NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP SUY NGHĨ
Shared by: lekien99
-
Stats
- views:
- 643
- posted:
- 6/15/2008
- language:
- Vietnamese
- pages:
- 275
Document Sample


VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
NGHIÊN CỨU PHƢƠNG PHÁP SUY NGHĨ
- Nghiên cứu : Phƣơng pháp suy nghĩ
- Các ứng dụng của nghiên cứu.
- Các định nghĩa về nghiên cứu.
- Các đặc điểm của công tác nghiên cứu.
- Các kiểu nghiên cứu.
Nghiên cứu ứng dụng.
Nghiên cứu theo mục tiêu.
Nghiên cứu theo loại thông tin tìm kiếm.
- Các cơ chế của nghiên cứu.
- Tóm tắt chƣơng.
Nghiên cứu: phƣơng pháp suy nghĩ
Nghiên cứu đƣợc thực hiện trong hầu hết các chuyên ngành. Không chỉ là tập
hợp các kỹ năng, nghiên cứu còn là một cách, một phƣơng pháp suy nghĩ: khảo xét
nghiêm túc các khía cạnh khác nhau của chuyên ngành; tìm hiểu và xây dựng các
nguyên lý hƣớng dẫn để các nguyên lý hƣớng dẫn để vận hành những thủ tục nhất
định; phát triển và kiểm thử các lý thuyết mới nhằm mở rộng chuyên ngành. Để tạo
ra các thay đổi hƣớng dẫn việc nâng cao, mở rộng chuyên ngành, cách ứng xử
thƣờng gặp là chất vấn, điều tra những gì đã đƣợc thực hiện và tìm câu trả lời ở
những xem xét thực nghiệm. Có thể lấy thí dụ ở vài chuyên ngành.
Giả thuyết chúng ta làm việc ở lĩnh vực y tế. Dù làm việc ở đâu và với vị trí
và cƣơng vị gì, ta vẫn phải nghĩ đến các câu hỏi sau đây – và danh sách các câu
hỏi còn có thể dài hơn nữa:
- Mỗi ngày, ta tiếp xúc với bao nhiêu bệnh nhân?
- Điều kiện hoàn cảnh chung nhất của các bệnh nhân là gì?
- Nguồn gốc của các điều kiện hoàn cảnh nêu trên là những gì?
- Tại sao có một số ngƣời có những điều kiện rất đặc thù trong khi những
ngƣời khác lại không có?
1
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Nhu cầu y tế của cộng đồng là những gì?
- Tại sao một số ngƣời dùng đến dịch vụ y tế còn những ngƣời khác lại
không?
- Ngƣời ta nghĩ gì về dịch vụ y tế?
- Bệnh nhân đƣợc thoả mãn ra sao về các dịch vụ y tế?
- Dịch vụ có đáp ứng đƣợc mục tiêu hay không?
- Dịch vụ có thể đƣợc cải tiến ra sao?
Tuỳ vào vị trí công việc, có những lúc ta có thể bỏ qua những câu hỏi đó,
hoặc có những lúc tự ta nỗ lực đi tìm các câu trả lời hoặc có khi ta đƣợc yêu cầu -
buộc phải tìm ra các câu trả lời - nhằm phục vụ công tác hoạch định và quản lý
công việc tốt hơn.
Lấy thí dụ ở ngành khác - nghiên cứu kinh doanh – và ta đang làm việc ở bộ
phận tiếp thị với các vị trí công tác khác nhau. Các câu hỏi có thể ta sẽ gặp phải là:
- Khối lƣợng cao nhất một sản phẩm bán đƣợc hàng tháng là bao nhiêu?
- Kế hoạch chiến lƣợc về nghiên cứu và phát triển ra sao để giành đƣợc thị
phần sản phẩm lớn hơn?
- Chiến lƣợc tốt nhất để nâng cao khối lƣợng bán sản phẩm?
- Cần bao nhiêu nhân viên bán hàng?
- Hiệu ứng của bán sản phẩm theo kết quả của chiến dịch tiếp thị tƣơng ứng?
- Ngƣời tiêu thụ thoả mãn ra sao với sản phẩm?
- Ngƣời tiêu thụ dự trù bỏ ra bao nhiêu tiền để tiêu dùng món hàng?
- Ngƣời tiêu dùng có thích sản phẩm hay không?
- Khách hàng thích loại bao bì đóng gói nào hơn?
- Để bán đƣợc nhiều hơn, nhân viên cần đƣợc huấn luyện những gì?
- Nhân viên bán hàng tốt cần có những tổ chức gì?
Thí dụ khác là về lĩnh vực tâm lý hay xã hội học. Trong các tình huống tƣ
vấn, có thể có các câu hỏi sau:
- Những vấn đề thƣờng xuyên gặp nhất của khách hàng là những gì?
2
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Những vấn đề cốt lõi/nền tảng thông dụng nhất của khách hàng là những gì?
- Cơ sở kinh tế - xã hội của khách hàng?
- Tại sao có thể thành công trong một số trƣờng hợp và thất bại trong một số
trƣờng hợp khác?
- Để hỗ trợ khách hàng về một nhu cầu nhất định nào đó, có những nguồn
lực nào sẵn có trong cộng đồng?
- Những chiến lƣợc can thiệp nào là thích hợp cho vấn đề này?
- Khách hàng thoả mãn ra sao với dịch vụ do mình cung ứng?
Còn trong các bối cảnh quản lý, lại là các câu hỏi sau:
- Bao nhiêu ngƣời đã đến đơn vị của mình?
- Những đặc điểm về nhân khẩu – kinh tế - xã hội của các khách hàng?
- Mỗi ngày, một nhân viên có thể xử lý bao nhiêu trƣờng hợp?
- Tại sao một số ngƣời dùng dịch vụ tƣ vấn còn số khác thì không?
- Dịch vụ đạt đƣợc kết quả ra sao?
- Nhu cầu thông dụng nhất của khách hàng của đơn vị mình là những gì?
- Điểm mạnh và điểm yếu của dịch vụ?
- Khách hàng thoả mãn với dịch vụ ra sao?
- Có thể cải tiến dịch vụ nhƣ thế nào?
Còn ở vai trò một chuyên gia, các câu hỏi mang tính lý thuyết sau đây lại
đƣợc nêu ra:
- Can thiệp hiệu dụng nhất của một bài toán cụ thể là gì?
- X có nguyên nhân là gì hay Y có kết quả là gì?
- Quan hệ giữa hai hiện tƣợng là gì?
- Có thể đo lƣờng sự tự đánh giá của khách hàng ra sao?
- Có thể khẳng định tính xác thực của các bảng câu hỏi?
- Mẫu lựa chọn chƣơng trình của cộng dồng có dạng gì?
- Cách tốt nhất để tìm ra thái độ của cộng đồng trƣớc một vấn đề là gì?
- Cách tốt nhất để tìm ra tính kiến hiệu của một giải pháp cụ thể là gì?
3
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Có thể chọn đƣợc một mẫu thống kê không thiên lệch ra sao?
Còn với vị trí của ngƣời tiêu thụ, có thể có các câu hỏi dƣới đây. Lƣu ý –
trong kỷ niệm của ngƣời tiêu thụ, ta không thể bỏ qua yếu tố khách hàng - ngƣời
tiêu thụ của dịch vụ cung ứng. Khách hàng có quyền chất vấn về chất lƣợng và
kết quả của dịch vụ còn ngƣời cung cấp dịch vụ phải có trách nhiệm trả lời tƣơng
ứng:
- Dịch vụ yêu cầu có kết quả là gì?
- Ngƣời mua có đƣợc lợi (về tiền bạc) hay không khi mua dịch vụ?
- Các nhà cung cấp đƣợc huấn luyện chuyên nghiệp đến mức nào?
Hầu hết các lĩnh vực xã hội – nhân văn đều gặp phải các câu hỏi nêu trên.
Các ứng dụng của nghiên cứu
Nhƣ chúng ta vừa lƣớt qua, các câu hỏi đặt ra cho mọi chuyên ngành đều có
thể đƣợc xem xét từ các góc độ sau:
- Ngƣời cung ứng dịch vụ
- Ngƣời tiêu thụ dịch vụ
- Ngƣời quản lý dịch vụ
- Chuyên gia của ngành.
Các quan điểm đó đƣợc tổng kết trên hình 1.1. Mặc dù không thể liệt kê hết
các vấn đề của mọi lĩnh vực nhƣng khung cơ sở trên hình 1.1 có thể dùng đƣợc
cho hầu hết các ngành và cho hầu hết tình huống của khoa học xã hội và nhân văn
để nhận diện các vấn đề có thể có trong lĩnh vực chuyên biệt của ngƣời đọc, theo
cả bốn góc nhìn nêu trên.
4
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
ỨNG DỤNG CỦA NGHI ÊN CỨU
theo các quan điểm của
Nhà cung cấp Nhà hoạch Ngƣời tiêu Chuyên gia
dịch vụ định/quản lý thụ/khách hàng ngành
- Bao nhiêu - Nhu cầu của - Có lợi kinh tế - Can thiệp kiến
ngƣời đang dùng cộng đồng là gì? nào không? hiệu nhất cho
dịch vụ/sản - Các kiểu dịch - Các nhà cung vấn đề là gì?
phẩm? vụ/sản phẩm mà cấp dịch vụ tốt - Quan hệ giữa
- Tại sao một số cộng đồng cần? ra sao? X và Y là gì?
ngƣời dùng dịch - Cần bao nhiêu - Hiệu ứng dài - Lý thuyết nhất
vụ/sản phẩm nhà cung cấp hạn của sản định trong điều
trong khi những dịch vụ? phẩm đang kiện hiện tại hợp
ngƣời khác - Nhu cầu huấn dùng? Bằng lệ nhƣ thế nào?
không dùng? luyện nhân viên chứng ở đâu? - Cách tốt nhất
- Dịch vụ sản gồm những gì? để đo lƣờng
phẩm có ích ra - Trong 1 ngày 1 đƣợc thái độ.
sao? nhânviên có thể - Quá trình qua
- Dịch vụ sản xử lý bao nhiêu đó ngƣời ta
phẩm có thể trƣờng hợp? quyết định chọn
đƣợc cải tiến ra - Kết quả của chƣơng trình là
sao? nhân viên dƣợc gì?
- Loại ngƣời nào đánh giá ra sao?
dùng không - Bằng cách nào
dùng dịch vụ/sản để dịch vụ/sản
phẩm? phẩm có thể phổ
- Ngƣời dùng dung hơn?
thoả mãn ra sao
với dịch vụ/sản
phẩm?
- Các vấn đề về
dịch vụ/ sản
phẩm?
Hình 1.1. Các ứng dụng của nghiên cứu
Các định nghĩa về nghiên cứu
Có một vài cách trả lời các câu hỏi vừa nêu trên. Các phƣơng pháp trả lời
thay đổi từ tính tƣơng đối phi hình thức dựa vào các kết quả “lâm sàng” trực tiếp
5
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
đến tính khoa học chặt chẽ gắn với các diễn đạt quy ƣớc của các thủ tục khoa học.
Nghiên cứu là một trong những phƣơng pháp đó.
Khi nói – đang tiến hành một nghiên cứu để tìm ra trả lời cho một bài toán
nào đó, thì ta đang hàm ý quá trình có các đặc điểm sau:
1. Diễn ra trong khuôn khổ của tập hợp các triết niệm.
2. Dùng đến các phƣơng pháp, thủ tục và kỹ thuật đã đƣợc kiểm nhận về tính
xác thực và độ tin cậy.
3. Đƣợc thiết kế một cách khách quan và không thiên lệch.
Ở đây, định hƣớng mang tính triết lý xuất phát từ một trong hai cơ chế của
nghiên cứu - chủ thuyết tích cực và chủ thuyết tự nhiên – và xuất phát từ chuyên
ngành đang xét.
Khái niệm về tính xác thực đƣợc áp dụng vào bất kỳ khía cạnh nào của quá
trình nghiên cứu - điều này đảm bảo rằng trong việc nghiên cứu ta đã áp dụng các
thủ tục đúng đắn. Còn tính tin cậy nói lên chất lƣợng của thủ tục đo lƣờng. Tính
khách quan và không thiên lệch nghĩa là ta đã tiến hành các bƣớc nghiên cứu và
rút ra các kết luận theo khả năng cao nhất của mình mà không có các lợi ích cá
nhân. Cần phân biệt giữa tính thiên lệch và tính chủ quan. Chủ quan là một cấu
thành trong cách suy nghĩ của một ngƣời - xuất phát từ căn bản học vấn, ngành
nghề, quan niệm, kinh nghiệm và kỹ năng của ngƣời đó. Trái lại, thiên lệch là
một cố gắng rõ rệt để che giấu hay nhấn mạnh môt việc gì. Thí dụ, nhà tâm lý
xem xét thông tin theo cách hoàn toàn khác với nhà nhân chủng hay nhà sử học.
Sở hữu ba đặc tính trên sẽ cho phép quá trình đƣợc mang tên là quá trình
nghiên cứu. Do vậy, khi nói rằng ta đang thực hiện một công việc nghiên cứu,
hàm ý rằng phƣơng pháp mà ta chọn phải hội đủ các đặc tính mong đợi vừa nêu.
Tuy nhiên, mức độ thoả mãn các đặc tính tiêu chuẩn đó thay đổi theo từng
ngành và vì vậy, ý nghĩa của từ “nghiên cứu” cũng thay đổi theo ngành. Thí dụ,
quá trình nghiên cứu trong khoa học xã hội và khoa học tự nhiên sẽ khác biệt
đáng kể. Trong khoa học tự nhiên, nỗ lực nghiên cứu đƣợc chờ đón là sẽ bị điều
6
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
khiển chặt chẽ ở mỗi bƣớc tiến hành, trong khi đó ở khoa học xã hội, sự kiểm soát
nghiêm ngặt không thể áp đặt đƣợc và đôi khi, cũng không yêu cầu.
Ngay cả trong khoa học xã hội, mức độ yêu cầu kiểm soát cũng thay đổi
đáng kể theo từng lĩnh vực vì các nhà khoa học xã hội có yêu cầu khác nhau về
quá trình nghiên cứu sở hữu ba đặc tính mong đợi nêu trên. Nhƣng dù có khác
biệt giữa các ngành, tiếp cận chung về công cuộc tìm hiểu vẫn là giống nhau. Mô
hình nghiên cứu trong sách này sẽ đƣợc đặt cơ sở trên quan điểm đó.
Ngƣời mới làm quen trong lĩnh vực nghiên cứu cần hiểu rằng nghiên cứu
không phải là những gì về kỹ thuật, có tính phức tạp, thống kê hay máy tính. Một
mặt, nghiên cứu có thể chỉ là hoạt động đơn giản để trả lời đƣợc các câu hỏi liên
đới đến những công việc hàng ngày. Mặt khác, nghiên cứu có thể liên quan đến
việc xây dựng các lý thuyết hay các quy luật phức tạp - chẳng hạn điều khiển sự
sống. Nhƣ đã nói trên, khác biệt giữa hoạt dộng nghiên cứu và hoạt động không
có tính nghiên cứu là ở cách thức tìm ra câu trả lời – quá trình tƣơng ứng phải đáp
ứng đƣợc một số yêu cầu nhất định mới đƣợc gọi là quá trình nghiên cứu. Để
nhận diện các yêu cầu này, xin khảo xét vài định nghĩa về nghiên cứu sau đây.
Nghiên cứu là một hoạt động điều tra và tìm hiểu lâu dài, có tính hệ thống và
kỹ lƣỡng trong một lĩnh vực kiến thức nào đó nhằm thiết lập các sự kiện hay
nguyên lý (Grinnell – 1993).
Cách khác, cũng theo Grinnell (1993):
Nghiên cứu là việc chất vấn có cấu trúc dùng phƣơng pháp (luận) khoa học
chấp nhận đƣợc để giải quyết vấn đề và tạo sinh kiến thức mới có thể áp dụng
đƣợc một cách tổng quát.
Con Lundberg (1942) chỉ ra sự khác biệt giữa quá trình nghiên cứu xã hội -
đƣợc coi là có tính khoa học - với quá trình ta dùng trong cuộc sống hàng ngày.
Các phƣơng pháp khoa học gồm việc quan sát, phân loại và diễn giải dữ liệu
một cách có hệ thống. Rõ ràng là, giờ đây, quá trình này đã đƣợc hầu hết mọi
ngƣời dùng vào cuộc sống thƣờng nhật. Sự khác biệt chính yếu giữa các tổng quát
7
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
hoá thƣờng nhật với các kết luận thƣờng đƣợc công nhận là có (phƣơng pháp)
khoa học nằm ở mức độ hình thức, chặt chẽ, dễ kiểm chứng và xác thực tổng
quát.
Burns (1994) định nghĩa - nghiên cứu là cuộc điều tra có tính hệ thống để
giải quyết một vấn dề.
Theo Kerlinger (1986), nghiên cứu khoa học là việc điều tra nghiêm túc,
thực nghiệm có kiểm soát và mang tính hệ thống của các luận đề về các mối quan
hệ đƣợc giả định của các hiện tƣợng khác nhau.
Còn Bulmer (1977) cho rằng – nghiên cứu xã hội học, là một nghiên cứu, cơ
bản gắn với việc thiết lập những kiến thức hợp lệ, tin cậy và hệ thống về thế giới
xã hội.
Các đặc điểm của nghiên cứu
Từ các định nghĩa trên, rõ ràng nghiên cứu là một quá trình thu thập, phân
tích và diễn giải thông tin để trả lời các câu hỏi. Nhƣng để trở nên có tính nghiên
cứu, quá trình đó phải có càng nhiều càng tốt một số thuộc tính sau đây; kiểm soát
đƣợc; chặt chẽ; có tính hệ thống; hợp lệ và dễ kiểm chứng; có tính thực nghiệm và
tính tới hạn.
Dƣới đây ta sẽ khảo xét các đặc điểm này
- Kiểm soát đƣợc. Trong đời sống có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến kết cục
cuối cùng. Một sự kiện nhất định nào đó ít khi là kết quả của một quan hệ một –
(đối) - một. Một số quan hệ lại phức tạp hơn các quan hệ khác. Hầu hết các kết
cục đều là hệ quả của sự tƣơng tác lẫn nhau của một số các quan hệ và các yếu tố
có ảnh hƣởng khác. Trong một nghiên cứu về quan hệ nhân quả, việc có thể liên
kết (các) kết quả với (các) nguyên nhân và ngƣợc lại là rất quan trọng. Tuy có tầm
quan trọng nhƣ vậy, nhƣng trên thực tế, đặc biệt trong các khoa học xã hội, rất
khó hay thậm chí không thể xác định các liên kết nhƣ vậy.
Khái niệm về sự kiểm soát hàm ý rằng, trong việc tìm hiểu tính nhân quả
trong quan hệ giữa hai biến, cần tiến hành nghiên cứu sao cho tối thiểu hoá các
8
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
ảnh hƣởng của các yếu tố khác lên quan hệ đang xét. Đối với các khoa học tự
nhiên, do hầu hết nghiên cứu đƣợc tiến hành trong phòng thí nghiệm nên điều này
có thể đạt đƣợc ở một mức độ lớn. Còn ở các khoa học xã hội, vì các nghiên cứu
đƣợc thực hiện trên các vấn đề có liên quan đến các cá nhân sống trong xã hội,
không thể kiểm soát đƣợc – nên rất khó thiết lập đƣợc các liên kết nhƣ vậy. Vì
thế, ở các khoa học xã hội, do không kiểm soát đƣợc các yếu tố bên ngoài, ta cần
lƣợng hoá các tác động của chúng.
- Chặt chẽ. Phải cực kỳ kỹ lƣỡng và toàn diện để đảm bảo rằng các thủ tục
đƣợc chọn là thích hợp và có thể thuyết minh đƣợc. Nhắc một lần nữa rằng, mức
độ chặt chẽ thay đổi đáng kể giữa các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội và
ngay bên trong các khoa học xã hội.
- Tính hệ thống. Các thủ tục đã chọn phải đi theo một trình tự logic nhất
định. Không thể thực hiện các bƣớc khác nhau một cách thiếu hoạch định hay
thiếu trật tự. Cũng vậy, một số thủ tục phải đi tiếp sau một số thủ tục khác.
- Hợp lệ và kiểm chứng đƣợc. Khái niệm này hàm ý rằng bất kỳ kết luận nào
rút ra đƣợc từ kết quả nghiên cứu đều đúng đắn và có thể đƣợc kiểm chứng đƣợc
do chính ta hay những ngƣời khác.
- Thực nghiệm. Điều này hàm ý rằng mọi kết luận đã rút ra đều đặt cơ sở
trên các chứng cứ rõ ràng tập hợp từ thông tin thu đƣợc do kinh nghiệm hay quan
sát từ đời sống thực.
- Tới hạn. Tính toàn diện và kỹ lƣỡng ở mức độ cao của các thủ tục và kỹ
thuật đem dùng đóng vai trò chủ yếu đối với việc tìm hiểu nghiên cứu. Quá trình
điều tra phải tin cậy, dễ thực hiện và không có lỗi. Quá trình đƣợc chọn và các thủ
tục áp dụng phải có thể vƣợt qua đƣợc việc xem xét toàn diện và kỹ lƣỡng ở mức
độ cao đó.
Các kiểu nghiên cứu
Nghiên cứu có thể đƣợc phân loại theo ba quan điểm (hình 1.2)
- Ứng dụng của công trình nghiên cứu.
9
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Mục tiêu trong việc thực hiện nghiên cứu.
- Loại thông tin tìm kiếm
10
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
CÁC KIỂU NGHIÊN CỨU
theo các quan điểm của
Loại thông tin
Ứng dung Mục tiêu
tìm kiếm
Nghiên cứu Nghiên cứu Nghiên cứu Nghiên cứu
lý thuyết mô tả giải thích định lƣợng
Nghiên cứu Nghiên cứu Nghiên cứu Nghiên cứu
áp dụng tƣơng quan khai phá định tính
Hình 1.2. Các kiểu nghiên cứu
Ba kiểu phân loại này không loại trừ nhau.Thí dụ, một dự án nghiên cứu có
thể đƣợc xếp loại là nghiên cứu lý thuyết hay nghiên cứu ứng dụng (theo góc nhìn
ứng dụng của nghiên cứu), hoặc là nghiên cứu khai phá (theo quan điểm mục tiêu
nghiên cứu), hoặc là nghiên cứu định lƣợng hay nghiên cứu định tính (theo quan
điểm loại thông tin tìm kiếm).
Ứng dụng
Từ quan điểm của ứng dụng, có 2 kiểu nghiên cứu - nghiên cứu lý thuyết và
nghiên cứu ứng dụng. Trong các khoa học xã hội, theo Bailey (1978).
Nghiên cứu lý thuyết liên đới đến việc phát triển và kiểm thử các lý thuyết
và giả thuyết có tính thách thức trí tuệ đối với nhà nghiên cứu nhƣng có thể có
hoặc không ứng dụng thực tế trong hiện tại hay tƣơng lai. Vì thế những công trình
nhƣ vậy thƣờng liên quan đến việc kiểm thử các giả thuyết chứa những khái niệm
rất trừu tƣợng và rất đặc biệt.
11
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Nghiên cứu lý thuyết cũng liên đới đến việc phát triển, khảo xét, kiểm chứng
và tính chính các phƣơng pháp, thủ tục, kỹ thuật và công cụ nghiên cứu - những
yếu tố hình thành nên phƣơng pháp luận nghiên cứu. Các thí dụ về nghiên cứu lý
thuyết: phát triển một kỹ thuật lấy mẫu có thể dùng đƣợc cho một tình huống nhất
định; phát triển một phƣơng pháp luận để đánh giá tính hợp lệ của một thủ tục;
phát triển một dụng cụ để - chẳng hạn – đo lƣờng mức độ căng thẳng của con
ngƣời; tìm ra cách tốt nhất để đo lƣờng thái độ của con ngƣời. Kiến thức thu đƣợc
từ nghiên cứu lý thuyết nhƣ vậy nhằm để tích lũy thêm vào khối kiến thức hiện có
về các phƣơng pháp nghiên cứu.
Hầu hết các nghiên cứu trong khoa học xã hội đều là nghiên cứu áp dụng.
Nói cách khác, các phƣơng pháp, thủ tục và kỹ thuật nghiên cứu tạo nên phƣơng
pháp luận nghiên cứu đƣợc ứng dụng vào việc thu thập thông tin về các khía cạnh
khác nhau của tình huống, vấn đề, bài toán hay hiện tƣợng để thông tin tập hợp có
thể dùng đƣợc bằng các cách khác - nhƣ quản lý, xây dựng chính sách và mở
rộng hiểu biết về hiện tƣợng.
Mục tiêu
Một nghiên cứu theo quan điểm mục tiêu có thể đƣợc phân loại chung thành
- nghiên cứu mô tả, nghiên cứu tƣơng quan, nghiên cứu giải thích và nghiên cứu
khai phá.
Nghiên cứu mô tả cố gắng mô tả một tình huống, bài toán, hiện tƣợng, dịch
vụ hay chƣơng trình một cách có hệ thống, hoặc cung cấp thông tin về - chẳng
hạn - điều kiện sống của một cộng đồng, hoặc mô tả các thái độ trƣớc một vấn đề.
Thí dụ, nghiên cứu kiểu này có thể mô tả các loại dịch vụ cung ứng của một tổ
chức, cấu trúc quản trị của một tổ chức, các nhu cầu của một cộng đồng, cảm xúc
của trẻ em sống trong ngôi nhà có tình trạng bạo lực, hoặc là thái độ của nhân
viên đối với nhà quản lý…
Trọng tâm chính của nghiên cứu tƣơng quan là khám phá hay thiết lập sự tồn
tại của mối quan hệ/kết hợp/liên thuộc giữa hai hay nhiều hơn khía cạnh của một
12
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
tình huống. Có thể xem các thí dụ sau - chiến dịch quảng cáo có ảnh hƣởng gì lên
việc bán sản phẩm? Có quan hệ gì giữa đời sống căng thẳng và chứng đau tim?
Có quan hệ gì giữa tính mắn đẻ và cái chết? Có quan hệ gì của dịch vụ y tế lên
việc kiểm soát bệnh tật hoặc là môi trƣờng gia đình lên thành tích học tập?
Nghiên cứu giải thích cố gắng làm sáng tỏ lý do và cách thức của mối quan
hệ giữa khía cạnh của một tình huống hay hiện tƣợng. Kiểu nghiên cứu này cố
giải thích, thí dụ, tại sao đời sống căng thẳng gây ra chứng đau tim? tại sao giảm
tỷ lệ sinh đi theo sau giảm tỷ lệ chết? hoặc là môi trƣờng gây ảnh hƣởng ra sao lên
thành tích học tập của học sinh?
Nghiên cứu khai phá đƣợc thực hiện để xem xét khả năng của việc tiến hành
một nghiên cứu nhất định nào đó. Kiểu này còn đƣợc gọi là nghiên cứu khả thi
hoặc nghiên cứu thử/nghiên cứu tiền trạm. Thƣờng kiểu nghiên cứu này đƣợc tiến
hành khi nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu những lĩnh vực mà mình có rất ít hay
không có kiến thức. Một khảo sát quy mô nhỏ sẽ đƣợc thực hiện để quyết định
xem có đáng giá để thực hiện một khảo cứu chi tiết hay không. Trên cơ sở của
đánh giá rút ra từ nghiên cứu khai phá, nghiên cứu chính thể/ toàn diện có thể
đƣợc triển khai. Các nghiên cứu khai phá cũng đƣợc thực hiện để phát triển, tinh
chỉnh và/hay kiểm thử các công cụ và thủ tục đo lƣờng. Hình 1.3 cho thấy các
kiểu nghiên cứu theo quan điểm mục tiêu.
Mặc dù, về lý thuyết, một nghiên cứu có thể đƣợc xếp vào một trong các
kiểu phân loại vừa xét, nhƣng trong thực tế, hầu hết các nƣớc nghiên cứu đều là tổ
hợp của ba phạm trù đầu tiên, tức là yếu tố của nghiên cứu mô tả, nghiên cứu
tƣơng quan và nghiên cứu giải thích. Trong cuốn sách này, phần hƣớng dẫn viết
báo cáo nghiên cứu cổ vũ việc tích hợp các yếu tố này.
13
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 1.3. Các kiểu nghiên cứu từ quan điểm mục tiêu
Luận đề Kiểu
Thí dụ Mục tiêu
chính nghiên cứu
. Đặc điểm kinh tế - xã hội của cƣ dân trong
Để mô tả
một cộng đồng.
những gì
. Thái độ sinh viên về chất lƣợng dạy học.
hiện hành
. Loại dịch vụ cung ứng từ một tổ chức.
có liên
. Nhu cầu của một cộng đồng.
quan đến:
. Khối lƣợng sản phẩm bán
. Nhóm Mô tả
. Thái độ của công nhân và các nhà quản lý
ngƣời những
. Số lƣợng ngƣời sống trong một cộng đồng
. Cộng gì hiện Nghiên
. Những vấn đề mà dân mới nhập cƣ phải
đồng đang cứu mô tả
đƣơng đầu
. Hiện phổ
. Phạm vi linh động nghề nghiệp của dân nhập
tƣợng. biến
cƣ
. Tình
. Sở thích của ngƣời dùng về một sản phẩm
huống
. Hiệu ứng của việc sống trong nhà có tình
. Chƣơng
trạng bạo lực
trình
. Chiến lƣợc của công ty để tăng năng suất của
. Kết quả
công nhân
. Tác động của một chƣơng trình
. Quan hệ giữa điều kiện sống và chứng đau
tim
Để thiết lập
. Ảnh hƣởng của công nghệ lên tuyển dụng Khẳng
hay tìm
. Kết quả của dịch vụ tƣ vấn hôn nhân lên mức định có
hiểu: Nghiên
độ các vấn đề về hôn nhân mối
. Quan hệ cứu tƣơng
. Ảnh hƣởng của chiến dịch quảng cáo lên quan hệ
. Kết hợp quan
doanh số bán hay
. Liên
. Tác động của sáng kiến lên năng suất của không
thuộc
công nhân
. Kết quả của chƣơng trình chủng ngừa để kiểm
soát bệnh truyền nhiễm
. Tại sao điều kiện sống gây ra đau tim? Để giải
. Công nghệ tạo ra chỗ làm hay thất nghiệp ra thích tại Giải
sao? sao: thích tại
. Tại sao một số ngƣời phản ứng tích cực trƣớc . Một quan sao Nghiên
một tình huống, còn ngƣời khác thì không? hệ kết hợp quan hệ cứu giải
. Tại sao một can thiệp nhất chỉ có ảnh hƣởng hay liên đƣợc thích
đến một số ngƣời mà thôi? thuộc tồn hình
. Tại sao chỉ có một số ngƣời dùng sản phẩm? tại? thành
. Tại sao chỉ có một số ngƣời di cƣ đến quốc . Một sự
14
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
gia khác? kiện nhất
. Tại sao chỉ có một số ngƣời chọn chƣơng định xảy
trình này? ra?
Các cơ chế của nghiên cứu
Có hai cơ chế chính tạo nên cơ sở của việc nghiên cứu trong các khoa học xã
hội. Chi tiết của những vấn đề này vƣợt khỏi phạm vi của cuốn sách này. Câu hỏi
cốt lõi của việc chia hai cơ chế là liệu phƣơng pháp luận của các khoa học tự
nhiên có thể áp dụng vào việc nghiên cứu các hiện tƣợng xã hội hay không? Cơ
chế bắt nguồn từ các khoa học tự nhiên đƣợc gọi là tiếp cận hệ thống, tiếp cận
khoa học hay tiếp cận tích cực. Còn cơ chế ngƣợc lại đƣợc gọi là tiếp cận định
tính, tiếp cận dân tộc học, tiếp cận sinh thái hay tiếp cận tự nhiên. Những ngƣời
thuộc hai phái trên đã phát triển các giá trị, thuật ngữ, phƣơng pháp và kỹ thuật
riêng để tìm hiểu các hiện tƣợng xã hội.Tuy vậy kể từ giữa những năm 60, điều
đƣợc thừa nhận tăng dần là - mỗi cơ chế đều có vị thế riêng của nó. Mục tiêu
nghiên cứu nên xác định phƣơng thức chất vấn vấn đề, từ đó xác định cơ chế
tƣơng ứng. Áp dụng không phân biệt một tiếp cận vào tất cả các bài toán nghiên
cứu có thể dẫn đến sai lầm và không thích hợp.
Cơ chế tích cực phù hợp với cả nghiên cứu định lƣợng lẫn nghiên cứu định
tính. Có thể tiến hành nghiên cứu định tính trong cơ chế tích cực. Tuy nhiên, cần
phân biệt giữa một bên là nghiên cứu định tính với bên kia là nghiên cứu tự nhiên
và dân tộc vì chúng đi theo các hệ thống giá trị khác nhau và ở một mức độ nào
đó, các phƣơng pháp luận khác nhau.
Không có vấn đề gì về kiểu cơ chế mà nhà nghiên cứu đang làm việc, nhà
nghiên cứu chỉ cần gắn với các giá trị nhất định liên đới đến việc kiểm soát sự
thiên lệch và sự duy trì tính khách quan qua cả hai điểm - bản thân quá trình
nghiên cứu và các kết luận rút ra. Việc áp dụng các giá trị này vào quá trình tập
hợp thông tin, phân tích và diễn giải thông tin sẽ cho phép nó đƣợc gọi là quá
trình nghiên cứu.
Tóm tắt chƣơng
Có vài cách để thu thập và tìm hiểu thông tin để trả lời các câu hỏi đặt ra –
nghiên cứu là một cách trong số đó. Sự khác biệt giữa nghiên cứu và các cách trả
15
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
lời câu hỏi khác nằm ở chỗ - trong quá trình đƣợc gọi là nghiên cứu – công việc
đƣợc thực hiện trong một khung cơ sở của tập các ý niệm; dùng các phƣơng pháp
đã đƣợc kiểm chứng về tính hợp lệ và độ tin cậy và nỗ lực thực hiện công việc
không thiên lệch và khách quan.
Nghiên cứu có nhiều ứng dụng. Một nhà cung cấp dịch vụ, hay một nhà quản
lý/hoạch định muốn có kết quả cũng phải có các kỹ năng nghiên cứu. Đòi hỏi
cũng tƣơng tự nhƣ vậy đối với một chuyên gia có trách nhiệm nâng cao kiến thức
chuyên môn.
Việc phân loại nghiên cứu có thể đƣợc làm từ ba góc nhìn - ứng dụng, mục
tiêu và loại thông tin tìm kiếm.
Từ quan điểm ứng dụng, có các kiểu nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu áp
dụng. Hầu hết các nghiên cứu tiến hành trong các khoa học xã hội đều là nghiên
cứu áp dụng, khảo cứu hoặc là để tìm hiểu hiện tƣợng/vấn đề hoặc là để thay đổi
trong một chƣơng trình/tình huống. Các nghiên cứu lý thuyết về bản chất mang
tính học thuật và đƣợc tiến hành nhằm thu đƣợc kiến thức về các hiện tƣợng có
hay không có các ứng dụng trong tƣơng lai gần và cũng nhằm phát triển các thủ
tục và kỹ thuật mới tạo nên nội dung của phƣơng pháp luận nghiên cứu. Công
trình nghiên cứu có thể đƣợc thực hiện với bốn mục tiêu - để mô tả một tình
huống, hiện tƣợng, bài toán hoặc vấn đề (nghiên cứu mô tả); để thiết lập hay tìm
hiểu mối quan hệ giữa hai hay nhiều biến (nghiên cứu tƣơng quan); để giải thích
lý do các vấn đề xảy ra theo một cách thức nào đó (nghiên cứu giải thích) và để
khảo sát tính khả thi của việc tiến hành một nghiên cứu (nghiên cứu khai phá). Từ
quan điểm loại thông tin tìm kiếm có hai kiểu nghiên cứu: định lƣợng và định
tính. Mục tiêu chính của nghiên cứu định tính là mô tả sự biến đổi trong một hiện
tƣợng, tình huống hay thái độ; trong khi đó nghiên cứu định lƣợng, còn thêm vào
việc lƣợng hoá sự biến đổi.
Có hai cơ chế chính tạo nên cơ sở của nghiên cứu khoa học xã hội – tích cực
và tự nhiên. Câu hỏi cốt lõi chia hai cơ chế chính là liệu phƣơng pháp luận nghiên
cứu trong các khoa học tự nhiên có thể áp dụng vào nghiên cứu trong các khoa
học xã hội hay không.
16
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
2. TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU
Quá trình nghiên cứu: mô hình 8 bƣớc
Bƣớc 1: thiết lập bài toán nghiên cứu
Bƣớc 2: quan niệm hoá thiết kế nghiên cứu
Bƣớc 3: xây dựng dụng cụ thu thập dữ liệu
Bƣớc 4: chọn mẫu
Bƣớc 5: viết đề xuất nghiên cứu
Bƣớc 6: thu thập dữ liệu
Bƣớc 7: xử lý dữ liệu
Bƣớc 8: viết báo cáo nghiên cứu
Tóm tắt chƣơng
Quá trình nghiên cứu: Mô hình tám bƣớc
Phƣơng pháp luận nghiên cứu đƣợc dạy nhƣ một môn hỗ trợ dƣới hình thức
này hoặc khác, ở các mức độ khác nhau trong nhiều ngành học do những ngƣời
gắn với các cơ chế nghiên cứu khác nhau đảm trách. Mặc dù các cơ chế khác nhau
về nội dung, tiếp cận chung về khảo cứu là giống nhau. Các ý kiến tƣơng tự nhƣ
vậy cũng đã đƣợc nêu ra bởi Festinger và Katz, trong lời nói đầu của cuốn sách –
Các phƣơng pháp nghiên cứu trong các khoa học ứng xử (Research Methods in
Behavioral Sciences) - mặc dù logic cơ sở của phƣơng pháp luận khoa học là nhƣ
nhau trong tất cả các lĩnh vực, các tiếp cận và kỹ thuật cụ thể của chúng lại khác
nhau – tùy thuộc vào yếu tố chủ đề (1966). Do vậy, mô hình đƣợc phát triển ở đây
có tính tổng quát về bản chất và có thể đƣợc áp dụng vào một số các ngành trong
khoa học xã hội (hình 2.1). Nó đặt cơ sở trên một tiếp cận từng bƣớc và thực tế
đối với việc khảo cứu và mỗi bƣớc đƣa ra tập có thể chọn lựa các phƣơng pháp,
mô hình và thủ tục.
Các tác vụ chỉ ra trong các mũi tên (hình vẽ) là các bƣớc thao tác cần đi theo
để tiến hành nghiên cứu.
Các chủ đề nêu ra trong các hình chữ nhật là các kiến thức lý thuyết cần thiết
để thực hiện các bƣớc thao tác.
17
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Các tác vụ ghi trong các hình tròn là các bƣớc trung gian cần phải hoàn tất dể đi
từ bƣớc này sang bƣớc kia. Điều quan trọng là ngƣời mới bắt đầu nên đi theo các
bƣớc đúng trình tự dẫn ra, mặc dù với kinh nghiệm, điều đó thay đổi đƣợc.
Sách này đƣợc tổ chức theo các kiến thức lý thuyết, cần để thực hiện mỗi
bƣớc thao tác và đi theo cùng một quy trình tuần tự dể tiến hành nghiên cứu. Đối
với mỗi bƣớc thao tác, kiến thức lý thuyết cần thiết đƣợc tổ chức xa hơn, trong
các chƣơng khác nhau (hình 2.2). Nhắc lại một lần nữa, đối với ngƣời nhập môn,
điều quan trọng là theo sát biểu đồ này để biết đƣợc quan hệ giữa kiến thức lý
thuyết với bƣớc thao tác tƣơng ứng.
Lƣu ý và Chức Phƣơng pháp Lý thuyết Phƣơng pháp, máy
Nguyên lý
các bƣớc năng & công cụ & thiết kế tính & thống kê
Xem xét
tài liệu
1 2 3 4 5 6 7
Thiết Kiểm thử Hiệu Mã hoá
kế tại hiện chỉnh dữ
Tính xác
trƣờng liệu
thực &
tin cậy
Biến & giả thuyết Nội Phát triển
Định nghĩa và dung sách mã
phân loại
Hình 2.1
Chƣơng 7. Chƣơng 11. Chƣơng 13. Chƣơng 16.
Chọn thiết kế Chọn mẫu Xem xét các khía cạnh đạo Viết báo cáo
nghiên cứu đức của việc thu thập dữ nghiên cứu
liệu
1 2 3 4 5 6 7
18
Chƣơng 3. Xem Chƣơng 8. Chọn Chƣơng
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12. Viết Chƣơng 14. Xử lý
xét tài liệu phƣơng pháp thu đề xuất nghiên cứu dữ liệu
Chƣơng 4. Thiết thập dữ liệu Chƣơng 15. Biểu
lập bài toán nghiên Chƣơng 9. Thu hiện dữ liệu
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 2.2
Bƣớc 1. Thiết lập bài toán nghiên cứu
Đây là bƣớc đầu tiên và quan trọng nhất của quá trình nghiên cứu. Bài toán
nghiên cứu nhận diện mục đích nghiên cứu – ta dự kiến nghiên cứu điều gì? Dự
kiến càng rõ ràng và cụ thể thì càng tốt, vì rằng mọi việc tiếp theo của quá trình
nghiên cứu - thiết kế nghiên cứu, thủ tục đo lƣờng, chiến lƣợc lấy mẫu, khung
phân tích và phong cách viết đề xuất hay báo cáo - đều bị ảnh hƣởng của cách
thiết lập bài toán nghiên cứu. Do vậy, ở đây cần tập trung ý tƣởng cẩn thận và xác
đáng. Chƣơng 4 sẽ xem xét chi tiết các khía cạnh khác nhau của việc thiết lập bài
toán nghiên cứu.
Điều cực kỳ quan trọng ở đây là cần phải ƣớc lƣợng bài toán nghiên cứu qua
nguồn tài chánh hiện có, qũy thời gian, kiến thức và năng lực chuyên môn trong
lĩnh vực nghiên cứu của ngƣời tiến hành nghiên cứu và ngƣời giám sát việc
nghiên cứu. Cũng vậy, phải nhận diện đƣợc những thiếu hụt về kiến thức hay kỹ
năng trong các lĩnh vực liên đới – nhƣ thống kê, ứng dụng máy tính … - cần sử
dụng hay có kế hoạch sẽ sử dụng đên cho công việc phân tích, xử lý dữ liệu.
Bƣớc 2. Quan niệm hoá thiết kế nghiên cứu
19
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Một đặc trƣng rất quan trọng của nghiên cứu là sử dụng các phƣơng pháp
khoa học. Nghiên cứu liên đới việc thiết lập một cách chặt chẽ, hợp lệ, dễ kiểm
soát và có tính hệ thống về mối quan hệ và tƣơng tác nhân quả cho phép tiên đoán
chính xác các kết quả thu đƣợc trong những điều kiện nhất định. Nó cũng liên
quan đến việc nhận diện các khoảng cách về kiến thức; kiểm chứng những gì đã
biết; và chỉ ra những sai sót và hạn chế đã qua. Tính xác thực của cái mà ta tìm ra
phụ thuộc lớn lao vào cách thức ta đã tìm ra nó. Chức năng chính của thiết kế
nghiên cứu là giải thích cách thức tìm ra câu trả lời của bài toán. Thiết kế nghiên
cứu vạch ra logic của các chất vấn của bài toán. Thiết kế cần bao gồm những
điểm sau: bản thân thiết kế khảo cứu, những chuẩn bị hậu cần cần có, các thủ tục
đo lƣờng, chiến lƣợc lấy mẫu, khung phân tích và thang thời gian. Đối với bất kỳ
khảo cứu nào, việc chọn thiết kế nghiên cứu thích hợp cũng là cốt lõi để cho phép
rút ra đƣợc các tìm kiếm, so sánh và kết luận hợp lệ. Thiết kế có lõi sẽ gây ra các
kết quả sai lạc và vì vậy tiêu tốn tiền bạc và công sức. Trong phạm vi khoa học,
điểm mạnh của khảo cứu, thực nghiệm phần lớn đƣợc ƣớc lƣợng qua thiết kế
nghiên cứu tƣơng ứng. Khi chọn một thiết kế nghiên cứu cần đảm bảo rằng nó xác
thực, có thể dùng đƣợc và dễ quản lý.
Có rất nhiều thiết kế nghiên cứu khác nhau và ta cần phải làm quen với một
số thiết kế nghiên cứu thông dụng nhất. Chƣơng 7 có chỉ ra một số các thiết kế
nhƣ vậy. Cần chọn hay phát triển lấy thiết kế phù hợp nhất với nghiên cứu của
mình. Cần phải có những lý do vững chắc trong việc chọn thiết kế; phải có khả
năng biện giải cho phép chọn đó và hiểu rõ ràng các điểm mạnh, điểm yếu và hạn
chế của thiết kế. Ngoài ra, cũng cần phải giải thích đƣợc các chi tiết hậu cần hỗ
trợ cho việc cài đặt thiết kế.
Bƣớc 3. Xây dựng thiết bị để thu thập dữ liệu
Tất cả những phƣơng tiện gì dùng thu thập thông tin cho nghiên cứu đều
đƣợc gọi là công cụ nghiên cứu hay thiết bị nghiên cứu. Thí dụ - đó là biểu mẫu
quan sát, bảng câu hỏi phỏng vấn, hƣớng dẫn phỏng vấn…
20
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Xây dựng công cụ nghiên cứu là bƣớc thực hành đầu tiên trong việc thực
hiện nghiên cứu. Cần phải quyết định cách thức thu thập dữ liệu và sau đó xây
dựng công cụ tƣơng ứng. Chƣơng 8 chi tiết hoá các phƣơng pháp thu thập dữ liệu
khác nhau cùng với quá trình xây dựng thiết bị nghiên cứu, chƣơng 9 xem xét các
phƣơng pháp thu thập dữ liệu bằng thang do ứng xử, còn chƣơng 10 xem xét tính
xác thực và tin cậy của thiết bị nghiên cứu.
Nếu tính đến việc thu thập dữ liệu đặc thù cho nghiên cứu đang xét (gọi là dữ
liệu sơ cấp), ta phải xây dựng lấy thiết bị hay chọn thiết bị có sẵn, còn nếu dùng
các dữ liệu thứ cấp (thu thập sẵn có rút từ các mục tiêu khác), cần phát triển một
biểu mẫu để rút lấy dữ liệu cần thiết.
Trong việc xây dựng thiết bị nghiên cứu, việc kiểm thử công cụ tại hiện
trƣờng là không thể thiếu đƣợc. Cần lƣu ý, kiểm thử tại hiện trƣờng không nên
thực hiện trên tập dữ liệu mẫu của nghiên cứu mà nên tiến hành trên tập dữ liệu
đám đông tƣơng tự.
Nếu muốn dùng máy tính để phân tích dữ liệu, trên thiết bị nghiên cứu cần
dành đủ bộ chứa để lƣu trữ dữ liệu.
Bƣớc 4. Chọn mẫu
Độ chính xác của các ƣớc lƣợng phụ thuộc lớn lao và cách chọn mẫu. Mục
tiêu cơ bản của thiết kế chọn mẫu là tối thiểu hoá – trong khuôn khổ giá phí -
khoảng cách giữa các giá trị của mẫu với của tập đám đông.
Luận đề cơ sở của việc lấy mẫu là - với việc chọn khoa học một số lƣợng
tƣơng đối nhỏ các đơn vị thì số lƣợng đó phải phản ánh - với độ tin cậy đủ cao –
khá đúng tập đám đông đang đƣợc xem xét.
Lý thuyết lấy mẫu dựa vào hai nguyên lý:
- Tránh thiên lệch trong việc chọn mẫu.
- Thu đƣợc độ chính xác tối đa ứng với tài nguyên đã tiêu hao.
Có ba kiểu thiết kế chọn mẫu:
- Thiết kế chọn mẫu ngẫu nhiên/xác suất.
21
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Thiết kế chọn mẫu không ngẫu nhiên/xác suất.
- Thiết kế chọn mẫu hỗn hợp.
Ứng với hai kiẻu thiết kế đầu, có vài chiến lƣợc lấy mẫu khác nhau. Cần phải
biết đƣơc điểm mạnh, điểm yếu của từng chiến lƣợc và các tình huống áp dụng
ngõ hầu chọn đƣợc thiết kế phù hợp nhất. Kiểu chiến lƣợc lấy mẫu cũng giúp xác
định khả năng tổng quát hoá từ tập mẫu lên tập đám đông và các kiểu kiểm thử
thống kê thực hiện đƣợc trên dữ liệu.
Bƣớc 5. Viết đề xuất nghiên cứu
Qua các bƣớc trên, đến đây công việc chuẩn bị đã xong. Giờ cần phải viết ra
kế hoạch tổng quát cho ngƣời giám sát nghiên cứu và các bên liên quan khác nắm
đƣợc các thông tin về bài toán nghiên cứu, về cách thức khảo cứu. Kế hoạch đó
đƣợc gọi là đề xuất nghiên cứu. Nói rộng ra, chức năng chính của đề xuất nghiên
cứu là chi tiết hoá kế hoạch vận hành để thu đƣợc lời giải cho bài toán nghiên
cứu. Để có thu đƣợc kết quả chính xác và khách quan cũng cần phải chứng minh
tính xác thực của phƣơng pháp luận triển khai.
Các tổ chức khác nhau có những yêu cầu riêng về văn phong và nội dung của
đề xuất nghiên cứu nhƣng hầu hết có thể chấp nhận những điểm dƣới đây.
Chƣơng 12 có các hƣớng dẫn làm khung cơ sở cho đề xuất nghiên cứu đƣợc chấp
nhận rộng rãi.
- Những gì cần thực hiện.
- Kế hoạch thực hiện ra sao.
- Tại sao chọn chiến lƣợc triển khai nhƣ vậy.
Theo trên, đề xuất cũng phải có các thông tin dƣới đây (xem chƣơng 11).
- Mục tiêu nghiên cứu.
- Các giả thuyết - nếu cần phải kiểm thử chúng.
- Thiết kế nghiên cứu dự định.
- Bối cảnh nghiên cứu.
- Các thiết bị nghiên cứu định sử dụng.
22
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Thiết kế chọn mãu và kích cỡ mẫu.
- Các thủ tục xử lý dữ liệu.
- Dàn ý các phần trong báo cáo.
- Các vấn đề và hạn chế của nghiên cứu.
- Khung thời gian đề xuất.
Bƣớc 6. Thu thập dữ liệu
Đến đây, tiến hành thu thập dữ liệu nhằm rút ra các kết luận của nghiên cứu.
Có nhiều phƣơng pháp dùng thu thập dữ liệu và trong thiết kế nghiên cứu ta
đã chọn thủ tục tiến hành. Thí dụ, ta có thể bắt đầu phỏng vấn, gởi các bảng câu
hỏi, tiến hành thảo luận nhóm, quan sát… Các phƣơng pháp này đều có liên đới
các khía cạnh đạo đức sẽ đƣợc xét ở chƣơng 13.
Bƣớc 7. Xử lý dữ liệu
Các phân tích dữ liệu tùy thuộc nhiều vào hai việc:
- Loại thông tin – mô tả, định lƣợng, định tính, ứng xử.
- Cách viết báo cáo.
Có hai kiểu báo cáo chính - định lƣợng và định tính. Nhƣ đã nêu trên, việc
phân biệt mang ý nghĩa học thuật nhiều hơn là ý nghĩa thực tế vì trong hầu hết
nghiên cứu, đều cần cả hai dạng kỹ năng này. Tuy nhiên, cũng có một số nghiên
cứu độc về định lƣợng hay độc về định tính. Chƣơng 14 trình bày các cách phân
tích dữ liệu định lƣợng và chƣơng 15 cho biết chi tiết các phƣơng pháp biểu diễn
dữ liệu đã phân tích.
Ngoài cách phân loại trên, cũng rất cần chú ý phân biệt phân tích thủ công
dữ liệu và phân tích nhờ máy tính.
Nếu nghiên cứu có tính mô tả thuần túy, báo cáo có thể dựa vào các chú giải
tại hiện trƣờng, vào việc phân tích nội dung của các chú giải (phân tích nội dung).
Nếu cần phân tích định lƣợng, phải quyết dịnh loại phân tích yêu cầu (nhƣ
phân bố tần xuất, so sánh chéo bảng, hay các thủ tục thống kê nhƣ phân tích hồi
23
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
quy, phân tích yếu tố, phân tích độ lệch) và cách thức trình bày tƣơng ứng. Ở đây
cũng cần chú ý các biến số thay đổi theo các thủ tục thống kê.
Bƣớc 8. Viết báo cáo nghiên cứu
Viết báo cáo là bƣớc cuối và trong nhiều trƣờng hợp là bƣớc khó nhất của
quá trình nghiên cứu. Bản báo cáo công bố những gì đã đƣợc thực hiện, những gì
đã đƣợc phát hiện và những kết luận gì rút ra từ các tìm kiếm. Một khi sáng tỏ
toàn bộ tiến trình, dễ hình dung đƣợc cách viết báo cáo. Văn phong của báo cáo
cần mang tính học thuật và nên chia thành các chƣơng, các phần riêng biệt dựa
theo các luận đề chính của nghiên cứu. Chƣơng 16 đề xuất vài cách viết báo cáo
nghiên cứu.
Tóm tắt chƣơng
Chƣơng này cho thấy quá trình nghiên cứu tổng quát gồm tám bƣớc, chi tiết
của mỗi bƣớc sẽ đƣợc trình bày ở các hƣớng tiếp theo. Ở mỗi bƣớc có một mô
hình tƣơng ứng cung cấp tập các phƣơng pháp, thủ tục và kỹ thuật cho phép ta
chọn đƣợc yếu tố phù hợp nhất. Đối với ngƣời mới bắt đầu, điều quan trọng là đi
qua tất cả các bƣớc mặc dù có thể không đúng thứ tự đã nêu. Khi đã có kinh
nghiệm, có thể rút ngắn cá bƣớc một cách phù hợp.
Tám bƣớc nêu trên cho thấy toàn bộ nỗ lực nghiên cứu, từ việc thiết lập bài
toán nghiên cứu cho đến viết báo cáo nghiên cứu. Về bản chất, các bƣớc có tính
vận hành, đi theo một trật tự logic và có các chi tiết về các phƣơng pháp và thủ
tục theo thể thức từng bƣớc đơn giản.
Bƣớc 1: Thiết lập bài toán nghiên cứu
Chương 3: Xem xét tài liệu
Chương 4: Thiết lập đề tài nghiên cứu
Chương 5: Nhận diện các biến
Chương 6: Xây dựng giả thuyết
CHƢƠNG 3: XEM XÉT TÀI LIỆU
24
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Lý do xem xét tài liệu.
. Làm sáng tỏ và tập trung vào bài toán nghiên cứu.
. Cải tiến phƣơng pháp luận.
. Mở rộng cơ sở kiến thức về lĩnh vực nghiên cứu.
- Thủ tục xem xét tài liệu:
. Tìm tài liệu hiện có.
. Phát triển khung cơ sở lý thuyết.
. Phát triển khung cơ sở khái niệm,
- Hoàn chỉnh tài liệu đã qua xem xét.
- Tóm tắt chung.
Các lý do xem xét tài liệu
Một trong những tác vụ sơ khởi cần thiết nhất của quá trình tiến hành nghiên
cứu là duyệt xét tất cả tài liệu đang có nhằm trở nên quen thuộc với lƣợng kiến
thức hiện hữu của lĩnh vực nghiên cứu. Mặc dù việc duyệt xét này rất tốt thời
gian, đôi khi đáng chán và bực mình, nhƣng lại không thể bỏ qua đƣợc vì nó rất
có ích cho việc triển khai nghiên cứu. Việc xem xét tài liệu có ba chức năng:
1. Làm sáng tỏ và tập trung vào đề tài nghiên cứu.
2. Cải tiến phƣơng pháp luận.
3. Mở rộng nền tảng kiến thức về lĩnh vực xem xét.
Làm sáng tỏ và tập trung vào đề tài nghiên cứu
Việc xem xét tài liệu có tính hai mặt. Một mặt, không thể nghiên cứu hiệu
dụng đƣợc nếu nhƣ không có những ý kiến về bài toán nghiên cứu. Mặt khác, các
tài liệu xem xét đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc định dạng đề tài nghiên
cứu bởi vì quá trình xem xét tài liệu giúp hiểu rõ lĩnh vực của chủ đề tốt hơn và
giúp quan niệm hoá đề tài nghiên cứu rõ ràng và chính xác hơn. Đồng thời việc
25
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
này cũng giúp xác định đƣợc mối quan hệ giữa đề tài nghiên cứu và lƣợng kiến
thức của lĩnh vực tƣơng ứng.
Cải tiến phƣơng pháp luận
Duyệt xét các tài liệu sẽ giúp quen thuộc với các phƣơng pháp luận đã dùng
bởi những ngƣời khác trong những bài toán tƣơng tự với bài toán đang xét. Các
tài liệu sẽ cho ta biết các thủ tục và phƣơng pháp nào có ích lợi và những vấn đề
kèm theo. Từ đó ta có đƣợc vị thế tốt hơn để chọn lựa phƣơng pháp luận.Chính
điều đó làm tăng sự tin tƣởng vào phƣơng pháp luận dự kiến triển khai và giúp lý
lẽ bảo vệ việc chọn phƣơng pháp luận đó.
Mở rộng nền tảng kiến thức trong lĩnh vực nghiên cứu
Chức năng quan trọng nhất của việc xem xét tài liệu là đảm bảo đƣợc việc
đọc sâu rộng về lĩnh vực của chủ đề nghiên cứu. Ta cần biết đƣợc các nhà nghiên
cứu khác đã tìm ra những gì về những bài toán gần hay tƣơng tự, những lý thuyết
gì đã đƣợc nêu ra và những khoảng cách nào hiện có trong lƣợng kiến thức của
ngành. Khi tiến hành một nghiên cứu, ngƣời nghiên cứu đƣợc mong đợi sẽ là một
chuyên gia trong lĩnh vực đó. Việc xem xét tài liệu một cách toàn diện sẽ giúp
mong đợi đó có cơ sở. Lý do khác nữa ở đây là ta sẽ biết đƣợc những kết quả của
mình phù hợp ra sao với lƣợng kiến thức hiện tại của ngành (Martin, 1985).
Thủ tục xem xét tài liệu
Nếu chƣa có một bài toán n ghiên cứu cụ thể, nên xem xét tài liệu trong lĩnh
vực rộng của ngành để thu hẹp dần đến những gì muốn xác định. Sau đó việc xem
xét tài liệu sẽ tập trung quanh bài toán nghiên cứu. Sẽ nguy hiểm nếu xem xét tài
liệu mà không có trƣớc ý tƣởng cụ thể hợp lý về điều cần nghiên cứu. Nó sẽ ảnh
hƣởng đáng kể lên suy nghĩ của ta về bài toán nghiên cứu và phƣơng pháp luận
đem dùng, làm cho việc chọn lựa bài toán nghiên cứu và phƣơng pháp luận kém
hẳn về tính đổi mới. Vì vậy, nên có quan niệm hoá bài toán nghiên cứu trƣớc khi
thực hiện việc xem xét tài liệu.
26
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Xem xét tài liệu là một quá trình liên tục. Thƣờng việc này sẽ bắt đầu trƣớc
khi thiết lập bài toán nghiên cứu cụ thể và tiếp tục cho đến khi hoàn tất báo cáo
nghiên cứu. Mặc dù cần phải xem xét xong hầu hết các tài liệu trƣớc khi triển khai
nghiên cứu, vẫn cần tiếp tục xem xét tài liệu khi tích hợp kết quả của ta với kết quả
của các nghiên cứu, chỉ ra rằng kết quả của ta hỗ trợ hay bài bác các nghiên cứu
khác. Việc so sánh này là phần không thể thiếu đƣợc trong báo cáo nghiên cứu.
Xem xét tài liệu là quá trình gồm bốn bƣớc:
1. Tìm kiếm tài liệu của lĩnh vực nghiên cứu.
2. Xem xét các tài liệu đã chọn lọc đƣợc.
3. Phát triển khung cơ sở lý thuyết.
4. Phát triển khung cơ sở quan niệm.
Các tác vụ nêu trên cần đến các kỹ năng khác nhau và trong đó hai tác vụ
phát triển cuối là khó khăn hơn.
Tìm tài liệu
Để tìm có kết quả, phải có ít nhất vài ý tƣởng về lĩnh vực chủ đề rộng và vài
bài toán muốn nghiên cứu từ đó có đƣợc các thông số cần thiết cho việc tìm kiếm.
Kế tiếp, xây dựng thƣ tịch cho lĩnh vực rộng đó từ hai nguồn chính – cả dạng
thông thƣờng và dạng điện tử:
1. Sách.
2. Tạp chí.
Cách tốt nhất để tìm cách là đọc danh mục của thƣ viện. Khi sách nằm trong
thƣ viện, nó đã đƣợc gán một chủ đề. Khi cần, có thể yêu cầu các thủ thƣ giúp xác
định chủ đề phù hợp nhất của lĩnh vực xem xét. Điều đó giúp tiết kiệm nhiều thời
gian. Các ấn phẩm khác cũng giúp tìm ra các quyển sách cần thiết.
Về tạp chí, có thể dựa vào:
1. Các chỉ mục tạp chí.
2. Tổng thuật các tạp chí.
3. Các chỉ mục trích dẫn.
27
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Các dịch vụ chỉ mục, tổng thuật và trích dẫn đều đƣợc cung cấp dƣới dạng
thức ấn phẩm, CDROM hay tập tin trên Web-Internet.
Trong hầu hết các thƣ viện, thông tin về sách, tạp chí, tổng thuật… đều đƣợc
chứa trong máu tính, vi phim, CDROM… và đƣợc phân loại theo chủ đề, tác giả
và tựa đề. Khi thông tin chứa trên máy tính, còn có thêm thông tin về các từ khóa
– tác giả/từ khoá, tiêu đề/từ khoá, chủ đề/từ khoá hay chỉ là từ khoá.
Có một số các cơ sở dữ liệu điện tử đƣợc xây dựng cụ thể cho một số các
ngành, giúp ta lập nên đƣợc thƣ tịch cần thiết. Bảng 3.1 bên dƣới cho thấy vài cơ
sở dữ liệu điện tử thông dụng cho hầu hết các thƣ viện ở Mỹ.
Cần chọn các cơ sở dữ liệu nào có những tham chiếu cần thiết cho lĩnh vực
nghiên cứu. Nên trình bày với ngƣời giám sát nghiên cứu và các chuyên gia nếu
có thể để bổ sung các tài liệu cần thiết vào danh sách những gì cần đọc.
Bảng 3.1: Một vài cơ sở dữ liệu điện tử thông dụng về lĩnh vực y tế công,
xã hội học, giáo dục và kinh doanh
Bản in giấy
Cơ sở dữ
Mô tả tƣơng
liệu điện tử
đƣơng
ABI (Thông tin doanh nghiệp tóm lƣợc) chứa các tham
chiếu đến thông tin kiƣnh doanh toàn cầu. Các chủ đề của
ABI/INF nó gồm kế toán, ngân hàng, xƣ lý dữ liệu kinh tế, tài
ORM chính, y tế, bảo hiểm, luật pháp, quản lý, tiếp thị, nhân sự
phát triển sản phẩm, hành chánh công, bất dộng sản, thuế
và viễn thông
ERIC là cơ sở dữ liệu về thông tin giáo dục đƣợc tập hợp
CIJE
bởi Trung tâm Thông tin Tài nguyên giáo dục ecủa Bộ
Chỉ số hiện
Giáo dục Mỹ. Chủ đề của nó bao gồm nghiệp nghiệp/giáo
ERIC tại vào các
dục nghề, giáo dục trẻ em, giáo dục phổ thông, tài nguyên
tạp chí giáo
thông tị, giáo dục khoa học xã hội, giáo dục thầy giáo,
dục
giáo dục nông thôn.
HEAL THROM Chứa các tham chiếu và một số ấn bản
HEAL
toàn văn về môi trƣờng, sức khoẻ, HIV/AIDS, bệnh Không có
THROM
truyền nhiễm, dinh dƣỡng, nghiện rƣợu và ma túy…
MADLINE Chứa các tham chiếu đến các khoa học về y tế
Index
MEDLINE bao gồm thuốc men, dƣợc học, y tế công, khoa học ứng
Medicus
dụng…
28
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Sách
Dù là phần trung tâm của mọi thƣ viện, sách – ngoài những lợi điểm – cũng
có những khuyết điểm. Thuận lợi chính là thông tin trong sách thƣờng quan trọng
và có chất lƣợng và các kết quả đƣợc “tích hợp với nghiên cứu khác để tạo nên
lƣợng kiến thức phù hợp” (Martin, 1985). Khuyết điểm của sách là thông tin
không đƣợc cập nhật hoàn toàn, có thể mất vài năm giữa việc hoàn tất công trình
với việc xuất bản cuốn sách.
Cách tốt nhất để nhận diện các sách là dùng bộ tổng tập trên máy tính hay tủ
phiếu. Chọn từ khoá hay chủ đề để tìm ra các sách trong phạm vi quan tâm. Kế đó
thu hẹp lĩnh vực chủ đề cũng bằng các từ khóa thích hợp. Xem xét kỹ lƣỡng các
tựa đề và nhận diện những sách nào có vẻ phù hợp nhất và ghi nhận tất cả các tựa
đề đó. Cần chú ý là đôi khi tựa đề không cung cấp đủ thông tin để quyết định xem
sách có dùng đƣợc hay không. Khi này, phải xem xét trực tiếp nội dung của sách
tƣơng ứng.
Khi đã chọn đƣợc từ 10 đến 15 cuốn sách; hãy xem xét thƣ tịch của từng
cuốn rồi rút ra những cuốn sách nào đƣợc tham chiếu chung giữa các thƣ tịch đó;
những cuốn này cần đƣợc đƣa vào danh sách những tài liệu then chốt. Chuẩn bị
bản danh sách cuối cùng những cuốn sách cần thiết.
Sau khi có đƣợc danh sách cần thiết, hãy tìm các sách đã liệt kê trong thƣ
viện hay từ các nguồn khác. Xem xét nội dung sách để khẳng định chúng thực sự
phù hợp với chủ đề nghiên cứu. Khi phát hiện thấy sách nào không phù hợp, hãy
loại bỏ nó ra khỏi danh sách tham khảo. Còn nếu khi thấy phần nội dung nào của
sách phù hợp, hãy làm một thƣ tịch chú giải. Thƣ tịch chú giải gồm các tổng thuật
ngắn về các khía cạnh đƣợc trình bày trong sách và chú giải của riêng ta về tính
phù hợp của chúng. Cần cẩn thận theo dõi danh sách tham khảo bằng cách nên
chuẩn bị hệ thống chỉ mục thẻ củ riêng mình hay dùng các chƣơng trình máy tính
nhƣ Endnotes hay Procite.
29
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Tạp chí
Bằng cách tƣơng tự nhƣ trên, cần xem xét các tạp chí trong lĩnh vực nghiên
cứu.Tạp chí thƣờng cho ta những thông tin cập nhật hơn cả, mặc dù thƣờng cũng
có khoảng cách hai đến ba năm từ lúc hoàn thành công trình đến lúc xuất bản
tƣơng ứng. Nên chọn càng nhiều tạp chí càng tốt dù rằng số lƣợng tạp chí thay đổi
theo từng lĩnh vực. Cũng cần chuẩn bị danh sách các tạp chí cần khảo sát để tìm
ra các tài liệu phù hợp bằng các cách sau:
- Định vị các tạp chí có vẻ phù hợp.
- Xem xét các chỉ mục về tổng thuật và trích dẫn đển nhận diện tài liệu
và/hay đọc các tổng thuật của các bài.
- Dò tìm trên cá cơ sở dữ liệu điện tử.
- Dùng Internet.
Dù chọn phƣơng pháp nào, đầu tiên phải xác định đƣợc các tạp chí mà ta
mong muốn có thông tin chi tiết đôi chút để có thể bắt đầu tiến hành công việc
xem xét tài liệu mong đợi. Kế tiếp, tiến hành duyệt xét chúng. Chọn ra một trong
các tạp chí, rồi từ số cuối cùng của tạp chí đó, khảo xét nộidung của nó để nhận
diện các bài phù hợp với chủ đề nghiên cứu. Nếu nhận ra đƣợc bài nào cần thiết,
hãy đọc tổng thuật của bài đó. Và khi đã nghĩ rằng bài đó là cần thiết, tuỳ vào tài
chánh, có thể sao chụp bài viết hoặc làm tóm tắt và ghi nhận tham khảo của nó để
dùng về sau.
Xem xét các tài liệu đã chọn đƣợc
Giờ đây, sau khi đã xác định đƣợc các sách và tạp chí có vể có ích, việc cần
làm là đọc chúng thật kỹ lƣỡng để xác định các luận đề và vấn đề chính của tài
liệu. Nếu chƣa có đƣợc khung cơ sở lý thuyết, có thể bắt đầu bằng một tờ giấy
cho mỗi bài viết hay cuốn sách. Còn nếu đã có một khung cơ sở lý thuyết sơ bộ,
chiếu những nội dung đã xem qua vào khung cơ sở, và dùng mỗi tờ giấy riêng cho
mỗi đầu để của khung cơ sở bắt gặp trong tài liệu.
30
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Trong quá trình đọc tiếp theo, cần làm phép tƣơng ứng giữa thông tin trong
tài liệu với đầu đề đã phát triển đƣợc.Có thể đƣa thêm vào nhiều đầu đề khi cần.
Việc đọc tài liệu phải thật kỹ với các chú ý sau:
- Chú thích xem những kiến thức phù hợp với khung cơ sở lý thuyết đa đƣợc
khẳng định hay chƣa.
- Chú thích về các lý thuyết đã đƣợc đƣa ra cùng với các phê bình tƣơng
ứng; chú thích về những cơ sở, các phƣơng pháp luận đã chọn (nhƣ thiết kế
nghiên cứu, kích cỡ mẫu và đặc tính của mẫu, các thủ tục đo lƣờng…) cùng với
các phê bình kèm theo.
- Khảo xét xem ở mức độ nào, các kết quả có thể tổng quát hoá cho các tình
huống khác.
- Chú thích về chỗ có sự khác biệt ý kiến giữa các nhà nghiên cứu và cho
biết ý kiến riêng về tính xác thực của các khác biệt đó.
- Nhận diện các lĩnh vực có rất ít hay không có thông tin – đó là các khoảng
trống trong khối lƣợng kiến thức hiện hữu.
Triển khai khung lý thuyết
Kiểm thử tài liệu là việc làm không bao giờ có kết thúc trừ khi ta giới hạn
thời gian; quan trọng là phải thiết lập giới hạn bằng cách xem xét các tài liệu
tƣơng ứng một số chủ đề chính – thích hợp với đề tài nghiên cứu.
Khi bắt đầu xem tài liệu, có thể là ngay lập tức ta sẽ khám phá ra vấn đề mà
ta muốn nghiên cứu – có nguồn gốc từ một số lý thuyết đƣợc xây dựng từ các
quan điểm khác nhau. Thông tin thu đƣợc từ các sách báo khác nhau lúc này cần
đƣợc phân loại theo các chủ đề và lý thuyết chính, làm sáng tỏ sự đồng tình lẫn
bất đồng giữa các tác giả và xác định những câu hỏi hay khoảng trống chƣa đƣợc
giải đáp. Ta cũng sẽ nhận ra tài liệu đề cập đến một số khía cạnh có liên quan trực
tiếp hay gián tiếp với chủ đề nghiên cứu. Sử dụng các khía cạnh này nhƣ là cơ sở
để triển khai khung lý thuyết. Việc xem xét tƣ liệu sẽ sắp xếp thông tin theo
khung cơ sở này, nhƣ đã đề cập ở phần trƣớc. Nếu không xem xét tƣ liệu dựa vào
31
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
khung sƣờn này, ta không thể xây dựng đƣợc tiêu điểm cho việc tìm kiếm tài liệu
– nói cách khác khung lý thuyết sẽ cung cấp hƣớng dẫn khi ta đọc. Điều này đem
đến một nghịch lý đã đƣợc nói trƣớc đó - đến khi nghiên cứu kỹ tài liệu ta không
thể xây dựng khung lý thuyết và đến khi đã xây dựng khung lý thuyết, ta không
thể xem xét tài liệu một cách có hiệu quả. Giải pháp ở đây là – hãy đọc một số tài
liệu, sau đó nỗ lực xây dựng khung sƣờn, thậm chí là một khung sƣờn không chặt
chẽ, từ đó có thể tổ chức phần tài liệu còn lại. Khi đọc đƣợc nhiều hơn về lĩnh vực,
có thể thay đổi khung sƣờn này. Còn nếu không có nó, ta sẽ sa lầy vào việc đọc
không cần thiết và sẽ ghi chú những điểm không thích ứng cho việc nghiên cứu.
Thí dụ, nếu muốn nghiên cứu mối quan hệ giữa tử vong và sinh đẻ, ta nên
xem xét các tài liệu về:
- Sinh đẻ - các khuynh hƣớng, lý thuyết, một số chỉ số so sánh và phê bình
về chúng, các nhân tố ảnh hƣởng đến sinh đẻ, phƣơng pháp hạn chế sinh đẻ, các
yếu tố ảnh hƣởng đến việc chấp nhận các phƣơng pháp tránh thai.
- Tử vong – các yếu tố ảnh hƣởng đến tử vong, chỉ số tử vong, khuynh
hƣớng tử vong…
- Mối quan hệ giữa sinh đẻ và tử vong – các lý thuyết đã đƣợc đƣa ra nhằm
giải thích mối quan hệ, hàm ý về mố quan hệ đó.
Ngoài việc xem xét tài liệu, còn cần phải xây dựng khung lý thuyết cho
nghiên cứu. Về cơ bản, điều này nên xoay quanh các lý thuyết đã đƣợc giới thiệu
về mối quán hệ giữa tử vong và sinh đẻ. Ta sẽ khám phá ra một số lý thuyết đƣợc
đề xƣớng nhằm giải thích mối quan hệ này. Thí dụ mối quan hệ này đƣợc giải thích
theo các khía cạnh kinh tế, tôn giáo, y học và tâm lý họ. Ở mỗi khía cạnh, một số lý
thuyết đƣợc đƣa ra nhƣ: “thuyết bảo hiểm”, “lo sợ không sống sót”, “thuyết thay
thế”, “thuyết giá cả”, “thuyết thiết thực” và “thuyết rủi ro”.
Tài liệu nên đƣợc viết theo các đề mục sau, phần lớn liên quan đến việc kiểm
nghiệm các mối quan hệ giữa sinh đẻ và tử vong:
32
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Các lý thuyết về sinh đẻ;
Thuyết về chuyển tiếp nhân khẩu;
Các khuynh hƣớng sinh đẻ (toàn cầu, sau đó giới hạn nó ở cấp độ quốc gia và địa
phƣơng).
Các phƣơng pháp tránh thai (sự chấp thuận và tính hiệu quả của chúng).
Các yếu tố ảnh hƣởng đến tử vong.
Các khuynh hƣớng tử vong.
Việc xác định các chỉ số tử vong và
Các mối quan hệ giữa sinh đẻ và tử vong (các thuyết khác nhau nhƣ đƣợc giới thiệu ở trên).
Hình 3.1. Phát triển khung lý thuyết – quan hệ giữa sinh đẻ và tử vong
Tài liệu thích hợp cho bài nghiên cứu có thể đề cập đến hai loại thông tin
1. Toàn cầu và
2. Cụ thể hơn, thí dụ: các khuynh hƣớng ở địa phƣơng, hoặc một chƣơng
trình cụ thể.
3. Khi viết về các thông tin nhƣ thế, ta nên bắt đầu với thông tin chung
chung, dần dần giới hạn vào các thông tin cụ thể.
Xây dựng khung khái niệm
Khung khái niệm bắt nguồn từ khung lý thuyết và thông thƣờng tập trung
vào một phần của khung lý thuyết đó. Khung lý thuyết gồm có các lý thuyết hoặc
vấn đề mà nghiên cứu của ta bám vào đó, trong khi đó khung khái niệm mô tả các
khía cạnh đƣợc chọn từ khung lý thuyết để làm cơ sở cho bài nghiên cứu. Thí dụ,
trong thí dụ đƣợc trích dẫn ở hình 3.1, khung lý thuyết bao gồm tất cả các lý thuyết
đƣợc đề cử nhằm giải thích mối quan hệ giữa sinh đẻ và tử vong. Tuy vậy, ngoài
những lý thuyết này, ta cần hoạch định để kiểm tra một thuyết duy nhất – thí dụ:
“nỗi lo sợ không tồn tại”. Do đó, khung khái niệm phát triển ngoài khung lý thuyết
và liên quan đến đề tài cụ thể, liên quan đến thuyết “nỗi lo sợ không tồn tại”.
Hoàn chỉnh tài liệu đã qua xem xét
Lúc này, tất cả công việc tiếp tục đƣợc làm là hoàn chỉnh tài liệu mà ta đã
xem qua. Một số ngƣời viết về nó dƣới tiêu đề: “việc xem xét tài liệu” hay “tài
liệu”. Tác giả gợi ý mạnh mẽ rằng – không nên theo truyền thống này. Tài liệu
33
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
nên đƣợc viết xoay quanh các chủ đề xuất hiện từ việc đọc (tài liệu). Các đề mục
trình bày các chủ đề phải chính xác, mô tả đƣợc nội dung, và nên theo một tiến
trình hợp lý. Các tài liệu tìm đƣợc nên đƣợc tổ chức theo các chủ đề này, cung cấp
nguồn tham khảo đến các dẫn chứng hoặc phản biện. Các lập luận về mặt khái
niệm phải rõ ràng, làm sáng tỏ các nguyên nhân thuận và chống, và đề cập đến
các tìm tòi/kết quả thu đƣợc, khoảng trống và vấn đề chính yếu.
Tóm tắt chƣơng
Xem xét tài liệu là một quá trình liên tục. Nó bắt đầu trƣớc khi hoàn tất đề tài
nghiên cứu và tiếp tục cho đến khi hoàn thành báo cáo. Có một nghịch lý khi xem
xét tài liệu là – không thể thực hiện việc xem xét tài liệu có hiệu quả trừ khi ta đã
thiết lập đề tài nghiên cứu tuy việc tìm kiếm tài liệu đóng vai trò cực kỳ quan
trọng trong việc giúp ta thiết lập đề tài nghiên cứu. Xem xét tài liệu làm cho việc
nghiên cứu có đƣợc tính rõ ràng và hƣớng trọng điểm, cải thiện phƣơng pháp luận
và mở rộng kiến thức của chúng ta.
Việc xem xét tài liệu bao gồm nhiều bƣớc: tìm kiếm tài liệu hiện có trong
lĩnh vực nghiên cứu, luận xét tài liệu đã đƣợc lựa chọn, và xây dựng khung khái
niệm sẽ là nền tảng của bài nghiên cứu. Các nguồn chính để tìm kiếm tài liệu là
sách và tạp chí. Có vài nguồn cung cấp thông tin về các loại tạp chí khác nhau.
CHƢƠNG 4: XÁC LẬP ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU
- Đề tài nghiên cứu.
- Tầm quan trọng của việc xác lập một đề tài nghiên cứu.
- Nguồn các đề tài nghiên cứu.
- Các xem xét khi lựa chọn đề tài nghiên cứu.
- Các bƣớc xác lập đề tài nghiên cứu.
- Xác định các mục tiêu nghiên cứu.
- Xây dựng các định nghĩa vận hành.
- Tóm tắt chƣơng
34
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Mục đích cốt lõi của chƣơng này là chi tiết hoá quá trình thành lập đề tài.
Tuy vậy những nội dung cụ thể của quá trình này lại phụ thuộc vào:
- Khả năng (của ta) về phƣơng pháp luận nghiên cứu.
- Kiến thức về lĩnh vực của đề tài.
- Hiểu biết về các vấn đề cần đƣợc khảo sát, và
- Phạm vi của trọng tâm nghiên cứu đƣợc xác định từ trƣớc.
Đề tài nghiên cứu
Nói rộng ra, bất kỳ vấn đề nào ta muốn có câu trả lời, bất kỳ phủ định hay
khằng định nào ta muốn xác lập đều có thể trở thành một đề tài hay chủ đề nghiên
cứu. Tuy nhiên, cần nhớ rằng không phải tất cả mọi vấn đề đều có thể chuyển
đƣợc thành các đề tài nghiên cứu. Một số đề tài sẽ rất khó nghiên cứu. Theo
Powers (1985): “Những vấn đề nghiên cứu tiềm tàng đều có thể xuất hiện từ các
nền tảng thông thường, nhưng quá trình xác lập chúng một cách có ý nghĩa không
phải là một việc dễ dàng”. Đối với những ngƣời mới bắt đầu, việc thiết lập một đề
tài nào đó có lẽ sẽ dễ dàng nhƣng thật ra nó đòi hỏi một lƣợng kiến thức đáng kể
về chủ đề lẫn phƣơng pháp luận nghiên cứu. Khi xem xét cẩn thận vấn đề thì có lẽ
tức khắc ta sẽ nhận ra đƣợc tính phức tạp của việc xác lập ý tƣởng để thành đề tài
nghiên cứu. Theo Yegidis và Weinback (1991): “Việc nhận diện và tiếp đó xác
định một đề tài nghiên cứu dường như giống việc thực hiện các tác vụ nghiên cứu
vốn có thể được tiến hành một cách nhanh chóng và dễ dàng. Thế nhưng, điều đó
thường không xảy ra”.
Điều cốt lõi ở đây là đề tài đang đƣợc xác lập đó phải vƣợt qua đƣợc sự kiện
kiểm định khoa học dƣới dạng các thủ tục sẽ đƣợc yêu cầu thực hiện. Vì vậy nên
dành nhiều thời gian để suy nghĩ thấu đáo về đề tài.
Tầm quan trọng của việc xác lập một đề tài nghiên cứu
Thành lập đề tài nghiên cứu là bƣớc đầu tiên và quan trọng nhất của quá
trình nghiên cứu. Điều này giống nhƣ việc xác định đích đến trƣớc khi bắt đầu
một cuộc hành trình. Thiếu đích đến, không thể nào tìm ra đƣợc đƣờng đi chƣa kể
35
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
không thể là lộ trình ngắn nhất – còn thiết đề tài nghiên cứu rõ ràng, không thể
nào có đƣợc một kế hoạch chặt chẽ và kinh tế. Đề tài nghiên cứu cũng giống nhƣ
nền tảng của ngôi nhà. Đối với ngôi nhà, kiểu dáng và thiết kế của nó phụ thuộc
vào nền tảng - nếu nền tảng vững chắc toà nhà sẽ bền vững. Đề tài nghiên cứu
đƣợc xem nhƣ là nền tảng của công trình nghiên cứu. Nếu đề tài đƣợc xác lập tốt
thì bài nghiên cứu sẽ tốt theo. Theo Kerlinger: “Nếu muốn giải quyết một vấn đề
thì ta phải biết tổng quát vấn đề đó là gì. Có thể nói rằng phần lớn của vấn đề
nằm ở chỗ - cần phải biết ta đang và sẽ làm gì”.
Phải có một ý tƣởng rõ ràng về điều ta muốn tìm ra chứ không phải là những
gì ta nghĩ là ta phải tìm ra.
Đề tài nghiên cứu có thể có nhiều hình thức, từ đơn giản đến phức tạp. Cách
thiết lập đề tài quyết định hầu hết mọi bƣớc theo sau: kiểu thiết kế nghiên cứu,
kiểu chiến lƣợc lấy mẫu, các thiết bị nghiên cứu, kiểu phân tích… Việc xác lập đề
tài cũng giống nhƣ “đầu vào” của việc nghiên cứu, còn “đầu ra” của việc nghiên
cứu là chất lƣợng của báo cáo nghiên cứu cũng nhƣ tính xác thực ủa những quan
hệ hay hệ quả tìm ra - những điều này hoàn toàn phụ thuộc vào việc xác lập đề tài.
Lúc khởi đầu thiết lập vấn đề, ta rất có thể bị lẫn lộn nhƣng đây là điều bình
thƣờng và cũng là dấu hiệu của sự tiến bộ. Cần nhớ rằng - nhầm lẫn thƣờng xảy ra
nhƣng cũng lại là bƣớc đầu tiên hƣớng đến dự rõ ràng của vấn đề. Hãy dành thời
gian cho việc thiết lập đề tài vì càng hiểu rõ đề tài nghiên cứu, về sau công việc
càng dễ dàng. Lƣu ý, đây là bƣớc quan trọng nhất.
Nguồn đề tài nghiên cứu
Phần này có liên quan đặc biệt nếu chúng ta chƣa chọn đƣợc chủ đề nghiên
cứu và không biết phải bắt đầu từ đâu. Còn nếu đã chọn đƣợc chủ đề có thể đọc
tiếp phần kế tiếp.
Hầu hết nghiên cứu về khoa học nhân văn đều xoay quanh bố chữ P - “4P”:
- Con ngƣời (people);
- Bản thân các vấn đề (problems);
36
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Các chƣơng trình (programs); và
- Các hiện tƣợng (phenomena)
Nhấn mạnh vào yếu tố “P” cụ thể nào đó sẽ tùy vào từng bài nghiên cứu
nhƣng nói chung, trong thực tiễn đa số các bài nghiên cứu tối thiểu đều dựa vào
sự kết hợp của 2 yếu tố “P”. Ta có thể chọn ra một nhóm cá nhân (tập thể hay
cộng đồng) hoặc để xem xét sự tồn tại của các vấn đề nào đó nhằm minh định thái
độ trƣớc các khía cạnh khác nhau của cuộc sống hoặc để xác lập tình trạng phổ
biến của một hiện tƣợng nào đó. Tiêu điểm của ta có thể là nghiên cứu một vấn
đề, một sự kết hợp hay bản thân một hiện tƣợng. Chẳng hạn mối liên hệ giữa nạn
thất nghiệp và tội phạm trên đƣờng phó, giữa hút thuốc và bệnh ung thƣ, giữa sinh
đẻ và tử vong - đƣợc xây dựng trên nền tảng thông tin thu thập tử các cá thể,
nhóm, cộng đồng hoặc tổ chức. Trọng tâm của các nghiên cứu này là khám phá
hay thiết lập các kết hợp hay quan hệ nhân quả. Tƣơng tự, có thể nghiên cứu
nhiều khía cạnh khác nhau của một chƣơng trình: tính hiệu dụng, cấu trúc, nhu
cầu, sự hài lòng của khách hàng về chƣơng trình… Để thực hiện điều này, phải
sƣu tầm thông tin từ những con ngƣời. Yếu tố “people” cho ta “tập hợp nghiên
cứu” trong khi đó 3 yếu tố “P” khác cho ta “các lĩnh vực của chủ đề”. Tập hợp
nghiên cứu – cá thể, nhóm và cộng đồng – là những con ngƣời ta sẽ lấy thông tin.
Lĩnh vực chủ đề là một “vấn đề”, “chƣơng trình” hay “hiện tƣợng” cần thu thập
thông tin. Nghiên cứu kỹ càng hơn về bất kỳ chuyên ngành hay lĩnh vực nghề
nghiệp nào đều cho thấy rằng hầu hết các nghiên cứu đều xoay quanh 4 yếu tố
“P”. Các nguồn khác nhau của một đề tài nghiên cứu đƣợc liệt kê ở bảng 4.1.
Bảng 4.1. Các nguồn đề tài nghiên cứu
Khía cạnh nghiên
Yếu tố Nghiên cứu về
cứu
Tập hợp nghiên
Con ngƣời Các cá thể, tổ chức, nhóm, cộng đồng
cứu
Lĩnh vực chủ đề Vấn đề Bài toán, tình huống, kết hợp, nhu cầu, tập
37
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
hợp, lịch sử…
Nội dung, cấu trúc, kết quả, thuộc tính, sự
Chƣơng trình thoả mãn, ngƣời tiêu dùng, ngƣời cung
cấp dịch vụ
Mối quan hệ nhân quả, nghiên cứu bản
Hiện tƣợng
thân hiện tƣợng…
Nghiên cứu một khía cạnh của một chƣơng trình có thể đƣợc tiến hành ở bất
kỳ lĩnh vực chuyên ngành nào. Chẳng hạn nhƣ ta có thể đo lƣờng tính hiệu dụng
của một chƣơng trình nào đó trong lĩnh vực y tế, giáo dục, công tác xã hội, quản
lý công nghiệp, sức khoẻ cộng đồng, chƣơng trình phúc lợi… Tƣơng tự ta cũng có
thể đánh giá, đo lƣờng ý kiến của các khách hàng về mọi mặt của chƣơng trình
trong các lĩnh vực trên.
Hãy xem xét lĩnh vực chuyên ngành của bạn trong bối cảnh 4 “P” nêu trên để
nhận diện những điểm thú vị. Đối với một chủ đề nghiên cứu, cần phải xem xét
một số khía cạnh ở cột “Nghiên cứu về” (Bảng 4.1 ở trên) dựa vào vấn đề, chương
trình hay hiện tượng. Thí dụ là một sinh viên y tế, sẽ có hàng loạt vấn đề, tình
huống và kết hợp trong mỗi phân ngành. Các vấn đề liên quan đến tốc độ lây
bệnh, chƣơng trình tiêm chủng, tính hiệu dụng của phƣơng pháp điều trị, hay các
vấn đề có liên quan đến một chƣơng trình sức khoẻ cụ thể nào đó đều có thể cho
bạn một loạt đề tài nghiên cứu. Tƣơng tƣ, trong giáo dục, có một vài vấn đề: sự
hài lòng của sinh viên về thầy cô giáo, phẩm chất của giáo viên giỏi, ảnh hƣởng
của gia đình vào kết quả học tập của học sinh và nhu cầu về cố vấn học tập của
sinh viên sau đại học. Bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều chia đƣợc thành các phân
ngành và đƣợc xem xét để tìm ra một đề tài nghiên cứu. Đa số các lĩnh vực đều có
thể dùng đến các phạm trù nhƣ đã liệt kê ở trên mặc dù các vấn đề và chương
trình có thể khác biệt rất lớn tùy theo lĩnh vực chuyên ngành.
Những xem xét khi lựa chọn đề tài nghiên cứu
38
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Cần cân nhắc kỹ càng khi lựa chọn đề tài nghiên cứu. Điều đó giúp đảm bảo
có thể quản lý đƣợc công trình nghiên cứu và ta vẫn còn cảm hứng khi tiến hành
công việc. Các xem xét đó là: sự thích thú, quy mô, đo lƣờng các khái niệm, mức
độ hiểu biết, tính liên đới, tính sẵn sàng của dữ liệu và những vấn đề về đạo đức.
* Sự thích thú - chọn một chủ đề thật sự cuốn hút: đây là một trong những
cân nhắc quan trọng nhất. Một công trình nghiên cứu thƣờng tốn nhiều thời gian
và công việc sẽ đầy thử thách và có nhiều vấn đề không dự kiến đƣợc. Nếu chọn
một chủ đề không thực sự cuốn hút sẽ rất khó duy trì cảm hứng và vì vậy ảnh
hƣởng đến thời gian hoàn thành công việc.
* Quy mô – nên có đủ lƣợng kiến thức về tiến trình nghiên cứu đề tài để có
thể hình dung hết công việc có liên quan đến việc hoàn thành bài nghiên cứu dự
kiến. Giới hạn đề tài ở mức có thể quản lý đƣợc, cụ thể và rõ ràng. Điều hết sức
quan trọng là chọn lựa một chủ đề có thể quản lý đƣợc trong khuôn khổ thời gian
và nguồn lực sẵn có.
* Đo lƣờng các khái niệm - nếu có dùng đến một khái niệm nào đó trong bài
nghiên cứu thì phải biết rõ các chỉ số của khái niệm đó và các phép đo lƣờng
tƣơng ứng của nó. Thí dụ, nếu muốn đo lƣờng tính hiệu dụng của chƣơng trình
tăng cƣờng sức khoẻ, thì phải biết rõ điều gì quyết định tính hữu dụng và nó đƣợc
đo lƣờng ra sao. Không nên sử dụng những khái niệm trong đề tài nghiên cứu mà
không biết chắc cách thức đo lƣờng . Điều này không có nghĩa là không thể xây
dựng một thủ tục đo lƣờng ngay trong bản thân quá trình nghiên cứu. Điều cần
thiết là tại bƣớc này bạn phải biết tƣơng đối rõ về việc đo lƣờng các khái niệm
mặc dù trong khi hầu hết công việc đo lƣờng sẽ đƣợc tiến hành trong suốt bài
nghiên cứu.
* Mức độ hiểu biết – hãy chắc rằng có đƣợc hiểu biết tƣơng đối về các tác vụ
mình sẽ làm trong quá trình nghiên cứu. Ta có đƣợc cơ hội học hỏi và có thể nhận
đƣợc giúp đỡ từ những ngƣời giám sát nghiên cứu và những ngƣời khác, nhƣng
chính ta cần phải làm hầu hết mọi việc.
39
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
* Tính liên đới - chọn một đề tài có liên hệ với chuyên ngành của mình. Đảm
bảo rằng bài nghiên cứu của ta sẽ bổ sung thêm vào kho tàng kiến thức hiện có,
lấp khoảng trống hiện thời trong kiến thức của ngành hay hỗ trợ cho việc hoạch
định chính sách ngành. Điều này sẽ giúp duy trì cảm hứng trong nghiên cứu.
* Tính sẵn sàng của dữ liệu - nếu chủ đề nghiên cứu phải dùng đến các
nguồn thông tin thứ cấp (sổ sách văn phòng, sổ sách khách hàng, báo cáo đã đƣợc
xuất bản…) thì trƣớc khi khẳng định lần cuối đề tài, phải đảm bảo các dữ liệu này
sẵn sàng và nằm ở dạng thức mong muốn.
* Các vấn đề đạo đức – là một cân nhắc quan trọng khác khi xác lập một đề
tài nghiên cứu. Khi tiến hành nghiên cứu, tập hợp nghiên cứu có thể bị: ảnh
hƣởng ngƣợc do một số vấn đề (trực tiếp hay gián tiếp); không cho phép sự can
thiệp từ ngoài; phải chia sẻ những thông tin nhạy cảm và riêng tƣ; hoặc sẽ chỉ đơn
giản là những thí nghiệm. Các vấn đề đạo đức ảnh hƣởng nhƣ thế nào lên tập hợp
nghiên cứu và đƣợc giải quyết ra sao cần đƣợc xem xét kỹ lƣỡng ở giai đoạn xác
lập đề tài nghiên cứu.
Các bƣớc xác lập đề tài nghiên cứu
Mặc dù thiết lập đề tài nghiên cứu là phần quan trọng nhất của một công
trình nghiên cứu, có rất ít tài liệu mô tả chi tiết về các nguyên tắc hƣớng dẫn cụ
thể. Công việc này phần lớn tùy thuộc vào giáo viên môn phƣơng pháp luận
nghiên cứu hay chính ở sinh viên. Tuy nhiên, có thể đƣa ra một số hƣớng dẫn
chung để xác lập một đề tài nghiên cứu nhằm hỗ trợ đáng kể cho những ngƣời
mới bắt đầu nghiên cứu.
Quá trình thiết lập đề tài nghiên cứu gồm một số bƣớc. Làm việc xuyên suốt
các bƣớc này giả định ngƣời nghiên cứu đã có một lƣợng kiến thức nhất định trong
lĩnh vực rộng của công trình nghiên cứu. Việc xem xét các tài liệu liên quan sẽ rất
có ích trong việc mở rộng cơ sở kiến thức mà ta phải có trƣớc khi xác lập một đề
tài. Thiếu những kiến thức nhƣ thế có lẽ không thể xác lập rõ ràng đề tài đƣợc.
40
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Nếu chƣa có một chủ đề nghiên cứu cụ thể nào, điều trƣớc tiên là phải xác
định lĩnh vực rộng mà ta quan tâm đến. Kế tiếp, tự mình tiến hành một phiên động
não để phân tích nó thành các lĩnh vực nhỏ hơn: viết ra giấy bất cứ điều gì xuất
hiện trong đầu. Tiếp tục quá trình động não nhƣ thế với các bạn bè, đồng sự. Từ
bản liệt kê có đƣợc qua hai phiên động não vừa rồi, hãy chuẩn bị một danh sách
chung và bổ sung vào đó các ý tƣởng từ sách báo hay từ các chuyên gia. Sau đó
bắt đầu loại dần những gì ít cuốn hút ra khỏi danh sách cho đến khi bắt gặp đƣợc
những khía cạnh mà ta thực sự thích thú. Sau cùng có lẽ rất khó để lựa chọn tiếp
nhƣng hãy tiếp tục đến lúc mà ta nghĩ là có thể quản lý đƣợc bài nghiên cứu.
Trong việc chọn đề tài, cần nhớ hai yếu tố quan trọng mang tính quyết định là:
- Sự quan tâm đến lĩnh vực chủ đề; và.
- Khả năng quản lý công trình nghiên cứu trong các điều kiện ràng buộc
riêng của mình.
Các bƣớc sau đây, dựa trên quy tắc “thu hẹp đề tài”, sẽ giúp xác lập đề tài
nghiên cứu. Nếu đã nhận ra đƣợc lĩnh vực con tƣơng ứng thì không cần đi qua
bƣớc 1 và 2… Dƣới đây là các bƣớc xác lập đề tài nghiên cứu:
1. Xác định lĩnh vực rộng của chuyên ngành gây đƣợc sự thích thú.
2. Phân chia lĩnh vực rộng này thành những lĩnh vực nhỏ hơn (tổ chức một
phiên động não với chính mình, với bạn bè, với các giáo sƣ và những ngƣời khác
đề nhận diện các lĩnh vực nhỏ hơn đó).
3. Chọn ra một hoặc vài lĩnh vực nhỏ muốn tiến hành nghiên cứu. Bắt đầu
quá trình loại dần những yếu tố không thích thú.
4. Đƣa ra các câu hỏi nghiên cứu cần có đƣợc trả lời thông qua công trình
nghiên cứu.
5. Xác định mục tiêu chính và phụ cho bài nghiên cứu (xem phần tiếp sau về
việc xác lập các mục tiêu).
6. Đánh giá các mục tiêu để xác định tính khả thi của việc đạt mục tiêu theo độ
đo thời gian, nguồn lực (tài chính và con ngƣời) và kiến thức chuyên môn sẵn có.
41
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
7. Kiểm nghiệm lần nữa rằng ta thực sự quan tâm đến nghiên cứu và có các
nguồn lực thích hợp để tiến hành nghiên cứu. Tự hỏi mình có thực sự nhiệt tâm
với bài nghiên cứu này không và thực tế là có đủ nguồn lực cần thiết không? Trả
lời những câu hỏi này bằng những suy nghĩ thấu đáo. Nếu câu trả lời là không đối
với một trong những câu hỏi trên thì cần xem xét lại mục tiêu. Các bảng từ 4.1
đến 4.3 minh hoạ những bƣớc này với nhiều thí dụ từ nhiều ngành khác nhau (sức
khoẻ, dân số, công tác xã hội, khoa học xã hội, xã hội học…). Mỗi nghiên cứu về
khoa học xã hội có hai khía cạnh:
- Đề tài nghiên cứu – đây là cơ sở cho những thắc mắc/tìm hiểu.
- Tập hợp nghiên cứu - nguồn của những thông tin.
Tƣơng tự, khi thu hẹp đề tài nghiên cứu, cần phải rất cụ thể trong việc nhận
biết tập hợp nghiên cứu, nguồn thông tin để chọn những đáp ứng thích hợp.
Thiết lập định nghĩa vận hành
Nhƣ đã đề cập, trong mỗi nghiên cứu đều có hai thành phần: lĩnh vực chủ đề
và tập hợp nghiên cứu (đƣợc thảo luận trong mục “Nguồn các đề tài nghiên cứu”
ở chƣơng này). Mục đích chính của việc xác lập đề tài nghiên cứu là xác định
chính xác và rõ ràng đề tài nghiên cứu. Khi xác định đề tài, có thể sử dụng những
từ ngữ hay hạng mục khó đo lƣờng và/hay việc hiểu những từ này có thể khác
nhau tùy từng đối tƣợng độc giả. Trong bài nghiên cứu, việc phát triển, định nghĩa
hay thiết lập một tập các quy tắc, chỉ số hay tiêu chuẩn so sánh để xác định rõ ý
nghĩa của từ ngữ, hạng mục nhƣ vậy là rất quan trọng. Mặt khác, đôi khi việc xác
định rõ ràng tập hợp nghiên cứu từ đó thu thập thông tin cần thiết cũng rất quan
trọng. Các nghiên cứu sau giúp giải thích rõ điều này. Các mục tiêu chính là:
- Tìm ra số lƣợng trẻ em sống dƣới mức nghèo khổ ở Việt Nam.
- Xác định tác động của việc nhập cƣ lên vai trò của gia đình trong những
ngƣời nhập cƣ.
- Đo lƣờng tính hữu dụng của chƣơng trình tái huấn luyện để hỗ trợ thanh
niên.
42
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Mặc dù những mục tiêu này thể hiện rõ luận đề chính của các nghiên cứu,
nhƣng chúng chƣa cụ thể dƣới dạng các biến số chính cần đƣợc nghiên cứu và các
tập hợp nghiên cứu. Ta không thể đếm số lƣợng trẻ em sống dƣới mức nghèo cho
tới khi biết đƣợc những gì tạo nên sự nghèo khổ và làm thế nào để xác định nó.
Không ai có thể tìm ra tác động của sự nhập cƣ lên vai trò của gia đình trừ khi
nhận biết những gì hình thành nên vai trò của gia đình và cũng không thể đo
lƣờng tính hữu dụng trừ phi định nghĩa đƣợc tính hữu dụng là gì. Ngoài ra, điều
cũng hết sức quan trọng là định nghĩa chính xác thế nào là “trẻ em”, “ngƣời nhập
cƣ” hay “thanh niên”. Lứa tuổi nào là trẻ em: 5, 10, 15 hay 18? Ai là thanh niên:
15, 20, 25 hay 30 tuổi? Ai là ngƣời nhập cƣ? Ngƣời nhập cƣ cách đây 40, 20 hay
5 năm? Ngƣời nhập cƣ đƣợc khảo sát từ mọi quốc gia hay từ chỉ vài nƣớc nhất
định mà thôi?
Thí dụ 1: Giả sử cần tiến hành một cuộc nghiên cứu về chứng nghiện rƣợu.
Khi xác lập đề tài nghiên cứu, nên theo các bƣớc sau:
Bƣớc 1 Bƣớc 2 Bƣớc 3 Bƣớc 4
Nhận diện Phân tích Lựa chọn Đưa ra câu hỏi
Chứng nghiện 1. Viết tiểu sử sơ Những tác động 1. Chứng nghiện
rƣợu lƣợc của các ngƣời của chứng nghiện rƣợu có ảnh hửơng
nghiện rƣợu rƣợu lên gia đình gì đến quan hệ hôn
2. Nguyên nhân
nhân?
nghiện rƣợu
2. Nó ảnh hƣởng
3. Quá trình trở thành
nhiều mặt đến
ngƣời nghiện rƣợu
4. Tác động của cuộc sống của con
chứng nghiện rƣợu cái nhƣ thế nào?
lên gia đình 3. Các tác động tài
5. Thái độ của cộng chính lên gia đình
đồng đối với chứng là gì?
nghiện rƣợu
6. Tính hữu dụng của
cách điều trị
43
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Bƣớc 7 Bƣớc 6 Bƣớc 5
Tái kiểm tra Đảm bảo chắc chắn Thiết lập mục tiêu
1. Mối quan tâm thực Đánh giá những mục Mục tiêu chung: tìm ra tác động
sự đến nghiên cứu. tiêu này xem xét qua: của chứng nghiệm rƣợu lên gia
2. Đồng ý với các 1. Công việc có liên đình
mục tiêu. quan. Các mục tiêu cụ thể:
3. Có các nguồn lực 2. Thời gian có đƣợc 1. Xác định ảnh hƣởng của chứng
phù hợp. 3. Nguồn tài chính sẵn nghiện rƣợu lên quan hệ hôn nhân.
4. Có năng lực kỹ có 2. Xác định những cách ảnh hƣởng
thuật để thực hiện 4. Năng lực kỹ thuật đến nhiều mặt khác nhau của cuộc
nghiên cứu. về lĩnh vực đề tài của sống con cái của ngƣời nghiện rƣợu
ta (và của ngƣời giám 3. Tìm ra tác động của chứng
sát nghiên cứu cho ta) nghiện rƣợu đến tài chính của gia
đình
Hình 4.2. Các bước thành lập một đề tài nghiên cứu
Thí dụ 2: Giả định muốn nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh đẻ và tử vong,
hãy theo các bƣớc sau:
Bƣớc 1 Bƣớc 2 Bƣớc 3 Bƣớc 4
Nhận diện Phân tích Lựa chọn Đưa ra câu hỏi
Sinh đẻ và tử 1. Xu hƣớng sinh đẻ Mối quan hệ giữa 1. Điều gì xảy ra
vong và tử vong ở một sinh sản và tử với việc sinh sản
nƣớc. vong khi độ tử vong suy
2. Yếu tố quyết định
giảm?
ứng xử sinh đẻ.
2. Thời gian trễ
3. Mối quan hệ giữa
giữa điểm bắt đầu
sinh sản và tử vong.
4. Tác động của dịch giảm độ tử vong
vụ y tế trong sinh đẻ và điểm bắt đầu
và tử vong. giảm độ sinh sản.
5. Tác động của 3. Các nhân tố góp
thuốc tránh thai vào phần làm suy giảm
ứng xử sinh đẻ tỷ lệ sinh sản là
gì?
44
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Bƣớc 7 Bƣớc 6 Bƣớc 5
Tái kiểm tra Khẳng định Thiết lập mục tiêu
1. Thực sự quan tâm Đánh giá mục tiêu Mục tiêu chung: khai thác mối
đến bài nghiên cứu. qua: quan hệ giữa sinh sản và tử vong.
2. Đồng ý với các 1. Công việc có liên Các mục tiêu cụ thể:
1. Tìm ra mức độ suy giảm ở sinh
mục tiêu. quan
sản có liên quan đến độ suy giảm
3. Có đủ các nguồn 2. Thời gian có đƣợc.
tử vong.
lực phù hợp. 3. Nguồn tài chính có
2. Xác định khoảng thời gian trễ
4. Có năng lực kỹ sẵn giữa suy giảm tử vong và suy
thuật để tiến hành 4. Năng lực kỹ thuật giảm sinh sản.
nghiên cứu. trong lĩnh vực nghiên 3. Nhận diện các nhân tố ảnh
cứu của ta (và của hƣởng đến những thay đổi trong
ngƣời giám sát nghiên sinh sản.
cứu của ta) 4. Khám phá mối quan hệ giữa các
đặc điểm về KT – XH – nhân khẩu
và mức độ thay đổi về sinh sản và
tử vong
Hình 4.3. Xác lập một đề tài nghiên cứu: mối quan hệ giữa sinh sản và tử vong
Thí dụ 3: Giả định muốn tiến hành nghiên cứu về lĩnh vực y tế, hãy theo
các bƣớc sau:
Bƣớc 1 Bƣớc 2 Bƣớc 3 Bƣớc 4
Nhận diện Phân tích Lựa chọn Đưa ra câu hỏi
Sức khoẻ 1. Các dịch vụ y tế dành cho Tính tích 1. Các nhà quản lý y
cộng đồng. cực cộng tế, các nhà thiết lập kế
2. Tính hiệu dụng của các dịch đồng trong hoạch, các nhà cung
vụ này. cấp dịch vụ và khách
việc phân
3. Chi phí các dịch vụ hàng định nghĩa tính
phối các
4. Chính sách bảo hiểm y tế tích cực cộng đồng ra
dịch vụ y
cho mọi ngƣời. sao?
5. Huấn luyện chuyên gia y tế tế 2. Tính tích cực cộng
6. Đạo đức và sự dính kết của đồng có thể đạt đƣợc
chúng trong thực tiễn y tế. bằng cách nào?
7. Thái độ của khách hàng đối 3. Chỉ số nào có thể
với dịch vụ y tế đƣợc sử dụng để đánh
8. Tính tích cực cộng đồng 45 giá tính hiệu dụng của
trong việc PHÁP NGHIÊN
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNGphân phối các dịch CỨU các chiến lƣợc về tính
vụ y tế tích cực cộng đồng?
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Bƣớc 7 Bƣớc 6 Bƣớc 5
Tái kiểm tra Khẳng định Thiết lập mục tiêu
Phải tự hỏi: Đánh giá mục tiêu Mục tiêu chung: Đánh giá tính
1. Có thực sự quan qua: hiệu dụng của các chiến lƣợc về
tâm đến nghiên cứu 1. Công việc có liên tính tích cực cộng đồng trong việc
phân phối các dịch vụ tế.
này không? quan.
Mục tiêu cụ thể:
2. Có tán thành các 2. Thời gian cho phép
1. Tìm ra khái niệm “tính tích cực
mục tiêu đã chọn có đƣợc.
cộng đồng” từ các nhà quản lý y
không? 3. Nguồn tài chính có tế, các nhà cung cấp dịch vụ và
3. Có đủ nguồn lực sẵn. khách hàng của dịch vụ.
phù hợp? 4. Năng lực kỹ thuật 2. Nhận ra các chiến lƣợc thể hiện
trong lĩnh vực nghiên các khái niệm về tính tích cực
cứu của ta (và của cộng đồng.
ngƣời giám sát nghiên 3. Phát triển một bộ các chỉ số để
cứu của ta) đánh giá tính hiệu dụng của các
chiến lƣợc đƣợc sử dụng trong việc
thực thi tính tích cực cộng đồng
Hình 4.4. Giới hạn đề tài nghiên cứu
Trong nhiều trƣờng hợp, cần xây dựng các định nghĩa vận hành cho các biến
số đang nghiên cứu và đối với tập hợp nghiên cứu trở thành các nguồn thông tin.
Hình 4.5 cho thấy các khái niệm và các nhóm tập hợp đƣợc vận hành khoá cho
các ví dụ ở trên.
Khi nghiên cứu cần định nghĩa rõ các khái niệm và các nhóm tập hợp để
tránh sự mơ hồ và lẫn lộn. Để làm đƣợc điều này,phải dựa vào quá trình triển
khai/phát triển các định nghĩa vận hành/thao tác. Cần phát triển các định nghĩa
vận hành cho những khái niệm quan trọng đƣợc sử dụng trong nghiên cứu và cần
46
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
xây dựng khung cơ sở cho tập hợp nghiên cứu giúp chọn lựa những ngƣời đáp
ứng phù hợp.
Nghiên cứu Khái niệm đƣợc nghiên cứu Tập hợp đƣợc nghiên cứu
1 Mức nghèo Trẻ em
2 Vai trò gia đình Ngƣời nhập cƣ
3 Tính hữu dụng Thanh niên
Vận hành hoá các khái niệm: Vận hành hoá tập hợp nghiên
định nghĩa bằng các thuật ngữ cứu: định nghĩa bằng các thuật
có thể đo lƣờng đƣợc, quan ngữ cụ thể về “trẻ em”,
sát đƣợc và thực tế: “mức “ngƣời nhập cƣ” và “thanh
nghèo”, “vai trò của gia đình” niên”
và “tính hiệu dụng”
Hình 4.5: Vận hành hoá các khái niệm và các tập hợp nghiên cứu
Các định nghĩa vận hành có thể khác nhau trong các từ điển cũng nhƣ trong
ý nghĩa thông thƣờng. Những ý nghĩa này có lẽ không giúp nhận diện đƣợc tập
hợp nghiên cứu hay các khái niệm ta đang nghiên cứu. Mặc dầu trong cuộc sống
hàng ngày, các từ nhƣ trẻ em/thanh niên/ngƣời nhập cƣ có thể đƣợc dùng một
cách dễ dãi, cần phải chỉ ra rất cụ thể khi dùng những từ này trong các bài nghiên
cứu. Cần làm việc xuyên suốt với các định nghĩa riêng đó.
Các định nghĩa vận hành cho ra ý nghĩa vận hành cho tập hợp nghiên cứu và
các khái niệm. Chỉ bằng cách dùng đến các thủ tục tƣờng minh, mới có thể giải
thích, kiểm chứng và kiểm thử một cách xác thực. Cần ghi nhớ rằng không có quy
tắc nào để quyết định xem một định nghĩa vận hành nào đó là xác thực hay không.
Cần có các lý lẽ để thuyết phục những ngƣời khác về tính thích hợp của các định
nghĩa vận hành của mình.
Tóm tắt chƣơng
47
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Xác lập một đề tài nghiên cứu là bƣớc quan trọng nhất trong quá trình nghiên
cứu. Nó là nền tảng giúp xây dựng toàn bộ bài nghiên cứu. Bất kỳ thuyết điểm
nào ở đây cũng sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến tính xác thực và độ tin cậy của bài
nghiên cứu.
Không có hƣớng dẫn cụ thể nào ngoại trừ mô hình trong chƣơng này có thể
dùng làm khung cơ sở cho ngƣời mới bắt đầu. Về bản chất, mô hình bảy (7) bƣớc
này mang tính vận hành và đi theo một trật tự logic, hƣớng dẫn ngƣời mới bắt đầu
bằng một cách đơn giản và dễ hiểu để có thể nắm đƣợc cách xác lập vốn rất phức
tạp một đề tài nghiên cứu. Điều quan trọng là cần chỉ ra rõ ràng các mục tiêu của
bài nghiên cứu. Các mục tiêu phải cụ thể, không mơ hồ và mỗi mục tiêu chỉ nên
có liên hệ với chỉ một khía cạnh của bài nghiên cứu. Các mục tiêu trên nên đƣợc
chia thành các mục tiêu chính và các mục tiêu phụ. Khi viết mục tiêu, cần sử dụng
các từ ngữ hƣớng về mô tả các thao tác/hành động.
CHƢƠNG 5: NHẬN DIỆN CÁC BIẾN SỐ
- Định nghĩa biến số.
- Sự khác nhau giữa khái niệm và biến số.
- Quan niệm, chỉ số và biến số.
- Các kiểu biến số:
+ Theo quan điểm nhân quả.
+ Theo quan điểm thiết kế nghiên cứu.
+ Theo quan điểm đơn vị đo lƣờng.
- Các kiểu thang đo:
+ Thang đo phân loại hay danh định.
+ Thang do xếp hạng hay thứ tự.
+ Thang đo khoảng cách.
+ Thang đo tỷ lệ.
- Tóm tắt chƣơng.
48
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Trong quá trình xác lập đề tài nghiên cứu có hai điểm quan trọng cần đƣợc xem
xét: sử dụng các khái niệm và xây dựng các giả thuyế. Khái niệm mang tính chủ
quan cao vì mỗi ngƣời hiểu chúng khác nhau và vì thế khó thể đo lƣờng chủng đƣợc.
Trong bài nghiên cứu, điều quan trọng là khái niệm phải đƣợc vận hành hoá dƣới
dạng các thuật ngữ có thể đo lƣờng đƣợc để loại bỏ, giảm bớt mức độ hiểu lệch nhau.
Những kỹ thuật vận hành hoá các khái niệm và kiến thức về các biến số đóng vai trò
quan trọng trong việc giảm thiểu tính chủ quan này. Cho nên hiểu biết chúng là yếu
tố quan trọng giúp ta điều chỉnh đề tài nghiên cứu.
Định nghĩa biến số
Dù chấp nhận hay không thì trong cuộc sống hàng ngày, tất cả chúng ta đều
luôn tạo ra những phán đoán có giá trị nhƣ: “thức ăn này rất ngon”; “tối qua tôi
ngủ không ngon”; “tôi không thích điều này”; và “tôi nghĩ điều này thật tuyệt
vời”. Tất cả những phán đoán này đều dựa trên thiên hƣớng, chỉ số và đánh giá
riêng của mỗi ngƣời. Không có tiêu chuẩn đồng bộ nào để đo lƣờng chúng. Một
ngƣời có thể đánh giá một món thức ăn hay một vật nào đó là “ngon” và “đẹp”,
trong khi ngƣời khác lại cho là “tệ” và “xấu xí”. Khi ngƣời ta giải bày cảm xúc
hay sở thích, họ thƣờng dựa vào các tiêu chuẩn nào đó của mình. Nếu có thời gian
chất vấn họ, bạn sẽ thấy rằng phán đoán đó đƣợc dựa vào các chỉ số, các chỉ số
này giúp họ đƣa ra ý kiến trên.
Chúng ta hãy xem những ví dụ tƣơng tự khác:
“Chƣơng trình này hiệu dụng”.
“Chƣơng trình này không hiệu dụng”.
“Chúng ta đang cung cấp cho khách hàng một dịch vụ có chất lượng”.
“Điều này thật tốn thời gian”.
“Nhân viên ở văn phòng này không có tinh thần chịu trách nhiệm”.
Đây không phải là sở thích mà là những ý kiến có một cơ sở nhất định.
Chẳng hạn, nếu bạn muốn tìm hiểu một chƣơng trình nào đó có hiệu dụng hay
không, một dịch vụ nào đó có chất lƣợng hay không, thì ta cần cẩn thận để các ý
49
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
kiến nhƣ thế có đƣợc một cơ sở vững chắc và hợp lý. Điều này xác định việc sử
dụng cơ chế đo lƣờng là cần thiết và rằng kiến thức về các biến số đóng một vai
trò quan trọng trong quá trình đo lƣờng đó.
Một biểu tƣợng, một sự tri nhận hay một khái niệm có thể đo lƣờng – vì vậy
có khả năng nhận các giá trị khác nhau - sẽ dƣợc gọi là một biến số. Nói cách
khác, một khái niệm có thể đƣợc đo lƣờng gọi là một biến số. Theo Kerlinger
(1986), “Mỗi biến số là một thuộc tính có thể có nhiều giá trị khác nhau. Có vẻ
hơi dƣ thừa khi nói rằng, biến số là một cái gì đó thay đổi. Mỗi biến số là một
biểu tƣợng mà con số hay các giá trị đƣợc gắn vào”. Còn theo Black và Champion
(1976): “Biến số là các đơn vị hợp lý của việc phân tích có thể nhận một trong
tập các giá trịi cho trƣớc”. Mỗi khái niệm đƣợc đo lƣờng dựa trên bất kỳ một
trong bốn loại thang đo – và có các mức độ chính xác về đo lƣờng khác nhau -
đƣợc gọi là một biến số.
Tuy nhiên, có một số ngƣời tin rằng các phƣơng pháp khoá học không có
khả năng đo lƣờng cảm xúc, sở thích, giá trị và quan điểm. Nhƣng theo ý kiến của
tác giả, hầu hết những việc này có thể đo lƣờng đƣợc, mặc dù có những tình
huống ở đó cảm xúc hay ý kiến không thể đƣợc đo trực tiếp mà phải nằng cách
gián tiếp. Những cảm xúc hay ý kiến này dựa trên các hành vi có thể quan sát
đƣợc trong cuộc sống thực, dù mức độ các hành vi phản ánh các ý kiến khác nhau
ở mỗi ngƣời.
Khác biệt giữa khái niệm và biến số
Khái niệm là những biểu tƣợng hay tri nhận mang tính tinh thần và do vậy ý
nghĩa của chúng cũng khác nhau ở mỗi cá thể, trong khi đó biến số có thể đo
lƣờng đƣợc, đƣơng nhiên vớic ác độ chính xác khác nhau. Tính đo lƣờng đƣợc là
sự khác nhau giữa khái niệm và biến số. Khái niệm không thể đƣợc đo lƣờng
trong khi biến số đƣợc đo lƣờng bằng các đơn vị đo lƣờng tinh tế/ thô sơ hay chủ
quan/khách quan.
50
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Vì vậy điều quan trọng là chuyển các khái niệm thành biến số vì các biến số
là khách quan đối với việc đo lƣờng mặc dù mức độ chính xác của phép đo thay
đổi theo thang đo tƣơng ứng.
Hình 1.5. Cho thấy sự khác nhau giữa khái niệm và biến số
Khái niệm Biến số
- Tính hiệu dụng - Giới (nam/nữ)
- Mãn nguyện - Tuổi tác (x năm, y tháng)
- Tác động - Thu thập (số tiền mỗi năm)
- Xuất sắc - Trọng lƣợng (kg)
- Tự ti - Chiều cao (cm)
- Giàu có - Tôn giáo (công giáo, tin lành, do thái,
- Bạo lực hồi giáo)
Ấn tƣợng chủ quan Có thể đo đƣợc dù độ chính xác thay
Không đồng nhất vì mỗi ngƣời hiểu đổi theo thang đo và theo biến số
khác nhau (thí dụ: thái độ - mang tính chủ quan,
Những điểm nhƣ thế không thể đo thu nhập mang tính khách quan)
lƣờng đƣợc
Hình 5.1: Sự khác nhau giữa khái niệm và biến số
Khái niệm, chỉ số và biến số
Nếu đang sử dụng một khái niệm nào dó trong nghiên cứu thì ta cần phải xem
xét sự vận hành hoá của nó – nghĩa là xem nó đƣợc đo lƣờng bằng cách nào.
Ở hầu hết các trƣờng hợp, để vận hành hoá một khái niệm, trƣớc tiên cần
phải đi qua quá trình nhận diện các chỉ số - là tập các tiêu chuẩn phản ánh khái
niệm – có thể chuyển đổi đƣợc thành biến số. Với mỗi nghiên cứu viên, việc lựa
chọn các chỉ số cho một khái niệm có thể khác nhau nhƣng các chỉ số đƣợc lựa
chọn phải có liên kết hợp lý với khái niệm đó. Một số khái niệm chẳng hạn – giàu
có - đƣợc chuyển đổi dễ dàng thành các chỉ số và rồi thành các biến số. Thí dụ, để
quyết định khách quan một ngƣời nào đó có giàu có hay không, đầu tiên phải dựa
vào các chỉ số sự giàu có. Giả sử ta chọn các chỉ số là thu nhập và tài sản. Thế thì,
51
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
thu nhập cũng là một biến số bởi vì nó đƣợc tính bằng tiền, do vậy ta không cần
phải chuyển nó thành biến số. Mặc dù tài sản là chỉ số chỉ sự giàu có nhƣng nó thuộc
vào khái niệm. Ta cần xem xét xa hơn về chỉ số của tài sản. Chẳng hạn – nhà cửa,
thuyền, xe hơi và đầu tƣ là các chỉ số của tài sản. Chuyển giá trị của mỗi vật này
thành tiền ta sẽ biết đƣợc tổng giá trị của tài sản mà ngƣời đó sở hữu. Tiếp đến, dựa
vào thông tin có sẵn về phân bố thu nhập và mức tài sản trung bình của những thành
viên trong một nhóm, cố định ở một mức nào đó dùng làm cơ sở để tiến hành phân
loại. Sau cùng, phân tích thông tin về thu nhập và tổng giá trị tài sản để đi đến kết
luận đó có giàu hay không.
Việc vận hành hoá các khái niệm khác, nhƣ tính hiệu dụng hay tác động của
các chƣơng trình có lẽ là khó hơn nhiều. Hình 5.2 đƣa ra một số thí dụ giúp hiểu
quá trình chuyển đổi khái niệm thành biến số.
Khái niệm Chỉ số Biến số
Khái niệm Chỉ số Biến số Cấp bậc quyết định
a. Thu nhập a. Thu nhập hàng năm a. Nếu > 100.000 USD
b. Tài sản b. Tổng giá trị của: nhà b. Nếu > 250.000 USD
Giàu
cửa, tàu thuyền, xe hơi;
đầu tƣ
a. Điểm TB đạt đƣợc trong a. Phần trăm điểm a. Nếu > 75%
các kỳ thi
Thành quả b. Điểm TB đạt đƣợc trong b. Phần trăm điểm b. Nếu > 75%
học tập các bài tập thực hành
cao c. Tổng số điểm (điểm tích c. Phần trăm điểm a. Nếu > 80%
lũy)
d…
Tính hiệu a. Số lƣợng bệnh nhân a. Số lƣợng BN đƣợc Theo thống kê sự khác
quả (của chăm sóc trong 1 biệt trƣớc và sau mức
chƣơng tháng/tuần quyết định có đáng kể
52
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
trình y tế) b. Thay đổi bệnh tật b. hay không hoặc
1. Thay đổi mức độ bệnh 1. Những thay đổi tỷ lệ Sự tăng hay giảm trong
2. Thay đổi kiểu bệnh bệnh mỗi biến số đợc quyết
2. Những thay đổi hình định bởi nhà nghiên
trạng bệnh cứu hay các chuyên gia
c. Thay đổi lƣợng tử vong c. khác
1. Thay đổi về tỷ lệ chết ở 1. Thay đổi về tỷ lệ chết
trạng thái tự nhiên tự nhiên
2. Thay đổi về tỷ lệ chết ở 2. Thay đổi về tỷ lệ chết
lứa tuổi xác định ở lứa tuổi xác định
d. Những thay đổi về tình d.
trạng dinh dƣỡng 1. Thay đổi trọng lƣợng
1. Thay đổi trọng lượng 2. Các giai đoạn bệnh
2. Thay đổi giai đoạn bệnh tật trong năm
3. Thay đổi bệnh tật 3. Các thay dổi về kiểu
bệnh
Hình 5.2. Chuyển đổi khái niệm thành biến số
Các kiểu biến số
Một số biến số có thể đƣợc phân loại theo nhiều cách. Sự phân loại đƣợc tiến
hành ở đây theo ba cách khác nhau (xem hình 5.4):
- Mối quan hệ nhân quả;
- Thiết kế nghiên cứu; và
- Đơn vị đo lƣờng.
Từ quan điểm nhân quả.
Trong các nghiên cứu xem xét sự kết hợp hay mối quan hệ nhân quả, bốn bộ
biến số sau có thể dùng đƣợc (xem hình 5.3)
Các biến số liên kết (iv)
Nguyên nhân Kết quả
Biến số thay đổi (i) Biến số kết quả (ii)
Các biến số ảnh hƣởng
đến mối quan hệ (iii)
Hình 5.3. Các loại biến số trong mối quan hệ nhân quả
- Biến số thay đổi, các biến số này gây ra sự thay đổi trong một hiện tƣợng.
53
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Biến số kết quả, là những hậu quả của một biến số thay đổi;
- Biến số ảnh hƣởng đến sự liên kết giữa các biến số nguyên nhân và biến số
kết quả; và
- Biến số liên kết, trong một số trƣờng hợp nào đó, cần thiết để hoàn chỉnh
mối quan hệ giữa các biến số nguyên nhân và biến số kết quả.
Trong các thuật ngữ nghiên cứu, các biến số thay đổi đƣợc gọi là biến số độc
lập, biến số kết quả đƣợc gọi là biến số phụ thuộc, các biến số không thể đo lƣờng
đƣợc nhƣng có ảnh hƣởng đến mối quan hệ nhân quả đƣợc gọi là biến số ngoại lai
và các biến số nối liên kết mối quan hệ nhân quả đƣợc gọi là biến số đan xen.
Do vậy:
- Biến số độc lập - nguồn gốc gây ra thay đổi cho hiện tƣợng hay tình huống.
- Biến số phụ thuộc - kết quả của (những) thay đổi gây bởi biến số độc lập.
- Biến số ngoại lai - một vài nhân tố khác diễn ra ở cuộc sống thực tế có thể
tạo ra những thay đổi lên biến số độc lập. Các nhân tố này, sẽ không đo lƣờng
trong bài nghiên cứu, có thể làm tăng hoặc giảm độ lớn hay cƣờng độ của mối
quan hệ giữa các biến số độc lập và phụ thuộc.
- Biến số đan xen – đôi lúc đƣợc gọi là biến số xáo trộn, liên kết các biến số
phụ thuộc và các biến số độc lập. Trong vài tình huống nào đó, mối quan hệ giữa
biến số phụ thuộc và biến số độc lập không thể xác lập đƣợc nếu không có sự hiện
diện của biến số đan xen.
Các loại biến số
phân loại
Nền tảng
Mô hình nhân quả Thiết kế nghiên cứu Đơn vị đo lƣờng
Sự phân loại
Các biến số Các biến số Các biến số Các biến số Các biến số Các biến số
độc lập đan xen ngoại lai phụ thuộc tích cực biểu trƣng
54
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các biến số Các biến số Các biến số Các biến số
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 5.4. Các kiểu biến số
Ghi chú: Sự phân loại xuyên qua cơ sở phân loại không loại trừ lẫn nhau
ngoại trừ sự phân loại bên trong một cơ sở phân loại. Trong nghiên cứu, mỗi biến
số độc lập có thể là một biến số tích cực, một biến số lượng hay là một biến số
chất lượng, nó cũng có thể là một biến số phạm trù hay một biến số tiếp diễn
nhưng nó không thể là một biến số phụ thuộc, biến số ngoại lai hay biến số đan
xen.
Để giải thích các biến số này, ta hãy xem qua một vài thí dụ. Giả sử ta muốn
nghiên cứu mối quan hệ giữa việc hút thuốc lá và bệnh ung thƣ. Phải thừa nhận
rằng hút thuốc lá là một nguyên nhân gây bệnh ung thƣ. Các nghiên cứu chỉ ra
rằng có những nhân tố ảnh hƣởng đến mối quan hệ này, chẳng hạn số lƣợng thuốc
hút mỗi ngày; thời gian hút thuốc; độ tuổi của ngƣời hút thuốc, thói quen về ăn
uống và mức độ tập thể dục mà ngƣời hút thuốc tham gia. Tất cả những nhân tố
này đều có thể ảnh hƣởng đến mức độ ung thƣ. Các biến số này có thể làm tăng
hay giảm độ lớn của mối quan hệ nhƣng ta không quan tâm đến việc đo lƣờng ảnh
hƣởng của chúng.
Ở thí dụ trên, mức độ hút thuốc lá là một biến số độc lập, ung thƣ là biến số
phụ thuộc và tất cả các biến số có thể ảnh hƣởng đến mối quan hệ này, tích cực
cũng nhƣ tiêu cực, đều là các biến số ngoại lai.
Hút thuốc Ung thƣ
(Nguyên nhân giả định) 55 (Kết quả giả định)
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Hút thuốc Biến số phụ thuộc
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 5.5. Các biến số độc lập, phụ thuộc và ngoại lai trong quan hệ nhân quả
Hãy xem một ví dụ khác. Giả sử bạn muốn nghiên cứu các kết của một dịch
vụ tƣ vấn về các vấn đề hôn nhân gia đình. Hình 5.6 đƣa ra các tập các biến số có
thể dùng khi nghiên cứu mối quan hệ giữa tƣ vấn và hôn nhân gia đình
Dịch vụ tƣ vấn Các vấn đề hôn nhân
(Nguyên nhân giả định) (Kết quả giả định)
Biến số tự do Biến số phụ thuộc
56
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ảnh hƣởng đến
mối quan hệ
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 5.6. Các tập biến số trong các vấn đề tư vấn và hôn nhân gia đình
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa dịch vụ tƣ vấn và các vấn đề hôn nhân,
ngƣời ta thừa nhận rằng dịch vụ tƣ vấn có ảnh hƣởng tích cực hay tiêu cực đến
lĩnh vực hôn nhân. Do vậy, trong bài nghiên cứu về mối quan hệ ở trên, loại dịch
vụ tƣ vấn này là biến số độc lập còn phạm vi các vấn đề hôn nhân là biến số phụ
thuộc. Dù tích cực hay tiêu cực, độ lớn hoặc cƣờng độ của mối quan hệ này cũng
có thể bị ảnh hƣởng bởi những nhân tố trung tâm của bài nghiên cứu. Các biến số
ngoại lai này có thể là việc sinh con, tình hình kinh tế của cặp vợ chồng, động cơ
thay đổi tình hình kinh tế, sự liên quan của ngƣời khác, áp lực từ ngƣời thân và
bạn bèngoại lai có thể làm tăng hoặc giảm độ bền của mối quan hệ này
Thí dụ ở hình 5.7 sẽ giúp ta hiểu hơn về biến số đan xen. Giả sử ta muốn
nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh đẻ và tử vong. Mục đích ở đây là khám phá
điều gì xảy ra với sinh đẻ khi tẻ vong giảm đi.Lịch sử của việc biến đổi nhân khẩu
chỉ ra rằng sau suy giảm mức tử vong là suy giảm mức sinh đẻ - mặc dù trong
khoảng thời gian đạt đƣợc cùng mức suy giảm ở hiện tƣợng sinh đẻ khác nhau
đáng kể ở mỗi nƣớc. Nhƣ vậy chẳng có mối quan hệ trực tiếp nào giữa sinh đẻ và
tử vong. Cùng với việc suy giảm tử vong, mức sinh đẻ chỉ giảm xuống nếu ngƣời
57
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
ta nỗ lực hạn chế kích cỡ gia đình của họ.Lịch sử cũng chỉ ra rằng, với nhiều lý
do, con ngƣời đã dùng biện pháp này hoặc khác đẻ hạn chế sinh đẻ làm cho mức
sinh đẻ thấp đi.
Tử vong Phạm vi sử dụng Sinh đẻ
thuốc tránh thai
Biến số tự do Biến số phụ thuộc
Biến số đan xen
Thái độ đối với việc sử
dụng thuốc ngừa thai trong
cộng đồng
Trình độ văn hoá
Tình hình kinh tế xã hội
Việc cung cấp và chất lƣợng
của dịch vụ y tế
Động cơ cá nhân
Tuổi tác
Tôn giáo…
Các biến số ngoại lai
Hình 5.7. Các biến số độc lập, phụ thuộc, ngoại lai và đan xen
Vì thế, sự can thiệp các biện pháp tránh thai đã giúp cho mối quan hệ hoàn
chỉnh: càng dùng thuốc tránh thai nhiều thì mức sinh đẻ càng giảm. Phạm vi dùng
thuốc tránh thai cũng bị ảnh hƣởng của một số nhân tố khác, chẳng hạn – thái độ
đối với việc ngừa thai, trình độ văn hoá, tình trạng kinh tế - xã hội và tuổi tác, tôn
giáo, sự cung cấp và chất lƣợng của các dịch vụ y tế. Những yếu tố này đƣợc xếp
vào yếu tố ngoại lai.
Ở thí dụ trên, suy giảm tử vong đƣợc giả sử là nguyên nhân suy giảm sinh
đẻ, do vậy mức độ tử vong là biến số độc lập còn mức sinh đẻ là biến số phụ
58
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
thuộc. Nhƣng mối quan hệ này chỉ hoàn chỉnh khi có biến số khác xen vào, thí dụ
nhƣ việc sử dụng các biện pháp tránh thai. Giảm tử vong (đặc biệt là tử vong ở trẻ
em) làm tăng kích cỡ gia đình, việc tăng kích cỡ gia đình tạo ra một số áp lực xã
hội, kinh tế và tâm lý trong gia đình, điều này làm nảy sinh thái độ ƣa chuộng gia
đình ít con. Sự thay đổi về thái độ cuối cùng đƣợc vận hành hoá bằng ứng xử
thông qua việc sử dụng các biện pháp ngừa thai. Nếu ngƣời ta không chấp nhận
phƣơng pháp ngừa thai thì thay đổi ở tỉ lệ tử vong không phản ánh đƣợc thay đổi
ở tỉ lệ sinh đẻ.Sự bùng nổ dân số ở các nƣớc đang phát triển chủ yếu là do không
thừa nhận các phƣơng pháp ngừa thai. Phạm vi sử dụng phƣơng pháp ngừa thai
quyết định mức độ suy giảm sinh sản. Phạm vi thừa nhận phƣơng pháp ngừa thai
trong cộng đồng phụ thuộc và một số nhân tố. Trong mô hình nhân quả này, mức
độ sinh sản là biến số phụ thuộc, phạm vi sử dụng phƣơng pháp tránh thai là biến
số đan xen, mức độ tử vong là biến số độc lập, mức độ sử dụng ngừa thai là biến
số can thiệp/ đan xen, mức độ tử vong là biến độc lập và các biến số không thể đo
lƣờng đƣợc chẳng hạn - thái độ, giáo dục, độ tuổi, tôn giáo, chất lƣợng của dịch
vụ… đều là các biến số ngoại lai. Không có biến số đan xen thì mối quan hệ giữa
các biến thể độc lập và biến số phụ thuộc sẽ không hoàn chỉnh.
Từ quan điểm thiết kế nghiên cứu
Một nghiên cứu khảo sát cho sự quan hệ hay quan hệ nhân quả có thể là một
thí nghiệm đƣợc kiểm soát, hay một giả thực nghiệm. Trong các cuộc thí nghiệm
đƣợc kiểm soát, biến số độc lập (nguyên nhân) đƣợc nhà nghiên cứu hoặc một
ngƣời cung cấp dịch vụ nào đó đề xuất hay thao tác. Trong các tình huống này có
2 bộ biến số:
Biến số tích cực - là các biến số có thể đƣợc thao tác, thay đổi hoặc kiểm soát
Biến số biểu trưng - là các biến số không thể nào đƣợc thao tác, thay đổi
hoặc kiểm soát và chúng phản ánh những đặc tính của tập hợp nghiên cứu,
chẳng hạn nhƣ độ tuổi, giới tính, trình độ văn hoá và thu nhập.
59
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Giả định rằng nghiên cứu đƣợc thiết kế để đo lƣờng tính hiệu dụng tƣơng đối
của 3 mô hình giảng dạy ( mô hình A, B và C). Cấu trúc và nội dung của cá mô
hình này có thể thay đổi và mỗi mô hình có thể đƣợc kiểm thử trên bất kỳ tập hợp
đám đông nào. Nội dung, cấu trúc và việc kiểm thử mô hình ở một đám đông
cũng khác nhau tuỳ thuộc vào ngƣời nghiên cứu. Mặt khác, nghiên cứu viên
không thể kiểm soát đƣợc đặc tính của tập hợp sinh viên chẳng hạn - tuổi tác, giới
tính hay động cơ học tập. Các đặc tính này của tập hợp nghiên cứu đƣợc gọi là
các biến số biểu trƣng. Tuy nhiên, ngƣời nghiên cứu không có khả năng kiểm soát
và/ hay thay đổi mô hình giảng dạy. Anh ấy có thể quyết định điều gì lập nên một
mô hình giảng dạy và mô hình giảng dạy đó nên đƣợc kiểm thử ở nhóm sinh viên
nào.
Đan xen nghiên cưú Tập hợp các nghiên cứu
- - các mô hình giảng dạy - tuổi tác
khác nhau - giới tính
- - đan xen mang tính thí - động cơ
nghiệm - thái độ
- - dich vụ chƣơng trình - tôn giáo
Các biến số tích cực Các biến số biểu trƣng
Nhà nghiên cứu có thể Nhà nghiên cứu không thể
thao tác thao tác
Từ quan điểm của đơn vị đo lƣờng
Từ quan điểm của đơn vị đo lƣờng, có hai cách phân loại các biến số :
Về bản chất , đơn vị đo lƣờng có tính phạm trù ( nhƣ trong thang đo danh
định và thang đo thứ tự) hoặc tính liên tục ( nhƣ ở thang đo khoảng cách và thang
đo tỉ lệ) hay không và
Về bản chất, nó có là định tính ( nhƣ thang đo danh định và thang đo thứ
tự) hoạc là định lƣợng ( nhƣ thang đo khoảng cách và thang đo tỉ lệ) hay không.
Vì vậy, các biến số khi phân loại sẽ đƣợc gọi là biến số phạm trù và liên tục,
và các biến số định tính và định lƣợng.Nói chung, hầu nhƣ không có sự khác biệt
60
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
nào giữa các biến số phạm trù và biến số định tính, giữa các biến số liên tục và
biến số định lƣợng.Sự khác biệt nhỏ giữa chúng đƣợc giải thích dƣới đây.
Biến số phạm trù đƣợc đo lƣờng trên thang danh định hay thang đo thứ tự
trong khi biến số liên tục đƣợc đo lƣờng trên thang đo khoảng cách hay thang đo
tỉ lệ. Biến số phạm trù có thể thể chia thành 3 loại:
1. Hằng số
2. Biến số lƣỡng cực
3. Biến số đa cực
Khi một biến số chỉ một giá trị hay một phạm trù, chẳng hạn –taxi, cây,
nƣớc, thì nó đƣợc gọi là hằng số. Khi một biến số chỉ có 2 phạm trù nhƣ
có/không; tốt/xấu; giàu/nghèo thì nó đƣợc gọi là biến số lƣỡng cực. Khi một biến
số đƣợc chia thành nhiều hơn hai phạm trù, chẳng hạn – tôn giáo (công giáo, đạo
hồi, đạo Hindu); đảng chính trị ( lao động, dân chủ, tự do) thì nó đựơc gọi là các
biến số đa cực.
Mặt khác, biến số liên tục có tính liên tục trong đo lƣờng. Thí dụ tuổi tác, thu
nhập có thể nhận bất kỳ giá trị nào trên thƣớc đo.Tuổi tác có thể đƣợc đo bằng
năm, tháng và ngày.Tƣơng tự, thu nhập có thể đƣợc đo bằng đồng bạc và xu.
Trong nhiều trƣờng hợp, biến số định tính giống nhƣ biến số phạm trù vì cả
hai đều sử dụng thang đo danh định hay thang đo thứ tự. Tuy nhiên, có một số
khác biệt. Thí dụ, có thể phát triển các phạm trù trên cơ sở các phép đo thực hiện
trên thang đo liên tục, nhƣ thu nhập bằng đồng bạc và đồng xu đƣợc xếp loại là đo
lƣờng của biến số liên tục trong khi các phép đo chủ quan của nó ở các phạm trù
nhƣ các nhóm “thấp”, “trung”, “cao” là các phép đo của biến số định tính.
Mặc dù sự khác biệt này vẫn tồn tại nhƣng đối với hầu hết các mục đích thực
tiễn, không có điểm khác nhau giữa biến số phạm trù và biến số định tính hay
giữa biến số liên tục và biến số định lƣợng.Hình 5.9 cho thấy sự giống và khác
nhau giữa các loại biến số khác nhau.
61
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Biến số phạm trù Liên tục Định tính Định
Hằng số Lƣỡng cực Đa cực lƣợng
- nƣớc - có/không Các thái độ -Thu nhập Giới tính: Mức học
- cây - tốt/xấu - tán thành ($) - vấnn
- taxi - mạnh mẽ Tuổi (năm) am
giàu/nghè - tán thành Trọng - số
X: n năm
o - không chắc lƣợng(kg) ữ hoàn
- - phản đối thành
ngày/đêm quyết liệt - M
Age:*
- nam/nữ Các đảng chính ức học vấn
- trị - X- c
nóng/lạnh - Đảng Lao ao (năm/
^ Động - t
tháng)
- Đảng tự do rung Thu
- Đảng dân bình nhập:^
chủ - t
X $/ năm
Tuổi tác:* hấp Nhiệt độ:+
- già Tuổi tác:^ X-C hay
- trẻ - F g
- bé ià
Thu nhập:^ - t
- cao rẻ
- trung bình - b
- thấp é
- - c
ao
- t
rung
bình
- t
hấp
62
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Nhiệt độ:+
- n
óng
- l
ạnh
*: Có thể xếp vào loại định tính, thí dụ: già, trẻ, bé; hay định lƣợng trên thang đo
liên tục, thí dụ:năm, tháng và ngày.
^ : Có thể đo định lƣợng bằng đồng bạc và đồng xu cũng nhƣ đo định tính
nhƣ cao, trung bình, thấp
+ : Tƣơng tự, nhiệt độ có thể đo định lƣợng bằng độ trên các thang khác
nhau (độ C, độ Fahrenheit) hay đo định tính nhƣ nóng, lạnh.
C = Centigrade: thang chia nhiệt độ lấy điểm đông của nƣớc là 0 và điểm
sôi của nƣớc là 100.
F = Fahrenheit: thang nhiệt độ mà điểm đông của nƣớc là 32 F và điểm sôi
là 212 F
Hình 5.9. Các biến số phạm trù/liên tục và định lượng/định tính
Đối với một ngƣời mới bắt đầu, cần phải hiểu rằng cách đo lƣờng một biến
số quyết định kiểu phân tích có thể được dùng, các thủ tục thống kê được áp dụng
vào dữ liệu, cách giải thích dữ liệu và cách truyền đạt những kết quả phát hiện
được. Khi mới bắt đầu, có thể không nhận thấy rằng phong cách của bản báo cáo
nghiên cứu hoàn toàn lệ thuộc vào cách đo lƣờng các biến số khác nhau. Cách đo
lƣờng các biến số trong bài nghiên cứu về bản chất là “định tính” hay “định
lƣợng”. Vì vậy, điều quan trọng là phải biết rõ các thang đo lƣờng các biến số.
Các kiểu thang đo lƣờng
Khung cơ sở mà chúng ta mong muốn đặt vừa vặn mọi thứ trong cái khung
đó là cái khung do chính chúng ta thiết kế; nhƣng chúng ta không tạo nó ra ngẫu
nhiên mà bằng cách đo lƣờng: đó là lý do tại sao ta có thể đặt vừa vặn các sự kiện
vào trong nó mà không phải thay đổi các thuộc tính phẩm chất của chúng
(Poincaré- 1952)
63
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Việc đo lƣờng đóng vai trò trung tâm đối với mọi câu hỏi có tính khoa học.
Các đơn vị đo lƣờng của biến số càng đƣợc chia mịn thì mức độ tin tƣởng càng
cao. Một trong những sự khác biệt chính giữa khoa học xã hội và khoa học vật lý
là các đơn vị đo lƣờng đƣợc sử dụng và mức độ quan trọng đƣợc gán vào chúng.
Trong các môn khoa học vật lý, đo lƣờng phải chính xác tuyệt đối, trong khi các
môn khoa học xã hội, các phép đo lƣờng có thể thay đổi từ chủ quan đến định
lƣợng. Trong khoa học xã hội, việc nhấn mạnh độ chính xác trong các phép đo
lƣờng thay đổi rất đáng kể theo từng nghành. Một chuyên gia về nhân chủng học
thông thƣờng có thể dùng các đơn vị đo lƣờng rất “chủ quan” trong khi một nhà
kinh tế học có thể nhấn mạnh vào các phép đo “ khách quan”.
Có hai hệ thống phân loại chính trong khoa học xã hội để đo lƣờng các loại
biến số khác nhau.
Một đƣợc triển khai bởi S.S. Stevens (1946) và một đo Duncan (1984). Theo
Smith (1991) “Duncan (1984) đã liệt kê 5 loại đo lƣờng theo trình tự quan tâm
tăng dần của các nhà khoa học – thang đo danh định, thang đo thứ tự, thang đo
bản số, thang đo tỉ lệ và thang đo xác xuất". Còn Stevens đã xếp các thang đo
lƣờng khác nhau thành 4 loại:
danh định hay phân loại;
thứ tự hay cấp bậc;
khoảng cách; và
tỷ lệ
Thang đo danh định hay thang đo phân loại
Thang đo danh định cho phép phân loại các cá thể, vật thể hay các phản ứng
dựa trên các đặc tính chung. Những ngƣời, vật thể hay phản ứng này đƣợc chia
thành một số các nhóm nhỏ bằng cách mỗi thành viên của một nhóm nhỏ phải có
chung một thuộc tính. Một biến số đƣợc đo bằng thang đo danh định có thể có 1,
2 hay nhiều hơn các phạm trù con phụ thuộc vào mức độ khác nhau.
64
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Thí dụ: “nƣớc” và “cây” chỉ có một phạm trù con trong khi biến số “ giới
tính” có hai phạm trù con – nam và nữ. Tƣơng tự các đảng chính trị ở Úc đƣợc
phân thành 4 phạm trù con: đảng Lao động, đảng Tự do, đảng Dân chủ và đảng
Xanh. Những ngƣời sùng tín hoặc những đảng viên sẽ đựơc gọi theo tên đảng
tƣơng ứng. tên của phạm trù chỉ mang ý niệm, nhƣng để dễ tuyên truyền tốt nhất
nên chọn một danh hiệu nào đó mô tả đƣợc đặc tính của phạm trù con.
Phân loại bằng thang đo danh định phải đảm bảo rằng các cá thể trong cùng
nhóm con có cùng đặc tính chung là cơ sở để phân loại. Thứ tự giữa các nhóm
không có ý nghĩa gì cả bởi vì không có quan hệ giữa các nhóm con.
Thang đo thứ tự hay thang xếp hạng
Thang thứ tự có đầy đủ đặc tính của thang danh định và có riêng một dặc
tính khác. Bên cạnh việc phân loại cá thể, vật thể, phản ứng có cùng các đặc tính
chung thành các nhóm con, nó còn xếp các nhóm con theo một trình tự nào đó.
Chúng đƣợc xắp xếp theo trình tự (đi) lên hoặc (đi) xuống theo mức đọ khác nhau
của biến số trong một nhóm con. Thí dụ, thu nhập có thể đƣợc đo định lƣợng
(đồng bạc và đồng xu) hoặc định tính bằng cách dùng 4 phạm trù con: “trên trung
bình”, “trung bình”, và dƣới “trung bình”. (Các phạm trù này cũng có thể đƣợc
xây dựng trên các phép đo định lƣợng, thí dụ: dƣới 10.000 USD là dƣới trung
bình, từ 10.000 đến 25.000 USD là trung bình và trên 25.000 USD là trên mức
trung bình). Phạm trù con “trên trung bình” chỉ ra rằng những ngƣời trong nhóm
này có thu nhập nhiều hơn những ngƣời ở phạm trù “trung bình” và những ngƣời
ở phạm trù “trung bình” có thu nhập nhiều hơn những ngƣời ở phạm trù “dƣới
trung bình”. Các phạm trù về thu nhập có liên quan lẫn nhau thông qua độ lớn của
thu nhập của ngƣời ta, nhƣng bản thân độ lớn về thu nhập này không thể định
lƣợng đƣợc, và vì vậy sự khác nhau giữa các phạm trù “trên trung bình” và “trung
bình” hoặc giữa “ trung bình” và “dƣới trung bình” không đƣợc xác minh. Đối với
các biến số chẳng hạn - tình trạng kinh tế - xã hội và thái độ đƣợc đo bằng thang
đo thứ tự - cũng tƣơng tự nhƣ vậy.
65
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Vì vậy, thang đo thứ tự có đầy đủ các đặc tính của thang đo danh định bên
cạnh thuộc tính riêng của nó. Các phạm trù con đƣợc sắp xếp theo thứ tự của độ
lớn các thuộc tính. Khoảng cách giữa các phạm trù con này không bằng nhau và
cũng không có đơn vị đo lƣờng nào mang tính định lƣợng.
Thang đo khoảng cách
Thang đo khoảng cách có đầy đủ thuộc tính của thang đo thứ tự, tức là – các
cá thể hay đáp ứng thuộc một phạm trù con sẽ có cùng các thuộc tính chung và
các phạm trù con đƣợc sắp xếp theo thứ tự tăng hoặc giảm. Ngoài ra, thang đo
khoảng cách còn sử dụng một đơn vị đo lƣờng cho phép đặt các cá thể hoặc các
đáp ứng vào các khoảng cách bằng nhau có mối liên quan đến độ trải rộng của
biến số. Khoảng cách giữa điểm khởi đầu và điểm kết thúc của thang đo này đƣợc
chia thành các khoảng bằng nhau. Các điểm khởi đầu, điểm kết thúc và số lƣợng
các đơn vị khoảng cách giữa chúng thay đổi bất kỳ và tuỳ thuộc vào thang đo.
Thang đo độ bách phân và Farhenheit là các thí dụ về thang đo khoảng cách.
Trong hệ thống độ bách phân điểm khởi đầu (đƣợc xem là điểm đông) là 0 và
điểm kết thúc (đƣợc xem là điểm sôi) là 100 C. Khoảng cách giữa điểm đông và
điểm sôi đƣợc chia thành 100 khoảng cách bằng nhau, hay còn gọi là độ. Trong
hệ thống Farhenheit điểm đông là 32 F và điểm sôi là 212 F, và khoảng cách
giữa hai điểm đƣợc chia thành 180 khoảng cách bằng nhau. Mỗi độ hay mỗi
khoảng cách là một con số đo nhiệt độ. Độ càng cao thì nhiệt độ càng lớn. Vì
điểm khởi đầu và kết thúc là bất kỳ nên chúng không có tính tuyệt đối, thí dụ:
không thể nói rằng 60C nóng gấp đôi 30C hoặc 30F nóng gấp 3 lần 10F. Điều
này có nghĩa là không vận dụng toán học khi đọc thang đo mà vận dụng toán học
đẻ phân biệt sự khác nhau trong cách viết. Thí dụ: chênh lệch nhiệt độ giữa hai
vật thể A và B là 15C và chênh lệch nhiệt độ giữa hai vật thể khác là C và D là
45C, có thể nói rằng chênh lệch nhiệt độ giữa C và D lớn hơn 3 lần so với chênh
lệch nhiệt độ giữa A và B.
66
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Thang đo khoảng cách có tính tƣơng đối, tức là nó biểu diễn (đặt) vị trí của
các cá thể hoặc đáp ứng liên hệ với các cá thể hoặc đáp ứng khác theo độ lớn của
biến số đo lƣờng. Do vậy, thang đo khoảng cách có đầy đủ thuộc tính của thang
thứ tự, ngoài ra nó còn có một đơn vị đo lƣờng với điểm khởi đầu và kết thúc tuỳ
ý. Bởi thế, về bản chất nó mang tính tƣơng đối. Vì thang khoảng cách là thang
tƣơng đối nên không vận dụng toán học khi đọc các kết quả đo lƣờng trên thang.
Thang đo tỷ lệ
Thang đo tỷ lệ có đầy đủ các đặc tính của thang đo danh định, thang đo thứ
tự, thang đo khoảng cách, ngoài ra nó còn có thuộc tính riêng - điểm 0 của thang
đo tỉ lệ cố định. Vì vậy, nó là thang đo tuyệt đối - sự khác nhau giữa các khoảng
cách luôn đƣợc đo từ điểm 0. Điều này có nghĩa là có thể vận dụng toán học với
thang đo tỷ lệ. Phép đo về thu nhập, tuổi tác, chiều cao, trọng lƣợng là những thí
dụ của thang đo này. Ngƣời 40 tuổi lớn tuổi gấp đôi ngƣời 20 tuổi, ngƣời có thu
nhập 60.000 USD một năm nhiều hơn ngƣời có thu nhập 20.000 USD là 3 lần.
Hình 5.10 tóm tắt các thuộc tính của 4 thang đo.
A. Cây Thu nhập: Nhiệt độ: Chiều cao: cm
, nhà cửa, trên trung độ bách phân - inches
taxi bình > C ( 1 inch = 254
B. Giớ trung bình độ Fahrenheit - cm)
i tính: dƣới trung > 32F
nam/nữ bình Thu nhập
Thái độ: Tình trạng (USD)
Các thí đồng kinh tế xã Tuổi tác (
dụ ý/không hội năm/tháng)
đồng ý thƣợng lƣu Trọng lƣợng
C. Các trung lƣu (kg)
Đảng hạ lƣu
chính trị: Thái độ
Đảng đồng ý
Lao Động mạnh mẽ
Đảng tự tán thành
do (đồng ý)
67
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Đảng không chắc
Dân chủ chắn
Đảng không tán
Xanh thành
D. Các phản đối
tôn giáo: quyết liệt
Công giáo
Hồi giáo
Hin đu
…
Thang Định danh hoặc Thứ tự hay xếp Khoảng cách Tỉ lệ
đo phân loại hạng
1. Các biến số 1. Có 1. C 1. Có
có chung một đầy đủ ó đầy đủ đầy đủ
thuộc tính đƣợc các các thuộc
xếp vào cùng thuộc thuộc tính của
Thuộc 1phân nhóm tính của tính của thang đo
tính thang thang đo khoảng
của danh thứ tự - cách –
thang định, thí
đo dụ: các
cá thể
đƣợc xếp
vào một NGOÀI NGOÀI
nhóm RA RA
con nếu 2. Có 2. Còn có
có cùng một đơn điểm khởi
một vị đo đầu cố định,
thuộc lƣờng thí dụ điểm
tính – với điểm 0
NGOÀI khởi đầu
RA.. và điểm
2. Cá kết thúc
c nhóm tuỳ ý
con phải
có mối
quan hệ
với nhau.
Chúng
68
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
đƣợc sắp
xếp theo
thứ tự
tăng hay
giảm
Hình 5.10. Các thuộc tính và thí dụ của bốn thang đo
Tóm tắt chƣơng
Kiến thức về các loại biến số khác nhau và cách thức đo lƣờng chúng đóng
một vai trò quan trọng nghiên cứu. Các biến số là yếu tố cần thiết tạo ra tính rõ
ràng và cụ thể cho việc quan niệm hoá đề tài nghiên cứu, cho việc thiết lập các giả
thuyết và cho việc triển khai các thiết bị nghiên cứu. Chúng ảnh hƣởng đến cách
phân tích dữ liệu, cách áp dụng các kiểm tra thống kê vào dữ liệu, cách giải thích,
cách trình bày dữ liệu và cách rút ra kết luận từ nghiên cứu. Cách thức đặt câu hỏi
sẽ quyết định tính chất của nó trên thang đo, điều này lại ảnh hƣởng đến cách
phân tích dữ liệu, các phép kiểm thử thống kê áp dụng lên dữ liệu, các phân giải
và trình bày dữ liệu cũng nhƣ rút ra kết luận của bài nghiên cứu. Ở một phạm vi
rộng lớn hơn, cách thức đo lƣờng một số biến số ở giai đoạn thu thập dữ liệu
quyết định bài nghiên cứu phần lớn là “định tính” hay “định lƣợng”. Đối với
ngƣời mới bắt đầu, cần hiểu các phƣơng pháp đo lƣờng một biến số và ý nghĩa
tƣơng ứng trong nghiên cứu. Một biến số có thể đƣợc phân loại từ 3 quan điểm
không loại trừ nhau: mối quan hệ nhân quả, thiết kế nghiên cứu và đơn vị đo
lƣờng.
Có 4 thang đo lƣờng đƣợc dùng trong khoa học xã hội: thang danh định,
thang thứ tự, thang khoảng cách và thang tỷ lệ. Bất kỳ khái niệm nào đƣợc đo trên
các thang này đều đƣợc gọi là một biến số. Các thang đo cho phép các đáp ứng
mang tính chủ quan cao, cũng nhƣ các đáp ứng đƣợc đo với độ chính xác rất cao
đƣợc phạm trù hoá. Việc chọn phƣơng pháp đo một biến số trên một thang đo lệ
69
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
thuộc vào mục đích của bài nghiên cứu và cách thức truyền đạt các phát hiện của
nghiên cứu cho ngƣời đọc.
CHƢƠNG 6: THIẾT LẬP GIẢ THUYẾT
- Định nghĩa giả thuyết.
- Chức năng của giả thuyết.
- Thuộc tính của giả thuyết.
- Các loại giả thuyết.
- Các lỗi khi kiểm thử giả thuyết
- Tóm tắt chƣơng
Định nghĩa giả thuyết
Yếu tố quan trọng thứ hai để thiết lập đề tài nghiên cứu là việc xây dựng giả
thuyết. Các giả thuyết, một mặt – giúp cho đề tài nghiên cứu đạt đƣợc tính rõ
ràng, cụ thể và xoáy vào trọng tâm, một mặt - lại không tuyệt đối cần thiết đối với
bài nghiên cứu. Có thể tiến hành nghiên cứu vững vàng mà không cần phải xây
dựng một giả thuyết hình thức nào cả. Mặt khác, trong ngữ cảnh nghiên cứu, có
thể thiết lập nhiều giả thuyết một cách hợp lý. Các giả thuyết về cơ bản xuất phát
từ một chuỗi linh cảm đƣợc kiểm nghiệm qua nghiên cứu và nhà nghiên cứu có
thể tiến hành cuộc nghiên cứu hoàn toàn hợp lý mà không cần có những linh cảm
hoặc suy đoán này. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu về bệnh dịch học, để thu hẹp
phạm vi nghiên cứu, cần phải thiết lập các giả thuyết.
Tầm quan trọng của giả thuyết nằm ở khả năng mang lại chiều hƣớng, tính
đặc thù và trọng tâm cho bài nghiên cứu. Giả thuyết giúp nhà nghiên cứu biết
đƣợc thông tin cụ thể nào cần thu nhặt và vì vậy giúp đi đúng vào trọng tâm hơn.
Hãy tƣởng tƣợng bạn đang ở trong các cuộc đua và bạn đặt tiền cá cƣợc. Bạn
tin chắc vào linh cảm là một con ngựa cụ thể nào đó sẽ thắng cuộc. Nhƣng rõ
ràng, chỉ biết đƣợc linh cảm này đúng hay sai sau cuộc đua. Một ví dụ khác - giả
sử bạn làm việc trong lĩnh vực y tế cộng đồng. Ấn tƣợng ở đây là có một tần suất
về một điều kiện đặc thù nào đó cao hơn hẳn trong tập hợp ngƣời đến từ một
70
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
nhóm dân cƣ cụ thể. Cần tìm ra nguyên nhân có thể của điều này, và rõ ràng là có
thể có nhiều nguyên nhân. Việc tìm ra mọi nguyên nhân xác đáng sẽ đòi hỏi nhiều
thời gian và thông tin . Do vậy, phải dựa vào kiến thức về lĩnh vực y tế để xác
định nguyên nhân nào có thể xảy ra nhất. Cần xác lập một nghiên cứu để thu nhặt
thông tin cần thiết nhằm kiểm tra dự cảm của mình. Khi kiểm chứng, nếu có thể
kết luận rằng – nguyên nhân giả định chính là nguyên nhân thực sự của điều kiện
thì giả sử của ta đã đúng.
Trong những thí dụ này, ta đã khởi đầu bằng giả định và dự cảm thuần tuý.
Trong một trƣờng hợp chẳng hạn đua ngựa, ta đợi cho sự kiện xảy ra và ở trƣờng
hợp khác – y tế cộng đồng – ta thiết kế một nghiên cứu để đánh giá tính hợp lý
của giả định, và chỉ sau khi kiểm tra kỹ càng ta kết luận đƣợc tính xác thực của
các giả định của mình.
Các giả thuyết đều dựa trên các logic nhƣ vậy. Là nhà nghiên cứu, có thể ta
không biết gì về một hiện tƣợng, một tình huống, ƣu thế của một điều kiện nào đó
trong một cộng đồng hay kết quả của một chƣơng trình nhƣng lại có một dự cảm
nào đó làm cơ sở cho một số các giả định hoặc phỏng đoán. Ta kiểm chứng điều
này bằng cách thu nhặt thông tin cho phép kết luận - dự cảm của mình đúng hay
không. Quá trình kiểm chứng này có thể có 3 kết quả. Linh cảm có thể là:
1. Đúng;
2. Đúng một phần; hoặc
3. Sai.
Không có quá trình kiểm chứng này, không thể kết luận gì về tính xác thực
của giả định.
Vì vậy, giả thuyết là dự cảm, giả định, nghi ngờ, quả quyết hay ý kiến về một
hiện tƣợng, mối qan hệ hay một tình huống, mà ta không biết sự thật nó. Nhà
nghiên cứu gọi các giả định, quả thuyết, khẳng định và dự cảm này là các giả
thuyết và chúng trở thành cơ sở của vấn đề truy vấn. Trong hầu hết các nghiên
71
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
cứu, giả định đƣợc dựa vào các nghiên cứu trƣớc hoặc dựa trên các quan sát riêng
của ta hay của những ngƣời khác.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về giả thuyết. Theo Kerlinger, “giả thuyết là
một mệnh đề phỏng đoán về mối quan hệ giữa hai hay nhiều biến số”. Tự điển
quốc tế bản mới Webster quốc tế mới về tiếng Anh định nghĩa giả thuyết là mệnh
đề, điều kiện hoặc nguyên lý được giả định, có thể không có niềm tin, nhằm rút ra
các kết luận hợp lý và bằng phương pháp này để kiểm tra tính phù hợp với các sự
kiện đƣợc biết hoặc đã xác định. Black và Champim định nghĩa giả thuyết là
“phát biểu thiên về một cái gì đó mà tính xác thực của nó thƣờng chƣa đƣợc biết
đến”. Theo Bailey, giả thuyết là mệnh đề được phát biểu dưới hình thức có thể
kiểm chứng được và điều đó tiên đoán mối quan hệ đặc thù giữa hai hay nhiều
biến số. Nói cách khác, nếu ta nghĩ rằng có một mối quan hệ nào đó thì trước tiên
hãy phát biểu điều đó dưới dạng giả thuyết, rồi sau đó kiểm thử giả thuyết này
trong lĩnh vực tương ứng.
Từ các định nghĩa trên, rõ ràng một giả thuyết gồm có các đặc tính sau:
1. Là một mệnh đề có tính định hƣớng.
2. Tính xác thực của nó chƣa đƣợc biết đến; và
3. Trong hầu hết các trƣờng hợp, xác định mối quan hệ giữa hai hay nhiều
biến số.
Chức năng của giả thuyết
Trong khi một số nhà nghiên cứu tin rằng để tiến hành một nghiên cứu, cần
phải có một giả thuyết – nhƣ đƣợc đề cập ở trên, việc ở một giả thuyết lại không
quan trọng. Tuy nhiên, giả thuyết quan trọng ở chỗ nó làm cho đề tài nghiên cứu
có tính rõ ràng. Cụ thể, giả thuyết có các chức năng sau:
Giai đoạn I Giai đoạn II Giai đoạn III
Kiểm chứng hoặc Kết luận đúng
Dự cảm giả định
nghiên cứu hay sai
72
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 6.1. Quá trình kiểm chứng một giả thuyết
- Việc thiết lập giả thuyết giúp bài nghiên cứu xoáy vào trọng tâm. Nó cho
biết cần phải kiểm chứng những khía cạnh cụ thể nào của đề tài nghiên cứu.
- Giả thuyết cho biết cần thu nhặt dữ liệu nào vào không cần thu nhặt dữ liệu
nào, vì vậy giả thuyết giúp xoáy vào trọng tâm.
- Khi xoáy vào trọng tâm, việc thiết lập giả thuyết làm tăng tính khách quan
trong bài nghiên cứu.
- Giả thuyết giúp bạn củng cố lý thuyết và lấp các lỗ hổng kiến thức.
Đặc tính của giả thuyết
Khi thiết lập giả thuyết, cần có một số cân nhắc sau vì chúng quan trọng đối
với việc kiểm chứng tính xác thực.
- Một giả thuyết cần đơn giản, cụ thể và rõ ràng về khái niệm – không thể
mơ hồ khi thiết lập một giả thuyết, vì điều đó không giúp kiểm chứng đƣợc giả
thuyết. Giả thuyết nên có tính đơn chiều, tức là chỉ có thể kiểm thử một mối quan
hệ duy nhất ở một thời điểm nào đó. Để có thể xây dựng một giả thuyết tốt, cần
phải quen thuộc với lĩnh vực chủ đề (việc xem xét các tài liệu hữu ích vô cùng).
Càng hiểu sâu vấn đề, càng dễ thiết lập giả thuyết. Thí dụ - tuổi trung bình của
sinh viên nam trong lớp này cao hơn tuổi trung bình của sinh viên nữ.
Giả thuyết ở trên là rõ ràng, cụ thể và dễ dàng kiểm chứng. Nó cho biết ta
đang cố gắng so sánh cái gì (tuổi trung bình của lớp này), các nhóm ngƣời nào
đang đƣợc nghiên cứu (sinh viên nam và sinh viên nữ), và muốn thiết lập điều gì
(tuổi trung bình của sinh viên nam cao hơn).
Giả thuyết của Back anh Champion “Tỷ lệ tự tử thay đổi ngƣợc chiều với các
mối liên kết xã hội”.
Giả thuyết này rõ ràng và cụ thể nhƣng khó kiểm chứng hơn nhiều. Nó có 3
khía cạnh: “tỷ lệ tự tử”; “thay đổi ngƣợc chiều” – nói lên hƣớng của mối quan hệ;
và “liên kết xã hội”. Để tìm ra các tỷ lệ tự tử và xác lập mối quan hệ có nghịch
73
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
chiều hay không thì tƣơng đối dễ, nhƣng thật rất khó để xác minh liên kết xã hội.
Điều gì quyết định liên kết xã hội? Nó đƣợc đo lƣờng nhƣ thế nào? Vấn đề này
làm cho việc kiểm chứng giả thuyết khó khăn.
- Giả thuyết phải có thể kiểm chứng đƣợc - phải có sẵn các phƣơng pháp và
kỹ thuật để thu thập và phân tích dữ liệu. Chẳng có ý nghĩa gì khi thiết lập một giả
thuyết mà nó không đƣợc kiểm chứng do không có phƣơng pháp kỹ thuật để tiến
hành. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là – không nên thiết lập giả thuyết khi
không có các phƣơng pháp kiểm chứng. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, ta
có thể phát triển những kỹ thuật mới để kiểm chứng nó.
- Giả thuyết phải có liên quan đến kho tàng kiến thức xuất phát từ kiến thức
và bổ sung vào kiến thức là yếu tố quan trọng, vì đó là chức năng quan trọng của
nghiên cứu. Điều này chỉ có thể có đƣợc nếu giả thuyết bắt nguồn từ kiến thức.
- Giả thuyết phải mang tính vận hành, nghĩa là, nó đƣợc diễn giải bằng các
số hạng có thể đo lƣờng đƣợc. Nếu không đo lƣờng đƣợc, không thể kiểm thử
đƣợc và do vậy không thể rút ra kết luận nào cả.
Các kiểu giả thuyết
Nhƣ đã giải thích, bất kỳ gia đình nào mà ta muốn có tính xác thực bằng việc
chất vấn tìm hiểu thì đƣợc gọi là giả thuyết. Do vậy, về mặt lý thuyết, chỉ có duy
nhất một loại giả thuyết. Do vậy, về mặt lý thuyết, chỉ có duy nhất một loại giả
thuyết, đó là giả thuyết nghiên cứu – là cơ sở cho việc tìm hiểu. Tuy nhiên, do các
quy ƣớc trong các tìm hiểu khoa học và do cách diễn đạt đƣợc sử dụng khi thiết
lập giả thuyết, giả thuyết có thể đƣợc chia thành vài loại. Nói rộng ra, có 2 loại giả
thuyết:
1. Giả thuyết nghiên cứu; và
2. Giả thuyết biến thể.
Việc thành lập giả thuyết biến thể là một quy ƣớc trong giới khoa học. Chức
năng chính của nó là xác định tƣờng minh quan hệ sẽ đƣợc xem là đúng trong
trƣờng hợp giả thuyết nghiên cứu đƣợc chứng tỏ là đã sai. Theo một cách nào đó,
74
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
giả thuyết biến thể là đối lập với giả thuyết nghiên cứu. Theo quy ƣớc thông
thƣờng, một giả thuyết rỗng, hay giả thuyết không có điểm khác biệt sẽ đƣợc coi
là một giả thuyết biến thể.
Hãy xem một thí dụ. Giả sử, ta muốn kiểm thử các tổ hợp ảnh hƣởng khác
nhau về các dịch vụ y tế chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ - trẻ em với các
thành phần dinh dƣỡng lên tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Hình 6.2 minh hoạ một
thiết kế thực nghiệm tƣơng ứng.
Các dịch vụ y tế chăm sóc - bảo vệ sức khẻo bà mẹ và trẻ em
Các thành phần dinh dƣỡng
Có Không
Chăm sóc bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và
Có Thành phần dinh dƣỡng
trẻ em + thành phần dinh dƣỡng
Chăm sóc bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và
Không Nhóm kiểm soát
trẻ em
Hình 6.2. Thí nghiệm để nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chăm sóc -
bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, thành phần dinh dưỡng và tỷ lệ tử vong ở trẻ
sơ sinh
Có vài cách thành lập một giả thuyết. Chẳng hạn:
1. Không có sự khác biệt về mức độ tử vong trẻ sơ sinh trong các phƣơng
pháp điều trị khác nhau.
2. Nhóm điều trị chăm sóc bảo vệ bà mẹ và trẻ em và cung cấp thành phần
dinh dƣỡng làm giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh so với nhóm điều trị chăm sóc - bảo
vệ bà mẹ và trẻ em, nhóm thành phần dinh dƣỡng hay nhóm kiểm soát
3. Trong vòng 5 năm tới, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở nhóm điều trị chăm sóc
bảo vệ bà mẹ và trẻ em sẽ lên đến 30/1000.
4. Trong vòng 5 năm tới, mức giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở nhóm điều trị
chăm sóc bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em sẽ gấp 3 lần so với nhóm thành phần
dinh dƣỡng.
75
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hãy xem một thí dụ khác. Giả sử bạn muốn nghiên cứu mô hình hút thuốc
liên quan đến sự khác biệt về giới tính. Có thể theo các giả thuyết sau:
1. Không có sự khác nhau đáng kể ở tỷ lệ ngƣời hút thuốc nam và nữ trong
tập hợp nghiên cứu.
2. Tỷ lệ nữ hút thuốc nhiều hơn nam trong tập hợp nghiên cứu.
3. 30% nữ và 60% nam là ngƣời hút thuốc trong tập hợp nghiên cứu.
4. Nữ hút thuốc nhiều hơn 2 lần so với nam trong tập hợp nghiên cứu.
Trong cả 2 thí dụ, cách thành lập giả thuyết đầu tiên chỉ ra rằng không có sự
khác nhau ở phạm vi tác động của các phƣơng pháp điều trị khác nhau vào tỷ lệ tử
vong trẻ sơ sinh và ở tỷ lệ nam và nữ hút thuốc. Khi thiết lập giả thuyết, hãy nhó
rằng không có sự khác biệt giữa 2 tình huống, nhóm, hậu quả, hoặc là ƣu thế của
một điều kiện hay hiện tƣợng nào đó, điều này gọi là giả thuyết rỗng và thƣờng
đƣợc viết là H0.
Giả thuyết thứ 2 ở mỗi thí dụ hàm ý rằng có sự khác nhau nào đó về phạm vi
tác động của các phƣơng pháp điều trị khác nhau vào tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và
về tỷ lệ hút thuốc ở nam và nữ trong tập hợp nghiên cứu, mặc dù mức độ khác
nhau không cụ thể. Giả thuyết mà ở đó nhà nghiên cứu cho rằng có sự khác nhau
nào đó nhƣng lại không định rõ mức độ khác nhau thì đƣợc gọi là giả thuyết khác
biệt.
Nhà nghiên cứu có thể hiểu rõ hành vi hút thuốc của cộng đồng hoặc chƣơng
trình điều trị và hậu quả có thể xảy ra để suy đoán hầu nhƣ chính xác tình trạng
phổ biến của tình huống hay kết quả của chƣơng trình điều trị bằng các đơn vị
định lƣợng. Hãy xem giả thuyết thứ 3 ở cả 2 thí dụ trên: tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh
là 30/1000 và tỷ lệ của ngƣời hút thuốc nam và ngƣời hút thuốc nữ là 60% và
30%. Loại giả thuyết này đƣợc gọi là giả thuyết điểm - phổ biến.
Giả thuyết thứ 4 ở cả 2 thí dụ phỏng đoán mối quan hệ giữa tác động của các
tổ hợp khác nhau của các chƣơng trình bảo vệ - chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ
em trên biến số phụ thuộc (tử vong ở trẻ sơ sinh) hoặc mối quan hệ giữa tình trạng
76
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
phổ biến của một hiện tƣợng (hút thuốc) trong các tập hợp nghiên cứu (nam và
nữ). Loại giả thuyết này phỏng đoán phạm vi của mối quan hệ dƣới dạng kết quả
của các nhóm điều trị khác nhau trên biến số phụ thuộc (“hơn 5 năm, nhóm điều
trị chăm sóc - bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em tăng 3 lần so với nhóm thành phần
dinh dƣỡng”) hay tình trạng phổ biến của một hiện tƣợng ở các nhóm dân cƣ
khác nhau (“nữ hút thuốc nhiều hơn nam 2 lần”). Loại giả thuyết này đƣợc gọi là
giả thuyết kết hợp.
Các loại giả thuyết
Giả thuyết biến thể
(giả thuyết nghịch) Các giả thiết nghiên cứu
Giả thiết Giả thiết Giả thiết Giả thiết Giả thiết
không xác thực không xác thực knác biệt đặc trƣng kết hợp
Hình 6.3. Các kiểu giả thuyết
Có thể có sự nhầm lẫn nào đó về giả thuyết rỗng và giả thuyết nghiên cứu
nhƣ ở hình 6.3 - giả thuyết rỗng cũng đƣợc phân loại vào nhóm “giả thuyết nghiên
cứu”. Bất kỳ giả thuyết nào, bao gồm giả thuyết rỗng, đều trở thành nền tảng của
vấn đề nghiên cứu. Khi giả thuyết rỗng trở thành nền tảng của việc tìm hiểu thì nó
trở thành giả thuyết nghiên cứu.
Lỗi khi kiểm thử giả thuyết
Nhƣ đã đƣợc trình bày, giả thuyết là giả định có thể chứng minh đƣợc là
đúng hay sai. Có thể đƣa đến một kết luận không chính xác về một giả thuyết vì
nhiều nguyên nhân khác nhau:
77
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Thiết kế nghiên cứu đƣợc lựa chọn có lỗi;
- Thủ tục lấy mẫu sai;
- Phƣơng pháp thu thập dữ liệu không chính xác;
- Phân tích sai;
- Các thủ tục thống kê đƣợc áp dụng thì không thích hợp; hoặc
- Kêt luận đƣợc rút ra không chính xác.
Bất kỳ, một số hay tất cả các khía cạnh này của quá trình nghiên cứu đều có
thể chịu trách nhiệm về việc tạo ra các lỗi trong bài nghiên cứu, làm cho kết luận
vô nghĩa. Do vậy, khi kiểm thử giả thuyết, luôn có các khả năng lỗi tham góp vào
các lý do nêu trên. Hình 6.4 đƣa ra các loại lỗi có thể xảy ra khi kiểm thử giả
thuyết.
Khi giả thuyết rỗng thật sự là
Đúng Sai
Khi hạn quyết
định phải
Chấp nhận Quyết định đúng Lỗi loại I
Từ chối Lỗi loại II Quyết định đúng
Hình 6.4. Các lỗi loại I và II trong việc kiểm chứng giả thuyết
Khi rút ra kết luận về giả thuyết, 2 loại lỗi có thể xảy ra:
- Từ chối giả thuyết rỗng khi nó đúng. Lỗi này gọi là lỗi loại I.
- Chấp nhận giả thuyết rỗng khi nó sai. Lỗi này gọi là lỗi loại II.
Tóm tắt chƣơng
Các giả thuyết, dù quan trọng, không phải là tuyệt đối cần thiết cho việc
nghiên cứu. Một bài nghiên cứu xuất sắc có thể đƣợc tiến hành mà không cần
thiết lập một giả thuyết nào cả. Giả thuyết quan trọng ở chỗ nó giúp cho bài
nghiên cứu rõ ràng, cụ thể và xoáy vào trọng tâm.
Giả thuyết là mệnh đề phát biểu tự biện cần đƣợc kiểm chứng thông qua bài
nghiên cứu. Khi thiết lập giả thuyết, cần phải đảm bảo rằng nó đơn giản, cụ thể, rõ
78
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
ràng về khái niệm, có thể kiểm chứng, xuất phát từ kho kiến thức và có thể vận
hành đƣợc.
Có 2 loại giả thuyết rộng: giả thuyết nghiên cứu và giả thuyết nghịch. Giả
thuyết nghiên cứu đƣợc phân loại xa hơn nữa - dựa vào cách thành lập – thành giả
thuyết rỗng, giả thuyết có sự khác biệt, giả thuyết đặc trƣng - điểm, và giả thuyết
kết hợp.
Việc kiểm chứng giả thuyết trở nên vô nghĩa nếu bất kỳ một trong những
khía cạnh của bài nghiên cứu – nhƣ thiết kế, phƣơng pháp lấy mẫu, phƣơng pháp
thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, thủ tục thống kê đƣợc áp dụng hoặc các kết
luận rút ra bị lỗi hoặc không thích hợp. Điều này có thể gây ra lỗi cho việc kiểm
chứng giả thuyết. Lỗi loại I - loại bỏ giả thuyết rỗng khi nó đúng và không nên bị
bác bỏ; lỗi loại II - chấp nhận giả thuyết rỗng khi nó sai và nó không nên đƣợc
thừa nhận.
BƢỚC 2. QUAN NIỆM HOÁ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 7. CHỌN LỰA THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
- Số lần tiếp xúc:
+ Thiết kế nghiên cứu liên bộ phận.
+ Thiết kế nghiên cứu trƣớc – sau.
+ Thiết kế nghiên cứu kinh tuyến.
- Thời đoạn tham chiếu:
+ Thiết kế nghiên cứu hồi tƣởng.
+ Thiết kế nghiên cứu viễn tƣởng.
+ Thiết kế nghiên cứu hồi tƣởng - viễn tƣởng.
- Bản chất của điều tra:
+ Các thiết kế nghiên cứu thực nghiệm.
+ Một số thiết kế thông dụng khác.
- Tóm tắt chƣơng.
79
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Trong chƣơng này, chúng ta sẽ thảo luận một số thiết kế nghiên cứu đƣợc
sử dụng phổ biến nhất. Các thiết kế khác nhau đƣợc phân loại từ ba khía cạnh:
- Số lần tiếp xúc với tập hợp nghiên cứu;
- Thời đoạn tham chiếu nghiên cứu; và
- Bản chất của điều tra.
Mọi thiết kế nghiên cứu có thể đƣợc phân loại từ mỗi một trong số các khía
cạnh này. Các khía cạnh này là cơ sở phân loại bất kỳ, do vậy thuật ngữ dùng
miêu tả chúng không phổ quát, nhƣng các tên của các thiết kế trong mỗi cơ sở
phân loại lại đƣợc dùng rộng rãi.
Chú ý rằng các thiết kế trong mỗi phạm trù loại trừ lẫn nhau, thí dụ, nếu
một nghiên cứu nào đó về bản chất là liên bộ phận thì nó không thể đồng thời là
nghiên cứu trƣớc – sau hay nghiên cứu kinh tuyến nhƣng nó có thể là nghiên cứu
thực nghiệm hoặc không thực nghiệm hoặc là nghiên cứu hồi tƣởng hay viễn
tƣởng.
Số lần tiếp xúc
Dựa trên số lần tiếp xúc với tập hợp nghiên cứu, thiết kế đƣợc phân loại
thành 3 nhóm:
- Nghiên cứu liên bộ phận;
- Nghiên cứu trƣớc – sau; và
- Nghiên cứu kinh tuyến.
Thiết kế nghiên cứu liên bộ phận
Nghiên cứu liên bộ phận, còn đƣợc biết đến với tên gọi nghiên cứu trạng
thái, là thiết kế đƣợc dùng phổ biến nhất trong các môn khoa học xã hội. Thiết kế
này phù hợp nhất với các nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra sự phổ biến của một
hiện tƣợng; tình huống, vấn đề hay một thái độ bằng cách lấy liên bộ phận của tập
hợp. Chúng có ích trong việc thu nhận đƣợc bức tranh tổng thể vì nó xảy ra vào
thời điểm nghiên cứu. Theo Babbie (1989), các nghiên cứu này “đƣợc thiết kế để
nghiên cứu một hiện tƣợng nào đó bằng cách xem xét liên bộ phận của nó ở một
80
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
thời điểm”. Các nghiên cứu nhƣ thế là điển hình về cả tập hợp nghiên cứu và thời
gian điều tra.
Nghiên cứu liên bộ phận rất đơn giản về mặt thiết kế. Cần quyết định – xác
định điều muốn tìm ra, nhận diện tập hợp nghiên cứu, chọn mẫu thử (nếu ta cần),
và tiếp xúc với ngƣời trả lời để tìm ra các thông tin cần thiết. Thí dụ, thiết kế liên
bộ phận có lẽ thích hợp nhất cho nghiên cứu về các chủ đề sau:
- Thái độ của tập hợp nghiên cứu về việc khai thác uranium ở Úc.
- Các đặc trƣng dân số - kinh tế - xã hội của ngƣời nhập cƣ ở miền Tây
nƣớc Úc.
- Mức độ các trƣờng hợp HIV dƣơng tính ở Úc.
- Nguyên nhân vô gia cƣ của giới trẻ.
- Tác động của nạn thất nghiệp vào tội phạm đƣờng phố (đây cũng có thể là
nghiên cứu trƣớc – sau).
- Mối quan hệ giữa môi trƣờng gia đình và việc học của trẻ con ở trƣờng.
- Thái độ của cộng đồng về vấn đề bình đẳng.
- Mức độ thất nghiệp ở thành phố.
- Sự hài lòng của khách hàng về sản phẩm.
- Nhu cầu y tế của cộng đồng.
- Thái độ của sinh viên đối với các phƣơng tiện trong thƣ viện.
Vì các nghiên cứu này yêu cầu tiếp xúc với tập hợp nghiên cứu chỉ một lần
nên việc thực hiện nó tƣơng đối rẻ và dễ phân tích. Tuy vậy, nhƣợc điểm lớn nhất
của chúng là không thể đo lƣờng đƣợc sự thay đổi. Để đo lƣờng đƣợc sự thay đổi,
cần phải có ít nhất 2 phép quan sát, nghĩa là có ít nhất 2 nghiên cứu liên bộ phận,
ở 2 điểm đúng lúc, với cùng tập hợp nghiên cứu.
Nền tảng phân loại
Các loại thiết kế nghiên cứu
Số lần Thời gian Bản chất
tiếp xúc tham khảo nghiên cứu
Ba hay 81
Một
CHUYÊN ĐỀ: Hồi tƣởng
Hai PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thực nghiệm
Thiết kế n
nhiều hơn
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 7.1. Các kiểu thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu trƣớc – sau
Ƣu điểm chính của thiết kế nghiên cứu trƣớc – sau (còn gọi thiết kế tiền
kiểm thử/hậu kiểm thử) là có thể đo lƣờng sự thay đổi trong một tình huống, hiện
tƣợng, vấn đề, hay thái độ. Thiết kế này thích hợp nhất với việc đo lƣờng tác động
hay tính hiệu dụng của một chƣơng trình. Thiết kế nghiên cứu trƣớc – sau có thể
đƣợc mô tả nhƣ 2 tập hợp của các quan sát liên bộ phận ở cùng tập hợp nghiên
cứu để tìm ra sự thay đổi trong hiện tƣợng hay biến số giữa 2 điểm đúng lúc. Sự
thay đổi đƣợc đo lƣờng bằng cách so sánh sự khác nhau ở hiện tƣợng hay các biến
số ở các phép quan sát trƣớc và sau.
Chƣơng trình/sự can thiệp
Tập hợp nghiên cứu Tập hợp nghiên cứu
Thời gian
Trƣớc quan sát Sau quan sát
(thu thập tƣ liệu) (thu thập tƣ liệu)
Thực tế Thiết
Hình 7.2. hay hồi kế nghiên cứu trước – sau (tiền kiểm thử/hậu kiểm thử)
cứu
Nghiên tƣởngtrƣớc – sau đƣợc tiến hành bằng cách lựa chọn cùng một quá
trình với nghiên cứu liên bộ phận ngoại trừ nó bao gồm 2 phép quan sát liên bộ
phận, quan sát thứ 2 đƣợc thực hiện sau một thời gian nào đó. Phụ thuộc vào việc
đƣợc thành lập nhƣ trên nào, nghiên cứu trƣớc – sau có thể là nghiên cứu thực
nghiệm hoặc nghiên cứu không thực nghiệm. Nó là một trong những thiết kế đƣợc
dùng phổ biến nhất trong các nghiên cứu đánh giá. Điểm khác nhau giữa 2 tập
quan sát về biến số phụ thuộc đƣợc xem là tác động của chƣơng trình. Thí dụ, các
chủ đề sau có thể đƣợc nghiên cứu bằng cách dùng thiết kế này:
82
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Tính hữu dụng của dịch vụ tƣ vấn hôn nhân.
- Tác động của giáo dục giới tính vào hành vi tình dục trong giới học sinh.
- Tác động của việc gây qũy vào chất lƣợng dạy học ở các trƣờng đại học.
- Tác động của quảng cáo vào việc bán sản phẩm.
Mặc dù nghiên cứu trƣớc – sau có các ƣu điểm – ƣu điểm chính là khả năng
đo lƣờng sự thay đổi trong một hiện tƣợng và đánh giá tác động của sự can thiệp –
nó cũng có thể có các nhƣợc điểm nào đó. Tuy vậy, những điều này không xảy ra
với riêng lể hay có tính tập hợp trong mọi nghiên cứu. Sự phổ biến của một nhƣợc
điểm cụ thể nào đó hay việc tổ hợp các nhƣợc điểm thì phụ thuộc vào bản chất
điều tra, tập hợp nghiên cứu và phƣơng pháp thu thập dữ liệu.
Các nhƣợc điểm là:
- Thay vì thu thập một tập hợp đữ liệu thì phải thu nhập 2 tập hợp, điều này
nghĩa là phải có 2 lần tiếp xúc với tập hợp nghiên cứu. Do vậy, thực thi nó tốn
kém và khó khăn hơn. Nó đòi hỏi nhiều thời gian để hoàn thành, đặc biệt nếu
đang sử dụng thiết kế thực nghiệm, cho nên cần phải đợi đến khi hoàn thành việc
can thiệp.
- Trong một số trƣờng hợp, sai sót về thời gian giữa 2 lần tiếp xúc có thể
làm suy giảm tập hợp nghiên cứu. Có thể là trong số những ngƣời tham gia vào
tiền kiểm thử, một số ngƣời có thể dời địa điểm hay thậm chí rút lui khỏi cuộc thí
nghiệm vì các lý do khác nhau.
- Một trong những giới hạn chính của thiết kế này là – vì nó đo lƣờng sự
thay đổi tổng thể, ta không xác minh đƣợc các biến số ngoại lai hay biến số độc
lập chịu trách nhiệm sản sinh ra thay đổi ở biến số phụ thuộc. Nó cũng không thể
định lƣợng đƣợc đóng góp của các biến số ngoại lai và biến độc lập mộtcách tách
rời.
- Nếu tập hợp nghiên cứu còn rất trẻ và nếu có chênh lệch thời gian đáng kể
giữa các phép quan sát trƣớc – sau thì tập hợp nghiên cứu có thể có những thay
đổi vì tập hợp nghiên cứu đang trƣởng thành. Điều này rất đúng khi ta đang
83
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
nghiên cứu trẻ em. Hệ quả của việc trƣởng thành này, nếu nó có tƣơng quan đáng
kể với biến phụ thuộc, đƣợc phản ánh ở phép quan sát “sau” và đƣợc gọi là hiệu
ứng trƣởng thành.
- Đôi khi chính công cụ nghiên cứu sẽ huấn luyện những ngƣời trả lời. Điều
này đƣợc biết đến với tên gọi hiệu ứng tái tích cực của công cụ. Thí dụ, giả sử ta
muốn xác minh tác động của một chƣơng trình đƣợc thiết lập nhằm tạo ra nhận
thức về ma tuý trong một tập hợp. Để làm điều này, ta thiết kế bảng câu hỏi liệt kê
các loại thuốc khác nhau và yêu cầu những ngƣời trả lời cho biết họ đã nghe về
chúng hay chƣa. Ở giai đoạn tiền kiểm thử các câu hỏi phải có tên của các loại
thuốc - ngƣời trả lời, khi trả lời câu hỏi sẽ nhận thức đƣợc chúng và điều này sẽ
đƣợc phản ánh trong câu trả lời ở giai đoạn hậu kiểm thử. Vì vậy, chính công cụ
nghiên cứu đã huấn luyện tập hợp nghiên cứu nên đã tác động lên biến số tự do.
Một thí dụ khác: một nghiên cứu đƣợc thiết kế để đo lƣờng tác động của chƣơng
trình giáo dục kế hoạch hoá gia đình vào nhận thức của phƣơng pháp tránh thai
của ngƣời trả lời. Hầu hết các nghiên cứu đƣợc thiết kế để đo lƣờng tác động của
chƣơng trình vào nhận thức của ngƣời tham gia đều có chung khó khăn là thay
đổi ở mức độ nhận thức, ở phạm vi nào đó, có thể là do hệ quả tái tích cực này.
- Nhƣợc điểm khác có thể xảy ra khi ta dùng một công cụ nghiên cứu 2 lần
để đo lƣờng thái độ của một tập hợp về một vấn đề là - sự điều chỉnh thái độ có
thể có giữa 2 phép quan sát. Đôi khi, ngƣời ở vào các vị trí tận cùng của thang đo
ở giai đoạn tiền kiểm thử có thể dịch về trung bình của thang đo ở giai đoạn hậu
kiểm thử vì một số lý do nào đó. Họ có thể cảm nhận rằng họ đã quá thụ động hay
chủ động ở giai đoạn tiền kiểm thử. Do đó, họ đã biến đổi thái độ ở thời điểm hậu
kiểm thử. Loại hệ quả này đƣợc biết đến với tên gọi hiệu ứng hồi quy.
Hình 7.3. Hiệu ứng hồi quy
Thiết kế nghiên cứu kinh tuyến
Thiết kế nghiên cứu trƣớc – sau thích hợp với việc đo lƣờng mức độ thay
đổi ở một hiện tƣợng, tình huống, vấn đề, thái độ,…nhƣng ít hữu ích cho việc
84
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
nghiên cứu các kiểu thay đổi. Để xác định các khuôn mẫu thay đổi theo thời gian,
hãy dùng đến thiết kế kinh tuyến – thí dụ khi muốn nghiên cứu tỷ lệ ngƣời chấp
nhận chƣơng trình theo thời gian. Nghiên cứu kinh tuyến cũng hữu dụng khi cần
thu thập thông tin sự kiện thực tế trên cơ sở liên tục. Các thí dụ khác là: các xu
hƣớng về nhu cầu lao động, xu hƣớng nhập cƣ, những thay đổi về mức độ bệnh
tật, các kiểu bệnh tật và sinh sản của một tập hợp.
Trong các nghiên cứu kinh tuyến, ngƣời tiến hành nghiên cứu tiếp xúc với
tập hợp nghiên cứu một số lần, ở những khoảng thời gian đều đặn, và thƣờng qua
một thời gian dài, để thu thập đủ thông tin cần thiết. Các khoảng thời gian này
không cố định vì vậy chiều dài của chúng khác nhau ở mỗi nghiên cứu. Các
khoảng thời gian này có thể ngắn - khoảng một tuần hay dài - khoảng một năm.
Bất kể độ dài thời gian, thông tin thu thập ở mỗi lần dều giống nhau. Mặc dầu dữ
liệu đƣợc thu thập xuất phát từ cùng một tập hợp nghiên cứu nhƣng nó có thể
hoặc không thể xuất phát từ cùng những ngƣời trả lời. Nghiên cứu kinh tuyến có
thể đƣợc xem nhƣ một loạt các nghiên cứu liên bộ phận lặp đi lặp lại.
Tập hợp Tập hợp Tập hợp Tập hợp
nghiên cứu nghiên cứu nghiên cứu nghiên cứu
t t t t
= Thu thập tƣ liệu t = khoảng cách giữa thu thập tƣ liệu
Hình 7.4. Thiết kế nghiên cứu kinh tuyến
Nghiên cứu kinh tuyến có cùng nhƣợc điểm nhƣ nghiên cứu trƣớc – sau, và
ở một số trƣờng hợp mức độ nhƣợc điểm còn nặng hơn. Ngoài ra, nghiên cứu
kinh tuyến có thể bị hiệu ứng điều kiện. Điều này mô tả một tình huống: nếu
những ngƣời trả lời đƣợc tiếp xúc thƣờng xuyên, họ bắt đầu biết họ đƣợc mong
đợi điều gì và có thể trả lời các câu hỏi mà không cần suy nghĩ, hoặc họ giảm dần
mối quan tâm về câu hỏi; các kết quả chung cuộc là nhƣ nhau.
85
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Ƣu điểm chính của nghiên cứu kinh tuyến là nó cho phép ngƣời nghiên cứu
đo lƣờng các kiểu thay đổi và thu thập thông tin sự kiện đòi hỏi việc thu thập dữ
liệu trên cơ sở đều đặn hay liên tục.
Thời đoạn tham chiếu
Thời đoạn tham chiếu đề cập đến khung thời gian ở đó nghiên cứu đang tìm
hiểu một hiện tƣợng, tình huống, sự kiện hay một vấn đề. Vì vậy nghiên cứu theo
góc nhìn này đƣợc phân loại thành:
- Hồi tƣởng;
- Viễn tƣởng; và
- Hồi tƣởng - viễn tƣởng.
Thiết kế nghiên cứu hồi tƣởng
Nghiên cứu hồi tƣởng khảo sát một hiện tƣợng, tình huống, vấn đề xảy ra
trong quá khứ. Chúng thƣờng đƣợc tiến hành hoặc trên cơ sở dữ liệu sẵn có trong
thời đoạn đó hoặc trên cơ sở hồi tƣởng về tình huống của ngƣời trả lời. Thí dụ,
nghiên cứu tiến hành trên các chủ đề sau đƣợc phân loại là nghiên cứu hồi tƣởng
- Điều kiện sống của ngƣời bắc châu Úc trong thế kỷ 20.
- Việc sử dụng đất trƣớc chiến tranh thế giới thứ II ở Tây Úc.
- Phân tích mang tính lịch sử về các phong trào nhập cƣ ở Đông Âu giữa
năm 1915 và 1945.
- Mối quan hệ giữa nạn thất nghiệp và tội phạm đƣờng phố.
Thiết kế nghiên cứu viễn tƣởng
Thiết kế nghiên cứu viễn tƣởng đề cập đến sự phổ biến của một hiện tƣợng,
vấn đề, thái độ hoặc kết quả trong tƣơng lai. Những nghiên cứu nhƣ thế cố gắng
thiết lập kết quả của một sự kiện hay điều gì đó có khả năng xảy ra. Các cuộc thí
nghiệm thƣờng đƣợc xếp loại là các nghiên cứu viễn tƣởng vì ngƣời nghiên cứu
phải chờ đợi một sự can thiệp nào đó để ghi nhận tác động của nó vào tập hợp
nghiên cứu. Các chủ đề sau đƣợc phân loại vào nghiên cứu viễn tƣởng:
86
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Xác định tác động của các dịch vụ y tế trẻ em và ngƣời mẹ vào mức độ tử
vong ở trẻ sơ sinh.
- Thiết lập hệ qủa của dịch vụ tƣ vấn về vấn đề hôn nhân.
- Tìm ra tác động của sự liên đới của cha mẹ vào thành tựu học vấn của con trẻ.
- Xác định những tác động của sự thay đổi trong chính sách nhập cƣ ở Úc.
Thiết kế nghiên cứu hồi tƣởng - viễn tƣởng
Thiết kế nghiên cứu hồi tƣởng - viễn tƣởng tập trung vào các xu hƣớng quá
khứ ở một hiện tƣợng và nghiên cứu nó ở tƣơng lai. Nghiên cứu đƣợc xếp vào
mục này khi ta xác định tác động của sự can thiệp mà không có nhóm kiểm soát.
Thực tế, hầu hết các nghiên cứu trƣớc – sau, nếu đƣợc tiến hành mà không có sự
kiểm soát - ở đó mức cơ sở đƣợc thiết lập từ cùng một tập hợp nghiên cứu trƣớc
khi xuất hiện sự can thiệp - sẽ đƣợc xếp loại vào nghiên cứu hồi tƣởng - viễn
tƣởng. Trong nghiên cứu hồi tƣởng - viễn tƣởng, một phần dữ liệu đƣợc thu thập
một cách hồi tƣởng từ sổ sách hiện có trƣớc khi có sự can thiệp, kế tiếp theo sát
tập hợp nghiên cứu để xác định tác động của sự can thiệp này. Các nghiên cứu xu
hƣớng, sẽ trở thành cơ sở của các dự báo, đƣợc xếp vào loại này. Thí dụ:
- Tác động của sự khích lệ vào năng suất sản xuất của ngƣời lao động.
- Tác động của các dịch vụ y tế trẻ em và ngƣời mẹ và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ
sinh.
- Tác động của quảng cáo vào việc bán sản phẩm.
Bản chất của điều tra
Dựa vào bản chất của điều tra, nghiên cứu có thể đƣợc phân loại thành:
- Thực nghiệm;
- Không thực nghiệm; và
- Giả hay bán thực nghiệm.
Để hiểu sự khác nhau, hãy xem một số thí dụ. Giả sử ta muốn kiểm thử: tác
động của một phƣơng pháp dạy cụ thể nào đó vào mức độ hiểu của sinh viên; tính
hữu dụng của một chƣơng trình chẳng hạn - kiểm thử hơi thở ngẫu nhiên dựa vào
87
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
mức độ tai nạn đƣờng phố; hay sự hữu dụng của thuốc AZT trong điều trị ngƣời
bị nhiễm HIV dƣơng tính. Hãy nghĩ ra bất kỳ tình huống tƣơng tự nào trong lĩnh
vực riêng nào đó. Trong các tình huống nhƣ thế, giả sử là có mối quan hệ nhân
quả. Có 2 cách nghiên cứu mối quan hệ. Cách đầu tiên đòi hỏi ngƣời nghiên cứu
đƣa ra sự can thiệp đƣợc giả định là “nguyên nhân” của sự thay đổi và chờ đợi
đến khi đủ thời gian để nó sinh ra sự thay đổi này. Cách thứ hai - gồm nhà nghiên
cứu quan sát một hiện tƣợng và cố gắng xác lập những gì gây ra thay đổi. Trong
trƣờng hợp này, ngƣời nghiên cứu bắt đầu tƣ kết quả và cố xác định nguyên nhân.
Nếu mối quan hệ đƣợc nghiên cứu theo cách đầu tiên - bắt đầu từ nguyên nhân để
xác lập kết quả, nghiên cứu đƣợc xếp vào loại nghiên cứu thực nghiệm. Còn nếu
đi theo cách thứ 2, nghĩa là hãy bắt đầu từ kết quả để truy tìm ra nguyên nhân, nó
đƣợc xếp vào loại nghiên cứu không thực nghiệm (xem hình 7.5). Trong trƣờng
hợp trƣớc, biến số độc lập có thể đƣợc quan sát, giới thiệu, kiểm soát hoặc đƣợc
điều khiển bởi ngƣời nghiên cứu hay một ngƣời nào đó, trong khi đó ở trƣờng hợp
sau, điều này không thể xảy ra vì đã giả định nguyên nhân đã diễn ra. Thay vào
đó, nhà nghiên cứu kết hợp theo cách hồi tƣởng từ nguyên nhân đến kết quả.
Thiết kế bán thực nghiệm có các đặc điểm của cả nghiên cứu thực nghiệm và
nghiên cứu không thực nghiệm, một phần của nghiên cứu có thể là không thực
nghiệm và phần khác là nghiên cứu thực nghiệm.
88
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 7.5. Các nghiên cứu thực nghiệm và không thực nghiệm
Nghiên cứu thực nghiệm có thể đƣợc thực hiện hoặc trong môi trƣờng “đƣợc
kiểm soát” hoặc trong môi trƣờng “tự nhiên”. Đối với thực nghiệm trong môi
trƣờng đƣợc kiểm soát, ngƣời nghiên cứu (hay một ngƣời nào đó) đƣa ra sự can
thiệp hay tác nhân kích thích để nghiên cứu hệ quả của nó. Tập hợp nghiên cứu
nằm trong tình huống đƣợc kiểm soát - chẳng hạn trong một căn phòng. Đối với
thực nghiệm trong môi trƣờng tự nhiên, tập hợp nghiên cứu đƣợc đặt dƣới một
can thiệp nào đó theo môi trƣờng riêng của nó.
Nghiên cứu thực nghiệm có thể đƣợc phân loại xa hơn nữa dựa vào cơ sở tập
hợp nghiên cứu có đƣợc ngẫu nhiên vào các nhóm đối xử khác hay không. Một
trong những vấn đề lớn nhất trong thiết kế so sánh (các thiết kế mà ở đó ta so sánh
2 hay nhiều hơn 2 nhóm) là thiếu tính chắc chắn ở chỗ các nhóm khác nhau trên
thực hoá đƣợc tế có thể so sánh đƣợc ở mọi mặt ngoại trừ việc đối xử. Quá trình
ngẫu nhiên thiết kế đảm bảo rằng các nhóm có thể so sánh đƣợc. Trong thiết kế
ngẫu nhiên, tập hợp nghiên cứu, việc đối xử thực nghiệm hay cả hai không đƣợc
xác định trƣớc mà đƣợc sắp xếp ngẫu nhiên (xem hình 7.6). Việc sắp xếp ngẫu
nhiên trong các cuộc thí nghiệm muốn nói rằng bất kỳ yếu tố nào của một nhóm
tập hợp nghiên cứu đều có cơ hội độc lập và ngang nhau về việc trở thành một
phần của nhóm kiểm soát hay thực nghiệm, hoặc trong trƣờng hợp có nhiều cách
89
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
thức đối xử, bất kỳ phƣơng pháp đối xử nào cũng có cơ hội độc lập và ngang nhau
về việc đƣợc sắp xếp vào bất kỳ các nhóm tập hợp nghiên cứu nào. Cần ghi nhớ
rằng – khái niệm ngẫu nhiên hoá có thể đƣợc ứng dụng vào bất kỳ thiết kế thực
nghiệm nào.
Nhóm A
Tập hợp Việc
nghiên cứu điều trị
Nhóm B
Hình 7.6. Ngẫu nhiên hoá trong các cuộc thí nghiệm
Thiết kế nghiên cứu thực nghiệm
Có rất nhiều loại thiết kế thực nghiệm mà không phải tất cả chúng có thể
đƣợc xem xét trong sách này. Do vậy, phần này đƣợc giới hạn vào việc mô tả các
thiết kế đƣợc dùng phổ biến nhất trong các môn khoa học xã hội, nhân văn, y tế
cộng đồng, tiếp thị, giáo dục, công việc xã hội,… Các thiết kế này đƣợc phân loại
thành:
- Thiết kế sau – duy nhất;
- Thiết kế trƣớc – sau;
- Thiết kế kiểm soát;
- Thiết kế tái kiểm soát;
- Thiết kế so sánh;
- Thiết kế thực nghiệm kiểm soát đối sánh;
- Thiết kế trấn an.
Thiết kế sau – duy nhất
90
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Trong thiết kế sau – duy nhất, ngƣời nghiên cứu biết rằng tập hợp đang hay
đã đƣợc mở ngõ cho sự can thiệp và ngƣời nghiên cứu muốn tìm hiểu tác động
của sự can thiệp vào tập hợp. Trong thiết kế này, thông tin ở mức cơ sở (tiền kiểm
thử hay trƣớc quan sát) thƣờng đƣợc xây dựng trên cơ sở hồi tƣởng tình huống
của ngƣời trả lời trƣớc khi có can thiệp, hay từ thông tin có sẵn trong sổ sách hiện
tại (xem hình 7.7). Sự thay đổi trong biến số phụ thuộc đƣợc đo lƣờng bằng sự
khác nhau giữa các quan sát “trƣớc” và “sau” (mức cơ sở). Về kỹ thuật, đây là
thiết kế có nhiều khuyết điểm đối với việc đo lƣờng tác động của sự can thiệp vì
không có mức cơ sở thích hợp để so sánh với phép quan sát “sau”. Do vậy, một
trong những tồn tại chính của thiết kế này là 2 tập hợp dữ liệu không thể đƣợc so
sánh một cách nghiêm ngặt. Tƣơng ứng, một số sự thay đổi trong biến phụ thuộc
có thể góp phần vào sự khác biệt của cách thức sắp xếp 2 tập hợp dữ liệu. Một
vấn đề khác biệt với thiết kế này là nó đo lƣờng toàn bộ thay đổi gồm cả thay đổi
do các biến ngoại lai, vì vậy nó không nhận diện đƣợc các hiệu ứng ròng/ thuần
của sự can thiệp.Tuy nhiên, thiết kế này đƣợc dùng rộng rãi trong các nghiên cứu
đánh giá tác động của nhiều chƣơng trình trong đời sống thực không có sự thuận
lợi của việc đánh giá đƣợc hoạch định trƣớc ở giai đoạn lập kế hoạch chƣơng
trình (mặc dù điều này thay đổi rất nhanh), trong trƣờng hợp đó không thể tuân
theo chính xác dãy các bƣớc - tập hợp các thông tin mức cơ sở; hiện thực chƣơng
trình và đánh giá chƣơng trình. Do vậy, ngƣời đánh giá chỉ còn có cách là chọn
thiết kế này.
Chƣơng trình/sự can thiệp
Tập hợp nghiên cứu Tập hợp nghiên cứu
Thời gian
Trƣớc quan sát Sau quan sát
(thu thập tƣ liệu) (thu thập tƣ liệu)
Hồi tƣởng hoặc từ
bản ghi hiện tại
91
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 7.7. Thiết kế sau – duy nhất
Trong thực tiễn, sự thoả đáng của thiết kế này phụ thuộc vào việc sắn có dữ
liệu tƣơng đối chính xác về sự phổ biến của một hiện tƣợng trƣớc khi đƣa ra sự
can thiệp. Điều này có thể ứng dụng với các tình huống - chẳng hạn, tác động của
việc kiểm thử hơi thở ngẫu nhiên vào các tai nạn giao thông đƣờng phố; tác động
của chƣơng trình y tế vào tỷ lệ tử vong của tập hợp; tác động của quảng cáo vào
việc bán sản phẩm. Trong những tình huống này ngƣời ta mong đợi rằng có các
bản ghi chính xác về hiện tƣợng đang nghiên cứu và bất kỳ thay đổi nào trong các
khuynh hƣớng về cơ bản là do đƣa vào sự can thiệp hay thay đổi trong chính sách.
Thiết kế nghiên cứu trƣớc – sau:
Thiết kế nghiên cứu trƣớc – sau vƣợt qua trở ngại của việc xây dựng phép
quan sát “trƣớc” theo cách hồi tƣởng bằng cách thiết lập phép quan sát trƣớc khi
đƣa ra sự can thiệp vào tập hợp nghiên cứu (xem hình 7.2). Sau đó, khi chƣơng
trình đƣợc hiện thực một cách hoàn chỉnh hay giả định là có tác động vào tập hợp
thì nghiên cứu “sau” đƣợc thực hiện để xác minh tác động đóng góp vào sự can
thiệp (xem hình 7.8). Hậuq uan sát
Vạch cơ sở
Chƣơng trình
Hậuq uan sát
Thay đổi
Chƣơng trình
Thay đổi
Vạch cơ sở
Thời gian Thời gian
92
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 7.8. Đo lường sự thay đổi
Thiết kế nghiên cứu trƣớc – sau chỉ quan tâm đến một vấn đề cuả nghiên cứu
sau – duy nhất, đó là: khả năng so sánh của các phép quan sát “trƣớc” và “sau”.
Nó vẫn không cho phép ngƣời ta kết luận rằng bất kỳ thay đổi nào - một phần hay
toàn bộ - là do sự can thiệp của chƣơng trình. Để vƣợt qua điều này, nhóm “kiểm
soát” đƣợc sử dụng. Các nghiên cứu trƣớc – sau cũng có thể gặp phải các vấn đề
đã đƣợc nhận diện ở trên. Tác động của sự can thiệp trong thiết kế trƣớc – sau
đƣợc tính nhƣ sau:
Thay đổi của biến phụ thuộc =
[Trạng thái của biến phụ thuộc ở phép quan sát “sau”]
- [Trạng thái của biến phụ thuộc ở phép quan sát “trƣớc”]
Thiết kế nhóm kiểm soát
Trong nghiên cứu có sử dụng thiết kế nhóm kiểm soát, nhà nghiên cứu chọn
2 tập hợp nghiên cứu thay vì chỉ 1, một nhóm “kiểm soát” và một nhóm “thực
nghiệm” (hình 7.9). Ngƣời ta mong đợi 2 nhóm này có thể so sánh đƣợc với nhau
ở một khía cạnh ngoại trừ sự can thiệp. Nhóm thực nghiệm hoặc chấp nhận hoặc
đƣợc để ngõ/phố ra trƣớc sự can thiệp, còn nhóm kiểm soát thì không. Trƣớc tiên,
các phép quan sát “trƣớc” đƣợc thực hiện trên cả 2 nhóm ở cùng một lúc. Sau đó,
nhóm thực nghiệm đƣợc phô ra trƣớc sự can thiệp. Khi giả định sự can thiệp gây
ra tác động thì phép quan sát “sau” đƣợc thực hiện trên cả 2 nhóm. Bất kỳ sự khác
biệt nào về biến phụ thuộc ở các phép quan sát “trƣớc” và “sau” giữa các nhóm
đều do sự can thiệp tạo ra.
Tập hợp nghiên cứu Sự can thiệp Tập hợp nghiên cứu
y’e Nhóm thực nghiệm y”e
(Biến phụ thuộc) (Biến phụ thuộc)
Tập hợp nghiên cứu Tập hợp nghiên cứu
Nhóm kiểm soát
y’c 93 y”c
PHƢƠNG PHÁP
CHUYÊN ĐỀ:(Biến phụ thuộc) NGHIÊN CỨU (Biến phụ thuộc)
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 7.9. Thiết kế thực nghiệm kiểm soát
Ở nhóm thực nghiệm, tổng thay đổi của biến số phụ thuộc, (Ye) = (Y”e -Y’e),
ở đây
Y”e = phép quan sát “sau” trên nhóm thực nghiệm.
Y’e = phép quan sát “trƣớc” trên nhóm thực nghiệm.
Nói cách khác:
(Y”e - Y’e) = (tác động của sự can thiệp vào chƣơng trình) (tác động của
các biến số ngoại lai) (tác động của các biến số cơ hội).
Ở nhóm kiểm soát, tổng thay đổi của biến phụ thuộc, (Yc) = (Y”c - Y’c), ở đây:
Y”c = quan sát hậu kiểm thử trên nhóm kiểm soát.
Y’c = quan sát tiền kiểm thử trên nhóm kiểm soát.
Nói cách khác:
(Y”c - Y’c) = (tác động của các biến số ngoại lai) (tác động của các biến cơ
hội).
Sự khác nhau giữa các nhóm kiểm soát và thực nghiệm = (Y ”e - Y’e) – (Y”c-
Y’c), nghĩa là
{(tác động của sự can thiệp vào chƣơng trình) (tác động của các biến ngoại
lai *) (tác động của các biến cơ hội #)} - {(tác động của các biến ngoại lai*)
(tác động của các biến cơ hội #)}.
Dùng phép toán số học đơn giản, điều này = tác động của sự can thiệp.
Vì vậy, tác động của bất kỳ sự can thiệp nào đều tƣơng đƣơng với sự khác
biệt ở các phép quan sát “trƣớc” và “sau” của biến số phụ thuộc giữa các nhóm
“thực nghiệm” và “kiểm soát”.
Quan trọng cần nhớ rằng - mục tiêu chính của nhóm kiểm soát là định lƣợng
tác động của các biến số ngoại lai. Điều này giúp ta xác định tác động của chính
sự can thiệp mà thôi.
94
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Thiết kế kiểm tra kép
Mặc dù thiết kế nhóm kiểm soát giúp ngƣời nghiên cứu lƣợng hoá tác động
do các biến ngoại lai nhƣng nó không tách rời các hiệu ứng khác có thể do công
cụ nghiên cứu (chẳng hạn hiệu ứng tái tích cực) hay do các ngƣời trả lời (hiệu ứng
bão hoà hay hồi quy). Khi nhà nghiên cứu cần nhận diện hay tách rời các hiệu ứng
này, phải cần đến thiết kế kiểm tra kép.
Trong nghiên cứu kiểm tra kép, nhà nghiên cứu có 2 nhóm kiểm soát thay vì
1 nhóm. Thí dụ, để định lƣợng hiệu ứng tái tích cực của công cụ, ngƣời nghiên
cứu loại 1 trong 2 nhóm này ra khỏi phép quan sát “trƣớc” (hình 7.10).
Tập hợp Tập hợp
Điều trị
nghiên cứu nghiên cứu
Tác động của
y’e y’e
việc điều trị
Tập hợp Tập hợp
Điều trị
nghiên cứu nghiên cứu
y’c1 y”c1 Hiệu ứng
phản hồi
Tập hợp Tập hợp
Điều trị
nghiên cứu nghiên cứu
Không quan sát y”c2
Hình 7.10. Thiết kế kiểm tra kép
Các hiệu ứng khác nhau đƣợc tính nhƣ sau:
(Y”e -Y’e) = (tác động của sự can thiệp vào chƣơng trình) (tác động của
biến ngoại lai) (hiệu ứng tái tích cực) (hiệu ứng ngẫu nhiên).
(Y”c1 - Y’c1) = (tác động của biến ngoại lai) (hiệu ứng tái tích cực) (hiệu
ứng ngẫu nhiên).
(Y”c2 – Y’e) = (tác động của biến ngoại lai) (hiệu ứng ngẫu nhiên).
95
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
(Chú ý: (Y”c2 - Y’c1) và không có (Y”c2 - Y’c2) vì không có phép quan sát
“trƣớc” cho nhóm kiểm soát thứ 2.
(Y”e - Y’e) – (Y”c1 - Y’c1) = tác động của sự can thiệp vào chƣơng trình.
(Y”c1 - Y’c1) – (Y’c2 - Y’c1) hiệu ứng tái tích cực.
Hiệu ứng ròng/thuần của sự can thiệp vào chƣơng trình có thể đƣợc tính theo
cùng cách nhƣ ở thiết kế nhóm kiểm soát đã đề cập trƣớc đây.
Thiết kế so sánh
Đôi khi ngƣời nghiên cứu cần so sánh tính hiệu dụng của các phƣơng pháp
đối xử khác nhau. Trong những tình huống nhƣ thế, thiết kế so sánh là thích hợp.
Với thiết kế so sánh, cũng nhƣ hầu hết các thiết kế khác, nghiên cứu có thể
đƣợc thực hiện dƣới hình thức thực nghiệm hay phi thực nghiệm. Trong thiết kế
so sánh thực nghiệm, tập hợp nghiên cứu đƣợc chia thành cùng một số nhóm nhƣ
số nhóm đối xử sẽ đƣợc kiểm thử. Đối với mỗi nhóm, mức cơ sở về biến phụ
thuộc đƣợc thiết lập. Lúc đó các kiểu đối xử khác nhau đƣợc dựa vào các nhóm
khác nhau. Sau một thời đoạn nào đó, khi giả định rằng các kiểu đối xử đã gây
ảnh hƣởng, phép quan sát “sau” đƣợc thực hiện nhằm xác minh thay đổi ở biến
phụ thuộc. Mức độ thay đổi ở biến phụ thuộc trong các nhóm tập hợp khác nhau
lúc này đƣợc so sánh nhằm xác lập tính hiệu dụng tƣơng đối của các can thiệp
khác nhau.
Ở dạng không thực nghiệm của thiết kế so sánh, các nhóm đã tiếp nhận các
can thiệp khác nhau đƣợc nhận diện và chỉ phép quan sát “sau” ứng với biến số
phụ thuộc đƣợc tiến hành. Phép quan sát “tiền kiểm thử” đƣợc thiết lập - hoặc
bằng cách yêu cầu tập hợp nghiên cứu ở mỗi nhóm nhớ lại thông tin cần thiết có
liên quan đến thời đoạn trƣớc khi đƣa vào việc đối xử - hoặc bằng cách tìm kiếm
thông tin nhƣ thế nào từ các sổ sách bản ghi hiện hành. Đôi khi phép quan sát
“tiền kiểm thử” cũng không đƣợc thiết lập, dựa trên giả định rằng nếu các nhóm
có thể so sánh đƣợc thì mức cơ sở phải giống nhau. Khi mỗi nhóm đƣợc giả định
96
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
có cùng mức cơ sở thì sự khác nhau ở phép quan sát “sau kiểm thử” đƣợc thừa
nhận là do sự can thiệp.
Để minh hoạ điều này, hãy tƣởng tƣợng ta muốn so sánh tính hiệu dụng của
3 kiểu giảng dạy (A, B, và C) dựa vào mức độ tiếp thu của sinh viên trong một
lớp (xem hình 7.11). Để thực hiện nghiên cứu ta chia lớp thành 3 nhóm (X, Y và
Z) theo ngẫu nhiên để đảm bảo tính có thể so sánh của chúng. Trƣớc khi đƣa các
nhóm này vào các cách giảng dạy, trƣớc hết thiết lập mức cơ sở về mức độ tiếp
thu của mỗi nhóm của môn học đã đƣợc chọn. Kế tiếp, đƣa mỗi nhóm vào một
cách giảng dạy khác nhau để dạy môn học đã chọn. Sau đó, xác định mức độ tiếp
thu của các nhóm. Giả sử dùng kiểu giảng dạy A, và Xa là mức tiếp thu trung
bình của nhóm X trƣớc khi giảng dạy và Xá là mức độ tiếp thu trung bình của
nhóm này sau khi kết thúc chƣơng trình. Sự thay đổi ở mức tiếp thu, Xá – Xa, là
do kiểu giảng dạy A. Tƣơng tự, những thay đổi trong nhóm Y và Z lần lƣợt là –
Y’b – Yb và Zc’ – Zc thuộc về kiểu dạy B và C. Các thay đổi ở mức tiếp thu trung
bình cho 3 nhóm đƣợc so sánh để xác định cách dạy nào là hiệu dụng nhất. (Chú ý
các biến ngoại lai sẽ ảnh hƣởng giống nhau đến mức tiếp thu ở tất cả các nhóm, vì
chúng đƣợc thành lập một cách ngẫu nhiên).
Cũng có thể thiết lập nghiên cứu này theo cách không thực nghiệm, đơn giản
bằng cách đƣa mỗi nhóm vào 3 cách giảng dạy, tiếp theo là phép quan sát “sau”.
Sự khác nhau ở các mức tiếp thu là do sự khác nhau ở các kiểu giảng dạy khi
khẳng định rằng 3 nhóm này có thể so sánh đƣợc với nhau về mức độ tiếp thu ban
đầu của môn học.
Tập hợp Tập hợp
Các dạng A
nghiên cứu nghiên cứu
Xa 97 Xa’
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tập hợp Tập hợp
Các dạng B
nghiên cứu nghiên cứu
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 7.11. Thiết kế thực nghiệm so sánh
Thiết kế thực nghiệm tƣơng xứng
Các nhóm so sánh thƣờng đƣợc thành lập trên cơ sở tính so sánh đƣợc về
một đặc điểm nào đó trong tập hợp nghiên cứu, chẳng hạn – tình trạng kinh tế xã
hội, sự phổ biến của điều kiện, hay phạm vi của vấn đề trong tập hợp nghiên cứu.
Trong nghiên cứu đối sánh, tính có thể so sánh đƣợc xác định trên cơ sở từng cá
nhân. Hai cá thể từ tập hợp nghiên cứu mà tập hợp nghiên cứu này hầu nhƣ giống
nhau về đặc điểm và hoặc điều kiện đƣợc lựa chọn nào đó, chẳng hạn nhƣ tuổi
tác, giới tính, hoặc loại bệnh tật, đƣợc chọn ra và sau đó mỗi cá thể đƣợc gắn vào
một nhóm khác nhau (việc tìm ra các cá thể tƣng ứng này thƣờng đƣợc thực hiện
dựa vào một đặc điểm có thể nhận diện một cách dễ dàng). Trong trƣờng hợp thí
nghiệm “kiểm soát đối sánh”, một khi cả hai nhóm đƣợc thành lập, ngƣời nghiên
cứu quyết định theo ngẫu nhiên nhóm nào đƣợc xem là nhóm kiểm soát và nhóm
nào là nhóm thực nghiệm.
Thiết kế đối sánh có thể tồn tại một số vấn đề sau:
- Việc đối sánh tăng mức độ khó khăn khi đƣợc tiến hành trên nhiều hơn 1
biến số.
- Việc đối sánh trên các biến số khó đo lƣờng – thí dụ thái độ hay ý kiến -
cực kỳ khó khăn.
98
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Đôi khi, khó biết chọn biến số nào làm cơ sở để đối sánh. Có thể quyết định
dựa vào các kết quả nghiên cứu trƣớc kia hoặc phải tiến hành một nghiên cứu sơ
bộ để chọn đƣợc biến số mong muốn.
Các nhóm đối sánh đƣợc dùng phổ biến nhất trong việc kiểm thử các loại
thuốc mới. Các bệnh nhân đƣợc đối sánh dựa trên các đặc điểm nào đó (thí dụ:
loại bệnh, tuổi hay giới tính) để thành lập các cặp. Sau đó các cá nhân hình thành
nên mỗi cặp đƣợc gắn vào 2 nhóm khác nhau. Trên cơ sở ngẫu nhiên, một nhóm
đƣợc cung cấp điều trị và nhóm kia đƣợc xem là nhóm kiểm soát.
Thiết kế trấn an
Niềm tin của bệnh nhân vào phƣơng pháp trị bệnh đóng vai trò quan trọng
trong việc giúp hồi phục bệnh, thậm chí nếu phƣơng pháp điều trị không hiệu quả.
Hiệu ứng tâm lý này đƣợc biết đến với tên gọi là hiệu ứng trấn an. Thiết kế trấn
an cố gắng xác định mức độ của hiệu ứng này. Mỗi thiết kế trấn an liên đới đến 2
hoặc 3 nhóm, phụ thuộc vào ngƣời nghiên cứu có muốn, nhóm kiểm soát hay
không (xem hình 7.12). Nếu nhà nghiên cứu cần có nhóm kiểm soát thì nhóm đầu
tiên nhận phƣơng pháp điều trị, nhóm thứ hai nhận phƣơng pháp điều trị trấn an
và nhóm ba là nhóm kiểm soát không nhận gì cả. Quyết định nhóm nào sẽ là
nhóm điều trị, nhóm trấn an hay nhóm kiểm soát có thể đƣợc làm thông qua ngẫu
nhiên hoá
Nhóm Nhóm
Điều trị
thực nghiệm thực nghiệm
(E’-E) = điều trị + (E’-E).(C’-C)=
E trấn an + ngoại lai E’
điều trị + trấn an
Nhóm Nhóm
Trấn an Trấn an
trấn an trấn an
(P’-P) = trấn an =
P ngoại lai P’ (P’-P).(C’-C)
= trấn an
Nhóm Nhóm
Kiểm soát
kiểm soát kiểm soát (C’-C) = ngoại lai
(C’-C) =các biến
C ngoại lai C’
99
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 7.12. Thiết kế trấn an
Một số thiết kế thông dụng khác
Phần này mô tả thêm một số thiết kế khác, thiết kế thực nghiệm và thiết kế
không thực nghiệm đƣợc sử dụng phổ biến trong các môn khoa học xã hội và
nhân văn.
Thiết kế thực nghiệm so sánh chéo
+X -X +X -X
Tập hợp
nghiên cứu
-X +X -X +X
+X = phương pháp điều trị được cung cấp (phần thực nghiệm)
-X= không phương pháp điều trị (phần kiểm soát)
Hình 7.13. Thiết kế thực nghiệm so sánh chéo
Một số chuyên gia cho rằng từ chối điều trị đối với nhóm kiểm soát là vô đạo
đức. Ngoài ra, từ chối điều trị không thể chấp nhận đƣợc với một số cá thể trong
nhóm kiểm soát, điều này có nghĩa là loại họ ra khỏi cuộc thí nghiệm hoặc họ
phải đi đến một nơi nào khác để đƣợc điều trị. Trƣờng hợp trƣớc làm tăng “tỷ lệ
tử vong thực nghiệm” và trƣờng hợp sau có thể làm vẩn đục nghiên cứu. Thiết kế
thực nghiệm chéo giúp có thể đo lừng tác động của điều trị mà không cần phải từ
chối điều trị đối với bất kỳ nhóm nào, mặc dầu thiết kế này có các vấn đề riêng
của nó.
Trong thiết kế nghiên cứu chéo này, còn gọi là thiết kế ABAB (Grinnel,
1993) hai nhóm đƣợc thành lập, sự can thiệp đƣợc đƣa vào một trong hai nhóm
100
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
này, và sau một thời đoạn nào đó, nhà nghiên cứu đo lƣờng đƣợc tác động của sự
can thiệp. Lúc đó các can thiệp đƣợc đổi chéo, tức là nhóm thực nghiệm trở thành
nhóm kiểm soát, và ngƣợc lại (xem hình 7.13) . Tuy nhiên, trong thiết kế này, các
nhóm tập hợp không tạo nên các nhóm thực nghiệm hay nhóm kiểm soát mà chỉ
những phân khúc mà quan sát thực nghiệm và quan sát kiểm soát đƣợc tiến hành
trên đó.
Một trong những nhƣợc điểm chính của thiết kế này là tính gián đoạn trong
điều trị. Câu hỏi chính là sự can thiệp sẽ tạo ra các ảnh hƣởng nào nếu nó chƣa
đƣợc cung cấp trong các phân khúc?
Các nghiên cứu xu hướng
Nếu muốn thể hiện sự thay đổi qua một thời đoạn nào đó trên biểu đồ,
nghiên cứu xu hƣớng là phƣơng pháp nghiên cứu thích hợp nhất. Phân tích xu
hƣớng cho phép tìm ra những gì đã xảy ra trong quá khứ, những gì đang xả ra
trong hiện tại và những gì có khả năng xảy ra trong tƣơng lai ở một nhóm tập hợp.
Nghiên cứu xu hƣớng cũng hữu dụng trong việc dự đoán các xu hƣớng bằng cách
ngoại suy từ các xu hƣớng quá khứ đến xu hƣớng hiện đại.
Thiết kế này yêu cầu chọn một số điểm quan sát dữ liệu trong quá khứ, cùng
với một bức tranh ở hiện tại hay quá khứ tức thời về hiện tƣợng đang nghiên cứu,
và sau đó tạo ra các giả định về các xu hƣớng ở tƣơng lai. Trên cơ sở của hệ thống
phân loại đƣợc trình bày trong chƣơng này, thiết kế này có thể đƣợc xếp loại vào
các nghiên cứu “hồi tƣởng - viễn tƣởng”.
Các xu hƣớng về hiện tƣợng đang nghiên cứu có thể có mối tƣơng quan với
các đặc tính khác của tính khác của tập hợp nghiên cứu. Thí dụ, xem xét những
thay đổi về xu hƣớng chính trị của tập hợp nghiên cứu ứng với tuổi tác, giới tính,
thu nhập hay dân tộc.
Các nghiên cứu tập thể (đám đông)
Nghiên cứu đám đông đƣợc dựa trên sự tồn tại của một đặc điểm chung nào
đó, chẳng hạn nhƣ năm sinh, học vấn hoặc hôn nhân, trong nhóm con của tập hợp
101
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
nghiên cứu. Giả sử nghiên cứu kiểu công việc của một số kế toán viên đã tốt
nghiệp đại học năm 1975, hay nghiên cứu việc sinh nở của những phụ nữ đã kết
hôn năm 1930. Để nghiên cứu con đƣờng nghề nghiệp của những kế toán viên tốt
nghiệp đại học này, phải tiếp xúc với tất cả các kế toán viên tốt nghiệp đại học
năm 1975 để tìm ra lịch sử công việc của họ. Tƣơng tự, phải điều tra lịch sử sinh
nở của những phụ nữ kết hôn năm 1930. Cả hai nghiên cứu này đƣợc thực hiện
hoặc theo thiết kế liên bộ phận hoặc theo thiết kế kinh tuyến. Trong trƣờng hợp
thiết kế kinh tuyến, thông tin cần thiết đƣợc thu thập từ cùng những ngƣời trả lời
là không quan trọng, tuy vậy điều quan trọng là những ngƣời trả lời này phải
thuộc về cùng một tập thể/đám đông (ở thí dụ trên, đó là những ngƣời tốt nghiệp
năm 1975 hay kết hôn năm 1930).
Nghiên cứu theo kiểu riêng lẻ
Các nghiên cứu xu hƣớng, tập thể và riêng lẻ đều tƣơng tự nhƣ nhau, ngoài
trừ nghiên cứu riêng lẻ về bản chất là nghiên cứu kinh tuyến và viễn tƣởng và
chúng thu nhập thông tin từ cùng những ngƣời trả lời. Trong nghiên cứu xu
hƣớng và nghiên cứu tập thể, thông tin có thể đƣợc thu thập theo kiểu liên bộ
phận và các điểm quan sát đƣợc xây dựng theo lối hồi tƣởng, trong khi đó
phƣơng pháp nghiên cứu riêng lẻ các phép quan sát đƣợc thực hiện qua một thời
đoạn và về bản chất theo lối viễn tƣởng. Giả sử cần nghiên cứu những thay đổi về
cách chi tiêu các đồ dùng gia đình trong một cộng đồng. Để làm điều này, chọn ra
một vài gia đình để xác định số tiền mà họ tiêu này, chọn ra một vài gia đình để
xác định số tiền mà họ tiêu xài mỗi hai tuần vào các đồ dùng gia đình. Tiếp tục
thu thập cùng các thông tin từ đúng các gia đình trên trong một thời đoạn thời
gian để xác định những thay đổi trong kiểu chi tiêu. Nghiên cứu nhƣ thế đƣợc gọi
là nghiên cứu riêng lẻ. Tƣơng tự, thiêt kế nghiên cứu riêng lẻ có thể đƣợc sử dụng
để nghiên cứu kiểu bệnh tật trong một cộng đồng.
Nghiên cứu tình huống
102
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Phƣơng pháp nghiên cứu tình huống là một tiếp cận để khảo sát một hiện
tƣợng xã hội thông qua việc phân tích sâu sắc một tình huống cá thể.Tình huống
có thể là một ngƣời nhóm, quá trình, cộng đồng, xã hội hay các đơn vị khác của
đời sống xã hội. Mọi dữ liệu liên đới đến tình huống đều đƣợc tập hợp và tổ chức
dƣới dạng tình huống. Nó đƣa ra một cơ hội cho việc phân tích sâu nhiều chi tiết
cụ thể thƣờng bị bỏ qua ở các phƣơng pháp khác. Tiếp cận này dựa trên giả định
rằng tình huống đang nghiên cứu có tính điển hình trong các tình huống cùng
kiểu, vì vậy, thông qua việc phân tích sâu sắc, có thể đƣa ra các quy tắc tổng quát
hoá có thể áp dụng đƣợc cho các tình huống khác có cùng kiểu.
Tóm tắt chƣơng
Trong chƣơng này, các thiết kế nghiên cứu khác nhau đƣợc xem xét từ ba
góc nhìn. Thuật ngữ đƣợc dùng để mô tả các góc nhìn này là của tác giả nhƣng
tên của các thiết kế nghiên cứu đƣợc dùng phổ biến. Các thiết kế khác nhau giữa
các phạm trù có tính loại trừ nhƣng không loại trừ trong mỗi phạm trù. Một số
thiết kế đƣợc sử dụng phổ biến đã đƣợc thảo luận trong chƣơng.
Ba góc nhìn là: số lần tiếp xúc, thời đoạn tham chiếu và bản chất của điều
tra. Góc nhìn đầu tiên gồm có các nghiên cứu liên bộ phận, nghiên cứu trƣớc –
sau và nghiên cứu kinh tuyến. Góc nhìn thứ hai gồm các nghiên cứu hồi tƣởng,
viễn tƣởng và hồi tƣởng - viễn tƣởng. Góc nhìn thứ ba phân loại nghiên cứu thành
nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu không thực nghiệm và nghiên cứu bán thực
nghiệm.
BƢỚC 3. XÂY DỰNG THIẾT BỊ ĐỂ THU THẬP DỮ LIỆU
Chương 8. Lựa chọn phương pháp thu thập dữ liệu
Chương 9. Thu thập dữ liệu bằng cách dùng thang thái độ
Chương 10. Thiết lập tính xác thực và thái độ tin cậy của thiết bị nghiên cứu
CHƢƠNG 8. LỰA CHỌN PHƢƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU
- Thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng nguồn sơ cấp/chính:
103
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
+ Quan sát.
+ Phỏng vấn.
+ Bảng câu hỏi.
- Thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng nguồn thử cấp/phụ:
+ Những khó khăn khi sử dụng thông tin từ các nguồn phụ.
- Tóm tắt chƣơng
Có 2 tiếp cận chính để tập hợp thông tin về một tình huống, một ngƣời, một
vấn đề hay một hiện tƣợng. Đôi khi thông tin cần thiết đã có sẵn và chỉ cần đƣợc
trích xuất ra. Tuy nhiên, có nhiều khi thông tin phải đƣợc tập hợp lại. Dựa trên
các phƣơng pháp thu thập thông tin, dữ liệu đƣợc phân loại thành
Dữ liệu thứ cấp (phụ); và
Dữ liệu sơ cấp (chính).
Thông tin thu đƣợc bằng cách sử dụng phƣơng pháp đầu tiên đƣợc gọi là tập
hợp từ, nguồn phụ trong khi đó các nguồn sử dụng ở phƣơng pháp thứ hai đƣợc
gọi là nguồn chính. Thí dụ về các nguồn phụ là: dùng dữ liệu điều tra dân số để
lấy thông tin về cơ cấu giới tính - tuổi tác của một cộng đồng; việc dùng các mẫu
tin y tế để tìm ra các cơ cấu về bệnh tật và tử vong của cộng đồng; dùng các mẫu
tin lƣu trữ của tổ chức để xác minh hoạt động của nó; thu nhặt thông tin từ các
nguồn nhƣ báo chí, sách vở và các tạp chí định kỳ để có đƣợc các thông tin lịch
sử và các loại thông tin khác. Mặt khác, việc tìm ra một cách trực tiếp các thái độ
của cộng đồng về các dịch vụ y tế việc xác định các nhu cầu y tế của cộng đồng,
việc đánh giá chƣơng trình xã hội, xác định mức độ thỏa mãn công việc của các
nhân viên trong tổ chức và việc xác minh chất lƣợng của các dịch vụ cung ứng
bởi nhân viên phục vụ đều là những thí dụ về thông tin thu nhận đƣợc từ các
nguồn chính. Nói tóm lại, các nguồn tin chính cung cấp trực tiếp các thông tin và
các nguồn phụ cung ứng các thông tin gián tiếp. Hình 8.1. cho thấy các phƣơng
pháp thu thập dữ liệu.
104
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Không có phƣơng pháp thu thập dữ liệu nào cung ứng đƣợc thông tin tin cậy
và chính xác tuyệt đối (100%). Chất lƣợng của dữ liệu thu thập phụ thuộc vào một
số các yếu tố khác sẽ đƣợc trình bày theo từng phƣơng pháp thu thập. Kỹ năng
của nhà nghiên cứu nằm ở khả năng xem tất cả các yếu tố có thể ảnh hƣởng đến
chất lƣợng của dữ liệu. Một trong những khác biệt chính giữa nhà nghiên cứu
chuyên nghiệp và nhà nghiên cứu nghiệp dƣ nằm ở chỗ hiểu biết và khả năng
kiểm soát các yếu tố đó. Do vậy, đối với ngƣời mới bắt đầu điều quan trọng là
phải nhận thức đƣợc điều này.
Các phƣơng pháp thu thập dữ liệu
Nguồn phụ Nguồn chính
Tƣ liệu Quan sát Phỏng vấn Bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi
Ngƣời tham dự Có cấu trúc
gửi qua thƣ in
Các ấn bản của Chính phủ.
Ngƣời không Không có Bảng câu hỏi
Các nghiên cứu trƣớc kia
tham dự cấu trúc dạng tập hợp
Các mẫu tin cá nhân
Hình 8.1. Các phương pháp thu thập dữ liệu.
105
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Thu thập dữ liệu bằng các dùng các nguồn thông tin chính
Có thể dùng một vài phƣơng pháp để thu thập dữ liệu chính. Việc lựa chọn
phƣơng pháp tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, các nguồn tƣ liệu có sẵn và kỹ
năng của ngƣời nghiên cứu. Có những lúc phƣơng pháp dƣờng nhƣ thích hợp nhất
để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu lại không thể dùng đƣợc do những hạn chế nhƣ
thiếu các nguồn tƣ liệu và/hoặc kỹ năng cần thiết. Trong những tình huống nhƣ
vậy, phải nhận biết các vấn đề mà các hạn chế này áp đạt lên chất lƣợng dữ liệu.
Khi chọn một phƣơng pháp thu thập dữ liệu nào đó, những đặc điểm về nhân
khẩu - kinh tế - xã hội của tập hợp nghiên cứu đóng vai trò quan trọng: cần biết
càng nhiều càng tốt về các đặc điểm chẳng hạn nhƣ trình độ văn hóa, cơ cấu tuổi,
tình trạng kinh tế - xã hội và nền tảng dân tộc. Nếu có thể, cũng rất có ích khi biết
đƣợc mối quan tâm, thái độ và sự tham dự của tập hợp nghiên cứu trong đề tài
nghiên cứu. Một số ngƣời, vì một vài lý do nào đó, có lẽ không cảm thấy dễ chịu
với một phƣơng pháp thu nhập dữ liệu cụ thể (chẳng hạn - bị phỏng vấn) hay cảm
thấy bất tiện khi diễn giải ý kiến trong bảng câu hỏi. Hơn nữa, ngƣời có học vấn
thấp có thể trả lời khác biệt hẳn so với ngƣời có học vấn cao hơn.
Một yếu tố quan trọng nữa có tính quyết định chất lƣợng dữ liệu là cách giải
thích mục đích nghiên cứu cho ngƣời tham dự trả lời. Bất kỳ dùng phƣơng pháp
thu thập dữ liệu nào phải đảm bảo rằng ngƣời tham dự hiểu rõ mục đích và tính
thích hợp của bài nghiên cứu. Điều này đặc biệt quan trọng đối với việc sử dụng
bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu vì trong tình huống phỏng vấn ta có thể trả lời
trực tiếp các câu hỏi của ngƣời đối diện nhƣng trong bảng câu hỏi ta lại không có
cơ hội này.
Trong các phần sau, mỗi phƣơng pháp thu thập dữ liệu đƣợc thảo luận từ
quan điểm tính phù hợp và khả áp dụng cho tình huống, những khó khăn và hạn
chế liên đới.
Quan sát
106
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Quan sát là cách thu thập sơ cấp (chính). Quan sát là cách nhìn và lắng nghe
có lựa chọn, có hệ thống và có mục đích về một tƣơng tác hoặc một hiện tƣợng
nào đó. Có nhiều tình huống mà chỉ có quan sát là phƣơng pháp thu thập tài liệu
phù hợp nhất - thí dụ: khi muốn biết sự tƣơng tác trong một nhóm, khi xác minh
các nhiệm vụ mà một công nhân thực hiện, hoặc khi nghiên cứu cách cƣ xử hay
đặc điểm tính cách của từng cá nhân. Quan sát cùng thích hợp trong các tình
huống khi phỏng vấn không moi đƣợc thông tin chính xác hoặc không lấy đƣợc
đầy đủ thông tin vì ngƣời đối tác không muốn hợp tác hay không biết trả lời. Tóm
lại, khi quan tâm đến thái độ cƣ xử hơn việc nhận thức của cá nhân, hay khi chủ
thể quá liên quan đến vấn đề đến nỗi không thể cung cấp những thông tin khách
quan thì quan sát là phƣơng pháp tốt nhất để thuthập các thông tin cần thiết.
Các loại quan sát.
Có 2 loại quan sát.
. Quan sát có chủ thể tham gia; và
. Quan sát không có chủ thể tham gia.
. Quan sát có chủ thể tham gia là khi ngƣời nghiên cứu tham gia vào các hoạt
động của nhóm đƣợc quan sát với tƣ cách giống nhƣ các thành viên trong nhóm
dù các thành viên này biết hay không biết họ đang đƣợc quan sát. Thí dụ: muốn
khảo sát phản ứng của cộng đồng đối với những ngƣời ngồi xe lăn, ta có thể
nghiên cứu phản ứng của họ bằng cách tự mình ngồi vào đó; để nghiên cứu cuộc
sống của các tù nhân thì ta phải giả sử mình cũng là một tù nhân.
- Quan sát tham gia vào các hoạt động của nhóm mà chỉ là ngƣời quan sát
thụ động, xem và lắng nghe các hoạt động của nhóm và rút ra kết luận. Thí dụ -
nghiên cứu nhiệm vụ của các y tá làm trong một bệnh viện. Với tƣ cách là ngƣời
quan sát ta phải nhìn xem theo dõi và ghi nhận các hoạt động khi chúng đƣợc thực
hiện. Sau khi quan sát, phải rút ra những kết luận về chức năng công việc mà y tá
làm trong bệnh viện. Các nhóm nghề nghiệp trong bối cảnh nào cũng có thể đƣợc
quan sát giống nhƣ vậy.
107
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Các vấn đề khi dùng quan sát làm phương pháp thu thập dữ liệu
Việc dùng quan sát làm phƣơng pháp thu thập dữ liệu có thể hứng chịu một
số vấn đề - tuy nhiên những vấn đề này không nhất thiết phải có dù ít nhiều trong
mọi tình huống. Nhƣng với ngƣời mới bắt đầu cần nhận biết những việc này.
- Khi cá nhân hay nhóm nhận thức rằng họ đang bị quan sát thì họ có thể
thay đổi thái độ. Tùy thuộc vào tình huống, thay đổi này có thể là tích cực hoặc
tiêu cực (thí dụ: năng suất có thể tăng hoặc giảm) và có thể xảy ra vì một số lý do
nào đó. Khi một thay đổi nào đó trong thái độ của con ngƣời hoặc nhóm ngƣời
đƣợc qui cho việc bị quan sát thì ta có hiệu ứng. Hawthorne. Việc dùng phƣơng
pháp quan sát trong tình huống nhƣ vậy đƣa ra sự sái dạng: những gì đƣợc quan
sát không thể hiện ứng xử bình thƣờng.
- Luôn luôn có khả năng về sự thiên lệch của ngƣời quan sát. Nếu ngƣời
quan sát có thành thiến thì họ dễ dàng đƣa ra thiên lệch và chẳng có cách dễ dàng
nào để kiểm chứng những quan sát và kết luận đƣợc rút ra.
- Phân giải rút ra từ việc quan sát có thể khác nhau theo từng ngƣời quan sát.
- Có khả năng quan sát hoặc ghi chép không hoàn chỉnh, điều này tùy vào
phƣơng pháp ghi chép. Ngƣời quan sát có thể rất nhiệt tình quan sát nhƣng lại
thiếu ghi chép chi tiết. Hoặc trƣờng hợp đối nghịch là ngƣời quan sát ghi chép chi
tiết nhƣng khi thực hiện điều đó lại bỏ mất một số quan sát nào đó.
Các tình huống cần dùng phương pháp quan sát.
Quan sát có thể đƣợc thực hiện dƣới 2 điều kiện.
- Tự nhiên; và
- Có kiểm soát.
Quan sát một nhóm ở tình huống vận hành tự nhiên thay vì xem vào các
hoạt động của nó đƣợc gọi là quan sát trong điều kiện tự nhiên. Còn nếudựa thêm
một tác nhân kích thích nào đó cho nhóm để nhóm phản ứng lại và quan sát phản
ứng này đƣợc gọi là quan sát có kiểm soát.
Ghi chép trong quan sát
108
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Có nhiều cách ghi nhận quan sát. Chọn phƣơng pháp ghi nhận nào tùy
thuộc vào mục tiêu quan sát. Cần nhớ rằng mỗi phƣơng pháp đều có ƣu và khuyết
nhƣợc điểm riêng.
- Miêu tả. ở cách này, nhà nghiên cứu mô tả quan sát bằng lời văn riêng của
mình. Thông thƣờng, nhà nghiên cứu sẽ tạo ra các ghi chú ngắn trong khi quan sát
và ngay khi quan sát xong, sẽ tiến hành ghi chú chi tiết theo dạng dẫn dắt. Ngoài
ra, một số nhà nghiên cứu cũng có thể phân giải sự kiện quan sát và từ đó rút ra
kết luận. Thuận lợi lớn nhất của cách này là nó thể hiện cách nhìn sâu hơn về sự
kiện quan sát. Tuy vậy, một khuyết điểm là nhà nghiên cứu có thể thiên lệch (định
kiến) trong quan sát của mình do vậy các phân giải và kết luận rút ra từ quan sát
cũng có thể bị thiên lệch. Tƣơng tự, khi tập trung quan sát nhà nghiên cứu có thể
quên ghi chú một phần quan trọng nào đó của các sự kiện, và ngƣợc lại, trong quá
trình ghi chép, phần quan sát các sự kiện cũng bị bỏ mất. Vì vậy, luôn có khả
năng ghi chép và/hay quan sát không đầy đủ. Thêm nữa, với các nhà quan sát
khác nhau, tính so sánh đƣợc của các ghi chép có thể cũng là một vấn đề.
Thang đo. Đôi khi một số ngƣời uan sát thích triển khai một thang đo nào
đó để đánh giá các khía cạnh khác nhau của hoạt động hoặc hiện tƣợng. Việc ghi
nhận sẽ đƣợc thực hiện trên thang đo đó. Một thang đo có thể là 1, 2 hoặc 3 chiều,
phụ thuộc vào mục đích quan sát. Thí dụ, thang đo ở hình 8.2 đƣợc thiết lập để
ghi nhận bản chất của tƣơng tác trong một nhóm - có 3 hƣớng: dƣơng tính, âm
tính và trung tính.
Dƣơng tính Trung tính Âm tính
Các khía cạnh hoạt động 5 4 3 2 1 0 1 2 3 4 5
Tham gia 5 4 3 2 1 0 1 2 3 4 5
Mối quan hệ 5 4 3 2 1 0 1 2 3 4 5
Tự tin 5 4 3 2 1 0 1 2 3 4 5
Năng nổ 5 4 3 2 1 0 1 2 3 4 5
5 4 3 2 1 0 1 2 3 4 5
109
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
5 4 3 2 1 0 1 2 3 4 5
Hình 8.2. Thang đo đánh giá 3 chiều
Một trong những khó khăn khi dùng thang đo để ghi chép các quan sát là nó
không cung cấp thông tin đủ sâu về tƣơng tác. Ngoài ra, nó còn có các vấn đề sau:
- Trừ phi ngƣời quan sát tự tin tuyệt đối vào khả năng đánh giá tƣơng tác của
mình, họ có khuynh hƣớng tránh đƣợc các vị trí cực biên trên thang đo, chỉ dùng
phần lớn các vị trí trung tâm. Lỗi này đƣợc gọi là lỗi khuynh hƣớng trung tâm.
- Một số nhà quan sát có khuynh hƣớng chỉ dùng một phần cụ thể nào đó trên
thang đo để ghi nhận tƣơng tác hiện tƣợng này đƣợc gọi là hiệu ứng leo thang.
- Có một loại lỗi khác - xuất hiện ở cách mà ngƣời quan sát đánh giá một cá
thể về một khía cạnh của hoạt động có thể có ảnh hƣởng đến cách đánh giá cá thể
đó ở một khía cạnh khác của hoạt động. Thí dụ trong giảng dạy - giáo viên đánh
giá thành tích của một sinh viên ở một môn học có thể ảnh hƣởng đến đánh giá
cũng của chính giáo viên đó về thành tích của cùng sinh viên ở môn học khác.
Loại ảnh hƣởng này đƣợc gọi là hiệu ứng hào quang.
- Ghi chép theo phân loại: đôi khi nhà quan sát quyết định ghi nhận quan sát
của mình bằng cách sử dụng các phạm trù/hạng mục. Loại và số lƣợng phạm trù
phụ thuộc vào kiểu tƣơng tác và cách lựa chọn của ngƣời quan sát về cáhc thức
phân loại quan sát. Thí dụ: thụ động/chủ động (2 hạng mục); hƣớng nội/hƣớng
ngoại (2 hạng mục); hoàn toàn tán thành/tán thành/ không chắc chắn/không tán
thành/phản đối quyết liệt (5 hạng mục). Việc dùng các phạm trù/hạng mục để ghi
nhận quan sát có thể gặp cùng những khó khăn nhƣ với quan sát dùng thang đo.
- Ghi chép trên các thiết bị cơ học: quan sát cũng có thể đƣợc ghi nhận vào
băng video, rồi sau đó đƣợc phân tích. Ƣu thế của việc ghi chép hoạt động bằng
băng video là ngƣời quan sát có thể xem nó nhiều lần trƣớc khi rút ra kết luận, và
có thể mời các chuyên gia khác xem nữa để có thể rút ra các kết luận khách quan
hơn. Tuy nhiên, một trong những bất lợi là một số ngƣời cảm thấy bất tiện hoặc
110
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
ứng xử khác đi trƣớc ống kính. Vì vậy tƣơng tác có thể không phản ảnh tình
huống thật.
Việc chọn lựa một phƣơng pháp ghi chép quan sát cụ thể nào đó tùy thuộc
vào mục đích quan sát, tính phức tạp của tƣơng tác và kiểu tập hợp nghiên cứu
đƣợc quan sát. Cần phải xét kỹ các yếu tố này trƣớc khi quyết định phƣơng pháp
ghi chép quan sát.
Phỏng vấn
Phỏng vấn là phƣơng pháp đƣợc sử dụng phổ biến để thu thập thông tin từ
con ngƣời. Trong cuộc sống chúng ta thu thập thông tin dƣới các hình thức tƣơng
tác khác nhau với những ngƣời khác nhau. Bất kỳ sự tƣơng tác trực tiếp nào giữa
2 hoặc nhiều ngƣời với mục đích cụ thể nào đó đƣợc gọi là phỏng vấn. Một mặt
việc phỏng vấn có thể rất linh động khi ngƣời phỏng vấn tự do đặt ra các câu hỏi
về vấn đề đang đƣợc khảo sát, một mặt - nó có thể thiếu linh hoạt khi ngƣời
phỏng vấn giữ đúng các câu hỏi xác lập từ trƣớc. Các cuộc phỏng vấn đƣợc phân
loại theo mức độ linh hoạt thành:
- Không có cấu trúc; và
- Có cấu trúc.
Phỏng vấn không có cấu trúc
Trong phỏng vấn không có cấu trúc, cũng đƣợc gọi là phỏng vấn chiều sâu,
ngƣời phỏng vấn triển khai một khung cơ sở, gọi là hƣớng dẫn phỏng vấn, để tiến
hành cuộc phỏng vấn gọi là hƣớng dẫn phỏng vấn, để tiến hành cuộc phỏng vấn.
Trong phạm vi cấu trúc này, ngƣời phỏng vấn tự ý thiết lập ra các câu hỏi suột
cuộc phỏng vấn. Cuộc phỏng vấn không có cấu trúc có thể đƣợc tiến hành theo
thể thức một - một hay theo nhóm (khi này gọi là phỏng vấn nhóm hay phỏng vấn
nhóm tập trung).
Phƣơng pháp thu thập thông tin này vô cùng hữu ích trongcác tình huống cần
thông tin đủ sâu hoặc ở lĩnh vực có ít hiểu biết. Tính linh hoạt cho phép ngƣời
phỏng vấn đặt các câu hỏi với ngƣời trả lời là một điểm quý giá vì nó moi đƣợc
111
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
những thông tin cực kỳ phong phú. Do khả năng cung cấp các thông tin đủ sâu
rộng nên nhiều nhà nghiên cứu dùng kỹ thuật này để xây dựng các thiết bị nghiên
cứu có cấu trúc. Mặt khác, do việc hƣớng dẫn phỏng vấn không liệt kê các câu hỏi
cụ thể cho ngƣời đƣợc phỏng vấn nên việc so sánh các câu hỏi và câu trả lời trở
thành vấn đề khó khăn. Khi ngƣời nghiên cứu thu đƣợc kinh nghiệm trong các
cuộc phỏng vấn, các câu hỏi cũng thay đổi, do vậy, loại thông tin thu thập từ những
ngƣời đƣợc phỏng vấn lúc đầu sẽ khác biệt đáng kể so với thông tin nhận đƣợc từ
những ngƣời đƣợc phỏng vấn lúc cuối. Cũng vậy, việc tự do này có thể đƣa thiên
lệch của ngƣời khảo sát vào trong bài nghiên cứu. Việc dùng hƣớng dẫn phỏng vấn
làm phƣơng tiện thu thập dữ liệu đòi hỏi nhiều kỹ năng ở ngƣời khảo sát (ngƣời
phỏng vấn) hơn ở cách dùng phỏng vấn có cấu trúc.
Phỏng vấn có cấu trúc
Trong phỏng vấn có cấu trúc, nhà phỏng vấn hỏi một loạt những câu hỏi đã
đƣợc xác định trƣớc, dùng cùng cách diễn đạt và trật tự câu hỏi đƣợc chỉ ra trong
kế hoạch phỏng vấn. Kế hoạch phỏng vấn là danh sách các câu hỏi - mở hoặc
đóng - đƣợc viết ra mà ngƣời phỏng vấn sẽ sử dụng trong cuộc phỏng vấn là thiết
bị/công cụ nghiên cứu để thu thập dữ liệu, trong khi đó phỏng vấn là phƣơng pháp
thu thập dữ liệu.
Một trong những ƣu điểm chính của phỏng vấn có cấu trúc là nó cung cấp
thông tin đồng nhất, đảm bảo việc so sánh dữ liệu. Phỏng vấn có cấu trúc ít đòi
hỏi kỹ năng phỏng vấn hơn phỏng vấn không có cấu trúc.
Bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi là danh sách các câu hỏi dƣới dạng viết và các câu trả lời tƣơng
ứng đƣợc ngƣời trả lời ghi vào. Trong bảng câu hỏi, ngƣời trả lời phải đọc câu
hỏi, phân giải điều yêu cầu và sau đó viết câu trả lời. Điều khác biệt duy nhất giữa
bảng kế hoạch phỏng vấn và bảng câu hỏi là ở bảng kế hoạch phỏng vấn chính
nhà phỏng vấn đặt câu trả lời của ngƣời đƣợc phỏng vấn vào bảng kế hoạch
112
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
phỏng vấn. Sự khác biệt này quan trọng trong việc giải thích ƣu điểm và nhƣợc
điểm tƣơng ứng của 2 phƣơng pháp này.
Trong bảng câu hỏi, vì không có ai giải thích ý nghĩa của câu hỏi cho ngƣời
đƣợc phỏng vấn nên câu hỏi cần phải rõ ràng và dễ hiểu. Cách trình bày câu hỏi
cũng phải dễ đọc, dễ bắt mắt, trình tự câu hỏi dễ theo dõi. Bảng câu hỏi cần đƣợc
triển khai theo phong cách tƣơng tác. Điều này nghĩa là ngƣời đƣợc phỏng vấn
cảm thấy nhƣ có ngƣời đang đàm thoại. Trong bảng câu hỏi, khi có câu hỏi nhạy
cảm hay câu hỏi mà ngƣời đƣợc phỏng vấn cảm thấy ngần ngại trả lời thì bảng
này nên có giải thích trƣớc về tính liên đới của câu hỏi. Nên dùng một kiểu chữ
khác cho các giải thích mang tính tƣơng tác này để phân biệt chúng với câu hỏi
thực. Thí dụ ở mục 8.3 đƣợc rút ra từ cuộc khảo sát do tác giả tiến hành với sự hỗ
trợ của 2 sinh viên.
Việc lựa chọn giữa kế hoạch phỏng vấn và bảng câu hỏi.
- Việc lựa chọn giữa bảng câu hỏi và kế hoạch phỏng vấn đóng vai trò quan
trọng và phải đƣợc xem xét kỹ càng vì ƣu điểm và nhƣợc điểm của 2 phƣơng
pháp có thể ảnh hƣởng đấn tính xác thực của kết quả nghiên cứu. Bản chất của
điều tra và các đặc điểm kinh tế - xã hội - nhân khẩu của tập hợp nghiên cứu là
yếu tố chính trong sự lựa chọn này. Việc lựa chọn giữa 2 phƣơng pháp này đƣợc
căn cứ vào các tiêu chuẩn sau:
- Bản chất điều tra: nếu nghiên cứu về các vấn đề mà ngƣời đƣợc phỏng vấn
miễn cƣỡng thảo luận với nhà phỏng vấn thì bảng câu hỏi có lẽ là lựa chọn tốt hơn
vì nó đảm bảo tính vô danh. Điều này cũng xảy ra trong các nghiên cứu về việc sử
dụng thuốc phiện, mại dâm, các hoạt động phạm tội và tài sản cá nhân. Tuy nhiên,
có những tình huống ở đó nhà phỏng vấn có thể thu thập đƣợc nhiều thông tin có
chất lƣợng hơn về các vấn đề nhạy cảm từ ngƣời đƣợc phỏng vấn. Điều đó phụ
thuộc vào kiểu tập hợp nghiên cứu và kỹ năng của nhà phỏng vấn.
113
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Phân bố về địa lý của tập hợp nghiên cứu: nếu những ngƣời sẽ đƣợc phỏng
vấn ở nhiều nơi khác nhau, không còn lựa chọn nào ngoài việc dùng bảng câu hỏi,
vì việc phỏng vấn trong những tình huống này vô cùng tốn kém.
- Kiểu tập hợp nghiên cứu: nếu tập hợp nghiên cứu gồm những ngƣời học
vấn rất thấp, lớn tuổi, quá nhỏ tuổi, hoặc khuyết tật thì không có lựa chọn nào
ngoài việc phỏng vấn.
Đi đâu ?
Nghiên cứu tình linh động về nghề nghiệp của những người nhập cư
Bảng câu hỏi đƣợc mở đầu bằng phát biểu tƣơng tác sau.
Hoàn cảnh cá nhân, nền tảng giáo dục và nghề nghiệp, ở một phạm vi rộng
lớn sẽ quyết định tính linh động chuyên môn của mỗi ngƣời. Điều này đặc biệt
dùng đối với ngƣời nhập cƣ, vì vậy, chúng tôi mong đƣợc hỏi một vài câu hỏi về
nền tảng của bạn và gia đình. Hiểu rõ những yếu tố này rất quan trọng cho việc
đánh giá tính đại diện của mẫu gồm những ngƣời tham gia vào nghiên cứu nhằm
phản ảnh dân nhập cƣ và hiểu đƣợc phạm vi, bản chất và nguyên nhân thay đổi
nghề nghiệp trong mối liên hệ với nền tảng của bạn. Chúng tôi đánh giá cao các
câu trả lời của bạn vì thông tin bạn đƣa ra rất có giá trị hữu ích cho chúng tôi.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng các trả lời của bạn rất có giá trị và hết sức cảm
kích trƣớc đáp ứng của bạn. Tuy nhiên, nếu bạn cảm thấy không muốn trả lời một
câu hỏi cụ thể nào đó thì chúng tôi cũng vui lòng tán thành quyết định đó. Chúng
tôi đảm bảo câu trả lời của bạn sẽ không đƣợc tiết lộ và sẽ không đƣợc dùng vào
mục đích nào khác.
Trƣớc khi đặt câu hỏi về nền tảng gia đình, cần đƣa thêm vào bảng câu hỏi
dòng sau đây.
Bây giờ, chúng tôi muốn đặt vài hỏi về gia đình của bạn. Hoàn cảnh gia đình
có thể tác động lên chọn lựa nghề nghiệp sau khi bạn đã nhập cƣ. Một lần nữa,
chúng tôi đảm bảo các câu trả lời của bạn có tính vô danh.
114
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Trƣớc khi xác minh kinh nghiệm của ngƣời đƣợc đặt câu hỏi về việc công
nhận năng lực của họ ở nƣớc Úc, phát biểu sau đây cũng cần đƣợc thêm vào bảng
câu hỏi.
Bên cạnh các yếu tố khác, bằng cấp chuyên môn và giáo dục dòng một vai
trò quan trọng trong việc điều chỉnh nghề nghiệp cho bản thân ở một nƣớc mới.
Trong phần này chúng tôi muôn hỏi ý kiến của bạn về quá trình năng lực của bạn
đƣợc công nhận ra sao. Chúng tôi cũng muốn biết mức độ hài lòng và không hài
lòng của bạn về kết quả. Nếu bạn không hài lòng, vui lòng cho chúng tôi biết
nguyên do vì thông tin này có thể giúp ngƣời quyết định cải thiện quá trình đó.
Một lần nữa, chúng tôi đảm bảo rằng trả lời của bạn hoàn toàn không bị tiết lộ.
Tuy nhiên, nếu bạn vẫn không muốn trả lời một câu hỏi cụ thể nào đó, xin vui
lòng bỏ qua nó.
Hình 8.3. Nghiên cứu việc thay đổi nghề nghiệp của người nhập cư.
Các cách áp dụng bảng câu hỏi.
Một bảng câu hỏi có thể đƣợc áp dụng bằng các cách khác nhau.
- Bảng câu hỏi đƣợc gởi bằng thƣ tín. Phƣơng pháp phổ biến nhất để thu thập
thông tin là gởi bảng câu hỏi cho ngƣời trả lời qua thƣ tín. Rõ ràng phƣơng pháp
này giả định rằng bạn tiếp cận đƣợc với địa chỉ của họ. Thông thƣờng, gởi thƣ có
ghi sẵn địa chỉ và dán tem sẵn cùng với bảng câu hỏi là một ý tƣởng hay vì nó có
thể làm tăng tỷ lệ trả lời. Bảng câu hỏi đƣợc gởi bằng thƣ tín phải kèm theo một lá
thƣ ngỏ (xem chi tiết bên dƣới).
- Một trong những khó khăn chính của phƣơng pháp này là tỷ lệ trả lời thấp.
Trong trƣờng hợp tỷ lệ trả lời thƣ quá thấp, kết quả tìm ra áp dụng rất hạn chế lên
tập hợp nghiên cứu.
- Áp dụng tập hợp - một trong những cách áp dụng bảng câu hỏi tốt nhất là
xác định một cử tọa bị bắt buộc chẳng hạn nhƣ sinh viên trong một lớp học, những
115
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
ngƣời tham dự một hội nghị hay những ngƣời tụ họp ở một nơi. Cách này đảm bảo
tỷ lệ trả lời thƣ rất cao vì rất ít ngƣời từ chối tham gia vào nghiên cứu. Tƣơng tự
nhƣ vậy, khi có quan hệ cá nhân với đám đông nghiên cứu, ta có thể giải thích mục
tiêu, tính phù hợp và tầm quan trọng của nghiên cứu và ta cũng có thể làm sáng tỏ
bất kỳ câu hỏi nào của đám đông - tập hợp tham gia nghiên cứu. Lời khuyên ở đây
là nếu có một cử tọa bị bắt buộc - đừng bỏ qua cơ hội, đây là cách nhanh nhất để
thu thập tƣ liệu và có thể tiết kiệm chi phí thƣ tín.
- Áp dụng ở nơi công cộng - đôi khi ta có thể áp dụng bảng câu hỏi ở nơi
công cộng chẳng hạn nhƣ trung tâm mua sắm, y tế, bệnh viện, trƣờng học… Dĩ
nhiên điều này phụ thuộc vào loại tập hợpnghiên cứu mà ta đang tìm kiếm và vị trí
tƣơng ứng. Thông thƣờng mục đích nghiên cứu đƣợc giải thích cho ngƣời trả lời
khi họ tiếp cận và tham gia vào nghiên cứu. Ngoài việc hao phí thời gian đôi chút,
phƣơng pháp này có đầy đủ ƣu điểm để áp dụng bảng câu hỏi theo số đông.
Nội dung lá thư ngỏ
- Cần nhớ là phải viết một thƣ ngỏ cùng với bảng câu hỏi đƣợc gởi bằng thƣ
tín. Lá thƣ ngỏ nên trình bày ngắn gọn các việc sau:
- Giới thiệu bạn và tổ chức của bạn;
- Mô tả (2 hoặc 3 câu) về mục tiêu chính của nghiên cứu;
- Giải thích tính hợp lý của ngƣời nghiên cứu;
- Tóm tắt những hƣớng dẫn chung;
- Nói rõ tham gia nghiên cứu là tự nguyện - nếu không muốn trả lời bảng câu
hỏi có quyền nói không;
- Khẳng định các trả lời đƣợc giữ bí mật.
- Cung cấp địa chỉ liên lạc trong trƣờng hợp họ cần hỏi vấn đề gì;
- Ghi địa chỉ nhận và thời hạn chót cho việc trả lời;
- Cảm ơn việc tham gia nghiên cứu.
Các ưu điểm của bảng câu hỏi.
Bảng câu hỏi có một số ƣu điểm sau:
116
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Ít tốn kém: tiết kiệm thời gian, tài chính và nguồn nhân lực vì không phải
phỏng vấn. Do vậy dùng bảng câu hỏi tƣơng đối tiện lợi và ít tốn kém. Đặc biệt
khi dùng theo kiểu đám đông đối với tập hợp nghiên cứu, đây là phƣơng pháp thu
thập tƣ liệu rất ít tốn kém.
- Đảm bảo tính mật: vì không có phỏng vấn trực diện giữa ngƣời trả lời và
nhà phỏng vấn, phƣơng pháp này đảm bảo tính mật. Ở một số tình huống khi có
các câu hỏi nhạy cảm thì bảng câu hỏi là cách có thể tăng khả năng thu thập đƣợc
thông tin chính xác.
Nhược điểm của bảng câu hỏi
- Mặc dù bảng câu hỏi có một số nhƣợc điểm nhƣng cần nhớ rằng không
phải tất cả việc thu thập dữ liệu bằng phƣơng pháp này đều có nhƣợc điểm này.
Sự phổ biến của nhƣợc điểm phụ thuộc vào một số yếu tố, và cần nhận biết chúng
để hiểu ảnh hƣởng có thể có lên chất lƣợng dữ liệu. Những nhƣợc điểm đó là:
- Ứng dụng bị giới hạn: đây là khuyết điểm chính - ứng dụng bị giới hạn vào
tập hợp nghiên cứu biết đọc và biết viết. Nó không dùng đƣợc cho những ngƣời
mù chũ, trẻ con, quá cao tuổi, hay khuyết tật.
- Tỷ lệ trả lời thấp: bảng câu hỏi thƣờng có tỷ lệ hỏi đáp thấp - ngƣời ta
không trả lời những câu hỏi gởi đến cho họ. Do vậy, nếu dùng bảng câu hỏi, kích
cỡ mẫu thực tế bị giảm đi. Tỷ lệ phản hồi phụ thuộc vào một số yếu tố: quan tâm
của tập hợp nghiên cứu đến đề tài nghiên cứu; cách trình bày và độ dlài của bảng
câu hỏi; chất lƣợng của lá thƣ giải thích mục tiêu và tính thích hợp của nghiên
cứu; và phƣơng pháp dùng phân phát bảng câu hỏi. Sẽ là may mắn nếu có đƣợc
50% trả lời và đôi khi kết quả rất thấp - chỉ có 20% trả lời. Tuy nhiên, nhƣ đã nói
ở trên, tỷ lệ trả lời không phải là một vấn đề nếu bảng câu hỏi đƣợc đƣa ra trong
tình huống tập thể/đám đông.
- Chiều hƣớng tự chọn lựa. Không phải mọi ngƣời nhận bảng câu hỏi đều
đáp ứng lại vì vậy có chiều hƣớng tự chọn lựa ở đây. Những ngƣời đáp ứng bảng
câu hỏi có thể có thái độ, phẩm chất hay phản ứng khác với những ngƣời không
117
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
đáp ứng bảng câu hỏi. Vì vậy, nếu tỷ lệ đáp ứng là rất thấp, các kết quả thu đƣợc
có thể không phải là đại diện cho toàn bộ tập hợp nghiên cứu.
- Thiếu cơ hội làm sáng tỏ các vấn đề. Nếu vì lý đo nào đó các ngƣời tiếp
xúc không hiểu một số câu hỏi thì không có cơ hội nào cho họ hiểu đƣợc đầy đủ.
Khi những ngƣời tiếp xúc khác nhau phân giải bảng câu hỏi theo các cách khác
nhau, chất lƣợng của thông tin có đƣợc sẽ bị ảnh hƣởng.
- Không có các đáp ứng tức thời. Bảng câu hỏi dạng thƣ tín không phù hợp
khicần đáp ứng tức thời vì nó cho phép ngƣời đáp ứng có thời gian suy nghĩ trƣớc
khi trả lời.
- Trả lời cho câu hỏi này có thể bị ảnh hƣởng bởi trả lời cho câu hỏi khác. Vì
ngƣời tiếp xúc có thể đọc tất cả các câu hỏi trƣớc khi trả lời (điều này thƣờng xảy
ra) cách thức trả lời một câu hỏi nào đó có thể bị ảnh hƣởng bởi hiểu biết của họ
về các câu hỏi khác.
- Có thể tham vấn đến các ngƣời khác. Với bảng câu hỏi dạng thƣ tín ngƣời
tiếp xúc có thể tham vấn các ngƣời khác trƣớc khi trả lời. Trong tình huống ngƣời
điều tra chỉ muốn biết các ý kiến của tập hợp nghiên cứu thì phƣơng pháp này có
thể không phù hợp mặc dù có thể cải thiện tình hình bằng cách yêu cầu ngƣời đáp
ứng cho biết chỉ những ý kiến riêng của họ.
- Không có thông tin bổ túc phụ thêm. Khác với cuộc phỏng vấn đôi khi có
đƣợc thông tin hỗ trợ từ các phƣơng pháp thu thập dữ liệu khác nhƣ quan sát,
bảng câu hỏi rõ ràng không có ƣu điểm này.
Những ưu điểm của phỏng vấn.
- Đối với các tình huống phức tạp, phỏng vấn là cách thích hợp hơn. Đây là
phƣơng pháp thích hợp nhất để nghiên cứu các vấn đề nhậy cảm và phức tạp vì
ngƣời phỏng vấn có cơ hội chuẩn bị trƣớc cho ngƣời tiếp xúc trƣớc khi đặt các
câu hỏi nhạy cảm và có cơ hội giải thích các câu hỏi phức tạp trực tiếp.
- Ích lợi trong trƣờng hợp cần thu thập các thông tin có chiều sâu. Trong
phần phỏng vấn ngƣời điều tra có thể nhận đƣợc các thông tin sâu sắc bằng cách
118
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
thăm dò. Vì vậy khi cần có các thông tin chiều sâu, phỏng vấn là phƣơng pháp thu
thập dữ liệu đƣợc ƣu chuộng hơn cả.
- Có thể bổ túc thông tin. Ngƣời điều tra có thể bổ sung thông tin thu đƣợc từ
các trả lời bằng những thông tin từ việc quan sát các cử chỉ thái độ của ngƣời bị
phỏng vấn.
- Có thể giải thích các câu hỏi. Ngƣời điều tra có thể lập lại hay trình bày câu
hỏi dƣới dạng khác nên ít khi nào câu hỏi bị hiểu sai.
- Có tầm ứng dụng rộng. Phỏng vấn có thể dùng đƣợc với hầu nhƣ mọi kiểu
tập hợp: trẻ em, ngƣời già, học vấn thấp, khuyết tật.
Những khuyết điểm của phỏng vấn
- Tốn thời gian và đắt tiền. Điều này đặc biệt đúng khi các ngƣời tiếp xúc dự
định sống trên một địa bàn rộng lớn. Tuy vậy, nếu có đƣợc một văn phòng, hay
một đại lý mà những ngƣời tiếp xúc có thể đến đƣợc thì phỏng vấn nhƣ vậy sẽ tiết
kiệm đƣợc thời gian và chi phí.
- Chất lƣợng dữ liệu tùy thuộc vào chất lƣợng của trao đổi tiếp xúc. Điều này
rất hiển nhiên và cũng vậy, do mỗi trao đổi tiếp xúc trong phiên phỏng vấn là duy
nhất, chất lƣợng của đáp ứng nhận đƣợc ở các phiên phỏng vấn khác nhau có thể
thay đổi rất nhiều.
- Chất lƣợng dữ liệu tùy vào năng lực của phỏng vấn viên. Rõ ràng, chất
lƣợng dữ liệu thu đƣợc tùy thuộc vào kinh nghiệm, kỹ năng và cam kết của ngƣời
phỏng vấn.
- Chất lƣợng dữ liệu có thể thay đổi khi có nhiều ngƣời phỏng vấn. Khi dùng
nhiều phỏng vấn viên, hai vấn đề vừa nêu ngay trên sẽ càng bộc lộ rõ hơn nhiều.
- Nhà nghiên cứu có thể có thiên lệch. Thiên lệch của nhà nghiên cứu trong
việc đƣa ra các câu hỏi và phân giải các câu trả lời là luôn luôn có.
- Phỏng vấn viên có thể có thiên lệch. Phỏng vấn viên có thể là một hay
nhiều ngƣời, tự nguyện hay đƣợc trả lƣơng, trong trƣờng hợp không phải là
nghiên cứu, cũng có thể mang thiên lệch vào việc phân giải các câu trả lời.
119
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Các dạng câu hỏi
Dạng thức và từ ngữ của câu hỏi hết sức quan trọng trong phƣơng tiện
nghiên cứu vì chúng có ảnh hƣởng lên kiểu và chất lƣợng của thông tin thu đƣợc.
Do vậy các câu hỏi nên thích hợp, liên đới và không đƣợc có bất kỳ vấn đề nào đã
trình bày trong mục “những lƣu ý trong việc hình thành câu hỏi”. Phần này sẽ mô
tả các câu hỏi mở và đóng thƣờng đƣợc dùng trong khoa học xã hội.
Các câu hỏi trong phỏng vấn hay bảng câu hỏi đều có 2 dạng - mở và đóng.
Trong câu hỏi mở các trả lời không đƣợc cho sẵn. Ở trƣờng hợp bảng câu
hỏi, ngƣời đáp ứng viết ra câu trả lời bằng từ ngữ riêng của mình - còn ở phỏng
vấn, nhiều điều tra ghi chép các trả lời hoặc là nguyên vẹn hoặc dƣới dạng tóm
tắt. Trong câu hỏi đóng, các câu trả lời đƣợc cho sẵn và ngƣời tiếp xúc hay nhà
điều tra sẽ đánh dấu vào phạm trù nào mô tả tốt nhất trả lời của ngƣời tiếp xúc.
Thƣờng cũng nên đƣa thêm một khoản mục “khác/xin giải thích” để dung nạp
đƣợc bất kỳ đáp ứng nào chƣa đƣợc nêu sẵn. Hình 8.4 và 8.5 minh họa các câu
hỏi dạng đóng và mở tƣơng ứng.
Khi quyết định dùng hình thức câu hỏi mở hay đóng, cần hình dung trƣớc
cách dùng thông tin sẽ thu đƣợc. Điều này là quan trọng bởi vì cách thức tạo dựng
câu hỏi sẽ xác định đơn vị đo lƣờng dùng phân loại các câu trả lời. Đến phiên; nó,
đơn vị đo lƣờng sẽ chỉ ra các thủ tục thống kê gì có thể áp dụng lên dữ liệu và chỉ
ra cách thức phân tích và trình bày thông tin.
Thí dụ: vấn đề biến “lợi tức”. Ở các câu hỏi đóng, lợi tức có thể đƣợc trình
bày một cách định tính dƣới dạng: “trên trung bình/trung bình/dƣới trung bình”
hoặc một cách định lƣợng nhƣ là 10000, từ 10.000-19999,…”. Chọn lựa dạng
đóng hay mở sẽ ảnh hƣởng lên đơn vị đo lƣờng lợi tức, và tiến theo, sẽ ảnh hƣởng
đến áp dụng các thủ tục thống kê.Thí dụ, không thể tính đƣợc lợi tức trung bình
của một ngƣời từ các trả lời cho câu hỏi (Ca) trên hình 8.5 cũng nhƣ không thể
tính đƣợc số trung vị và số ứng với tần xuất cao nhất của lợi tức. Nhƣng từ các trả
lời của câu hỏi (C), có thể tính chính xác số ứng với tần xuất cao nhất của lợi tức.
120
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Tuy nhiên, số trung bình và số trung vị của lợi tức vẫn không thể tính chính xác
đƣợc (cần đến một số giả thiết nhất định). Từ các câu trả lời của câu hỏi (C) trên
hình 8.6, các mô tả khác nhauvề lợi tức có thể đƣợc tính đƣợc chính xác. Thêm
nữa, thông tin về lợi tức có thể đƣợc biểu thị theo mọi hình thức. Tuy nhiên điều
này cũng đúng cho mọi thông tin trả lời cho các câu hỏi mở và đóng.
Câu hỏi mở và câu hỏi đóng đều có những ƣu điểm và khuyết điểm trong các
tình huống khác nhau. Ở một phạm vi nào đó, ƣu và khuyết điểm của chúng phụ
thuộc vào việc chúng dùng trong cuộc phỏng vấn hay bảng câu hỏi và vào việc
đƣợc dùng cho mục đích tìm kiếm thông tin sự kiện hay chỉ là ý kiến. Nhƣ là qui
luật, câu hỏi đóng rất hữu ích trong việc moi nhứng thông tin sự kiện và câu hỏi
mở đƣợc dùng để thăm dò ý kiến, thái độ và cảm nhận. Việc lƣlạ chọn câu hỏi mở
và đóng tùy vào theo mục tiêu sử dụng thông tin, kiểu của tập hợp nghiên cứu và
phƣơng pháp truyền đạt kết quả nghiên cứu.
A. Tuổi của bạn: Dƣới 15 tuổi 5 - 19 tuổi 20 - 22 tuổi
B. Tình trạng hôn nhân của bạn:
Có gia đình Ly dị
Độc thân Ly thân
C. Lợi tức trung bình hàng năm của bạn
Dƣới 10.000 10.000 -19.999
20.000 - 29.999 Hay là 30.000 - 39.999
C. (a) Phân loại lợi tức trung bình hàng năm của bạn
Trên trung bình
Trung bình
Dƣới trung bình
D. Các phẩm chất của việc quản trị tốt
Có thể ra quyết định
Ra quyết định nhanh
Biết lắng nghe
121
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Không thiên vị
Có kỹ năng về giao tiếp
Khác?
Hình 8.4. Các thí dụ về câu hỏi đóng.
A. Tuổi hiện thời của bạn là bao nhiêu?
B. Tình trạng hôn nhân hiện thời của bạn?
C. Thu thập bình quân hàng năm của bạn là bao nhiêu?
D. Theo bạn phẩm chất của nhà quản lý giỏi là gì?
1……….
2……….
Hình 8.5. Các thí dụ về câu hỏi mở Ưu điểm và khuyết điểm của câu hỏi mở
Câu hỏi mở có một số ƣu và khuyết điểm sau:
- Câu hỏi mở cung cấp thông tin chiều sâu nếu đƣợc nhà phỏng vấn có kinh
nghiệm dùng trong cuộc phỏng vấn. Trong bảng câu hỏi, câu hỏi mở cung cấp rất
nhiều thông tin miễn là ngƣời trả lời cảm thấy thuận tiện khi diễn giải ý kiến của
họ và lƣu loát khi diễn đạt. Mặt khác, việc phân tích câu hỏi mở trở nên khó hơn.
Nhà nghiên cứu cần phải thông qua quá trình khác - phân tích nội dung - để làm
sáng tỏ dữ liệu.
- Trong bảng câu hỏi, câu hỏi mở tạo cơ hội cho ngƣời trả lời tự do diễn giải
ý kiến của mình, từ đó giúp thu thập nhiều thông tin hơn. Vì vậy ngƣời đƣợc
phỏng vấn không bị cột vào danh sách các câu trả lời cho sẵn. Khuyết điểm của
việc tự do trả lời là trong bảng câu hỏi, một số ngƣời đƣợc phỏng vấn không thể
tự mình trả lời do vậy không có thông tin nào cả.
- Vì câu hỏi mở cho phép ngƣời trả lời tự do diễn giải ý kiến của mình nên
hầu nhƣ loại bỏ đƣợc khả năng thiên lệch có thể có của nhà điều tra (thành kiến
này thể hiện ở khuôn dạng trả lời đƣa cho các ngƣời tiếp xúc). Mặt khác, thiên
lệch của ngƣời phỏng vấn lại có khả năng cao hơn.
Ưu điểm và khuyết điểm của câu hỏi đóng
122
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Cũng nhƣ câu hỏi mở, câu hỏi đóng có nhiều ƣu và khuyết điểm.
(i) Một trong những khuyết điểm chính của câu hỏi đóng là thông tin thu
đƣợc thiếu chiều sâu và thiếu tính da dạng.
(ii) Khả năng thiên lệch của nhà điều tra nhiều hơn vì nhà nghiên cứu chỉ có
thể liệt kê những kiểu câu trả lời đƣợc quan tâm hay biết đến. Ngay cả nếu có
hạng mục “khác”, hầu hết mọi ngƣời tiếp xúc thƣờng chọn từ các liệt kê cho sẵn
vì vậy lkết quả thu đƣợc cũng chỉ phản ánh thiên lệch của nhà nghiên cứu.
(iii) Trong bảng câu hỏi, mẫu câu trả lời đã có thể khuôn định suy nghĩ của
ngƣời trả lời, do đó câu trả lời không phản ảnh đúng ý kiến thực sự của ngƣời
đƣợc phỏng vấn. Thay vào đó, chúng chỉ phản ánh mức độ đồng ý hay không
đồng ý với ý kiến hay phân tích tình huống của nhà nghiên cứu.
(iv) Việc trả lời dễ dàng theo mẫu sẵn có thể tạo cho ngƣời trả lời và nhà
phỏng vấn có khuynh hƣớng gắn vào một mục hoặc các mục đã có mà không cần
suy nghĩ kỹ về vấn đề.
(v) Câu hỏi đóng với sẵn mẫu trả lời giúp đảm bảo thông tin cần cho nhà
nghiên cứu sẽ thu thập đƣợc.
(vi) Vì câu trả lời đã đƣợc chuẩn bị sẵn nên việc phân tích sẽ dễ dàng.
Các lưu ý khi tiết lập câu hỏi
Từ ngữ và cách diễn đạt câu hỏi đóng vai trò quan trọng vì thông tin và chất
lƣợng tƣơng ứng phụ thuộc lớn lao vào các yếu tố này. Do vậy, cần phải cẩn trọng
trong các thành lập câu hỏi. Một số cân nhắc trong đầu khithiết lập câu hỏi:
(i) luôn sử dụng ngôn ngữ hàng ngày và đơn giản: ngƣời trả lời có thể là
ngƣời ít học, và thậm chí là có học, họ vẫn có thể không biết một số phƣơng ngữ
kỹ thuật “đơn giản” đƣợc dùng. Đặc biệt trong bảng câu hỏi, phải rất chú ý từ ngữ
đem dùng vì ở đây không có cơ hội giải thích câu hỏi. Bài kiểm tra dạo đầu cho
bạn biết đƣợc ngƣời trả lời hiểu và không hiểu điều gì.
123
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
(ii) Không dùng những câu hỏi mơ hồ: câu hỏi mơ hồ là câu chứa đựng từ
hai nghĩa trở lên và có thể diễn dịch khác nhau tùy độc giả. Điều này tạo ra các
câu trả lời khác nhau, do đó gây khó khăn nếu không phải là không thể rút ra các
kết luận xác thực từ thông tin đó. Các câu hỏi sau đây rơi vào trƣờng hợp này:
Công việc của bạn có khó khăn khi bạn mang lthai không?
(Moser, Kalton - 1989) Có Không
Trong khảo sát này, tất cả phụ nữ đều đƣợc hỏi dù họ đã mang thai hay
không. Những ngƣời phụ nữ không mang thai đã đánh dấu vào ô “không”, nghĩa
là không - họ không mang llthai còn những ngƣời phụ nữ lmang thai đã chọn ô
“không”, nghĩa là việc mang thai không gây khó khăn cho công việc của họ. Câu
hỏi ở đây mơ hồ vì nó không xác định loại công việc và thời kỳ thai nghén.
“Bạn có hài lòng về nhà ăn tập thể của bạn không?”
Câu hỏi này cũng mơ hồ vì nó không yêu cầu ngƣời trả lời chỉ ra những mặt
nào của nhà ăn tập thể mà họ không hài lòng hoặc hài lòng - dịch vụ, giá cả, tiện
nghi, thái độ phục vụ hay chất lƣợng bữa ăn? Ngƣời đƣợc phỏng vấn có thể có bất
kỳ ý nghĩ nào khi họ trả lời câu hỏi này.
(iii) Không nói những câu hỏi lồng ghép: câu hỏi lồng là một câu hỏi nằm
trong câu khỏi khác. Rắc rối chính của loại câu hỏi này là ngƣời đƣợc phỏng vấn
không biết trả lời câu hỏi cụ thể nào. Một số ngƣời có thể trả lời cả “hai” câu hỏi
này và một số khác chỉ trả lời một.
Thí dụ:
“Bạn thƣờng đi du lịch bao lâu một lần và khoảng thời gian là bao lâu?”
Câu hỏi này đƣợc hỏi trong một cuộc khảo sát ở miền Tây nƣớc Úc để xác
minh nhu cầu cho các dịch vụ chăm sóc trẻ em ở một bệnh viện. Câu hỏi có 2
phần - bạn thƣờng du lịch bao lâu một lần và thời gian cho mỗi lần là bao lâu?
Trong loại câu hỏi này, một số ngƣời đƣợc phỏng vấn có thể trả lời phần câu hỏi
đầu trong khi đó những ngƣời khác trả lời phần hai và một số trả lời cả hai phần.
124
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Câu hỏi này cũng mơ hồ ở chỗ nó không định rõ “bao lâu” dƣới dạng khoảng thời
gian - chẳng hạn một tuần, hai tuần, một tháng hay một năm?
- Không đặt câu hỏi có tính dẫn dắt: câu hỏi có tính dẫn dắt là câu hỏi, qua
nội dung, cấu trúc hay cách diễn đạt, kéo ngƣời đƣợc phỏng vấn trả lời theo một
hƣớng nào đó. Những câu hỏi nhƣ thế mang tính xét đoán và dẫn ngƣời đƣợc
phỏng vấn trả lời theo hƣớng tiêu cực hay tích cực. Thí dụ:
Thất nghiệp đang gia tăng, có phải không ạ?
Hút thuốc có hại, phải không ạ?
Vấn đề trƣớc tiên - đây không phải là câu hỏi mà là phát biểu. Các phát biểu
này cho rằng “nạn thất nghiệp đang gia tăng” và “hút thuốc có hại”.
- Không đặt những câu hỏi dựa trên giả định: trong những câu hỏi nhƣ thế
nhà nghiên cứu giả sử rằng ngƣời trả lời phỏng vấn thuộc một phạm trù cụ thể nào
đó và tìm khiếm thông tin dựa trên giả định đó. Thí dụ:
Bạn hút bao nhiêu điếu thuốc 1 ngày?
Bạn dùng phƣơng pháp tránh thai nào?
Cả hai câu hỏi này đƣợc hỏi mà không xác minh ngƣời đƣợc phỏngvấn có
phải là ngƣời hút thuốc hoặc có sinh hoạt tình dục hay không. Trong những tình
huống nhƣ thế này điều quan trọng là trƣớc tiên phải xác minh ngƣời trả lời có
thuộc vào phạm trù đang đƣợc chất vấn hay không.
Xây dựng thiết bị nghiên cứu
Thiết lập dụng cụ/thiết bị nghiên cứu là việc làm quan trọng nhất của một dự
án nghiên cứu vì mọi kết quả hay kết luận đều dựa trên loại thông tin thu thập và
dữ liệu thu thập đƣợc hoàn toàn phụ thuộc vào dụng cụ nghiên cứu. Dụng cụ
nghiên clứu cung cấp đầu vào cho bài nghiên cứu và vì vậy chất lƣợng và tính xác
thực của đầu ra, kết quả hoàn toàn phụ thuộc vào nó.
Mặc dầu có tầm quan trọng vô cùng lớn nhƣng ít có hƣớng dẫn cụ thể nào
cho ngƣời mới bắt đầu thiết lập dụng cụ nghiên cứu. Sinh viên tự mày mò thực
hiện dƣới sự hƣớng dẫn của giáo sƣ. Những hƣớng dẫn đƣợc đƣa ra dƣới đây chỉ
125
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
ra cách tiếp cận rộng rãi cho ngƣời mới bắt đầu. Nguyên tắc cơ sở là đảm bảo tính
xác thực của dụng cụ bằng việc bảo đảm rằng các mục tiêu của bài nghiên cứu sẽ
đạt đƣợc. Do vậy, các mục tiêu đƣợc định nghĩa rõ ràng đóng vai trò cực kỳ quan
trọng vì mỗi khía cạnh trong dụng cụ phải bắt nguồn từ các mục tiêu, câu hỏi
nghiên cứu và/hoặc giả thuyết nghiên cứu. Ngƣời bắt đầu nên theo trình tự sau:
Bƣớc 1: Nếu chƣa thực hiện, cần phải xác định rõ và liệt kê riêng rẽ tất cả
các mục tiêu cụ thể, các câu hỏi nghiên cứu hay giả thuyết cần kiểm thử.
Bƣớc 2: Đối với mỗi mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu hay giả thuyết, liệt kê tất
cả câu hỏi có liên quan cần có câu trả lời trong bài nghiên cứu.
Bƣớc 3: Lấy mỗi câu hỏi nhận diện ở bƣớc 2 và liệt kê thông tin cần có để trả
lời đƣợc nó.
Bƣớc 4: Thiết lập các câu hỏi để lấy những thông tin này.
Các mục Các câu hỏi Thông tin cần Các câu hỏi
tiêu/câu hỏi chính và có thiết
nghiên cứu/giả liên quan
thuyết
Bƣớc 1 Bƣớc 2 Bƣớc 3 Bƣớc 4
Tính trách 1 nhận Câu hỏi 1.1.Khi dùng
nhiệm cộng biết tính trách thuật ngữ “tính trách nhiệm
đồng là gì? nhiệm cộng cộng đồng” bạn muốn nói gì
Điều gì nói lên đồng về nó?
khi ngƣời ta Câu hỏi 1.2. Điều gì xuất
126
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
dùng thuật ngữ hiện trong bạn khi bạn dùng
“tính trách thuật ngữ “tính tráchnhiệm
1. Tìm hiểu nhiệm cộng cộng đồng”trong phân phối
khái niệm tính đồng? các dịch vụ y tế?
trách nhiệm Câu hỏi 1.3. Theo bạn, các
cộng đồng đặc tính của “tính trách
giữa những nhiệm cộng đồng là gì?
nhà quản lý y Câu hỏi 1.4. Theo bạn, điểm
tế, nhà cung khác nhau giƣỡa “phát triển
cấp dịch vụ và cộng đồng và tính trách
khách hàng 2 Tình nhiệm cộng đồng” là gì?
Những điểm trạng nghề
của các dịch
khác trong nghiệp, thí dụ
vụ y tế. Câu hỏi 2.1. Công việc
nhận thức tính nhà quản lý y của bạn là gỉ ?
trách nhiệm tế, nhà kế
2. Nhận biết cộng đồng giữa Nhà quản lý y tế/nhà kế
các chiến lƣợc nhà quản lý y hoạch, nhà
hoạch
cần thiết để tế cung cấp dịch
phát triển tính hoạch,
nhà kế vụ hay khách Nhà cung cấp dịch vụ.
nhà hàng . Khách hàng của dịch vụ y tế.
trách nhiệm cung cấp dịch
cộng đồng vụ và khách
trong phân hàng là gỉ? 3. Tuổi tác
phối các dịch giới tính giáo Câu hỏi 3.1. Bạn bao
vụ y tế. dục nhiêu tuổi?
Câu hỏi 3.2. Bạn là nam
3. Để phát hay nữ?
triển tập các Câu hỏi 3.3. Mức học vấn
chỉ số nhằm cao nhất của bạn là gì?
đánh giá tính
hiệu dụng của
các chiến lƣợc
thúc đẩy tính
trách nhiệm
cộng đồng.
Hình 8.6. Các hướng dẫn để thiết lập dụng cụ nghiên cứu
Trong quá trình trên, có thể thấy cùng thông tin nhƣ vậy bị yêu cầu cho cả
một số câu hỏi. Trong tình huống nhƣ vậy, câu hỏi chỉ nên đƣợc hỏi một lần.
Hỏi các câu hỏi cá nhân và nhạy cảm.
Trong các môn khoa học xã hội, đôi khi nhà phỏng vấn cần hỏi những câu
hỏi mang tính cá nhân. Một số ngƣời đƣợc phỏng vấn cảm thấy khó chịu về điều
127
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
này. Cần phải nhận biết việc này vì nó có thể làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng
thông tin, thậm chí kết thúc cuộc phỏng vấn hoặc không có đáp ứng cho bảng câu
hỏi. Các nhà nghiên cứu đã dùng một số phƣơng pháp cho vấn đề này. Nhƣng tiếp
cận nào là tốt nhất vẫn không dễ trả lời. theo Bradburn và Suclma:
Không có phƣơng pháp thu thập dữ liệu nào trội hơn hẳn các phƣơng pháp
khác về tất cả các loại câu hỏi khó khăn. Mỗi phƣơng pháp thu thập dữ liệu đều là
tốt nhất ở những điều kiện nhất định nào đó.
Về kỹ thuật đặt các câu hỏi nhạy cảm và khó khăn, dƣờng nhƣ có 2 ý kiến
đối lập nhau nghĩa là một câu hỏi mang tính cá nhân nên đƣợc hỏi theo 2 cách:
- Cách trực tiếp; và
- Cách gián tiếp.
Ƣu điểm của cách một là ngƣời đƣợc phỏng vấn đảm bảo rằng câu trả lời
khẳng định là chính xác. Những ngƣời dùng cách thứ nhì cho rằng việc hỏi trực
tiếp có thể làm cho ngƣời đƣợc phỏng vấn khó chịu và do vậy họ không trả lời
thậm chí cho những câu hỏi không nhạy cảm. Một số cách hỏi gián tiếp các câu
hỏi cá nhân:
- Dùng tranh vẽ;
- Yêu cầu ngƣời trả lời hoàn thành nốt câu;
- Yêu cầu ngƣời trả lời sắp thứ tự các phiến chứa các phát biểu: và
- Dùng dụng cụ (thiết bị) ngẫu nhiên.
Trật tự câu hỏi
Trật tự câu hỏi trong bảng câu hỏi hoặc trong cuộc phỏng vấn đóng vai trò
quan trọng vì nó ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin, sự quan tâm và thậm chí sự
vui lòng của ngƣời tham gia vào nghiên cứu. Có 2 luồng ý kiến về cách sắp xếp
trật tự câu hỏi. Cách một là hỏi câu hỏi theo ngẫu nhiên và cách hai là theo một
tiến trình hợp lý dựa trên các mục tiêu nghiên cứu. Tác giả cho rằng cách hai tốt
hơn vì nó từng bƣớc dẫn dắt ngƣời trả lời đi vào chủ đề của bài nghiên cứu - bắt
đầu bằng những chủ đề đơn giản rồi đến các chủ đề phức tạp. Phƣơng pháp này
128
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
duy trì đƣợc sự quan tâm của ngƣời trả lời và dẫn dắt kích thích họ trả lời câu hỏi.
Tuy nhiên, phƣơng pháp ngấu nhiên lại hữu ích trong các tình huống mà nhà
nghiên cứu muốn trả lời diễn giải thái độ tán thành hay bất đồng về các mặt khác
nhau của một vấn đề. Trong trƣờng hợp này, việc liệt kê hợp lý các phát biểu hoặc
câu hỏi có thể dẫn dắt ngƣời đƣợc trả lời theo những ý kiến của nhà nghiên cứu.
Điều kiện tiên quyết đối với việc thu thập dữ liệu
Trƣớc khi bắt đầu thu thập thông tin từ ngƣời trả lời, cần đảm bảo ở ngƣời
trả lời:
(i) Động cơ chia sẻ các thông tin cần thiết: Ngƣời đƣợc phỏng vấn sẵn sàng
chia sẻ thông tin là điều cốt yếu. Nên cố gắng kích thích họ bằng cách giải thích
rõ và đơn giản các mục tiêu, tính hợp lý của bài nghiên cứu lúc phỏng vấn hoặc
thông qua bảng câu hỏi.
(ii) Hiểu rõ câu hỏi: ngƣời trả lời phải hiểu nhà phỏng vấn mong đợi gì ở họ
trong các câu hỏi. Nếu ngƣời đƣợc phỏng vấn không hiểu rõ câu hỏi thì câu trả lời
có thể sai, lạc đề, hay vô nghĩa.
(iii) Sở hữu thông tin cần thiết, điều kiện tiên quyết thứ ba là ngƣời trả lời
phải có thông tin - điều này đặc biệt quan trọng khi cần tìm thông tin kỹ thuật hay
sự kiện. Trong trƣờng hợp thu thập ý kiếnđiều này không bắt buộc áp dụng toàn
bộ vì rằng tất cả chúng ta đều có sẵn ý kiến.
Thu thập dữ liệu bằng cách dùng các nguồn thông tin phụ.
Cho đến giờ, ngƣời ta đã thảo luận các nguồn thu thập sơ cấp/chính ở đó ta
hay một ngƣời nào đó thu thập dữ liệu cho mục tiêu cụ thể. Có khidữ liệu cần
thiết đã đƣợc ngƣời khác thu thập và ta chỉ cần trích xuất thông tin cần cho mục
tiêu nghiên cứu của mình. Phần này liệt kê một số nguồn phụ/thứ cấp đƣợc phân
loại nhƣ sau:
- Ấn bản từ chính phủ hay nửa - chính phủ: Có nhiều tổ chức chính phủ/nửa
chính phủ thu thập dữ liệu định kỳ về mọi mặt và công bố công khai. Chẳng hạn:
129
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
điều tra dân số, sổ sách thống kê, khảo sát lực lƣợng lao động, báo cáo y tế, dự
báo kinh tế, thông tin dân số…
- Nghiên cứu trƣớc: đối với một số chủ đề, rất nhiều bài nghiên cứu đã đƣợc
ngƣời khác thực hiện, có thể cung cấp cho ta các thông tin cần thiết.
- Ghi chép cá nhân: ghi chép cá nhân và lịch sử của ngƣời khác cũng có thể
cung cấp cho ta thông tin cần thiết.
- Phƣơng tiện truyền thông đại chúng : các bài viết trên báo chí, tạp chí,... có
thể là nguồn tƣ liệu quí giá khác.
Các vấn đề thường gặp khi dùng dữ liệu từ nguồn phụ
Khi sử dụng dữ liệu từ các nguồn phụ, cần phải thận trọng vì có thể có
những vấn đề nào đó về tính sẵn sàng, khuôn dạng và chất lƣợng dữ liệu. Phạm vi
của các vấn đề này thay đổi theo nguồn dữ liệu. Khi sử dụng dữ liệu nhƣ vậy, cần
nhớ :
- Tính xác thực và độ tin cậy : tính xác thực của thông tin khác nhau đáng kể
ở mỗi nguồn. Thí dụ - thông tin lấy từ cuộc điều tra dân số có khả năng xác thực
và đáng tin cậy hơn thông tin lấy từ các nhật ký cá nhân.
- Thiên lệch cá nhân : việc dùng thông tin từ nhật ký cá nhân, báo và tạp chí
có thể có vấn đề về thiên lệch cá nhân vì các tác giả này ít nghiêm ngặt và chủ
quan nhiều hơn so với yêucầu của báo cáo nghiên cứu.
- Tính sẵn sàng của dữ liệu : ngƣời mới bắt đầu thƣờng giả định rằng dữ liệu
cần thiết đã có sẵn nhƣng ta không thể và không nên giả sử nhƣ vậy. Do đó, điều
quan trọng là đảm bảo rằng dữ liệu cần thiết phải sẵn sàng trƣớc khi đi tiếp việc
nghiên cứu.
- Khuôn dạng : trƣớc khi quyết định dùng dữ liệu từ các nguồn phụ, cần phải
khẳng định dữ liệu có sẵn theo khuôn dạng yêu cầu. Thí dụ : cần phân tích tuổi tác
theo các khoảng 23 - 23, 34 - 48... nhƣng trong nguồn dữ liệu hiện có, tuổi tác
đƣợc phân theo - 21-24, 25-29...
130
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Tóm tắt chương
Trong chƣơng này, ta đã xem xét các phƣơng pháp thu thập dữ liệu khác
nhau. Các phƣơng pháp dùngthu thập thông tin về tình huống, hiện tƣợng, một
vấn đề… có thể đƣợc phân loại thành:
- Nguồn chính/sơ cấp; và
- Nguồn phụ/thứ cấp.
Phỏng vấn, quan sát và dùng bảng câu hỏi là 3 phƣơng pháp chính đƣợc xếp
loại nguồn chính. Tất cả các nguồn khác. ở đó thông tin cần thiết đã có sẵn -
chẳng hạn, ấn bản của chính phủ, báo cáo và công trình nghiên cứu trƣớc đây -
đềuđƣợc gọi là nguồn phụ.
Việc chọn một phƣơng pháp thu thập dữ liệu cụ thể nào đó phụ thuộc vào
mục đích thu thập thông tin, kiểu thông tin cần thu thập, nguồn tƣ liệu có sẵn, kỹ
năng của nhà nghiên cứu và các đặc điểm kinh tế - xã hội - nhân khẩu của tập hợp
nghiên cứu. Mỗi phƣơng pháp đều có những ƣu và khuyết điểm riêng và lthích
hợp trong những tình huống khác nhau. Việc chọn phƣơng pháp thu thập từ dữ
liệu cụ thể thì quan trọng đối với việc đảm bảo chất lƣợng thông tin. Không có
phƣơng pháp thu thập tƣ liệu nào đảm bảo thông tin chính xác 100%. Chất lƣợng
thông tin phụ thuộc vào các yếu tố liên quan đến ngƣời đƣợc phỏng vấn, tình
huống, phƣơng pháp luận. Và năng lực của nghiên cứu viên chính là ở chỗ kiểm
soát hoặc tối thiểu hóa tác động của các yếu tố này trong quá trình thu thập dữ
liệu.
Câu hỏi mở và đóng thích hợp ở những tình huống khác nhau. Cả 2 loại câu
hỏi này đều có ƣu điểm và nhƣợc điểm. Cần nhận biết những điểm này để sử
dụng chúng một cách thích hợp.
Thiết lập dụng cụnghiên cứu là mặt quan trọng nhất của bất kỳ nỗ lực nghiên
cứu nào vì nó quyết định bản chất và chất lƣợng của thông tin. Đây là đầu vào của
bài nghiên cứu và đầu ra hoàn toàn phụ thuộc vào nó. Dụng cụ nghiên cứu phải
đƣợc phát triển dựa theo các mục tiêu của bài nghiên cứu. Phƣơng pháp đề nghị ở
131
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
chƣơng này đảm bảo rằng các khía cạnh trong một dụng cụ có mối liên hệ trực
tiếp đến các mục tiêu nghiên cứu. Cách diễn đạt câu hỏi có thể gây ra vài vấn đề
cần lƣu ý.
9. THU THẬP DỮ LIỆU BẰNG CÁCH DÙNG THANG THÁI ĐỘ
Chức năng của thang đo thái độ
Khó khăn khi xây dựng thang thái độ
Các kiểu thang thái độ:
+ Thang đo Likert hoặc thang đo phân loại tổng quát.
+ Thang đo Thurstone hoặc thang đo khoảng cách hầu nhƣ - bằng nhau.
+ Thang đo Guttman hoặc thang đo tích lũy.
+ Mối quan hệ giữa các thang thái độ và thang đo lƣờng.
Tóm tắt chƣơng
Chức năng của thang đo thái độ
Nhà nghiên cứu - khi dùng bảng câu hỏi hoặc phỏng vấn để khảo sát thái độ
của ngƣời đƣợc phỏng vấn về vấn đề nào đó - có thể sử dụng hàng loạt các câu
hỏi hoặc các phát biểu. Để làm vậy, nhà nghiên cứu thiết lập hay chọn ra các câu
hỏi hay phát biểu phản ánh vấn đề đang xét. Ngƣời trả lời đƣợc yêucầu cho biết
mức độ đồng ý/bất đồng hoặc thỏa mãn/bất mãn bằng cách lựa chọn phạm trù trả
lời thích hợp hoặc một con số nào đó trên thang đo bằng số.
Một số vấn đề có thể có nhiều mặt. Thí dụ, thái độ của cộng đồng về việc
cung cấp một dịch vụ cụ thể nào đó gồm có thái độ của cộng đồng hƣớng về nhu
cầu dịch vụ, cách phân phối; địa điểm, phƣơng tiện cho ngƣời tiêu dùng; cách ứng
xử lẫn năng lực của đội ngũ; hiệu quả của dịch vụ;… các thí dụ khác nhƣ - thái độ
của nhân viên đối với cách quản lý của tổ chức; thái độ của nhân viên đối với việc
phân công công việc và thừa ngƣời; thái độ của y tá đối với cái chết và tình trạng
hấp hối; thái độ của ngƣời tiêu dùng đối với sản phẩm… đều có thể đƣợc phân
tích theo cùng một cách thức.
132
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Ngƣời trả lời có nhiều thái độ khác nhau đối với những khía cạnh khác nhau.
Khi xác minh thái độ theo cách thông thƣờng nhà nghiên cứu thiết lập những câu
hỏi nhằm hƣớng thái độ của ngƣời trả lời về những mặt này một cách riêng biệt,
cả trên thang phạm trù hoặc thang số. Hạn chế chính của phƣơng pháp này là khó
rút ra bất kỳ kết luận nào về thái độ chung của ngƣời trả lời từ các câu trả lời. Thí
dụ, giả sử cần tìm hiểu thái độ của sinh viên đối với giảng viên. Các mặt khác
nhau của việc giảng dạy: nội dung bài giảng; tổ chức tài liệu; năng lực truyền đạt
của giảng viên; phong cách trình bày; kiến thức về chủ đề, tinh thần trách nhiệm;
tính đúng giờ… sinh viên có thể đánh giá giảng viên khác nhau về các mặt khác
nhau này. Nghĩa là giảng viên có thể đƣợc xem là có năng lực hoặc kiến thức thực
sự về chủ đề của mình nhƣng không đƣợc coi là ngƣời truyền đạt giỏi. Hơn nữa ý
kiến sinh viên rất khác nhau khi đánh giá giảng dạy của cùng giáo viên ở cùng
một khía cạnh. Một số cho rằng giáo viên này là ngƣời truyền đạt giỏi nhƣng một
số khác thì không. Khó khăn chính là làm thế nào để chúng ta tìm thấy toàn bộ
thái độ của sinh viên đối với giáo viên? Làm thế nào để chúng ta kết hợp đƣợc các
đáp ứng đối với các khía cạnh khác nhau của một vấn đề để ra đƣợc một chỉ số có
khả năng phản ánh đƣợc thái độ tổng quát đối với vấn đề đó. Các thang đo thái độ
đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề này.
Thang đo thái độ đo lƣờng cƣờng độ của thái độ của ngƣời trả lời đối với các
mặt khác nhau của tình huống hoặc vấn đề và cung cấp các kỹ thuật để kết hợp
các thái độ đối với những mặt khác nhau thành một chỉ số chung. Điều này làm
giảm rủi ro của việc bày tỏ ý kiến của những ngƣời trả lời chỉ trên một hay hai
mặt của tình huống hay vấn đề đó.
Khó khăn khi xây dựng thang thái độ
Khi triển khai thang đo thái độ có 3 vấn đề chính sau.
1. Những mặt nào của tình huống hoặc vấn đề cần phải đƣợc gộp vào khi
muốn đo lƣờng một thái độ nào đó? Thí dụ, trong thí dụ đã nêu trên, những khía
133
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
cạnh của việc giảng dạy cần đƣợc đƣa vào thang đo để tìm ra thái độ của sinh viên
đối với giáo viên?
2. Nên chọn các thủ tục nào để kết hợp những mặt khác nhau nhằm đạt đƣợc
bức tranh tổng thể?
3. Làm thế nào để đảm bảo rằng thang đo đang thực sự đo lƣờng những gì nó
cần đo?
Vấn đề đầu tiên là cực kỳ quan trọng vì nó quyết định phần lớn vấn đề thứ
ba: phạm vi mà những phát biểu về các mặt khác nhau phản ánh vấn đề chính -
quyết định chủ yếu đến tính xác thực của thang đo. Có thể giải quyết vấn đề thứ
ba bằng cách đảm bảo rằng những phát biểu về các mặt khác nhau có một sự liên
kết hợp lý với vấn đề chính đang đƣợc nghiên cứu. Sự liên kết càng lớn thì tính
xác thực càng cao. Các loại thang đo thái độ khác nhau (nhƣ Likert, Thurstone
vàGuHman) cung cấp các cách trả lời khác nhau cho vấn đề thứ hai. Chúng
hƣớng dẫn bằng cách cung cấp thủ tục cho phép kết hợp các thái độ đối với các
mặt khác nhau của vấn đề mặc dù độ khó khi áp dụng thủ tục này thay đổi theo
từng thang đo. Chẳng hạn, thang đo Guttman sẽ khó thiết lập hơn nhiều so với
thang đo Likert.
Các kiểu thang thái độ
Có 3 loại thang đo thái độ chính.
1. Thang đo xếp loại tổng quát, còn gọi là thang đo likert;
2. Thang đo khoảng cách hầu nhƣ bằng nhau hoặc thang đo sai phân, còn gọi
là thang đo Thurstone; và
3. Thang đo tích lũy, còn gọi là thang đo Guttman.
Thang đo xếp loại tổng quát hoặc thang đo likert
Thang đo xếp loại tổng quát, phổ biến hơn gọi là thang đo Likert, là thang dễ
thiết lập nhất. Thang đo này dựa trên giả định rằng mỗi phát biểu/hạng mục trên
thang đo này có “giá trị thái độ”, “tầm quan trọng” hoặc “trọng lƣợng” nhƣ nhau
trong lviệc phản ánh thái độ đối với vần đề đang đƣợc tìm hiểu. Giả định này
134
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
cũng là hạn chế chính của thang đo này vì các phát biểu trên thang đo hiếm khi có
giá trị thái độ bằng nhau. Thí dụ, trong các thí dụ ở hình 9.1 và 9.2, hạng mục
“kiến thức về chủ đề” không quan trọng ở mức độ phản ánh thái độ của sinh viên
đối với giáo viên nhƣ hạng mục “đã xuất bản rất nhiều” hoặc “một số sinh viên
thích, một số không thích”, nhƣng ở thang đo Likert, mỗi phát biểu đƣợc xem là
có cùng “trọng lƣợng”. Một sinh viên có thể không quan tâm nhiều về việc giảng
viên có “xuất bản rất nhiều hay không” nhƣng có lẽ quan tâm nhiều hơn đến “kiến
thức chủ đề”, “truyền đạt tốt” và “biết cách dạy”.
Hoàn
Hoàn
Không Không toàn
Giáo viên toàn Đồng ý
chắc đồng ý không
đồng ý
đồng ý
1. Biết rõ chủ đề
2. Có nhiệt tình về việc dạy hay
không
3. Thể hiện sự quan tâm đối với
sinh viên
4. Đƣa ra các yêucầu không hợp
lý
5. Kỹ năng tuyến đạt dr
6. Biết cách dạy
7. Có thể giải thích các khái
niệm khó bằng những thuật
ngữ đơn giản.
8. Khó tiếp cận.
9. Đƣợc 1 số sinh viên yêu thích
và một số thì không
10. Khó hòa đồng
Hình 9.1. Thí dụ về thang đo phạm trù
Giáo viên
1. Biểt rõ chủ đề 7 6 5 4 3 2 1
2. Nhiệt tình với việc dạy 7 6 5 4 3 2
3. Không quan tâm đến sinh viên 7 6 5 4 3 2 1
4. Đòi hỏi quá nhiều 7 6 5 4 3 2 1
135
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
5. Truyền đạt tốt 7 6 5 4 3 2 1
6. Biết cách dạy 7 6 5 4 3 2 1
7. Có thể giải thích các khái niệm khó
bằng những thuật ngữ đơn giản 7 6 5 4 3 2 1
8. Ít khi tiếp cận với sinh viên 7 6 5 4 3 2 1
9. Đƣợc 1 số sinh viên yêu thích và
một số thì không 7 6 5 4 3 2 1
10. Nói nhiều 7 6 5 4 3 2 1
Hình 9.2. Thí dụ về thang đo số - 7 điểm
Cần phải nhớ rằng thang đo Likert không thực sự đo lƣờng thái độ. Nó giúp
sắp xếp những ngƣời trả lời khác nhau thông qua cƣờng độ thái độ của họ về vấn
đề nghiên cứu: nó chỉ ra độ lớn của cách nhìn của ngƣời này so với ngƣời khác.
Những lưu ý khi thiết lập thang đo Likert
Khi xây dựng thang đo Likert, có một số điểm cần xem xét. Trƣớc tiên,
quyết định xem thái độ cần đo có đƣợc chia thành các phạm trù 1, 2 hoặc 3 hƣớng
(nghĩa là có muốn xác định các vị trí tích cực, tiêựcc và trung tính trong tập hợp
nghiên cứu không) đối với thái độ về vấn đề trong bài nghiên cứu hay không. Kế
đến, xem xét muốn dùng thang đo phạm trù hay thang đo số. Điều này phụ thuộc
vào đánh giá của ta - tập hợp nghiên cứu đƣợc diễn tả tốt hơn trên thang do phạm
trù hay thang đo số. Quyết định về số lƣợng điểm và số lƣợng phạm trù liên trên
thang đo phụ thuộc vào mong muốn đo cƣờng độ của thái độ đến độ chi tiết nào
và phụ thuộc vào dung lƣợng của tập hợp nghiên cứu cần tạo ra các phân biệt rõ
ràng nhƣ thế nào. Hình 9.1 cho thấy thang đo phạm trù 5 điểm có 3 chiều và hình
9.2 cho thấy thang đo số có 7 điểm chỉ có 1 chiều. Đôi khi các nhà nghiên cứu
đƣa ra các phát biểu phản ánh ý kiến về một vấn đề ở nhiều mức độ khác nhau
(Hình 9.3). Trong thí dụ này, ngƣời trả lời đƣợc yêu cầu chọn ra một phát biểu mô
tả ý kiến của mình tốt nhất.
Giảng viên
136
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
a. Biết tất cả chủ đề
b. Biết rõ chủ đề
c. Có kiến thức trung bình về chủ đề
d. Không biết chủ đề
e. Có kiến thức cực kỳ nghèo nàn về chủ đề.
Hình 9.3. Thí dụ về thang đo với các phát biểu phản ánh các
mức độ của thái độ.
Thủ tục thiết lập thang đo Likert
Hình 9.5 chỉ ra thủ tục dùng xây dựng thang do Likert.
Tính điểm cho thái độ:
Giả sử cần triển khai bảng câu hỏi/kế hoạch phỏng vấn để đánh giá thái độ
của nhóm sinh viên đối với giáo viên. Và giả định là dùng thang do phạm trù gồm
5 phạm trù khác nhau.
Hoàn
Hoàn
Không Không toàn
Giáo viên toàn Đồng ý
chắc đồng ý không
đồng ý
đồng ý
1. Biết rõ chủ đề 5 4 3 2 1
2. Không nhiệt tình với việc dạy
1 2 3 4 5
(-)
3. Thể hiện sự quan tâm đối với
5 4 3 2 1
sinh viên (+)
4. Đòi hỏi không hợp lý (-) 1 2 3 4 5
5. Truyền đạt kém (-)
6. Biết cách dạy (+)
7. Có thể giải thích những khái
niệm khó bằng những thuật ngữ
đơn giản (+)
137
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
8. Khó tiếp cận (-)
9. Đƣợc một số sinh viên yêu
mến và một số không (+/-)
10. Khó hòa đồng (-)
Hình 9.4. Ghi điểm các phát biểu tích cực và tiêu cực
Ở thí dụ trên, phát biểu số 1 là phát biểu tích cực, do vậy nếu ngƣời trả lời
chọn “hoàn toàn đồng ý” thì ngƣời đó đƣợc cho là có thái độ tích cực (về phát
biểu này) hơn ngƣời chọn mục “đồng ý”. Ngƣời chọn “đồng ý” có thái độ tích cực
hơn ngƣời chọn “không chắc”… cho lnên, ngƣời chọn “hoàn toàn đồng ý” có thái
độ tích cực nhất so với tất cả những ngƣời chọn câu trả lời khác. Do vậy, ngƣời
đƣợc cho điểm cao nhất là 5 vì chỉ có 5 phạm trù đáp ứng. Nếu có 4 hạng mục, số
điểm cao nhất sẽ là 4. Thật vậy, điểm đƣợc sắp xếp theo cƣờng độ của mẫu câu
trả lời, điểm cao nhất đƣợc dành cho câu trả lời có cƣờng độ mạnh nhất.
Thủ tục
Bƣớc 1:
Tập hợp hay thiết lập các phát biểu phản ánh thái độ đối với vấn đề chính
đang xét. Các phát biểu nên đƣợc diễn đạt nhằm phản ánh cả hai thái độ tích cực
và tiêu cực về vấn đề, có nghĩa là các phát biểu đó nên thuận cũng nhƣ chống đối
lại vấn đề. (Nếu thang đo theo một hƣớng thì chỉ cần các phát biểu tích cực). Phải
đảm bảo rằng tất cả các phát biểu đều có liên kết hợp lý vấn đề chính. Cũng cần
quyết định xem ngƣời đƣợc phỏng vấn trả lời theo các phạm trù hay theo thang đo
số.
Bƣớc 2.
Phân phát các phát biểu cho nhóm ngƣời nhỏ.
Bƣớc 3:
Phân tích câu trả lời bằng cách gán trọng số - là một giá trị số - cho những
ngƣời trả lời. Giá trị số đƣợc gán khác nhau tùy theo phát biểu tích cực. Đối với
138
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
phát biểu tích cực, câu trả lời chỉ ra thái độ thuận lợi nhất sẽ đƣợc cho điểm cao
nhất. Thí dụ, ở thang đo 5 điểm hoặc 5 phạm trù, điểm 5 đƣợc dành cho câu trả
lời chỉ ra thái độ thuận lợi nhất và điểm 1 dành cho thái độ ít thuận lợi nhất.
Ngƣợc lại, khi hoàn toàn đồng ý với phát biểu tiêu cực tức là thái độ ít thuận lợi
thì điểm số bị đảo ngƣợc, trƣờng hợp này là điểm 1 và 5 điểm cho câu trả lời
hoàn toàn không đồng ý với phát biểu tiêu cực.
Bƣớc 4. Tính điểm cho thái độ của mỗi ngƣời trả lời bằng cách cộng thêm
các giá trị số gán ở bƣớc 3 vào các câu trả lời ứng với mỗi phát biểu.
Bƣớc 5. So sánh điểm của tất cả những ngƣời trả lời cho mỗi phát biểu để
nhận biết những phát biểu không có tính phân biệt. Các phát biểu không có tính
phân biệt sẽ không giúp phân biệt những ngƣời trả lời về thái độ vì hầu hết mọi
ngƣời đáp ứng câu hỏi theo cùng một cách .
Bƣớc 6. Loại bỏ những phát biểu không có tính phân biệt.
Bƣớc 7. Thiết lập bảng câu hỏi/kế hoạch phỏng vấn gồm những phát biểu đã
lựa chọn đƣợc.
Hình 9.5. Thủ tục xây dựng thang Likert
Phát biểu số 2 là phát biểu tiêu cực. Trong trƣờng hợp này, ngƣời chọn
“hoàn toàn không đồng ý” có thái độ tích cực cao nhất, do vậy đƣợc cho điểm cao
nhất - 5. Mặt lkhác, ngƣời trả lời chọn “hoàn toàn đồng ý” có thái độ tích cực thấp
nhất, vì vậy đƣợc cho điểm thấp nhất - 1. Cách cho điểm tƣơng tự cho các phát
biểu khác.
Chú ý phát biểu số 9 - luôn có một số ngƣời thích một giảng viên và một số
khác lại không thích, nên loại phát biểu này mang tính trung tính.
Để minh họa làm thế nào tính đƣợc điểm của thái độ của một cá nhân, hãy
xem thí dụ của 2 ngƣời trả lời chọn những phát biểu khác nhau đƣợc đánh dấu #
và @ (xem hình 9.6).
Hoàn Hoàn
Không Không
Giáo viên toàn Đồng ý toàn
chắc đồng ý
đồng ý không
139
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
đồng ý
1. Biết rõ chủ đề @ #
2. Không nhiệt tình với việc dạy
# @
(-)
3. Thể hiện sự quan tâm đối với
@ #
sinh viên (+)
4. Đòi hỏi không hợp lý (-) # @
5. Truyền đạt kém (-) # @
6. Biết cách dạy (+) @ #
7. Có thể giải thích những khái
niệm khó bằng những thuật ngữ @ #
đơn giản (+)
8. Khó tiếp cận (-) @#
9. Đƣợc một số sinh viên yêu
@#
mến và một số không (+/-)
10. Khó hòa đồng (-) # @
Hình 9.6. Tính toán điểm của thái độ
Chúng ta hãy chỉ ra điểm thái độ của họ
Phát biểu số 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Ngƣời trả lời @ = 5 + 5 + 4 + 5 + 4 + 5 + 5 + 2 + 2 + 5 = 42
Ngƣời trả lời # = 1 + 2 + 2 + 1 + 1 + 3 + 4 + 2 + 2 + 1 = 19
Phân tích trên cho thấy rằng ngƣời trả lời @ có thái độ tích cực với giảng
viên hơn ngƣời trả lời #. Nhƣng không thể nói thái độ của ngƣời trả lời @ tích
cực gấp 2 lần (42/19 =2.21) thái độ của ngƣời trả lời khác. Điểm thái độ chỉ đặt
các ngƣời trả lời ở các vị trí tƣơng đối với nhau. Cần nhớ rằng thang đo Likert
không đo lƣờng chính thái độ mà là giúp xếp hạng một nhóm ngƣời theo thứ tự
tăng hoặc giảm về thái độ đối với vấn đề đang tìm hiểu.
Thang đo Thurstone hay thang đo khoảng cách - hầu như - bằng nhau.
Để khắc phục vấn đề thang đo Likert, thang đo Thurstone tính toán “trọng
lƣợng” (tƣơng đƣơng với số trung vị) hay “giá trị thái độ” cho mỗi phát biểu dựa
trên cơ sở đánh giá ấn định bởi một nhóm giám khảo. Mỗi phát biểu mà ngƣời trả
140
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
lời đồng ý (hoặc đáp ứng tích cực) đƣợc cho một điểm thái độ tƣơng đƣơng với
“giá trị thái độ” của phát biểu. Thủ tục thiết lập thang đo Thurstone nhƣ sau:
Bƣớc 1: Tập hợp hoặc thiết lập các phát biểu phản ánh thái độ về vấn đề
đang xét.
Bƣớc 2. Chọn ra một nhóm giám khảo là những chuyên gia trong lĩnh vực
của thái độ đang xét.
Bƣớc 3. Gởi các phát biểu đến những giám khảo này, đề nghị xếp hạng tầm
quan trọng của phát biểu nhằm phản ánh thái độ về vấn đề đang đƣợc nghiên cứu.
Yêu cầu xếp hạng mỗi phát biểu theo thang đo 11 điểm.
Bƣớc 4. Dựa trên cơ sở xếp hạng của giám khảo, đánh giá số trung vị của các
xếp hạng cho mỗi phát biểu.
Bƣớc 5. Nếu các xếp hạng của các giám khảo về các phát biểu trải đều khắp
thang đo, điều này cho thấy rằng thậm chí các chuyên gia cũng không có sự nhất
trí về mức độ mà phát biểu đó phản ảnh thái độvềvấn đề đang xét. Hãy loại bỏ
những phát biểu nhƣ thế.
Bƣớc 6. Từ những phát biểu còn lại chọn ra những phát biểu phản ánh tốt
nhất các thái độ về các khía cạnh khác nhau của vấn đề.
Bƣớc 7. Thiết lập bảng câu hỏi/kế hoạch phỏng vấn gồm những phát biểu đã
lựa chọn đƣợc.
Hình 9.7. Thủ tục thiết lập thang đo Thurstone
Ƣu điểm chính của thang đo này: khi tầm quan trọng của mỗi phát biểu đƣợc
các giám khảo xác định, nó phản ánh thái độ “tuyệt đối” hơn thái độ tƣơng đối
của ngƣời đƣợc phỏng vấn. Do vậy, thang đo này có thể chỉ ra cƣờng độ của thái
độ. Mặt khác, thang đo này khó thiết lập và nhƣợc điểm lớn là các giám khảo và
ngƣời trả lời có thể đánh giá tầm quan trọng của một phát biểu cụ thể nào đó khác
biệt nhau, do vậy thái độ của ngƣời trả lời sẽ không đƣợc phản ảnh.
Thang đo Guttman hoặc thang đo tích lũy
141
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Thang đo Guttman là một trong những thang đo khó thiết lập nhất, do vậy
hiếm khi đƣợc dùng. Thang đo này không phù hợp nhiều đối với ngƣời bắt đầu
nghiên cứu, cho nên nó không đƣợc thảo luận trong tài liệu này.
Mối quan hệ giữa các thang thái độ và thang đo lường.
Các thang thái độ khác nhau sẽ dùng đến các thang đo lƣờng khác nhau.
Điều quan trọng là phải biết thang đo thái độ nào thuộc thang đo lƣờng nào vì
điều này sẽ giúp phân giải điểm của ngƣời đƣợc phỏng vấn. Bảng 9.1 cho thấy
các thang đo thái độ tƣơng ứngvới các thang đo lƣờng.
Bảng 9.1. Mối quan hệ giữa các thang thái độ và thang đo lường.
Thang thái độ Thang đo lường
Thang đo Likert Thang đo thứ tự
Thang đo Thurstone Thang đo khoảng cách
Thang đo GuHman Thang đo tỷ lệ
Tóm tắt chương
Thang thái độ đo lƣờng thái độ về một vấn đề nào đó. Điểm mạnh của chúng
nhằm ở khả năng kết hợp các thái độ về các khía cạnh khácnhau của một vấn đề
và cung cấp một chỉ số phản ánh thái độ tổng quát. Có vài khó khăn khi phát triển
thang thái độ. Khía cạnh nào nên đƣợc gộp vào khi đo lƣờng các thái độ về một
vấn đề? Các câu trả lời mà ngƣời đƣợc phỏng vấn đƣa ra để xác định thái độ tổng
thể nên đƣợc kết hợp ra sao? Làm thế nào đảm bảo thang đo đã xây dựng có thể
đo lƣờng thực sự thái độ về vấn đề đang nghiên cứu?
Có 3 loại thang đo thái độ: thang đo Likert, thang đo Thurstone và thang đo
Guttman. Thang đo Likert là thang phổ biến nhất vì dễ thiết lập. Giả định chính
của thang này là mỗi phát biểu đều “quan trọng nhƣ nhau”. “Tầm quan trọng” của
mỗi phát biểu ở thang đo Thurstone do một nhóm giám khảo quyết định. Sắp xếp
các phát biểu theo thứ tự tích lũy hoàn hảo là khó khăn chính trong việc xây dựng
thang đo Guttman.
10. THIẾT LẬP TÍNH XÁC THỰC VÀ ĐỘ TIN CẬY
142
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
CỦA THIẾT BỊ NGHIÊN CỨU
Khái niệm tính xác thực.
+ Các loại tính xác thực
Khái niệm độ tin cậy
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của dụng cụ nghiên cứu
+ Các phương pháp xác định độ tin cậy của dụng cụ
Tóm tắt chương
Trong 2 chƣơng trƣớc, chúng ta đã thảo luận các phƣơng pháp thu thập dữ
liệu khác nhau. Những câu hỏi đặt ra cho ngƣời tiếp xúc là nền tảng của tìm kiếm
và kết luận. Nhứng câu hỏi này tạo nên đầu vào cho kết luận “đầu ra”. Đầu vào
này xẽ chuyển qua một số bƣớc sau - chọn mẫu, thu thập thông tin, xử lý dữ liệu,
ứng dụng các thủ tục thống kê và viết báo cáo và cách thức tiến hành tất cả các
bƣớc này sẽ ảnh hƣởng đến độ chính xác và chất lƣợng của kết luận. Vì vậy, nhà
nghiên cứu cố gắng tạo ra các kết quả có chất lƣợng, điều này có nghĩa là xác lập
tính xác thực của kết quả. Giai đoạn nào cũng có thể bị thiếu chính xác, vì vậy có
thể dùng khái niệm tính xác thực lên toàn bộ hoặc lên một giai đoạn bất kỳ của
quá trình nghiên cứu. Có thể xem xét tính xác thực của thiết kế nghiên cứu, của
chiến lƣợc lấy mẫu, của các kết luận, của thủ tục thống kê hay là của quá trình đo
lƣờng. Nói rộng ra, có 2 góc nhìn về tính xác thực:
1. Việc điều tra nghiên cứu có cung cấp câu trả lời cho các câu hỏi nghiên
cứu hay không?
2. Nếu có, quá trình đó có sử dụng các phƣơng pháp và thủ tục thích hợp hay
không?
Trong chƣơng này chúng ta xem khái niệm tính xác thực áp dụng cho các thủ
tục đo lƣờng.
Khái niệm tính xác thực
Để xem xét khái niệm tính xác thực, hãy lấy một thí dụ rất đơn giản sau đây.
Giả sử cần thiết kết một nghiên cứu để xác minh nhucầu y tế của cộng đồng. Để
143
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
thực hiện, phải lập kế hoạch phỏng vấn. Đa số các câu hỏi trong kế hoạch phỏng
vấn có liên quan đến thái độ của tập hợp nghiên cứu về các dịch vụ y tế. Cần chú
ý rằng mục tiêu của nghiên cứu là tìm ra các nhu cầu y tế, còn kế hoạch phỏng
vấn là nhằm tìm ra thái độ của ngƣời trả lời đối với dịch vụ y tế, do đó dụng cụ sẽ
không đo lƣờng những gì mà nó đƣợc thiết kế đo. Nhiều thí dụ tƣơng tự đã xảy ra
trong giới sinh viên và những ngƣời nghiêncứu ít kinh nghiệm.
Theo thủ tục đo lƣờng, tính xác thực là khả năng của một dụng cụ đo lƣờng
những gì mà nó đƣợc thiết kế để đo. Theo Kerlinger (1993), “định nghĩa phổ biến
nhất của tính xác thực đƣợc gom lại bằng câu hỏi: có phải là chúng ta đang đo
lƣờng những gì mà chúng ta nghĩ là chúng ta đang đo?”. Theo Babbie (1990), “…
tính xác thực đề cập đến phạm vi mà phép đo thực nghiệm phản ánh đầy đủ ý
nghĩa thực của khái niệm đang khảo sát”. Còn theo Smith (1991), “tính xác thực
đƣợc định nghĩa là mức độ mà nhà nghiên cứu đo lƣờng đƣợc những gì ông ấy
lập ra để đo”. Những định nghĩa này đã đặt ra một số câu hỏi:
. Ai quyết định rằng dụngcụ đang đo lƣờng những gì mà nó có nhiệm vụ phải
đo?
. Làm thế nào xác lập đƣợc rằng dụng cụ đang đo lƣờng những gì nó cần
phải đo?
Rõ ràng câu trả lời cho câu hỏi một là ngƣời thiết lập nghiên cứu và chuyên
gia về lĩnh vực này. Câu hỏi thứ hai cực kỳ quan trọng. Nhà nghiên cứu hay
chuyên gia trả lời câu hỏi này dựa trên cơ sở nào? Trong khoa học xã hội dƣờng
nhƣ có 2 phƣơng pháp để thiết lập tính xác thực của dụng cụ nghiên cứu: bằng
chứng thống kê và logic học. Việc thiết lập tính xác thực qua logic học hàm ý
rằng phân xử mỗi câu hỏi có liên quan đến các mục tiêu nghiên cứu, trong khi đó
các thủ tục thống kê đƣa ra các chứng cứ chắc chắn bằng cách tính hệ số tƣơng
quan giữa câu hỏi và biến kết quả.
Thiết lập mối liên hệ giữa câu hỏi và mục tiêu là việc làm vừa dễ vừa khó.
Dễ ở đây theo nghĩa là có thể tìm ra mối liên kết đủ ý nghĩa cho mình một cách dễ
144
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
dàng, và khó là bởi lý lẽ của ta thiếu các căn cứ bảo trợ của các chuyên gia và
bằng chứng thống kê để có thể thuyết phục ngƣời khác. Việc thiết lập mối liên hệ
hợp lý giữa câu hỏi và mục tiêu sẽ dễ dàng hơn khi câu hỏi có liên quan đến
những vấn đề hữu hình. Thí dụ, nếu muốn tìm ra độ tuổi, thu nhập, chiều cao, cân
nặng… thì việc thiết lập tính xác thực của câu hỏi tƣơng đối dễ dàng, nhƣng thiết
lập một số câu hỏi nhƣ tính hiệu dụng của một chƣơng trình, tháiđộ của một nhóm
ngƣời về một vấn đề, hoặc là mức độ hài lòng của một nhóm khách hàng về dịch
vụ do một tổ chức nào đó cung cấp… thì khó hơn nhiều. Khi liên đới đến một
khái niệm thiếu tính cụ thể - chẳng hạn tính hiệu quả, thái độ hoặc sự hài lòng…
thì cần phải đặt ra vài câu hỏi để bao phủ các khía cạnh khác nhau của khái niệm
và chứng minh rằng những câu hỏi đƣợc nêu ra đang thực sự đo lƣờng khái niệm
đó. Việc thiết lập tính xác thực trong những tình huống nhƣ vậy trở nên khó khăn
hơn.
Điều quan trọng cần nhớ là khái niệm về tính xác thực gắn với một dụng cụ
cụ thể nào đó và đó là trạng thái lý tƣởng mà các nhà nghiên cứu cố đạt đƣợc.
Các kiểu tính xác thực
Có 3 kiểu tính xác thực:
1. Xác thực nội dung và xác thực bề mặt.
2. Xác thực đồng thời và xác thực đoán trƣớc.
3. Xác thực kết cấu.
1. Xác thực nội dung và xác thực bề ngoài.
Việc phán xét - một dụng cụ đang đo lƣờng những gì cần phải đo - về cơ bản
dựa trên mối liên hệ hợp lý giữa câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu. Do vậy, một
trong những ƣu điểm của loại xác thực này là để áp dụng. Mỗi câu hỏi hoặc mỗi
hạng mục trên thang đo phải có một mối liên hệ phù hợp với mục tiêu. Việc thiết
lập mối liên hệ này đƣợc gọi là xác thực mặt ngoài. Cần nhớ rằng các câu trả lời
và câu hỏi phải đề cập đến tất cả phạm vi của vấn đề hoặc thái độ đang đƣợc đo.
Việc đánh giá câu trả lời theo cách nhƣ thế đƣợc gọi là xác thực nội dung. Ngoài
145
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
ra, việc đề cập vấn đề hay thái độ phải ngang bằng nhau, nghĩa là mỗi khía cạnh
phải có đại diện thích đáng và tƣơng tự nhau trong câu hỏi hoặc hạng mục. Xác
thực nội dung cũng đƣợc, phân xử dựa trên cơ sở phạm vi mà các câu hỏi trình
bày về vấn đề - nhƣ thể đƣợc phán xét bởi các nhà nghiên cứu và chuyên gia trong
lĩnh vực. Mặc dù, dễ dàng trình bày các lập luận hợp lý để thiết lập tính xác thực
nhƣng cũng có những khó khăn sau:
1. Phỏng đoán dựa trên logic chủ quan nên không thể rút ra kết luận rõ ràng.
Nhiều ngƣời khác nhau có thể có những ý kiến khác nhau về tính xác thực nội
dung và xác thực bề ngoài của một dụng cụ.
2. Phạm vi mà các câu hỏi phản ánh mục tiêu nghiên cứu có thể khác nhau.
Nếu nhà nghiên cứu thay thế câu hỏi này bằng một câu hỏi khác thì độ lớn của
mối liên hệ cũng bị thay đổi. Cho nên, tính xác thực hoặc phạm vi của nó có thể
thay đổi theo các câu hỏi đƣợc chọn cho một dụng cụ.
Xác thực đồng thời và xác thực đoán trước
“Trong các tình huống ở đó thang đo đƣợc xây dựng làm chỉ số cho các tiêu
chuẩn khả quan sát, tính xác thực của thang đo có thể đƣợc kiểm tra bằng cách
xem xét chỉ số đó phù hợp ra sao” (Moser & Kalton - 1971). Giả sử cần triển khai
một dụng cụ để xác định sự thích hợp của những ngƣời xin việc làm. Tính xác
thực của dung cụ có thể đƣợc xác định bằng cách so sánh nó với một đánh giá
khác, chẳng hạn đánh giá của nhà tâm lý học hoặc với viẹc quan sát trong tƣơng
lai mức độ hoàn thành công việc của những ngƣời xin việc này. Nếu cả 2 đánh giá
này giống nhau, dụng cụ dùng để sinh ra đánh giá đƣợc giả sử là có tính xác thực
cao hơn. Những kiểu so sánh này tạo ra 2 loại tính xác thực - đó là xác thực đồng
thời và xác thực tiên đoán. Xác thực tiên đoán đƣợc phán xét dựa vào mức độ dự
báo kết quả của dụng cụ. Xác thực đồng thời đƣợc phán xét dựa vào kết quả so
sánh dụng cụ với một đánh giá thứ hai đƣợc tiến hành đồng thời.
Xác thực kết cấu
146
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Xác thực kết cấu là một kỹ thuật tinh vi hơn nhiều dùng để thiết lập tính xác
thực của dụng cụ. Nó dựa trên các thủ tục thống kê và đƣợc xác định bằng cách
xác minh sự đóng góp của mỗi cấu trúc vào biến tổng thể của hiện tƣợng.
Giả sử cần xem xét tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra mức độ thỏa mãn công
việc của các nhân viên của một công ty. Cần phải xem vị trí, bản chất công việc
và tiên lƣơng là 3 yếu tố quan trọng nhất thể hiện sự thỏa mãn công việc, và phải
thiết lập các câu hỏi để xác minh mức độ quan trọng của mỗi yếu tố trong sự thỏa
mãn công việc. Sau khi kiểm tra hoặc phân tích dữ liệu, cần sử dụng các thủ tục
thống kê để xác định đóng góp của mỗi thành phần (vị trí, bản chất công việc, và
tiền lƣơng vào biến tổng thể (là thỏa mãn công việc). Đóng góp của các yếu tố
này vào biến tổng thể là một chỉ số về mức độ xác thực của dụng cụ. Các thành
phần đóng góp càng nhiều vào biến tổng thể thì tính xác thực của dụng cụ càng
cao.
Một trong những nhƣợc điểm chính của xác thực kết cấu là nhà nghiên cứu
cần phải biết các thủ tục thống kê cần thiết.
Khái niệm độ tin cậy
Chúng ta dùng từ “tin cậy” rất thƣờng trong cuộc sống. Khi nói rằng một
ngƣời nào đó đáng tin cậy là chúng ta muốn nói lên điều gì? Có thể là - đó là
ngƣời có thể dựa vào đƣợc, kiên định, ổn định và thật thà.
Khái niệm độ tin cậy có ý nghĩa tƣơng tự trong dụng cụ nghiên cứu: dụng cụ
nghiên cứu nhất quán và ổn định, và vì vậy, có thể đoán trƣớc đƣợc và chính xác.
Mức độ nhất quán và ổn định của dụng cụ càng lớn thì độ tin cậy của nó càng cao.
Do vậy, “một thang đo hoặc một thử nghiệm nào đó đáng tin cậy khi các phép đo
lƣờng dùng đến nó ở các điều kiện giống nhau sẽ đƣa ra các kết quả giống nhau”
(Moser & Kalton - 1989).
Khái niệm tin cậy có thể đƣợc xem xét từ 2 khía cạnh:
1. Dụng cụ đáng tin cậy ở mức độ nào?
2. Dụng cụ không đáng tin cậy ở mức độ nào?
147
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Câu hỏi đầu tiên tập trung vào khả năng tạo ra các phép đo lƣờng nhất quán
của dụng cụ. Khi thu thập cùng tập thông tin nhiều lần, sử dụng cùng một dụng
cụ, nhận đƣợc kết quả tƣơng tự dƣới những điều kiện tƣơng tự thì dụng cụ đó
đƣợc xem là đáng tin cậy. Câu hỏi thứ hai tập trung vào mức độ thiếu nhất quán
trong các phép đo lƣờng của dụng cụ tức là mức độ khác nhau của các phép đo
với cùng tập thông tin, sử dụng cùng dùng cụ dƣới những điều kiện tƣơng tự. Vì
vậy, mức độ thiếu nhất quán trong các phép đo lƣờng khác nhau là chỉ báo mức
độ không chính xác của dụng cụ. “Lỗi” này là một phản ánh về độ không tin cậy
của dụng cụ. Thế nên, tin cậy là mức độ chính xác trong các phép đo lƣờng của
dụng cụ nghiên cứu. Mức độ lỗi trong dụng cụ càng thấp thì độ tin cậy của nó
càng cao.
Hãy lấy một thí dụ. Giả sử cần phát triển bảng câu hỏi để xác minh sự phổ
biến của bạo lực gia đình trong một cộng đồng. Phải dùng bảng câu hỏi này và
tìm ra rằng bạo lực gia đình phổ biến ở 5% các hộ gia đình. Nếu tiếp tục ở cuộc
khảo sát khác bằng cách dùng bảng câu hỏi với cùng cộng đồng và ở những điều
kiện tƣơng tự, nếu thấy rằng tính phổ biến của bạo lực gia đình là 15% thì bảng
câu hỏi không đƣa ra một kết quả có thể so sánh với nhau đƣợc - tức là dụng cụ
không đáng tin cậy. Sự khác biệt giữa 2 tập kết quả càng ít thì độ tin cậy của dụng
cụ càng cao.
Các yếu tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của thiết bị nghiên cứu
Trong khoa học xã hội không thể có dụng cụ nghiên cứu nào chính xác
100% không chỉ là vì dụng cụ nghiên cứu không thể làm đƣợc điều đó, mà còn là
không thể kiểm soát đƣợc các yếu tố ảnh hƣởng đến độ tin cậy. Những yếu tố này
là:
- Cách diễn đạt câu hỏi: một mơ hồ nhỏ trong cách diễn đạt câu hỏi hay các
phát biểu có thể ảnh hƣởng đến độ tin cậy của dụng cụ nghiên cứu vì ngƣời trả lời
có thể phân giải câu hỏi khác nhau ở những thời điểm khác nhau - gây ra các câu
trả lời khác nhau.
148
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Bối cảnh vật lý: trong trƣờng hợp dụng cụ đƣợc dùng trong phỏng vấn, bất
kỳ thay đổi nào về bối cảnh vật lý ở thời điểm phỏng vấn cũng có thể ảnh hƣớng
đến câu trả lời - điều này ảnh hƣởng đến độ tin cậy.
- Tâm trạng của ngƣời trả lời: sự thay đổi tâm trạng của ngƣời đƣợc phỏng
vấn hoặc khi trả lời bảng câu hỏi có thể làm thay đổi và ảnh hƣởng đến độ tin cậy
của dụng cụ đó.
- Bản chất của sự tƣơng tác: trong tình huống phỏng vấn, sự tƣơng tác giữa
ngƣời phỏng vấn và ngƣời đƣợc phỏng vấn có thể ảnh hƣởng đáng kể lên các câu
trả lời. Sự thay đổi tƣơng tác này có thể gây ra các câu trả lời khác nhau - điều đó
làm ảnh hƣởng đến độ tin cậy.
- Hiệu ứng hồi quy của dụng cụ: khi dụng cụ nghiên cứu đƣợc dùng để đo
lƣờng thái độ về một vấn đề nào đó, một số ngƣời trả lời - sau khi trình bày ý kiến
- cảm thấy rằng đã quá tiêu cực hoặc quá tích cực với vấn đề. Lần thứ hai ý kiến
trình bày có thể khác đi - ảnh hƣởng đến độ tin cậy.
Phương pháp xác định độ tin cậy của dụng cụ
Có vài cách xác định độ tin cậy của một dụng cụ. Các thủ tục khác nhau có
thể đƣợc phân thành 2 nhóm:
1. Các thủ tục nhất quán bên ngoài, và
2. Các thủ tục nhất quán bên trong.
Thủ tục nhất quán bên ngoài
Thủ tục nhất quán bên ngoài so sánh các kết quả kiểm tra tích lũy với nhau
nhƣ là phƣơng tiện kiểm chứng độ tin cậy của phép đo. Có 2 phƣơng pháp:
- Kiểm tra/tái kiểm tra: đây là phƣơng pháp đƣợc dùng phổ biến nhằm thiết
lập độ tin cậy của thiết bị nghiên cứu. Trong cuộc kiểm tra/tái kiểm tra (kiểm tra
lặp lại), mỗi dụng cụ đƣợc áp dụng một lần và kế đó, áp dụng lần nữa, dƣới những
điều kiện tƣơng tự. Tỷ số giữa kiểm tra và tái kiểm tra (hoặc bất kỳ kết quả nào
khác - thí dụ: Sự phổ biến của bạo lực trong gia đình) là chỉ báo độ tin cậy của
149
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
dụng cụ. Giá trị tỷ số càng lớn thì độ tin cậy của dụng cụ càng cao. Có phƣơng
trình:
(điểm kiểm tra)/( điểm tái kiểm tra) = 1
hoặc (điểm kiểm tra) - ( điểm tái kiểm tra) = 0
Tỷ số 1 cho thấy độ tin cậy 100% (không có sự khác biệt giữa kiểm tra), bất
cứ sự sai lệch nào từ nó là dấu hiệu kém tin cậy. Giá trị của tỷ số này càng thấp thì
độ tin cậy của dụng cụ càng ít. Nói cách khác, không có sự khác nhau giữa điểm
kiểm tra và tái kiểm tra là tín hiệu của độ tin cậy 100%. Sự khác nhau giữa điểm
kiểm tra/kết quả càng lớn thì độ thiếu tin cậy của dụng cụ càng cao. Ƣu điểm
chính của thủ tục kiểm tra/tái kiểm tra là nó cho phép dụng cụ so sánh với chính
nó do vậy tránh đƣợc các khó khăn của việc dùng một dụng cụ khác. Nhƣợc điểm
chính ở đây là ngƣời trả lời có thể nhớ lại những đáp ứng đã đƣa ra ở lần trƣớc,
làm ảnh hƣởng đến độ tin cậy của dụng cụ. Nếu thiết bị nghiên cứu về bản chất có
tính tái tích cực (khithiết bị hƣớng dẫn cho ngƣời trả lời về những gì mà nghiên
cứu viên đang cố gắng tìm ra) thì phƣơng pháp này sẽ không đƣa ra đƣợc một
đánh giá chính xác về độ tin cậy của nó. Một trong những cách để vƣợt qua vấn
đề này là tăng độ dài thời gian giữa 2 lần kiểm tra, nhƣng điều này cũng có thể
ảnh hƣởng đến độ tin cậy vì những lý do khác, chẳng hạn độ trƣởng thành của
ngƣời trả lời và không có khả năng có đƣợc những điều kiện tƣơng tự những điều
kiện của lần kiểm tra đầu tiên.
- Các dạng thức tƣơng đƣơng của cùng một phép thử ở thủ tục này, nhà
nghiên cứu thiết lập 2 dụng cụ nhằm đo lƣờng cùng một hiện tƣợng. Sau đó 2
dụng cụ này đƣợc áp dụng vào 2 tập hợp nghiêncứu tƣơng tự nhau. Kết quả từ
phép thử này đƣợc so sánh với kết quả từ phép thử khác, nếu chúng tƣơng tự, có
thể giả sử rằng các thiết bị là tin cậy.
Ƣu điểm chính của thủ tục này là nó không có vấn đề nhớ lại của ngƣời trả
lời vốn có trong thủ tục kiểm tra/tái kiểm tra. Khoảng cách thời gian giữa 2 phép
thử cũng không cần thiết.
150
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Nhƣợc điểm của thủ tục này là lnhà nghiên cứu cần phải thiết lập hai dụng
cụ thay vì chỉ một. Hơn nữa, vô cùng khó trong việc thiết lập hai dụng cụ có thể
so sánh đƣợc vớinhau về các phép đo lƣờng hiện tƣợng. Cũng rất khó để có đƣợc
tính khả so sánh giữa 2 tập họp nghiên cứu và giữa 2 tập điều kiện diễn ra các
phép thử.
Các thủ tục nhất quán bên trong
Ý tƣởng nằm sau các thủ tục nhất quán bên trong là các hạng mục đo lƣờng
cùng một hiện tƣợng nên đƣa ra những kết quả giống nhau. Phƣơng pháp sau
đƣợc dùng phổ biến để đo độ tin cậy của dụng cụ.
- Kỹ thuật chia đôi: kỹ thuật này đƣợc thiết kế để kết hợp phân nửa các hạng
mục này với phân nửa khác và nó thích hợp cho những dụng cụ đƣợc thiết kế để
đo lƣờng các thái độ về một vấn đề hay một hiện tƣợng. Các câu hỏi đƣợc chia
đôi theo cách là bất kỳ hai câu hỏi nào dự định dùng đo lƣờng cùng một khía cạnh
sẽ thuộc về hai nửa khác nhau. Điểm số ghi đƣợc khi áp dụng hai nửa sẽ đƣợc
xem xét tƣơng quan với nhau. Độ tin cậy đƣợc đánh giá bằng cách dùng mối
tƣơng quan giữa các điểm số thu từ hai nửa. Vì độ tƣơng quan đƣợc tính trên cơ
sở của chỉ phân nửa thiết bị, việc đánh giá độ tin cậy cho toàn thể cần đƣợc hiệu
chỉnh lại. Điều này đƣợc gọi là độ ltin cậy đƣợc điều chỉnh và độ tin cậy đƣợc
điều chỉnh đƣợc tính bằng công thức Spearman - Brown.
Tóm tắt chương
Khái niệm tính xác thực để đề cập đến chất lƣợng và đƣợc áp dụng vào bất
kỳ khía cạnh nào của quá trình nghiên cứu. Về các thủ tục đo lƣờng, nó liên quan
đến việc một dụng cụ nghiên cứu có đo lƣờng những gì nó đƣợc lập ra để đo hay
không. Có 2 phƣơng pháp để thiết lập tính xác thực của một dụng cụ: thiết lập
mối liên hệ hợp lý giữa các mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi đƣợc sử dụng trong
dụng cụ; và việc dùng phân tích thống kê để minh họa mối liên hệ này. Có 3 loại
tính xác thực: xác thực nội dung và xác thực bề ngoài; xác thực đồng thời và xác
thực đoán trƣớc; và xác thực kết cấu.
151
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Độ tin cậy của một dụng cụ đề cập đến khả năng tạo ra các phép đo lƣờng
nhất quán ở mỗi lần sử dụng. Khi dùng dụng cụ dƣới những điều kiện tƣơng tự
với cùng tập hợp và thu đƣợc những kết quả tƣơng tự thì dụng cụ này gọi là “đáng
tin cậy”. Các kết quả càng giống nhau thì độ tin cậy càng lớn. Có thể xem xét tính
xác thực từ 2 khía cạnh: độ tin cậy (mức độ chính xác) và độ không tin cậy (mức
độ không chính xác). Mơ hồ trong cách diễn đạt câu hỏi, một thay đổi nào đó
trong bối cảnh vật lý của việc thu thập dữ liệu. Tâm trạng của ngƣời trả lời khi
cung cấp thông tin, bản chất của tƣơng tác giữa ngƣời phỏng vấn và ngƣời đƣợc
phỏng vấn, và hiệu ứng hồi quy của dụng cụ là những yếu tố có thể ảnh hƣởng
đến tính xác thực của dụng cụ nghiên cứu.
Có các thủ tục nhất quán bên ngoài và thủ tục nhất quán bên trong dùng để
xác định tính xác thực. Phép kiểm tra/tái kiểm tra và các hình thức song song của
cùng phép thử là 2 thủ tục xác định độ tin cậy bên ngoài của dụng cụ nghiên cứu,
trong khi đó kỹ thuật chia đôi đƣợc xếp vào loại các thủ tục nhất quán bên trong.
BƢỚC 4
Chọn mẫu thử
Chương 11. Lấy mẫu
11. LẤY MẪU
Khái niệm lấy mẫu
Thật ngữ lấy mẫu
Các yếu tố ảnh hưởng đến các kết luận rút ra từ mẫu thử
Mục đích chọn mẫu thử
Các loại lấy mẫu
Thiết kế lấy mẫu xác suất / ngẫu nhiên
Thiết kế lấy mẫu xác suất / không ngẫu nhiên
Thiết kế lấy mẫu hỗn hợp
Tính toán kích cỡ mẫu thử
Tóm tắt chương
152
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Khái niệm lấy mẫu
Chúng ta hãy xem một thí dụ rất đơn giản nhằm giải thích khái niệm lấy mẫu.
Giả sử muốn tính độ tuổi trung bình của các sinh viên trong một lớp. Có hai
cách thực hiện điều này. Cách thứ nhất là tiếp xúc với tất cả các sinh viên trong
lớp, tìm ra độ tuổi của họ, lấy tổng, kế đến là chia tổng số tuổi cho số lƣợng sinh
viên (đây là định nghĩa của trị trung bình). Phƣơng pháp thứ hai là chọn một vài
sinh viên từ lớp học, hỏi độ tuổi của họ, sau đó chia cho số lƣợng sinh viên đã hỏi,
điều này cho phép tạo ra một ƣớc lƣợng về độ tuổi trung bình của lớp học. Hãy
xem thí dụ khác - giả sử muốn tìm ra thu nhập trung bình của những gia đình sống
ở thành thị. Cũng có thể theo các bƣớc đƣợc mô tả ở trên. Cách thứ nhất không
thuận tiện tiến hành vì không đủ kinh phí và sức lực để đi đến từng nhà ở thành
thị để tìm ra thu nhập của họ. Do đó, chỉ có thể theo phƣơng pháp thứ hai bằng
cách chọn ra một vài gia đình làm cơ sở, rồi sau đó tạ ra ƣớc lƣợng về thu nhập
trung bình của các gia đình ở thành thị. Một thí dụ khác nữa là kết quả của một
cuộc bầu cử. Kết quả đƣợc quyết định sau khi tiến hành bỏ phiếu vào ngày bầu
cử, nhƣng những tiên đoán về kết quả bầu cử đƣợc làm trên cơ sở của các cuộc
thăm dò ý kiến. Các cuộc thăm dò ý kiến này dựa vào một nhóm rất nhỏ ngƣời
đƣợc hỏi về ý nguyện bầu cử của họ. Dựa vào các kết quả này, ngƣời ta tiên đoán
đƣợc kết quả.
Vì vậy, lấy mẫu là quá trình chọn ra một vài (tức là một mẫu) từ một nhóm
lớn hơn (tập hợp mẫu) làm nền tảng để ƣớc lƣợng hoặc tiên đoán một sự kiện,
tình huống hay kết quả về nhóm lớn hơn đó. Mẫu thử là một nhóm con của tập
hợp mà ta quan tâm đến.
Mẫu
Tập hợp
lấy mẫu
Tìm ra những
thống kê mẫu
153
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Ƣớc tính các thông số tập hợp
Hình 11.1. Khái niệm lấy mẫu
Quá trình chọn mẫu từ tập hợp tổng thể có các ƣu và khuyết điểm. Ƣu điểm
ở chỗ - nó tiết kiệm thời gian cũng nhƣ tài lực và nhân lực. Tuy vậy, bất tiện là
không tìm ra các sự kiện về các đặc điểm của tập hợp mà chỉ là các ƣớc lƣợng
hoặc tiên đoán về chúng. Vì vậy, trong các ƣớc lƣợng sẽ có thể có lỗi.
Thế nên, lấy mẫu là một đánh đổi giữa đƣợc và mất. Một mặt tiết kiệm đƣợc thời
gian và nguồn lực, mặt khác phải chấp nhận một mức độ chính xác ở kết quả thu
đƣợc. Thông qua việc lấy mẫu chỉ tạo ra đƣợc một ƣớc lƣợng về tình huống thực
nổi trội trong tập hợp tổng thể mà từ đó mẫu đã đƣợc rút ra. Nếu có thể khẳng
định thông tin từ tập hợp tổng và phƣơng pháp xem xét vấn đề là đúng thì kết quả
tìm đƣợc sẽ có mức chính xác phù hợp. Nhƣng nếu chọn mẫu thử và dùng mẫu
làm cơ sở để ƣớc lƣợng tập hợp tổng thì lỗi có thể xuất hiện. Khả năng chấp nhận
sai số nhƣ vậy là một cân nhắc quan trọng trong việc chọn mẫu.
Thuật ngữ trong lấy mẫu
Hãy xem lại các thí dụ trên. Mục tiêu chính ở đây là tìm ra độ tuổi trung
bình của lớp học, thu thập bình quân của các gia đình sống ở thành thị, kết quả
bầu cử ở một nƣớc nào đó. Giả sử ta chọn phƣơng pháp thứ hai, tức là chọn một
số sinh viên, gia đình hoặc cử tri để đạt đƣợc các mục tiêu này.
- Tập hợp hoặc tập hợp nghiên cứu: là lớp học/thành phố/các cử tri từ đó
chọn ra một vài sinh viên/gia đình/cử tri để làm mẫu thử.
- Mẫu thử: là nhóm nhỏ sinh viên, gia đình hoặc cử tri cần thu thập thông
tin để từ đó ƣớc lƣợng độ tuổi trung bình, lợi tức bình quân hay kết quả bầu cử.
- Kích cỡ mẫu thử: số lƣợng sinh viên, gia đình hoặc cử tri tiếp xúc để tiến
hành thu thập thông tin.
- Thiết kế mẫu hay chiến lƣợc lấy mẫu: cách thức chọn sinh viên, gia đình
hoặc cử tri.
154
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Đơn vị lấy mẫu hay phần tử mẫu: mỗi sinh viên, gia đình hay cử tri là cơ
sở để ta chọn ra mẫu thử.
- Cơ sở hay khung lấy mẫu: danh sách nhận diện mỗi sinh viên, gia đình
hoặc cử tri.
- Các thống kê của mẫu: các kết quả dựa trên thông tin thu thập đƣợc từ
những ngƣời trả lời (chính là mẫu thử) - thí dụ: độ tuổi trung bình của sinh viên
(tính đƣợc từ thông tin đã thu thập đƣợc); thu nhập bình quân của những gia đình
sống ở thành thị (tính đƣợc từ thông tin đã thu thập đƣợc) và kết quả bầu cử mong
đợi (tính đƣợc từ thông tin đã thu thập đƣợc). Các thống kê của mẫu trở thành cơ
sở để ƣớc tính tính phổ biến/tính trội của một đặc điểm nào đó trong tập hợp
nghiên cứu.
- Các thông số hoặc trung vị của tập hợp nghiên cứu: các đặc điểm của tập
hợp nghiên cứu muốn khảo sát - ở đây là độ tuổi trung bình của lớp học, thu nhập
bình quân của những gia đình sống ở thành thị, và kết quả mong đợi của cuộc bầu
cử.
Nguyên lý lấy mẫu
Có ba nguyên lý hƣớng dẫn lý thuyết lấy mẫu. Để giải thích các nguyên lý
này, hãy xem một ví dụ rất đơn giản. Giả sử có 4 ngƣời: A, B, C, và D. A - 18
tuổi, B 20 tuổi, C 23 tuổi và D 25 tuổi. Vì đã biết tuổi, nên có thể tìm đƣợc tuổi
trung bình của họ bằng cách tính đơn giản - tính tổng 18 + 20 + 23 + 25 = 86 và
sau đó chia tổng cho 4 - kết quả độ tuổi trung bình của A, B, C và D là 21,5 tuổi.
Bây giờ giả sử rằng chọn một mẫu thử gồm 2 ngƣời để ƣớc tính tuổi trung
bình của cả 4 ngƣời. Nếu chọn lý thuyết xác suất thì có thể có 6 tổ hợp gồm 2
ngƣời: A và B; A và D; A và C; B và C; B và D; C và D. Hãy lấy mỗi cặp này để
tính tuổi trung bình của mẫu thử.
A + B = 18 + 20 = 38/2 = 19.0 tuổi;
A + C = 18 + 23 = 41/2 = 20.5 tuổi;
A + D = 18 + 25 = 43/2 = 21,5 tuổi;
155
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
B + C = 20 + 23 = 43/2 = 21.5 tuổi;
B + D = 20 + 25 = 45/2 = 22,5 tuổi và
C + D = 23 + 25 = 48/2 = 24.0 tuổi.
Chú ý rằng ở hầu hết các trƣờng hợp - độ tuổi trung bình (tức thống kê của
mẫu thử) tính trên cơ sở của các mẫu thử 2 ngƣời này đều có giá trị khác nhau.
Bây giờ, hãy so sánh các thống kê của mẫu thử này với độ tuổi trung bình của cả
4 ngƣời - là số trung bị của tập hợp (tức thông số của tập hợp) = 21,5 tuổi. Trong
tổng số 6 tổ hợp mẫu thử, chỉ có 2 trƣờng hợp là không có sự khác nhau giữa
thống kê mẫu thử và số trung vị tập hợp. Sự khác nhau đó là do mẫu và đƣợc gọi
là lỗi lấy mẫu. Kích cỡ của lỗi lấy mẫu khác nhau đáng kể. Hãy xem sự khác
nhau ở các thống kê mẫu thử và số trung vị tập hợp của 6 mẫu thử.
Bảng 11.1. Sự khác nhau giữa các thống kê mẫu thử và số trung vị tập hợp
Độ trung bình mấu Số trung vị tập hợp
Mẫu Sự khác nhau giữa (1)
thử (các thống kê mẫu (thông số tập hợp) (2)
thử và (2)
thử) (1)
1 19.0 21.5 -2.5
2 20.5 21.5 -1.5
3 21.5 21.5 0.0
4 21.5 21.5 0.0
5 22.5 21.5 +1.5
6 24.0 21.5 +2.5
Phân tích trên đƣa ra một nguyên lý lấy mẫu rất quan trọng.
Nguyên lý 1. Trong hầu hết các trƣờng hợp lấy mẫu, có sự khác biệt giữa các
thống kê mẫu thử và số trung vị thực của tập hợp nghiên cứu; sự khác biệt này là
do sự lựa chọn các đơn vị trong mẫu thử.
156
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Để hiểu nguyên lý thứ hai, tiếp tục với thí dụ trên nhƣng thay vì mẫu gồm 2
ngƣời, hãy chọn mẫu thử gồm 3 ngƣời. Có 4 khả năng cho tổ hợp 3 ngƣời:
A + B + C = 18 + 20 + 23 = 61/3 = 20,67 tuổi;
A + B + D = 18 + 20 + 25 = 63/3 = 21.00 tuổi;
A + C + D = 18 + 23 + 25 = 66/3 = 22.00 tuổi; và
B + C + D = 20 + 23 + 25 = 68/3 = 22,67 tuổi.
Bây giờ, hãy so sánh sự khác biệt giữa các thống kê mẫu thử và số trung vị
tập hợp.
Bảng 11.2. Sự khác nhau giữa trung bình mẫu thử và trung bình tập hợp
Độ trung bình mấu thử
Mẫu Số trung vị tập hợp Sự khác nhau giữa (1)
(các thống kê mẫu thử)
thử (thông số tập hợp) (2) và (2)
(1)
1 20.67 21.5 -0.83
2 21.00 21.5 -0.5
3 22.0 21.5 0.5
4 22.67 21.5 +1.17
So sánh sự khác nhau giữa các khác biệt đƣợc tính trên bảng này và trên
bảng trƣớc. Trong bảng đầu tiên, sự khác nhau giữa các thống kê mẫu và số trung
vị tập hợp nằm giữa -2.5 đến + 2.5 năm, trong khi đó ở bảng thứ hai là từ -0.83
đến + 1.17 năm. Khoảng cách giữa các thống kê mẫu và số trung vị tập hợp giảm
đi ở bảng 2. Sự giảm này là do tăng kích cỡ mẫu thử. Do đó, điều này dẫn đến
nguyên lý thứ hai:
157
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Nguyên lý 2. Kích cỡ mẫu thử càng lớn thì ƣớc lƣợng của số trung vị của tập
hợp nghiên cứu càng chính xác.
Nguyên lý lấy mẫu thứ ba đặc biệt quan trọng vì một số chiến lƣợc lấy mẫu -
chẳng hạn nhƣ lấy mẫu phân tầng và lấy mẫu gộp - đều dựa vào nó.
Để hiểu nó, tiếp tục với ví dụ trên nhƣng với số liệu hơi khác. Giả sử tuổi của 4
ngƣời khác nhau rõ rệt: A = 18, B = 26, C = 32 và D = 40. Nói cách khác, chúng
ta đang xem xét một tập hợp gồm những ngƣời có độ tuổi chênh lệch rõ rệt - biến
số đang đƣợc xem xét khác nhau rõ rệt.
Theo đúng thủ tục tƣơng tự, chọn các mẫu thử gồm 2 ngƣời và sau đó là 3 ngƣời.
Kết quả - sự khác nhau ở độ tuổi trung bình trong trƣờng hợp mẫu thử 2 ngƣời là
-7 và +7 tuổi, trong trƣờng hợp mẫu thử 3 ngƣời là giữa -3,67 và +3,67. Trong cả
hai trƣờng hợp này, khoảng khác biệt lớn hơn nhiều so với thí dụ dữ liệu trƣớc.
Điều này là do sự khác biệt nhiều hơn ở tuổi của 4 ngƣời trong tập hợp lấy mẫu.
Nói cách khác, tập hợp lấy mẫu về tuổi có sự dị biệt lớn hơn.
Nguyên lý 3. Với kích cỡ mẫu đã cho, sự khác biệt của biến (đang xem xét) trong
một tập hợp càng lớn, thì sự khác biệt giữa các thống kê mẫu thử và số trung vị
của tập hợp cũng sẽ càng lớn.
Cần phải nhớ 3 nguyên lý này khi xác định kích cỡ mẫu thử cần thiết ở một mức
độ chính xác cụ thể nào đó và khi lựa chọn chiến lƣợc lấy mẫu phù hợp nhất với
nghiên cứu.
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết luận rút ra được từ mẫu thử
Các nguyên lý trên cho rằng có hai yếu tố ảnh hƣởng đến độ chắc chắn của các
kết luận rút ra từ mẫu thử:
1. Kích cỡ của mẫu thử: kết quả khảo sát dựa trên các mẫu thử lớn hơn sẽ có
độ chắc chắn hơn là dựa trên mẫu thử nhỏ. Nhƣ vậy, kích cỡ mẫu thử càng lớn
thì kết quả tìm ra càng chính xác.
2. Mức độ thay đổi trong tập hợp lấy mẫu: đối với kích cỡ mẫu thử cho trƣớc,
sự thay đổi trong tập hợp nghiên cứu về các đặc tính cần nghiên cứu càng lớn, thì
độ không chắc chắn càng cao. (Theo thuật ngữ kỹ thuật, độ lệch chuẩn càng lớn
158
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
thì sai số chuẩn càng cao trong các ƣớc lƣợng với kích cỡ mẫu thử cho sẵn). Nếu
tập hợp tƣơng đối đồng nhất về các đặc tính đang nghiên cứu thì mẫu thử nhỏ
cũng có thể cung cấp một ƣớc lƣợng tƣơng đối tốt, nhƣng nếu nó không đồng
nhất, để đạt đƣợc độ chính xác tƣơng tự, cần phải chọn mẫu thử lớn hơn. Dĩ
nhiên, nếu tất cả các phần tử trong tập hợp đều giống nhau thì việc lựa chọn thậm
chí chỉ một mẫu thử cũng sẽ cho ra một ƣớc lƣợng tuyệt đối chính xác. Nhƣ vậy,
đối với kích cỡ mẫu đã cho sự thay đổi của các đặc điểm trong tập hợp nghiên
cứu càng cao thì độ không chắc chắn càng lớn
Mục tiêu chọn mẫu thử
Khi lựa chọn mẫu thử, phải luôn luôn cố:
Đạt đƣợc độ chính xác tối đa của các ƣớc lƣợng trong khuôn khổ kích cỡ mẫu
thử cho trƣớc, và
Tránh thiên lệch trong việc chọn mẫu.
Thiên lệch trong việc chọn mẫu có thể xảy ra nếu:
Mẫu thử đƣợc chọn bằng phƣơng pháp không ngẫu nhiên, - chẳng hạn lựa
chọn đó do con ngƣời thực hiện có ý thức hay vô thức.
Khung lấy mẫu: danh sách, chỉ số hay các bản ghi tập hợp khác - đƣợc dùng
nhƣ cơ sở lựa chọn - không bao phủ tập hợp lấy mẫu một cách chính xác và
hoàn toàn; và
Một bộ phận của tập hợp lấy mẫu không thể tìm ra đƣợc hoặc từ chối hợp tác.
Các kiểu lấy mẫu
Các chiến lƣợc lấy mẫu khác nhau có thể đƣợc phân thành 3 loại (hình 11.2):
Thiết kế lấy mẫu theo xác suất/ngẫu nhiên;
Thiết kế lấy mẫu theo xác suất/không ngẫu nhiên; và
Thiết kế lẫy mẫu hỗn hợp.
Dƣới đây sẽ xem xét lần lƣợt để hiểu từng các thiết kế này.
Các kiểu lấy mẫu
159
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Lấy mẫu theo xác
Lấy mẫu theo xác Lấy mẫu
xuất không ngẫu
xuất ngẫu nhiên hỗn hợp
nhiên
Lấy mẫu Lấy mẫu Lấy
theo ngẫu theo ngẫu mẫu Chỉ Lấy mẫu có
nhiên đơn nhiên cùng tiêu hệ thống
giản phân tầng loại
Nhận
xét
Lấy mẫu phân Giai đoạn
tầng cân xứng đơn
Tầm
quan
Tình cờ
trọng
Lấy mẫu phân Đa
Giai
tầng không cân giai
đoạn kép
xứng đoạn
Hình 11.2. Các loại lấy mẫu
Thiết kế lấy mẫu theo xác suất/ngẫu nhiên
Đối với thiết kế lấy mẫu đƣợc gọi là mẫu xác suất hay ngẫu nhiên, mỗi phần
tử trong tập hợp phải có cơ hội đƣợc lựa chọn độc lập và bằng nhau. Bằng nhau ở
đây hàm ý rằng xác suất chọn mỗi phần tử trong tập hợp là giống nhau, tức là
việc chọn một phần tử trong mẫu thử không bị tác động bởi các xem xét khác -
chẳng hạn sở thích cá nhân. Khái niệm độc lập nghĩa là việc chọn mỗi phần tử
không phụ thuộc vào việc chọn phần tử khác trong khi lấy mẫu: chọn hay loại bỏ
một phần tử không làm ảnh hƣởng đến việc thêm hoặc bớt phần tử khác. Để giải
thích những khái niệm này, hãy quay về với thí dụ của lớp học.
Giả thiết có 80 sinh viên trong lớp và giả sử có 20 sinh viên trong số này từ
chối tham gia nghiên cứu. Do vậy chỉ có thể dùng mẫu thử 60 sinh viên. 20 sinh
160
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
viên không tham gia có thể có ý kiến mạnh mẽ về vấn đề cần xem xét, nhƣng kết
quả của ta sẽ không phản ánh đƣợc ý kiến của họ. Việc từ chối của 20 sinh viên
này nghĩa là mỗi một trong số 80 sinh viên không có cơ hội đƣợc lựa chọn ngang
nhau. Nên mẫu thử ở đây không đại diện cho cả lớp.
Để hiểu khái niệm cơ hội lựa chọn độc lập, giả định rằng có 5 sinh viên trong lớp
là những ngƣời bạn rất thân. Nếu 1 trong số họ đƣợc chọn nhƣng lại từ chối tham
gia vì 4 ngƣời khác không đƣợc chọn, do đó buộc phải chọn hoặc cả 5 hoặc
không chọn ai - khi này mẫu thử không đƣợc xem là mẫu thử độc lập bởi vì việc
chọn một phần tử phụ thuộc vào việc chọn các phần tử khác.
Mẫu thử chỉ đƣợc coi là mẫu thử xác suất/ngẫu nhiên và do đó đại diện cho
tập hợp nghiên cứu nếu cả hai điều kiện nêu trên đƣợc thỏa. Nếu không, trong
nghiên cứu sẽ có việc thiên lệch.
Mẫu thử xác suất/ngẫu nhiên có hai ƣu điểm chính:
Vì chúng đại điện cho toàn bộ tập hợp lấy mẫu nên kết luận đƣợc rút ra từ
những mẫu thử nhƣ thế có thể đƣợc khái quát hóa cho toàn bộ tập hợp lấy
mẫu; và
Một số phép thử thống kế dựa trên lý thuyết xác suất có thể đƣợc áp dụng
chỉ cho các dữ liệu thu thập từ các mẫu thử ngẫu nhiên.
161
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Phương pháp chọn mẫu thử ngẫu nhiên
Có 3 phƣơng pháp phổ biến nhất để chọn mẫu thử ngẫu nhiên:
Xổ số: nếu tập hợp tổng thể nhỏ, cách làm dễ dàng là đánh số mỗi phần tử
bằng một mảnh giấy nhỏ, bỏ tất cả các mảnh giấy vào hộp, sau đó nhặt
từng mảnh ra mà không nhìn mãi cho đến khi số lƣợng mảnh giấy đƣợc
chọn ra bằng với kích cỡ mẫu thử mong muốn.
Các chương trình máy tính.
Bảng số ngẫu nhiên: đa số sách về phƣơng pháp nghiên cứu và thống kê
có phụ lục là một bảng số đƣợc tạo ra một cách ngẫu nhiên (xem bảng
11.3). Có thể chọn mẫu thử bằng cách dùng những bảng này theo thủ tục ở
hình 11.3.
Thử tục chọn mẫu thử bằng bảng số ngẫu nhiên nhƣ sau:
Bƣớc 1: Xác định tổng số các phần tử trong tập hợp nghiên cứu, thí dụ: 50, 100,
430, 795, 1265. Số lƣợng các phần tử trong tập hợp nghiên cứu có thể
đến chục ngàn hay hơn nữa.
Bƣớc 2: Đánh số mỗi phần tử bắt đầu từ 1.
Bƣớc 3: Nếu bảng số ngẫu nhiên dài hơn một trang giấy thì chọn trang bắt đầu
bằng thủ tục ngẫu nhiên. Tiếp tục, chọn cột hoặc dòng làm điểm khởi
đầu cũng bằng thủ tục ngẫu nhiên và bắt đầu xuất phát từ đây theo
hƣớng đã định trƣớc.
Bƣớc 4: Ứng với số lƣợng chữ số mà toàn bộ tập hợp có thể dung nạp, chọn
ngẫu nhiên cùng một trị số cho cột hoặc dòng từ bảng.
Bƣớc 5: Quyết định kích cỡ của mẫu thử.
Bƣớc 6: Chọn số lƣợng phần tử yêu cầu cho mẫu thử từ bảng. Nếu tình cờ chọn
cùng một số hai lần, hãy loại bỏ nó và tiếp tục. Điều này có thể xảy ra
vì bảng số ngẫu nhiên đƣợc tạo ra bằng cách lấy mẫu theo phép thay
thế
Hình 11.3. Dùng bảng số ngẫu nhiên
Hãy lấy một thí dụ để minh họa việc dùng bảng số ngẫu nhiên. Giả sử rằng
tập hợp lấy mẫu gồm 256 ngƣời. Đánh số mỗi ngƣời từ 1 đến 256. Chọn ngẫu
162
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
nhiên trang khởi đầu, nhóm cột (1 đến 10) hay dòng từ bảng và sau đó xác định 3
cột hoặc dòng các con số.
Giả sử xác định cột thứ 9 và 3 chữ số cuối cùng của cột này (đƣợc gạch
dƣới). Giả định đang chọn 10% của toàn bộ tập hợp làm mẫu thử (25 phần tử).
Lƣớt qua các con số đƣợc gạch dƣới ở nhóm cột thứ 9. Con số đầu tiên là 049
thấp hơn 256 (tập hợp tổng thể), vì vậy phần tử thứ 49 trở thành một thành phần
của mẫu thử. Con số thứ hai - 319 - lớn hơn các phần tử trong tập hợp tổng thể
(256), nên không thể chấp nhận phần tử thứ 319 trong mẫu thử. Áp dụng tƣơng
tự cho phần tử kế tiếp, 758, 589, 507, 483, 487 và 540. Sau 540 là 232, vì con số
này nằm trong khung lấy mẫu nên nó đƣợc xem là một thành phần của mẫu.
Tƣơng tự, nếu tiệp tục đi xuống 3 chữ số trong cùng một cột, sẽ chọn 052,
029, 065, 246, 161, trƣớc khi gặp 029 lại. Vì phần tử thứ 29 đã đƣợc chọn nên
phải đi đến số kế tiếp, và tiếp tục cho đến khi chọn đủ 25 phần tử. Khi đến cuối
của một cột, có thể di chuyển đến nhóm cột kế bên hoặc chọn ngẫu nhiên một cột
khác để tiếp tục quá trình lựa chọn. Thí dụ 25 phần tử sau đƣợc chọn từ các cột
thứ 9, 10 và 2 trong bảng 11.3:
Bảng 11.4. Các phần tử được chọn sử dụng bảng số ngẫu nhiên
Các phần tử đƣợc chọn
49 232 52 29 65
246 161 243 61 213
34 40
63 68 108 72 25
234 44 211 156 220
231 (cột thứ 10)
@ 149 246
# mẫu thử đƣợc chọn từ cột thứ 9
* mẫu thử đƣợc chọn từ cột thứ 10
@ mẫu thử đƣợc chọn từ cột thứ 2.
Một số chƣơng trình máy tính hiện có thể đƣợc dùng để chọn mẫu thử.
163
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Các hệ thống khác nhau dùng để rút ra mẫu thử ngẫu nhiên
Có 2 cách chọn mẫu thử ngẫu nhiên.
Lấy mẫu không thay thế; và
Lấy mẫu thay thế.
Giả sử cần chọn mẫu thử 20 sinh viên trên tổng số 80. Sinh viên đầu tiên
đƣợc chọn từ nguyên cả lớp, do vậy xác suất lựa chọn sinh viên đầu tiên là 1/80.
Khi chọn sinh viên thứ 2, trong lớp còn lại 79 và xác suất lựa chọn sinh viên thứ
2 là 1/79 chứ không phải là 1/80. Xác suất lựa chọn sinh viên kế tiếp là 1/78. Lúc
chọn sinh viên thứ 20, thì xác suất lựa chọn là 1/61. Loại lấy mẫu này đƣợc gọi là
lấy mẫu không thay thế. Nhƣng điều này ngƣợc với định nghĩa cơ bản về sự ngẫu
nhiên - tức là mỗi phần tử có cơ hội đƣợc lựa chọn độc lập và ngang nhau. Trong
hệ thống thứ 2, gọi là lấy mẫu thay thế, phân tử đã đƣợc chọn đƣợc thay thế trong
tập hợp lấy mẫu; nếu nó đƣợc chọn lại lần nữa, nó bị loại bỏ và phần tử kế tiếp
đƣợc chọn. Nếu tập hợp lấy mẫu khá lớn, xác suất lựa chọn cùng một phần tử 2
lần rất thấp.
Thiết kế lấy mẫu theo xác suất/ngẫu nhiên cụ thể
Có 3 cách thiết kế mẫu ngẫu nhiên đƣợc dùng phổ biến:
Lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản (SRS): là phƣơng pháp chọn mẫu thử xác
suất đƣợc sử dụng phổ biến nhất. Phù hợp với định nghĩa về sự ngẫu nhiên
- mỗi phần tử trong tập hợp có cơ hội đƣợc chọn độc lập và ngang nhau -
mẫu thử ngẫu nhiên đơn giản đƣợc chọn nhờ vào thủ tục sau:
Bƣớc 1: Đánh số tất cả các phần tử hoặc đơn vị lấy mẫu trong tập hợp.
Bƣớc 2: Quyết định kích cỡ mãu thử (n).
Bƣớc 3: Chọn (n) theo cách xổ số, bảng số ngẫu nhiên hoặc chƣơng trình máy
tính.
Hình 11.4: Thủ tục chọn mẫu thử ngẫu nhiên đơn giản.
Để minh họa, hãy xem thí dụ về lớp học. Có 80 sinh viên trong lớp, vì vậy
bƣớc đầu tiên là phải nhận diện mỗi sinh viên bằng cách đánh số từ 1 đến 80. Giả
sử quyết định chọn mẫu thứ 20 dùng phƣơng pháp ngẫu nhiên đơn giản. Có thể
164
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
dùng cách xổ số, bảng số ngẫu nhiên hoặc chƣơng trình máy tính để chọn 20 sinh
viên. 20 sinh viên này trở thành cơ sở của việc khảo sát nghiên cứu.
(ii) Lấy mẫu ngẫu nhiên phân tảng: Nhƣ đã thảo luận, độ chính xác của
ƣớc lƣợng phần lớn phụ thuộc vào tính dị biệt hay tính thay đổi của tập
hợp nghiên cứu về các đặc điểm có tƣơng quan mạnh mẽ với những gì
đang đƣợc nghiên cứu (nguyên lý 3).
Khi lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, nhà nghiên cứu cố gắng phân chia tập
hợp theo cách - tập hợp trong một tầng sẽ đồng nhất về đặc điểm dùng làm cơ sở
phân tầng. Quang trọng là các đặc điểm đƣợc chọn làm cơ sở phân tầng phải có
thể nhận biết rõ ràng trong tập hợp nghiên cứu. Thí dụ, phân tầng một tập hợp
dựa trên cơ sở giới tính dễ dàng hơn nhiều dựa trên tuổi tác, thu nhập hoặc thái
độ. Cũng quan trọng là đối với đặc điểm trở thành cơ sở phân tầng phải có liên
quan đến biến số chính mà nhà nghiên cứu đang tìm hiểu. Khi tập hợp lấy mẫu
đƣợc chia thành các nhóm không phủ lên nhau, nhà nghiên cứu sẽ chọn một số
lƣợng phần tử cần thiết cho mỗi tầng bằng cách dùng phƣơng pháp lấy mẫu ngẫu
nhiên đơn giản. Có 2 loại lấy mẫu phân tầng: lấy mẫu phân tầng tỷ lệ và lấy mẫu
phân tầng không tỷ lệ. Đối với lấy mẫu phân tầng tỷ lệ, số lƣợng phần tử đƣợc
chọn từ mỗi tầng sẽ tƣơng ứng với tỷ lệ của nó trong tập hợp tổng thể, trong khi
đó ở lấy mẫu phân tầng không tỷ lệ, kích cỡ phân tầng không đƣợc xem xét. Thủ
tục chọn mẫu thử phân tầng đƣợc chỉ ra dƣới dạng biểu đồ ở hình 11.5.
Bƣớc 1: Nhận ra tất cả các phần tử và đơn vị lấy mẫu trong tập hợp lấy mẫu
Bƣớc 2: Quyết định các tầng khác nhau (k) muôn phân rã tập hợp
Bƣớc 3: Đặc mỗi phần tử vào tầng thích hợp
Bƣớc 4: Đánh số mội phần tử trong mỗi tầng
Bƣớc 5: Quyết định kích cỡ mẫu thử tổng thể (n)
Bƣớc 6: Quyết định chọn phƣơng pháp lấy mẫu tỷ lệ hay không tỷ lệ và theo
các bƣớc sau.
165
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Bƣớc 7: Xác định số lƣợng phân tử Bƣớc 7: Xác định tỷ lệ của mỗi tầng
đƣợc chọn mỗi tầng = trong tập hợp nghiên cứu (P) =
Kích cỡ mẫu thử (n) Các phân tử (#) trong mỗi tầng
số lƣợng phân tầng (K) kích cỡ tập hợp tổng thể
Bƣớc 8: Chọn số lƣợng các phân tử Bƣớc 8: Xác định số lƣợng các phân tử
cần thiết từ mỗi tầng với phƣơng pháp đƣợc chọn từ mỗi tầng = (kích cỡ thử)
mẫu ngẫu nhiên đơn giản (SRS (P).
Bƣớc 9: Chọn số lƣợng các phân tử
cần thiết từ mỗi tầng với sản phảm lấy
mẫu ngẫu nhiên đơn giản (SRS).
Lấy mẫu phân tầng không tỷ lệ Lấy mẫu phân tầng tỷ lệ
Vì phƣơng pháp này không yêu cầu Vì mẫu thử đƣợc chọn tỉ lelẹ với kích
xem xét kích cỡ của các tầng khí chọn cỡ của tầng trong tập hợp nên phƣơng
mẫu thử nên nó đƣợc gọi là lấy mẫu pháp này đƣợc gọi là lấy mẫu phân
phân tầng không tỷ lệ. tầng tỷ lệ.
Hình 11.5. Thủ tục chọn mẫu thử phân tầng
(iii) Lấy mẫu theo chùm: Các phƣơng pháp lấy mẫu phân tầng và lấy mẫu
ngẫu nhiên đơn giản đƣợc dựa trên khả năng nhận diện mỗi phần tử trong tập hợp
của nhà nghiên cứu. Rất dễ thực hiện điều này nếu toàn bộ tập hợp lấy mẫu nhỏ,
nhƣng nếu tập hợp này lớn nhƣ trƣờng hợp của một thành phố, hay một nƣớc thì
việc nhận diện mỗi đơn vị lấy mẫu trở nên khó khăn và tốn kém. Trong những
trƣờng hợp nhƣ vậy, sử dụng phƣơng pháp lấy mẫu theo chùm thích hợp hơn
nhiều.
Lấy mẫu theo chùm đƣợc dựa trên năng lực của nhà nghiên cứu trong việc
chia tập hợp lấy mẫu thành các nhóm, gọi là chùm và lựa chọn các phần tử trong
166
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
mỗi chùm bằng cách dùng phƣơng pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản. Các chùm
đƣợc thành lập trên cơ sở gần gũi về địa lý hay các đặc tính chung có tƣơng quan
với biến số chính của nghiên cứu (nhƣ ở phƣơng pháp lấy mẫu phân tầng).
Dựa vào mức độ kết chùm, đôi khi việc lấy mẫu đƣợc tiến hành ở nhiều cấp
độ khác nhau. Những cấp độ này tạo nên các giai đoạn khác nhau về ghép chùm
(đơn, kép, đa), điều này sẽ đƣợc giải tích sau.
Giả định cần khảo sát thái độ của học sinh cuối cấp II ở Úc về giáo dục cao
hơn trong nƣớc. Các cơ sở giáo dục cao hơn đều có ở mối tiểu bang và lãnh thổ
của Úc. Ngoài ra, có nhiều loại cơ sở giáo dục khác nhau, thí dụ: các trƣờng đại
học, đại học kỹ thuật, cao đẳng giáo dục cấp tiến và cao đẳng TAPE. Ở mỗi
trƣờng có nhiều khóa học khác nhau ở cấp bậc chƣa tốt nghiệp và đã tốt nghiệp
đại học. Mỗi khóa học kéo dài từ 3 đến 4 năm. Trong những tình huống nhƣ thế,
việc lấy mẫu theo chùm vô cùng có ích cho việc lựa chọn mẫu thử ngẫu nhiên.
Mức lấy mẫu theo chùm đầu tiên có thể ở phạm vi tiểu bang hoặc lãnh thổ.
Các chùm có thể đƣợc ghép nhóm ứng với các đặc tính giống nhau đảm bảo tính
có thể so sánh đƣợc theo tập hợp học sinh. Nếu việc này không dễ dàng, có thể
chọn tất cả các tiểu bang và lãnh thổ, rồi chọn mẫu thử ở mức độ viện/trƣờng. Thí
dụ, với phƣơng pháp ngẫu nhiên đơn giản, một viện/trƣờng từ mỗi lĩnh vực trong
mỗi tiểu bang đƣợc chọn, chẳng hạn nhƣ: một trƣờng đại học, một trƣờng đại học
kỹ thuật, một trƣờng cao đẳng giáo dục cao cấp và một trƣờng cao đẳng TAPE.
Việc này dựa trên giả định rằng các viện/trƣờng trong mỗi lĩnh vực khá giống nhau
về tập hợp sinh viên. Kế đến, trong mỗi viện/trƣờng trên cơ sở ngẫu nhiên, chọn ra
một hay các chƣơng trình giáo dục tùy thuộc vào các tài nguyên. Trong mỗi
chƣơng trình nghiên cứu đƣợc chọn, những sinh viên ở một năm nào đó có thể
đƣợc chọn. Kế tiếp có thể lựa chọn một bộ phận sinh viên. Quá trình chọn mẫu thử
theo cách này đƣợc gọi là phƣơng pháp lấy mẫu theo chùm đa giai đoạn.
Thiết kế lấy mẫu theo xác suất/không ngẫu nhiên
167
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Thiết kế lấy mẫu không ngẫu nhiên không tuân theo lý thuyết xác suất khi
chọn các phần tử từ tập hợp mẫu. Thiết kế lấy mẫu không xác suất đƣợc dùng khi
số lƣợng các phần tử trong tập hợp hoặc là không biết đƣợc hoặc là không thể
nhận diện từng cá thể. Trong những tình huống nhƣ thế, việc lựa chọn các phần tử
sẽ phụ thuộc vào một vài yếu tố khác. Có 4 thiết kế không ngẫu nhiên, mỗi thiết
kế này dựa vào một yếu tố
Khác nhau và thƣờng đƣợc dùng trong các nghiên cứu định tính và định lƣợng.
Lấy mẫu theo chỉ tiêu;
Lấy mẫu tình cờ;
Lẫy mẫu hƣớng đích hoặc phán đoán; và
Lấy mẫu dạng liên kết
Lấy mẫu theo chỉ tiêu
Yếu tố chính hƣớng dẫn lấy mẫu theo chỉ tiêu là nhà nghiên cứu dễ dàng tiếp
xúc với tập hợp lấy mẫu. Ngòai tiện lợi này, nhà nghiên cứu còn đƣợc chỉ dẫn
bằng vài đặc tính dễ nhìn thấy của tập hợp nghiên cứu, chẳng hạn nhƣ giới tính
hay chủng tộc. Mẫu thử đƣợc chọn từ vi trí thuận tiện cho nhà nghiên cứu và bất
kỳ khi nào thấy đƣợc ngƣời có đặc tính vừa nói, ngƣời này sẽ đƣợc yêu cầu tham
gia vào nghiên cứu. Quá trình này tiếp tục đến khi nhà nghiên cứu tiếp xúc đủ số
ngƣời cần thiết (chỉ tiêu).
Giả sử muốn chọn mẫu thử 20 sinh viên nam để tìm ra độ tuổi trung bình của
nam sinh viên trong lớp. Có thể đứng ở cửa lớp, vì chỗ này tiện quan sát, bất cứ
khi nào có sinh viên nam bƣớc vào dãy hỏi tuổi của anh ấy. Tiếp tục đến khi hỏi
đủ 20 sinh viên.
Thiết kế này có các ƣu và khuyết điểm. Ƣu điểm: cách chọn mẫu thử ít tốn
kém nhất; ở đây không cần bất cứ thông tin nào, chẳng hạn khung lấy mẫu, số
lƣợng và vị trí của các phần tử hoặc thông tin khác về tập hợp lấy mẫu; và nó
đảm bảo chọn đúng loại ngƣời mong muốn. Khuyết điểm; mẫu thử kết quả không
phải là mẫu thử xác xuất, kết quả tìm đƣợc không thể khái quát hóa cho toàn bộ
168
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
tập hợp lấy mẫu; và những cá thể tiếp túc có thể có các đặc điểm riêng và do vậy
không phải là đại diện thực của tòan bộ tập hợp lấy mẫu.
Lấy mẫu tình cờ
Lấy mẫu tình cờ cũng đƣợc dựa trên sự thuận tiện của việc tiếp xúc và tập
hợp lấy mẫu. Trong khi lấy mẫu thỉ tiêu nhắm đến những ngƣời có chung vài đặc
điểm dễ thấy nào đó thì lấy mẫu tình cờ không theo hƣớng này.
Phƣơng pháp lấy mẫu này phổ biến trong nghiên cứu thị trƣờng và tƣờng
thụât báo chí. Nó cũng có ƣu và khuyết điểm tƣơng tự nhƣ lấu mẫu chỉ tiêu.
Lấy mẫu hướng đích hay phán đoán
Yếu tố cơ bản trong vịêc lấy mẫu hƣớng đích là sự phán đoán của nhà nghiên
cứu về những ngƣời có thể cung cấp những thông tin tốt nhất cho mục tiêu nghiên
cứu. Nhà nghiên cứu chỉ tiếp xúc với những ngƣời mà theo ý kiến của chính
mình có khả năng có đƣợc thông tin cần thiết và sẵn sàng chia sẻ thông tin.
Loại lấy mẫu này vô cùng hữu ích khi cần thiết lập thực tại có tính lịch sử,
mô tả hiện tƣợng hay triển khai những gì rất ít biết.
Lẫy mẫu dạng liên kết.
Lấy mẫu dạng này là quá trình chọn ra một mẫu thử bằng cách dung các mối
liên kết. Để bắt đầu, chọn ra một vài ngƣời trong một nhóm hoặc tổ chức và thu
thập thông tin cần thiết từ họ. Sau đó yêu cầu họ chỉ ra những ngƣời khác trong
nhóm hoặc tổ chức này, những ngƣời mới chọn này cũng sẽ trở thành một phần
của mẫu thử - thu thập thông tin cần thiết từ những ngƣời mới. Tiếp theo yêu cầu
của những ngƣời mới đó chỉ ra các thành viên khác cũng trong nhóm hay tổ chức
đã xét - một phần khác của mẫu thử. Quá trình này cứ tiếp tục đến khi đủ số lƣợng
ngƣời cần thiết hay đạt đến điểm bão hòa về phƣơng tiện thông tin cần thu thập.
Phƣơng pháp này có lợi nếu biết đôi chút về nhóm hoặc tổ chức muốn
nghiên cứu, vì chỉ cần liên hệ với một vài ngƣời ban đầu, rồi những ngƣời này có
thể dẫn ta đến những thành viên khác của nhóm hoặc tổ chức.
169
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Phƣơng pháp chọn mẫu này hữu dụng cho vịêc nghiên cứu các kiểu truyền
thông, các mẫu ra quyết định hoặc truyền bá kiến thức trong nhóm/ tổ chức. Tuy
nhiên, kỹ thụât này cũng có các khuyết điểm. Lựa chọn tòan bộ mẫu thử phụ
thuộc vào lựa chọn một ít các cá nhân ở giai đoạn đầu. Nếu những ngƣời đầu
này thuộc cùng một bè phái hoặc có các thiên lệch mạnh thì nghiên cứu cũng có
thể bị thiên lệch theo. Khi tập mẫu khá lớn phƣơng pháp này cũng gặp khó khăn.
Thiết kế lấy mẫu "hỗn hợp".
Thiết kế lấy mẫu có hệ thống
Lấy mẫu có hệ thống đƣợc xếp vào loại lấy mẫu "Hỗn hợp" vì nó có các
đặc điểm của cả thiết kế lấy mẫu ngẫu nhiên và không ngẫu nhiên.
Trong thiết kế lấy mẫu có hệ thống, khung lấy mẫu trƣớc tiên đƣợc chia
thành một số phân đoạn - gọi là khoảng. Sau đó, từ khoảng đầu tiên, dùng
phƣơng pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản chọn ra một phần tử. Việc lựa chọn
các phần tử tiếp theo từ khoảng khác phụ thuộc vào thứ tự của các phần tử đƣợc
chọn từ khoảng đầu tiên. Nếu trong khoảng đầu tiên, nó là phần tử thứ 5 thì phần
tử thứ năm của mỗi khoảng tiếp theo sẽ đƣợc chọn. Chú ý rằng ở khoảng đầu tiên
vịêc chọn một phần tử nào đó ngẫu nhiên, nhƣng chọn các phần tử ở khoảng tiếp
theo phụ thuộc vào việc chọn ở khoảng đầu tiên và do vậy không thể xếp loại vào
mẫu thử ngẫu nhiên. Vì lý do này, nó đƣợc xếp loại là "lấy mẫu hỗn hợp". Thủ tục
dùng trong lấy mẫu có hệ thống nhƣ sau:
Bƣớc 1: Chuẩn bị danh sách tất cả các phần tử trong tập hợp nghiên cứu (N)
Bƣớc 2: Quyết định kích cỡ mẫu thử (n)
tập hợp tổng thể
Bƣớc 3: Xác định bề rộng của khoảng = = (k)
Kích cỡ mẫu thử
Bƣớc 4: Dùng phƣơng pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn một phần tử
từ khoảng đầu tiên (số thứ tự n)
Bƣớc 5: Chọn phần tử cùng số thứ tự ở mỗi khoảng tiếp theo.
170
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 11.7. Thủ tục chọn mẫu thử có hệ thống
Mặc dầu, thủ tục chung chọn mẫu thử bằng phƣơng pháp lấy mẫu có hệ
thống đƣợc miêu tả ở trên, có thể điều chỉnh cách làm bằng cách chọn một phần
tử khác từ mỗi khoảng theo phƣơng pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản. Với cách
này, lấy mẫu có hệ thống đƣợc xếp loại vào các thiết kế lấy mẫu xác xuất.
Để chọn một mẫu thử ngẫu nhiên phải có một khung lấy mẫu. Đôi khi điều
này khó thực hiện hoặc quá tốn kém. Tuy nhiên, trong cuộc sống thực có khi có
sẵn khung lấy mẫu, thí dụ - sổ sách của khách hàng ở đại lý, bảng ghi danh của
sinh viên ở trƣờng học, danh sách bầu cử của những ngƣời sống ở địa phƣơng,
danh sách nhân viên trong một tổ chức. Tất cả những bản ghi này có thể dùng làm
khung lấy mẫu để chọn mẫu bằng phƣơng pháp lấy mẫu có hệ thống. Tuy có
thuận tiện nhƣ vậy ở khung mẫu thử sẵn có, cái giá phải trả là – trong một số
trƣờng hợp đó không phải danh sách ngẫu nhiên. Phần lớn những danh sách này
theo trật tự chữ cái - dựa trên số hiệu gắn trong hồ sơ - hoặc đƣợc sắp xếp cho
ngƣời sử dụng bản ghi đƣợc thuận tiện.
Giả sử có 50 sinh viên trong lớp học và muốn chọn 10 sinh viên dùng
phƣơng pháp lấy mẫu có hệ thống. Bƣớc đầu tiên là xác định bề rộng của khoảng
( 50/10 = 5). Điều này có nghĩa là cứ mỗi 5 phần tử cần chọn 1 phần tử. Dùng
phƣơng pháp lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản, ở khoảng đầu tiên ( 1-5 phần tử),
chọn một phần tử, giả sử là phần tử thứ ba . Ở các khoảng còn lại, chọn các phần
tử thứ 3 tƣơng ứng.
Tính toán kích cỡ mẫu thử
"Mẫu thử nên lớn cỡ nào?", "Kích cỡ mẫu thử là bao nhiêu?", " cần bao
nhiêu trƣờng hợp?", đây là những câu hỏi phổ biến nhất. Về cơ bản, nó phụ thuộc
vào những gì muốn làm với kết quả tìm đƣợc và muốn thiết lập những quan hệ gì.
Mục tiêu tiến hành nghiên cứu là yếu tố chính quyết định mức độ chính xác cần thiết
171
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
ở kết quả, và mức độ chính xác này là yếu tố quan trọng quyết định kích cỡ mẫu thử.
Khi xác định mẫu thử, cần phải xem xét các vấn đề sau.
Muốn kiểm thử kết quả hoặc giả thuyết ở mức độ tin tƣởng nào?
Muốn ƣớc tính các thông số của tập hợp nghiên cứu ở độ chính xác nào?
Mức độ thay đổi ƣớc tính (độ lệch chuẩn) cả biến số chính đang nghiên cứu
trong tập hợp nghiên cứu là bao nhiêu?
Hình 11.8. Lấy mẫu có hệ thống
Việc trả lời các câu hỏi này là cần thiết bất kể ta tự mình xác định mẫu thử
hay thuê chuyên gia thực hiện. Kích cỡ mẫu thử là quan trọng đối với việc kiểm
tra giả thuyết hoặc thiết lập mối liên hệ, nhƣng đối với các nghiên cứu khác – qui
luật chung là: kích cỡ mẫu thử càng lớn, các ƣớc lƣợng càng chính xác. Thực tế,
chính ngân sách quyết định kích cỡ mẫu thử. Kỹ năng lựa chọn mẫu thử rong giới
hạn ngân sách thể hiện ở chỗ lựa chọn các phần tử để chúng đại diện phù hợp và
kiến hiệu cho tập hợp lấy mẫu.
Để minh họa thủ tục này, lấy thí dụ một lớp học. Giả sử muốn tìm ra độ tủôi
trung bình của sinh viên với độ chính xác 0,5 tuổi, nghĩa là chấp nhận sai sót
+/ - 0,5 năm củ tuổi trung bình thực. Cũng giả định rằng độ tin tƣởng là
95%, nghĩa là kết quả tìm ra đƣợc tin tƣởng 95%.
Công thức xác định giới hạn độ tin cậy là:
x x (t.05 )
x = giá trị đƣợc ƣớc tính của số trung vị tập hợp
x = tuổi trung bình đƣợc tính từ mẫu thử
t05 = giá trị của t ở mức độ tin tƣởng 95%
= sai số chuẩn
= sai lệch chuẩn
= kích cỡ mẫu thử
= căn bậc hai
Nếu quyết định chấp nhận sai lệch 0,5 năm, điều đó có nghĩa là:
172
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
(t.05 )
x
x 0.5
hay nói cách khác:
(t 05 ) 0,5
hay = (1.96) = 0.5 (giá trị của t0.005 - 1.96)
Cấp độ 0.02 0.10 0.05 0.02 0.01 0.001
t- giá trị 1.282 1.645 1.960 2.326 2.576 3.921
1.96
0.5
Chỉ có một đại lƣợng không biết trọng lƣợng phƣơng trình trên :
Bây giờ vấn đề chính là làm thế nào để tìm ra giá trị của mà không phải
thu thập dữ liệu. Đây là vấn đề lớn nhất khi ƣớc tính kích cỡ mẫu thử. Vì lý do
này nên cần phải biết về tập hợp nghiên cứu càng nhiều càng tốt.
Giá trị của có thể đƣợc tìm ra bởi một trong những cách sau:
1. Đoán
2. Hỏi ý kiến chuyên gia:
3. Lấy giá trị của từ các nghiên cứu có thể so sánh đƣợc trƣớc đây; hoặc
4. Tiến hành nghiên cứu thí điểm để tính giá trị
Giả sử là 1 năm:
1.96 1
3.92
0.5
= 15.37 làm tròn là 16
Vì vậy, để xác định độ tủôi trung bình của lớp học ở độ chính xác 95% (giả
sử = 1 năm) với sai số là 0.5 năm, mẫu thử cần thiết có ít nhất 16 sinh viên.
Bây giờ giả sử rằng thay vì 95%, độ tin tƣởng vào kết quả sẽ là 995, chấp
nhận lỗi là 0.5 năm
2.576 1
0.5
= 5.15
= 26.54 làm tròn là 27
Tóm tắt chƣơng
Chƣơng này đã xét việc lấy mẫu – quá trình chọn một vào phần tử từ tập hợp
lấy mẫu. Về một mặt nào đó, lấy mẫu là đánh đổi giữa độ chính xác và nguồn
173
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
lực. Thông qua lấy mẫu, tạo ra một ước lượng về thông tin quan tâm. Tức là –
không tìm ra số trung vị thực sự của tập hợp.
Lấy mẫu đƣợc dẫn dắt bởi ba nguyên lý. Một trong những nguyên lý lấy mẫu
quan trọng nhất là – kích cỡ mẫu thử càng lớn, ƣớc tính số trung vị thực sự của
tập hợp mẫu càng chính xác, giả sử là mọi yếu tố khác không thay đổi. Các dẫn
xuất rút ra từ mẫu thử có thể bị ảnh hƣởng bởi cả kích cỡ mẫu thử lẫn mức độ
thay đổi trong tập hợp lấy mẫu.
Các thiết kế lấy mẫu đƣợc phân loại thành thiết kế lấy mẫu theo xác xuất/
ngẫu nhiên, thiết kế lấy mẫu theo xác xuất/ không ngẫu nhiên và thiết kế lấy mẫu
"hỗn hợp". Đối với mẫu thử ngẫu nhiên, mỗi phần tử trong tập hợp nghiên cứu
phải có cơ hội đƣợc chọn độc lập và ngang nhau.
Ba thiết kế ngẫu nhiên đã xét: lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản, lấy mẫu ngẫu
nhiên phân tầng và lấy mẫu theo chùm. Thủ tục chọn mẫu thử dùng những thiết
kế này đã đƣợc chi tiết hóa từng bƣớc. Phƣơng pháp bảng số, bảng số ngẫu
nhiên và các chƣơng trình máy tính đặc thù là ba phƣơng pháp chọn mẫu thử theo
xác xuất đƣợc dùng phổ biến.
Có bốn thiết kế lấy mẫu không theo xác xuất; chỉ tiêu, tình cờ, phán đoán và
theo liên kết. Mỗi thiết kế đƣợc dùng cho một mục đích khác nhau và trong tình
huống khác nhau.
Lấy mẫu có hệ thống đƣợc phân loại là phƣơng pháp "hỗn hợp" vì có các đặc
điểm của cả thiết kế lấy mẫu theo xác xuất và thiết kế lấy mẫu không theo xác
xuất.
Phần cuối của chƣơng này đã mô tả các yếu tố quyết định và thủ tục tính
kích cỡ mẫu thử. Mặc dầu hơi khó đối với ngƣời mới bắt đầu nhƣng nó đƣợc đƣa
ra ở đây nhằm giúp nhận thức các yếu tố quyết định có liên quan vì các câu hỏi
liên đới đến lĩnh vực này thƣờng hay đƣợc nêu ra.
B-íc 5
174
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Viết đề xuất nghiên cứu
Chương 12: Viết đề xuất nghiên cứu
12.VIẾT ĐỀ XUẤT NGHIÊN CỨU
Về đề xuất nghiên cứu
Phần giới thiệu
Bài toán
Các mục tiêu nghiên cứu
Các giả thuyết cần kiểm thử
Thiết kế nghiên cứu
Bối cảnh nghiên cứu
Thủ tục đo lường
Lấy mẫu
Phân tích dữ liệu
Cấu trúc của bài báo cáo
Các khó khăn và hạn chế
Kế hoạch làm việc
Phần phụ lục
Tóm tắt chương
Về đề xuất nghiên cứu
Đề xuất nghiên cứu là một kế hoạch, sơ đồ, cấu trúc và chiến lƣợc tổng thể
đƣợc thiết kế nhằm tìm ra các câu trả lời cho các câu hỏi hoặc vấn đề cấu thành
dự án nghiên cứu. Đề xuất nghiên cứu nên vạch rõ những nhiệm vụ khác nhau
đƣợc hoạch định nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu, kiểm thử các giả thuyết
hoặc thu thập các câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu. Nó cũng phải nói rõ các
lý do tiến hành nghiên cứu. Nói rộng ra, chức năng chính của đề xuất nghiên cứu
là chi tiết hoa kế hoạch vận hành / thực hiện nhằm tìm ra các câu trả lời cho các
câu hỏi nghiên cứu. Trong việc tực hiện điều đó, nó đảm bảo cho người đọc về
175
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
tính xác thực của phương pháp luận, tìm ra các câu trả lời đối với câu hỏi nghiên
cứu một cách chính xác và khách quan.
Để đạt đƣợc chức năng đó, đề xuất nghiên cứu phải cho nghiên cứu viên,
ngƣời giám sát nghiên cứu và các ngƣời xem xét khác biết đƣợc các thông tin sau
về bài nghiên cứu.
Những gì dự kiến sẽ thực hiện:
Cách thức tiến hành như thế nào ; và
tại sao chọn chiến lƣợc đề nghị này.
Do vậy, đề xuất nghiên cứu cần chứa các thông tin sau về bài nghiên cứu.
Phát biểu các mục tiêu của nghiên cứu
Danh sách các giả thuyết nếu có
Thiết kế nghiên cứu dự kiến
Bối cảnh nghiên cứu
Dụng cụ nghiên cứu dự kiến sẽ dùng
Thông tin về kích cỡ mẫu thử và thiết kế lấy mẫu
Thông tin về các thủ tục xử lý dữ liệu
Đại cƣơng về các chƣơng của bản báo cáo
Các khó khăn và giới hạn của nghiên cứu
Khung thời gian đề nghị.
Đề xuất nghiên cứu nên nói rõ mục đích và kế hoạch nghiên cứu nhằm:
Cho phép nghiên cứu viên sử dụng để hỗ trợ ra quyết định ở các giai
đoạn khác nhau của quá trình nghiên cứu.
Thuyết phục ngƣời giám sát nghiên cứu hoặc ngƣời chấm bài rằng
phƣơng pháp luận đề xuất là tốt, xác thực, thích hợp và khả thi nhằm thu
thập câu trả lời cho các câu hỏi/ mục tiêu nghiên cứu.
Các trƣờng đại học và các viện nghiên cứu có thể có những yêu cầu khác
nhau về kiểu cách và nội dung của đề xuất nghiên cứu. Các yêu cầu cũng có thể
176
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
khác nhau trong bản thân một trƣờng, viện nghiên cứu, tùy từng ngành học họăc
tùy từng ngƣời giám sát nghiên cứu.
Bản đề xuất nên tuân theo các hƣớng dẫn đã đề nghị và nên viết theo lối học
thuật. Nó cũng phải chỉ ra các tham khỏa thích hợp trong phần thân bài và trong
thƣ mục ở cuối bài. Phần tổng quan về các tài liệu liên đới cần bao hàm các ấn
bản phẩm chính về mảng đề tài này. Cơ sở lý thuyết cho bài nghiên cứu phải
xuất phát từ tổng quan tài liệu đó và phải có bằng chứng thực nghiệm. Thông
thƣờng, phần tổng quan về tài liệu gồm có:
* Khuôn khổ khái niệm, thông tin thực nghiệm và lý thuyết về các vấn đề chính;
và một số kết quả nghiên cứu chính có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, các câu
hỏi nghiên cứu đƣợc đƣa ra trong các tài liệu, và những khoảng trống/ khoảng
cách đƣợc những ngƣời nghiên cứu trƣớc nhận diện.
Việc tổng quan tài liệu cũng đƣa ra các vấn đề liên quan đến phƣơng pháp
luận. Thí dụ, nó có thể xem xét cách thức các nghiên cứu khác xử lý các biến số
chính có liên đới đến nghiên cứu và có thể bao gồm sự phê bình các phƣơng pháp
luận liên quan đến nghiên cứu. Việc phê bình các phƣơng pháp và thủ tục nên
đƣợc đặt đƣới các tiêu đề tƣơng ứng. Thí dụ, phê bình về thiết kế lấy mẫu nên
đƣợc đặt trong mục "lấy mẫu" hoặc phê bình về thiết kế nghiên cứu nên đƣợc đặt
dƣới mục " thiết kế nghiên cứu".
Chú ý rằng phần tổng quan tài liệu này sẽ không chứa một mục nào có tên là
" khảo sát tài liệu" hoặc "tổng quan về tài liệu". Đó là vì việc tham khảo tài liệu
liên nên đƣợc kết hợp với các lý lẽ của ta về mặt khái niệm hơn là chứ không phải
là về thứ tự thời gian. Các vấn đề cần phải làm về phƣơng pháp luận nghiên cứu
và những vấn đề khác về các khía cạnh khác nhau của các thủ tục nghiên cứu nên
đƣợc thảo luận theo những tiêu đề tƣơng ứng. Thí dụ, những vấn đề có liên quan
đến thiết kế nghiên cứu. Thí dụ, những vấn đề có liên quan đến thiết kế nghiên
cứu phải đƣợc thảo luận dƣới tiêu đề "thiết kế nghiên cứu" những vấn đề có liên
177
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
quan đến việc lấy mẫu phải đƣợc thảo luận dƣới tiêu đề "lấy mẫu", và về dụng cụ
nghiên cứu phải đƣợc thảo luận theo những tiêu đề tƣơng ứng. Thí dụ, những vấn
đề có liên quan đến thiết kế nghiên cứu phải đƣợc thảo luận dƣới tiêu đề "thiết kế
nghiên cứu", những vấn đề có liên quan đến việc lấy mẫu phải đƣợc thảo luận
dƣới tiêu đề "lấy mẫu" và về dụng cụ nghiên cứu phải đƣợc thảo luận dƣới tiêu đề
"thủ tục đo lƣờng".
Khi chấp nhận khuôn dạng này, điều đƣợc giả sử là ta đã quen thuộc với
phƣơng pháp luận nghiên cứu và lối viết học thuật. Điều này có nghĩa là ta phải
biết cách viết các mục tiêu nghiên cứu hoặc thiết lập một giả thuyết, phải quen với
các thiết kế nghiên cứu khác nhau, và có thể thiết lập một thiết bị nghiên cứu hoặc
dẫn các tham khảo.
Những trang tiếp theo sẽ phác thảo khuôn khổ cho đề xuất nghiên cứu. Nội
dung trong mỗi tiêu đề có thể khác nhau đáng kể theo ngành học và mức độ học
tập nghiên cứu của sinh viên ( BA, MA, PhD).
Mỗi phần trong đề cƣơng của đề xuất nghiên cứu đƣợc chia thành 2 phần.
1. Tiêu đề đề nghị cho phần đó và phác hoạ về nội dung tƣơng ứng.
2. Những minh hoạ cho nội dung cho phần đó. Ba thí dụ về các dự án
nghiên cứu ở mỗi ngành khác nhau sẽ đƣợc minh hoạ ở đây.
Phần giới thiệu
Đề xuất nên bắt đầu bằng phần giới thiệu một số thông tin đƣợc liệt kê bên
dƣới. Cần nhớ rằng vài nội dung đề nghị ở đây có thể không liên quan đến một số
nghiên cứu nào đó, vì vậy nên suy xét khi lựa chọn những gì phù hợp với nghiên
cứu đang triển khai. Khi viết phần này, việc tổng quan tài liệu ( xem chƣơng 3) là
cực kỳ quan trọng vì nó có 2 chức năng chính.
1. Giúp quen thuộc với các tài liệu có sẵn trong lĩnh vực nghiên cứu, do vậy
mở rộng đƣợc nền tảng kiến thức của ngƣời nghiên cứu.
178
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
2. Cung cấp những thông tin về các phƣơng pháp và thủ tục đã đƣợc dùng trong
những tình huống tƣơng tự và cho biết những phƣơng pháp và thủ tục gì đã
thành công và những gì không.
Kiểu, phạm vi, và chất lƣợng của phần tổng quan tài liệu phần lớn phụ thuộc
vào mức độ học thuật của bài nghiên cứu. Các nội dung của phần này cũng khác
nhau rất nhiều tuỳ theo lĩnh vực của chủ đề nghiên cứu.
Hãy bắt đầu bằng định hƣớng rất rộng của lĩnh vực chủ đề chính trƣớc khi
hội tụ dần vào vấn đề trung tâm. Để làm vậy, cần đề cập đến các khía cạnh sau
của lĩnh vực nghiên cứu:
Khái quát về lĩnh vực chính cần nghiên cứu
Chiều hƣớng lịch sử (sự phát triển, tăng trƣởng,...) có liên quan tới
lĩnh vực nghiên cứu;
Các vấn đề triết học hoặc tƣ tƣởng liên quan đến chủ đề;
Các xu hƣớng về tính phổ biến nếu thích hợp;
Các lý thuyết chính nếu có;
Các vấn đề, khó khăn và tiến triển chính trong lĩnh vực nghiên cứu;
Các khía cạnh thực tiễn và lý thuyết quan trọng có liên quan đến
vấn đề trung tâm;
Các kết quả chính có liên quan đến vấn đề cốt lõi.
Tiếp theo là ba thí dụ về phần giới thiệu cho đề xuất nghiên cứu.
Thí dụ A
Giả sử bạn đang tiến hành một cuộc nghiên cứu nhằm khảo sát tác động của
việc nhập cư vào gia đình. Lời giới thiệu nên miêu tả ngắn gọn như sau:
+ Nguồn gốc của các phong trào nhập cƣ trên thế giới.
+ Các lý thuyết chung đã có nhằm giải thích hành vi nhập cƣ
+ Các nguyên nhân nhập cƣ
+ Khuynh hƣớng nhập cƣ hiện nay (quốc gia và tiểu bang)
+ Tác đông của nhập cƣ vào các vai trò và mối quan hệ trong gia đình (thí
dụ: tác động vào chồng và vợ, con và cha mẹ,...)
+ Tính linh hoạt nghề nghiệp...
179
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
+...
Thí dụ B
Giả sử dự án nghiên cứu của bạn là phải tiến hành nghiên cứu thái độ của
người giữ trẻ về lương bổng. Phần giới thiệu bao gồm các nội dung sau:
+ Nguyên gốc của nhà trẻ, triết lý về chăm sóc trẻ, lịch sử dụng về việc chăm
sóc trẻ và những thay đổi trong những năm qua.
+ Lý do chăm sóc trẻ và những thay đổi trƣớc đây.
+ Tác động của việc chăm sóc trẻ vào trẻ con và phụ huynh.
+ Các chính sách về chăm sóc trẻ ( ở khu vực).
+ Nguồn gốc chăm sóc trẻ (ở khu vực) .
+ Thủ tục hành chính của việc chăm sóc trẻ ( ở khu vực).
+ Việc huấn luyện cô nuôi dạy trẻ (ở khu vực).
+...
Thí dụ C
Giả sử bạn tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa thành tựu giáo dục và
môi trường xã hội. Lời giới thiệu sẽ là:
+ Vai trò của giáo dục trong xã hội của chúng ta
+ Những thay đổi chính trong triết lý giáo dục theo thời gian
+ Các nhân tố ảnh hƣởng đến thái độ về giáo dục
+ Phát triển giáo dục trong nƣớc
+ Việc thay đổi các giá trị giáo dục.
+....
Bài toán
Sau khi đã đƣa ra phần giới thiệu bao quát đối với lĩnh vực nghiên cứu, bây
giờ hãy tập trung vào các vấn đề có liên quan đến luận đề chính của nó, nhận diện
các khoảng trống trong khối kiến thức hiện có về lĩnh vực đang xét. Hãy chỉ ra
một số câu hỏi chính chƣa đƣợc trả lời. Ở đây, có thể đặt ra một số câu hỏi nghiên
cứu lớn mà bài nghiên cứu có ý định sẽ giải đáp cũng nhƣ ở các cơ sở căn bản
cho các câu hỏi đó. Phần này cũng sẽ chứa các kiến thức từ các nghiên cứu khác
và những tài liệu về các vấn đề dự kiến khảo sát. Cụ thể, phần này nên gồm các
mục sau:
180
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Nhận diện các vấn đề cơ sở của nghiên cứu;
Chỉ rõ các khía cạnh khác nhau hoặc chiều hƣớng về những vấn đề đó;
Nhận ra các lỗ hổng chính trong khối kiến thức hiện có;
Đƣa ra một số câu hỏi nghiên cứu lớn cần đƣợc trả lời thông qua bài nghiên
cứu;
Nhận ra kiến thức có sẵn liên quan đến các câu hỏi nghiên cứu, chỉ rõ những
ý kiến khác nhau ở các tài liệu về những câu hỏi này nếu có;
Xây dựng cơ sở căn bản cho nghiên cứu với đề cập cụ thể bài nghiên cứu sẽ
giải quyết những lỗ hổng đã xác định nhƣ thế nào.
Những thí dụ sau phác thảo những chủ đề nên có trong phần nội dung dƣới
tiêu đề " các vấn đề gặp phải".
Thí dụ A
Sau khi nhập cƣ, một gia đình sẽ đi qua quá trình ổn định định cƣ gì?
Ngƣời nhập cƣ cần phải hiểu những gì?
Các loại thay đổi nào có thể xảy ra trong thái độ của các thành viên trong gia
đình?
Việc ổn định định cƣ có những tác động gì lên các vai trò và các mối quan hệ
trong gia đình?
Về mặt tác động, có những câu hỏi cụ thể nào cần đƣợc trả lời thông qua bài
nghiên cứu? Các tài liệu khác nói gì về những câu hỏi này? Các quan điểm
khác nhau về những vấn đề này? Những ý kiến riêng của ta về những câu hỏi
này là gì?
Tính thích ứng giữa các kết quả nghiên cứu của ta với khối kiến thức thực
hiện có cũng nhƣ với nghề nghiệp.
Các kết quả tìm ra sẽ đóng góp vào khối kiến thức hiện có nhƣ thé nào và đối
với các chuyên gia trong ngành
...
Thí dụ B
Những vấn đề chung, tranh cãi, quan điểm và phản bác về trả lƣơng cho
nuôi dạy trẻ là gì?
Thái độ của những ngƣời nuôi dạy trẻ về tổng số, chế độ và hình thức trả
lƣơng là gì và những tài liệu khác nói gì về những vấn đề này?
Những quan điểm, xu hƣớng khác nhau về việc trả lƣơng chăm sóc trẻ là gì?
181
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Nghiên cứu sẽ trả lời những câu hỏi chính nào?
Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ cho việc thiết lập chính sách và phát triển
chƣơng trình nuôi dạy trẻ nhƣ thế nào?
...
Thí dụ C
Những lý thuyết nào đã đƣợc triển khai để giải thích mối quan hệ giữa thành
tựu giáo dục và môi trƣờng xã hội?
Mối quan hệ giữa thành tựu giáo dục và môi trƣờng xã hội là gì: mô hình lý
thuyết nào sẽ là cơ sở của nghiên cứu?
Các lý thuyết và các nghiên cứu trƣớc đây nói gì về những thành phần của
mô hình lý thuyết và thành tựu giáo dục, thí dụ mối quan hệ giữa thành tựu
giáo dục và:
- Tự trọng và động cơ/ cảm hứng của sinh viên;
- Ảnh hƣởng của nhóm bạn;
- Sự chăm sóc của cha mẹ và quan hệ của nó với tình trạng kinh tế - xã hội;
- Động cơ, năng lực và hứng thú của sinh viên về giảng viên;
- Triển vọng công việc/ nghề nghiệp;
- -...
Các mục tiêu nghiên cứu
Phần này chứa cả các mục tiêu phụ và mục tiêu chính của nghiên cứu (xem
chƣơng 4). Mục tiêu chính chỉ ra điểm trung tâm của bài nghiên cứu trong khi có
mục tiêu phụ nhận diện những vấn đề cụ thể cần tiến hành khảo sát.
Mục tiêu của bài nghiên cứu cần đƣợc phát biểu một cách rõ ràng và cụ thể.
Mỗi mục tiêu phụ chỉ nên phác họa một vấn đề. Dùng các động từ chỉ hành động
nhƣ " xác định", "tìm ra", "xác minh" khi thiết lập các mục tiêu phụ và các mục tiêu
nên đƣợc đánh số thứ tự. Nếu mục tiêu là phải kiểm tra một giả thuyết thì cần phải
tuân theo cách thiết lập giả thuyết trong việc diễn đạt các mục tiêu cụ thể.
Thí dụ A
Mục tiêu chính: Xác định tác động của vịêc nhập cƣ vào gia đình
Các mục tiêu phụ
1. Xác định tác động của việc nhập cƣ lên các vai trò chồng/vợ
182
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
2. Tìm ra tác động của việc nhập cƣ lên các mối quan hệ hôn nhân.
3. Xác định những thay đổi về ƣớc vọng của cha mẹ về thành tựu học vấn và
thành tựu nghề nghiệp của con cái.
4. Xác định những thay đổi của thái độ về hôn nhân trong tập hợp nghiên cứu.
Thí dụ B
Mục tiêu chính: Xác định ý kiến của những nuôi dạy trẻ về hình thức và mức
lƣơng mà họ cảm thấy nên nhận khi chăm nom một đứa trẻ.
Các mục tiêu phụ:
1.Tìm ra mối quan hệ giữa lòng tự trọng và thành tựu học tập của sinh viên
ở trƣờng.
2. Xác định mối liên hệ giữa chăm sóc của cha mẹ vào việc học của sinh
viên và thành tựu học vấn tƣơng ứng.
3. Xác định mối liên hệ giữa một nhóm sinh viên đồng lứa và thành tựu học tập.
4. Khám phá mối quan hệ giữa thành tựu học tập và thái độ của sinh viên về
giáo viên.
Các giả thuyết cần đƣợc kiểm thử
Giả thuyết là phát biểu các giả định về sự phổ biến của mội hiện tƣợng hoặc
về mối quan hệ giữa hai biến cố có kế hoạch kiểm thử trong khuôn khổ bài nghiên
cứu ( xem chƣơng 6). Nếu dự định kiểm tra giả thuyết, hãy liệt kê chúng trong
phần này.
Khi đã thành lập giả thuyết, phải rút ra những kết luận về nó trong bài báo
cáo. Các giả thuyết có phong cách thành lập rất riêng biệt. Cần phải quen thuộc
cáh diễn đạt chính xác chúng. Trong bài nghiên cứu có thể có nhiều giải thuyết
cần kiểm thử. Tuy nhiên không bắt buộc trong bài nghiên cứu phải có giả thuyết
cần kiểm thử - có thể có một nghiên cứu hoàn toàn vừa ý mà không cần phải
thành lập một giả thuyết nào cả.
Thí dụ A
H1 = Ở hầu hết các trƣờng hợp sẽ có một thay đổi trong các vai trò chồng/ vợ
sau khi nhập cƣ.
H2 = Trong đa số các trƣờng hợp sẽ có một thay đổi trong mong đợi của các
bậc cha mẹ về con cái.
H1 = ...
Thí dụ B
H1 = Hầu hết ngƣời ta trở thành ngƣời nuôi dạy trẻ vì họ thƣơng yêu trẻ.
H2 = Phần lớn cha mẹ nuôi dạy trẻ muốn đƣợc huấn luyện để chăm sóc trẻ.
183
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
H1 = ...
Thí dụ C
H1 = Lòng tự trọng có tƣơng quan tích cực với thành tựu học tập ở trƣờng
của sinh viên.
H2 = Cha mẹ chăm sóc việc học của sinh viên càng nhiều thì thành tựu
học vấn tƣơng ứng càng cao.
H3 = Thái độ của sinh viên đối với giáo viên có tƣơng quan tích cự với
thành tựu học vấn tƣơng ứng.
H1 = ..
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả thiết kế nghiên cứu ( xem chi tiết ở chƣơng 7) có kế hoạch dùng đến
để trả lời các câu hỏi nghiên cứu ( Thí dụ: Đó là một thiết kê "Liên bộ phận",
"trước và sau", "thực nghiệm" hay "không thực nghiệm"). Nhận diện các ƣu
khuyết điểm của thiết kế nghiên cứu.
Nêu những chi tiết về các thủ tục hậu cần khác nhau đự định tuân theo khi
thực hiện thiết kế nghiên cứu. Một đặc điểm của thiết kế nghiên cứu tốt là nó giải
thích các chi tiết một cách rõ ràng để mọi ngƣời nếu đi theo cùng các thủ tục đề
nghị sẽ đạt đƣợc cùng một kết quả. Thiết kế nghiên cứu cần nêu lên các thông tin
sau:
Ai quyết định tập hợp nghiên cứu?
Mỗi phần từ của tập hợp nghiên cứu có thể đƣợc nhận diện không? Nếu có,
bằng cách nào?
Mẫu thử hoặc tập hợp nghiên cứu tổng thể có đƣợc nghiên cứu không?
Cách liên lạc với mẫu thử đã chọn?
Sự đồng ý của mẫu thử tham gia vào nghiên cứu thể hiện nhƣ thế nào?
Tƣ liệu đƣợc thu thập bằng cách nào ( thí dụ: bằng phỏng vấn, bằng câu hỏi
hay bằng cách quan sát?)
Trƣờng hợp bảng câu hỏi đƣợc gửi qua thƣ tín, kết quả đáp ứng đƣợc gửi đến
địa chỉ nào?
Có kế hoạch gửi thông báo nhắc nhở các ngƣời tham gia trả lời nghiên cứu?
Độ tin cậy đƣợc duy trì bằng cách nào?
Ngƣời trả lời có thể liên hệ bằng cách nào và ở đâu nếu họ có câu hỏi.
184
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Thí dụ A
Thiết kế nghiên cứu này về cơ bản đƣợc thiết kế nhằm tìm ra các ảnh hƣởng
nhận thức đƣợc của việc nhập cƣ lên vai trò của gia đình từ hỗn hợp các bộ phận
của những ngƣời nhập cƣ từ ........ và................ (tên của các quốc gia tƣơng ứng).
Tiến hành tiếp xúc với các hội dân tộc của các quốc gia đó để có đƣợc danh sách
các thành viên. Chọn ngẫu nhiên từ danh sách này 5 ngƣời và sẽ dùng điện thoại
liên lạc để giải thích mục tiêu và tính tƣơng hợp của nghiên cứu và tìm kiếm sự
đồng ý tham gia vào nghiên cứu. Những ngƣời đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ
đƣợc phỏng vấn ở nhà hay một nơi thuận tiện nào đó. Để tiếp theo có thể chọn
đƣợc mẫu thử với kích cỡ mong muốn, có thể dùng kỹ thụât lấy mẫu "trái banh
tuyết".
Thí dụ B.
Thiết kế nghiên cứu này về bản chất có tính liên bộ phận, đƣợc thiết kế nhằm
tìm ra các ý kiến của cha mẹ nuôi trẻ về vịêc trả lƣơng. Tất cả cha mẹ nuôi trẻ hiện
nay đƣợc đăng ký với Ban..... (tên của Văn phòng) sẽ hình thành nên tập hợp
nghiên cứu. Từ sổ sách hiện có của ban này, dƣờng nhƣ có 457 cha mẹ nuôi daỵ
trẻ ở vùng này... (tên của khu vực ). Do hạn chế về chi phí và thời gian, ngƣời
nghiên cứu không thể thu thập thông tin từ tất cả các cha mẹ nuôi trẻ này, nên các
nhà nghiên cứu sẽ chọn mẫu thử là 50% của tập hợp nghiên cứu với chiến lƣợc lấy
mẫu đƣợc đề nghị. Bảng câu hỏi, với thƣ hỗ trợ từ văn phòng của Ban đó, sẽ đƣợc
gửi kèm với bì thƣ trả lời có dán sẵn tem. Ngƣời trả lời đƣợc yêu cầu phải gửi trả
bảng câu hỏi vào trƣớc ngày..... (ngày tháng). Lá thƣ từ nghiên cứu viên đƣợc gộp
với bảng câu hỏi sẽ giải thích các mục tiêu và tính tƣơng thích của bài nghiên cứu,
bảo đảm tính mật cho ngƣời trả lời và cho họ khả năng không tham gia vào nghiên
cứu nếu họ không muốn. Số điện thoại liên lạc cũng đƣợc kèm theo trong trƣờng
185
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
hợp ngƣời trả lời có câu hỏi. Trong trƣờng hợp tỷ lệ trả lời thấp (dƣới 25%) thì phải
gửi nhắc nhở đến tập hợp những ngƣời trả lời.
Thí dụ C
Giả định rằng nghiên cứu sẽ đƣợc tiến hành ở 2 trƣờng trung học công lập ở
thành phố. Nghiên cứu viên sẽ liên lực với hiệu trƣởng của hai trƣờng này để
giải thích mục đích nghiên cứu, nhu cầu cần hỗ trợ của trƣờng cũng nhƣ cho phép
các học sinh tham gia vào nghiên cứu. Với những hạn chế về thời gian và ngùôn
lực, nên nghiên cứu viên sẽ không cần thảo luận với các trƣờng khác khi đã có 2
trƣờng đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
Giả sử chọn học sinh lớp 9 vì thành tích học tập của học sinh lớp 8 và lớp 10
có thể bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố rất riêng ở các khối lớp đó. Học sinh lớp 8 cảm
thấy lo lắng bởi vừa mới chuyển sang cấp lớp mới. Còn học sinh ở lớp 10 có thể
bị tác động do chúng đang ở giai đoạn phải quyết định sẽ tiếp tục việc học nữa
hay không.
Để kiểm soát đƣợc biến đổi do giới tính của học sinh gây ra, giả định chỉ
chọn học sinh nam.
Một khi hiệu trƣởng đồng ý cho phép thực hiện nghiên cứu, nghiên cứu viên
sẽ thông báo cho giáo viên đứng lớp về bài nghiên cứu và sắp xếp thời gian để
phân phát bảng câu hỏi.
Khi học sinh tập hợp lại và sẵn sàng tham gia vào nghiên cứu, nghiên cứu
viên phải giải thích mục tiêu và tính thích ứng của nghiên cứu và sau đó phát
bảng câu hỏi. Nghiên cứu viên vẫn phải ỏ trong lớp để trả lời bất kỳ câu hỏi nào
của học sinh.
Bối cảnh nghiên cứu
Mô tả ngắn gọn về tổ chức, cơ quan hay cộng đồng sẽ tiến hành thực hiện
nghiên cứu. Nếu nghiên cứu về một nhóm ngƣời thì phải nêu rõ một số đặc điểm
186
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
nổi trội của nhóm (chẳng hạn, lịch sử, kích cỡ, cấu trúc...) và phải chú ý đến bất
kỳ thông tin có liên quan sẵn có nào.
Nêu nghiên cứu liên đới đến một đại lý, văn phòng hay tổ chức nào đó thì trong
mô tả cần có các yếu tố sau:
Các dịch vụ chính mà đại lý, văn phòng hay tổ chức này cung cấp;
Cấu trúc hành chính của đơn vị đó;
Loại khách hàng đƣợc phục vụ; và
Thông tin về các vấn đề then chốt đối với nghiên cứu
Nếu đang nghiên cứu về một cộng đồng thì phải mô tả ngắn gọn một số đặc
điểm chính, chẳng hạn nhƣ:
Kích cỡ của cộng đồng
Tiểu sử xã hội ngắn gọn về cộng đồng; và
Các vấn đề có liên quan đến luận đề then chốt của nghiên cứu
Ở đây cần chú ý rằng do bản chất nội dung, rất khó đƣa ra đƣợc các thí dụ
tƣơng ứng.
Thủ tục đo lƣờng
Phần này nên có phần thảo luận về thiết bị nghiên cứu ( xem chƣơng 8 và 9)
và các chi tiết về vận hành hoá các biến số chính ( xem chƣơng 5).
Trƣớc tiên, phải thuyết minh cách chọn lựa dụng cụ nghiên cứu, nhấn mạnh
ƣu điểm và chỉ ra nhƣợc điểm tƣơng ứng. Sau đó phác thảo những bộ phận chính
của dụng cụ nghiên cứu và tính thích ứng của chúng đối với mục tiêu chính của
nghiên cứu. Nếu đang dùng dụng cụ chuẩn thì phải mô tả ngắn gọn bằng chứng
về độ tin cậy và tính xác thực của dụng cụ. Nếu có điều chỉnh hoặc sửa đổi dụng
cụ trong bất kỳ trƣờng hợp nào, cần mô tả và giải thích những thay đổi đã đƣợc
thực hiện.
Cũng nên đề cập đến vịêc vận hành các khái niệm chính nhƣ thế nào. Thí dụ,
nếu đo lƣờng tính hiệu dụng, phải chỉ rõ cách đo. Còn nếu muốn đo lƣờng lòng
tự trọng của một nhóm ngƣời, cần phải chỉ ra những chỉ số chính của tự trọng và
các thủ tục đo lƣờng nó ( thí dụ, thang đo Likert hay Thurstone, hoặc bất kỳ thủ
tục nào khác).
187
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Lý tƣởng nhất là nên gộp một bản mô tả thiết bị nghiên cứu vào bản đề xuất
nghiên cứu đang xét.
Ở đây cần chú ý rằng do bản chất nội dung, rất khó đƣa ra đƣợc các thí dụ
tƣơng ứng.
Lấy mẫu
Phần này gồm có các nội dung sau ( xem chƣơng 12 về việc lấy mẫu).
Kích cỡ của tập hợp lấy mẫu (nếu biết) và thông tin này sẽ đƣợc thu thập
bằng cách nào và từ đâu;
Kích cỡ của mẫu thử sẽ chọn và các lý do chọn cỡ đó ; và
Giải thích về thiết kế lấy mẫu định dùng trong việc chọn mẫu thử (lấy mẫu
ngẫu nhiên đơn giản, lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, lấy mẫu theo hạn
ngạch...)
Thí dụ A
Do thiếu thông tin về vị trí chính xác của các gia đình nhập cƣ, sẽ khó dùng
thiết kế lấy mẫu ngẫu nhiên nên đề nghị ở đây là dùng kỹ thụât lấy mẫu " trái
banh tuyết". Nghiên cứu viên sẽ tiếp xúc sơ bộ với 5 gia đình nhập cƣ từ ... (tên
của quốc gia) trong từ 7 đến 10 năm vừa qua từ thông tin của những ngƣời quen
biết hoặc từ các hiệp hội chính thức đại diện cho các nhóm nhập cƣ. Từ mỗi
ngƣời nhập cƣ, nghiên cứu viên sẽ tiếp tục nhận tên và địa chỉ của các ngƣời nhập
cƣ khác có cùng quốc gia trong cùng thời kỳ. Kế tiếp các ngƣời nhập cƣ đã xác
định sẽ đƣợc phỏng vấn và cung cấp cho nghiên cứu viên danh tánh cách ngƣời
nhập cƣ khác. Quá trình này sẽ tiếp tục cho đến khi nghiên cứu viên phỏng vấn
đƣợc 70 ngƣời nhập cƣ.
Thí dụ B
Do những hạn chế về thời gian và ngùôn lực nên chỉ đề nghị chọn 50% số
cha mẹ nuôi dạy trẻ hiện tại đã đăng ký ( 457) với cơ quan nhà nƣớc bằng cách
dùng phƣơng pháp lấy mẫu ngẫu nhiên có hệ thống. Do vậy, có 229 cá thể sẽ hình
thành nên mẫu thử cho bài nghiên cứu.
188
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Thí dụ C
Việc lựa chọn các trƣờng học đƣợc tiến hành chủ yếu thông qua việc lấy
mẫu theo hạn ngạch. Các trƣờng học sẽ đƣợc chọn trên cơ sở gần gũi về địa lý với
ngƣời nghiên cứu. Ngƣời nghiên cứu chuẩn bị một danh sách các trƣờng học sắp
thứ tự về tính gần gũi này. Một khi có 2 trƣờng đồng ý tham gia vào nghiên cứu
thì việc thảo luận với các trƣờng khác sẽ chấm dứt.
Tất cả các học sinh nam lớp 9 sẽ hình thành nên tập nghiên cứu. Mẫu thử
đƣợc mong đợi sẽ không quá 100 học sinh.
Phân tích dữ liệu
Nói chung, cần phải mô tả chiến lƣợc định dùng để phân tích dữ liệu
(Chƣơng 14). Chỉ rõ dữ liệu đó sẽ đƣợc phân tích bằng máy tính, xác định các
chƣơng trình máy tính và các thủ tục thống kê dự kiến sẽ thực hiện. Cũng phải
nhận diện các biến số chính vịêc liên kết các bảng.
Thí dụ A
Phân bố tần số theo:
Tuổi;
Học vấn;
Nghề nghiệp;
Số con;
Thời gian nhập cƣ;
...
Bảng liên kết:
Ảnh hƣởng của các vai trò của chồng/ vợ
Tuổi;
Số con;
Học vấn;
Nghề nghiệp
Vv,,,
189
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Thí dụ B
Phân bố tần số theo:
Tuổi;
Thu nhập;
Học vấn;
Nghề nghiệp;
Tình trạng hôn nhân;
Số trẻ gởi nhà trẻ;
....
Bảng liên kết:
Thái độ đối với vịêc trả lƣơng giữ trẻ,
Tuổi;
Số trẻ;
Học vấn;
Nghề nghiệp;
...
Các phép kiểm tra thống kê đƣợc áp dụng
Chi bình phƣơng;
Phân tích hồi quy;
Thí dụ C
Phân bố tần số theo;
Tuổi;
Nghề nghiệp của cha mẹ
Mức độ học vấn của cha mẹ;
Mơ ƣớc nghề nghiệp của sinh viên;
Quan tâm của cha mẹ với học tập của sinh viên;
Lòng tự trọng;
Ảnh hƣởng của nhóm bạn;
Số giờ học tập;
....
190
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Bảng liên kết
Thành tích học tập
Ảnh hƣởng của nhóm bạn;
Mơ ƣớc nghề nghiệp của sinh viên;
Quan tâm của cha mẹ với học tập của sinh viên;
Lòng tự trọng;
Thái độ đối với giáo viên;
....
Cấu trúc bản báo cáo
Phải trình bày càng rõ ràng càng tốt dự kiến tổ chức bản báo cáo cúôi cùng
ra sao (xem chƣơng 16). Khi tổ chức tài liệu để viết bản báo cáo, các mục tiêu cụ
thể của nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn. Lập kế hoạch nhằm triển khai các chƣơng
xoay quanh các ý chính của bài nghiên cứu. Nhan đề của mỗi chƣơng nêu nên rõ
ý chính của nội dung.Chƣơng đầu tiên, có thể đặt tên là "giới thiệu", nên là một
giới thiệu tổng quan về nghiên cứu, đề cập đến phần lớn đề xuất dự án và chỉ ra
các sai lệch, nếu có, so với bản kế hoạch gốc.
Chƣơng thứ hai nên đƣa ra một số thông tin về bản thân tập hợp nghiên cứu -
thí dụ một số đặc điểm xã hội – kinh tế - nhân khẩu. Mục tiêu chính của chƣơng
này là cho độc gỉa biết căn bản về tập hợp dùng thu thập thông tin. Vì vậy,
chƣơng thứ hai này có thể mang tên "Những đặc điểm xã hội – kinh tế - nhân
khẩu của tập hợp nghiên cứu" hoặc "tập hợp nghiên cứu" hoặc bất kỳ nhan đề
nào khác có thể truyền đạt ý chính này cho độc giả. Các nhan đề cho các chƣơng
còn lại sẽ khác nhau ở mỗi bài nghiên cứu, nhƣng nhƣ đã đƣợc đề cập, mỗi
chƣơng nên đƣợc viết xoay quanh một luận đề chính. Mặc dầu cách diễn đạt nhan
đề của mỗi chƣơng là lựa chọn cá nhân nhƣng mỗi nhan đề phải truyền đạt đƣợc ý
chính của chƣơng. Khi triển khai các luận đề chính này các mục tiêu cụ thể của
nghiên cứu cần đƣợc đeo bám.
191
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Thí dụ A
Giả sử bản báo cáo đƣợc chia thành ba chƣơng sau:
Chƣơng 1: Giới thiệu
Chƣơng 2: Các đặc điểm xã hội – kinh tế - nhân khẩu của tập hợp nghiên cứu
Chƣơng 3: Ảnh hƣởng lên các vai trò chồng/ vợ
Chƣơng 4: Ảnh hƣởng lên các mối quan hệ hôn nhân
Chƣơng 5: Ảnh hƣởng lên những kỳ vọng về con cái
Chƣơng 6: Ảnh hƣởng lên thái độ về hôn nhân.
Chƣơng 7: Tóm tắt, kết luận và đề nghị
Thí dụ B.
Luận văn đƣợc chia thành những chƣơng sau:
Chƣơng 1: Giới thiệu
Chƣơng 2: Tiểu sử sơ lƣợc về tập hợp nghiên cứu
Chƣơng 3: Nhận thức của ngƣời chăm sóc về vai trò của họ
Chƣơng 4: Thái độ của ngƣời chăm sóc trẻ về việc trả lƣơng
Chƣơng 5: Phƣơng pháp trả lƣơng đƣợc đề nghị
Chƣơng 6: Các khuyến cáo về việc chăm sóc trẻ của những ngƣời đƣợc
phỏng vấn
Chƣơng 7: Tóm tắt, kết luận và kiến nghị
Thí dụ C
Báo cáo có các chƣơng sau:
Chƣơng 1: Giới thiệu
Chƣơng 2: Tập hợp nghiên cứu
Chƣơng 3: Ƣớc mơ nghề nghiệp, lòng tự trọng và thành tích học tập
Chƣơng 4: Mức độ quan tâm của phụ huynh và thành tích học tập
Chƣơng 5: Tác động của nhóm bạn và thành tích học tập
Chƣơng 6: Thái độ của giáo viên và thành tích học tập
Chƣơng 7: Tóm tắt, kết luận và kiến nghị
192
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Các khó khăn và hạn chế
Phần này nên liệt kê các vấn đề dự kiến có thể gặp phải, chẳng hạn – tính hiệu
lực của dữ liệu, sự cho phép thực hiện nghiên cứu từ tổ chức/ cơ quan, lấy mẫu thử
hoặc bất kỳ khía cạnh nào khác của nghiên cứu.
Sẽ không thể có đƣợc các nguồn lực vô hạn và điều này có thể đã là một bài tập
trong trƣờng lớp, nên có thể là công việc thực hiện sẽ đƣợc ít hơn mong đợi. Tuy
vậy, cần phải nhận thức và thông đạt - mọi giới hạn có thể ảnh hƣởng đến tính xác
thực của các kết luận và tổng quát hoá.
Ở đây, các vấn đề tham chiếu đến những khó khăn về chi tiết hậu cần, trong khi
đó các giới hạn chỉ ra các vấn đề thuộc về kết cấu liên quan đến các khía cạnh thuộc
phƣơng pháp luận của nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu đã chọn có thể không phải
tốt nhất nhƣng phải chấp nhận nó vì một số lí do nào đó. Điều nay đƣợc xem là giới
hạn của nghiên cứu. Nó cũng xảy ra đối với các thủ tục đo lƣờng hoặc lấy mẫu.
Những giới hạn nhƣ thế nên đƣợc thông đạt đến cho độc giả.
Kế hoạch công việc
Phải thiết lập ngày tháng cho chính mình vì cần phải hoàn thành nghiên cứu
trong khoảng thời gian cố định nào đó. Liệt kê các bƣớc hoạt động khác nhau cần
tiến hành và chỉ ra thời điểm mong muốn kết thúc công việc cho mỗi bƣớc. Nhớ
dành một ít thời gian cho đoạn kết trong trƣờng hợp quá trình nghiên cứu không
diễn ra trôi chảy nhƣ dự định. Hãy xây dựng giản đồ nhƣ bảng 12.1.
Phần phụ lục
Trình bày công cụ nghiên cứu và danh sách các tài liệu tham khảo dƣới
dạng phụ lục. Trƣớc phần công cụ nghiên cứu là một danh sách các mục tiêu
nghiên cứu cụ thể, các câu hỏi nghiên cứu/ và hoặc các giả thuyết. Ứng với mỗi
câu hỏi, nhận diện các biến số cần thiết để có đƣợc các câu trả lời tƣơng ứng,
ngoài ra còn có số liệu của câu hỏ từ công cụ cung cấp thông tin đó. Điều này sẽ
193
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
đảm bảo cung cấp cho ngƣời hƣớng dẫn nghiên cứu về tính thích ứng của mỗi câu
hỏi trong công cụ nghiên cứu.
Tóm tắt chƣơng
Đề xuất nghiên cứu chi tiết hoá kế hoạch vận hành nhằm thu thập câu trả lời
cho các câu hỏi nghiên cứu. Nó cho ngƣời hƣớng dẫn và những ngƣời khác biết -
những gì dự kiến tiến hành, kế hoạch tiến hành nhƣ thế nào và tại sao chiến lƣợc
đã chọn đƣợc chấp nhận. Vì vậy, nó đảm bảo với ngƣời đọc về tính xác thực của
phƣơng pháp luận đƣợc dùng nhằm thu thập các câu trả lời một cách chính xác và
khách quan.
Các hƣớng dẫn trong chƣơng này chỉ cung cấp một khung cơ sở theo đó đề
xuất nghiên cứu nên đƣợc viết ra và giả sử rằng ta quen thuộc đủ tốt với phƣơng
pháp luận nghiên cứu và phong cách viết học thuật. Nội dung của đề xuất đƣợc
sắp xếp theo các tiêu đề sau; giới thiệu, các vấn đề gặp phải, mục tiêu nghiên cứu,
các giả thuyết sẽ kiểm thử, thiết kế nghiên cứu, bối cảnh nghiên cứu, thủ tục đo
lƣờng, lấy mẫu, phân tích dữ liệu, kết cấu của bản báo cáo cùng những khó khăn
và giới hạn.
"Giới thiệu" sẽ sơ phác lĩnh vực chính của nghiên cứu. Trƣớc tiên, phần tổng
quan tài liệu rất rộng và sau đó dần dần giới hạn vào vấn đề cụ thể đang đƣợc
khảo sát. Khung lý thuyết cơ sở là một bộ phận của phần này. Phần kế tiếp –
"Vấn đề gặp phải" – mô tả chi tiết vấn đề cụ thể của nghiên cứu. Các câu hỏi
nghiên cứu nhằm tìm ra câu trả lời đƣợc đƣa ra trong phần này. "Các mục tiêu
nghiên cứ" chứa đựng các mục tiêu chính và phụ. Giả thuyết, nếu có, nên đƣợc
liệt kê trong phần "Giả thuyết sẽ đƣợc kiểm thử". Các thủ tục hậu cần dự định
tuân theo đƣợc nêu rõ trong phần " Thiết kế nghiên cứu". Phần " Bối cảnh nghiên
cứu" miêu tả tổ chức hoặc cộng đồng nơi diễn ra nghiên cứu. Thủ tục thu thập
thông tin và các phép đo lƣờng các biến số chính đƣợc giải thích trong phần 'thủ
tục đo lƣờng". Cách chọn mẫu thử đƣợc diễn giải qua phần "Lấy mẫu". Thủ tục
phân tích dữ liệu đƣợc đề cập trong phần "Phân tích dữ liệu". Các vấn đề dự kiến
194
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
khi tiến hành nghiên cứu và những hạn chế trong thiết kế đƣợc trình bày trong
phần " Khó khăn và hạn chế". Cách thức cấu trúc bản báo cáo đƣợc phác thảo qua
phần " kết cấu của bản báo cáo". Mô tả về công cụ nghiên cứu hình thành nên phụ
lục của đề xuất nghiên cứu.
Bảng 12.1. Xây dựng khung thời gian cho bài nghiên cứu
Đƣợc hoàn thành trƣớc (tuần hoặc tháng)
Nhiệm vụ (bất kỳ
nhiệm vụ nào coi là 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15
quan trọng)
Viết đề xuất
Thiết lập công cụ
Thu thập dữ liệu
Mã hoá
Phân tích dữ liệu
Báo cáo đầu tiên
Báo cáo - cuối cùng
Đánh máy
B-íc 6
Thu thËp d÷ liÖu
Chương 13: Xem xét các vấn đề đạo đức trong thu thập dữ liệu
13.XEM XÉT VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG THU THẬP DỮ LIỆU
Đạo đức
Các bên liên đới trong nghiên cứu
Vấn đề đạo đức liên quan đến những người tham gia nghiên cứu
Thu thập thông tin
Tìm kiếm sự đồng ý
Tưởng thưởng
Tìm kiếm thông tin nhạy cảm
Khả năng gây hại cho người tham gia
Bảo mật
195
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Vấn đề đạo đức liên quan đến người nghiên cứu
Tránh thiên lệch
Đưa ra hoặc rút bỏ can thiệp
Sử dụng phương pháp luận nghiên cứu thích hợp
Báo cáo chính xác
Sử dụng thông tin
Vấn đề đạo đức đối với đơn vị tài trợ
Sử dụng thông tin
Tóm tắt chung
Đạo đức
Tất cả các ngành nghề đều đƣợc hƣớng dẫn bởi bộ qui tắc đạo đức tiến hoá
qua nhiều năm để dung nạp các đặc tính, giá trị, nhu cầu và mong đợi luôn thay
đổi của những ngƣời hành nghề đó. Một số ngành nghề tiến bộ hơn các ngành
nghề khác về mức độ phát triển các quy tắc đạo đức. Một số ngành có những
hƣớng dẫn rất nghiêm ngặt, giám sát hành vi rất hiệu dụng và thực hiện các bƣớc
thích hợp trừng trị những ngƣời không tuân thủ theo đúng các hƣớng dẫn.
Hầu hết các ngành nghề đều có các quy tắc hanh kiểm chung điều khiển
cách thức tiến hành nghiên cứu. Thêm vào đó, nhiều tổ chức nghiên cứu có hẳn
các bộ quy tắc đạo đức cho việc nghiên cứu. Y khoa, bệnh dịch học, kinh doanh
luật, giáo dục, tâm lý, và các môn khoa học xã hội khác đều có các quy tắc đạo
đức hoàn chỉnh về công việc nghiên cứu.
Trƣớc tiên hãy xem xét "đạo đức" hay "hành vi đạo đức" là những gì. Theo
tự điển Collins ( 1979) đạo đức nghĩa là "phù hợp với các nguyên tắc hạnh kiểm
đƣợc xem là đúng, đặc biệt là những nguyên tắc về một ngành nghề hay một
nhóm ngƣời nào đó". Những từ cốt lõi ở đây – " nguyên tắc hạnh kiểm" và "đƣợc
xem là đúng" – đã đặt ra các câu hỏi sau.
Các nguyên tắc hạnh kiểm này là gì?
196
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Ai xác định chúng?
Các nguyên tắc này đƣợc xem là đúng theo phán xét của ai?
Các câu hỏi có liên quan mật thiết là:
Các nguyên tắc hạnh kiểm chung này có thể đƣợc áp dụng cho tất cả các
ngành nghề hay không?
Chúng có thay đổi theo thời gian không? Và có nên thay đổi không?
Điều gì xảy ra khi một ngành nghề nào đó không hành động theo các nguyên
tắc này.
Chủ đề về đạo đức cần phải xem xét qua những câu hỏi này.
Cách thức mỗi ngành nghề phục vụ xã hội thay đổi liên tục theo nhu cầu và
ky vọng của xã hội và theo công nghệ cung ứng dịch vụ. Qui tắc đạo đức điều
hành cách phân phối dịch vụ cũng cần phải thay đổi. Những gì đƣợc xem là đạo
đức trong quá khứ có thể không có tính đạo đức trong hiện tại, và những gì hiện
nay đƣợc xem là đạo đức có thể cũng không duy trì tính chất đó trong tƣơng lai.
Mọi phán xét về tính đạo đức của một trƣờng hợp cụ thể nào đó đƣợc làm trên cơ
sở bộ quy tắc đạo đức thịnh hành ở thời điểm tƣơng ứng.
Vì dịch vụ và cung cách phân phối dịch vụ khác nhau ở mỗi ngành nghề, nên
không có quy tắc đạo đức nào có thể đƣợc ứng dụng chung cho mọi ngành nghề.
Mỗi nghề có quy tắc đạo đức riêng mặc dù cũng có những điểm chung. Nếu muốn
có những chỉ dẫn về đạo đức cho một ngành nghề cụ thể, cần tham vấn bộ quy
tắc đạo đức đƣợc ngành nghề đó thừa nhận.
Câu hỏi "các quy tắc đạo đức đó là gì" – là câu hỏi quan trọng vì nó giải
quyết vấn đề nội dung của hành vi đạo đức ở một ngành nghề. Vì bộ quy tắc đạo
đức ở mỗi ngành nghề khác nhau nên không thể đƣa ra câu trả lời chung cho câu
hỏi này. Tuy vậy, trong nghiên cứu, bất kỳ song đề nào xuất phát từ tình trạng khó
xử mang tính đạo đức chính là nền tảng của ứng xử đạo đức. Có một số hành vi
nhất định trong nhiên cứu - chẳng hạn – gây hại cho ngƣời khác, đánh mất niềm
tin, sử dụng thông tin thiếu chính xác và có thái độ thiên lệch - đƣợc xem là vô
đạo đức ở bất kỳ ngành nghề nào.
197
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Câu hỏi kế tiếp là – qui tắc đạo đức đƣợc xem là chính xác theo phán xét
của ai? Ai quyết định một thực tiễn cụ thể nào đó là sai? nếu thủ tục đƣợc thực
hiện sai thì nên bị hình phát gì? Cơ quan của các chuyên gia hay các tổ chức
chính phủ sẽ phát triển bộ quy tắc hành xử và đƣa ra phán quyết tƣơng ứng?
Nhƣ đã đƣợc đề cập đến, hầu hết các ngành nghề đều đã xây dựng bộ quy
tắc đạo đức tổng thể và bộ quy tắc cho việc tiến hành nghiên cứu trong các lĩnh
vực tƣơng ứng. Vì cúôn sách này đƣợc biên doạn cho những ngƣời nghiên cứu
về các môn khoa học xã hội nên ở đây sẽ khảo sát chung các vấn đề đạo đức và
vấn đề phù hợp với phần lớn các ngành khoa học xã hội.
Các bên liên đới trong nghiên cứu
Có nhiều bên liên đới đến hoạt động nghiên cứu, do đó cần phải xem xét các
vấn đề đạo đức có liên quan đến mỗi chủ thể đó.
Các bên có quyền lợi tƣơng ứng là:
1. Ngƣời tham gia hoặc chủ thể;
2. Ngƣời nghiên cứu; và
3. Cơ quan tài trợ
Ngƣời tham gia hoặc chủ thể đƣợc xem là có quyền lợi tuỳ thuộc vào
ngành nghề. Trong các lĩnh vực dƣợc phẩm, y tế, bệnh dịch học, đó chính là các
bệnh nhân và những ngƣời không phải là bệnh nhân nhƣng là một bộ phận của –
nghiên cứu, thực hành thu thập thông tin, thí nghiệm hoặc thử nghiệm thuốc - và
các nhà quản lý và hoạch định dịch vụ đóng góp thông tin cho nghiên cứu.
Trong các ngành khoa học xã hội, ngƣời tham gia hoặc chủ thể bao gồm các
cá thể, nhóm và cộng đồng cung cấp thông tin nhằm giúp đỡ ngƣời nghiên cứu
hiểu đƣợc hiện tƣợng, tình huống, vấn đề hoặc tƣơng tác nào đó. Trong công việc
và tâm lý xã hội, ngƣời tham gia bao gồm các khách hàng cũng nhƣ những ngƣời
không phải là khách hàng – nơi thu thập thông tin nhằm tìm ra phạm vi của vấn
đề, nhu cầu của cộng đồng hay tính hiệu dụng của một can thiệp – và các nhà
cung cấp dịch vụ, các nhà hoạt động xã hội và tâm lý học khi họ cung cấp thông
198
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
tin cho nghiên cứu. Trong lĩnh vực kinh doanh, ngƣời tiêu thụ cũng nhƣ những
ngƣời không tiêu thụ sản phẩm – có tham gia cung cấp thông tin về hành vi và
thái độ tiêu cùng. Các nhà quản lý tham gia vào họat động nghiên cứu xem xét
những khía cạnh quản lý khác nhau. Trong lĩnh vực giáo dục, chủ thể bao gồm
sinh viên, giáo viên và có thể cả cộng đồng chung tham gia vào các hoạt động
nghiên cứu giáo dục.
Tƣơng tự, trong bất kỳ lĩnh vực nào diễn ra hoạt động nghiên cứu, những cá
nhân nào cung cấp thông tin và/ hay những cá nhân bị khảo sát bởi nghiên cứu
viên đều trở thành những ngƣời tham gia và/ hay chủ thể của nghiên cứu.
Nhà nghiên cứu là bên thứ hai có quyền lợi trong nghiên cứu. Bất kỳ cá
nhân nào thu thập thông tin vì một mục tiêu cụ thể tuân thủ theo quy tắc đạo đức
đã đƣợc chấp thuận đều là nhà nghiên cứu.
Cơ quan tài trợ hoạt động nghiên cứu là bên thứ ba liên đới đến nghiên cứu.
Hâù hết nghiên cứu đƣợc thực hiện bằng quĩ tài trợ của tổ chức kinh doanh, các
cơ sở dịch vụ - của chính phủ, bán công hoặc tự nguyện – các cơ quan nghiên cứu
và/ hoặc làm các viện hàn lâm. Quĩ tài trợ đƣợc dùng cho các mục tiêu cụ thể. Cơ
quan tài trợ sẽ quan tâm đến nghiên cứu mà nó tài trợ, và điều này có thể ảnh
hƣởng đến cách thức tiến hành nghiên cứu hoặc cách viết báo cáo.
Mỗi bên liên đới đến hoạt động nghiên cứu có thể có lợi ích, cách nhìn, mục
đích và động cơ khác nhau có thể gây ảnh hƣởng lên cách thực hiện nghiên cứu
và cách thức truyền đạt và sử dụng kết quả của nghiên cứu. Vì vậy, cần đảm bảo
rằng nghiên cứu không bị ảnh hƣởng bởi lợi ích riêng tƣ của bên nào và cách
thức tiến hành cũng không gây hại cho bất kỳ bên nào. Tƣơng ứng, ứng xử đạo
đức trong nghiên cứu liên đới đến những vấn đề có liên quan đến những bên khác
nhau cần đƣợc xem xét riêng biệt.
Vấn đề đạo đức liên quan đến những ngƣời tham gia nghiên cứu.
Thu thập thông tin
199
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Ngƣời ta có thể hỏi - tại sao ngƣời đƣợc phỏng vấn cung cấp mọi thông tin
cho ngƣời nghiên cứu? Ngƣời nghiên cứu có quyền gì mà gõ cửa, gửi bảng câu
hỏi đến một ngƣời nào đó? Có tính đạo đức không khi quấy rầy một ai đó dù đã
xin phép trƣớc khi đặt câu hỏi? Tại sao một ngƣời lại dành thời gian cho nghiên
cứu viên. Yêu cầu thông tin của ngƣời nghiên cứu có thể gây ra hoang mang
hoặc áp lực cho ngƣời trả lời - điều này là đạo đức chăng.
Những câu hỏi trên thể hiện một thái độ chân thật. Điều đƣợc tin tƣởng ở đây
là - nếu thái độ này đƣợc chấp nhận thì sẽ không có tiến độ nào trên thế giới. Nghiên
cứu là cần thiết để cải thiện điều kiện/ hoàn cảnh của thế giới. Vì bất kỳ nghiên cứu
nào cũng có khả năng phục vụ xã hội trực tiếp hay gián tiếp nên nếu trƣớc tiên có
đƣợc sự đồng ý của ngƣời trả lời thì hoàn toàn có thể đặt câu hỏi. Trƣớc khi bắt đầu
thu thập thông tin, cần xem xét tính tƣơng ứng và tính hữu ích của nghiên cứu đang
đƣợc tiến hành và cũng cần có để thuyết phục những ngƣời khác về điều này. Nếu
không thể giải trình đƣợc tính thích ứng của nghiên cứu, thời gian của ngƣời trả lời
sẽ bị tiêu phí và đó là điều vô đạo đức.
Tìm kiếm sự đồng ý
Trong mọi ngành nghề, thu thập thông tin – mà không có kiến thức của
những ngƣời tham gia, sự hăng hái và đồng ý của họ thể hiện một cách tƣờng
minh - đƣợc xem là vô đạo đức. Tìm kiếm sự đồng ý báo trƣớc "có lẽ là phƣơng
pháp phổ biến nhất trong nghiên cứu xã hội và y tế" ( Bailey – 1978). " Đồng ý
báo trƣớc" ngụ ý rằng các chủ thể phải hiểu rõ đƣợc loại thông tin cần từ họ, tại
sao thông tin đƣợc tìm kiếm, phục vụ cho mục tiêu gì, hình thức tham gia vào
nghiên cứu nhƣ thế nào. Thái độ đồng ý của ngƣời trả lời phải là tự nguyện,
không chịu bất kỳ áp lực nào.
Tƣởng thƣởng
Vịêc tƣởng thƣởng cho ngƣời trả lời chia sẻ thông tin với nghiên cứu viên là
hành xử có đạo đức? Một số ngƣời nghiên cứu tƣởng thƣởng cho ngƣời tham gia
cho rằng điều này hoàn toàn đúng vì những ngƣời tham dự đã dành thời gian cho
200
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
mình. Nhƣng những ngƣời khác lại cho rằng vịêc động viên nhƣ thế là ứng xử vô
đạo đức.
Theo kinh nghiệm của tác giả, hầu hết mọi ngƣời tham gia vào nghiên cứu
không phải do tƣởng thƣởng mà là họ nhận thức đƣợc tầm quan trọng của nghiên
cứu. Do vậy tặng món quà nhỏ sau khi thu thập thông tin có thể xem là một biểu
hiện của sự cảm kích; không phải là ứng xử phi đạo đức.
Tìm kiếm thông tin nhạy cảm
Thông tin đang tìm kiếm có thể gây ra tình trạng khó xử về mặt đạo đức
trong nghiên cứu. Một số ngƣời có thể cho rằng một số loại thông tin nào đó là
nhạy cảm hoặc có tính mật, do vậy xâm phạm đến tính riêng tƣ của ngƣời khác.
Yêu cầu loại thông tin này có thể làm cho ngƣời trả lời hoang mang hoặc lúng
túng. Tuy nhiên, nếu không hỏi những thông tin này, có lẽ không thể tiếp tục mối
quan tâm trong lĩnh vực đang nghiến cứu và không thể đóng góp vào khối kiến
thức hiện có.
Đối với đa số, các câu hỏi về tình dục, sử dụng thuốc và trộm cắp là có tính
xúc phạm. Thậm chí một số ngƣời còn cho rằng những câu hỏi về tình trạng hôn
nhân, thu thập và tuổi tác là sự xâm phạm vào đời sống riêng tƣ. Khi thu thập dữ
liệu cần thận trọng về tính nhạy cảm của những ngƣời trả lời.
Tình thế khó xử ở đây là có nên hỏi những câu hỏi nhạy cảm và có tính xúc
phạm không. Theo tác giả, hỏi những câu nhƣ thế không phải là phi đạo đức miễn
là phải báo trƣớc cho ngƣời trả lời về loại thông tin sẽ đƣợc hỏi một cách rõ ràng
và thẳng thắn, và cho ngƣời trả lời đủ thời gian để quyết định có muốn tham gia
nghiên cứu hay không mà không cần phải khuyến khích gì lớn lao cả.
Khả năng gây hại cho ngƣời tham gia
Nghiên cứu có gây hại cho ngƣời tham gia dƣới bất kỳ dạng thức nào không?
Theo Bailey ( 1976) - tổn hại bao gồm " không chỉ các cuộc thí nghiệm y khoa
nguy hiểm mà còn bất kỳ nghiên cứu xã hội nào liên quan đến những điểm nhƣ
201
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
khó chịu, lo âu, quấy rầy, xâm phạm riêng tƣ hay thủ tục không đẹp". Khi thu
thập thông tin từ ngƣời trả lời hoặc lôi kéo chủ thể vào một thí nghiệm, cần xem
xét cẩn thận sự liên đới của họ có khả năng gây hại cho họ ở bất kỳ phƣơng diện
nào không. Nếu có, phải đảm bảo rằng rủi to ở mức thấp nhất. Rủi ro thấp nhất có
nghĩa là mức độ tổn hại hay không mong muốn trong nghiên cứu không lớn hơn
mức độ thông thƣờng trong đời sống hàng ngày. Nếu cách tìm kiếm thông tin gây
ra sự lo âu hay phiền toái cần có các biện pháp ngăn chặn.
Bảo mật
Chia sẻ thông tin của ngƣời trả lời với những ngƣời khác ngoài mục đích
nghiên cứu là hành xử phi đạo đức. Đôi khi cần nhận diện tập hợp nghiên cứu để
đƣa các kết quả nghiên cứu vào bối cảnh phù hợp. Trong tình huống nhƣ thế, phải
đảm bảo tối thiểu là danh tánh của ngƣời trả lời đƣợc bảo mật. Chỉ ra tên tuổi của
ngƣời trả lời là phi đạo đức. Do vậy, sau khi thu thập thông tin, nguồn gốc thông
tin phải đƣợc giữ kín. Nếu thực hiện nghiên cứu cho một số ngƣời khác, phải đảm
bảo rằng bên liên đới đó cũng phải mật tƣơng ứng.
Vấn đề đạo đức liên quan đến ngƣời nghiên cứu
Tránh thiên lệch
Thành kiến của ngƣời nghiên cứu là phi đạo đức. Thiên lệch khác với thái độ
chủ quan. Nhƣ đã đề cập, chủ quan liên quan đến căn bản học vấn, rèn luyện và
năng lực nghiên cứu cũng nhƣ xu hƣớng triết học. Còn thiên lệch là nỗ lực có chủ
tâm nhằm che giấu những gì tìm thấy trong nghiên cứu hoặc tập trung vào điều gì
đó không cân xứng với thực tế của nó.
Đƣa ra hay rút bỏ sự can thiệp
Đƣa ra hay rút bỏ sự can thiệp có thể gây ra song đề về đạo đức cho nghiên
cứu viên. Khi kiểm thử một can thiệp, nghiên cứu viên thƣờng chọn thiết kế thực
nghiệm kiểm soát. Trong những nghiên cứu đó, đƣa ra sự can thiệp cho tập hợp
nghiên cứu mà chƣa đƣợc chứng minh là có lọi hay hiệu dụng thì có phải là đạo
đức hay không? Nhƣng nếu không kiểm thì thử sự can thiệp, làm thế nào có thể
202
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
chứng minh hay phủ định lợi ích hay hiệu dụng của nó? Mặt khác, sự can thiệp
đƣa ra đó có thể không hiệu dụng - điều này có đạo đức không? Nếu loại bỏ nhóm
kiểm soát can thiệp ngay cả nhƣ nó đƣợc chứng minh là đơn vị duy nhất có hiệu
dụng đôi chút thì có tính đạo đức không? Và nếu loại bỏ những ngƣời đang đấu
tranh cho cuộc sống vì những lợi ích dẫu là rất nhỏ bé - từ các thí nghiệm sử
dụng thuốc - có tính đạo đức không?
Nghiên cứu viên cần nhận thức tất cả các vấn đề đạo đức này. Sẽ không có
các câu trả lời dễ dàng đối với các vấn đề này. Đảm bảo sự đồng ý báo trƣớc, rủi
ro tối thiểu và thảo luận thành thật về sự tham gia nghiên cứu là các yếu tố góp
phần giải quyết các vấn đề này.
Sử dụng phƣơng pháp luận nghiên cứu thích hợp.
Ngƣời nghiên cứu buộc phải dùng phƣơng pháp luận thích hợp khi tiến hành
nghiên cứu. Sử dụng phƣơng pháp họăc cách thức biết là không thích hợp ( thí dụ
- chọn mẫu thử có tính thiên lệch, dùng công cụ không xác thực hoặc rút ra kết
luận sai phi đạo đức.
Báo cáo chính xác
Đã dùng phƣơng pháp luận thích hợp cho những báo cáo kết quả khác đi
hoặc bóp méo nhằm phục vụ cho lợi ích của mình hay ngƣời khác là ứng xử phi
đạo đức.
Sử dụng thông tin
Thông tin thu thập từ ngƣời trả lời đƣợc ngƣời nghiên cứu sử dụng nhƣ thế
nào? Cách sử dụng thông tin gây ảnh hƣởng ngƣợc dù trực tiếp hay gián tiếp nên
ngƣời trả lời cũng là phi đạo đức. Thông tin đem dùng có gây tác động ngƣợc đến
tập hợp nghiên cứu? Nếu vậy, tập hợp nghiên cứu cần đƣợc bảo vệ ra sao? Ngƣời
nghiên cứu cần xem xét và giải quyết những vấn đề này. Đôi khi có thể gây tổn
hại cho các cá nhân trong quá trình tìm kiếm kết quả cho tổ chức. Một thí dụ là
xem xét tính khả thi của việc sắp xếp lại tổ chức. Tái cấu trúc tổ chức có thể có lợi
cho tổ chức nói chung nhƣng có thể có hại cho một số cá nhân. Có nên yêu cầu
ngƣời trả lời những thông tin có thể dùng để chống lại họ không? Nếu có, thông
tin có thể đƣợc dùng để chống lại ngƣời trả lời và nếu không, tổ chức này không
thể tìm ra lợi ích của việc tái cấu trúc. Theo tác giả, đặt câu hỏi là có tính đạo đức
203
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
miễn là phải cho ngƣời trả lời biết cách thức sử dụng thông tin, kể cả khả năng
thông tin đó có thể đƣợc dùng chống lại họ và hãy để họ quyết định có muốn
tham gia vào nghiên cứu hay không.
Các vấn đề đạo đức liên quan đến đơn vị tài trợ
Những hạn chế do đơn vị tài trợ đặt ra.
Hầu hết nghiên cứu về các ngành khoa học xã hội đƣợc tiến hành dựa vào quỹ
của các đơn vị tài trợ vì một mục tiêu cụ thể. Quỹ có thể đƣợc tài trợ để phát triển
một chƣơng trình hoặc đánh giá chƣơng trình; để khảo sát tính hiệu quả và hiệu
dụng của nó, để nghiên cứu tác động của một chính sách; để thử nghiệm một sản
phẩm; để nghiên cứu cách hành xử của một nhóm hay cộng đồng; hoặc để nghiên
cứu một hiện tƣợng, một vấn đề hay một thái độ. Đôi khi có những kiểm soát trực
tiếp hay gián tiếp do các đơn vị tài trợ thực hiện. Họ có thể chọn lựa phƣơng pháp
luận, cấm xuất bản "kết quả tìm thấy" hoặc áp đặt những hạn chế khác trong nghiên
cứu có thể ảnh hƣởng đến việc thu nhận và phân phát thông tin chính xác. Cả việc áp
đặt và chấp nhận những giám sát và hạn chế này đều là phi đạo đức vì chúng tạo nên
xung đột và có thể làm cho đơn vị tài trợ điều chỉnh, kết quả nghiên cứu nhằm đáp
ứng những lợi ích mong muốn.
Sử dụng thông tin
Đơn vị tài trợ sẽ sử dụng thông tin này nhƣ thế nào? Điều này có thể ảnh
hƣởng nhƣ thế nào đến tập hợp nghiên cứu? Đôi khi các đơn vị tài trợ dùng
nghiên cứu nhƣ là bƣớc thâm nhập nhằm thu hút sự chú ý của nhà quản lý. Sẽ là
phi đạo đức khi đề bài nghiên cứu đƣợc dùng làm lý do bào chữa cho các quyết
định của nhà quản lý.
Tóm tắt chƣơng
Chƣơng này nhằm giúp nhận thức những vấn đề đạo đức liên đới khi tiến
hành họat động nghiên cứu. Giải quyết vấn đề này nhƣ thế nào phụ thuộc vào
nghiên cứu viên cũng nhƣ môi trƣờng của nghiên cứu.
Có đạo đức nghĩa là tuân theo bộ quy tắc vốn đƣợc tiến hóa qua nhiều năm
của một nghề nghiệp nào đó. Đối với hầu hết các chuyên ngành, các quy tắc đạo
204
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
đức trong nghiên cứu là một phần không thể tách rời của đạo đức nói chung mặc
dù một số tổ chức nghiên cứu xây dựng riêng các quy tắc đạo đức.
Các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu có thể đƣợc xem xét từ góc độ của
những ngƣời tham dự, các nhà nghiên cứu và các tổ chức tài trợ. Đối với các
ngƣời tham dự, vấn đề đạo đức liên quan đến thu thập thông tin; tìm kiếm sự
đồng thuận; tƣởng thƣởng; tìm những thông tin nhạy cảm, khả năng gây hại cho
ngƣời tham gia và duy trì tính bảo mật. Còn đối với nhà nghiên cứu, các khía cạnh
đạo đức bao gồm – thiên lệch, đƣa ra hay xoá bỏ sự can thiệp; sử dụng phƣơng
pháp luận nghiên cứu không thích hợp, báo cáo không chính xác và việc dùng
thông tin. Còn đối với tổ chức tài trợ, các vấn đề đạo đức là các kết quả nghiên
cứu.
B-íc 7
Xử lý dữ liệu
Chương 14. Xử lý dữ liệu
Chương 15. Trình bày dữ liệu
14.Xử lý dữ liệu
Hiệu chỉnh dữ liệu
Mã hoá dữ liệu
Xây dựng sách mã
Tiền kiểm thử sách mã
Mã hoá dữ liệu
Kiểm chứng dữ liệu
Triển khai khung phân tích
Phân bổ tần số
Bảng đối chiếu chéo
Thiết lập các khái niệm chính
Các thủ tịc thống kê
Phân tích dữ liệu
Vai trò của máy tính trong nghiên cứu
Vai trò thống kê trong nghiên cứu
205
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Tóm tắt chương
Nếu đã từng tiến hành nghiên cứu, có lẽ ta đã biết thu thập hay trích xuất các
thông tin cần thiết. Bƣớc kế tiếp là cần làm gì với thông tin này. Làm thế nào tìm
ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu? Làm thế nào để chứng minh hay phủ
định giả thiết nếu có? Làm thế nào để đánh giá ý nghĩa của thông tin thu thập
đƣợc? Thông tin nên đƣợc phân tích ra sao để đạt đƣợc mục tiêu của nghiên cứu?
Để trả lời những câu hỏi này, cần đi theo dãy các bƣớc sau đóng vai trò trung
tâm của việc xử lý dữ liệu ( hình 14.1).
Bất cập phƣơng pháp thu thập dữ liệu, thông tin thu thập đƣợc đều đƣợc gọi
là dữ liệu thô hay đơn giản là dữ liệu. Bƣớc đầu tiên của xử lý dữ liệu là đảm bảo
dữ liệu sạch, tức là không mâu thuẫn và có tính đầy đủ. Quá trình "làm sạch" này
đƣợc gọi là hiệu chỉnh.
Hiệu chỉnh dữ liệu
Hiệu chỉnh bao gồm việc xem xét tỉ mỉ các công cụ nghiên cứu để nhận diện
và giảm thiểu càng nhiều càng tố các lỗi, tihếu sót, phân loại sai hay thiếu hụt
trong thông tin thu thập từ ngƣời đƣợc phỏng vấn. Thậm chí đôi khi những ngƣời
điều tra giỏi nhất cũng có thể.
Quên đặt một câu hỏi nào đó
Quên ghi lại câu trả lời
Phân loại sai câu trả lời
Chỉ viết vè một nửa câu trả lời
Viết sai
Trong trƣờng họp dùng bảng câu hỏi, những vấn đề tƣơng tự cũng có thể xảy
ra. Những vấn đề này có thể hạn chế đƣợc đƣon giản bằng cách.
Kiểm tra tính đầy đủ của nội dung; và
Kiểm tra tính chất của câu trả lời
Hình 14.1 Các bước xử lý dữ liệu
206
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Các bƣớc xử lý dữ liệu
Dữ liệu thô Hiệu chỉnh Mã hoá Phân tích
Phát triển sách mã Phát triển khung
Phỏng vấn phân tích
bằng câu
hỏi quan Tiền kiểm thử
Phân tích
sát các sách mã
nguồn thử
cấp Mã hoá dữ liệu
Máy tính Sổ tay
Kiểm chứng dữ
liệu mã hoá
Cách kiểm tra tính đầy đủ của nội dung phụ thuộc vào cách thu thập dữ
liệu. Trong trƣờng hợp phỏng vấn, chỉ kiểm tra kế hoạch phỏng vấn về các vấn đề
trên cũng có thể cải thiện chất lƣợng dữ liệu. Khi tiến hành phỏng vấn, ngƣời
phỏng vấn nên dành ít thời gian vào việc kiểm tra tính nhất quán vào tính đầy đủ
của các câu trả lời. Tƣơng tự cong trƣờng hợp dùng câu hỏi, bằng cách kiểm tra
cẩn thận các câu trả lời, một số vấn đề trên cũng đƣợc giảm thiểu. Có vài cách
giảm thiểu những vấn đề đó.
Bằng cách suy diễn: Một số câu hỏi trong công cụ nghiên cứu có thể liên
quan với nhau và có thể tìm ra câu trả lời cho một câu hỏi từ những câu trả lời cho
các câu hỏi khác. Đƣơng nhiên là phải thận trọng khi suy diễn nếu không có thể
đem đến những lỗi mới cho dữ liệu.
Bằng cách hồi tưởng: Nếu dữ liệu thu thập thông tin qua các cuộc phỏng
vấn. Đôi khi nhà phỏng vấn có thể nhớ lại các câu trả lời của ngƣời đƣợc phỏng
vấn. Phải thận trọng tối đa.
Bằng cách gặp người trả lời: Nếu có dữ liệu thu thập thông qua phỏng vấn
hay bằng câu hỏi có chứa những thông tin cần thiết, nên tìm cách tiếp xúc hoặc
gọi điện thoại cho ngƣời đƣợc phỏng vấn để xác minh câu trả lời. Dĩ nhiên cách
làm này tốn kém và tốn thời gian.
207
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Có hai cách hiệu chỉnh dữ liệu.
1- Ở mỗi thời điểm chỉ xem xét các trả lời cho từng câu hỏi họăc biến số; và
2- Cùng lúc đó, xem xét các trả lời cho mọi câu hỏi, có nghĩa là xem xét các
câu trả lời của cùng một ngƣời đƣợc phỏng vấn.
Ở đây, tác giả giải thích cách thứ hai hơn vì nó cung cấp bức tranh tổng thể
về các câu trả lời giúp đánh giá đƣợc tính chất quán bên trong.
Mã hoá dữ liệu
Sau khi làm sạch dữ liệu, bƣớc kế tiếp là mã hoá. Cách mã hoá phần lớn
đƣợc xem xét qua:
1. Cách thức đo lƣờng biến số ( thang đo lƣờng) trong công cụ nghiên cứu và.
2. Cách thức truyền đạt kết quả biến số cho đối tƣợng độc giả.
Với việc mã hoá, mức độ phân biệt đầu tiên là tập hợp dữ liệu về bản chất
là định tính hay định lƣợng. Đối với dữ liệu định tính, khác biệt nữa là thông tin
đó về bản chất mang tính miêu tả ( thí dụ: Miêu tả một dịch vụ cho cộng đồng)
hoặc đƣợc tạo ra thông qua các phạm trù định tính rời rạc. Thí dụ, thông tin sau
đây về ngƣời phỏng vấn dƣới dạng các hạng mục định tính rời rạc: thu nhập (trên
trung bình, trung bình, dƣới trung bình), giới tính (nam, nữ), tôn giáo (Thiên chúa
giáo, Hindu, Hồi giáo, Phật giáo...) hay thái độ về một vấn đề nào đó (rất tán
thành, tán thành, không chắc chắn, không tán thành, phản đối). Mỗi biến số này
đƣợc xác định nhờ vào thanh đo danh định hoặc thang đo thứ tự. Một số trong
các biến số đó cũng có thể đƣợc xác định nhờ vào thang đo tỷ lệ thang hay đo
khoảng cách. Thí dụ - thu nhập có thể đo bằng tiền (thang tỷ lệ), hoặc thái độ về
một vấn đề nào đó có thể đƣợc đo bằng thang đo khoảng cách hoặc thang đo tỷ lệ.
Cách tiến hành mã hoá phụ thuộc vào thang đo dùng đo lƣờng biến số và tuỳ vào
câu hỏi mở hay câu hỏi đóng.
Ngoài ra, loại thủ tục thống kê – có thể áp dụng đƣợc cho tập hợp thông tin -
phần lớn phụ thuộc vào thang đo lƣờng. Thí dụ, có thể có đƣợc các chỉ số thống
kê khác nhau – nhƣ số trung bình, trung vị... - nếu thu nhập đƣợc xác định trên
208
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
thang đo tỷ lệ, nhƣng sẽ không có đƣợc các chỉ số đó nếu thu nhập đƣợc đo bằng
thang đo danh định hay thang đo thứ tự. Cần nhớ rằng phân tích tập hợp thông tin
phụ thụôc vào thang đo lƣờng dùng trong công cụ nghiên cứu để đo lƣờng biến
số. Do vậy, vần phải hình dung ra cách thức truyền đạt kết quả - đặc bịêt là ở giai
đoạn lập kế hoạch khi thiết lập công cụ nghiên cứu.
Nếu mục tiêu là mô tả hiện tƣợng, tình huống chƣơng trình hoặc viết một
biến cố lịch sử, không cần đi hết tiến trình đƣợc chi tiết hoá trong phần còn lại của
chƣơng này. Tuy nhiên, nếu có nhiều biến cố lịch sử và muốn phân tích nội dung
chúng bằng máy tính, có thể sử dụng chƣơng trình đƣợc thiết kế đặc biệt chẳng
hạn nhƣ Elthnograph hoặc Nudist.
Với việc phân tích dữ liệu bằng máy tính, dù dữ liệu đó là định lƣợng hay
định tính, nó phải đƣợc chuyển thành dạng máy tính có thể đọc đƣợc – máy tính
chỉ hiểu đƣợc ngôn ngữ nhị phân (ngôn ngữ gồm các số 0 và 1). Quá trình
chuyển thông tin thành giá trị số này đƣợc gọi là mã hoá.
Việc mã hoá dữ liệu thô liên quan đến bốn bƣớc:
1. Xây dựng sách mã;
2. Tiền kiếm thử sách mã;
3. Mã hoá dữ liệu; và
4. Kiểm chứng dữ liệu đƣợc mã hoá.
Xây dựng sách mã
Sách mã cung cấp tập các quy tắc để gắn các giá trị số cho các câu trả lời
thu thập từ ngƣời đƣợc phỏng vấn. Hãy xem một thí dụ. Hình 14.2 liệt kê một số
câu hỏi từ bảng câu hỏi đƣợc dùng trong một cuộc khảo sát của tác giả ở miền
Tây nƣớc Úc nhằm xác minh tác động của việc tái bố trí công việc của mỗi cá
nhân. Các câu hỏi đƣợc chọn phải đầy đủ đóng vai trò một nguyên mẫu để xây
dựng sách mã, vì chúng đề cập đến các vấn đề khác nhau liên quan đến quá trình
này.
209
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Để xây dựng sách mã nhằm chuẩn bị dữ liệu cho việc phân tích bằng máy
tính, cần phải biết đôi chút về chƣơng trình phần mềm. Có nhiều phần mềm
chƣơng trình thống kê có thể dùng đƣợc. Loại thủ tục thống kê định dùng không
chỉ phụ thuộc vào mục tiêu phân tích, cách truyền đạt kết quả đến độc giả, kiến
thức về thủ tục thống kê mà còn phụ thuộc vào khả năng của phần mềm. Đối với
hầu hết các chƣơng trình, dữ liệu đƣa vào nằm ở một dạng thức riêng. Có hai
dạng thức cho dữ liệu nhập; số định và tự do. Chƣơng này sẽ dùng kiểu cố định để
minh hoạ cho việc xây dựng sách mã. Kiểu cố định quy định rằng thông tin thu
đƣợc từ ngƣời trả lời sẽ đƣợc đƣa vào một cột riêng. Mỗi cột sẽ có một số liệu và
thuật ngữ "số cột" trong sách mã sẽ đề cập đến cột này. Do vậy, thông tin về một
cá thể sẽ đƣợc đƣa vào theo từng hàng gồm những cột nhƣ thế.
1. Hãy chỉ ra:
a. Tuổi hiện thời của bạn theo năm tròn.............
c. Tình trạng hôn nhân (hãy đánh dấu)
Đang kết hôn..................
Chung sống thực tế........
Ly thân.....................
Ly dị.......................
2b. Nếu học cao đẳng hay đại học, hãy nêu rõ cấp độ và ngành học (nêu rõ tất cả
bằng cấp sau đại học).
Cấp độ Ngành học: thí dụ - kỹ sƣ, kế toán
Chứng chỉ đại cƣơng
Chứng chỉ
Cử nhân
Chứng chỉ sau đại học
Thạc sĩ
Tiến sĩ
11. Theo bạn, những điểm khác biệt chính giữa công việc trƣớc vào sau khi tái bố
trí công việc là gì?
......
210
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
12. Chúng tôi muốn biết cảm nhận của bạn về việc làm trƣớc và sau khi tái bố trí
với các khía cạnh sau đây. Xếp hạng chúng theo thang điểm 5, dùng bảng hƣớng
dẫn dƣới đây.
5 = vô cùng hài lòng , 4 = rất hài lòng, 3 = hài lòng, 2 = không hài lòng;
1 = vô cùng bất mãn
Trƣớc tái bố trí Các lĩnh vực Sau tái bố trí
1 2 3 4 5 1 2 3 4 5
Vị thế công việc
Hài lòng về công việc
Động cơ làm việc
Ham mê công việc
Tự trọng
Năng lực chuyên môn
Quan hệ đồng nghiệp
Tinh thần
Môi trƣờng làm việc
Tƣơng tác xã hội
Hình 14.2. Thí dụ về các câu hỏi từ một cuộc khảo sát
Đối với ngƣời bắt đầu cần phải hiểu cấu trúc của sách mã (hình 14.3), điều
này dựa vào các câu trả lời của các câu hỏi trong hình 14.2
Số hiệu Số Tên biến (3) Khuôn mẫu đáp ứng Giá trị mã (5)
cột hiệu
câu
hỏi (2)
1-3 Số ID Số hiệu nhận diện thực tế Mã số thực tế
hiệu
câu
hỏi
4 Số RNO Bản ghi 1 1
hiệu Bản ghi 2 2
bản Bản ghi 3 3
ghi
5 1(a) Tuổi – AGE 20 – 24 1
25 – 29 2
211
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
30 – 34 3
35 – 39 4
40 – 44 5
45 – 49 6
Không trả lời 9
6 1(c) Tình trạng Đang kết hôn 1
hôn nhân Chung sống thực tế 2
MS Ly thân 3
Ly dị 4
Chƣa kết hôn 5
Không trả lời 9
2 (b) Mức học Chứng chỉ đại cƣơng 1
vấn Chứng chỉ 2
- TEDU Cử nhân 3
Chứng chỉ sau đại học 4
Thạc sỹ 5
Tiến sỹ 6
Không áp dụng 8
Không trả lời 9
7 TEDU 1 Nhƣ ở TEDU Nhƣ ở TEDU
8 TEDU 2 Nhƣ ở TEDU Nhƣ ở TEDU
9 TEDU 3 Nhƣ ở TEDU Nhƣ ở TEDU
Ngành học Khoa học ứng xử 1
STUDY Kinh doanh 2
Kinh tế/ Thƣơng mại 3
Truyền thông 4
Kỹ nghệ 5
Địa lý 6
Lịch sử 7
Đồ hoạ 8
Thƣ viện học 9
Y tá 10
212
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Nghệ thuật 11
Thƣ ký 12
Công tác xã hội 13
Tâm lý học 14
Giáo dục 15
Kế toán 16
Bách thú học 17
Nhân học 18
Khoa học xã hội 19
Quản lý y tế công 20
Anh văn 21
Giáo dục trực quan 22
Không áp dụng 88
Không trả lời 99
10 -11 2(b) STUDY 1 Nhƣ ở STUDY Nhƣ ở STUDY
12- 13 STUDY 2 Nhƣ ở STUDY Nhƣ ở STUDY
14 -15 STUDY 3 Nhƣ ở STUDY Nhƣ ở STUDY
11 Sự khác Không thoả mãn công việc
biệt về công - công việc hiện tại 01
việc – - công việc trƣớc 02
DIFWK ít trách nhiệm
- công việc hiện tại 03
- công việc trƣớc 04
Tinh thần thấp
- công việc hiện tại 05
- công việc trƣớc 06
Thiếu công nhận công việc
khó khăn
- công việc hiện tại 07
- công việc trƣớc 08
Kỹ năng không phù hợp
- công việc hiện tại 09
213
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- công việc trƣớc 10
Bản chất lặp lại
- công việc hiện tại 11
- công việc trƣớc 12
Phân nhánh công việc nhiều
hơn
- công việc hiện tại 13
- công việc trƣớc 14
Suy giảm vị thế công việc 15
Liên quan nhiều đến toàn
bộ quá trình
- công việc hiện tại 16
- công việc trƣớc 17
Nhiệm vụ hạn chế hơn
- công việc hiện tại 18
- công việc trƣớc 19
Ít linh họat hơn
- công việc hiện tại 20
- công việc trƣớc 21
Tiếp xúc ngƣời nhiều hơn
- công việc hiện tại 22
- công việc trƣớc 23
Ít tiếp xúc ngƣời hơn
- công việc hiện tại 24
- công việc trƣớc 25
Nhiều trách nhiệm hơn
- công việc hiện tại 26
- công việc trƣớc 27
Môi trƣờng công việc tốt
hơn
- công việc hiện tại 28
- công việc trƣớc 29
214
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Tinh thần công việc tốt hơn
- công việc hiện tại 30
- công việc trƣớc 31
Làm việc theo nhóm
- công việc hiện tại 32
- công việc trƣớc 33
Làm việc cá nhân
- công việc hiện tại 34
- công việc trƣớc 35
Thiếu đảm bảo cho công
việc
- công việc hiện tại 36
- công việc trƣớc 37
Công việc toàn thời gian 38
Triển vọng nghề nghiệp tốt
hơn
- công việc hiện tại 39
- công việc trƣớc 40
Không có điểm chung 41
Điều kiện làm việc khác nhau 42
Thay đổi vị thế công việc 43
(không xác định)
Mức độ nghề nghiệp cao
- công việc hiện tại 44
- công việc trƣớc 45
Công việc hiện tại an toàn hơn 46
Môi trƣờng chuyên nghiệp hơn
- công việc hiện tại 47
- công việc trƣớc 48
Kỹ năng cần học trong công 49
vịêc hiện tại.
Tải trọng công vịêc cao
215
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- công việc hiện tại 50
- công việc trƣớc 51
Ít bị giám sát
- công việc hiện tại 52
- công việc trƣớc 53
Công việc hiện tại đã huấn 54
luyện nhiều
Công việc hiện tại nhiều 55
tƣởng thƣởng
Tinh thần tốt hơn trong 56
công vịêc hiện tại
Nhiệm vụ đa dạng hơn
- công việc hiện tại 57
- công việc trƣớc 58
Công việc hiện tại nhiều 59
tƣởng thƣởng
Tinh thần tốt hơn trong 60
công vịêc hiện tại
Ít đa dạng trong công việc
hiện tại 61
Yêu cầu kỹ năng ít hơn
- công việc hiện tại 62
- công việc trƣớc 63
Thay đổi chức tƣớc công
việc
Công việc trƣớc rất thách 64
thức
Cơ hội sáng kiến ở công 65
việc trƣớc 66
Công việc hiện tại không 67
yêu cầu sáng kiến
Yêu cầu kỹ năng trong 68
216
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
công vịêc hiện tại
Không có triển vọng nghề
nghiệp
- công việc hiện tại 69
- công việc trƣớc 70
Môi trƣờng chuyên nghiệp
hơn trong công việc hiện tại 71
Yêu cầu học kỹ năng trong
công vịêc hiện tại 72
Điều kiện làm việc khác
nhau 73
Thay đổi vị thế công việc
(không xác định) 74
Thay đổi trách nhiệm công 75
việc
Công vịêc hiện tại có cấu 76
trúc nhiều hơn
Là thành viên của nhóm 77
Không thay đổi 78
Đáp ứng không tƣơng ứng 79
Khác 80
Không áp dụng 88
Không trả lời 89
16-17 11 DIFWK1 Nhƣ ở DIFWK Nhƣ ở DIFWK
18-19 DIFWK 2 Nhƣ ở DIFWK Nhƣ ở DIFWK
20-21 DIFWK3 Nhƣ ở DIFWK Nhƣ ở DIFWK
22-23 DIFWK4
24-25 DIFWK 5
12 Trạng thái Cực kỳ bất mãn 1
trƣớc – sau Bất mãn 2
BEAFTER Thoả mãn 3
Rất thoả mãn 4
217
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Cực kỳ thoả mãn 5
26 Vị thế công Nhƣ ở BEAFTER Nhƣ ở
việc BEAFTER
JOBSTA
27 Vị thế công Nhƣ ở BEAFTER Nhƣ ở
việcJOBST BEAFTER
B
28 Hài lòng Nhƣ ở BEAFTER Nhƣ ở
công việc BEAFTER
JOBSTA
29 Hài lòng Nhƣ ở BEAFTER Nhƣ ở
công việc BEAFTER
JOBSTB
Hình 14.3. Thí dụ về sách mã
Ở hình 14.3, cột 1 tham chiếu đến cột chứa mẫu thông tin cụ thể đƣợc đƣa
vào. Đối với dạng thức dữ liệu cố định, vịêc xác định cột là cực kỳ quan trọng để
máy tính có thể thực hiện các thủ tục cần thiết.
Cột 2 chỉ ra các số hiệu của câu hỏi trong thiết bị nghiên cứu mà thông tin đã
đƣợc mã hoá tƣơng ứng.
Cột 3 đề cập đến tên biến số. Mỗi biến số trong chƣơng trình đƣợc đặt tên một
tên duy nhất để chƣơng trình có thể thực hiện các thủ tục thống kê theo yêu cầu.
Quy ƣớc đặt trên thay đổi theo chƣơng trình. Và nên đặt tên có tính gợi nhớ.
Cột 4 liệt kêt các câu trả lời của các câu hỏi khác nhau. Xây dựng khuôn mẫu
trả lời là phần quan trọng, khó khăn và tốn thời già nhất trong việc xây dựng sách
mã. Mức độ khó khăn trong việc triển khai khuôn mẫu câu trả lời thay đổi tuỳ
theo loại câu hỏi trong công cụ nghiên cứu (câu hỏi mở hay đóng). Nếu câu hỏi
đóng, khuôn mẫu trả lời đã đƣợc triển khai trong phần thiết lập công cụ và tất cả
những gì cần làm ở giai đoạn này chỉ là phải gán một trị số cho mỗi phạm trù câu
218
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
trả lời. Dƣới góc độ phân tích, đây là một trong những thuận lợi chính của các
câu hỏi đóng. Nếu câu hỏi đóng có kèm theo phạm trù trả lời "khác" để dung nạp
bất kỳ trả lời nào chƣa liệt kê ra khi thiết lập công cụ thì nên phân tích các câu trả
lời gán chúng vào các phạm trù không phủ lên nhau theo cùng cách nhƣ với các
câu hỏi mở. Mỗi phạm trù thêm này cũng đƣợc cấp phát một trị số.
Nếu số lƣợng câu trả lời cho một câu hỏi ít hơn 9, chỉ cần 1 cột để mã hoá
các trả lời, và nếu nhiều hơn 9 nhƣng ít hơn 99, cần 2 cột ( cột 1 trong sách mã).
Nhƣng nếu câu hỏi yêu cầu ngƣời đƣợc phỏng vấn đƣa ra từ 2 câu trả lời lên thì
số lƣợng cột đƣợc gán phải tƣơng ứng với câu trả lời đƣợc mã hoá. Thí dụ nếu có
8 trả lời cho một câu hỏi cụ thể và ngƣời trả lời buộc phải đƣa ra 3 trả lời thì chỉ
cần 3 cột để mã hoá các câu trả lời. Giả sử có 12 trả lời cho 1 câu hỏi. Để mã hoá
mỗi câu trả lời cần 2 cột và do vậy để mã hoá 3 trả lời cần đến 6 cột.
Việc mã hoá các câu hỏi mở thì khó hơn. Trƣớc hết, các phạm trù trả lời phải
đƣợc xây dựng thông qua quá trình có tên là phân tích nội dung. Một trong những
cách phân tích câu hỏi mở dễ dàng nhất là chọn ra một số kế hoạch phỏng vấn hay
bảng câu hỏi một cách ngẫu nhiên từ toàn bộ kế hoạch phỏng vấn hay bảng câu
hỏi. Lấy ra một câu hỏi mở từ một những kế hoạch hay bảng câu hỏi này và viết
ra các trả lời trên một tờ giấy. Nếu có hơn 1 câu trả lời, hãy viết chúng riêng ra
trên cùng một tờ giấy này. Tƣơng tự, từ cùng bảng câu hỏi, kế hoạch này chọn ra
một câu hỏi mở nữa và viết các câu trả lời trên một tờ giấy khác. Bằng cách này ,
có thể chọn các câu hỏi mở khác và viết câu trả lời ra. Nhớ rằng các câu trả lời
cho mỗi câu hỏi phải đƣợc viết trên một tờ giấy riêng. Bây giờ chọn bảng câu hỏi
hay kế hoạch phỏng vấn khác và tiếp tục quá trình tƣơng tự - các câu trả lời của
một câu hỏi đƣợc ghi ra trên tờ giấy riêng của câu hỏi đó. Tiếp tục quá trình này
cho đến khi cảm thấy rằng các câu trả lời đang đƣợc lặp đi lặp lại và không nhận
đƣợc hoặc rất ít câu trả lời mới.
219
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Bây giờ lần lƣợt xem xét các câu trả lời cho mỗi câu hỏi để xác minh những
điểm khác và giống nhau. Nếu các trả lời có nghĩa tƣơng tự hãy xếp chúng vào
cùng một phạm trù và đặt trên cho phạm trù này để mô tả các câu trả lời đó.
Nhớ rằng, khi mã hoá dữ liệu chính là mã hoá các phạm trù chứ không phải là
mã hoá các câu trả lời. Nên viết các câu trả lời khác nhau dƣới mỗi phạm trù trong
sách mã để khi mã hoá biết đƣợc loại câu trả lời đã đƣợc phân nhóm dƣới mỗi
phạm trù. Khi xây dựng các phạm trù, có 3 điều quan trọng cần chú ý sau:
1. Các phạm trù này nên loại trừ lẫn nhau. Xây dựng các phạm trù không phủ
lên nhau. Mỗi câu trả lời không thể đƣợc đặt trong 2 phạm trù.
2 Các phạm trù trên có tính tổng hợp, nghĩa là hầu hết mỗi câu trả lời, có thể
đƣợc đặt vào trong một phạm trù. Nếu có quá nhiều câu trả lời không đƣợc phân
loại, việc phạm trù hoá không hiệu quả - cần xem xét lại các phạm trù lần nữa.
3. Việc dùng đến phạm trù "khác" – áp dụng cho các câu trả lời không thể
đặt vào bất kỳ phạm trù nào đã có - cần phải hạn chế vì điều đó phản ánh việc
phân loại chƣa tốt. Phạm trù này không chứa nhiều hơn 5% tổng số câu trả lời và
không chứa nhiều câu trả lời hơn bất kỳ phạm trù nào khác.
Cột 5 liệt kê các mã số thật sự của sách mã sẽ gán cho các câu trả lời. Có thể
gán bất kỳ trị số nào cho bất kỳ câu trả lời nào miễn là không lặp lại
cho câu trả lời khác của cùng một dạng câu hỏi đang xét. Có hai trả lời cho các
câu hỏi thƣờng đƣợc lặp lại " là không phù hợp" và " không trả lời" . Nên chọn
một trị số dùng cho các câu trả lời này đối với tất cả hay hầu hết các câu hỏi. Thí
dụ, các trả lời " không phù hợp" và "không trả lời" có thể có mã số là 8 và 9,
mặc dầu các câu trả lời cho một câu hỏi bị giới hạn ở 2 hay 3 mà thôi. Nói cách
khác, giả sử muốn mã hoá giới tính của ngƣời đƣợc phỏng vấn và quyết định chọn
nam giới bằng 2 và nữ giới bằng 1. Đối với trƣờng hợp "không trả lời" thay vì
chọn mã số 3, ở đây chọn mã số 9. Cách này giúp nhớ đƣợc các mã và làm tăng
tốc độ mã hoá.
220
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Để giải thích quá trình mã hoá, lấy câu hỏi đƣợc liệt kê là DIFWK (DIF
=difference và WK = Work). Các câu trả lời cho câu hỏi này đƣợc liệt kê ở hình
14.4. Những câu trả lời này đƣợc chọn ngẫu nhiên từ các bảng câu hỏi hồi đáp.
Việc xem xét kỹ các câu trả lời trên cho biết rằng một số điểm chung – thí
dụ. Việc học các kỹ năng mới trong công việc mới; "công việc hiện tại ổn định
hơn"; " ít trách nhiệm hơn" ; khác nhau nhiều hơn; "không khác nhau", "thoả
mãn hơn"... có nhiều ý giống nhau cho cả hai trƣờng hợp công việc trƣớc và sau.
Do vậy, xây dựng những điểm này cho thành các phạm trù "công việc hiện đại"
và "công việc trƣớc đây".
Một trong những khác bịêt chính giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu
định lƣợng là cách sử dụng các câu trả lời trong bản báo cáo. Trong nghiên cứu
định tính thông thƣờng các câu trả lời đƣợc dùng nguyên văn hoặc đƣợc tổ chức
theo chủ đề và các câu trả lời thực tế đƣợc đƣa vào các chủ đề bản chất đó.
Trong nghiên cứu định lƣợng, câu trả lời sẽ đƣợc xem xét, các chủ đề chung
đƣợc nhận diện và đặt tên (hay phạm trù), sau đó câu trả lời đƣợc phân loại theo
các chủ đề này. Tiếp theo dữ liệu đƣợc phân tích để xác định tần số của chủ đề.
Cũng có thể phân tích các chủ đề tƣơng ứng với một số đặc tính khác – nhƣ tuổi
tác, học vấn và thu nhập của tập hợp nghiên cứu.
Sách mã liệt kê các chủ đề đƣợc xây dựng trên cơ sở các câu trả lời – theo đó
có nhiều phạm trù xuất hiện. Không cần lo lắng về điều này vì các phạm trù có
thể đƣợc kết hợp sau đó nếu cần thiết. Điều ngƣợc lại là không thể trừ phi quay về
với dữ liệu thô.
Giả sử muốn mã hoá 5 trả lời cho câu hỏi này, tên 5 biến số này là DIFWK1,
DIFWK2, DIFWK3, DIFWK4, và DIFWK5 và chúng đƣợc mã hoá ở các cột 13 –
14, 15 – 16, 17 – 18, 19 – 20 và 21 – 22
Người trả lời 3
221
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Giờ giấc linh hoạt: đòi hỏi các kỹ năng khác nhau; tiếp xúc với công chúng
bận rộn nhiệm vụ; thành viên của nhóm thay vì làm việc độc lập.
Ngƣời trả lời 20:
Tôi hạnh phúc và cảm thấy mình là thành viên đóng góp tích cực cho nhóm
Hình 14.4. Một số câu trả lời được chọn cho câu hỏi mở
(Câu hỏi số 11) trong hình 14.2
Người trả lời 48:
Trƣớc Sau
15 tiếng một tuần 24 tiếng 1 tuần
từ thứ 2 đến thứ 6 rất mãn nguyện
di chuyển liên tục tiếp xúc với công chúng
đứng xuốt không ngồi tiếp xúc với các bệnh nhân bị
không tiếp xúc với công chúng tâm thần nặng rất căng thẳng
Người trả lời 52:
Không khác nhau
Người trả lời 54:
Vị trí cơ bản của tôi giống nhƣ trƣớc khi tái bố trí, nhƣng trƣớc kia tôi giữ
chức giám đốc dự án (cấp 5) và nay, sau khi bố trí lại tôi đƣợc giao nhiệm vụ lập
chƣơng trình.
Người trả lời 69:
Phải tìm công việc riêng cho mình
Người trả lời 79:
Tôi cảm thấy an toàn hơn trong công việc hiện tại và đƣợc trả lƣơng cao hơn
vì tôi làm việc nhiều hơn.
Người trả lời 105:
Đa dạng hơn, linh hoạt hơn và trách nhiệm nhiều hơn trong công việc hiện
tại nhƣng tự tin hơn, cảnh giác nhiều hơn và dễ bực mình hơn.
222
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Câu hỏi 12
Đây là câu hỏi có cấu trúc yêu cầu ngƣời trả lời dựa trên thang do thứ tự 5
điểm so sánh mức độ thoả mãn về các khía cạnh của công việc trƣớc và sau tái bố
trí công việc. Đối với mỗi khía cạnh sẽ có hai câu trả lời. Trong thí dụ này giả
định tên JOBSTA tƣợng trƣng cho mức độ thoả mãn công việc sau khi phân bố lại
(JOB = job, SAT = Satisfaction và A = after) và JOBSTB tƣơng trƣng cho mức
độ thoả mãn công việc trƣớc khi tái bố trí. JOBSTA đƣa vào cột 23, JOBSTB vào
cột 24. Các tên biến số khác đƣợc sắp xếp tƣơng tự nhƣ vậy.
Tiền kiếm thử sách mã.
Khi sách mã đƣợc thiết kế xong, cần tiến hành kiểm thử nó trƣớc khi mã
hoá dữ liệu. Tiền kiểm thử liên quan đến việc chọn lự một bài bảng câu hỏi/ kế
hoạch phỏng vấn và mã hoá thực sự các câu trả lời nhằm xác minh các trục trặc
có thể trong quá trình mã hoá. Nếu cần thiết, dựa vào tiền kiểm thử để điều chỉnh
sách mã cho phù hợp.
Mã hoá dữ liệu
Khi xong sách mã, bƣớc kế tiếp là mã hoá dữ liệu thô. Có 2 cách thực hiện.
Mã hoá ngay trên bảng câu hỏi/ kế hoạch phỏng vấn nếu có khoảng trống
dành sẵn cho mã hóa lúc thiết lập công cụ nghiên cứu; hoặc
Mã hoá trên các giấy tờ mã hoá riêng. Hình 14 – 8 cho một thí dụ nhƣ thế.
Để giải thích quá trình mã hoá, dùng cùng các câu hỏi khi xây dựng sách mã.
Chọn 3 bảng câu hỏi ngẫu nhiên từ tổng cộng 109 ngƣời trả lời (hình 14.5, 14.6,
14.6). Sử dụng sách mã để mã hoá thông tin từ các trả lời này vào giấy tờ mã hoá
( hình 14.8). Minh hoạ qua trƣờng hợp ngƣời trả lời thứ 3 dƣới đây.
Người trả lời thứ 3
Tổng số ngƣời trả lời là hơn 99 ngƣời và đây là bảng câu hỏi thứ 3, vì vậy
trị số 003 đƣợc dùng làm số hiệu nhận diện mã hoá ở cột 1 – 3 (hình 14.8). Vì đây
là bản ghi đầu tiên của ngƣời trả lời này nên 1 đƣợc mã hoá ở cột 4. Ngƣời trả lời
này 49 tuổi, rơi vào khoảng 45 – 49, đƣợc mã hoá thành trị số 6 và đƣợc ghi vào
cột thứ 5 ( nơi chứa thông tin tuổi tác) của tờ giấy mã hoá. Tình trạng hôn nhân
223
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
của ngƣời này là "ly dị", do đó trị số 4 đƣợc mã hóa trong cột 6. Ngƣời này có
bằng cử nhân về thƣ viện học nên mã số của bằng cử nhân là 3 đƣợc đƣa vào cột
7. Ngƣời này không có bằng cấp đại học nào khác nên trị số cho TEDU 2 và
TEDU 3 không thích hợp nên mã số 8 đƣợc đƣa vào cột 8 và 9. Chuyên ngành là
thƣ viện học đƣợc gán mã số 9 và đƣợc ghi vào cột 10 – 11. Cũng bởi vì chỉ có
một chuyên ngành lên STUDY 2 và STUDY 3 không thích hợp, vì vậy mã số 88
đƣợc đƣa vào các cột 12 – 13 và 14 – 15. Ngƣời này có đƣa ra một số câu trả lời
cho câu hỏi số 11 (DIFWK) – yêu cầu ngƣời trả lời liệt kê những điểm khác nhau
cơ bản giữa công việc trƣớc và sau khi tái bố trí. Khi mã hoá những câu hỏi nhƣ
thế cần phải thận trọng – xem xét các câu trả lời DIFWK1, DIFWK2, DIFWK3,
DIFWK4, và DIFWK5 để nhận diện các mã số đem gán. Mã số 22 (tiếp xúc với
công chúng) đƣợc gán cho một trong những câu trả lời này và đƣợc đƣa vào cột
16 – 17. Sự khác nhau thứ hai, DIFWK2 đƣợc gán là mã số 69 (cần đến các kỹ
năng khác nha) ở các cột 18 – 19.
1. Hãy cho biết
a. Tuổi hiện tại của bạn tính tròn năm 49
c. Tình trạng hôn nhân của bạn : (hãy đánh dấu)
Đang kết hôn
Chung sống thực tế
Ly thân
Ly dị
Chƣa bao giờ kết hôn
2b. Nếu học Đại học, hãy cho biết mức học vấn và ngành học (cho biết tất cả các
bằng cấp sau đại học).
Cấp bậc học tập ngành học (thí dụ: kỹ sƣ, kế toán)
Chứng chỉ đại cƣơng
Chứng chỉ
224
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Cử nhân Thƣ viện học
Bằng cấp sau đại học
Cao học
Tiến sĩ
11. Theo bạn, những điểm khác nhau cơ bản giữa công việc trƣớc và sau khi tái
bố trí? giờ giấc linh hoạt; "đòi hỏi các kỹ năng khác nhau" , "tiếp xúc với công
chúng", "bận rộn công vịêc", "thành viên của nhóm thay vì làm việc độc lập"
12. Chúng tôi muốn biết cảm nhận của bạn về công việc trƣớc và sau khi tái bố trí
liên quan đến các lĩnh vực sau. Hãy đánh giá chúng trên thang đo 5 điểm, sử dụng
bảng hƣớng dẫn sau.
5 = vô cùng hài lòng, 4 = rất hài lòng, 3 = hài lòng, 2 = không hài lòng, 1 = bực mình.
Trƣớc tái bố trí Các lĩnh vực Sau tái bố trí
1 2 3 4 5 1 2 3 4 5
Tình trạng công việc
Sự hài lòng về công việc
Động cơ làm việc
Đam mê công việc
Tự trọng
Năng lực chuyên môn
Quan hệ đồng nghiệp
Tinh thần
Môi trƣờng làm việc
Quan hệ xã hội
Hình 14.5. Một số câu hỏi từ một cuộc khảo sát
người trả lời thứ 3
1. Hãy chỉ ra
a. Tuổi hiện tại của bạn tính tròn năm 49
c. Tình trạng hôn nhân của bạn : (hãy đánh dấu)
Đang kết hôn............
Chung sống thực tế........
Ly thân............
Ly dị................
Chƣa bao giờ kết hôn.................
225
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
2b. Nếu học Đại học, hãy cho biết mức học vấn và ngành học ( cho biết tất cả các
bằng cấp sau đại học).
Cấp bậc học tập ngành học (thí dụ: kỹ sƣ, kế toán)
Chứng chỉ đại cƣơng
Chứng chỉ
Cử nhân khoa học về hành vi
Bằng cấp sau đại học
Cao học
Tiến sĩ
11. Theo bạn, những điểm khác nhau cơ bản giữa công việc trƣớc và sau khi tái
bố trí là gì?
Ít trách nhiệm hơn, nhiều tác vụ cụ thể hơn, phạm vi hẹp hơn.
12. Chúng tôi muốn biết cảm nhận của bạn về công việc trƣớc và sau khi tái bố trí
liên quan đến các lĩnh vực sau. Hãy đánh giá chúng trên thang 5 điểm, sử dụng
bảng hƣớng dẫn dƣới đây:
5 = vô cùng hài lòng, 4 = rất hài lòng, 3 = hài lòng, 2 = không hài lòng, 1 = bực mình.
Trƣớc tái bố trí Các lĩnh vực Sau tái bố trí
1 2 3 4 5 1 2 3 4 5
Tình trạng công việc
Sự hài lòng về công việc
Động cơ làm việc
Thích thú công việc
Tự trọng
Năng lực chuyên môn
Quan hệ đồng nghiệp
Tinh thần
Môi trƣờng làm việc
Quan hệ xã hội
Hình 14.6. Một số câu hỏi từ một cuộc khảo sát người trả lời thứ 59
1. Hãy chỉ ra:
a. Tuổi hiện tại của bạn tính tròn năm: 42
226
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
b. Tình trạng hôn nhân của bạn : (Hãy đánh dấu)
Đang kết hôn…
Chung sống thực tế
Ly thân …
Ly dị …
Chƣa bao giờ kết hôn..
2b. Nếu học Đại học, hãy cho biết cấp độ học tập và ngành học (Nếu tất cả các
bằng cấp sau đại học)
Cấp bậc học tập Ngành học (thí dụ: kỹ sƣ, kế toán…)
Chứng chỉ đại cƣơng
Chứng chỉ
cử nhân công việc xã hội
Văn bằng sau đại học
Cao học
Tiến sĩ
11. Theo bạn, những điểu khác nhau cơ bản giữa các công việc trƣớc và sau khi
tái bố trí là gì?
Vị trí trƣớc khi yêu cầu liên quan đến giao tiếp chính phủ và phi chính phủ.
Hiện tại không thoả mãn công việc đặc biệt về tình trạng liên quan đến những
ngƣời phạm tội đang giải quyết
12. Chúng tôi muốn biết cảm nhận của bạn về công việc trƣớc và sau khi tái bố trí
về các mặt sau. Hãy đánh giá chúng theo thang điểm 5, dùng bảng hƣớng dẫn sau:
5= vô cùng hài lòng, 4= rất hài lòng, 3= hài lòng, 2= không hài lòng, 1= bực bội
Trƣớc tái bố trí Các lĩnh vực Sau tái bố trí
1 2 3 4 5 1 2 3 4 5
227
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 14.7. Một số câu hỏi từ cuộc khảo sát-ngƣời trả lời thứ 81
Mã số
Hình 14.8
DIFWK3 đƣợc gán mã số 77 (Công việc hiện tại có cấu trúc hơn) và đƣợc
đƣa vào các cột 20-21. Tƣơng tự DIFWK4 và DIFWK5 trong các công việc trƣớc
và sau khi tái bố trí đƣợc mã hoá 78 (bây giờ là thành viên của nhóm thay vì làm
việc độc lập) và 38 giờ giấc linh hoạt đuợc đƣa lần lƣợt vào các cột 22-23 và 24-
25. Câu hỏi 12 mã hoá rất đơn giản. Mỗi khía cạnh công việc có hai cột-một cột
cho tình huống trƣớc và một cho tình huống sau tái bố trí. Vị thế cồng việc
(JOBST) và đƣợc chia thành 2 biến số, JOBSTA cho mức độ hài lòng về công
việc sau tái bố trí, đƣợc đƣa vào cột 26 và JOBSTB hài lòng trƣớc tái bố trí- đƣợc
đƣa vào cột 27. Với JOBSTA mã số là 5 và mã số 4 cho JOBSTB. Các khía cạnh
công việc khác trƣớc và sau tái bố trí đƣợc mã hoá tuơng tự.
228
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hai thí dụ khác cũng đƣợc mã hoá theo cùng cách. Dữ liệu đƣợc mã hoá
đƣợc trình bày ở hình 14.8. Trong quá trình mã hoá, có thể tìm thấy đƣợc một số
câu trả lời không phù hợp với các phạm trù đƣợc xác định trƣớc . Nếu vậy, hãy
gán chúng các mã số nào đó và thêm các mã số mới này vào sách mã.
Kiểm chứng dữ liệu đã đƣợc mã hoá
Khi dữ liệu đƣợc mã hoá xong, chọn một vài công cụ nghiên cứu một cách
ngẫu nhiên và ghi nhận các câu trả lời để nhận diện các điểm thiếu nhất quát trong
việc mã hoá. Tiếp tục kiểm chứng việc mã hoá đến khi chắc chắn rằng nó không có
sai sót; còn nếu có những chỗ chƣa đồng nhất phải tái xem xét việc mã hoá.
Xây dựng khung phân tích
Mặc dầu khuôn khổ của phân tích cần phát triển một cách liên tục trong khi viết
báo cáo nhƣng cần phải xây dựng nó một cách tổng quát trƣớc khi phân tích dữ liệu.
Khung phân tích nên định rõ:
- Phân tích các biến số nào,
- Phân tích nhƣ thế nào
- cần thiêt lập những bản đối chiếu chéo gì?
- Cần kết hợp các biến số nào để xây dựng những khái niệm chính hay để
khai thác chỉ mục (trong việc thiết lập bài toán nghiên cứu, các khái niệm
đổi thành các biến- ở giai đoạn này đổi ngƣợc thành các khái niệm)
- Các biến số nào lệ thuộc vào những thủ tục thống kê gì? Để minh hoạ, hãy
xem thí dụ từ cuộc khảo sát đã dùng trong chƣơng này.
Phân bố theo tần số
Phân bố theo tần số ghép nhóm những ngƣời trả lời thành các phạm trù con
để chia thành các biến số. Trừ phi không định sử dụng câu trả lời cho một số câu
hỏi, nên có phân bố theo tần số cho tất cả các biến số. Mỗi biến số có thể đƣợc
chia xác định một cách riêng lẻ hoặc tập thể trong khung phân tích. Để minh hoạ
chúng có thể đƣợc nhân diện rời rạc bằng tên dùng trong sách mã.
Phân bố tần số cho các biến số sau:
- Tuổi tác
229
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
- Tình trạng hôn nhân:
- Giáo dục đại học/ cao đẳng (TEDU1, TEDU2, TEDU3 nhiều câu trả
lời, đƣợc phân tích tập thể)
- Ngành học (STUDY1, STUDY2, STUDY3- nhiêu câu trả lời đƣợc
phân tích tập thể)
- Điểm khác nhau trong công việc (DIFWK1, DIFWK2, DIFWK3,
DIFWK4, DIFWK5) nhiều câu trả lời đƣợc phân tích tập thể)
- Vị thế công việc trƣớc và sau tái bố trí (JOBSTA, JOBSTB) và
- Động lực công việc truớc và sau tái bố trí (MOTIVA, MOTIVAB)
Bảng đối chiếu
Bảng đối chiếu chéo phân tích 2 biến số, thông thƣờng là tự do và phụ thuộc
để xác định có quan hệ nào giữa chúng hay không, các phạm trù con của cả 2 biến
số này đƣợc đối chiếu chéo nhau để xác minh giữa chúng có tồn tại quan hệ nào
hay không. Thông thƣờng, số lƣợng ngƣời trả lời phần trăm về hàng và cột giúp
có một ý tƣởng về các liên kết có thể có.
Lấy ví dụ đã dùng ở chƣơng này, một trong những biến số chính đƣợc giải
thích là mức độ hài lòng về công việc trƣớc và sau tái bố trí. Có 2 chỉ số về sự hài
lòng:
1. Sự hài lòng với công việc trƣớc tái bố trí (SATINDB); và
2. Sự hài lòng với công việc sau tái bố trí (SATINDA)
Những điểm khác nhau về mức độ hài lòng có thể bị ảnh hƣởng bởi các
thuộc tính cá nhân- chẳng hạn tuổi tác, học vấn, huấn luyện và tình trạng hôn
nhân của ngƣời trả lời. Bảng đối chiếu chéo giúp nhận ra thuộc tính nào ảnh
hƣởng đến mức độ hài lòng. Theo lý thuyết có thể có mối tƣơng quan giữa mọi
biến số nhƣng nên chọn lựa nếu khong sẽ có rất nhiều bảng đƣợc tạo ra. Bình
thƣờng chỉ những biến số nào cho là có tác động lên biến số phụ thuộc mới đƣợc
xét tƣơng quan. Các bảng phân tích đối chiếu chéo sau là thí dụ về cơ sở của
khung phân tích. Có thể nêu ra nhiều biến số tuỳ ý.
230
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Đối chiếu SATINDA và SATINDB bằng:
- AGE;
- MS;
- TEDU;
- STUFY;
- DIFWK; và
- SATINDB
Chú thích
AGE tuổi tác
MS (marital status) tình trạng hôn nhân
TEDU (tertiary education) giáo dục đại học, cao đẳng
STUDY ngành học
DIFWK (difference in work )sự khác nhau trong công việc)
SATINDB (satifaction with the job before redeployment) sự hài lòng với
công việc sau tái bố trí
SATINDA (satifaction with the job after redeployment) sự hài lòng với công
việc sau tái bố trí
Các yếu tố này xác định sự hài lòng về công việc trƣớc và sau khi tái bố trí
có bị ảnh hƣởng bởi tuổi tác, tình trạng hôn nhân, học vấn ... hay không.
Đối chiếu SATINDA bằng:
SATINDB
Điều này xác minh có quan hệ giữa sự hài lòng về công việc trƣớc và sau khi
tái bố trí
Thiết lập các khái niệm
Có nhiều chố trong công cụ nghiên cứu có thể tìm kiếm câu trả lời không
qua một số câu hỏi về các mặt khác nhau của cùng một vấn đề, thí dụ- mức độ
thoả mãn công việc trƣớc và sau tái bố trí (SATINDB, SATINDA). Trong bảng
câu hỏi có 9 khía cạnh công việc mà ngƣời trả lời đƣợc yêu cầu chỉ ra mức độ hài
lòng. Mức độ hài lòng có thể khác nhau ở từng khía cạnh. Mặc dầu cần phải biết
phản ứng của ngƣời trả lời đối với từng khía cạnh nhƣng cũng cần phải đo lƣờng
231
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
chỉ số tổng thể về sự hài lòng. Vì vậy, trƣớc khi thực sự phân tích dữ liệu, phải
xem xét làm thế nào kết hợp các câu trả lời cho những câu hỏi khác nhau.
Trong thí dụ này, ngƣời trả lời chỉ ra mức độ hài lòng bằng các chọn 1 trong
5 phạm trù. Mỗi chỉ số hài lòng đƣợc xây dựng bằng cách gắn một vị trí số vào
câu trả lời càng lớn thì điểm số càng cao. Trị số ứng với phạm trù trả lời càng lớn
thì điểm số càng cao Trị số ứng với phạm trù đƣợc đánh dấu đƣợc cộng lại để từ
đó xác định số thoả mãn. Chỉ số hài lòng của mỗi ngƣời trả lời dao động giữa 9 và
45 phân giải chỉ số này phụ thuộc vào cách gán các trị số. Trong thí dụ này điểm
chỉ số càng cao thì mức độ hài lòng càng lớn.
Các thủ tục thống kê
Phân tích hồi qui:
- SATINDA SATINDB
Phân tích đa hồi qui:
- SATINDA với tuổi tác, học vấn, tình trạng hôn nhân
- SATINDB cới tuổi tác, học vấn, tình trạng hôn nhân
Cũng cần thiết để suy nghĩ và xác định các biến số khác nhau bị lệ thuộc vào
các thủ tục thống kê khác nhau
Phân tích dữ liệu
Dữ liệu mã hoá có thể đƣợc phân tích bằng tay hoặc bằng máy tính. Nếu ít
ngƣời đƣợc phỏng vấn không có nhiều biến số để phân tích, và nếu không quen
hay không muốn dùng chƣơng trình máy tính thì có thể phân tích dữ liệu đó bằng
tay. Tuy nhiên, phân tích tay chỉ hữu ích cho tính toán tần số và các bảng đối
chiếu chéo đơn giản. Ngoài ra nếu muốn thực hiện các kiểm thử thống kê cũng
phải thực hiện bằng tay. Tuy nhiên, việc dùng các thống kê phụ thuộc vào kỹ
năng và nhu cầu truyền đạt kết quả
Phân tích thủ công rất mất thời gian. Các dễ nhất để phân tích thủ công dữ
liệu là phải mã hoá chúng trực tiếp lên giấy kẻ ô vuông lớn theo các cột. Trên giấy
kẻ ô vuông đừng bận tâm về số hiệu của các cột. Các phụ đề cụ thể có thể sử dụng
232
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
hoặc các số hiệu câu hỏi có thể viết vào mỗi cột để mã hoá thông tin về câu hỏi
(hình 14.9)
Mã Tuổi Tình Giáo dục Ngành học Sự khác nhau trong công việc Tình trạng Sự hài lòng
số trạng
hôn 1 2 3 1 2 3 1 2 3 4 5 trƣớc sau trƣớc sau
nhân
03 6 4 3 8 8 01 88 88 22 69 77 78 38 5 4 5 4
09 6 1 3 8 8 01 88 88 03 18 77 88 88 2 4 3 4
81 5 1 2 8 8 03 88 88 17 01 88 88 88 2 3 2 4
Hình 14.9. Phân tích thủ công bằng giấy kẻ ô vuông
Để phân tích dữ liệu thủ công, hãy đếm các mã số khác nhau trong một cột,
rồi sau đó giải mã chúng. Thí dụ độ tuổi ở bảng 15-9, 5=1, 6=2. Điều này cho
thấy rằng trong 3 ngƣời trả lời có một ngƣời ở độ tuổi 40-44, 2 ngƣời kia ở độ
tuổi 45-49. Tƣơng tự các câu trả lời cho mỗi biến số có thể đƣợc phân tích. Đối
với bảng đối chiếu, phải đọc cùng lúc 2 cột để phân tích các câu trả lời có quan hệ
với nhau.
Nếu muốn phân tích dữ liệu bằng máy tính, nêu quen thuộc với các chƣơng trình
phù hợp. Nên học cách tạo ra các tập tin dữ liệu, cách sử dụng các thủ tục liên đới, áp
dụng các kiểm thử thống kê nào và làm thế nào để phân giải chúng Rõ ràng trong lĩnh
vực này, hiểu biết về máy tính và thống kê đóng vai trò quan trọng.
Vai trò của máy tính trong nghiên cứu
Kiến thức về máy tính và các chƣơng trình có liên quan là cực kỳ quan trọng
và sẽ tiết kiệm thời gian rất lớn. Dữ liệu có thể đƣợc phân tích nhờ vào máy tính
233
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
thậm chí đối với thông tin miêu tả và định tính. Máy tính giúp tiết kiệm công sức
trong các phân tích thủ công và trong các hệ thống suy luận và miêu tả. Máy tính
là dụng cụ làm tăng tốc độ xử lý, giải quyết các thủ tục tính toán và thống kê phức
tạp, đánh máy báo cáo, trình bày dữ liệu đã đuợc phân tích dƣới dạng đồ thị. Các
chƣơng trình này đƣợc thiết kế để thực hiện các thủ tục cực kỳ phức tạp trong thời
gian rất ngắn - giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian.
Vai trò của thống kê trong nghiên cứu
Vai trò thống kê trong nghiên cứu đôi khi đƣợc cƣờng điệu hoá. Thống kê có
vai trò chỉ định đã thu thập đƣợc thông tin cần thiết và tƣơng ứng với các yêu cầu
của mỗi bƣớc vận hành trong quá trình ngiên cứu. Khi thu thập xong dữ liệu, có
hai câu hỏi:
1. Tổ chức dữ liệu này nhƣ thế nào để có thể hiểu đƣợc ?
2. Dữ liệu nói lên điều gì?
Ở một khía cạnh nào đó, câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên hình thành nền tảng
cho câu trả lời thứ hai. Thống kê đóng vai trò rất quan trọng trong việc trả lời các
câu hỏi nghiên cứu.
Từ các câu trả lời riêng rẽ, đặc biệt nếu có nhiều câu nhƣ vậy, rất khó hiểu
đuợc dạng thức của dữ liệu, do vậy cần tổng kết dữ liệu. Một số phép thống kê
đơn giản nhƣ phân trăm, số trung vị, độ lệch chuẩn, hệ số... có thể thu nhỏ khối
lƣợng dữ liệu làm cho nó dế hiểu hơn. Khi thực hiện các phép đo tổng thể một số
thông tin nhất định có thể mất đi, dẫn đến phân giải sai. Do vậy khi giải thích dữ
liệu cần phải thận trọng.
Thống kê đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu quan hệ giữa các biến số,
đặc biệt trong trƣờng hợp có nhiều hơn hai biến số. Bằng kinh nghiệm, có thể dễ
dàng đọc đƣợc quan hệ giữa hai biến số bằng một bảng nhƣng không thể lƣợng
hoá đƣợc quan hệ này, thống kê giúp xác định độ lớn của quan hệ. Chúng có thể
khẳng định hay phủ nhận những gì đọc đƣợc từ thông tin và cung cấp chỉ số về độ
234
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
lớn của quan hệ và mức độ cũng hữu dụng trong việc hiểu sự liên thuộc lẫn nhau
giữa chúng và sự đóng góp của chúng vào một hiện tƣợng hay một sự kiện nào
đó.
Một các gián tiếp, kiến thức thống kê hỗ trợ từng bƣớc trong quá trình
nghiên cứu. Kiến thức về các vấn đề này kết hợp với phân tích dữ liệu, các loại
kiểm thử thống kê có thể đƣợc áp dụng cho các loại biến số và kiến thức về tính
toán các thống kê tổng thể trong quan hệ với thang đo lƣờng đƣợc dùng đóng vai
trò quan trọng trong lỗ lực nghiên cứu. Tuy nhiên cũng có thể thực hiện mọt
nghiên cứu xác thực hoàn hảo mà không cần dùng đến bất kỳ thủ tục thống kê
nào. Điều này phụ thuộc vào mục tiêu của nghiên cứu
Tóm tắt chƣơng
Trong chƣơng này, ta xem xét cách thức xử lý dữ liệu. Bất chấp phƣơng
pháp thu thập dữ liệu. Việc xử lý dữ liệu bao gồm tất cả các hoạt động đƣợc tiến
hành từ lúc dữ liệu đƣợc thu thập đến khi dữ liệu sẵn sàng đƣợc phân tích thủ
công hay bằng máy tính. Quá trình xử lý dữ liệu bắt đầu bằng việc hiệu chỉnh dữ
liệu bằng cách lấy ví dụ từ một cuộc khảo sát đã có.
Máy tính giúp tiết kiệm công sức và tăng tốc độ xử lý. Các ứng dụng máy
tính có thể tìm thấy trong việc xử lý các thủ tục tính toán và thống kê phức tạp, xử
lý văn bản, trình bày đồ hoạ dữ liệu đã đƣợc phân tích. Đối với nghiên cứu các
phép thống kê là mong muốn nhƣng không bắt buộc. Phạm vi ứng dụng thống kê
về cơ bản giúp làm rõ nghĩa của dữ liệu, giúp “đọc” đƣợc nó, khám phá quan hệ
và sự liên thuộc lẫn nhau giữa các biến số, xác định độ lớn của mối quan hệ hay
sự liên thuộc và đặt niềm tin và kết quả tìm đƣợc.
5. Chú thích
Có 4 loại chú thích: chú thích nguồn, chú thích các phần cụ thể của bảng và
chú thích độ xác xuất. Nếu dữ liệu đƣợc lấy từ một nguồn khác, phải thừa nhận
235
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
điều này. Nguồn đƣợc trình bày ở cuối bảng và đƣợc đặt tên là “nguồn” nhƣ hình
15.1. Tƣờng tự các chú thích khác cũng nằm ở cuối bảng.
tiêu đề đầu đề
Bảng 14.3. Thái độ về việc khai thác mỏ Uranium dựa vào tuổi (trục x)
Thái độ về việc khai thác Tuổi của ngƣời trả lời Tổng cộng
mỏ uranium <25 25-34 35-44 45-54 55+
tán thành mạnh mẽ
tán thành
Không chắc chắn
Cực kỳ phản đối
Tổng cộng
(trục y)
Nguồn: ............ tƣ liệu dựa trên giả thiết
Mẫu viết nhở phần thân
chú thích
Hình 15.1. Cấu trúc của bảng
Các kiểu bảng
Phụ thuộc vào số trình bày thông tin, bảng có thể đƣợc phân loại thành bảng
đơn biến (chứa đựng thông tin về chỉ một biến số, thí dụ bảng 15.1 và 15.2- cũng
đƣợc gọi là “bảng tần số”) bảng hai biến (chứa đựng thông tin về hai biến số)
bảng 15.3 cũng đƣợc gọi là “bảng đối chiếu chéo”) hay bảng đa biến (chứa thông
tin nhiều hơn hai biến số, thí dụ bảng 15.4)
Bảng 15.1. Những ngƣời trả lời theo độ tuổi (bảng tần số của một tập hợp- dữ liệu
giả thuyết)
Tuổi Số ngƣời trả lời
< 20 tuổi 2(2.0)
20-24 12 (12.0)
25-29 22 (22.0)
30-34 14 (14.0)
35-39 17 (17.0)
236
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
40-44 10 (10.0)
45-49 11 (11.0)
50-54 9 (9.0)
55+ 3 (3.0)
Tổng cộng 100 (100.0)
Chú thích: Số trong ngoặc đơn là số phần trăm
Bảng 15.2. Những ngƣời trả lời theo độ tuổi
(bảng tần số so sánh của hai tập hợp- dữ liệu giả thuyết)
Tuổi Tập hợp A Tập hợp B
< 20 tuổi 2(2.0) 1 (0.6)
20-24 12 (12.0) 17(10.9)
25-29 22 (22.0) 23(14.7)
30-34 14 (14.0) 18 (11.5)
35-39 17 (17.0) 26 (16.7)
40-44 10 (10.0) 16 (10.3)
45-49 11 (11.0) 18 (11.5)
50-54 9 (9.0) 27 (17.3)
55+ 3 (3.0) 10 (6.4)
không trả lời 0 (0.0) 0 (0.0)
Tổng cộng 156 (99.9*)
Chú thích: Số trong ngoặc đơn là số phần trăm (có lỗi làm tròn).
Bảng 15.3. Những ngƣời trả lời theo thái độ về việc khai thác mỏ Uranium và
tuôỉ ( bảng đối chiếu chéo- dữ liệu giả thuyết)
Thái độ về
việc khai
thác mỏ
Uranium <25 25-34 35-44 45-54 55+ T.cộng
237
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Tán thành (0.0)* (5.5)* (14.8)* (35.0)* (100.0)*
mạnh mẽ 0 2 4 7 3 16
(0.0) @ (12.5) @ (25.0) @ (43.6) @ (18.6) @ (100.0) @
tán thành (0.0)* (8.3) (18.5) (20.0) (0.0)
0 3 5 4 0 12
(0.0) (25.0) (41.7) (33.3) (0.0) (100.0)
không chắc (0.0)* (0.0) (7.4) (20.0) (0.0)
chắn 0 0 2 4 0 6
(0.0) (0.0) (33.3) (66.7) (0.0) (100.0)
Không tán (14.3)* (19.4) (3.7) (0.0) (0.0)
thành 2 7 1 0 0 10
(20.0) (70.0) (10.0) (0.0) (0.0) (100.0)
Phản đối (85.7)* (66.7) (55.6) (25.0) (0.0)
mạnh mẽ 12 24 15 5 0 56
(21.4) (42.9) (26.8) (8.9) (0.0) (100.0)
Tổng cộng (100.0)* (100.0) (100.0) (100.0) (100.0) (100.0)
14 36 27 20 3 100
Chú thích: (*= phần trăm cột; @= phần trăm hàng)
Bảng 15.4. Thái độ về việc khai thác mỏ Uranium theo tuôỉ và giới tính
(dữ liệu giả thuyết)
238
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Số ngƣời trả lời
Thái độ về Tổng
việc khai cộng
<25 25-34 35-44 45-54 55+
thác mỏ
Uranium Nữ Nữ Nữ Nữ Nữ Nữ T.cộng
Nam Nam Nam Nam Nam Nam
Tán thành 0 0 1 1 3 1 5 2 3 - 12 4 16
mạnh mẽ
tán thành 0 0 1 2 3 2 3 1 0 0 7 5 12
không chắc 0 0 0 0 1 1 2 2 0 0 3 3 6
chắn
Không tán 1 1 4 3 1 0 0 0 0 0 6 4 10
thành
Phản đối 4 8 17 7 8 7 2 3 0 0 31 25 56
mạnh mẽ
Tổng cộng 5 9 23 13 16 11 12 8 3 0 59 41 100
Các kiểu phần trăm
Đối với ngƣời nghiên cứu, khả năng diễn giải dữ liệu chính xác và truyền đạt
kết quả kiến hiệu là các kỹ năng quan trọng. Để làm đƣợc điều này, cần xem xét
các phép đo lƣờng khác chẳng hạn phần trăm, phần trăm tích luỹ, hay tỉ số. Đôi
khi cũng cần áp dụng các thủ tục thống kế khác nhau vào dữ liệu. Việc dùng các
dạng phần trăm là một thủ tục phổ biến trong diễn giải dữ liệu. Có 3 loại phần
trăm: “hàng”, Cột” và “tổng số”. Việc hiểu biết tính thích hợp phân giải và ý
nghĩa của mỗi loại là quan trọng. Hãy xem một số thí dụ sau.
Bảng 15.1 và 15.2 là các bảng một biến hay bảng tần số. Ở mọi bảng đơn
biến, phân trăm tính toán độ lớn của mỗi phạm trù con trong biến số theo một số
cố định (100) . Nhƣ vậy thí dụ bảng sẽ cho biết số lƣợng ngƣời trả lời phỏng vấn.
Các con số phần trăm trong bảng một biến sẽ đóng vai trò quan trọng hơn khi so
sánh hai hay nhiều hơn các mẫu thử hoặc tập hợp ( bảng 15.2). Vì tổng số ngƣời
trả lời ở mẫu thử / tập hợp thƣờng khác nhau nên tỉ lệ phần trăm cho phép chuẩn
239
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
hoá dựa vào một số cố định (100). Việc chuẩn hoá dựa vào trị số 100 nhƣ vậy cho
phép so sánh độ lớn của 2 tập hợp trong các phạm trù con khác nhau của biến số.
Trong bảng đối chiếu chéo nhƣ bảng 15.3, các phạm trù con của cả 2 biến
số đƣợc xem xét tƣơng ứng với nhau. Để bảng này ít gặp trục trặc, phải loại bỏ
các phạm trù tuổi trong bảng 15.1. Đối với các bảng số nhƣ thế, có thể tính đến 3
loại phần trăm khác nhau: hàng, cột, tổng số.
Phần trăm hàng ngang: tính từ tổng tất cả các phạm trù con của một biến số
đƣợc trình bày theo hàng ngang ở các cột khác nhau – tƣơng ứng với chỉ một
phạm trù con của biến số khác. Thí dụ, ở bảng 15.3, các số trong ngoặc đơn đánh
dấu @ là các phần trăm hàng ngang tính đƣợc từ tất cả các phạm trù con về tuổi
biến số (16) tƣong ứng với chỉ một phạm trù con của biến số thứ hai (tức là những
ngƣời có thái độ ủng hộ mạng mẽ việc khai thác Uranium). Nói cách khác, mỗi
phạm trù con của biến số biểu thị trên hạng mục theo tất cả các phạm trù con của
biến trình bày trên tiêu đề cột của bảng. Trong tổng số ngƣời có thái độ phản đối
mạnh mẽ việc khai thác mỏ Uranium có 21,4% dƣới 25 tuổi, không ai trên 55 tuổi
và phần lớn (42,9%) ở độ tuổi 25 – 34 (bảng 15.3). Do vậy, tỉ lệ phần trăm hàng
ngang cho biết mức độ phản đối kjhai thác mỏ Uranium. Nó cũng cho thấy 56
ngƣời trả lời có thái độ phản đối mạnh mẽ việc khai thác mỏ Uranium khác biệt
về tuổi so với những ngƣời khác ra sao. Tƣơng tự, có thể chọn bất kỳ phạm trù
con nào khác của biến số ( thái độ về khai thác mỏ Uranium) để xem xét mức độ
thay đổi của nó tƣơng ứng với biến số khác (tuổi).
Phần trăm cột dọc: theo cách tƣơng tự, có thể giữ nguyên độ tuổi cố định và
xem xét mức độ thay đổi về thái độ. Thí dụ - giả sử muốn tì ra sự khác nhau
trong thái độ giữa những ngƣời 25 – 34 tuổi về việc khai thác Uranium. Phạm trù
tuổi 25 – 34 (cột) cho thấy rằng trong số 36 ngƣời, có 24 ngƣời (66,7%) có thái độ
phản đối mạnh mẽ trong đó 2 ngƣời (5,5%) có thái độ phản đối mạnh mẽ về việc
khai thác này. Có thể làm nhƣ vậy bằng cách lấy bất lỳ phạm trù con nào của biến
240
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
số tuổi để xem xét khác biệt với các phạm trù con khác của biến số khác (thái độ
về việc khai thác Uranium).
Phần tram tổng số: cách này chuẩn hoá độ lớn của một ô, có nghĩa là nó cho
biết phần trăm ngƣời trả lời trong các phạm trù con của biến số tƣơng ứng với các
phạm trù con của biến số khác. Thí dụ, những ngƣời dƣới 25 tuổi và có thái độ
phản đối mạnh mẽ việc khai thác Uranium sẽ chiếm bao nhiêu phần trăm trong
tổng số tập hợp?
Có thể sắp xếp dữ liệu theo 3 biến số. Bảng 15.4 (không trình bày tỉ lệ phần
trăm) xem xét thái độ của ngƣời trả lời tƣơng ứng với tuổi và giới tính của họ. Khi
thêm nhiều biến số hơn vào bảng thì bảng trở nên phức tạp - khó dọc và khó diễn
giải hơn – nhƣng thủ tục để diễn giải vẫn tƣơng tự.
Việc đƣa thêm biến số thứ 3- giới tính-giúp tìm ra sự kết hợp giữa hai phạm
trù con số (tuổi và thái độ) của hai hay nhiều hơn các biến số, theo quan hệ với
giới tính. Nói cách khác, nó giúp tìm ra có bao nhiêu nam và nữ trong một ô trên
bảng thể hiện sự kết hợp giữa hai biến số khác. Thí dụ, bảng 15.4 cho thấy trong
tổng số ngƣời có thái độ phản ứng mạnh mẽ về việc khai thác urunium có
24(42.9%) ỏ độ tuổi 25-34. Nhóm này gồm có 17 (70.8%) nữ và 7 (29.2%) nam.
Do vậy, bảng cho thấy giữa độ tuổi 25-34, tỉ lệ phần trăm ngƣời trả lời nữ nhiều
hơn nam. Tƣơng tự có thể lấy 2 phạm trù con về tuổi và thái độ rồi xem xét quan
hệ với phạm trù con (nam/nữ) của biến số thứ 3- giới tính.
Biểu đồ
Dữ liệu thống kê không những yêu cầu phân tích cẩn thận mà còn yêu cầu
trình bày phải có sức cuốn hút để dễ hiểu và dễ truyền đạt. Một trong những lựa
chọn cần thực hiện là tập hợp thông tin đƣợc trình bày tốt nhất nên để ở dƣới dạng
bảng, biểu đồ hay văn bản. Mục tiêu chính của biểu đồ là trình bày dữ liệu dễ
hiểu, dễ diễn đạt và gây thích thú. Quyết định dùng biểu đồ phần lớn nên dựa trên
nhận xét đó.
241
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Có thể xây dựng biểu đồ cho mọi loại dữ liệu- định lƣợng và định tính- và
cho bất kỳ loại biến số nào (đo lƣờng tren thang đo danh định, thứ tự, khoảng
cách hay tỉ lệ). Có các loại biểu đồ khác nhau và quyết định dùng loại cụ thể nào
đó phải dựa vào thang đo đƣợc dùng. Chú ý rằng thang đo lƣờng đóng vai trò
quan trọng trong việc phân giải dữ liệu. Thực tế có nhiều ngƣời diễn giải biểu đồ
sai và rút ra kết luận sai lầm đơn giản là vì không chú ý tới thang đo dùng đo
lƣờng biến số.
Khi thiết lập bất kỳ loại biểu đồ nào, quan trọng là phải làm quen với các
điểm sau:
Trình bày đồ hoạ ứng với 2 trục: Trục hoành và trục tung, thƣờng gọi và
trục X và trục Y
Nếu biểu đồ thiết kế để trình bày chỉ một biến số, thƣờng nhƣng không bắt
buộc, biểu diễn các phạm trù con của biến số dọc theo trục X và tần số/đếm của
phạm trù con đó theo trục Y. Điểm giao nhau giữa a trục (X,Y) đƣợc xem là điểu
0 của trục Y. Khi biểu đồ thể hiện hai biến số, mỗi biến sẽ đƣợc biểu diễn trên
một trục và điểm giao giữa chúng là điểm bắt đầu hay điểm 0
Giống nhƣ bảng, biểu đồ nên có tiêu đề mô tả nội dung của nó. Các trục
cũng nên đƣợc ghi tên.
Biểu đồ nên đƣợc vẽ trên thang đo thích hợp. Cần chọn thang đo và cho
phép iểu đồ không quá nhỏ cũng không quá lớn và thang đo ở mỗi trục sẽ tỉ lệ với
nhau. Đôi khi để cân đối sự trải dài của thang (khi nó kéo quá dài) trên một hay cả
hai trục, phải bẻ gãy thang ra và chỉ báo cho ngƣời đọc về điểm gãy của thang
Nhƣ đã nói, loại biểu đồ phụ thuộc vào loại dữ liệu trình bày. Đối với các
biến số liên tục có thể thêm biểu đồ đƣờng thẳng hay biểu đồ xu hƣớng. Số lƣợng
biến số sẽ đƣợc thể hiện trên biểu đồ cũng góp phần vào việc xác định loại biểu
đồ cần xây dựng.
242
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Biểu đồ hình chữ nhật
Biểu đồ hình chữ nhật gồm một chuỗi hình chhữ nhật đƣợc vẽ kế tiếp nhau-
không có khoảng cách mỗi hình biểu diễn tần số của phạm trù hay phạm trù con
(hình 15.2). Chiều cao của hình tỉ lệ với tần số- trình bày tần số tỉ lệ hoặc tuyệt
đối hoặc tỉ lệ tuyệt đối hoặc tỉ lệ phần trăm trên tổng số. Nhƣ đã nói, biểu đồ hình
chữ nhật có thể vẽ cho cả biến số phân loại và liên tục và khi diễn giải biểu đồ cần
nhớ điều này. Hình 15.2a, b cho thấy 2 biểu đồ hình chữ nhật, sử dụng dữ liệu từ
bảng 15.1 và 15.4.
Hình 15.2a: Biểu đồ chữ nhật 2 chiều
Hình 15.2b: Biểu đồ chữ nhật 3 chiều
243
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 15.2c: Biểu đồ chữ nhật 2 chiều gồm hai biến số
Biểu đồ thanh
Biểu đồ thanh dùng để trình bày dữ liệu có tính phân loại (hình 15.3). Biểu đồ
thanh giống với biểu đồ hình chữ nhật biểu diễn tần số sẽ có khoảng cách khác nhau,
244
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
vì vậy cho biết dữ liệu này mang tính phân loại. Biểu đồ thanh dùng cho các biến số
đƣợc đo trên thang danh định hay thang thứ tự. Các phạm trù rời rạc thƣờng đƣợc
biểu diễn trên trục X và số lƣợng hay phần trăm ngƣời trả lời đƣợc biểu diễn trên trục
Y. Tuy nhiên cũng có thể biểu diễn các phạm trù rời theo trục Y. Biểu đò thanh là
cách trình bày kiến hiệu độ lớn của mỗi phạm trù con của biến số.
Biểu đồ thanh xếp lên nhau tƣơng tự nhƣ biểu đôd thanh ngoại trừ rong biểu
đồ thanh xếp lên nhau, mỗi thanh trình bày thông tin về hai hay hơn các biến số sẽ
đƣợc xếp chồng lên nhay theo chiều đứng (hình 15.4). Các phân khúc của thanh
cho biết tỉ lệ của các biến số tƣơng ứng với nhau. Các thanh xếp lên nhay chỉ
dùng cho dữ liệu có tính phân loại.
Hình 15.4: Biểu đồ thanh xếp chồng lên nhau
245
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Hình 15.5: Biểu đồ thanh 100%
Biểu đồ thanh 100% rất giống với biểu đồ thanh xếp chồng lên nhau Điểm
khác nhau duy nhất là ở biểu đồ thanh 100% và các phạm trù con của biến số của
một thanh chiếm 100% và mỗi thanh đƣợc chia nhỏ thành các phần tƣơng ứng
với tỷ lệ phần trăm của chúng.
Đa giác tần số.
246
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Đa giác tần số rất giống với biểu đồ hình chữ nhật. Đa giác tần số đƣợc vẽ
bằng cách nối điểm giữa của mỗi hình chữ nhật ở độ cao tƣơng ứng với tần số của
đoạn đó (hình 15.6). Một trở ngại khi thiết lập đa giác tần số là làm gì với 2 phạm
trù ở mỗi đầu. Để mang đƣờng đa giác về lại trục X, cần tƣởng tƣợng rằng hai
phạm trù cực biên đều có một đoạn tƣơng tự với phần còn lại và giả sử rằng tần số
ở 2 phạm trù biên này là 0. Từ điểm giữa của các đoạn này, kéo dài đƣờng đa giác
đến gặp trục X ở cả hai đầu. Có thể vẽ đa giác bằng cách dùng các tần số tuyệt đối
hoặc tỉ lệ.
Hình 15.6. Đa giác về các tần số.
Đa giác tần số tích luỹ
Đa giác tần số tích luỹ đƣợc vẽ dựa trên nền tảng của các tần số tích luỹ.
Điểm khác nhau cơ bản giữa đa giác tần số và đa giác tần số tích luỹ là cái trƣớc
đƣợc vẽ bằng cách nối các điểm giữa của các khoảng cách trong đó cái sau đƣợc
vẽ bằng cách nối các điểm cuối của các khoảng cách vì tần số tích luỹ diễn giải tƣ
liệu ứng với giới hạn trên của khoảng cách. Vì việc phân bổ tần số tích luỹ cho ta
biết số lƣợng việc quan sát ít hơn giá trị đƣợc cho trƣớc và thƣờng đƣợc dựa trên
tƣ liệu chia nhóm, để giải thích sự phân bố tần số, giới hạn trên cần đƣợc xem xét.
Trình bày kiểu nhánh và lá là cách trình bày phân bổ tần số nhanh, đơn giản
và có hiệu quả (hình 15.8). Biểu diễn nhánh lá cho mỗi phân bổ tần số với hai 2
chữ số đƣợc vẽ bằng cách biểu diễn các chữ số từ 0 đến 9 ở bên trái của 2 chữ số
đƣợc biểu diễn bên phải củ trục Y. Cần chú ý biểu diễn nhánh và lá diễn bên phải
247
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
của trục Y. Cần chú ý biểu diễn nhánh và lá không dùng các dữ liệu đƣợc ghép
nhóm mà dùng các tần số tuyệt đối. Nếu biểu diễn này đuợc quay 90 theo chiều
ngƣợc kim đồng hồ nó sẽ trở thành một biểu đồ hình chữ nhật.
Bằng kỹ thuật này, một số các thống kê mô tả liên quan đến phân bố tần số
nhƣ trị trung bình. Số trung vị ... có thể dễ dàng xác đinh. Các biểu diễn nhánh và
lá cũng biểu diễn đƣợc cho các tần số có từ 3 đến 4 chữ số.
1 89
2 000111222222334455556667777788899
3 0011122233333344555566677777889
4 112223333444555566779
5 000113355667
Hình 15.8. Biểu diễn dạng lá và nhánh
Biểu đồ hình quạt
Biểu đồ hình quạt là một cách biểu diễn dữ liệu hình ảnh khác-duới dang một
hình tròn. Hình tròn có 3600, do vậy hình tròn hoàn chỉnh có thể đƣợc dùng biểu
diễn 100%. hoặc toàn bộ tập hợp. Hình tròn hay hình quạt đƣợc chia thành các
phần ứng với độ lớn của mỗi phạm trù con, vì vậy mỗi phần tỉ lệ này có thể đựoc
biểu diễn nhƣ các con số tuyệt đối hay phần trăm. Biểu đồ hình quạt khó khăn
trong đo lƣờng các gốc độ của hình tròn/hình quạt. Hình quạt có thể đựoc đo trên
thang đo liên tục nhƣng đƣợc phép nhóm thành các phạm trù.
Biểu đồ đƣờng thẳng hay đƣờng cong xu hƣớng
Tập dữ liệu đƣợc đo lƣờng trên thang đo tỉ lệ và thang đo khoảng cách liên
tục có thể đƣợc trình bày bằng cách sử dụng biểu đồ đƣờng thẳng hay biểu đồ xu
hƣớng. Đồng xu hƣớng có thể vẽ đối với các tƣ liệu thuộc về thời điểm cụ thể (thí
dụ: 1975,1976,1977) hay trong một thời kỳ (thí dụ nhƣ 1965-1969, 1970-1974,
1975-1979) nếu liên quan đến một thời kỳ điểm giữa của mỗi khoảng cách ở độ
cao ứng với mỗi tần số nhƣ trong biểu đồ hình chữ nhật đƣợc đánh dâú bằng một
dấu chấm. Sau đó nối những dấu chấm.
248
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Này bằng các đƣờng thẳng để xem xét các xu hƣớng trong một hiện tƣợng.
Còn nếu dữ liệu ứng với thời điểm chính xác, sẽ vẽ một điểm ở độ cao ứng với
tần số. Sau đó nối các điểm này bằng các đƣờng thẳng. Biểu đồ đƣờng thẳng là
cách hữu dụng dùng thể hiện những thay đổi trong xu hƣớng đài hạn của hiện
tƣợng hay tình huống cần đƣơc nghiên cứu, hay thể hiện các thay đổi trong phạm
trù con của biến số đƣợc đo lƣờng trên thang đo khoảng cách hay thang đo tỉ lệ
(hình 15.9). Các xu hƣớng đƣợc vẽ dƣới dạng bảng số. Thí dụ biểu đồ đƣờng
thẳng hữu ích đối với việc minh hoạ các xu hƣớng vể tỉ lệ sinh hay tử và các thay
đổi về kích cỡ dân số.
Biểu đồ diện tích
Đối với các biến số đƣợc đo trên thang đo khoảng cách hay thang đo tỉ lệ, thông
tin về các phạm trù con của biến số có thể đƣợc trình bày dƣới dạng biểu đồ diện tích
bên dƣới mỗi đƣờng thẳng đƣợc tô đen để thể hiện độ lớn của mỗi phạm trù tƣơng
ứng với các phạm trù con khác. Vì vậy, biểu đồ diện tích biểu diễn điện tích bên dƣới
đuờng cong tƣơng ứng với các phạm trù con của biến số. Thí dụ: hình 15.10 cho thấy
số lƣợng nam và nữ của những ngƣời trả lời theo tuổi.
Biều đồ tán phát
Khi muốn trình bày một biến số thay đổi ứng với thay đổi ở biến số khác
bằng hình ảnh, biểu đồ tán phát tỏ ra vô cùng kiến hiệu.
249
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Đối vứi các biểu đồ tán phát cả hai biến số phải đƣợc đo trên các thang đo
khoảng cách hay thang đo tỉ lệ và dữ liệu của cả hai biến số cần có sẵn dƣới dạng
trị số tuyệt đối ở mỗi phép quan sát. Dữ liệu của 2 biến đƣợc lấy theo từng cặp và
đƣợc biểu diễn thành những điểm tƣơng ứng với giá trị của nó trên cả hai trục.
Hãy xem dữ liệu của tuổi và thu nhập của 10 ngƣời trả lời trong 1 nghiên cứu giả
thuyết ở bảng 15.5. Hình 15.11. cho thấy quan hệ giữa tuổi và thu nhập
dựa trên dữ liệu giả thuyết. Không thể xây dựng biểu đồ tán phát cho các
biến số mang tính phân loại.
Bảng 15.5. Dữ liệu về tuổi và thu nhập
Ngƣời trả lời Thu nhập Tuổi
A 25.500 24
B 46.000 50
C 30.500 36
D 55.000 45
E 27.000 29
F 35.000 38
G
40.000 37
H
I 52.000 46
J 47.000 41
38.000 47
Hình 15.11. Biểu đồ tán phát
Tóm tắt chƣơng
Kết quả nghiên thƣờng đƣợc truyền đạt đến ngƣời đọc dƣới dạng văn bản.
Tuy nhiên đôi khi thông tin có thể đƣợc truyền đạt tốt hơn ở dạng bảng số hay đồ
thị. Chúng không cho độc giả biến nhiều thông tin hơn rõ ràng hơn. Nên sử dụng
cách truyền đạt nào giúp ngƣời đọc dễ hiểu nhất. Bảng số có ƣu điểm chứa đƣợc
nhiều thông tin trong một không gian nhỏ, trong khi đó biểu đồ giúp ngƣời đọc dễ
hiểu dễ tiếp thu thông tin.
250
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Bảng có 5 phần- tiêu đề, hạng mục, tiêu đề cột thân và chú thích. Phụ thuộc
vào số lƣợng biến số giữ thông tin trong bảng, có 3 loại bảng: bảng đơn biến (tần
số), bảng hai biến (bảng đối chiếu chéo) và bảng đa biến.
Dễ diễn giải bảng: Bảng đùng các thủ tục số học đơn gỉan nhƣ tỉ lệ phần trăm
tần số tích luỹ, tỉ lệ. Cũng có thể tính các đại lƣợng thống kê mô tả đơn giản nhƣ
trị trung bình, số trung vị, kiểm thử chi, hệ số tƣơng quan... Nếu có kiến thức về
thống kê có thể áp dụng các phép thống kê cao cấp hơn.
Có nhiều loại biểu đồ và các dạng biểu đồ phổ biến nhất là biểu đồ hình chữ
nhật biểu đồ thanh, biểu đồ thanh xếp chồng lên nhau, biểu đồ thanh 100% biểu
đồ đa giác tần số trình bày kiểu nhánh và lá, biểu đồ hình quạt, biểu đồ đƣờng
thẳng hay xu hƣớng, biểu đồ diện tích và biểu đồ tán phát. Sử dụng biểu đồ nào
phụ thuộc vào mục tiêu và thang đo dùng để đo lƣờng các biến số cần thiết trình
bày. Một số biểu đồ khó vẽ nhƣng có nhiều chƣơng trình máy tính có tính năng
trình bày biểu đồ rất tốt.
Bước 8
Viết báo cáo nghiên cứu
Chương 1. Viết báo cáo nghiên cứu
16.
VIẾT BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
Viết bài nghiên cứu nói chung
Tham khảo
viết thƣ mục
Triển khai đề cƣơng dàn bài
Viết về một biến số
Tóm tắt chƣơng
Viết bài nghiên cứu nói chung
251
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Bƣớc cuối cùng của quá trình nghiên cứu là biết báo cáo nghiên cứu. Mỗi
bƣớc của quá trình nghiên cứu đều quan trọng để có đƣợc một nghiên cứu có
tính xác thực cao – xao lãng bất kỳ bƣớc nào đều có ảnh hƣởng đến toàn bộ
nghiên cứu, không chỉ ở phần tƣơng ứng ở bƣớc đó. Theo một khía cạnh nào đó,
bƣớc cuối cùng này là quan trọng nhất vì chính thông qua báo cáo – các kết quả
của nghiên cứu và hàm ý của chúng đƣợc truyền đạt đến ngƣời đọc và ngƣời
hƣớng dẫn. Hầu hết ngƣời ta không hình dung đƣợc khối lƣợng và chất lƣợng của
công việc bên trong nghiên cứu - sự quan tâm và thực hiện công việc khó khăn
xảy ra ở mọi giao đoạn của nghiên cứu – nhƣng điều mà mọi độc giả đều thấy
đƣợc chính là bài báo cáo. Do vậy, toàn bộ công trình vất vả này có thể bị hỏng
nếu báo cáo viết không đƣợc tốt. Theo Burn " công việc thực tế đầy thú vị và cực
kỳ có giá trị có thể bị hỏng ở phút cuối cùng khi sinh viên không có khả năng
truyền đạt kết quả".
Ngoài hiểu biết về phƣơng pháp luận nghiên cứu, chất lƣợng báo cáo còn
phụ thuộc vào các điều sau: Các kỹ năng truyền đạt bài viết và tƣ tƣởng mạch
lạc, khả năng diễn giải ý nghĩ theo thể thức logic và tuần tự cũng nhƣ hiểu biết
nền tảng về lĩnh vực chủ đề nghiên cứu.
Yếu tố có tính quyết định quan trọng khác là kinh nghiệm viết bài nghiên
cứu; kinh nghiệm càng nhiều thì việc viết bài càng có hiệu quả. Việc dùng các
thủ tục thống kê sẽ làm tăng tính xác thực của kết luận và lập luận. Việc dùng
biểu đồ để trình bày kết quả, dù không bắt buộc, sẽ giúp cho ngƣời đọc dễ hiểu
thông tin. Biểu đồ có đƣợc xây dựng hay không hoàn toàn phụ thuộc và mục tiêu
sử dụng của dữ liệu kết quả.
Điểm khác nhau cơ bản giữa bài viết nghiên cứu và bài viết khác nhằm ở
mức độ kiểm soát, tính nghiêm ngặt và độ thận trọng cần thiết. Tính kiểm soát ở
đây có nghĩa cần phải thận trọng về những gì viết ra, từ ngữ đem dùng, cách diễn
đạt và tính xác thực cũng nhƣ tính dễ kiểm chứng của các cơ sở từ đó rút ra các
kết luận. Điểm phân biệt rõ nhất của bài viết nghiên cứu với các bài viết khác đòi
252
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
hỏi tính nghiêm ngặt về kiến thức. Bài viết nghiên cứu phải chính xác tuyệt đối,
rõ ràng, không mơ hồ, logic và xúc tích. Cần tránh các giả định về kiến thức của
ngƣời đọc. Nhớ rằng phải có khả năng bảo vệ những gì viết ra trƣớc các phản biện
bất kỳ. Không sử dụng ngôn ngữ hời hợt và trao chuốt. Thậm chí những ngƣời
nghiên cứu giỏi nhất cũng phải viết một số bản nháp trƣớc khi có đƣợc bản cuối
cùng. Báo cáo nghiên cứu nên đƣợc viết với đại từ nhân xƣng ngôi thứ ba.
Tham khảo
Báo cáo nên theo cách tham khảo có tính học thụât. Có 4 hệ thống tham
khảo để chọn ( Butcher – 1992) và nên chọn hệ thống nào đƣợc lĩnh vực ngành và
trƣờng đại học chấp thuận. Theo Butcher ( 1981) "hệ thống đầu tiên đƣợc dùng
cho hầu hết các loại sách nói chung; hệ thống thứ hai chủ yếu cho sách khoa học
và khoa học xã hội. hệ thống thứ ba và thứ tƣ ít phổ biến":
1. Hệ thống nhan đề ngắn gọn
2. Hệ thống ngày tháng – tác giả
3. Hệ thống số; và
4. Hệ thống số - tác giả
Thƣ mục
Có vài hệ thống dùng cho việc viết thƣ mục và sự lựa chọn hệ thống nào phụ
thuộc vào xu hƣớng của ngành và trƣờng đại học. Trong các lĩnh vực khoa học
xã hội, có một số hệ thống đƣợc sử dụng phổ biến nhất là ( the Mc Graw – Hill
Style Manual, 1983).
Hệ thống Harward;
Hệ thống của Hội tâm lý Mỹ;
Hệ thống của Hội Y khoa Mỹ;
Hệ thống Mc Graw – Hill;
Hệ thống của Hội Ngôn ngữ hiện đại; và
Hệ thống chú thích
253
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Muốn biết thêm về các hệ thống và phong cách này, xem phần tham khảo ở
cuối sách này hay tra cứu ở thƣ viện.
Xây dựng đề cƣơng/ dàn bài
Trƣớc khi bắt đầu viết báo cáo, thực tế cho thấy nên triển khai dàn bài (sắp
xếp thành chƣơng, mục). Điều này nghĩa là quyết định cách chia báo cáo thành
từng chƣơng khác nhau và hoạch định sẽ viết gì trong mỗi chƣơng. Trong quá
trình phân chƣơng nên dựa vào các mục tiêu phụ của nghiên cứu. Triển khai từng
chƣơng xoay quanh các luận đề chính của bài nghiên cứu. Tuỳ thuộc vào tầm
quan trọng của luận đề, có thể dành trọn một chƣơng cho nó hay kết hợp với các
luận đề khác để viết thành một chƣơng. Tiêu đề của mỗi chƣơng nền miêu tả luận
đề chính, nên truyền đạt các ý chính của nó và phải rõ ràng, xúc tích.
Chƣơng đầu tiên của báo cáo có thể đặt tên là "Giới thiệu", là phần giới thiệu
chung về nghiên cứu, đề cập đến phần lớn đề xuất dự án và chỉ ra các sai lệch nếu
có so với từ kế hoạch ban đầu. Dƣới đây sẽ trình bày tất cả các nhiệm vụ chuẩn bị
trƣớc khi tiến hành nghiên cứ, chẳng hạn tổng quan về tài liệu, khung lý thuyết cơ
sở, mục tiêu nghiên cứu; thiết kế nghiên cứu; chiến lƣợc lấy mẫu; và thủ tục đo
lƣờng. Lấy thí dụ và nghiên cứu vấn đề trả lƣơng cho cô nuôi dạy trẻ đã đƣợc đề
cập đến trong các chƣơng trƣớc. Nội dung đó có thể xoay quanh các tiêu đề sau:
Chƣơng I: Giới thiệu
Lời giới thiệu
Phát triển của việc chăm sóc trẻ
Việc chăm sóc trẻ ở miền Tây nƣớc Úc;
Bộ phận dịch vụ công cộng;
Chƣơng trình chăm sóc cộng đồng và ngoài gia đình;
Xu hƣớng sắp xếp nhà trẻ hiện nay ở miền Tây nƣớc Úc;
Trở thành một ngƣời nuôi trẻ;
Phụ cấp cho chăm sóc trẻ;
Các vấn đề về trả lƣơng chăm sóc trẻ;
254
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Tính hợp lý của nghiên cứu;
Các mục tiêu nghiên cứu;
Thiết kế nghiên cứu;
Lấy mẫu;
Thủ tục đo lƣờng;
Các khó khăn và giới hạn; và
Các định nghĩa làm việc.
Chƣơng 2 cung cấp thông tin về tập hợp nghiên cứu. Ở chƣơng này các
đặc điểm về kinh tế, xã hội và nhân khẩu có liên quan của tập hợp nghiên cứu
đƣợc mô tả. Chƣơng này có 2 mục đích
1. Cung cấp cho độc giả một số thông tin cơ bản về tập hợp từ đó thu thập
thông tin, vì vậy họ có thể liên hệ kết quả nghiên cứu với loại tập hợp nghiên cứu.
2. Nhận diện các khác biệt trong một nhóm, thí dụ muốn xem xét mức độ
hài lòng của khách hàng về dịch vụ cung ứng thay đổi theo độ tuổi, giới tính hay
học vấn.
Vì vậy, chƣơng 2 có thể đƣợc đặt tên là "Các đặc điểm về nhân khẩu – kinh
tế - xã hội của tập hợp nghiên cứu" hay gọn hơn "Tập hợp nghiên cứu". Chƣơng
này đƣợc viết xoay quanh các tiêu đề sau:
Chƣơng II: Tập hợp nghiên cứu
Lời giới thiệu
Ngƣời trả lời theo tuổi (Thông tin từ các trả lời cho câu hỏi về tuổi đƣợc
trình bày ở đây. Xem thêm phần "Viết về biến số" ở bên dƣới).
Ngƣời trả lời theo giới tính; (xem mục trên)
Tình trạng hôn nhân của tập hợp nghiên cứu;
Đặc điểm dân tộc của những ngƣời trả lời;
Thu nhập bình quân hàng năm của tập hợp nghiên cứu;
255
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Tiêu đề và nội dung của các chƣơng sau phụ thuộc vào những gì cần mô tả,
khám phá, xem xét, thiết lập hay chứng minh trong bài nghiên cứu. Nội dung của
mỗi dự án khác nhau nên những chƣơng này cũng sẽ khác nhau. Nhƣ đã nói ở
trên, tiêu đề của mỗi chƣơng cần phản ánh ý chính của nội dung của chƣơng.
Dàn bài cần nêu rõ các mục nhỏ trong chƣơng. Các mục này cần đƣợc triển
khai quanh các khía cạnh khác nhau của luận đề đang đƣợc trình bày trong
chƣơng. Nếu dự định xét tƣơng quan giữa thông tin của biến này với biến khác,
phải xác định các biến. Lập trình tự để trình bày các biến số này. Khi triển khai
các điều này, cần lƣu ý đến liên kết và trình tự logic giữa các mục. Nhƣng điều
này không có nghĩa là dàn bài đề nghị không đƣợc thay đổi trong quá trình viết
báo cáo. Tuy nhiên dù ở dạng nháp dàn bài cũng hết sức có ích. Lấy nghiên cứu
về việc trả lƣơng cho cô nuôi dạy trẻ em làm thí dụ.
Chƣơng III: Thái độ về mức trả lƣơng hiện nay cho việc chăm sóc trẻ
Lời giới thiệu
Thái độ về việc trả lƣơng thoả đáng cho nghề chăm sóc trẻ (các câu trả lời
cho những câu hỏi về mức lƣơng thoả đáng của nghề chăm sóc trẻ nên đƣa
ra ở đây).
Thoả đáng theo tuổi ( bảng đối chiếu chéo - tức là: các câu trả lời cho
những câu hỏi về mức thoả đáng của lƣơng chăm sóc trẻ đƣợc xem xét tƣơng
ứng với các câu trả lời cho những câu hỏi về tuổi).
Thoả đáng theo tình trạng hôn nhân (bảng đối chiếu chéo - tức là; các câu trả
lời cho những câu hỏi về mức thoả đáng của lƣơng chăm sóc trẻ đƣợc xem
xét tƣơng ứng với các câu trả lời cho những câu hỏi về tình trạng hôn nhân).
Thoả đáng theo thu nhập của gia đình (bảng đối chiếu chéo – tƣơng ứng với
các câu trả lời cho những câu hỏi về thu nhập);
Các khía cạnh của việc chăm sóc trẻ không đƣợc đề cập đến bởi lƣơng
Các chi phí chính mà ngƣời nuôi dạy trẻ phải chịu;
Các ảnh hƣởng của mức lƣơng hiện nay lên gia đình;
Lý do tăng lƣơng;
Mức lƣơng đề nghị
Mức lƣơng đề nghị dựa vào phụ cấp gia đình; và...
256
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Kết luận
Chú ý: Bảng đối chiếu chéo có thể cho bất kỳ biến số nào thích hợp.
Viết về biến số
Sau khi hoàn thành dàn bài các chƣơng, bƣớc kế tiếp là bắt đầu viết. Mặc dầu
các nhà nghiên cứu có nhiều cách rất riêng tƣ tƣơng việc tổ chức bài vếit nhƣng các
hƣớng dẫn và khuôn dạng sau vẫn có ích cho những ngƣời mới bắt đầu.
Khi viết về những thôn tin thu thập từ câu trả lời cho một câu hỏi (biến số),
hãy viết nhƣ thể đang đƣa ra các câu trả lời cho các câu hỏi sau đây:
1) Tại sao bạn lại nghĩ rằng việc nghiên cứu biến số là quan trọng? Theo
bạn, biến số này có những ảnh hƣởng nào lên biến số chính đang đƣợc giải thích
(đây là nơi đưa ra cơ sở hợp lý cho việc nghiên cứu biến số);
2) Trong trƣờng hợp bảng đối chiếu chéo, các nghiên cứu khác đã tìm thấy
những quan hệ gì giữa các biến số đang đƣợc phân tích ( đây là nơi tổng quan về
tài liệu được tích hợp với kết quả nghiên cứu).
3) Bạn mong đợi tìm ra điều gì về quan hệ giữa hai biên số ( nếu có giả
thuyết, hãy trình bày nó ở đây);
4) Nghiên cứu đã tìm ra những gì? ( đưa ra các dữ liệu của nghiên cứu tại
đây, có thể dưới dạng bảng số, biểu đồ hay văn bản);
5) Dữ liệu cho thấy điều gì? (diễn giải kết quả của các phân tích dữ liệu)
6) Có thể rút ra kết luận gì? So sánh với kết quả ở các nghiên cứu tƣơng tự
trong quá khứ? Nghiên cứu của bạn ủng hộ hay mâu thuẫn với chúng?
7) Có thể đƣa ra giải thích nào cho kết quả nghiên cứu?
Trên đây chỉ là một khuôn dạng đề nghị cho việc sắp xếp ý tƣởng chứ
không phải là liệt kê các tiêu đề. Có thể thay đổi trật tự đề nghị để ngƣời đọc hấp
dẫn hơn nếu cần. Bên dƣới là một thí dụ về biến số " Mức thoả đáng về trả lƣơng
đối với nghề chăm sóc trẻ" từ chƣơng 4.
257
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Tại sao việc tìm ra trả lƣơng cho nghề nuôi dạy trẻ có thoả đáng hay không là
điều quan trọng? Sự thoả đáng về lƣơng đối với nghề nuôi dạy trẻ có những
ảnh hƣởng gì đến chất lƣợng chăm sóc trẻ?
Các nghiên cứu khác trong phần tổng quan tài liệu đã nói gì về sự thoả đáng
trong trả lƣơng nghề nuôi dạy trẻ?
Mong đợi tìm thấy điều gì ở tập hợp nghiên cứu về cảm nhận của họ đối với
sự thoả đáng trong trả lƣơng cho nghề chăm sóc trẻ? Nếu có giả thuyết nên
nêu ra ở đây.
Đã tìm thấy điều gì về sự thích đáng trong trả lƣơng cho nghề này? Tỷ lệ
nào của tập hợp nghiên cứu cho là thoả đáng? Đƣa ra bảng số này ?
Có những giải thích nào cho các kết quả thu đƣợc? Nghĩ gì về những ngƣời
đã cho rằng việc trả lƣơng cho nghề nuôi trẻ là thoả đáng hay không thoả
đáng theo cùng kết quả thu đƣợc?
Trong khuôn dạng đề nghị cho việc viết về thông tin thu thập từ câu hỏi, chú
ý rằng phần tổng quan tài liệu đƣợc tích hợp với các kết quả và kết luận. Mức độ
tích hợp này phần lớn phụ thuộc vào cấp độ của bài luận văn ( đại học, cao học
hay tiến sĩ). Cấp độ càng cao thì phần tổng quan tài liệu càng cần phải dâu và
càng cần phải cẩn trọng và tin tƣởng vào kết luận rút ra.
Khuôn dạng đề nghị này đƣợc tổ chức xoay quanh các luận đề chính của
nghiên cứu. Còn có các kiểu mẫu khác. Một số nhà nghiên cứu viết mọi thứ chỉ
dƣới một tiêu đề " kết quả". Kiểu mẫu này thích hợp với một bài nghiên cứu vì nó
ngắn, nhƣng không thích hợp với bản báo cáo nghiên cứu hay luận văn. Các tác
giả khác lại theo cùng thứ tự nhƣ trong công cụ nghiên cứu. Thí dụ các kết quả
đƣợc thảo luận bên dƣới mỗi câu hỏi. Khi này, độc giả cần tham chiếu liên tục
đến công việc nghiên cứu cho mỗi câu hỏi. Khuôn dạng hay không giải thích
đƣợc nội dung ban đầu vì vậy không nên dùng nó.
Tóm tắt chƣơng
258
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Về một phƣơng diện nào đó, viết báo cáo là bƣớc quan trọng nhất trong quá
trình nghiên cứu vì nó truyền đạt kết quả đến độc giả và ngƣời hƣớng dẫn. Báo cáo
viết kém có thể làm hỏng tất cả công vịêc công phu đã bỏ ra cho nghiên cứu.
Các phong cách viết nghiên cứu có khác nhau nhƣng rất cả các báo cáo
nghiên cứu phải đƣợc viết rõ ràng và xúc tích. Hơn nữa, bài viết khoa học yêu cầu
tính chặt chẽ nghiêm ngặt trí tuệ và bắt buộc phải chính xác khách quan. Báo cáo
có thể đƣợc viết theo nhiều khuôn dạng khác nhau và chƣơng này cũng đề nghị
một kiểu viết có ích cho các sinh viên nghiên cứu.
Có nhiều cách viết tham khảo và viết thƣ mục khác nhau. Cần chọn hệ
thống phù hợp với lĩnh vực chuyên ngành và trƣờng đại học.
Trƣớc khi bắt đầu viết báo cáo nghiên cứu, nên xây dựng dàn bài/ đề cƣơng
các chƣơng và nội dung của chúng. Các chƣơng nên đƣợc viết xoay quanh các
luận đề chính của nghiên cứu – về việc các mục tiêu rất có ích. Khi cung cấp
thông tin cụ thể về một biến số, bài viết nên tích hợp với cơ sở của việc nghiên
cứu biến số, phần tổng quan tài liệu; các giả thuyết nếu có; kết quả rút ra, và
những giải thích có thể cho các kết quả.
Khuôn mẫu đề nghị có thể đƣợc mô tả nhƣ thế là viết theo chủ đề - bài viết
đƣợc tổ chức xoay quanh các chủ đề quan trọng của nghiên cứu. Trong mỗi chủ
đề thông tin đƣợc đƣa ra tích hợp và đi theo diễn trình logic của các ý tƣởng.
Phụ lục
TRIỂN KHAI MỘT DỰ ÁN NGHIÊN CỨU – CÁC BÀI TẬP CHO
NGƢỜI MỚI BẮT ĐẦU
Áp dụng là then chốt của kiến thức. Tuy nhiên luôn có khoảng cách giữa
kiến thức lý thuyết và áp dụng của nó. Chỉ thông qua thực tiễn khoảng cách này
mới thu hẹp đƣợc. Ngƣời mới bắt đầu muốn áp dụng kiến thức lý thuyết cần có
phƣơng hƣớng và hƣớng dẫn. Các bài tập nêu ra ở đây là nhằm mục tiêu này.
Chúng đƣợc đặt cơ sở trên các bƣớc tác nghiệp/ vận hành của quá trình nghiên
259
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
cứu và có thể áp dụng vào việc triển khai dự án nghiên cứu hoặc chính xác hơn,
thông qua các bài tập này có thể triển khai đƣợc dự án nghiên cứu.
Mục tiêu chính của các bài tập này là đƣa ra khung cơ sở rộng rãi để triển
khai các bƣớc vận hành. Đối với mỗi bƣớc vận hành, có ít nhất một bài tập. Mỗi
bài tập đó đƣa ra một số câu hỏi chỉ để ra các vấn đề và thủ tục liên quan và cung
cấp khung cơ sở để xây dựng đề cƣơng nghiên cứu. Theo đó, có thể hoàn tất đƣợc
khung cơ sở đề nghị cho việc viết đề xuất nghiên cứu (chƣơng 12) và cũng là cốt
lõi của đề xuất nghiên cứu.
Bài tập 1: Thiết lập bài toán nghiên cứu
Chọn bài toán nghiên cứu là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của
nghiên cứu xã hội. Việc chọn cẩn thận sẽ tránh đƣợc tiêu tốn rất lớn về nhân lực
và tài lực. Cần phát biểu rõ ràng và cụ thể về bài toán nghiên cứu. Tính khả thi
của nghiên cứu qua tính sẵn sàng và tính thích ứng của năng lực kỹ thuật, tài
chính và thời gian cần đƣợc xem xét kỹ ở giai đoạn thiết lập bài toán. Ở các
nghiên cứu cần xây dựng mối liên kết hay quan hệ nhân quả, độ chính xác của
việc đo lƣờng các biến độc lập (nguyên nhân) và các biến phụ thuộc (kết quả) có
tầm quan trọng đặc biệt – vì vậy cần phải xem xét thật kỹ về vấn đề này.
Bắt đầu bằng việc xác định lĩnh vực rộng đang quan tâm - thí dụ; chƣơng
trình chăm sóc sức khoẻ, đào tạo, quan hệ giữa thất nghiệp và tệ nạn đƣờng phố
... Xem lại chƣơng 4 ở trên.
Bước 1: Lựa chọn lĩnh vực rộng đang được quan tâm từ chuyên ngành
học thuật của bạn.
Sau khi chọn lĩnh vực xong , phân rã nó thành các lĩnh vực con. Thí dụ lĩnh
vực quan tâm là nhập cƣ có thể có các lĩnh vực phụ sau:
Tiểu sử về xã hội – kinh tế - nhân khẩu của ngƣời nhập cƣ
Các lý do nhập cƣ
Các vấn đề của ngƣời nhập cƣ
Các dịch vụ cung ứng cho ngƣời nhập cƣ
260
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Thái độ của ngƣời nhập cƣ về chính vấn đề nhập cƣ
Thái độ của các quốc gia tiếp nhận về ngƣời nhập cƣ
Mức độ về thâm nhập văn hoá và đồng hoá
Phân biệt chủng tộc ở quốc gia tiếp nhận
Còn chƣơng trình sức khoẻ cộng đồng có thể phân rã thành:
Tiểu sử về xã hội – kinh tế - nhân khẩu của nhóm đối tƣợng
Các mẫu sinh đẻ và tử vong của cộng đồng
Mức độ và bản chất của tính tiện dụng của chƣơng trình
Các ảnh hƣởng của chƣơng trình lên cộng đồng
Tính hiệu dụng của một chiến lƣợc xúc tiến y tế đặc biệt
Bước 2: Phân rã lĩnh vực nghiên cứu rộng thành các lĩnh vực con. Tiến
hành phiên não công cá nhân
1. .............................................................................................................
2. .............................................................................................................
3. .............................................................................................................
4. .............................................................................................................
5. .............................................................................................................
Không khả thi cũng nhƣ không đề nghị khảo sát mọi lĩnh vực con này. Chỉ
chọn những lĩnh vực con nào có thể khảo sát đƣợc trong ràng buộc về thời gian,
tài chính và kinh nghiệm. Một cách thực hiện việc này là loại dần những lĩnh vực
con nào không quan tâm. Ngay cả chỉ một lĩnh vực con cũng có thể cho ra một
nghiên cứu xác thực và sâu sắc.
Bước 3: Từ các lĩnh vực con, chọn ra một hay nhiều lĩnh vực con bạn
muốn tiến hành nghiên cứu.
1. .............................................................................................................
2. .............................................................................................................
3. .............................................................................................................
Bước 4: Trong mỗi lĩnh vực con dã chọn, có những câu hỏi nghiên cứu gì
bạn hy vọng trả lời được? Càng cụ thể càng tốt.
Lĩnh vực con Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể sẽ đƣợc trả lời
1 1 ....................................................................................................
2 ....................................................................................................
3 ....................................................................................................
261
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
4 ....................................................................................................
2 1 ....................................................................................................
2 ....................................................................................................
3 ....................................................................................................
4 ....................................................................................................
3 1 ....................................................................................................
2 ....................................................................................................
3 ....................................................................................................
4 ....................................................................................................
Các câu hỏi nghiên cứu sẽ trả lời thông qua bài nghiên cứu tạo nên cơ sở
cho các mục tiêu nghiên cứu. Hãy dùng các từ chỉ hành động khi thiết lập các
mục tiêu. Khác biệt chính giữa các câu hỏi nghiên cứu và các mục tiêu nghiên
cứu là cách thức viết ra. Các câu hỏi nằm dƣới dang câu hỏi trong khi các mục
tiêu là các phát biểu về thành quả của các tác vụ.
Mục tiêu chính nên chỉ ra sự tập trung chung của bài nghiên cứu còn các
mục tiêu con là các khía cạnh cụ thể. Các mục tiêu con nên đƣợc đánh số thứ tự
và diễn đạt rõ ràng cũng nhƣ chỉ bao gồm một khía cạnh của nghiên cứu.
Bước 5: Dựa vào các câu hỏi nghiên cứu, xác định mục tiêu chính và mục
tiêu con của nghiên cứu.
........................................................................................................................
........................................................................................................................
........................................................................................................................
Các mục tiêu con ( các khía cạnh cụ thể của nghiên cứu)
1 . ...................................................................................................................
........................................................................................................................
2. ...................................................................................................................
........................................................................................................................
3 ....................................................................................................................
........................................................................................................................
4 ....................................................................................................................
........................................................................................................................
262
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Bước 6: Khảo sát kỹ các khía cạnh sau của nghiên cứu
Năng lực Khoảng cách
Liên quan Thời gian Giá phí
Tác vụ kỹ thuật giữa kiến thức
đến cần xấp xỉ
cần và kỹ năng
Tổng quan về tài liệu
Xây dựng thiết bị
Tập hợp dữ liệu
Phân tích dữ liệu
Bản báo cáo nháp
Báo cáo chính thức
Đến đây đã xây dựng đƣợc các mục tiêu của nghiên cứu. Dành thời gian để
suy nghĩ về chúng. Phải rõ ràng về các tác vụ liên đới, thời gian thực sự cần thiết
và những kỹ năng gì cần có thể tiến hành nghiên cứu. Xem xét việc này thật kỹ.
Bước 7: Tái kiểm tra
Bạn có thực sự quan tâm đến nghiên cứu không?
Có Không Không chắc chắn
Bạn có đồng ý với các mục tiêu của nghiên cứu?
Có Không Không chắc chắn
Bạn có chắc chắn muốn theo đuổi nghiên cứu?
Có Không Không chắc chắn
Bạn có các nguồn lực cần thiết không?
Có Không Không chắc chắn
Bạn có thể tiếp cận đến tập hợp nghiên cứu không?
Có Không Không chắc chắn
Nếu ở trên có câu trả lời nào là "không" hay "không chăc chắn" phải tái xem
xét khía cạnh tƣơng ứng thật kỹ và thực hiện các thay đổi thích hợp.
Theo bạn, tính thích ứng của nghiên cứu này với lý thuyết và thực tế là ở chỗ
nào? Nghiên cứu này sẽ đóng góp gì cho lƣợng kiến thức hiện có, sẽ giúp gì cho
263
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
những ngƣời trong chuyên ngành và hỗ trợ gì cho việc phát triển chƣơng trình và
hoạch định chính sách?
Thích ứng với lý thuyết:
.........................................................................................................................
Thích ứng với thực tế: ............................................................................
.........................................................................................................................
Bài tập 2: Nhận diện các biến số
Kiến thức về các biến số đóng vai trò quan trọng trong quá trình thiết lập
bài toán nghiên cứu. Các khái niệm có tính chủ quan cao vì việc hiểu biết thay đổi
theo từng ngƣời, và chúng không đo lƣờng đƣợc. Bất kỳ khái niệm, nhận thức hay
tƣởng tƣợng nào có thể đo lƣờng đƣợc bằng một trong bốn thang đo (danh định,
thứ tự, khoảng cách và tỷ lệ ) đƣợc gọi là biến số.
Các khái niệm dùng trong nghiên cứu cần đƣợc vận hành hoá qua những
thông số đo lƣờng đƣợc để mức độ thay đổi trong hiểu biết về chúng của cả tập
hợp nghiên cứu đƣợc giảm thiểu nếu không phải là hoàn toàn bị loại trừ.
Hãy suy nghĩ về cách thức vận hành hoá các khái niệm dùng trong các mục
tiêu, câu hỏi nghiên cứu hay giả thuyết; các chỉ số của chúng là gì và làm thế nào
để đo lƣờng chúng đƣợc?
Bảng sau đây sẽ đề nghị cách thức vận hành hoá khái niệm "tính hiệu
dụng" trong chƣơng trình giáo dục sức khoẻ về AIDS. Nó liệt kê các chỉ số tính
hiệu dụng, đƣa ra các biến số dùng để đo các chỉ số và mô tả các đơn vị đo lƣờng
của biến số.
Bài tập này giúp vận hành hàng hoá các khái niệm chủ yếu của nghiên cứu.
Xem chƣơng 5 về các biến số.
Khái niệm Chỉ số Các biến số Đơn vị đo lường
Tính hiệu dụng Nhận thức về Mức độ thay đổi Thay đổi trong bộ phận
AIDS trong: của tập hợp, trƣớc và
sau chƣơng trình giáo
264
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
dục này về:
Kiến thức về Nhận thức kiến Nhận thức & kiến thức
AIDS thức thực tế về các khía cạnh khác
nhau của AIDS
Sử dụng các thực Áp dụng thực tế và
tế tình dục an toàn
Bước 1: Vận hành hoá các khái niệm
Mục tiêu/ câu Các khái niệm Các chỉ số Các biến số Đơn vị đo
hỏi nghiên chủ yếu lƣờng
cứu/ giả
thuyết
Điều căn bản là phải xây dựng định nghĩa vận hành/ làm việc của tập hợp
nghiên cứu. Thí dụ, ai sẽ đƣợc coi là bệnh nhân, ngƣời nhập cƣ, thanh niên, nhà
tâm lý học, thầy giáo...? Các định nghĩa làm việc sẽ chủ đạo trong việc tránh mơ
hồ của công tác chọn mẫu thử và giúp thu hẹp tập hợp nghiên cứu.
Bước 2: Định nghĩa có tính vận hành về tập hợp nghiên cứu
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
265
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Bài tập 3: Xây dựng giả thuyết
Nhƣ đã nói trên, một số ngƣời cho rằng khi nghiên cứu phải có giả thuyết
tuy nhiên theo tác giả giả thuyết - mặc dù đem lại tính sáng sủa, đặc trị và tập
trung vào bài toán nghiên cứu - vẫn không phải cốt lõi của nghiên cứu. Vẫn có thể
tiến hành một khảo sát xác thực mà không cần xây dựng một giả thuyết hình thức
nào cả. Mặt khác, có thể xây dựng nhiều giả thuyết nhƣ mong muốn. Trong các
nghiên cứu về bệnh dịch học, để thu hẹp lĩnh vực khảo sát ngƣời ta phải xây dựng
giả thuyết về nguyên nhân khả dĩ của điều kiện đang xét.
Giả thuyết là một linh cảm, giả sử, nghi ngờ, khẳng định hay ý kiến về một
hiện tƣợng, quan hệ hay tình huống dự định khảo sát nhằm tìm ra sự thật về nó.
Nếu có đƣợc chứng minh là đúng, giả thuyết đã đặt ra là đúng.
Phủ định giả thuyết cũng quan trọng không kém nếu không phải là hơn việc
chứng minh giả thuýêt. Vì giả thuyết phục thƣờng đƣợc xây dựng trên cơ sở
những gì thƣờng đƣợc tin là đúng, việc phủ định nó có thể dẫn đến những điều
mới mẻ mà các nhà nghiên cứu trƣớc đó đã bỏ qua.
Giả thuyết về mặt khái niệm nên đơn giản, rõ ràng, cụ thể, dễ kiểm chứng và
biểu diễn dƣới dạng vận hành/ thao tác đƣợc.
Chƣơng 6 đã đề cập đến một cách viết giả thuyết cụ thể
Bước1: Xây dựng giả thuyết cho mỗi mục tiêu con hay câu hỏi nghiêncứu
266
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Mục tiêu/ câu Các giả thuyết cần kiểm thử
hỏi nghiên cứu
1.
2.
3.
1.
2.
3.
1.
2.
3.
Bài tập 4. Khái niệm hoá thiết kế nghiên cứu
Các bài tập ở trên nhấn mạnh vào việc tìm ra những điểm gì trong nghiên
cứu. Kế tiếp đến là xem xét cách thức khảo sát nghiên cứu. Điều này bao gồm kế
hoạch, thủ tục và phƣơng pháp mà các chi tiết tƣơng ứng tạo lên cốt lõi của thiết
kế nghiên cứu.
Thiết kế mô tả bản thân thiết kê và chi tiết các thủ tục hậu cần cần thiết để
thu nhận thông tin từ tập hợp nghiên cứu. Nó sẽ đƣa ra một kế hoạch tổng thể để
tiến hành nghiên cứu.
Bước 1: Trả lời các câu hỏi về nghiên cứu sau đây.
1. Mô tả thiết kế nghiên cứu dự định chọn để tiến hành nghiên cứu ( Đó là
nghiên cứu liên bộ phận, thực nghiệm hay so sánh...?)
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
2. Tại sao chọn thiết kế này?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
3. Các điểm mạnh của thiết kế này là gì?
267
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
4. Các hạn chế của thiết kế này là gì?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
5. Những ai tạo lên tập hợp nghiên cứu?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
6. Có thể nhận diện từng ngƣời trả lời không
Có Không
6a. Nếu có, bằng cách nào?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
6b. Nếu không, làm thế nào để tiếp xúc với họ?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
7. Có kê hoạch chọn mẫu
Có Không
7a. Trong mỗi trƣờng hợp, giải thích lý do quyết định
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
8. Cách thức lấy thông tin từ các ngƣời trả lời ( phỏng vấn, bằng câu hỏi..)?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
8a. Tại sao chọn phƣơng pháp thu thập dữ liệu này?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
8b. Các điểm mạnh và điểm yếu của phƣơng pháp này?
Điểm mạnh ......................................................................................................
.........................................................................................................................
Điểm yếu .........................................................................................................
268
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
.........................................................................................................................
8c. Nếu là phỏng vấn, địa điểm ở đâu?
.........................................................................................................................
8d. Nếu dùng bảng câu hỏi gửi qua thƣ tín thì
i. Từ đâu có thể lấy địa chỉ của những ngƣời tham dự?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
ii. Kèm theo bảng câu hỏi dự kiến có bao thƣ dán sẵn tem và đề sẵn địa
chỉ nhận
Có Không
iii. Nếu tỷ lệ hồi đáp thấp, có gửi nhắc nhở không?
Có Không
iv. Nếu ngƣời hồi đáp có câu hỏi, cách nào để họ liên lạc với bạn?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
Bước 2: Trên cơ sở những thông tin trên hãy mô tả thiết kế nghiên cứu.
Xem chi tiết ở chương 18
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
Bài tập 5: Xây dựng thiết bị nghiên cứu
Triển khai thiết bị nghiên cứu là bƣớc thực tế đầu tiên trong việc vận
hành hoá nghiên cứu. Đây là khía cạnh quanh trọng nhất của nghiên cứu vì nó tạo
ra nhập lƣợng; còn xuất lƣợng, kết quả và kết luận tất cả đều phụ thuộc hoàn toàn
vào đó. Các hạng mục trong thiết bị là các câu hỏi đặt ra cho những ngƣời tham
gia nghiên cứu. Các đáp ứng của những ngƣời này là dữ liệu thô sẽ đƣợc xử lý. Ở
một mức độ lớn, tính xác thực của kết quả phụ thuộc vào chất lƣợng của dữ liệu
thô, đến lƣợt nó tuỳ thuộc vào dụng cụ nghiên cứu sử dụng. Nếu dụng cụ nghiên
cứu xác thực và tin cậy, các kết quả tìm kiếm cũng sẽ xác thực và tin cậy.
269
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Chất lƣợng của thiết bị nghiên cứu tuỳ thuộc vào kinh nghiệm nghiên cứu.
Ngƣời mới bắt đầu nên đi theo các bƣớc đề nghị ở chƣơng 9
Việc diễn đạt các câu hỏi nên đơn giản, tránh mơ hồ. Không đặt ra các câu
hỏi dẫn dắt hay dựa trên các giả định trƣớc.
Việc kiểm thử trƣớc thiết bị nghiên cứu là phần không tách rời của việc xây
dựng thiết bị. Nên nhớ việc kiểm thử khôg thực hiện trên mẫu thử mà trên tập
hợp tƣơng tự.
Bước 1: Thiết lập các câu hỏi bằng cách xem xét các mục tiêu con/ câu hỏi
nghiên cứu giả thuyết; bằng cách xác định những thông tin, biến số yêu cầu và
bằng cách đặt ra các câu hỏi nhằm thu nhận thông tin.
Bước 2: Viết ra các câu hỏi này trên giấy, chú ý đặc biệt vào:
Cách diễn đạt câu hỏi;
Thứ tự các câu hỏi: và
Tính thích ứng của từng câu hỏi
Các giả thuyết/ Những thông tin Nhận diện các Thành lập
câu hỏi nghiên cứ/ đặc biệt nào cần biến số cần đến câu hỏi
mục tiêu cụ thể đến?
Bước 3: Nếu đang xây dựng các bảng câu hỏi, hãy kết hợp các phát biểu
tƣơng tác vào những vị trí phù hợp.
Bước 4: Sau khi xong bản nháp đầu tiên của thiết bị nghiên cứu, hãy tự trả
lời các câu hỏi và sau đó tự phỏng vấn mình. Nếu không thể tự trả lời đƣợc, cần
tái xem xét.
Bước 5: Một khi thiết bị nghiên cứu đã thoả mãn, chọn vài ngƣời từ tập hợp
tƣơng tự nhƣ tập hợp ngƣời sẽ nghiên cứu và tiến hành tiền kiểm từ đó. Mục tiêu
của tiền kiểm thử/ kiểm thử hiện trƣờng không phải là để thu thập thông tin mà là
270
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
phát hiện những vấn đề của thiết bị nghiên cứu. Nếu thiết bị là kế hoạch phỏng
vấn, hãy phỏng vấn những ngƣời tiền kiểm thử để xem họ có hiểu các câu hỏi
không? Nếu họ không hiểu, tìm hiểu những điểm gì chƣa rõ. Nếu họ không hiểu,
tìm hiểu những điểm gì chƣa rõ. Nếu nhiều ngƣời gặp cùng vấn đề này, hãy thay
đổi cách diễn đạt. Còn nếu thiết bị là bảng câu hỏi, yêu cầu những ngƣời tiền
kiểm thử duyệt qua các câu hỏi để nhận diện các câu hỏi khó hiểu. Khi cần hãy
thay đổi cách diễn đạt câu hỏi.
Bước 6: Khi đã khẳng định thiết bị không còn mơ hồ và không có các vấn
đề khác, hãy hoàn chỉnh thành bản cuối cùng.
Bước 7: Sau khi xong thiết bị, lấy ra các tờ giấy và viết ra hai cột. Ở một cột,
viết ra riêng rẽ từng mục tiêu con, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết, còn ở cột kia,
viết ra các số liệu câu hỏi cung cấp thông tin cho các mục tiêu con, câu hỏi
nghiên cứu giả thuyết đó. Nếu có câu hỏi nào không liên kết với một mục tiêu
con, câu hỏi nghiên cứ hay giả thuyết, hãy xem xét tại sao nó đƣợc đƣa vào.
Bước 8: Chuẩn bị bản nháp cuối cùng của thiết bị nghiên cứu
Bước 9: Nếu có kế hoạch sử dụng máy tính vào phân tích dữ liệu, cần chừa
chỗ trống trên thiết bị để mã hoá dữ liệu.
Bài tập 6: Chọn mẫu
Độ chính xác của kết quả nghiên cứu cũng phụ thuộc vào cách chọn mẫu.
Mục tiêu cơ bản của thiết kế lấy mẫu là tối thiểu hoá, trong giới hạn của giá phí,
mọi khác biệt giữa các giá trị nhận từ mẫu và những giá trị thịnh hành trong tập
hợp nghiên cứu.
Luận đề cơ sở của lấy mẫu là - nếu có một số lƣợng tƣơng đối nhỏ các đơn vị
đƣợc lựa chọn một cách khoa học thì có thể có đƣợc với độ tin cậy đủ cao một
phản ánh thực sự về tập hợp mẫu đang đƣợc nghiên cứu.
Lý thuyết lấy mẫu đƣợc hƣớng dẫn bởi hai nguyên lý:
271
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Tránh thiên lệch trong chọn mẫu; và
Có đƣợc độ chính xác tối đa với khuôn khổ tài nguyên ban đầu cho trƣớc.
Có thể dùng cách lấy mẫu xác xuất và lấy mẫu không xác xuất. Cả hai cách
đều có ƣu và khuyết điểm riêng và cả hai đều thích hợp trong một số tình huống.
Nhƣng dù chọn thiết kế lấy mẫu nào phải luôn đảm bảo tránh các thiên lệch.
Bước 1: Trả lời các câu hỏi sau về thiết kế lấy mẫu.
1. Kích thƣớc toàn bộ của tập hợp nghiên cứu
Biết Không biết
2. Có muốn chọn mẫu?
Có Không
2a. Nếu có, cho biết kích cỡ mẫu: ..................................................................
3. Cách thức chọn mẫu? ..................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
4. Tại sao chọn thiết kế lấy mẫu này? (điểm mạnh của nó là gì?)
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
5. Các hạn chế của thiết kế này?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
Bước 2: Trên cơ sở các câu trả lời đối với các câu hỏi bên trên, viết về thiết
kế lấy mẫu nhƣ đã mô tả ở chƣơng 13, và viết đề xuất nghiên cứu.
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
Bài tập 7: Phân tích dữ liệu và thiết lập khung phân tích
Mô tả chiến lƣợc định dùng để phân tích dữ liệu bằng từ ngữ thông thƣờng.
Quyết định xem dữ liệu đƣợc phân tích thủ công hay bằng máy tính. Nếu dùng
máy tính, xác định chƣơng trình tƣơng ứng.
272
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
Cũng cần xác định kiểu phân tích dự định thực hiện, thí dụ - phân bố tần số,
bảng đối chiếu chéo, phân tích hồi quy hay phân tích độ lệch. Đối với mỗi kiểu
thủ tục thống kê cũng phải xác định các biến số tƣơng ứng.
Nếu trong nghiên cứu có dùng một số các khái niệm thì cần xác định cách
thức vận hành hàng hoá các khái niệm đó. Thí dụ: nếu đo lƣờng tính hiệu dụng
của chƣơng trình y tế, các hồi đáp cho các câu hỏi sẽ đƣợc kết hợp với nhau nhƣ
thế nào để khẳng định tính hiệu dụng. Cần nhớ rằng – khi tiến hành phân tích thực
tế dữ liệu có thể phát triển các ý tƣởng mới về việc cải tiến các vụ phân tích dữ
liệu. Xem chi tiết ở chƣơng 15.
Bước 1: Suy nghĩ về các vấn đề sau:
1. Nếu dùng máy tính phân tích dữ liệu, chọn phần mềm nào?
.........................................................................................................................
2. Những biến nào sẽ cần cho phân tích phân bố tần số?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
3. Những biến số nào sẽ thuộc về bảng đối chiếu chéo?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
4. Những biến số nào sẽ cần cho mỗi thủ tục thống kê (nhƣ phân tích hồi
quy, phân tích hệ số...)?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
5. Làm thế nào xây dựng các biến số chủ yếu? (thí dụ - chỉ số thỏa mãn, tính
hiệu dụng...)?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
Bài tập 8: Xây dựng đề cƣơng của các chƣơng
Mặc dù mỗi bƣớc vận hành đều quan trọng nhƣng việc viết báo cáo nghiên
cứu là chủ yếu nhất vì nó trình bày kết quả nghiên cứu và là những gì duy nhất mà
273
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
độc giả có thể thấy đƣợc. Vì vậy những công việc giá trị nhất cũng có thể mất đi
nếu báo cáo viết kém.
Chất lƣợng của báo cáo tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố: kỹ năng viết, các ý
tƣởng trong sáng và sự trình bày chặt chẽ, kiến thức về chủ đề và kinh nghiệm về
viết nghiên cứu.
Xây dựng đề cƣơng của cấu trúc của báo cáo đặc bịêt có ích. Việc này giúp
ngƣời viết suy nghĩ kỹ về nội dung của báo cáo, về cách tổ chức nội dung quanh
các luận đề chính của nghiên cứu và đảm bảo các khía cạnh khác nhau của mỗi
luận đề đƣợc tích hợp tốt và có diễn biến hợp lý.
Bài tập này đƣợc thiết kế giúp tổ chức ý tƣởng về viết báo cáo nghiên cứu.
Cần cố gắng càng nhiều càng tốt để bố trí các khía cạnh của báo cáo và tiêu đề
của các chƣơng ngay cả nhƣ còn mơ hồ. Khi thực sự viết, nội dung của mỗi
chƣơng sẽ đƣợc triển khai và điều chỉnh mức chi tiết. Xem thêm chƣơng 17.
1. Các luận đề chính của nghiên cứu?
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
2. Xây dựng các tiêu đề chƣơng theo các luận đề ở trên để tổ chức việc viết
báo cáo.
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
274
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
VIỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH
275
CHUYÊN ĐỀ: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Related docs
Get documents about "