
là thiên tai (hạn hán, bão số 1( Chin Chu), bão số 6 (Xangsane), lốc mưa đá, bão số
9 (Durian)), dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng… Điều này làm cho việc sản
xuất và xuất khẩu nông sản gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp
Việt Nam vì nông nghiệp là ngành chịu tác động lớn nhất của điều kiện tự nhiên.
Kết quả là tốc độ tăng của xuất khẩu nông sản chỉ đạt 26,5% và nông nghiệp đạt
3,4%. Nhưng đạt được kết quả này cũng đã thể hiện sự nỗ lực phấn đấu hết sức
mình của người dân Việt Nam để đạt được mục tiêu đề ra (năm 2006 vẫn đạt tốc
độ tăng trưởng kinh tế là 8,17%).
      Chúng ta có thể nhìn nhận mối quan hệ này ở góc độ trực tiếp hơn, đó là mối
quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản và xuất khẩu nông nghiệp.



14
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



                       Bảng 2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng
                   XK nông sản và tăng trưởng XK nông nghiệp
          Chỉ tiêu               2002     2003     2004       2005       2006
Kim ngạch XKNS (triệu USD) (1)   2396,6   2672,0   3383,6     5463,3    6910,0
TTXKNS (%) (2)                     -       11,5     26,6       61,5      26,6
Kim ngạch XKNN(triệu USD) (1)    4616,1   5066,9   5972,5     9023,8    10520,3
TTXKNN(%) (2)                      -       9,8      17,9       51,1      16,6
Tỷ trọng XKNS/XKNN(%) (2)         51,9     52,7     56,7       60,5      65,7
        Nguồn: (1) Niên giám Thống kê 2005 số liệu từ 2002 – 2005 (năm 2006 số
liệu từ Bộ Thương mại; (2) Tác giả tự tính.
       Từ Bảng 2 có thể nhận thấy, trong các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam,
nông sản chiếm tỷ trọng khá lớn. Năm 2002 tỷ trọng của XKNS/XKNN là 51,9% đến
năm 2006 là 65,7%. Điều này nói lên tầm quan trọng của xuất khẩu nông sản đối
với xuất khẩu nông nghiệp và sự biến động của xuất khẩu nông sản sẽ kéo theo sự
biến động của xuất khẩu nông nghiệp Việt Nam. Biến động này qua các năm được
thể hiện: năm 2003 tốc độ tăng xuất khẩu nông sản là 11,5% tương ứng tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu nông nghiệp là 9,8%, năm 2004 là 26,6% tương ứng là 17,9%,
2005 là 61,5% tương ứng 51,1% và năm 2006 là 26,5% tương ứng là 16,6%.
      Từ việc nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa xuất khẩu
nông sản và tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam qua một số năm, có thể đưa ra một
số nhận xét sau:
      Thứ nhất, các nước đang phát triển tương tự Việt Nam, khi nông nghiệp là
một ngành kinh tế cơ bản thì xuất khẩu nông sản có mối quan hệ chặt chẽ với tăng
trưởng nông nghiệp. Do đó sự biến động của xuất khẩu nông sản sẽ kéo theo sự
biến động của tăng trưởng nông nghiệp và muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
nông nghiệp thì cần phải bắt đầu từ các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản.
      Thứ hai, trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của WTO, vấn đề xuất
khẩu nông sản đứng trước những cơ hội và thách thức lớn, vì vậy Chính phủ cần
có những chính sách hợp lý đối với xuất khẩu nông sản để tận dụng những cơ hội,
giảm bớt những thách thức và biến thách thức thành cơ hội từ đó thúc đẩy xuất
khẩu nông sản, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam.


       5. Phát triển kinh tế: Kinh ngạc Việt Nam
       Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế, cho rằng nếu không có cải cách kinh
tế, Việt Nam không thể đạt được thành công như ngày hôm nay. Làm thế nào mà
nền kinh tế Việt Nam lại phát triển được như vậy? Và sự phát triển ấy đã đem lại
những bài học lớn lao gì cho thế giới hiện đại?
       Một nền kinh tế biết “yêu thương”
      Sau chiến tranh, trong cơ chế cũ, nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng
khủng hoảng. Nhưng chỉ khoảng 10 năm sau đổi mới, nền kinh tế thoát khỏi khủng
hoảng và phát triển với tốc độ cao trong nhiều năm liên tục. Đây là điều được các

                                                                                   15
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

nước đánh giá cao. Hiện nay, một số nước đang phát triển gặp nhiều khó khăn
hoặc đang chuyển đổi cũng quan tâm học hỏi kinh nghiệm của Việt Nam như một
số quốc gia Trung Á thuộc Liên Xô cũ, Myanmar hay Cuba. Họ đã cử các đoàn
quan chức và chuyên gia kinh tế sang Việt Nam để tìm hiểu kinh nghiệm cải cách
và phát triển của Việt Nam.
      Việt Nam đã tìm được con đường đi đúng đắn cho mình: phát triển theo hệ
thống kinh tế thị trường, đồng thời chú trọng phát triển xã hội và chúng ta đã làm
khá tốt việc này ngay từ những năm đầu đổi mới. Trong quá trình phát triển, Nhà
nước luôn định hướng hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế và công bằng xã hội,
xóa đói giảm nghèo, còn các doanh nghiệp Việt Nam cũng có ý thức cao về việc
gắn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với sự nghiệp phát triển của đất nước,
gắn mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận với trách nhiệm phục vụ cộng đồng.
        Nhờ cải cách kinh tế, năng lực sản xuất của toàn xã hội được giải phóng,
người dân được tạo điều kiện để có thể phát huy mọi khả năng nhằm cải thiện đời
sống, làm giàu cho mình, đồng thời góp phần làm giàu cho đất nước. Rất nhiều
người nắm bắt được những cơ hội mới, nhưng không phải cơ hội luôn luôn được
phân bổ công bằng. Những người nghèo cần được quan tâm hỗ trợ để có cơ hội
cải thiện cuộc sống, như người ta thường nói, không phải bằng cách cho họ những
con cá, mà bằng cách giúp cho họ có được cái cần câu.
       Có nhiều cách để giúp cho những người nghèo có cần câu, trong đó trước
hết và quan trọng nhất là giáo dục-đào tạo. Nền giáo dục của chúng ta trong một
thời gian dài đã rất chăm lo đến phổ cập giáo dục rộng rãi cho mọi người dân. Từ
khi đổi mới, chính sách phổ cập giáo dục được tiếp tục áp dụng, đồng thời các hình
thức hỗ trợ khác ngày càng phát triển như: hướng dẫn sản xuất kinh doanh, cung
cấp tín dụng, các chương trình đào tạo, các dịch vụ khuyến nông, khuyến công…,
với sự đóng góp của cả một hệ thống không chỉ nhà nước mà cả các tổ chức xã hội
và rất nhiều sáng kiến phong phú của người dân tự hỗ trợ lẫn nhau, như giữa các
hộ nông dân, giữa phụ nữ, giữa những cựu chiến binh... Bằng nhiều con đường,
chúng ta có thể tạo cơ hội cho người dân tiếp cận với các phương tiện cần thiết, để
họ vươn lên nâng cao năng lực tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội, tạo nguồn
thu và nâng cao thu nhập cho mình.
       Kinh nghiệm quý nhất mà Việt Nam có thể chia sẻ với các nước đang phát
triển chính là con đường cải cách, phát triển kinh tế đi đôi với phát triển xã hội, xóa
đói giảm nghèo, trong đó nhà nước là người dẫn lối chỉ đường, giải phóng mọi
nguồn lực trong dân, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển, đồng thời huy động
toàn dân tham gia một cách chủ động, sáng tạo vào công cuộc phát triển kinh tế-xã
hội của đất nước. Ngân hàng Thế giới (World Bank) từng đánh giá Việt Nam là “star
performer” trong các nước đang phát triển vì đã thực hiện xuất sắc việc phát triển
kinh tế đi đôi với xóa đói giảm nghèo. Tốc độ xóa đói giảm nghèo của Việt Nam tạo
được ấn tượng rất mạnh trong cộng đồng quốc tế khi chúng ta có thể giảm một nửa
tỉ lệ đói nghèo trong vòng 10 năm, từ 1993 đến 2002 (từ 57% xuống 28% theo
chuẩn của Liên hiệp quốc).


16
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


      Chuyện hiếm: đi lên trong nông nghiệp
      Ngoài ra, đối với một số nước nghèo có nền kinh tế dựa vào nông nghiệp
nhưng luôn trong tình trạng đói kém vì thiếu lương thực, thì Việt Nam được coi là
tấm gương về thành quả phát triển nông nghiệp.
        Việt Nam bắt đầu sự nghiệp đổi mới khi công nghiệp còn rất nhỏ bé, gần
80% người dân sống dựa vào nông nghiệp, mà nền nông nghiệp đó cũng rất lạc
hậu, tình trạng thiếu hụt lương thực nặng nề kéo dài triền miên, mỗi năm phải nhập
từ 0,5 đến 1 triệu tấn lương thực. Nhưng chỉ 2 năm sau đổi mới, nông nghiệp Việt
Nam đã chuyển mình mạnh mẽ, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu triệu tấn gạo đầu tiên
và trở thành nước xuất khẩu lương thực có thứ hạng cao trên thế giới ngày nay.
      Ngoài lúa gạo, chúng ta còn phát triển mạnh một loạt các nông sản khác,
biến Việt Nam thành một trong những nước hàng đầu về xuất khẩu một số hàng
nông sản như cà phê, hạt điều, hạt tiêu, cao su, thủy hải sản…Nông nghiệp đang
đóng góp khoảng 27% tổng kim ngạch xuất khẩu, mang lại hàng chục tỷ đô la mỗi
năm. Các ngành nghề phi nông nghiệp cũng ngày càng phát triển ở nông thôn, vừa
hỗ trợ phát triển nông nghiệp, vừa góp phần cải thiện cuộc sống của nông dân,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế và bộ mặt nông thôn.
      Những người nông dân Việt Nam từ chỗ chỉ sản xuất tự cung tự cấp mà vẫn
không đủ ăn, đã dần trở thành những người xuất nhiều sản phẩm nông nghiệp và
phi nông nghiệp ra thị trường trong nước và thế giới. Ngày nay, trên 90% hộ nông
dân Việt Nam bán sản phẩm của mình ra ngoài, trong đó rất nhiều hộ giàu có lên từ
nông nghiệp. Chính sự năng động của nông dân đã góp phần quan trọng đưa nông
nghiệp Việt Nam đi lên nhanh chóng chỉ sau một thời gian tương đối ngắn.
       Như vậy, nông nghiệp chúng ta đã đi từ độc canh lúa đến đa dạng hóa sản
phẩm, từ tự cấp tự túc đến phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa, từ nước nhập
khẩu tịnh về lương thực đến trở thành nước xuất khẩu lương thực và nhiều nông
sản khác, từ đa số nông dân sống trong đói nghèo đến đa số nông dân ra khỏi đói
nghèo và có cuộc sống ngày càng ấm no. Đồng thời, từ một nền nông nghiệp khép
kín, nông nghiệp Việt Nam đang vươn ra cạnh tranh trên thị trường quốc tế, hội
nhập khu vực và toàn cầu ngày một sâu rộng hơn.
        Bài học mà Việt Nam có thể chia sẻ với các nước chính là đường lối khơi
dậy sức dân, tạo cơ chế cho người nông dân được chủ động canh tác trên ruộng
đất của mình, áp dụng các chính sách khuyến khích và trợ giúp phát triển nông
nghiệp, hỗ trợ nông dân về kỹ thuật canh tác và tiếp cận với các nguồn lực cần
thiết, đưa nông dân ra thị trường và thúc đẩy thị trường đến với nông dân, đồng
thời đầu tư thích đáng cho hạ tầng, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ phục vụ
phát triển nông nghiệp, nông thôn. Chúng ta đã và đang chia sẻ với một số nước
châu Phi những bài học và kinh nghiệm thực tế trong các lĩnh vực này ở Việt Nam.
      Tự do hóa trước khi vào WTO
      Quá trình đổi mới của Việt Nam cũng chính là quá trình mở cửa nền kinh tế
cả bên trong lẫn bên ngoài, tạo môi trường cho người dân phát triển các hoạt động
sản xuất kinh doanh, khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài, mở rộng xuất

                                                                               17
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

nhập khẩu, mà theo cách gọi bây giờ với WTO là tự do hóa thương mại. Hiến pháp
Việt Nam được sửa đổi năm 1992 quy định rõ doanh nghiệp và người dân được
quyền tự do kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực mà luật pháp không cấm, nhà nước
bảo hộ quyền tự do kinh doanh và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người dân.
       Hệ thống luật pháp và chính sách kinh tế của nước ta đã phát triển dần theo
đường hướng đó. Từ vài luật ban đầu về kinh tế như Luật Đầu tư nước ngoài
(1987), Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty (1991), chúng ta đã phát triển
thành một hệ thống văn bản pháp quy điều chỉnh các họat động kinh tế theo hướng
ngày càng cởi mở, đặc biệt với việc ban hành Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật
Doanh nghiệp, Luật Đầu tư 2005. Luật Doanh nghiệp 1999 đã luật hóa quy định của
Hiến pháp 1992 -doanh nghiệp và người dân được tự do kinh doanh trên tất cả các
lĩnh vực mà luật pháp không cấm-, nhờ đó đã tạo nên bước phát triển mang tính
đột phá của đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp khu vực tư nhân,
khơi dậy những nguồn lực rất lớn cho đất nước.
        Trong 6 năm thực hiện Luật doanh nghiệp 1999, gần 200.000 doanh nghiệp
mới ra đời, tổng vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước khoảng
20 tỷ USD, lớn hơn hẳn so với tổng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào nước ta trong
cùng thời gian đó. Khu vực tư nhân cũng tạo nên 96% tổng việc làm mới trong xã
hội nước ta trong gần một thập kỷ vừa qua. Các ngành nghề mới ngày càng phát
triển, năng lực sản xuất cho thị trường trong nước và xuất khẩu tăng nhanh, các
sản phẩm vật chất và dịch vụ ngày một phong phú, thu nhập của người dân tăng
lên rõ rệt. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, tăng trưởng GDP khá cao của Việt
Nam trong những năm gần đây có đóng góp rất lớn của khu vực tư nhân, của lực
lượng doanh nghiệp được cởi trói và khuyến khích cạnh tranh.
       Một lần nữa, khi Nhà nước có cơ chế chính sách tốt, mạnh dạn tự do hóa
thương mại, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, thì nền kinh tế sẽ tăng trưởng,
xã hội sẽ phát triển, nhiều công việc vốn thuộc về gánh nặng của Nhà nước (mà
Nhà nước không thể lo hết được, hoặc nếu muốn lo thì phải với chi phí vô cùng
lớn) sẽ được người dân chia sẻ, gánh vác. Khi được tự do kinh doanh, người dân
có thể tự làm được rất nhiều việc cho mình và cho đất nước, nuôi lẫn nhau và tạo
cơ hội cho nhau phát triển.
       Tự do hóa thương mại ở Việt Nam như vậy đã diễn ra trong suốt quá trình
đổi mới với mức độ ngày càng cao hơn, đặc biệt trong những năm gần đây, xuất
phát trước hết từ chính yêu cầu của công cuộc cải cách và phát triển của Việt Nam.
Tự do hóa thương mại trong cả quá trình này cũng đã giúp Việt Nam thành công
trong hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển các quan hệ thương mại, đầu tư và hợp
tác kinh tế với các đối tác bên ngoài. Gia nhập WTO vừa là thành quả của đổi mới,
của tự do hóa thương mại trong những năm trước, vừa tạo nên động lực mới thúc
đẩy tự do hóa thương mại và phát triển kinh tế ở Việt Nam trong những năm sau. Đây
cũng là bài học Việt Nam có thể chia sẻ với một số nước có cơ chế còn xơ cứng.




18
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



      Sẽ phấn đấu từ nước đang phát triển thành nước phát triển cao hơn
       Việt Nam đang phấn đấu để đến năm 2010 ra khỏi tình trạng nước thu nhập
thấp, vươn lên đạt mức thu nhập trung bình. Đây cũng là lúc phải nghĩ tới một chiến
lược dài hạn để đưa nước ta dần dần trở thành nước có trình độ phát triển cao
hơn. Kinh nghiệm chung trong khu vực Đông Á là, để phát triển từ nước có mức thu
nhập trung bình thành nước có thu nhập cao, phải thực hiện 3 sự chuyển đổi lớn:
từ đa dạng hóa sang chuyên môn hóa, từ tích lũy sang sáng tạo, từ kỹ năng cơ bản
sang kỹ năng tiên tiến.
        Như nhiều nước đang phát triển khác, trước đây và hiện nay Việt Nam cần
rất nhiều thứ nên dễ có xu hướng cái gì cũng muốn có, muốn mở rộng, mà chưa có
sự lựa chọn thích đáng cho phương hướng tập trung phát triển những sản phẩm,
những ngành chúng ta thực sự có lợi thế. Nhưng ngày nay các nước, các ngành và
doanh nghiệp trên thế giới đang kết nối với nhau trong mạng lưới toàn cầu, trong đó
có sự phân công lao động rõ ràng giữa những người tham gia chuỗi cung ứng. Cho
đến nay Việt Nam chưa tham gia được sâu vào mạng lưới đó. Một số ngành
của Việt Nam như dệt may, da giày đã tham gia một phần, nhưng chủ yếu là ở
khâu gia công, lắp ráp, phần đáy của hình parabol thể hiện chuỗi giá trị, nên hưởng
lợi ít nhất. Phải làm sao để tham gia ở các khâu cao hơn trong chuỗi giá trị, và ở
các ngành có hàm lượng công nghệ cao hơn như công nghệ thông tin, điện tử…
        Từ tích lũy chuyển sang sáng tạo đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực không chỉ thu
hút vốn, mà quan trọng hơn là thu hút, học hỏi, ứng dụng công nghệ từ các nước
tiên tiến và dần dần sáng tạo nên những công nghệ của chính mình. Công tác
nghiên cứu khoa học cũng như nghiên cứu ứng dụng đều cần được chú trọng,
trong cả các lĩnh vực khoa học cơ bản quan trọng và trong các lĩnh vực công nghệ
gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn tới.
       Từ kỹ năng cơ bản sang kỹ năng tiên tiến đòi hỏi chúng ta tập trung cải cách
mạnh nền giáo dục của mình, đặc biệt là giáo dục đại học. Lực lượng lao động của
chúng ta cũng rất cần được đào tạo và đào tạo lại để có tinh thần và khả năng học
hỏi, có đầu óc sáng tạo, sẵn sàng tiếp thu những ý tưởng, cách làm mới, nâng cao
kỹ năng và tính chuyên nghiệp trong công việc. .
      Với tính ham học hỏi, khả năng tiếp thu cái mới và ý chí của người Việt Nam,
khả năng tạo 3 chuyển biến này ở Việt Nam không phải là quá khó. Vấn đề chính là
chúng ta sẽ chọn lựa những chiến lược nào cho trúng và có đủ quyết tâm để thực
hiện những chiến lược đó. Nhà nước rất cần phát huy cao nhất trí tuệ của người
dân đóng góp cho sự chọn lựa lịch sử này.
      Trên con đường phát triển tới đây, chúng ta cũng rất cần khơi dậy mạnh mẽ
hơn nữa tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, ý thức cộng đồng và lòng nhân ái của
con người Việt Nam ở mọi nơi để phát huy sức mạnh của cả dân tộc, gắn kết, hòa
hợp và cùng nhau phát triển hướng về tương lai, cùng nhau đưa đất nước lên một
tầm cao mới.




                                                                                19
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Con đường do Việt Nam lựa chọn
      Việt Nam thực sự có thể tự hào về những thành quả phát triển kinh tế-xã hội
mà mình đã đạt được. Hầu như mọi người nước ngoài nào đã vào Việt Nam trước
đây nay trở lại Việt Nam đều ngạc nhiên trước những thay đổi lớn trên đất nước ta.
Nhiều người đặc biệt ấn tượng về tính năng động và sự thân thiện của con
người Việt Nam mà họ có thể cảm nhận rất rõ ngay khi đi trên đường phố Hà Nội,
Sài Gòn hoặc đến bất cứ vùng quê nào của chúng ta.
       Càng đáng tự hào hơn vì con đường đổi mới là con đường do chính người
Việt Nam tự lựa chọn và thiết kế cho mình. Nhiều sáng kiến đổi mới ban đầu là từ
cơ sở, do người dân cùng chính quyền cơ sở sáng tạo và thực hiện thành công, rồi
Nhà nước phát triển thành mô hình chung và phát động công cuộc đổi mới sâu rộng
trên cả nước. Sự hỗ trợ, giúp đỡ của quốc tế rất quan trọng nhưng không thể thay
thế được nỗ lực trong nước. Trong mọi sự phát triển của Việt Nam luôn có bài học
về tinh thần tự lực, tự cường.
        Việt Nam đang dốc sức phấn đấu vươn lên để phát triển và đóng góp vào sự
phát triển chung của khu vực, của thế giới và của toàn nhân loại. Cùng với các dân
tộc, các nước khác, Việt Nam sẽ tiếp tục hòa mình vào dòng chảy chung rất mãnh
liệt của thời đại chúng ta.


     6. Quy hoạch tổng thể hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm
2010: Tạo những đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng với nước ngoài
       Định hướng quy hoạch phát triển cảng biển trong giai đoạn tới cần tập trung
xây dựng cảng trung chuyển quốc tế, một số cảng nước sâu chuyên dụng xếp dỡ
container, than quặng và dầu quy mô lớn, trang thiết bị hiện đại... Ngày 22/10, Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến chỉ đạo như vậy về Quy hoạch tổng thể phát
triển Hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2010.
      Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu: Trong những năm tới đây, tiến độ đầu
tư xây dựng cảng biển cần được đẩy nhanh, đầu tư có trọng điểm tại những vị trí
có điều kiện tự nhiên thuận lợi và thực sự có nhu cầu nhằm đáp ứng thiết thực nhu
cầu phát triển kinh tế của đất nước, đồng thời làm cơ sở xây dựng và phát triển hệ
thống cảng biển Việt Nam theo một quy hoạch tổng thể và thống nhất trên quy mô
cả nước.
       Hệ thống cảng biển Việt Nam trong tương lai phải đáp ứng các yêu cầu là
trung tâm kết nối cơ sở hạ tầng giao thông tại các khu vực, đặc biệt là tại các vùng
kinh tế trọng điểm, các khu kinh tế, khu công nghiệp lớn; phải khẳng định được vị trí
và ưu thế về kinh tế biển của đất nước đối với khu vực và thế giới, tạo ra những
đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng giữa trong nước với nước ngoài.
       Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các cơ
quan liên quan nghiên cứu, thí điểm thành lập mô hình quản lý cảng biển như thông
lệ các nước tại Khu Kinh tế Dung Quất-Quảng Ngãi trình duyệt theo quy định, báo
cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.

20
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Để nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí tài nguyên và tăng độ hấp dẫn
đối với các nhà đầu tư vào khu công nghiệp phía sau cảng, Thủ tướng giao UBND
các tỉnh yêu cầu chủ đầu tư các khu công nghiệp tập trung xây dựng các cảng để
sử dụng chung, tránh xây dựng các cảng chuyên dùng nhỏ lẻ.


      7. Kinh tế VN tăng trưởng cao nhất trong 10 năm
       Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định, trong năm 2007, đất nước đã đạt
được những thành tựu quan trọng và tiến bộ mới trên nhiều lĩnh vực; đời sống nhân
dân tiếp tục được cải thiện; tiềm lực quốc gia được tăng cường; vị thế của Việt
Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
       Sáng 22/10, báo cáo trước Quốc hội về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế-
xã hội năm 2007, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2008, Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng nhấn mạnh, hiệu lực và kinh nghiệm điều hành của Chính phủ và các
cấp chính quyền cùng sự năng động, sáng tạo và những đóng góp của các tầng lớp
nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã tạo nên thế
và lực mới cho công cuộc phát triển đất nước.
       Theo báo cáo, trong năm 2007, nền kinh tế đất nước đạt mức tăng trưởng
cao nhất trong vòng 10 năm qua (8,5%), tạo khả năng hoàn thành nhiều chỉ tiêu
chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 ngay trong năm 2008. Các cân đối kinh tế
vĩ mô cơ bản được bảo đảm, đầu tư phát triển của nền kinh tế tăng mạnh, nhiều
công trình hạ tầng và cơ sở sản xuất được đưa vào sử dụng, tạo tiền đề quan trọng
để phát triển đất nước trong các năm tiếp theo. Các lĩnh vực văn hóa-xã hội có
những chuyển biến tiến bộ.
       Công tác cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính tại
những lĩnh vực có nhiều bức xúc trong xã hội có bước tiến mới, được nhân dân và
doanh nghiệp đồng tình. Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí được quan tâm và chỉ đạo kiên quyết. Chính trị, xã hội tiếp tục ổn
định. Quan hệ đối ngoại tiếp tục được mở rộng, vị thế quốc tế của Việt Nam không
ngừng được nâng cao.
       Tuy nhiên, Thủ tướng cũng chỉ ra một số yếu kém của nền kinh tế cũng như
những hạn chế trong công tác điều hành. Trước hết, Thủ tướng cho rằng năng
suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm và của cả nền kinh tế tuy đã có
bước tiến bộ nhưng vẫn còn thấp; hiệu quả đầu tư còn kém, chi phí sản xuất còn
cao Một số cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc. Bội chi ngân sách nhà nước tuy vẫn
trong giới hạn cho phép, nhưng tỷ lệ này còn khá cao. Khả năng hấp thụ vốn đầu tư
của nền kinh tế tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa tận dụng được cơ hội mới
để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư.
       Nhiều vấn đề xã hội bức xúc khắc phục còn chậm như công tác bảo đảm an
toàn lao động, tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, làm hạn chế sự phát triển
của toàn xã hội. Đời sống của một bộ phận nông dân, đặc biệt là đồng bào ở vùng

                                                                              21
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

núi cao, vùng sâu, vùng biên giới, hải đảo còn nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo trong
đồng bào dân tộc thiểu số cao gấp 4 lần tỷ lệ hộ nghèo chung của cả nước.
       Công tác bảo vệ môi trường còn nhiều yếu kém; công tác phòng chống tham
nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã có những kết quả bước đầu nhưng
hiện trạng vấn đề này vẫn còn nghiêm trọng.
       Thủ tướng cũng nêu ra các giải pháp và chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội
trong năm 2008. Thủ tướng yêu cầu phát triển kinh tế với tốc độ cao phải gắn liền
với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và tính bền vững của nền
kinh tế, phấn đấu vượt ngưỡng "nước đang phát triển có thu nhập thấp" ngay trong
năm 2008; huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển, đặc biệt là đầu tư phát
triển mạnh kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; tập trung sức phát triển nguồn nhân lực
và khoa học-công nghệ; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, phòng chống tham
nhũng, quan liêu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; giải quyết tốt hơn các vấn đề
văn hoá, xã hội và bảo vệ môi trường; bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia, an
ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; tích cực, chủ động hội nhập kinh tế và hợp
tác quốc tế có hiệu quả; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chỉ đạo
điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp.
       Về các chỉ tiêu phát triển trong năm 2008, báo cáo đặt mục tiêu tổng sản
phẩm trong nước (GDP) tăng 8,5-9% so với năm 2007; GDP bình quân theo đầu
người khoảng 960 USD. Duy trì mức giảm tỷ lệ sinh năm 2008 là 0,3‰ và dân số
86,3 triệu người. Cung cấp nước sạch cho 75% dân số nông thôn và cho 85% dân
số đô thị, nâng tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm 2008 đạt 40%.


      8. Nguy cơ thiếu hụt năng lượng lớn
      Tại Hội thảo quốc tế về phát triển năng lượng Việt Nam, các chuyên gia
trong và ngoài nước đều dùng từ yếu kém để nhận xét về ngành năng lượng
Việt Nam hiện nay.
      Sử dụng năng lượng lãng phí
        Theo ông Tạ Văn Hường, Vụ trưởng Vụ Năng lượng (Bộ Công thương), yếu
kém lớn nhất hiện nay là Việt Nam vẫn nằm trong số các nước có mức sản xuất và
tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người thấp xa so với mức trung bình của thế
giới và kém nhiều nước trong khu vực. Trình độ công nghệ năng lượng còn thấp,
nhiều cơ sở sản xuất năng lượng đang phải duy trì công nghệ cũ, lạc hậu, có các
chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật thấp, hiệu suất thấp và gây ô nhiễm môi trường.
      Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cao, năng suất lao động của
các ngành (nhất là than và điện) còn thấp. Chưa thu hút được đáng kể vốn đầu tư
từ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vào phát triển ngành. Việc định giá năng lượng
còn nhiều bất cập (còn bù lỗ, bù chéo lớn giữa các nhóm khách hàng…), gây bất lợi
cho phát triển sản xuất kinh doanh và không phù hợp với xu hướng chính sách giá
năng lượng của các nước trong khu vực và trên thế giới.



22
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


      Đầu tư cho phát triển năng lượng còn thấp so với nhu cầu, thủ tục đầu tư
phức tạp, tiến độ thực hiện nhiều công trình bị chậm… Điều này đã ảnh hưởng
không nhỏ đến quá trình phát triển của ngành; ảnh hưởng đến việc đảm bảo cung
cấp đầy đủ, an toàn năng lượng cho nền kinh tế quốc dân.
      Bên cạnh đó, khâu sử dụng năng lượng hiệu suất cũng rất thấp. Ông Nguyễn
Thường - Giám đốc Trung tâm Phát triển năng lượng bền vững cho biết, đa số các
ngành công nghiệp của ta là những ngành thuộc loại có cường độ năng lượng cao.
Cường độ năng lượng trong công nghiệp của Việt Nam cao hơn Thái Lan và
Malaysia khoảng 1,5-1,7 lần, có nghĩa là để làm ra cùng một giá trị sản phẩm như
nhau, Việt Nam phải tiêu tốn năng lượng gấp 1,5-1,7 lần so với các nước nói trên.

Còn theo tính toán của APEC thì Việt Nam mất 0,463kg dầu để làm ra 1USD, số
liệu này cao hơn các nước khác khoảng 30%-40%. Hiện nay để tăng trưởng GDP
là 8%-9% thì tăng trưởng về điện của ta thường phải gấp đôi ở mức 16%-18%
trong khi với các nước khác tỷ lệ này chỉ là 1:1. Điều này cho thấy việc sử dụng
năng lượng tại Việt Nam rất lãng phí và như vậy nếu GDP càng tăng thì tiêu tốn
năng lượng của ta càng lớn.
      Nguy cơ thiếu hụt năng lượng lớn
       Theo tính toán các nguồn than, dầu thô sẽ cạn kiệt vào giai đoạn 2025, trong
khi hệ thống điện vẫn phát triển chậm và tiềm ẩn khả năng không đảm bảo an toàn
cung cấp điện.
       Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Hùng đại diện của Ngân hàng Thế
giới (WB) cho biết: "Chúng tôi đã hình dung ra khó khăn của Việt Nam trong việc
đáp ứng năng lượng cho nhu cầu kinh tế xã hội. Trong khi GDP thì tăng trưởng
cao, nhưng sự phát triển năng lượng không theo kịp, bên cạnh đó thì giá nhiều
nguồn năng lượng như dầu thô đang tăng mạnh cũng mang lại những khó khăn.
Việc đảm bảo cả về chất lượng lẫn khối lượng cơ bản cho kinh tế xã hội là khó
khăn lớn trong thời gian tới. Việc thiếu nguồn tài chính cũng sẽ gây ra thiếu nguồn
cung. Từ đầu tư tài chính đến xử lý vận hành nâng cao chất lượng hệ thống năng
lượng như thế nào là vấn đề khá nan giải, nói chung cả thượng nguồn và hạ nguồn
về năng lượng của Việt Nam đều có vấn đề."
       PGS, Tiến sỹ Nguyễn Minh Duệ - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết
sản lượng khai thác dầu của Việt Nam đã sụt giảm. Nếu thời gian tới không phát
hiện thêm mỏ mới thì với sản lượng khai thác hiện hành, dự báo đến 2025 Việt
Nam về cơ bản cạn kiệt tài nguyên dầu khí.
       Theo TS Duệ, tiến độ xây dựng nhà máy lọc dầu quá chậm Việt Nam vẫn
xuất dầu thô và nhập gần 100% các loại xăng dầu tiêu dùng trong nuớc, hệ thống
kho tiếp nhận có khoảng 1,3 triệu m3 tương đương với 30 ngày tiêu thụ, chưa đủ
mức dự trữ cần thiết khi giá cả leo thang hay khủng hoảng dầu xảy ra. Khai thác
than thì quá nhanh và với tốc độ khai thác, xuất khẩu như hiện nay, trong thời gian
dài nữa nguồn than cũng cạn kiệt. Hệ thống điện tuy đã phủ khắp toàn quốc nhưng



                                                                                23
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

do nhu cầu tăng nhanh mà tiến độ thực hiện quy hoạch chậm nên hệ thống điện
vẫn tiềm ẩn khả năng không đảm bảo an toàn cung cấp điện.
       Một số ý kiến cho rằng hiện nay xây dựng một nhà máy điện phải mất từ 4-6
năm mà trong 10 năm tới phải phát triển thêm gần 50.000 MW điện không phải là
việc dễ làm.
      Nếu Việt Nam không có chính sách phát triển năng lượng bền vững thì sẽ
đứng trước nguy cơ thiếu hụt năng lượng, chuyển thành nước nhập khẩu năng
lượng và mức độ phụ thuộc năng lượng nhập khẩu ngày càng tăng.
      Giải pháp nào cho phát triển năng lượng?
      Từ các đánh giá về thực trạng ngành năng lượng của Việt Nam cho thấy để đảm
bảo an toàn cung cấp năng lượng, cần phải có một kế hoạch phát triển dài hạn nhằm
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an toàn năng lượng quốc gia.
      Các chuyên gia cho rằng Việt Nam trước hết phải đẩy mạnh phát triển nguồn
một cách bền vũng.
      Theo ông Tạ Văn Hường, hiện chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đã
được lãnh đạo Đảng và Nhà nước xem xét, phê duyệt. Trong thời gian tới Việt Nam
sẽ đẩy mạnh phát triển nguồn điện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.
        Trong các năm tới bình quân mỗi năm sẽ phải đưa thêm vào hệ thống
4.000MW điện. Riêng công suất lắp đặt các nhà máy thuỷ điện cả nước đến năm
2015 vào khoảng hơn 18.000 MW với sản lượng điện trung bình hằng năm trên 80
tỷ kWh. Về nhiệt điện, Việt Nam đã có cả một chương trình hành động theo đó sẽ
phát triển các trung tâm nhiệt điện lớn. Nhu cầu về than dùng cho phát điện sẽ lên
tới trên 60 triệu tấn vào năm 2015 và ngoài sử dụng lượng than trong nước sẽ đẩy
mạnh nhập khẩu than. Bên cạnh đó là phát triển từ 8-11 tổ máy điện hạt nhân, mỗi
tổ máy có công suất 1.000 MW.
      Với dầu khí, thì Việt Nam đang tăng cường thăm dò ở các vùng nước sâu
hơn và đẩy mạnh việc mua mỏ dầu tại nước ngoài để đáp ứng nhu cầu.
       Nhưng dù nguồn có phát triển bao nhiêu mà sử dụng không hợp lý thì vẫn sẽ
dẫn đến nguy cơ thiếu hụt vì vậy điều quan trọng chính là phải có chính sách sử
dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Theo ông Nguyễn Thường, để tiết kiệm
điện hiệu quả thì phải giảm lượng điện tiêu thụ bằng cách thay thế các thiết bị sử
dụng điện hiệu suất thấp bằng các thiết bị hiệu suất cao, giảm tổn thất điện năng
thông qua truyền tải điện. Hiện nay tổn thất điện năng của Việt Nam còn khá lớn
11% trong khi với các nước chỉ ở mức 6-7%.
      Quan trọng hơn nữa là giảm cường độ năng lượng của GDP và của ngành
bằng cách hướng mạnh vào các ngành kinh tế và dịch vụ có cường độ thấp nhưng
mang lại giá trị hiệu quả cao. Bên cạnh đó cần ban hành luật về sử dụng năng
lượng tiết kiệm. Hiện nay các nước có nền kinh tế thị trường đều có luật về tiết
kiệm năng lượng, riêng Việt Nam vẫn chưa có, vì vậy nên rất khó khăn trong việc
yêu cầu các tổ chức, đơn vị trong nước thực thi các giải pháp tiết kiệm năng lượng.

24
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


Điều này lý giải vì sao việc tiết kiệm năng lượng tại Việt Nam đạt hiệu quả rất thấp.
Cả năm 2006 sản lượng điện tiết kiệm chỉ đạt 0,36%, thấp hơn nhiều so với yêu
cầu của Chính phủ.
        Cũng theo ông Thường, các quốc gia trong EU nhờ thay đổi hành vi người
sử dụng và đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng mà đến 2020 họ sẽ giảm tiêu thụ năng
lượng tới 20%. Số liệu từ Liên hợp quốc cho thấy nhu cầu năng lượng sẽ tăng 60%
trong 25 năm tới và vì vậy với các nước phát triển, việc tiết kiệm năng lượng được
coi là yếu tố quan trọng giúp cung cấp năng lượng bền vững. Tiết kiệm năng lượng
cũng chính là biện pháp nhanh nhất hiệu quả nhất và chi phí thấp nhất để giảm khí
thải nhà kính và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
      Ngoài ra là phát triển nguồn năng lượng mới và tái tạo. Hiện nay nguồn năng
lượng tái tạo của Việt Nam chiếm tỷ lệ rất thấp, chúng ta đang phấn đấu đến năm
2010 phải có 3%, năm 2020 có 5%, năm 2040 có 10% công suất nguồn sử dụng
nguồn năng lượng mới và tái tạo.
       Nhưng đây mới là mục tiêu, nếu không có kế hoạch hành động thì điều này
khó trở thành hiện thực. Trước hết cần tổ chức điều tra đánh giá tiềm năng nguồn
năng lượng mới và tái tạo; xây dựng quy hoạch sử dụng năng lượng mới. Nhà
nước khuyến khích việc khai thác, sử dụng năng lượng mới và tái tạo: hỗ trợ kinh
phí cho các chương trình điều tra, nghiên cứu, chế tạo thử, xây dựng các điểm điển
hình sử dụng năng lượng mới tái tạo; miễn thuế nhập khẩu, thuế sản xuất, lưu
thông các thiết bị, công nghệ năng lượng mới và tái tạo. Lựa chọn công nghệ thích
hợp với điều kiện của Việt Nam, đưa nhanh vào đời sống, đặc biệt là ở các vùng
nông thôn, miền núi...
       Và quan trọng hơn cả là phải có chính sách đảm bảo an ninh năng lượng:
Coi an ninh năng lượng là một trong những vấn đề được ưu tiên hàng đầu trong
chính sách thương mại và chính sách đối ngoại của Nhà nước. Mở rộng đầu tư và
trao đổi hàng hoá, dịch vụ liên quan đến năng lượng. Có chính sách ưu đãi về tài
chính và mở rộng hợp tác quốc tế để tăng cường công tác tìm kiếm thăm dò nhằm
nâng cao trữ lượng và khả năng khai thác than, dầu, khí đốt, năng lượng mới và tái
tạo. Đảm bảo trữ lượng về nhiên liệu hoá thạch trong nước (than, dầu và khí đốt),
trên quan điểm tối ưu hoá sử dụng và kéo dài độ sẵn sàng trữ lượng năng lượng.
       Bên cạnh đó, phải đẩy nhanh việc nhập khẩu năng lượng từ các nguồn cung
cấp ổn định, lâu dài như nhập khẩu thuỷ điện từ Lào, Campuchia và Trung Quốc.
Tăng cường khai thác, sử dụng nguồn năng lượng trong nước, giảm sự phụ thuộc
vào năng lượng nhập khẩu không ổn định, nhất là dầu mỏ. Hỗ trợ về tài chính cho
các doanh nghiệp của Việt Nam đầu tư tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí tại nước
ngoài. Đẩy mạnh hợp tác đầu tư với Lào để phát triển các dự án thuỷ điện, khai
thác than và phát triển nhà máy nhiệt điện than để cung cấp điện về Việt Nam.




                                                                                  25
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      9. Ngành dược chuyển mình khó nhọc
      Từ năm 2004, Bộ Y tế đưa ra quy định là các xí nghiệp dược xây mới
phải đạt chuẩn GMP - WHO, và đến 2006 tất cả các nhà máy sản xuất thuốc
tân dược phải đạt tiêu chuẩn này. Thế nhưng thời hạn cứ lùi dần, và đến giờ
thời hạn quy định là giữa năm 2008.
      Tín hiệu lạc quan
      Cuối tuần qua, Công ty dược Cần Giờ (Cagipharm) đã khánh thành nhà máy
sản xuất thuốc tân dược đạt tiêu chuẩn GMP (tiêu chuẩn sản xuất thuốc tốt) cấp
WHO. Cùng với nhà máy sản xuất thuốc của Công ty Cổ phần Dược và Vật tư Y tế
Bình Dương (BIPHARCO) và nhà máy của Công ty Cổ phần Dược Sóc Trăng khởi
công tháng 3 và tháng 5 vừa qua, Cagipharm đã góp phần đưa số nhà máy đạt tiêu
chuẩn GMP cấp WHO lên con số 47.
      Thứ trưởng Bộ Y tế, tiến sĩ Cao Minh Quang, cho biết, cuối năm 2006, trong
số hơn 170 nhà máy sản xuất thuốc tân dược trên cả nước, có 60 nhà máy đạt tiêu
chuẩn GMP (tiêu chuẩn sản xuất thuốc tốt), nhưng đã có 42 nhà máy tiêu chuẩn
GMP cấp khu vực (ASEAN) và chỉ có 18 đơn vị đạt GMP - WHO. Nên con số 47
nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP cấp WHO là một bước tiến đáng kể.
      Theo Bộ Y tế, năm 2001, Việt Nam đạt mức chi y tế 6 USD/người thì năm
2006 đã đạt 11,53 USD/người. Các nhà máy đạt GMP đạt được công suất 60 -
80%, có dây chuyền đạt 100%. Doanh thu của các nhà máy GMP đạt 80% tổng số
doanh thu của ngành dược sản xuất trong nước.
     Thứ trưởng Bộ Y tế cho rằng đây là một dấu hiệu khởi sắc tốt của ngành
dược VN trên con đường hội nhập vào y tế thế giới và tham gia cạnh tranh khi gia
nhập WTO.
      “Đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dược
VN. Thời gian tới ngành y tế sẽ hoàn thành mục tiêu tất cả các nhà máy sản xuất
dược đạt cấp WHO để có thể tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thuốc
tân dược” - Thứ trưởng nói với VietNamNet.
      Thách thức
      Thế nhưng, theo Thứ trưởng Bộ Y tế, ngành dược vẫn còn những lo lắng khi
trước mắt vẫn còn những thách thức không nhỏ.
       Hiện nay, thuốc sản xuất trong nước bảo đảm được khoảng 773/1.563 loại
hoạt chất, chưa đến 50% giá trị thị trường thuốc. Trong khi đó, thị trường Việt Nam
rất lớn, nếu ngành dược trong nước không bao quát được thì thuốc nước ngoài sẽ
tràn vào chiếm lĩnh.
       Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất thuốc trong nước mới chỉ tập
trung vào công nghiệp bào chế, chưa chú trọng đầu tư vào các loại thuốc chuyên
khoa đặc trị, các dạng bào chế đặc biệt..., trong khi theo đánh giá của Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO) thì năng lực của ngành dược Việt Nam đang ở mức độ phát triển
từ 2,5 đến 3 (trong thang phân loại từ 1 đến 4), tức là có khả năng sản xuất một số
thuốc gốc và xuất khẩu một số dược phẩm.


26
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Điều sốt ruột nhất là sự chuyển biến của ngành dược thời gian qua quá
chậm. Một quyết định của Bộ Y tế từ 2004 quy định đến 2006 tất cả các nhà máy
dược phải đạt tiêu chuẩn GMP, nhưng sau đó cứ phải gia hạn dần, đến 2007, đầu năm
01/2008 và giờ là 01/7/2008. Các kiến nghị của các đơn vị bào chế cho rằng, nếu phải
đạt chuẩn GMP theo tiến độ Bộ Y tế yêu cầu, nhà máy chỉ có nước… phá sản!
       Vì vậy, 75/178 đơn vị đạt GMP, trong đó có 47 đơn vị đạt tiêu chuẩn GMP -
WHO là dấu hiệu đáng mừng, song phía sau đó lấp ló nỗi lo bởi có nghĩa còn tới
trên 100 đơn vị nữa chưa biết phải xoay trở làm sao để hoàn thành nhiệm vụ.
       Đến cuối tháng 6/2006 Bộ Y tế không cấp chứng nhận GMP - ASEAN nữa.
Để đạt tiêu chuẩn GMP, đặc biệt là GMP WHO, DN phải đầu tư khá lớn. Bình quân
đầu tư cho một dây chuyền sản xuất thuốc đảm bảo chất lượng khoảng 30 đến 35
tỷ, bên cạnh đó còn là nhà xưởng. Tùy theo quy mô của nhà máy mà đầu tư một
hay nhiều dây chuyền.
        Tuy nhiên, GMP không có nghĩa chỉ là nhà xưởng, dây chuyền sản xuất
 thuốc, mà còn đi vào chiều sâu, đi vào toàn bộ hệ thống quản lý‎chất lượng, quản lý‎‎
‎,ynà‎y ‎i c ‎ể à‎i ‎ể a‎àkm‎yogà‎c nàấ‎,tấht ‎yv‎ởs‎ơcà‎yogà‎.yám‎àhtà‎àot‎aủc
à h‎i a‎o ‎‎,àấ và‎ào à‎c y‎i ‎đ c‎àkn‎àcà‎ơuàấ‎ơt‎àhtà‎àv‎,àấ cuà‎c ‎in ‎ơth
 .n ‎n à‎ca‎yogà‎c nàấ‎ở à‎goứa‎ào yàấ‎g cuà‎yoẩ‎ểonàấ‎go ‎yoấ‎ấ m ‎ihuà‎in
       Liên kết - hướng đi cho sức cạnh tranh của DN dược VN?
        Theo các cam kết cụ thể khi gia nhập WTO, mức thuế áp dụng chung cho
dược phẩm sẽ chỉ còn 0% - 5% so với mức thuế 0% - 10% như trước đây. Mức
thuế trung bình sẽ là 2,5% sau 5 năm kể từ ngày Việt Nam chính thức trở thành
thành viên của WTO. Thuế quan loại bỏ, và tuân thủ nghiêm ngặt về sở hữu trí tuệ,
sở hữu công nghiệp, không phân biệt trong hay ngoài nước… là những thách thức
lớn cho DN dược Việt Nam. Để cạnh tranh, tất yếu DN dược Việt Nam phải có sự
chuyển biến mạnh, nếu không sẽ thua trên một thị trường rộng lớn với nhiều cơ hội
lớn, lại là sân nhà của mình, là điều đáng tiếc và đáng lo.
      Ông Hoàng Mầng, Tổng Giám đốc Cagipharm, cho biết các doanh nghiệp
nhỏ rất khó đạt được các tiêu chuẩn trên, và vì vậy, sức cạnh tranh của các DN
dược Việt Nam vẫn luôn yếu thế.
       Trong điều kiện trước mắt khi DN dược Việt Nam chưa thể đáp ứng được
tiêu chuẩn GMP, một trong những giải pháp để hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh
tranh mà Cagipharm đưa ra là các DN sản xuất gia công hoặc sản xuất nhượng
quyền cho nhau.
      Riêng nhà máy dược Cần Giờ chấp nhận hỗ trợ trong ngành là sản xuất gia
công hoặc sản xuất nhượng quyền không tính lãi. Nhà máy của Cagipharm có vốn
đầu tư 130 tỷ đồng, đặt tại huyện Củ Chi, TP.HCM. Đây là một trong những nhà
máy sản xuất dược phẩm hiện đại ở VN, đạt các tiêu chuẩn WHO về GMP (Good
Manufacturing Practice - sản xuất tốt), GLP (Good Laboratory Practicae - kiểm
nghiệm tốt) và GSP (Good Storage Practice - bảo quản tốt). Nhà máy này sản xuất
được nhiều chủng loại thuốc và biệt dược, thuốc đặc trị.


                                                                                  27
                                 Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       Mới đây tháng 3/2007 nhà máy sản xuất của Công ty Cổ phần Dược và Vật
tư Y tế Bình Dương (BIPHARCO) có quy mô tương tự cũng đã khởi công. Đây là
một trong những bước tiến bộ của ngành dược Việt Nam, đáp ứng phần nào nhu
cầu về các chủng loại thuốc đặc biệt mà hiện nay Việt Nam đang thiếu. Tuy nhiên,
hiện nay nhà máy đạt quy mô như thế này chưa nhiều.
      Ông Hoàng Mầng nói rằng, giải pháp của Cagipharm có thể sẽ cùng với các
doanh nghiệp dược phẩm trong nước nâng cao lợi thế cạnh tranh trong giai đoạn
hiện nay.
       Thế nhưng tiến sĩ Phạm Thị Việt Nga, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Dược
Hậu Giang, cho rằng tính liên kết hỗ trợ, sử dụng dịch vụ của nhau ở các DN Việt
Nam rất kém, và đó là điều đáng tiếc. “Trong khi người ta liên kết thành tập đoàn,
còn DN Việt Nam chưa làm được điều này thì phải liên kết hỗ trợ, sử dụng dịch vụ
của nhau để tăng thêm sức mạnh cạnh tranh cho DN Việt Nam, nếu không thì vẫn
chỉ là những tế bào đơn lẻ dễ tiêu diệt” - bà Nga nói trong một hội nghị về liên liên
kết DN.
      Con đường của các DN dược Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn trước mắt
nếu vẫn cứ chuyển mình chậm trễ như hiện nay.


     10. Phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: Chưa xứng
tầm như mong đợi
      Sáng 30-10, trong khuôn khổ Hội chợ Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam,
hơn 500 đại biểu trong và ngoài nước đã tham dự hội nghị thu hút đầu tư cho khu
vực này. Đây là dịp để các nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm hiểu, bàn bạc, chia
sẻ suy nghĩ với các bộ, ngành, lãnh đạo các địa phương về môi trường đầu tư,
những vấn đề cần giải quyết… nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư, phát triển kinh tế
vùng một cách hiệu quả.
      Thiếu bàn tay kết nối...
      Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm TPHCM, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng
Nai, Long An, Tiền Giang, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh) sau gần 10 năm
thành lập, đến tháng 9-2007 đã thu hút hơn 3.000 dự án đầu tư vào các khu công
nghiệp, trong đó có hơn 1.800 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 15 tỷ USD.
Tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực này đạt xấp xỉ 11%. Theo nhận định của
các chuyên gia, sự phát triển này chưa thực sự đạt tầm một đầu tàu phát triển kinh
tế quốc gia như mong đợi.
       Ông Don Lam, Tổng Giám đốc VinaCapital đã nêu ra những hạn chế chưa
được giải quyết từ nhiều năm qua. Đó là, cơ sở hạ tầng như cảng biển, sân bay,
năng lượng… chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế. Theo tính toán của Ngân
hàng Thế giới, VN cần có nhiều tỷ USD để giải quyết bài toán này. Chính phủ quyết
tâm đẩy mạnh việc cải cách hành chính, song tình trạng trì trệ trong hệ thống quản
lý tại các cơ quan chức năng vẫn phổ biến. Dự kiến đến năm 2010, VN sẽ có



28
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


khoảng 500.000 DN nhưng đến thời điểm này chính phủ vẫn chưa có chiến lược
đào tạo lao động bài bản.
       Chủ tịch HĐQT Công ty Indochina Land Rick Mayo Smith cũng lo lắng, để
giải quyết những tồn tại này thì ngoài quyết tâm của chính phủ cần phải có sự hợp
tác chặt chẽ giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước!
       Đại diện một DN của Mỹ đặt vấn đề, TPHCM đã rút ra bài học gì từ một số
nước trong khu vực trong việc đáp ứng tốc độ tăng trưởng gắn với bảo vệ môi
trường? Việc hợp tác để bảo vệ môi trường tại TPHCM đang được thực hiện như
thế nào? Trả lời vấn đề này, Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân thừa nhận sự
quá tải về giao thông đã và đang đe dọa đến chất lượng cuộc sống và tính mạng
của người dân. Mới đây, TPHCM cũng đã tổ chức một cuộc tọa đàm nhằm tìm ra
biện pháp khắc phục về an toàn giao thông. Dự kiến hết quý 1-2008, TPHCM sẽ
giải quyết căn cơ, kịp thời vấn đề này.
       Theo đó, TPHCM cũng đang phối hợp để xây dựng dự án bảo vệ nguồn
nước sông Đồng Nai và sông Sài Gòn để đảm bảo nguồn nước sạch cho 15 triệu
người dân trong vùng. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, TPHCM cũng đang chú
trọng đến việc sản xuất gắn với phát triển kinh tế xanh và sạch. TP cũng cam kết
làm hết sức mình vì cuộc sống cộng đồng. Tuy nhiên, TP không thể thực hiện được
mục tiêu đặt ra nếu không có sự cộng tác chặt chẽ của các DN trong việc bảo vệ
môi trường.
       Ngoài những tồn tại nêu trên, theo ông Nguyễn Hữu Thọ, Tổng Giám đốc
Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn, sự hợp tác giữa các tỉnh, thành trong vùng chưa
chặt chẽ cũng góp phần làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả vùng. “Còn
thiếu một bàn tay kết nối giữa quy hoạch phát triển, liên kết hạ tầng giao thông có
lợi nhất, phối hợp xử lý môi trường và đào tạo lao động…”, ông nói.
      Việt Nam - Đầu tư hấp dẫn?
       Có khá nhiều DN đến từ Mỹ, Singapore băn khoăn, gần đây một số tờ báo
của Mỹ đánh giá rất cao về môi trường đầu tư tại VN. Năm 2007 là thời điểm tốt
nhất cho các nhà đầu tư vào VN. Nhưng việc phát triển của các nhà đầu tư nước
ngoài tại VN có đúng như báo chí đã viết? Quan điểm của các nhà đầu tư về lĩnh
vực bất động sản trong 5 năm tới tại đây sẽ phát triển như thế nào?... Trả lời câu
hỏi này, ông Water Blocker, Tổng Giám đốc tập đoàn Gannon VN nói rằng, việc làm
ăn của Gannon, đặc biệt là nhà máy sản xuất các loại thực phẩm ở Biên Hòa đang
ở vào thời điểm phát triển tốt nhất từ trước đến nay. “Tôi khuyên các nhà đầu tư
hãy tìm hiểu kỹ để có thể đầu tư một cách nhanh nhất vào VN” – ông Blocker nói.
      Riêng trong lĩnh vực bất động sản, theo nhận định của ông Smith, do đang
trong giai đoạn phát triển “nóng” nên VN hiện không còn lợi thế là trung tâm cho
việc đầu tư giá thấp nữa. Giá thuê một căn hộ hiện đã ngang bằng với Bangkok và
Malaysia và đắt gấp 2-3 lần so với các thành phố khác trong khu vực.
      Nguyên nhân chính là mức cầu tại VN đang vượt cung. Điều này sẽ tạo lợi
thế cho các DN có ý định đầu tư vào lĩnh vực này, bởi lẽ thu nhập của người dân


                                                                                29
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

ngày càng tăng nên nhu cầu về nhà ở chất lượng cao cũng tăng mạnh. Trong 5
năm tới thị trường bất động sản của VN sẽ còn sôi động và phát triển.
       Làm gì để VN tiếp tục là địa điểm đầu tư hấp dẫn? Thứ trưởng Bộ Kế hoạch-
Đầu tư Nguyễn Đức Hòa cho rằng, kế hoạch 2006-2010, VN sẽ huy động khoảng
150 tỷ USD cho đầu tư phát triển. Chính phủ VN cam kết tiếp tục cải thiện môi
trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, thông qua các giải
pháp tạo sự minh bạch và thông thoáng; xóa bỏ rào cản thương mại, tiến tới công
khai lộ trình mở cửa thị trường.
       Ngoài ra, thực hiện các giải pháp mạnh nhằm cải cách thủ tục hành chính và
tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua việc củng cố hệ thống giáo
dục, đào tạo và dạy nghề, đến năm 2010 đưa tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt
40% tổng số lao động toàn xã hội…
                                                                                  Nguồn
                                                                        :www.mpi.gov.vn
                                                                          www.mot.gov.vn
                                                                         www.moi.gov.vn
                                                                       www.moet.edu.vn
                                                                         Tiasang.com.vn
                                                         Vụ tổng hợp Bộ kế hoạch Đầu tư
                                                                                   TXVN
                                                                        Tạp chí cộng sản




30
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



     Chuyªn môc 2: Nh÷ng vÊn ®Ò V¨n ho¸ - x· héi


    Y tÕ, ch¨m sãc søc kháe, Gi¸o dôc - §µo
t¹o, BÊt b×nh ®¼ng, Xãa ®ãi gi¶m nghÌo, m¹ng l-íi
¸n sinh x· héi, Lao ®éng – viÖc lµm.



     1. Một số vấn đề xã hội nổi bật trong tháng 10
       Ngành giáo dục đã chuẩn bị tốt cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ giáo viên
phục vụ năm học 2007-2008. Toàn ngành tiếp tục triển khai cuộc vận động "Hai
không" với bốn nội dung: Nói "không" với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo
dục, nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và hiện tượng học sinh ngồi nhầm
lớp, vận dụng phù hợp với mỗi ngành học.
       Số lao động được giải quyết việc làm trong tháng 10 đạt khoảng 0,16 triệu
lượt người, đưa tổng số lao động được giải quyết việc làm 10 tháng đầu năm 2007
lên 1,34 triệu lượt người, bằng 83,8% kế hoạch năm.
       Xuất khẩu lao động trong tháng10 ước đạt 7.000 người, nâng tổng số lao
động xuất khẩu 10 tháng lên 6,97 vạn người, bằng 86,2% so với kế hoạch năm,
trong đó trên 2,23 vạn lao động nữ.
      Các thị trường xuất khẩu lao động lớn là Malaysia 21.316 người, Đài Loan
16.554 người, Hàn Quốc 8.572 người, Nhật Bản 3.050 người.
        Văn hóa Thông tin - Phát thanh - Truyền hình: Trong tháng 10, các cơ
quan Phát thanh, Truyền hình đã thực hiện ổn định các chương trình phát sóng;
thông tin nhanh, kịp thời về diễn biến của cơn bão số 5, những thiệt hại và tình hình
khắc phục sau bão; phát động và đưa tin kịp thời về những ủng hộ về vật chất, tình
cảm của đồng bào cả nước chia sẻ với những khó khăn, mất mát của đồng bào các
tỉnh bị thiệt hại bởi thiên tai; đặc biệt, đã kịp thời đưa tin về sự chỉ đạo, điều hành
của Chính phủ trong công tác phòng chống bão, giảm thiệt hại do bão gây ra; biểu
dương những gương người tốt, việc tốt, tình hình cứu trợ tại các địa phương v.v...
Ngoài ra, các phương tiện thông tin tập trung tuyên truyền về các sự kiện kỷ niệm
ngày giải phóng Thủ đô 10-10; về Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XII;...
      Công tác phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân: Bộ Y tế
đã đẩy mạnh việc chỉ đạo và giám sát công tác phòng chống dịch bệnh, nhất là
vùng bị lụt bão, hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ bệnh dịch xảy ra. Do sự nỗ lực
của ngành y tế, nhiều bệnh như tả, thương hàn,... nhìn chung được khống chế tốt
nên không xảy ra dịch bệnh lớn. Riêng bệnh sốt xuất huyết, trong tháng 10 đã có
       15.769 người mắc bệnh ở 35 tỉnh, thành phố làm tử vong 11 người, nâng số
người mắc bệnh trong 10 tháng năm 2007 lên 77.733 người, làm chết 66 người,
tăng 56% về số người bị bệnh và tăng 50% về số người chết so với cùng kỳ năm 2006.


                                                                                    31
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       Về cứu trợ thiệt hại thiên tai: Trong tháng 10/2007, cơn bão số 5 và ảnh
hưởng của bão số 5 đã gây ra lũ lớn, làm thiệt hại nặng nề về người và vật chất tại
các tỉnh miền núi phía Bắc và các tỉnh miền Trung. Theo báo cáo của Văn phòng
Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương, bão lũ trong tháng 10 đã làm 114
người chết, 10 người bị mất tích và 204 người bị thương. Bão lũ còn gây thiệt hại
nghiêm trọng về nhà cửa, các công trình kết cấu hạ tầng như đường giao thông, hệ
thống cấp điện, nước; cơ sở y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, trụ sở làm việc, nhà
máy, xí nghiệp,...
       Chính phủ đã chỉ đạo kịp thời để khắc phục hậu quả bão lũ gây ra; yêu cầu
các địa phương tập trung ổn định nơi ăn, chốn ở cho người dân bị sập nhà, tốc mái;
không để dân đói; Chính phủ cũng đã trích dự phòng ngân sách trung ương năm
2007 trên 900 tỷ đồng để hỗ trợ các địa phương đầu tư xây dựng các công trình sạt
lở đê kè, phòng chống lụt bão cấp bách; thực hiện di dân khẩn cấp ra khỏi vùng lũ
quét và sạt lở đất; hỗ trợ dân sinh, mua giống khôi phục sản xuất, khôi phục cơ sở
hạ tầng thiết yếu tại các vùng bị thiệt hại do bão lũ; cấp 7.550 tấn gạo từ dự trữ nhà
nước để hỗ trợ cứu đói cho nhân dân vùng bị thiệt hại. Tính chung 10 tháng năm
2007, ngân sách Trung ương đã chi cho công tác phòng chống sạt lở , bảo vệ đê
điều khắc phục hậu quả bão lũ, lụt khoảng 1.280 tỷ đồng.
        Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các Bộ, ngành, địa phương đã kịp thời phát động
nhân dân cả nước, với tinh thần “lá lành đùm lá rách” đóng góp, ủng hộ đồng bào
vùng bị thiệt hại do cơn bão số 5. Các địa phương, đoàn thể quần chúng đã ủng hộ
đồng bào bị thiệt hại hàng tỷ đồng; cử cán bộ y tế, thanh niên tình nguyện đến các
tỉnh bị thại hại nặng giúp đỡ đồng bào, cứu chữa người bị nạn, sửa chữa nhà ở và
xử lý môi trường phòng chống dịch bệnh sau bão.


     2. Tăng lương - tăng đầu tư nguồn nhân lực
     Trong báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 và nhiệm vụ 2008 trình
Quốc hội, Chính phủ đã kiến nghị điều chỉnh mức lương tối thiểu chung từ 450.000
đồng/tháng lên 540.000 đồng/tháng. Theo Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, tăng
lương chính là một trong các biện pháp tăng đầu tư cho nguồn nhân lực, đáp ứng
nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.


     Thưa Phó thủ tướng, việc tăng lương lần này nằm trong lộ trình cải cách chính
sách tiền lương. Lộ trình đó sẽ tiếp tục thực hiện ra sao?
      Hàng năm, Chính phủ sẽ điều chỉnh mức lương tối thiểu theo hướng: mức
lương tối thiểu của khu vực DN trong nước tăng cao hơn mức lương tối thiểu của
khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài để làm sao đến năm 2012, lương tối thiểu cả
2 khu vực này bằng nhau. Do sức cạnh tranh của khu vực DN trong nước còn yếu,
năng suất lao động thấp hơn, giá thành sản phẩm cao hơn so với DN có vốn đầu tư
nước ngoài, nên phải thực hiện lộ trình tăng dần dần. Trong thời gian thực hiện lộ
trình cải cách chính sách tiền lương, DN trong nước bắt buộc phải nâng cao sức


32
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


cạnh tranh, nâng cao trình độ quản trị DN, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao
năng suất mới có thể tồn tại, mới có nguồn để tăng lương cho người lao động.
     Có nghĩa là, DN trong nước hoạt động hiệu quả có thể trả lương cao hơn so
với mức kể trên, thưa Phó thủ tướng?
     Chính phủ không khống chế mức trả lương tối đa, thậm chí còn khuyến khích
DN trả lương cao cho người lao động. Tôi cho rằng, muốn thu hút lao động có trình
độ, có tay nghề, có kinh nghiệm, thì mức lương trả phải thỏa đáng.
      Nhiều ý kiến cho rằng, để bảo đảm mức lương “đủ sống”, lương tối thiểu ít nhất
phải là 650.000 đồng/tháng, chứ không thể như mức mà Chính phủ trình Quốc hội?
      Cũng có không ít ý kiến đề xuất nâng mức lương tối thiểu lên hơn 1 triệu
đồng/tháng, nhưng Chính phủ vẫn bảo lưu phương án 540.000 đồng/tháng để trình
Quốc hội thông qua Nghị quyết. Tôi nhấn mạnh rằng, mức lương tối thiểu này đã
được tính toán, cân nhắc đến mọi yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất - kinh
doanh, đến đời sống người dân, đến sức cạnh tranh của nền kinh tế, đến nguồn chi
trả và đến tốc độ tăng giá cả thị trường.
      Tăng lương, ngân sách phải tăng chi thường xuyên. Trong khi điều kiện ngân
sách còn hạn hẹp, việc tăng chi thường xuyên sẽ làm giảm tăng chi cho đầu tư phát
triển, thưa Phó thủ tướng? Tăng lương chính là việc đầu tư cho con người. Đầu tư
cho con người chính là một trong những hình thức đầu tư phát triển mang lại hiệu
quả cao nhất, vì đây là việc đầu tư để nâng cao nguồn nhân lực.
     Nhưng trong bối cảnh giá thị trường tăng cao như hiện nay, việc tăng lương sẽ
tác động không nhỏ tới mọi hoạt động của xã hội...?
      Cuộc sống diễn biến không ngừng, hoạch định chính sách phải vừa làm, vừa
tính. Giá cả tăng phải tìm mọi biện pháp để kiềm chế, chứù không thể không tăng
lương, bởi dù có tăng lương theo đúng lộ trình, thì mức lương tối thiểu của Việt
Nam vẫn thuộc loại thấp nhất trong khu vực.
     Để việc điều chỉnh lương tối thiểu không trở thành nguyên nhân tăng lạm phát,
Chính phủ đề nghị các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, DN thuộc mọi thành
phần kinh tế tiếp tục thực hiện các biện pháp tạo nguồn tăng lương như đã thực
hiện ở các năm trước đây; đồng thời yêu cầu các ngành, các cấp, các đơn vị thực
hiện triệt để Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất - kinh doanh,
trong chi tiêu ngân sách và sử dụng tài sản công.
     Nhưng liệu có thể tiết kiệm được mãi, thưa Phó thủ tướng?
      Khả năng tiết kiệm, theo tôi, là vô tận. Đơn giản, DN chỉ cần đầu tư một thiết
bị, dây chuyền máy móc hiện đại, phù hợp, thì chỉ cần 2 nhân công thay vì 10 nhân
công. Trước đây, để sản xuất ra một sản phẩm phải mất tới 10 đồng chi phí cho
nguyên, nhiên vật liệu, nếu sử dụng vật liệu mới, nguyên nhiên liệu có thể thay thế,
thì giá thành để sản xuất ra một sản phẩm có chất lượng cao hơn chỉ mất 3 đồng…
Ngoài ra, các cơ quan, đơn vị, DN còn nhiều cách tiết kiệm khác (tiết kiệm chi phí
hành chính, đổi mới công nghệ quản lý, áp dụng khoa học - kỹ thuật để giảm khâu
trung gian…). Số tiền tiết kiệm này không chỉ bảo đảm thực hiện cải cách tiền
lương, mà còn có thể tích lũy để tiếp tục đầu tư, mở rộng sản xuất - kinh doanh.

                                                                                 33
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

Tăng lương cũng là một trong các giải pháp đòi hỏi DN phải hoạt động hiệu quả
hơn để có nguồn trả lương, bởi nếu trả lương thấp, thì không thể thu hút lao động
lành nghề, lao động có trình độ.
      Phó thủ tướng có lo ngại giá cả thị trường sẽ tăng theo chính sách cải cách
tiền lương? Nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp tạo nguồn để cải cách tiền lương
như trên, thì không lo giá cả thị trường sẽ tăng theo lương.


    3. Kinh nghiệm phòng chống tham nhũng ở các nước châu Á
thời gian qua và bài học cho Việt Nam
      Trong những năm vừa qua, cùng với xu thế hội nhập quốc tế và quá trình toàn
cầu hoá về kinh tế đang diễn ra ngày càng sôi động, tham nhũng đã trở thành vấn
đề nhức nhối của nhiều quốc gia trên thế giới. Đồng thời, những biện pháp đấu
tranh để phòng chống tham nhũng cũng được nghiên cứu và áp dụng tuỳ theo điều
kiện, tình hình cụ thể của mỗi nước. ở Việt Nam, trong quá trình chuyển đổi nền
kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tựu rất quan trọng đã đạt được, thì tình trạng
tham nhũng cũng diễn ra hết sức phức tạp và kéo dài trong bộ máy của hệ thống
chính trị từ trung ương đến địa phương và trong nhiều tổ chức kinh tế. Tham nhũng
đang trở thành một trong những nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế độ. Bởi vậy,
đấu tranh chống tham nhũng là một yêu cầu cấp bách có ý nghĩa quan trọng hàng
đầu trong giai đoạn hiện nay.
         Cuộc đấu tranh chống tham nhũng ngày nay có quy mô rộng lớn và mang
tính toàn cầu. Mỗi quốc gia đều có biện pháp và phương thức phòng chống tham
nhũng phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội của mình. Tuy nhiên, các nước và các
tổ chức quốc tế cũng đang hợp tác chặt chẽ và chia sẻ với nhau những kinh
nghiệm và giải pháp phòng, chống tham nhũng hữu hiệu. Liên hiệp quốc đã thông
qua Công ước về chống tham nhũng nhằm đẩy mạnh và tăng cường khả năng
phòng chống tham nhũng của các quốc gia thành viên. Việt Nam đã ký tham gia
Công ước này từ 19/12/2003. Do đó, việc tìm hiểu, tham khảo, nghiên cứu kinh
nghiệm phòng chống tham nhũng của các nước trên thế giới nhằm rút ra những bài
học có giá trị để có thể vận dụng vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn rất sâu sắc.
Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm một số nước sau đây:
     Kinh nghiệm của Xingapo
      Xingapo là thành viên của ASEAN không chỉ được ca ngợi là quốc gia có nền
kinh tế phát triển mà còn được đánh giá có một Chính phủ trong sạch. Xingapo có 4
kinh nghiệm chống tham nhũng có hiệu quả.
     - Làm cho quan chức không dám tham nhũng
     Ở Xingapo, khi một người được tuyển vào làm công chức, quan chức chính
phủ thì hàng tháng phải trích một phần tiền lương để gửi tiết kiệm. Thoạt đầu trích
5%, sau tăng dần. Người có chức vụ cao, thì phần trăm trích gửi tiết kiệm càng lớn,


34
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


có thể lên tới vài chục phần trăm lương tháng. Số tiền này do Nhà nước quản lý.
Bất kỳ công chức nào, quan chức nào phạm tội tham nhũng dù nhẹ ở mức xử phạt
ra khỏi ngạch công chức thì toàn bộ số tiền gửi tiết kiệm bị trưng thu.
     - Làm cho quan chức không thể tham nhũng
      Chính phủ Xingapo quy định và thực hiện mỗi năm công chức, viên chức,
quan chức phải khai báo một lần với Nhà nước về tài sản của bản thân hoặc của
vợ (chồng) bao gồm tiền thu nhập, tiền gửi tiết kiệm, tiền cổ phiếu, đồ trang sức, ô
tô, nhà cửa… Những tài sản tăng lên phải khai rõ nguồn gốc, cái gì không rõ nguồn
gốc có thể coi là tham ô, tham nhũng. Nhà nước còn quy định: Quan chức chính
phủ không được phép nợ nần; không được vay một khoản tiền lớn vượt quá tổng
ba tháng lương.
     - Làm cho quan chức không cần tham nhũng
     Xingapo có chế độ trả lương chênh lệch khá cao giữa quan chức cấp cao với
cấp thấp, với công chức và giữa công chức với nhân viên, công nhân. Với mức
lương cao, quan chức đủ sống và chu cấp cho gia đình mà không cần tham nhũng.
Hơn nữa cách trả lương như vậy công chức và quan chức chính phủ luôn có sự so
sánh: Mình được trả lương cao hơn người lao động bình thường rất nhiều. Nếu
mình tham ô, tham nhũng nữa thì là kẻ vô đạo lý, mất hết liêm sỉ.
     Bên cạnh đó, Xingapo còn điều chỉnh lương của khu vực nhà nước ngang
bằng khu vực tư nhân. Từ năm 1995, do kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ cao
từ 7-10%/năm, trong khi đó tiền lương trong khu vực nhà nước luôn chậm lại sau
khu vực tư nhân từ hai đến ba năm, Chính phủ Xingapo đã chọn phương án tự
động hoá việc xét duyệt lương các bộ trưởng, quan toà, và các công chức hàng
đầu theo bản báo cáo thuế thu nhập của khu vực tư nhân. Theo đó, lương của các
bộ trưởng và các viên chức cao cấp được gắn với mức lương ở vị trí tương ứng
trong khu vực tư nhân. Điều này sẽ tự động làm cho thu nhập của họ tăng khi thu
nhập trong khu vực tư nhân tăng.
     - Làm cho quan chức không muốn tham nhũng
     Ở Xingapo muốn tham nhũng một thứ gì đó, dù nhỏ cũng rất phiền hà. Ví dụ,
khi khách nước ngoài đến, nếu họ muốn tặng các quan chức nước chủ nhà một
món quà để cảm ơn về sự đón tiếp và thắt chặt mối quan hệ thì món quà đó phải
mang ý nghĩa văn hóa với giá trị tiền không nhiều. Nếu nhận quà phải báo cáo với
lãnh đạo cơ quan xem xét.
    Phương châm và mục tiêu của việc phòng, chống tham nhũng theo hướng:
Làm cho quan chức không dám, không thể, không muốn và không cần tham nhũng
mà Xingapo đã làm rất có hiệu quả.
     Kinh nghiệm của Hàn Quốc
    Từ những năm 1990 của thế kỷ 20, tham nhũng ở Hàn Quốc đã là một trong
những trở ngại chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, người dân Hàn
Quốc mong muốn Chính phủ có những giải pháp chống tham nhũng hiệu quả và
cương quyết hơn bao giờ hết. Đáp ứng trước lời kêu gọi mạnh mẽ của nhân dân về


                                                                                 35
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

một xã hội trong sạch và minh bạch, tháng 8/1999, Chính phủ Hàn Quốc bắt tay xây
dựng các chính sách và chương trình toàn diện về chống tham nhũng.
     - Xây dựng cơ chế đăng ký và công khai tài sản của viên chức chính phủ và
việc ban hành đạo luật về hoàn trả tài sản thu lợi bất chính đã được xác lập và thực
hiện năm 1993 nhằm ngăn chặn công chức có được tài sản thông qua các hình
thức bất hợp pháp. Năm 1994, hệ thống tài chính ghi tên thật đã được xác lập, do
đó việc ghi bút danh tên tài khoản ngân hàng trở thành bất hợp pháp. Biện pháp
này đã giúp đưa ra ánh sáng những nguồn quỹ tài chính sai quy tắc, tiền hối lộ và
các nguồn quỹ đen khác có liên quan.
     - Xây dựng các luật như Luật về thủ tục hành chính, Luật về tiết lộ thông tin
của cơ quan nhà nước và Luật về quy chế hành chính. Các luật này đều có quy
định về đảm bảo được tiếp cận thông tin. Những đạo luật trên được xây dựng
nhằm ngăn chặn tham nhũng bằng phương thức thể chế hoá chế độ hành chính
công khai và minh bạch thông qua các thủ tục hợp lý và huỷ bỏ những quy định
hành chính không cần thiết.
      - Xây dựng một cơ chế “mở”, tức là tăng cường việc kiểm tra và tham gia giám
sát của các đoàn thể xã hội và nhân dân vào hoạt động của chính quyền địa
phương. Cơ chế tăng cường thủ tục xem xét đơn từ kết nối “trực tuyến” qua máy
tính cũng đã được thiết lập với tư cách là một sáng kiến chống tham nhũng quan
trọng trong các cơ quan hành chính, dịch vụ công và chính quyền địa phương. Như
vậy nhờ cơ chế “mở”, toàn bộ thủ tục quản lý các vụ việc dân sự, từ khi tiếp nhận
đến khi xử lý cuối cùng, được công khai trên Internet.
         - Các Điều ước liêm chính cũng được sử dụng giống như một công cụ
phòng chống tham nhũng trong mua sắm tài sản công. Điều ước liêm chính của
thành phố Seoul là thoả ước giữa cơ quan hành chính và các công ty nộp hồ sơ dự
thầu (nếu có hối lộ thì sẽ không được giao hoặc chấp nhận dự thầu đối với các hợp
đồng phục vụ mục đích công). Nếu vi phạm bất kỳ quy định nào của Điều ước thì
sẽ bị cấm dự thầu trong các hợp đồng phục vụ công trình công cộng đến 2 năm.
Vấn đề này đã được Tổ chức minh bạch quốc tế khuyến khích, ngoài ra Hàn Quốc
cũng tích cực tham gia Hiệp định phòng chống hối lộ OECD và ban hành các luật
có liên quan như Đạo luật phòng chống rửa tiền và áp dụng hệ thống công tố đặc
biệt với mục đích chống tham nhũng.
     - Năm 2000, Chính phủ Hàn Quốc được sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới đã
thực hiện một loạt các biện pháp toàn diện lần thứ hai với mục đích xử lý các lĩnh
vực nhạy cảm dễ phát sinh tham nhũng mà trước đây chưa từng giải quyết, bao
gồm: Hệ thống các trường phổ thông, thủ tục mua sắm tài sản, chi tiêu của Chính
phủ và tiếp cận thông tin. Do đó, nhận thức về mức độ tham nhũng gần đây đã
được cải thiện, một phần do vấn đề này được quan tâm nhiều hơn và hàng loạt các
sáng kiến cải cách đã được chính quyền trung ương và địa phương thực hiện.
     - Quản lý bằng kỹ thuật số. Khuyến khích đẩy mạnh thương mại điện tử, mở
rộng đấu thầu bằng điện tử, khuyến khích sử dụng thẻ tín dụng trong quá trình mua
sắm... Mở rộng phạm vi tiếp cận thông tin thông qua mạng Internet, thúc đẩy chế độ

36
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


quản lý trường học công khai và minh bạch và đặt ra các tiêu chí, mục tiêu cho trợ
cấp Chính phủ. Minh bạch trong thủ tục và các chuẩn mực xác định trước con số tối
đa và số lượng các dự án tự thực hiện; thực hiện dịch vụ một cửa trong cấp phát
quỹ Chính phủ cho các ngành kinh tế vừa và trung bình.
     - Chính phủ Hàn Quốc còn nỗ lực xây dựng một hệ thống các cơ quan chống
tham nhũng với những chức năng chi tiết, cụ thể nhằm thực hiện tất cả các biện
pháp phòng chống tham nhũng. Để tăng cường năng lực của Chính phủ, các cơ
quan chống tham nhũng trên toàn quốc và các vụ điều tra chống tham nhũng được
hình thành tại Viện Công tố nhà nước. Nhiều nhà chuyên môn mới đã được đưa
vào các vụ điều tra nói trên để thiết lập một lực lượng mạnh, có khả năng điều tra
tham nhũng có tính chất thường xuyên trong các lĩnh vực, các ngành dễ xảy ra
tham nhũng. Một số công tố viên đã mạnh tay chống tệ tham nhũng của các công
chức cao cấp, công chức ở cấp trung gian cũng như cấp dưới. Viện Công tố quốc
gia cũng điều tra nguồn gốc tài sản của công chức bị cáo buộc tham nhũng nhằm
mục đích sung công và tịch thu các tài sản thu lợi bất chính.
     - Thành lập ủy ban Tổng thống về chống tham nhũng (PCAC), cơ quan này
giữ vai trò là nhóm tư vấn Tổng thống. Từ ngày 25/2/2002, theo Đạo luật chống
tham nhũng được ban hành tháng 7/2004, PCAC đã chuyển thành Uỷ ban chống
tham nhũng độc lập Hàn Quốc hay KICAC. KICAC có chức năng chính là xây dựng
các chính sách chống tham nhũng và các biện pháp tăng cường thể chế cho khu
vực công, khảo sát và đánh giá chính sách tham nhũng và tiến độ thực thi, tuyên
truyền và vận động chống tham nhũng, ủng hộ các nỗ lực ngăn ngừa tham nhũng
của các tổ chức chống tham nhũng. Đồng thời, cơ quan này còn có nhiệm vụ phúc
đáp các đơn từ khiếu tố về tham nhũng, bảo vệ người khiếu tố và thực hiện các
hoạt động khác liên quan đến công tác chống tham nhũng.
     - Áp dụng các quy tắc đạo đức kinh doanh cho các Hiệp hội doanh nghiệp và
khuyến khích các thành viên tuân thủ các bộ quy tắc đó. Liên đoàn các ngành công
nghiệp Hàn Quốc đã thông báo ban hành Hiến chương đạo đức kinh doanh năm
1999 và thành lập Uỷ ban về đạo đức kinh doanh để cải thiện nhận thức và thông
qua các quy tắc đạo đức đó trong các tập đoàn, các hãng thành viên.
     - Người lãnh đạo cần phải làm gương trong việc phòng chống tham nhũng.
Điều này đặc biệt đúng tại Hàn Quốc, nơi có sự tập trung quyền lực chủ yếu ở cấp
cao nhất. Trong bối cảnh đó, vai trò chỉ đạo hoạt động chống tham nhũng trở nên
quan trọng hơn bao giờ hết. Nếu không có nhân tố lãnh đạo làm gương thì việc
thực hiện các biện pháp chống tham nhũng theo thẩm quyền tương ứng là rất khó
khăn. Bởi vậy, tệ nạn tham nhũng không thể giải quyết trong một sớm một chiều,
chỉ có một số lĩnh vực mà nạn tham nhũng có thể được đẩy lùi một cách nhanh
chóng là hợp lý hoá thủ tục mua sắm công, quản lý thuế và quản lý hải quan.
     Tóm lại, chiến lược chống tham nhũng của Hàn Quốc có thể được mô tả
thông qua 4 thành tố, đó là: Xây dựng nền tảng cần thiết về chống tham nhũng;
thực hiện cải cách hành chính và thể chế; nâng cao nhận thức của dân chúng về
tham nhũng và tăng cường biện pháp phát hiện và trừng phạt.


                                                                               37
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Bài học rút ra cho Việt Nam
      Kinh nghiệm và các bài học ở các nước trên thế giới và khu vực châu á thành
công trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả trong thời gian qua cho
thấy bí quyết chung là: Có quyết tâm chính trị cao của Chính phủ và người đứng
đầu chính phủ. Thực hiện nguyên tắc “nước sạch đầu nguồn” - tức người đứng đầu
ở các cấp phải thật sự trong sạch, gương mẫu đi đầu trong đấu tranh chống tham
nhũng. Chú trọng cả “bàn tay sạch” và “bàn tay sắt”, cả đức trị (coi trọng giáo dục
đạo đức, nhân cách) và pháp trị (có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và xử lý nghiêm
khắc người vi phạm tham nhũng); quyết tâm thực hiện phương châm bốn không
(không thể tham nhũng, không cần tham nhũng, không muốn tham nhũng, không
dám tham nhũng) và một khó (khó tham nhũng). Có một chiến lược quốc gia về
phòng, chống tham nhũng với ba trụ cột chính: Một là, có quyết tâm chính trị cao
của chính phủ (nhất là người đứng đầu). Hai là, có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh,
kể cả pháp luật về phòng, chống tham nhũng; xử lý kiên quyết, nghiêm minh các
hành vi tham nhũng; có cơ quan đấu tranh chống tham nhũng chuyên trách, độc lập
và đội ngũ cán bộ chống tham nhũng trong sạch, liêm khiết, có bản lĩnh, tính
chuyên nghiệp cao, vững về pháp luật, tinh thông nghiệp vụ, được đầu tư nguồn
lực, phương tiện điều kiện làm việc đầy đủ, hiện đại. Ba là, chú trọng giáo dục đạo
đức công dân, hình thành văn hoá chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và
trong công chúng, khiến công chúng luôn khinh ghét, lên án tệ tham nhũng và tự
giác tham gia tích cực vào đấu tranh phòng, chống tham nhũng; có cơ chế bảo vệ
và tạo điều kiện thuận lợi cho công chúng nhận diện nhanh chóng, kịp thời phát
hiện và tố cáo tham nhũng.
     Tham nhũng là hành vi lạm dụng quyền lực nhà nước của những người có
chức vụ, quyền hạn để tư lợi. Vì vậy, muốn chống tham nhũng có hiệu quả phải có
cơ chế giám sát, kiểm soát chặt chẽ việc lạm dụng quyền lực để tham nhũng và
phải sử dụng quyền lực nhà nước để hạn chế tối đa việc lạm dụng quyền lực nhà
nước của những kẻ tham nhũng.


     4. Lao động “nội” và nguy cơ thua trên “sân nhà”
      Từ nay đến năm 2010 sẽ tăng quy mô dạy nghề bao gồm dạy nghề chính quy
và dạy nghề thường xuyên khoảng 20%/năm, trong đó dạy nghề trình độ trung cấp
và trình độ cao đẳng tăng khoảng 22%/năm, để đến năm 2010 đạt tỷ lệ lao động
qua đào tạo nghề là 32%.
      Đây là một trong những mục tiêu được đưa ra trong đề án “Đổi mới và phát
triển dạy nghề đến năm 2020” được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đưa ra
lấy ý kiến đóng góp.
     Dạy nghề có chuyển biến, nhưng chậm
      Theo Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề Nghiêm Trọng Quý, dạy nghề
từ năm 2001 đến nay dần phục hồi. 6 năm qua đã thêm 106 trường dạy nghề ra
đời, số trung tâm dạy nghề cũng tăng lên, tổng số cả nước hiện có gần 600 trung


38
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


tâm cùng cả ngàn cơ sở dạy nghề. Các tỉnh hiện không còn tình trạng trắng trường
dạy nghề. Đã có 6,6 triệu người được đào tạo nghề, trong đó chiếm số lớn là dạy
nghề ngắn hạn. Số người qua dạy nghề dài hạn là 1,14 triệu.
     Xã hội hoá dạy nghề cũng bắt đầu được phát huy, có khoảng 1/3 số cơ sở dạy
nghề là ngoài công lập. Nhưng tỉ lệ lao động đã qua đào tạo nghề ở nước ta hiện
đang ở mức thấp, trong khi đó các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao
như: tin học, tự động hoá, cơ điện tử, chế biến xuất khẩu… đều đòi hỏi lao động
qua đào tạo nghề là trên 70%, trong đó trên 35% cần có trình độ trung cấp trở lên.
Đạt được mức này thì các doanh nghiệp mới đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
     Cho dù mạng lưới cơ sở dạy nghề đang phát triển, nhưng số lượng trường
dạy nghề và trung tâm dạy nghề vẫn còn ít (hiện còn phân nửa số quận, huyện, thị
xã chưa có trung tâm dạy nghề), đó là chưa kể quy mô đào tạo nhỏ. Các điều kiện
bảo đảm chất lượng dạy nghề còn nhiều bất cập: giáo trình chậm cập nhật, sửa đổi
cho phù hợp thị trường; tỉ lệ giáo viên/học sinh quá ít... đặc biệt là yếu kỹ năng thực
hành nghề, ngoại ngữ, tin học ứng dụng...
      Các cơ sở cũng chưa bổ sung được các nghề đào tạo mới theo “cầu” từ thị
trường và vẫn thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao cung cấp cho các
ngành kinh tế mũi nhọn, ngành kinh tế trọng điểm và cho xuất khẩu lao động. Theo
dự báo của ngành lao động, từ nay tới 2020, nếu không có được nguồn nhân lực
chất lượng cao, phù hợp thì lao động các nước sẽ đến làm việc ở Việt Nam trong
khi lao động Việt Nam không tìm được việc làm.
     Cần chuyển mạnh từ “hướng cung” sang “hướng cầu”
     Theo ông Quý, với quan điểm chuyển mạnh dạy nghề từ “hướng cung” sang
“hướng cầu” của thị trường lao động, gắn dạy nghề với chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, từng vùng, từng ngành, từng địa
phương và gắn với tạo việc làm của người lao động, đây được coi là bước thay đổi
nhận thức cơ bản về đào tạo nghề mà đề án đề cập đến.
      Bên cạnh đó, đề án cũng nhấn mạnh tới đổi mới dạy nghề theo hướng chuẩn
hoá, hiện đại hoá một cách toàn diện, đồng bộ từng mục tiêu, nội dung chương
trình, phương pháp đào tạo, phương pháp đánh giá kết quả học tập, đội ngũ giáo
viên, cán bộ quản lý dạy nghề, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề; đồng thời có
sự lựa chọn lĩnh vực ưu tiên, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm tiên tiến của các
nước, tạo bước đột phá trong dạy nghề.
    Cùng đó, phát triển dạy nghề theo hướng đa dạng hoá cơ sở dạy nghề, ngành
nghề đào tạo, trình độ đào tạo, phương thức và hình thức đào tạo; đảm bảo cơ cấu
ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo phù hợp với cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập.
      Đề án sẽ hướng tới mục tiêu đến năm 2020 đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo
nghề là 55%. Có 300 trường cao đẳng nghề, 350 trường trung cấp nghề, 1.000
trung tâm dạy nghề. Tập trung nguồn lực nâng cao chất lượng dạy nghề đạt trình
độ tiên tiến của khu vực và một số nghề đạt trình độ tiên tiến của thế giới. 100%
nghề có nhu cầu đào tạo được xây dựng tiêu chuẩn đào tạo; giao toàn quyền tự

                                                                                    39
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

chủ cho các trường trong việc phát triển chương trình dạy nghề và áp dụng chương
trình dạy nghề của nước ngoài.
      Bên cạnh đó đảm bảo tỷ lệ giáo viên/học sinh là 1/15; 20% giáo viên trong các
trường trung cấp nghề, 35% giáo viên trong các trường cao đẳng nghề có trình độ
sau đại học; 100% số cán bộ quản lý dạy nghề các cấp được đào tạo nghiệp vụ
quản lý về dạy nghề; tăng cường đào tạo giáo viên dạy nghề ở nước ngoài, nhất là
trình độ tiến sỹ. 100% cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề được
kiểm định chất lượng dạy nghề. 100% nghề được tổ chức đánh giá, cấp chứng chỉ
kỹ năng nghề quốc gia cho người lao động có nhu cầu.
      Được biết, để thực hiện các mục tiêu mà dự thảo Đề án đổi mới và triển khai
dạy nghề đến năm 2020, Tổng cục Dạy nghề đã xây dựng 7 dự án chi tiết với kinh
phí trên 7.600 tỷ đồng.



     5. Nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết căn bản
   Giá tiêu dùng tăng cao; cơ sở hạ tầng giao thông bất cập; tình trạng "thừa
thày thiếu thợ"; công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, y tế dự phòng... là
những vấn đề xã hội bức xúc được các ĐBQH đề cập tới trong ngày thảo luận
ngày 23/10.
      Trong ngày thảo luận ở tổ hôm nay về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội (KT-XH) năm 2007 và kế hoạch phát triển KT-XH năm 2008,
các đoàn đại biểu QH ghi nhận những nỗ lực, cố gắng của Chính phủ. Những tiến
bộ đạt được về KT-XH đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc
phòng, an ninh và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
       Tuy nhiên, các đại biểu cho rằng tình hình KT-XH còn bộc lộ những bất cập,
cần được phân tích, đánh giá làm rõ nguyên nhân và đưa ra những giải pháp khắc
phục trong năm 2008.
      Cơ sở hạ tầng giao thông còn nhiều bất cập
       Các đại biểu QH băn khoăn trước thực trạng, mặc dù đã có rất nhiều biện
pháp quyết liệt, nhưng tai nạn giao thông vẫn chưa giảm, nhiều vụ tai nạn thảm
khốc, gây thiệt hại về người và tài sản.
       Chỉ tính riêng 8 tháng đầu năm 2007 trên địa bàn cả nước đã xảy ra 9.941
vụ, làm chết 8.948 người. Tình trạng ùn tắc giao thông tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí
Minh gây thiệt hại lớn về kinh tế và bức xúc trong nhân dân. Điều đó cho thấy công
tác quy hoạch, quản lý đầu tư phát triển và quản lý đô thị còn yếu kém.
       Các đại biểu cơ bản nhất trí với những giải pháp mà Chính phủ đề ra nhằm
kiềm chế tai nạn giao thông như: Kiên quyết lập lại trật tự giao thông, xử lý nghiêm
những trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ, hành lang an toàn giao
thông, tổ chức phân luồng giao thông hợp lý, khoa học để hạn chế tình trạng ùn tắc
giao thông đang diễn ra tại các thành phố lớn như hiện nay; có biện pháp phân
luồng, sử dụng tuyến đường Hồ Chí Minh hiệu quả để có thể giảm mật độ xe trên
quốc lộ 1A.



40
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Theo đại biểu Nguyễn Đăng Trừng, thời cơ thuận lợi để đất nước phát triển,
hội nhập sâu vào khu vực và thế giới đã có, nhưng khó khăn lớn nhất hiện nay là
cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập, chưa có tầm nhìn chiến lược, ảnh hưởng đến sự
phát triển đất nước.
        Ông cho rằng: Chúng ta sẽ phải sống chung với nạn tắc đường rất nhiều
năm nữa nếu Chính phủ không có chiến lược "dài hơi" mà chỉ dừng lại ở những giải
pháp tình thế như phân luồng, phân tuyến, kêu gọi nhân dân chấp hành pháp luật
về trật tự an toàn giao thông.
       Bộ Giao thông Vận tải phải trình Chính phủ giải pháp cụ thể để giải quyết tình
trạng này; tập trung đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông ở các thành phố lớn
cho phù hợp.
      Chưa giải quyết được tình trạng "thừa thày thiếu thợ"
       Đề cập chất lượng giáo dục, đào tạo, đại biểu Nguyễn Thị Nguyệt Hường
cho rằng, việc thành lập nhiều trường đại học ở các địa phương chưa đủ điều kiện
về giáo viên, cơ sở giảng dạy sẽ khó có thể đảm bảo chất lượng đào tạo.
      Việc đào tạo nghề để giải quyết việc làm còn nhiều bất cập, chưa giải quyết
được nghịch lý "thừa thày thiếu thợ". Hiện nay, các khu công nghiệp thiếu công
nhân có tay nghề trầm trọng.
      Nhiều đại biểu đồng tình về công tác đào tạo nhân lực chưa đáp ứng kịp nhu
cầu của xã hội cả về số lượng và chất lượng; chưa tạo được sự chuyển biến mạnh
mẽ trong đào tạo nghề cho người lao động, nhất là trong thanh niên.
       Kỷ cương trong ngành giáo dục bước đầu được tái lập, nhưng kết quả kỳ thi
tốt nghiệp PTTH năm học 2006-2007 cho thấy chất lượng giáo dục vẫn còn thấp so
với yêu cầu. Kiến nghị chung của nhiều đại biểu QH là cần đổi mới cơ chế, chính
sách tài chính để phát triển nhanh sự nghiệp giáo dục - đào tạo; hỗ trợ toàn bộ chi
phí giáo dục theo chế độ quy định cho các đối tượng chính sách, người nghèo và
hỗ trợ một phần cho người “cận nghèo“.
      Chất lượng và quy mô đào tạo nghề từ trình độ sơ cấp tới đại học cần được
nâng cao với phương châm đào tạo theo nhu cầu của xã hội; triển khai nhanh trong
cả nước việc cho vay với lãi suất thích hợp để học nghề ở mọi trình độ; tiếp tục
cuộc vận động chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục...
      Không để tăng lương kéo theo tăng giá
       Đa số các đại biểu QH cho rằng không nên tiếp tục đặt chỉ tiêu tốc độ tăng
chỉ số giá tiêu dùng CPI thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP chung chung như
hiện nay.
      Đại biểu Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Phạm Thị Loan đề nghị Chính phủ cần
đưa ra con số CPI thật cụ thể và rõ ràng. Đại biểu Phạm Thị Loan lý giải, khi chỉ số
CPI tương đương với chỉ số GDP thì có nghĩa là nền kinh tế không tăng trưởng.
Đất nước ta xuất phát điểm thấp, mỗi chỉ số đưa ra cần được cân nhắc kỹ càng.
      Đại biểu Nguyễn Đình Xuân khẳng định một trong những nguyên nhân làm
nền kinh tế nước ta phát triển chưa bền vững là do chỉ số lạm phát quá cao. Mục
tiêu CPI năm 2008 thấp hơn GDP (9%) là không phù hợp bởi sau này, khi GDP


                                                                                  41
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

tăng tới 2 con số thì CPI cũng sẽ lên theo 2 con số, ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống của nhân dân và phát triển kinh tế.
      Nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, trong khi thu nhập thực tế của người lao
động và những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước không tăng tương
xứng thì đời sống của nhân dân không được nâng cao như mong muốn.
       Đại biểu Xuân cho rằng, cần đưa ra chỉ số CPI cụ thể, khoảng 6% và chỉ cần
giữ GDP ở mức 8,5% mà thôi, bởi mục đích cuối cùng là đưa nền kinh tế nước ta
tăng trưởng ổn định, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Cùng với xác
định tỷ lệ tăng giá tiêu dùng thật cụ thể, hợp lý, Chính phủ cần đề ra các biện pháp
nhằm kiềm chế lạm phát để xử lý vấn đề cân đối vĩ mô của nền kinh tế hiệu quả
hơn.
       Đại biểu Huỳnh Thành Lập đề xuất Chính phủ làm rõ hơn nguyên nhân làm
tăng chỉ số giá tiêu dùng, cũng như đánh giá lại hiệu quả công tác điều hành chính
sách tiền tệ; làm thế nào để việc điều chỉnh mức lương tối thiểu không trở thành
nguyên nhân tăng giá khiến đời sống đại bộ phận những người hưởng lương từ
ngân sách thêm một lần khó khăn như những lần điều chỉnh lương vừa qua .
      Chăm sóc sức khỏe cộng đồng chưa được đầu tư đúng mức
      Nhiều đại biểu cho rằng, công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, y tế dự
phòng chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, đầu tư thiếu đồng bộ ở các tuyến
bệnh viện, trung tâm y tế. Tình trạng quá tải tại các bệnh viện ở các tỉnh, thành phố,
bệnh viện tuyến Trung ương đã tồn tại nhiều năm, nhưng chưa có giải pháp khắc
phục hiệu quả (tình trạng bệnh nhân nằm chung một giường còn phổ biến).
      Chủ trương, chính sách khuyến khích xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, chăm
sóc sức khỏe cộng đồng chưa được triển khai thống nhất ở địa phương và Trung
ương nên chưa đáp ứng được mục đích, yêu cầu đặt ra.
       Việc bán BHYT tự nguyện, nhưng với điều kiện cả hộ dân phải mua gây khó
khăn cho người nghèo; chưa tạo được nguồn vốn để đầu tư nhiều hơn cho ngành y
tế, cho các bệnh viện tuyến huyện để chăm sóc sức khỏe cho đồng bào ở nông
thôn và giảm áp lực quá tải đối với các bệnh viện tuyến trên.

       Đại biểu Trần Đông A cho rằng chất lượng khám chữa bệnh còn kém, đặc
biệt là ở tuyến cơ sở; phải tăng cường hơn nữa cho tuyến cơ sở. Một thực tế là
người có thẻ BHYT bị phân biệt đối xử gây bức xúc trong nhân dân mà Chính phủ
chưa giải quyết được. Luật BHYT chưa đưa ra QH lần này là đúng bởi QH cần phải
xem xét, điều chỉnh cho phù hợp với thực tế để tiến tới BHYT toàn dân.
     6. Bức xúc đời sống công nhân
      Điều kiện làm việc, điều kiện sống của công nhân chưa bảo đảm, những hạn
chế về an toàn lao động, an toàn giao thông, an toàn - vệ sinh thực phẩm, tệ nạn xã
hội... đang hàng ngày, hàng giờ tác động đến cuộc sống của người lao động. Việc
làm thêm giờ đối với lao động ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn diễn ra
khá phổ biến.
       Đời sống vật chất và tinh thần của công nhân còn nhiều khó khăn. Thu
nhập của công nhân lao động các doanh nghiệp dệt may, da giày không tương


42
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


xứng với cường độ lao động thực tế, không đủ để tái sản xuất sức lao động. Đây là
kết quả điều tra xã hội học về cuộc sống của những người lao động tại Hà Nội do
Liên đoàn Lao động Hà Nội thực hiện tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
        Tại các khu công nghiệp và khu chế xuất của Hà Nội, công nhân phải thuê
nhà trọ do nhân dân xây dựng không đảm bảo các điều kiện sinh hoạt tối thiểu như:
diện tích chật hẹp, thiếu ánh sáng, nước sạch (phòng từ 12–15m2 cho 3–6 người,
bao gồm cả nơi tắm rửa, vệ sinh, nấu nướng, ăn ở). Đời sống văn hoá, tinh thần
cho công nhân không được chăm lo, dịch vụ y tế không có...
       Bên cạnh đời sống của công nhân gặp rất nhiều khó khăn thì nhiều doanh
nghiệp sử dụng lao động còn vi phạm Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật
Công đoàn. Công nhân lao động ở các doanh nghiệp tư nhân không được trả
lương theo qui định của Nhà nước vì hầu hết các doanh nghiệp tư nhân không xây
dựng thang, bảng lương, không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, không
xây dựng thoả ước lao động tập thể, vi phạm trong việc ký kết hợp đồng lao động.
         Cuối năm 2006, đoàn kiểm tra liên ngành của thành phố Hà Nội đã tiến
hành kiểm tra 24 đơn vị về thực hiện chế độ, chính sách đối với người lao động.
Qua kiểm tra cho thấy 14/24 doanh nghiệp không đăng ký thoả ước lao động tập
thể với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương; 12/24 đơn vị chưa xây
dựng thang, bảng lương (cá biệt có Lâm trường Sóc Sơn vẫn áp dụng mức lương
tối thiểu 180 nghìn đồng/tháng); 18/24 doanh nghiệp nợ đọng bảo hiểm xã hội từ 6 -
18 tháng với tổng số tiền trên 6,8 tỷ đồng. Ngoài ra, còn nhiều sai phạm trong giao
kết hợp đồng lao động như: giao kết không đúng loại hợp đồng theo qui định, sai
phạm về nội dung hợp đồng, thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động...
       Thực tế, ở một số địa phương trong nước, cũng đã có các doanh nghiệp
hiểu được lợi ích khi chăm lo tới đời sống của công nhân, một số khu ký túc xá
dành cho công nhân cũng đã được xây dựng. Tuy nhiên số lượng này còn quá ít ỏi.
Thực tế tại các khu công nghiệp, khu chế xuất của Hà Nội chưa có một chủ doanh
nghiệp nào xây dựng nhà ở cho công nhân của mình.
         Về vấn đề này, theo đại diện của Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu
chế xuất Hà Nội cho biết, Nhà nước bỏ tiền đầu tư thì không có. Kêu gọi các doanh
nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất đứng ra xây dựng thì cần phải có
cơ chế ưu đãi. Các nhà đầu tư thì họ cũng không mặn mà vì khó thu lợi nhuận. Cho
tới nay, mặc dù Hà Nội đã rất nỗ lực cho Dự án xây dựng nhà ở cho công nhân, tuy
nhiên chưa một doanh nghiệp nào trong khu công nghiệp Thăng Long tham gia dự
án này.
        Trước tình trạng hàng vạn công nhân đang phải tự lo nhà trong điều kiện
sinh hoạt khó khăn, thành phố Hà Nội đã ban hành Quy định tạm thời về quản lý sử
dụng nhà ở tập thể cho công nhân làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao thuê trên địa bàn thành phố. Quy định này không áp dụng đối
với nhà ở được đầu tư xây dựng theo quy định của Luật nhà ở cho hộ gia đình, cá
nhân thuê để ở (Quyết định số 96/2007/QĐ-UBND).



                                                                                43
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

         Theo quy định, điều kiện để được thuê nhà phải là công nhân làm việc tại
các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, hiện đang ở độc thân có
nhu cầu thuê căn hộ ở tập thể, có khả năng về tài chính để trả tiền thuê nhà và có
trong danh sách do thủ trưởng cơ quan, đơn vị đề nghị. Diện tích sàn phòng ở bình
quân cho mỗi công nhân thuê trong căn hộ ở tập thể không nhỏ hơn diện tích nhà ở
tối thiểu đã được quy định theo pháp luật hiện hành.
        Đơn giá căn hộ tập thể cho công nhân thuê (không bao gồm tiền điện,
nước, các chi phí dịch vụ khác...) không vượt quá giá thuê tối đa quy định trong
khung giá cho thuê nhà ở tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ
cao ban hành kèm theo Nghị định 90/2006 /NĐ-CP ngày 6/9/2006 của Chính phủ.
Tiền thuê căn hộ được thu hằng tháng do các tổ chức có công nhân được thuê nhà
ở thu của công nhân thuộc đơn vị mình và nộp cho các tổ chức được giao quản lý,
vận hành nhà ở tập thể cho công nhân thuê.
        Được biết, “Đề án xây dựng thí điểm nhà ở xã hội của thành phố Hà Nội
giai đoạn 2006 - 2008”, sẽ xây dựng 1.200 căn hộ tại hai quận: Long Biên, Cầu
Giấy và huyện Đông Anh, với tổng mức kinh phí dự kiến khoảng 257 tỷ đồng. Trong
đó, tổng thể dự án xây dựng nhà ở cho công nhân tại xã Kim Chung (huyện Đông
Anh) được duyệt gồm 25 tòa nhà 5-6 tầng, có đủ hạ tầng xã hội như khu nhà trẻ,
trạm y tế, sân chơi thể thao, căng tin.
        Trước mắt sẽ giải quyết chỗ ở cho khoảng 1.000 công nhân đang làm việc
tại Khu công nghiệp Bắc Thăng Long. Đây sẽ là tín hiệu đáng mừng để Hà Nội giải
quyết ổn định chỗ ở cho công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công
nghệ cao.


     7. Đào tạo ở Việt Nam: “Nghệ thuật giết... rồng”
     Theo một khảo sát mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tình hình việc làm
của sinh viên sau khi tốt nghiệp các chương trình đào tạo cho thấy chỉ 50% sinh
viên có việc làm khi tốt nghiệp, trong đó chỉ 30% là làm đúng ngành nghề đào tạo.
     Một trong những nguyên nhân làm nên con số buồn này, theo TS. Nguyễn Sĩ
Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội là vì hướng đào tạo trong các trường
đại học, cao đẳng từ trước đến nay chủ yếu là dạy “nghệ thuật giết... rồng”.
      Cũng theo TS. Dũng thì cuộc sống thay đổi, nền kinh tế thay đổi, “rồng” đã
biến mất từ lâu, nhưng chương trình đào tạo vẫn tiếp tục sản xuất ra những
“chuyên gia giết rồng” các loại! Tại sao chúng ta lại phải đối mặt với tình trạng thừa
mà vẫn thiếu trong thị trường lao động? Nguyên nhân đầu tiên là tình trạng kinh tế
đổi mới nhanh, trong khi giáo dục đào tạo thì đổi mới chậm. Chúng ta đã chuyển
toàn bộ nền kinh tế sang cơ chế thị trường, nhưng hệ thống giáo dục không chuyển
đổi kịp để đáp ứng với yêu cầu mới. Không có sự kết nối hữu cơ giữa các doanh
nghiệp và hệ thống giáo dục đào tạo.
     Còn khi phân tích về “nghệ thuật giết... rồng”, trong một Hội thảo quốc gia với
chủ đề: Đào tạo theo nhu cầu xã hội do ngành giáo dục tổ chức, Thứ trưởng Bành
Tiến Long cũng nêu ra một thực tế là từ trước đến nay, không ai trả lời được tại sao

44
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


mỗi năm các trường, các ngành đào tạo được giao ngần đó chỉ tiêu nhưng hầu như
không trường nào biết sinh viên trường mình đào tạo ra có được sử dụng hết
không, trong khi các ngành nghề mà thị trường lao động đang cần thì chưa chắc đã
cung cấp đủ. Chỉ tiêu tuyển sinh mà thí sinh đọc được trong cuốn “Những điều cần
biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng” chỉ là sự định lượng mơ hồ.
     Dưới góc nhìn của một người trong cuộc, bạn Xuân Thịnh, sinh viên khoá 47
trường đại học Bách khoa Hà Nội nhận xét: “Rồng là một con vật không có trong
thực tế và quá cao siêu. Thực ra, chúng em không bao giờ muốn là những sinh
viên được học mỗi “nghệ thuật giết... rồng. Nhưng đó là cách thức đào tạo chung
của các trường đại học từ hàng chục năm nay nên muốn thoát ra cũng không được.
     Khi đi thực tập tại Bắc Giang, cơ sở chỉ đòi hỏi những kiến thức thực tế khá
đơn giản nhưng sinh viên bọn em không mấy đứa biết vì bọn em đã phải dành quá
nhiều thời gian vùi đầu trong sách vở và những mớ lý thuyết quá nặng nề”!
     Chia sẻ với sự buồn bực này của sinh viên, TS. Dũng cũng chỉ ra rằng hệ
thống giáo dục và đào tạo đang tổ chức việc cung ứng “sản phẩm” theo suy đoán
của riêng mình. Muốn rũ bỏ được điều này thì những nhà hoạch định chính sách
cần nghe doanh nhân nói gì để có chính sách đào tạo thích hợp. Các doanh nghiệp
cần phải có ý kiến về chất lượng đầu ra của hệ thống giáo dục và đào tạo và phải
làm rõ “đơn đặt hàng” của mình là gì. Ba nhà: giáo dục, hoạch định chính sách và
doanh nghiệp phải ngồi với nhau để cùng bàn.
      Đã đến thời điểm mà nếu cứ tiếp tục tái diễn môn “nghệ thuật giết... rồng”
trong các trường đại học thì nguồn nhân lực của Việt Nam sẽ không thể vực dậy
được. Nhận thức rất rõ điều này, ngay khi giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo vào tháng 7 năm 2006, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã có định hướng
rất rõ trong việc đào tạo phải làm sao đáp ứng được nhu cầu xã hội.
     Cũng theo Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, trong bối cảnh cạnh tranh và hội
nhập toàn cầu, vị trí giáo dục và đào tạo ngày càng cao, đặt ra yêu cầu chuẩn bị
nguồn nhân lực có tri thức tay nghề cao. Ngành giáo dục và đào tạo phải chuyển từ
đào tạo dựa theo khả năng sẵn có của mình sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội.
      Đây là chuyển biến quan trọng nhất, cơ bản và bức bách trong giai đoạn hiện
nay, tương tự như chuyển đổi từ kinh tế tập trung kế hoạch hoá trước kia sang kinh
tế thị trường. Có như thế, mới tạo động lực lâu dài, nâng cao hiệu quả giáo dục, có
cơ hội huy động mọi nguồn vốn trong xã hội cho giáo dục.
     Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã đưa ra 10 nhóm giải pháp,
trong đó có việc cần ưu tiên là sớm hình thành ban điều hành quốc gia triển khai
đào tạo theo nhu cầu xã hội. Tổ chức này sẽ gồm đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Bưu chính viễn
thông, Bộ Công nghiệp, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam... sớm xây
dựng một trung tâm dự báo nhu cầu xã hội cấp quốc gia, trước mắt ở những thành
phố có nhu cầu lao động lớn như Hà Nội, Tp.HCM, Đà Nẵng...
     Các cơ quan nên phối hợp để hình thành trang web tiếp nhận các thông tin về
nhu cầu lao động, hình thành một thị trường lao động trên mạng... Nỗ lực là vậy,

                                                                                45
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

tuy nhiên “nghệ thuật giết... rồng” trong các trường đại học liệu có ngày tận thế hay
không vẫn còn là một câu hỏi lớn.


     8. Lương tối thiểu tăng lên 1 triệu đồng
     Ngày 22-10, gặp gỡ với báo chí, Thứ trưởng thường trực Bộ Lao động -
Thương binh và xã hội Huỳnh Thị Nhân khẳng định sẽ tăng lương tối thiểu kể từ 1-
1-2008 đối với lao động trong các doanh nghiệp.
      Theo bà Nhân, gần đây liên tiếp xảy ra nhiều cuộc đình công liên quan đến
tiền lương, tiền công tại các khu công nghiệp phía Nam. Chính vì vậy, Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội được sự cho phép của Chính phủ đã phải “họp gấp” để
thông báo với báo chí, nhằm thông tin đến người lao động cũng như giúp các
doanh nghiệp tính toán, chuẩn bị cho việc điều chỉnh lương tối thiểu sắp tới.
    Dự kiến mức tăng lương tối thiểu sẽ là 20-38% đối với doanh nghiệp trong
nước và 13-15% đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
     Thay mặt lãnh đạo bộ, ông Phạm Minh Huân,Vụ trưởng Vụ Tiền lương - Tiền
công, đã trao đổi với báo chí những vấn đề liên quan đến việc điều chỉnh lương.
Ông Huân cho biết:
     Các cuộc đình công liên tiếp diễn ra trong thời gian gần đây chủ yếu ở các
doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực dệt, may, da giày và chế biến (những ngành cần
nhiều lao động thủ công có thu nhập thấp hơn cả) ở khu vực phía Nam, cơ bản trên
90% số cuộc đình công đều xuất phát từ tiền lương, thu nhập của người lao động.
     Việc điều chỉnh lương là do sức ép từ những cuộc đình công?
      Theo lộ trình cải cách tiền lương và theo qui định khi gia nhập WTO, VN phải
xây dựng thống nhất một mức lương tối thiểu giữa các doanh nghiệp nói chung. Lộ
trình của chúng ta dự kiến đến năm 2012 sẽ thống nhất được mức này.
     Còn hiện tại, lương tối thiểu trong các doanh nghiệp vẫn còn chênh nhau.
lương tối thiểu của doanh nghiệp trong nước (cả khối hành chính, sự nghiệp) thì
chưa phân theo vùng, nhưng đối với doanh nghiệp FDI đã phân chia thành ba vùng
với ba mức khác nhau.
     Một căn cứ nữa để điều chỉnh lương lần này là GDP (dự kiến) sẽ tăng 8,5-
9%/năm, năng suất lao động cũng tăng 13%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 7,5-8%/năm,
còn mức tiền công trên thị trường tăng khoảng 10%/năm. Đây là hai lý do quan
trọng làm căn cứ cho việc điều chỉnh lương lần này.
     Cụ thể dự kiến mức tăng là bao nhiêu?
      Doanh nghiệp trong nước tăng nhiều bởi vẫn áp dụng mức lương tối thiểu
chung là 450.000 đồng/tháng, cần phải tăng nhanh để bắt kịp với mức lương tối
thiểu của doanh nghiệp FDI, sắp tới sẽ tăng lên 540.000-621.000 đồng/tháng.
    Đối với khu vực doanh nghiệp FDI, nếu điều chỉnh theo phương án tăng 13-
15% thì sẽ tăng lên 802.000-816.500 đồng/tháng (vùng 3), 892.000-908.500
đồng/tháng (vùng 2) và 983.100-1.000.500 đồng/tháng (vùng 1).


46
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


     Đây chỉ là “mức sàn” - lương tối thiểu áp dụng cho lao động giản đơn nhất. Và
từ vùng 3 đến vùng 1 thì độ chênh của lương tối thiểu sẽ là 20%, tức lao động ở
vùng 1 sẽ được áp dụng “mức sàn” cao hơn của lao động vùng 3.
       Có thực tế xảy ra là khi tăng lương tối thiểu, nhất là ở các doanh nghiệp FDI
thì các khoản tiền an sinh, phúc lợi xã hội của người lao động sẽ bị giảm xuống.
Thành ra lương tối thiểu có tăng nhưng thực tế thu nhập không tăng. Trong khi đó,
nghe đến tăng lương thì giá cả cũng tăng, nên người lao động vẫn là người chịu
thiệt thòi...
      Mức lương tối thiểu chỉ là căn cứ tính các mức lương trong thang lương, bảng
lương, các loại phụ cấp lương, các mức lương ghi trong hợp đồng lao động... Đặc
biệt, Chính phủ qui định doanh nghiệp không được dùng mức tối thiểu để trả công
cho những lao động đã qua học nghề ngắn hạn (kể cả lao động do doanh nghiệp tự
dạy nghề), mà phải trả cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu.
      Qui định là vậy nhưng thực tế khảo sát của ngành Lao động - Thương binh và
Xã hội cho thấy chuyện tăng lương, giảm an sinh, phúc lợi là có và chỉ là số ít trong
các doanh nghiệp FDI. Về vấn đề này, phía công đoàn, đại diện người lao động
phải thương lượng với giới chủ sử dụng lao động.
      Đối với các doanh nghiệp FDI, Nhà nước chỉ có thể can thiệp bằng cách qui
định mức lương tối thiểu và hỗ trợ hai bên thương lượng. Ở đây vai trò công đoàn,
đại diện người lao động phải thể hiện vai trò bảo vệ quyền lợi, thu nhập chính đáng
của người lao động...
     Tới đây, sau khi Chính phủ ban hành nghị định điều chỉnh lương tối thiểu,
chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và ban hành một số thông tư hướng
dẫn. Theo đó, qui định rõ các doanh nghiệp điều chỉnh lương tối thiểu nhưng không
được phép giảm các khoản an sinh, phúc lợi xã hội mà người lao động đang
hưởng. Nếu doanh nghiệp nào bất tuân qui định này sẽ bị xử lý...
     Sẽ có bao nhiêu lao động được thụ hưởng việc điều chỉnh lương tối
thiểu đợt này? Việc điều chỉnh có làm ảnh hưởng hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp?
      Hiện có gần 6 triệu lao động làm việc trong các doanh nghiệp, trong đó có trên
1 triệu lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp FDI. Việc điều chỉnh lương tối
thiểu của các doanh nghiệp này sẽ không ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước, mà
do tự các doanh nghiệp chi trả. Vì thế có thể ảnh hưởng ít nhiều đến chi phí đầu
vào, kế hoạch tài chính của mỗi doanh nghiệp.
     Tăng lương tối thiểu nhưng mức tăng không đáng kể so với những chi
phí mà người lao động phải chi trả trong sinh hoạt. Như thế sẽ vẫn còn đình
công. Theo ông, tăng lương như vậy có phải là biện pháp “phòng chống”
đình công?
     Khảo sát của chúng tôi cho thấy đa số doanh nghiệp đều trả lương cho lao
động cao hơn khá nhiều so với mức qui định chung. Nhà nước cũng luôn khuyến
khích họ trả lương cho lao động cao hơn mức sàn. Tuy nhiên, do cuộc sống hiện


                                                                                  47
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

nay phát sinh nhiều khoản chi phí, giá cả ngày một tăng nên cuộc sống của người
lao động khó khăn. Đó chính là nguyên nhân xảy ra đình công.
     Để hạn chế đình công, cùng với việc điều chỉnh lương tối thiểu thì việc quan
trọng là công đoàn, đại diện người lao động phải thường xuyên liên hệ với chủ sử
dụng lao động để cùng nhau thương lượng, sớm giải quyết các vấn đề phát sinh.
Các bên phải xây dựng và thực hiện nghiêm theo “thỏa ước lao động”, “cơ chế
thương lượng” đã cùng nhau xây dựng.
        3 vùng được xác định để tính lương tối thiểu
     -     Vùng 1: gồm các quận thuộc Hà Nội và Tp.HCM.
     -    Vùng 2: các huyện thuộc Hà Nội, Tp.HCM và các quận thuộc Hải Phòng,
Hạ Long (Quảng Ninh), TP Biên Hòa (Đồng Nai), TP Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu)
và thị xã Thủ Dầu Một, các huyện Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Tân Uyên (Bình
Dương).
     -     Vùng 3: các địa bàn còn lại.
     Chênh lệch mức lương tối thiểu giữa mỗi vùng là khoảng 10%.
     * Công chức cũng có thể được tăng lương?
       Lãnh đạo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội không đề cập việc tăng lương
tối thiểu đối với cán bộ, công chức làm việc trong khu vực hành chính sự nghiệp,
lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, theo các chuyên gia về tiền lương, dự thảo đề án cải
cách tiền lương 2008-2010 đã được Bộ Nội vụ xây dựng và đang lấy ý kiến các bộ
ngành.
      Theo đó, từ 1-1-2008 cũng sẽ điều chỉnh lương đối với cán bộ, công chức trong
khu vực hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang. Mức cụ thể chưa được tiết lộ nhưng
theo tính toán của các chuyên gia, mức tăng có thể cũng sẽ là (ít nhất) 20%.


     9. Nhiều nông dân bị thu hồi đất thất nghiệp
      Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trung bình mỗi
ha đất nông nghiệp thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông
nghiệp.
     Trong 6 năm thực hiện thu hồi đất, có khoảng 2,5 triệu nông dân bị ảnh
hưởng đến đời sống.
       Theo số liệu tại một vài địa phương, có tỉnh có 25-30% số lao động sau thu
hồi đất không có việc làm hoặc việc làm không ổn định. Có tỉnh hàng chục nghìn lao
động mất việc làm.Tại một số vùng ven đô đồng bằng sông Hồng, trước khi thu hồi
đất chỉ có 10% lao động đi làm thuê, sau khi thu hồi đất tỷ lệ này là 17%. Tình trạng
này cũng đang có xu hướng tăng lên ở miền Đông Nam Bộ và vùng ĐBSCL.
       Hiện nay các vùng kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông nghiệp
bị thu hồi lớn nhất (khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên cả nước). Mặc dù diện
tích đất đó chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích đất tự nhiên của mỗi địa phương
(khoảng 1 đến 2%), nhưng lại tập trung phần lớn vào đất canh tác nông nghiệp và


48
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


khu đông dân cư. Việc thu hồi đất thời gian qua đã góp phần rất lớn vào việc phát
triển nền kinh tế - xã hội của đất nước.
       Các khu công nghiệp, đã thu hút được hàng chục ngàn dự án đầu tư của các
nhà đầu tư ở trong và ngoài nước với số vốn vài chục tỷ USD và hàng trăm ngàn tỷ
đồng. Hàng triệu lao động được giải quyết việc làm với thu nhập cao hơn, ổn định
hơn. Việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp chính là điều kiện và thời
cơ tốt nhất để chuyển một bộ phận quan trọng lực lượng lao động nông nghiệp, là
khu vực có năng suất lao động thấp, sang công nghiệp và dịch vụ.
      Tuy nhiên, theo bà Phan Lệ Xiêm, Phó ban Kinh tế (Hội Nông dân Việt Nam),
nhiều nông dân thiếu việc làm là do sự thất hứa của các chủ sử dụng lao động
trước và sau khi đầu tư tại địa phương, khiến tỷ lệ sử dụng lao động rất thấp.
      Theo ông Nguyễn Lương Trào, Chủ tịch Hiệp hội Xuất khẩu lao động,
nguyên nhân phổ biến của người nông dân trong việc chuyển nghề và tìm kiếm việc
làm mới là do không đáp ứng được yêu cầu về tay nghề, nhiều địa bàn có tới hàng
ngàn lao động mất việc làm nhưng chỉ có 10 - 20 người đã qua đào tạo nghề.
       Hơn nữa, như đã nêu trên, số người lao động quá tuổi tuyển dụng (trên 35
tuổi - độ tuổi khó thích nghi với môi trường lao động mới) chiếm tỷ lệ cao. Một
nguyên nhân thường gặp ở các vùng chuyển đổi đất là nhận thức của người lao động
còn ỷ lại vào chính sách hỗ trợ Nhà nước, vào tiền đền bù mà chưa tự mình tìm kiếm
việc làm. Ông Trào còn cho biết, một nguyên nhân khác là việc tổ chức, chỉ đạo, tuyên
truyền hướng dẫn cho người lao động ở các địa phương còn hạn chế.
       Những năm qua, Chính phủ đã dành nhiều ưu tiên giải quyết việc làm cho
người dân có đất bị thu hồi, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu (ước tính tạo việc làm
cho khoảng 55.000 người/năm). Trong hai năm 2006 và 2007, Chương trình mục
tiêu quốc gia về việc làm cũng đã dành 22 tỷ đồng bổ sung vốn vay giải quyết việc
làm cho gần 10 nghìn lao động bị thu hồi đất. Bên cạnh đó, xuất khẩu lao động
cũng là một kênh quan trọng cho người dân có đất bị thu hồi.
       Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của những biện pháp nêu trên vẫn còn cách xa
nhu cầu. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của hạn chế đó là khu quy hoạch
đất nông nghiệp thu hồi ở nhiều địa phương chưa gắn với quy hoạch tái định cư,
thiếu kế hoạch cụ thể về hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho người lao động. Hầu hết
nông dân trong hoàn cảnh này đều bị động khi phải chuyển đổi mục đích đất
sản xuất.
       Trong khi đó khả năng thu hút lao động vào các khu công nghiệp còn thấp,
chưa đến 35% tổng số lao động đang làm việc. Đó là chưa kể một lượng lớn lao
động không đáp ứng yêu cầu về tay nghề (chỉ có 27,23% lao động bị thu hồi đất tốt
nghiệp trung học phổ thông và 14% lao động được đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ
sơ cấp hoặc học nghề trở lên). Nhiều địa phương có tới hàng nghìn lao động bị mất
việc làm nhưng chỉ có 12 đến 20 người đã qua đào tạo.
      Một trong những biện pháp mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa
ra nhằm giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất là hỗ trợ chuyển đổi
lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác, phát triển khu đô thị - dịch vụ liền

                                                                                  49
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

kề gắn với khu công nghiệp, tăng cường công tác đào tạo nghề, ban hành chính
sách khuyến khích khu công nghiệp, doanh nghiệp lớn xây dựng cơ sở đào tạo
nghề tại chỗ. Bên cạnh đó, Bộ sẽ sớm cho nghiên cứu thành lập Quỹ hỗ trợ giải
quyết việc làm.
      Quỹ này được hình thành từ một phần của khoản tiền sử dụng đất, tiền thuê
đất nộp ngân sách Nhà nước của doanh nghiệp khi sử dụng đất, tiền chênh lệch
giữa giá đất đền bù đối với đất nông nghiệp trước khi bị thu hồi và giá đất chuyên
dụng đã được chuyển đổi sau khi thu hồi.
       Tuy nhiên, để thực hiện có hiệu quả việc thu hồi đất đồng thời vẫn đảm bảo
được việc làm cho nông dân, các tỉnh phải hình thành và quản lý quỹ hỗ trợ đào tạo
nghề, phát triển các mô hình đào tạo, liên kết chặt chẽ với các cơ sở đào tạo nghề,
xây dựng và đổi mới chương trình đào tạo phù hợp với lao động nông thôn vùng
chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Có như vậy, nông dân bị thu hồi đất sẽ không
phải rơi vào cảnh thất nghiệp.


                                                                  Nguồn :www.mpi.gov.vn
                                                                          www.mot.gov.vn
                                                                         www.moet.edu.vn
                                                                        www.molisa.gov.vn
                                                                         www.moet.edu.vn
                                                                        www.tchdkh.org.vn
                                                                          www.vnexpress
                                                                          www.vneconmy
                                                                      www.tchdkh.org.vn
                                                                         www.dantri.com
                                                                www.tienphongnline.com.vn




50
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



      Chuyªn môc 3: Tµi chÝnh - tiÒn tÖ - gi¸ c¶


A. Tổng quan – Nghiên cứu:
       LuËt   thuÕ thu                  nhËp      c¸      nh©n:        Gót      l¹i
          ph-¬ng ¸n cuèi
       ThuÕ thu nhËp c¸ nh©n vµ nguy c¬ ch¶y m¸u
          chÊt x¸m
       Møc   gi¶m trõ               4    triÖu        ®ång      lµ     cao      chø
          kh«ng thÊp

I. LuËt thuÕ thu nhËp c¸ nh©n: Gót l¹i ph-¬ng
¸n cuèi
     Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa hoàn thiện Báo cáo tiếp thu ý kiến nhân dân
về dự án Luật Thuế thu nhập cá nhân.
    Theo Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên, nhìn chung, đại bộ phận ý kiến
tham gia góp ý đều nhất trí với sự cần thiết phải ban hành Luật Thuế thu nhập cá
nhân cũng như nội dung của dự án luật.
     Tuy nhiên, cũng theo Báo cáo này, vẫn có tới 34/155 ý kiến tham gia đóng góp
còn băn khoăn về tính khả thi của Luật thuế thu nhập cá nhân bởi khả năng quản lý,
kiểm soát thu nhập của các cơ quan quản lý còn nhiều hạn chế, việc thanh toán tiền
mặt phổ biến; trong xã hội chưa có thói quen công khai thu nhập của bản thân; năng
lực quản lý thuế còn yếu, số đối tượng nộp thuế tăng làm giảm hiệu quả thực hiện...
      Tuy nhiên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn thống nhất quan điểm trình Quốc
hội thông qua dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân vào kỳ họp Quốc hội tới.
      Theo ông Kiên, khi nền kinh tế - xã hội đang trong quá trình vận động, phát
triển thì hệ thống pháp luật cũng phải được hoàn thiện dần để phù hợp với thực tiễn
cuộc sống và yêu cầu quản lý.
      Trong thời gian qua, khi ban hành các văn bản pháp luật nói chung, pháp luật về
thuế nói riêng cũng có nhiều ý kiến băn khoăn về tính khả thi, nhưng Quốc hội vẫn quyết
định ban hành mà không chờ đến khi có đầy đủ mọi điều kiện mới ban hành.
     Thực tiễn cho thấy, các văn bản pháp luật được ban hành đã đi vào cuộc sống
và ngày càng được hoàn thiện, cơ bản đạt được các mục tiêu đề ra và mang lại
hiệu quả kinh tế - xã hội.
     “Hiện nay, chúng ta đang triển khai thực hiện chủ trương công khai, minh bạch
thu nhập và tài sản của cá nhân nên việc thực hiện Luật thuế này buộc cá nhân có
thu nhập chịu thuế phải kê khai thu nhập tiến tới quản lý, kiểm soát thu nhập dân
cư”, ông Kiên cho hay.

                                                                                    51
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Phó chủ tịch Quốc hội phát biểu tiếp: “Hơn nữa, Luật Thuế thu nhập cá nhân
ra đời sẽ là một bước góp phần thúc đẩy việc ban hành các chính sách khác của
Nhà nước để quản lý thu nhập của cá nhân một cách đồng bộ và có hiệu quả như
Luật về đăng ký tài sản, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt...”.
      Giảm trừ gia cảnh đối với người nộp thuế là một trong những nội dung được
các ý kiến tham gia đóng góp nhiều nhất. Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, nhiều ý kiến cho rằng, nên lấy mức giảm trừ gia cảnh là 4 triệu
đồng/tháng, ngược lại cũng có không ít ý kiến đề nghị giảm mức giảm trừ xuống 2 -
3 triệu đồng/tháng, nâng mức giảm trừ lên 5 - 6 triệu đồng/tháng, thậm chí cũng có
ý kiến đề nghị nâng mức giảm trừ gia cảnh lên 10 - 15 triệu đồng/tháng để bảo đảm
cho người dân có mức sống sung túc.
      Cũng theo báo cáo này, liên quan đến giảm trừ gia cảnh, nhiều ý kiến cho
rằng, không nên quy định mức giảm trừ bằng số tiền tuyệt đối mà quy định theo tỷ
lệ phần trăm hoặc số tiền trên mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định. Ngược
lại cũng có quan điểm đề nghị không áp dụng mức giảm trừ mà thu thuế ngay từ
đồng thu nhập đầu tiên với thuế suất 0% hoặc 1 - 2%...
     Về nội dung này, mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau, nhưng cuối cùng,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chọn mức giảm trừ gia cảnh 4 triệu đồng/tháng
(thay vì 5 triệu đồng/tháng như dự kiến ban đầu của Bộ Tài chính).
      Theo giải thích của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, với mức lương tối thiểu hiện
hành (450.000 đồng/tháng), nếu mỗi năm, Nhà nước tăng lương tối thiểu thêm 20% thì
đến năm 2009 (thời điểm áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân), lương tối thiểu vào
khoảng 650.000 đồng/tháng. Với hệ số thang bảng lương như hiện nay thì một cá nhân
tốt nghiệp đại học sau 8 - 10 năm vẫn chưa phải nộp thuế thu nhập cá nhân.
     Còn đối với cá nhân không làm công ăn lương, theo tính toán của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người năm
2007 đạt khoảng 820 USD, vào năm 2009 - 2010, con số này khoảng 1.100 USD
(tương ứng 18 triệu đồng/năm hay 1,5 triệu đồng/tháng).
     Với mức giảm trừ 4 triệu đồng/tháng tức là đã gấp trên 2,5 lần mức thu nhập
bình quân đầu người - mức giảm trừ cao nhất so với các nước trong khu vực như
Trung Quốc (0,64 lần), Malaysia (0,4 lần), Thái Lan (0,6 lần), Indonesia (0,78 lần)...
Ông Kiên cho rằng, việc xác định mức giảm trừ 4 triệu đồng/tháng là đã tính đến
các yếu tố phát triển kinh tế - xã hội, chính sách tiền lương, giá cả đến năm 2009.
     Tại dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân ban đầu, Bộ Tài chính dự định sẽ thu
thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng
đất ở. Quan điểm này đã không nhận được sự đồng thuận của xã hội, cuối cùng Bộ
Tài chính kiến nghị không thu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển
nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất của cá nhân đã có quyền sở hữu nhà ở, quyền
sử dụng đất ở từ 5 năm trở lên.
    Tuy nhiên, cuối cùng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã không đồng ý với quan
điểm này vì trên thực tế nhiều trường hợp cá nhân có khả năng tài chính lớn, đầu
cơ bất động sản dài hạn và chuyển nhượng sau thời hạn 5 năm kể từ ngày có



52
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu, thu lợi nhuận lớn, tạo ra những bất ổn đối với
thị trường bất động sản.
     Mức thuế suất 25% đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản như Dự
thảo được nhiều người cho là quá cao, làm hạn chế sự phát triển của thị trường bất
động sản. Tuy nhiên, trong Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của nhân dân về dự
thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân, Ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn giữ nguyên như
dự thảo, chỉ chỉnh sửa theo hướng cho phép đối tượng nộp thuế được lựa chọn 1
trong 2 phương pháp tính thuế: nộp 25% trên số thực lãi (giá chuyển nhượng trừ đi
giá vốn và các chi phí liên quan) hoặc nộp 2% trên giá trị chuyển nhượng trong
trường hợp không xác định được số thực lãi.
                                                          Theo Đầu tư ngày 17/10/2007



II. ThuÕ thu nhËp c¸ nh©n vµ nguy c¬ ch¶y m¸u
chÊt x¸m
      Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tiếp nhận và chỉnh sửa một số vấn đề trong
 dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia: Sự điều
  chỉnh vẫn để lại bất cập cũ; song lại tạo ra sự phức tạp và không phù hợp mới.
      TS. Nguyễn Quang A cảnh báo: Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ “chảy
máu” chất xám; không thu hút được chất xám và chuyển giao công nghệ. Hơn thế
là tạo ra sự ít công bằng hơn trong xã hội.
     Thui chột động lực phát triển
      TS. Quang A phản biện gay gắt việc đánh thuế luỹ tiến quá cao. TS. Quang A
phân tích: Các cụ đã có câu "một người lo bằng kho người làm". Việt Nam hiện
không thiếu nhân công mà thiếu nghiêm trọng đội ngũ "người lo" - những người có
tri thức, trình độ cao trong quản lý và quản trị. Trên thực tế, họ cũng là người lao
động, họ cũng phải học và làm thêm giờ.
     Nếu đánh thuế quá cao (7 bậc với 35%) thì Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ
"chảy máu" chất xám. Người giỏi của Việt Nam sẽ bỏ ra nước ngoài; người giỏi của
nước ngoài ngại đến Việt Nam. Khi đó Việt Nam vừa "chảy máu", vừa không thu
hút được chất xám. Đặc biệt Việt Nam sẽ thất bại trong thu hút và "chuyển giao
công nghệ bậc cao" là kỹ năng quản trị hay những tri thức không thể viết thành
sách, mà chỉ học hỏi qua thực tế hằng ngày.
     TS. Quang A kết luận: Đây là điều cực kỳ nguy hiểm khi làm thui chột động lực
phát triển đất nước. Người giỏi sẽ thấy vô lý khi mà họ càng vất vả để tạo ra nhiều
của cải, thu nhập thì lại càng bị đánh thuế cao. Sự bất hợp lý này không khuyến
khích được sự sáng tạo và khả năng vươn lên; làm xói mòn sự hăng say làm giàu.
     Vì thế, TS. Quang A cho rằng không cần có sự ưu ái; song phải tạo ra được
sự cạnh tranh. Việt Nam cần nhìn sang các nước xem họ đánh thuế bao nhiêu. Nếu
như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore... đánh cao nhất là 25% thì Việt Nam chỉ nên
đánh 23% đến 24% là cùng. Sự cạnh trang này giúp Việt Nam có được động lực trí
tuệ của dân tộc, cũng như thu hút chất xám ngoài nước để phát triển.


                                                                                  53
                                 Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Thêm một quy định làm mất tính công bằng
      Đó là quy định tại mục 11, điều 5 bản tiếp thu và điều chỉnh. Quy định ghi rõ, miễn
thuế "thu nhập từ cổ tức của người lao động là cổ đông được mua cổ phần ưu đãi trong
doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá" (bản dự thảo không có quy định này).
     Số đông các chuyên gia được hỏi đều phản ứng, bởi lẽ: Cổ tức thực chất là
thu nhập lãi từ doanh nghiệp. Các chuyên gia phân tích: Trong khi số đông người
lao động ở các công ty chưa cổ phần hóa hoặc chưa được cổ phần hóa không
được ưu đãi mua cổ phần, thu nhập hằng tháng phải chịu thuế thì người lao động
trong công ty cổ phần hóa lại được ưu ái miễn thuế.
     Các chuyên gia cũng đặt câu hỏi: Ai là những người sở hữu nhiều cổ phần
trong các công ty? Phải chăng đó chính là các "đại gia" ở chính các công ty này.
Bên cạnh đó, sự phân biệt đối xử càng gay gắt hơn khi mà đông đảo nhà đầu tư
mua cổ phiếu theo giá thị trường, chịu nhiều rủi ro thì lãi bị đánh thuế; trong khi đó
người lao động đã được mua cổ phần ưu đãi (giá thấp hơn thị trường, thậm chí
bằng mệnh giá) lại không phải chịu thuế phần lãi này.
     Phức tạp và thiếu tính nhân văn?
     Sự bất cập và phức tạp thể hiện ở tình huống: Vợ hoặc chồng "thất nghiệp"
theo kiểu không làm ở cơ quan Nhà nước - khi đó sẽ là diện người phụ thuộc. Thế
nhưng, thực tế cá nhân này lại có thể buôn bán hay "làm ngoài" và có thu nhập cao.
      Luật gia Hữu Dung cho rằng: Với cơ chế tiền mặt thì cơ quan thuế không thể
xác định được người này "có thu nhập vượt quá quy định của Chính phủ". Thậm
chí, dù có thu nhập cao, nhưng họ sẵn sàng gian dối để lách thuế. Khi đó, gánh
nặng "xác nhận người phụ thuộc" sẽ đặt lên cơ quan hành chính; và từ đây có thể
phát sinh tiêu cực.
     Ông Dung cũng cho rằng, biểu thuế 7 bậc cũng phức tạp khi kê khai thực
hiện. Bên cạnh đó, việc lách thuế cũng "dễ như bỡn" khi người bán bất động sản
với số tiền lớn; song lại thể hiện trên giấy tờ khoản tiền nhỏ...
      Theo bà Nguyễn Thị Liên - một cán bộ về hưu - khi được hỏi cũng cho rằng:
Nếu quy định diện người phụ thuộc như hiện nay thì "làm khó" người dân và thiếu
tính nhân văn. Bà Liên nói: Tôi chứng kiến nhiều gia đình cả ông bà, bố mẹ, anh em
trong nhà phải "hy sinh" chỉ để tập trung đầu tư ăn học cho một người, với mong
muốn "một người làm quan, cả họ được nhờ".
     Khi đi làm và có thu nhập thì chỉ ông bà, bố mẹ được tính là người phụ thuộc,
còn các em nheo nhóc đằng sau vẫn đang đi học thì không được tính. Đây là bất
cập trong chính bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay.
      * TS. Quang A: Sự đơn giản của luật giúp cơ quan thuế dễ quản lý; người dân
dễ hiểu và dễ thực hiện. Từ đây, tính minh bạch của luật được phát huy, vừa giúp
chống tham nhũng hiệu quả, vừa xây dựng niềm tin của nhân dân đối với luật và cơ
quan thi hành luật. Ngược lại, luật phức tạp và có những lỗ hổng thì người dân lách
luật. Không thể gọi đây là "gian dối", nhưng nó tạo ra khuyến khích ngược là người

54
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


dân tìm lỗ hổng để lách luật. Nếu cả xã hội tìm cách và học nhau "lách luật nhà
nước", thì cái mất của Việt Nam là vô cùng lớn mà sau này nhiều thế hệ có khi mới
khôi phục được.
      Miễn thuế đối với kiều hối, tiền làm thêm giờ và từ cổ tức: Với việc miễn thuế
tiền làm thêm giờ, UB Thường vụ Quốc hội cảnh báo những khó khăn cơ quan thuế
gặp phải trong quản lý, đặc biệt là khó tránh khỏi việc lách thuế. Đối với việc miễn
thuế từ kiều hối, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội lập luận: Nếu đánh thuế thì khoản
ngoại tệ này có thể sẽ không được chuyển về nước qua ngân hàng, dẫn đến việc
Nhà nước không thu được thuế, vừa không quản lý được ngoại hối.
     Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bỏ quy định "không thu thuế đối với thu nhập từ
chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở của cá nhân đã có quyền sở hữu nhà
ở, quyền sử dụng đất ở từ 5 năm trở lên". Vẫn giữ thu nhập từ cổ tức vào diện chịu
thuế, nhưng với mức 5%, thay cho 10-20% như dự thảo.
     Đề nghị chưa đánh thuế thu nhập từ thị trường chứng khoán: Đây là đề nghị
của Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam (VASB) tại văn bản kiến nghị Ủy
ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan liên quan. VASB cho rằng, thị trường
chứng khoán Việt Nam đang còn trong thời kỳ quá non trẻ; người tham gia chơi
chứng khoán cũng phải lao tâm khổ tứ; kinh doanh cổ phiếu có lúc thắng lúc thua,
lỗ chẳng được ai bù.
     Vì vậy, nếu đánh thuế thu nhập cá nhân từ thị trường chứng khoán ở thời
điểm này, dễ dẫn đến việc nhà đầu tư không tham gia thị trường, làm chậm tiến độ
cổ phần hóa, hạn chế doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán.
                                                               Theo Lao Động ngày 24/10/2007




III. Mức giảm trừ 4 triệu đồng là cao chứ không thấp
     Sáng 2/1 dự án Luật Thuế thu nhập cá nhân sẽ được Quốc hội thảo luận
tại Hội trường. Bên lề kỳ họp, Tiền phong đã có cuộc trao đổi với Phó Chủ
tịch QH Nguyễn Đức Kiên về vấn đề trên.
     Dự án Luật Thuế thu nhập cá nhân là một trong những dự án luật được dư
luận quan tâm, trước đó trong phiên thảo luận tại tổ, nhiều ý kiến của các vị đại biểu
QH đã băn khoăn với quy định giảm trừ gia cảnh, với lý do mức giảm trừ 4 triệu
đồng/tháng (giảm trừ 1,6 triệu đồng/tháng đối với mỗi người phụ thuộc) là quá thấp.
     Ông Nguyễn Đức Kiên nói: Nếu như nói rằng để đảm bảo đời sống, thì mức
giảm trừ gia cảnh tức là khoản tiền được trừ khỏi thu nhập chịu thuế trước khi tính
thuế, phải từ 7 triệu đồng đến 8 triệu đồng, là hiểu sai bản chất của dự án Luật
Thuế thu nhập cá nhân. Tôi khẳng định, mức giảm trừ 4 triệu đồng là cao chứ
không phải thấp!
     Đâu là căn cứ của phương án đưa ra mức 4 triệu đồng và 1,6 triệu đồng kèm
theo, thưa ông?


                                                                                        55
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Phương án này đã được tính toán kỹ, dựa trên những căn cứ về lộ trình cải
cách tiền lương, tổng sản phẩm quốc nội và thu nhập của dân cư dự kiến đến năm
2009. Nghĩa là đã dựa trên điều tra thu nhập bình quân.
      Nếu chúng ta có thông tin, sẽ thấy ở Trung Quốc có quy định về mức giảm trừ
gia cảnh còn thấp hơn nhiều so với nước ta (của họ chỉ tương đương khoảng 1,7
triệu đồng). Đi vào cụ thể theo dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân lần này, nếu anh
có thu nhập 5 triệu đồng/ tháng, sau khi đã có giảm trừ cho bản thân chỉ phải đóng
thuế có 50 ngàn đồng/tháng.
      Tôi nói vui là tiền đóng thuế đó chỉ bằng mấy cốc bia. Hơn nữa, phải phân biệt
rất rõ giữa thu nhập chịu thuế khác thu nhập tính thuế. Ví dụ, tiền lương của anh là
thu nhập chịu thuế, nhưng lương anh là 5 triệu đồng/tháng thì sau khi giảm trừ cho
bản thân anh, nếu cộng thêm 1 người phụ thuộc nữa, anh sẽ không phải nộp thuế
vì mức thu nhập thực tế còn thấp hơn mức giảm trừ gia cảnh (4 triệu đồng + 1,6
triệu đồng).
     Thưa ông, hiện nay chỉ số giá tiêu dùng tăng cao làm ảnh hưởng đến đời sống
người dân, có nhiều ý kiến đã đề nghị quy định mức giảm trừ gia cảnh cần tính đến
yếu tố trượt giá?
     Như tôi đã nói, tinh thần của thuế thu nhập cá nhân phải là mọi cá nhân cứ
phát sinh thu nhập thì phải chịu thuế, tuy nhiên ở nước mình còn có vấn đề này vấn
đề khác, nên phải chọn mức nào đó.
      Từ chỗ chúng ta thống nhất như vậy thì mới bàn tiếp vấn đề trượt giá. Nghĩa
là, cứ bảo tính trượt giá, thế thì còn gì bản chất của thuế thu nhập cá nhân nữa. Vì
tính như thế, lấy ví dụ năm 2009 có 100 người nộp thuế thu nhập, thì đến năm
2015 cũng chỉ có 100 ông đó nộp mà thôi, đến 2020 cũng thế.
     Với quy định về mức giảm trừ gia cảnh như đã nói ở trên, nếu dự án Luật này
được ban hành và có hiệu lực, thời gian đầu những người có thu nhập trung bình
trở xuống sẽ không phải nộp thuế. Dự thảo Luật không quy định mức giảm trừ gia
cảnh có tính đến yếu tố trượt giá, để rồi dần dần nhiều người có cơ hội thực hiện
nghĩa vụ thuế cho Nhà nước hơn.
    Bởi vì đến lúc kinh tế tăng trưởng, 4 triệu đồng trở thành thu nhập phổ biến,
mức thu nhập trung bình, thì sẽ có nhiều người đóng thuế hơn. Ví dụ, năm 2009 là
100 người đóng thuế thì đến 2015 phải là 1.000 người. Như vậy, Luật Thuế thu
nhập cá nhân của chúng ta đi vào bản chất hơn.




56
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



B. Tin v¾n
        TiÒn tÖ vµ gi¸ c¶
        Ng©n hµng
        ThuÕ - Tµi chÝnh c«ng
        Tµi chÝnh doanh nghiÖp
        Chøng kho¸n


I. TiÒn tÖ - Gi¸ c¶
                           Giá vàng đảo chiều mạnh
     Sau khi tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 1/1980, giá vàng bất ngờ đảo chiều mạnh.
     Đến cuối ngày 2/10, giá vàng giao ngay tại thị trường New York (Mỹ) đã giảm
tới 20,5 USD/ounce. Mức giảm này khá bất ngờ khi thị trường đang chờ đợi mốc
750 USD/ounce xác lập.
     Yếu tố bất ngờ còn nằm trong sự thất vọng của hàng loạt dự báo còn tươi mới
đầu tuần này, khi nhận định giá vàng sẽ tiếp tục leo thang ở tuần đầu tháng 10.
    Sự đảo chiều nói trên cũng diễn ra chóng vánh khiến nhiều bản tin của những
đầu mối kinh doanh vàng chuyên nghiệp không kịp cập nhật diễn biến, dù trước đó
có một số thông tin cho rằng những yếu tố hỗ trợ giá vàng đang mờ nhạt dần.
     Đó là giá dầu đã nhượng bộ; giá đồng USD đã có dấu hiệu phục hồi nhẹ so với
những đồng tiền chủ chốt trên thế giới, dù dự báo chỉ là nhất thời. Nhu cầu vàng vật chất
và nguyên liệu công nghiệp đang hạn chế lại thêm trở ngại mua vào giá cao.
     Một số phân tích cũng đưa ra dự báo về sự đảo chiều này bởi lượng mua vào
của các nhà đầu cơ Mỹ đã tăng mạnh trước đó, họ đang tranh thủ giá cao khi cuối
tuần qua kỳ vọng mốc 750 USD/ounce không hiện thực.
      Cũng trong cuối tuần qua, thông tin về khả năng bán vàng ra của Quỹ Tiền tệ
quốc tế IMF đã được đề cập. Trước đó, việc Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ đã
bán ra 113 tấn vàng trong vòng 3 tháng trở lại đây trong kế hoạch bán 250 tấn đến
cuối tháng 9/2009 cho thấy giá vàng đang được giá.
     Trong nước, sau khi lên mức 1,42 triệu đồng/chỉ, giá vàng trong nước cuối
ngày 2/10 đã giảm còn 1,412 triệu đồng/chỉ. Mức giá trong nước hiện thấp hơn giá
thế giới khoảng 3.000 đồng/chỉ, nhưng xu hướng giảm giá trên thị trường thế giới
vẫn đang thể hiện.
                                                                  Theo TBKTSG ngày 02/10/2007




                                                                                         57
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

                    Kho ngoại quan vàng vắng khách
     Với ưu thế là rút ngắn thời gian và chi phí so với việc nhập khẩu trực tiếp từ
nước ngoài, đáng lẽ kho ngoại vàng phải rất hút khách.
     Nhưng thực tế, rất ít doanh nghiệp trong nước lấy vàng từ đây, nhà buôn quốc
tế cũng không mấy mặn mà.
     Cả nước hiện có 2 kho ngoại quan vàng, ở Hà Nội và Tp.HCM. Kho Tp.HCM
do SJC quản lý, tại Hà Nội do Công ty Vàng bạc Ngân hàng Nông nghiệp quản lý,
cùng khai trương từ tháng 6.
     Ước tính nếu nhập hàng qua kho ngoại quan, phí vận chuyển và bảo hiểm
giảm đến 40% so với việc nhập từ nước ngoài thông qua môi giới trung gian. Hơn
nữa, thời gian nhập khẩu vàng của các doanh nghiệp cũng được rút ngắn.
     Tuy nhiên, hơn 3 tháng trôi qua kể từ ngày khai trương, kho ngoại quan của
SJC vẫn chưa có hàng. Ngoài Hà Nội có khá khẩm hơn, lưu kho luôn đạt khoảng
400-500 kg vàng, song cũng không thấm vào đâu so với sức chứa lên đến 30 tấn
của kho.
      Tổng giám đốc SJC Nguyễn Thành Long cho biết hiện vẫn còn vướng một số
thủ tục nên chưa thể đưa hàng vào. Hơn nữa, từ lúc khai trương kho ngoại quan tới
nay, giá vàng trong nước luôn cao hơn thế giới, nhu cầu nhập vàng không nhiều,
nên cũng không có hàng để đưa vào.
     Ông Nguyễn Thanh Trúc, Giám đốc Công ty Vàng bạc Ngân hàng Nông
nghiệp thừa nhận cũng chưa thực sự thỏa mãn với con số lưu kho 400-500 kg hiện
nay. Theo ông, muốn có khách gửi vàng, ngoài yếu tố giá cả, thủ tục, kho ngoại
quan phải được bảo hiểm. Để làm được điều này thì phải dựa vào một công ty
chuyên về kho ngoại quan của nước ngoài và trên thực tế việc ký kết được hợp
đồng bảo hiểm kiểu này không phải đơn giản. "Cũng may mà chúng tôi đã ký ngay
được hợp đồng với hãng bảo hiểm", ông nói thêm.
    Thông qua đối tác nước ngoài, kho ngoại quan của SJC mới ký được hợp
đồng bảo hiểm cách đây ít ngày.
     Đại diện một doanh nghiệp sản xuất vàng miếng trong nước cho hay gửi vàng
vào kho Hà Nội chủ yếu là các đầu mối kinh doanh lớn như Eximbank, Sacombank,
ACB. Những khách hàng trên lại chính là các thành viên trong liên minh thành lập
ra kho ngoại quan và chủ yếu chỉ kinh doanh chứ không phải tập trung nhiều vào
sản xuất.
     Theo ông, về lý thuyết chi phí nhập từ kho ngoại quan vàng thấp hơn so với
nhập trực tiếp từ nước ngoài và thời gian cũng được rút ngắn đáng kể. Song nhiều
doanh nghiệp lâu nay vẫn có các nguồn nhập riêng với giá rẻ hơn và thời gian thậm
chí còn nhanh hơn.




58
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


      "Giá vàng thường biến động rất nhanh chóng. Vào những đợt "sốt", giá thay
đổi theo giờ nên nếu nhập từ kho vẫn bị chậm. Nhưng nếu qua "mối riêng" thì chỉ
cần chồng tiền và lấy được hàng ngay bất kỳ lúc nào", vị đại diện này cho hay.
      Giám đốc một công ty sản xuất và kinh doanh vàng khác cũng thừa nhận, khi
có nhu cầu nhập khẩu, đều tự nhập ở nước ngoài chứ không thông qua kho ngoại
quan. Tự nhập mất tới 3-5 ngày hàng mới về, nếu qua kho ngoại quan có thể rút
ngắn xuống còn vài tiếng. Tuy nhiên, các nhà buôn quốc tế họ ngại để hàng vào
kho ngoại quan ở Việt Nam, mà nguyên nhân chính là thị trường còn rủi ro, không
ổn định.
     "Chảy máu vàng" vẫn xảy ra
     Một vấn đề với các kho ngoại quan nữa Việt Nam chưa cho phép xuất khẩu, vì
vậy lượng vàng ra vào kho ngoại quan chưa nhiều. Trong kho hiện chỉ lưu vàng
nhập khẩu. Nếu cho xuất khẩu, công suất có thể tăng gấp đôi, gấp 3 hiện nay.
      "Ấn Độ là nước nhập khẩu vàng hàng đầu thế giới, mỗi năm nhập 400 tấn,
xuất trên dưới 350 tấn. Nếu Việt Nam nhập 70-80 tấn như con số của năm ngoái thì
ít nhất lượng xuất cũng đạt lượng tương tự và hàng ra vào Việt Nam mỗi năm có
thể tới 200-300 tấn", ông Trúc cho hay.
     Ông Đinh Gia Bảng, đại diện Hiệp hội Vàng Việt Nam cho biết, hiệp hội đã
nhiều lần kiến nghị Vụ Ngoại hối Ngân hàng Nhà nước bãi bỏ giấy phép nhập khẩu
vàng và cho phép các doanh nghiệp được xuất khẩu mặt hàng này.
    "Hội nhập rồi, các mặt hàng đều không còn phải chịu giấy phép nhập khẩu mà
ở nước khác cũng không ai yêu cầu cả, tại sao mình vẫn giữ giấy phép nhập khẩu
vàng? Hiện nay ngay cả đá quý và kim cương cũng không cần giấy phép", ông
Bảng nói thêm.
      Một điều quan trọng hơn cả, là do không được phép xuất khẩu nên thường
xuyên xảy ra tình trạng xuất lậu vàng. "Chỉ cần chênh lệch giá trong nước và thế
giới lên tới 20.000-40.000 đồng/chỉ đã lãi to, làm gì mà người ta không buôn lậu",
ông Bảng nhấn mạnh.
Đại diện một doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh vàng kể, hồi "sốt" giá vàng năm
ngoái, khi đó mỗi chỉ vàng lên tới gần 1,5 triệu đồng/chỉ. Tuy vậy, so với thế giới,
giá vàng trong nước vẫn thấp hơn khoảng 30.000 đồng/chỉ và đây chính là dịp để
các mối tranh thủ cơ hội xuất hàng sang các nước láng giềng như Campuchia, hay
Lào để hưởng chênh lệch.
     Theo vị đại diện này, nếu không cho xuất khẩu vàng thì không thể tránh khỏi
thực trạng "chảy máu vàng" như hiện nay. Đây là một thiệt hại lớn bởi Nhà nước sẽ
không thu được thuế xuất khẩu. Thêm vào đó, khi xuất lậu sang nước khác, các
doanh nghiệp thường xuất vàng nguyên liệu chứ không phải hàng đã qua chế tác,
hay gia công nên không tạo công ăn việc làm được cho người lao động. Nếu có thể
xuất khẩu, họ sẽ sản xuất, chế tác xong mới bán nên sẽ tạo thêm việc làm cho
người lao động.
                                                             Theo VnExpress ngày 03/10/2007




                                                                                       59
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

                        Cơ hội tăng dự trữ ngoại tệ
     Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục mua ngoại tệ về khi cơ hội tăng dự trữ ngoại
tệ đang đến.
     Ngày 12/10, Văn phòng Chính phủ có công văn truyền đạt ý kiến chỉ đạo của
Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, yêu cầu Ngân hàng Nhà nước tiếp tục triển khai
việc mua ngoại tệ bổ sung cho Quỹ dự trữ ngoại tệ Quốc gia.
     Trước đó, trong 5 tháng đầu năm, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào 7 tỷ
USD, khi nguồn ngoại tệ vào Việt Nam tăng mạnh. Theo ông Nguyễn Đồng Tiến,
Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước, ngoài mục đích điều hòa cung – cầu, đó còn
là cơ hội để tăng dự trữ ngoại tệ.
Và nay, cơ hội đó đang tiếp tục xuất hiện khi cung ngoại tệ trên thị trường đang có
dấu hiệu tăng mạnh từ nguồn vốn đầu tư gián tiếp, trực tiếp và nguồn kiều hối.
     Trước khi có chỉ đạo của Phó thủ tướng, một số nguồn tin phản ánh Ngân
hàng Nhà nước “đóng cửa” trước các nhu cầu bán ngoại tệ của một số ngân hàng
thương mại. Có thể nguyên do là sự e ngại tăng VND trong lưu thông, ảnh hướng
đến lạm phát.
      Nay, đi cùng với chỉ đạo trên, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cũng yêu cầu
Ngân hàng Nhà nước áp dụng các giải pháp để bảo đảm kịp thời trung hòa lượng
tiền cung ứng mua ngoại tệ và lượng tiền rút từ lưu thông về, trước hết là lượng
tiền còn lại trên thị trường (khoảng 13%) của tổng khối lượng tiền cung ứng dùng
để mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước những tháng đầu năm.
     Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng thực hiện can thiệp hợp lý vào thị trường
để điều hành tỷ giá VND/USD ở mức thích hợp, không để xảy ra tình trạng VND
tăng giá hoặc giảm giá quá mức.
     Với chỉ đạo trên, dự kiến từ nay đến cuối năm Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp
tục mua ngoại tệ về. Định hướng này có ảnh hưởng đến lạm phát hay không?
      Về ảnh hưởng này, dự báo sẽ không lớn khi lượng tiền VND dùng để mua
ngoại tệ sẽ được “trải” dần từ này đến cuối năm, không tập trung trong một thời
điểm và kèm theo đó là lượng tín phiếu, trái phiếu tương ứng được phát hành để
hút tiền về trung hòa.
     Trong chỉ đạo trên, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cũng yêu cầu Bộ Tài
chính phối hợp với Ngân hàng Nhà nước thực hiện phát hành trái phiếu, tín phiếu
trung hạn; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Thủ tướng Chính phủ phát
hành công trái giáo dục…
     Hiện dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước ước đạt trên 20 tỷ USD. Từ
nay đến cuối năm, con số này có thể tăng lên mức mới theo cơ hội mua vào hiện
nay. Tỷ giá VND/USD cũng đã có dấu hiệu tăng trở lại sau khi xuống sàn những
ngày vừa qua.
                                                           Theo VnEconomy ngày 16/10/2007




60
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


Điều hành chính sách tiền tệ: Chống lạm phát hay vì tăng trưởng?
       Bài viết của chuyên gia kinh tế Huỳnh Thế Du, giảng viên Chương trình giảng
dạy kinh tế Fulbright Việt Nam.
      Cho dù đã tung ra tiền đồng để mua vào một lượng lớn ngoại tệ, sau đó bằng
việc kết hợp nhiều công cụ điều hành chính sách tiền tệ như: tăng dự trữ bắt buộc,
điều hành thị trường mở... Ngân hàng Nhà nước đã thu vào một lượng không nhỏ
tiền đồng đã tung ra.
     Tuy nhiên, áp lực lạm phát hiện đang rất lớn và mục tiêu đảm bảo chỉ số giá
thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2007 này rất khó có thể đạt được.
     Mặt khác, thị trường chứng khoán lại lên cơn sốt kết hợp với tốc độ giải ngân
của vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, vốn vay ODA đã được cải thiện làm cho
dòng ngoại tệ vẫn đang ồ ạt chảy vào Việt Nam, tạo ra áp lực tăng giá tiền đồng.
     Hai vấn đề nêu trên đang đặt việc điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam
vào tình huống tiến thoái lưỡng nan. Nếu tiếp tục tung tiền đồng mua ngoại tệ sẽ
làm cho tình trạng lạm phát trầm trọng hơn, nhưng nếu không mua ngoại tệ vào thì
đồng tiền Việt Nam sẽ tăng giá gây bất lợi cho xuất khẩu.
     Liệu có giải pháp nào để dung hòa mâu thuẫn trên hoặc nếu phải chọn một
trong hai thì nên chọn mục tiêu nào?
     Không sớm, không muộn, sao lại lúc này?
     Câu hỏi đặt ra là tại sao mấy năm trước, cho dù dòng vốn ra vào đã khá tự do,
nhưng Việt Nam vẫn có thể duy trì được một tỷ giá hối đoái gần như cố định (tiền
đồng giảm giá so với đồng đô la Mỹ trên dưới 1% mỗi năm) và lạm phát về cơ bản
vẫn nằm trong tầm kiểm soát, trong khi lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” đã chỉ ra rằng
khó có thể đạt được cả hai điều nêu trên khi tài khoản vốn được tự do(*).
     Thực ra, nếu quan sát dòng vốn chảy và cán cân thanh toán của Việt Nam
trong thời gian qua sẽ thấy rằng, trước khi thị trường chứng khoán bùng nổ, không
có nhiều ngoại tệ thuần túy đổ vào mà thường gắn với hàng hóa (dòng vốn FDI,
vốn vay ODA), trừ kiều hối.
     Số kiều hối chuyển về cũng chỉ đủ bù đắp cho phần thâm hụt cán cân ngoại
thương của Việt Nam. Chính vì lý do này mà trong vòng năm năm từ 2001-2005,
ngoại tệ dự trữ của Việt Nam chỉ tăng bình quân 26% một năm, đến cuối năm 2005
chỉ đủ cho khoảng hai tháng nhập khẩu.
     Tuy nhiên, câu chuyện trong gần hai năm trở lại đây đã hoàn toàn thay đổi khi
mà dòng tiền thuần túy đổ vào Việt Nam (dòng vốn đầu tư gián tiếp - FPI được
dùng để mua chứng khoán) đã gia tăng mạnh. Điều này đã làm cho dự trữ ngoại tệ
của Việt Nam tăng nhanh chóng và gây ra rắc rối như trên.
     Tiền đồng tăng giá có bất lợi cho Việt Nam?
      Về nguyên tắc, đồng nội tệ tăng giá sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu. Tuy nhiên,
trên thực tế điều này tùy thuộc vào điểm đến cũng như xuất xứ của hàng hóa xuất
nhập khẩu.


                                                                                61
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Trong ba quí đầu năm 2007, ngoại trừ Hồng Kông, đồng tiền của 7/8 đối tác
xuất nhập khẩu chính của Việt Nam ở Đông và Đông Nam Á gồm: Trung Quốc,
Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia đều tăng giá so với
đồng đô la từ 2-4%, trong khi tiền đồng lại giảm giá 0,2%, nhưng nhập khẩu mà
phần lớn từ các nước nêu trên lại gia tăng đột biến.
     Thêm vào đó, nếu quan sát số liệu về xuất nhập khẩu và sự thay đổi tỷ giá
giữa đồng Việt Nam và đồng tiền của tám nền kinh tế nêu trên (xem bảng) thì sẽ
thấy rõ điều này hơn.
     Trong chuỗi dữ liệu năm năm cho thấy vào năm 2005, đồng Việt Nam tăng giá
so với đồng tiền của tám nền kinh tế. Về nguyên tắc điều này có lợi cho nhập khẩu
và bất lợi cho xuất khẩu. Tuy nhiên, số liệu thực tế cho thấy vào năm đó, nhập khẩu
giảm nhiều hơn xuất khẩu.
     Những con số trên cho thấy, việc duy trì chính sách giảm nhẹ tỷ giá đồng tiền
dường như không có tác động nhiều đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Nguyên nhân của nó có thể là do nhiều mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam
phụ thuộc vào các hàng hóa nhập khẩu (kể cả các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản
và dầu thô). Nếu hàng nhập khẩu đắt thì hàng xuất khẩu cũng đắt theo và lợi thế
của việc giảm giá đồng tiền bị loại trừ rất nhiều.
      Cho dù đồng tiền Việt Nam giảm giá so với đồng tiền của tám nền kinh tế này
bình quân mỗi năm lên đến 4%, nhưng thâm hụt thương mại hai chiều ngày càng
gia tăng. Năm 2001, thâm hụt thương mại so với xuất khẩu chỉ là 103%, đến năm
2006 lên đến 131%.
      Có một ví dụ là gần đây ở Úc, khi được hỏi về tác động của việc đồng đô la Úc
lên giá so với đồng đô la Mỹ, các nhà xuất khẩu của Úc cho rằng họ không lo ngại
sẽ gặp phải những tác động tiêu cực, vì nguyên vật liệu nhập khẩu sẽ rẻ hơn. Thực
ra chỉ có những mặt hàng xuất khẩu thuần túy mới bị ảnh hưởng.
     Cần có những nghiên cứu cẩn thận hơn để làm sáng tỏ vấn đề, nhưng số liệu
sơ bộ cho thấy dường như xuất nhập khẩu của Việt Nam phụ thuộc vào những vấn
đề nội tại của nền kinh tế hơn là những tác động của tỷ giá hối đoái.
     Một điều đáng quan tâm là ngay khi việc giảm giá đồng tiền có lợi cho xuất
khẩu, nếu áp dụng chính sách thường xuyên này sẽ tạo ra tâm lý ỷ lại cho các
doanh nghiệp. Giáo sư Ari Kokko thuộc trường Kinh tế Stockhom cho biết, việc
Thụy Điển áp dụng chính sách phá giá đồng tiền theo chu kỳ để hỗ trợ cho xuất
khẩu đã làm cho các nhà xuất khẩu không muốn cải tiến công nghệ, nâng cao hiệu
quả hoạt động mà chỉ trông chờ vào chính sách của nhà nước. Kết quả là năng lực
cạnh tranh của nước này bị giảm sút
     Nên như thế nào?
      Khó có chính sách nào có thể đạt được cả hai mục tiêu đồng thời. Câu hỏi đặt
ra lúc này là giữa lạm phát cao ảnh hưởng đến ổn định vĩ mô và sự tăng giá của



62
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


đồng tiền (chỉ ở một mức vừa phải) sẽ phần nào tác động tiêu cực đến xuất khẩu,
Việt Nam nên chọn mục tiêu nào?
      Theo quan điểm của người viết, có lẽ trong lúc này, mục tiêu không để giá cả
tăng cao là quan trọng hơn. Việc mua vào đồng đô la, kết hợp với các công cụ tiền
tệ để vô hiệu hóa (sterilization) tác động của việc tung tiền đồng chỉ nên thực hiện
khi tiền đồng bị tăng giá quá mức (cao hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh
chính), vì thực tế rất khó có chuyện vô hiệu hóa hoàn hảo.
     Thêm vào đó, có lẽ bây giờ là lúc Việt Nam nên điều hành chính sách tỷ giá
hối đoái theo hướng linh hoạt hơn và nếu có thể, nên xây dựng cơ chế tỷ giá dựa
trên một rổ tiền tệ thay vì chỉ dựa vào đồng đô la Mỹ như hiện nay.
                                                              Theo TBKTSG ngày 18/10/2007




                 Chỉ số giá tiêu dùng sắp vượt ngưỡng
      Tăng mạnh trong tháng 10, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) sắp vượt ngưỡng mục
tiêu kiềm chế.
     Số liệu từ Tổng cục Thống kê chiều ngày 24/10 cho thấy, CPI tháng 10 đã
tăng vọt 0,74%, đưa mức tăng chung 10 tháng đầu năm lên 8,12%, sát với mục tiêu
kiềm chế mà một số ban ngành đề cập đến trong thời gian qua là 8,2%.
     Mức tăng trên cũng đã rất gần với dự báo 8,3% trong năm nay của Ngân hàng
Nhà nước, vượt mức dự báo 8% của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong khi dự báo hai
tháng cuối năm thường là “mùa tăng giá” mạnh.
     Với mục tiêu mà Quốc hội đề ra, CPI tăng thấp hơn tăng trưởng, khả năng
kiềm chế cũng đang trở nên căng thẳng.
     Điểm nổi bật trong đà tăng giá tháng 10 này là vị trí số 1 thuộc về nhóm hàng
Nhà ở và vật liệu xây dựng (gồm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng),
tăng tới 1,51% so với tháng 9. Đây cũng là tháng giá nhà đất, vật liệu xây dựng
tăng mạnh.
      Một số ý kiến cho rằng, trong thời gian qua giá nhà đất tăng nóng và có yếu tố
“ảo”, từ đây ảnh hưởng đến tính sát thực của chỉ số CPI trong tháng 10 cũng như
cả năm.
    Đứng thứ hai về mức tăng giá mạnh tháng này là nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn
uống, tăng 1,095. Trong đó, nhóm Lương thực tăng 1,11%, nhóm Thực phẩm tăng
1,19%.
      Các nhóm hàng khác như Giáo dục, May mặc – mũ nón – giày dép, Thiết bị và
đồ dùng gia đình, Đồ uống và thuốc lá, Dược phẩm – y tế lần lượt tăng từ 0,21%
đến 0,81%. Riêng nhóm Phương tiện đi lại – bưu điện tăng nhẹ 0,04%. Văn hóa –
thể thao – giải trị là nhóm hàng duy nhất giảm giá, giảm 0,73%.
                                                              Theo TBKTSG ngày 25/10/2007




                                                                                     63
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

                      Đặt lại mục tiêu kìm lạm phát?
      “Không nên tiếp tục đặt chỉ tiêu tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thấp
hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)”.
     Đây là kiến nghị của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tại kỳ họp lần này, liên quan
đến vấn đề lạm phát trong những năm gần đây và trong những năm tới.
      Nguyên do của kiến nghị trên là vì mục tiêu trong năm 2008 tốc độ tăng
trưởng đạt 9% và các năm tiếp theo có thể tăng lên 2 con số. Theo cách đặt vấn đề
như hiện nay, nếu tốc độ tăng GDP là 9% mà tốc độ tăng CPI là 8,5% hoặc gần 9%
thì vẫn đạt mục tiêu kiềm chế, nhưng đó là mức lạm phát cao, sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống của nhân dân và phát triển kinh tế.
     “Nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, trong khi thu nhập thực tế của người lao
động và những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước không tăng tương
xứng thì đời sống của người dân không được nâng cao như mục tiêu đã đề ra”, Ủy
ban Kinh tế lo ngại.
      Theo đó, Ủy ban Kinh tế đề nghị trong Nghị quyết năm 2008 của Quốc hội nên
xác định một tỷ lệ tăng chỉ số giá tiêu dùng cụ thể và các biện pháp nhằm kìm chế
lạm phát để có hướng phấn đấu mạnh hơn và xử lý vấn đề cân đối vĩ mô của nền
kinh tế hiệu quả hơn. Hiện có ý kiến đề nghị mức tăng CPI năm 2008 thấp hơn năm
2007.
     Ngoài ra, liên quan đến việc đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát thấp hơn tốc độ
tăng trưởng GDP, có một điểm đáng chú ý là số liệu của những năm trước đây cho
thấy CPI không tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP.
    Cụ thể, trong các năm từ 2001-2006, tốc độ tăng của GDP lần lượt là 6,9%,
7,08%, 7,34%, 7,8%, 8,4% và 8,17%, trong khi CPI và dịch vụ tương ứng với các
năm là 0,8%; 4%; 3%; 9,5%; 8,3%; 6,6%.
     Về diễn biến tăng CPI trong năm nay, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng
đà tăng cao tác động bất lợi đến sản xuất, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp,
ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống của đại bộ phận nhân dân.
     Về nguyên nhân, ngoài giá cả trên thị trường thế giới tăng cao, Ủy ban Kinh tế
còn nhấn mạnh đến tác động của chính sách tiền tệ đã áp dụng trong 6 tháng đầu
năm 2007, nhưng cũng cho rằng việc Ngân hàng Nhà nước mua số lượng ngoại tệ
lớn để tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia và giữ ổn định tỷ giá “là việc làm tích cực và
cần thiết”.
      Với những biện pháp mạnh mà Chính phủ chỉ đạo triển khải, Ủy ban đề cập
tới khả năng mục tiêu giữ tốc độ tăng giá tiêu dùng thấp hơn tốc độ tăng trưởng
kinh tế là có thể đạt được. Tuy nhiên, những biện pháp đó sẽ tác động đến thu
ngân sách nhà nước; ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh và có thể làm
tăng giá trong năm 2008.




64
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


     Xét lại phương pháp tính CPI?
     Ngoài kiến nghị đặt lại mục tiêu kiềm chế lạm phát nói trên, thời gian qua, một
số thông tin cũng đề cập tới việc xem xét lại cách tính chỉ số CPI của Tổng cục
Thống kê để phản ánh chính xác diễn biến của thị trường.
     Về yêu cầu này, Tổng cục Thống kê cho biết phương pháp tính CPI hiện nay
phù hợp với phương pháp luận của quốc tế. Số liệu về CPI do Tổng cục tính đã
được các tổ chức quốc tế nhu Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Tổ chức
Lao động quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á... thường xuyên sử dụng và đánh
giá cao.
      Tuy nhiên, việc xác định chỉ tiêu kế hoạch lạm phát hàng năm theo chỉ số giá
tiêu dùng của tháng 12 năm báo cáo so với tháng 12 năm trước và trên cơ sở đó
công bố số liệu thực hiện cả năm theo nội dung này là chưa phù hợp với thông lệ
quốc tế (các nước đều công bố số liệu cả năm là chỉ số giá tiêu dùng cả năm so với
năm trước).
      Để khắc phục hạn chế trên, Tổng cục Thống kê cũng đã có đề xuất xác định
chỉ tiêu kế hoạch về lạm phát theo nội dung của chỉ số giá tiêu dùng cả năm so với
năm trước. Trên cơ sở đó, Tổng cục công bố chỉ số giá tiêu dùng hàng quý và cả
năm so cùng kỳ năm trước.
    Việc công bố chỉ số giá tiêu dùng hàng tháng theo gốc so sánh tháng trước và
cùng tháng năm trước như hiện nay tiếp tục được duy trì để phục vụ sự điều hành
hàng tháng và một số yêu cầu phân tích kinh tế.
     Ngoài ra, Tổng cục Thống kê cũng sẽ tiếp tục rà soát quyền số tính chỉ số giá;
rà soát tính đại diện trong số lượng mặt hàng đại diện dùng để thu thập giá; tăng
cường kiểm tra, giám sát khâu thu thập số liệu ban đầu.
                                                             Theo Tiền phong ngày 25/10/2007



II. Ng©n hµng
               Ngân hàng mua "core banking" để làm gì?
     Hiện có khoảng 100 ngân hàng thương mại, định chế tài chính, văn phòng đại
diện ngân hàng nước ngoài nhưng chỉ khoảng 15% trong số đó đầu tư core
banking.
     Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng tận dụng hết tài nguyên của
“core”. Thậm chí, có ngân hàng mua “core” chỉ để đánh bóng...
      Nhận xét về vai trò của core banking trong hoạt động ngân hàng thương mại,
ông Nguyễn Quang A, thành viên Hội đồng Quản trị VP Bank nói: “Tiền, tài sản thế
chấp trong ngân hàng thực ra chỉ ở trên giấy, sổ sách kế toán, dữ liệu máy tính...
chỉ hiển thị bằng thông tin và quản lý cái đó thông qua thông tin chứ không thể quản
lý tài sản vật lý. Lõi banking chính là hạt nhân toàn bộ hệ thông tin của một hệ
thống ngân hàng”.

                                                                                        65
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Công nghệ nào, sản phẩm ấy
      Đồng tình với ông Quang A, bà Thu Ba, Trưởng phòng công nghệ thông tin
SHB, cho rằng: core banking chính là một hệ thống các phân hệ nghiệp vụ cơ bản
của ngân hàng như tiền gửi, tiền vay, khách hàng. Thông qua đó, ngân hàng phát
triển thêm nhiều dịch vụ, sản phẩm và quản lý nội bộ chặt chẽ, hiệu quả hơn.
      Trước đây, khi các ngân hàng chưa có “core” hiện đại hoặc dùng “core” lỗi
thời, việc quản lý khách hàng rất rải rác và vô cùng bất tiện cho khách hàng. Tiền
gửi ở đâu, phải đến đó, không thể rút ở điểm giao dịch khác, mặc dù các điểm này
đều trong cùng hệ thống một ngân hàng.
      Thậm chí, khách hàng muốn giao dịch ở bao nhiêu điểm thì phải mở bấy nhiêu
tài khoản. Với sự ra đời của core banking hiện đại, khách hàng chỉ cần có một mã
duy nhất ở ngân hàng là có thể giao dịch với rất nhiều sản phẩm và ở bất cứ điểm
giao dịch trong cùng hoặc không trong cùng một hệ thống.
     Ngoài ra, sự ưu việt của phần mềm mới còn ở chỗ chúng chứa tham số rất
lớn để mỗi khi ngân hàng muốn phát triển một dịch vụ, sản phẩm sẽ dễ dàng hơn,
chỉ cần định nghĩa tham số là có thể tạo sản phẩm mới mà không phải sửa thẳng
vào code chương trình.
      Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm hiện mới chỉ ra những sản phẩm cơ bản nhưng tới
đây, có thể tận dụng hệ thống sang số để chuyển thành những sản phẩm khác về
tiền gửi, tiền vay một cách đa dạng hơn hoặc tận dụng hệ thống báo cáo quản trị để
phân tích đánh giá hoạt động của một ngân hàng. “Nếu có core banking thì việc tạo
ra sản phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào trí tưởng tượng của con người!” - Ông
Quang A nói.
    Hiện nay, một số ngân hàng thương mại cổ phần như Techcombank, ACB,
Sacombank... kể từ lúc triển khai “core” mới đã tạo đột phá trong khai thác sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng.
     Ông Lê Xuân Vũ - Giám đốc Trung tâm Ứng dụng và Phát triển các sản phẩm
dịch vụ công nghệ Techcombank cho biết, phần mềm mới của Techcombank cho
phép thực hiện tới 1.000 giao dịch/giây, quản trị tới 50 triệu tài khoản khách hàng
và hỗ trợ thực hiện giao dịch qua hệ thống 24h/ngày.
     “Core” phải gắn với nhân lực và sản phẩm
     Mặc dù các ngân hàng đều xác định đầu tư vào công nghệ là đầu tư khôn
ngoan nhất nhưng tính đến nay, trong số gần 100 ngân hàng thương mại và các
định chế ngân hàng đang hoạt động trên thị trường thì chỉ có khoảng 16 đơn vị đầu
tư “core”.
      Khác với các ngân hàng thương mại trong nước, những ngân hàng, tổ chức
tài chính, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài được trang bị hệ thống core
banking cực kỳ hiện đại do họ mang từ ngân hàng mẹ sang, điển hình như ANZ,
Duchbank, HSBC, Citibank.


66
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


     Những ngân hàng này thừa hiểu, khi đầu tư vào “core”, lập tức tên tuổi ngân
hàng đó sẽ khẳng định được đẳng cấp, tổng tích tài sản tăng, dễ dàng mở rộng quy
mô, sản phẩm dịch vụ. Chưa kể, nhờ đó, tính bảo mật thông tin cao hơn, hạch toán
sổ sách chứng từ kế toán thuận tiện hơn.
     Thực tế hiện nay, đầu tư “core” đã khó nhưng đưa “core” đó vận hành vào hệ
thống lại là chuyện khó hơn.
     Thứ nhất, hệ thống “core” mới phải thoả mãn yêu cầu quản lý của ngân hàng
nhà nước. Bà Thu Ba cho biết: “Quy trình nghiệp vụ từ ngân hàng nhà nước rót
xuống các ngân hàng thương mại nhiều lúc không tương thích với hệ thống core
banking của các ngân hàng, nhất là đối với các ngân hàng nước ngoài”.
      Ví dụ khi phân loại tài khoản, có những loại thì phân loại theo tiền, có những loại thì
gộp chung. Với hệ thống tài khoản nước ngoài là đa tệ và chỉ cần một tài khoản có thể
áp dụng với nhiều ngoại tệ khác nhau, nhưng ở Việt Nam, hệ thống tài khoản, mẫu báo
cáo thường thay đổi và các core banking nước ngoài rất khó đáp ứng.
     Thứ hai, mặc dù các ngân hàng rất mong muốn phát triển mạnh sản phẩm,
dịch vụ nhưng trong bối cảnh thói quen sử dụng tiền mặt vẫn phổ biến, cộng với hệ
thống hạ tầng chưa tốt nên việc phát triển và kết nối sản phẩm, dịch vụ vô cùng khó
khăn.
     Thứ ba, khi sử dụng hệ thống thông tin mới luôn gắn với việc “làm mới” ngân
hàng, phải cải tổ toàn bộ hoạt động từ tổ chức, đào tạo người, quy trình làm việc và
đó thực sự là quá trình khó khăn, mệt mỏi.
     Ông Nguyễn Quang A nói: “Dùng một công cụ đắt tiền, hiện đại mà áp vào
một quy trình làm việc giống hệt như cũ thì hoàn toàn phí tiền và không mang lại kết
quả gì nhiều, ngoại trừ số liệu có thể chính xác hơn, nhanh hơn”. Bởi lẽ, quá trình
này đụng chạm đến con người, tập quán, văn hoá, tổ chức và có thể cả quyền lợi,
nhất là đối với các ngân hàng quốc doanh. ngân hàng càng lớn, càng có truyền
thống thì quá trình lột xác càng khó khăn.
      Cũng theo ông Quang A, để phát huy hết tính năng và công hiệu của công
nghệ thì trong mỗi ngân hàng, từ giám đốc, phòng ban, nhân viên phải thay đổi lề
thói, quy trình làm việc, tầm nhìn chiến lược và sản phẩm dịch vụ. Nếu không thì
mua “core” chỉ để... đánh bóng thương hiệu mà thôi.
                                                           Theo VnEconomy ngày 01/10/2007




                         Cho vay đầu tư chứng khoán:
                    Ngân hàng quốc doanh “mở hầu bao”
     Việc thực hiện Chỉ thị 03 của Ngân hàng Nhà nước ở khối ngân hàng thương
mại cổ phần đang trở nên căng thẳng.
     Chính trong thời điểm này, ngân hàng quốc doanh vào cuộc đã tạo nên một
thuận lợi lớn, cú hích lớn góp phần đẩy thị trường tăng tốc.

                                                                                            67
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Cuối tháng 9, công chúng đầu tư xôn xao tin đồn Ngân hàng Nhà nước sẽ nới
rộng hạn mức cho vay đầu tư chứng khoán, thay cho hạn mức 3% hiện nay. Tuy
nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, Ngân hàng Nhà nước không có chủ trương này
và ít nhất từ nay đến cuối năm hạn mức 3% tổng dư nợ vẫn được duy trì.
     Cửa ngân hàng đang hẹp lại với cầu vốn đầu tư chứng khoán, nhất là khi thời
hạn hút vốn về chỉ còn 3 tháng. Trong khi đó, thị trường chứng khoán vừa cần vốn
để cắt cơn điều chỉnh kéo dài, vừa cần cho lượng hàng mới bắt đầu tăng mạnh.
      Trong bối cảnh này, sự vào cuộc của ngân hàng quốc doanh, hiện còn dư địa,
đã tạo một cơ hội mới cho nhiều nhà đầu tư. Khối này hiện chiếm trên 75% thị phần
tín dụng của hệ thống ngân hàng nên dư địa đó là rất lớn.
    Ước tính, các ngân hàng quốc doanh hiện mới chỉ có tỷ lệ cho vay loại này ở
khoảng trên dưới 1% tổng dư nợ. Trước hết là kế hoạch khá “rầm rộ” của Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank).
     Kể từ ngày 25/9, nhà đầu tư có tài khoản tại Công ty Chứng khoán An Bình
(ABS) có thể vay vốn để đầu tư bằng cầm cố chứng khoán niêm yết, theo thỏa
thuận hợp tác giữa công ty này với Agribank.
      Theo giới thiệu của ABS, thủ tục vay cầm cố chứng khoán khá thuận tiện và
nhanh chóng, hỗ trợ nhà đầu tư nắm bắt các cơ hội trên thị trường, trong khi lãi
suất khá “thoáng” với 1,05%/tháng, hạn mức tối đa lên tới 450% mệnh giá, áp dụng
với tất cả các cổ phiếu có thị giá tại phiên đóng cửa gần nhất lớn hơn hoặc bằng
30.000 đồng, thời hạn tối đa lên tới 12 tháng.
      Tương tự, tại Công ty Chứng khoán SeABank (SeABS), khách hàng đang mở
tài khoản và giao dịch tại đây sẽ được vay vốn bằng hình thức cầm cố chứng khoán
niêm yết tại các sở giao dịch của Agribank.
      Các cổ phiếu cầm cố vay vốn có giá trị tại phiên đóng cửa ngày giao dịch gần
nhất phải lớn hơn hoặc bằng 30.000 đồng, số tiền vay tối thiểu mỗi lần vay vốn
bằng 100 triệu đồng và tổng số dư nợ vay cầm cố chứng khoán tối đa đối với một
khách hàng cá nhân lên tới 10 tỷ đồng và đối với khách hàng pháp nhân là bằng 50
tỷ đồng, thời hạn vay không quá 12 tháng. Tất cả các hồ sơ vay vốn hợp lệ chuyển
tới Sở Giao dịch Agribank trước 15h00 của ngày làm việc sẽ được phê duyệt và
giải ngân trong ngày để nhà đầu tư chủ động vốn cho những phiên tiếp theo.
     Theo SeABS, đây là điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếp cận với nguồn
vốn lớn, đảm bảo quay vòng vốn một cách nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu đầu tư
chứng khoán lâu dài.
     Cùng với Agribank, một số nguồn tin cho biết “đại gia” Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam (Vietcombank) cũng đang có kế hoạch “mở hầu bao” đối với loại
hình cho vay này, dự kiến sẽ triển khai mạnh hơn trong tháng 11 tới. Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tại một số chi nhánh cũng bắt đầu lưu tâm
đến đối tượng khách hàng vay vốn đầu tư chứng khoán, nhưng còn khá chọn lọc
và có hạn mức chặt, thời hạn ngắn.

68
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


    Và khi những thành viên này thực sự vào cuộc, thị trường sẽ có thêm một
nguồn vốn lớn hỗ trợ nhà đầu tư tiếp cận nguồn hàng lớn, chất lượng cao chính từ
những ngân hàng quốc doanh cổ phần hóa sắp tới.
     Sự vào cuộc của khối ngân hàng quốc doanh có thể được giải thích từ tỷ lệ
cho vay đầu tư chứng khoán đang khá thấp ở mỗi thành viên. Mặt khác, theo đánh
giá từ Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), trong thời gian qua, lượng vốn khả
dụng tại các ngân hàng dư thừa kéo dài.
     Theo đó, áp lực giải ngân là một thực tế, và giải ngân nhanh, thuận lợi hiện
nay vẫn tập trung ở hoạt động cho vay này. Tất nhiên, cùng với việc mở hầu bao,
tăng giải ngân là sự kiểm soát với những rào cản kỹ thuật an toàn.
     Hiện tại, ngoài những công ty chứng khoán nói trên, những thành viên khác
cũng đang nóng lòng tìm đến những thỏa thuận tương tự, hợp tác với các ngân
hàng còn dư địa và có chủ trương cho vay để giữ chân nhà đầu tư. Đây cũng là
chất xúc tác để cơ hội vay vốn đến với nhà đầu tư theo diện rộng, nhất là khả năng
từ tháng 11 tới Vietcombank sẽ thực sự vào cuộc.
     Còn với thị trường, hai tuần qua không khí sôi động đã trở lại. Đặc biệt khối
lượng và giá trị giao dịch đột biến trong những phiên đầu tuần này trên cả hai sàn
cho thấy một lượng vốn lớn đang thực sự năng động và chủ động, trong đó không
thể phủ nhận sự tiếp sức của các ngân hàng thương mại.
     Ngược lại, thị trường sôi động càng tạo thêm tính thanh khoản cao cho các cổ
phiếu, tạo thêm thuận lợi quay vốn đảm bảo hơn khả năng trả nợ của nhà đầu tư.
Có thể sự sôi động hiện tại chỉ trong ngắn hạn, nhưng các hợp đồng vay vốn đầu tư
chứng khoán hiện nay cũng phổ biến là ngắn hạn.
                                                    Theo Đầu tư ngày 03/10/2007




                     Vietcombank “tiền tươi thóc thật”
      Chính phủ đã chấp thuận hầu như toàn bộ những đề nghị của Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trong đề án cổ phần hóa, trong đó có vấn đề
xử lý vốn thặng dư.
     “Chân dung” cổ phiếu Vietcombank bắt đầu hiện rõ trong mắt giới đầu tư.
     “Tiền tươi thóc thật”
      Ông Vũ Viết Ngoạn, Tổng giám đốc Vietcombank đã dùng bốn chữ nói trên để
khắc họa giá trị doanh nghiệp của ngân hàng. Ông nhấn mạnh: “Giá trị
Vietcombank thế nào, chúng tôi mang ra trình cho nhà đầu tư như thế, và tất cả đều
là tiền thật, tài sản thật, không có khai khống lên một đồng nào!”.
      Trong quyết định phê duyệt đề án cổ phần hóa Vietcombank, Chính phủ đồng
ý giá trị phần vốn góp của Nhà nước vào ngân hàng là 11.127 tỉ đồng, đúng bằng
giá trị sổ sách đã được kiểm toán bởi Công ty Ernst & Young năm 2006. Theo đó
vốn điều lệ của ngân hàng đến ngày 31/12/2006 là 4.356 tỉ đồng, phần còn lại là

                                                                                  69
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

các quỹ dự trữ, vốn khác, chênh lệch tỷ giá do chuyển đổi báo cáo tài chính, lợi
nhuận để lại, quỹ đánh giá lại tài sản.
      Đáng chú ý nhất của vốn sổ sách là sự gia tăng nhanh chóng các quỹ dự trữ
của Vietcombank trong vòng một năm, từ 2.728 tỉ đồng cuối năm 2005 tăng vọt lên
5.227 tỉ đồng cuối năm ngoái. Chính các quỹ dự trữ này cho thấy tiềm năng tài
chính của Vietcombank trong xử lý rủi ro, đặc biệt tín dụng và tỷ giá một khi có trục
trặc như nợ khó đòi.
      Xét về hiệu quả kinh doanh, Vietcombank đang là một trong những ngân hàng
tốt nhất Việt Nam. Năm 2005, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng chỉ có 1.760 tỉ
đồng (lợi nhuận sau thuế 1.292 tỉ đồng); nhưng năm sau đó đã tăng gấp hơn hai
lần, lên 3.893 tỉ đồng (2.877 tỉ đồng); sáu tháng đầu năm 2007 khoảng 1.400 tỉ
đồng.
      Đây thuần túy là lợi nhuận từ kinh doanh tiền tệ, khác hẳn với phần đông các
ngân hàng cổ phần là lợi nhuận từ kinh doanh chứng khoán chiếm tỷ lệ 25-30%
trong tổng lợi nhuận. Trong khi đó Vietcombank có một khoản đầu tư khổng lồ vào
chứng khoán chưa tất toán, 31.116 tỉ đồng (tính đến cuối năm 2006, và là giá đầu
tư, không phải giá trị theo giá thị trường), chưa kể gần 1.000 tỉ đồng góp vào các
liên doanh, liên kết, dự án dài hạn khác (nguồn: Báo cáo kiểm toán Vietcombank
2006).
      Khoảng hai phần ba số tiền đầu tư vào chứng khoán được thực hiện từ cuối
năm 2005 trở về trước, khi mà giá chứng khoán còn ở mức thấp. Như vậy có thể
hiểu là sau khi cổ phần hóa, bên cạnh lợi nhuận thu được từ nghiệp vụ ngân hàng,
nếu muốn cải thiện các chỉ số tài chính, Vietcombank chỉ cần lợi nhuận hóa một tỷ
lệ nào đó các khoản đầu tư là đủ.
     Về thặng dư, Chính phủ cho phép Vietcombank được quản lý một phần để
đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm của Nhà nước theo quyết định
của Thủ tướng. Tỷ lệ thặng dư Vietcombank được giữ lại sẽ được công khai sau
khi kết thúc phát hành cổ phiếu ra công chúng.
      Ông Ngoạn “bật mí” với báo giới rằng Vietcombank dự kiến sử dụng phần
thặng dư được quản lý để lập quỹ đầu tư, và yêu cầu đối tác chiến lược nước ngoài
gọi thêm vốn quốc tế cho quỹ. “Còn đầu tư vào hạ tầng, trước hết là định hướng
đúng với mục tiêu phát triển kinh tế đất nước - ông Ngoạn nói - “Thứ hai, hạ tầng là
những dự án hút vốn lớn, hiệu quả ổn định lâu dài và thường đảm bảo độ an toàn
cao vì có bảo lãnh của Nhà nước”.
     Chính Vietcombank đã đề xuất phương án dùng thặng dư đầu tư vào hạ tầng
và Chính phủ chấp thuận. Nhìn về lâu dài, đây là một đề xuất kín kẽ vì thặng dư từ
phát hành thêm cổ phiếu của Vietcombank rất lớn, lên tới hàng chục ngàn tỉ đồng.
Nhà nước sẽ không thể để lại toàn bộ số tiền lớn đến thế cho Vietcombank. Nhưng
mặt khác quan trọng hơn, khi thặng dư được tách riêng, một phần trả cho Nhà
nước, một phần đưa vào quỹ để đầu tư hạ tầng, thì sẽ không còn thặng dư để đưa
vào quỹ bổ sung vốn điều lệ.

70
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


     Rất nhiều khả năng Vietcombank sẽ giữ nguyên vốn điều lệ 15.000 tỉ đồng
trong những năm sau, không tăng thêm vốn. Nghĩa là giá trị cổ phiếu Vietcombank
sẽ ngày càng “đặc quánh” theo mức độ gia tăng lợi nhuận hàng năm.
     Quanh bàn đàm phán
     Một quan chức thuộc hàng cao nhất của một tập đoàn tài chính nước ngoài
đang thương thảo để trở thành đối tác chiến lược của Vietcombank đã bay sang
Việt Nam cuối tuần trước, chứng tỏ ý nghĩa quan trọng của sự tham gia vào
Vietcombank đối với họ.
    Một đối tác khác đã rút lui sau khi xác định sẽ tập trung tham gia vào một ngân
hàng quốc doanh khác sắp cổ phần hóa. Những thông tin ban đầu cho thấy có khả
năng Vietcombank sẽ kết thúc đàm phán trong một, hai tuần nữa.
     Trong khi đó tất cả các quỹ đầu tư nước ngoài có mặt ở Việt Nam đều đang
ngóng chờ kết quả đàm phán, đặc biệt là giá bán cho đối tác chiến lược nước ngoài
của Vietcombank. Quỹ nào cũng dành một lượng tiền tương đối để đợi tham gia
IPO ngân hàng.
     Quỹ VOF, quỹ lớn nhất do VinaCapital quản lý, trong quí 2 đã “bơm” vào các
cổ phiếu mới và mua cổ phiếu phát hành thêm của các công ty họ đang nắm giữ
125 triệu đô la Mỹ, và đã chuẩn bị hơn 100 triệu đô la Mỹ cho các đợt IPO của quí 4
năm nay.
      Các quỹ của Dragon Capital tiếp tục cơ cấu lại danh mục đầu tư, bán ra
những cổ phiếu khó có thể sinh lời hơn nữa và “mai phục” Vietcombank. Indochina
Capital mới chỉ giải ngân được một phần của quỹ mới niêm yết trên thị trường
London hồi tháng 3/2007 và còn lượng tiền mặt hàng trăm triệu đô la Mỹ. VF1 đã
giải ngân chừng 1.000 tỉ đồng trong số hơn 1.600 tỉ đồng thu được từ đợt tăng vốn
gần đây và số tiền còn lại cũng đang dành cho IPO Vietcombank.
      Điểm được giới đầu tư tranh luận nhiều nhất hiện nay là Vietcombank sẽ chọn
đối tác chiến lược nước ngoài nào, với giá bao nhiêu. Về thời điểm, so với Bảo
Việt, Vietcombank sẽ IPO trong điều kiện thị trường tốt hơn. Kết quả kinh doanh
của các ngân hàng đã gần đạt mục tiêu cả năm, kế hoạch chia cổ tức, lợi nhuận đã
rõ ràng và giá cổ phiếu nhà băng đang hồi phục. Ngoài ra tỷ lệ cổ phiếu
Vietcombank bán ra ngoài không phải quá nhiều, khoảng 1.000 tỉ đồng mệnh giá.
     Một điều phỏng đoán là số lượng nhà đầu tư tham gia IPO Vietcombank sẽ
lớn nhất từ trước đến nay.
     Riêng với số trái phiếu chuyển đổi Vietcombank đang niêm yết trên sàn
Tp.HCM, ông Ngoạn khẳng định tỷ lệ chuyển đổi thành cổ phiếu sẽ theo giá đấu giá
thành công bình quân của đợt phát hành ra công chúng.
     * Một vài dữ kiện về Vietcombank:
      - Vốn điều lệ sau cổ phần hóa: 15.000 tỉ đồng, trong đó vốn nhà nước 11.127
tỉ đồng.


                                                                                71
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     - Đợt phát hành cổ phần lần đầu: 30% vốn điều lệ, trong đó:
     + Đấu giá công khai trong nước 6,5%
     + Bán cho cán bộ công nhân viên và trái chủ trái phiếu chuyển đổi: 3,5%
     + Bán cho nhà đầu tư chiến lược trong nước: 5%
     + Bán cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài: tối đa 20%.
     - Đối tác chiến lược nước ngoài nắm giữ cổ phiếu Vietcombank ít nhất năm năm.
     - Phát hành và niêm yết quốc tế (giai đoạn 2): không vượt quá 15% vốn điều lệ.
     - Cơ quan đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại Vietcombank là Tổng
công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).
     (Nguồn: Quyết định 1289/QĐ - TTg của Chính phủ ngày 26/9/2007)
                                                       Theo TBKTSG ngày 04/10/2007




                 Lợi nhuận ngân hàng cổ phần tăng tốc
     Đến thời điểm này, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đang nắm trong tay
khả năng về đích trước hạn về lợi nhuận.
     Đáng chú ý là khả năng này được đặt ra trong một năm đối mặt với nhiều khó
khăn.
     Đầu tháng 10 này, các ngân hàng thương mại cổ phần lần lượt công bố kết
quả kinh doanh sau 3 quỹ đầu năm. Những kết quả này cũng giải thích một phần
nguyên nhân giá cổ phiếu ngân hàng đang có sự phục hồi mạnh mẽ.


     Lợi nhuận vượt trở ngại
     Khởi đầu năm 2007, hoạt động của các ngân hàng thương mại vấp một khó
khăn lớn từ sự bùng nổ của thị trường chứng khoán. Nhiều nguồn vốn trong dân cư
cùng chung một điểm đến là đầu tư chứng khoán, thay cho các khoản tiền gửi tại
ngân hàng như trước đây. Hoạt động giải ngân, cho vay cũng trở ngại khi nhiều
doanh nghiệp đã tự lực, trực tiếp huy động từ thị trường chứng khoán.
    Từ tháng 6, tỷ lệ dữ trữ bắt buộc tăng mạnh làm tăng chi phí của các ngân
hàng. Từ tháng 7, Chỉ thị 03 về hạn chế cho vay đầu tư chứng khoán cũng cắt một
phần lợi nhuận, đặc biệt là với những ngân hàng mới chuyển đổi…
    Nhưng, với số liệu công bố đầu tháng này, ấn tượng trong lợi nhuận của các
ngân hàng tiếp tục thể hiện. Đáng chú ý là nhiều thành viên đang nắm trong tay khả
năng vượt mục tiêu đặt ra cho năm này.
     Đầu tàu vẫn là Ngân hàng Á châu (ACB), ngân hàng cổ phần được đánh giá
hoạt động hiệu quả nhất hiện nay. Đến hết tháng 9, lợi nhuận của ACB đã vượt trên
1.200 tỷ đồng; nhiều khả năng sẽ vượt mục tiêu 1.600 tỷ đồng cho cả năm. Kế đến
là Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), sau 9 tháng đã đạt 1.060 tỷ đồng.

72
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


      Theo ông Đặng Văn Thành, Chủ tịch Sacombank, với đà hiện nay, ngân hàng
này có thể đạt lợi nhuận cả năm 1.400 tỷ đồng, vượt mức 1.200 tỷ theo mục tiêu đề
ra từ đầu năm. Tương tự, lợi nhuận của Ngân hàng Quân đội (MB) hiện đã cao trên
3 lần mức của cả năm 2006, có thể vượt 500 tỷ đồng vào cuối năm. Ngân hàng
Xuất nhập khẩu Eximbank hiện cũng đã đạt 473 tỷ đồng, cách mục tiêu khoảng 200
tỷ đồng cho 3 tháng còn lại…
      Theo lãnh đạo một số ngân hàng, việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và ảnh
hưởng của Chỉ thị 03 là một trở ngại lớn. Trong 6 tháng đầu năm, nhiều ngân hàng
cổ phần có lợi nhuận từ hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán chiếm từ 25 – 30%;
cá biệt có trường hợp lên gần 50%, tập trung ở khối mới chuyển đổi. Với việc tăng
tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ước tính chi phí của một số ngân hàng cũng đã tăng thêm
trên 0,25%. Đây thực sự là khó khăn đối với những ngân hàng quy mô nhỏ, mới gia
nhập thị trường, thị phần còn hạn chế và dịch vụ chưa phát triển mạnh.
      Ngược lại, trong bối cảnh này, khả năng chuyển dịch cơ cấu lợi nhuận thể
hiện rõ ở các ngân hàng lớn, có thâm niên. Hiện tại ACB, Sacombank, EAB,
Techcombank, sự dịch chuyển lợi nhuận từ hoạt động tín dụng dần sang dịch vụ
đang thể hiện rõ. Những ngân hàng này đang hướng tới khả năng đưa tỷ trọng lợi
nhuận từ dịch vụ lên 30 – 40% trong năm nay và trong năm 2008.
     Cổ phiếu ngân hàng phục hồi
      Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI), cổ phiếu ngân hàng
đang có sự phục hồi mạnh mẽ sau gần 6 tháng điều chỉnh sâu. Một nguyên nhân
chính là kết quả kinh doanh ấn tượng cùng với sự phục hồi chung của thị trường.
Riêng trên thị trường OTC, cổ phiếu ngân hàng đang đóng vai trò như một “đầu
tàu” tăng giá, tạo không khí sôi động và khá lạc quan.
      Trong đánh giá về giá cổ phiếu ngân hàng tháng 9 vừa qua, SSI đề cập đến
cổ phiếu của Ngân hàng nhà Hà Nội (Habubank) như một điển hình. Trong kỳ điều
chỉnh vừa qua, giá cổ phiếu Habubank có thời điểm giảm xuống còn khoảng 4,8 lần
mệnh giá, thấp hơn cả giá bán cho cổ đông chiến lược là Deustche Bank (khoảng
5,6 lần), giảm tới 50% so với thời đỉnh điểm. Nhưng hiện tại, giá cổ phiếu Habubank
chào bán phổ biến trên thị trường OTC đã vọt lên tới gần 7 lần mệnh giá.
     Giá nhiều cổ phiếu ngân hàng khác, theo SSI, chỉ trong vài ngày qua đã tăng
tới 30%. Những cổ phiếu được săn lùng nhiều nhất chính là cổ phiếu giảm giá
mạnh trước đó, như của MB, Eximbank, Techcombank và Habubank. Trên sàn
niêm yết, giá STB của Sacombank cũng trở nên nổi bật khi có mức tăng tới 28%
trong tháng 9. Đáng chú ý là đà tăng mạnh của STB được đánh giá cao ở khả năng
“khích lệ” không khí chung của thị trường.
     Về triển vọng của đợt phục hồi này, nhiều nhà đầu tư tiếp tục củng cổ niềm tin
khi con tàu lợi nhuận của các ngân hàng đang tăng tốc vào mùa cao điểm cuối
năm, khi triển vọng tăng điểm chung của thị trường niêm yết khá bền vững.




                                                                                73
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Một tác động khác cũng đang được định hình từ kế hoạch phát hành của
Ngân hàng Ngoại thương Vietcombank. Dự báo khi cổ phiếu Vietcombank có mặt
trên OTC, thị trường sẽ càng sôi động hơn, trong đó cổ phiếu ngân hàng vẫn là một
dòng chảy chính.
       Ngoài ra, thời điểm này một số ngân hàng đang chuẩn bị phát hành thêm theo
lộ trình tăng vốn; trong đó có nhiều ưu đãi cho cổ đông cũ. Hiện MB, Techcombank
hay Habubank cũng đã lên kế hoạch để có mức vốn mới vào cuối năm; lượng tiền
bán cho cổ đông chiến lược nước ngoài như của OCB, Techcombank hay
Habubank cũng đã lần lượt về đến tài khoản, phục vụ cho mục tiêu tăng vốn...
                                              Theo Vietnamnet ngày 05/10/2007




                  Lập ngân hàng: "Cần thay đổi tư duy"
      Việc hàng loạt hồ sơ xin thành lập ngân hàng được gửi tới Ngân hàng Nhà
nước cho thấy, thị trường ngân hàng nói riêng, thị trường tài chính Việt Nam nói
chung có tiềm năng phát triển rất lớn.
    Ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (Ngân
hàng Nhà nước) đã có cuộc trao đổi xung quanh vấn đề này.
     Ông nghĩ gì về sự ra đời của các ngân hàng mới trong giai đoạn hiện nay?
     Theo đánh giá của các chuyên gia tài chính quốc tế thì thị trường tài chính
Việt Nam hiện vẫn còn dư địa rất lớn, 84 triệu dân mà chỉ có chưa đến 80 ngân
hàng với khoảng 4.000 chi nhánh.
     Số lượng ngân hàng hiện nay có thể bị các ngân hàng cũ cho là quá nhiều,
như một điều dĩ nhiên của hiện tượng "cũ thường không ưa thích mới". Song,
chúng tôi hoàn toàn khuyến khích sự tham gia của các ngân hàng mới với các ý
tưởng kinh doanh, kỹ năng quản lý chuyên nghiệp trước thách thức không nhỏ của
sự sẵn sàng nhảy vào bất cứ lúc nào của các ngân hàng nước ngoài.
      Thực tế, tại Đài Loan, Trung Quốc, khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính -
tiền tệ thì lập tức các ngân hàng nước ngoài nhảy vào, không để trống thị phần bất
kỳ lúc nào.
     Tại một số nước trên thế giới, mật độ chi nhánh ngân hàng rất dày đặc, với
1.000 dân/chi nhánh, trong khi ở Việt Nam là 20.000 dân/chi nhánh.
    Có thể coi đó là một cơ hội cho các ngân hàng chuẩn bị "chào đời".
Song, không phải là không tiềm ẩn những thách thức?
     Thứ nhất là cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt. Thứ hai là ngân hàng mới phải
đối mặt với một thực tế mà các ngân hàng của Việt Nam đang gặp phải, đó là có
quá nhiều nhiều nhân viên trong một chi nhánh ngân hàng, thường lên tới 40 - 50
người, thậm chí có những chi nhánh lên tới cả trăm người. Trong khi đó, tại các
nước con số này rất nhỏ, chỉ khoảng 7 - 8 người, thậm chí là 4 người, với quy trình
làm việc đã được điện tử hóa.

74
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


     Do đó, chưa chắc số lượng đã đi kèm với chất lượng, không phải nhiều chi
nhánh và vốn lớn là đồng nghĩa với hiệu quả kinh doanh cao bởi trong kinh doanh,
nếu chi phí thấp, hiệu quả cao là thắng.
      Đối với loại hình ngân hàng cung cấp dịch vụ bán lẻ, hiện các nước trên thế
giới đòi hỏi tương đối cao, Ngân hàng Nhà nước cũng đã đưa ra tiêu chí chặt chẽ
liên quan đến việc tăng vốn của ngân hàng, đồng thời đòi hỏi cao về hiệu quả phát
triển của các ngân hàng mới.
      Do đó, nên thay đổi tư duy về việc thành lập ngân hàng mới, nhất là tại Việt
Nam, các ngân hàng được thành lập với nhiều động cơ khác nhau như: làm ăn lâu
dài, chộp giật qua việc thành lập để mua đi bán lại…
    Ông có thể cho biết, mối tương quan giữa hệ thống ngân hàng và thị trường
chứng khoán, nhất là khi ngân hàng thường tăng lãi suất vào thời điểm cuối năm?
      Sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng cho thấy sự độc quyền trong
lĩnh vực cho vay của ngân hàng đang ngày càng nhỏ lại, khiến không ít ngân hàng
chới với. Song, ngân hàng và thị trường chứng khoán trong nền kinh tế được ví
như tay và chân trong một cơ thể, có sự hỗ trợ lẫn nhau. Cái này yếu đã có cái kia
hỗ trợ, và ngược lại.
     Điều căn bản không phải là cái nào quyết định cái nào, mà quan trọng là cơ
thể đó có khỏe mạnh hay không, đồng nghĩa với sự lớn mạnh của một nền kinh tế.
Do đó, khó có thể khẳng định việc tăng lãi suất huy động của ngân hàng vào thời
điểm cuối năm sẽ ảnh hưởng đến nguồn tiền đầu tư vào thị trường chứng khoán,
nhất là khi xu hướng nhà đầu tư đến với thị trường chứng khoán ngày một nhiều.
     Hơn thế, cuộc khảo sát mới đây của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, vẫn còn
một lượng tiền tồn tại dưới dạng ngoại tệ, nằm ở tài khoản vãng lai, sẵn sàng đổ
vào thị trường chứng khoán khi có cơ hội, như cổ phiếu phát hành lần đầu của
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam (BIDV),…Trước đó, trong đợt IPO Bảo Việt, nhà đầu tư nước ngoài đã
mua hết số cổ phần mà nhà đầu tư trong nước từ chối mua.
     Gần đây, một tập đoàn quốc tế đã tuyên bố sẽ tăng tỷ trọng đầu tư vào thị
trường chứng khoán Việt Nam từ 14% lên 33%.
     Về phía các nhà đầu tư nội, khảo sát định kỳ 3 năm/lần của Ngân hàng Nhà
nước cho thấy, người dân Việt Nam không ít tiền như chúng ta tưởng, chỉ có điều
họ sẽ sử dụng số tiền này như thế nào: đầu tư cổ phiếu, gửi tiết kiệm bằng tiền, lưu
giữ bằng vàng hay đầu tư vào bất động sản…?
     Năm 2003, tỷ lệ tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng chiếm 11% tổng tiết kiệm
trong dân cư, nhưng gần đây con số này đã lên tới 50%. Điều này cho thấy người
dân tiếp cận ngân hàng ngày càng mạnh và bắt đầu quan tâm đến sự luân chuyển
vốn trên thị trường tiền tệ. Đặc biệt, những ngày gần đây lượng tiền đổ vào thị
trường chứng khoán là không hề nhỏ.



                                                                                 75
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Ông nghĩ sao về cổ phiếu ngân hàng hiện nay?
     Ngân hàng Việt Nam được đánh giá là một trong những hệ thống ngân hàng
có hiệu quả, hoạt động tốt nhất thế giới từ năm 2001 đến nay. Tôi hoàn toàn phủ
nhận quan điểm cho rằng, tỷ lệ lợi nhuận của ngân hàng cao là do những nhập
nhèm trong các bản báo cáo kiểm toán trong mấy năm trở lại đây, vì dù thế nào đi
chăng nữa cũng khó có thể làm đẹp con số này trong suốt khoảng thời gian 6 - 7
năm như vậy.
     Khi đầu tư cổ phiếu ngân hàng hay bất kỳ loại cổ phiếu nào, điều nhà đầu tư
cần quan tâm là nắm bắt được chu kỳ kinh doanh của nó, để nâng cao hiệu quả
đầu tư.
                                              Theo Đầu tư ngày 06/10/2007




        Lần đầu tiên ngân hàng Việt Nam mua nợ nước ngoài
      Ngày 8/10, lần đầu tiên tại Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV)
đã ký hợp đồng mua lại khoản nợ 20 triệu USD từ dự án Bệnh viện FV ở Tp.HCM,
trở thành chủ nợ duy nhất của khoản nợ này.
     Dự án Bệnh viện FV có tổng mức đầu tư 26 triệu USD, BIDV góp 6 triệu USD
và 3 tổ chức tài chính: IFC, ADB, Propraco góp 20 triệu USD. Do hoạt động không
hiệu quả nên BIDV đã đàm phán với các đối tác trên mua lại toàn bộ khoản nợ.
     BIDV cho biết, khi tái cơ cấu lại khoản nợ này, chi phí tài chính sẽ giảm và
hoạt động của bệnh viện sẽ hiệu quả hơn.
     Dự kiến, trong thời hạn 10 năm, toàn bộ nguồn vốn đầu tư nói trên sẽ được
thu hồi.
                                                       Theo lao động ngày 09/10/2007

            Quản lý ngân hàng: Nghị định “đóng thế” luật?
     Nhiều năm nay, quản lý ngân hàng trong lĩnh vực tổ chức và quản trị không
được điều chỉnh bởi luật mà được điều chỉnh bởi... Thống đốc!
      Một nghị định khác chuẩn bị ra đời để quản lý vấn đề này nhưng tuổi thọ cũng
chỉ...một năm!
     Thiếu luật đã có… giấy phép con
     Luật sư Trương Thanh Đức, Trưởng ban Thư ký - Hội đồng Quản trị Maritime
Bank nói: “Luật các tổ chức tín dụng hầu như chỉ đề cập đến các hoạt động nghiệp
vụ còn vấn đề tổ chức và quản trị nhất là đối với các ngân hàng thương mại cổ
phần lại đang thực hiện theo các quy định của Thống đốc!”
    Trong khi đó, những quy định của Thống đốc có nhiều nội dung khác biệt,
thậm chí trái ngược với Luật Doanh nghiệp 1999, mặc dù Luật này là một trong
những căn cứ ban hành. Và kể từ sau khi có Luật Doanh nghiệp mới 2005, các



76
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


ngân hàng thương mại cổ phần đã bị khủng hoảng về cơ sở pháp lý trong tổ chức
và quản trị.
     Vì sao như vậy? Như Luật sư Đức đã đề cập, cơ sở pháp lý cho việc quản lý
tổ chức và quản trị ngân hàng đã được đề cập trong Nghị định 49/2000/NĐ-CP
ngày 12/9/2000 nhưng qua 7 năm thực hiện, Nghị định này đã bộc lộ nhiều hạn
chế, bất cập và không theo kịp sự thay đổi, phát triển của hệ thống ngân hàng
thương mại cổ phần.
    Luật gia Bùi Thanh Lam, (Sở Thương mại Hà Nội) cho biết: đến thời điểm Việt
Nam gia nhập WTO đã có 30 đạo luật và 500 văn bản quy phạm pháp luật ban
hành mới hoặc chỉnh sửa, bổ sung để phù hợp với chuẩn mực, quy định của WTO.
Trong đó, có những đạo luật quan trọng, liên quan đến hoạt động ngân hàng
thương mại. Tuy nhiên, văn bản pháp lý để quản lý tổ chức, quản trị ngân hàng
thương mại cổ phần lại hết sức yếu, thiếu và lạc hậu.
     Vì thế, để duy trì quản lý, hầu hết đều theo hướng dẫn trong Quyết định
1087/2001/QĐ-NHNN ngày 27/8/2001 và Quy định về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu
và vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, ban hành kèm theo Quyết định 797/2002/QĐ-
NHNN ngày 29/7/2002 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước.
     Cũng do hệ thống pháp lý có nhiều khoảng trống nên đã tạo ra sự “mù mờ”
trong quản lý và không ít sự việc thiếu công bằng đã xảy ra. Một luật sư nêu ví dụ:
theo quy định, nghiêm cấm ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp cùng cơ quan
chủ quản nhưng thực tế, ngân hàng này vẫn cho vay nhưng không bị phạt.
    Hoặc, rất nhiều văn bản của Ngân hàng Nhà nước mang theo cụm từ “theo
hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước”, “theo quyết định của Thống đốc” và đây là
mảnh đất cho “giấy phép con” ra đời.
     Đơn cử: Luật các Tổ chức tín dụng quy định: tổ chức tín dụng khi thay đổi tên,
mức vốn điều lệ, địa điểm trụ sở, sở giao dịch, chuyển nhượng cổ phần có ghi tên
quá tỷ lệ quy định của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ cổ phần của các cổ đông...thì
phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận trước khi thay đổi. Nhưng Quyết định
1087/2001/QĐ-NHNN lại “sáng tạo” thêm rằng, sau khi được Ngân hàng Nhà nước
“chấp thuận”, Ngân hàng Nhà nước lại tiếp tục “chuẩn y” thì mới có hiệu lực.
     Điều này được hiểu: nếu chỉ có “chấp thuận” nhưng chưa “chuẩn y” thì không
có hiệu lực và vì thế, cùng một đề nghị nhưng phải qua hai lần giấy phép.
     Nghị định sửa bất cập… bị sửa
      Xuất phát từ những bức xúc trên, Ngân hàng Nhà nước đã “chắp bút” dự thảo
Nghị định tổ chức, quản trị và hoạt động của ngân hàng thương mại để thay thế cho
Nghị định 49/CP, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng thương mại. Một
luật sư nói, Dự thảo Nghị định này được coi là “thay vai”, “đóng thế” cho luật!
    Tuy nhiên, khi Ban Pháp chế - Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ
chức lấy ý kiến rộng rãi từ các tổ chức tín dụng và luật sư trong lĩnh vực ngân hàng


                                                                                 77
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

thì chỉ trong 3 giờ đồng hồ, có tới hàng chục bất cập trong một “dự thảo Nghị định
sửa bất cập” được nêu ra.
      Ông Trương Đình Song, Phó ban Pháp luật - Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam
nói: “Đã xây dựng Nghị định hướng dẫn thực hiện luật thì cần phải chi tiết cụ thể để
làm căn cứ hướng dẫn thực hiện. Vậy mà có tới 30/111 điều chứa các cụm từ “theo
quy định Ngân hàng Nhà nước”, “được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận”. Với đà này,
các ngân hàng thương mại sẽ gặp nhiều khó khăn khi Nghị định được phê duyệt”.
      Chưa hết, tại khoản 2 điều 30, Dự thảo quy định: “Chỉ có tổ chức được Chính
phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu
quyết”, ông Song lập luận: “Đã là ngân hàng thương mại cổ phần thì mọi vấn đề do
cổ đông quyết định, làm sao Chính phủ lại có thể ủy quyền cho một tổ chức được
quyền nắm giữ cổ phần biểu quyết?”.
     Luật sư Đức lại cho rằng, dự thảo lần này vẫn “chưa giải quyết được món nợ”
với cuộc sống”. Vậy, món nợ đó là những gì? Ông Đức dẫn chứng: Luật các Tổ
chức tín dụng 1997 quy định: “Việc đảo nợ được thực hiện theo quy định của Chính
phủ” nhưng thực tế thì vấn đề nhạy cảm này đã “đánh đố” tất cả cán bộ nghiệp vụ
và nhà quản lý ngân hàng trong suốt 10 năm qua. Và dự thảo lần này cũng không
đưa vấn đề đó vào để hướng dẫn thực hiện.
     “Nếu không đưa vào Nghị định thì liệu điều đó có được nhắc lại một cách vô
nghĩa hay sẽ bị hủy bỏ trong Luật các Tổ chức tín dụng dự kiến ban hành vào
2008?”, ông Đức bức xúc.
      Một ví dụ khác: khoản 5 điều 29 dự thảo quy định: “ngân hàng phải có tối thiểu
100 cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa”. Bà Nguyễn Thị Phương Minh phân
tích: “Luật các Tổ chức tín dụng không có quy định nào buộc các ngân hàng
thương mại cổ phần phải được thành lập dưới mô hình công ty đại chúng, trong khi
dự thảo Nghị định lại bó hẹp quyền lựa chọn của các nhà đầu tư, chỉ được thành
lập ngân hàng thương mại cổ phần dưới hình thức công ty đại chúng”.
     Lùi hay tiến?
      Do tồn tại khá nhiều bất cập như nói trên nên Ngân hàng Nhà nước đang gấp
rút soạn thảo sửa đổi hai bộ luật: Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức
tín dụng. Tuy nhiên, chờ đến khi hai luật mới ra đời thì ít nhất cũng phải hơn một
năm. Vì thế, cần “vá víu” lại Nghị định 49/CP để tạo một hành lang pháp lý cụ thể
cho tổ chức, quản trị và hoạt động của ngân hàng thương mại theo kiểu “méo mó,
có hơn không”.
     Nhưng quan điểm này lại không nhận được sự đồng tình của Bộ Tư pháp. Bộ
này cho rằng: Ngân hàng Nhà nước đang tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Ngân
hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng dự kiến thông qua trong 2008, do đó,
để bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, hạn chế sự thay đổi làm ảnh
hưởng tới hoạt động kinh doanh bình thường của các ngân hàng thương mại, cần



78
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


cân nhắc có nên ban hành Nghị định thay thế Nghị định 49/CP hay không. Mặt
khác, Nghị định này được ban hành chỉ áp dụng hơn 1 năm lại phải hủy bỏ.
      Đồng tình với quan điểm trên, ông Trương Đình Song nói: “Ngân hàng Nhà
nước nên tập trung sức lực, trí tuệ để làm tốt việc xây dựng, sửa đổi 2 luật là Luật
Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng để đúng tiến độ. Những vấn đề
nêu ra trong Dự thảo lần này nên làm nền cho việc ban hành Nghị định hướng dẫn
thi hành 2 luật trên khi Quốc hội thông qua”.
       Những quan điểm trên không hẳn không có lý khi mà những bất cập về quản
trị, điều hành của hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc, cổ đông, mua và
nắm giữ cổ phần, cổ phiếu…đã vượt khỏi tầm điều chỉnh bởi một Nghị định. Hơn
nữa, với thời hạn một năm, đầu tư xây dựng Nghị định xong lại phải hủy thì thật
lãng phí tiền của, công sức.
     Tuy nhiên, nếu không ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định 49/CP thì cả trăm
ngân hàng thương mại, định chế tín dụng cũng như Ngân hàng Nhà nước không biết
dựa vào đâu để hoạt động và điều hành, ngoại trừ giấy phép con của Thống đốc.
     Phải chăng, thực tế này đã phản ánh vòng luẩn quẩn của quá trình làm luật
hiện nay: dự báo không sát tình hình nên sau khi ban hành,vừa thực hiện, vừa sửa
đổi? Thậm chí, nếu xuất hiện khoảng trống pháp lý thì “vá” lỗ hổng bằng những
nghị định tạm thời hoặc giấy phép con của cơ quan quản lý…
                                               Theo VnEconomy ngày 10/10/2007




             Ngân hàng Nhà nước: “Không thừa ngoại tệ!”
       Theo số liệu cập nhật hàng ngày của Ngân hàng Nhà nước, hiện không có
tình trạng “thừa mứa” ngoại tệ như một số phản ánh.
      Số liệu mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước, do một nguồn tin chuyên ngành cho
biết, hiện trạng thái ngoại tệ của các ngân hàng thương mại vẫn ở mức thấp, chưa
có ngân hàng nào ở mức dương 15%-17%, trong khi biên độ cho phép là 30%.
     Và khi hiểu “thừa ngoại tệ” là trạng thái ngoại tệ của ngân hàng thương mại
vượt 30% vốn tự có, báo cáo cập nhật hàng ngày của Ngân hàng Nhà nước cũng
cho thấy không có trường hợp nào đáng “báo động”, “nóng” và cần can thiệp.
    Một chuyên gia trong lĩnh vực ngoại hối (xin giấu tên và chức danh vì liên
quan đến quy chế phát ngôn) cũng khẳng định với VnEconomy rằng “tình trạng
khan ngoại tệ vừa diễn ra trong tháng 7 vừa qua, hiện đã có tăng trở lại nhưng
không nhiều và nói thừa ngoại tệ là không ổn”.
    Từ đây, theo chuyên gia này, có thể giải thích vì sao Ngân hàng Nhà nước lại
không mua ngoại tệ vào, theo như phản ánh của một số nguồn tin cho rằng ngoại tệ
đang “thừa mứa”.




                                                                                 79
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Trong điều hòa thị trường ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò là
người “mua bán cuối cùng” trên thị trường liên ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước
chỉ mua vào khi trạng thái ngoại hối của ngân hàng thương mại bị vượt khung.
     Trường hợp ngân hàng thương mại chưa vượt khung nhưng thiếu hụt VND,
Ngân hàng Nhà nước có thể mua ngoại tệ, đẩy VND vào hỗ trợ. Nhưng hiện tại,
theo Ngân hàng Nhà nước, trường hợp này cũng chưa xẩy ra, hầu hết các ngân
hàng đều dư thừa vốn khả dụng VND kéo dài trong thời gian qua, và hiện cũng
không có dấu hiệu cho thấy có trường hợp thiếu VND.
    Như vậy, chuyên gia trên cho rằng các ngân hàng thương mại không thể ép
Ngân hàng Nhà nước mua vào khi trạng thái ngoại tệ vẫn ở mức dự trữ thấp.
     Mặt khác, có thể đề cập đến một mối lo khác là nếu Ngân hàng Nhà nước
mua vào, lại tăng VND trong lưu thông, có thể góp phần khiến lạm phát tăng cao,
trong khi cơ quan này đang nỗ lực phát hành tín phiếu để hút tiền về. Tất nhiên,
cung tiền của một nền kinh tế không đơn giản chỉ tính bằng đồng nội tệ.
      Trở lại với khả năng thừa ngoại tệ thời điểm này hay không, chuyên gia trên
cho rằng việc các ngân hàng thương mại lo ngại thừa ngoại tệ là đúng, bởi các
dòng vốn bên ngoài đang chảy vào nhiều, ngoại tệ dồi dào. Nhưng đây lại có sự
“cân đối”, bù đắp thâm hút cán cân thương mại, khi nhập siêu 9 tháng qua đã lên
tới 7,6 tỷ USD.
     Sự lo ngại thừa ngoại tệ nói trên có thể xuất phát từ tâm lý. Theo chuyên gia
này, đồng USD giảm giá so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt trên thế giới, như
EURO, Yên Nhật, Bảng Anh… Những đồng tiền đó cũng nằm trong rổ tiền tệ định
hướng cơ chế tỷ giá của Việt Nam. Những đồng tiền trên tăng giá, VND “cũng phải”
tăng giá so với USD. Nguồn ngoại tệ vào nhiều càng tạo tâm lý VND sẽ lên giá. Từ
đây, một số ngân hàng muốn giảm bớt USD trong “kho” dự trữ.
      Về lâu dài, tâm lý trên có thể dịu bớt, bởi thực tế lấp đầy giới hạn ngoại tệ 30%
nói trên là một khả năng không đơn giản.
                                                 Theo TBKTSG ngày 11/10/2007




                   Cuộc cạnh tranh mới của ngân hàng
    Chưa bao giờ hoạt động ngân hàng lại nở rộ như hiện nay, khi số lượng ngân
hàng tăng vọt trong một thời gian ngắn.
    Theo đó, số lượng dịch vụ của ngân hàng cũng được đa dạng hoá và khách
hàng sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn. Tuy nhiên, sẽ có bao nhiêu cái tên được khách
hàng và người tiêu dùng biết và nhớ đến rồi sau đó mới là tin tưởng để giao dịch?
     Những yếu kém của ngân hàng trong nước
     Hiện tại các ngân hàng chưa thực sự chú trọng vào các chính sách nhân sự
nhằm thu hút và giữ người giỏi một cách hiệu quả. Bởi vì hầu hết các ngân hàng chỉ
nghĩ đến việc dùng tiền để giữ người và lấy người từ các ngân hàng khác. Đây là

80
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


một sai lầm cơ bản. Bởi tiền không phải là yếu tố quyết định đến việc chọn và giữ
được người giỏi ở lại làm việc.
      Cũng vì chính sách nhân sự chưa tốt nên Ngân hàng Phương Nam mới gặp
phải tình huống rò rỉ thông tin tín dụng và dẫn đến một bầu không khí hoảng loạn tại
các chi nhánh tại thời điểm xảy ra khủng khoảng. Vấn đề ở đây là các ngân hàng
cần có một chính sách nhân sự để làm sao cho người lao động cảm thấy ngân
hàng là ngôi nhà thứ hai của họ, là nơi để nuôi sống gia đình họ. Có vậy họ mới đặt
trọn niềm tin và làm việc một cách hăng say nhiệt tình. Qua đó niềm tin từ nhân
viên mới truyền được đến khách hàng của ngân hàng.
     So với trước đây, cả chất lượng và số lượng dịch vụ của ngân hàng đã tăng
lên nhưng còn rất thấp so với mặt bằng chung của khu vực và thế giới. Hiện nay
Vietcombank là ngân hàng có số lượng sản phẩm dịch vụ lớn nhất. Tiếp theo đến
ACB, với hơn 200 sản phẩm dịch vụ.
    Tuy nhiên, với số lượng như vậy vẫn chưa đủ khả năng để cạnh tranh với các
ngân hàng nước ngoài khi họ vào Việt Nam, cũng như chưa thể đáp ứng được
những nhu cầu đặc thù của khách hàng. Bên cạnh đó, thời gian phục vụ vẫn
thường chiếm khá nhiều thời gian của khách hàng.
     Theo ông Phạm Văn Thiệt, Tổng giám đốc Eximbanhk, các dịch vụ ngân hàng
trong nước còn rất đơn điệu, chất lượng chưa cao, còn nặng về các dịch vụ truyền
thống mà chưa có định hướng theo nhu cầu của khách hàng. Huy động vốn chủ
yếu dưới dạng tiền gửi (chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động) và cấp tín dụng là
hoạt động chủ yếu (chiếm trên 80% tổng thu nhập).
     Đơn cử, tại các ngân hàng nước ngoài khách hàng thường chỉ mất 3-5 phút là
xong một giao dịch, nhưng tại ngân hàng trong nước cũng một dịch vụ như vậy
phải mất từ 8 - 10 phút, thậm chí 15 phút. Đây cũng là một nguyên nhân khiến cho
khách hàng bắt đầu tìm đến các ngân hàng nước ngoài ngày càng nhiều hơn.
    Theo kết quả điều tra của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc, có 45%
khách hàng (là doanh nghiệp và cá nhân) sẽ chuyển sang vay vốn của ngân hàng
nước ngoài; 50% chọn dịch vụ ngân hàng nước ngoài thay thế và 50% còn lại chọn
ngân hàng nước ngoài để gửi tiền, đặc biệt là ngoại tệ,...
      So với các ngân hàng nước ngoài, năng lực tài chính của các ngân hàng
trong nước còn rất nhỏ. Mặc dù gần đây các ngân hàng trong nước đã bán cổ phần
hoặc liên doanh liên kết để tăng thêm nguồn vốn, nhưng mặt bằng chung là vẫn
nhỏ so với thực tế.
      Vì vậy các ngân hàng sẽ gặp khó khăn khi có những tình huống phát sinh liên
quan đến việc chi trả tiền mặt một loạt cho khách hàng. Không những vậy, với năng lực
tài chính hạn chế thì ngân hàng khó mà tiếp cận được các dự án đòi hỏi số vốn lớn.
     Bốn giải pháp lấy niềm tin
    Thứ nhất, ngân hàng nên có một chiến lược cụ thể và rõ ràng hơn trong việc
quảng cáo và PR. Thay vì chỉ tập trung quảng cáo trên truyền hình, các ngân hàng

                                                                                  81
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

có thể tham gia các hoạt động của cộng đồng nhằm nâng cao hình ảnh và uy tín
trong tâm trí người tiêu dùng và người dân nói chung. Khi đó các phương tiện
truyền thông sẽ là người quảng cáo trung thực nhất về hình ảnh thương hiệu của
ngân hàng và lúc đó mức độ tin cậy sẽ được đẩy lên rất nhiều.
     Thứ hai, cải thiện chất lượng dịch vụ, đẩy nhanh tốc độ phục vụ và rút ngắn
thời gian phục vụ xuống mức tối ưu nhất trong khả năng có thể. Như vậy, ngân
hàng sẽ tạo ra một hình ảnh tốt về tác phong phục vụ và chất lượng phục vụ trong
mắt khách hàng.
      Thứ ba, xây dựng môi trường văn hoá doanh nghiệp một cách sống động và
linh hoạt, cũng như có nét sáng tạo để thu hút và khuyến khích người lao động làm
việc lâu dài tại ngân hàng, từ đó tạo nên sự trung thành và mong muốn được gắn
bó lâu dài của người lao động. Qua đó nhân viên sẽ có được cảm hứng khi làm
việc và điều này sẽ tạo ra một tâm lý tin tưởng ở khách hàng. Đi đôi với văn hoá
doanh nghiệp là một chính sách nhân sự hợp lý, sẽ có được những người lao động
giỏi cũng như sẽ giúp họ gắn bó dài lâu với doanh nghiệp, từ đó tạo tiền đề cho sự
tin tưởng yên tâm công tác tại ngân hàng.
     Thứ tư, nâng cao năng lực tài chính là một nhân tố rất quan trọng để khách
hàng tin tưởng vào khả năng của ngân hàng trong việc bảo toàn tài sản của khách
hàng khi ngân hàng gặp khó khăn. Do vậy ngân hàng cần có nguồn tài chính tốt để
cam kết rằng bất kỳ lúc nào khách hàng cũng có thể rút tiền nếu thấy cần thiết, từ
đó họ sẽ yên tâm và tin tưởng vào ngân hàng hơn.
     Thay vì chỉ tập trung ở các thành phố lớn và đô thị lớn, ngân hàng cần gấp rút
mở rộng hoạt động về các tỉnh, để từ đó tạo nên một hình ảnh quen thuộc trong
mắt khách hàng và người dân cả nước nói chung. Khi đã có một mạng lưới rộng
khắp thì tiếng tăm và uy tín của thương hiệu sẽ được đẩy cao lên rất nhiều.
     Đúng như ông Lý Xuân Hải, Tổng giám đốc Ngân hàng ACB nói: "Khi người
dân ra ngõ gặp ngân hàng và thấy ngay các dịch vụ họ cần, thì lúc đó chúng tôi mới
thành công".
                                               Theo Đầu tư ngày 13/10/2007




          “Soi” lại lợi nhuận quá cao của ngân hàng cổ phần
     Còn mấy tháng nữa, nhưng nhiều ngân hàng thương mại cổ phần công bố đã
đạt gần 85% đến trên 100% kế hoạch lợi nhuận năm.
     Nhưng mức lãi này có phản ánh đúng năng lực hoạt động dài hạn, khả năng
tăng trưởng bền vững, khả năng gia tăng giá trị cổ phiếu và yếu tố rủi ro của một số
ngân hàng không?
    Không thể phủ nhận mức độ tăng trưởng rất nhanh của các ngân hàng
thương mại cổ phần trong 9 tháng đầu năm. Ví như, so cùng kỳ năm trước, các
ngân hàng thương mại cổ phần ở Hà Nội đạt mức tăng tổng tài sản 50%, vốn huy
động 60,4 % và dư nợ tăng 42,5 %, trong khi đó mức tăng tương ứng của khối

82
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


ngân hàng thương mại nhà nước chỉ là 21,9%-27% và 24%. Các ngân hàng
thương mại cổ phần đều kinh doanh có lãi.
      Tuy nhiên lợi nhuận của một số ngân hàng có đến mức "chót vót" và cơ cấu
lãi có đảm bảo sự phát triển dài hạn không? Vẫn có một số vấn đề khiến người ta
phải đặt câu hỏi.
     Môi trường không thuận lợi
      Chín tháng đầu năm là một khoảng thời gian khó khăn cho hoạt động ngân
hàng. Thị trường chứng khoán sụt giảm kéo dài. Việc mở rộng tín dụng đối với nền
kinh tế khó khăn do điều kiện vay vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa được
cải thiện rõ rệt, các doanh nghiệp lớn ngày càng giảm sử dụng vốn vay ngân hàng,
tăng huy động từ thị trường chứng khoán. Cho vay lĩnh vực bất động sản vẫn hạn
chế vì thị trường tiếp tục trầm lắng...
     Bên cạnh đó, để ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng và kiềm chế lạm
phát, Ngân hàng Nhà Nước buộc các tổ chức tín dụng phải giảm tỉ lệ đầu tư, cho
vay kinh doanh chứng khoán về dưới mức 3%/tổng dư nợ và tăng tỉ lệ dự trữ bắt
buộc lên gấp đôi khiến chi phí vốn của các ngân hàng tăng lên.
      Từ tháng 6, nhiều ngân hàng đã dự đoán kết quả thu nhập của năm sẽ giảm
sút. Trái lại, mức lợi nhuận 9 tháng được một số ngân hàng thương mại cổ phần
công bố tăng một cách ngỡ ngàng.
      Phó tổng giám đốc một ngân hàng thương mại cổ phần trong top 5 ở Tp.HCM
nói: "Không hiểu một số ngân hàng làm gì mà lãi lớn thế? Chúng tôi xoay xở cật
lực, tỉ lệ sử dụng vốn để cho vay đến hơn 80% vốn huy động mà lợi nhuận cũng
chưa bằng nửa họ. Cổ đông cứ chất vấn sao quy mô vốn không thua mấy mà lợi
nhuận thì thấp thế?".
     Ngay cả một vị lãnh đạo cấp cao của Ngân hàng Nhà nước cũng phải quan
tâm tìm hiểu xem thực chất một số ngân hàng có lãi cao như công bố không?
     Chi phí cao
     Một số vị lãnh đạo của ngân hàng thương mại cổ phần giải thích lợi nhuận cao
là do năm 2007 các ngân hàng thương mại cổ phần phát triển nhanh về quy mô
hoạt động và mạng lưới, mở rộng tín dụng, đa dạng hoá các sản phẩm tăng thu
dịch vụ...
     Những lý do này tính thuyết phục chưa cao lắm vì: Thứ nhất, từ năm 2006 đến
nay, đa số các ngân hàng thương mại cổ phần tập trung vào mở rộng mạng lưới.
Riêng 8 ngân hàng thương mại cổ phần ở Hà Nội mở thêm 39 chi nhánh và hàng
trăm điểm giao dịch trên khắp toàn quốc.
     Chi phí để mở chi nhánh là rất lớn và hầu hết các chi nhánh mới mở năm đầu
lỗ hoặc hoà vốn, sau 2 năm hoạt động mới bắt đầu có lãi. Theo một vài nguồn tin
thì nhiều chi nhánh (kể cả mở đã lâu) của các ngân hàng thương mại cổ phần
Tp.HCM mở tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ không có lãi.


                                                                              83
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Thứ hai, thời gian qua, hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng thương
mại cổ phần nói riêng đều không phát triển mạnh được dịch vụ. Nhìn vào kết quả
thu nhập 8 tháng đầu năm của các ngân hàng thương mại cổ phần thì hầu hết tỉ
trọng thu dịch vụ (trừ góp vốn mua cổ phần) đều giảm, giảm nhất là thu kinh doanh
ngoại hối.
    Thứ ba, theo một lãnh đạo ngân hàng thì trong bối cảnh dư thừa vốn khả dụng
ngắn hạn, nhiều ngân hàng phải hạ lãi suất cho vay để giải ngân. Trong khi vốn huy
động vẫn phải trả lãi cao thì càng đẩy mạnh tín dụng càng có nguy cơ lỗ.
     Lãi do đầu tư và kinh doanh chứng khoán?
     Những chỉ tiêu công bố vừa qua của các ngân hàng chỉ bao gồm: Tổng tài
sản, vốn điều lệ, vốn huy động, dư nợ, lợi nhuận trước thuế. Nhìn vào đây, các nhà
đầu tư thấy chỉ tiêu nào cũng tăng trưởng rất cao, ROA, ROE rất "đẹp".
      Không ai biết được tỉ trọng lãi từ từng loại hoạt động của ngân hàng thế nào.
Như mọi người đều biết, ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian chủ yếu
hoạt động trên thị trường tiền tệ. Một cơ cấu thu nhập đảm bảo sự phát triển bền
vững của ngân hàng là thu nhập từ các hoạt động cốt lõi phải chiếm tỉ trọng lớn.
     Tuy nhiên, có vẻ như lãi của một số ngân hàng chủ yếu lại liên quan đến kinh
doanh chứng khoán. Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đã có các công ty con,
trong đó có công ty chứng khoán.
    Báo cáo do các ngân hàng này công bố là báo cáo tài chính hợp nhất của
ngân hàng mẹ và các công ty con. Lãi của các công ty chứng khoán có khi chiếm
đến một phần ba, thậm chí một nửa tổng lãi của một số ngân hàng.
     Bên cạnh đó, dư nợ cho vay, đầu tư để kinh doanh chứng khoán (những đối
tượng được đề cập đến trong Chỉ thị 03) cũng được tính vào hoạt động tín dụng
chung. Như vậy, ngay trong thu nhập từ hoạt động tín dụng của các ngân hàng
cũng có một phần liên quan đến chứng khoán.
       Chủ tịch hội đồng quản trị một ngân hàng thương mại Nhà nước nói: "Một số
ngân hàng thương mại cổ phần vừa qua có mức lãi cao là do họ bán chứng khoán
đầu tư, phát mãi tài sản thế chấp của một số khoản nợ đã sử dụng dự phòng để xử
lý rủi ro, thu được thặng dư vốn từ phát hành thêm cổ phần...".
     Phương pháp hạch toán có vấn đề?
     Cũng liên quan đến mức lãi công bố quá cao, một số chuyên gia am hiểu về
kế toán còn nghi ngờ về nguyên tắc ghi nhận và phương pháp hạch toán lãi - lỗ.
     Ông T. (Ngân hàng Nhà nước) nói: "Tôi nghĩ mức lợi nhuận cao của một vài
ngân hàng có thể còn do cách chế hạch toán nữa. Ngân hàng nào bây giờ cũng có
các phần mềm tự động (corebanking) để lập các báo cáo tài chính. Vì thực hiện
theo quy định hạch toán dự thu, dự chi nên những khoản nợ có dấu hiệu rủi ro
đáng lẽ ra phải chuyển sang các nhóm nợ phải trích lập dự phòng (làm tăng chi phí)
thì máy tự động xếp vào nhóm nợ đủ tiêu chuẩn và tự động tính lãi dự thu, đúng ra



84
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


lúc đó phải chuyển sang tính lãi thực thu. Nếu ngân hàng không tự giác thực hiện
kỷ luật kế toán thì không thiếu gì cách để tạo ra lãi."
      Cũng theo chuyên gia này, phải nhìn vào các dòng tiền vào (nhận) và ra (chi
trả) trong một thời kỳ nhất định từ các hoạt động của ngân hàng (báo cáo lưu
chuyển tiền tệ) thì mới biết chính xác mức lãi thực, nhưng đáng tiếc là báo cáo lưu
chuyển tiền tệ chỉ thực hiện cho năm tài chính kết thúc.
     Từ tháng 4/2007, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định
16/2007/QĐ-NHNN ban hành chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng
thay thế cho các chế độ đã ban hành trước đây. Theo đánh giá chung, chế độ báo
cáo tài chính mới phù hợp với chuẩn mực kế toán Việt Nam, các mẫu biểu hợp lý,
khoa học.
    Tuy nhiên để có số liệu đầu vào phản ánh chính xác tình hình tài chính và hoạt
động kinh doanh của ngân hàng thì một số văn bản có liên quan cũng cần được
sửa đổi, nhất là Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử
dụng dự phòng rủi ro tín dụng.
     Bên cạnh đó, tuy các ngân hàng đều có kiểm toán, nhưng Ngân hàng Nhà
nước cũng nên tiến hành phân tích báo cáo tài chính của một số ngân hàng có dấu
hiệu bất thường để kịp thời phát hiện ra những vấn đề cần chấn chỉnh, cảnh báo,
kể cả việc thẩm tra lại kết quả của các đơn vị kiểm toán.
                                              Theo Lao Động ngày 15/10/2007




        Ngân hàng chỉ được tham gia lập mới một ngân hàng
     Thủ tướng vừa có ý kiến về việc thành lập mới ngân hàng thương mại cổ
phần và ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
     Theo Công văn 5977/VPCP-KTTH ra ngày 18/10 của Văn phòng Chính phủ,
Thủ tướng nhấn mạnh việc phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
thời gian tới cần quán triệt định hướng phát triển các hệ thống tín dụng đã đựơc
xác định trong đề án phát triển ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020.
     Trong đó, các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước và ngân hàng thương
mại cổ phần chi phối của Nhà nước đóng vai trò chủ lực và đi đầu trong hệ thống
ngân hàng về quy mô họat động, năng lực tài chính, công nghệ quản lý và hiệu quả
kinh doanh.
     Các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước cùng các ngân hàng thương
mại cổ phần trong nước đóng vai trò nòng cốt trong hệ thống ngân hàng Việt Nam,
các tổ chức tín dụng nước ngoài và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác góp
phần phát triển hoàn chỉnh an toàn và hiệu quả của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
    Trước mắt, Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc cấp phép thành lập các ngân
hàng thương mại cổ phần cho những trường hợp hội đủ các điều kiện theo Quyết


                                                                                85
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

định số 24/2007 ngày 7/6/2007 ban hành quy chế cho phép thành lập ngân hàng
thương mại cổ phần.
     Những ngân hàng thương mại đang hoạt động hội đủ điều kiện theo Quyết
định số 24/2007 nếu tham gia thành lập ngân hàng mới thì chỉ được phép tham gia
thành lập một ngân hàng. Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước
(SCIC) không tham gia thành lập ngân hàng mà nên tập trung vào việc quản lý đối
với phần vốn Nhà nước giao cho SCIC làm đại diện chủ sở hữu tại các ngân hàng
thương mại và các doanh nghiệp.
     Thủ tướng cũng đồng ý cho Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo Việt được góp
vốn thành lập Ngân hàng Bảo Việt với tỷ lệ vượt 20% như đề nghị của Tập đoàn,
do đây là một tập đoàn kinh tế lớn của Nhà nước họat động trong lĩnh vực tài chính
bảo hiểm.
      Việc thành lập ngân hàng của Tập đoàn Dầu khí sẽ thực hiên theo các điều
kiện tham gia sở hữu vốn tối đa theo Quyết định 24/2007.
     Đối với các cổ đông khác, khi tham gia thành lập Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Công nghiệp Việt Nam cùng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)
và tham gia thành lập Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Châu Á cùng
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Viecombank) phải đảm bảo các điều kiện theo
Quyết định 24 và chỉ đạo của Thủ tướng tại Công văn 4572/VPCP-KTTH ngày
17/8/07 về phương án xử lý pháp nhân Ngân hàng Nam Đô.
     Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu sửa đổi bổ sung ngân
hàng nước ngoài, thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam theo
nguyên tắc ngân hàng nước ngoài nào có đủ điều kiện cấp phép theo quy định tại
Nghị định số 22/2006/NĐCP ngày 8/2/2006.
                                              Theo VNEconomy ngày 20/10/2007




        Ngân hàng Nhà nước tăng cường chào bán tín phiếu
     Ngân hàng Nhà nước đang tăng cường chào bán tín phiếu, rút tiền trong lưu
thông về để góp phần kiểm soát lạm phát.
    Ngày 30/10, Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, trong thời gian tới, Ngân hàng
Nhà nước sẽ tiếp tục đẩy mạnh chào bán tín phiếu qua nghiệp vụ thị trường mở.
      Đây là kế hoạch thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số
18/2007/CT-TTg ngày 1/8/2007 về một số biện pháp cấp bách kiềm chế tốc độ tăng
giá thị trường.
     Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước sẽ tăng cường khối lượng chào bán tín phiếu và
đa dạng hoá các kỳ hạn tín phiếu theo 28 ngày, 56 ngày, 84 ngày, 112 ngày, 140
ngày, 182 ngày và 364 ngày; trong đó các kỳ hạn 84 ngày, 182 ngày và 364 ngày
được chào bán trong tất cả các ngày làm việc.



86
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


     Lãi suất tín phiếu Ngân hàng Nhà nước ở các kỳ hạn thực hiện như sau: kỳ
hạn 28 ngày là 3,5%/năm, kỳ hạn 56 ngày là 4,75%/năm, kỳ hạn 84 ngày và kỳ hạn
112 ngày là 6,5%/năm, kỳ hạn 140 ngày là 6,75%/năm, kỳ hạn 182 ngày là
7,5%/năm và kỳ hạn 364 ngày là 7,75%/năm.
      Từ đầu tháng 8/2007, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã tăng cường
chào bán tín phiếu để thu hút tiền từ lưu thông về, góp phần kiểm soát lạm phát.
“Việc phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước qua nghiệp vụ thị trường mở đã
nhận được sự tham gia tích cực của các ngân hàng thương mại”, Vụ Chính sách
tiền tệ cho biết.
                                               Theo Nhân dân ngày 30/10/2007




III. ThuÕ - Tµi chÝnh c«ng
                   Định hướng thuế trong thời gian tới
      Mới đây, căn cứ chiến lược cải cách hệ thống thuế cũng như tình hình biến
động thị trường, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong nước, Bộ Tài chính vừa
hoàn thành báo cáo sơ bộ về những định hướng lớn về sửa đổi, bổ sung chính
sách thuế trong thời gian tới.
     Với mục tiêu vừa đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách Nhà nước vừa đảm
bảo môi trường sản xuất, kinh doanh được cạnh tranh lành mạnh và phù hợp với
thông lệ quốc tế, dự kiến định hướng sửa đổi, bổ sung chính sách thuế sẽ có 3 biểu
hiện quan trọng.
     Thứ nhất, sẽ giảm dần mức thuế suất một cách có chọn lọc và theo lộ trình.
Thứ hai, mở rộng diện chịu thuế để đảm bảo tính công bằng, trung lập của chính
sách thuế, có tính đến các yếu tố như thông lệ quốc tế, khả năng, điều kiện quản lý
của Việt Nam, khuyến khích khai thác, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài
nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường. Và thứ ba, khẩn trương ban hành những
sắc thuế mà so với thông lệ quốc tế thì Việt Nam chưa có như thuế tài sản, thuế
bảo vệ môi trường,...
     Đối với những sắc thuế hiện hành sẽ được sửa đổi, bổ sung theo hướng nâng
cao tính hiệu quả và nhất là tính trung lập của từng sắc thuế, đáp ứng được yêu
cầu của thực tiễn Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tính trung lập trong
mục tiêu cụ thể của từng sắc thuế sẽ quyết định tới chủ trương tăng, giảm, duy trì ở
mức nào của Nhà nước.
     Đơn cử, thuế giá trị gia tăng và thu nhập doanh nghiệp sẽ chủ yếu để đảm
bảo nguồn thu ngân sách và khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất, thuế xuất
nhập khẩu được sử dụng để bảo hộ sản xuất, khuyến khích cạnh tranh, các loại phí
và loại phí chủ yếu chỉ nhằm làm giảm gánh nặng ngân sách, nâng cao hiệu quả
hoạt động của các dịch vụ mang tính chất công cộng.



                                                                                 87
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Theo Bộ Tài chính, trong thời gian trước mắt đa số các sắc thuế sẽ ít có sự
thay đổi đáng kể, trừ thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, đây lại là sắc thuế nhận được
nhiều sự quan tâm vì nó ảnh hưởng rõ rệt tới nền sản xuất trong nước cũng như
định hướng tiêu dùng trong dân cư.
     Thời gian qua, một trong những mục tiêu chính của sắc thuế này là bảo hộ
hợp lý đối với những mặt hàng trong nước đã sản xuất được, có lợi thế phát triển
trong tương lai, đồng thời quy định mức thuế suất thấp đối với những mặt hàng là
nguyên liệu sản xuất, trong nước chưa sản xuất được để giảm chi phí đầu vào.
     Tuy nhiên, chính sách thuế này đang đứng trước yêu cầu thay đổi cơ bản sau
khi Việt Nam bắt đầu thực hiện sâu và rộng các cam kết WTO, CEPT/AFTA,
ASEAN- Trung Quốc,... và các cam kết khác trong tương lai. Trên thực tế, chính
sách thuế dự kiến đối với các ngành đã được xây dựng trên tinh thần giảm bảo hộ
nhưng có lộ trình.
     Cụ thể, ngoài những mặt hàng đã và sẽ thực hiện theo cam kết hội nhập, một
số mặt hàng Nhà nước còn có thể chủ đồng điều hành trong nước sẽ diễn biến như
sau:
     Đối với nhóm hàng công nghiệp, mặt hàng ô tô đã được giảm bảo hộ đáng kể
thông qua việc giảm thuế nhập khẩu và xóa bỏ ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt đối với
hàng sản xuất trong nước.
     Đến tháng 8/2007 mức thuế suất nhập khẩu xe nguyên chiếc giảm xuống là
70%, thuế tuyệt đối cho xe cũ giảm 20%. Đối với phụ tùng chuyển sang quy định
thuế suất theo từng linh kiện, nếu là loại trong nước đã sản xuất được là 20-30%,
còn lại từ 0-10%.
     Dự kiến của Bộ Tài chính sẽ tiếp tục giảm bảo hộ đối với xe nguyên chiếc cũ
và mới để các doanh nghiệp trong nước nâng cao tính cạnh tranh, thuế nhập khẩu
phụ tùng trong nước chưa sản xuất được cũng sẽ giảm mạnh, thuế tiêu thụ đặc biệt
sẽ được giảm để giá xe ở mức hợp lý vì mức thuế này đang chiếm tới 30% so với
giá bán và 63% trong tổng số thuế phải nộp đối với ôtô.
     Mặt hàng sắt thép được xác định là tổng công suất trong nước đã vượt nhu
cầu 2 triệu tấn/năm, nhiều loại hàng đã được đáp ứng hoàn toàn nhu cầu trong
nước. Dự kiến khi thị trường ổn định sẽ khôi phục lại mức thuế suất 5% với phôi
thép và 10% đối với thép thành phẩm, chỉ xem xét tăng thuế đối với một số loại thép
mạ trong nước đã đáp ứng nhu cầu, giá cả hợp lý, nhưng mức tăng không vượt
quá 15%. Tương tự, xăng dầu được coi là đầu vào thiết yếu của nền kinh tế, chịu
nhiều sự biến động của thị trường.
     Hiện các nước ASEAN đang đề nghị Việt Nam đưa mặt hàng xăng vào diện
cắt giảm thuế và nếu việc đàm phán theo hướng này hoàn tất thì số thu từ thuế
nhập khẩu xăng sẽ giảm lớn khi 60% lượng xăng nhập khẩu là từ Singapore. Vì
vậy, ngành tài chính đang nghiên cứu phương án tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với
xăng.


88
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


      Đối với nhóm hàng tiêu dùng có 2 dự kiến thay đổi liên quan đến 2 nhóm hàng
tác động lớn đến người tiêu dùng là sữa và đường. Về sữa, hiện nhu cầu, khả năng
chế biến sữa ở Việt Nam tương đối phát triển nhưng nguồn cung cấp nguyên liệu
sữa trong nước còn yếu, mới đáp ứng 10-20% nhu cầu. Hiện mức thuế sữa nguyên
liệu là 10-20%, sữa thành phẩm là 30-50%.
     Để góp phần đảm bảo cho đa số người tiêu dùng được hưởng giá sữa hợp lý,
thời gian tới dự kiến sẽ điều chỉnh thuế nhập khẩu sữa nguyên liệu xuống mức 7-
10%, sữa thành phẩm xuống còn 20-30%.
      Mặt hàng đường được nhận định là được bảo hộ cao trong suốt hơn 10 năm
qua, khi ngoài việc quy định thuế cao (40%) thì mặt hàng này có thời gian còn được
Nhà nước áp dụng các biện pháp cấm nhập hoặc nay chuyển sang biện pháp hạn
ngạch thuế quan, lượng đường nhập khẩu ngoài hạn ngạch này chịu mức thuế suất
tới 100%.
      Điều này đã dẫn tới khả năng cạnh tranh của ngành chế biến đường trong
nước còn yếu, giá cao hơn 20-30% so với đường nhập khẩu trong khi đường lại là
nguyên liệu đầu vào của ngành chế biến thực phẩm. Chính vì vậy, trong thời gian
tới sẽ có một lộ trình quyết liệt trong việc giảm bảo hộ đối với mặt hàng đường để
tạo sức ép cho doanh nghiệp hạ chi phí đầu vào, nâng cao tính cạnh tranh.
                                              Theo Lao động ngày 01/10/2007




             Có tận thu thuế từ kinh doanh chứng khoán?
      Bỏ qua khá nhiều ý kiến phản đối, Bộ Tài chính vẫn giữ nguyên quan điểm đề
nghị mức thuế 25% từ kinh doanh chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân theo dự
thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân.
    Nếu điều đó đi vào thực hiện thì hơn 200.000 nhà đầu tư và thị trường chứng
khoán sẽ chịu những tác động không nhỏ...
     Có nên tận thu?
    Theo Bộ Tài chính, các nhà đầu tư thu được lợi nhuận từ kinh doanh chứng
khoán thì phải đóng thuế là lẽ đương nhiên. Bộ này cũng khẳng định thuế này
không đánh trùng với thuế thu nhập doanh nghiệp vì hai chủ thể nộp thuế khác
nhau.
     Tuy nhiên, nhiều chuyên gia tài chính và nhà đầu tư lại không tranh cãi về
những vấn đề trên mà họ phản ứng trước việc thuế suất 25% là quá cao và nhất là
cách tính thuế.
     Ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính (VAFI),
cho rằng phương pháp tính để thu thuế thu nhập từ chứng khoán còn nhiều điều
cần phải làm sáng tỏ. Điều mà nhiều người quan tâm nhất là Bộ Tài chính “quên”
chi phí mua bán chứng khoán để tính thuế .



                                                                               89
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Giống như bao ngành nghề khác, nhà đầu tư không chỉ cứ việc lên sàn mua
xong rồi bán kiếm lời mà họ còn phải chịu rất nhiều chi phí như thông tin, môi giới,
lãi ngân hàng...
    “Bởi vậy nếu đánh thuế chỉ đơn giản là lấy giá bán trừ giá mua tính lợi tức rồi
đánh thuế thì hoàn toàn không ổn” như nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Quang Hưng.
     Nhà phân tích chứng khoán Vũ Hải Nam cho rằng: “Thu thuế là điều phải làm
nhưng thu như thế nào, mức bao nhiêu thì Nhà nước cần cân nhắc vì chúng ta đã
có nhiều bài học tận thu dẫn đến cạn kiệt nguồn thu rồi. Theo tôi thu ở mức dưới
10% là chấp nhận được”.
     VAFI từng tỏ rõ ý kiến: “Nếu áp đặt thuế cao thì thị trường chứng khoán sẽ rất
khó phát triển, DN khó thu hút vốn từ công chúng và các khoản thuế từ khu vực
doanh nghiệp sẽ không tăng nhanh, nhà đầu tư thua lỗ”.
     Nhà đầu tư Trần Tâm Chính (sàn SBS - Tp.HCM) đặt câu hỏi: “Tại sao không
tính đến những lúc thị trường trầm lắng 4 - 5 tháng như vừa qua và chúng tôi lỗ
chỏng gọng? Đầu tư nhà đất lời gấp 2 - 3 lần có thấy ai đả động đến chuyện thuế
má như chứng khoán đâu?”.
    Chuyên gia chứng khoán Bùi Ngọc Tước dẫn chứng: “Các nước trong khu
vực châu Á như Singapore, Thái Lan, Hồng Kông... không đánh thuế chuyển
nhượng chứng khoán, thị trường lớn như Trung Quốc cũng chỉ thu rất thấp vì vậy
Bộ Tài chính cần xem lại mức thuế 25%”.
     Bỏ tôm bắt tép
    Thứ trưởng Bộ Tài chính Trương Chí Trung từng cho rằng thuế sẽ thu từ các
công ty chứng khoán căn cứ vào những giao dịch tại đó và khấu trừ tại nguồn.
Nhưng ông Hải đặt câu hỏi: “Vậy thị trường phi tập trung (OTC) thì sao?”.
      Có vẻ như sau nhiều lần thăm dò, lấy ý kiến, thảo luận thì Bộ Tài chính vẫn
chưa tìm ra lời giải cho thị trường OTC. Với hơn 1.300 loại cổ phiếu đang giao dịch
trên thị trường OTC thì thu thuế ở thị trường niêm yết với chưa đầy 300 loại chứng
khoán không khác gì “bỏ tôm bắt tép”!
       Tổng giám đốc một quỹ đầu tư chứng khoán băn khoăn: “Tôi có cảm giác như
những người soạn thảo dự luật chỉ nhìn vào thời điểm thị trường chứng khoán sôi
động và chỉ nghĩ đến chuyện lời của nhà đầu tư. Đành rằng trong cơn sốt nhiều nhà
đầu tư lời lớn và phải điều tiết lợi nhuận nhưng đó không phản ánh hết được thực
tế thị trường, nơi có rất nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ”.
      Nhưng thất vọng nhất vẫn là các nhà đầu tư, những người luôn hy vọng qua
các lần góp ý kiến, hội thảo thì Bộ Tài chính sẽ cân nhắc.
      Nhà đầu tư Lê Minh Nam (sàn SSI - Tp.HCM) bức xúc: “Chúng tôi chấp nhận
nộp thuế nhưng đòi hỏi công bằng, hợp lý và cần phải tính đến những rủi ro chúng
tôi phải chịu trong môi trường kinh doanh này”.
     Ông Dominic Scriven Tổng giám đốc Dragon Capital cũng thừa nhận không
chỉ ở Việt Nam mà các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới thì rủi ro luôn chực

90
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


chờ các nhà đầu tư và ông đề nghị nên xem đây là một đặc thù khi tính thuế kinh
doanh chứng khoán.
      Không chỉ vậy, nhiều nhà đầu tư còn lo ngại thị trường vừa hồi phục sẽ nguội
lạnh trở lại nếu Luật thuế trên sẽ được thông qua.
     Chuyên gia chứng khoán Huy Nam nói cần có lộ trình và cách thu thuế thích
hợp hơn vì “thu ít mà thu được nhiều sẽ giúp thị trường chứng khoán phát triển tốt
hơn là tìm cách tăng thu thật nhiều, nhanh như dự thảo đề cập”.
     * Bộ Tài chính: Mức thu trên là thấp nhất trong các nước đang áp dụng
     Một quan chức Bộ Tài chính phụ trách ban soạn thảo Dự Luật Thuế thu nhập
cá nhân đã đưa ra lý lẽ:
     Đối với thị trường chứng khoán các nước đều khuyến khích nên đánh thuế
cao đối với các nhà đầu tư ngắn hạn, thấp đối với nhà đầu tư dài hạn cho nên ban
soạn thảo cũng theo quan điểm này. Chính sách thuế không cản trở nhà đầu tư
chuyên nghiệp.
     Mức 25% có thể dành cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp, vốn lớn, các quỹ
đầu tư và công ty chứng khoán. Còn mức thu 0,1% sẽ phù hợp với người nước
ngoài không cư trú và người Việt Nam đầu tư ngắn hạn”.
    Cụ thể hơn, ông phân tích: Đối với những nhà đầu tư cá nhân ít có tính
chuyên nghiệp và không xác định chuyên nghiệp, họ có thể chọn phương pháp thu
0,1% trên giá chuyển nhượng, bất kể lỗ lãi.
     Mức thu trên không phải là lạc lõng vì nó đã được ban soạn thảo tính toán và
so sánh với mức thu trên phí chuyển nhượng thường được tính từ 0,1% - 0,5% của
các nước trên thế giới.
     Dự thu 0,1% của Việt Nam đã là mức thấp nhất các nước đang áp dụng.
      Ông cũng giải thích thêm về mức thuế 25% rằng nó chỉ được tính khi nhà đầu
tư đã tính toán chi ly tất cả từ chi phí giá vốn, phí tư vấn, rồi căn cứ trên thực lãi thu
được mới phải nộp 25% đi kèm theo điều kiện lỗ của năm trước được phân bổ cho
tới 5 năm sau (dựa trên điều kiện có sổ sách kế toán rõ ràng).
     Mức thuế này sẽ không cản trở sự phát triển của thị trường bởi nó tương ứng
với mức thu của thị trường chứng khoán các nước trong khu vực, phù hợp với
thông lệ quốc tế.
                                                  Theo Tiền Phong ngày 09/10/2007




IV. Tµi chÝnh doanh nghiÖp
          Lần đầu tiên có cơ chế xử lý khủng hoảng tín dụng
     Với đề án tiếp nhận xử lý tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đang được Bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV) xây dựng, lần đầu tiên Việt Nam có một cơ chế tiếp
nhận và xử lý đồng bộ các ngân hàng khi khủng hoảng và đổ vỡ.


                                                                                       91
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Như vậy, kể từ nay các tổ chức tín dụng khi gặp sự cố, có nguy cơ dẫn đến đổ
vỡ sẽ được tiếp nhận và xử lý theo một quy trình bài bản, hạn chế hậu quả ở mức
thấp nhất và bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền.
      Theo lãnh đạo DIV, đề án này sẽ xây dựng một cơ chế chính thức trong việc
tiếp nhận xử lý các tổ chức gặp vấn đề trong hoạt động và dẫn đến đổ vỡ. Sau hội
thảo lấy ý kiến các bộ ngành, cuối tuần qua, DIV đã tổ chức họp báo về hai đề án
quan trọng: "Tính phí trên cơ sở rủi ro" và "Tiếp nhận và xử lý các tổ chức tín dụng
gặp đổ vỡ".
      Theo ông Bùi Khắc Sơn - Tổng giám đốc DIV, hiện nay, Việt Nam chưa có môi
trường pháp lý cho việc giải quyết phá sản, giải thể phù hợp với đặc thù của hoạt
động tiền tệ và ngân hàng, chưa có tổ chức đầu mối chịu trách nhiệm trong xử lý và
thiếu một cơ chế phối hợp để xử lý khủng hoảng.
      Đề án này sẽ giải quyết các tồn tại hiện nay trong việc xử lý các tổ chức đổ vỡ
dựa trên nguyên tắc thị trường và chi phí tối thiểu, hạn chế sử dụng ngân sách để
giải quyết các tổ chức tài chính yếu kém. Tuy nhiên, ông Sơn cũng nhấn mạnh tới
sự cần thiết phải có sự can thiệp sớm của cơ quan giám sát và tổ chức bảo hiểm
tiền gửi dựa trên các hoạt động giám sát và cảnh báo sớm để việc xử lý triệt để và
không lây lan.
      Theo dự thảo đề án được công bố, sẽ có 7 kịch bản xảy ra sự cố và mỗi kịch
bản sự cố sẽ có những biện pháp xử lý một cách phù hợp và bài bản theo nguyên
tắc thị trường, chi phí thấp nhất, thời gian nhanh nhất, thu hồi được tài sản cao
nhất, có hiệu quả và chia sẻ được rủi ro.
     Thứ nhất là khi tổ chức tài chính tham gia bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn đột
xuất và tạm thời mất khả năng chi trả.
     Thứ hai, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi mất khả năng thanh toán, đứng
trước nguy cơ đổ vỡ nhưng đã xây dựng được kế hoạch khả thi để tự phục hồi và
đã được phê duyệt.
    Thứ ba, tổ chức mất khả năng thanh toán, không thể tồn tại và đã có một tổ
chức tài chính lành mạnh đồng ý tiếp nhận.
      Thứ tư, tổ chức tín dụng nhỏ tự thỏa thuận với nhau trong việc hợp nhất để
tạo thành tổ chức có quy mô lớn và khả năng cạnh tranh hơn.
    Thứ năm, tổ chức tín dụng nhỏ phải hợp nhất theo chỉ định của cơ quan có
thẩm quyền.
      Thứ sáu, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi mất khả năng thanh toán, không
thể tồn tại và không có tổ chức nào đồng ý tiếp nhận,
     Thứ bảy, khủng hoảng hệ thống với các tình huống hoảng loạn rút tiền quy
mô lớn, sụp đổ tổ chức quá lớn, sụp đổ hàng loạt có tính dây chuyền.
      Cùng với đề án tiếp nhận xử lý, DIV cũng đang xây dựng đề án hệ thống phí
trên cơ sở rủi ro của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. Mức phí sẽ cao hơn đối


92
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


với những tổ chức được đánh giá có nhiều rủi ro và ngược lại là thấp hơn đối với tổ
chức hoạt động an toàn.
     Điều này sẽ buộc các ngân hàng đứng trước lựa chọn nếu chấp nhận rủi ro và
nguy cơ thiệt hại cao thì phải chấp nhận nộp phí cao và ngược lại.
                                               Theo Vietnamnet ngày 23/10/2007



V. Chøng kho¸n
            Thị trường chứng khoán đang cần nhạc trưởng
     Tiền ngoại, cũng như tiền nội, đang chờ thời cơ đổ vào chứng khoán. Chỉ có
điểm khác là lần này, trước khi đổ bộ, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đòi hỏi một
cơ sở hạ tầng tài chính tốt hơn để hấp thụ nó.
      Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn là một đứa trẻ chập chững bước
đi. Song, tổng giá trị niêm yết và vốn hóa của thị trường đang tăng nhanh chóng. Và
giống như những thị trường mới nổi khác, chỉ số VN-Index đang có những biến
động mạnh - ông Ayumi Konishi, Trưởng đại diện thường trú của Ngân hàng Phát
triển châu Á (ADB) tại Hà Nội, phát biểu trong hội nghị các nhà đầu tư nước ngoài
do VinaCapital tổ chức tuần trước ở Tp.HCM.
     Tiền ngoại, cũng như tiền nội, đang chờ thời cơ đổ vào chứng khoán. Chỉ có
điểm khác là lần này, trước khi đổ bộ, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đòi hỏi một
cơ sở hạ tầng tài chính tốt hơn để hấp thụ nó.
      Mặc dù không có thông tin chính thức nào từ phía Chính phủ Việt Nam về việc
trì hoãn IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu tiên) các doanh nghiệp lớn, nhưng giới
đầu tư nước ngoài vẫn cho rằng IPO đang chậm lại do tiến độ cổ phần hóa các
ngân hàng quốc doanh, các doanh nghiệp lớn không diễn ra như lộ trình công bố
hồi đầu năm.
      Thậm chí giám đốc một quỹ đầu tư nước ngoài nói thẳng chỉ có Vietcombank
kịp IPO trong năm nay và đó là một sự chậm trễ không cần thiết. Trên diễn đàn hội
nghị của VinaCapital, ông Ayumi Konishi nhấn mạnh trì hoãn các đợt IPO sẽ làm
mất đi động lực đi tới của thị trường chứng khoán và động lực cải cách nền kinh tế
một cách mạnh mẽ hơn.
     “Thị trường chứng khoán Việt Nam đang cần một nhạc trưởng giữ nhịp điệu
và luật chơi. Chính nhạc trưởng sẽ đẩy nhanh hơn nữa quá trình minh bạch hóa,
đặc biệt minh bạch hóa thông tin vốn đang rất thiếu”, ông Konishi nhấn mạnh.
      Nhạc trưởng của thị trường hiện nay, không ai khác, chính là Nhà nước! Ở
nhiều khía cạnh, Nhà nước đang thể hiện vai trò của mình. Tuy nhiên, sự thể hiện
đó đã đủ liều, đủ lượng, thích hợp với các bước chuyển động của thị trường chưa
thì còn là câu hỏi để ngỏ.
     Ông Kelvin Lee, Tổng giám đốc VinaSecurities, nhìn dưới góc độ cổ phần hóa:
“Hệ thống định giá và đấu giá hiện tại có thể làm biến dạng giá trị doanh nghiệp. Sự
pha loãng vốn cổ phần quá mức đang diễn ra ở nhiều công ty. Phát hành cổ phiếu,

                                                                                 93
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

huy động vốn phải làm sao có lợi cho cổ đông, cho sự phát triển doanh nghiệp, chứ
không phải thu một cục tiền rồi muốn làm gì thì làm”.
      Việc phát hành cổ phiếu cũng phải tuân thủ chuẩn mực quốc tế nếu các công
ty Việt Nam muốn tham gia niêm yết trên thị trường nước ngoài. Hoàn thiện các quy
định, thay đổi phương thức đấu giá cổ phiếu, người chủ trì hiện nay không ai khác
là Nhà nước!
      Ở một khía cạnh khác, ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng giám đốc Techcombank,
ngân hàng có khả năng đạt lợi nhuận trước thuế năm 2007 hơn 800 tỉ đồng
(khoảng 50 triệu đô la Mỹ), chỉ ra rằng đang có một cuộc cạnh tranh khó kiểm soát
có thể làm tổn thương thị trường.
      Nguyên do, theo ông, là trào lưu các công ty chuyển mạnh sang đầu tư vào
các lĩnh vực không phải thế mạnh của họ. Không ít doanh nghiệp, thay vì tập trung
kinh doanh các lĩnh vực truyền thống, đã quay sang đầu tư vào bất động sản, ngân
hàng, chứng khoán. Các ngân hàng bây giờ không chỉ cạnh tranh với nhau, với
ngân hàng nước ngoài, mà cả với những ngân hàng mới sắp thành lập, những
công ty bỏ vốn lớn vào các ngân hàng... Điều chỉnh chất lượng, số lượng hoạt động
ngân hàng bằng các quy định chặt chẽ, người cầm chịch là Nhà nước!
     Ông Charly Madan, Tổng giám đốc Citibank Vietnam, đưa ra một nhận xét gây
chú ý: “Chúng ta đang chứng kiến sự cứng cỏi, dẻo dai của nền kinh tế Việt Nam.
Nền kinh tế này chưa bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tín dụng xấu (subprime)
tại Mỹ”.
     Song, ông cũng cảnh báo rằng sự tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng
Việt Nam đang ở mức nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Sự “đi nhanh” đó liệu có
gắn với chất lượng hoàn hảo? Việc công bố các khoản nợ của ngân hàng Việt Nam
thường trễ và độ chính xác cũng có xê dịch. Điều đáng nói chính là độ trễ của các
quy định liên quan đến điều hành thị trường tài chính. Việt Nam đang chạy theo tình
huống, tình huống xảy ra rồi mới có các quy định điều chỉnh.
     Ở đây, một lần nữa, vai trò ban hành các quy định và điều hành thị trường kịp thời
thuộc về Nhà nước. Cụ thể là các cơ quan trực tiếp quản lý thị trường tài chính.
     Không nghi ngờ dòng vốn đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục chảy vào Việt Nam,
đặc biệt thị trường tài chính đang và sẽ chứng kiến sự nổi lên nhanh, mạnh của
dịch vụ ngân hàng đầu tư (investment banking). Sẽ không chỉ có các quỹ đầu tư,
công ty quản lý quỹ nhận vốn ủy thác từ nước ngoài, từ nội địa, mà cả các ngân
hàng, bắt đầu từ nhà băng nước ngoài, rồi đây sẽ triển khai dịch vụ đầu tư cho
khách hàng trong nước. Khung pháp lý cho dịch vụ ngân hàng đầu tư ở Việt Nam
hầu như chưa có và thị trường lại đang đi trước khi mà trong vòng 12 tháng trở lại
đây, “investment banking” đang trở thành thuật ngữ được giới đầu tư sử dụng
thường xuyên.
      Vốn đầu tư đang bám sát sự phát triển của nền kinh tế. Số liệu của ADB cho
thấy tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư (cả nội lẫn ngoại) của Việt Nam đang được duy
trì ở mức cao, 30-40%/năm, chỉ đứng sau Trung Quốc. Vấn đề còn lại là hạ tầng,

94
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


bao gồm hạ tầng pháp lý và thị trường (hàng hóa cho thị trường niêm yết, tính
thanh khoản của chứng khoán, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp) để hấp thụ
nguồn vốn đó.
     Lúc này, hơn bao giờ hết, vai trò nhạc trưởng của Nhà nước cần xuất hiện nổi trội.
                                            Theo TBKTSG ngày 11/10/2007




               Cổ phiếu ngân hàng “vớt” giá khi lên sàn?
    Trong số các chứng khoán niêm yết tái tăng giá, cổ phiếu của 2 ngân hàng
ACB và STB cũng nhanh chóng phục hồi trở lại sau một thời gian dài "ngủ đông".
     Thị trường chứng khoán hồi phục mạnh mẽ trong những ngày cuối tháng 9 và
đầu tháng 10, thu hút lượng tiền lớn của nhà đầu tư đổ vào chứng khoán, với khối
lượng giao dịch đạt mức bình quân trên 1.500 tỉ đồng trong những phiên đầu tháng 10.
      Thế nhưng, trên thị trường OTC, giá cổ phiếu ngân hàng vẫn "bình chân như
vại", khi tăng chậm so với các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán nói
chung và giá 2 cổ phiếu ngân hàng: Ngân hàng Á Châu (ACB), Ngân hàng Sài Gòn
Thương Tín (Sacombank) nói riêng. Cụ thể: cổ phiếu Ngân hàng An Bình (ABBank)
vẫn đứng ở mức trên dưới 400.000 đồng/cổ phiếu (mệnh giá 100.000 đồng);
Sounthern Bank vẫn đứng ở ngưỡng 38.000 - 40.000 đồng/cổ phiếu (mệnh giá
10.000 đồng)...
    Duy chỉ có cổ phiếu của Ngân hàng Xuất nhập khẩu (Eximbank), Ngân hàng
Ngoài quốc doanh (VP Bank), Ngân hàng Nhà Hà Nội (Habubank) phục hồi nhẹ
khoảng 10 - 20% so với tháng trước.
     Theo đánh giá của ông Đinh Như Đức Thiện, Trưởng phòng Phân tích Công
ty Chứng khoán Gia Quyền (EPS), sở dĩ giá cổ phiếu ngân hàng trên sàn OTC tăng
chậm do tính thanh khoản của hầu hết các cổ phiếu chưa niêm yết đang yếu dần.
     Tuy nhiên, ông Thiện cũng thừa nhận, so với các ngành nghề khác ngân hàng
vẫn là lĩnh vực phát triển tốt, an toàn và còn nhiều tiềm năng để khai thác. Đặc biệt,
kết quả của các ngân hàng thu về trong thời gian gần đây cho thấy, tài chính vẫn là
ngành thu lại nguồn lợi cao.
     Giám đốc một quỹ đầu tư nước ngoài thì cho rằng, giá cổ phiếu ngân hàng
giao dịch trên sàn OTC đang mất dần tính thanh khoản một phần do nhà đầu tư
đang dành vốn để tham gia IPO của Vietcombank. Sức hút IPO của Vietcombank
đang làm cổ phiếu ngân hàng mất tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư.
      Theo ông này, nhiều khả năng giá cổ phiếu ngân hàng sẽ được tái lập mặt
bằng giá mới sau khi IPO của Vietcombank kết thúc. Tuy nhiên, điều đó không có
nghĩa tất cả cổ phiếu của các ngân hàng đều tăng giá trở lại mà còn tuỳ thuộc vào
tiềm lực, chiến lược cũng như quy mô phát triển của từng nhà băng.
    Trong một thông báo phát đi cho các cổ đông vào đầu tháng 10, Ngân hàng
Quốc tế (VIB Bank) đã thông báo việc chuẩn bị niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng

                                                                                     95
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

khoán Tp.HCM vào cuối năm nay, đồng thời hoàn tất việc bán cổ phần cho nhà đầu
tư chiến lược nước ngoài.
    VIB Bank đã định niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán Hà Nội vào cuối
năm 2006, nhằm chạy đua hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các
công ty niêm yết trước ngày 1/1/2007. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan VIB
Bank đã hoãn kế hoạch niêm yết và đến nay bắt đầu rậm rịch lên sàn.
      "Việc xây dựng kế hoạch lên sàn của chúng tôi một phần cũng vì mục tiêu
nâng cao tính thanh khoản của cổ phiếu", một cán bộ VIB Bank cho biết. Hiện VIB
Bank đã trở thành công ty đại chúng, với tổng tài sản đạt trên 23.000 tỉ đồng; vốn
điều lệ 1.500 tỉ đồng.
     Bên cạnh VIB Bank, hiện một số ngân hàng khác cũng có ý định đưa cổ phiếu
lên sàn chứng khoán. Theo kế hoạch của Ngân hàng Đông Á (DongA Bank), sau
khi cổ phần hóa các công ty con trực thuộc dự kiến sẽ được thực hiện trong năm
nay hoặc đầu năm tới, ngân hàng bắt đầu tính đến phương án lên sàn...
                                               Theo Lao Động ngày 15/10/2007




     Giao dịch chứng khoán: “Vi phạm nhiều, sẽ rút giấy phép”
    Ông Nguyễn Đoan Hùng, Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán cho rằng nên có
mức phạt nặng hơn đối với những vi phạm của đại diện công ty chứng khoán.
     Thời gian gần đây, nếu theo dõi thị trường chứng khoán Việt Nam thì có lẽ
nhiều người phải giật mình vì sự gia tăng liên tiếp của những vi phạm trong giao
dịch, mà vi phạm chủ yếu lại từ đại diện của các công ty chứng khoán. Ủy ban
Chứng khoán và các trung tâm giao dịch cũng đã có những quyết định cảnh cáo và
đình chỉ tư cách đại diện của các công ty chứng khoán vi phạm, nhưng liệu những
biện pháp này có tạo ra được sức ép đáng kể đối với vi phạm hay không?
     Hiện nay hệ thống giao dịch của chúng ta đang trong tình trạng “thắt cổ chai”,
nên xảy ra tình trạng trong phiên khớp lệnh bị tắc nghẽn, và theo tôi có thể xảy ra
có sơ suất chứ không phải cố ý.
      Nhưng cũng không loại trừ những lỗi do cố ý. Vì vậy, việc xử phạt hiện nay
đang làm là đúng. Tuy nhiên với mức xử phạt hiện nay, tôi cho rằng ngoài việc
không cho họ tiếp tục làm đại diện tại sàn, nên có những mức độ cao hơn như là
rút giấy phép hành nghề.
      Về vấn đề này, hiện Uỷ ban Chứng khoán đang kiện toàn dần và phải làm một
cách tổng lực. Bản thân các công ty chứng khoán cũng phải tốt hơn, kiểm soát nội
bộ, tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, và giám sát chặt chẽ hơn trong
quản trị công ty.
     Có ý kiến băn khoăn rằng, các công ty chứng khoán có chức năng tự doanh,
nghĩa là được mua bán chứng khoán giống như những nhà đầu tư khác, nhưng các
công ty chứng khoán lại có trong tay những công cụ lợi thế hơn hẳn các nhà đầu tư


96
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


thông thường, nên chẳng khó hiểu khi họ muốn vi phạm, ví dụ như đặt lệnh của
mình trước lệnh của nhà đầu tư khác, trong khi mức phạt cũng chỉ 10-20 triệu đồng.
Ông nghĩ sao về điều này?
     Hiện nay theo quy chế quy định thì các công ty chứng khoán không được làm
như vậy, đây là vấn đề tối kị với các công ty chứng khoán. Theo quy định, các lệnh
của khách hàng phải được ưu tiên thực hiện trước. Khi phát hiện ra các vi phạm đó
thì Sở Giao dịch Chứng khoán và Trung tâm Giao dịch Chứng khoán sẽ có biện
pháp xử lý với họ.
      Và tất nhiên theo tôi hiện tượng này phải được xử lý dứt điểm để không tái
diễn. Trong thời gian vừa qua, Sở Giao dịch Chứng khoán hay Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán đã liên tục phát hiện ra những trường hợp chèn lệnh như vậy, và mỗi
lần xảy ra tình trạng đó thì đều có các biện pháp xử lý kịp thời.
      Trước đây Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có công bố là sẽ xử lý nghiêm
khắc vi phạm, vậy với những quyết định xử phạt như trong thời gian qua, liệu có thể
coi là đã nghiêm khắc chưa, thưa ông?
      Hiện nay mức phạt nằm trong khung từ 5 triệu đến 70 triệu đồng. Tất nhiên,
tùy theo hành vi vi phạm mà chúng tôi xử phạt theo thứ tự từ thấp đến cao, nghiêm
trọng thì có thể xử lý đến 70 triệu đồng, mức vừa phải thì phạt từ 10-20 triệu như đã
từng làm.
     So với thông lệ quốc tế, mức phạt như hiện nay còn tương đối nhỏ. Ngay cả
khi chúng tôi soạn thảo dự thảo Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong giao
dịch chứng khoán, thì mức phạt cao nhất mà chúng tôi đề xuất là lên đến 280 triệu
đồng. Nhưng ở đây, vẫn còn vướng mắc về mặt pháp lý nên hiện vẫn duy trì mức
phạt cao nhất là 70 triệu đồng.
     Vướng mắc hiện nay đối với chế tài xử phạt vi phạm trong giao dịch chứng
khoán là gì? Sau liệu pháp xử phạt hành chính, thì Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
còn biện pháp nào hiệu quả hơn trong xử lý vi phạm, thưa ông?
     Hiện nay chúng tôi cũng đề xuất với Chính phủ và các bộ, ngành là cần thiết
phải xem xét chỉnh sửa lại Pháp lệnh về xử phạt vi phạm hành chính. Qua đó,
chúng tôi mới có thể chỉnh sửa lại các quy định trong Nghị định về xử phạt vi phạm
trong giao dịch chứng khoán. Và theo đề xuất của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
thì mức xử phạt cao nhất có thể lên tới 500 triệu đồng.
                                           Theo VnEconomy ngày 19/10/2007




                                                                                  97
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

                              Dòng tiền thay đổi
     Từ cuối tháng 8 đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam (tính chung cả hai sàn)
đã tăng trưởng khoảng 25%. Thị trường lên, tiền lại đổ vào với những thay đổi mới.
     Ngay cả những nhà đầu tư lạc quan cũng không thể dự báo một tốc độ tăng
trưởng ngoạn mục đến vậy trong một thời gian chưa đầy 60 ngày, khi mà trong
tháng 8 đã có ngày VN-Index tụt xuống dưới 900 điểm. Thị trường lên, tiền lại đổ
vào chứng khoán, nhưng lần này đường đi của dòng tiền có vẻ đang khác trước.
     Tiền Đông Âu
     Ngân hàng Nhà nước khẳng định tiền cho vay đầu tư chứng khoán tuy có
tăng, nhưng không đáng kể. Nguồn tiền này chủ yếu từ các ngân hàng quốc doanh,
nơi có tỷ lệ dư nợ cho vay chứng khoán chưa tới 3% tổng dư nợ.
    Tuy nhiên, cuộc khảo sát từ các ngân hàng nhà nước cho thấy họ không mặn
mà cho vay chứng khoán bởi đây là những khoản tài trợ nhỏ, mang tính cá nhân,
không thể so sánh với những khoản vay mang tính bán buôn dành cho dự án,
doanh nghiệp.
     Mặt khác, để tránh rủi ro, các ngân hàng quốc doanh chỉ cho vay chứng khoán
với mức gấp 1,5 - 2 lần mệnh giá cổ phiếu, nên số tiền khách hàng vay được cũng
không nhiều. Một số công ty chứng khoán kết hợp với ngân hàng quốc doanh, thực
hiện repo cổ phiếu (mua bán cổ phiếu có kỳ hạn), nhưng lãi suất khá cao, từ 1,1 -
1,2%/tháng. Lãi suất cao này là rào cản đáng kể đối với nhà đầu tư.
      Trong khi đó Thanh tra Ngân hàng Nhà nước tháng nào cũng có các đợt kiểm
tra ráo riết dư nợ cho vay chứng khoán ở các ngân hàng cổ phần. Những ngân
hàng có dư nợ tài trợ chứng khoán trên 3% đều bị đốc thúc giảm xuống một cách
nhanh nhất và kết quả là dư nợ cầm cố cổ phiếu tại đây đã giảm một nửa.
     Một ngân hàng cổ phần cho biết ngay cả những khoản khách hàng vay góp
vốn thành lập công ty cũng được xếp vào đầu tư cổ phiếu và bị thanh tra loại ra.
    Tiền “bơm” vào chứng khoán, như vậy, đã không chảy mạnh từ kênh ngân
hàng. Giới ngân hàng cho rằng hỗ trợ chứng khoán có sự góp sức của kiều hối
chuyển về Việt Nam bắt đầu gia tăng trong quí 4 hàng năm.
      Bên cạnh đó, tiền từ kinh doanh vàng cũng chảy về chứng khoán khi không ít
nhà đầu cơ vàng đã thu được lợi nhuận khi giá vàng tăng vọt đột biến. Hiện giá
vàng vẫn đứng ở mức cao, họ không có nhiều cơ hội đầu tư trở lại vàng vì độ rủi ro
lớn. Lợi nhuận thu được phải có nơi hội tụ, và nơi ấy là cổ phiếu.
     Tiền đổ vào chứng khoán, theo thông tin chúng tôi có được, còn từ các nhóm đầu
tư. Chừng mười nhóm đầu tư của các doanh nhân Việt Nam làm ăn ở Đông Âu được
thành lập dưới hình thức công ty TNHH ở Việt Nam trong vòng ba tháng qua. Vốn đầu
tư của một số nhóm lên tới cả ngàn tỉ đồng, đứng tên pháp nhân trong nước.
    Người đại diện cho một nhóm nói với chúng tôi rằng các nhà đầu tư Việt Nam
ở Đông Âu từng chứng kiến sự lên giá của cổ phiếu tại những quốc gia họ làm ăn

98
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


sinh sống trong thập kỷ trước và họ hy vọng một sự tăng trưởng tương tự đối với
thị trường Việt Nam.
Với họ, mua cổ phiếu trong nước bây giờ vẫn chưa muộn. Hơn nữa hiện việc kinh
doanh của người Việt ở Đông Âu, đặc biệt ở Nga, không còn thuận lợi như những
năm trước. Đó là một phần lý do các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trở lại vào
trong nước.
     Tiền nước ngoài
     Tháng 9/2007 giới chứng khoán chứng kiến vụ chuyển nhượng lớn nhất giữa
các nhà đầu tư nước ngoài: Quỹ VOF chuyển nhượng 3,2 triệu cổ phiếu Thủy điện
Cần Đơn (SJD) cho Quỹ Hạ tầng Việt Nam. Cả hai quỹ đều do VinaCapital quản lý.
     VOF mua 6,38 triệu cổ phiếu SJD, chiếm 24,5% vốn của Thủy điện Cần Đơn
năm ngoái với số vốn đầu tư 15,31 triệu đô la Mỹ. Họ sang tên một nửa lượng cổ
phiếu cho quỹ hạ tầng bởi quỹ này mới thành lập, đang cần giải ngân.
     Ngoài ra VOF đang muốn cơ cấu lại danh mục đầu tư. SJD là khoản đầu tư
mang lại lợi nhuận ổn định, nhưng nếu tính hiệu quả đầu tư thì gần như thấp nhất
trong danh mục đầu tư tốp 10 cổ phiếu hàng đầu trên sàn của VOF.
      Vụ chuyển nhượng trên là minh chứng cho thấy sức ép giải ngân mà các quỹ
nước ngoài đang chịu đựng ở thời điểm cuối năm. Song dù sức ép lớn đến đâu,
giới đầu tư nước ngoài cũng không mua cổ phiếu với bất cứ giá nào.
     Trong bản báo cáo mang tên “Lòng tham và nỗi sợ hãi” (Greed & Fear) của Tổ
chức Tư vấn CLSA ra ngày 11/10/2007 (CLSA là tổ chức tư vấn đầu tư tại thị
trường châu Á-Thái Bình Dương, đóng ở Hồng Kông của tập đoàn tài chính Pháp
BNP-Paribas - NV), CLSA khuyến cáo các nhà đầu tư nước ngoài thận trọng.
     Trên sàn niêm yết, với việc tăng giá gần đây, chỉ số P/E của các cổ phiếu
hàng đầu đang trở lại mức 25 trên lợi nhuận ước tính đạt được của năm 2008. Đối
với việc tham gia IPO các doanh nghiệp tầm cỡ, câu hỏi đặt ra là liệu nhà đầu tư
nước ngoài có thể mua được cổ phiếu qua các cuộc đấu giá công khai không.
    Thông tin chưa được kiểm chứng mới nhất cho biết có thể nhà đầu tư nước
ngoài không được phép tham gia đấu giá 6,5% vốn ra công chúng của Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trong đợt IPO ngân hàng này sắp tới.
     Ngoài ra, CLSA nhận định hệ thống đấu giá cổ phiếu theo kiểu Hà Lan của
Việt Nam hiện nay đang khuyến khích nhà đầu tư trả giá cao, nhất là với những nhà
đầu tư chiến lược muốn có tài sản qua đấu giá. Chính phủ Việt Nam rất hiểu nhu
cầu thị trường đối với những tài sản đó và không hề muốn bán chúng với giá rẻ.
     Có thể hiểu cơ hội săn hàng tốt, giá rẻ ở Việt Nam đối với nhà đầu tư nước
ngoài không còn rộng mở như trước. Và để giải ngân, vốn sẽ được “bơm” nhiều
hơn vào công ty niêm yết hoặc sắp lên sàn.
    Nhưng chỉ số tài chính của một số các công ty này đang vượt ngưỡng giới
hạn mà họ có thể đầu tư. Vì thế một khi VN-Index vượt mức 1.100 điểm, các nhà


                                                                              99
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

đầu tư nước ngoài lại giảm mua, tăng bán. Họ đang ở vào tình thế lưỡng nan: một
bên là sức ép giải ngân và bên kia là đầu tư hiệu quả.
      Nước ngoài môi giới nước ngoài
     Hiện những nhà đầu tư nước ngoài không thể trực tiếp mua bán chứng khoán
Việt Nam đang tích cực tham gia đầu tư vào các khoản đầu tư do một tổ chức nước
ngoài khác đầu tư vào Việt Nam.
     Theo CLSA, hiện có 41 công ty niêm yết của Đài Loan (Trung Quốc) đầu tư
vào Taiwan Vietnam Index của CLSA bao gồm cổ phiếu của năm công ty hàng đầu
niêm yết trên sàn Tp.HCM.
     Các tổ chức nước ngoài khác thuộc những tập đoàn tên tuổi như Citigroup,
Deutsche Bank, Merrill Lynch… cũng bán các chứng chỉ các khoản đầu tư của họ
cho nhà đầu tư nước ngoài ở bên ngoài Việt Nam. Có thời điểm giá trị các chứng
chỉ này lên tới 2 tỉ đô la Mỹ. Còn nếu nhà đầu tư nước ngoài nhờ họ mua hộ cổ
phiếu niêm yết ở Việt Nam, phí bình quân lên tới 2% tổng giá trị giao dịch. Các cơ
quan chức năng Việt Nam rõ ràng không quản lý được dòng vốn này, nhưng quan
sát và dự báo nó là điều cần thiết hiện nay.
                                                             Theo TBKTSG ngày 25/10/2007




100
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



                       Chuyªn môc 4: §Çu t-

A. Tổng quan – Nghiên cứu:

       §Çu t- trùc tiÕp n-íc ngoµi (FDI) th¸ng
         10 vµ 10 th¸ng ®Çu n¨m 2007
       “Sãng” ®Çu t­ vÊp nhiÒu rµo c¶n lín
       Tèc ®é gi¶i ng©n FDI qu¸ chËm,                               v× sao
         ?
       “§¹i gia” Hoa Kú t×m c¬ héi ®Çu t­
       Thêi ®iÓm tèt ®Ó ®Çu t-
       “ViÖt Nam cã ®ñ kh¶ n¨ng sö dông tèt
         vèn cña WB”
       S«i ®éng ®Çu t- x©y dùng ®-êng cao tèc
       Khai th¸c tèi ®a lîi Ých tõ dù ¸n ?
       ThÊy g× tõ xÕp h¹ng chØ sè toµn cÇu hãa
         2007 ?
       L·ng phÝ ®Êt ®ai t¹i Hµ Néi: … dù ¸n
         c«ng ?
       T¹i sao ch-a ®¸nh thuÕ ®Çu c¬ nhµ ®Êt ?


I, Đầu tư trực tiếp nước ngoài tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2007:
      1, TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM
      Hoạt động sản xuất-kinh doanh:
      Trong tháng 10/2007, các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tiếp tục góp vốn đầu
tư thực hiện ước đạt 380 triệu USD, đưa tổng vốn thực hiện trong 10 tháng đầu
năm 2007 đạt 3,7 tỷ USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước, bằng 82,4% kế
hoạch năm đề ra (4,5 tỷ USD).
       Doanh thu của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong tháng 10/2007 ước đạt
4,5 tỷ USD, đưa tổng giá trị doanh thu trong 10 tháng đầu năm 2007 là 30,3 tỷ USD,
tăng 20,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó giá trị xuất khẩu (trừ dầu thô) ước
đạt 15,8 tỷ USD, tăng 36% so với cùng kỳ năm 2006.




                                                                              101
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Nhập khẩu trong tháng 10/2007 ước đạt 1,9 tỷ USD đưa tổng giá trị nhập
khẩu trong 10 tháng đầu năm 2007 đạt 17,3 tỷ USD, tăng 28,5% so với cùng kỳ
năm trước.
      Các doanh nghiệp ĐTNN đã thu hút thêm 13 nghìn lao động, đưa tổng số lao
động trong khu vực có vốn ĐTNN tính đến thời điểm này lên 1,24 triệu lao động,
tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước.


      Cấp Giấy chứng nhận đầu tư mới:
       Trong tháng 10/2007, cả nước có 99 dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu
tư với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.462 triệu USD, đưa tổng số dự án cấp trong 10
tháng đầu năm 2007 lên 1.144 dự án với tổng vốn đầu tư là 9,75 tỷ USD, tăng
33,6% về số dự án và 59% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước.
       Về đối tác đầu tư: Trong 10 tháng đầu năm 2007, Hàn Quốc tiếp tục giữ vị trí
đứng đầu trong 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam với số vốn đăng
ký 2,44 tỷ USD, chiếm 25% tổng vốn đăng ký. British Virgin Islands đứng thứ 2 với
số vốn đăng ký 1,73 tỷ USD, chiếm 17,8% tổng vốn đăng ký. Singapore đứng thứ 3
với số vốn đăng ký 1,37 tỷ USD, chiếm 14,2% tổng vốn đăng ký. Đài Loan đứng thứ
4 với số vốn đăng ký 975,3 triệu USD, chiếm 10% tổng vốn đăng ký. Nhật Bản
đứng thứ 5 với số vốn đăng ký 657,4 triệu USD, chiếm 6,8% tổng vốn đăng ký.
        Về ngành nghề: Trong 10 tháng đầu năm 2007, vốn đầu tư đăng ký tiếp tục
tập trung trong lĩnh vực công nghiệp với số vốn đăng ký 5,33 tỷ USD, chiếm 54,6%
tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ, với số vốn đăng ký 4,25 tỷ
USD, chiếm 43,6% tổng vốn đầu tư đăng ký. Số vốn đầu tư đăng ký còn lại đầu tư
trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp.
       Về hình thức đầu tư: Trong 10 tháng đầu năm 2007, vốn đầu tư đăng ký tiếp
tục tập trung đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài với số vốn đăng ký 7,5 tỷ
USD, chiếm 77% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp đến là hình thức liên doanh với số
vốn đăng ký 1,53 tỷ USD, chiếm 15,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. Số vốn đầu tư
đăng ký còn lại thuộc hình thức hợp doanh và công ty cổ phần
      Về cơ cấu vùng: Trong 10 tháng đầu năm 2007, trên địa bàn cả nước có 50
địa phương thu hút được dự án ĐTNN (trừ dầu khí). Trong đó, Bà Rịa-Vũng Tàu
vươn lên đứng đầu (từ vị trí thứ 3 theo kết quả của 8 tháng đầu năm 2007) với số
vốn đăng ký 1,06 tỷ USD, chiếm 10,9% tổng vốn đầu tư đăng ký. TP Hồ Chí Minh
đứng thứ 2 với số vốn đăng ký gần 1 tỷ USD, chiếm 10% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Hà Nội đứng thứ 3 với số vốn đăng ký 896 triệu USD, chiếm 9,1% tổng vốn đầu tư
đăng ký. Bình Dương đứng thứ 4 với số vốn đăng ký 827 triệu USD, chiếm 8,4%
tổng vốn đầu tư đăng ký. Vĩnh Phúc đứng thứ 5 với số vốn đăng ký 780 triệu USD,
chiếm 8% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước.
      Tăng vốn đầu tư, mở rộng sản xuất:
       Trong tháng 10/2007 có 26 lượt dự án bổ sung với tổng vốn đầu tư đăng ký
tăng thêm là 196 triệu USD, đưa tổng số lượt dự án tăng vốn trong 10 tháng đầu


102
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


năm 2007 lên 300 lượt dự án với tổng vốn tăng thêm là 1.512 triệu USD, bằng 71%
cả về số dự án và lẫn về vốn bổ sung so với cùng kỳ năm 2006.
       Về đối tác đầu tư: trong 10 tháng đầu năm có 29 quốc gia và vùng lãnh thổ
có dự án tăng vốn, mở rộng sản xuất, trong đó, 4 nền kinh tế đứng đầu đã chiếm
khoảng 70% tổng số vốn đầu tư bổ sung. Đó là: Nhật Bản có số vốn tăng thêm lớn
nhất với 315,35 triệu USD, chiếm 20,8% tổng số vốn bổ sung. Đài Loan đứng thứ 2
với 312,58 triệu USD, chiếm 20,6% tổng số vốn bổ sung. Hàn Quốc đứng thứ 3 với
239,8 triệu USD, chiếm 15,8% tổng số vốn bổ sung. Hồng Kông đứng thứ 4 với
176,7 triệu USD, chiếm 11,6% tổng số vốn bổ sung.
      Về ngành nghề: các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có vốn
bổ sung nhiều nhất, có 233 dự án với số vốn tăng thêm trên 1,22 tỷ USD, chiếm
80,9% tổng vốn bổ sung trong 10 tháng đầu năm. Số còn lại thuộc lĩnh vực dịch vụ
và nông-lâm-ngư.
       Về cơ cấu vùng: Đồng Nai là tỉnh dẫn đầu trong 31 địa phương có dự án bổ
sung vốn đầu tư với số vốn tăng thêm trên 366,16 triệu USD, chiếm 24,2% tổng vốn
bổ sung. Bình Dương đứng thứ 2 với số vốn tăng thêm trên 256,5 triệu USD chiếm
16,9%. Hà Nội đứng thứ 3 với số vốn tăng thêm trên 172 triệu USD, chiếm 11,3%
tổng vốn bổ sung. TP Hồ Chí Minh đứng thứ 4 với số vốn tăng thêm trên 119 triệu
USD, chiếm 7,9% tổng vốn bổ sung và Vĩnh Phúc đứng thứ 5 với số vốn tăng thêm
trên 110 triệu USD, chiếm 7,2% tổng vốn bổ sung.
      Tính chung cấp mới và tăng vốn trong 10 tháng đầu năm 2007, cả nước đã thu
hút được 11,26 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký, tăng 36,4% so với cùng kỳ năm trước.
      2. NHẬN XÉT
      Mặt tích cực :
         - Môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam tiếp tục được cải thiện, phù hợp
với cam kết quốc tế của Việt Nam. Với việc trở thành viên của Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) và Việt Nam vừa trở thành thành viên không thường trực của Hội
đồng Bảo an Liên hiệp quốc; Chính phủ và Quốc hội Việt Nam thể hiện quyết tâm
đổi mới, vị thế của Việt Nam đã được nâng cao hơn nhiều. Việt Nam đang trở thành
điểm hấp dẫn đầu tư ở châu Á trong con mắt của cộng đồng đầu tư quốc tế, qua
kết quả khảo sát về triển vọng thu hút đầu tư của Hội nghị Thương mại và Phát
triển liên hợp quốc (UNCTAD) vừa công bố Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 6 trong
tổng số 141 nền kinh tế được khảo sát (sau Trung Quốc, Ân độ, Mỹ, Nga và Brazil).
Các tập đoàn xuyên quốc gia quan tâm, sẵn sàng đầu tư nhiều hơn vào Việt Nam
biểu hiện bởi làn sóng đầu tư mới tại Việt Nam từ các nền kinh tế lớn của thế giới.
Chưa kể 15 dự án có quy mô vốn đầu tư lớn từ đầu năm 2007, chỉ riêng trong
tháng 10/2007 tại một số địa phương đã thu hút được một số dự án quy mô lớn từ
các tập đoàn đa quốc gia. Như tỉnh Vĩnh Phúc có 2 dự án 100% vốn của nhà đầu tư
nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận đầu tư mới: (1) sự xuất hiện đầu tiên của
Tập đoàn Piaggio (Italia) đầu tư nhà máy sản xuất xe máy Vespa với vốn đầu tư
ban đầu 45 triệu USD, dự kiến chính thức sản xuất vào tháng 6/2009, (2) Tập đoàn
Intelligent Universal, đăng ký tại B.V.Islands, là công ty thành viên của Tập đoàn

                                                                                 103
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

Điện tử Compal-Đài Loan … đầu tư sản xuất máy tính xách tay, công suất 40 triệu
sản phẩm/năm với tổng vốn đăng ký 500 triệu USD, dự kiến sẽ giải ngân từ năm
nay tới năm 2012. Tại tỉnh Ninh Bình có dự án sản xuất xi măng Hệ Dưỡng công
suất 3,6 triệu tấn/năm với tổng vốn đầu tư 360 triệu USD, dự kiến sản xuất sau 2
năm xây dựng. Tại tỉnh Long An có dự án Việt-Hàn đầu tư xây dựng sân golf, khu
thương mại và dân cư cho thuê và kinh doanh do Cty trách nhiệm hữu hạn BB Đại
Minh ở thành phố Hồ Chí Minh liên doanh theo loại hình công ty cổ phần với Cty
Chứng khoán Bridge (Hàn Quốc) cùng một số nhà đầu tư Hàn Quốc đầu tư trên
284 triệu USD.
       - Việc áp dụng thống nhất Luật Đầu tư đối với cả đầu tư trong nước và đầu
tư nước ngoài đã tạo sự cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp, loại hình
doanh nghiệp được mở rộng, đa dạng dễ dàng cho nhà đầu tư lựa chọn phù hợp
với ý định kinh doanh của mình.
       - Việc tăng cường phân cấp đã giúp cho các địa phương chủ động, sáng tạo,
linh hoạt trong việc vận động thu hút và quản lý hiệu quả hoạt động ĐTNN. Việc cải
cách thủ tục hành chính tiếp tục được triển khai đồng bộ trong bộ máy quản lý hoạt
động đầu tư ở các địa phương theo cơ chế liên thông một cửa và đã đạt kết quả
bước đầu : thời gian cấp Giấy chứng nhận đầu tư được rút ngắn so với trước, thậm
chí có dự án được cấp trong cùng một ngày. Quy trình, thủ tục cũng như quản lý
doanh nghiệp theo hướng đơn giản, thuận tiện hơn so với trước, nhằm phát huy tự
chủ và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Ngoài một số địa phương tiếp tục
phát huy tiềm năng về điều kiện thuận lợi trong thu hút vốn ĐTNN (TP Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương), một số địa phương khác (Long An, Hậu
Giang, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Ninh Bình.v.v.) đã có nhiều chuyển biến tích cực
trong thu hút ĐTNN trong 10 tháng đầu năm 2007. Đặc biệt, Vĩnh Phúc từ vị trí 11
trên 50 địa phương của tháng 9/2007 vươn lên đứng thứ 5 trên 51 địa phương có
thu hút vốn FDI và Ninh Bình đã vươn lên từ vị trí 25/50 để đứng trong 10 địa
phương hàng đầu về thu hút vốn FDI trong 10 tháng đầu năm 2007.
       - Nhìn chung, tình hình hoạt động SX-KD của khu vực các doanh nghiệp có
vốn ĐTNN vẫn giữ mức tăng trưởng, nhiều số doanh nghiệp ĐTNN đã triển khai
tích cực ngay trong tháng được cấp giấy chứng nhận đầu tư, như dự án sản xuất
xe máy Vespa của Tập đoàn Piaggio tại Vĩnh Phúc đã khởi công chỉ vài ngày sau
khi có giấy chứng nhận đầu tư.
       - Trong 10 tháng đầu năm 2007, vốn đầu tư đăng ký tiếp tục tập trung vào
lĩnh vực công nghiệp (56,3%) do có thêm 3 dự án lớn đầu tư trong tháng 10. Lĩnh
vực dịch vụ, chiếm 43,6%. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư.
      - Đến cuối tháng 10/20007 có thêm 2 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào
Việt Nam so với cuối tháng 9/2007. Đó là : Belize và Israel.
       - Trong 10 tháng đầu năm đã có nhiều doanh nghiệp ĐTNN đăng ký lại theo
hướng dẫn tại Nghị định số 101/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy
định việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi Giấy chứng nhận đầu tư của doanh
nghiệp ĐTNN theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư. Đồng thời, mở

104
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


rộng sản xuất tăng vốn đầu tư và vốn điều lệ lớn hơn rất nhiều so với vốn đăng ký
ban đầu (Công ty liên doanh may mặc hàng xuất khẩu Đà Nẵng, số 3222200025,
Công ty TNHH Fuhong Precision Component, số 202043000008 cấp ngày
12/2/2007, Công ty Takako Việt Nam, số 79/GP-KCN-VS ngày 14/2/2003, Công ty
Foster Electric, số 164/GP-KCN-VS ngày 12/10/2006 ; Công ty dệt Kondo Vietnam
số 462023000220 ngày 14/12/2004.v.v.)
       - Số dự án có quy mô tương đối lớn được cấp giấy chứng nhận đầu tư đã
tăng hơn 50% so với cùng kỳ năm trước. Riêng một số dự án có quy mô vốn đầu tư
lớn đã chiếm khoảng 55% tổng vốn đăng ký cả nước trong 10 tháng đầu năm 2007.
Bên cạnh một số dự án lớn đầu tư vào công nghiệp, đa số các dự án quy mô vốn
lớn đầu tư trong hoạt động kinh doanh bất động sản (xây dựng khách sạn, văn phòng
căn hộ cho thuê). Quy mô vốn đầu tư trung bình cho một dự án đạt 8,5 triệu USD/dự án,
cao hơn so với bình quân của cùng kỳ năm trước (6,7 triệu USD/dự án).
        - Công tác XTĐT đã chuyển biến tích cực, có sự phối hợp nhịp ngành giữa
các bộ, ngành với các địa phương theo hướng bám sát các tập đoàn đa quốc gia,
các nhà đầu tư lớn có ý định đầu tư tại Việt Nam, từ khâu ban đầu thành lập dự án
cho tới khâu cuối triển khai sản xuất-kinh doanh, nhằm hỗ trợ nhà đầu tư hoạt động
thuận lợi tại Việt Nam. Tài liệu phục vụ công tác XTĐT được cập nhật, phát hành
kịp thời. Nhiều hoạt động XTĐT kết hợp các chuyến công tác, làm việc của lãnh
đạo cấp cao Đảng, Nhà nước tại một số nước thuộc các châu Âu, Á, Mỹ và Mỹ La
tinh, Trung Đông.v.v đã tạo cơ hội cho doanh nghiệp hai bên gặp gỡ, trao đổi và ký
kết các thỏa thuận hợp tác đầu tư lên hàng chục tỷ đô la Mỹ, tạo tiền đề cho việc
triển khai các dự án ĐTNN sau này.
      Hạn chế :
       Trong 10 tháng đầu năm, mặc dù kết quả thu hút và sử dụng nguồn vốn
ĐTNN vẫn tiếp tục giữ nhịp độ tăng trưởng và cơ hội hiện có (làn sóng đầu tư mới
từ các đối tác tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hoa Kỳ, Trung
Đông,…đã đến Việt Nam với cam kết thoả thuận hàng chục tỷ USD, trong đó có
một số dự án có quy mô vốn trên 1 tỷ USD dự kiến đầu tư vào lĩnh vực công nghệ
cao, xây dựng nhà máy lọc dầu, điện, khu dịch vụ chất lượng cao), nhưng cho thấy
còn rất nhiều thách thức trước mắt, đặc biệt là điều kiện tiếp nhận và khả năng hấp
thụ các dự án quy mô lớn của Việt Nam.
       Để chuẩn bị tốt việc đón nhận cơ hội mới, đẩy nhanh quá trình chuyển ý đồ
thực hiện các dự án FDI của các nhà đầu tư trở thành hiện thực, trong các tháng
còn lại của năm 2007 cần tập trung tháo gỡ các hạn chế sau:
      1) Về luật pháp :
       Hầu hết các lĩnh vực đầu tư có điều kiện cũng như điều kiện của các dự án
đầu tư chậm ban hành văn bản quy định các điều kiện cụ thể làm căn cứ để thẩm
tra, cấp GCNĐT. Điều này gây lúng túng cho cơ quan quản lý đầu tư ở các địa
phương cũng như cho nhà đầu tư trước khi quyết định đầu tư.




                                                                                 105
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Nhiều vấn đề hiện nay như đầu tư gián tiếp, trình tự, thủ tục mở chi nhánh,
thanh lý, giải thể ; chế độ báo cáo thống kê.v.v. chưa được hướng dẫn đầy đủ,
hoặc chưa được sửa đổi phù hợp cũng làm giảm tiến độ tiếp nhận, triển khai dự án.
      2) Về quy hoạch đầu tư :
       Việc xử lý về quan điểm đối với một số dự án lớn còn lúng túng, kéo dài, đặc
biệt về sự phù hợp với quy hoạch của một số ngành, cũng đã ảnh hưởng đến quyết
định đầu tư của nhà đầu tư cũng như tiếp nhận đầu tư của các địa phương.


      3) Về cơ sở hạ tầng :
       Trong thời gian vừa qua, cơ sở hạ tầng phục vụ đầu tư tuy đã được chú
trọng bằng nhiều nguồn vốn đầu tư, song vẫn còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp tiến
độ phát triển đầu tư, ảnh hưởng tới tâm lý của nhà đầu tư.
      Việc chưa chuẩn bị sẵn sàng về đất đai (đặc biệt đối với các dự án lớn cần mặt
bằng sản xuất rộng) cũng như việc giải phóng mặt bằng, đền bù, di dời và tái định cư
dân khu vực đầu tư còn nhiều bất cập đã hạn chế việc tiếp nhận các dự án mới cũng
như đẩy nhanh tiến độ của các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
       Ngoài ra, một số trở ngại ảnh hưởng tới hoạt động ĐTNN như nguồn nhân
lực hạn chế, cạnh tranh gay gắt do thị trường mở cửa theo lộ trình cam kết quốc tế,
công nghiệp phụ trợ còn hạn chế, chi phí đầu vào tăng (giá nguyên, vật liệu tăng,
giá nhân công.v.v ); việc giảm thuế nhập khẩu đối với linh kiện điện, điện tử; thời
tiết khắc nghiệt-dịch bệnh kéo dài (nắng nóng kéo dài, hạn hán dẫn tới thiếu nước
và điện phục vụ sản xuất), vẫn còn vướng mắc về thủ tục pháp lý và bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ; điều kiện sinh sống của người lao động tại các khu công nghiệp còn
khó khăn, thiếu thốn, chậm được khắc phục .v.v.
     3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐTNN TRONG CÁC THÁNG CUỐI
NĂM 2007
      Về môi trường pháp lý:
        - Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và triển khai có hiệu quả các
đạo luật mới như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, sửa đổi Luật Thuế, Luật Ngân
hàng, Bảo hiểm, Sở hữu trí tuệ, Hải quan… Ban hành các văn bản hướng dẫn còn
thiếu, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và minh bạch của hệ thống pháp lý về đầu
tư- kinh doanh, nhất là các văn bản liên quan trực tiếp đến hoạt động của các
doanh nghiệp (về quyền sử dụng đất, về huy động vốn, về lao động, về thuế, đặc
biệt là cách tính thuế và thu thuế).
        - Rà soát các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường để thực hiện theo đúng lộ
trình. Các bộ, ngành sớm ban hành quy định về các điều kiện đầu tư cụ thể tương ứng
trong lĩnh vực đầu tư có điều kiện phù hợp với cam kết WTO của Việt Nam.
       - Tập trung thực hiện các công việc theo nội dung công văn số 2513/BKH-
ĐTNN của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ký ngày 13/4/2007 về tăng cường
quản lý hoạt động ĐTNN trong tình hình mới.
      Về thủ tục hành chính :



106
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Tiếp tục tập trung hoàn thiện cơ chế „liên thông-một cửa‟ ở các cơ quan cấp
giấy chứng nhận đầu tư và quản lý đầu tư. Tăng cường năng lực quản lý ĐTNN
của các cơ quan chức năng và cơ chế phối hợp, giám sát và kiểm tra hoạt động
đầu tư; giải quyết kịp thời các thủ tục về đất đai, thuế, xuất nhập khẩu, hải quan,...
nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động ĐTNN, qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của môi
trường đầu tư Việt Nam.
      Về kết cấu hạ tầng:
       Tiếp tục huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, trong đó có việc ban
hành quy chế khuyến khích tư nhân, đầu tư nâng cấp các công trình giao thông,
cảng biển, dịch vụ viễn thông, cung cấp điện nước, phấn đấu không để xảy ra tình
trạng thiếu điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
      Về công tác thống kê số liệu ĐTNN :
      Đề nghị Lãnh đạo Bộ giao Tổng cục Thống kê :
      (i) Chủ trì, phối hợp với Cục ĐTNN và Vụ Quản lý KCN-KCX ban hành chế
độ báo cáo thống kê áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN và bên hợp
doanh nước ngoài thay thế Thông tư số 01/LB ngày 31/3/1997 để làm căn cứ cho
các cơ quan quản lý ĐTNN địa phương và doanh nghiệp thực hiện.
      (ii) Chỉ đạo các Cục Thống kê địa phương tổng hợp tình hình hoạt động của
doanh nghiệp ĐTNN để phục vụ việc phân tích, đánh giá và kiến nghị phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ được giao.
      Về đào tạo nguồn nhân lực:
      Tăng cường mạnh mẽ công tác đào tạo, nhất là đào tạo nghề với sự tham
gia của các tổ chức trong nước và nước ngoài nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu lao
động kỹ thuật cao của nhà đầu tư.
      Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác XTĐT nói riêng
và quản lý đầu tư nói chung. Vận động và phối hợp với các tổ chức quốc tế hỗ trợ
mở các lớp đào tạo về xúc tiến và quản lý ĐTNN.
      Về xúc tiến đầu tư:
        - Tăng cường phối hợp trong XTĐT giữa trung ương và địa phương. Nhanh
chóng ban hành Quy chế phối hợp và triển khai các bộ phận XTĐT ở một số địa
bàn trọng điểm. Đổi mới phương thức xúc tiến đầu tư, chuyển mạnh sang hình thức
vận động đầu tư theo dự án và đối tác trọng điểm, tiếp cận và vận động các công
ty, tập đoàn lớn có thực lực về tài chính- công nghệ cao đầu tư vào Việt Nam.
      - Triển khai đúng tiến độ việc thực hiện Quy chế xây dựng và thực hiện
Chương trình XTĐT quốc gia giai đoạn 2007-2010 để có thể bắt đầu thi hành từ
ngày 01/01/2008 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
      - Nâng cấp và duy trì trang thông tin website giới thiệu về ĐTNN đáp ứng
nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài.
      Một số vấn đề khác:




                                                                                  107
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       - Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Sáng kiến chung Việt Nam-Nhật Bản giai
đoạn II và cũng như cơ chế hợp tác giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Việt Nam) và Cơ
quan Phát triển kinh tế- EDB (Singapore).
       - Tiếp tục tăng cường kiện toàn bộ máy tổ chức, nhân sự quản lý hoạt động
ĐTNN các cấp đáp ứng nhu cầu tình hình mới, đồng thời, thúc đẩy việc triển khai
dự án JICA phục vụ quản lý điều hành hoạt động ĐTNN của Cục ĐTNN phù hợp
tình hình mới.
                                                             Nguồn: www.mpi.gov.vn




II, “Sóng” đầu tư vấp nhiều rào cản lớn:
      Tính đến đầu tháng 10/2007, đã có khoảng hơn 50 tỉ USD đầu tư nước
ngoài đang chờ vào Việt Nam trong những năm tới.
       Nhưng nhìn chung cả nước, hiện nay các thành phố lớn và nhiều địa
phương vẫn còn loay hoay chưa tìm ra các phương án khả dĩ đáp ứng các yêu cầu
thiết yếu nhất để đón nhận các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các "ông lớn" vào
Việt Nam.
       Hiện nay, không ít dự án đầu tư nước ngoài bạc tỉ USD đang phải nằm chờ,
chưa thể triển khai thực hiện chỉ vì thiếu một, hoặc vài ba nhu cầu thiết yếu nêu trên.
      Trong những năm gần đây, vị thế của nước ta trên quốc tế ngày một được
nâng cao. Nỗ lực xúc tiến đầu tư, cải cách thủ tục hành chính cộng với đang tạo ra
cơ hội thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa từng có. Nhưng nếu các địa
phương mải mê kêu gọi nhà đầu tư đến mà chưa chuẩn bị tốt hạ tầng để phục vụ
những dự án của họ thì thật là tai hại. Vì nhà đầu tư đã đổ tiền vào nhưng chưa làm
ăn được, dự án không triển khai đúng tiến độ, cơ hội làm ăn của họ bị trôi qua.
      Và như vậy, từ chỗ doanh nghiệp nước ngoài hăng hái, nhiệt thành đầu tư
vào Việt Nam, nhưng gặp những "rào cản" từ bản thân nơi thu hút đầu tư đã làm
chuyển trạng thái sang chờ đợi, chán nản rồi "rút lui" không tiếp tục đầu tư nữa.
Như thế, thiệt hại sẽ rất lớn cho nền kinh tế nước ta.
      Giữa thành phố lớn, thiếu người
      Được biết, Tp.HCM có các dự án mà vốn đầu tư tới hàng tỉ USD, nhưng cho
đến nay, sau thời gian dài chờ vẫn chưa có đất để triển khai quy hoạch, kế hoạch
đầu tư. Công tác giải tỏa, đền bù nhiều nơi gần như giậm chân tại chỗ.
       Có nơi do địa phương thủ tục giải tỏa, đền bù còn rườm rà, kéo chậm, hoặc
do chính sách đền bù, giải tỏa chưa thỏa đáng, người có đất không chịu bàn giao vì
quá thiệt thòi, có nơi lại do nhà đầu tư tổ chức việc đền bù không đúng mức đã cam
kết, hoặc chậm tổ chức đền bù để giải tỏa đất trong quy hoạch. Các "rào cản" đó
thường làm ách tắc, chậm kế hoạch, thời gian triển khai các dự án đầu tư.
      Nhìn lại, phần nhiều các dự án đầu tư không đi tới đích, sai quy hoạch, vỡ kế
hoạch, thậm chí "đánh mất" dự án là do thiếu mặt bằng, thiếu lao động có trình độ

108
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


tay nghề cao để đáp ứng theo yêu cầu của nhà đầu tư. Vì thế, không những cần có
"đất sạch", mà nhu cầu thiết yếu của giáo dục - đào tạo cũng cần đặt lên hàng đầu,
nhiều khi phải mạnh bạo và quyết đoán giải quyết được những tình trạng cấp thiết,
đào tạo "nóng", liên kết hoặc gửi đi đào tạo nhanh ở nước ngoài, nơi có nhà xưởng,
thiết bị mà nhà đầu tư có thể chỉ dẫn, gợi mở.
      Intel chỉ đầu tư dự án 1 tỉ USD vào Tp.HCM, nhưng chúng ta đã không có đủ
nhân lực cho họ. Những dự án 11 tỉ USD vào Phú Yên, hay 5 tỉ USD của Foxconn
vào một loạt tỉnh thành, lấy đâu ra nguồn lao động công nghệ cao?
      Nơi đồng bằng, thiếu đất
      Tại thành phố Cần Thơ, theo dự kiến của Ban Quản lý các khu chế xuất -
khu công nghiệp, năm 2007 các khu công nghiệp Cần Thơ có khả năng thu hút
thêm khoảng 150 triệu USD vốn đăng ký đầu tư. Đây là điều đáng mừng, bởi cho
đến nay, sau hàng chục năm thành lập các khu công nghiệp ở Cần Thơ mới chỉ có
144 dự án đăng ký với tổng nguồn vốn 625 triệu USD.
       Chỉ tính riêng quý 1/2007, các khu công nghiệp đã thu hút thêm hơn 47 triệu
USD vốn đăng ký đầu tư từ 8 dự án mới và 8 dự án tiếp tục tăng vốn mở rộng qui
mô sản xuất kinh doanh. Nhưng, trong tháng 9/2007, thành phố Cần Thơ không thu
hút thêm dự án đầu tư mới, chỉ cấp điều chỉnh 01 dự án tăng vốn mở rộng sản xuất
thêm 1,5 triệu USD cho Công ty TNHH Kwong-Lung Meko.
      Tình trạng thiếu, hoặc chậm mặt bằng cũng như thiếu nguồn lao động đảm
bảo chất lượng là một trong những nguyên nhân khiến các nhà đầu tư dè dặt khi
đến khảo sát, "thử bàn" tại thành phố Cần Thơ.
      Nhưng đáng nói nhất là, hiện nay, nhà đầu tư muốn vào khu công nghiệp Cần
Thơ phải "xếp hàng" chờ vì không đủ đất! Ngay với các nhà đầu tư trong nước, với quy
mô sử dụng đất không nhiều cũng gặp khó, huống chi là đầu tư nước ngoài.
      Ông Võ Thanh Hùng, Trưởng ban Quản lý các khu chế xuất-khu công nghiệp
Cần Thơ, xác nhận: trước hết là quy hoạch, nhưng quy hoạch cũng không được
thuận buồm mát mái. Công ty Cafatex đăng ký thuê 10 ha đất để xây dựng cụm nhà
máy chế biến thuỷ sản, thức ăn gia súc, kho lạnh; Công ty cổ phần chế biến thuỷ
sản xuất khẩu Minh Hải xin thuê 15 ha đất xây dựng nhà máy chế biến thuỷ sản;
Công ty TNHH Bia Phong Dinh đăng ký thuê 15 ha xây dựng nhà máy bia; chi
nhánh Proconco Cần Thơ thuê 5 ha xây nhà máy chế biến thức ăn gia súc, nhưng
chưa được giải quyết.
      Trong khi đó, Công ty Xây dựng 586 - đơn vị kinh doanh địa ốc gần gũi với
chính quyền địa phương - xin thuê đất để xây dựng nhà máy sản xuất, cũng phải
chờ. Hiện nay, khu công nghiệp Trà Nóc I đã lấp đầy, khu công nghiệp Trà Nóc II
đang gặp khó khăn trong khâu bồi hoàn giải phóng mặt bằng nên không còn đất
cho thuê.
        Nhiều nhà đầu tư nhận xét: do thiếu cơ chế thích hợp để chuyên lo kỹ thuật
hạ tầng nên Cần Thơ khiến nhà đầu tư phải xếp hàng chờ được giao đất. Chờ lâu,
đi lại nhiều, có lẽ đành bỏ cuộc. Sau 20 tháng làm chủ đầu tư xây dựng và kinh
doanh hạ tầng khu công nghiệp Hưng Phú I nhưng công ty cổ phần khu công

                                                                                109
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

nghiệp Sài Gòn - Cần Thơ vẫn chưa thu hồi thêm được 1m2 đất nào ngoài 29 ha
đất do công ty xây dựng hạ tầng khu công nghiệp Cần Thơ đã thu hồi trước đây.
      Nhanh lên, các bước chuẩn bị!
      Năm 2007, nước ta có thể thu hút trên 13 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài và có thể tăng thêm nếu các địa phương chuẩn bị kỹ hơn và sớm có các
quyết định về chủ trương đầu tư, qui hoạch đất đai, cũng như tập trung đầu tư cho
giáo dục - đào tạo. Nhà nước cũng đang tập trung hai lĩnh vực trọng yếu là cơ sở
hạ tầng và điện. Song song đó là vấn đề đào tạo để chuẩn bị cho lực lượng lao
động phục vụ đầu tư.
      Những dự án đầu tư có số vốn lên đến 50 tỉ USD hiện đang đàm phán với
các nhà đầu tư không phải sẽ vào Việt Nam cùng một lúc. Nhưng nếu sang năm
2008, chúng ta cấp giấy chứng nhận đầu tư 15 tỉ USD, thì phải tính ngay giải pháp
cho 35 tỉ USD còn lại. Không thể để kéo dài được, bởi nhà đầu tư không thể chờ.
                                     Nguồn: www.vneconomy.com.vn


      III, Tốc độ giải ngân FDI quá chậm, vì sao?
       Tại lễ kỷ niệm ngày Doanh nhân Việt Nam, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhấn
mạnh một trong những thành tựu lớn nhất của Việt Nam chính là thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy nhiên vấn đề đáng lo hiện nay là tốc độ
giải ngân vốn FDI quá chậm.
      Theo ông Lê Đăng Doanh, ngoài việc duy trì ổn định chính trị, kinh tế vĩ mô
và mức tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua thì tác động nổi bật nhất sau 1 năm
Việt Nam gia nhập WTO chính là thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). 9
tháng đầu năm 2007, vốn FDI đạt 9,6 tỉ USD, tăng 38% so với cùng kỳ.
       Hiện nay, số dự án chờ phê duyệt lên hơn 50 tỉ USD trong đó có rất nhiều dự
án lớn, công nghệ cao. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, số vốn FDI được cấp phép
trong cả năm nay có thể đạt khoảng 13 tỉ USD.
        Vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay chính là tỷ lệ giải ngân nguồn vốn trong
những năm gần đây đã giảm rất mạnh. Nếu như năm 2000, vốn cam kết đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 2,6 tỉ USD và tỷ lệ vốn thực hiện lên tới 94% thì đến
năm 2006, tỷ lệ vốn thực hiện giảm còn 41%.
       "Chúng ta đang đứng trước một vấn đề là vốn cam kết lớn nhưng năng lực
giải ngân không theo kịp. Năm 2007, nếu chúng ta không giải ngân được khoảng 6
tỉ USD thì sẽ rất căng" - ông Doanh nói.
       Trong 9 tháng đầu năm 2007, tỷ lệ vốn thực hiện chỉ đạt 3,3 tỉ USD, để đạt
được con số 6 tỉ USD, trong 3 tháng còn lại phải giải ngân gần 3 tỉ USD và đây quả
thực là "nhiệm vụ bất khả thi".
      Hiện đang có rất nhiều yếu kém tác động đến việc thực hiện cam kết cũng
như tốc độ giải ngân các nguồn tiền đang đổ vào Việt Nam. Cụ thể, kết cấu hạ tầng
yếu kém, thiếu trầm trọng đường cao tốc, bến cảng container, kẹt xe...



110
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Nếu như ở Singapore chỉ mất 2 tiếng đồng hồ để chu chuyển một container
thì ở VN phải mất tới 7 ngày. Lợi thế giá nhân công thấp bị giảm hấp dẫn vì thiếu
hụt trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong 1 năm qua, mức lương các
nhân sự quản lý của Việt Nam đã tăng 34% bởi sự thiếu hụt nghiêm trọng này.
      Theo ông Doanh, Chính phủ đã đưa ra một số biện pháp nhưng hiện nay
mới chỉ kiềm chế tốc độ tăng giá chứ không kiềm chế được tốc độ lạm phát.
Nguyên nhân là do nguồn tiền từ nước ngoài đổ vào Việt Nam quá lớn làm sức
mua tăng đột ngột.
       "Tốc độ giải ngân không theo kịp nguồn tiền đổ vào khiến chúng ta đang
đứng trong một vòng luẩn quẩn. Ngân hàng sẽ tăng lãi suất huy động dẫn đến việc
tăng lãi suất cho vay. Gánh nặng này đè lên vai các doanh nghiệp và họ "chia sẻ"
nó sang hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ... khiến cho giá cả tăng vọt và kẻ chịu trận
cuối cùng chính là người tiêu dùng".
       "Phải đẩy mạnh cải tiến các thủ tục, phải phóng mặt bằng... để thúc đẩy việc
giải ngân các nguồn tiền này", ông Doanh nhấn mạnh.
                                                    Nguồn: www.tintucvietnam.com


      IV, “Đại gia” Hoa Kỳ tìm cơ hội đầu tư:
     Một phái đoàn doanh nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ đang có chuyến
thăm Việt Nam từ ngày 4 đến 8/11.
       Các nhà lãnh đạo cao cấp của 23 đại công ty như 3M, ALCOA, Baxter
International, Gannon International, Marriott International, Dow Chemical Company,
Ford Motor Company… sẽ đến Hà Nội để dự Hội thảo “Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ: Một
giai đoạn phát triển năng động mới”, do Hội Việt-Mỹ phối hợp với Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức.
      Một giai đoạn phát triển mới
        Đây là phái đoàn phát triển kinh doanh đầu tiên của nội các Hoa Kỳ đến Việt
Nam, tính từ thời điểm Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) được
thông qua và Việt Nam chính thức gia nhập WTO tháng 1/2007.
Là người dẫn đầu phái đoàn này, Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Carlos M.
Gutierrez phát biểu trước chuyến đi: “Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển
với rất nhiều cơ hội tốt cho các nhà sản xuất, doanh nghiệp và người lao động.
       Những công ty đến Việt Nam lần này sẽ có các cuộc tiếp xúc quan trọng và
thu thập thông tin để giúp họ phát triển tại thị trường Việt Nam, tăng xuất khẩu và
tạo ra các cơ hội việc làm có thu nhập cao hơn cho người lao động tại Mỹ”.
      Các doanh nghiệp Hoa Kỳ đang có mối quan tâm đặc biệt đến việc kinh
doanh tại Việt Nam. Với việc tham gia tổ chức hội thảo này, GS.Đào Nguyên Cát,
Tổng biên tập Thời báo Kinh tế Việt Nam bày tỏ mong muốn Thời báo Kinh tế Việt
Nam sẽ là nhịp cầu nối các doanh nghiệp hai nước gặp gỡ nhau.
      “Việc tham gia tổ chức Hội thảo này sẽ là tiền đề tạo ra những cơ hội quảng
bá cho các thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam muốn vươn tầm ra thị trường

                                                                                111
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

Hoa Kỳ - một thị trường lớn đầy hấp dẫn. Đồng thời cũng là dịp để doanh nghiệp
hai nước tăng cường trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh và hợp tác”,
GS. Đào Nguyên Cát nói.
      Những vấn đề quan tâm của doanh nghiệp Hoa Kỳ
      Chương trình của Hội nghị diễn ra ngày 6/11 sẽ có sự tham dự của Phó Thủ
tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ
Carlos M. Gutierrez và các bộ, ban ngành liên quan.
      Trả lời câu hỏi của Thời báo Kinh tế Việt Nam về kỳ vọng của các doanh
nghiệp Hoa Kỳ tham gia diễn đàn này, đại diện ban tổ chức cho biết: một số doanh
nghiệp tham gia diễn đàn này đã hoạt động ở Việt Nam rồi và muốn tìm kiếm thêm
những cơ hội để phát triển mạnh hơn. Những doanh nghiệp khác thì muốn tìm kiếm
cơ hội đầu tư mới. Cái họ quan tâm nhất là Việt Nam sẽ thực thi những cam kết
cam kết khi gia nhập WTO như thế nào.
      Thông cáo phát đi của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam cũng nói rằng:diễn
đàn nhằm tăng cường quan hệ thương mại và kinh tế giữa Hoa Kỳ và Việt Nam
thông qua việc thúc đẩy tính cởi mở, minh bạch, quyền kinh doanh và phân phối
bình đẳng, bảo vệ và thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ. Đây là những yếu tố
chủ chốt giúp đảm bảo nền kinh tế của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng và mở cửa
cho hàng hoá và dịch vụ từ Hoa Kỳ.
       Cuộc khảo sát mới đây do Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
tiến hành đối với 385 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có các công
ty Hoa Kỳ, cũng chỉ ra rằng các công ty Hoa Kỳ coi trọng hơn các vấn đề mở cửa
thông thoáng đối với các ngành dịch vụ; minh bạch hoá được cải thiện; và ở mức
độ ít hơn một chút là cơ chế giải quyết khiếu nại hiệu quả hơn và bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ mạnh mẽ hơn.
       Liên quan đến các yếu tố chủ yếu để cải thiện môi trường kinh doanh của
Việt Nam, so với các công ty khác, các công ty Hoa Kỳ quan tâm hơn tới việc áp
dụng các ưu đãi đầu tư, cải thiện cơ sở hạ tầng, tăng cường cải cách hành chính
và tính minh bạch, dơn giản hoá các thủ tục cấp đầu tư, loại bỏ các quy định thiếu
nhất quán và ký kết hiệp định về thuế.
      Đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất
      Với sự kiện Việt Nam và Hoa Kỳ đã bình thường hóa giao thương, và Việt
Nam trở thành thành viên thứ 150 trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các
công ty Hoa Kỳ đã xem Việt Nam như là một thị trường quan trọng về xuất khẩu và
đầu tư.
      Ngay trước thềm chuyến thăm của Bộ trưởng Bộ Thương mại Hoa Kỳ đên
Việt Nam, Hội đồng Kinh doanh Mỹ-ASEAN cũng đã mở văn phòng tại Hà Nội để
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các công ty Mỹ nhằm tìm kiếm cơ hội kinh
doanh ở Việt Nam. Với 120 tập đoàn thành viên, phần lớn trong số đó nằm trong
danh sách 100 công ty hàng đầu của Hoa Kỳ do tạp chí Fortune bình chọn, Hội
đồng Kinh doanh Mỹ-ASEAN đại diện cho một khu vực kinh doanh đa lĩnh vực, rất
năng động và có nhiều ảnh hưởng ở Mỹ.

112
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Kể từ khi Hiệp định Thương mại Song phương Hoa Kỳ-Việt Nam được ký kết
năm 2001, quan hệ thương mại giữa hai nước đã tăng ngoạn mục. Hoa Kỳ hiện đã
trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Thương mại hai chiều đã
tăng từ 1,5 tỉ USD lên 9,7 tỉ USD năm 2006, trong đó Việt Nam nhập 1,1 tỷ và xuất
8,6 tỷ . Trong 8 tháng đầu năm 2007, giá trị xuất khẩu của Mỹ đã tăng 67 phần
trăm, đạt 1,044 tỉ USD.
       Theo báo cáo về tác động của BTA đối với đầu tư trực tiếp Hoa Kỳ vào Việt
Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Dự án Star-Việt Nam thực hiện theo cách tính
mới, “đầu tư trực tiếp Hoa Kỳ kể cả qua nước thứ ba”, được công bố tháng 7/2007,
Hoa Kỳ đã trở thành quốc gia có vốn đầu tư lớn nhất tại Việt Nam.
       Trong tổng giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài tính từ năm 1998 đến hết
tháng 6/2006, đầu tư trực tiếp Hoa Kỳ kể cả qua nước thứ ba đạt khoảng 4 tỷ USD
đối với dự án đã đăng ký và 3,3 tỷ USD đối với các dự án đã thực hiện, so với con
số tương ứng là 2,0 tỷ USD và 777 triệu USD theo báo cáo thông thường.
        Vốn đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam tính đến tháng 9/2007 đạt khoảng 5,1
tỷ USD (cả qua nước thứ 3) và đạt hơn 2,6 tỷ USD theo cách thông thường, xếp
thứ 7 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Hiện có hơn 1000 doanh nghiệp Mỹ đang hoạt động tại Việt Nam. Giá trị đầu tư
trực tiếp nước ngoài thực hiện liên quan đến Hoa Kỳ phân bổ chủ yếu ở các ngành
sử dụng nhiều kỹ năng/vốn. Khoảng một nửa là ở lĩnh vực dầu khí, khoảng 1/3 tập
trung ở các ngành chế tạo, còn lại là ở các ngành dịch vụ, phát triển bất động sản
và nông nghiệp.
      Bên cạnh đầu tư trực tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài đã và đang tăng
nhanh hoạt động đầu tư gián tiếp vào Việt Nam, trong đó khoảng từ 1/3 đến 1/2
tổng số vốn đầu tư gián tiếp rót vào Việt Nam tính đến giữa năm 2006 là từ Hoa Kỳ.
       Trong các quỹ đầu tư liên quan đến nguồn vốn từ Hoa Kỳ đang hoạt động tại
Việt Nam, có thể kể đến việc các nhà đầu tư Mỹ chiếm khoảng 45% vốn trong quỹ
Indochina Capital; vốn góp từ phía Mỹ là 30% trong Công ty Việt Nam Partners;
hoặc trường hợp của Dragon Capital có tới 30% là vốn từ các nhà đầu tư Mỹ. Quỹ
đầu tư mạo hiểm của IDG cũng có toàn bộ vốn góp của Mỹ.
      *     Danh      sách     các      công      ty    tham    gia     phái    đoàn:
3M Company; Abaxis Inc.; ALCOA Inc.; Altec Inc.; AmericanTours International;
Baxter International Inc.; Carus Corporation; Century Aluminum Company; Crown
Equipment Corporation; Cummins Inc.; Eaton Corporation; GANNON International;
Gerber Scientific, Inc.; Marriott International, Inc.; Northwest Airlines Corporation;
Oshkosh Truck Corporation; Rockwell Automation; Terex Corporation; The AES
Corporation; The Dow Chemical Company; The Ford Motor Company; The Timken
Company; VeriSign, Inc.
                                                         Nguồn: www.vneconomy.com.vn


      V, Thời điểm tốt để đầu tư:


                                                                                  113
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       Thị trường bất động sản (BĐS) Việt Nam đang trong “tầm ngắm” của nhiều
nhà đầu tư nước ngoài nói chung và nhà đầu tư Hàn Quốc nói riêng. Đó là khẳng
định của ông Lee Jong Suk, Tổng giám đốc Công ty liên doanh VK Housing (Hàn
Quốc) trong lễ tiếp nhận giấy phép đầu tư cho dự án cụm căn hộ có tổng vốn đầu
tư dự kiến 300 triệu USD tại TP.HCM.
        Lý giải cho nhận định của mình, ông Lee Jong Suk cho rằng, sức hấp dẫn
của thị trường BĐS Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng là ở chỗ, nơi đây có
dân số trẻ, với hơn 50% dân số ở độ tuổi dưới 25 có khát vọng vươn lên và tự
khẳng định mình. Bên cạnh đó, thị trường BĐS cao cấp của Việt Nam chưa phát
triển tương xứng với tốc độ tăng của dòng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đang có
chiều hướng đổ mạnh vào Việt Nam trong năm nay (dự kiến khoảng 12 tỷ USD).
Việt Nam đang thiếu nhiều sản phẩm BĐS, từ nhà ở cho tới văn phòng và khách
sạn. “Sự phát triển của lĩnh vực BĐS Việt Nam vẫn ở mức rất thấp và cơ hội tăng
trưởng của nhà đầu tư vào lĩnh vực này là cực kỳ lớn”, ông Lee khẳng định.
       “Tổng hành dinh” PricewaterhouseCoopers (PwC) tại Anh quốc phối hợp với
Tổ chức nghiên cứu Urban Land Institute (Hoa Kỳ) vừa công bố báo cáo toàn cảnh
về xu thế phát triển và đầu tư BĐS, thị trường vốn BĐS và các vấn đề khác liên
quan ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Điều đáng chú ý trong báo cáo này là,
Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng đã lọt vào nhóm 10 thị trường BĐS được
đánh giá là triển vọng nhất. Đặc biệt, thị trường TP.HCM đã “leo lên” vị trí dẫn đầu
các thị trường BĐS phát triển mạnh tại châu Á, tiếp theo là Thượng Hải, Singapore,
Bangalore, Mumbai. Trong lĩnh vực đầu tư khách sạn, TP.HCM cũng dẫn đầu danh
sách, kế đến là Bangalore, Thượng Hải, Mumbai và New Delhi. Mặt khác, trong đầu
tư cao ốc văn phòng, TP.HCM nằm trong nhóm 5 thành phố dẫn đầu (cùng với
Mumbai, Tokyo, Bangalore và Thượng Hải). Ở lĩnh vực BĐS lẻ, lần lượt 5 thị
trường dẫn đầu nhóm là TP.HCM, Mumbai, New Delhi, Bangalore và Thượng Hải.
Chưa hết, trong danh mục những thành phố tiềm năng nhất trong xây dựng căn hộ
cho thuê, TP.HCM tiếp tục xuất hiện cùng với Mumbai, Bangalore và Quảng Châu.
        Còn theo ông Daniel Francey, Phó giám đốc phụ trách dịch vụ của CBRE,
cuộc khảo sát do CBRE triển khai mới đây cho thấy, 50% khách hàng được hỏi đều
có chung lời than phiền rằng, diện tích văn phòng hiện nay tại TP.HCM nói riêng và
Việt Nam nói chung là quá nhỏ. Một nét đáng chú ý được ông Daniel nhấn mạnh
qua cuộc khảo sát này là, nhu cầu tăng cường nhân lực, mở rộng quy mô của các
nhà ĐTNN đã và đang hoạt động tại các văn phòng hạng A tại TP.HCM đều cho
thấy, trong vòng 3 năm tới (2007-2010), nhu cầu nhân sự sẽ tăng thêm 46% so với
hiện tại.
      Mặt khác, diện tích văn phòng cho thuê hiện hữu sử dụng (10 m2/người) sẽ
có chiều hướng tăng thêm 54% từ nay đến năm 2010. Nói cách khác, chỉ riêng
nhóm khách hàng hiện hữu, có đến 50% doanh nghiệp đang hoạt động có nhu cầu
mở rộng văn phòng cho nhân viên. Đó là chưa kể đến việc đang xuất hiện làn sóng
đầu tư mới đổ vào Việt Nam, nhu cầu tăng thêm về lượng của các doanh nghiệp
mới và mở rộng về chất theo hướng tăng chất lượng văn phòng của các công ty


114
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


Việt Nam đang hoạt động. Tất cả cho thấy, “cơn sốt” thiếu cao ốc văn phòng sẽ
không có chiều hướng hạ nhiệt trong ít nhất 3 năm nữa.
        Cũng theo thống kê của CBRE, giá văn phòng cho thuê của TP.HCM đang
tăng với tốc độ “chóng mặt”. Nếu như năm 2006, giá thuê văn phòng hạng A, B, C
tăng lần lượt 40%, 26% và 43%, thì chỉ trong 6 tháng đầu năm 2007, mức giá này
lại “leo” tiếp lên 22%, 6%, 4% lần lượt cho hạng A, B và C. Dự kiến cuối năm nay,
giá thuê cao ốc văn phòng hạng C sẽ vào khoảng 30 USD/m2, hạng B là 45
USD/m2 và hạng A trên 60 USD/m2. Riêng cao ốc văn phòng hạng A, theo tính
toán của CBRE, hiện nay công suất sử dụng đã đạt 100% và hoàn toàn không có
nguồn cung từ nay đến cuối năm 2009.
       Có dự báo cho rằng, giá cho thuê văn phòng sẽ tăng trong 3 năm tới, nhưng
sau đó có thể sẽ giảm khi lượng cung được bổ sung? Ông Daniel khẳng định, điều
này rất khó xảy ra, vì tuy lượng cung được bổ sung, nhưng chất lượng đầu tư được
nâng cao rõ rệt, theo hướng trang bị các tiện ích hiện đại hơn, sử dụng năng lượng
thân thiện với môi trường, dịch vụ cung cấp “tận răng”.
      Rõ ràng, đây chính là thời điểm tốt cho các nhà ĐTNN đầu tư vào thị trường
BĐS cao ốc, văn phòng phân khúc cao cấp, vì biên độ lợi nhuận đang tăng rất
nhanh. Tuy nhiên, ở khía cạnh thu hút đầu tư, sức hấp dẫn từ chi phí đầu tư thấp
sẽ không còn, do giá thuê văn phòng quá cao sẽ là điều cần phải tính đến trong đẩy
mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư.
                                                              Nguồn: www.mpi.gov.vn


      VI, “Việt Nam có đủ khả năng sử dụng tốt vốn của WB”
        Với những thành quả của mình, Việt Nam vừa được Ngân hàng Thế giới
(WB) công nhận có đủ điều kiện tiếp nhận tài chính từ Ngân hàng Tái thiết phát
triển (IBRD), nguồn tín dụng có lãi suất thấp cho các nước có thu nhập trung bình.
Nguồn vốn này sẽ bổ sung cho hỗ trợ tài chính từ nguồn tài chính của Hiệp hội
Phát triển Quốc tế (IDA) của WB dành cho các nước có thu nhập thấp.
      Nhân dịp này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Ajay Chibber, Giám đốc
WB tại Việt Nam.
      Căn cứ trên cơ sở nào để WB xác định là Việt Nam có đủ tiêu chuẩn để nhận
nguồn vốn IBRD, thưa ông?
       Chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu rất kỹ lưỡng với một nhóm chuyên
gia thuộc bộ phận tin cậy tín dụng của WB. Nhóm này đã có đánh giá tất cả những
ghi chép cũng như số liệu của Việt Nam từ trước tới nay về tốc độ phát triển, xoá
đói giảm nghèo, các chỉ số liên quan tới sự tăng trưởng cũng như mức độ tin cậy
tín dụng của Việt Nam, những thành tựu gần đây của Việt Nam và những yếu tố
khác liên quan đến tăng cường củng cố các thể chế, cải cách ngành tài chính.
       Nhóm nghiên cứu này cũng đã xem xét và đánh giá những điều kiện xã hội ở
Việt Nam. Thậm chí họ còn xem xét mối quan hệ mà Việt Nam đã xây dựng và cải
thiện với các quốc gia trong khu vực thời gian gần đây. Và họ đưa ra một kết luận


                                                                               115
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

rằng Việt Nam chắc chắn vẫn cần phải làm nhiều việc để có thể tăng cường và
củng cố thể chế cũng như cải cách tài chính và cải thiện những vấn đề liên quan
đến tham nhũng.
       Mặc dù có những nhận xét như vậy, nhưng nhóm nghiên cứu cũng cho rằng
Việt Nam đã thể hiện sự tăng trưởng kinh tế rất mạnh, phát triển thương mại và
tăng trưởng toàn diện thể hiện qua quá trình xoá đói giảm nghèo rất tích cực. Do
đó, chắc chắn Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành quốc gia có thu nhập trung bình
trong thời gian tới.
        Khi cân đối và so sánh tất cả những nhận xét này, nhóm nghiên cứu đã đưa
ra quyết định rằng trong thập kỷ tới Việt Nam sẽ đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ
và lành mạnh. Do đó, WB hoàn toàn có thể giúp Việt Nam đạt được những mục tiêu
phát triển này cho tương lai và cũng để giúp Việt Nam duy trì sự tăng trưởng đã có,
tiếp tục phát triển bền vững hơn nữa.
       Tóm lại, với nhóm nghiên cứu này, chúng tôi đã đánh giá rất toàn diện về
Việt Nam và xem xét nhiều tiêu chí khác nhau. Tất cả các tiêu chí đánh giá này đều
đưa ra kết luận rằng Việt Nam cần có những hỗ trợ tài chính bổ sung từ phía WB
để đảm bảo mục tiêu phát triển của mình. WB hoàn toàn sẵn sàng cung cấp sự hỗ
trợ bổ sung đó.
       Điều quan trọng là chúng tôi cũng phải duy trì các ý tưởng của WB, vì nguồn
vốn của IBRD chủ yếu được sử dụng cho các mục tiêu xây dựng và cải thiện cơ sở
hạ tầng. Vì thế chúng tôi sẽ đưa ra một chương trình để Việt Nam có thể đạt được
sự tăng trưởng toàn diện, đồng thời xoá đói giảm nghèo một cách hiệu quả hơn,
cũng như có thể giải quyết được các khía cạnh cụ thể của vấn đề đói nghèo. Đó
cũng chính là lí do tại sao chúng tôi nghĩ nên giữ tình thế hiện nay là Việt Nam có
thể vay hỗn hợp của IBRD và IDA.
       Theo ông, nguồn vốn mới này sẽ được sử dụng hiệu quả ở Việt Nam?
Lãi suất của IBRD không được ưu đãi như IDA. Tuy nhiên, với nguồn tài chính mới
này, Việt Nam sẽ có đủ điều kiện và khả năng để sử dụng nguồn vốn ngoại tệ hiệu
quả. Mặc dù tỉ lệ hoàn vốn kinh tế của nguồn tài chính IBRD có thể khó khăn để đạt
được hơn so với IDA thế nhưng hiệu quả sẽ cao hơn.
       Tôi nghĩ rằng nguồn tài chính này tốt cho Việt Nam để các bạn có thể sử
dụng nhanh chóng cũng như hiệu quả. Chúng ta sẽ cùng làm việc với nhau để đưa
ra những chi tiết cụ thể hơn về việc sử dụng nguồn vốn của IBRD cho những lĩnh vực
nào, dự án nào. Chúng tôi sẽ cố gắng đạt mục tiêu sử dụng nguồn tài chính mới này
hiệu quả, nhanh chóng, tất nhiên vẫn phải tuân thủ chính sách an toàn của WB mà đó là
những chính sách chúng ta áp dụng cho tất cả các nguồn vay của WB.
        Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng chúng tôi hoàn toàn tin tưởng Việt Nam có
thể sử dụng nguồn tài chính mới này hiệu quả, đặc biệt dành cho nhu cầu về năng
lượng, cơ sở hạ tầng. Chúng ta sẽ cùng làm việc và xem Việt Nam sử dụng nguồn
tài chính IBRD hiệu quả đến mức nào. Với nguồn tài chính này, Việt Nam sẽ có nền
kinh tế mạnh mẽ hơn để đạt được nhiều thành tựu hơn.



116
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Hiện nay, lượng vốn WB đã cho Việt Nam vay là bao nhiêu? Với lượng vốn
vay từ IBRD có giới hạn về số lượng hay không, thưa ông?
      Cho tới nay chúng tôi đã cung cấp cho Việt Nam khoảng hơn 7 tỉ USD từ
IDA. Năm nay chúng tôi cũng đã có chương trình khoảng 1 tỉ USD dành cho Việt
Nam và sẽ kết thúc vào tháng 6/2008. Dự kiến, chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì hỗ trợ
của IDA dành cho Việt Nam.
        Không chỉ với Việt Nam, mà với các nước khác trên thế giới luôn luôn có giới
hạn nhất định về nguồn tài chính từ IBRD. Chúng tôi cũng có chương trình được
thiết lập theo hàng năm để các quốc gia nhận vốn vay của WB có thể nhận được
nguồn tài chính của mình. Và việc xét theo chương trình hàng năm đó sẽ dựa trên
kết quả thực hiện của năm trước. Tức là nếu Việt Nam thực hiện tốt trong năm nay
thì năm sau sẽ nhận được nhiều vốn của IBRD hơn.
      Ông có thể cho biết lãi suất cụ thể của IBRD?
       Nguồn vốn IBRD là nguồn vốn tín dụng có lãi suất thấp nhất cho các quốc
gia đang phát triển trên thị trường thương mại quốc tế bởi vì lãi suất của IBRD cho
vay bình quân thấp hơn 25 điểm so với lãi suất libor. Chính vì thế nguồn vốn IBRD
của WB sẽ là nguồn vốn tín dụng rẻ nhất đối với các quốc gia đang phát triển mà
họ có thể tiếp cận được trên thị trường vốn quốc tế. Hiện nay chúng tôi đang xem
xét để mở rộng kỳ hạn cũng như điều khoản của nó. Những quốc gia đã nhận IBRD
đều đã phát triển nền kinh tế của mình.
      Đối với những dự án sử dụng nguồn vốn IBRD, quy trình thẩm định, phê
duyệt dự án có khác gì so với sử dụng nguồn vốn IDA không, thưa ông?
      Thủ tục tương tự như các khoản vay của IDA. Đó là những dự án được thực
hiện dựa theo nhu cầu của Việt Nam. Theo đó, các cơ quan ban ngành của Việt
Nam sẽ có những ý tưởng hay nhu cầu về các dự án và sẽ tiếp cận nguồn vốn
IBRD thông qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như chúng ta vẫn làm đối với các
khoản vay của IDA.
       Trước đó, Chủ tịch WB Robert B. Zoellick trong chuyến thăm VN hồi tháng 8,
đã đánh giá VN "là một trong những câu chuyện thành công nhất về phát triển, là
một trong những nước cải thiện mức sống nhanh nhất trên thế giới". Ông Chhibber
cho biết: "Để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng, VN cần thêm sự hỗ trợ về tài
chính, vì vậy IBRD là sự bổ sung cần thiết".
      Ngân hàng Tái thiết và Phát triển (IBRD) là một trong những thành viên của
nhóm WB, nơi cung cấp nguồn tín dụng lãi suất thấp, hỗ trợ cho phát triển kinh tế
và giảm nghèo tại các nước có thu nhập trung bình và các nước đang phát triển có
đủ độ tin cậy tín dụng. IBRD là nguồn tín dụng có lãi suất thấp nhất cho các nước
đang phát triển trên thị trường tài chính quốc tế.
      Để tận dụng hiệu quả từ nguồn vốn này, VN cần chiến lược cụ thể và những
dự án khả thi. Ông Lê Minh Hưng - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Ngân hàng Nhà
nước VN - cho biết: "Nguồn vốn của IBRD sẽ hỗ trợ cho việc đầu tư vào một số
ngành trọng điểm như năng lượng, giao thông vận tải. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã
phối hợp với các bộ liên quan chuẩn bị những dự án có khả năng nhận đầu tư".

                                                                                117
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

Từ năm 1993, hỗ trợ của WB cho VN chủ yếu thông qua Hiệp hội Phát triển quốc tế
(IDA) nguồn tín dụng khoảng 7 tỉ USD không lãi suất với mục đích chính là xoá đói
giảm nghèo. Ông Chhibber cho biết thêm: "Trong thời gian tới, VN vẫn tiếp tục nhận
được hỗ trợ từ phía IDA, những khoản vay hỗn hợp sẽ giúp VN thực hiện mục tiêu
phát triển bền vững".
                                                  Nguồn: www.vneconomy.com.vn




118
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



      VII, Sôi động đầu tư xây đường cao tốc:
       Các dự án giao thông B.O.T một thời được các DN giao thông thực hiện, đã
được đánh giá là không mấy hiệu quả khi những công trình đầu tiên đưa vào khai thác.
Chính vì vậy, việc xã hội hoá hệ thống hạ tầng giao thông cũng bị chững lại. Song gần
đây, nhiều nhà đầu tư bắt đầu quan tâm đặc biệt đến lĩnh vực đường cao tốc.
       Đây có thể xem là một xu hướng đáng mừng cho chính sách xã hội hoá hạ
tầng giao thông.
      Xuất hiện "đại gia"
       Đăng ký xin đầu tư vào "siêu" dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Hải
Phòng có tổng mức đầu tư lên tới 17.534 tỉ đồng theo hình thức hợp đồng B.O.T
trong nước của liên minh 4 nhà đầu tư gồm: NH Phát triển VN (VDB), NH Ngoại
thương VN (VCB), Cty TNHH SX kinh doanh Bình Minh (Bitexco) và Cty TNHH đầu
tư phát triển sản xuất Hạ Long (BIM) có thể nói là phát đại bác đầu tiên bắn vào thị
trường hạ tầng giao thông vốn ảm đạm sau một số dự án B.O.T khởi đầu như cầu
Yên Lệnh khai thác không đạt hiệu quả như mong muốn, dự án đường tránh Thanh
Hoá phải xem xét lại nhà đầu tư...
      Từ đầu năm đến nay, Chính phủ cũng tiếp nhận nhiều hồ sơ của một số
NĐT trong và ngoài nước xin đầu tư các dự án đường cao tốc. Chính phủ đã chấp
thuận cho TCty Ximăng VN lập đề xuất dự án đầu tư đường cao tốc Bắc - Nam
đoạn Ninh Bình - Vinh (Bãi Vọt) theo hình thức B.O.T và Bitexco lập đề xuất dự án
xây dựng đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết.
       Bộ GTVT cũng được Chính phủ giao hướng dẫn NĐT lập đề xuất dự án và
chịu trách nhiệm về năng lực của NĐT. Đặc biệt có dự án còn có nhiều tổ hợp NĐT
cùng có hồ sơ xin đầu tư theo hình thức B.O.T như dự án đường cao tốc TPHCM -
Long Thành - Dầu Giây. Đó là tổ hợp các tập đoàn kinh tế lớn như: Petro VN,
Vinashin, VNPT, TCty Sông Đà, Idico, Bitexco và Cty đầu tư phát triển đường cao
tốc VN.
      Cuối cùng, Chính phủ quyết định giao cho Cty đầu tư phát triển đường cao
tốc VN làm chủ đầu tư dự án này bằng nguồn vốn hỗn hợp giữa ODA, OCR của
Nhật Bản và ADB. Hiện một số NĐT trong và ngoài nước cũng đang có hồ sơ xin
đầu tư dự án xây dựng đường cao tốc Biên Hoà - Đồng Nai.
      Mừng, song thận trọng
        Theo các chuyên gia kinh tế, việc có nhiều NĐT đa lĩnh vực muốn bỏ vốn
cho hạ tầng giao thông là một tín hiệu vui chứng tỏ năng lực của các NĐT ngày
càng lớn, họ đã bắt đầu nhìn xa trông rộng tới thị trường đầu tư dài hơi và gắn lợi
ích lâu dài của NĐT với lợi ích phát triển bền vững của đất nước. Đây cũng là động lực
quan trọng để thực hiện mục tiêu xây dựng 6.500km đường cao tốc vào năm 2020.
      Kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy, chỉ có thực hiện cơ chế xã hội hoá
nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng giao thông, hệ thống đường cao tốc mới phát triển
nhanh và chất lượng vì NĐT có động lực hoàn vốn.



                                                                                  119
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       Mặt khác, thực tế sôi động của thị trường xây dựng đường cao tốc đồng
nghĩa với việc khả năng hoàn vốn và sinh lợi của các dự án được đánh giá cao.
Tuy nhiên, hiện chưa có một dự án đường cao tốc nào của VN sử dụng nguồn vốn
xã hội hoá được đưa vào khai thác, nên chưa có đối chứng thực tế về tính hiệu quả
cũng như cơ chế vốn nào cho phát triển đường cao tốc là hiệu quả hơn cả. Vì thế,
cũng theo các chuyên gia, vấn đề quan trọng là khâu thẩm định hiệu quả của các
dự án để cho phép đầu tư là hết sức quan trọng. Nếu để lọt lưới các NĐT theo
phong trào có tính chất "xí phần" sẽ trở thành "kỳ đà cản mũi" cho các NĐT thật sự
cần thị trường.
      Ngoài ra, cơ chế tạo vốn cho dự án cũng cần được xem xét sòng phẳng và
minh bạch. NĐT cần có năng lực về tài chính thật sự, chứ không chỉ dựa hoàn toàn
vào bảo lãnh của Nhà nước, vay vốn nước ngoài đến khi dự án không đạt hiệu quả
như kế hoạch lại đề xuất chuyển thành vốn nhà nước, như một số dự án "đầu
B.O.T, đuôi ngân sách" đã nhãn tiền. Một vấn đề đặc biệt quan trọng nữa là các
NĐT cần quan tâm đến tính quy hoạch và sinh lợi của đường cao tốc sau khi đưa
vào sử dụng.
       Hiện chưa có những cơ chế quản lý khai thác đường cao tốc một cách hoàn
chỉnh. Nếu mỗi NĐT làm theo một cách sẽ dễ dẫn đến khả năng hoàn vốn không
đúng như dự tính. Đây cũng sẽ là bài toán nan giải với các NĐT trong tương lai.
                                     Nguồn: www.laodong.com.vn


      VIII, Khai thác tối đa lợi ích từ dự án?
      Không phải chỉ khi đáp ứng được mục tiêu ban đầu, các dự án kinh
doanh mới mang lại lợi ích. Rita Gunther McGrath và Thomas Keil chỉ ra có
nhiều con đường để khai thác tối đa lợi ích một dự án, kể cả trong trường hợp
xấu nhất…
      Từ ý tưởng…
       Phần lớn các công ty đều có hồ sơ ghi chép đáng buồn về các ý tưởng kinh
doanh mới của họ. Số lượng các dự án được triển khai trên thực tế là rất nhỏ, và
chi phí dành cho các dự án này thường vượt xa ước tính ban đầu.
      Tại sao các sự thật đáng thất vọng như vậy lại xảy ra?
      Các công ty chỉ triển khai những dự án này khi họ nhận thấy chúng đáp ứng
được các mục tiêu đã đặt trước. Tuy nhiên, các nhân viên then chốt - những người
sẽ làm chủ các dự án này, có thể thay đổi chúng trong quá trình thực hiện.
       Khi một dự án kinh doanh không đáp ứng được các mục tiêu đã đề ra, nó sẽ
bị bác bỏ. Các công ty tiến hành cắt giảm thua lỗ nhưng không rút được bài học
kinh nghiệm từ dự án đó.
        Tuy nhiên, hai tác giả Mcgrath và Keil đưa ra những phương án khác ngoài việc
chỉ triển khai hoặc bác bỏ các dự án đó. Ví dụ, hai ông đã đưa ra các giải pháp như:
         Tái chế - tức là nhắm dự án đó tới một thị trường mục tiêu mới.
         Tách dự án đó cho những công ty, cá nhân khác.

120
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


        Chuyển dự án đó cho các đơn vị kinh doanh mạnh, có uy tín hơn để triển
khai chúng.
       Tận dụng dự án bằng cách rút ra các công nghệ, kỹ thuật, năng lực và
các sáng chế có giá trị từ các dự án kinh doanh đó.
      Hãy tận dụng mọi giá trị có thể từ các dự án kinh doanh của bạn, và bạn sẽ
đạt được nhiều nhất lợi nhuận từ các dự án này bằng cách biến sáng tạo thành
động lực chủ yếu cho sự đổi mới ở công ty của mình.
      … Đến thực tế
       Làm thế nào để đạt được nhiều giá trị từ các dự án kinh doanh của bạn? Hai
tác giả MMcgrath và Keil đưa ra các đề xuất sau:
      1. Hãy mở rộng các lựa chọn của bạn.
      2. Hãy cân nhắc các khả năng sau khi triển khai hoặc bác bỏ một dự án
kinh doanh.
      Tái chế
      Khi bạn phát hiện ra một dự án có sai sót, trước khi từ bỏ chúng, hãy phát
hiện những cơ hội còn tiềm ẩn. Ví dụ như chúng có thể tạo ra một thị trường mục
tiêu mới đáp ứng được các lợi ích của dự án khác.
      Tách dự án hoặc trao quyền sử dụng dự án cho bên ngoài
        Có thể mô hình dự án kinh doanh mới của bạn không phù hợp với mô hình
chung của công ty. Tuy nhiên dự án đó vẫn có thể có một tương lai sáng bên ngoài
công ty của bạn. Các nhà kinh doanh mạo hiểm có thể sẽ ủng hộ dự án đó như một
lĩnh vực kinh doanh độc lập. Hoặc một ai đó có thể muốn sử dụng lại quyền sở hữu
trí tuệ của dự án này.
      Chuyển dự án
      Nếu thị trường mục tiêu của dự án mới của bạn không lý tưởng hoặc không
đủ lớn để thành lập một đơn vị kinh doanh riêng, hãy tìm xem ý tưởng của bạn có
thể được sử dụng xứng đáng tại bộ phận nào trong tập đoàn và chuyển dự án đó
cho họ.
      Tận dụng dự án
       Nếu dự án kinh doanh mới của bạn không thể cho ra đời các sản phẩm hay
dịch vụ khả thi, có tính cạnh tranh, nhưng bản thân dự án đó có những mặt giá trị,
hãy chia nhỏ chúng và lấy những yếu tố cấu thành của nó như: Các bằng sáng chế,
nhãn hiệu, thiết bị chuyên dụng hay những kinh nghiệm đặc biệt… Sử dụng chúng
trong các dự án khác của công ty bạn.
      Coi các dự án như một quá trình khám phá, phát minh
      Để tạo ra lợi nhuận từ tất cả các dạng giá trị trong dự án kinh doanh của
bạn, hãy coi mỗi dự án như một quá trình khám phá, phát minh chứ không phải là
một dự án bế tắc, không lối thoát hay một dự án khó có thể triển khai. Hãy quản lý
từng bước của quá trình này theo một cách hoàn toàn khác:
      Cân nhắc dự án: Quá trình này bao gồm tất cả mọi người có quan tâm đến
dự án, họ sẽ giúp bạn quyết định xem liệu toàn bộ hay một phần nào đó của dự án

                                                                              121
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

có thể đưa vào các lĩnh vực kinh doanh mạnh, có uy tín của công ty một cách
tốt nhất.
       Triển khai dự án: Bạn phải nhận biết được sự khác biệt to lớn giữa các kỹ
năng, khả năng, các nguồn lực cần thiết để kiểm tra và phát triển một ý tưởng với
những kỹ năng, khả năng và nguồn lực để triển khai ý tưởng thành một lĩnh vực
kinh doanh. Do đó, hãy phân công công việc để triển khai dự án cho những cá nhân
và cơ cấu tổ chức mới.
      Đánh giá các tiến triển: Hãy coi học hỏi là mục tiêu trung tâm của mỗi dự
án kinh doanh. Kiểm tra các giả định ban đầu của bạn theo cách nhanh nhất và ít
tốn kém chi phí nhất. Sau đó tiến hành xem xét lại dự án tại các mốc quan trọng
nếu thực tế khác biệt với các dự tính ban đầu của bạn.
      Cấp vốn cho dự án: Chỉ cấp vốn cho những mốc quan trọng sắp tới trong
dự án kinh doanh của bạn. Hãy xác định các mốc phát triển không tốn nhiều chi phí
ngay từ khi bắt đầu quá trình thực hiện dự án.
       Tổ chức cán bộ: Phải bao gồm những người có năng lực nhất, có kỹ năng
tốt để đối phó với những bất ổn không dự đoán trước được trong việc triển khai các
lĩnh vực kinh doanh mới. Phải có phương pháp khéo léo điều chuyển các nhân viên
có năng lực thực hiện dự án về những lĩnh vực kinh doanh chủ lực của công ty.
      - Tóm tắt ý tưởng chính từ bài báo đăng trên tạp chí Harvard Business
Review của Rita Gunther McGrath[1] và Thomas Keil[2] -
                                                                  Nguon: www.vnn.vn
       “Bản quyền @Harvard Business School Publishing”, hoặc “Bản quyền
tiếng Việt @Công ty phần mềm và truyền thông VASC” khi trích dẫn lại thông
tin này trên các tài liệu in ấn và photocopy, và ghi rõ “Trích từ trang
Harvard’S-TVN” khi xuất bản trực tuyến.
       [1] Rita Gunther McGrath là Giáo sư giảng dạy tại trường Kinh doanh
Columbia University Graduate. Bà đã có dịp làm việc cùng với đội ngũ lãnh đạo của
hơn 1000 công ty trên khắp thế giới, thuyết trình về khả năng phát triển của họ. Đề
án nghiên cứu của bà về sự thành lập tổ chức là điều hết sức cần thiết và bổ ích
cho chiến lược phát triển của các công ty. Tác phẩm mới đây nhất của bà: The
Entrepreneurial Mindset: Strategies for Continuously Creating Opportunity in an Age
of Uncertainty (TD: Trí tuệ Doanh nhân: Chiến lược nhằm liên tiếp tạo ra cơ hội
trong một Kỷ nguyên của Sự không chắc chắn), viết cùng Ian MacMillan.
       [2] Thomas Keil là Giáo sư giảng dạy tại khoa Kinh doanh Schulich, trường
Đại học York, Toronto, Canada. Ông còn là Giáo sư về quản lý chiến lược tại Viên
nghiên cứu chiến lược và Kinh doanh quốc tế tại trường Đại học Nghiên cứu khoa
học Helsinki. Công việc của ông là xuất bản hoặc tư vấn cho các tạp chí như:
Harvard Business Review, MIT Sloan Management Review, Journal of
Management, Entrepreneurship Theory and Practice, Journal of Management
Studies,    European     Management     Review,    Telecommunications     Policy,
Technovation, Technology Analysis and Strategic Management, và Computers in
Industry…

122
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



       IX, Thấy gì từ xếp hạng Chỉ số toàn cầu hóa 2007?
      Việt Nam đã được đưa vào bảng xếp hạng "Chỉ số toàn cầu hóa 2007"
với một thứ hạng khá ấn tượng là 48/72. Sau 7 lần công bố, bảng đánh giá
thường niên năm nay của Tập đoàn tư vấn AT Kearney và tạp chí Foreign
Policy lần đầu tiên đã đưa Việt Nam vào trong bảng xếp hạng này.
       Báo cáo chỉ số toàn cầu hóa 2007, do tạp chí Foreign Policy phối hợp với
Hãng tư vấn A. T. Kearney thực hiện, cho biết Singapore tiếp tục dẫn đầu năm thứ
ba liên tục. Hongkong đã soán được ngôi vị thứ hai do Thuỵ Sĩ giữ năm ngoái. Hà
Lan nắm giữ vị trí thứ ba, tiếp theo là Thuỵ Sĩ và Ireland lần lượt ở vị trí thứ 4 và 5.
Top 10 quốc gia và vùng lãnh thổ năm nay còn đón nhận sự có mặt của hai thành
viên mới là Jordan và Estonia.
       Năm nay, số lượng các nền kinh tế được đưa vào bảng danh sách xếp hạng
đã tăng thêm 10 so với năm ngoái lên 72 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam là
một trong 10 thành viên mới được đưa vào bảng xếp hạng trong năm nay và đã bắt
đầu với hạng 48.
        Những quốc gia và vùng lãnh thổ nằm trong bảng xếp hạng năm nay chiếm
97% GDP và 88% dân số thế giới. Dựa vào các con số tỉ lệ của năm 2005 vừa đến
tay nhà khảo sát, bảng xếp hạng đo lường 12 nhóm dữ liệu thuộc bốn tiêu chí: hội
nhập kinh tế (thương mại và vốn), giao lưu con người (lao động, du lịch, kiều hối,
điện thoại quốc tế...), kết nối công nghệ (số người dùng Internet, số trang chủ
Internet, số máy chủ Internet), và sự tham gia chính trị của mỗi quốc gia và vùng
lãnh thổ (tham gia các tổ chức quốc tế, các hiệp định quốc tế, đóng góp cho việc
giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc, và dòng vốn trao đổi giữa các chính phủ).
Bảng xếp hạng “Chỉ số toàn cầu hóa” được giới chuyên gia đánh giá là một trong
những bảng xếp hạng tổng hợp và uy tín để nhìn nhận về mức độ tham gia quá
trình toàn cầu hóa của mỗi quốc gia. Do đó, lần đầu tiên Việt Nam có tên đã thể
hiện bước tiến trong vị thế toàn cầu của Việt Nam.
       Theo giới thiệu của AT Kearney, chỉ số thương mại của Việt Nam được xếp
hạng 10 nhờ vào những tiến bộ hướng tới tự do hóa kinh tế. Các khu vực hướng
tới xuất khẩu như dệt may giúp nền kinh tế tăng trưởng và hội nhập hơn vào chuỗi
cung ứng toàn cầu".
       Ngoài chỉ số toàn cầu hóa, báo cáo năm nay còn khai thác mối liên hệ giữa
sự hội nhập kinh tế của quốc gia và quy mô nền kinh tế của nước đó, mức độ buôn
bán qua mạng và tốc độ tăng trưởng của đô thị.
       Kết quả cho thấy: Thứ nhất, toàn cầu hoá là yêu cầu cấp bách hơn đối với
những nước nhỏ, thị trường nội địa hạn hẹp và hạn chế về tài nguyên thiên nhiên. 7
trong số 10 nền kinh tế đứng ở vị trí đầu có dân số ít hơn 8 triệu người và 8 thành
viên ấy có diện tích nhỏ hơn bang Indiana của Mỹ. Nhưng tổng thương mại và tỉ lệ
tăng sản phẩm nội địa của những quốc gia và vùng lãnh thổ này như Ireland và
Singapore thì lại gấp đôi nền kinh tế thuộc diện “nặng ký” là Trung Quốc và Ấn Độ.




                                                                                    123
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       Thứ hai, các nước càng toàn cầu hoá thì tính quốc tế hoá của internet băng
thông rộng càng cao. Chẳng hạn như việc sử dụng băng thông rộng ở Mỹ cũng
vượt trội so với các quốc gia khác mà chủ yếu là sử dụng e-mail trong trao đổi
thương Lại giữa châu Mỹ latinh và châu Âu thông qua Mỹ.
      Thứ ba, toàn cầu hoá ở mức độ thấp hơn đối với những nước có xu hướng
tăng nhanh ở khu vực đô thị. Chỉ số của báo cáo cho thấy những nước xếp hạn
thấp như Nigeria, Bangladesh và Indonesia tỉ lệ gia tăng đô thị hoá cao hơn so với
những nước có vị trí xếp hạng cao hơn.
       Trong số 72 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam có các mặt được xếp hạng
khá cao như thương mại (hạng 10), kiều hối (hạng 15), tăng trưởng kinh tế (hạng
19). Các yếu tố còn xếp hạng thấp của Việt Nam gồm dịch vụ Internet (hạng 66 và
71), và hạng 69 về tiêu chí “đóng góp cho việc giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc”.
(Điều này cho thấy không phải tiêu chí nào cũng phải là mục tiêu giành vị trí cao
của mỗi quốc gia).
       Nhìn sang các nước láng giềng, năm nay Malaysia tụt 4 bậc so với năm
trước với mức xếp hạng 23/72. Mặc dù xếp hạng thương mại ở vị trí khá cao 3/72,
tăng trưởng kinh tế xếp hạng 9/72, tuy nhiên lí do chính khiến nước này tụt hạng
được báo cáo chỉ ra là tiêu chí chính trị (hạng 63/72).
       Philippines cũng tụt 7 bậc xuống hạng 38, trong đó nguyên nhân chính là sự
sụt giảm của dòng vốn FDI (xếp hạng 63/72).
      Thái Lan bị tụt 8 bậc, rơi xuống vị trí 53, thấp hơn cả Việt Nam, mặc dù Việt
Nam mới có mặt lần đầu, còn Thái Lan đã có mặt từ những lần xếp hạng đầu tiên
của AT Kearney. Lý do tụt hạng của Thái Lan chủ yếu vẫn là chính trị.
      Indonesia còn tụt đến 9 bậc, xuống vị trí 69/72. Tuy Indonesia không có điểm
“đặc biệt yếu”, nhưng lại có sự yếu kém toàn diện về nhiều yếu tố toàn cầu hóa,
như dòng chuyển dịch nhân lực (hạng 68/72), điện thoại (67/72), du lịch (65/72),
dòng vốn chính phủ (67/72).
       Mặc dù có những nhìn nhận và kỳ vọng khác nhau về “Chỉ số toàn cầu hóa”,
trong đó không hẳn vị trí cao ở tiêu chí nào cũng là mục tiêu của quốc gia. Tuy
nhiên, việc Việt Nam lần đầu tiên có mặt với vị trí khá tốt cũng là một niềm tự hào,
và có thêm một thông số để chúng ta xác định được vị thế chúng ta đang ở đâu trên
thế giới này.
       Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO, sự tăng ngoạn mục về dòng vốn FDI
cũng như mới đây nhất là trở thành ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo
an Liên hợp quốc, hoàn toàn có cơ sở để dự báo Việt Nam sẽ chiếm vị trí cao hơn
trong bảng xếp hạng năm tới.
                                                        Nguon: www.vneconomy.com.vn




124
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



      X, Lãng phí đất đai tại Hà Nội:... dự án công!
      Một ngày không phải là khoảng thời gian quá dài, nhất là với đô thị có
nhịp sống gấp gáp như ở Hà Nội. Nhưng cũng chỉ bằng ấy thời gian dạo
quanh Thành phố, người ta có thể bắt gặp không ít dự án xây dựng bỏ hoang.
Và đa phần trong số đó là các ông trình phúc lợi công cộng.
      Đất bỏ hoang
        Năm 2003, dự án xây dựng đường Láng Hạ kéo dài chính thức khởi công
(nay là đường Lê Văn Lương). Hàng trăm hộ dân đã phải di dời để nhường mặt
bằng cho tuyến đường và dải đất hai bên đường với ý tưởng của Thành phố là sẽ
xây dựng đường và phố một cách đồng bộ. Từ năm 2005, đường Lê Văn Lương đã
hoàn thành và đưa vào sử dụng, nhưng hàng chục héc – ta đất dọc hai bên đường
vẫn bỏ không. Trong số các ô đất đã được phân lô, chỉ có duy nhất dự án xây dựng
nhà cao tầng của Công ty Xây dựng số 2 Hà Nội (Hacinco) là đã khởi công, nhưng
tiến độ thi công chậm chạp do quá trình cổ phần hóa của Công ty này đang gặp
nhiều vướng mắc. Dải đất hai bên đường nhiều chỗ đã bị lấn chiếm để mở nhà
hàng, quán bia, quán cà phê, điểm rửa xe. Phần còn lại trở thành “thiên đường” của
cỏ dại.
       Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, trong số 7 ô đất giao cho các chủ đầu tư
để triển khai dự án xây dựng, thì có tới 3 ô đất chưa hoàn tất việc giải phóng mặt
bằng. Điển hình là lô đất có ký hiệu 4.2 của Tổng công ty Đầu tư và Phát triển nhà
Hà Nội. Theo chỉ tiêu quy hoạch, ô đất này có tổng diện tích 9.346 m2. Theo định
hướng quy hoạch không gian khu đất, có một phần nhà dân được giữ lại, một phần
phải giải tỏa để xây dựng nhà cao tầng. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, Sở Tài
nguyên - Môi trường và Nhà đất vẫn không bàn giao chỉ giới quy hoạch cho Ban
Quản lý dự án Láng Hạ - Thanh Xuân (đơn vị chủ đầu tư dự án giải phóng mặt
bằng và xây dựng hạ tầng quỹ đất hai bên đường). Do không xác định được ranh
giới đất được thu hồi, nên công tác giải phóng mặt bằng vẫn bế tắc!
       Một câu chuyện khác về đất bị bỏ hoang. Là một trong số hàng chục dự án
khu đô thị mới ở Hà Nội còn xây dựng dang dở, nhưng hiếm có dự án nào lại
hoang tàn như Khu đô thị mới Cổ Nhuế - Xuân Đỉnh. Theo Quyết định số 189/QĐ-
UB ngày (9/1/2003), UBND Thành phố Hà Nội thu hồi 226.494 m2 đất ở của người
dân các xã Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm để xây dựng khu đô thị mới. Chủ
đầu tư dự án là Công ty Kinh doanh dịch vụ nhà Hà Nội (thuộc Tổng công ty Đầu tư
và Phát triển nhà Hà Nội). Quy mô vốn đầu tư dự án là trên 384,8 tỷ đồng, với mục
tiêu xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch trong khu vực,
tạo quỹ đất, quỹ nhà (khoảng 600 căn hộ), các công trình hạ tầng xã hội, dịch vụ
công cộng, tạo cảnh quan đô thị và cải thiện đời sống cho người dân. 1/4 diện tích
đất xây dựng nhà ở của dự án được để dành cho quỹ nhà ở của Thành phố phục
vụ các đối tượng chính sách và di dân tái định cư.
       Theo kế hoạch, dự án sẽ hoàn thành vào năm 2006. Nhưng đến thời điểm
hiện tại, sau 4 năm thi công, khu đô thị này vẫn chỉ dừng lại ở hình ảnh của một
công trường dở dang. Hơn 40 ngôi biệt thự, nhà liền kề sau khi xây xong phần thô,

                                                                              125
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

chưa có bất kỳ ngôi biệt thự nào được hoàn thiện. Làm một phép tính đơn giản,
nếu mỗi ngôi biệt thự có giá 3 tỷ đồng, thì số tài sản công bị lãng phí ở đây đã lên
đến hơn 100 tỷ đồng để dãi nắng, dầm mưa. Đó là chưa kể hàng trăm ngàn mét
vuông đất trong khu đô thị cỏ dại mọc đầy và là bãi đáp lý tưởng của các đối tượng
tiêm chích ma túy!
      Nhà bỏ hoang
       Trái với sự sang trọng và sầm uất của khu biệt thự và nhà ở thương mại
Làng Quốc tế Thăng Long (Cầu Giấy) là không khí vắng vẻ, tiêu điều của Khu tái
định cư Dịch Vọng, dù 2 dự án này chỉ cách nhau mặt cắt tuyến đường Trần Đăng
Ninh. Khu tái định cư Dịch Vọng gồm hàng chục nguyên đơn nhà cao tầng với hơn
900 căn hộ. Khu nhà này đã hoàn thành việc xây dựng từ năm 2005, nhưng cho
đến nay, số hộ chuyển đến sinh sống chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.
Bà Nguyễn Thị Bé, sống tại nhà NO8 - một trong những người chuyển đến sinh
sống sớm nhất tại Khu tái định cư Dịch Vọng cho biết, mặc dù đã hoàn thành việc
xây dựng gần 3 năm qua, các đơn vị thi công đã rút đi từ lâu, nhưng hạ tầng của
các khu nhà hầu hết còn dở dang. Những hộ gia đình chuyển đến sinh sống một
thời gian đều phải bỏ tiền túi khắc phục việc sàn nhà bị thấm, dột. Nhà N04 hoàn
thành 3 năm, nhưng hệ thống điện nước chưa hoàn chỉnh, nay đang được đào bới
lên làm lại. Ngay sát nhà NO4 là nhà N05 và N06 với khoảng 250 căn hộ tái định cư
cũng chung số phận.
        Quan sát bên ngoài các tòa nhà, chúng tôi nhận thấy gạch lát hè bong tróc,
lở lói, những ô đất (có lẽ được dùng để xây vườn hoa) vô tình trở thành những
vườn cỏ dại mọc um tùm. Tiếp tục khảo sát tại Khu đô thị mới Cầu Diễn, hoàn cảnh
các khu nhà tái định cư B3, B4, B5 cũng không hơn gì Khu tái định cư Dịch Vọng,
thang máy chưa thể sử dụng, nước sạch khan hiếm. Mỗi khu nhà ở đây có khoảng
40 căn hộ, thì hiện tại mới chỉ khoảng một nửa số căn hộ có người sinh sống, hàng
chục căn hộ khác vẫn “cửa đóng, then cài”!
      Sự lãng phí tài sản Nhà nước không chỉ ở các khu nhà tái định cư. Trong khi
người dân Hà Nội nháo nhác tìm bãi đỗ xe thì có những dự án xây dựng nhà để xe
cao tầng hiếm hoi được Thành phố đầu tư xây dựng lại bị bỏ không. Bãi đỗ xe cao
tầng ở phố Trịnh Hoài Đức, ngay cạnh Sân vận động Hàng Đẫy là một ví dụ. Với
tổng vốn đầu tư hàng chục tỷ đồng sau khi hoàn thành việc xây dựng, người ta
không biết khai thác nó như thế nào. 5 tầng sàn nhưng chỉ có lèo tèo vài chiếc ô tô
đậu ở tầng 1. Tất cả các tầng trên đều bỏ không.
       Trao đổi với chúng tôi, bà Phạm Thị Thành, đại biểu huyện Từ Liêm bức xúc:
“Việc bãi đỗ xe ngã ba Cát Linh - Trịnh Hoài Đức sau khi xây dựng bỏ không nhiều
năm nay, chúng tôi đi kiểm tra đã phản ánh nhiều lần, nhưng vẫn không có cơ quan
nào đứng ra giải quyết!”. Bãi đỗ xe ở Khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính còn bi đát
hơn. Đang xây dựng dở dang, không hiểu sao công trình phải dừng lại. Nhiều tháng
nay nó được một ai đó tận dụng làm bãi rửa xe và nơi tập kết hàng phế liệu.
Đường bỏ hoang



126
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


      Dự án mở rộng đường Láng (nằm trên địa bàn quận Cầu Giấy) thành đường
một chiều đã cơ bản hoàn thành và thông xe từ cuối năm 2005, tạo sự thông
thoáng đáng kể cho các phương tiện tham gia giao thông từ đường Bưởi đến Ngã
Tư Sở. Tuy nhiên, một phần của dự án mở đường từ đầu đường Hoàng Quốc Việt
đến đường Nguyễn Khánh Toàn vẫn không thể đưa vào sử dụng vì không giải
phóng mặt bằng được đúng 1 hộ dân. Trong khi hàng chục hộ dân đã phải di dời để
nhường mặt bằng cho dự án thì cơ quan chức năng của Thành phố Hà Nội vẫn
không giải tỏa được hộ gia đình này, bởi không “thỏa thuận” được đơn giá đền bù.
Cả tuyến đường dài hơn 4 km vẫn không thể thông tuyến vì 1 hộ gia đình. Câu
chuyện nghe có vẻ hài hước, nhưng có thật ở Hà Nội nhiều năm nay.
       Còn dự án mở rộng đường Khuất Duy Tiến (một phần của đường vành đai
III) được tiến hành thi công từ năm 2001, theo kế hoạch, dự án phải được hoàn
thành từ tháng 10/2006 để phục vụ Hội nghị Cấp cao APEC 14, nhưng đến nay,
sau 5 năm, dự án vẫn là nỗi ám ảnh của người dân.
       Theo những người sống trong khu vực, đoạn đường trên xảy ra ách tắc
thường xuyên. Khi có mặt để thực hiện bài viết này không phải giờ cao điểm, song
chỉ một đoạn ngắn hơn 1 km từ đường Nguyễn Trãi (quận Thanh Xuân) nối ra
đường Lê Văn Lương mà chúng tôi phải mất gần 30 phút để vượt qua vì tắc
đường. Không chỉ khó chịu vì ùn tắc, đoạn đường còn thực sự là một phép thử cho
lòng can đảm của những ai thường xuyên phải qua đây. Mặt đường bị các loại xe
tải hạng nặng cày xới. Nước mưa và nước thải từ những nhà dân ven đường biến
mặt đường thành những chiếc ao. Khu vực chưa giải tỏa, người dân tận dụng đổ
rác và phế thải xây dựng. Mỗi lần có ô tô chạy qua, bụi đất lại quất ràn rạt vào mặt
những người đi xe gắn máy phía sau.
       Trong khi mỗi mét vuông đất ở Hà Nội có giá hàng chục triệu, thậm chí đến
hàng trăm triệu đồng, thì tại sao Thành phố lại có nhiều dự án bỏ hoang đến thế (?).
Hơn một lần chúng tôi gõ cửa các cơ quan chức năng của Hà Nội để tìm câu trả lời,
nhưng rốt cuộc vẫn “bó tay” với câu hỏi “tại sao”!
                                                             Nguon: www.vir.om.vn


      XI, Tại sao chưa đánh thuế đầu cơ nhà đất?
      Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh nói: "Thuế chỉ là một yếu tố. Quan
trọng là làm tốt quy hoạch, tăng nguồn cung cho thị trường, mua bán công
khai, minh bạch. Như vậy, sẽ lập lại được trật tự về giá nhà đất".
       Giải pháp cho những cơn sốt giá nhà đất ở cả Hà Nội và TP. HCM đã thành
chủ đề nóng của dư luận. Trong các bài trước, VietNamNet đã đăng ý kiến Phó Thủ
tướng Nguyễn Sinh Hùng cho là phải đánh thuế cao những diện tích đầu cơ, Viện
trưởng Viện Kinh tế TP. HCM Trần Du Lịch nói nên ưu tiên thuế về đất đai hơn là
thuế thu nhập cá nhân, khi có thuế, giá đất sẽ xuống ngay.
       Tuy nhiên cũng có những ý kiến khác. Bộ trưởng Tài chính cho là hiện chưa
hội đủ điều kiện để ban hành Luật Thuế sử dụng đất, và Chủ tịch HĐQT Tập đoàn


                                                                                127
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

Đầu tư và Phát triển, bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng cho là "khó mà đánh thuế
đầu cơ đất".
      Thiếu cơ chế để thị trường vận hành
       Giá bất động sản, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí
Minh đang ở mức rất cao so với thu nhập của người dân. Chính phủ quan tâm đến
việc này như thế nào để thị trường vận hành bình thường?
        Đã gọi là thị trường thì cái chính vẫn là cung - cầu. Nếu bây giờ chúng ta
đưa cung ngang bằng với cầu thì sẽ có mức giá tốt, hợp lý. Tôi lấy ví dụ như Hà
Nội bây giờ làm thật tốt công tác quy hoạch, công bố thật nhiều dự án nhà đất,
hàng hoá được bán công khai thì chắc chắn cung sẽ nhiều lên và giá sẽ được lập
lại ở trật tự bình thường.
       Thưa ông, chúng ta không thể vận hành được thị trường bất động sản một
cách thông suốt nếu như thiếu các chính sách tài chính phù hợp, chẳng hạn như
chính sách thuế để chống đầu cơ?
       Thuế chỉ là một yếu tố thôi (tất nhiên cũng cần phải hoàn thiện). Bởi vì, gọi là
thị trường là thế nào? Một là phải có hàng hoá, bây giờ chính sách về phát triển
nhà, đất của ta đã rất rõ ràng, giao dịch cũng rõ ràng: đầu giá, đấu thầu dự án. Cái
thiếu bây giờ chỉ còn là cơ chế cho thị trường đó vận hành thế nào.
       Theo tôi, cần có cơ chế để hàng hoá đó có nơi giao dịch, cần có chính sách
quản lý thông tin đất đai công khai, minh bạch. Thứ hai, muốn thị trường phát triển
thì việc cấp các chứng thư về nhà đất như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà phải nhanh chóng hoàn tất để khi có nhu cầu người ta có thể
mua, bán dễ dàng.
      Đang nghiên cứu đánh thuế tài sản
       Nhưng thưa Bộ trưởng, giá nhà đất cao được xác định là do bị đầu cơ thao
túng, làm giá là chính, mà theo các chuyên gia thì ngoài chính sách thuế ra, không
có cách nào có thể chống được đầu cơ?
       Để giải quyết triệt để vấn đề này thì phải nghiên cứu đánh thuế tài sản. Hiện
nay, chúng tôi đang được giao nghiên cứu xây dựng luật thuế Tài sản để trình
Quốc hội vào năm 2010. VN 73; nguyên tắc, việc đánh thuế theo suất luỹ tiến đối
với đất ở sẽ góp phần hạn chế việc đầu cơ, nắm giữ đất đai trái pháp luật. Càng sử
dụng nhiều đất, đất có giá trị càng cao thì càng phải chịu mức thuế cao.
       Nhưng tôi xin nhấn mạnh, thuế chỉ là một yếu tố thôi, ngoài ra còn cần nhiều
giải pháp khác như phải có Luật Đăng ký bất động sản chẳng hạn. Vì nếu không thì
không có cơ chế nào để kiểm soát được một người có nhiều nhà, nhiều đất để mà
tính thuế.
      Nguyên tắc cơ bản đánh thuế tài sản sẽ như thế nào, thưa ông?
      Hiện nay đang nghiên cứu nên cũng chưa biết cụ thể được. Nhưng sẽ có rất
nhiều sự lựa chọn, chẳng hạn như đánh thuế suất luỹ tiến nhằm điều tiết đầu cơ,
đồng thời buộc chủ sử dụng phải sử dụng đất hiệu quả. Điều này nước nào cũng
làm và đó cũng là mục tiêu lớn nhất của chúng ta.


128
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


      Để đất đai thực sự trở thành nguồn lực trong phát triển kinh tế, việc quản lý
thông qua quy hoạch tốt để đưa đất vào sử dụng hiệu quả là quan trọng nhất, chứ
không phải là tăng thuế để tăng nguồn thu cho ngân sách.
       Tại sao lại rút Luật Thuế sử dụng đất ra khỏi chương trình xây dựng luật,
pháp lệnh của Quốc hội năm 2007, trong khi Pháp lệnh Thuế nhà đất đã trở nên rất
lạc hậu?
       Ban đầu định làm Luật Thuế sử dụng đất để thay thế Luật Thuế sử dụng đất
nông nghiệp và Pháp lệnh thuế nhà đất cũng nhằm mục tiêu đảm bảo công bằng về
nghĩa vụ trong sử dụng đất và hạn chế đầu cơ về đất ở. Nhưng khi suy tính lại thì
Luật điều chỉnh cái gì? Một là đất nông nghiệp, chúng ta đang thực hiện miễn thuế
sử dụng đất nông nghiệp cho đến năm 2010, mà theo quan điểm của tôi thì sẽ phải
nghiên cứu để tiếp tục kéo dài chủ trương này sau 2010.
       Còn đất phi nông nghiệp, hiện chúng ta đang có Pháp lệnh Thuế nhà đất.
Như vậy chưa hội đủ điều kiện cần để ban hành Luật Thuế sử dụng đất. Nên Chính
phủ quyết định là sẽ sửa Pháp lệnh Thuế nhà đất, đồng thời nghiên cứu ban hành
Thuế Tài sản, như vậy sẽ đáp ứng yêu cầu trước mắt và mục tiêu lâu dài là quản lý
đất đai và điều tiết hiện tượng đầu cơ.
              ĐBQH Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Đầu tư phát
     triển VN: Thông tin minh bạch sẽ loại bỏ móc ngoặc
              Tôi nghĩ khó mà đánh thuế đầu cơ đất. Ví dụ, tôi có một khoản tiền, tôi dự tính
     đất sẽ tăng giá nên có thể bỏ tiền mua từ trước. Việc bỏ vốn ra đầu tư là quyền tự do
     của tôi, không thể cấm được. Tuy nhiên, điều chúng ta cần quan tâm là sự móc nối để
     đầu cơ giữa cá nhân và người có thông tin, có quyền. Như ở các dự án xây chung cư,
     vì sao người dân bình thường phải trả những giá rất cao? Là bởi vì khi đến mua thì các
     căn hộ đều đã được đăng ký hết rồi. Chỉ khi nào giá lên, có lời thì người đầu tư mới
     bán ra. Chuyện đó đã xảy ra ở hai đợt "sốt" trước, nay chắc chắc Chính phủ phải rút
     kinh nghiệm và có biện pháp điều tiết thị trường.
              Tôi cho rằng về mặt pháp lý, rất khó biết được những mối quan hệ trên và như
     vậy sẽ khó kiểm soát. Để xác định thế nào là nhà đầu cơ thì phải có tiêu chí. Ta chưa
     có tiêu chí thì không thể nói là đầu cơ được. Thậm chí người ta có thể có rất nhiều
     cách để lách. Một người có nhiều tiền có thể mua bất động sản nhưng chia ra cho
     nhiều người đứng tên, nào bạn bè, nào họ hàng...
              Tôi nghĩ nên để đất đai điều tiết đúng theo thị trường, đồng thời quan trọng
     nhất, thông tin về nhà đất phải được công khai, ngay từ khâu quy hoạch. Thông tin
     minh bạch sẽ xóa được sự móc ngoặc giữa cá nhân và những người nắm thông tin
     hoặc những người có quyền bán. Khi có thông tin, người ta sẽ có nhiều lựa chọn hơn,
     có so sánh giữa chỗ này chỗ kia và kết quả là điều tiết trên thị trường sẽ hợp lý hơn.
              ĐBQH Phạm Thị Loan, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Việt Á: Công khai thì
     không ai đầu cơ cả
              Đầu cơ là chuyện không tránh khỏi của thị trường, quan trọng là phải có chính
     sách để đưa bất động sản về giá thực của nó. Muốn thế thì phải có thị trường bất động
     sản, đồng thời phải công khai hóa các hoạt động. Ví dụ những khu đất đô thị mới phải
     được đấu thầu và bán công khai đến tận người dân thì ắt người ta sẽ không đầu cơ
     nữa. Chứ cứ giao cho một số doanh nghiệp nào đó, các doanh nghiệp đó làm hạ tầng,
     rồi chính họ lại trả tiền chuyển đổi sử dụng đất, bán theo kiểu đó thì tất yếu có đầu cơ.
              Nếu chúng ta tiếp tục để cho một số nhà đầu cơ khống chế thì dễ xảy ra cơn
     "sốt" thứ 3, nhất là khi dân ta vẫn mua theo phong trào.
                                                                                Nguồn: www.vnn.vn




                                                                                                 129
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      B, Tin vắn về đầu tư:
      VN đứng thứ 6 thế giới về hấp dẫn đầu tư
      Báo cáo Đầu tư thế giới (WIR) 2007 do Diễn đàn Liên Hợp Quốc về thương
mại và phát triển (UNCTAD) công bố hôm qua cho biết, có 11% tập đoàn xuyên
quốc gia khẳng định Việt Nam sẽ là điểm đầu tư hấp dẫn nhất của họ trong những
năm tới.
       Với kết quả này, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 6 trong 141 nền kinh tế được khảo
sát về triển vọng thu hút đầu tư, sau Trung Quốc (52%), Ấn Độ (41%), Mỹ (36%),
Nga (22%) và Brazil (12%).
       Để thực hiện phần “Triển vọng đầu tư” trong bản báo cáo WIR năm 2007,
UNCTAD đã tiến hành khảo sát ý kiến của hàng loạt tập đoàn xuyên quốc gia trên
khắp thế giới. Kết quả không gây nhiều ngạc nhiên khi Việt Nam lọt vào Top 10 nền
kinh tế hấp dẫn nhất về đầu tư của các tập đoàn xuyên quốc gia trong giai đoạn
2007-2009.
       Theo WIR 2007, Việt Nam đang trở thành một điểm đầu tư quan trọng không
chỉ trong lĩnh vực sản xuất, mà cả trong các ngành dịch vụ, ngân hàng và tài chính.
Điều này cho thấy một sự chuyển mình mạnh mẽ của một nền kinh tế phát triển
theo hướng ngày càng đa dạng.
       Khảo sát cũng cho biết, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam nằm
trong số 5 điểm đầu tư hấp dẫn nhất của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản năm 2007.
       Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa có tên trong danh sách 10 nền kinh tế châu Á
thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhất trong năm 2006. Nguyên
nhân là do khả năng thực hiện FDI thấp. Theo báo cáo, số vốn FDI thực hiện tại
Việt Nam chỉ đạt 2,31 tỷ USD năm 2006.
      Chính vì vậy, chỉ số thực hiện vốn FDI của Việt Nam trong năm 2006 đã tụt
xuống thứ 78/141, đứng sau Singapore (thứ 5), Thái Lan (52), Trung Quốc (69),
Malaysia (71)...
       Theo nhận định của UNCTAD, Trung Quốc và Hong Kong (Trung Quốc) vẫn
giữ vị trí lớn nhất trong vùng nhận được FDI, theo sau là Singapore và Ấn Độ.
Trong đó, Trung Quốc thu hút được 69 tỷ USD, Hong Kong (Trung Quốc) 43 tỷ
USD, Singapore 24 tỷ USD và Ấn Độ 17 tỷ USD. Việc săn lùng nguồn lực đầu tư
FDI của Trung Quốc và Ấn Độ vẫn tiếp tục tăng lên.
       Theo báo cáo, FDI đổ vào Đông, Nam và Đông Nam Á năm 2006 tăng 19%,
đạt mức kỷ lục mới với 200 tỷ USD. Trung Quốc đại lục tiếp tục đứng đầu khu vực
về FDI dù đã giảm 4%, xuống còn 69 tỷ USD. Hong Kong (Trung Quốc) đứng thứ 2
với 43 tỷ USD, tiếp đến là Singapore – 24 tỷ USD, Ấn Độ 17 tỷ USD...
       UNCTAD cho rằng, khu vực này cũng sẽ trở nên hấp dẫn hơn đối với việc
tìm kiếm hiệu quả đầu tư FDI. Theo báo cáo, việc Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và
Việt Nam đang có kế hoạch cải thiện đáng kể hạ tầng cơ sở của mình sẽ giúp cho
khu vực châu Á thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn FDI trong những năm tới.



130
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Xét trên phạm vi toàn cầu thì Mỹ là nước nhận được FDI nhiều nhất, theo
sau là Vương quốc Anh. Trong khi hầu hết FDI bắt nguồn từ các nước phát triển,
thì các dòng vốn từ các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi lại
tăng lên đến mức cao kỷ lục.
       Theo dự đoán của WIR, hoạt động đầu tư trên toàn cầu sẽ tiếp tục tăng
trong hai năm tới. Tuy nhiên, vẫn còn những rủi ro và thách thức đối với nền kinh tế
thế giới, trong đó có sự bất ổn về tài chính và giá năng lượng tăng cao. Báo cáo
nhấn mạnh, triển vọng đầu tư nước ngoài trong tương lai sẽ phụ thuộc phần lớn
vào khả năng giải quyết những rủi ro này.
                                                             Nguồn: www.vnexpress.net


      “1 ha đất phải đầu tư trên 1 triệu USD”
      Hỏi chuyện ông Nguyễn Văn Tứ, Phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh
Hà Tây.
       Năm 2006, Hà Tây đứng thứ 3 trong cả nước về thu hút FDI. Vậy xin ông cho
biết kết quả thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài của Hà Tây từ đầu năm 2007
đến nay?
       10 tháng đầu năm 2007, Hà Tây thu hút được 115 dự án với tổng số vốn
đăng ký là 18.743 tỷ đồng. Đầu tư trong nước có 92 dự án với vốn đăng ký 10.491
tỷ đồng, tăng 2,04 lần về số dự án và gấp 8,31 lần tổng vốn đầu tư đăng ký so với
cùng kỳ năm 2006. Dự kiến đến hết năm 2007, thu hút đầu tư trong nước của Hà
Tây có thể đạt 16.300 tỷ đồng, gấp 3,53 lần so với năm 2006 và bằng 145,7% tổng
vốn đầu tư đăng ký trong cả giai đoạn từ năm 2000 đến hết 2006.
Về thu hút đầu tư nước ngoài, có 23 dự án với vốn đầu tư đăng ký là 515,7 triệu
USD, tăng 92% về số dự án và gấp 11,2 lần về vốn đầu tư đăng ký so với cùng kỳ
2006. Nếu tính cả các dự án đã và sắp trình hồ sơ cấp phép đầu tư, dự kiến cả
năm 2007 sẽ thu hút được khoảng 30 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, tăng 57,8%
so với năm 2006, với tổng vốn đăng ký khoảng 1 tỷ USD, tăng 25,8% so với năm
2006. Như vậy, riêng năm 2007, Hà Tây có thể khẳng định kết quả thu hút đầu tư
vượt năm kỷ lục 2006.
       Hà Tây đề ra những mục tiêu kêu gọi thu hút đầu tư cụ thể nào cho năm
2008, thưa ông?
       Năm 2008 sẽ tiếp tục phát huy những thế mạnh cũng như những điều kiện,
bài học đã thu nhận được trong năm 2006 và 2007. Tuy nhiên, năm 2008, chúng tôi
sẽ chú ý mạnh đến chất lượng những dự án đầu tư, làm sao cho Hà Tây có sự
chuyển hướng cơ cấu kinh tế đúng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
chuyển dịch sang nền kinh tế dựa vào du lịch và dịch vụ.
       Năm 2007, những dự án được cấp phép năm 2006 sẽ giải ngân được
khoảng 30%. Chúng tôi có thể khẳng định những dự án đã cấp phép năm 2006 và
2007 sẽ được giải ngân trong năm 2008. Trong năm 2008, chúng tôi tin tưởng số
vốn đầu tư trong nước sẽ bằng hoặc cao hơn năm 2007 và vốn đầu tư nước ngoài
sẽ đạt hơn 1 tỷ.

                                                                                 131
                                 Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Hà Tây là địa phương đất chật người đông, nếu thu hút đầu tư theo kiểu lấy
số đông, liệu quỹ đất có đủ đáp ứng?
       Đúng vậy, thực ra phát triển công nghiệp - dịch vụ du lịch của Hà Tây mới
bắt đầu 3 năm trở lại đây nên quỹ đất vẫn còn tương đối lớn, trong khoảng 5 đến 10
năm nữa, chúng tôi hoàn toàn có đủ quỹ đất để thu hút đầu tư. Chúng tôi cũng đã
nghĩ đến chuyện sử dụng đất sao cho có hiệu quả nên chủ trương của Hà Tây là
thu hút những dự án có suất đầu tư lớn, quy mô lớn, đi theo hướng đầu tư chiều
sâu về công nghệ cao, giảm thiểu những dự án dùng nhiều đất nhưng suất đầu tư
thấp, hiệu quả kinh tế thấp.
       Đây là vấn đề khó, nước ta đang dần đi theo hướng tự do hoá đầu tư, tự do hoá
kinh doanh nên chúng tôi đang tính đến việc thiết chế hóa các quy định để nâng cao
hiệu quả thu hút vốn đầu tư nhưng không trái với tinh thần tự do hóa đầu tư kinh doanh.
Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ công bố các thiết chế nhưng vẫn lấy hiệu quả đầu tư, lợi
ích phát triển kinh tế và lợi ích nhà đầu tư để xây dựng chính sách.
       Như vậy, Hà Tây sẽ tiến tới chỉ tiếp nhận những dự án lớn. Vấn đề đặt ra ở
đây là khả năng thẩm định dự án của địa phương có thể thẩm định được tính hiệu
quả của các dự án lớn?
       Tư duy hiện nay là tự do hoá đầu tư với nguyên tắc các nhà đầu tư tự khai,
tự chịu trách nhiệm. Chúng ta đang tiến đến nền hành chính theo hướng bỏ tiền
kiểm, tăng cường hậu kiểm và nâng cao vai trò tính chịu trách nhiệm trước pháp
luật của các nhà đầu tư. Như vậy, vấn đề thẩm định không quyết định mà nằm ở
công tác hậu kiểm.
       Hà Tây đưa ra thông điệp tuy không chính thức: Trên 1 ha đất mà nhà đầu
tư không đầu tư được trên 1 triệu USD thì hầu như chúng tôi từ chối tiếp nhận.
Trong quy hoạch của tỉnh, chúng tôi muốn xây dựng 11 khu công nghiệp nhưng
Chính phủ chỉ cho 5 khu vì sợ không lấp đầy. Vấn đề lớn của chúng tôi là làm sao
thu hút những nhà đầu tư mang hiệu quả kinh tế cao, những nhà đầu tư chiều sâu
về công nghệ cao, còn việc thu hút đầu tư đơn thuần của Hà Tây không phải là vấn
đề lớn.
      Nguồn nhân lực qua đào tạo là vấn đề lớn với hầu hết các địa phương, về
phía mình, Hà Tây sẽ giải quyết vấn đề nhân lực như thế nào?
      Nguồn lao động qua đào tạo của Hà Tây mặc dù lớn hơn mức trung bình của
cả nước nhưng chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu thu hút đầu tư. Chúng tôi sẽ đưa ra
nhiều chính sách nhằm xã hội hóa công tác dạy nghề bằng các nguồn vốn trong và
ngoài nước. Chúng tôi sẽ cùng các nhà đầu tư lớn thực hiện việc chuyển hóa lực
lượng lao động thô thành lao động qua đào tạo.
                                                         Nguồn: www.vneconomy.com.vn




132
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



       Dòng vốn gián tiếp đang chảy mạnh vào Việt Nam
       Hiện có khoảng 4 - 5 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) đang chờ
để đầu tư vào thị trường Việt Nam. Đó là nhận định của nhiều quỹ đầu tư nước
ngoài tại Hội nghị "Funds World Vietnam 2007" vừa diễn ra tại TPHCM.
       Trong đó, một phần sẽ được đổ vào các đợt IPO của những doanh nghiệp
lớn như: Vietcombank, BIDV, MHB, Incombank, MobiFone…
       "Việt Nam đang được xem là mảnh đất màu mỡ cho các nhà đầu tư kiếm lợi
nhuận và tôi tin chắc rằng, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã thu được nguồn lợi lớn
từ thị trường mới phát triển này", ông Alex Hambly Giám đốc điều hành Quỹ
Prudential Việt Nam nhấn mạnh.
       Ông Brad Durham, Giám đốc điều hành Emerging Portfolio Fund Research
(EPFR - Mỹ) cho rằng, Việt Nam ngày càng hội nhập vào thị trường toàn cầu. Do
vậy, Việt Nam sẽ tiếp tục thu hút được nhiều nguồn vốn FDI (vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài) và FII từ thị trường toàn cầu trong thời gian tới.
       "Hiện có khoảng 25 quỹ đầu tư nước ngoài quy mô lớn đang tham gia đầu tư
tại TTCK Việt Nam. Trong đó, nguồn vốn đổ vào nhiều nhất là ở lĩnh vực công
nghiệp, dịch vụ, tài chính…", ông Brad Durham cho biết.
       Tuy nhiên, ông Brad Durham cho rằng, so với tiềm năng và nhu cầu thực tế
thì con số trên vẫn còn khá khiêm tốn. Số vốn đầu tư của các quỹ đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,05% trong tổng nguồn vốn của các quỹ
hiện có. Trong khi đó, tiềm năng của thị trường mới này còn rất lớn.
       Theo đánh giá của các chuyên gia trong trong ngành quản lý quỹ, hiện sự
phân bổ vốn của các quỹ đầu tư ngoại vào Việt Nam còn nhỏ lẻ. Vì vậy, trong thời
gian tới, khi Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn với thế giới, nguồn vốn gián tiếp "chảy
vào" dự kiến sẽ ngang bằng với Malaysia là 50 tỷ USD hiện nay.
       Tuy nhiên, để đạt được kết quả trong thu hút dòng vốn gián tiếp, các quỹ đầu
tư nước ngoài cho rằng, Chính phủ Việt Nam phải tạo điều kiện hơn nữa cho nhà
đầu tư, đồng thời sớm cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng và cụ thể hoá chính sách
quản lý dòng vốn.
       Theo tiến sĩ Adam McCarty, chuyên gia kinh tế trưởng của Công ty Tư vấn
Mekong Economics, luồng vốn gián tiếp chảy vào mạnh thì tốc độ lạm phát từ đó có
nguy cơ gia tăng.
       Hiện Chính phủ Việt Nam đang đưa ra những biện pháp thắt chặt tiền tệ để
kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, ông Adam McCarty cho rằng, Việt Nam không nên
quá đề cao và quan tâm nhiều đến lạm phát mà nên xem nó như một dự báo.
                                                     Nguồn: www.tintucvietnam.com


      Một đoàn lớn các nhà đầu tư Nhật Bản sẽ đến Việt Nam
    Đoàn gồm 80 công ty do Phó chủ tịch điều hành JETRO, ông Tomoharu
WASHIO dẫn đầu sẽ sang thăm và làm việc tại Việt Nam từ 11 – 15/11/2007
       Để thúc đẩy hơn nữa đầu tư trực tiếp của Nhật bản vào Việt Nam, Tổ chức
Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) sẽ cử một đoàn gồm khoảng 80 công ty


                                                                                133
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

do Phó chủ tịch điều hành JETRO ông Tomoharu WASHIO dẫn đầu sẽ sang thăm
và làm việc tại Việt Nam từ 11 – 15/11/2007.
      Thành phần của Đoàn phần lớn là các công ty vừa và nhỏ của Nhật, hoạt
động khắp trên các lĩnh vực từ điện - điện tử, cơ khí chế tạo, phụ tùng ô tô – xe
máy, nhựa, hoá chất… đến giao nhận, chế tạo phần mềm công nghệ thông tin.
      Trong thời gian làm việc tại Việt Nam ngoài việc dự Khai mạc Triển lãm công
nghiệp Phụ trợ Việt Nam - Nhật Bản lần thứ hai do JETRO và Cục Xúc tiến Thương
mại Việt Nam (VIETRADE) thuộc Bộ Công thương phối hợp tổ chức, Đoàn dự kiến
sẽ có các buổi gặp và làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thăm Khu công nghệ
cao Hoà Lạc, Khu Công nghiệp Thăng Long và một số khu công nghiệp khác tại
Hưng Yên, Hải Dương… thăm thành phố Đà Nẵng vưói tư cách là điểm xuất phát
của hành lang kinh tế Đông – Tây và khu công nghiệp tại đây.
       Thông qua chuyến thăm và làm việc lần này của Đoàn, JETRO hi vọng trong
thời gian sắp tới, đầu tư của người Nhật trong ngành công nghiệp phụ trợ sẽ có
bước phát triển mới, góp phần làm cho đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam tăng
trưởng ổn định và vững chắc hơn.
                                                           Nguồn: www.vov.org.vn


      Hơn 1,6 tỷ USD vốn FDI vào TPHCM trong 10 tháng
      Trong 10 tháng qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút hơn 1,6 tỷ USD vốn
đầu tư nước ngoài (FDI), tăng hơn 17% so với cùng kỳ năm trước.
       Toàn thành phố có 349 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp phép, với
tổng vốn đầu tư gần 1,37 tỷ USD. Ngoài ra, có 130 dự án tăng vốn để mở rộng sản
xuất kinh doanh, với tổng vốn tăng thêm 245 triệu USD.
       Có tới 45,5% trong số các dự án mới là đầu tư vào ngành kinh doanh tài sản
và dịch vụ tư vấn, với tổng vốn 965 triệu USD, chiếm hơn 70,5% tổng vốn FDI mới
vào thành phố.
      Ngành công nghiệp cũng thu hút một lượng vốn FDI lớn, với 111 dự án có tổng
vốn gần 260 triệu USD, chiếm gần 32% về số dự án và gần 19% tổng vốn đầu tư.
       Hàn Quốc đứng đầu trong số 33 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Thành
phố Hồ Chí Minh, với 118 dự án, có tổng vốn 811 triệu USD. Tiếp theo là Nhật Bản
có 30 dự án với vốn đầu tư 24 triệu USD và Xinhgapo có 37 dự án với vốn đầu tư
290 triệu USD.
      Tính đến thời điểm này, tại Thành phố Hồ Chí Minh có 2.507 dự án đầu tư
nước ngoài và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đầu tư 16.124 triệu USD còn hiệu lực
hoạt động.
      Cũng trong 10 tháng qua, thành phố đã có thêm gần 14.000 doanh nghiệp
ngoài Nhà nước được cấp phép thành lập, với tổng vốn đăng ký 106.000 tỷ đồng,
tăng 26,6% về số doanh nghiệp và tăng gấp 4 lần về vốn đăng ký.
                                                           Nguồn: www.mpi.gov.vn



134
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


      Tập đoàn Mỹ muốn đầu tư 4 tỷ USD vào Bà Rịa-Vũng Tàu
       Ngày 23/10, tại buổi thuyết trình dự án Khu du lịch-giải trí đa năng tại Cửa
Lấp, thành phố Vũng Tàu, Tập đoàn Winvest Investment (Hoa Kỳ) cho biết đã quyết
định tăng vốn đầu tư xây dựng dự án này từ 300 triệu USD ban đầu lên 4 tỷ USD.
      Dự án Khu du lịch nghỉ mát giải trí đa năng của Tập đoàn Winvest
Investment đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp phép từ tháng 4/2006 với diện tích
300ha. Tuy nhiên, nhận thấy tiềm năng, cơ hội phát triển du lịch tại đây, Tập đoàn
đã quyết định nâng vốn đầu tư để xây dựng khu du lịch mang tầm vóc quốc tế.
       Dự án được thiết kế theo mô hình bông sen nở mang đặc trưng của người
Việt Nam với gần 30 phân khu chức năng phân phối rất hài hòa và thân thiện với
môi trường. Dự án do ông Dario - người đã từng thiết kế tòa tháp đôi Petronas ở
Malaixia, thiết kế.
      Theo Tập đoàn, dự án sẽ cần khoảng 10.000 lao động và sau khoảng 5 năm
nữa sẽ bắt đầu khai thác từng phần.
                                                          Nguồn: www.mpi.gov.vn


      Tập đoàn Thái Lan muốn đầu tư 3,6 tỷ USD vào VN
      Tập đoàn kinh doanh nông sản Charoen Pokphand Group (CP Group) của
Thái Lan cho biết sẽ đầu tư 3,6 tỷ USD vào Việt Nam trong vòng 5 năm tới.
      Theo ông Sooksunt Jiumjaisawanglerg, Phó Chủ tịch công ty trách nhiệm
hữu hạn chăn nuôi CP Vietnam Livestock Ltd. - chi nhánh của CP Group - một nửa
khoản tiền trên sẽ được đầu tư vào việc phát triển bất động sản và một chuỗi cửa
hàng bán lẻ.
       Khoản đầu tư còn lại sẽ được rót vào lĩnh vực viễn thông, cụ thể là lĩnh vực
kinh doanh đường điện thoại cố định hoặc di động, và lĩnh vực kinh doanh than non
đã xử lý.
      CP Group đã đệ trình đề xuất này lên Chính phủ Việt Nam và đang chờ
được thông qua.
       CP Group lần đầu tiên thâm nhập thị trường Việt Nam cách đây 15 năm và
tính đến nay đã đầu tư 350 triệu USD vào lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp.
                                                             Nguồn: www.mpi.gov.vn


      Doanh nghiệp Việt Nam sẽ đầu tư 3,5 tỷ USD sang Lào
       Ban vận động thành lập Hiệp hội Các nhà đầu tư Việt Nam tại Lào trong
chuyến khảo sát tại Lào, từ ngày 11 đến 13/10, đã giới thiệu 13 dự án đầu tư cụ thể
tại Lào trong các lĩnh vực khai khoáng, năng lượng, dệt may, với tổng mức đầu tư
khoảng 3,5 tỷ USD.
      Đoàn gồm trên 50 đại diện của các doanh nghiệp lớn của Việt Nam hoạt
động trong các lĩnh vực ngân hàng, dầu khí, đóng tàu, dệt may, thương mại, xây
dựng, bất động sản, khoáng sản và luyện kim.


                                                                               135
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       Đoàn đã có các cuộc gặp gỡ trao đổi với các quan chức và doanh nghiệp
Lào để tìm hiểu cơ hội hợp tác, các thông tin về môi trường đầu tư, tiềm năng và
thế mạnh phát triển kinh tế, các cơ chế và chính sách khuyến khích đầu tư nước
ngoài của Lào.
      Trong buổi tiếp kiến và làm việc với Phó Thủ tướng Lào Somsavat
Lengsavad, Chủ tịch Phân ban Hợp tác Lào-Việt, chiều 13/10, ông Trần Bắc Hà,
Tổng Giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã công bố tham gia 13
dự án đầu tư tại Lào với tổng vốn 3,5 tỷ USD.
        Đoàn cũng nêu lên những đề xuất cụ thể đối với các dự án đầu tư vào Lào
của các doanh nghiệp Việt Nam; kiến nghị những vấn đề cần thiết với các bộ-ngành
và Chính phủ hai nước Lào-Việt nhằm nhanh chóng tháo gỡ vướng mắc trong quá
trình tham gia hợp tác đầu tư.
       Tối cùng ngày, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Ủy ban Kế hoạch-Đầu
tư của Lào đã ký kết biên bản ghi nhớ 2 dự án: dự án xây dựng nhà máy thủy điện
Luang Prabang theo hình thức BOT có công suất 1.410 MW và tổng mức đầu tư
trên 1,7 tỷ USD; dự án thăm dò dầu khí với tổng diện tích 13.700 km2 tại hai tỉnh
Champasak và Saravan.
       Dịp này, Tổng Giám đốc BIDV Trần Bắc Hà đã trao tượng trưng cho Phó Thủ
tướng Somsavat Lengsavad số tiền trên 800 triệu đồng ủng hộ Quỹ khuyến học của
Lào, và Chủ tịch Hội đồng quản trị PVN Đinh La Thăng cũng trao séc tượng trưng
số tiền 50.000 USD ủng hộ đồng bào bị bão lụt ở các tỉnh Nam Lào.
       Hiện nay, Việt Nam đang đứng hàng thứ 3 trong tổng số 30 quốc gia và vùng
lãnh thổ có vốn đầu tư lớn tại Lào, sau Trung Quốc và Thái Lan. Trong khi đó, Lào
hiện là thị trường dẫn đầu về thu hút đầu tư trực tiếp từ Việt Nam với 84 dự án có
tổng số vốn đầu tư trên 500 triệu USD.
      Hiệp hội các nhà đầu tư Việt Nam tại Lào đang được xúc tiến thành lập theo
sáng kiến của BIDV nhằm góp phần nhanh chóng giải quyết những khó khăn và
thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác đầu tư giữa hai nước.
                                                          Nguồn: www.mpi.gov.vn


      Việt Nam đang hút các nhà đầu tư Nga
      Trao đổi với phóng viên báo Nhân dân, Quyền đại diện Thương mại Liên
bang Nga tại Việt Nam V. Yunin khẳng định Việt Nam đang hút các nhà đầu tư Nga.
       Ông V. Yunin đánh giá cao việc Chính phủ Việt Nam thực hiện những chính
sách nhằm xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi, đồng thời khẳng định thị trường
cạnh tranh tại Việt Nam đang ngày càng thu hút các nhà đầu tư thế giới. Nếu tính
cả đầu tư của Nga vào Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt - Nga (Vietsovpetro) thì
Nga tiếp tục nằm trong số những nhà đầu tư lớn nhất vào nền kinh tế Việt Nam.
      Theo ông V. Yunin, hiện nhiều nhà đầu tư Nga đang xúc tiến xây dựng quan
hệ làm ăn cùng có lợi với các đối tác Việt Nam. Theo đó, một số dự án liên doanh
sản xuất, thành lập dây chyền lắp ráp bằng công nghệ tiên tiến của Nga đang được


136
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


triển khai tại Việt Nam. Một trong số này là dự án đầu tư sản xuất thiết bị ngành
năng lượng của Tập đoàn Máy động lực của Nga.
        Về triển vọng của mối quan hệ hợp tác kinh tế-thương mại giữa hai nước,
ông V. Yunin cho rằng Nga và Việt Nam có những tiềm năng to lớn để đẩy mạnh sự
phát triển của mối quan hệ này.
       Ông nêu rõ nền kinh tế Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ và Nga có thể hỗ
trợ Việt Nam thực hiện những dự án phát triển trong nhiều lĩnh vực như viễn thông,
công nghệ sinh học và nanô, vũ trụ, sự dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích
hòa bình, khai thác các mỏ quặng sắt và bôxít, xây dựng ngành công nghiệp nhôm.
                                                          Nguồn: www.mpi.gov.vn


      PetroVietnam tăng cường đầu tư ra nước ngoài
       Ông Đinh La Thăng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Quốc gia
Việt Nam (PetroVietnam), cho biết bên cạnh việc tăng cường tìm kiếm nguồn dầu
trong nước, tập đoàn đang tích cực triển khai đầu tư tại các mỏ khí nước ngoài,
nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước.
       Từ đầu năm đến nay, PetroVietnam đã ký 6 hợp đồng dầu khí mới ở nước
ngoài, đưa tổng số dự án thăm dò khai thác dầu khí của tập đoàn ở nước ngoài lên
13 đề án. Tập đoàn đang xúc tiến mua lại một công ty của Cadắcxtan, hiện sở hữu
một số mỏ dầu có trữ lượng hàng chục triệu tấn.
      Ngoài ra, PetroVietnam đang tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới tại các
nước như Cadắcxtan, Mianma, Tuynidi, Inđônêxia, Ăngôla, Iran, Nga, Adécbaigian
và Bêlarút.
      Từ đầu năm đến nay, PetroVietnam tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao, với
doanh thu 143.100 tỷ đồng, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, và nộp ngân sách
Nhà nước 56.900 tỷ đồng.
                                                          Nguồn: www.mpi.gov.vn


      PetroVietnam xây nhà máy thủy điện 1.410 MW tại Lào
       Chính phủ Việt Nam và Lào vừa chấp thuận cho Tập đoàn Dầu khí Quốc gia
Việt Nam (PetroVietnam) đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện Luôngphabăng công
suất 1.410MW trên dòng sông Mê Công tại Lào.
     Nhà máy Thủy điện Luôngphabăng sẽ được xây dựng theo hình thức BOT,
100% vốn của Việt Nam, dự kiến sẽ được triển khai xây dựng vào năm 2008.
      Khi đi vào hoạt động, nhà máy sẽ cung cấp điện cho cả hai nước Việt Nam
và Lào.
                                                          Nguồn: www.mpi.gov.vn




                                                                              137
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Triển lãm Công nghiệp Phụ trợ Việt Nam - Nhật Bản
       Trong hai ngày 13-14/11/2007, Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật bản
(JETRO) và Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE) sẽ phối hợp tổ chức
“Triển lãm Công nghiệp Phụ trợ Việt Nam - Nhật Bản” lần thứ hai tại Trung tâm Hội
nghị Quốc gia (Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội).
     Thông tin này được JETRO và VIETRADE thông báo trong cuộc họp báo
sáng 6/11.
      Theo đó, với sự tham gia của 128 công ty hoạt động trong các ngành ô tô, xe
máy, điện - điện tử, và công nghệ thông tin, triễn lãm lần thứ hai sẽ có quy mô lớn
hơn gấp đôi so với triển lãm tổ chức năm 2005.
        Để thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam,
triển lãm lần này được chia làm hai khu vực: Người mua và Người bán
       Trong đó, Người mua- các nhà sản xuất sẽ trưng bày những linh kiện, phụ
tùng mà họ muốn mua tại Việt Nam. Theo ông Kenjiro Ishiwata, trưởng đại diện
Jetro tại Hà Nội thì Người mua tại triển lãm lần này sẽ bao gồm không chỉ là nhà
đầu tư Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam mà còn có các công ty Nhật Bản đến
từ Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore và Thái Lan.
       Người bán chủ yếu là các nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng Việt Nam và họ
sẽ trưng bày những linh kiện, phụ tùng muốn bán. Triển lãm năm nay còn có khu
vực phần mềm được tổ chức với sự hợp tác của Hiệp hội Phần mềm Việt Nam
(VINASA), bao gồm những công ty cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin và phần
mềm tại Việt Nam.
       Phát biểu tại cuộc họp báo, ông Đỗ Thắng Hải, Cục trưởng Cục xúc tiến
thương mạii Việt Nam cho rằng: “Triển lãm công nghiệp phụ trợ Việt Nam- Nhật
Bản sẽ là cầu nối hiệu quả giữa các doanh nghiệp Việt Nam - Nhật Bản đang sản
xuất kinh doanh tại Việt Nam, cũng như các doanh nghiệp Nhật Bản đang có hoạt
động đầu tư tại các nước khác trong khu vực, giúp các doanh nghiệp Việt Nam tìm
được đầu ra ổn định, xuất khẩu tại chỗ. Đồng thời giúp các doanh nghiệp Việt Nam
cũng như Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam nâng cao tỷ lệ nội địa hoá, tìm
được nhà cung cấp sản phẩm, bán thành phẩm tin cậy.
      Triển lãm cũng là cơ hội để các nhà quản lý đánh giá vai trò, thực trạng công
nghiệp phụ trợ của Việt Nam, từ đó có biện pháp, chính sách định hướng phát triển
phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam.
      Trong thời gian triển lãm sẽ có một số hội thảo chuyên đề giới thiệu chính
sách phát triển công nghiệp phụ trợ của Việt Nam trong tương lại, và chia sẻ những
kinh nghiệm thực tế để có thể trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp Nhật
Bản. Ngoài ra còn có một số hội thảo về chính sách phát triển, hợp tác kinh doanh
và nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin.
                                                           Nguồn: www.vov.org.vn




138
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



      Quảng bá đầu tư Việt Nam tại Philíppin
      Một diễn đàn với chủ đề "Kinh doanh với Việt Nam - Nắm lấy cơ hội mới"
vừa được tổ chức tại thủ đô Manila, Philíppin, nhằm quảng bá hình ảnh đất nước
Việt Nam và giới thiệu cơ hội thương mại, đầu tư tại Việt Nam cho doanh nghiệp
nước này.
     Hoạt động do Đại sứ quán Việt Nam tại Philíppin phối hợp với Bộ Công
thương Philíppin và Trường Đại học châu Á-Thái Bình Dương tổ chức.
       Đến dự diễn đàn có hơn 200 doanh nghiệp Philíppin, trong đó có các tập
đoàn lớn như Citi Group, ArtpostAsia, Unilever, Philippine Airlines. Một số hãng
truyền hình, báo chí của Philíppin như ANC, Business Mirror, Philippine Daily
Inquirer đã tham dự và đưa tin về diễn đàn.
        Tại diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Dũng và các diễn giả Việt Nam đã
thông báo những thành tựu đổi mới của Việt Nam, chính sách và định hướng phát
triển kinh tế Việt Nam cũng như một số cơ hội thương mại và đầu tư ở Việt Nam.
       Các quan chức và doanh nghiệp Philíppin phát biểu tại diễn đàn đều đánh
giá cao thành tựu đổi mới của Việt Nam thời gian qua, nhất là việc vừa đạt được
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và phát triển
giữa các vùng.
       Các đại biểu cũng nêu bật những cơ hội kinh doanh ở Việt Nam và cho rằng
triển vọng kinh doanh ở Việt Nam là rất sáng sủa, kêu gọi doanh nghiệp Philíppin
nhanh chóng chớp lấy cơ hội làm ăn ở Việt Nam nhằm đem lại lợi ích cho các
doanh nghiệp cũng như cho nền kinh tế hai nước.
                                                          Nguồn: www.mpi.gov.vn


      UNESCO đánh giá cao hiệu quả các dự án tại VN
      Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân
cho biết Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đánh
giá cao hiệu quả thực hiện các dự án giáo dục, văn hóa tại Việt Nam, nhất là các
dự án có tính tiên phong như chủ trương phổ cập giáo dục cho cộng đồng.
       Trả lời phỏng vấn của TTXVN nhân dịp tham dự phiên họp Đại Hội đồng lần
thứ 34 của UNESCO và làm việc tại Pháp, từ ngày 17 đến 20/10, Phó Thủ tướng
Nguyễn Thiện Nhân nêu rõ Việt Nam đã đạt được giáo dục phổ cập tiểu học từ năm
1995 và hiện đang phấn đấu phổ cập trung học cơ sở. Trong khi đó, thế giới đặt
mục tiêu phổ cập tiểu học vào năm 2015.
      Phó Thủ tướng nói rằng UNESCO cũng đặc biệt đánh giá cao Việt Nam về
việc đã xây dựng một hệ thống 7.000 trung tâm học tập cộng đồng trên tổng số
11.000 làng, xã trong cả nước.
       Về bảo tồn văn hóa và môi trường, UNESCO ghi nhận việc Việt Nam đã có 6
dự án bảo tồn sinh quyển được thế giới công nhận, hình thành một hệ thống mạng
lưới các khu bảo tồn sinh quyển, tạo nên những phòng thí nghiệm sống phục vụ
công tác bảo tồn thiên nhiên.

                                                                              139
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc này, Phó Thủ tướng Nguyễn
Thiện Nhân cũng đã có buổi tiếp xúc và làm việc riêng với Tổng giám đốc UNESCO
Koichiro Matsuura, phát biểu tại phiên họp toàn thể và Hội nghị bàn tròn về giáo dục
với sự tham dự của các Bộ trưởng Giáo dục gần 100 nước trên thế giới.
                                                               Nguồn: www.mpi.gov.vn


      Na Uy, Thụy Sĩ hỗ trợ ba dự án môi trường
       Chính phủ Na Uy sẽ viện trợ 4,4 triệu USD cho Việt Nam để triển khai dự án
xử lý chất thải rắn tại Thị xã Sơn La của tỉnh Sơn La và dự án xây dựng hệ thống
thoát nước tại thị xã Hồng Lĩnh của tỉnh Hà Tĩnh.
      Thỏa thuận hỗ trợ tài chính cho hai dự án môi trường trên đã được Thứ
trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh và Đại sứ Na Uy tại Việt Nam Kjell
Magne Storlokken ký ngày 16/10 tại Hà Nội.
       Dự án xử lý chất thải rắn thị xã Sơn La có tổng vốn đầu tư dự kiến là hơn 5
triệu USD, trong đó Na Uy viện trợ 2,35 triệu USD. Dự án sẽ xây nhà máy sản xuất
vi sinh từ rác thải hữu cơ có công suất 80 tấn rác/ngày và một khu chôn lấp hợp vệ
sinh có quy mô 600.000 m3, đồng thời cải thiện việc vận chuyển thu gom chất thải.
      Dự án xây dựng hệ thống thoát nước thị xã Hồng Lĩnh có tổng vốn 5,9 triệu
USD trong đó Na Uy tài trợ 2,05 triệu USD. Dự án sẽ xây dựng hệ thống thoát nước
mưa, nước thải có tổng chiều dài 57km cùng 3 hồ xử lý nước thải.
       Cùng ngày 16/10, Cơ quan Hợp tác Phát triển Thụy Sĩ (SDC) đã ký với Ủy
ban Nhân dân tỉnh Nam Định thỏa thuận về việc hỗ trợ thực hiện dự án quản lý chất
thải nguy hại tại Nam Định giai đoạn hai.
       Dự án có tổng kinh phí 1,2 triệu USD, trong đó SDC hỗ trợ 1 triệu USD. Mục
tiêu của dự án là tăng cường năng lực cho Sở Tài nguyên-Môi trường và các ban,
ngành liên quan, các tổ chức quần chúng, các cơ sở sản xuất, góp phần thực hiện
Chiến lược quản lý chất thải nguy hại, trong đó ưu tiên các vấn đề về sức khỏe con
người và môi trường.
       Tỉnh Nam Định hiện có 87 làng nghề, thường xuyên thải ra một lượng lớn
các loại chất thải nguy hại không qua xử lý, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng
sức khỏe của người dân.
        Trước đó, từ tháng 8/2003 đến tháng 6/2007, SDC đã hỗ trợ Nam Định gần
2 triệu USD để thực hiện dự án quản lý chất thải nguy hại giai đoạn một.
                                                               Nguồn: www.mpi.gov.vn


      Tăng lương - tăng đầu tư nguồn nhân lực
      Trong báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 và nhiệm vụ 2008 trình
Quốc hội, Chính phủ đã kiến nghị điều chỉnh mức lương tối thiểu chung từ 450.000
đồng/tháng lên 540.000 đồng/tháng. Theo Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, tăng
lương chính là một trong các biện pháp tăng đầu tư cho nguồn nhân lực, đáp ứng
nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.


140
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Thưa Phó thủ tướng, việc tăng lương lần này nằm trong lộ trình cải cách
chính sách tiền lương. Lộ trình đó sẽ tiếp tục thực hiện ra sao?
       Hàng năm, Chính phủ sẽ điều chỉnh mức lương tối thiểu theo hướng: mức
lương tối thiểu của khu vực DN trong nước tăng cao hơn mức lương tối thiểu của
khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài để làm sao đến năm 2012, lương tối thiểu cả
2 khu vực này bằng nhau. Do sức cạnh tranh của khu vực DN trong nước còn yếu,
năng suất lao động thấp hơn, giá thành sản phẩm cao hơn so với DN có vốn đầu tư
nước ngoài, nên phải thực hiện lộ trình tăng dần dần. Trong thời gian thực hiện lộ
trình cải cách chính sách tiền lương, DN trong nước bắt buộc phải nâng cao sức
cạnh tranh, nâng cao trình độ quản trị DN, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao
năng suất mới có thể tồn tại, mới có nguồn để tăng lương cho người lao động.
      Có nghĩa là, DN trong nước hoạt động hiệu quả có thể trả lương cao hơn so
với mức kể trên, thưa Phó thủ tướng?
       Chính phủ không khống chế mức trả lương tối đa, thậm chí còn khuyến
khích DN trả lương cao cho người lao động. Tôi cho rằng, muốn thu hút lao động có
trình độ, có tay nghề, có kinh nghiệm, thì mức lương trả phải thỏa đáng.
        Nhiều ý kiến cho rằng, để bảo đảm mức lương “đủ sống”, lương tối thiểu ít nhất
phải là 650.000 đồng/tháng, chứ không thể như mức mà Chính phủ trình Quốc hội?
       Cũng có không ít ý kiến đề xuất nâng mức lương tối thiểu lên hơn 1 triệu
đồng/tháng, nhưng Chính phủ vẫn bảo lưu phương án 540.000 đồng/tháng để trình
Quốc hội thông qua Nghị quyết. Tôi nhấn mạnh rằng, mức lương tối thiểu này đã
được tính toán, cân nhắc đến mọi yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất - kinh
doanh, đến đời sống người dân, đến sức cạnh tranh của nền kinh tế, đến nguồn chi
trả và đến tốc độ tăng giá cả thị trường.
        Tăng lương, ngân sách phải tăng chi thường xuyên. Trong khi điều kiện
ngân sách còn hạn hẹp, việc tăng chi thường xuyên sẽ làm giảm tăng chi cho đầu
tư phát triển, thưa Phó thủ tướng? Tăng lương chính là việc đầu tư cho con người.
Đầu tư cho con người chính là một trong những hình thức đầu tư phát triển mang
lại hiệu quả cao nhất, vì đây là việc đầu tư để nâng cao nguồn nhân lực.
       Nhưng trong bối cảnh giá thị trường tăng cao như hiện nay, việc tăng lương
sẽ tác động không nhỏ tới mọi hoạt động của xã hội...?
       Cuộc sống diễn biến không ngừng, hoạch định chính sách phải vừa làm, vừa
tính. Giá cả tăng phải tìm mọi biện pháp để kiềm chế, chứù không thể không tăng
lương, bởi dù có tăng lương theo đúng lộ trình, thì mức lương tối thiểu của Việt
Nam vẫn thuộc loại thấp nhất trong khu vực.
       Để việc điều chỉnh lương tối thiểu không trở thành nguyên nhân tăng lạm
phát, Chính phủ đề nghị các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, DN thuộc mọi
thành phần kinh tế tiếp tục thực hiện các biện pháp tạo nguồn tăng lương như đã
thực hiện ở các năm trước đây; đồng thời yêu cầu các ngành, các cấp, các đơn vị
thực hiện triệt để Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất - kinh
doanh, trong chi tiêu ngân sách và sử dụng tài sản công.


                                                                                  141
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Nhưng liệu có thể tiết kiệm được mãi, thưa Phó thủ tướng?
        Khả năng tiết kiệm, theo tôi, là vô tận. Đơn giản, DN chỉ cần đầu tư một thiết
bị, dây chuyền máy móc hiện đại, phù hợp, thì chỉ cần 2 nhân công thay vì 10 nhân
công. Trước đây, để sản xuất ra một sản phẩm phải mất tới 10 đồng chi phí cho
nguyên, nhiên vật liệu, nếu sử dụng vật liệu mới, nguyên nhiên liệu có thể thay thế,
thì giá thành để sản xuất ra một sản phẩm có chất lượng cao hơn chỉ mất 3 đồng…
Ngoài ra, các cơ quan, đơn vị, DN còn nhiều cách tiết kiệm khác (tiết kiệm chi phí
hành chính, đổi mới công nghệ quản lý, áp dụng khoa học - kỹ thuật để giảm khâu
trung gian…). Số tiền tiết kiệm này không chỉ bảo đảm thực hiện cải cách tiền
lương, mà còn có thể tích lũy để tiếp tục đầu tư, mở rộng sản xuất - kinh doanh.
Tăng lương cũng là một trong các giải pháp đòi hỏi DN phải hoạt động hiệu quả
hơn để có nguồn trả lương, bởi nếu trả lương thấp, thì không thể thu hút lao động
lành nghề, lao động có trình độ.
        Phó thủ tướng có lo ngại giá cả thị trường sẽ tăng theo chính sách cải cách
tiền lương? Nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp tạo nguồn để cải cách tiền lương
như trên, thì không lo giá cả thị trường sẽ tăng theo lương.
                                                                 Nguồn: www.mpi.gov.vn


        Xử lý những vướng mắc trong triển khai vốn đầu tư xây dựng cơ bản
năm 2007
        Ngày 18/10, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã có ý kiến chỉ
đạo về tình hình phân bổ kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2007 của các
Bộ, ngành Trung ương.
        Theo đó, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư
chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan rà soát, phát hiện và xử
lý những vướng mắc trong việc triển khai thực hiện các dự án sử dụng các nguồn
vốn ngân sách nhà nước, ODA, trái phiếu Chính phủ và tín dụng đầu tư của Nhà
nước năm 2007; Phó Thủ tướng lưu ý, trường hợp vượt thẩm quyền xử lý, đề xuất
và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
                                                                 Nguồn: www.mpi.gov.vn


       Xây dựng dự toán NSNN sát thực tế, sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ
ngân sách
       Sáng 30/10, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng thừa ủy quyền
của Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ phát biểu về một số vấn đề liên
quan đến nhiệm vụ kinh tế, ngân sách. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân phát biểu về việc thực hiện các mục tiêu xã hội lớn
trong giáo dục, dạy nghề và nguồn lực phát triển.
       Các ý kiến thảo luận của đại biểu Quốc hội đã tập trung vào một số lĩnh vực
thu và chi NSNN, các yếu tố, giải pháp tăng thu, giảm chi cũng như sử dụng hiệu
quả các nguồn lực, dự án đầu tư từ ngân sách. Nhìn chung, đa số đều đánh giá
cao báo cáo của Chính phủ về xây dựng dự toán thu chi, những giải pháp điều
hành phù hợp của Nhà nước trong quản lý nguồn thu, tăng cường giám sát chi,


142
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


đồng thời ghi nhận những mặt tích cực của nền kinh tế thông qua việc thực hiện
NSNN năm 2007.
        Một số đại biểu cũng đóng góp ý kiến cho bài toán tăng các khoản thu ngân
sách, đặc biệt là thu từ dầu thô, thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, phí xăng
dầu, đồng thời đề nghị cần đánh giá hiệu quả việc giảm thuế một số mặt hàng thời
gian qua nhằm chống tăng giá đã ảnh hướng như thế nào tới nguồn thu ngân sách.
Một số đại biểu cũng đề nghị trong việc xây dựng dự toán NSNN cần tăng cường
khả năng dự báo giá cả thị trường thế giới, từ đó đưa ra con số dự toán sát với
thực tế và khả năng thực hiện. Thời gian qua, dù có nhiều cố gắng nhưng công tác
này có lúc vẫn chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến tình trạng chưa chủ động được các
nguồn lực cho phát triển.
        Nhiều ý kiến cũng cho rằng, việc chống thất thu thuế đã có tiến bộ, nhưng
việc trốn thuế, gian lận thương mại, buôn lậu vẫn còn. Về chi NSNN, đa số nhận
định tăng chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên là cần thiết để góp phần phát triển
kinh tế và quản lý, điều hành đất nước. Tuy nhiên, cần khắc phục một số tồn tại
như: chi quản lý hành chính vẫn tăng; việc giải ngân vốn đầu tư phát triển còn
chậm, tình trạng nợ xây dựng cơ bản chưa được khắc phục, một số địa phương
vẫn còn chi vượt dự toán.
        Về dự toán NSNN năm 2008, các đại biểu cũng đề nghị cần thu ngân sách
hiệu quả hơn từ dầu thô, thuế XNK, thu nội địa (từ các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế), thu từ đất… tán thành việc Chính phủ thực hiện việc miễn,
giảm một số loại thuế và phí, trong đó, miễn giảm cho khu vực sản xuất nông
nghiệp và cho nông dân là quan trọng nhất. Về chi ngân sách, nhiều ý kiến đề nghị
có những chỉnh lý, cơ cấu lại để chi NSNN đầu tư hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn,
tán thành với định hướng dự toán NSNN năm 2008 là ưu tiên, tập trung dành vốn
NSNN cho hạ tầng kinh tế, hạ tầng giao thông, thuỷ lợi và cơ sở hạ tầng xã hội như
y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ nông nghiệp nông thôn, coi đây là tiền
đề và cũng là cơ sở vững chắc để đảm bảo mức tăng trưởng cao của năm 2008
cũng như giai đoạn sau này.
                                                                Nguồn: www.mpi.gov.vn


       CG 2007 sẽ họp tại Hà Nội vào đầu tháng 12
       Thủ tướng Chính phủ vừa chấp thuận đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
về nội dung tổ chức Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Nam năm
2007 (CG-2007), từ ngày 6 đến 7/12 tại Hà Nội.
       Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ được tổ chức bên lề hội nghị như
thường lệ. Thủ tướng Chính phủ sẽ tham dự, phát biểu tại phiên khai mạc.
       Tham dự Hội nghị CG-2007 về phía Việt Nam có đại diện lãnh đạo của gần
20 cơ quan Trung ương và thành phố Hà Nội do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
đồng chủ tọa Hội nghị.
       Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, chuẩn bị nội dung;
phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) và các cơ quan liên quan tổ chức Hội nghị này.
                                                            Nguồn: www.mpi.gov.vn


                                                                                 143
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

                 Chuyªn môc 5: XuÊt nhËp khÈu


A. Những tin nổI bật:
             Áp dụng tiêu chuẩn mới cho cà phê nhân xuất khẩu
      Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa quyết định tạm thời sử
dụng tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4193:2005 đã được Tổ chức Cà phê Quốc tế
(ICO) coi là quy định chuẩn để phân loại cà phê trong kiểm tra chất lượng cà
phê nhân xuất khẩu.
       Theo đó, cà phê nhân phải có độ ẩm nhỏ hơn hoặc bằng 12,5%. Hạng đặc
biệt và hạng 1 của cà phê chè không được lẫn cà phê vối và cà phê mít. Đối với cà
phê vối, hạng đặc biệt và hạng 1 có tỷ lệ được lẫn cà phê vối nhỏ hơn hoặc bằng
0,5% và cà phê chè nhỏ hơn hoặc bằng 3%.
      Các tổ chức, cá nhân xuất khẩu cà phê phải thực hiện việc kiểm tra chất
lượng theo tiêu chuẩn quốc gia 4193:2005 trước khi thông quan.
                      Nhật có thể nhập thịt lợn Việt Nam
      Nhật đang cân nhắc việc cho phép các doanh nghiệp Việt Nam xuất thịt
lợn và sản phẩm từ thịt lợn sang thị trường Nhật.
       Thương vụ Việt Nam tại Nhật cho biết, Bộ Nông - Lâm - Ngư nghiệp Nhật
Bản đang lấy ý kiến dự thảo qui định nhập khẩu đối với các sản phẩm chế biến từ
thịt bao gồm xúc xích và dăm bông từ Việt Nam.
      Qui định dự thảo có khoảng 29 điều kiện mà doanh nghiệp Việt Nam phải
đáp ứng nếu muốn bán hàng ở thị trường này.
       Cơ quan đại diện của Bộ Nông - Lâm - Ngư nghiệp Nhật và Bộ Y tế - Phúc
lợi Xã hội Nhật sẽ sang Việt Nam để kiểm tra qui trình chế biến thịt của doanh
nghiệp Việt Nam trước khi hai nước ký thỏa thuận về nhập khẩu thịt lợn.
      Nhật Bản có nhu cầu rất lớn về sản phẩm chế biến từ thịt lợn. Hàng năm
quốc gia này nhập khoảng 200 triệu USD sản phẩm chế biến từ thịt lợn.
      Việt Nam từ lâu không được xuất khẩu thịt lợn vào Nhật vì bị xếp trong danh
sách nước có dịch lở mồm long móng. Thuế nhập khẩu của Nhật đối với xúc xích là
10% và dăm bông là 8,5%.
                Khuyến khích nhập khẩu thủy sản nguyên liệu
      Ngày 1/11, Thủ tướng đã có công văn số 1626/TTg-NN chỉ đạo một số
nội dung đối với ngành thủy sản.
       Trong đó, Nhà nước khuyến khích việc nhập khẩu thủy sản nguyên liệu để
phát huy thế mạnh của ngành chế biến thủy sản xuất khẩu, nhằm tạo thêm việc
làm, tạo giá trị gia tăng của sản phẩm, tăng kim ngạch xuất khẩu.



144
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


      Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm việc cụ thể với Bộ Tài chính để
thống nhất trình Thủ tướng xem xét, quyết định về thuế suất nhập khẩu thủy sản
nguyên liệu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản phát triển và phù
hợp với các cam kết quốc tế.
      Đối với công tác kiểm soát dư lượng hóa chất kháng sinh, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, các Bộ ngành liên quan và UBND các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương cần tập trung thực hiện tốt các Chỉ thị số 37/2005/CT-TTg của
Thủ tướng về một số biện pháp tăng cường quản lý hóa chất, kháng sinh dùng cho
sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Chỉ thị số 06/2007/CT-TTg về việc triển khai các
biện pháp cấp bách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.
       Ngoài ra, Thủ tướng cũng yêu cầu các Bộ Tài chính, Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn cùng Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản nghiên cứu phương
án tính phí và lệ phí kiểm tra, kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản; Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, có giải pháp đẩy nhanh việc xã
hội hóa các dịch vụ công, trong đó có hoạt động kiểm nghiệm chất lượng, an toàn
vệ sinh thực phẩm và công tác đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp
ứng yêu cầu phát triển của ngành…


B. Tổng quan – Nghiên cứu:
                          Tình hình chung về XNK
      Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng năm 2007 tháng đạt 77,58 tỷ
USD, tăng 24,6% so với 9 tháng năm 2006. Trong đó kim ngạch xuất khẩu
34,85 tỷ USD, đạt 74,5% kế hoạch và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước.
Nhập khẩu là 42,73 tỷ USD, tăng 29,9% so với cùng kỳ năm 2006.
I. Xuất khẩu
1. Quy mô và tốc độ
     Trong tháng 9/2007, trị giá hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đạt hơn 3,77 tỷ
USD, giảm 12,4% so với tháng trước. Xuất khẩu của khối các doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng 9 đạt 1,55 tỷ USD, tăng 22,1%, đưa
kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp này 9 tháng lên 13,9 tỷ USD, tăng
30,4% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước
(không kể dầu thô) trong 9 tháng cũng đạt 15,17 tỷ USD, tăng 22,85% so với cùng
kỳ năm trước.
2. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
      - Dầu thô: xuất khẩu trong tháng đạt 1,1 triệu tấn, giảm 6% so với tháng
trước, nâng tổng lượng dầu thô xuất khẩu trong 9 tháng năm 2007 lên gần 11,18
triệu tấn, giảm 10,7% so với cùng kỳ năm 2006.
       Đến nay, dầu thô vẫn là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu dẫn đầu trong số
các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam với 5,79 tỷ USD. Xuất khẩu dầu thô chỉ tập
trung sang 9 thị trường chính là Úc, Hoa Kỳ, - Than đá: trong tháng xuất khẩu gần


                                                                               145
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

2,27 triệu tấn, giảm 12,5% so với tháng 8, nâng tổng lượng than xuất khẩu của Việt
Nam trong 3 quý năm 2007 lên 23,6 triệu tấn, tăng 17,2% và thực hiện vượt 68,6%
so với kế hoạch năm, trị giá đạt 734 triệu USD.
      Trong 3 quý năm 2007, lượng than đá của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu
sang Trung Quốc với gần 19,43 triệu tấn, chiếm tới 82,3 % tổng lượng than đá xuất
khẩu của cả nước.
       - Hàng dệt may: trong tháng xuất khẩu là 650 triệu USD - sụt giảm đáng kể
so với tháng trước và làm chậm nhịp tăng trưởng chung của ngành dệt may đang
rất được kỳ vọng vào những tháng cuối năm, nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu mặt
hàng này trong 3 quý năm 2007 vẫn đạt 5,69 tỷ USD, tăng 29,1 % so với cùng kỳ
năm trước.
       Hàng dệt may đã xuất khẩu tới trên 190 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có
78 nước và vùng lãnh thổ có kim ngạch trên 1 triệu USD. Trong đó, tốp 10 nước
nhập khẩu hàng dệt may hàng đầu của Việt Nam đã chiếm tới 86,1% kim ngạch
xuất khẩu của mặt hàng này. Dẫn đầu là Hoa Kỳ với 3,32 tỷ USD, chiếm tới 58%
tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước; tiếp theo là EU: 1,06 tỷ USD;
Nhật Bản: 523 triệu USD, …
       - Giày dép: trong tháng xuất khẩu 245 triệu USD, giảm 27,2% so với tháng
8, nâng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong 9 tháng qua lên hơn 2,91 tỷ USD,
tăng 11% so với cùng kỳ năm trước. Hàng giày dép đã được xuất khẩu tới trên 160
nước và vùng lãnh thổ, trong đó số nước có kim ngạch xuất khẩu trên 1 triệu USD
là 58 nước và vùng lãnh thổ.
       - Gạo: trong tháng xuất khẩu 436 nghìn tấn, giảm 24,3% so với tháng trước,
tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong 9 tháng năm 2007 đạt hơn 4 triệu
tấn, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mặt hàng hiện đang rất có lợi thế
về giá và thị trường nhưng nguồn cung đang gặp khó khăn do phải đảm bảo an
ninh lương thực trong nước.
      Mặt hàng gạo năm 2007 đã xuất tới gần 80 nước và vùng lãnh thổ. Các
nước nhập khẩu nhiều nhất gạo Việt Nam là Philipin, Inđônêxia, Cu Ba, Bờ Biển
Ngà và Malaysia. Các đối tác này đã chiếm tới 77,65% về lượng và 78% về giá trị
mặt hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam.
      - Hải sản: trong tháng xuất khẩu 335 triệu USD, giảm 9,7% so với tháng 8,
nâng tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong 9 tháng năm 2007 lên 2,71 tỷ
USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước. Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc,
Hàn Quốc, Malaysia, Inđônêxia và Thái Lan.
       Các thị trường xuất khẩu chính của mặt hàng thuỷ sản là EU với kim ngạch
670 triệu USD, tiếp theo là thị trường Hoa Kỳ: 529 triệu USD; Nhật Bản với 528
triệu USD, Hàn Quốc: 181 triệu USD.
       - Cà phê: xuất khẩu trong tháng đạt 38,4 nghìn tấn, giảm 13,6% so với tháng
trước, nâng tổng lượng cà phê xuất khẩu trong 9 tháng lên 973 nghìn tấn, thực hiện
vượt 14,4% kế hoạch năm

146
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Trong 9 tháng qua, cà phê xuất khẩu tăng cả lượng và giá cà phê thế giới
luôn ở mức cao. Tuy đây là một mặt hàng Việt Nam có thế mạnh nhưng tỷ lệ cà
phê chế biến còn rất thấp (khoảng 10 triệu USD), còn lại là xuất thô nên luôn bị phụ
thuộc và giá trị gia tăng không nhiều
       - Cao su: trong tháng xuất khẩu hơn 74 nghìn tấn, tăng 6,9% so với tháng
trước, nâng tổng lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam 9 tháng lên 496 nghìn tấn,
giảm 1,7%.
       Trong 9 tháng qua, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu chính của cao su
Việt Nam với 296 nghìn tấn, chiếm tới 59,7% tổng lượng cao su xuất khẩu của cả
nước, tiếp theo là Malaixia 26,7 nghìn tấn, Hàn Quốc: 24,9 nghìn tấn, Đài loan 22,7
nghìn tấn …
       - Gỗ và sản phẩm gỗ: trong tháng xuất khẩu hơn 186 triệu USD, giảm 5%
so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam 9 tháng lên 1,7 tỷ
USD, tăng 24,1%.
       Số thị trường có nhập khẩu mặt hàng này của Việt Nam lên tới gần 150.
Trong đó có 38 thị trường có kim ngạch lớn hơn 1 triệu USD, các thị trường lớn
nhất là: Hoa Kỳ với 681 triệu USD, Nhật Bản 230 triệu USD, Anh 144 triệu USD, …
      - Máy vi tính và linh kiện điện tử: tháng 9 xuất khẩu 197 triệu USD, giảm
3,2% so với tháng trước, qua đó nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm mặt
hàng này 9 tháng qua lên 1,5 tỷ USD, tăng 23,4%.
      Số thị trường có nhập khẩu mặt hàng này của Việt Nam lên tới 118 thị
trường. Trong đó có 44 thị trường có kim ngạch lớn hơn 1 triệu USD, các thị trường
lớn nhất là Thái Lan với 267 triệu USD, Hoa Kỳ 189 triệu USD, Nhật Bản 189 triệu
USD, Philipin 129 triệu USD…
       Việt Nam nhập khẩu 4 nhóm hàng này chủ yếu từ các thị trường Trung
Quốc: 1,28 tỷ USD; Đài Loan: 1,09 tỷ USD; Hàn Quốc: 925 triệu USD; Hồng Kông:
505 triệu USD; Nhật Bản: 345 triệu USD,…
       Lượng phôi thép nhập khẩu trong tháng là 179 nghìn tấn, nâng tổng lượng
phôi thép nhập khẩu vào Việt Nam trong 9 tháng lên 1,54 triệu tấn, trị giá đạt được
là 750 triệu USD
II. Nhập khẩu
1. Quy mô và tốc độ
       Trong tháng 9/2007, trị giá nhập khẩu hàng hoá của cả nước đạt xấp xỉ 4,9
tỷ USD, giảm 7,4% so với tháng trước nâng tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt
Nam trong 9 tháng qua lên 42,73 tỷ USD, tăng 29,9% so với cùng kỳ năm trước và
thực hiện được 81,7% mức kế hoạch năm.
2. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu
      - Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: trong tháng nhập khẩu 973 triệu
USD, tăng 2% so với tháng trước, nâng tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong
9 tháng năm 2007 lên 7,3 tỷ USD, tăng 56,2% so với cùng kỳ năm 2006. Trong đó,

                                                                                147
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt hơn 2,3 tỷ USD, chiếm 31,5% kim
ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.
       Thị trường chính cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam chủ yếu là: Trung Quốc:
1,44 tỷ USD; Nhật Bản: 1,23 tỷ USD, các nước ASEAN: 866 triệu USD, Đức: 613 triệu
USD, Pháp: 588 triệu USD, Hàn Quốc: 560 triệu USD, Đài Loan: 552 triệu USD, ...
       - Xăng dầu: trong tháng nhập khẩu hơn 1 triệu tấn, tăng 5,2% so với tháng
trước, nâng tổng lượng xăng dầu nhập vào Việt Nam trong 9 tháng lên 9,4 triệu tấn,
tăng 10% so với cùng kỳ năm 2006 đạt trị giá là 5,23 tỷ USD.
       Singapore vẫn là đối tác lớn nhất cung cấp xăng dầu các loại sang Việt Nam
trong 9 tháng năm 2007 với 5,1 triệu tấn, tiếp theo là Đài Loan: 1,8 triệu tấn, Hàn
Quốc: 988 nghìn tấn, Trung Quốc: 676 nghìn tấn, …
       - Phân bón: trong tháng nhập khẩu 251 nghìn tấn, giảm 6,4% so với tháng 8,
nâng tổng lượng phân bón nhập vào Việt Nam trong 9 tháng năm 2007 lên 2,6 triệu tấn,
tăng 10,5%, trị giá đạt 635 triệu USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước.
       Lượng phân Urê nhập về trong tháng là 53,7 nghìn tấn, tăng 29,6% so với
tháng trước, nâng tổng lượng phân Urê nhập khẩu của cả nước lên 454 nghìn tấn,
giảm 26,2% so với cùng kỳ năm 2006, trị giá là 117 triệu USD.
       Thị trường chính cung cấp phân bón sang Việt Nam trong 9 tháng năm 2007
là Trung Quốc với 1,31 triệu tấn, chiếm 50%; tiếp theo là Nhật Bản: 215 nghìn tấn,
Nga: 197 nghìn tấn, Philippine: 119 nghìn tấn, Hàn Quốc: 95 nghìn tấn, Đài Loan:
84 nghìn tấn, …
        - Sắt thép: trong tháng nhập 573 nghìn tấn, giảm 19,1% so với tháng trước, trị
giá gần 374 triệu USD, nâng tổng lượng sắt thép nhập khẩu vào Việt Nam trong 9 tháng
là 5,43 triệu tấn, tăng 26,6% so với cùng kỳ năm 2006, đạt trị giá là 3,35 tỷ USD.
       Lượng phôi thép nhập khẩu trong tháng là 179 nghìn tấn, nâng tổng lượng
phôi thép nhập khẩu vào Việt Nam trong 9 tháng lên 1,54 triệu tấn, trị giá đạt được
là 750 triệu USD.
       Trong 9 tháng qua, Trung Quốc tiếp tục là nước lớn nhất cung cấp sắt thép
sang Việt Nam với 2,94 triệu tấn, trị giá là 1,6 tỷ USD; tiếp theo là Nhật Bản: 697
nghìn tấn; Đài Loan: 429 nghìn tấn; Hàn Quốc: 255 nghìn tấn; Nga: 141 nghìn tấn,
      …
      - Nhóm hàng nguyên phụ liệu dệt may, da, giày và vải các loại: trong
tháng nhập khẩu 496 triệu USD, tăng nhẹ (0,7%) so với tháng trước, nâng tổng trị
giá nhập khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng lên 4,46 tỷ USD, tăng 23% so với cùng
kỳ năm trước.
       Nếu kể cả lượng bông nhập khẩu trong tháng là 11 nghìn tấn và sợi là 32
nghìn tấn và trong 9 tháng, tổng lượng bông nhập khẩu đạt 165 nghìn tấn, trị giá là
205 triệu USD và sợi đạt 306 nghìn tấn, trị giá là 530 triệu USD, thì tổng kim ngạch


148
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


nhập khẩu 4 nhóm hàng nguyên phụ liệu này tăng 23,9% so với cùng kỳ năm 2006
và đạt trị giá xấp xỉ 5,2 tỷ USD (trong khi tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may là
29,1%)
      - Ô tô nguyên chiếc: trong tháng nhập 2.506 chiếc, tăng 5,2% so với tháng trước,
nâng lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu vào Việt Nam trong 9 tháng năm 2007 lên
15.739 chiếc, tăng 67,4% so với cùng kỳ 2006 và đạt trị giá là 314 triệu USD.
       - Linh kiện ô tô: trong tháng 9 nhập khẩu gần 83 triệu USD, giảm 11,4% so
với tháng trước, nâng tổng trị giá nhập khẩu trong 9 tháng năm 2007 lên 567 triệu
USD, tăng 69,8% so với cùng kỳ 2006. Trong đó linh kiện ô tô dưới 12 để lắp ráp
chỗ nhập khẩu trong 9 tháng là 335 triệu USD, tăng 75,4% so với cùng kỳ năm
trước.
       - Linh kiện và phụ tùng xe máy: trong tháng nhập khẩu 49 triệu USD, tăng
13,8% so với tháng 8, nâng kim ngạch 9 tháng lên 411 triệu USD, tăng 29,1% so
với cùng kỳ năm 2006 và thực hiện được 82,2% mức kế hoạch năm.
       Thái Lan là nước cung cấp linh kiện và phụ tùng xe máy nhiều nhất cho Việt
Nam trong 9 tháng qua với 236 triệu USD, chiếm tới 57,4% tổng trị giá nhập khẩu
mặt hàng này của cả nước, tiếp theo là Trung Quốc: 74 triệu USD, Đài Loan: 41
triệu USD, Nhật Bản: 31 triệu USD, …
        - Chất dẻo nguyên liệu: trong tháng nhập khẩu 125 nghìn tấn, giảm 9,9%
so với tháng 8. Hết tháng 9, lượng chất dẻo nguyên liệu nhập khẩu vào Việt Nam là
1,15 triệu tấn, tăng 13,5% thực hiện được 64% mức kế hoạch năm. Giá nhập khẩu
bình quân của chất dẻo nguyên liệu tiếp tục tăng cao trong 9 tháng năm 2007
(10,8%), nên trị giá nhập khẩu là 1,72 tỷ USD, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm
trước.
      Đài Loan tiếp tục là đối tác hàng đầu cung cấp chất dẻo nguyên liệu sang
Việt Nam trong 9 tháng qua với gần 200 nghìn tấn, Singapore: 186 nghìn tấn, Thái
Lan: 164 nghìn tấn, Hàn Quốc: 151 nghìn tấn,…
       - Thức ăn gia súc và nguyên liệu: trong tháng nhập khẩu 91,6 triệu USD,
giảm 26,3% so với tháng trước, nâng tổng trị giá nhập khẩu mặt hàng này trong 9
tháng lên 879 triệu USD, tăng 51,3% so với cùng kỳ năm trước.
     Thị trường chính cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam là Ấn Độ : 310 triệu
USD, Áchentina: 189 triệu USD, Thái Lan: 48 triệu USD, Trung Quốc: 47 triệu USD,
      …
       - Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: trong tháng nhập 252 triệu
USD, giảm 7,4% so với tháng 8, nâng tổng trị giá nhập khẩu mặt hàng này trong 9
tháng lên 2,04 tỷ USD, tăng 41,7% so với cùng kỳ năm trước
       Thị trường chính cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam là Singapore: 565 triệu
USD, Nhật Bản: 405 triệu USD, Trung Quốc: 342 triệu USD, Hồng Kông: 172 triệu USD,
Đài Loan: 112 triệu USD, Malaixia: 103 triệu USD, Hàn Quốc: 73 triệu USD,

                                                                                  149
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      “Rào cản là điều kiện để thay đổi”
      Diễn đàn Năng suất, chất lượng lần thứ 12 do Trung tâm năng suất Việt
Nam - Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng tổ chức diễn ra trong hai
ngày 19 và 20/10/2007 tại Hà Nội.
       Tại diễn đàn lần này, vấn đề năng suất và đổi mới được nêu ra thành chủ đề
chính và trở thành những vấn đề “nóng” được các nhà lãnh đạo và quản lý, tổ chức
doanh nghiệp đến từ 20 nước thành viên khu vực châu Á đặc biệt quan tâm. Nhân
dịp này, chúng tôi có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Văn Lạng, Thứ trưởng Bộ
Khoa học và Công nghệ.
      Thưa Thứ trưởng, diễn đàn lần này đặt ra vấn đề hướng đến thị trường toàn
cầu bằng năng suất và đổi mới. Vậy thực tế đòi hỏi đối với doanh nghiệp Việt Nam
về vấn đề này như thế nào?
        Theo tôi, quyết định của thành công cho một quốc gia, khu vực, doanh nghiệp có
lẽ là năng suất và chất lượng. Năng suất song song với nó là chất lượng. Năng suất
cộng với chất lượng sẽ ra hiệu quả, hiệu quả đó quyết định sự tồn tại của một chủ thể,
một doanh nghiệp hay một đơn vị. Vì vậy, hội nghị năm nay đặt ra vấn đề năng suất,
chất lượng rất hợp lý với tình hình hội nhập của chúng ta hiện nay.
       Thực tế các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay không chỉ “chơi” trên “sân nhà”
mình mà phải chơi trên sân của thế giới, toàn cầu; nghĩa là phải công bằng “đá”
trên các “sân” của thế giới, các doanh nghiệp phải lấy năng suất, chất lượng để so
sánh, làm bàn đạp để chiếm lĩnh được thị trường không hẳn chỉ của Việt Nam mà
cả ở thế giới.
      Thưa ông, vậy hệ thống quản lý năng suất chất lượng của Việt Nam đã phù
hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, nhất là với WTO hay chưa?
      Vấn đề này vẫn còn quá mới với chúng ta, với những chủ trương, giải pháp,
bước đi, kể cả hệ thống pháp lý, pháp luật đối với vấn đề năng suất và chất lượng.
Đất nước ta đổi mới được 20 năm, hệ thống hành lang cơ sở pháp lý vẫn chưa thật
đầy đủ, các tiêu chuẩn chúng ta đặt ra chưa thực sự đã đạt các tiêu chuẩn của
quốc tế và khu vực.
        Có một số loại sản phẩm hiện nay đạt năng suất Việt Nam hay đó là tiêu
chuẩn Việt Nam. Với quá trình hội nhập và tất yếu của hội nhập thì chúng ta phải
lấy tiêu chuẩn của thế giới, chí ít cũng phải là tiêu chuẩn của khu vực ASEAN, và
sau đó là các tiêu chuẩn của thế giới.
       Các sản phẩm mà doanh nghiệp và đất nước ta làm ra không chỉ dành cho
một người tiêu dùng và trong người tiêu dùng đó không chỉ có người Việt Nam
chúng ta hoặc ở phạm vi khu vực mà có thể còn cả trên phạm vi toàn cầu. Vì thế,
cần phải tiến tới xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và quản lý hệ thống tiêu chuẩn sản
xuất sản phẩm hàng hoá đạt tiêu chuẩn của quốc tế.



150
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Có như vậy các sản phẩm của chúng ta mới có cơ may cạnh tranh nổi với
sản phẩm nước ngoài, mở rộng được thị trường, thị phần thế giới. Trong thời gian
tới, để đáp ứng nhu cầu của hội nhập, tất cả các ngành, các sản phẩm mang
thương hiệu của Việt Nam đều phải lấy tiêu chuẩn chất lượng và năng suất trên cơ
sở tiêu chuẩn của quốc tế
      Có nhiều mặt hàng thời gian qua bị nước ngoài cấm nhập, đánh thuế cao. Đó
là do chúng ta chưa làm tốt khâu chất lượng hay còn hở ở khâu nào, thưa Thứ
trưởng?
       Theo tôi, không chỉ mỗi Việt Nam mà có rất nhiều nước bị những “xử lý” đó
của thị trường thế giới. Ngay cả Trung Quốc - nước rất mạnh trong sản xuất các
sản phẩm với quy mô lớn và số lượng nhiều - nhưng hàng hoá của họ cũng đều
gặp phải những thực tế như vậy. Ví dụ như mặt hàng đồ gỗ, hàng dệt may, giày da,
phần mềm của Trung Quốc cũng có nhiều vấn đề. Đó là những “học phí” mà các
doanh nghiệp chúng ta phải trả.
       Các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý của chúng ta chưa có nhiều kinh
nghiệm trên thị trường thế giới. Đất nước mới như con thuyền bắt đầu nhổ neo, ra
đại dương lớn, đương nhiên là sẽ có nhiều sóng gió. Những kinh nghiệm từ vụ nhái
thương hiệu, bị đánh thuế cao ở các sản phẩm giày da, tôm, cá basa, thuỷ sản, bật
lửa ga... vẫn còn nguyên giá trị.
       Thế giới có thể có những hàng rào thuế quan, kỹ thuật, tiêu chuẩn để khống
chế. Thậm chí có cả những tiêu chuẩn, chính sách riêng của từng quốc gia được
dùng làm hàng rào ngăn cản hàng hoá từ bên ngoài vào, bảo hộ cho hàng hoá ở
trong nước. Hoa Kỳ là một quốc gia điển hình về mặt này.
       Trong quá trình hội nhập vào WTO thì chúng ta sẽ có nhiều cơ may hơn,
song cũng đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực rất nhiều hơn nữa để đảm bảo hàng hoá
của chúng ta đạt được các tiêu chuẩn và có thể sẽ không bị những khó khăn, trở
ngại, “xử lý” như thời gian qua.
       Tuy nhiên, đó là những hạn chế. Còn khi số lượng của chúng ta ngày càng
lớn, càng hội nhập thị trường thế giới thì hàng mang nhãn hiệu Việt Nam chắc chắn
sẽ còn vấp phải nhiều rào cản hơn nữa. Cũng chính lý do đó sẽ là điều kiện để
chúng ta thay đổi các cơ chế chính sách, đội ngũ, chúng ta phải tiến tới chuyên
nghiệp hoá hơn và cũng quan trọng hơn là nguồn lực con người.
       Thưa Thứ trưởng, hệ thống pháp lý còn non yếu, để đáp ứng được yêu cầu
của hội nhập, chúng ta nên làm thế nào để giúp các doanh nghiệp Việt Nam đỡ
phải trả những khoản “học phí” cao?
        Bộ Khoa học và Công nghệ được Chính phủ tiếp tục giao soạn thảo các luật
và các văn bản dưới luật liên quan đến tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm của Việt
Nam trong quá trình hội nhập. Tạo hành lang pháp lý tốt nhất cho các doanh
nghiệp, cơ sở để họ có thể đáp ứng được các yêu cầu về mặt nâng cao chất lượng,
uy tín của sản phẩm.

                                                                             151
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       Thêm vào đó là đào tạo, tạo điều kiện hỗ trợ để đào tạo nguồn lực cho lĩnh
vực tiêu chuẩn chất lượng. Làm được điều đó sẽ giúp chúng ta tiến đến xây dựng
được một hệ thống các tiêu chuẩn sản phẩm của Việt Nam để sản xuất cũng như
vươn ra thị trường thế giới.
      Còn với khối doanh nghiệp, ông có lời khuyên nào cho họ trước yêu cầu hội
nhập để họ có thể đứng vững ở trên sân nhà và vươn tới hội nhập toàn cầu?
       Theo tôi, có lẽ các doanh nghiệp của chúng ta nên luôn luôn đổi mới, cải
tiến, để đáp ứng yêu cầu khó tính nhất.
      * Tiêu chuẩn không thiếu, nhưng...
      Các hoạt động thương mại toàn cầu hiện nay đòi hỏi tất cả hàng hoá
phải đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.
       Để tiếp cận thị trường toàn cầu, trong đó có thị trường Bắc Mỹ, sản phẩm và
hàng hoá Việt Nam phải đạt tiêu chuẩn chất lượng và được các phòng thử nghiệm
tại Hoa Kỳ kiểm tra chặt chẽ trước khi được nhập vào thị trường Hoa Kỳ.
       Trước yêu cầu xúc tiến và đẩy mạnh các quan hệ thương mại và các mối
liên kết với Hoa Kỳ cũng như áp dụng các tiêu chuẩn và quy trình của Hoa Kỳ vào
thị trường đang phát triển của Việt Nam, Liên hợp các phòng thử nghiệm
Washington đã phối hợp với Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng và Trung
tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 của Việt Nam tổ chức Hội thảo “Xây
dựng tiêu chuẩn và tác động đối với thương mại” tại Hà Nội ngày 18/10. Một hội
thảo tương tự cũng đã được tổ chức trước đó vào ngày 16/10 tại Tp.HCM.
      Theo ông Mike Violette, Chủ tịch Liên hợp các phòng thử nghiệm
Washington: “Với việc mở cửa thị trường thu hút đầu tư nước ngoài và tăng cường
kiểm soát quy trình và sản phẩm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đây chính là thời
điểm thích hợp để xem xét các vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn cơ bản. Hơn nữa,
Chính phủ Hoa Kỳ đang cam kết rộng hơn trong hoạt động đánh giá sự phù hợp
của sản phẩm, tạo ra một môi trường thuận lợi cho các hoạt động giao thương”.
       Việc gia nhập WTO là một thuận lợi lớn để các doanh nghiệp Việt Nam hội
nhập vào khu vực và thế giới, mở mang sự giao lưu trao đổi, tăng cường tiếp xúc
học hỏi nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi,
thị trường quốc tế sẽ là một thách thức lớn đối với chất lượng sản phẩm của Việt
Nam trong vấn đề quan hệ thương mại. Để hàng hoá Việt Nam có thể có chỗ đứng
trên thị trường thế giới, các nhà sản xuất đã phải nghiên cứu kỹ lưỡng đặc điểm
yêu cầu của thị trường các nước đó. Đã đến lúc phải xem họ cần gì để làm chứ
không phải chỉ nói mình làm được gì.
       Trước hết, về mặt tiêu chuẩn chất lượng. Trước đây, các nhà sản xuất chỉ
quen với tiêu chuẩn Liên Xô cũ (TOCT) và các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) cũng
xuất phát chủ yếu từ TOCT. Trong khi các nước trên thế giới chủ yếu dựa vào các
tiêu chuẩn ISO, IEC và ITU, bên cạnh đó có Ủy ban Codex. Xu thế hiện nay các
tiêu chuẩn quốc tế thường được các quốc gia tham khảo hoặc chấp nhận hoàn
toàn tiêu chuẩn quốc gia để thuận lợi hoá cho hoạt động thương mại.


152
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Hệ thống tiêu chuẩn quốc gia của Việt Nam hiện nay có khoảng 6.000 tiêu chuẩn,
trong đó 20% hài hoà với tiêu chuẩn quốc tế. Ví dụ như tiêu chuẩn liên quan đến thực
phẩm chủ yếu là các tiêu chuẩn được chấp nhận từ tiêu chuẩn Codex, các tiêu chuẩn về
điện-điện tử của Việt Nam chấp nhận hoàn toàn với tiêu chuẩn IEC.
       Tuy nhiên, trong định hướng để hài hoà với các tiêu chuẩn quốc tế, Việt Nam
chủ yếu định hướng vào hai khía cạnh quan trọng. Một là liên quan đến quản lý,
những vấn đề liên quan đến an toàn vệ sinh sức khoẻ và môi trường thì chấp nhận
các tiêu chuẩn quốc tế tương ứng để đảm bảo cho việc hội nhập, hài hoà và thừa
nhận thuận lợi. Hai là các tiêu chuẩn về phương pháp đo, thử, phân tích để tạo
dựng phương pháp thống nhất trên toàn thế giới.
       Theo nhìn nhận của ông Lương Văn Phan, Phó giám đốc Trung tâm tiêu
chuẩn chất lượng Việt Nam, hệ thống tiêu chuẩn chất lượng của Việt Nam không
hề yếu kém, thậm chí “hoành tráng” so với các nước trong khu vực. Chúng ta đã có
trên 8.000 tiêu chuẩn đã ban hành, nếu loại ra khoảng 2.000 tiêu chuẩn không còn
thích hợp thì số tiêu chuẩn của chúng ta đều tương đương với các tiêu chuẩn của
quốc tế.
       Yếu kém của chúng ta hiện nay, theo ông Phan, thể hiện ở hai khâu: thứ nhất,
chúng ta chưa đủ năng lực để kiểm soát, ví dụ như liên quan đến các phương tiện thử
nghiệm mà đôi khi các phương tiện đó rất đắt tiền. Nhiều khi chúng ta muốn quản lý
nhưng không có điều kiện để thử và xác định. Thứ hai, quan trọng hơn, là nhận thức từ
phía các nhà quản lý về tuân thủ luật pháp, tuân theo các tiêu chuẩn.
       Các chuyên gia Hoa Kỳ cũng nhấn mạnh rằng vấn đề của Việt Nam không
phải là chất lượng mà là cần xác định sớm phải chú ý đến vấn đề chất lượng trong
hệ thống. Để sớm hội nhập tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, việc tổ chức các hội
thảo, tập huấn, diễn đàn... của các nhà quản lý doanh nghiệp xoay quanh nội dung
tiêu chuẩn chất lượng được xem như một biện pháp hữu hiệu để góp phần nâng
cao nhận thức, giáo dục mọi người


                     Tình hình XK một số ngành hàng
              Xuất khẩu cà phê: Doanh nghiệp “nhịn” chuẩn
      Việt Nam hiện là nước xuất khẩu cà phê robusta lớn thứ 2 trên thế giới
sau Brazil, và cà phê là một trong 5 mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu có giá trị
lớn hơn 1 tỉ USD của Việt Nam.
      Tuy nhiên, chất lượng cà phê xuất khẩu chưa đồng đều, đặc biệt số lượng
cà phê xuất khẩu bị thải loại chiếm tỉ lệ cao nhất thế giới.
      Theo báo cáo của Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, trong 6 tháng tính đến
tháng 3/2007, cà phê xuất khẩu có nguồn gốc Việt Nam chiếm 88% trong tổng số
cà phê xuất khẩu bị thải loại của thế giới.
      Thế nhưng ngay từ năm 2005 Việt Nam đã ban hành Tiêu chuẩn cà phê xuất
khẩu TCVN 4193:2005, áp dụng phân loại theo cách tính lỗi để phù hợp với cách


                                                                                 153
                                 Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

phân loại của Hội đồng Cà phê Thế giới. Tuy nhiên, do đây là tiêu chuẩn có tính
chất tự nguyện, nên tất yếu dẫn đến tình trạng nói trên.
      Vì thế, ngày 24/5/2007, Bộ Thương mại đã yêu cầu bắt buộc kiểm tra chất
lượng mặt hàng cà phê xuất khẩu theo tiêu chuẩn chất lượng, trước khi thông
quan, cho áp dụng từ ngày 1/10/2007, và đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ ban
hành quyết định áp dụng và lộ trình áp dụng tiêu chuẩn chất lượng TCVN
4193:2005.
       Cà phê robusta của Việt Nam thường được bán với giá thấp hơn so với
nhiều nước, năm 2006 giá cà phê robusta FOB của Việt Nam là 1.188 USD, trong
khi giá thị trường London là 1.317.7 USD, và giá chỉ thị ICO là 1.489,2 USD; gần
nhất vào tháng 9/2007, sự chênh lệch giá tương ứng vẫn là 1.582 USD - 1.835,8
USD - 2045,9 USD.
       Chất lượng cà phê là tổng hợp của các yếu tố: chủng loại thực vật, điều kiện
địa hình, khí hậu - thời tiết, cách chăm sóc, thu hái, bảo quản, chuẩn bị xuất khẩu
và vận chuyển. Trong đó, các khâu canh tác, thu hái, bảo quản, chuẩn bị xuất khẩu
và vận chuyển là con người có thể tác động, can thiệp, thay đổi.
      Cà phê robusta ở Việt Nam phần lớn được trồng trên đất đỏ bazan có độ phì
nhiêu cao, nhất là có tính vật lý lý tưởng, tại các tỉnh Tây Nguyên có độ cao 450 -
600 m. Bởi vậy, cà phê robusta Việt Nam vừa có chất lượng cao, vừa rất phù hợp
cho chế biến cà phê pha trộn và cà phê hoà tan.
       Nhưng do thói quen lâu nay, nông dân Việt Nam đã để lẫn cà phê quả xanh với
quả chín, cũng như chưa quan tâm đúng mức đến việc phơi khô cà phê. Mặt khác, do 2
bên người mua và người bán cà phê ở Việt Nam đều thoả thuận áp dụng tiêu chuẩn cũ
TCVN 4193:93, chỉ chú ý tỉ lệ phần trăm hạt đen, vỡ, do đó người ta không thể tính số lỗi
như hạt mốc, hạt chưa chín và mẩu cây vụn, sạn nhỏ...
       Trong khi đó, từ năm 2004, Hội đồng Cà phê Quốc tế đã qui định: cà phê
arabica không được quá 86 lỗi trong 1 mẫu 300g; cà phê robusta không được quá
150 lỗi trên 1 mẫu 300g. Hai loại cà phê này phải có hàm lượng ẩm không quá
12,5% và không dưới 8%, đo theo phương pháp ISO 6673. Như vậy, chúng ta buộc
phải phân loại cà phê theo số lỗi, chứ không chỉ tính phần trăm đen vỡ; tức là phải
áp dụng Tiêu chuẩn TCVN 4193:2005.
       Năm 2006, tại Hội nghị ở Đà Lạt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và
các tỉnh có cà phê đã thống nhất chỉ đạo nông dân hái cà phê chín, bước đầu thu
được kết quả khả quan.
        Tuy nhiên, trong thực tế lại có nhà thu mua cà phê chín hay chưa chín đều
cùng một giá. Vả lại, nếu chỉ tính hạt đen vỡ mắc lỗi, thì hạt chưa chín lại không bị
tính lỗi. Do đó, cà phê xuất khẩu phải được phân loại theo phương pháp tính số lỗi,
có như thế VN mới có cơ sở ghi chứng chỉ xuất xứ đầy đủ (hiện nay, Việt Nam vẫn
nằm ngoài danh sách 28 nước xuất khẩu cà phê đã báo cáo chất lượng cho Tổ
chức Cà phê Quốc tế).

154
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


        Tổ chức cà phê quốc tế nhận định: nếu bộ tiêu chuẩn TCVN 4193:2005
được áp dụng, thì biện pháp mới này sẽ tính số lỗi với các loại hạt vỡ, hạt đen, cà
phê loại tạp chất ngoài hạt đen vỡ, cà phê robusta xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm
bớt lo lắng.
      Ông Bùi Đình Trụ, Trưởng ban Khoa học công nghệ của Tổng công ty Cà
phê Việt Nam, tán đồng việc áp dụng TCVN 4193:2005, nhưng cho rằng tiêu chuẩn
vẫn mang tính tự nguyện, nên cần cần có Quy chuẩn kỹ thuật về cà phê xuất khẩu
Việt Nam có tính pháp lý bắt buộc.
       Ông Nguyễn Văn An, Tổng giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương
mại Thái Hoà, thấy áp dụng TCVN 4193: 2005 là phù hợp, và nêu đề nghị doanh
nghiệp trước khi xuất khẩu phải thông qua chế biến ở nhà máy, nhằm tránh tình
trạng không đầu tư thiết bị chế biến, mà chỉ thu mua xô bồ rồi xuất.
      Dù đồng tình hay chưa đồng thuận, thì các doanh nghiệp vẫn phải chấp
hành yêu cầu của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) ngày 24/5/2007.
       Cũng cần nhớ rằng, cách đây hơn một năm, tại hội nghị Đà Lạt, những bức
xúc trên đây đã từng được đề cập. Nếu ngay sau đó, các doanh nghiệp cà phê
quyết tâm chuyển sản xuất kinh doanh theo hướng lâu dài và bền vững, thì bây giờ
chắc đã tháo gỡ được những vướng mắc trên đây.


              Xuất khẩu thủy sản: Khả thi mục tiêu 3,6 tỷ USD?
      Theo Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
9 tháng đầu năm 2007 tăng 4,18% so cùng kỳ năm trước, trong đó thuỷ sản
tăng 9,79%. Sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng 9 tháng ước đạt
2.790.500 tấn, kim ngạch xuất khẩu ước đạt trên 2,7 tỉ USD.
      Như vậy, nếu so với chỉ tiêu xuất khẩu 3,6 tỷ USD trong năm 2007, thì các
doanh nghiệp thuỷ sản sẽ phải xuất khẩu khoảng 900 triệu USD trong quý 4.
      Liệu đây có là "nhiệm vụ khả thi" với ngành thủy sản?
        Hội nghị triển khai thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội ngành thủy sản đầu
năm 2007 đã đề ra mục tiêu đưa tổng sản lượng ngành thủy sản năm 2007 đạt 3,8
triệu tấn, trong đó sản lượng khai thác là 2 triệu tấn; sản lượng nuôi trồng là 1,8
triệu tấn, giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 3,6 tỷ USD (tăng 7,02% so với 2006).
      Trước ngưỡng 3,6 tỷ USD
       Hàng năm, cứ vào khoảng tháng 10, các nhà máy chế biến thủy sản bắt đầu
tăng tốc do nhu cầu nhập khẩu hàng thủy sản đông lạnh của các nước tăng cao, và
đây cũng là thời điểm các nhà máy chế biến thủy sản tăng tốc để đạt chỉ tiêu xuất
khẩu được giao. Các nhà máy chế biến thủy sản ở tỉnh An Giang cũng không nằm
ngoài quy luật này.



                                                                               155
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       Theo ông Nguyễn Văn Thạnh, Giám đốc Sở Thủy sản An Giang, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (trước đây là Bộ Thủy sản) giao chỉ tiêu xuất khẩu
cho tỉnh An Giang là 270 triệu USD, nhưng UBND tỉnh lại yêu cầu xuất khẩu thủy
sản của tỉnh phải đạt 300 triệu USD.
       Trong 9 tháng qua, An Giang đã xuất được 245 triệu USD. "Tôi nghĩ chỉ tiêu
300 triệu USD mà UBND tỉnh giao sẽ thực hiện được. Và việc đạt chỉ tiêu xuất khẩu
thủy sản 3,6 tỷ USD năm 2007 là có cơ sở", ông Thạnh nói.
      "Có hai lý do để lạc quan. Thứ nhất, chỉ tính riêng cá tra, năm 2006, đã xuất
khẩu 600- 700 triệu USD nhưng năm nay cá tra, basa sẽ xuất được khoảng 1 tỷ
USD. Thứ hai, chúng ta có thuận lợi về thị trường xuất khẩu thủy sản đã mở rộng,
từ khoảng 50 nước nay đã lên 75 nước".
       Vẫn theo ông Thạnh, hiện nay giá cá tra trên thị trường đang dao động trong
mức 13.500-14.000 đồng/kg. Với giá này, cả doanh nghiệp và ngư dân đều có lãi
và nguồn cá tra, basa nguyên liệu dồi dào đủ khả năng cung ứng cho các nhà máy
chế biến trong những tháng cuối năm.
       Kinh nghiệm xuất khẩu trong nhiều năm qua cho thấy, quý 4 là thời điểm mà các
nước thuộc EU, Mỹ, Nga, Hàn Quốc... tiêu thụ rất mạnh hàng thủy sản đông lạnh của
Việt Nam và đây chính là thời điểm để các doanh nghiệp tăng tốc đạt chỉ tiêu.
       Giá cá tra nguyên liệu ở ĐBSCL hiện đã tăng trở lại, đạt 13.500 - 15.000
đồng/kg (loại thịt trắng). Tôm sú đang vào vụ thu hoạch rộ, mặc dù nhiều nơi còn
xảy ra tình trạng thương lái "ép giá" nhưng nhìn chung, giá tôm sú nguyên liệu vẫn
giữ ở mức cao.
       Ông Lương Lê Phương, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
tỏ ra rất tự tin: "Thông thường xuất khẩu thủy sản vào quý 4 bao giờ cũng khả
quan, nhờ nguồn nguyên liệu khá hơn và nhu cầu tiêu thụ của thế giới vào dịp cuối
năm tăng mạnh. Do vậy, khả năng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả năm đạt 3,6 tỷ
USD là hoàn toàn có cơ sở".
      Cần có giải pháp đồng bộ về an toàn vệ sinh thực phẩm
       Để ngành thủy sản phát triển thủy sản bền vững và đạt chỉ tiêu xuất khẩu
thủy sản đạt 4 tỷ USD vào năm 2010 thì không thể bỏ qua các chỉ tiêu về an toàn
vệ sinh thực phẩm và cần phải có giải pháp đồng bộ để giải quyết vấn đề trong đó
vùng ĐBSCL là trọng điểm.
      Thứ trưởng Lương Lê Phương cho biết hàng rào kỹ thuật mà các nước đặt
ra ngày càng gắt gao. Ông nói: "Họ kiểm dịch chặt chẽ và thường xuyên ban hành
những tiêu chuẩn mới, nếu chúng ta lơ là sẽ vướng ngay. Mới đây, đoàn thanh tra EU
và Nga sang Việt Nam kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm và thú y thủy sản ở Cà Mau,
Nha Trang, xem xét hệ thống nuôi trồng, thu mua và chế biến tại các nhà máy.
      Sau khi đi kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, phía Nga đã có kết luận thông
quan. Riêng đoàn thanh tra của EU đánh giá cao nỗ lực kiểm soát an toàn vệ sinh


156
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


thực phẩm và đáp ứng tốt các quy định của EU, tuy nhiên điều kiện vệ sinh tại các
nhà máy sản xuất nước đá, tàu cá, cảng cả... vẫn chưa tốt".
       Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Việt Thắng đã
nhận xét: "Nuôi trồng thuỷ sản ở ĐBSCL rất phát triển, đem lại lợi nhuận lớn và còn
nhiều tiềm năng để phát triển. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề cần được quan tâm giải
quyết."
       Thứ trưởng Nguyễn Việt Thắng cũng yêu cầu các tỉnh ĐBSCL rà soát lại quy
hoạch thủy lợi, quan tâm đến những vùng nuôi trồng thủy sản, tiến hành tổ chức hội
thảo công tác thủy lợi cho nuôi trồng thủy sản dự kiến vào cuối tháng 10 năm nay
tại thành phố Cần Thơ hoặc Tp.HCM.
        Sau hội thảo, Bộ sẽ ra văn bản hướng dẫn và thiết kế hệ thống thủy lợi phục vụ
thủy sản. Tiềm năng phát triển thủy sản ở ĐBSCL và vùng ven biển rất lớn, nếu tập
trung giải quyết được vấn đề thủy lợi, xử lý môi trường và thị trường tiêu thụ. Hiện nay,
tình trạng ô nhiễm môi trường nước vùng nuôi cá ở ĐBSCL đang báo động.


                        “Vã mồ hôi” vì quả cau xuất khẩu
       Đầu năm 2007 đến nay được coi là thời điểm vận hạn của nghề buôn
cau sấy xuất khẩu sang Trung Quốc, với khoảng 1.000 tấn cau sấy bị ứ đọng
tại biên giới. Giới buôn cau ước lượng con số thiệt hại lên đến 4 triệu USD.
       Đến tháng 10/2007 mà ông Nguyễn Tấn Lập (Tam Xuân 1, Núi Thành), chủ
lò lớn nhất trong số 40 lò sấy cau của tỉnh Quảng Nam, vẫn chưa xuất được lô
hàng nào. Trong khi cũng với quãng thời gian này năm 2006 ông xuất được 100
tấn. Đầu năm 2007, ông xuất 2 tấn và bị dội trở lại, đành phải chất đống trong nhà.
      “Chắc phải chôn thôi, vì nó mốc và mất màu”, ông Lập nói. Hai tấn cau sấy trị
giá 120 triệu đồng, một số tiền không nhỏ, vì thế mà ông tiếc, nấn ná chưa chịu bỏ.
        Ông Phan Hồng Đức (Tam Phú, Tam Kỳ, Quảng Nam), được xem là người
khai sinh nghề sấy cau xuất khẩu của Quảng Nam, ước lượng số cau sấy bị đọng
lại tại biên giới Việt-Trung vào khoảng 1.000 tấn. Nguyên nhân là do các thương
nhân Trung Quốc hạ giá mua xuống thấp. Một ký cau sấy đã thỏa thuận mức giá
3,9 USD nhưng khi đưa hàng qua thì họ chỉ chịu mua với giá 8-12 Nhân dân tệ.
Dân buôn cau sấy méo mặt vì lỗ, chần chừ không bán thì cau bị hư phải đem bỏ.
Ông Lập cho biết ở Thanh Hóa có một lò sấy cau xuất khẩu bị lỗ rất nặng, hiện còn
tồn đọng 200 tấn.
       Tất cả các chủ lò sấy cau đều thừa nhận rằng, năm 2006 là thời điểm “vàng son”
của nghề sấy cau xuất khẩu. Lúc đó, 1 ký cau sấy có giá 3,9 USD - cao nhất từ trước đến
nay. Để có cau nguyên liệu, các lò sấy đã đẩy giá mua lên mức cao ngất ngưởng, 14.000
đồng/ký, trong khi mọi năm cao nhất cũng chỉ 5.000-7.000 đồng/ký. Người trồng cau hả hê
vì cây mới ra buồng đã có người đến đặt cọc “xí phần”.



                                                                                     157
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       Đến khi cau nguyên liệu bị vắt kiệt, nhiều lò sấy đã dùng cả cau núi, cau
rừng có vỏ dày, xơ cứng, trộn với cau nhà để sấy. Một số lò sấy còn nhập cả cau
của Lào và Thái Lan về sấy rồi xuất sang Trung Quốc. Năm 2006, các lò sấy cau đã
nhập chừng 30.000 tấn cau quả từ Lào, Thái Lan, Campuchia dù cau trồng ở các
nước này không ngon bằng cau Việt Nam. Chính vì vậy, chất lượng cau sấy xuất
khẩu ngày càng giảm sút, khiến khách hàng ép giá hoặc cắt luôn hợp đồng mua
hàng trong nhiều tháng qua.
        Ngoài ra, theo ông Đức, giá cau sấy xuất khẩu giảm và bị dội hàng còn do
“chiến thuật” của các thương nhân Trung Quốc. Họ đẩy giá lên cao, sau đó “đóng
cửa” không mua. Dù cũng bị mất số tiền ứng trước cho các chủ lò sấy (từ 10-30%
giá trị hợp đồng) nhưng bằng việc hạ giá mua xuống còn 1 USD/1 ký (giảm khoảng
75%) họ sẽ nhanh chóng thu hồi lại và còn có lời to.
       Không chỉ các chủ lò sấy cau vã mồ hôi vì nợ mà cả nông dân trồng cau
cũng hoang mang. Ông Nguyễn Thanh Bút (thôn 11, Tiên Thọ, Tiên Phước) được
mệnh danh là “vua cau” Quảng Nam vì ông sở hữu vườn cau 24.000 cây, trong đó
có 1.000 cây đang cho trái. Năm 2006, ông bán ngay tại vườn một tấn cau trái
được 14,5 triệu đồng, mà thương lái tranh nhau mua. Thấy cau non được giá, ông
lại không bán mà để dành bán cau giống (quả già). Ông bán 5.000 trái cau giống
cũng bỏ túi được 5 triệu đồng (1.000 đồng/quả). Ba mươi năm trồng cau, ông chưa
bao giờ thấy trái cau được giá như vậy...
       Nhưng rồi, mấy tháng qua, cả vườn cau rộng như khu rừng của ông Bút
không ai ghé đến. Từ 14.000 đồng/ký, cau tươi xuống giá chỉ còn 1.400 đồng/ký.
Năm nay, ông ước tính sẽ thu 2 tấn cau quả, những tưởng cầm chắc 30 triệu đồng,
bây giờ giỏi lắm cũng chỉ được 3 triệu đồng. “Năm ngoái, đêm nào nhà tôi cũng chia
người ra canh vườn vì sợ kẻ trộm, mất một buồng cau là mất 50.000 đồng! Năm
nay cau ra trái đầy vườn mà chẳng ai thèm canh giữ”, ông than rồi cho biết thêm,
cũng tầm tháng 10 năm ngoái, dân buôn cau trái, cau giống vào Tiên Thọ nườm
nượp, xe tải nối đuôi ra vô ngày đêm, còn năm nay thì...
       Tâm trạng của ông Bút cũng là tâm trạng chung của 16.000 gia đình nông
dân trồng cau ở Quảng Nam. Năm 2006 Quảng Nam cung cấp ra thị trường khoảng
11.000 tấn cau trái, trong đó có 7.500 tấn cau non (tương ứng với 1.600 tấn sấy
xuất khẩu). Chỉ tính riêng cau non, năm 2006, nông dân Quảng Nam đã thu được ít
nhất 67,5 tỉ đồng (tính giá cau bình quân 9.000 đồng/ký). Năm nay, giỏi lắm cũng
chỉ bằng một phần ba, nông dân thiệt mất khoảng 40 tỉ đồng. Nếu tính cả nước thì
con số sẽ cao hơn rất nhiều.
      Ông Phan Hồng Đức cho biết, gần đây một số khách hàng Ấn Độ, Mỹ, Hàn
Quốc đã đến lò của ông đặt vấn đề mua cau nguyên liệu. Họ đặt những đơn hàng
lớn hơn nhiều so với sản lượng cau của cả tỉnh Quảng Nam hiện nay. Tuy nhiên,
những khách hàng này mua cau không phải để làm kẹo cau như Trung Quốc mà để
phục vụ cho ngành công nghệ sản xuất sơn, in nhuộm, dược liệu...
         “Phải có một tổ chức làm công tác xúc tiến thị trường, tập trung được nguyên
liệu..., thì nghề trồng cau xuất khẩu Việt Nam mới phát triển được”, ông Đức nói.

158
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



             Xuất khẩu thực phẩm đừng “một mình một chuẩn”
      Thực phẩm là mặt hàng xuất khẩu chiếm kim ngạch khá lớn của Việt
Nam. Tuy nhiên, vấn đề chất lượng vẫn luôn được đặt ra đối với các doanh
nghiệp Việt Nam chuyên xuất khẩu mặt hàng này.
       Là thành viên chính thức của WTO đã gần một năm, Việt Nam đang tích cực
xem xét việc xây dựng tiêu chuẩn cơ bản của hàng hóa và việc hài hòa hóa với các
tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là nhóm hàng thực phẩm.
      Những sự cố khi xuất khẩu
        Liên tiếp trong tuần qua, Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản đã gửi những tín hiệu
vui về khả năng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường tiềm năng này.
      Đó là việc các doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu thịt chế biến sang
Nhật và gạo Việt Nam tiếp tục trúng thầu tại nước này với 21.000 tấn gạo tẻ hạt dài.
Cơ hội là vậy nhưng cơ quan này cũng không quên cảnh báo các doanh nghiệp
Việt Nam cần đáp ứng các yêu cầu cao mà Nhật Bản đặt ra đối với vệ sinh an toàn
thực phẩm, và Nhật Bản chỉ là một trong số rất nhiều bạn hàng của Việt Nam trên
khắp thế giới.
       Người Nhật đặt yêu cầu rất cao đối với vệ sinh an toàn thực phẩm. Như vấn
đề tôm xuất khẩu vào Nhật Bản vừa qua, cùng với việc thông báo cho phía Việt
Nam, họ cũng tiến hành nhiều biện pháp điều tra, nếu phát hiện tôm Việt Nam được
nuôi thả không đảm bảo vệ sinh môi trường thì rất dễ bị cấm nhập khẩu.
      Trên thực tế, thời gian vừa qua, Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản đã nghiên
cứu kỹ nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm chế biến từ thịt lợn (gồm: xúc xích và
giăm bông) của Nhật Bản nhằm tìm kiếm mặt hàng xuất khẩu mới thúc đẩy xuất
khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.
      Sau đó, Thương vụ đã làm việc với Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp và Bộ Y tế,
Phúc lợi xã hội Nhật Bản đề nghị tạo điều kiện thuận lợi, đồng ý nhập khẩu các sản
phẩm chế biến từ thịt của Việt Nam (từ trước đến nay, ta không được phép xuất
khẩu các sản phẩm chế biến từ thịt lợn sang Nhật Bản vì bị xếp trong danh sách
các nước có dịch bệnh lở mồm long móng).
        Hiện nay, Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật Bản đã đưa ra Dự thảo quy định
nhập khẩu các sản phẩm chế biến từ thịt của Nhật Bản dành cho Việt Nam gồm 29
điều kiện. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam có thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện
trên, đặc biệt là khâu chế biến và xử lý nhiệt, Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản sẽ
tiếp tục vận động Bộ Nông lâm ngư nghiệp và Bộ Y tế, Phúc lợi xã hội Nhật Bản cử
chuyên gia sang Việt Nam kiểm tra thực tế và đánh giá chất lượng sản phẩm trước
khi ký kết thỏa thuận với ta đồng ý nhập khẩu các sản phẩm chế biến từ thịt của
Việt Nam. Một số doanh nghiệp Việt Nam đang được đánh giá là có triển vọng xâm
nhập thị trường Nhật Bản với các mặt hàng trên là Công ty Vissan và Công ty
Đức - Việt.

                                                                                   159
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản cho biết, hằng năm, Nhật Bản có nhu cầu
nhập khẩu các sản phẩm chế biến từ thịt nhập khoảng 200 triệu USD/năm. Hiện
nay, do chi phí nguyên liệu và lao động ngày càng tăng tại Nhật Bản, xu hướng
nhập khẩu ngày càng gia tăng, cụ thể là thị phần nhập khẩu liên tục tăng từ 3,2%
vào năm 2002 lên đến khoảng 10% vào năm 2006. Các nước xuất khẩu sản phẩm
chế biến từ thịt lợn gồm: Trung Quốc, Mỹ, Italy, Thái Lan, Đức, Tây Ban Nha.
       Về thuế nhập khẩu MFN của Nhật Bản, đối với giăm bông là 8,5% và đối với
xúc xích là 10%. Đây là cơ hội tốt để các sản phẩm chế biến từ thịt lợn của ta xuất
khẩu sang Nhật Bản nhằm thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu của ta sang Nhật Bản. Tuy
nhiên, Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản cũng đặc biệt lưu ý các doanh nghiệp Việt
Nam cần nhận thức rằng thị trường Nhật Bản rất khắt khe với chất lượng sản phẩm.
       Trong trường hợp gạo, kể từ đầu năm 2007 đến nay, Việt Nam đã 4 lần
trúng thầu với tổng số 66.050 tấn gạo. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp
đồng trúng thầu lần 2 và 3 (tổng số 31.050 tấn), lô hàng đầu tiên (700 tấn) đã bị vi
phạm Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm của Nhật với dư lượng chất Acetamiprid
vượt quá mức cho phép (0,01 ppm), dẫn đến việc phía Nhật quyết định tăng cường
kiểm tra 30% gạo có xuất xứ từ Việt Nam đối với chất Acetamiprid.
       Nhưng với sự nỗ lực của Bộ Nông - Lâm - Ngư nghiệp Nhật Bản và Thương
vụ Việt Nam tại Nhật Bản cùng các cơ quan liên quan cũng như các doanh nghiệp
xuất khẩu gạo của Việt Nam, nên việc thực hiện giao số lượng gạo còn lại của 2
hợp đồng trên đã hoàn thành tốt đẹp, tránh được lệnh kiểm tra 100% của Chính
phủ Nhật Bản.
       Việc trúng thầu lần này không những chứng minh cho kết quả của sự nỗ lực nói
trên mà còn lấy lại được lòng tin của người tiêu dùng cũng như các nhà nhập khẩu
Nhật Bản đối với gạo Việt Nam. Song không vì thế mà các doanh nghiệp có thể tự
bằng lòng mà cần nỗ lực tiếp để đảm bảo sản xuất an toàn và vệ sinh thực phẩm.
      Về phía các cơ quan chức năng của Việt Nam cũng đang nhanh chóng tìm
ra nguyên nhân dư lượng chất Acetamiprid vượt quá mức cho phép và có biện
pháp phòng chống, để đề nghị phía Nhật xem xét dỡ bỏ lệnh kiểm tra 30% đối với
gạo của ta.
      Hội nhập tiêu chuẩn để đẩy mạnh xuất khẩu.
       Tại Hội thảo Việt Nam - Hoa Kỳ về xây dựng tiêu chuẩn và Tác động đối với
thương mại vừa mới được tổ chức tại Hà Nội, các vấn đề liên quan tới tiêu chuẩn,
chất lượng và cơ cấu tổ chức hoạt động đánh giá sự phù hợp của cả hai nước đã
được đưa ra phân tích. Trong đó, tiêu chuẩn chất lượng thực phẩm là một trọng
tâm. Hiện ở Việt Nam mới có khoảng 800 mặt hàng thực phẩm được quy định tiêu
chuẩn chất lượng.
      Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, thay vì bảo hộ bằng hàng rào thuế
quan, các nước phát triển tăng cường hàng rào kỹ thuật. Các doanh nghiệp xuất
khẩu Việt Nam không còn con đường nào khác là phải “hội nhập tiêu chuẩn” nếu
muốn đẩy mạnh xuất khẩu.

160
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Sự khác nhau giữa “chuẩn” Việt Nam và thế giới là vấn đề khiến nhiều
doanh nghiệp lao đao. Trường hợp nước tương là một minh chứng rõ ràng. Theo
tiêu chuẩn về hàm lượng 3- MCPD của EU, tối đa mỗi ngày cho một người dùng
nước tương ở dưới mức an toàn là 0,02 mg/kg trọng lượng cơ thể, thấp hơn 50 lần
so với tiêu chuẩn 1 mg/kg trọng lượng cơ thể/ngày của Việt Nam.
       Nếu chiểu theo chuẩn ngặt nghèo này thì cứ 2 tuần một lần, nước tương Việt
Nam xuất khẩu sang EU lại bị “ăn đòn” bởi danh sách các loại nước tương không
đạt tiêu chuẩn 3- MCPD và bị công bố rộng rãi trên mạng Internet.
       Và trường hợp nước tương Chinsu Việt Nam bị khuyến cáo không nên dùng
ở Bỉ vì chứa độc tố gây ung thư là một ví dụ cụ thể, mặc dù đã được chứng minh là
hợp tiêu chuẩn Việt Nam. Các chuyên gia trong ngành cho rằng với lượng 3- MCPD
cho vào cơ thể hằng ngày mà vẫn an toàn là 2 microgram/kg cơ thể, một người 50
kg có thể ăn hằng ngày 100 microgram 3- MCPD.
       Như vậy, tiêu chuẩn mà Việt Nam quy định hoàn toàn bảo đảm cho sức khỏe
người tiêu dùng. Theo đó, nếu sử dụng 10 ml nước tương trong bữa ăn hằng ngày
thì hàm lượng 3- MCPD mà một người 50 kg ăn vào chỉ khoảng 30 microgram, vẫn
còn dưới xa “ngưỡng” an toàn như cách tính trên.
       Thông điệp được các chuyên gia đưa ra là Việt Nam phải xây dựng “chuẩn” vệ
sinh an toàn thực phẩm “tiệm cận” với chuẩn của thế giới chứ không “một mình một
chuẩn” như hiện nay. Bởi 3-MCPD không chỉ có trong nước tương mà còn có trong rất
nhiều những sản phẩm thế mạnh xuất khẩu của chúng ta như ngũ cốc, sữa, thịt, cá...
Nếu không, chúng ta đã tự đóng cửa thị trường xuất khẩu của chính mình.
        Nâng cao chất lượng vệ sinh thực phẩm nói riêng và hàng hóa nói chung là
một câu chuyện không mới, là quy trình không thể đảo ngược để hàng hóa Việt
Nam hội nhập sâu hơn vào thị trường thế giới. Tuy nhiên, đề ra tiêu chuẩn, quy
chuẩn chất lượng cho hàng hóa cần một hệ thống phòng thí nghiệm và các trang
thiết bị kiểm tra đạt chuẩn đi kèm, cùng với nó là một khoản chi phí không nhỏ.


                 Tình hình XK theo một số thị trường
              “Thị trường Nhật không quá khó tính!”
       Làm thế nào để nâng cao thị phần xuất khẩu vào Nhật Bản vẫn đang là
bài toán khó đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
       Xung quanh vấn đề này, VnEconomy vừa có cuộc phỏng vấn ông Takano
Koichi, Phó trưởng đại diện Cơ quan Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại
Việt Nam.
      Kim ngạch thương mại Việt - Nhật trong thời gian qua có gì đáng chú ý, thưa ông?
     Lĩnh vực này đã có nhiều chuyển biến tích cực. Năm 2006, kim ngạch
thương mại hai chiều Việt - Nhật đạt 9,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam

                                                                                         161
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

sang Nhật đạt 5,2 tỷ USD, tăng 18,6% so với năm 2005. Còn tính đến tháng
9/2007, kim ngạch thương mại hai nước trong năm 2007 đã đạt 8,3 tỷ USD, trong
đó Việt Nam xuất khẩu sang Nhật là 4,14 tỷ USD và nhập về 4,18 tỷ USD.
      Thế nhưng so với một số nước khác trong khu vực thì thị phần xuất khẩu
của Việt Nam vào Nhật Bản vẫn còn quá khiêm tốn, mới chỉ xấp xỉ 1% tổng kim
ngạch nhập khẩu của Nhật Bản, trong khi các nước khác như: Malaysia là 2,7%,
Thái Lan 2,9%, Indonesia 4,2%, Trung Quốc 20,5%...
      Vậy theo ông, đâu là nguyên nhân chủ yếu khiến kim ngạch thương mại giữa
hai nước vẫn còn quá “khiêm tốn” như vậy?
       Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn thường nghĩ rằng thị trường Nhật Bản là
một thị trường khó tính. Thực ra điều này là không hoàn toàn đúng.
       Thị trường Nhật Bản cũng giống như nhiều thị trường khác là đều coi trọng
chất lượng hàng hóa và chữ tín trong kinh doanh. Các doanh nghiệp Nhật có thói
quen là tìm hiểu rất kỹ về đối tác trước khi có quyết định làm ăn lâu dài.
       Bên cạnh đó, do có nhiều vụ vi phạm về các quy định chất lượng hàng hóa
từ các nước vào thị trường Nhật, đặc biệt là hàng thủy sản và thực phẩm nên các
doanh nghiệp và các cơ quan chức năng Nhật phải đưa ra những quy định khắt khe
đối với các lô hàng nhập vào Nhật.
        Tuy nhiên, theo điều tra của chúng tôi thì nguyên nhân chính khiến quan hệ
thương mại 2 nước chưa được như mong muốn là do các doanh nghiệp Việt Nam
chưa thật quyết tâm, nỗ lực trong việc hợp tác với các doanh nghiệp Nhật Bản. Các
doanh nghiệp Nhật Bản phản ánh với chúng tôi rằng, các doanh nghiệp Việt Nam
thiếu tính chủ động trong kinh doanh với doanh nghiệp Nhật Bản.
       Do đó, họ cho rằng, nếu các doanh nghiệp Việt Nam có những chiến lược
kinh doanh cụ thể, chủ động hơn nữa thì phía Nhật Bản sẵn sàng ủng hộ, hợp tác.
      Vì vậy, tôi hoàn toàn có thể khẳng định rằng, thị trường Nhật Bản không phải
là một thị trường quá khó tính như mọi người vẫn nghĩ. Điều quan trọng là các
doanh nghiệp có thực sự muốn làm ăn và có coi trọng chữ tín hay không mà thôi.
      Vậy, với tư cách là một cơ quan xúc tiến thương mại giữa hai nước, JETRO
sẽ có những giải pháp gì để nâng cao kim ngạch thương mại giữa hai nước, thưa
ông ?
      Việc xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản đang giữ vị trí khiêm
tốn cũng khiến chúng tôi phải suy nghĩ nhiều. Đáng chú ý là hiên nay nhiều doanh
nghiệp Việt Nam vẫn chưa biết nhiều về tập quán kinh doanh của doanh nghiệp
Nhật Bản, thiếu thông tin về thị trường Nhật Bản cũng như thông tin về các nhà
nhập khẩu, nhà phân phối tiêu thụ tại Nhật Bản.
       Vì vậy, trong thời gian qua, JETRO đã phối hợp Trung tâm Thông tin kinh
doanh và Thương mại (TBIC) thuộc Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội tổ chức một số
buổi giao lưu, hội thảo xung quanh chủ đề về kinh nghiệm xuất nhập khẩu giữa Việt

162
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


Nam – Nhật Bản và đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ, tham gia của các doanh
nghiệp Việt Nam.
      Ngoài ra, chúng tôi cũng sẵn sàng tư vấn, chia sẻ, giải đáp những thắc mắc,
những câu hỏi của các doanh nghiệp liên quan đến hoạt động thương mại của hai nước.
       Đặc biệt, vào trung tuần tháng 11 tới, chúng tôi sẽ tổ chức một cuộc triễn lãm
Công nghiệp phụ trợ Việt Nam – Nhật Bản tại Hà Nội nhằm giúp các doanh nghiệp
2 nước nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng cũng như có cơ hội gặp gỡ các
đối tác tiềm năng.
       Vậy, trong thời gian tới, ngoài những mặt hàng truyền thống, theo ông, các doanh
nghiệp Việt Nam nên mở rộng những mặt hàng nào để xuất khẩu sang Nhật?
       Thị trường Nhật Bản là một thị trường rất rộng lớn với 128 triệu dân và sức
mua của thị trường Nhật là rất lớn, thể hiện qua kim ngạch nhập khẩu ngày càng
tăng, năm 2005 đạt 454 tỷ USD, 2006 đạt 580 tỷ USD.
       Từ trước tới nay, Nhật Bản vẫn nhập khẩu từ Việt Nam chủ yếu vẫn là hàng
thủy sản, thực phẩm, dệt may, đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ…
       Còn trong thời gian tới, theo tôi các doanh nghiệp Việt Nam nên tập trung
vào một số nhóm hàng như thực phẩm chế biến sẵn, rau, hoa quả tươi, hàng cơ
khí gia dụng, nhựa gia dụng, gốm sứ, đá quý, cao su, thậm chí là cả công nghiệp
đóng tàu…
       Tôi cũng xin lưu ý rằng, sức mua của thị trường Nhật Bản là rất lớn, song do
mức sống cao nên người Nhật Bản không đòi hỏi tất cả các sản phẩm nhất thiết có
độ bền lâu năm. Vì vậy, những sản phẩm có vòng đời ngắn nhưng chất lượng đảm
bảo, kiểu dáng đẹp, tiện dụng sẽ là những sản phẩm đang được người tiêu dùng
Nhật chọn lựa.


                 Để không phải trả giá khi vào thị trường Mỹ
      Hoa Kỳ được đánh giá là thị trường xuất khẩu số 1 đối với hàng hoá
của Việt Nam. Tuy nhiên, để vào thị trường Hoa Kỳ, đã rất nhiều doanh của
Việt Nam phải trả giá đắt cho việc chậm trễ khi chuẩn bị cho mình những
chiến lược bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường này.
       Chính vì vậy, nhiều luật sư Việt Nam và Hoa Kỳ khuyến cáo, muốn đẩy
mạnh xuất khẩu sang thị trường này, doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý tới việc đăng
ký nhãn hiệu hàng hoá và tìm hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của luật sở hữu trí tuệ Hoa
Kỳ tới các sản phẩm.
      Thị trường lớn của doanh nghiệp Việt Nam
      Hoa Kỳ được đánh giá là thị trường xuất khẩu số 1 đối với hàng hoá của Việt Nam,
xu hướng này càng trở nên rõ rệt hơn khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO.


                                                                                   163
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       Số liệu thống kê cho thấy kim ngạch xuất khẩu hàng Việt Nam sang Hoa Kỳ
đạt 8 tỉ USD trong năm 2006, dự kiến 2007 đạt hơn 10 tỉ USD. Hàng xuất khẩu
sang Hoa Kỳ năm vừa qua đã chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam. Các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam sang thị trường này
(không kể dầu thô) là dệt may, thuỷ sản, giày da và đồ gỗ.
      Tính đến tháng 6 năm 2007, 4 mặt hàng này chiếm 70% tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ. Trong đó, với mặt hàng dệt may, Việt Nam đứng
thứ tư trong số các nhà xuất khẩu mặt hàng này vào Hoa Kỳ (chiếm 4% thị phần
nhập khẩu), thủy sản đứng thứ 6 (4,2% thị phần), đồ gỗ đứng thứ 6 và giày dép
đứng thứ 2.
       Theo nhận định của các chuyên gia, hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa
Kỳ mặc dù tăng mạnh nhưng vẫn bộc lộ bất cập. Ngoài dầu thô thì các mặt hàng
thuỷ sản, dệt may là những mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang Hoa Kỳ, trong khi đó
những mặt hàng có hàm lượng chất xám cao lại chưa xuất khẩu được nhiều, thậm
chí số lượng còn rất khiêm tốn.
        Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Traphaco, bà Vũ Thị
Thuận cho biết doanh nghiệp của bà đã nhận thấy các sản phẩm sinh học, thực
phẩm chức năng, dược phẩm có nguồn gốc thảo dược đang là xu hướng sử dụng
của thế giới và Traphaco rất mong muốn có thể xuất khẩu sản phẩm của mình sang
thị trường Hoa Kỳ.
      Tuy nhiên, theo bà Thuận, cho đến nay, các sản phẩm thuốc, thực phẩm
chức năng từ thảo dược của Việt Nam vẫn chưa sang được thị trường Hoa Kỳ bởi
hàng rào kỹ thuật vô cùng nghiêm ngặt quy định tại thị trường này.
      Cần chú ý đến vấn đề thương hiệu
       Theo các luật sư, để thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ nổi tiếng nhiều vụ
kiện, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cần được doanh nghiệp đặc biệt lưu tâm. Doanh
nghiệp cần nghiên cứu kỹ các phương thức đăng ký bảo hộ ở Hoa Kỳ để bảo vệ
nhãn hiệu một cách hữu hiệu, nhanh chóng và tiết kiệm.
      Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần lưu ý vận dụng quy định quốc tế để chủ
động có chiến lược xâm nhập thị trường nước ngoàicũng cần chứng minh được tính
mới, phát hiện lần đầu tiên của sản phẩm để yêu cầu được bảo hộ. Thời gian bảo hộ
thường từ 17 đến 20 năm tính từ khi bắt đầu nộp đơn của doanh nghiệp.
       Ông Neil F. Greenblum cũng đặc biệt lưu ý đối với các doanh nghiệp chuyên
về dược phẩm, sinh học và hoá học, khi vào thị trường Hoa Kỳ, cần chú ý tới Đạo
luật Hatch-Waxman.
       Các luật sư Hoa Kỳ cũng lưu ý các doanh nghiệp Việt Nam phải chú ý tới thủ
tục tranh tụng trước toà khi bị xâm phạm nhãn hiệu đã được đăng ký tại nước sở
tại. Theo đó, tại Hoa Kỳ, toà án cấp quận sẽ là nơi xét xử đầu tiên tất cả các vụ kiện
xâm phạm sáng chế.


164
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Theo ông Neil F. Greenblum, các quốc gia châu Á quan tâm và hoạt động rất
nhiều trong lĩnh vực dược thảo truyền thống. Tuy nhiên lĩnh vực dược thảo lại có
sức cạnh tranh rất cao. Với sự tham gia của nhiều đối thủ cạnh tranh nên giá dược
thảo rất thấp. Mặt khác hệ thống an sinh xã hội, bảo hiểm tại Hoa Kỳ lại không chi
trả cho vấn đề liên quan đến dược thảo. Ở Hoa Kỳ người tiêu dùng có biết đến
dược thảo nhưng không được phổ biến và yêu thích như các nước châu Á, thậm
chí so với châu Âu.
       Giám đốc Công ty luật Greenblum & Bernstein cho rằng cách thức tốt nhất
đối với các doanh nghiệp Việt Nam để thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ là nên sản
xuất các sản phẩm nguyên liệu trung gian để bán cho các công ty khác. “Khi sản
xuất các nguyên liệu trung gian như vậy, các bạn chắc chắn sẽ không bị kiện bởi vì
trong trường hợp có vi phạm sở hữu trí tuệ thì cái mà các bạn sản xuất không phải
thuốc thành phẩm”, ông nói.
        Trong trường hợp bị kiện, theo ông Neil F. Greenblum, các doanh nghiệp
Việt Nam trước hết nên trông chờ vào sự phối hợp của các luật gia. Chính các luật
gia là người đưa ra những tư vấn phù hợp có nên tiếp tục vụ kiện hay không và tiếp
tục theo hướng nào.
       Doanh nghiệp cũng cần có sự chuẩn bị từ trước khi đưa hàng vào Hoa Kỳ
các tình huống có thể bị kiện và khi bị kiện thì đối phó như thế nào. Ông Neil
F.Greenblum lưu ý các doanh nghiệp: “Trước hết chúng ta nên có sự tham vấn từ
các luật sư Việt Nam. Sau đó chính các luật sư Việt Nam sẽ tìm hiểu xem có nên
mời cả luật sư Hoa Kỳ không, để đi đến phương án tốt nhất”.




                                                                              165
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

                Chuyªn môc 6: Kinh tÕ thÕ giíi


A. Tổng quan – nghiên cứu
         Singapore vµ giÊc m¬ trë thµnh trung t©m
            chÊt x¸m
         C¸c nÒn kinh tÕ míi næi “hót” m¹nh vèn
            FDI
         Trung Quèc x©y dùng toµn diÖn x· héi kh¸
            gi¶
         Nobel Kinh tÕ 2007: Lý thuyÕt ph¸c th¶o
            c¬ chÕ lªn ng«i
         ASEAN liªn kÕt ng¨n ngõa khñng ho¶ng
           L¹c quan giao th-¬ng Trung Quèc – ASEAN

1. Singapore và giấc mơ trở thành trung tâm chất xám
     Tại trường Tisch School of the Arts Asia, chi nhánh tại Singapore của trường
nghệ thuật Tisch School thuộc Đại học New York, người ta có thể nhận thấy những
nỗ lực của Singapore trong việc phát triển lĩnh vực nghệ thuật.
     Trong số 33 học viên của lớp làm phim mới tuyển của trường này, chỉ có 2
người Singapore, còn một nửa là người Mỹ. Năm tới, trường này có dự định mở
thêm một lớp mỹ thuật. Chương trình học cũng như học phí của Tisch ở Singapore
cũng tương tự như của trường này ở Mỹ.
      Khát vọng khẳng định
     Với việc thuyết phục trường Tisch mở chi nhánh nước ngoài đầu tiên của
trường tại Singaporre, các nhà hoạch định chính sách kinh tế của nước này nhằm
vào hai mục tiêu có liên quan chặt chẽ với nhau.
      Mục tiêu thứ nhất là đưa Singapore trở thành một “trường học toàn cầu”, nơi
các trường đại học đẳng cấp quốc tế đưa tới những vị giáo sư nổi tiếng để đào tạo
nhân tài mà đa phần trong đó các sinh viên châu Á. Chính sách này sau đó sẽ tăng
cường sức hấp dẫn của Singapore đối với các công ty đa quốc gia muốn tiếp cận
với một trung tâm nghiên cứu và phát triển tại châu lục.
      Mục tiêu thứ hai là xóa bỏ tiếng xấu rằng Singapore là một xã hội ì ạch, phát
triển theo kịch bản đã vạch sẵn, nơi sức sáng tạo bị hạn chế bởi những quy định
can thiệp quá sâu của Chính phủ. Tóm lại, bằng con đường thúc đẩy sự sáng tạo


166
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


trong lĩnh vực nghệ thuật cũng như nghiên cứu khoa học, Singapore muốn trở
thành một trung tâm chất xám toàn cầu.
    Singapore đang phấn đấu tới năm 2015, tuyển sinh được 150.000 sinh viên
nước ngoài, so với con số khoảng 80.000 ở thời điểm hiện tại. Phần lớn sinh viên
nước ngoài tại Singapore là sinh viên đến từ Malaysia, Việt Nam, Indonesia, Trung
Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc.
      Tham vọng này của Singapore cũng phản ánh sự tăng trưởng nhanh chóng
của lĩnh vực giáo dục toàn cầu. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
(OECD), năm 2005, số lượng sinh viên mới được tuyển sinh trên toàn thế giới là
2,7 triệu sinh viên, so với con số 1,3 triệu sinh viên vào 1 thập kỷ trước đó.
      Trong đó, Mỹ là quốc gia có số lượng sinh viên được tuyển mới đông nhất,
tiếp theo là Anh và Australia. Đặc biệt, Australia đã thành công trong việc quảng bá
các trường đại học của mình là những lựa chọn với chi phi thấp dành cho những
sinh viên châu Á muốn có bằng cấp nước ngoài.
     Singapore rất muốn đầu tư vào thị trường giáo dục toàn cầu đang phát triển
nhanh chóng này. Do đó, mặc dù các trường đại học trong nước của Singapore đã
có sức hấp dẫn nhất định đối với nhiều sinh viên châu Á, nước này vẫn muốn hợp
tác với các trường đại học danh tiếng của phương Tây nhằm đưa nền giáo dục
đẳng cấp quốc tế tới đây.
      Từ năm 1998 đến nay, đã có khoảng 16 trường đại học nước ngoài hợp tác
các trường đại học của Singapore, chủ yếu là dưới dạng các chương trình hợp tác
nghiên cứu sinh như chương trình của Đại học Kỹ thuật Nanyang hợp tác với Đại
học Cornell của Mỹ. Trường kinh doanh nổi tiếng INSEAD của Pháp cũng đã có
một chi nhánh ở Singapore.
     Mặt khác, Singapore cũng tìm cách kêu gọi một số trường đại học nước ngoài
- không riêng gì những trường kinh doanh - đặt chân tới “trường học toàn cầu” này.
Tuy nhiên, việc thuyết phục Đại học Harvard mở chi nhánh ở Singapore - đồng
nghĩa với việc làm lu mờ thương hiệu cao cấp của đại học này - nghe giống như
một giấc mơ viển vông.
     Mặc dù vậy, chắc chắn vẫn có những trường đại học nước ngoài khác ít nổi
tiếng hơn Harvard có thể bị thuyết phục bởi lời mời chào của Singapore vì những
ưu đãi mà Chính phủ nước này dành cho, hoặc vì một chiến lược nào đó của
trường.
     Singapore chưa bao giờ giữ bí mật về nguồn tài chính dồi dào cũng như thái
độ sẵn sàng trong việc sử dụng nguồn tài chính này để thúc đẩy những ngành công
nghiệp mà các nhà lãnh đạo nước này tin rằng Singapore có thế mạnh hơn so với
các đối thủ khác, như ngành công nghệ sinh học và dịch vụ môi trường. Sự lớn
mạnh của Trung Quốc đã thúc đẩy cuộc săn tìm những đầu tàu kinh tế tri thức
nhằm đưa những ngành công nghiệp chế tạo vào dĩ vãng.
     Và những trở ngại lớn

                                                                                167
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Đầu năm nay, Đại học New South Wales của Australia đã mở một chi nhánh
tạm thời ở Singapore để tuyển sinh 148 sinh viên mới. Đồng thời, ở một khu vực
gần sân bay quốc tế Changi, trường đại học của trường này cũng khởi công xây
dựng ngôi trường trị giá 91 triệu USD được thiết kế dành cho 15.000 sinh viên. Khu
nhà này được dự kiến trở thành trường đại học 100% nước ngoài đầu tiên ở
Singapore.
     Mặc dù vậy, đến tháng 5 vừa qua, trò chơi đã chấm dứt. Trường đại học này
đột ngột hủy kế hoạch xây dựng và tuyên bố đóng cửa chi nhánh tạm thời sau khi
đã chi ra 14,4 triệu USD. Phó hiệu trưởng của trường là Fred Hilmer gọi dự án này
là một “gánh nặng tài chính không thể duy trì” và đề nghị đưa sinh viên của trường
về Sydney.
     Ông cho biết, việc tuyển sinh rất đáng thất vọng và giải thích tại sao chỉ có ít
sinh viên đăng ký đến vậy. “Khi một sinh viên muốn lấy bằng đại học của Australia,
điều mà sinh đó thực sự muốn là việc được sống ở Sydney… và mua những tấm
ván lướt sóng”, ông nói.
     Khi UNSW cam kết xây dựng chi nhánh tại Singapore vào năm 2005, Đại học
Warwick của Anh cũng lên kế hoạch mở một chi nhánh lớn ở Singapore. Nhưng
sau đó, kế hoạch này đã bị hủy do sinh viên và các giáo sư của trường phản đối vì
lo ngại sự tự do trong môi trường giáo dục vốn được coi là đương nhiên trong các
trường đại học tại Anh sẽ không phù hợp với bối cảnh ở Singapore.
    Điều này khiến Singapore khó có thể trở thành một trung tâm trí thức vận
hành tự do giống như New York hay Oxford - những nơi mà nơi tự do giáo dục
được đề cao. Tháng 8 vừa qua, cảnh sát Singapore đã cấm một bài giảng của
Douglas Sanders, một viện sĩ người Canada đồng thời cũng là người ủng hộ quyền
của dân đồng tính. Lý do của vụ bắt giữ này là sự phản đối thẳng thừng của
Sanders với những đạo luật của thời kỳ thực dân trong đó coi việc đồng tính là
phạm tội.
      Một vấn đề nữa là liệu mô hình của Singapore - đưa các trường đại học nước
ngoài vào để đào tạo sinh viên nước ngoài là chủ yếu - có đạt mang lại hiệu quả
kinh tế hay không.
     Việc thuê giảng viên nước ngoài là không hề rẻ chút nào, trong khi giá sinh
hoạt tăng cao ở Singapore cũng đang là một áp lực đội ngũ giảng viên. Hiện tại,
giáo viên nước ngoài đã chiếm vị trí chủ chốt trong giảng dạy tại các trường đại học
trong nước của Singapore. Mặt khác, việc thuê những giảng viên hạng sao mà
Singapore cần chứng tỏ mình là một điểm đến toàn cầu trong lĩnh vực giáo dục có
lẽ còn tốn gấp 2 lần so với thuê những giảng viên bình thường.
     “Một đầu vào chính trong quá trình giáo dục là người dạy. Trong giáo dục bậc
cao, có thể thuê giáo sư nước ngoài, nhưng phải trả cao hơn để thuyết phục được
những giáo sư đẳng cấp quốc tế như ở Stanford hay Harvard để chuyển tới



168
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


Singapore”, Linda Lim, một giáo sư người Singapore tại trường kinh doanh của Đại
học Michigan nói.
      Người dân Singapore cũng có thể đặt câu hỏi, liệu sự ủng hộ hào phóng - từ
tiền thuế mà họ phải đóng - dành cho các trường đại học nước ngoài và cấp học
bổng cho các sinh viên nước ngoài có đem lại lợi ích cho đất nước này?
     Các quan chức Singapore thì cho rằng, lợi ích kinh tế sẽ xuất phát từ danh
tiếng toàn cầu trong lĩnh vực giáo dục, cũng như việc nhân tài nước ngoài quyết
định ở lại làm việc hoặc nghiên cứu tại đây. Chính phủ Singapore cũng áp dụng
chính sách khuyến khích nhân lực chất lượng cao nước ngoài cư trú vĩnh viễn ở
nước này.
     Bà Lim cho biết, học bổng đại học chưa chắc đã thu hút cho Singapore một
lực lượng lao động được đào tạo cao như nước này mong muốn vì nhiều người
muốn sử dụng Singapore để làm bàn đạp tiến sang Mỹ.
        Mặt khác, ưu đãi dành cho sinh viên nước ngoài cũng đồng nghĩa với việc có
ít vị trí trong các trường đại học cho các sinh viên trong nước hơn. Hiện chỉ có chưa
đầy 30% học sinh tốt nghiệp trung học ở Singapore học tiếp lên đại học. Mặt khác,
mặc dù Chính phủ Singapore cho rằng những người từng học ở nước này sẽ trở
thành những đại sứ quốc tế cho Singapore, thật là khó để có thể tính toán được lợi
ích này bằng một phân tích về hiệu quả chi phí.
      Trong một tài liệu được công bố công khai, trường Tisch cho rằng “lĩnh vực
nghệ thuật đang đâm chồi này lộc” của Singapore “làm gợi nhớ lại” Greenwich
Village - một địa danh nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật ở New York - vào thập
niên 1960. Đây quả là một sự suy luận “tài tình”.
     Mặc dù Singapore đã đổ nhiều tiền vào lĩnh vực nghệ thuật, văn hóa và thúc
đẩy các sự kiện đa văn hóa, sở thích chủ yếu của người ở đây vẫn là đi mua sắm.
Có lẽ, Singapore cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa.

                                 (Theo Vneconomy/ Far Eastern Economic Review)

2. Các nền kinh tế mới nổi “hút” mạnh vốn FDI
       Theo Báo cáo về triển vọng đầu tư toàn cầu trước năm 2011 mà Ban thông
tin thuộc Hiệp hội các nhà kinh tế và Chương trình đầu tư quốc tế Columbia vừa
công bố, ba nước Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ hiện chiếm 30% tổng FDI trên
toàn cầu.
      Báo cáo trên dựa theo kết quả phỏng vấn hơn 600 nhà đầu tư trực tiếp trên
toàn cầu.
      Những nền kinh tế có sức hút FDI lớn
     Từ năm 2007 đến năm 2011, FDI vào Trung Quốc mỗi năm dự kiến sẽ đạt
khoảng 87 tỷ USD và chiếm khoảng 6% tổng FDI toàn cầu.



                                                                                 169
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Lượng FDI vào Ấn Độ tăng mạnh, từ mức 6,7 tỷ USD năm 2005 lến đến 17,5
tỷ năm 2006. Dự đoán trong những năm tới, FDI vào Ấn Độ sẽ tăng trưởng ổn định,
nhưng không tương xứng với tiềm lực phát triển kinh tế của nước này.
       Nhật Bản do kinh tế tăng trưởng chậm chạp và hệ thống pháp luật mang
nặng tính bảo hộ sẽ khó thúc đẩy việc thu hút FDI. Trên thực tế, tỷ lệ FDI chỉ chiếm
có 2,5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Nhật Bản, thuộc hàng thấp nhất
thế giới.
       Ngoài Trung Quốc, Ấn Độ, một nền kinh tế mới nổi lớn khác là Brazil cũng đang
trở thành tâm điểm thu hút FDI. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Brazil trong 8
tháng đầu năm 2007 đã tăng 161% so với cùng kỳ năm 2006, lên 26,5 tỷ USD.
       Ngân hàng Trung ương Brazil (BCB) cho biết con số FDI này tương đương
3,78% GDP của Brazil trong cùng kỳ. Kết quả trên đã khiến Chính phủ Brazil nâng
mức dự báo lượng FDI vào quốc gia Nam Mỹ này trong cả năm 2007, từ 25 tỷ USD
lên 32 tỷ USD.
       Mức điều chỉnh tăng này chỉ tính đến lượng FDI rót vào Brazil, chứ không
liên quan đến các thương vụ sáp nhập và mua bán những công ty trong nước do
các công ty nước ngoài tiến hành. Lượng FDI vào Brazil đã đạt 35,12 tỷ USD trong
giai đoạn từ tháng 9/2006-8/2007, tương đương 2,89% GDP trong cùng kỳ.
      Trung Quốc, Ấn Độ trở thành các nhà đầu tư lớn
      Một điểm đáng chú ý là các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ
không chỉ thu hút FDI, mà đang trở thành những nước đầu tư ra nước ngoài ngày
càng nhiều.
       Chính phủ Trung Quốc hôm 29/9 vừa qua công bố, Quỹ Đầu tư Nhà nước
Trung Quốc đã chính thức đi vào hoạt động, với tên viết tắt là CIC, sở hữu số vốn
khổng lồ 200 tỷ USD, xếp hạng khoảng thứ 5 thế giới về tổng giá trị vốn. Số tiền
này chỉ chiếm gần một phần sáu nguồn dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc và Trung
Quốc đang chủ trương sử dụng hiệu quả nguồn ngoại hối dự trữ thông qua quỹ đầu
tư nói trên.
       Nhờ có mức thặng dư mậu dịch đạt hết kỷ lục này đến kỷ lục khác, tính đến
cuối tháng sáu năm nay, Trung Quốc đã có trong tay một nguồn dự trữ ngoại tệ lên
tới khoảng 1.300 tỷ USD, nhiều nhất thế giới. Sự ra đời của quỹ đầu tư Trung Quốc
đã gây nhiều lo ngại ở phương Tây, vì Bắc Kinh sẽ sử dụng quỹ đầu tư CIC để thỏa
mãn cơn khát năng lượng và tài nguyên thiên nhiên.
      Chuyên gia kinh tế thuộc trường đại học quốc gia Mexico Francisco Zapata
vừa cho biết, để hạn chế mức nhập khẩu hàng hóa đang rất cao từ thị trường Mỹ
gây nên tình trạng thâm hụt cán cân thương mại ngày càng tăng, Trung Quốc đã
thực hiện chiến lược gia tăng xuất khẩu sang thị trường Mỹ thông qua việc đẩy
mạnh các hoạt động đầu tư vào các quốc gia thứ ba, trong đó Mỹ Latinh là một thị
trường trọng điểm.
     Trung Quốc đã tuyên bố một loạt dự án đầu tư với tổng trị giá lên tới 100 tỷ
USD sẽ được triển khai trước năm 2015 và tập trung chủ yếu tại Brazil, Argentina,


170
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


Chile, Columbia và Venezuela. Trong hai năm gần đây, đầu tư của Trung Quốc vào
Mỹ Latinh và các châu lục khác đã tăng 70%.
      Theo Hãng tin PTI của Ấn Độ, để đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài, Ngân
hàng Trung ương Ấn Độ (RBI) đã nâng mức giới hạn trần đối với các khoản đầu tư
ra nước ngoài của các quỹ, từ 4 tỷ USD lên 5 tỷ USD. RBI đã cho phép các công ty
nước này tăng lượng vốn đầu tư ra nước ngoài mà không cần xin phép trước ngân
hàng, nhằm giảm sức ép của luồng ngoại tệ đang đổ vào quốc gia Nam Á này.
        Ngoài ra, mức giới hạn đầu tư ra nước ngoài của các cá nhân cũng được tăng
gấp đôi, lên 200.000 USD/tài khoá. RBI cũng nâng giới hạn đối với các khoản vay mà
công ty trả trước cho phía nước ngoài, trong nỗ lực giảm luồng vốn nước ngoài đã quá
tải và kiềm chế đà tăng giá của đồng Rupi so với các đồng ngoại tệ khác.
       Các công ty tại Ấn Độ hiện có thể trả trước 500 triệu USD các khoản vay
thương mại ở nước ngoài mà không cần RBI thông qua, so với mức giới hạn trước
đây là 400 triệu USD.
                                                                  Theo Vneconomy


3. Trung Quốc xây dựng toàn diện xã hội khá giả
       Trung Quốc phấn đấu hoàn thành mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giả
vào năm 2020, lúc đó, GDP tăng gấp 4 lần so với năm 2000. Tuy nhiên, bên cạnh
tăng trưởng kinh tế, nước này đang chú ý hơn các vấn đề môi trường, xã hội...
       Mục tiêu nêu trên được đề cập trong báo cáo được Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào
trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc,
khai mạc sáng 15/10, tại thủ đô Bắc Kinh, với sự tham dự của 2.237 đại biểu chính
thức đại diện hơn 73 triệu đảng viên.
      Giữ vững định hướng phát triển
      Đây là đại hội rất quan trọng, được triệu tập trong giai đoạn then chốt của
công cuộc phát triển và cải cách của Trung Quốc. Đại hội này cũng thu hút sự quan
tâm đặc biệt của dư luận trong và ngoài nước Trung Quốc, trong bối cảnh nước này
đang nổi lên thành cường quốc của khu vực và thế giới, là một động lực quan trọng
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong nhiều năm liền.
      Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào đã trình bày báo cáo với tiêu đề: "Giương cao
ngọn cờ vĩ đại xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc, phấn đấu giành thắng
lợi mới trong xây dựng toàn diện xã hội khá giả".
      Nội dung báo cáo được chia làm 12 phần, trong đó nhấn mạnh những thành
tựu chủ yếu của Trung Quốc trong 5 năm qua, kể từ Đại hội lần thứ XVI năm 2002
đến nay, bao gồm sức mạnh kinh tế được gia tăng đáng kể; đạt nhiều đột phá mới
trong công cuộc cải cách mở cửa; mức sống của người dân không ngừng được
nâng cao; công cuộc phát triển xã hội được thúc đẩy một cách toàn diện; chính
sách ngoại giao đa phương diện thu được tiến triển lớn; công cuộc xây dựng Đảng
đạt những bước tiến vững chắc....



                                                                                171
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

        Tổng Bí thư cũng đã nhấn mạnh mục tiêu đẩy mạnh công tác cải cách chính
trị, thúc đẩy dân chủ trong nước. Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào cũng đề cập nhiệm vụ
chống tham nhũng và nhận định tham nhũng, lãng phí vẫn đang là những vấn đề
nghiêm trọng của xã hội Trung Quốc. Để chống tham nhũng kiên quyết và hiệu quả
cần có sự đồng lòng và ủng hộ rộng rãi của tất cả các tầng lớp nhân dân, đồng thời
cần được tiến hành thường xuyên, liên tục.
      Đảng Cộng sản đã hình thành và phát triển qua 86 năm và 58 năm lãnh đạo
đất nước Trung Hoa mới. Theo thống kê mới nhất của Ban Tổ chức Trung ương
Đảng Cộng sản Trung Quốc công bố ngày 8/10, tính đến nay Đảng có 73.363.000
đảng viên, tăng 6.422.000 đảng viên so với thời điểm tổ chức Đại hội Đảng lần thứ
XVI. Tổ chức đảng cơ sở hiện có 3.607.000 đơn vị, tăng 142.000 đơn vị so với kỳ
Đại hội Đảng lần thứ XVI.
      Giảm bớt phụ thuộc vào xuất khẩu
      Đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế, Tổng Bí thư đưa ra mục tiêu tăng gấp 4
lần GDP bình quân đầu người vào năm 2020 (so với năm 2000). Đây là một trong
những nhiệm vụ lớn để Trung Quốc hoàn thành mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội
khá giả vào năm 2020. Theo mục tiêu trên, đến năm 2020, GDP bình quân đầu
người ở Trung Quốc sẽ đạt 3.500 USD.
        Năm 2006, chỉ số này của Trung Quốc là 2.042 USD, tăng 339 USD (20%)
so với năm 2005. Theo Trung tâm thẩm tra kinh tế quốc gia, để đạt mục tiêu đã đề
ra, Trung Quốc chỉ cần duy trì mức tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 5% trong
những năm tới. Trung Quốc đã duy trì mức tăng trưởng GDP hơn 10% trong 4 năm
liên tiếp và đạt 20.000 tỷ NDT (khoảng 2.700 tỷ USD) vào năm 2006.
       Ông Hồ Cẩm Đào cho rằng Trung Quốc vốn bị chỉ trích về thặng dư thương
mại kỷ lục, nên phải làm cho nền kinh tế bớt phụ thuộc vào xuất khẩu và đầu tư, và
chuyển sang dựa vào tiêu dùng nhiều hơn nữa. Ông nhấn mạnh Trung Quốc cần
chú trọng phát triển công nghệ.
      Ông khẳng định: "Đây là nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa quan trọng đối với
nền kinh tế quốc dân nói chung" và cũng lưu ý rằng sự tăng trưởng kinh tế nhanh
chóng của Trung Quốc thời gian qua phải trả giá rất đắt về tài nguyên và môi
trường. Dự báo đến năm 2020, Trung Quốc sẽ hoàn thành về cơ bản công cuộc
công nghiệp hoá với sức mạnh tổng hợp tăng mạnh và có thị trường trong nước
lớn nhất thế giới. Lúc đó, người dân Trung Quốc cũng sẽ có một cuộc sống tốt hơn
trong một môi trường tốt, nhiều quyền dân chủ hơn cũng như có trình độ văn hoá
cao hơn.
       Các nhà quan sát kinh tế Trung Quốc và nước ngoài đều nhận định rằng, đường
lối phát triển kinh tế tổng thể của Trung Quốc, cũng như những chính sách kinh tế sẽ
hầu như không thay đổi sau Đại hội XVII này. Tuy nhiên các nhà phân tích dự doán sẽ
có những thay đổi nhân sự tại một số vị trí lãnh đạo các ngành kinh tế
                                                                  Theo Vneconomy




172
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


4. Nobel Kinh tế 2007: Lý thuyết phác thảo cơ chế lên ngôi
      Ngày 15/10, Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã trao giải Nobel
Kinh tế cho ba giáo sư của nước Mỹ, Leonid Hurwicz, Eric Maskin và Roger
Myerson, những người đã xây dựng nên Lý thuyết phác thảo cơ chế.
      (Mechanism design theory).
        Lý thuyết phác thảo cơ chế do Leonid Hurwicz khởi xướng và được Eric
Maskin và Roger Myerson chọn lọc áp dụng, cung cấp những công cụ phân tích và
trả lời các câu hỏi: Cơ chế giao dịch nào sẽ giúp thu được kết quả lớn nhất? Cơ
chế giao dịch nào sẽ tối đa hoá thu nhập mong đợi của người bán? Trình tự ra
quyết định tập thể nào sẽ thành công trong việc thực hiện các dự án liên kết trong
khi từ chối các nguồn quỹ cho những dự án không mong muốn? Cơ chế bảo hiểm
nào sẽ mang lại phạm vi bảo hiểm rộng nhất mà không bị thiệt hại?
       Chẳng hạn, lý thuyết này chỉ ra tại sao đấu giá là hình thức hiệu quả nhất đối
với việc phân bổ các hàng hoá cá nhân giữa những người mua tiềm năng, và cũng
phân loại hình thức đấu giá nào sẽ mang lại thu nhập ước tính lớn nhất cho người
bán. Tương tự, lý thuyết này cũng giải thích tại sao, thông thường, không có giải
pháp thị trường nào cho vấn đề cung cấp hàng hoá công cộng.
       Bên cạnh luận dẫn về phác thảo cơ chế, phân tích kinh tế vi mô của các cơ
chế phân bổ nguồn lực xét rất rộng là một lý thuyết của các thị trường. Một câu hỏi
trung tâm là: Khi nào một cơ chế thị trường đáp ứng được việc phân bổ các nguồn
lực một cách hiệu quả?
      Đồng thời, những luận dẫn cũng chỉ ra, một thị trường mang lại hiệu quả đầy
đủ nhất chỉ trong những điều kiện rất nghiêm ngặt (phi thực tế) chẳng hạn như,
cạnh tranh hoàn hảo, thông tin tự do, hàng hoá cá nhân và vắng mặt các tác động
của môi trường đối với sản xuất và tiêu dùng.
       Lý thuyết này đưa ra một câu hỏi chung chung hơn: Cơ chế phân bổ nguồn
lực nào mang lại kết quả đáng kể nhất dưới những điều kiện chung? Một phần của
câu trả lời là ở các thị trường, cho dù chúng không đạt hiệu quả toàn diện, ít nhất
chúng cũng vận hành tốt như cơ chế nằm trong điều kiện được cho là ít nghiêm
ngặt hơn.
       Sự phát triển của lý thuyết này bắt đầu từ nghiên cứu của Leonid Hurwicz
năm 1960. Ông định nghĩa một cơ chế như một trò chơi, trong đó, những người
chơi gửi các thông điệp cho nhau và/hoặc đến một “trung tâm thông điệp”, và đến
nơi có quy định về việc đưa ra kết quả (chẳng hạn sự phân bổ của hàng hoá và
dịch vụ) đối với mỗi nguồn thu nhận thông điệp.
       Công trình nghiên cứu đoạt giải này là một ứng dụng của lý thuyết trò chơi,
được áp dụng cho các tình huống thị trường không hoàn hảo, chẳng hạn, sự cạnh
tranh không hoàn toàn tự do, người tiêu dùng không nhận được thông tin hoàn
chỉnh hoặc nhiều người không tiết lộ những thông tin riêng. Nghiên cứu này cũng
giải quyết những trường hợp các giao dịch không được thực hiện trên thị trường
công khai mà diễn ra trong các công ty, thông qua các cuộc mặc cả riêng giữa các
cá nhân hoặc giữa các nhóm.

                                                                                 173
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

        Những nghiên cứu đột phá của các nhà khoa học này là nòng cốt để xem xét
các chủ thể hoạt động như thế nào trong những điều kiện như vậy và nhằm phác
thảo ra cơ chế tốt nhất đảm bảo đạt được các mục tiêu, chẳng hạn, phúc lợi xã hội
tối ưu, hoặc lợi nhuận cá nhân tối đa. Ngày nay, Thuyết phác thảo cơ chế đã đóng
vai trò trung tâm trong nhiều lĩnh vực của kinh tế học và chính trị học.
       Theo thông cáo của Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Thụy Điển: “Lý thuyết
này cho phép phân biệt những tình huống giúp thị trường vận hành tốt với những
tình huống làm cho thị trường vận hành không tốt, giúp nhận dạng các cơ chế giao
dịch hiệu quả, các khung quy định của pháp luật và các trình tự bầu cử.” Các nhà
khoa học đã tìm cách lý giải cách thức đạt được một kết quả tối ưu.
       Để đi sâu nghiên cứu về vấn đề này, họ đã phát triển cao hơn việc sử dụng
lý thuyết trò chơi trong kinh tế học do John Nash tiên phong, người đã từng đạt giải
thưởng Nobel năm 1994. Tuy nhiên, không giống với lý thuyết nguyên bản của
Nash, họ còn phân tích trong những tình huống mà người chơi có thể chơi một trò
chơi lặp đi lặp lại và học hỏi trong từng lần chơi.
       Năm 2005, Thomas Schelling và Robert Aumann đã giành giải Nobel kinh tế
với một nghiên cứu tương tự, áp dụng lý thuyết trò chơi vào chính trị học. Giáo sư
kinh tế học Leonid Hurwicz, 90 tuổi, xuất thân từ một gia đình Do Thái ở Moscow
(Nga), đã tốt nghiệp Đại học Warsaw (Ba Lan), từng học kinh tế tại Anh và Thụy Sĩ.
Hurwicz hiện là giáo sư danh dự về kinh tế tại trường Đại học Minnesota ( Mỹ). Ông
là người nhiều tuổi nhất được trao giải Nobel từ trước đến nay.
       Ông là người tiên phong áp dụng lý thuyết trò chơi, quan tâm đến kinh tế học
mang tính toán học và xây dựng mẫu. Ông cũng làm việc cho Uỷ ban Cowles (Mỹ),
một trung tâm nghiên cứu sự liên kết giữa toán học và kinh tế học thông qua việc
xây dựng các mẫu toán học cho nền kinh tế trong những thập niên 40.
      Giáo sư toán học Roger Myerson, 56 tuổi, từng học đại học và cao học về
toán học ứng dụng và sau đó lấy bằng tiến sĩ kinh tế tại đại học Harvard, Mỹ. Hiện
nay, ông là giáo sư tại Đại học Chicago (Mỹ). Ông đã sử dụng lý thuyết này để dày
công nghiên cứu chức năng của các chế độ bầu cử. Ông còn phát triển lý thuyết
“cân đối thu nhập”. Một nhánh của lý thuyết này phát triển một cách tiếp cận các
cuộc đấu giá, nhằm tối đa hoá thu nhập của người bán, khi sự khác nhau về lượng
thông tin thu được của mỗi bên có thể làm méo mó thị trường.
        Ông Myerson nói với phóng viên hãng tin AP: “Rất nhiều người trong chúng
tôi đã làm việc trong lĩnh vực này từ những năm cuối của thập niên 70, chúng tôi đã
nghiên cứu đường đi của thông tin trong xã hội để phân bổ các nguồn lực”.
       Giáo sư khoa học xã hội, Eric Maskin, 57 tuổi, từng nhận bằng tiến sĩ tại Đại
học Harvard (Mỹ). Sau đó, ông có thời gian giảng dạy tại Đại học Cambridge của
Anh. Ông tham gia giảng dạy tại đại học Princeton, Mỹ từ năm 2000 đến nay. Ông
tập trung nghiên cứu làm thế nào để các cuộc đấu giá diễn ra hiệu quả hơn và làm
thế nào để các công ty cạnh tranh thật sự trong thế giới thật. Ông cũng nghiên cứu
tính hiệu quả của các quy định pháp lý về hoạt động kinh tế trong điều kiện thông
tin không hoàn hảo.

174
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Trong cuộc họp báo hôm 15/10, ông Maskin đã phát biểu: “Từ nhiều năm
nay, nhiều người trong chúng tôi đã từng hy vọng là ông ấy sẽ chiến thắng. Bây
giờ, ông ấy đã ở tuổi 90, thật là vinh dự lớn lao được có cơ hội cùng chia sẻ giải
thưởng này với ông và Roger Myerson.”
     Ba nhà khoa học sẽ cùng chia sẻ giải thưởng trị giá 10 triệu SEK, tương
đương 1,56 triệu USD.
                                                                 Theo Vneconomy


5. ASEAN liên kết ngăn ngừa khủng hoảng
       “Mặc dù chúng ta đã làm được nhiều việc, triển vọng và tiềm năng của
ASEAN là rất lớn, song cũng nên thẳng thắn đánh giá rằng mối quan hệ kinh tế
trong ASEAN còn khá lỏng lẻo. ASEAN cần có những bước đi thích hợp để phòng
tránh những rủi ro có thể xảy ra”.
       Đây là nhận định chung của các chuyên gia kinh tế trong phiên họp “Thị
trường tài chính, chứng khoán ASEAN, 10 năm sau khủng hoảng” và cũng là một
trong những chủ đề được các đại biểu thảo luận sôi nổi trong chương trình Hội nghị
Diễn đàn doanh nghiệp Thủ đô các nước ASEAN tổ chức tại Hà Nội trong hai ngày
15 và 16/10.
      ASEAN trước bối cảnh mới
       Đã hơn 10 năm kể từ khi châu Á và các nước ASEAN trải qua cuộc khủng
hoảng tiền tệ, giai đoạn nặng nề nhất cho thị trường châu Á. Theo ông Nguyễn Đức
Kiên, Phó chủ tịch Quốc hội, đến nay, những nguyên nhân và bài học từ cuộc
khủng hoảng liên quan đến tính dễ đổ vỡ của hệ thống tài chính, những bất cập
trong cơ cấu kinh tế và tính hiệu quả của cơ chế kinh tế, khả năng giám sát và phối
hợp giữa các nước và cộng đồng quốc tế vẫn còn là những bài học quý báu để
nhìn nhận, đánh giá, chia sẻ.
       Với cách nhìn của một thành viên hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền
tệ quốc gia, ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng cho
rằng, chính “nhờ cuộc khủng hoảng đó mà các nước châu Á trong đó có ASEAN
tỉnh ngộ ra được”. Khu vực yếu kém nhất của ASEAN, theo ông Nghĩa, liên quan
đến tỉ giá hối đoái, về thể chế, về việc quá nhấn mạnh đến vai trò của Chính phủ và
sự liên minh giữa ngân hàng với các cơ quan công quyền.
       Trao đổi tại Diễn đàn, các chuyên gia đều có chung nhận định rằng, sau 10
năm, chưa bao giờ nền kinh tế châu Á lại cải cách cơ cấu vĩ đại như hiện nay, nhất
là về khung pháp lý. Nhiều quốc gia đã có những thay đổi mạnh mẽ về luật ngân
hàng, chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản... theo một nguyên tắc minh bạch và
phù hợp với thông lệ quốc tế hơn.
      Chính vì vậy, theo ông Nghĩa, châu Á đang dư thừa ngoại tệ, cán cân
thương mại thặng dư, đặc biệt có sự hợp tác tốt giữa các thể chế tài chính khu vực
để ngăn ngừa các nguy cơ khủng hoảng mới.

                                                                               175
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Về hạ tầng quản lý, trọng tâm của chương trình cải tổ tài chính châu Á nhằm
vào hai nội dung cơ bản: quản trị rủi ro và các chuẩn mực về quản trị doanh nghiệp
theo OECD.
        Lâu nay, các nền kinh tế châu Á thường quản lý kinh tế theo mối quan hệ thân
quen gia đình, “cánh hẩu”. Giờ đây, các nước châu Á đã xây dựng thể chế mạnh, đặc
biệt trong các định chế tài chính như ngân hàng, các công ty chứng khoán nhằm quản trị
rủi ro là chủ yếu. Đồng thời các doanh nghiệp châu Á đã chú trọng hơn đến quản trị
doanh nghiệp, quyền lợi của các cổ đông nhỏ, giám sát công ty.
      Liên quan đến phát triển dịch vụ tài chính, dẫn những đánh giá của các tập
đoàn tài chính lớn, ông Nghĩa cho rằng các ngân hàng tiêu dùng và dịch vụ tài
chính ở châu Á đang phát triển thần tốc. Điều này đã làm cho khu vực thị trường
dịch vụ tài chính của châu Á thay đổi nhanh chóng, nợ xấu giảm, khả năng sinh lời
cao, các chuẩn mực giám sát thực hiện tốt.
       Thay đổi cuối cùng, theo ông Nghĩa, đó là công việc giám sát minh bạch đã
được các quốc gia châu Á sử dụng các chuẩn mực Basel. Nhiều quốc gia, tập đoàn
lớn đã áp dụng chuẩn mực Basel II. Đồng thời các lĩnh vực chứng khoán, ngân
hàng đã sử dụng hình thức giám sát thống nhất bao gồm các khâu: cấp phép, xây
dựng thể chế, thanh tra... Tất cả những hoạt động đó đã tạo ra thị trường tài chính
ngày càng hấp dẫn. Tuy nhiên, ông Nghĩa cũng thừa nhận ASEAN vẫn còn nhiều
việc phải làm.
      Những bước đi cụ thể
      Các chuyên gia kinh tế đều nhìn nhận nền kinh tế Việt Nam trong đó có thị
trường tài chính đã có tốc độ phát triển nhanh. Quy mô của thị trường chứng khoán
Việt Nam ngang với Đài Loan trong thời gian gần đây. Trên thực tế cũng đúng như
vậy. Chính phủ Việt Nam có đường lối khá nhất quán về phát triển thị trường chứng
khoán, áp dụng các chuẩn mực quản trị mang tính thị trường, hạn chế phát triển
quản trị kiểu hành chính.
       Để đạt mục tiêu đến năm 2010 giá trị vốn hóa trị trường chứng khoán đạt
50% GDP và đến năm 2020 đạt 70% GDP, ông Hà Huy Toàn, Giám đốc Công ty
chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho rằng hỗ trợ phát
triển thị trường vốn giữa Việt Nam với các thành viên ASEAN là một biện pháp
quan trọng.
       Ông Toàn nêu ra những công việc cụ thể như: thiết lập hệ thống đào tạo và
phát triển thị trường vốn giữa các nước ASEAN, hình thành thoả thuận chung về thị
trường nợ và thị trường cổ phiếu, liên kết hệ thống thanh toán và giao dịch chứng
khoán, hài hoà các chuẩn mực/ tiêu chuẩn thị trường vốn giữa các nước trong khu
vực như quản lý doanh nghiệp, chế độ kế toán, hệ số định mức tín nhiệm.
       Các quy định hiện nay về việc cho phép sự tham gia của các nhà đầu tư
nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ là những chính sách đơn
phương của Việt Nam nhằm thúc đẩy thị trường, không phải là những cam kết có
tính khu vực của quá trình tự do hoá thị trường vốn.



176
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


        Ông Toàn cũng đưa ra khuyến nghị về phát triển thị trường trái phiếu châu Á
(ABMI). Ông nhấn mạnh: “Để làm được điều đó cần tiếp tục các hoạt động tăng
cường phát triển thị trường trái phiếu khu vực thông qua khuyến khích phát hành
trái phiếu qua biên giới có hệ số tín nhiệm cao, phát hành trái phiếu bằng đồng bản
tệ của các tổ chức tài chính quốc tế ở thị trường nội địa, và thực hiện nghiên cứu
phát hành trái phiếu rổ tiền tệ khu vực”.
        Việc xây dựng chỉ số chung cho các thị trường chứng khoán giữa các nước
trong khối cũng được đề xuất tại Diễn đàn. Hiện nay, thị trường chứng khoán của
Malaysia, Indonesia, Philipines, Thái Lan và Singapore đã ký biên bản ghi nhớ cung
cấp chỉ số chứng khoán toàn cầu.
        Chỉ số chung mang tên “Top 100 ASEAN Index” nhằm phát triển thị trường
vốn trong khu vực và tăng sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Việt
Nam, Myanmar, Brunei, Campuchia, Lào chưa tham gia vì quy mô giao dịch còn
hạn chế và non trẻ. Vì vậy, theo các chuyên gia, mục tiêu trong thời gian tới là phấn
đấu để tham gia vào việc hình thành và cung cấp chỉ số Index này.
      Để ngăn ngừa đối với khủng hoảng có thể tái phát, ông Vũ Bằng, Chủ tịch Ủy
ban Chứng khoán cho rằng có rất nhiều giải pháp, trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh
vào 4 nhóm giải pháp.
       Nhóm đầu tiên là tăng cường quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro trong từng
doanh nghiệp, và tăng cường tính công khai minh bạch trong các doanh nghiệp và
trong toàn bộ nền kinh tế.
        Nhóm thứ hai liên quan đến hoàn thiện chính sách tiền tệ, chính sách phát
triển thị trường, vấn đề lãi suất, tỉ giá; tác động của chính sách tiền tệ đối với hoạt
động của thị trường.
       Nhóm vấn đề thứ ba thuộc về chính sách liên quan đến luồng vốn nước
ngoài. Huy động vốn quốc tế rất quan trọng cho phát triển kinh tế đối với từng nước
trong khu vực. Nhưng khi luồng vốn nước ngoài vào mạnh, thông thường các nước
lại phải đứng trước vấn đề thả nổi tỉ giá, mở cửa tự do hoá. Điều đó giúp giảm sức
ép về lạm phát, nhưng nếu thả nổi tỉ giá cũng dẫn đến đồng tiền trong nước lên giá
và tác động đến xuất khẩu.
       Do đó vấn đề kiểm soát nguồn vốn nước ngoài ở mức độ như thế nào cho
thích hợp là bài toán cần giải quyết. Nhóm vấn đề thứ tư liên quan đến liên kết giữa
các nước trong khu vực để thúc đẩy việc phối hợp cùng nhau phát triển bền vững
trong khu vực cũng như mỗi nước.
                                                                    Theo Vneconomy


6. Lạc quan giao thương Trung Quốc – ASEAN
       Kim ngạch thương mại hai chiều Trung Quốc - ASEAN sẽ lên tới 190 tỷ USD
trong năm nay và sẽ có triển vọng đột phá 200 tỷ USD trong năm tới. Đó là khẳng
định của Ban thư ký Hội chợ Trung Quốc - ASEAN, tại hội chợ vừa khai mạc ngày
28/10.


                                                                                   177
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Hội chợ và Hội nghị cấp cao đầu tư-thương mại ASEAN-Trung Quốc diễn ra tại
Nam Ninh, thủ phủ Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc từ 28 đến 31/10,
nhằm góp phần cải thiện quan hệ kinh tế-thương mại-đầu tư giữa Trung Quốc với các
nước ASEAN. Đây là lần thứ 4 Trung Quốc- ASEAN tổ chức hội chợ này.
      Bức tranh thương mại-đầu tư sáng sủa
     Hội chợ năm nay diễn ra trong bối cảnh bức tranh thương mại-đầu tư
ASEAN-Trung Quốc khá sáng sủa. Theo Ban thư ký Hội chợ Trung Quốc - ASEAN
(CAEXPO), 8 tháng đầu năm nay, kim ngạch thương mại hai chiều Trung Quốc -
ASEAN đạt 128 tỷ USD.
       Năm 2006, tổng vốn đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc đạt gần 42 tỷ USD.
Tính đến hết tháng 6/2007, có 417 liên doanh Trung Quốc - ASEAN hoạt động tại
Quảng Tây với tổng số vốn 1,41 tỷ USD; ASEAN chiếm 7,8% tổng vốn đầu tư nước
ngoài tại đây (sau Hồng Kông chiếm 8,2%), trong đó đứng đầu là Singapore với
155 dự án, Việt Nam đứng thứ năm với 18 dự án, tập trung vào các lĩnh vực chế
tạo (chiếm 44% vốn), bất động sản (15%), nông nghiệp (12%) và xây dựng (11%).
      Hội chợ Trung Quốc - ASEAN mở theo sáng kiến của Thủ tướng Trung Quốc
Ôn Gia Bảo, ba năm qua đã trở thành "điểm đến" của đông đảo doanh nghiệp hai
bên. Năm nay, 10 nước ASEAN được bố trí 1.000 gian hàng, nhưng số đăng ký là
1.126 gian (nhiều hơn tại CAEXPO3 tới 34%). 1.563 công ty của nước chủ nhà
đăng ký 2.800 gian hàng, trong khi được phân 2.284 gian. Ban tổ chức đã nhận "hồ
sơ" 1.051 dự án đầu tư, trong đó 247 là của các nước ASEAN. Phòng Tư liệu kinh
doanh Trung Quốc - ASEAN sẵn sàng cung cấp hơn 2 triệu tư liệu về các liên
doanh giữa Trung Quốc với các nước ASEAN.
       Trong thời gian hội chợ, các bên còn tiến hành hội thảo giao lưu và hợp tác
đa lĩnh vực, đa cấp độ, đồng thời công bố văn kiện hợp tác. Ban thư ký Hội chợ cho
biết, ngoài ba chương trình truyền thống gồm: Hội chợ Trung Quốc - ASEAN, Hội
nghị cấp cao thương mại và đầu tư Trung Quốc - ASEAN, Liên hoan dân ca quốc tế
Nam Ninh ra, còn tổ chức 9 hội nghị và diễn đàn chuyên môn như: Diễn đàn phát
triển và hợp tác cửa cảng, Hội nghị bộ trưởng về giám sát chất lượng... Số thương
gia và đại biểu Việt Nam tham gia Hội chợ Trung Quốc - ASEAN lần thứ 4 khoảng
1.000 người, 192 gian hàng, nhiều nhất so với các kỳ hội chợ trước, đông nhất
trong các nước ASEAN.
      Cơ hội phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ
       Ông Trương Hiểu Khâm, Tổng thư ký Ban thư ký Hội chợ nói, Trung Quốc và
ASEAN đều trở thành đối tác thương mại lớn thứ tư của nhau. Mấy năm qua, kim
ngạch thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và ASEAN tăng trưởng nhanh chóng
với tốc độ tăng trưởng trung bình 20%/năm, đã tạo cơ hội vàng cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ phát triển trên cơ sở khai thác thị trường song phương này.
       Mới đây, khi dự "Diễn đàn đầu tư phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trung Quốc - ASEAN", ông Chung Du Bằng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Quản
lý hành chính công thương Trung Quốc cũng khẳng định, ý tưởng chiến lược hợp
tác kinh tế khu vực "Một trục hai cánh" giữa Trung Quốc và ASEAN đã cung cấp

178
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


không gian và khái niệm hoàn toàn mới cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư
vào khu vực mậu dịch tự do và mở rộng thương mại đối ngoại. Việc nâng cấp độ
hợp tác, mở rộng con đường hợp tác đang trở thành vấn đề nóng mà các doanh
nghiệp vừa và nhỏ quan tâm.
        Tháng 7/2006, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây đã đề xuất và thúc đẩy
hai mảng hợp tác khu vực như Vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ và Hợp tác khu vực
Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, cũng như ý tưởng hợp tác kinh tế khu vực "Một
trục hai cánh". Ông Lưu Quân, Giám đốc Sở Quản lý hành chính công thương Khu
tự trị dân tộc Choang Quảng Tây cho rằng, ba mảng hợp tác lớn trong chiến lược
hợp tác như hợp tác kinh tế trên bộ, hợp tác ASEAN trên biển và hợp tác kinh tế
tiểu vùng sông Mê Kông đã tạo không gian và khái niệm hoàn toàn mới cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung Quốc và ASEAN trong việc mở rộng thương
mại hai chiều và đầu tư thị trường song phương.
      Các chuyên gia của Quốc vụ viện Trung Quốc cho rằng, nên khuyến khích
càng nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập cơ sở sản xuất nông nghiệp ở các
nước ASEAN. Tính đến tháng 10/2006, Trung Quốc đã có hơn 42 triệu doanh
nghiệp vừa và nhỏ, chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp Trung Quốc. Kim ngạch
xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã chiếm 68% tổng kim ngạch xuất
khẩu Trung Quốc.
                                                               Theo Vneconomy



B. Dự báo kinh tế thế giới
     T¨ng tr-ëng kinh tÕ toµn cÇu gi¶m sót
     T¨ng tr-ëng kinh tÕ thÕ giíi sÏ chËm l¹i
     Euro lªn gi¸, ch©u ¢u lo
     2007: Kinh tÕ ch©u ¸ t¨ng tr-ëng 8,3%
     Hµn Quèc ®èi mÆt víi ®ång Won vµ dÇu
          t¨ng gi¸
     Vµi ®iÒu nªn biÕt vÒ sù tr-ît dèc cña
          USD

     1. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm sút
      Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã điều chỉnh mức dự đoán về tốc độ tăng trưởng
kinh tế toàn cầu năm 2008 xuống còn 4,8%, so với mức dự đoán trước đó là 5,2%.
      Giám đốc IMF Rodrigo Rato cho rằng: “Tăng trưởng kinh tế của Mỹ sẽ sụt
giảm. Tăng trưởng của châu Âu sẽ không mạnh như trước đây, và tại Nhật Bản
cũng vậy”. Theo ông, đà tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi sẽ tiếp tục được
duy trì, nhưng mức tăng trưởng còn phụ thuộc vào sự sụt giảm kinh tế tại Mỹ và
châu Âu kéo dài bao lâu.
      Mỹ kéo tăng trưởng kinh tế toàn cầu sụt giảm

                                                                            179
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Theo các quan chức IMF tại Đức tiết lộ ngày 9/10, IMF dự báo tăng trưởng
kinh tế của khu vực 13 nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu (eurozone) vào năm
tới sẽ giảm xuống còn 2,1%, so với dự báo trước đó là 2,5%, trong đó kinh tế Đức
sẽ tăng trưởng 2% (so với mức dự báo 2,4% trước đó), kinh tế Pháp sẽ đạt 2% (so
với 2,3%).
      Kinh tế Trung Quốc dự báo sẽ chỉ đạt 10,0% trong năm tới, giảm 0,5% so với
dự báo trước đó. IMF đã hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế của Mỹ - nền kinh tế
lớn nhất thế giới, trong năm 2008 xuống còn 1,9%, so với dự báo trước đó là 2,8%.
      Nguyên nhân khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ trong năm tới không cao là
do tác động của thị trường bất động sản Mỹ ảm đạm và những khó khăn về tín
dụng. Sự giảm sút của kinh tế Mỹ đã ảnh hưởng đến mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu.
      Trong khi đó, ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy kinh tế Mỹ suy thoái. Tin
tức từ báo chí Mỹ ngày 9/10 cho biết, lượng hàng nhập khẩu vào các cảng lớn của
Mỹ trong tháng 8 vừa qua đã bất ngờ giảm 1,4%. Đây là lần đầu tiên lượng hàng
nhập khẩu hàng tháng vào Mỹ giảm kể từ năm 2005.
      Các nhà theo dõi thị trường dự đoán lượng hàng nhập khẩu vào Mỹ có thể
tiếp tục giảm trong tháng 9 và tháng 10, do đồng USD trượt giá và sức mua của
người tiêu dùng Mỹ giảm.
      Trong khi đó, tổng giá trị bán lẻ ở Mỹ trong tháng 9 chỉ tăng 2% so với cùng kỳ
năm trước, mức thấp nhất trong 5 tháng qua. Mức chi tiêu tiêu dùng được các nhà
kinh tế theo dõi rất sát vì hoạt động này chiếm tới 70% giá trị của nền kinh tế Mỹ.
     Lòng tin của người tiêu dùng Mỹ trong tháng 9 cũng giảm xuống mức thấp
nhất trong hai năm qua, một phần do tác động của cuộc khủng hoảng tại thị trường
thứ cấp, liên quan đến các khoản cho vay để mua bất động sản.
       Theo đánh giá của hãng Goldman Sachs, nguy cơ rơi vào suy thoái của kinh
tế Mỹ hiện vào khoảng 40%. Một số nhà kinh tế dự đoán nhiều khả năng Cục dự
trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ giảm thêm 0,25% lãi suất tại cuộc họp sắp tới vào ngày
30 và 31/10.
      Các nước cần thay đổi kế hoạch ngân sách
     Ông Rodrigo Rato cảnh báo, tình trạng bất ổn trên thị trường tiền tệ và tình
trạng thắt chặt tín dụng hiện nay sẽ buộc chính phủ các nước trên thế giới phải có
những thay đổi lớn về kế hoạch ngân sách của họ.
     Thắt chặt tín dụng là “một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng” chưa chấm dứt và
sẽ làm sụt giảm tăng trưởng kinh tế trên toàn thế giới. Các nhà hoạch định chính
sách không nên nghĩ rằng đó chỉ là vấn đề cần giải quyết của các giám đốc ngân
hàng, mà nó sẽ tác động tới cả ngành tài chính và ngân sách quốc gia.
      Ông R. Rato cũng xác nhận là các nước châu Âu đang lo ngại về sự sụt giảm
giá của đồng USD - một vấn đề có nguy cơ trở thành một nguyên nhân gây bất hòa
tại hội nghị thượng đỉnh Nhóm bảy nước công nghiệp phát triển nhất thế giới (G7)
và cuộc họp thường niên của IMF trong năm nay.
      Tương tự như nhận định của IMF, bản tổng kết của Tổ chức hợp tác và phát triển
kinh tế (OECD) vừa công bố cũng đánh giá triển vọng tăng trưởng kinh tế của các nước

180
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


thành viên năm nay rất ảm đạm. Tăng trưởng kinh tế Pháp chỉ có thể đạt 1,8% trong khi
dự kiến ban đầu là 2,2% và chỉ tiêu của chính phủ là 2,25% cho năm 2007.
      Tuy nhiên, những nhận định nêu trên của IMF và OECD trái với một số dự báo
lạc quan mà các tổ chức, ngân hàng uy tín khác vừa đưa ra trong tháng 9. Báo cáo
của các ngân hàng trung ương thuộc nhóm G-10, hôm 10/9 nhận định, nền kinh tế
thế giới vẫn có tiềm năng tăng trưởng lớn.
      Trong khi đó, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 17/9 nâng dự báo tăng
trưởng kinh tế của châu Á trong năm nay lên 8,3% so với con số dự báo trước đây
là 7,6%...
                                                                   Theo Vneconomy
     2. Tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ chậm lại
     Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Nhóm bảy nước công
nghiệp phát triển (G7) gồm Anh, Pháp, Mỹ, Canada, Đức, Italia và Nhật Bản, vừa
diễn ra tại Washington (Mỹ) đã ra Tuyên bố chung cảnh báo tăng trưởng kinh tế
toàn cầu năm 2007 sẽ chậm lại.
     Hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng diễn biến ngày càng
xấu đi của thị trường nhà đất Mỹ, sự trượt giá của đồng USD và giá năng lượng
tăng cao, tiếp tục tác động đến sự phát triển của kinh tế toàn cầu. Hội nghị cam kết
sẽ làm tất cả để hạn chế tối đa tổn thất cho nền kinh tế thế giới.
     Tác động của khủng hoảng tín dụng
      Hội nghị đã tập trung thảo luận việc nâng cao ảnh hưởng của quỹ đầu tư với
sự hợp tác của các chính phủ tại Trung Quốc và Trung Đông, nâng cao tính minh
bạch trong hoạt động của quỹ này trên thị trường thế giới vì tình hình thực tế khó có
thể kiểm soát nổi.
      Các quan chức tham dự hội nghị kêu gọi Trung Quốc nhanh chóng điều chỉnh
tỷ giá đồng Nhân dân tệ. Nhiều nước cho rằng, đồng Nhân dân tệ bị đánh giá thấp
hơn giá trị thực của nó. Đây được cho là nguyên nhân khiến mức thâm hụt thương
mại giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng lớn và hàng triệu người Mỹ mất việc làm.
Trong khi đó, thâm hụt thương mại giữa châu Âu và Trung Quốc cũng tăng 22%
trong nửa đầu năm 2007.
     Vấn đề USD liên tục giảm giá so với nhiều đồng tiền khác trong thời gian gần
đây cũng là một vấn đề không dễ giải quyết tại cuộc họp của G7. Hiện 1 EUR đổi
được hơn 1,4 USD. Theo nhận định của các chuyên gia tài chính, sở dĩ đồng USD
bị xuống giá là do sự chững lại của nền kinh tế Mỹ và khả năng Cục dự trữ liên
bang Mỹ có thể giảm lãi suất trực tiếp sau ngày 31/10 tới.
     Sự tăng giá của EUR so với USD thời gian qua đã gây lo ngại sâu sắc tại châu
Âu rằng nó sẽ làm cho tốc độ tăng trưởng của châu lục này chậm lại, từ đó tác
động đến tăng trưởng kinh tế thế giới. Đồng tiền này đã tăng 8,1% so với USD
trong 9 tháng đầu năm 2007.
      Trong khi đó, xu hướng tăng giá của EUR so với USD chưa có dấu hiệu thay
đổi, điều đó chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của châu Âu, nhưng cũng lo ngại đồng
EUR mạnh sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển vì đồng EUR mạnh có thể

                                                                                 181
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

làm giảm tính cạnh tranh của hàng hóa các nước sử dụng đồng tiền này trên thị
trường quốc tế và ảnh hưởng đến nhu cầu hàng hóa của đối tác nước ngoài, một
yếu tố đang được xem là chất xúc tác mạnh mẽ cho sự tăng trưởng của EU.
      Sức mạnh của các nền kinh tế mới nổi
     Trong khi các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Nhóm G-7 đánh giá
mức độ thiệt hại mà các nền kinh tế của họ phải đối mặt do sự kiểm soát tín dụng, bắt
nguồn từ tình trạng không trả được nợ đang gia tăng trong thị trường cầm cố thứ cấp
ở Mỹ, các nền kinh tế mới nổi đã nêu bật các triển vọng sáng sủa của mình.
     Theo các chuyên gia kinh tế, các nền kinh tế mới nổi đang phát triển nhanh
chóng và ít bị tác động bởi hoạt động cho vay ồ ạt đang tác động đến nền kinh tế
của các nước giàu. Các nền kinh tế mới nổi này ngày càng tăng cường ảnh hưởng
trong các thể chế tài chính toàn cầu như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng
Thế giới (WB).
     11 khu vực gồm Việt Nam, Bangladesh, Ai Cập, Indonesia, Iran, Hàn Quốc,
Mexico, Nigeria, Pakistan, Philippinnes và Thổ Nhĩ Kỳ được Ngân hàng đầu tư Mỹ
Goldman Sachs cho rằng sẽ thách thức các nền kinh tế đang bùng nổ mạnh như
Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. Theo số liệu của ngân hàng này, trong ba năm
qua, tăng trưởng kinh tế của 11 nước trên đạt trung bình 5,9%; cao nhất trong 15
năm qua và tăng hơn gấp đôi so với mức tăng trưởng bình quân 2,3% của châu Âu.
     Tình trạng căng thẳng tại các thị trường tín dụng trên toàn cầu khiến các nước
G7 buộc phải thừa nhận rằng nền kinh tế toàn cầu cần sự hỗ trợ của các nền kinh
tế mới nổi như Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Phi. Các thị trường này hiện tạo
ra cú huých quan trọng cho sức mạnh của nền kinh tế thế giới. Các bộ trưởng tài
chính G-7 thừa nhận sức mạnh đang trỗi dậy của các nền kinh tế mới nổi xứng
đáng được công nhận nhiều hơn nữa.
     Viện Tài chính Quốc tế tại Washington (Mỹ) cho biết, trong năm nay, số vốn
đổ vào các nền kinh tế thị trường đang nổi ở mức kỷ lục khoảng 620 tỷ USD so với
573 tỷ USD năm 2006. Cho đến nay, một số khu vực đã thoát khỏi sự tác động của
các vấn đề tín dụng và hầu hết đều nằm trong các thị trường đang nổi lên.
                                                                   Theo Vneconomy


      3. Euro lên giá, châu Âu lo
      Tại cuộc họp vừa diễn ra hôm 8/10 ở Luxemburg, các bộ trưởng tài chính
châu Âu đã tranh luận thẳng thắn, nhằm tìm kiếm lập trường chung đối với vấn đề
tỷ giá hối đoái của đồng Euro.
     Dự kiến, vấn đề này sẽ tiếp tục được bàn thảo tại cuộc họp Bộ trưởng Tài
chính G7 tại Mỹ, vào tuần tới.
     Các nước châu Âu đã nhất trí tăng cường sức ép buộc Trung Quốc phải điều
chỉnh tỷ giá đồng Nhân dân tệ. Tuyên bố chung sau cuộc họp của các bộ trưởng tài
chính EU đã khẳng định, ở các nước đang phát triển đang có số dư tài khoản vãng



182
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


lai lớn và đang tăng lên, đặc biệt là Trung Quốc. Vì vậy, cần phải có những thay đổi
trong chính sách tỷ giá để điều chỉnh thâm hụt thương mại.
     Trung Quốc thường bị châu Âu và Mỹ chỉ trích vì cố tình định giá thấp đồng
Nhân dân tệ, nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu. Việc đồng nội tệ của
Trung Quốc định giá thấp cũng ảnh hưởng tới việc tăng giá đồng Euro. Các bộ
trưởng tài chính EU đã nhất trí sẽ cử một đoàn quan chức cấp cao tới Trung Quốc
vào cuối năm nay để bày tỏ quan ngại về vấn đề tỷ giá đồng Nhân dân tệ.
      Bên cạnh đó, các bộ trưởng tài chính EU cũng bày tỏ quan ngại về chính sách
tỷ giá hối đoái của Mỹ và Nhật Bản. Việc đồng USD sụt giá gần đây đã làm đồng
Euro tăng giá mạnh và gây bất lợi cho các nhà xuất khẩu EU. Trong tuyên bố sau
cuộc họp, các bộ trưởng EU nêu rõ: “Chúng tôi hết sức quan tâm tới việc Mỹ đã tái
xác nhận rằng, một đồng USD yếu là vì lợi ích của nước này”.
      Trong bối cảnh đồng Euro liên tục tăng giá lên mức kỷ lục, nhiều nước EU đã
tỏ ra mất kiên nhẫn và muốn Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ phải hành động để nâng
giá đồng nội tệ của họ. Pháp và Italia là những nước tỏ ra lo ngại nhất.
      Tuần qua, khi giá đồng Euro lên mức cao kỷ lục, hơn 1,428 USD/Euro, Thủ
tướng Romano Prodi của Italia đã thừa nhận, ông thật sự lo ngại trước việc đồng
Euro không ngừng mạnh lên và ông chỉ trích chính sách tiền tệ của Mỹ chỉ mưu lợi
cho riêng mình. Trong khi đó, Pháp luôn chỉ trích đồng Euro mạnh làm ảnh hưởng
tiêu cực đến xuất khẩu của cả khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu.
      Tuy nhiên, trong nội bộ các nước sử dụng đồng Euro vẫn bất đồng quan điểm
về việc đồng tiền này mạnh lên. Bộ trưởng Bộ Tài chính Đức Peer Steinbrueck nói:
“Tôi thích một đồng Euro mạnh”. Còn Bộ trưởng Bộ Tài chính Hà Lan Wouter Bos
cho rằng, một đồng Euro mạnh lên xuất phát từ niềm tin của các nhà đầu tư đối với
triển vọng kinh tế của khu vực đồng Euro.
     Việc đồng USD của Mỹ sụt giá cũng đã làm cho hàng loạt đồng tiền khác của
châu Á tăng giá, khiến cho hàng hóa xuất khẩu của các nước châu Á trở nên đắt đỏ
hơn và lượng ngoại tệ dự trữ bị giảm giá trị.
    Đồng Peso của Philippines trong tuần này đã tăng lên mức cao nhất trong 7
năm qua so với đồng USD, trong khi đồng Đôla Singapore tăng cao nhất kể từ 10
năm nay. Tại Ấn Độ, đồng Rupee tăng 12% so với đồng USD trong năm.
     Ông Song Seng Wun, chuyên gia kinh tế làm việc cho cơ quan nghiên cứu
CIMB-GK tại Singapore cho rằng giá trị đồng USD sụt giảm sẽ khiến cho các mặt
hàng xuất khẩu của các nước châu Á trở nên đắt đỏ hơn đối với người tiêu dùng ở
Mỹ. Nhưng, chính phủ các nước châu Á không quá lo ngại đối với vấn đề giá cả
hàng hóa xuất khẩu đắt đỏ hơn, một phần vì phần lớn các đồng tiền trong khu vực
đều tăng giá so với đồng USD.
     Sự sụt giảm lượng hàng hóa xuất khẩu sang Mỹ có thể bù lại bằng việc xuất
khẩu sang châu Âu, châu Phi và Mỹ Latinh. Một số nước châu Á thậm chí còn được
hưởng lợi từ việc đồng nội tệ tăng giá, vì điều này sẽ giúp họ mua dầu mỏ - được
bán với giá tính bằng USD - rẻ hơn. Nhiều nước cũng mua được hàng hóa của Mỹ


                                                                                183
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

với giá rẻ hơn, giúp những nước phụ thuộc vào nhập khẩu như Singapore có thể bù
đắp lại sự gia tăng giá cả của một số mặt hàng nhập khẩu.
      David Mann, một chuyên gia kỳ cựu về sách lược tiền tệ tại Ngân hàng
Standard Chartered của Hồng Công cũng cho rằng các chính phủ ở châu Á hưởng
lợi nhờ tình trạng USD sụt giá, bằng cách bán đồng nội tệ và mua đồng USD. Theo
ông, "làm như vậy sẽ giúp chính phủ các nước có thể gia tăng lượng dự trữ ngoại
tệ, một công cụ hữu dụng để tạo nên tình hình ổn định".
     Tuy nhiên, ông cho rằng về lâu dài, chính phủ các nước châu Á nên khuyến
khích việc tiêu dùng hàng hóa nội địa để nền kinh tế trong nước ít bị phụ thuộc vào
hoạt động xuất khẩu.
                                                                  Theo Vneconomy
      4. 2007: Kinh tế châu Á tăng trưởng 8,3%
     Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) vừa công bố báo cáo, nâng mức dự báo
tăng trưởng kinh tế châu lục này lên 8,3% năm 2007 và tăng 8,2% năm 2008. Hai
nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ chiếm tới 55,3% tổng GDP của các nền kinh tế
đang phát triển ở châu Á, tiếp tục tăng trưởng mạnh.
     Giám đốc kinh tế ADB, ông Ifzal Ali cho rằng các nền kinh tế đang phát triển ở
châu Á có khả năng ứng phó hiệu quả với những cú sốc từ bên ngoài và vượt qua
nguy cơ kinh tế Mỹ suy giảm. Khó có thể diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính như
từng diễn ra ở châu Á năm 1997-1998, do có nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào.
     Các tổ chức tài chính khu vực đã mạnh lên, khu vực các doanh nghiệp châu Á
giảm được sức ép nợ nần xấu; hoạt động buôn bán cấu kiện và phụ tùng phục vụ
ngành chế tạo gia tăng. Đang có nhiều cơ hội mới ho quá trình hợp tác kinh tế ở
châu Á, vì sự thịnh vương chung của châu lục.
      Kinh tế Trung Quốc chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, dự báo tăng 11,2% năm 2007.
Sáu tháng đầu năm nay đã tăng 11,5%, mức tăng cao nhất trong 13 năm qua và
tiếp tục tăng trưởng cao trong 6 tháng cuối năm. Quan hệ buôn bán giữa Trung
Quốc với các nước trong khu vực đang được thúc đẩy, kim ngạch thương mại 2
chiều với ASEAN lên tới 190 tỷ USD năm 2007 và dự kiến đạt 200 tỷ USD năm
2008, vượt kế hoạch 2 năm.
     Hiện nay Trung Quốc nắm giữ trái phiếu ngân khố Mỹ đứng thứ 2 thế giới, sau
Nhật Bản. Quỹ đầu tư quốc gia (CIC) vừa đựơc thiết lập với số vốn 200 tỷ USD,
chiếm khoảng 1/6 dự trữ ngoại tệ, hoạt động từ ngày 29/9 cho thấy sự hiện diện tài
chính của Trung Quốc trên thị trường thế giới ngày càng lớn, hỗ trợ cho sự tăng
trưởng kinh tế ổn định.
     Các nền kinh tế Đông Á tăng 8,9% năm nay. Các nhà hoạch định chính sách
đã đưa ra nhiều giải pháp kích thích kinh tế tăng trưởng, trong đó có biện pháp tăng
xuất khẩu tới thị trường các nước châu Á. Nhật Bản và Ấn Độ đang thúc đẩy thực
hiện đối tác kinh tế (EPA) song phương, đặt mục tiêu nâng kim ngạch buôn bán 2
chiều lên 20 tỷ USD/ năm.



184
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Tại Hàn Quốc, mặc dù tỷ giá đồng Won tăng 40% so với đồng USD, nhưng vẫn
đạt mức tăng xuất khẩu 18 tháng liên tiếp ở mức 2 con số và tăng thặng dư thương mại
liên tiếp 52 tháng kể từ tháng 4/2003. Nhu cầu cao trên thị trường thế giới đối với sản
phẩm ô tô, thép, bán dẫn và thiết bị viễn thông của Hàn Quốc đã hỗ trợ hoạt động xuất
khẩu tăng. Chỉ số KOSPI tại thị trường chứng khoán Hàn Quốc lần đầu tiên vượt
ngưỡng 2.000 điểm trong 2 tháng qua và sẽ duy trì đà tăng lâu dài.
     Các nền kinh tế khu vực Nam Á tăng 8,1% trong cả 2 năm 2007-2008. Kinh tế
Ấn Độ dự báo tăng 8,5% trong năm tài chính kết thúc vào tháng 3/2008, trong 6
tháng đầu năm tăng 9,3%, mức tăng cao nhất trong 18 năm qua.
     Phát biểu mới đây tại Seoul, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Pranab Mukherjee
nói nước này theo đuổi mạnh “Chính sách hướng Đông”, một sự thay đổi chiến
lược trong tầm nhìn của Ấn Độ, liên kết kinh tế mạnh hơn với các đối tác ở châu Á.
Ông nói Ấn Độ đang tự biến đổi để trở thành một nền kinh tế năng động với tốc độ
tăng trưởng 8%/năm và nhằm tới mục tiêu tăng trưởng 10% những năm tới.
      Kinh tế khu vực Đông Nam Á tăng 6,1%. Kinh tế Singapore dự báo tăng
trưởng 7-8% năm nay, trong 6 tháng đầu năm đã tăng trưởng 7,6. Kinh tế
Philippines được điều chỉnh tăng lên 6,6% trên cơ sở kinh tế nước này phát triển
trong 6 tháng đầu năm nay, mức cao nhất trong 20 năm qua.
     Kinh tế Indonesia dự báo tăng 6,2%, đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) đổ vào nước này trong 9 tháng đầu năm tăng tới 123% so với
cùng kỳ năm trước, lên 11,7 tỷ USD, động lực kích thích kinh tế tăng trưởng. Ngân
hàng thế giới (WB) và Cơ quan tài chính quốc tế (IFC) nhận xét môi trường kinh
doanh ở Indonesia đã thông thoáng hơn.
     Phát biểu trong dịp công bố kế hoạch ngân sách mới đây, Thủ tướng Malaysia
Abdullah Ahmad Badawi nói các biện pháp cắt giảm thuế công ty và thuế nhà đất
sẽ thúc đẩy kinh tế sáng sủa hơn, với tốc độ tăng trưởng 6% năm 2007 và tăng
6,5% năm tới.
      Hoạt động kinh tế Thái Lan đã có sự cải thiện sau một năm đảo chính. Văn
phòng chính sách ngân sách thuộc Bộ Tài chính Thái Lan (FPO) cho biết tăng
trưởng kinh tế nước này sẽ đạt 4,5% năm 2007 do có những tín hiệu tích cực đầu
tư trong nước và tiêu dùng cá nhân.
                                                                    Theo Vneconomy


     5. Hàn Quốc đối mặt với đồng Won và dầu tăng giá
     Báo cáo của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc vừa cho biết, Hàn Quốc có
thể đạt mức tăng GDP 4,5-5% trong năm nay. Hàn Quốc đã được thế giới chú ý khi
duy trì được đà tăng trưởng xuất khẩu cao trong điều kiện bất lợi như đồng Won
tăng giá và giá dầu thế giới sắp chạm ngưỡng 100 USD/thùng.
     Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong quý III/07 của Hàn Quốc đã tăng 1,4%
so với quý trước. Tuy nhiên, Hàn Quốc cũng đang phải đối phó những ảnh hưởng


                                                                                   185
                                 Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

tiêu cực bên ngoài như giá dầu tiếp tục leo thang, cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ,
khả năng giảm nhiệt của nền kinh tế Trung Quốc...
      Thành tích vượt bậc về xuất khẩu
     Các chuyên gia cho rằng, nền kinh tế Hàn Quốc vẫn tiếp tục duy trì được tốc
độ tăng trưởng 5% trong 2 quý liên tiếp là kết quả của những nỗ lực phục hồi kinh
tế với trọng tâm là tiêu dùng. Sự tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc hiện có diện mạo rất
khác so với sự tăng trưởng có trọng tâm là xuất khẩu trước đó.
      Trong gần 4 năm qua, tiêu dùng ở Hàn Quốc tăng trưởng rất kém nhưng gần
đây đã cho thấy dấu hiệu phục hồi. Tiêu dùng trong quý 3 năm nay đã tăng tới
4,9%. Tỷ phú người Mỹ Warren Edward Buffett, nổi tiếng với biệt danh “thiên tài đầu
tư”, trong chuyến thăm Hàn Quốc, đã khẳng định, với nguồn nhân lực ưu tú và
người dân cần cù, kinh tế Hàn Quốc sẽ tiếp tục tăng trưởng trong hơn 10 năm nữa.
    Một điểm đáng chú ý là bất chấp việc đồng Won liên tục tăng giá, xuất khẩu
Hàn Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh. Từ sau năm 2002, đồng Won tăng bình
quân hàng năm là 5,1% nhưng đồng thời xuất khẩu cũng tăng gần 20%. Xuất khẩu
của Hàn Quốc đã liên tục tăng trưởng hai con số trong 19 tháng qua, cán cân
thương mại cũng đạt thặng dư tháng thứ 53 liên tiếp.
     Tiến sĩ Lee Seo-won, Viện nghiên cứu kinh tế LG cho rằng xuất khẩu Hàn
Quốc vẫn tăng trưởng mạnh trong các điều kiện giá dầu và giá nguyên vật liệu tăng
cao, tỷ giá hối đoái sụt giảm là do các nước đang phát triển mở rộng đầu tư, nhu
cầu nhập khẩu trang thiết bị và nguyên liệu tăng rất mạnh. Hàn Quốc đã đáp ứng
các nhu cầu này, khiến xuất khẩu tăng mạnh.
      Tuy nhiên, lợi nhuận của các doanh nghiệp đã giảm từ 8,1% vào năm 2002
xuống còn 5,3% vào năm 2006. Các doanh nghiệp của Hàn Quốc đã đối phó với sự
giảm sút lợi nhuận bằng cách tăng kim ngạch xuất khẩu theo đà tăng trưởng khả
quan của kinh tế thế giới. Giới phân tích nhận định, xuất khẩu của Hàn Quốc có tiếp
tục đà tăng trưởng không là tùy thuộc vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt là kinh tế
Mỹ. Hiện nay về cơ bản, cuộc khủng hoảng tín dụng của Mỹ vẫn chưa ảnh hưởng
nhiều đến kinh tế thế giới, nên có thể dự đoán rằng xuất khẩu của Hàn Quốc vẫn sẽ
tiếp tục tăng trưởng cho tới sang năm.
      Áp lực tiếp tục gia tăng
     Tuy nhiên, dù thời gian qua Hàn Quốc đã đạt mức tăng trưởng cao trong bối
cảnh nhiều bất lợi, song kinh tế nước này trong quý cuối năm và năm tới vẫn đối
mặt với không ít khó khăn. Nếu giá dầu tăng sẽ trở thành gánh nặng lớn cho Hàn
Quốc, vì nước này đang phải nhập khẩu toàn bộ dầu thô. Giá cả tiêu dùng trong
nước sẽ phải chịu áp lực của giá dầu thế giới.
     Đồng thời, giá thành các sản phẩm bị đẩy lên cao sẽ ảnh hưởng tới xuất khẩu,
trong khi sự tăng trưởng kinh tế trong 4 năm qua của Hàn Quốc vẫn chủ yếu là dựa
vào xuất khẩu. Tại Hàn Quốc, đã có ý kiến dự báo giá tiêu dùng sẽ tăng từ 2% lên 3%.
     Bên cạnh đó, nếu kinh tế Mỹ xấu đi sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế thế giới
và tác động tiêu cực tới kinh tế Hàn Quốc. Ngay cả khi sự suy thoái của kinh tế Mỹ

186
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


làm kinh tế Trung Quốc bị giảm tốc độ tăng trưởng, thì cũng gây khó khăn cho xuất
khẩu của Hàn Quốc, vì lượng xuất khẩu của nước này sang Trung Quốc là rất lớn.
Việc đồng USD của Mỹ mất giá, khiến đồng Won lên giá, hiện ở mức 910 Won đổi
1 USD, cũng đang làm các nhà xuất khẩu Hàn Quốc lo ngại.
      Vì vậy, các doanh nghiệp Hàn Quốc đang theo sát diễn biến về giá dầu, giá
USD, sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc... để tìm biện pháp đối phó, tăng
năng lực cạnh tranh và bảo đảm duy trì được xu hướng phát triển kinh tế vững
chắc. Kết quả đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu năm nay của Diễn đàn Kinh tế Thế
giới (WEF) công bố hôm 31/10 vừa qua đã xếp Hàn Quốc đứng ở vị trí thứ 11 trong
bảng xếp hạng trong tổng số 131 nước, tăng 12 bậc so với vị trí 23 của năm ngoái.
                                                                  Theo Vneconomy


     6. Vài điều nên biết về sự trượt dốc của USD
     Ngày 7/11, giá USD so với Euro đã giảm xuống mức thấp nhất mọi thời đại,
sau khi Trung Quốc công bố sẽ đa dạng hóa khoản dự trữ ngoại hối khổng lồ của
nước này.
     Tuy nhiên, trong thế giới phức tạp của thị trường tiền tệ, bản chất của sự việc
nhiều không phải lúc nào cũng giống như vẻ bề ngoài của chúng. Mặc dù việc USD
lao dốc không phanh trong thời gian gần đây có vẻ như có ảnh hưởng xấu đến
niềm tự hào và uy tín của nước Mỹ, đó lại có thể là một thông tin tốt lành đối với
người lao động và các công ty ở nước này.
    Dưới đây là 8 điều nên biết về sự mất giá của USD, theo ý kiến của các
chuyên gia tiền tệ:
     Thứ nhất, đồng USD mới chỉ thực sự chạm tới một bước ngoặt lịch sử so với
Euro hôm 7/11 vừa qua.
     Trên thực tế, đồng USD đã liên tục chạm mức thấp kỷ lục so với Euro trong
nhiều năm qua, nhưng những kỷ lục đó không gây chú ý nhiều vì đồng Euro là một
đồng tiền mới, mới xuất hiện vào năm 1999. Vào ngày 7/11, giá trị đồng tiền này so
với Euro chạm tới một dấu mốc lớn thực sự vì đã giảm quá mức thấp kỷ lục vào
mùa xuân năm 1995 so với đồng Mark của Đức, với tỷ giá khoảng 1,455 tới 1,457
USD ăn 1 Mark. Đây là thông tin do Marc Chandler, nhà chiến lược ngoại hối cao
cấp tại Brown Brothers Harriman, cung cấp.
     Vào ngày 7/11, USD ở mức thấp kỷ lục so với Euro, với 1,473 USD ăn 1 Euro
trước khi tăng nhẹ vào cuối ngày. Tính đến lúc đóng cửa phiên giao dịch, đồng Euro
đã tăng giá 0,57% so với USD 1 ngày trước đó, đạt mức 1,4641 USD ăn 1 Euro.
     Thứ hai, tuyên bố của phía Trung Quốc về việc đa dạng hóa dự trữ ngoại hối
của nước này thực ra không có ảnh hưởng nhiều đến việc USD mất giá.
     Đồng USD bắt đầu lao dốc sau khi một số quan chức của Ngân hàng Trung
ương Trung Quốc cho biết nước này sẽ đa dạng hóa khoản dự trữ ngoại hối 1.400
tỷ USD của nước này, thay vì chỉ giữ USD. Tuy nhiên, theo Chandler, thị trường
không nên quá đề cao tuyên bố trên.


                                                                                187
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Trên thực tế, việc Trung Quốc và nhiều nước châu Á khác tiến hành đa dạng
hóa dự trữ ngoại hối của họ đã không còn là một chuyện mới nữa. Tuy nhiên, đa
dạng hóa dự trữ ngoại hối không hẳn đồng nghĩa với việc các ngân hàng này sẽ
bán USD mà họ chỉ mua thêm Euro mà thôi. “Đây là vấn đề tâm lý. Tuyên bố của
phía Trung Quốc là cái cớ những người tham gia thị trường làm những gì mà họ đã
muốn làm từ trước”, Chandler nói.
      Ngoài ra, theo nhà kinh tế Jean-Michel Six của Standard&Poor‟s, trong lời
tuyên bố của các quan chức Trung Quốc còn có chút hàm ý chính trị, vì Trung Quốc
đang muốn chứng tỏ mình đang thực hiện yêu cầu của phía Mỹ buộc nước này
phải tăng giá Nhân dân tệ.
     Một quan chức Trung Quốc nhận định, đồng USD đang mất đi địa vị của nó
với tư cách là đồng tiền của thế giới. Nhưng các chuyên gia cho rằng, không có
nhiều bằng chứng cho lý lẽ này. Theo Chandler, bất chấp sự mất giá của USD,
nhiều loại hàng hóa như dầu lửa và lúa mỳ vẫn được giao dịch trên khắp thế giới
bằng đồng USD. Bên cạnh đó, trái phiếu chính phủ Mỹ vẫn là khoản đầu tư an toàn
đối với các nhà đầu tư trên thế giới.
      Thứ ba, lý do nào khiến USD mất giá?
     Hãy nhìn vào những nguyên lý kinh tế cơ bản. Tiền tệ di chuyển qua biên giới
các quốc gia với mục đích tìm kiếm thêm lợi nhuận. Do đó, tiền có xu hướng tăng
giá khi các thị trường kỳ vọng tăng trưởng kinh tế cao và giảm khi có dự báo về sự
suy giảm trong tốc độ tăng trưởng. Sức mạnh hoặc sự suy yếu về kinh tế này được
phản ánh trong lợi nhuận của trái phiếu hoặc lãi suất ngân hàng.
     Theo Keith Hembre, chuyên gia kinh tế trưởng của First American Funds, thị
trường trái phiếu dường như đang kỳ vọng FED cắt giảm thêm lãi suất trong thời
gian tới. Điều này đồng nghĩa với việc thị trường cũng dự báo tăng trưởng kinh tế
Mỹ sẽ giảm mạnh. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi các nhà đầu tư bán
USD và mua các đồng tiền khác có khả năng đem lại lợi nhuận cao hơn.
      Thứ tư, liệu USD có còn tiếp tục mất giá?
    Khó có thể đoán trước, nhưng theo Hembre, rất nhiều thông tin xấu đã có tác
động vào thị trường. Nói cách khác, những kỳ vọng của thị trường đối với kinh tế
Mỹ đã ở mức rất thấp và khó có thể thấp hơn được nữa. Còn Chandler thì dự báo
đồng USD sẽ tiếp tục mất giá đến cuối năm nay nhưng sẽ tăng giá vào năm tới.
     Andrew Bernard, một giáo sư kinh tế quốc tế tại trường kinh doanh của đại
học Dartmouth, cảnh báo, rất khó để dự báo dịch chuyển của đồng tiền tệ trong
ngắn hạn, nhưng theo chuyên gia này, thị trường không nên kỳ vọng sự hồi phục
của USD trước khi kinh tế Mỹ phục hồi.
     Thứ năm, đồng USD yếu là không tốt đối với nhiều người, nhưng có thể tốt
cho kinh tế Mỹ.
     USD mất giá không phải là tin vui đối với du khách Mỹ đi du lịch ở nước ngoài
và những công ty nước ngoài xuất khẩu hàng sang Mỹ. Nhưng theo Hembre, đồng
USD yếu có thể thực sự kích thích tăng trưởng kinh tế tại Mỹ. Chẳng hạn, đồng tiền
yếu giúp các nhà xuất khẩu Mỹ cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới. Theo nhà

188
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


kinh tế Carl Riccadonna của Deutsche Bank, hâm hụt thương mại của Mỹ với các
nước khác đã giảm nhờ xuất khẩu của nước này tăng mạnh, loại bỏ gánh nặng
thâm hụt đối với tăng trưởng kinh tế của Mỹ.
     Đồng USD yếu cũng có thể có tác dụng tốt đối với tình hình việc làm tại Mỹ,
khi mà các công ty đa quốc gia chọn thuê nhân công ở Mỹ do mức lương rẻ hơn
tương đối so với ở các nước khác.
     Thứ sáu, USD mất giá không phải là một nguyên nhân gây lạm phát mà chỉ
khiến giá nguyên nhiên liệu tăng cao.
     Khi USD mất giá, hàng hóa nhập khẩu sẽ đắt đỏ hơn, giá cả cao hơn. Tuy
nhiên, nhiều chuyên gia không nhận thấy những dấu hiệu cho thấy USD yếu là một
nguyên nhân gây lạm phát. Theo Bernard, USD yếu gây ra một chút áp lực lạm
phát, nhưng nền kinh tế Mỹ là lớn và có sức cạnh tranh mạnh nên phần lớn các
công ty khó có được cơ hội để tăng giá.
     Tuy nhiên, chỉ có một lĩnh vực mà đồng USD thực sự có tác động xấu, đó là
giá cả hàng hóa. Giá dầu đang lao tới mốc 100 USD/thùng. Và điều này có thể tác
động tiêu cực đến kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, châu Âu không bị ảnh hưởng nhiều, vì
đồng Euro của châu lục này đang có giá cao.
     Lạm phát tăng có thể là một thử thách đặc biệt đối với FED. Mối đe dọa lạm
phát có thể khiến các nhà hoạch định chính sách dừng cắt giảm lãi suất để thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế.
      Thứ bảy, chính phủ các nướcsẽ không can thiệp vào việc USD mất giá, trừ phi
tình hình thực sự xấu.
     Sự trượt giá của USD dường như hiện không phải là mối bận tâm lớn của
ngân hàng trung ương các nước trên thế giới. Hầu như không có nhà quan sát nào
dự báo các quan chức tài chính của Mỹ, châu Âu hoặc châu Á sẽ can thiệp vào thị
trường trừ khi đồng USD sụp đổ trên diện rộng. Nếu đồng USD không mất giá
nghiêm trọng, các ngân hàng vẫn sẽ không hành động.
     Thứ tám, rồi cũng đến lúc USD tăng giá trở lại.
     Hiện tại, FED đã cắt giảm lãi suất và kinh tế Mỹ dường như đang tăng trưởng
chậm lại. Nhiều người kỳ vọng, năm tới, việc cắt giảm lãi suất này sẽ phát huy tác
dụng, khi kinh tế Mỹ tăng trở lại. Ngoài ra, các ngân hàng ở châu Âu và các nơi khác
cũng có thể sẽ bắt đầu cắt giảm lãi suất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nước mình.
     Theo kịch bản này, đồng USD có thể sẽ bắt đầu tăng giá trở lại và đồng Euro
sẽ giảm. Nhà kinh tế Six của S&P dự báo, đồng USD sẽ chạm đáy vào một thời
điểm nào đó vào năm 2008, ở mức 1,52 hoặc 1,53 USD ăn 1 Euro. Nhưng sau đó,
vào đầu năm 2009, USD sẽ tăng lên mức 1,45 hoặc 1,40 USD ăn 1 Euro.
      Tuy nhiên, trong bất kỳ tình huống nào, đồng USD cũng không thể tăng mạnh
trở lại trong một thời gian ngắn. Nước Mỹ sẽ phải vượt qua những bất lợi do đồng
USD yếu gây ra, và trong thời gian đó, họ nên lạc quan rằng, đồng USD yếu là
nhân tố giúp cỗ máy xuất khẩu hoạt động của họ vận hành trơn tru.
                                                 (Theo Vneconomy/BusinessWeek)


                                                                                189
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi



c. Tin vắn
     Lào đặt mục tiêu thành nước xuất khẩu điện lớn ở châu Á. Chính phủ
Lào đang đẩy nhanh thực hiện chương trình xây dựng từ 50-60 nhà máy thủy
điện nhằm hướng tới mục tiêu trở thành nước xuất khẩu điện lớn trong khu
vực châu Á. Theo tính toán của các ngành chức năng Lào, tổng công suất điện
của Lào hiện đạt khoảng 600 MW và dự kiến sẽ tăng lên đến 17.000 - 18.000 MW
sau khi hoàn thành chương trình trên. Lào đặt mục tiêu đến năm 2020 hoàn thành
29 dự án trong kế hoạch. Các nước có nhiều dự án đầu tư xây dựng nhà máy thủy
điện ở Lào gồm có Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan và một số nước châu Âu. Mới
đây, Lào đã ký dự án xây dựng nhà máy thủy điện Luang Prabang có công suất
gần 1.400 MW với Việt Nam và nhà máy thủy điện Nặm U có công suất 600 MW
với Trung Quốc. Các nhà đầu tư Trung Quốc cũng đang khảo sát việc xây dựng
một nhà máy thủy điện ở Sayabouly công suất 1.400 MW.


      Trung Quốc sẽ tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới. Reuters dẫn báo
cáo của Cơ quan Năng lượng Qquốc tế (IEA) cho biết, vào khoảng năm 2010,
Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ, trở thành nước tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế
giới. Báo cáo có tên “Viễn cảnh năng lượng thế giới” cũng dự báo nhu cầu năng
lượng của Trung Quốc sẽ tăng gấp đôi trong 20 năm tới. Tuy nhiên, mặt trái của sự
việc này sẽ đưa Trung Quốc trở thành nước gây ô nhiễm nhất thế giới. Sự tăng
trưởng nhanh chóng của nền kinh tế Trung Quốc dẫn đến nhu cầu các nguồn tài
nguyên thiên nhiên ngày càng tăng. Hiện Trung Quốc đang trông chờ vào châu Phi,
Trung Đông và các quốc gia khác ở châu Á nhằm thỏa mãn nhu cầu nhiên liệu hóa
thạch của mình. Tuy nhiên việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch cũng đang gây ra
những tác hại đến môi trường ở Trung Quốc, dẫn đến tình trạng ô nhiễm lan rộng.
Theo IEA, việc tăng tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc đang biến nước này thành
nước thải khí thải gây hiệu ứng nhà kính lớn nhất thế giới. Theo các chuyên gia, khí
thải gây hiệu ứng nhà kính là nguyên nhân chính là thay đổi khí hậu.


      Philippines: Kiều hồi đóng góp 10% GDP. Theo AFP, lượng kiều hối của
những người lao động Philippines ở nước ngoài gửi về - hiện đóng góp 10%
cho GDP - có khả năng sẽ tăng gấp đôi lên 21,4 tỷ USD vào năm 2010, so với
mức 10,7 tỷ USD năm 2005. Người phát ngôn của Công đoàn Philippines cho biết
lượng tiền mặt chuyển về Philippines trong năm 2006 đã đạt mức kỷ lục 12,8 tỷ
USD. Chính phủ Philippines dự báo tốc độ tăng của dòng kiều hối ước khoảng
10%/năm, trong khi ông Aguilar cho rằng con số này có thể lên tới 15-20%/năm.
Trong 8 tháng đầu năm nay, số lao động Philippines làm việc ở nước ngoài giảm
3,7%, nhưng do số lao động có tay nghề chiếm tỷ lệ cao hơn nên lượng kiều hối
gửi về vẫn tăng 15,3% lên 9,3 tỷ USD. Dự báo tốc độ tăng của luồng kiều hối sẽ ổn
định trong vài năm tới.

190
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n




      Singapore đứng đầu thế giới về vận tải đường biển. Theo kết quả đánh
giá xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (WB) mang tên "Liên kết để cạnh tranh:
Hậu cần thương mại trong nền kinh tế toàn cầu" cho thấy Singapore là quốc
gia đứng đầu thế giới về năng lực vận tải đường biển. Theo bảng xếp hạng
trên, các nước đang phát triển, nơi hoạt động thương mại trở thành trọng tâm của
nền kinh tế, có năng lực liên kết và vận chuyển hàng hóa cao hơn so với nhóm các
nước có cùng thu nhập bình quân đầu người. Trong nhóm các nước có thu nhập
trung bình, Nam Phi đứng đầu (24), tiếp đó là Malaysia (27), trong khi Trung Quốc
(30) và Thái Lan (31) đứng đầu nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp. Ấn Độ
(39) và Việt Nam (53) đứng đầu nhóm các nước có thu nhập thấp. Trước đó, cũng
trong một đánh giá của WB, Singapore cũng đứng đầu bảng xếp hạng về thuận lợi
trong điều chỉnh doanh nghiệp.


      Kinh tế Singapore sẽ tăng trưởng chậm lại. Tăng trưởng kinh tế
Singapore dự kiến đạt mức 7-8% trong năm nay và chậm lại ở mức 4-6%
trong năm 2008, so với mức tăng 7,9% năm 2006. Đây là thông tin được đưa ra
trong báo cáo 6 tháng một lần về "Triển vọng kinh tế năm 2008" mà Cơ quan Quản
lý tiền tệ Singapore (MAS) vừa công bố. Hiện nhiều người lo ngại rằng cuộc khủng
hoảng trên thị trường tín dụng ở Mỹ có thể sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế Singapore
và ảnh hưởng trực tiếp đến lĩnh vực tiêu dùng và đầu tư. Tuy nhiên, MAS tin tưởng
rằng đà tăng trưởng khởi sắc trong lĩnh vực xây dựng và bất động sản sẽ không bị
tác động nhờ các dự án chủ chốt như dự án xây dựng hai khu liên hợp giải trí, dự
kiến được khai trương vào năm 2010. MAS cho rằng dự án này là nhân tố then chốt
thúc đẩy ngành xây dựng của Singapore tăng trưởng mạnh hơn trong nửa cuối
năm 2007 và cả năm 2008.


      ASEAN-Trung Quốc hợp tác về vận tải biển và hàng không. Ngày 2/11, tại
Singapore các Bộ trưởng Giao thông vận tải của 10 nước thành viên Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc đã ký thoả thuận hợp tác
trong lĩnh vực giao thông vận tải biển và thông qua hiệp định khung về hợp
tác trong lĩnh vực hàng không, bao gồm việc tự do hoá dịch vụ hàng không,
bảo đảm an ninh và an toàn hàng không, phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn
nhân lực. Trong tuyên bố chung được đưa ra sau cuộc họp, các bộ trưởng bày tỏ
hy vọng ASEAN và Trung Quốc sẽ sớm ký kết một hiệp định về vận tải hàng không,
nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện cơ chế dịch vụ hàng không tự do hoàn toàn
giữa ASEAN và Trung Quốc. Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn thứ tư của
ASEAN, sau Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản, với tổng kim ngạch thương
mại hai chiều năm 2006 đạt xấp xỉ 160 tỷ USD.


    Anh dẫn đầu EU về thương mại điện tử. AP dẫn nguồn tin từ công ty
phân tích thị trường Forrester Research (Mỹ) dự đoán, từ tháng 10 - 12/2007,

                                                                             191
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

khách hàng Anh sẽ thực hiện các giao dịch bán lẻ qua Internet với số tiền lên
tới 13,6 tỷ Bảng (khoảng 27,3 tỷ USD), tăng 40% so với năm trước. Con số trên
sẽ đưa Anh lên vị trí số một trong số các nước Liên minh châu Âu (EU) về thương
mại điện tử, chiếm 38% giá trị giao dịch trong lĩnh vực này của EU, nhiều hơn Pháp
và Đức cộng lại. Theo Forrester Research, các khách hàng Anh dự kiến chi tới trên
500 Bảng (hơn 1.000 USD) cho một lần lên mạng để mua các món quà tặng cho
người thân và bạn bè trong dịp lễ Giáng sinh sắp tới. Tập đoàn bán lẻ truyền thông
Internet (IMRG), đại diện các nhà bán lẻ điện tử của Anh, cho biết việc người dân
sử dụng Internet ngày càng phổ biến đang góp phần thúc đẩy dịch vụ mua bán qua
Internet phát triển mạnh mẽ hơn. Doanh thu bán hàng điện tử tại Anh dự kiến đạt
44 tỷ bảng năm 2007.
     Thặng dư thương mại Nhật tăng kỷ lục. Thống kê mới nhất của Bộ Tài
chính Nhật Bản cho biết, thặng dư thương mại của Nhật Bản trong tháng
9/2007 vẫn đạt mức cao kỷ lục 1.638 tỷ Yên (14,3 tỷ USD), tăng 62,7% so với
tháng trước và là tháng tăng thứ 46 liên tiếp. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu
của Nhật Bản trong tháng 9/07 lại giảm lần đầu tiên trong 43 tháng qua do giá dầu
cao khiến người tiêu dùng đắn đo khi chi tiêu. Một quan chức Bộ trên cho hay, nguyên
nhân giúp thặng dư thương mại của Nhật Bản tăng mạnh hơn dự kiến trong tháng trước
là nhờ xuất khẩu của nước này sang Liên minh châu Âu (EU) và châu Á, đặc biệt là
Trung Quốc, tăng mạnh bù đắp giá trị xuất khẩu sang Mỹ sụt giảm. Năm ngoái, Trung
Quốc đã vượt Mỹ trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản.


      ASEAN - Trung Quốc hợp tác về an toàn thực phẩm. Các nước ASEAN
và Trung Quốc đã ra tuyên bố chung Nam Ninh về thúc đẩy hợp tác trong lĩnh
vực vệ sinh an toàn thực phẩm, xúc tiến đầu tư thương mại lương thực và
bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Tuyên bố chung là kết quả của Hội nghị
cấp bộ trưởng về giám sát, thanh tra và đảm bảo chất lượng diễn ra tại thành phố
Nam Ninh, nơi đang diễn ra Hội chợ Trung Quốc-ASEAN lần thứ 4 và Hội nghị
thượng đỉnh về đầu tư và kinh doanh Trung Quốc-ASEAN 4. Sau khi kết thúc thảo
luận, đại diện các nước đã đi đến thống nhất: Trung Quốc và các nước ASEAN sẽ
phải tăng cường trao đổi những qui định và luật về an toàn thực phẩm, hệ thống
quản lý hành chính của Trung Quốc và các nước ASEAN theo nguyên tắc công
khai minh bạch nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau. Các bên cũng sẽ
tăng cường hợp tác chống buôn lậu lương thực-thực phẩm và phòng ngừa các
trường hợp cố ý vi phạm các nguyên tắc an toàn thực phẩm.


      Ấn Độ có thể đạt mục tiêu tăng trưởng 10%/năm. Tổ chức Hợp tác và
Phát triển kinh tế (OECD) nhận định Ấn Độ có thể đạt được mục tiêu tăng
trưởng kinh tế hàng năm khoảng 10% cho đến năm 2011. Tổng thư ký OECD
tin rằng nền kinh tế Ấn Độ hoàn toàn có thể tăng tốc với mức tăng trưởng trung
bình 10%/năm nếu nước này nhanh chóng xây dựng cơ sở hạ tầng, cải cách thị
trường lao động và mở cửa hơn nữa thị trường vốn nước ngoài, đặc biệt là trong


192
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


các lĩnh vực năng lượng và tài chính mà hiện vẫn nằm trong sự kiểm soát của các
công ty nhà nước. Trong 15 năm qua, Ấn Độ đã tiến hành mở cửa thị trường cạnh
tranh với nước ngoài, giảm bớt sự can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh
tế, tự do hóa các chính sách để cho phép nguồn vốn tư nhân có vai trò lớn hơn.
Chính nhờ vậy, GDP trung bình của Ấn Độ trong 4 năm qua đạt khoảng 8,5%/năm.
Cơ quan xếp hạng tín dụng Standard & Poor's vừa dự đoán tăng trưởng kinh tế của
Ấn Độ trong tài khóa hiện nay (kết thúc vào tháng 3/08) ước đạt 8,6%.


      Các thành phố lớn châu Á hướng tới phát triển bền vững. Hội nghị
Thượng đỉnh các thành phố lớn châu Á (AMS) đã bế mạc tỉnh Osaka, Nhật
Bản và ra tuyên bố chung Osaka. Tuyên bố chung nêu rõ, châu Á đang bùng nổ
một trào lưu lớn về “Cách mạng công nghiệp thế kỷ 21”, trong đó động lực cho sự
phát triển này chính là các thành phố lớn của châu Á. Với khả năng tạo cuộc sống
phong phú và đầy đủ hơn, các thành phố lớn thu hút dân cư, trở thành trung tâm
của phát triển kinh tế và nhiều hoạt động khác. Trong quá trình phát triển, đã phát
sinh nhiều vấn đề đô thị do dân số tăng nhanh và các hoạt động kinh tế gây ra.
Tuyên bố chung nhấn mạnh các đô thị có những kinh nghiệm và trải qua nhiều thử
thách có thể đóng góp cho các thành phố khác tạo nên “Một châu Á phát triển hài
hòa”. Để hướng tới sự phát triển hài hòa của châu Á, các nước cần hiện thực hóa
hoạt động kinh tế vững mạnh trong đó giao lưu kinh tế giữa các thành phố châu Á
là trọng tâm, trước mắt ưu tiên cho việc hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, tiếp đến là đào tạo nguồn nhân lực phong phú và giao lưu con người, đào
tạo nhân lực cho tương lai châu Á... Đồng thời phải hiện thực hóa môi trường tốt
hơn nhằm đảm bảo phát triển bền vững, giải quyết những vấn đề môi trường đang
dần trở nên nghiêm trọng, nâng cao khả năng phòng chống thiên tai.


      FTA với ASEAN là mục tiêu gần của Ấn Độ. Theo AFP, Ấn Độ đang cố
gắng giải quyết các bất đồng để tiến tới một hiệp định thương mại tự do
(FTA) với các nước ASEAN và đệ trình hiệp định này lên Hội nghị thượng
đỉnh ASEAN dự kiến diễn ra từ ngày 17- 20/11 tới. Phát biểu tại một hội thảo
diễn ra tại Ấn Độ vừa qua, Thứ trưởng Thương mại Ấn Độ G.K.Pillai cho biết Ấn Độ
đang nỗ lực trong các cuộc thương lượng về đề nghị từ phía các nước ASEAN cho
việc cắt giảm thuế đánh vào các sản phẩm như dầu cọ, hạt tiêu, chè và cà phê....
FTA của Ấn Độ và ASEAN bị trì hoãn do những bất đồng về cắt giảm thuế quan đối
với các loại nông sản nhạy


     Toàn cầu liên kết chống hàng giả. Theo Kyodo, Bộ Ngoại giao Nhật Bản
vừa ra thông cáo cho biết nước này sẽ bắt đầu các cuộc đàm phán với Mỹ,
Liên minh châu Âu (EU) và các quốc gia khác nhằm ký hết một thỏa thuận
ngăn chặn sự lan tràn của hàng giả, đặc biệt là các sản phẩm phim ảnh và
băng đĩa nhạc in sao lậu. Các nước liên quan dự kiến sẽ tiến hành vòng đàm
phán đầu tiên tại Genève (Thụy Sĩ), vào tháng 12 tới với hy vọng sớm hoàn tất thỏa

                                                                               193
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

thuận quốc tế đầu tiên, được gọi là “Thỏa thuận thương mại chống giả mạo”, vào
giữa năm 2008. Các nước tham gia, trong đó có các thành viên EU, Thụy Sĩ, New
Zealand, Mexico và Hàn Quốc... sẽ kêu gọi các nước xuất khẩu hàng hóa giá rẻ lớn
như Trung Quốc và Nga, tham gia thỏa thuận này. Thỏa thuận sẽ yêu cầu các nước
tham gia ngăn cấm xuất khẩu các mặt hàng sản xuất trái phép và thực thi các biện
pháp cần thiết để loại bỏ các máy móc thiết bị sử dụng để sản xuất hàng giả. Các
nước sẽ gia tăng các hình thức xử phạt đối với các đối tượng dính líu tới hàng giả.


      Trung Quốc: Tăng trưởng kinh tế vẫn nóng. Bất chấp những nỗ lực
nhằm hạ nhiệt kinh tế của Chính phủ, quý 3/2007 tăng trưởng kinh tế của
Trung Quốc vẫn tăng tới 11,5%, vượt dự kiến của Chính phủ nước này. Kinh
tế Trung Quốc tăng trưởng mạnh là nhờ xuất khẩu của nước này vẫn tăng trưởng
tốt trong khi đầu tư vào nhà xưởng và bất động sản đều tăng, bất chấp các biện
pháp kìm hãm để chống tăng trưởng nóng của Chính phủ. Với nhịp độ cao như
hiện nay, nhiều khả năng các biện pháp hạ nhiệt nền kinh tế vốn đã được áp dụng
quyết liệt lại được áp dụng quyết liệt hơn nữa trong thời gian tới tại đây. Trung
Quốc đang tìm cách khuyến khích người dân chi tiêu mạnh hơn và giảm lệ thuộc
vào xuất khẩu. 9 tháng đầu năm, giá tiêu dùng tại Trung Quốc đã tăng 6,2%, chủ
yếu do khan hiếm thịt lợn và các loại thực phẩm khác.


     ASEAN hoàn tất dự thảo Hiến chương nội khối. Sau 2 năm thảo luận,
Hiện hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã hoàn tất dự thảo cuối cùng
của Hiến chương ASEAN tại cuộc họp cuối tuần qua ở Viên Chăn, Lào, đây là
bộ quy chế có tính ràng buộc đầu tiên trong lịch sử 40 năm của tổ chức này.
Dự thảo Hiến chương ASEAN gồm 13 chương với 55 điều khoản, sẽ được các nhà
lãnh đạo các nước thành viên ASEAN ký tại Hội nghị cấp cao, dự kiến tổ chức tại
Singapore vào ngày 20/11 tới, trước khi được toàn bộ 10 nước thành viên thông
qua. Hiến chương sẽ chính thức có hiệu lực sau 30 ngày kể từ ngày các nước
thông qua. Dự thảo khẳng định các nhà lãnh đạo ASEAN vẫn giữ vai trò tối cao
trong việc ra quyết định và sẽ nhóm họp mỗi năm hai lần. Ngoài ra, có thể tổ chức
hội nghị đột xuất trong những trường hợp cần thiết. Dự thảo không đưa ra các điều
khoản áp đặt trừng phạt hoặc đình chỉ tư cách thành viên đối với các nước có sai
phạm. Trong trường hợp xảy ra tranh cãi, quốc gia thành viên nào không đồng ý với
những kết luận, đề nghị hay quyết định theo các cơ chế giải quyết tranh cãi của
ASEAN thì có thể đề nghị đưa ra Hội nghị cấp cao ASEAN quyết định. Dự thảo
cũng ấn định ngày 8/8, ngày Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á chính thức được
thành lập là Ngày ASEAN.


     IMF cam kết tăng vai trò của các quốc gia đang phát triển. Theo AP, Ủy
ban Hoạch định chính sách của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã ra tuyên bố
chung cam kết tăng cường vai trò của các nước đang phát triển trong tiến
trình ra các quyết định của tổ chức tài chính này. Ngoài ra, Ủy ban cũng hứa sẽ

194
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


tiến hành những biện pháp để giúp tổ chức này thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài
chính hiện nay. Cuộc cải cách IMF sẽ tăng tính đại diện cho các nền kinh tế năng
động vốn có vai trò và ảnh hưởng ngày càng tăng trong nền kinh tế toàn cầu.
Những chi tiết cho cuộc cải cách này sẽ được hoàn tất tại hội nghị của ủy ban diễn
ra vào tháng 4/2008. Các nguồn lực tài chính của IMF hiện chủ yếu lấy từ các
khoản đóng góp được phân bổ cho từng thành viên dựa trên quy mô của thành viên
đó trong nền kinh tế thế giới.


     Dự báo tăng trưởng kinh tế Thái Lan tăng. Báo cáo của Ngân hàng Trung
ương Thái Lan (BOT) cho biết đã điều chỉnh nâng dự báo tăng trưởng kinh tế
nước này năm 2007, từ 4% trong dự báo trước đó lên 4,5 - 4,8%, do xuất khẩu
tăng trưởng mạnh hơn dự báo ban đầu. Tuy nhiên, giá dầu thô ở mức cao kỷ lục
vẫn là rủi ro không nhỏ đối với tăng trưởng kinh tế Thái Lan trong quý 4/07 và trong
cả năm 2008. BOT dự đoán lạm phát sẽ ở mức 1,8 - 2,3% trong năm 2007 và 1,5%
-1,8% năm 2008, giảm nhẹ so với dự báo trước đó. Lạm phát cơ bản - không bao
gồm giá năng lượng và thực phẩm thô - ước đoán sẽ ở mức 0,8 - 1,3% năm 2007
và 1 - 2% năm 2008. Tuy nhiên, Phó Thống đốc BOT, cho rằng tăng trưởng kinh tế
Thái Lan có thể thấp hơn mức dự báo trên đôi chút nếu rủi ro từ giá dầu gia tăng.


      Trung Quốc sẽ thành thị trường tiêu thụ thứ hai thế giới. Nhóm tư vấn
Boston (BCG) vừa đưa ra báo cáo dự đoán Trung Quốc sẽ trở thành thị
trường tiêu thụ lớn thứ hai trên thế giới vào năm 2015. Báo cáo được dựa trên
kết quả khảo sát 4.258 người tiêu dùng ở 13 thành phố thuộc Trung Quốc vừa qua.
Theo báo cáo, mức chi tiêu tiêu dùng ở Trung Quốc đang tăng mạnh, gấp 3-5 lần
các nước phát triển trong vòng 50 năm qua. Hầu hết người tiêu dùng Trung Quốc
đều lên kế hoạch để chi tiêu nhiều hơn trong tương lai để thỏa mãn giấc mơ của gia
đình họ. Người tiêu dùng Trung Quốc sẵn sàng bỏ nhiều tiền để mua hàng hóa đắt
tiền hơn vì mong muốn có được hàng hóa và dịch vụ tốt hơn. Họ đã quan tâm
nhiều hơn đến vấn đề an toàn và chất lượng của những sản phẩm giá rẻ và người
tiêu dùng nước này cũng trung thành với nhãn hiệu hơn so với người tiêu dùng Mỹ
và họ tin rằng nhãn hiệu tốt chứng tỏ chất lượng tốt, hàng hóa có độ an toàn cao,
hiệu quả và bền.


     G7: Tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ chậm lại. Tại Hội nghị Bộ trưởng Tài
chính và Thống đốc ngân hàng nhóm bảy nước công nghiệp phát triển (G7),
gồm Anh, Pháp, Mỹ, Canada, Đức, Italia và Nhật Bản tổ chức tại Mỹ đã kết
thúc với tuyên bố chung cảnh báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ chậm lại
trong năm 2007. Theo đánh giá của các quan chức G-7, mặc dù thị trường tài
chính toàn cầu đến nay đã phục hồi phần nào sau vài tháng khủng hoảng, những
hậu quả từ cuộc khủng hoảng này cùng với diễn biến ngày càng xấu đi của thị
trường nhà đất Mỹ, sự trượt giá của đồng USD và giá năng lượng tăng cao, tiếp tục
tác hại đến sự phát triển của kinh tế toàn cầu. Hội nghị cam kết sẽ làm tất cả để

                                                                                195
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

hạn chế tối đa tổn thất cho nền kinh tế thế giới nhưng không đưa ra giải pháp cụ
thể để cải thiện hoạt động của thị trường tài chính thế giới. Tại hội nghị, các quan
chức kêu gọi Trung Quốc nhanh chóng điều chỉnh tỷ giá đồng Nhân dân tệ. Hiện
nay, giá trị đồng Nhân dân tệ thấp hơn giá trị thực của nó được cho là nguyên nhân
khiến mức thâm hụt thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc tăng. Đồng USD liên tục
giảm giá so với nhiều đồng tiền khác trong thời gian gần đây cũng là trọng tâm thảo
luận tại hội nghị.


       WB kêu gọi đổi mới ngành nông nghiệp để giảm nghèo. Ngày 19/10, Báo
cáo phát triển thế giới 2008 của Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định rằng đầu
tư nhiều hơn vào nông nghiệp tại các nền kinh tế đang chuyển đổi, phần lớn
ở châu Á, sẽ quyết định lợi ích của 600 triệu nông dân nghèo sống ở những
nước này. Ông Robert B. Zoellick, Chủ tịch WB nói: “Đói nghèo ở nông thôn chiếm
khoảng 82% tổng số đói nghèo ở các nền kinh tế đang chuyển đổi. Cần chú trọng
hơn vào nông nghiệp khi xem xét sức ép về dân số, giảm quy mô nông trại, khan
hiếm nước và ô nhiễm môi trường, và nhu cầu phát triển các khu vực có tỉ lệ đói
nghèo tụt hậu cao.” Ở những nền kinh tế đang chuyển đổi như Trung Quốc, Ấn Độ
và Ma-rốc, nông nghiệp đóng góp khoảng 7% vào tăng trưởng GDP từ năm 1995
đến năm 2003 mặc dù ngành này chiếm 13% của nền kinh tế và thu hút hơn một
nửa lượng lao động. Báo cáo khuyến nghị rằng ở những nước này với khoảng 2,2
tỷ người đang sống ở nông thôn, chương trình nông nghiệp nên tập trung vào việc
giảm khoảng cách trong thu nhập nông thôn – thành thị và tăng thu nhập cho người
nghèo ở vùng nông thôn. Theo Báo cáo phát triển thế giới, tăng trưởng GDP bắt
nguồn từ nông nghiệp sẽ có hiệu quả cao hơn 4 lần trong việc xóa đói nghèo cho
những người nghèo nhất, so với tăng trưởng GDP từ các nguồn khác. Bản báo cáo
cũng cho nông nghiệp có thể là con đường thoát đói nghèo cho hàng triệu người ở
khu vực nông thôn mà nếu không có thì họ sẽ bị tụt hậu trong các nền kinh tế đang
chuyển đổi. Một cách xóa đói nghèo là thông qua các cuộc cách mạng nông nghiệp
giá trị cao. Có thể khuyến khích đa dạng hóa ngành nghề như nghề làm vườn giá trị
cao, chăn nuôi gia cầm, cá và các sản phẩm sữa thông qua các cuộc cải cách giá
và xem xét lại trợ cấp cho ngũ cốc. Về phần mình, WB đã cam kết tăng cường hỗ
trợ cho nông nghiệp và phát triển nông thôn sau khi đã giảm các khoản vay cho
ngành này trong thập kỷ 80 và 90. Năm tài khóa 2007, khoản cam kết cho nông
nghiệp đã đạt 3,1 tỉ USD, tăng liên tiếp trong vòng 4 năm.


     Châu Á vẫn là điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất. Báo cáo đầu tư thế giới
(WIR) 2007 do Diễn đàn Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD)
công bố vừa qua cho biết, có 11% tập đoàn xuyên quốc gia khẳng định châu
Á tiếp tục là điểm đầu tư hấp dẫn nhất của họ trong những năm tới. Để thực
hiện phần “Triển vọng đầu tư” trong bản báo cáo WIR năm 2007, UNCTAD đã tiến
hành khảo sát ý kiến của hàng loạt tập đoàn xuyên quốc gia trên khắp thế giới. Việt
Nam lọt vào Top 10 nền kinh tế hấp dẫn nhất về đầu tư của các tập đoàn xuyên


196
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


quốc gia trong giai đoạn 2007-2009. Theo WIR 2007, Việt Nam đang trở thành một
điểm đầu tư quan trọng không chỉ trong lĩnh vực sản xuất, mà cả trong các ngành
dịch vụ, ngân hàng và tài chính. Khảo sát cũng cho biết, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái
Lan và Việt Nam nằm trong số 5 điểm đầu tư hấp dẫn nhất của các tập đoàn kinh tế
Nhật Bản năm 2007


      IMF: Đồng USD sẽ tiếp tục mất giá. Theo AP, Giám đốc Quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF), ông Rodrigo de Rato vừa đưa ra nhận định đồng USD sẽ tiếp tục
giảm giá trong vài năm tới. Nhật báo Phố Wall dẫn lời ông Rato cho rằng, trong
ba đến năm năm tới, chúng ta sẽ chứng kiến đồng USD giảm giá tiếp. Ông cho
rằng, đồng Euro hiện nay “rất gần” giá trị cân bằng của nó, ông đưa ra nhận định
đồng USD giảm giá là khi so với bình quân giá trị các đồng tiền khác trong vài năm
qua. Sau lời nhận xét này của ông Rato, đồng USD đã tăng giá nhẹ so với đồng
Euro. Ông Rato cũng có chung một quan điểm và chia sẻ chung mối lo ngại với các
quan chức của EU về sức mạnh của đồng Euro trong tương quan với đồng USD.
Đồng USD càng mất giá thì kim ngạch xuất khẩu của các nước sử dụng đồng Euro
sẽ càng sụt giảm vì đồng Euro đã mất lợi thế cạnh tranh xuất khẩu. Báo cáo của
IMF cũng cho biết mặc dù các quan chức của Bộ Tài chính Mỹ khẳng định họ ủng
hộ chính sách đồng USD mạnh nhưng họ chẳng làm một điều gì để bảo vệ đồng
tiền này khi nó suy yếu. Trên thực tế, Chính phủ Mỹ đang dựa vào sự mất giá đều
đặn của đồng USD nhằm thu hẹp thâm hụt tiền gửi của quốc gia. Nếu thâm hụt tiền
gửi quá lớn thì nó sẽ dẫn đến sự giảm giá mạnh của đồng USD.


     Tăng trưởng kinh tế Đức sẽ đạt 2,4%. Theo dự báo của Viện nghiên cứu
DIW, có trụ sở tại Béclin, tăng trưởng kinh tế Đức ở mức 2,4% năm nay và
2,1% năm tới. Trong khi đó, Chính phủ Đức dự báo nền kinh tế quốc dân sẽ tăng
trưởng 2,3% năm 2007 và 2,4% năm 2008. Nhận định mới nhất của Viện nghiên
cứu ZEW của Đức và giới phân tích kinh tế cho biết, nền kinh tế Đức lớn nhất Liên
minh châu Âu (EU) chỉ bị ảnh hưởng nhẹ bởi cuộc khủng hoảng tín dụng quốc tế
trong thời gian qua và hiện đã hồi phục. Số liệu của ZEW cho thấy, lòng tin của giới
đầu tư ở Đức vẫn ổn định trong tháng 10/2007 khi chỉ số triển vọng kinh tế vẫn ở
mức -18,1 điểm, tương tự như trong tháng 9/2007.
                        (Tổng hợp từ các nguồn tin Vneconomy, Vnn, TTXVN, BBC, AFP…)




                                                                                197
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

            Chuyªn môc 7: ®æi míi doanh nghiÖp

A. Tổng quan – Nghiên cứu:
       §-îc g× sau cæ phÇn hãa?
       Mobifone sÏ chän ®èi t¸c chiÕn l-îc nh-
          thÕ nµo?
         UNDP c«ng bè 200 doanh nghiÖp lín nhÊt
            ViÖt Nam


1. Được gì sau cổ phần hóa?
       Câu hỏi này một lần nữa lại được đặt ra để kiểm chứng hiệu quả của
quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.
      Nhìn vào những con số được công bố, câu trả lời bước đầu khá lạc quan.
      Tại cuộc hội thảo “Doanh nghiệp với cổ phần hóa, tăng vốn và niêm yết” tổ
chức cuối tuần qua, đại diện Công ty Cổ phần Chứng khoán Hà Nội (HSSC) một
lần nữa đề cập đến hiệu quả quá trình cổ phần hóa, xem đó như một động lực để
thúc đẩy sự tiếp nối của các doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian tới.
      Chuyển biến lạc quan
      Thống kê của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp Trung ương
cho thấy, sau cổ phần hóa, quy mô, hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp hầu hết
đều tăng rõ rệt. Vốn điều lệ bình quân của các doanh nghiệp tăng 44%, doanh thu
tăng 23,6%, lợi nhuận tăng 140%, hơn 90% số công ty cổ phần hóa làm ăn có lãi,
nộp ngân sách nhà nước tăng 24,9%, cổ tức bình quân đạt hơn 17% năm.
        Sau cổ phần hóa, nhiều doanh nghiệp đã có bước chuyển lớn cả về quy mô,
giá trị và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Bước chuyển đó được đánh giá thực
tế từ thị trường.
      Tiêu biểu như Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk), doanh nghiệp đã
niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM; hay một đại diện mới cổ phần hóa
và chuẩn bị lên sàn như Công ty Cổ phần Phân đạm và Hóa chất dầu khí (Đạm Phú
Mỹ). Theo số liệu từ HSSC, năm 2003, Vinamilk được đánh giá ở mức 100 triệu
USD; một năm sau thực hiện cổ phần hóa, theo đánh giá của thị trường là 150 triệu
USD và đến năm nay, phần vốn và lãi của Nhà nước đã tăng vọt lên 970 triệu USD
(gần 16.000 tỷ đồng).
       Với Đạm Phú Mỹ, vào thời điểm cổ phần hóa, giá trị doanh nghiệp này được
xác định ở mức 3.800 tỷ đồng, tăng 800 tỷ so với vốn đầu tư. Khi tiến hành đấu giá
vào cuối tháng 4/2007, Nhà nước thu về gần 7.000 tỷ đồng, gấp 2,3 lần số vốn đầu
tư ban đầu và vẫn giữ cổ phần chi phối ở công ty. Nếu bán toàn bộ vốn Nhà nước,



198
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


Nhà nước có thể thu về 20.520 tỷ đồng, cao hơn giá trị được xác định ban đầu
16.720 tỷ đồng.
        TS. Nguyễn Thị Nam Hà, Phó tổng giám đốc HSSC, nhấn mạnh rằng, sau cổ
phần hóa, thị giá cổ phiếu tăng, giá trị doanh nghiệp tăng, nhưng quan trọng hơn là
khả năng quản lý doanh nghiệp sẽ phát huy trước yêu cầu tăng cường kiểm soát
đối với ban điều hành, trong trách nhiệm quản lý đối với kết quả sản xuất kinh
doanh, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhân lực, vật lực.
        “Mặt khác, cổ phần hóa cũng là cách giúp doanh nghiệp nhanh chóng mở
rộng mạng lưới hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư xâm nhập vào các lĩnh vực
kinh doanh mới”, bà Hà nói.
        Hiện Việt Nam còn 2.200 doanh nghiệp Nhà nước với tổng số vốn 31 tỷ
USD. Trong đó có 554 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được giữ lại; còn lại
1.646 doanh nghiệp sẽ được cổ phần hóa, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2010.
        Vẫn nhiều e ngại
        Chuyển biến của doanh nghiệp sau cổ phần hóa đang được khẳng định,
nhưng phía sau quá trình đó còn bộc lộ những bất cập. Có những trường hợp được
nhắc đến trong cuộc hội thảo nói trên như những “kết quả” kinh nghiệm điển hình,
liên quan đến vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp, tái cấu trúc hay năng lực quản
trị doanh nghiệp sau cổ phần hóa.
        Đó là trường hợp của Khách sạn Kim Liên hay Công ty Xuất nhập khẩu
Intimex. Theo HSSC, những doanh nghiệp này hiệu quả kinh doanh không cao
nhưng giá cổ phiếu trên thị trường lại rất cao. Từ đây đặt ra những vấn đề cần xem
xét lại trong quá trình cổ phần hóa.
        Với Khách sạn Kim Liên, kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2006 chỉ đạt
doanh thu 59,527 tỷ đồng, lợi nhận sau thuế 1,44 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế trên
vốn là 2,4% nhưng giá cổ phiếu bình quân đấu giá lên tới 290 ngàn đồng/cổ phiếu.
        Với Công ty Xuất nhập khẩu Intimex, những chỉ số cơ bản như ROE, ROA...
đều âm nhưng kết quả đấu giá cổ phiếu bình quân bằng 16 lần mệnh giá; dù kết
quả này sau đó bị hủy bỏ nhưng đã cho thấy một phần “vấn đề” trong xác định giá
trị doanh nghiệp với đánh giá của thị trường, đặc biệt là liên quan đến quyền sử
dụng đất, định giá tài sản và giá trị lợi thế kinh doanh...
        Ngoài ra, một lo ngại khác được đặt ra tại cuộc hội thảo nói trên là thực trạng
nhiều doanh nghiệp chưa nắm được giá trị mà mô hình quản trị doanh nghiệp sau
cổ phần hóa mang lại. Theo kết quả khảo sát thực tiễn quản trị doanh nghiệp ở Việt
Nam mới đây của Công ty tài chính Quốc tế (IFC), có tới 58% số doanh nghiệp
được điều tra chưa hiểu đầy đủ về công tác quản trị.
        Trong khi đó, một nghiên cứu mới đây của Công ty CLSA Emerging markets
(Hồng Kông) cho thấy các công ty hàng đầu về quản trị doanh nghiệp có tỷ suất lợi
nhuận cao gấp 2 lần mức lợi nhuận bình quân và gấp 5 lần các công ty có tiêu
chuẩn quản trị doanh nghiệp thấp.
        Điều này cũng giải thích vì sao nhiều doanh nghiệp đang chuẩn bị cổ phần
hóa hóa sắp tới như Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Phát
triển Nhà ĐBSCL (MHB), VMS Mobifone... xác định quản trị doanh nghiệp là vấn đề

                                                                                   199
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

sống còn; xem cổ phần hóa là cơ hội để cải thiện và nâng cao hiệu quả trong quản
trị doanh nghiệp.
       “Cơ hội đó cũng là phần quan trọng mà doanh nghiệp có được sau cổ phần
hóa, không thể hiện ở những con số cụ thể”, bà Hà nói.
                                                              Nguồn: vneconomy.com.vn


2. Mobifone sẽ chọn đối tác chiến lược như thế nào?
       Theo lộ trình cổ phần hóa, dự kiến Mobifone sẽ có đối tác chiến lược
nước ngoài. Hãng thông tin di động này sẽ lựa chọn như thế nào?
       Đại diện của Mobifone cho hay, nhiều công ty trong nước khi chọn đối tác chiến
lược là nhà đầu tư nước ngoài thường đưa ra tiêu chí nhà đầu tư có tài chính mạnh
       "Mobifone không thiếu vốn"
        “Nhưng với Mobifone, tài chính là một phần, vấn đề quan trọng là kinh
nghiệm quản lý khai thác mạng lưới thông tin di động. Mobifone không thiếu vốn”,
đại diện của Công ty Thông tin di động (VMS), đơn vị sở hữu mạng Mobifone, trao
đổi với VnEconomy.
        Và theo tiêu chí trên có thể kể tới những tên tuổi mà Mobifone đã “nhắm” tới
là France Teleocm, Tenorno, Vodafone…, đều là nhà những nhà khai thác thông tin
di động hàng đầu thế giới. Những đối tác này thời gian qua đã có những tiếp xúc
với Mobifone.
        “Thời gian tới, Mobifone với các đối tác sẽ tiếp xúc với nhau mang tính chất
trao đổi thông tin để có những hiểu biết sâu hơn, ví như họ sẽ trao đổi chia sẻ kinh
nghiệm làm thương hiệu, tối ưu hóa mạng lưới, hay phát triển các dịch vụ giá trị gia
tăng”, vẫn theo đại diện trên của Mobifone.
        Phía Mobifone cũng cho biết thêm, khó để nói những cuộc gặp và trao đổi
thông tin của các nhà đầu tư muốn sở hữu cổ phần của Mobifone là diễn ra rầm rộ,
nhưng khá đều đặn. Trong khi đó các nhà đầu tư trong nước tiếp xúc với lãnh đạo
của hãng này vẫn chưa thấy.
        “Việc gần đây Mobifone đa dạng hóa chiến lược kinh doanh vào các doanh
nghiệp khác trong nước, đơn cử trong lĩnh vực kinh doanh tài chính, thì có thể
những doanh nghiệp nghiệp đó coi Mobifone là một đối tác chiến lược”, phía
Mobifone giải thích.
        Vào trung tuần tháng 8 vừa qua, Mobifone “gút” danh sách sáu đơn vị nước
ngoài sẽ tham gia đấu thầu tư vấn cổ phần hóa và IPO cho Mobifone, gồm: Credit
Suisse, Deutsche Bank, Goldman Sachs, Morgan Stanley, Rothschild và UBS. Hiện
lộ trình cổ phần hóa của Mobifone vẫn chưa thực hiện đến giai đoạn chọn cổ đông
chiến lược.
        Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đều là các tập đoàn viễn thông lớn của thế giới
đã “đánh tiếng” sẵn sàng tham gia vào đợt IPO cổ phiếu Mobifone dự kiến sẽ thực
hiện trong năm 2008.
      Sẽ theo hai giai đoạn?




200
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


      Nhận định của giới đầu tư cho rằng khi cổ phiếu MobiFone được phát hành
hứa hẹn là hàng có chất lượng với tính thanh khoản cao, và sẽ là một loại cổ phiếu
“hàng hiệu”.
       Cổ phần hoá Mobifone, doanh nghiệp nhà nước thuộc Tập đoàn Bưu chính
Viễn thông Việt Nam (VNPT), hiện đang thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư trong
và ngoài nước. Thông tin về cổ phần hóa Mobifone được đưa ra từ đầu năm 2005
khi doanh nghiệp này chuẩn bị kết thúc Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với
Tập đoàn Comvik (Thuỵ Điển).
      Như vậy, tiến độ cổ phần hóa Mobifone diễn ra khá chậm chạp do đây là
doanh nghiệp viễn thông di động đầu tiên cổ phần hóa, chưa có tiền lệ.
      Phương án cổ phần hóa Mobifone được xác định ở hai giai đoạn và trong
từng giai đoạn sẽ thực hiện bán cổ phiếu ra bên ngoài để giảm dần tỷ lệ sở hữu
của Nhà nước.
      Đầu năm 2008 dự kiến sẽ có phương án cụ thể. Dự kiến giai đoạn một của
phương án có khả năng sẽ được thực hiện trong năm 2008 với lượng phát hành
lần đầu 20%. Tiếp đến là một tỷ lệ nhất định dành cho các nhà đầu tư chiến lược.
      Tuy nhiên, ngay cả khi đã hoàn tất giai đoạn hai thì VNPT vẫn sẽ nắm cổ
phần chi phối để có thể đảm bảo chủ động trong thực hiện các chiến lược hoạt
động kinh doanh thời kỳ hậu cổ phần hóa.
                                                       Nguồn: vneconomy.com.vn


3. UNDP công bố 200 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam
       200 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (Top 200) theo nghiên cứu của UNDP
được xếp hạng dựa trên các tiêu chí về lao động, tài sản, doanh thu và nộp thuế.
Các DN này càng ngày càng thể hiện được sức cạnh tranh của mình, song chỉ
bằng đầu tư vào công nghệ và đào tạo nhân lực, các DN VN mới có thể có tầm cỡ
thế giới.
      DN lớn của VN chỉ bằng DN vừa và nhỏ của thế giới
      UNDP không khảo sát DN 100% vốn nước ngoài, mà chỉ khảo sát các DN
nhà nước, DN tư nhân, công ty liên doanh. Trong Top 200 này, có tới 122 DN nhà
nước, 56 DN nước ngoài và chỉ có 22 DN tư nhân. Ngoài ra, UNDP cũng đưa ra
danh sách 200 DN lớn nhất chỉ toàn là DN trong nước, thì ở Top 200 trong nước
này, DN nhà nước cũng chiếm đa số.
      Ông Jonathan Pincus - chuyên gia kinh tế trưởng của UNDP - lưu ý, dù trong
trường hợp nào thì cũng có tình trạng DN nhà nước được đầu tư nhiều nhưng hiệu
quả tạo việc làm không lớn. Chẳng hạn, 122 DN nhà nước được xếp vào Top 200
tương đương với 3% trong tổng số hơn 4.000 DN nhà nước được điều tra, thì
chiếm tới 65,5% tài sản, nhưng chỉ chiếm có gần 30% lao động trong tất cả các DN
nhà nước.

                                                                              201
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

      Ông Pincus cho biết, theo cách đánh giá quốc tế thì các DN lớn nhất của VN
chỉ gần tương đương với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của thế giới. "Tuy nhiên
điều này không đáng lo ngại" - ông Pincus nói, "trong tương lai VN sẽ đạt được
những DN lớn như vậy." Điều quan trọng là hiện nay các DN trong Top 200 "có ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát triển của kinh tế VN".
      Món lợi bất động sản và chứng khoán
       Các DN trong Top 200 đã nêu ra 3 chiến lược lớn: 1. Nâng cấp các hoạt
động kinh doanh chủ chốt; 2. Mở rộng thị trường xuất khẩu; 3. Đa dạng hoá các lĩnh
vực kinh doanh mới, bất động sản, du lịch và đầu tư vào các thị trường vốn đang
nổi lên.
      Báo cáo của UNDP cho biết, việc ký hiệp định song phương với Mỹ, việc gia
nhập WTO khiến sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, mặt khác là sức cạnh tranh
ngay từ nước láng giềng Trung Quốc đã buộc các DN phải điều chỉnh và đáp ứng
bằng những chiến lược kinh doanh mới rất hiệu quả.
     Một ví dụ là đa số các DN trong Top 200 đã rất chú trọng đến việc xây dựng
thương hiệu trong nước và đã làm được điều đó. Tuy nhiên, họ nói rằng thiết lập
thương hiệu độc lập ở nước ngoài là tốn kém và khó khăn.
      10 DN lớn nhất trong Top 200
      1. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn VN;
      2. TCty Bưu chính Viễn thông VN;
      3. Tổng công ty Điện lực VN;
      4. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN;
      5. Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Việt - Xô;
      6. Ngân hàng Ngoại thương VN;
      7. Công ty TNHH Pouyen VN;
      8. Tổng công ty Bảo hiểm VN;
      9. Bưu điện thành phố HCM;
      10. Tổng công ty Viễn thông Quân đội.
        Tuy nhiên, từ 3 chiến lược nói trên của Top 200, UNDP tỏ ra lo ngại về
chiến lược cuối cùng. Ông Jago Penrose - chuyên gia phân tích tài chính - cho biết:
Giá đất tăng nhanh, khu vực bất động sản bùng nổ, thị trường chứng khoán gia
tăng, hứa hẹn lợi nhuận cao hơn đã hấp dẫn nhiều DN lớn nhất của VN, khiến các
DN này chuyển sang đầu tư những lĩnh vực không liên quan gì đến ngành nghề
kinh doanh chính của mình.
        Trong khi đó, khó mà dự báo được tính ổn định của thị trường bất động sản
hay thị trường cổ phiếu, do vậy các khoản đầu tư mang tính đầu cơ này càng làm
tăng mức độ rủi ro của các doanh nghiệp. "Cơ cấu đầu tư này cần được cải tiến để


202
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


các DN đầu tư vào những ngành khuyến khích sản xuất hơn là đầu tư vào bất động
sản" - ông Penrose nói.


      Giải phóng sức sáng tạo
       Các DN lớn của VN chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng, chế biến
thuỷ - hải sản hay may mặc, do vậy, để tham gia vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng
cao hơn, các DN cần có cái nhìn dài hơi hơn về chiến lược phát triển.
       Từ 3 chiến lược kinh doanh chủ chốt mà Top 200 theo đuổi, chuyên gia kinh
tế Pincus nhận xét: Các công ty VN không đánh giá cao việc đầu tư vào công nghệ
và phát triển kỹ năng nguồn nhân lực. Chi phí đào tạo lại rất lớn, hiện tượng chảy
máu chất xám, mất đi các kỹ năng tay nghề khiến DN có xu hướng đầu tư thấp cho
đào tạo.
       "Còn lâu lắm VN mới có các công ty sánh vai được cùng các công ty thế
giới, nên VN cần phải đi đầu về công nghệ và năng lực chất xám. Việc VN có trở
thành nền kinh tế sáng tạo, đổi mới hay không sẽ quyết định chất lượng và cơ cấu
nền kinh tế VN trong tương lai".
                                                                      Nguồn: mof.gov.vn




                                                                                  203
                            Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

B. Tin vắn
      Bé X©y dùng sÏ h×nh thµnh 3 TËp ®oµn
        kinh tÕ
      Vietnam Airlines sÏ cæ phÇn hãa
      Viglacera chuÈn bÞ cæ phÇn hãa
      Vinalines chØ cßn mét ®¬n vÞ ch-a cæ
        phÇn hãa
      Bé Giao th«ng VËn t¶i sÏ cæ phÇn ho¸ 12
        c«ng ty
      TËp ®oµn §iÖn lùc ViÖt Nam gi÷ vai trß
        trung t©m ®Ó ph¸t triÓn mét TËp ®oµn
        §iÖn lùc Quèc gia ViÖt Nam ®a së h÷u
      Hµng lo¹t c«ng ty dÖt may sÏ IPO
      C«ng ty cæ phÇn LILAMA 69-3 gi÷ v÷ng s¶n
        xuÊt sau cæ phÇn ho¸
      TËp ®oµn DÇu khÝ ViÖt Nam tiÕp nhËn C«ng
        ty M¸y vµ Phô tïng thuéc Bé C«ng Th-¬ng
      ThÝ ®iÓm cæ phÇn hãa c«ng ty chÌ ë Tuyªn
        Quang
      Sím thµnh lËp C«ng ty cæ phÇn ph¸t triÓn
        ®-êng cao tèc BIDV
      Kh«ng thµnh lËp c¸c Tæng c«ng ty ViÔn
        th«ng I, II, III thuéc VNPT
      Thµnh lËp C«ng ty cæ phÇn Tµi chÝnh ®Çu
        t- ph¸t triÓn h¹ tÇng ®« thÞ
      Nhµ xuÊt b¶n Lao ®éng - X· héi chuyÓn thµnh
        c«ng ty TNHH mét thµnh viªn

      1. Bộ Xây dựng sẽ hình thành 3 Tập đoàn kinh tế
     (Website Chính phủ) - Ngày 8/11, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt
Phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc Bộ Xây
dựng giai đoạn 2007- 2010.


204
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Theo đó, Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Dịch vụ nhà
ở và khu đô thị (Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị) và Công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên Chế tạo thiết bị và đóng tàu Hải Phòng (Tổng công
ty Lắp máy Việt Nam) vẫn giữ nguyên như hiện nay.
      Giai đoạn 2007-2008, Bộ Xây dựng triển khai cổ phần hóa doanh nghiệp và
bộ phận doanh nghiệp đối với 22 công ty. Giai đoạn 2007-2010, tiến hành cổ phần
hóa 13 Tổng công ty trực thuộc Bộ.
      Nhà Xuất bản xây dựng, Công ty Sen vòi Viglacera (Tổng công ty Thủy tinh
và gốm xây dựng), Công ty Xây dựng vật tư và vận tải (Tổng công ty Xây dựng
Bạch Đằng) sẽ được sắp xếp theo hình thức khác, như chuyển thành đơn vị sự
nghiệp, trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bán doanh nghiệp hoặc giải thể doanh
nghiệp.
       Trong quý IV năm 2007, Bộ xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án hình thành 3 Tập đoàn kinh tế: Tập đoàn Công nghiệp xây dựng do
Tổng công ty Sông Đà làm nòng cốt, Tập đoàn Chế tạo cơ khí nặng do Tổng công
ty Lắp máy Việt Nam làm nòng cốt, Tập đoàn Phát triển Nhà và đô thị do Tổng công
ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị làm nòng cốt.
      Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng Bộ Xây dựng có trách nhiệm chỉ
đạo thực hiện việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước trực thuộc theo nội
dung đã được phê duyệt. Đồng thời, chủ động thực hiện các hình thức sắp xếp đối
với các doanh nghiệp nêu trên và doanh nghiệp thuộc danh sách cổ phần hóa
nhưng không cổ phần hóa được.
                                              Nguồn: Quyết định số 1493/QĐ-TTg


      2. Vietnam Airlines sẽ cổ phần hóa
       Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) cho biết, từ nay
đến cuối năm 2007 sẽ tập trung thực hiện cổ phần hóa và chuyển đổi doanh
nghiệp của tổng công ty; xây dựng đề án cổ phần hóa Vietnam Airlines. Theo
đó, Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì triển khai thực hiện cổ phần hóa Vietnam
Airlines.
                                                                    Theo TTXVN


      3. Viglacera chuẩn bị cổ phần hóa
      Tổng công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng (Viglacera) cho biết, đơn vị
này đang bắt đầu triển khai công tác cổ phần hoá Tổng công ty (Công ty mẹ)
bằng việc lựa chọn nhà tư vấn và tổ chức định giá, chính thức cổ phần hóa
tổng công ty vào đầu năm 2008.
      Theo ông Nguyễn Trần Nam, Tổng giám đốc Tổng công ty Viglacera, từ đầu
năm tới nay, cả lĩnh vực sản xuất và kinh doanh Viglacera có bước phát triển vượt

                                                                             205
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

bậc, đều đạt và vượt mức bình quân so với kế hoạch đề ra trên tất cả các lĩnh vực,
giá trị sản xuất đạt 2.590 tỷ đồng, tổng doanh thu đạt 2.434 tỷ đồng, riêng giá trị
xuất khẩu vật liệu xây dựng đạt gần 14 triệu USD. Lĩnh vực đầu tư bất động sản đã
đem lại lợi nhuận 15,5 tỷ đồng cho Tổng công ty.
       “Đây chính là tiền đề để có thể đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa của Tổng
công ty Viglacera” - ông Nam khẳng định.
       Hiện Viglacera cũng đã hoàn thành các thủ tục để cổ phần hoá các công ty
con theo kế hoạch năm 2007, gồm: Công ty Sứ Viglacera Thanh Trì, Công ty Gạch
ốp lát Viglacera Hà Nội, Công ty Vật liệu chịu lửa Cầu Đuống, Công ty Viglacera
Vân Hải. Công ty Viglacera Yên Hà cũng đã được Tổng công ty tổ chức phát hành
cổ phiếu lần đầu.
       Hiện Tổng công ty đã hoàn thiện các thủ tục để đưa cổ phiếu của Công ty
Viglacera Hạ Long lên sàn giao dịch chứng khoán, dự kiến đầu tháng 12, cổ phiếu
của Công ty này sẽ có mặt trên sàn chứng khoán Hà Nội.
                                                               Nguồn: vneconomy.com.vn




      4. Vinalines chỉ còn một đơn vị chưa cổ phần hóa
       Ông Mai Văn Phúc, Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam
(Vinalines) cho biết, tính đến thời điểm này, Vinalines đã tiến hành cổ phần
hóa 60 trên tổng số 61 đơn vị thành viên.
      Đơn vị duy nhất còn lại là Công ty Cổ phần Thương mại cảng Sài Gòn. Đơn vị
này cũng đang gấp rút hoàn thành thủ tục để tiến hành cổ phần hóa trong năm nay.
      Riêng 4 cảng lớn là Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng và Sài Gòn sẽ chuyển
thành các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn nhà nước theo
quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Theo lộ trình sau năm 2010, sẽ tiến hành cổ
phần hóa từng bộ phận, xí nghiệp thành viên của các cảng đó và tiến tới cổ phần
hoá công ty mẹ.
      Hiện Vinalines vẫn đang nắm giữ 51-60% cổ phần ở các công ty vận tải biển
và các doanh nghiệp dịch vụ giữ vai trò then chốt.
       Tuy nhiên, lộ trình giảm dần phần vốn nhà nước từ nay đến 2012 cũng đang
được thực hiện. Các doanh nghiệp này đang tiến hành huy động, phát triển vốn tại
thị trường tài chính quốc tế bằng cách mời thêm các nhà đầu tư nước ngoài tham
gia đầu tư. Như vậy, trong thời gian tới cổ phần mà Vinalines nắm giữ tại các công
ty thành viên sẽ xuống dưới mức 50%.
      Ông Phúc cũng cho biết, hiện đã có 4 doanh nghiệp thuộc Tổng công ty đã
niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán. Dự kiến trong năm nay, sẽ có thêm
hai doanh nghiệp nữa “lên sàn”, đó là Hàng hải Đông Đô và Container Việt Nam.
                                                             Nguồn: vneconomy.com.vn




206
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


      5. Bộ Giao thông Vận tải sẽ cổ phần hoá 12 công ty
       Theo phương án sắp xếp, đổi mới công ty nhà nước thuộc Bộ Giao
thông Vận tải giai đoạn 2007-2009 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày
4/10, Bộ này sẽ cổ phần hóa 12 công ty, sáp nhập một số công ty, bán 2 công
ty và thực hiện phá sản 5 công ty.
      Theo quyết định này, Công ty Quản lý và Khai thác hầm đường bộ Hải Vân
giữ nguyên pháp nhân để thực hiện nhiệm vụ công ích.
      Quyết định của Chính phủ cũng giao cho Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải
chỉ đạo việc sắp xếp, đổi mới công ty nhà nước trực thuộc. Những doanh nghiệp
không đủ điều kiện thực hiện cổ phần hóa theo quy định thì thực hiện bán, giải thể
hoặc phá sản.
       Căn cứ tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và điều
kiện thực tế, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định tỷ lệ cổ phần do Nhà nước
nắm giữ khi thực hiện cổ phần hóa các công ty; chỉ đạo xây dựng phương án tổng thể
sắp xếp hệ thống cảng biển trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
                                                                     Theo TTXVN


      6. Tập đoàn Điện lực Việt Nam giữ vai trò trung tâm để phát triển một
Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam đa sở hữu
     (Website Chính phủ) - Ngày 22/10, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn
Dũng đã phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt
Nam. Theo đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là công ty mẹ trong Tập
đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam, có tư cách pháp nhân và thuộc sở hữu nhà
nước. Tại thời điểm ngày 1/1/2007 vốn điều lệ của EVN là 49.495 tỷ đồng.
      Theo Điều lệ, các chức năng chủ yếu của EVN là tiến hành các hoạt động
đầu tư, ký kết các hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
nhằm bảo đảm cung cấp điện cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
      EVN kinh doanh đa ngành, trong đó sản xuất, kinh doanh điện năng, viễn
thông công cộng và cơ khí điện lực là ngành nghề kinh doanh chính.
       Mục tiêu hoạt động của EVN thể hiện rõ qua 3 tiêu chí: Kinh doanh có lãi,
bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVN
đầu tư vào các doanh nghiệp khác; Giữ vai trò trung tâm để phát triển một Tập
đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chi phối;
Tối đa hóa hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam.
      Nhà nước là chủ sở hữu của EVN. Chính phủ thống nhất tổ chức thực hiện
quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với EVN. Về nguyên tắc, Tổng Giám đốc
EVN là người đại diện theo pháp luật của EVN, trừ trường hợp Thủ tướng Chính
phủ có quyết định khác theo đề nghị của Hội đồng quản trị EVN.


                                                                              207
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

       EVN có quyền sử dụng và quản lý các tài sản của Nhà nước giao, cho thuê
gồm đất đai, tài nguyên theo quy định của pháp luật. Nhà nước không điều chuyển
vốn nhà nước đầu tư tại EVN và vốn, tài sản của EVN theo phương thức không
thanh toán, trừ trường hợp quyết định tổ chức lại EVN. EVN có trách nhiệm tự chủ
trong việc tổ chức sản xuất, kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý theo yêu cầu kinh
doanh và đảm bảo kinh doanh có hiệu quả.
       Cơ cấu tổ chức quản lý điều hành của EVN gồm: Hội đồng quản trị, Ban
kiểm soát, Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng và bộ máy giúp
việc. Hiện nay EVN đang có 17 đơn vị trực thuộc, 5 đơn vị sự nghiệp, 10 công ty
liên kết và 23 công ty con do EVN nắm giữ 100% vốn điều lệ và 10 công ty con do
EVN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.
                                         Nguồn: Quyết định số 163/2007/QĐ-TTg
      7. Hàng loạt công ty dệt may sẽ IPO
      Trong 3 tháng qua, một loạt các doanh nghiệp dệt may đã tiến hành đấu
giá cổ phiếu lần đầu (IPO) để cổ phần hóa.
      Trong 2 tháng cuối năm và quý I/2008 sẽ có thêm khoảng hơn 20 doanh
nghiệp ngành dệt may IPO. Cổ phiếu dệt may có phải đang là kỳ vọng của nhiều
nhà đầu tư?
      Chỉ tính riêng 3 tháng qua đã có 4 doanh nghiệp thuộc ngành dệt may tiến
hành IPO: Công ty Dệt gia dụng Phong Phú, Công ty Dệt vải Phong Phú, Tổng
công ty May Việt Tiến và Tổng công ty Dệt - May Hà Nội. Sắp tới sẽ có Công ty
TNHH Nhà nước Một thành viên Dệt Nam Định và Nhà máy Dệt Tân Tiến cũng tiến
hành đấu giá trong tháng 11/2007.
        Theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may 9 tháng đầu năm
2007 của cả nước tăng trưởng mạnh đạt 5,8 tỉ USD, dự kiến cả năm 2007 sẽ đạt
7,5 tỉ USD. Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, ngành dệt may Việt
Nam có nhiều cơ hội như: Không bị áp dụng chế độ hạn ngạch vào thị trường Mỹ,
vì vậy tạo nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp muốn phát triển hàng dệt may vào thị
trường này.
      Sự cạnh tranh trên thương trường dệt may sẽ phức tạp hơn nhưng sòng
phẳng hơn và các sản phẩm dệt may Việt Nam trong tương lai sẽ thâm nhập sâu
rộng hơn vào thị trường quốc tế.
       Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam cũng sẽ đối mặt với nhiều thách thức
lớn trong thời gian tới như: ngành dệt may sử dụng một số nguyên phụ liệu chủ yếu
như bông xơ... dựa vào nguồn nhập khẩu là chính, trong khi sản xuất trong nước về
bông, xơ không đáp ứng được nhu cầu (bông chỉ đáp ứng được khoảng 5%, xơ
tổng hợp khoảng 30%), cho nên các doanh nghiệp vẫn phải phụ thuộc lớn vào nhập
khẩu để đảm bảo sản xuất.
      Theo đánh giá của chuyên gia, hiện các doanh nghiệp sản xuất dệt - nhuộm
chưa có hiệu quả, đặc biệt là chưa làm chủ được kỹ thuật, làm chất lượng vải


208
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


không ổn định. Vì vậy, chưa được khách hàng tiêu thụ sản phẩm may đánh giá để
có thể trở thành nhà cung cấp vải cho các doanh nghiệp may gia công trong nước
chứ chưa nói đến việc gia tăng xuất khẩu vải.
       Hiện vải dệt kim trong nước mới đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu, vải dệt
thoi khoảng 30%. Cũng chính vì thế mà khách hàng Mỹ thường chỉ định nhà cung
cấp vải từ các nơi (như Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan...) để cung cấp cho các
doanh nghiệp may Việt Nam.
      Hơn nữa, từ ngày 1/6/2007, Chính phủ Mỹ bắt đầu áp dụng những biện pháp
kiểm soát chặt chẽ hàng dệt may Việt Nam nhập khẩu. Điều này làm cho hàng dệt
may Việt Nam vào thị trường Mỹ gặp rất nhiều khó khăn.
       Chính phủ Mỹ áp dụng chương trình giám sát đặc biệt, tự khởi xướng điều
tra chống bán phá giá hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ gây ra tâm lý
lo ngại, dè dặt cho khách hàng khi đặt hàng tại Việt Nam ngay từ đầu năm 2007.
Giá đầu vào cao, chất lượng hàng dệt biến động, chính sách của Chính phủ Mỹ đối
với hàng dệt may Việt Nam... sẽ ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và sự phát
triển của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
       Tại thị trường trong nước, theo cam kết khi gia nhập WTO, các hỗ trợ của
Chính phủ Việt Nam như miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về xuất
khẩu, hỗ trợ vay với lãi suất thấp đối với ngành dệt may sẽ không còn. Sức ép cạnh
tranh về giá cả, chất lượng hàng hóa và dịch vụ ngày càng gay gắt, làm tăng chi phí
sản xuất đầu vào.
        Chưa hết, ngành dệt - may phải cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa với
hàng hoá của các nước có nhiều lợi thế hơn Việt Nam về lao động, nguyên vật liệu,
thiết kế và thương hiệu như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh...
       Như vậy, có thể nhận định, các doanh nghiệp dệt may trong nước đứng
trước nguy cơ lớn, muốn tiếp tục tồn tại bắt buộc phải đầu tư đổi mới công nghệ,
mở rộng sản xuất, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp trong ngành nhằm tạo
các lợi thế mới trong kinh doanh.
                                                               Nguồn: VnEconomy


      8. Công ty cổ phần LILAMA 69-3 giữ vững sản xuất sau cổ phần hoá
       Công ty lắp máy và xây dựng 69-3 (thuộc Tổng công ty lắp máy Việt
Nam), trụ sở đóng tại huyện Kinh Môn (tỉnh Hải Dương) được chuyển đổi
thành Công ty cổ phần LILAMA 69-3 từ ngày 05/6/2007 với với số vốn điều lệ
là 30 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước chiếm 53%.
      Để giữ vững truyền thống là đơn vị có bề dày thành tích trong ngành lắp
máy, Công ty cổ phần LILAMA 69-3 xác định chiến lược sản xuất kinh doanh đa
ngành nghề bao gồm: Tư vấn đầu tư xây dựng; gia công chế tạo thiết bị và kinh
doanh xuất nhập khẩu; lắp đặt thiết bị đồng bộ dây chuyền sản xuất của các nhà


                                                                               209
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

máy sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến lương thực, thực phẩm, các nhà máy
điện; bảo trì sửa chữa các nhà máy xi măng; đóng mới, sửa chữa các loại phương
tiện vận tải thuỷ đến 3.000 tấn; đào tạo công nhân các ngành cơ khí, điện, xây lò
công nghiệp... Trong đó, chế tạo, lắp đặt chiếm 60% doanh thu; dịch vụ chiếm 40%
doanh thu.
      Nhằm thực hiện vượt chỉ tiêu kế hoạch sản xuất-kinh doanh ngay trong năm
đầu cổ phần hoá, từ đầu năm đến nay, trên 2.200 cán bộ, công nhân, lao động của
công ty hoạt động trên các công trình trọng điểm tại các tỉnh Hải Dương, Quảng
Ninh, Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoá, Quảng Bình... đã thực hiện
310,326 tỷ đồng giá trị sản xuất kinh doanh, đạt trên 73,9% kế hoạch năm; doanh
thu ước thực hiện 165 tỷ đồng; nộp ngân sách nhà nước đã thực hiện 7,45 tỷ
đồng/7,4 tỷ đồng, bằng 100,67% kế hoạch năm./.
                                                                  Nguồn: TTXVN
     9. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiếp nhận Công ty Máy và Phụ tùng thuộc
Bộ Công Thương
      (Website Chính phủ) - Ngày 26/10, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn
Sinh Hùng đã đồng ý chuyển giao nguyên trạng Công ty Máy và Phụ tùng
thuộc Bộ Công Thương về làm đơn vị thành viên hạch toán độc lập của Tổng
công ty Điện lực Dầu khí thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
       Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương và Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu
khí Việt Nam thực hiện việc giao, nhận này theo quy định hiện hành.
                                            Nguồn: Công văn 6138/VPCP-ĐMDN


      10. Thí điểm cổ phần hóa công ty chè ở Tuyên Quang
     (Website Chính phủ) - Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên
Quang về việc thực hiện cổ phần hóa các công ty chè, ngày 26/10/2007, Phó
Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đồng ý thí điểm cổ phần hóa
vườn cây gắn với cơ sở chế biến, dịch vụ của Công ty Chè Mỹ Lâm.
       Phó Thủ tướng Thường trực giao UBND tỉnh Tuyên Quang xây dựng đề án
thí điểm này trong đó chú ý vấn đề giá trị vườn cây, giá trị quyền sử dụng đất và
việc công nhân, nông dân tham gia là cổ đông.
      Đề án thí điểm gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định, trình
Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trong năm 2007.
                                            Nguồn: Công văn 6141/VPCP-ĐMDN


      11. Sớm thành lập Công ty cổ phần phát triển đường cao tốc BIDV
      (Website Chính phủ) - Ngày 26/10, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam góp 25% vốn điều lệ của Công ty cổ
phần phát triển đường cao tốc BIDV. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
và các nhà đầu tư thành viên sớm thành lập Công ty cổ phần phát triển



210
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


đường cao tốc BIDV để triển khai thực hiện Dự án đường cao tốc thành phố
Hồ Chí Minh - Trung Lương - Mỹ Thuận - Cần Thơ.
      Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn, hỗ trợ Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Công ty cổ phần phát triển đường cao tốc
BIDV trong quá trình thực hiện đầu tư để đảm bảo tiến độ Dự án.
                                              Nguồn: Công văn số 1611/TTg-CN


      12. Không thành lập các Tổng công ty Viễn thông I, II, III thuộc VNPT
      (Website Chính phủ) - Ngày 24/10, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Quyết định 164/2007/QĐ-TTg về việc tổ chức kinh doanh mạng viễn thông nội
hạt của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT). Theo một trong
những nội dung của Quyết định này, VNPT không thành lập các Tổng công ty
Viễn thông I, II, III.
       Hội đồng quản trị VNPT quyết định việc tổ chức lại các đơn vị kinh doanh
viễn thông nội hạt được tách ra từ bưu điện các tỉnh, thành phố trước đây thành
Viễn thông tỉnh, thành phố. Theo đó, có 61 Viễn thông tỉnh, thành phố trực thuộc
VNPT.
       Thủ tướng chỉ đạo VNPT hoàn thành việc chia tách bưu chính, viễn thông và
các công việc liên quan khác trong năm 2007 để Tổng công ty Bưu chính Việt Nam
chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/2008.
      Thủ tướng cho phép thí điểm việc Viễn thông và Bưu điện tỉnh, thành phố
được thành lập các chi nhánh để kinh doanh bưu chính và viễn thông nội hạt trên
địa bàn địa phương đó.
                                            Nguồn: Quyết định 164/2007/QĐ-TTg


      13. Thành lập Công ty cổ phần Tài chính đầu tư phát triển hạ tầng đô thị
      (Website Chính phủ) - Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý thành lập Công
ty cổ phần Tài chính đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, trong đó Tổng công ty
Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị tham gia 30% vốn điều lệ.
       Thủ tướng Chính phủ giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem
xét, cấp phép thành lập và hoạt động cho Công ty cổ phần Tài chính đầu tư phát
triển hạ tầng đô thị theo quy định của pháp luật hiện hành.
                                              Nguồn: Công văn 1552/TTg-ĐMDN


      14. Nhà xuất bản Lao động - Xã hội chuyển thành công ty TNHH một
thành viên
     (Website Chính phủ) - Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt phương án
sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội giai đoạn 2007-2010.
      Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, năm 2008, Nhà nước tiếp tục
nắm giữ 100% vốn điều lệ và chuyển thành công ty TNHH một thành viên đối với
Nhà xuất bản Lao động - Xã hội.


                                                                              211
                             Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

     Năm 2008-2009, thực hiện cổ phần hóa Công ty Xuất khẩu lao động -
Thương mại và Du lịch và Công ty Cung ứng nhân lực quốc tế và Thương mại.
       Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội căn cứ tiêu
chí, danh mục phân loại doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước ban hành kèm theo
Quyết định 38/2007/QĐ-TTg ngày 20/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ và các quy
định pháp luật hiện hành liên quan để quyết định tỷ lệ cổ phần Nhà nước nắm giữ
trong các doanh nghiệp cổ phần hóa.
                                                      Nguồn: Quyết định 1384/QĐ-TTg




212
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


            Chuyªn môc 8: chÝnh s¸ch, ph¸p luËt
                 trong ph¸t triÓn kinh tÕ

    Văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành
    Nghiên cứu pháp luật kinh tế

I. Văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành

                                   Chính phủ

       Nghị định số 149/2007/NĐ-CP ngày 9/10/2007 của Chính phủ quy định
về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm quyền xử
phạt, thủ tục xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính
trong lĩnh vực du lịch. Theo đó, đối với mỗi hành vi vi phạm, cá nhân, tổ chức vi
phạm phải chịu một trong các hình phạt chính. Mức phạt tiền tối đa là 30 triệu
đồng, tùy tính chất mức độ vi phạm có thể bị phạt bổ sung; hoặc bị áp dụng một
hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả… Cụ thể, hành vi vi phạm quy định về
kinh doanh lữ hành, hướng dẫn du lịch, vận chuyển khách du lịch có thể bị phạt
phạt tiền từ 200 ngàn đồng đến 15 triệu đồng. Những hành vi hoạt động kinh doanh
lữ hành quốc tế mà không có Giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế hoặc sử dụng
người nước ngoài làm hướng dẫn du lịch sẽ bị phạt tiền từ 10 đến 15 triệu đồng…
Hành vi vi phạm quy định về kinh doanh lưu trú du lịch bị phạt cảnh cáo hoặc phạt
tiền từ 500 ngàn đến 15 triệu đồng. Trong đó mức phạt nặng nhất áp dụng cho
những hành vi: Mạo nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch; thu tiền ngoài hợp đồng hoặc
các hành vi thu lợi bất chính khác từ khách du lịch; tự ý tiếp tục hoạt động kinh
doanh cơ sở lưu trú du lịch khi đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ
hoạt động kinh doanh… Hành vi vi phạm quy định về xúc tiến du lịch sẽ bị phạt tiền
từ 3 - 5 triệu đồng áp dụng khi lợi dụng hoạt động xúc tiến du lịch làm phương hại
đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác; không thực hiện, thực hiện
không đúng chương trình khuyến mại du lịch như đã thông tin, quảng cáo hoặc
quảng bá sản phẩm du lịch không đúng với nội dung và chất lượng thực tế… Về
nguyên tắc, mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực du lịch phải được phát hiện kịp thời
và phải bị đình chỉ ngay. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này
là 1 năm, kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm hành chính… Nghị định này có hiệu lực
sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


       Nghị định số 150/2007/NĐ-CP ngày 09/10/2007 của Chính phủ về Huấn
luyện quân nhân dự bị hạng hai. Chính phủ quy định: đối tượng gọi tham gia
huấn luyện quân nhân dự bị hạng hai là: hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ trước thời
hạn nhưng đã phục vụ tại ngũ dưới sáu tháng; Công dân nam chưa phục vụ tại ngũ
từ 26 tuổi trở lên được chuyển sang ngạch dự bị… Thời gian huấn luyện quân nhân

                                                                               213
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

dự bị hạng hai để chuyển thành quân nhân dự bị hạng một là sáu tháng. Số lần
huấn luyện, thời gian huấn luyện mỗi lần do Bộ Quốc phòng quy định, nhưng một
năm không quá hai lần tập trung huấn luyện. Nam quân nhân dự bị hạng hai có thời
gian huấn luyện tập trung đủ 6 tháng thì được chuyển thành quân nhân dự bị hạng
một… Hàng năm, Thủ tướng giao chỉ tiêu cho UNND các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tuyển chọn
quân nhân dự bị hạng hai giao cho các đơn vị quân đội huấn luyện chuyển thành
quân nhân dự bị hạng một… Người nào có hành vi trốn tránh, cản trở, chống lại
việc tuyển chọn và gọi quân nhân dự bị hạng hai tập trung huấn luyện; thiếu trách
nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định
hoặc bao che cho người vi phạm, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý
hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại về vật chất thì
phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Nghị định này có hiệu lực sau 15
ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


       Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ quy định
về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác. Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở
hợp đồng hợp tác có chứng thực của UBND cấp xã của từ ba cá nhân trở lên, cùng
đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng
lợi và cùng chịu trách nhiệm. Tổ hợp tác được tổ chức và hoạt động theo nguyên
tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi; biểu quyết theo đa số; tự chủ tài
chính, tự trang trải các chi phí hoạt động và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của tổ
và các tổ viên. Tổ viên có quyền ngang nhau trong việc tham gia quyết định các
công việc của tổ, không phụ thuộc vào mức độ đóng góp tài sản của mỗi tổ viên.
Khi ra khỏi tổ hợp tác, tổ viên có quyền yêu cầu nhận lại tài sản mà mình đóng góp
và được chia phần tài sản của mình trong khối tài sản chung… Tài sản của tổ hợp
tác được hình thành từ nguồn đóng góp của tổ viên, phần trích lại từ hoa lợi, lợi tức
sau thuế để tăng vốn, từ tài sản được tặng, cho. Việc quản lý và sử dụng tài sản
được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Công tác tài chính của tổ hợp tác
phải đảm bảo tính công khai, minh bạch để tổ viên biết, theo dõi và kiểm tra. Nghị
định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


        Nghị định số 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bất động sản (BĐS). Theo đó,
doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh BĐS phải có vốn pháp định là 6 tỷ đồng…
Trong trường hợp chủ đầu tư dự án kinh doanh BĐS và khách hàng thỏa thuận
mua bán nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai theo hình thức ứng
tiền trước, việc ứng tiền trước phải được thực hiện nhiều lần, lần đầu chỉ được huy
động khi chủ đầu tư đã bắt đầu triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các lần
huy động tiền ứng trước tiếp theo phải phù hợp với tiến độ xây dựng nhà, công
trình đó…Đối với dự án khu đô thị mới, dự án hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp,
chủ đầu tư dự án phải có vốn đầu tư thuộc sở hữu không thấp hơn 20% tổng mức


214
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


đầu tư của dự án đã được phê duyệt. Đối với dự án khu nhà ở là 15% tổng mức
đầu tư của dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 ha, không thấp hơn 20% tổng
mức đầu tư của dự án có quy mô sử dụng đất từ 20 ha trở lên đã được phê
duyệt… Để được cấp chứng chỉ môi giới, định giá BĐS, cá nhân phải có đủ các
điều kiện sau: không phải là cán bộ, công chức nhà nước; Có giấy chứng nhận đã
hoàn thành khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về môi giới, định giá BĐS. Ngoài ra,
cá nhân được cấp chứng chỉ định giá BĐS phải có bằng tốt nghiệp cao đẳng hoặc
đại học. Người quản lý, điều hành sàn giao dịch BĐS cũng phải có giấy chứng nhận
đã hoàn thành khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý, điều hành sàn giao
dịch BĐS… Chứng chỉ môi giới, định giá BĐS sẽ bị thu hồi khi người được cấp
chứng cho người khác mượn, thuê chứng chỉ để hành nghề; vi phạm các nguyên
tắc hành nghề theo quy định; chứng chỉ bị tẩy xóa, sửa chữa... Người bị thu hồi
chứng chỉ không được cấp lại chứng chỉ trong thời hạn 5 năm… Tổ chức, cá nhân
đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh về BĐS, dịch vụ BĐS phải bổ
sung đủ người có chứng chỉ theo quy định trước ngày 01/01/2009. Từ ngày Nghị
định này có hiệu lực đến hết 31/12/2008, tổ chức, cá nhân đăng ký ngành nghề
kinh doanh dịch vụ môi giới, định giá, sàn giao dịch BĐS nhưng chưa đủ người có
chứng chỉ thì vẫn được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nhưng chậm
nhất ngày 31/12/2008, phải bổ sung chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận theo quy
định… Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


       Nghị định số 157/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy định
chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà
nước trong thi hành nhiệm vụ, công vụ. Theo đó, người đứng đầu cơ quan, tổ
chức, đơn vị thuộc Nhà nước sẽ bị xử lý trách nhiệm nếu để cấp phó, cán bộ, viên
chức thuộc quyền quản lý tham nhũng, lãng phí. Ngoài ra, người đứng đầu phải
chịu trách nhiệm khi để tình trạng đơn, thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp, kéo dài, khi
xử lý không nghiêm minh hoặc bao che cho hành vi vi phạm pháp luật của cấp
dưới… Những trường hợp người đứng đầu bị xử lý trách nhiệm còn bao gồm
không giao nhiệm vụ hoặc giao nhiệm vụ cho cấp dưới không rõ; không kiểm tra
hoặc thiếu kiểm tra, đôn đốc cấp dưới thực hiện. Tùy theo tính chất mức độ vi
phạm chế độ trách nhiệm, người đứng đầu hoặc cấp phó phải chịu một hoặc nhiều
hình thức trách nhiệm như trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự, hình sự, trách
nhiệm vật chất và các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên,
người đứng đầu và cấp phó được miễn, giảm nhẹ trách nhiệm nếu không thể biết
hoặc đã làm hết trách nhiệm, áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn
chặn hành vi tham nhũng, lãng phí hoặc hành vi vi phạm pháp luật khác.
Mặt khác, người đứng đầu hoặc cấp phó sẽ bị tăng nặng trách nhiệm nếu báo cáo
sai sự thật về tình hình thực hiện, kết quả thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao,
hoặc thiếu trung thực trong báo cáo, tường trình, tiếp thu phê bình, kiểm điểm hay
cố tình né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ
ngàyg đăng Công báo.


                                                                                215
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

        Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy định
danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối
với cán bộ, công chức, viên chức. Theo đó. việc thực hiện định kỳ chuyển đổi
này là quy định bắt buộc, thường xuyên. Khi thực hiện việc chuyển đổi phải khách
quan, công tâm, khoa học và hợp lý phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ; chống
chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa cá nhân; không gây mất đoàn kết và không làm xáo
trộn sự ổn định trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thời hạn chuyển đổi vị trí công tác
là 3 năm. Những trường hợp cán bộ, công chức, viên chức đang trong thời gian bị
xem xét kỷ luật, khởi tố hoặc liên quan đến công việc đang bị thanh tra, kiểm tra,
đang điều trị bệnh hiểm nghèo, đi học dài hạn hoặc cử đi biệt phái, cán bộ, công
chức nữ đang trong thời gian mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì chưa
thực hiện việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác… Việc chuyển đổi được thực hiện
bằng các hình thức như định kỳ chuyển đổi công tác từ bộ phận này sang bộ phận
khác cùng chuyên môn, nghiệp vụ trong từng cơ quan, tổ chức; định kỳ chuyển đổi
vị trí công tác giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Việc định kỳ chuyển đổi này chỉ
được thực hiện bằng việc ban hành quyết định điều động, bố trí cán bộ, công chức,
viên chức bị chuyển đổi. Nghiêm cấm việc lợi dụng các quy định này đối với cán bộ,
công chức, viên chức vì mục đích vụ lợi hoặc để trù dập cán bộ, công chức, viên
chức; không thực hiện chuyển vị trí công tác trái với chuyên môn nghiệp vụ đang
làm hoặc đang phụ trách. Việc chuyển đổi đối với cán bộ, công chức, viên chức
phải được thông báo công khai cho cán bộ bị chuyển đổi đó biết trước 30 ngày tính
từ khi bắt đầu chuyển đổi… Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày
đăng Công báo.


                            Thủ tướng Chính phủ
        Quyết định số 159/2007/QĐ-TTg ngày 10/10/2007 của Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quy chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương đối với các
vùng kinh tế trọng điểm. Thủ tướng yêu cầu: sự phối hợp phải đảm bảo nguyên
tắc đồng thuận giữa các bộ, ngành; giữa các bộ, ngành với các địa phương và giữa
các địa phương với nhau trong vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ), nhằm tạo ra "khung
kết cấu hạ tầng" đồng bộ, hiện đại… Trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội vùng KTTĐ, quy hoạch ngành đã được Thủ tướng phê duyệt, UBND các
tỉnh, thành phố trong vùng KTTĐ chịu trách nhiệm cụ thể hoá các nội dung quy hoạch
vùng KTTĐ và quy hoạch phát triển ngành (nhất là quy hoạch kết cấu hạ tầng, các
ngành, sản phẩm chủ yếu), tiến hành xây dựng, rà soát, bổ sung quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (đặc biệt là quy hoạch xây dựng) và quy
hoạch không gian cho từng lĩnh vực cụ thể… Các địa phương cần phối hợp chặt
chẽ với nhau trong các lĩnh vực như: kết nối hệ thống giao thông; hạ tầng thông tin;
hệ thống cung cấp và sử dụng nguồn nước; xử lý nước thải, chất thải rắn, chất thải
nguy hại; sản xuất sản phẩm chủ yếu; phát triển nguồn nhân lực; cơ sở dạy nghề;
đào tạo cao đẳng, đại học; các cơ sở nghiên cứu khoa học; các bệnh viện và hệ
thống đô thị... Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


216
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


       Quyết định số 164/2007/QĐ-TTg ngày 24/10/2007 của Thủ tướng Chính
phủ về việc tổ chức kinh doanh mạng viễn thông nội hạt của Tập đoàn Bưu
chính Viễn thông Việt Nam (VNPT). Theo đó, VNPT không thành lập các Tổng
công ty Viễn thông I, II, III. Hội đồng quản trị VNPT quyết định việc tổ chức lại các
đơn vị kinh doanh viễn thông nội hạt được tách ra từ bưu điện các tỉnh, thành phố
trước đây thành Viễn thông tỉnh, thành phố. VNPT hoàn thành việc chia tách bưu
chính, viễn thông và các công việc liên quan khác trong năm 2007 để Tổng công ty
Bưu chính Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2008.
Cho phép thí điểm việc Viễn thông và Bưu điện tỉnh, thành phố được thành lập các
chi nhánh để kinh doanh bưu chính và viễn thông nội hạt trên địa bàn địa phương
đó… Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


       Quyết định số 165/2007/QĐ-TTg ngày 27/10/2007 của Thủ tướng Chính
phủ quy định tạm thời tiêu chuẩn thanh tra viên chuyên ngành xây dựng
quận, huyện và xã, phường, thị trấn và tiêu chuẩn cán bộ, công chức công tác
trong các tổ chức thanh tra xây dựng cấp quận, cấp phường tại thành phố Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, cán bộ, công chức được tuyển dụng, bổ
nhiệm thanh tra viên chuyên ngành xây dựng cấp quận và cấp phường phải đáp
ứng đủ tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn theo đúng
yêu cầu của công việc, có chứng chỉ đào tạo pháp luật về xây dựng và nghiệp vụ
thanh tra. Đối với công chức làm việc tại thanh tra xây dựng cấp quận phải có trình
độ đại học trở lên (thanh tra cấp phường có trình độ trung học chuyên nghiệp trở
lên) các chuyên ngành: xây dựng, kiến trúc quy hoạch, luật, kinh tế hoặc đất đai…
Người mới tuyển dụng phải có ít nhất 2 năm công tác thanh tra chuyên ngành xây
dựng (không kể thời gian tập sự) thì mới đủ tiêu chuẩn làm thanh tra viên chuyên
ngành này ở cấp quận, cấp phường. Trường hợp cán bộ, công chức ở các cơ
quan, tổ chức khác chuyển sang tổ chức thanh tra xây dựng thì phải có ít nhất 1
năm công tác thanh tra chuyên ngành xây dựng… Quyết định này có hiệu lực sau
15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


       Chỉ thị số 22/2007/CT-TTg ngày 26/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ về
phát triển doanh nghiệp dân doanh. Theo đó, người đứng đầu cơ quan, các tỉnh,
thành phố theo thẩm quyền, chủ động bãi bỏ ngay hoặc trình cấp có thẩm quyền
bãi bỏ, bổ sung hoặc sửa đổi những quy định không còn phù hợp với tư tưởng đổi
mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Luật Doanh nghiệp, yêu cầu
quản lý nhà nước và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế… UBND các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng tạo mọi điều kiện thuận lợi
trong khuôn khổ pháp luật cho việc thành lập doanh nghiệp và phát triển sản xuất,
kinh doanh, kịp thời giải quyết các vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp theo
thẩm quyền. Tổ chức chỉ đạo thực hiện nghiêm cơ chế phối hợp liên thông giữa các
cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và khắc dấu đối với doanh
nghiệp. Bộ Nội vụ cần nghiên cứu, trình Thủ tướng Đề án thí điểm giao cho một


                                                                                 217
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

đến hai hiệp hội đủ điều kiện để thực hiện cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh;
cấp giấy chứng nhận xuất xứ…


       Chỉ thị số 23/2007/CT-TTg ngày 31/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ về
việc tăng cường thực hiện các giải pháp điều hành giá cả, bình ổn thị trường
trong những tháng cuối năm 2007 và phục vụ Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008.
Theo đó, các Bộ, ngành, địa phương, các thành phố lớn và các doanh nghiệp cần
có kế hoạch chuẩn bị đủ lượng hàng hóa cần thiết như lương thực, thực phẩm,
xăng dầu, phân bón, sắt thép, xi măng, thuốc chữa bệnh... với giá ổn định và đảm
bảo chất lượng… Ngoài ra, cần chủ động thực hiện các biện pháp dự trữ hàng hóa
thiết yếu để tránh xảy ra mất cân đối cung cầu, không gây đột biến giá cả vào dịp
trước và sau Tết Nguyên đán; quan tâm và làm tốt việc cung ứng hàng hóa cho
nhân dân các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người và
các vùng bị hậu quả nặng nề của bão, lũ với giá ổn định trong dịp Tết Nguyên
đán… Các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải tăng
cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống gian lận thương mại
những ngày giáp Tết và sau Tết, xử lý nghiêm các trường hợp lưu thông buôn bán
các mặt hàng cấm như pháo, đồ chơi nguy hiểm; kiểm tra bảo đảm vệ sinh an toàn
thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm… Chuẩn bị tốt lực lượng
phương tiện vận chuyển để phục vụ nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của
nhân dân; tập trung triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn giao thông, kiềm chế
tai nạn và ùn tắc cũng là những yêu cầu mà Thủ tướng đề ra. Ngân hàng Nhà nước
tiếp tục thực hiện đồng bộ, hài hòa các giải pháp rút tiền từ lưu thông về, cơ cấu lại
tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bán ra có kỳ hạn ngắn, mua ngoại tệ ở mức độ
thích hợp nhằm tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, không để tăng giá hoặc mất giá
quá mức đồng tiền Việt Nam…


                                   Bộ Công an
       Thông tư số 22/2007/TT-BCA-C11 ngày 12/10/2007 của Bộ trưởng Bộ
Công an hướng dẫn việc thông báo đến nơi cư trú hoặc nơi công tác, học tập
của người có vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông. Theo đó,
người có hành vi vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông sẽ bị thông báo
cho nơi cư trú hoặc nơi công tác. Việc thông báo được thực hiện bằng văn bản.
Thông báo được gửi đến nơi cư trú hoặc nơi công tác, học tập của người vi phạm
ngay sau khi ra quyết định xử phạt… Cơ quan ra quyết định xử phạt đối với hành vi
vi phạm có thẩm quyền ra thông báo về hành vi vi phạm đó. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân tiếp nhận thông báo có trách nhiệm tổ chức việc kiểm điểm, giáo dục và xử lý
người vi phạm và gửi kết quả kiểm điểm, giáo dục, xử lý đó cho cơ quan ra thông
báo để theo dõi, tổng hợp. Những người có thẩm quyền ra thông báo gồm: Chủ tịch
UBND các cấp; Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Trưởng
phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát trật tự, Trưởng phòng Cảnh
sát quản lý hành chính về trật tự xã hội thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc

218
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


Trung ương; Chánh thanh tra giao thông vận tải cấp sở trở lên. Người ra quyết định
thông báo phải chịu trách nhiệm về thông báo của mình. Thông tư này có hiệu lực
sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


                           Bộ Giáo dục và đào tạo
        Quyết định số 62/2007/QĐ-BGDĐT ngày 26/10/2007 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về nội dung và hình thức tuyển dụng
giáo viên trong các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông công
lập và trung tâm giáo dục thường xuyên. Theo đó, việc tổ chức tuyển dụng phải
đảm bảo dân chủ, công khai, công bằng, thực hiện chính sách ưu tiên theo đúng
quy định. Người dự tuyển làm giáo viên (GV) phải đạt trình độ chuẩn được đào tạo
của nhà giáo theo quy định hiện hành tương ứng với ngạch GV dự tuyển… Cụ thể,
người dự tuyển làm GV mầm non, GV tiểu học phải có bằng tốt nghiệp trung cấp
sư phạm; dự tuyển làm GV trung học cơ sở phải có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư
phạm hoặc có bằng tốt nghiệp cao đẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm; dự tuyển làm GV trung học phổ thông phải có bằng tốt nghiệp đại học sư
phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm. Trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp-hướng
nghiệp thực hiện như đối với cơ sở giáo dục phổ thông theo cấp học tương ứng…
Việc tuyển dụng GV thông qua 2 hình thức: thi tuyển hoặc xét tuyển và được thực
hiện theo hình thức hợp đồng làm việc. Nếu áp dụng hình thức xét tuyển, người
trúng tuyển là người đạt yêu cầu về điều kiện, tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch dự
tuyển và có kết quả học tập trung bình toàn khóa cộng với điểm ưu tiên theo quy
định tính từ người có kết quả cao nhất cho đến hết chỉ tiêu được tuyển dụng. Nếu
nhiều người có kết quả xét bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng thì Hội đồng tuyển dụng
tiến hành phỏng vấn để lựa chọn người có kết quả cao nhất trúng tuyển. Khi tuyển
dụng giáo viên bằng thi tuyển, người dự thi bắt buộc phải tham gia 2 phần thi: thực
hành và phỏng vấn. Điểm phần thi thực hành (soạn giáo án và giảng dạy) tính hệ
số 3, điểm phần thi phỏng vấn tính hệ số 1. Người trúng tuyển tính từ người có tổng
điểm cao nhất cho đến khi hết chỉ tiêu được tuyển và có số điểm thi của mỗi phần
thi đạt từ 50 điểm trở lên. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng
Công báo.


                     Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
       Thông tư số 19/2007/TT-BLĐTBXH ngày 04/10/2007 của Bộ trưởng Bộ
Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số
141/2007/NĐ-CP quy định chế độ tiền lương đối với công ty mẹ do Nhà nước
làm chủ sở hữu và các công ty con trong Tập đoàn kinh tế. Theo đó, đối với
công ty mẹ trong Tập đoàn kinh tế do Thủ tướng quyết định thành lập thì trưởng
phòng, Kiểm soát viên được xếp lương theo bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ và
hưởng phụ cấp giữ chức vụ là: 0,8; Phó Trưởng phòng: 0,7; đối với công ty do Chủ
tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập thì trưởng phòng, Kiểm soát viên: 0,7; Phó

                                                                               219
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

Trưởng phòng: 0,6... Đối với người chuyển đến làm công nhân, nhân viên trực tiếp
hoặc phục vụ sản xuất, kinh doanh thì căn cứ vào công việc được giao, chức danh,
tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật công nhân, công ty tổ chức kiểm tra trình độ tay nghề.
Người lao động đạt bậc của nghề nào thì xếp vào bậc lương của nghề đó theo các
thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định... Bảng lương của viên chức quản
lý Tập đoàn kinh tế do Thủ tướng quyết định thành lập được quy định như sau: Chủ
tịch Hội đồng quản trị; Chủ tịch Hội đồng thành viên (hoặc Chủ tịch công ty) bậc 1 là
8,80 và bậc 2 là 9,10; Tổng giám đốc bậc 1 là 8,50 và bậc 2 là 8,80... Thông tư này
có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


        Thông tư số 20/2007/TT-BLĐTBXH ngày 04/10/2007 của Bộ trưởng Bộ
Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chính sách đối với
người lao động theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp
100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần. Theo đó, các trường hợp chấm dứt
hợp đồng lao động: hết hạn hợp đồng lao động; tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao
động hoặc lý do khác tại thời điểm công bố giá trị doanh nghiệp thì Giám đốc doanh
nghiệp cổ phần hoá giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho người lao động (nguồn
kinh phí lấy từ quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm của doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước, nếu còn thiếu thì doanh nghiệp đề nghị Nhà nước hỗ trợ theo hướng dẫn của
Bộ Tài chính) và có trách nhiệm làm đầy đủ các thủ tục để cơ quan Bảo hiểm xã hội
giải quyết quyền lợi về bảo hiểm xã hội đối với người lao động theo quy định của
pháp luật… Với người có tên trong danh sách thường xuyên của doanh nghiệp
100% vốn nhà nước tại thời điểm công bố giá trị doanh nghiệp thì thời gian được
tính để mua cổ phần với giá ưu đãi là tổng thời gian (tính theo số năm đủ 12 tháng,
không tính tháng lẻ) thực tế làm việc trong khu vực nhà nước của người lao động
đến thời điểm công bố giá trị của doanh nghiệp. Thời gian này không bao gồm thời
gian thực tế làm việc đã được tính để mua cổ phần với giá ưu đãi tại doanh nghiệp
cổ phần hoá trước đó; thời gian thực tế làm việc đã được tính hưởng chế độ hưu
trí; thời gian thực tế làm việc đã được tính để nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một
lần… Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


       Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH ngày 08/10/2007 của Bộ trưởng Bộ
Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật
Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Nghị
định số 126/2007/NĐ-CP. Theo đó, sau khi NLĐ trúng tuyển đi làm việc ở nước
ngoài, doanh nghiệp dịch vụ phải cam kết với NLĐ về thời gian chờ xuất cảnh.
Trong thời gian này, nếu NLĐ không có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài nữa,
doanh nghiệp phải trả lại hồ sơ cho NLĐ và NLĐ phải chịu các khoản chi phí mà
doanh nghiệp đã chi (nếu có) để làm thủ tục… Nếu quá thời gian đã cam kết mà
doanh nghiệp vẫn chưa đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài thì phải thông báo rõ lý
do cho NLĐ. Nếu NLĐ không có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài nữa thì trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày NLĐ thông báo không có nhu cầu, doanh nghiệp phải


220
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


hoàn trả cho NLĐ hồ sơ, các khoản chi phí mà NLĐ đã nộp cho doanh nghiệp…
Doanh nghiệp dịch vụ ký hợp đồng với NLĐ ít nhất 5 ngày trước khi xuất cảnh, chịu
trách nhiệm quản lý hồ sơ và chỉ được thu tiền dịch vụ và tiền môi giới sau khi ký
hợp đồng với NLĐ và NLĐ được phía nước ngoài chấp nhận vào làm việc hoặc cấp
visa… Trường hợp doanh nghiệp đơn phương thanh lý hợp đồng thì biên bản
thanh lý hợp đồng phải có các nội dung: lý do đơn phương thanh lý hợp đồng, việc
thực hiện nghĩa vụ của các bên, các khoản thanh toán giữa doanh nghiệp dịch vụ
và người lao động, các nội dung về bồi thường thiệt hại (nếu có) kèm theo chứng
từ chứng minh nội dung thiệt hại… Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày NLĐ xuất
cảnh, doanh nghiệp phải báo cáo danh sách NLĐ làm việc ở nước ngoài với Cơ
quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước sở tại. Doanh nghiệp có trách
nhiệm cử cán bộ quản lý tại các nước, khu vực doanh nghiệp đưa nhiều NLĐ sang
làm việc hoặc tại thị trường lao động đặc thù theo quy định. Đồng thời, theo dõi,
giám sát việc thực hiện Hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và NLĐ,
giải quyết kịp thời các phát sinh vượt quá khả năng tự giải quyết của NLĐ hoặc khi
NLĐ yêu cầu trợ giúp… Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng
Công báo.


       Thông tư số 23/2007/TT-BLĐTBXH ngày 23/10/2007 của Bộ trưởng Bộ
Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Hội
đồng trọng tài lao động. Theo đó, các thành viên trong Hội đồng trọng tài lao động
phải thực hiện việc tìm hiểu, nghiên cứu các vụ tranh chấp lao động để góp ý, đề
xuất phương án hoà giải, giải quyết; Dự các phiên hoà giải, giải quyết tranh chấp
lao động tại Hội đồng trọng tài lao động… Tối đa là 5 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động, Hội đồng trọng tài lao động phải
tổ chức phiên họp để giải quyết. Trường hợp một hoặc cả hai bên tranh chấp có
yêu cầu thay đổi thành viên của Hội đồng trọng tài lao động vì cho rằng thành viên
đó không đảm bảo tính khách quan, công bằng trong việc giải quyết tranh chấp thì
phải có đơn gửi Hội đồng trọng tài lao động ít nhất 3 ngày trước khi tiến hành phiên
họp. Việc thay thế thành viên trong từng phiên hoà giải và giải quyết tranh chấp lao
động tập thể do Chủ tịch Hội đồng trọng tài lao động quyết định. Thông tư này có
hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.



                                   Bộ Nội vụ
       Thông tư 08/2007/TT-BNV hướng dẫn thực hiện Nghị định số
107/2006/NĐ-CP ngày 01/10/2007 của của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định xử lý
trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham
nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách đối với các
đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước và các tổ chức xã hội, xã hội -
nghề nghiệp có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước. Theo đó, việc xử lý
kỷ luật người đứng đầu phải thực hiện theo nguyên tắc: Căn cứ vào sự phân công,


                                                                                221
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

phân cấp quản lý trong cơ quan, tổ chức, đơn vị để xác định mức độ chịu trách
nhiệm trực tiếp hoặc trách nhiệm liên đới ; Căn cứ vào mối quan hệ công tác giữa
trách nhiệm quản lý của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu với hành vi
tham nhũng của người dưới quyền. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, đơn vị được loại trừ trách nhiệm trong trường hợp họ không thể
biết hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi
tham nhũng… Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


                                  Bộ Tài chính
       Thông tư số 118/2007/TT-BTC ngày 02/10/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính hướng dẫn quản lý, sử dụng chi phí quản lý dự án đầu tư của các dự án
sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Theo đó, trường hợp được cấp có thẩm
quyền hỗ trợ kinh phí đột xuất cho Ban Quản lý dự án (BQLDA) theo mục tiêu hoặc
hỗ trợ thu nhập cho cán bộ quản lý dự án thì BQLDA được phép bổ sung nguồn
kinh phí để chi cho mục tiêu hoặc hỗ trợ thu nhập cho cán bộ theo quyết định của
cấp có thẩm quyền... Trong quá trình sử dụng, chủ đầu tư (BQLDA) được chủ động
điều chỉnh các khoản chi trong dự toán chi phí quản lý dự án (không phải điều chỉnh
bằng văn bản), nhưng không được vượt tổng giá trị dự toán chi phí quản lý dự án
đã được duyệt... Việc mua sắm và sử dụng phương tiện đi lại là xe ô tô phục vụ
công tác quản lý dự án (nếu có) phải lập dự toán riêng trình cấp có thẩm quyền
quyết định. Chủ đầu tư (BQLDA) không được cho thuê, cho mượn đối với tài sản
của dự án... Đối với các dự án không có chi phí xây dựng và thiết bị hoặc tổng chí
phí xây dựng và thiết bị nhỏ hơn 60% tổng mức đầu tư của dự án, định mức trích
kinh phí quản lý dự án xác định theo quy định của cấp quyết định đầu tư... Thông tư
này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng trên Công báo.

         Quyết định số 84/2007/QĐ-BTC ngày 17/10/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với hoạt động kinh
doanh trò chơi có thưởng. Theo đó, cơ sở kinh doanh trò chơi có thưởng thực
hiện nộp thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập doanh nghiệp
và các loại thuế khác theo quy định hiện hành (quy định này được áp dụng từ ngày
01/01/2008)… Các cơ sở kinh doanh chỉ được tiến hành mua sắm máy chơi trò
chơi có thưởng và tổ chức hoạt động kinh doanh khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu
tư hoặc Giấy đăng ký kinh doanh hoạt động kinh doanh; Đã hoàn thành các hạng
mục đầu tư chính được quy định tại Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu
tư hoặc Giấy đăng ký kinh doanh và hoàn thành các hạng mục của Điểm vui chơi
giải trí có thưởng; Đã xây dựng Thể lệ trò chơi có thưởng, trong đó quy định cụ thể
về quy mô, chủng loại máy chơi trò chơi có thưởng, hệ thống kiểm soát máy trò
chơi có thưởng, cách thức tổ chức của từng trò chơi, tỷ lệ và phương thức trả
thưởng, các loại hoá đơn chứng từ, các mẫu và giá trị của đồng tiền quy ước và vật
dụng để đựng đồng tiền quy ước… Về số lượng máy: đối với cơ sở lưu trú du lịch
từ 5 sao trở lên: tối đa 100 máy; 4 sao: 75 máy; 3 sao: 50 máy… Các máy trò chơi

222
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


có thưởng phải được nhà sản xuất hoặc một tổ chức độc lập có chức năng trong
việc kiểm định các loại máy trò chơi điện tử có thưởng kiểm định về chất lượng, các
chương trình cài đặt sẵn trong máy và các tính năng khác của máy… Quyết định
này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo.


       Quyết định số 85/2007/QĐ-BTC ngày 22/10/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính về việc sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng
xe ô tô chở người trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi. Quyết định này đã giảm
mức thuế suất thuế nhập khẩu đối với mặt hàng ô tô mới nguyên chiếc từ 70% hiện
nay giảm xuống còn 60%. Như vậy, tính đầu năm đến nay thuế suất với mặt hàng
này đã được điều chỉnh ba lần, giảm từ 90% xuống còn 60%... Đối với loại đã qua
sử dụng có các mức thuế là 5%, 7,5%, 10%, 15% và cũng có loại 150%... Quyết
định này sẽ có hiệu lực sau 15 ngày đăng Công báo.


       Quyết định số 86/2007/QĐ-BTC ngày 22/10/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính về việc qui định tạm thời mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với
một số mặt hàng trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi. Theo đó, các mặt hàng nằm
trong diện giảm thuế gồm sữa thành phẩm và nguyên liệu sữa dùng để chế biến…
Trong đó, sữa và kem chưa cô đặc, chưa pha thêm đường hoặc chất ngọt khác có
thuế nhập khẩu 5%, thay cho mức cũ 10%. Sữa và kem cô đặc hoặc đã pha thêm
đường hoặc chất ngọt khác, dạng bột và dạng khác có thuế suất 3%, thay cho mức
5 - 7% hiện hành… Một số loại sản phẩm sữa khác như Buttermilk (phụ phẩm thu
được từ quá trình làm bơ sữa), sữa đông và kem, sữa chua... cũng được hưởng
thuế suất mới 7%, mức cũ là 10 - 15%... Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày,
kể từ ngày đăng Công báo.
       Quyết định số 87/2007/QĐ-BTC ngày 22/10/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính về việc ban hành Quy chế đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng
khoán. Theo đó, việc chuyển quyền sở hữu đối với chứng khoán đăng ký tại
TTLKCK được thực hiện theo nguyên tắc sau: người sở hữu chứng khoán đã đăng
ký tại TTLKCK nhưng chưa lưu ký muốn thực hiện chuyển quyền sở hữu chứng
khoán phải lưu ký chứng khoán vào TTLKCK để giao dịch mua, bán qua SGDCK,
TTGDCK; TTLKCK thực hiện chuyển quyền sở hữu chứng khoán chưa lưu ký
không qua giao dịch chứng khoán tại SGDCK, TTGDCK trong các trường hợp sau:
Biếu, tặng, cho, thừa kế chứng khoán theo qui định; Giao dịch chứng khoán lô lẻ
theo qui định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán; Tổ chức
phát hành mua lại cổ phiếu ưu đãi của cán bộ, công nhân viên khi chấm dứt hợp
đồng lao động; Chia tách, sáp nhập, hợp nhất góp vốn bằng cổ phiếu thành lập
doanh nghiệp hoặc phân định lại cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp theo
quy định… Chỉ những người có tên trên sổ đăng ký người sở hữu do TTLKCK lập
vào ngày đăng ký cuối cùng mới được nhận các quyền phát sinh liên quan đến
chứng khoán… Thành viên của TTLKCK phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại
TTLKCK để thực hiện các giao dịch đối với chứng khoán lưu ký tại TTLKCK. Mỗi


                                                                               223
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

thành viên của TTLKCK chỉ được mở một tài khoản lưu ký chứng khoán tại
TTLKCK và không được mở tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký khác. Công ty
bảo hiểm 100% vốn nước ngoài phải mở hai tài khoản lưu ký chứng khoán tại một
thành viên lưu ký để quản lý tách biệt các khoản đầu tư từ nguồn vốn chủ sở hữu
và từ nguồn phí bảo hiểm khi thực hiện đầu tư trên thị trường chứng khoán. Quyết
định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


        Thông tư số 123/2007/TT-BTC ngày 23/10/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính hướng dẫn thực hiện chính sách thuế và ưu đãi thuế đối với các
chương trình, dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Theo
đó, chủ dự án ODA không hoàn lại, nhà thầu chính thực hiện dự án ODA không
hoàn lại không phải nộp thuế NK, thuế TTĐB (nếu có), thuế GTGT đối với hàng hoá
do Chủ dự án ODA, nhà thầu chính trực tiếp nhập khẩu hoặc uỷ thác nhập khẩu để
thực hiện dự án ODA. Chủ dự án ODA viện trợ không hoàn lại được hoàn lại số
thuế GTGT đã trả khi mua hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam nếu hợp đồng ký với nhà
thầu chính được phê duyệt bao gồm thuế GTGT và Chủ dự án không được Ngân
sách Nhà nước cấp vốn để trả thuế GTGT. Nhà thầu chính nước ngoài, nhà thầu
phụ nước ngoài được miễn thuế NK và không phải trả thuế GTGT đối với máy móc,
thiết bị, phương tiện vận tải nhập khẩu vào Việt Nam theo phương thức tạm nhập,
tái xuất để phục vụ thi công công trình của dự án ODA viện trợ không hoàn lại và
được miễn thuế XK khi tái xuất. Riêng đối với xe ôtô dưới 24 chỗ ngồi và xe ôtô có
thiết kế vừa chở người, vừa chở hàng tương đương xe ôtô dưới 24 chỗ ngồi không
áp dụng việc miễn thuế NK, thuế TTĐB theo hình thức tạm nhập, tái xuất. Các nhà
thầu chính nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài có nhu cầu nhập khẩu vào Việt
Nam để sử dụng phải nộp thuế NK, thuế TTĐB theo quy định. Khi hoàn thành việc
thi công công trình, dự án các nhà thầu chính nước ngoài, nhà thầu phụ nước
ngoài phải tái xuất ra nước ngoài số xe đã nhập và được hoàn lại thuế NK, thuế
TTĐB theo quy định... Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng
Công báo.


       Quyết định số 89/2007/QĐ-BTC ngày 24/10/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính về việc ban hành Quy chế lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán được chấp
thuận kiểm toán cho tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh
doanh chứng khoán. Theo đó, doanh nghiệp, tổ chức có kế hoạch phát hành
chứng khoán ra công chúng trong 3 năm tới thì phải thuê doanh nghiệp kiểm toán
được chấp thuận kiểm toán báo cáo tài chính của 2 năm trước năm phát hành...
Doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau:
có vốn điều lệ hoặc vốn chủ sở hữu từ 2 tỷ đồng trở lên đối với doanh nghiệp kiểm
toán trong nước và tối thiểu là 300.000 USD đối với doanh nghiệp kiểm toán có vốn
đầu tư nước ngoài; Có số lượng kiểm toán viên hành nghề từ 7 người trở lên và có
đủ các tiêu chuẩn theo quy định; Có số lượng khách hàng kiểm toán hàng năm tối
thiểu là 30 đơn vị trong 2 năm gần nhất... Doanh nghiệp kiểm toán đã được chấp


224
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


thuận không được thực hiện kiểm toán cho tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và
tổ chức kinh doanh chứng khoán trong các trường hợp sau: có quan hệ về kinh tế
như hùn vốn, liên doanh, góp vốn cổ phần… với tổ chức phát hành, tổ chức niêm
yết, tổ chức kinh doanh chứng khoán hoặc ngược lại; Có cùng một tổ chức hoặc cá
nhân sở hữu từ 5% vốn trở lên của mỗi bên; là khách hàng đang hưởng những
điều kiện ưu đãi của tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, tổ chức kinh doanh
chứng khoán được kiểm toán (như được cấp tín dụng với các điều kiện ưu đãi, bảo
lãnh không có bảo đảm…)... Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày
đăng Công báo.


                                   Bộ Tư pháp
       Quyết định số 09/2007/QĐ-BTP ngày 08/10/2007 của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 572/2004/QĐ-BTP về việc Ban
hành Chế độ Kế toán nghiệp vụ thi hành án. Theo đó, Chế độ kế toán nghiệp vụ
thi hành án áp dụng cho các đơn vị kế toán thi hành án gồm: Cục Thi hành án dân
sự, Bộ Tư pháp; Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thi
hành án dân sự quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Định kỳ hàng tháng, quý,
năm lập báo cáo đối chiếu chi tiết số thu - chi, nhập - xuất tiền và tài sản giữa sổ kế
toán với từng hồ sơ thi hành án của Chấp hành viên để có biện pháp xử lý kịp thời,
dứt điểm những tồn đọng hoặc chênh lệch phát sinh theo đúng quy định của pháp
luật. Kế toán trưởng đơn vị kế toán nghiệp vụ thi hành án giúp Trưởng Thi hành án
tổ chức, chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác tài chính, kế toán và thông tin tài chính
về thu, chi thi hành án tại đơn vị và thực hiện việc hướng dẫn, kiểm tra, giám sát
hoạt động kế toán, tài chính ở đơn vị cấp dưới. Quyết định có hiệu lực sau 15 ngày,
kể từ ngày đăng Công báo.


       Thông tư số 07/2007/TT-BTP ngày 09/10/2007 của Bộ trưởng Bộ Tư
pháp hướng dẫn về thông báo việc kê biên tài sản thi hành án và cung cấp
thông tin về tài sản kê biên tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của
Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp. Theo đó, người có
trách nhiệm thông báo về việc kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký chịu trách
nhiệm theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại của công chức trong
trường hợp thông báo về việc kê biên tài sản không đúng thẩm quyền, không đúng
thời hạn hoặc không đúng sự thật mà gây ra thiệt hại cho người thứ ba ngay tình
khi xác lập giao dịch có đối tượng là tài sản đã bị kê biên… Trong trường hợp Đăng
ký viên chứng nhận và cập nhật không chính xác các nội dung thông báo về việc kê
biên tài sản vào Hệ thống dữ liệu hoặc cung cấp thông tin không chính xác mà gây
ra thiệt hại, thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của viên chức… Đối với thi hành án cấp quân khu, thi hành án dân
sự tại các địa phương thuộc nông thôn, vùng sâu, vùng xa mà không thể thông báo
ngay về việc kê biên tài sản cho Trung tâm Đăng ký thì thời hạn này được tăng



                                                                                   225
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

thêm, nhưng không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định kê biên tài
sản… Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


                              Văn bản liên tịch
        Thông tư liên tịch số 117/2007/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 01/10/2007
giữa Bộ Tài chính và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn về
trách nhiệm đóng góp và chế độ trợ cấp đối với người nghiện ma tuý, người
bán dâm. Theo đó, người nghiện ma tuý, người bán dâm bị bắt buộc đưa vào
Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội và người nghiện ma tuý, người
bán dâm không có nơi cư trú nhất định vào lưu trú tạm thời tại Trung tâm được trợ
cấp các khoản sau: Tiền ăn: mức tối thiểu 240.000 đồng/người/tháng; thời gian cụ
thể như sau: đối với người nghiện ma tuý là 12 tháng đối với người bán dâm là 9
tháng. Thời gian chấp hành quyết định còn lại (nếu có) người bán dâm, người
nghiện ma tuý phải đóng tiền ăn theo quy định; Đối với người nghiện ma tuý, người
bán dâm bị nhiễm HIV/AIDS, không còn khả năng lao động; người bán dâm, người
nghiện ma tuý chưa thành niên được trợ cấp tiền ăn trong thời gian chấp hành
quyết định. Riêng đối với người nghiện ma tuý, người bán dâm không có nơi cư trú
nhất định vào lưu trú tạm thời tại Trung tâm được trợ cấp tiền ăn mức tối thiểu
8.000 đồng/người/ngày, thời gian tối đa không quá 15 ngày... Đối với người nghiện
ma tuý được trợ cấp thuốc hỗ trợ cắt cơn, cấp cứu, chi phí xét nghiệm và thuốc
điều trị các bệnh cơ hội khác: mức tối đa 400.000 đồng/người/lần chấp hành quyết
định. Đối với người bán dâm được trợ cấp thuốc điều trị các bệnh lây truyền qua
đường tình dục, thuốc chữa bệnh thông thường, xét nghiệm và các chi phí y tế
khác: mức tối đa 200.000 đồng/người/lần chấp hành quyết định. Trường hợp người
bán dâm đồng thời là người nghiện ma tuý thì được trợ cấp thuốc điều trị và thuốc
hỗ trợ cắt cơn nghiện: mức tối đa 550.000 đồng/người/lần... Thông tư liên tịch này
có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
                                            Nguồn: http://www.luatvietnam.com.vn




226
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



II. Nghiên cứu pháp luật kinh tế

      Cảnh báo lừa đảo tín dụng xuyên quốc gia
      Nắm bắt được nhu cầu vay vốn ngày càng tăng để thực hiện các dự án lớn
của các DN VN, nhiều tổ chức nước ngoài núp dưới danh nghĩa Cty đầu tư nước
ngoài vào VN thực hiện môi giới, chào cho vay các khoản vốn lớn với lãi suất rất
hấp dẫn rồi lừa đảo. Trung tâm thông tin tín dụng NHNN (CIC) vừa lên tiếng cảnh
báo về tình trạng này.
         Theo CIC, trong số các DN nước ngoài có dấu hiệu lừa đảo do CIC điều tra,
có Cty KSV Development Co.,Ltd đăng ký thành lập tại Sangkat Chomchao 76
National Rd 4, Phum Prey Svey Khan Dankor, Phnom Penh, Cambodia. Đại diện
của KSV đã sang VN mời chào Cty TNHH Xây dựng - Đầu tư - Xuất nhập khẩu Tấn
Quốc tế tham gia thực hiện một dự án xây dựng khu "The Five Star Healthy Island"
tại Campuchia với tổng số vốn đầu tư lên đến 250 triệu USD. Thủ đoạn của KSV là
đưa ra lãi suất vay rất hấp dẫn, đồng thời họ cũng đưa bản copy đã đặt cọc khoản
tiền 250 triệu USD tại Deutsche Bank - chi nhánh Switzerland cho người thụ hưởng
là Cty TNHH Xây dựng - Đầu tư - Xuất nhập khẩu Tấn Quốc tế. Để có thể nhận
được khoản tiền này, Cty Tấn Quốc tế phải đặt cọc trước cho KSV một khoản tiền
trị giá khoảng 3 triệu USD.
      Thông qua một số hãng thông tin quốc tế, CIC được biết Cty KSV
Development Co.,Ltd đăng ký thành lập vào tháng 5/2007 tại Campuchia do ông
Keo Sovann làm TGĐ. Mặc dù có đăng ký thành lập tại Campuchia nhưng Cty này
không hề có bất kỳ hoạt động kinh doanh nào tại nước sở tại. Hãng thông tin quốc
tế cũng đã khuyến cáo cần thận trọng với người đại diện của Cty. Về khoản tiền đặt
cọc 250 triệu USD tại Deutsche Bank chi nhánh Switzerland, CIC đã có công văn
đề nghị NH Deutsche Bank - chi nhánh tại TP HCM xác minh. Kết quả cho thấy:
"Giấy chứng nhận tiền đặt cọc 250 triệu USD" của Cty KSV là hoàn toàn giả mạo.
Deutsche Bank, chi nhánh Switzerland cũng khẳng định họ hoàn toàn không biết gì
đến Cty KSV Development Co.,Ltd.
      Ông Đỗ Hoàng Phong - Phó giám đốc CIC cho biết từ đầu năm đến nay, CIC
cung cấp 207 bản báo cáo về các Cty trên toàn thế giới cho các DN trong nước, trong
đó có 25 bản báo cáo (chiếm 12%) là các Cty đã ngừng hoạt động, không có hồ sơ
đăng ký thành lập hoặc không xác định được địa điểm của Cty. Có 132 bản báo cáo
(chiếm 64%) là các Cty có năng lực tài chính thấp, rủi ro trong kinh doanh cao.
       Ông Phong cho biết những DN như vậy thường đưa ra lời chào hấp dẫn về
khả năng tài chính, điều kiện lãi suất thấp, thời gian ân hạn dài, vốn cung ứng
nhiều, khả năng thực hiện hợp đồng tốt để mời chào DN VN. Cũng có nhiều trường
hợp DN nước ngoài có địa chỉ trụ sở khó có khả năng xác định. Khi DN VN thắc
mắc, họ thường giải thích lập DN ở đó để được ưu đãi thuế, điều kiện XNK.
       Để xác minh thông tin của một DN nào đó, CIC sẽ truy cập trực tiếp kho
thông tin tín dụng toàn cầu với số lượng hơn 100 triệu Cty, đồng thời trao đổi thông

                                                                                227
                               Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

tin với các hãng thông tin quốc tế có uy tín trên thế giới. Ông Phong nói: "Những
trường hợp Cty được yêu cầu xác định nằm trong kho thông tin rồi thì khoảng 1-2
ngày là CIC có câu trả lời, những trường hợp khác có thể lâu hơn tuỳ thuộc việc trả
lời điều tra của các hãng nước ngoài, thời gian trong vòng 1 -2 tuần. Những trường
hợp càng mất thời gian xác minh lâu càng dễ có vấn đề".
       Chi phí DN phải trả bao gồm cả cho phí dịch thông tin từ nước ngoài sang
tiếng Việt, phí truy cập kho dữ liệu, phí DN phải trả cho hãng cung cấp thông tin ở
nước ngoài... Chẳng hạn như trường hợp DN nhờ xác minh Cty KSV ở trên phí vào
khoảng 2,8 triệu đồng.
                                                                              Mai Phong
                                                                http://www.dddn.com.vn/



                     Tập đoàn kinh tế: Cần tính lại
        Có đến tám tập đoàn đã được thành lập cho đến nay, trong khi chủ trương
ban đầu là “việc thành lập tập đoàn kinh tế chỉ thực hiện thí điểm, sau khi tiến hành
tổng kết, rút kinh nghiệm mới xây dựng phương hướng triển khai đồng loạt”.
      Bên cạnh đó, một loạt tổng công ty nhà nước khác cũng đang “xin được lên
tập đoàn”. Ít nhất bốn tập đoàn, gồm tập đoàn thuốc lá và ba tập đoàn trong ngành
xây dựng đang trong giai đoạn xây dựng đề án.
      Nhưng báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế Quốc hội do Chủ nhiệm Hà Văn
Hiền đọc tại phiên khai mạc Quốc hội đầu tuần này nói rằng “cần phải sớm có tổng
kết đánh giá việc thành lập các tập đoàn kinh tế”, gián tiếp khẳng định rằng đây là
một vấn đề cần được xem xét một cách nghiêm túc.
       Điều gì đã khiến Quốc hội phải lo lắng? Một chuyên gia đang làm việc tại Bộ
Kế hoạch và Đầu tư cho biết thời gian gần đây, trong các hội nghị hay diễn đàn, liên
tục có những kiến nghị liên quan đến vấn đề này. Nhiều chuyên gia và nhà quản lý
có trách nhiệm đã nói rằng nếu không thận trọng, phong trào “tập đoàn hóa” sẽ đưa
đến những hệ lụy mới cho nền kinh tế. Một trong những vấn đề được mổ xẻ nhiều
nhất là tính hiệu quả của các tập đoàn khi mở rộng hoạt động ra những lĩnh vực
không phải sở trường.
      Trước kỳ họp Quốc hội, một hội thảo chuyên đề về tập đoàn kinh tế đã được
tổ chức tại Hà Nội mà ở đó các chuyên gia kinh tế đều lên tiếng bày tỏ sự lo ngại về
“phong trào tập đoàn” hiện nay.
      Trả lời báo chí, bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của
Thủ tướng Chính phủ, nói các tập đoàn có thể chọn lựa thêm nhiều lĩnh vực hoạt
động khác để chia sẻ rủi ro, tuy nhiên, về nguyên tắc, việc đa dạng hóa lĩnh vực
hoạt động phải nhằm hỗ trợ cho ngành nghề kinh doanh cốt lõi.
      Theo dõi tình hình hiện nay, bà Lan cho rằng khi các tập đoàn đi vào những
ngành không có thế mạnh, đang cạnh tranh quyết liệt thì chẳng có gì đảm bảo họ
sẽ thành công. Thứ hai, các tập đoàn sẽ sao nhãng việc đầu tư vào ngành cốt lõi,
những lĩnh vực này không được củng cố trong khi sức ép cạnh tranh tăng cao.


228
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


        Theo bà Lan, đã đến lúc “cần xem lại khi ra quyết định thành lập tập đoàn,
cần quy định họ phải dành bao nhiêu nguồn lực cho hoạt động kinh doanh cốt lõi,
tối thiểu cũng phải 80% vốn”.
      Nhưng, một sự trùng hợp ngẫu nhiên là ngay sau đó, đại diện các tập đoàn
đã ngồi lại cùng nhau trong một cuộc họp do Chính phủ tổ chức mà ở đó các đại
biểu đều bày tỏ sự lạc quan về tương lai phát triển của mô hình mới.
      Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam
(Vinashin), ông Phạm Thanh Bình cho biết mặc dù xác định các lĩnh vực chính vẫn
là đóng tàu và dịch vụ vận tải biển song trong giai đoạn trước mắt sẽ “nghiên cứu
đầu tư vào các lĩnh vực như năng lượng, xi măng, vận tải đa phương thức, công
nghiệp, hàng không, bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, bất động sản... để lấy
ngắn nuôi dài”.
       Thực tế, quan điểm “lấy ngắn nuôi dài” đã được hiện thực hóa qua nhiều kế
hoạch hoạt động mới đây, chẳng hạn như việc liên doanh thành lập một công ty
hàng không. Tình hình cũng đang diễn ra tương tự tại Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn
Dầu khí, Tập đoàn Than - Khoáng sản... Theo các báo cáo hoạt động của các tập
đoàn này mà chúng tôi có được, mọi thứ có vẻ như đang diễn ra một cách hết sức
tốt đẹp.
        Theo một số thông tin, Chính phủ dự kiến sẽ tổ chức một hội nghị đánh giá
lại việc tổ chức và hoạt động của tập đoàn kinh tế. Quan trọng nhất là sẽ đánh giá
rõ hiệu quả của việc các tập đoàn kinh tế nhà nước mở rộng đầu tư kinh doanh đa
ngành, đặc biệt là trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bất động
sản...
       Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay Chính phủ sẽ vẫn “khuyến khích doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác liên kết kinh tế với nhau để hình thành
những tổ hợp doanh nghiệp mạnh, làm tiền đề cho việc ra đời các tập đoàn kinh tế”.
Gần như chắc chắn, vấn đề tập đoàn sẽ tiếp tục là một chủ đề được thảo luận kỹ
trong thời gian tới.
                                                                  (Theo TBKTSG)




                                                                              229
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

         Cty CP Dịch vụ du lịch Đà Lạt (Dalat Toserco)
             tiến hành CP: Biến “voi” thành “chuột”?
       Cty CP Dịch vụ du lịch Đà Lạt (Dalat Toserco) tiến hành CP hóa từ năm
2005. Đây là một trong 2 Cty du lịch lớn nhất của Lâm Đồng quản lý khối tài sản
khổng lồ nhưng trong tiến trình CP hoá có nhiều sai phạm nghiêm trọng dẫn tới tình
trạng hàng trăm tỷ đồng của Nhà nước chẳng biết... đi đâu.
      Là một Cty du lịch quốc doanh hàng đầu tại Đà Lạt, Cty CP Dịch vụ du lịch
Đà Lạt (Dalat Toserco) quản lý một khối tài sản khổng lồ nhưng khi CPH thì tổng tài
sản này được định giá thấp đến... bất ngờ.
      Giá rẻ bất ngờ
        Khi CP hóa, Dalat Toserco đang quản lý 13 khách sạn lớn nằm ở những vị trí
đắc địa trong trung tâm thành phố Đà Lạt và TP HCM, như các khách sạn Anh Đào,
Cẩm Đô, Thanh Bình, Đà Lạt... và có 4 khu du lịch lớn (có 2 khu được xếp hạng
danh thắng cấp quốc gia là thác Prenn và thác Cam Ly), 1 trung tâm hướng dẫn du
lịch, 1 trung tâm lữ hành, 1 khu thương mại nằm ở vị trí “đất vàng” nhất ở Đà Lạt là
khu thương xá Latulip, 1 xí nghiệp vận chuyển với khoảng 100 đầu xe (gồm dàn xe
chất lượng cao 45 chỗ ngồi chạy tuyến Đà Lạt – TP HCM, tuyến Đà Lạt – Nha
Trang và dàn xe taxi mạnh nhất Đà Lạt lúc bấy giờ)...
        Với giá thị trường lúc bấy giờ, ai cũng biết nếu chuyển nhượng bình thường
thì tổng tài sản này có thể lên đến cả nghìn tỷ đồng. Thế nhưng, tổng giá trị tài sản
DN của Dalat Toserco khi chính thức chuyển sang cổ phẩn chỉ vẻn vẹn... 46 tỷ
đồng(?). Ở đây, còn một tài sản rất có giá trị khác là “thương hiệu Toserco” nổi
tiếng trong lĩnh vực du lịch cũng chẳng đáng là bao khi được người ta “định giá tài
sản”. Việc xác định giá trị tài sản đó, khiến giới kinh doanh “không tin được dù đó là
sự thật”. Còn dư luận ở Đà Lạt thì phản ứng khá gay gắt, vì nhiều người dân cho
rằng sẽ diễn ra một vụ “Ngọc Lan thứ 2” (vụ bán khách sạn 3 sao Ngọc Lan - một
tài sản của Nhà nước nằm ở vị trí đẹp nhất Đà Lạt với giá chỉ 3,5 tỷ đồng trước đó
vài năm).
       Tuy nhiên, đây mới là con số “vốn” chưa trừ nợ của DN này. Theo báo cáo
của Cty thì cũng vào thời điểm đó, số nợ của Cty với các đối tác, các ngân hàng...
gần bằng tổng tài sản được định giá. Do vậy, đến khi Cty Dịch vụ du lịch Đà Lạt
chính thức trở thành Cty CP Dịch vụ du lịch Đà Lạt thì vốn điều lệ của Cty này chỉ
có 11 tỷ đồng, trong đó vốn Nhà nước là 5,610 tỷ đồng (chiếm 51% và ông Nguyễn
Ngọc Chương - Giám đốc Cty Dịch vụ du lịch Đà Lạt được UBND tỉnh Lâm Đồng
chỉ định đại diện quản lý phần vốn Nhà nước trong Cty CP Dịch vụ du lịch Đà Lạt và
được bầu làm Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Cty.
      Vì đâu có chuyện này?
      Giá rẻ vì... “đất”, đó là câu trả lời khá “nhẹ nhàng” của một số người thuộc
các cơ quan chức năng ở tỉnh Lâm Đồng. Theo giải thích, do tỉnh chủ trương cho
thuê đất, chứ không giao đất, nên tài sản được định giá CP chỉ là tài sản trên đất.



230
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n


        Ở đây có một số vấn đề cần làm rõ. Trước tiên, đó là hệ thống khách sạn,
khu thương mại... của Dalat Toserco đều nằm ở những “vị trí vàng” trong kinh
doanh ở Đà Lạt và TP HCM. Giá chuyển nhượng cũng như giá cho thuê đất tại
những vị trí này chỉ có những “đại gia” mới dám nhìn. Vì vậy, việc “chỉ tính tài sản
trên đất” là một ưu đãi quá lớn đối với Dalat Toserco. Nếu giao đất thì Nhà nước có
thể thu được hàng trăm tỷ đồng từ những “khu đất vàng” này để đầu tư phát triển
kinh tế địa phương, thay vì mỗi năm chỉ thu ít tiền lẻ từ việc cho thuê đất. Ở đây,
tỉnh cũng nên làm rõ lại việc xác định giá cho thuê đất ở những khu đất vàng này.
Lãnh đạo cơ quan Thanh tra tỉnh Lâm Đồng còn cho biết: có một nguyên nhân
khác, đó là do tỉnh Lâm Đồng đồng ý cho định giá tài sản kinh doanh (khách sạn)
theo giá bán nhà ở thông thường (thuộc quyền sở hữu nhà nước), nên cũng làm
cho giá hệ thống khách sạn của Dalat Toserco giảm rất nhiều. Cùng đó, việc định
giá tài sản là dàn xe ô tô của xí nghiệp vận chuyển cũng “có vấn đề”, như không lập
hồ sơ chi tiết đánh giá chất lượng... Ở đây, nhiều người đặt câu hỏi “Cty kiểm toán
A & C chịu trách nhiệm đến đâu trong việc định giá tài sản cho các khách sạn, xe...
của Dalat Toserco với giá như trên”?
                                                                      Phan Văn Đông
                                                           http://www.dddn.com.vn/



                         DN thắng kiện Hải quan
       TAND TP Đà Nẵng vừa xét xử sơ thẩm dân sự vụ án Cty TNHH Vạn An khởi
kiện Cục Hải quan Đà Nẵng về quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết
định giải quyết khiếu nại của Cục Hải quan TP Đà Nẵng gây thiệt hại về kinh tế cho
Cty Vạn An. Sau khi xem xét chứng cứ, lời khai của hai bên đương sự cũng như hồ
sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã tuyên án thắng kiện thuộc về Cty TNHH Vạn An.
       Sự việc bắt đầu ngày 14/1/2007. Ngày 28/1/2007, Cty TNHH Vạn An (có văn
phòng tại số 8 Ngô Gia Tự, TP Đà Nẵng) đã ký hợp đồng kinh tế mua của lâm
trường Bến Hải (LT Bến Hải) tỉnh Quảng Trị số lượng gỗ Huê mộc vàng gồm: 5,741
m3 và 97,76 ste, ước tính là 60.096 kg. Nguồn gốc lô hàng trên do LT Bến Hải
nhập từ Lào về và hoàn toàn chịu trách nhiệm về hoá đơn, chứng từ. Sau đó đại
diện Cty Vạn An đã đến Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng khu vực II (Cục
Hải quan Đà Nẵng) để mở Tờ khai xuất khẩu toàn bộ lô hàng cùng chứng từ đã
mua của LT Bến Hải. Tuy nhiên, khi lực lượng Hải quan tại đây kiểm tra số lượng
hàng bằng kg thì số hàng có trọng lượng là 80.912 kg. Hải quan Đà Nẵng đã ra
quyết định tạm giữ tang vật vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với số hàng
nói trên.
      Ngày 21/6/2007, Cty Vạn An đã có đơn khiếu nại thì Hải quan Đà Nẵng ra
tiếp Quyết định giải quyết khiếu nại vào ngày 8/8/2007 với nội dung: xử phạt hành
chính đối với Cty Vạn An số tiền 15 triệu đồng, tịch thu tang vật vi phạm gồm
20.922 kg gỗ Huê mộc vàng (trước đó Hải quan Đà Nẵng đã trả lại cho Cty Vạn An
gần 60.000 kg gỗ Huê mộc vàng). Sau khi xem xét lời khai của các đương sự,
chứng cứ có trong hồ sơ, hội đồng xét xử nhận thấy: số gỗ Huê mộc vàng mà Cty

                                                                                231
                              Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

Vạn An mua của LT Bến Hải (5,741 m3 và 97,76 ste) vì lúc mua không có cân
chuyên dụng nên chỉ ước trọng lượng, khi về làm thủ tục XK tại Hải quan Đà Nẵng
thì số lượng m3 cũng như ste đều trùng khớp. Tuy nhiên Hải quan Đà Nẵng chỉ
thực hiện tính kg rồi tạm giữ hàng mà không tính m3 và ste là chưa thoả đáng. Căn
cứ theo Quy định về kiểm tra, kiểm soát lâm sản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn thì khối lượng 1 ste quy đổi bằng 0,5 m3 đến 0,7m3. Sau khi quy đổi
toàn bộ số gỗ có trọng lượng 80.921 kg. Con số này không chênh lệch nhiều so với
con số trước đó hải quan đã cân và tính theo kg. Bên cạnh đó, khi lực lượng chức
năng thành phố vào cuộc đã không chứng minh được Cty Vạn An có biểu hiện vi
phạm hình sự... Chính vì vậy, Hội đồng xét xử đã ra bản án: Huỷ bỏ Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính và Quyết định giải quyết khiếu nại của Cục Hải quan Đà
Nẵng. Cục Hải quan Đà Nẵng phải trả lại cho Cty Vạn An 15 triệu đồng tiền xử phạt
và 20.922 kg gỗ Huê mộc vàng trước đó đã ra quyết định tịch thu.
                                                                       Nguyễn Sơn
                                                           http://www.dddn.com.vn/




232
Tr-êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n



                Chuyªn môc 9: Nghiªn cøu kinh tÕ
                               GIẢI NOBEL KINH TẾ NĂM 20071
       Giải Nobel Kinh tế năm 2007 vừa được Hàn lâm viện Khoa học Thuỵ Điển trao tặng cho ba
giáo sư người Mỹ: Leonid Hurwicz (90 tuổi, gốc Nga, giáo sư Đại học Minnesota), Eric Maskin (56
tuổi, hiện là thành viên của Viện Nghiên cứu Tiên tiến ở Princeton, bang New Jersey), và Roger
Myerson (56 tuổi, giáo sư Đại học Chicago). Ba ông được tuyên dương do những đóng góp vào “lý
thuyết thiết kế cơ chế” (mechanism design theory). Nghe tin này, nhiều đồng nghiệp của các ông đã
nói đùa: Nobel kinh tế năm nay sẽ khiến đông đảo nhà báo nhức đầu, vì có mấy ai giải thích được
cái thuyết này cho công chúng?

          ■ Vậy, “lý thuyết thiết kế cơ chế” là gì?
     Nhớ lại rằng theo Adam Smith thì thị trường sẽ đem người mua và người bán lại
với nhau. Vô số người bán sẽ gặp vô số người mua, “bàn tay vô hình” sẽ “hướng dẫn”
mọi giao dịch, người bán sẽ bán hàng của họ ở giá cao nhất mà người mua chấp
thuận, ai nấy đều thoả mãn, tài nguyên sẽ được phân bố một cách hữu hiệu nhất.
      Nhưng... thực tế hầu như chẳng bao giờ được như thế. Đành rằng thị trường
rất là hữu hiệu, song chúng chỉ vận hành tối hảo trong những điều kiện vô cùng
khắt khe mà thực tế ít khi (nếu có khi nào !) hội đủ. Chẳng hạn như: người mua và
người bán lắm lúc không tìm ra nhau, hoặc một người mua tìm cách đầu cơ, hoặc
người bán chính là nhà nước (mà mục tiêu không (chỉ) là lợi nhuận), v.v. Rồi, nếu
thông tin mà người mua hoặc người bán là “riêng tư” (nghĩa là chỉ người ấy biết, ví
dụ như chất lượng của món hàng, hoặc mức giá tối đa mà họ có thể chấp nhận
(nếu là người mua) hoặc tối thiểu (nếu là người bán)), thì thị trường có thể “thất
bại”, thậm chí buôn bán không thể xảy ra.
     Ví dụ: công ty nọ có thể nói rằng họ chỉ chấp thuận cung cấp một dịch vụ với
giá $200, trong lúc mà thật sự họ có thể đủ lợi nhuận với giá $150. Một công ty
khác có thể nói rằng họ chỉ chịu mua dịch vụ ấy với giá $100, dù (trong thâm tâm,
không nói ra) họ sẵn sàng trả đến $170. Hiển nhiên, hai công ty này có thể mua bán
với nhau nếu giá dịch vụ ấy rơi vào khoảng từ $150 đến $170, nhưng sự buôn bán
này có thể không xảy ra bởi lẽ cả hai đều có động lực giữ kín cái “thế” của họ.
     Thuyết “thiết kế cơ chế” bắt nguồn từ câu hỏi: cơ chế nào là tốt nhất (đối với
một chủ thể nhất định, có thể là nhà nước, có thể là công ty, hay bất kỳ một tổ chức
nào khác) để phân bố hàng hoá và dịch vụ khi mà mọi người đều (a) có những
“thông tin riêng tư”, và (b) hành xử theo tư lợi của mình.
     Cần nói rõ là chữ “cơ chế” (mechanism), ít ra vào giai đoạn đầu của dòng lý
thuyết này, là do Hurwicz dùng trong một nghĩa cực kỳ chuyên môn. “Cơ chế”, ông
định nghĩa, là “một trò chơi trong đó các „tay chơi‟ gửi „thông điệp‟ cho nhau hoặc/và
đến một „trung tâm thông điệp‟, và có một quy luật định trước để ghép một hậu quả

1
    Mọi thông tin chi tiết về giải Nobel Kinh tế năm 2007 có thể truy cập theo địa chỉ   http://nobelprize.org

                                                                                                                 233
                                Th«ng tin kinh tÕ – x· héi

nhất định (tỷ như một cách phân bố hàng hoá và dịch vụ) đến mỗi tập hợp thông
điệp nhận được” . Đấu giá, chẳng hạn, là một “cơ chế” theo nghĩa này.
     Dù có tên khá “tối tăm” như vậy, “lý thuyết thiết kế cơ chế” đi vào trung tâm bài
toán căn bản nhất của kinh tế học: Làm sao “sắp xếp” những định chế, những luật
chơi kinh tế để, khi mỗi người cư xử thuần vì tư lợi, kết quả sẽ tối hảo (theo một
nghĩa nhất định) cho mọi người liên hệ. Trong kinh tế học hiện đại, danh từ “cơ chế”
thường được dùng một cách “thoáng” hơn trong nghĩa chuẩn xác nguyên thuỷ của
Hurwicz. Nó có thể ám chỉ mọi thể chế và “luật chơi” chi phối các sinh hoạt kinh tế,
từ Bộ Kế hoạch trong một nền kinh tế chỉ huy, đến tổ chức nội bộ một công ty, đến
buôn bán trên thị trường, v.v.
      ■ Công trình của Hurwicz, Maskin và Myerson
      Năm 1972, Leonid Hurwicz đưa vào khoa học kinh tế một ý niệm quan trọng,
đó là “sự tương thích động lực” (incentive compatibility). Theo định nghĩa của ông,
một tiến trình sẽ có tính “tương thích động lực” khi tất cả những người tham dự tiến
trình ấy đạt được mức thoả mãn cao nhất nếu họ thành thực tiết lộ những thông tin
tư riêng của họ. Ý niệm này, và nhất là cách nó được “toán hoá” một cách giản dị
và cực kỳ “trang nhã” trong tay Hurwicz, là nền móng của toàn bộ lý thuyết thiết kế
cơ chế.
      Định vị thuyết này trong dòng tiến hoá của tư tưởng kinh tế thì có thể nói rằng
Hurwicz (một người gốc Nga, sinh đúng vào năm 1917 của cách mạng Tháng Mười
!) bị ảnh hưởng của Friedrich Hayek (Nobel 1974) lẫn đối thủ của Hayek là Oskar
Lange về tính khả thi của kế hoạch hoá tập trung. (Nhắc lại: Oskar Lange lý luận
rằng những công cụ thị trường có thể được dùng trong kế hoạch hoá tập trung, còn
Hayek thì cho rằng việc ấy là ảo tưởng, vì kế hoạch hoá kiểu đó sẽ cần một số
lượng thông tin khổng lồ – hầu như vô tận – và, hơn nữa, thông tin, chính chúng, sẽ
tiêu tốn tài nguyên). Thật vậy, có thể xem công trình của Hurwicz như tiếp nối nỗ
lực của Hayek để chứng minh rằng thị trường là hữu hiệu (theo một nghĩa nhất
định) hơn kế hoạch nhà nước trong mục tiêu phân bố nguồn lực kinh tế.
      Nhưng Hurwicz đi xa hơn Hayek, bởi vì theo ông thì thị trường cũng không thể
hoàn hảo. Theo Hurwicz, nhược điểm căn bản,“chết người”, của kinh tế kế hoạch
không chỉ là sự vô cùng phức tạp của nền kinh tế (mà không một “trung ương” nào
có đầy đủ và kịp thời mọi thông tin), song kế hoạch hoá quy mô là một ảo tưởng vì
con người nhận được những khuyến khích “sai” (đối với mục tiêu của kế hoạch), và
vì sinh hoạt kinh tế là đầy dẫy những sự “bất đối xứng thông tin” (cụm từ mà thế hệ
kinh tế gia sau Hurwicz sẽ phổ cập hoá), nói nôm na là người này biết nhiều hơn
người kia về mặt nào đó của giao dịch, và không muốn tiết lộ thông tin ấy cho đối
tác. Thị trường tự do, tuy hữu hiệu hơn kế hoạch hoá về nhiều mặt, vẫn còn nhiều
hụt hẫng do những vấn đề về thông tin và động lực bất tương thích như thế. Thuyết
thiết kế cơ chế của ông là nhằm phân tích các hụt hẫng này, và đưa ra một số tiêu
chuẩn để thiết lập và thẩm định những thể chế có khả năng bổ sung thị trường.
Nhờ Hurwicz, các lý thuyết g