Mùa Thu Năm 1945

Document Sample
Mùa Thu Năm 1945 Powered By Docstoc
					Ngày l 3-8, được tin Nhật hàng Đồng minh, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập ngay ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. 23 giờ cùng ngày, ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng công bố mệnh lệnh khời nghĩa. ủy ban khởi nghĩa ra quân lệnh số l: "Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà... Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!... Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!"(Vǎn kiện Đảng 1930-1945). Cũng trong ngày 13- 8, Hội nghị Toàn quốc của Đảng khai mạc tại Tân Trào (Tuyên Quang). Tham gia Hội nghị có đại biểu các đảng bộ và một số lại biểu hoạt động ở nước ngoài. Trên cơ sở phân tích tình hình, Hội nghị quyết định Đảng phải kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa; đề ra những nhiệm vụ cần thiết, cấp bách trong công tác đối nội, đối ngoại sẽ thi hành sau khi giành được chính quyền. Hội nghị thông qua l0 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh. Hội nghị toàn quốc của Đảng vừa kết thúc, Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập đã

1

khai mạc tại Tân Trào (Tuyên Quang) vào ngày 16-8-1945. Hơn 60 đại biểu thay mặt cho ba miền Bắc, Trung, Nam, kiều bào ở nước ngoài, các đảng phái, đoàn thể, dân tộc, tôn giáo, tiêu biểu cho ý chí thống nhất của toàn dân tộc về dự Đại hội. Đại hội đã ủng hộ chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng; thông qua l0 chính sách của Mặt trận Việt Minh; quyết định thành lập ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm chủ tịch . Khắp nơi, quần chúng hưởng ứng lệnh Tổng khởi nghĩa đã đồng loạt nổi dậy. ở những vùng xa xôi, dù chưa nhận được lệnh tổng khởi nghĩa, nhưng cǎn cứ vào tình hình cụ thể ở địa phương và vận dụng chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa. Ngày 14-8-l945, lực lượng vũ trang Quảng Ngãi giành chính quyền thắng lợi tại tỉnh lị. Từ ngày 14 đến ngày l8-8, các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, hầu hết các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Khánh Hòa lần lượt nổi dậy giành chính quyền. Ngày 16-8-l 945, một đơn vị Quân giải phóng đã tiến công thị xã Thái Nguyên và ngày l 7-8, tiến công vào thị xã Tuyên Quang. Một số địa phương ở Hải Ninh, Quảng Yên, Kiến An nổi dậy. Ngày l 7 - 8, một số vùng ngoại ô Hà Nội đã khởi nghĩa giành thắng lợi. Ngày 18-8, lực lượng khởi nghĩa ở Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Mĩ Tho giành chính quyền. Đó là những nơi giành được chính quyền sớm nhất trong cả nước. Xứ ủy Bắc Kì quan tâm đặc biệt tới địa bàn Hà Nội vì Hà Nội có tầm quan trọng chiến lược đối với Tổng khởi nghĩa trong cả nước. ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội (tức ủy ban khởi nghĩa) được thành lập ngày 15-8. Được tin Tổng hội viên chức sẽ tổ chức một cuộc mít tinh lớn vào chiều l7-8 tại Nhà hát lớn để ủng hộ Chính phủ bù nhìn, ủy ban khởi nghĩa quyết định biến cuộc mít tinh ấy thành cuộc mít tinh của quần chúng ủng hộ cách mạng. Chiều hôm đó, đông đảo quần chúng trong các tổ chức cứu quốc thuộc nội, ngoại thành, tự vệ chiến đấu, tuyên truyền xung phong được bí mật huy động đến Nhà hát thành phố. Khi cuộc mít tinh vừa khai mạc thì cờ đỏ sao vàng xuất hiện trước đám đông. Các đội viên tuyên truyền xung phong Việt Minh xông lên giành lấy diễn đàn, thông báo tin Nhật đầu hàng và kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh khởi nghĩa. Sau đó, cuộc mít tinh biến thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh. Quần chúng tự động xếp thành đội ngũ, có các đội viên tự vệ chiến đấu dẫn đầu, đi từ Nhà hát lớn qua các phố trung tâm, hô vang khẩu hiệu: "ủng hộ Việt Minh", "Đả đảo bù nhìn", "Việt Nam độc lập". Trước khí thế cách mạng của quần chúng thủ đô dâng cao, chính quyền bù nhìn không dám chống cự, quân Nhật không dám can thiệp. ủy ban khởi nghĩa quyết định khởi nghĩa giành chính quyền vào ngày l 98-1945. Ngày l 8-8, cờ đỏ sao vàng xuất hiện trên các đường phố Hà Nội, từ Bưởi qua Dịch Vọng, xuống Tương Mai, Mai Động...

2

Sáng l 9-8, hàng chục vạn nhân dân nội, ngoại thành xuống đường biểu dương lực lượng. Tất cả tập trung trước Nhà hát lớn. Đúng l l giờ, ủy ban khởi nghĩa đọc lời kêu gọi khởi nghĩa. Sau đó, cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình vũ trang giành chính quyền. Quần chúng cách mạng, có sự hỗ trợ của các đội tự vệ chiến đấu, lần lượt chiếm các cơ quan đầu não của địch: Phủ Khâm sai Bắc Bộ, Sở mật thám, Sở cảnh sát Trung ương, Sở bưu điện, Trại bảo an binh... Tối 19-8-l 945, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội đã kết thúc hoàn toàn thắng lợi. Ngày 20-8-1945, ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Bắc Bộ và ủy ban nhân dân cách mạng Hà Nội chính thức thành lập. Cùng với Hà Nội, nhân dân các tỉnh Thái Bình, Phúc Yên, Khánh Hòa giành chính quyền thắng lợi ở tỉnh lị vào ngày l 9-8. Sau đó, các cuộc khởi nghĩa nổ ra đồng loạt mang tính dây chuyền, thành công nhanh chóng tại các tỉnh lị . Thanh Hóa, Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên, Sơn Tây (20-8), Yên Bái, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Nam Định, Nghệ An, Ninh Thuận, Tân An (2l-8); Cao Bằng, Hưng Yên, Kiến An (22-8); Hải Phòng, Hà Đông, Hòa Bình, Quảng Bình, Quảng Trị Bình Định, Lâm Viên, Gia Lai, Bạc Liêu, Thừa Thiên - Huế (23- 8) . Nhận rõ tầm quan trọng của Huế, Trung ương Đảng cùng Đảng bộ Thừa Thiên - Huế xúc tiến mọi việc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi. Ngày 20-8, ủy ban khởi nghĩa tỉnh được thành lập. ủy ban quyết định giành chính quyền vào ngày 23-8. Hàng chục vạn nhân dân, bao gồm cả nông dân các huyện kéo về biểu tình thị uy chiếm các công sở. Đêm 23- 8, Chính phủ cách mạng lâm thời gửi điện đòi Bảo Đại thoái vị. Chiều 30-8, một cuộc mít tinh lớn được tồ chức tại Ngọ Môn. Trước hàng vạn quần chúng, Bảo Đại đọc chiếu thoái vị, nộp ấn, kiếm cho Phái đoàn Chính phủ lâm thời. Chế độ phong kiến sụp đổ. Ngày 24-8, khởi nghĩa tiếp tục nổ ra và giành thắng lợi ở các tỉnh lị Hà Nam, Quảng Yên, Đắc Lắc, Phú Yên, Gò Công. Ngày 25-8, chính quyền địch bị đánh đổ ở thị xã Lạng Sơn, Phú Thọ, Kon Tum, Bình Thuận. Tại Sài Gòn, từ ngày 20-8 cờ đỏ sao vàng đã xuất hiện công khai, khí thế cách mạng của nhân dân sôi sục. Xứ ủy Nam Kì quyết định khởi nghĩa ở Sài Gòn và các tỉnh vào ngày 25-8. Sáng 25-8, các đơn vị "Xung phong công đoàn", "Thanh niên tiền phong", công nhân, nông dân từ các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Mĩ Tho kéo về có trang bị giáo mác, gậy tầm vông tràn ngập đường phố. Quần chúng nhanh chóng làm chủ tình thế, chiếm Sở mật thám, Sở cảnh sát, Nhà ga, Bưu điện, Nhà máy điện... và giành toàn bộ chính quyền ở Sài Gòn. Đồng thời với khởi nghĩa ở Sài Gòn, nhân dân các tỉnh Nam Bộ như Chợ Lớn, Gia Định, Sóc Trǎng, Long Xuyên, Vĩnh Long, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Tây Ninh, Bến Tre, Sa Đéc đã khởi nghĩa giành thắng lợi. Ngày 26- 8, thị xã Hồng Gai, Sơn La, Châu Đốc, Biên Hòa, Cần Thơ được giải phóng. Ngày 27- 8, nhân dân Rạch Giá giành chính quyền. Ngày 28- 8, chính quyền bù nhìn bị lật đổ ở Đồng Nai Thượng, Hà Tiên. Chỉ trong vòng 2 tuần lễ, cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân ta giành thắng lợi hoàn toàn. Chế độ thuộc địa và chế độ quân chủ từng ngự trị trên đất nước ta bị lật nhào. Tuy nhiên, một vài nơi như thị xã Vĩnh Yên, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Móng Cái, Hải Ninh do quân Tưởng và bọn phản động chống lại nên chính quyền cách mạng chưa được thiết lập trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Cuộc đấu tranh giành chính quyền ở những nơi đó diễn ra gay go, phức tạp, một thời gian sau mới giành được thắng lợi. Ngày 25-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Uỷ ban dân tộc giải phóng từ Tân Trào về đến Hà Nội. Ngày 27-8-1945, Uỷ ban dân tộc giải phóng triệu tập cuộc họp các thành viên trong Uỷ ban. Trong

3

cuộc họp này, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Đại hội quốc dân Tân Trào bầu ra được cải tổ thành Chính phủ các mạng lâm thời, nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đảng phái yêu nước và những nhân sĩ tiến bộ. Ngày 28-8-1945, danh sách các thành viên của Chính phủ được công bố trên các báo ở Hà Nội, gồm 15 người, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Chiều ngày 2-9-1945, tại cuộc mít tinh ở quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước đông đảo nhân dân Thủ đô và các vùng lân cận tham dự, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thể dân dân, với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà độc lập, tự do ra đời. Và ngày 2-9-1945 đã trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam.

1. Những tư liệu về hoạt động của Mặt trận Việt Minh - tổ chức chính trị do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập nhằm tập hợp đoàn kết các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật. Đây cũng là lực lượng nòng cốt tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám nǎm 1945:

Con dấu gỗ dùng để đóng trên đầu tờ báo Việt Nam Độc lập (cơ quan tuyên truyền của Mặt trận Việt minh từ nǎm 1941-1945). Còn bên cạnh là con dấu của Tổng bộ Việt minh dùng nǎm 1944-1945 Báo Việt Nam độc lập - cơ quan tuyên truyền của Mặt trận Việt Minh. Số báo 181 ra ngày 20/10/1943 kêu gọi chuẩn bị khởi nghĩa

4

Chương trình của Mặt trận Việt minh (Chương trình hành động) tháng 5 nǎm 1941 được thông qua trong lễ thành lập Mặt trận Việt minh

Tuyên ngôn của Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt minh) công bố ngày 25/10/1941

Truyền đơn của Mặt trận Việt Minh kêu gọi đồng bào đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật ngày 1-2-1944

2. Những tờ báo đã phát hành ở Việt Nam những nǎm 1944 - 1945 góp phần tuyên truyền cổ vũ nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền:

5

Báo Cứu quốc

Báo Khởi nghĩa

Báo Độc lập

Báo Bắc Sơn

Báo Việt Nam độc lập

6

3. Các tài liệu chỉ đạo của Trung ương Đảng đã kịp thời lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền:

Lời kêu gọi kháng Nhật cứu nước

Chỉ thị Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta

Thông báo về việc Nga đã khai chiến với Nhật ngày 9/8/1945

4. Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này, được thành lập và phát triển nhanh chóng trở thành lực lượng quân sự nòng cốt trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945

7

Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân

10 lời thề danh dự của đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được tuyên thệ trong lễ thành lập

Bác Võ Nguyên Giáp duyệt đơn vị quân giải phóng từ cǎn cứ địa Việt Bắc tiến về Hà Nội trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 nǎm 1945 đã diễn ra trong cả nước từ ngày 14/8/1945 đến ngày 28/8/1945

8

Nhân dân Hà Nội chiếm phủ Khâm sai ngày 19/8/1945 Lễ thành lập chính quyền Cách mạng ở Thái Nguyên ngày 20/8/1945

Nhân dân Quảng Ngãi khởi nghĩa giành chính quyền ngày 23/8/1945

Nhân dân Cần Thơ khởi nghĩa giành chính quyền ngày 26/8/1945

Cờ Đội Việt Nam Giải phóng quân dùng trong ngày tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên ngày 20/8/1945

9

TUYÊN NGÔN ÐỘC LẬP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA Ngày 2 tháng 9 nǎm 1945, tại Quảng trường Ba đình Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam á, cùng đồng bào cả nước và nhân dân thế giới. Hỡi đồng bào cả nước, "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập nǎm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp nǎm 1791 cũng nói: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. Thế mà hơn tám mươi nǎm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngǎn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngǎn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng đặt ra hàng trǎm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn. Mùa thu nǎm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lǎng Đông - Dương để mở thêm cǎn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối nǎm ngoái sang đầu nǎm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

10

Ngày 9 tháng 3 nǎm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 nǎm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật. Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng. Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. Sự thật là từ mùa thu nǎm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trǎm nǎm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mưới thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa. Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp. Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-rǎng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi nǎm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy nǎm nay, dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập ! Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. Hồ Chí Minh NXB Sự thật, Hà Nội, 1976.

VIỆT NAM - THẾ KỶ XX Cuối nǎm 1945, một hôm Bác Hồ nhận được một giỏ cam do bà Hằng Phương tặng. Người hỏi anh Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) về người cho cam. Nam thưa, cô ta là một nhà thơ, vợ nhà vǎn Vũ Ngọc Phan. Người liền viết bốn câu thơ gửi bà nhà thơ: Cảm ơn bà biếu gói cam, Nhận thì không đúng, từ làm sao đây!

11

Ǎn quả nhớ kẻ trồng cây, Phải chǎng khổ tận đến ngày cam lai? Khổ tận cam lai là câu nói quen thuộc lâu đời của người mình. Có thể xuất xứ của câu này là từ Trung Hoa đã Việt hoá. Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một sự kiện lịch sử chấm dứt thời khổ tận, mở đầu thời cam lai của dân tộc ta. Trong chín thế kỷ, kể từ khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Đại La, đặt tên là Thǎng Long nǎm 1010, Lý Thái Tông đổi Quốc hiệu là Đại Việt nǎm 1054. Trong tám thế kỷ, tuy trải qua nhiều cuộc thǎng trầm, nhưng cuối thế kỷ thứ 19 đến đầu thế kỷ 20 là thời đau thương, đen tối nhất của dân tộc ta. Sau một nội chiến kéo dài giữa hai thế lực Trịnh - Nguyễn đến cuối thế kỷ thứ 18, cuộc nổi dậy của Tây Sơn và những chiến thắng oanh liệt của Nguyễn Huệ làm thay đổi hẳn cục diện nước ta, song thời kỳ ấy rất ngắn ngủi. Những tưởng rồng lại bay lên, nào ngờ giữa chừng gãy cánh sau khi Quang Trung đột ngột qua đời. Nhà Nguyễn ra đời từ nǎm 1802, đất nước lâm vào tình trạng trì trệ rồi bế tắc. Trước nguy cơ giặc ngoại xâm mới, triều đình hoàn toàn bất lực. Tổng kết đời làm vua giữa thời nguy biến, vua Tự Đức viết: Ba mươi sáu nǎm một chữ sầu. Thực hành chính sách bế quan, toả cảng (đóng cửa), bác bỏ mọi kiến nghị cải cách, bất đề kháng, trừng phạt những người phát động kháng chiến. Sau ba đợt tấn công ngắn ngủi của quân Pháp, cả nước ta rơi vào tay chúng. Nước nhà bị chúng ghép với Lào, Campuchia thành xứ Đông Dương thuộc Pháp. Không cam chịu mất nước, đồng bào ta liên tục đứng dậy chống bọn xâm lược. Sau cuộc kháng chiến của Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, phong trào Vǎn Thân, vua Hàm Nghi, ông Tôn Thất Thuyết, ông Phan Đình Phùng... phát động phong trào Cần Vương không thành công. Hội Quang Phục do ông Phan Bội Châu đứng đầu mưu toan đưa đất nước đi theo con đường Nhật Bản để phục quốc; phong trào Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, cuộc binh biến Thái Nguyên do Trịnh Vǎn Cầu chỉ huy. Khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học đứng đầu kết thúc bi thảm. Biết bao anh hùng, liệt sĩ đã ngã, toàn dân cực khổ lầm than dưới ách cai trị hà khắc của Pháp. Giữa tình cảnh đen tối ấy, nǎm 1919, xuất hiện một vì sao rực sáng: Nguyễn ái Quốc. Sau chín nǎm quan sát nền chính trị, cuộc sống của nhân dân các dân tộc á, Phi, Âu, Mỹ, tìm hiểu cặn kẽ cuộc cách mạng của nước Nga, nghiên cứu C.Mác, Lênin, Người đã xây dựng nền tảng lý luận của cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hộicủa Việt Nam, thực hiện một cuộc cách mạng tư tưởng ở nước ta, đưa cuộc đấu tranh của nhân dân ta vào con đường cách mạng mới, bằng những lực lượng và phương pháp mới, tổ chức lãnh đạo mới phù hợp trào lưu mới của thời đại mới, thời đại cách mạng của quần chúng nhân dân, kế thừa và phát triển truyền thống dân tộc. Nguyễn trở thành nhà cách mạng sáng tạo, nǎng động, linh hoạt, không bắt chước những khuôn mẫu sẵn có. Là nhà hoạt động chính trị sớm có tầm cỡ lớn, nhà giáo dục, tổ chức lớn, thành lập đảng lãnh đạo, tập hợp quần chúng thành những đội quân cách mạng kiểu mới, xây dựng đội ngũ lãnh đạo vững vàng về chính trị, tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, hình thành phong cách lãnh đạo tập thể, dân chủ. Là một người nắm vững phương pháp biện chứng mác xít, nhanh nhạy nắm bắt sáng tạo thời cơ, tạo ra những bước ngoặt lớn của phong trào cách mạng. Nhờ có nhân vật trung tâm của cách mạng như vậy, Đảng ta đã tổ chức, lãnh đạo thành công mộtcuộc tổng khởi nghĩa của toàn dân, hai cuộc kháng chiến trường kỳ đánh thắng những thế lực xâm lược to lớn, giải phóng đất nước, xã hội, thay đổi hoàn toàn vận mệnh của dân tộc ta, làm vẻ vang cho dân tộc, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và loài người tiến bộ. Từ một dân tộc nô lệ trở thành một dân tộc anh hùng nổi tiếng toàn cầu. Việt Nam trở thành một biểu tượng chủ nghĩa anh hùng của thời đại và đưa đất nước tavào một kỷ nguyên phát triển mới. Đối với người Việt Nam chúng ta, thế kỷ này là một thế kỷ oanh liệt, thế kỷ vươn lên một tầm vóc mới, sáng tạo những giá trị mới, chắp cánh cho các thế hệ con rồng lại bay lên, bay cao, bay xa trong thế kỷ sắp tới. Một đất nước độc lập với gần 80 triệu dân đi vào thời đại khoa học, hội nhập trào lưu toàn cầu hoá là một thời cơ thuận lợi chưa từng có, thách thức là điều tất nhiên trong một thế giới phứctạp, biến động dữ dội cả tốt lẫn xấu. Dân tộc ta đã từng đứng trước thử thách, ta đã từng trải thǎng trầm, khi bị cực thì lại càng tỏ rõ sức sống mãnh liệt, khi bị sức ép đến hạn thì lại bật

12

lên mãnh liệt hơn, tinh thần cộng đồng là một sức mạnh bản chất. Một số người có thể sa ngã, nhưng cộng đồng vĩnh viễn tồn tại. Qua thử thách, người mình lại vươn lên, vươn cao, cái xấu chỉ là hiện tượng tạm thời, cái tốt vẫn là bản chất. Nhờ thế mà đã ba lần làm phá sản âm mưu đồng hoá. Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế-xã hội thế kỷ 17, 18 vẫn có sự phát triển kinh tế, vǎn hoá, vǎn học, nghệ thuật. Do những biến đổi phức tạp trên thế giới, sự quá độ cách mạng từ giai đoạn này sang giai đoạn khác cộng với những sai lầm chủ quan của ta, những hiện tượng không lành mạnh xuất hiện nhưng mặt chủ yếu vẫn là phát triển đi lên. Sự kiêu ngạo, tự mãn là xa lạ với dân tộc ta vốn trọng đạo đức, phẩm giá, khiêm tốn, giản dị. Những người lãnh đạo bao giờ cũng có vai trò quan trọng đối với đất nước, tuy rằng lịch sử bao giờ cũng là sự nghiệp của quần chúng. Tài nǎng là nguyên khí của quốc gia. Chưa bao giờ tài nǎng của dân tộc ta cao hơn, nhiều hơn hiện nay. Sự thông minh của người mình thể hiện khá rõ trong những cuộc đua tài quốc tế. Hãy tin tưởng ngày mai. (Hoàng Tùng Tạp chí Tư tưởng vǎn hoá)

13


				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Stats:
views:1541
posted:6/10/2009
language:Vietnamese
pages:13