Docstoc

Chien Tranh Bien Gio_4

Document Sample
Chien Tranh Bien Gio_4 Powered By Docstoc
					History E-Books: HD310306015 Compiled & Published by Rosea Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 và 1984 ( P IV)
dân quân xã Yên Minh cùng với bộ đội đã đánh trả quân bành trướng xâm lược vào ngày 30-41984"

Hôm trước nghe ông thầy dạy QS (thiếu tá) kể chuyện liên quan đến chiến tranh biên giới, có một chi tiết hơi bất ngờ. Nguyên tắc trong chiến đấu thì bao giờ cũng phải bắn tiêu diệt tên chỉ huy trước tiên, sau đó là tên thông tin, tiếp nữa là tên giữ hoả lực mạnh. Nhưng theo ông này thì kinh nghiệm đánh TQ năm 79 là không được bắn sĩ quan hoặc lính thổi kèn hiệu xung phong vì nếu bọn này chết thì lính TQ hoặc rút xuống chân đồi, hoặc nằm im tại chỗ không xung phong, khi đó chúng sẽ gọi pháo dập dữ dội lên trận địa ta. Em nghe thấy nghi ngờ vì những chuyện ông này kể phần lớn là mang màu sắc thêu dệt . Nhất là lính nó nằm im không xung phong thì càng làm mồi cho cối, còn pháo thì không cần chết chỉ huy nó cũng vẫn dập ấy chứ. Nhưng cũng nảy sinh thắc mắc là giả sử trong chiến đấu mà xảy ra tình huống đại đội trưởng,

đại đội phó, chính trị viên đều hy sinh thì trong các trung đội trưởng ai sẽ đảm nhiệm chỉ huy chung ? Bản đồ của TQ về khu vực trận đánh này (của xinhui forum china-defense.com).

Theo ghi nhận của TQ, trận đánh ngày 23-9-1985, trung đoàn bộ binh 414 (sư đoàn bộ binh 138) chiếm được chốt 395 do đại đội 5 tiểu đoàn 5 (trung đoàn bộ binh 983 VN bảo vệ), thu gần 60 súng bộ binh, sau đó đẩy lui các đợt phản kích của VN. Pháo TQ bắn tổng cộng 10.462 viên. Quân TQ chết 10, bị thương 16. Quân VN thương vong 153 người. Một người bị lính TQ bắt là binh nhất Chen Wenyong (Trần ?) quê ở Đông Anh, Hà Nội, sinh tháng 1-1963, nhập ngũ tháng 2-1982 (???). Như vậy là có rất nhiều điểm trái ngược giữa tư liệu các bên. Nhờ bác phaphai kiểm chứng giúp, nhất là trường hợp bị bắt ở trên. Người dân các tỉnh biên giới chạy giặc

Sau khi quân kẻ cướp bị đuổi đi:

Em cũng xin góp tí chuyện về pháo binh Tàu. Ông già em hôm tàu nó đánh là lái tàu hoả đang trên ga Lạng Sơn. Lúc nó đánh ông già em cũng hoảng vì pháo nó bắn như mưa đỏ cả trời. Thế nhưng nhà ga và đường tàu ko dính 1 quả nào. Đến lúc nhận lệnh rút ông già em mới đi bộ dọc theo đường tàu về mình.Trong khi đấy đường bộ thì nó bắn cho nát bét. Ông già mình cũng khôn. Xe tăng TQ tấn công một điểm cao của ta (năm 1979).

Cao điểm 116 (số hiệu TQ), ngày 15-1-1985 (?) bị pháo binh VN bắn hơn 8.000 quả đạn. Trong Guiness VN, một pháo thủ của ta trong 2 giờ đã nạp liền 296 quả đạn. Vậy 1 đại đội (6 khẩu), 1 tiểu đoàn (12 khẩu), 1 trung đoàn (36 khẩu) sẽ bắn bao nhiêu quả ? Tuy nhiên so với pháo binh TQ thì số lượng này chưa là gì.

Một trận địa pháo của VN (ảnh của bác lei_lord_demon) Hồi trước em thắc mắc về chuyện pháo ta bố trí trống trải, tuy nhiên cũng có thể đây là trận địa dã chiến, bắn xong rút luôn.

Ngày 2-4-1984, lính đặc nhiệm TQ đã tập kích trận địa pháo tiểu đoàn 12, trung đoàn pháo binh 457, sư đoàn bộ binh 313 của ta. Theo những thông tin "từ phía VN" (nghe trộm điện đài, nhưng không rõ có chính xác không) thì phía VN có 20 người hy sinh, 11 khẩu lựu pháo cùng một số vũ khí bộ binh, xe vận tải, phương tiện thông tin liên lạc và đạn dược bị phá hủy. Nói cách khác, cả một tiểu đoàn pháo của ta đã bị xoá sổ. Tuy nhiên, theo lời bác Đoàng, cựu binh sư đoàn 313 thì "chỉ nghe anh em kể lại là bọn nó mò vào và làm thịt mấy chú lính gác của ta và tọng được mấy quả thủ pháo vào nòng của 2 khẩu pháo 105 thì bị phát hiện và chẳng chú Khựa nào quay về được !". Đây mới đúng là radar pháo binh Type-701 của TQ. Bọn Tầu ca ngợi nó rất nhiều.

TQ duyệt binh mừng "chiến thắng" năm 1979.

Biếm hoạ của báo chí phương Tây

.

Về trận đánh đầu tiên trên đỉnh 1509-Lão Sơn. Phần lớn thông tin lấy từ china-defense.com. Núi Lão Sơn, cao 1.422m so với mực nước biển nằm trong lãnh thổ VN, thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang), có cao độ lớn nhất trong toàn chiến trường Thanh Thủy. Đỉnh 1509 của nó nằm ngay trên đường biên giới, sống núi nằm dọc theo hướng tây bắc. Sau cuộc chiến năm 1979, 1509-Lão Sơn được quân đội VN xây dựng thành một vị trí phòng ngự quan trọng, từ đó họ có thể mở các cuộc đột kích vào lãnh thổ TQ (tất nhiên điều này do TQ nói). Ở 1509, lực lượng phòng ngự của VN theo phía TQ là ở cấp tiểu đoàn. Tuy nhiên, điều này có thể là phóng đại, lí do là địa hình khu vực khá hiểm trở không thể cho phép bố trí một số quân lớn như vậy chỉ trên một đỉnh (thực tế các trận địa phòng ngự khác của VN đều ở cấp đại đội trở xuống). Năm 1984, quân đội TQ tiến công đánh chiếm 1509. Sự kiện này được coi là chính thức mở màn cuộc chiến biên giới Việt-Trung lần thứ hai. 05h50 ngày 28-4-1984, trung đoàn bộ binh 118 thuộc sư đoàn bộ binh 40, quân đoàn 14, Đại quân khu Côn Minh được pháo binh chi viện với mật độ cao tấn công đỉnh 1509. Ngoài ra quân TQ cũng tổ chức đánh chiếm một số cao điểm khác ở xung quanh. 06h24, bộ binh TQ bắt đầu xung phong. Phía TQ đánh giá là chỉ vấp phải sức kháng cự yếu. Tuy nhiên qua nhiều thông tin của phía TQ thì không hoàn toàn như vậy. Trung đoàn 118 của TQ phải đến 15h30 mới hoàn toàn chiếm được đỉnh 1509 sau khi đơn vị phòng ngự hy sinh đến người cuối cùng. Đặc biệt, có 4 nữ chiến sĩ cố thủ trong hang đá, không chịu đầu hàng và lính TQ đã phải dùng súng phun lửa mới tiêu

diệt được những cô gái kiên cường này. Quân TQ cũng bị thương vong nặng : trung đoàn 118 bị chết 198 lính cùng một số bị thương. Trong đó một tiểu đoàn của trung đoàn này có tới 70% quân số bị loại khỏi vòng chiến. Tiếp sau đó là những đợt phản kích của VN. Ngày 11-6-1984, lúc 03h00, một lực lượng cấp tiểu đoàn của VN đã tấn công 1509. Mặc dù bộ đội VN đã đột kích được vào trong trận địa địch nhưng sau đó đã bị đẩy lùi. Ngày 12-7-1984, được coi là trận đánh lớn nhất của giai đoạn 1984-1991. Theo phía TQ, phía VN đã huy động 6 trung đoàn bộ binh thuộc các sư đoàn bộ binh 312, 313, 316 và 356 để tấn công 1 trung đoàn bộ binh TQ phòng ngự ở 1509. Quân TQ được sự yểm trợ của hàng vạn quả đạn pháo đã đẩy lui cuộc tấn công. Theo phía TQ thì VN bị tổn thất rất lớn, riêng số xác bỏ lại trận địa là 3.700 ! Một con số chưa bao giờ có kể cả trong các trận đánh với Mỹ. Đối chiếu với thông tin do bác phaphai cung cấp, thông tin trên là quá phóng đại. Trên thực tế, toàn bộ chiến trường Thanh Thủy chỉ có diện tích 5-6km2, không thể bố trí được một lực lượng quá khổng lồ như vậy (hãy so sánh với trận ĐBP, phía VN có 10 trung đoàn trong lòng chảo Mường Thanh, nhưng đó là một chiến trường rộng hàng trăm km2). Theo thông tin của VN, trung đoàn bộ binh 982 của sư đoàn bộ binh 313 đã tái chiếm thành công 1509. Nhưng sau đó bộ phận phòng ngự vì nhiều lí do đã tự ý bỏ chốt và TQ chiếm được 1509 lần thứ hai. Kể từ đây không có thêm trận phản kích nào nữa. Từ 1509, quân TQ lấn xuống tới bình độ 1200 thì bị chặn lại, bộ đội VN giữ được từ bình độ 1100 trở xuống. Các trận giành giật tiếp tục diễn ra, chủ yếu với quy mô đại đội, ác liệt nhất trong những năm 1984-1987. Từ đó trở về sau, giao tranh bộ binh ít dần, hai bên chủ yếu sử dụng pháo. Trận đụng độ bộ binh cuối cùng diễn ra ngày 13-2-1991 Bác Trường Sơn ơi ! Theo em thì tất cả 99% thông tin của Tào về những cuộc chiến tranh gần đây họ tham gia mà có thể tin được thì e rằng ...Heo Nái cũng biết leo cây mất thôi Bác ạ . Cứ như theo họ ta bao giờ cũng hy sinh 10 lần nhiều hơn số toi mạng của họ . Trong khi thực tế tất cả báo chí thông tin trên khắp thế giới đều cho rằng " Đôi bên thiệt hại rất nặng nề " tuy nhiên " Tào thiệt hại nặng hơn Ta " vì vậy tất cả thông tin quốc tế ngoài Tào đều cho là Ta đã chiến thắng trong chiến tranh biên giới dù trả giá khá đắt . Và đó cũng chính là lý do khiến lảnh đạo chóp bu của tụi Tào vội vả hiện đại hoá quân đội họ ngay lập tức với mọi giá ngay sau chiến tranh . Với trình độ của Tào ngày nay thì thật là khó nói , tuy nhiên với trình độ Tào của thời ấy hơn nữa những sư mạnh nhất của chúng còn đang nằm canh chừng USSR ở phía bắc vào thời điển đó , các sư vào đánh ta chỉ là bọn hạng 2 thôi nên kết quả dù người đông thế mạnh Tào vẫn chết loạn cả là không gì khó hiểu . Trận Lão Sơn có lẻ khác hơn , Tào tập trung mọi tinh anh của nó hy vọng giữ lại chút danh dự của quân đội Tào không bị tan theo mây khói miền núi biên giới . Dù thông tin của Ta ít nhiều cũng mang tính tuyên truyền nên có hơi đưa lên cao số thương vong của Tào Tuy nhiên thông tin ta vẫn chính xác hơn nhiều vì em thấy nó gần với thông tin quốc tế hơn . Cái web China-defense hình như em thấy có vẻ mang giọng điệu chủ nghĩa quân phiệt cực đoan kiểu mới đặc trưng của thanh niên Tào Lao hiện đại thì phải Bác ạ . Em thấy tên Sinodefense ít nhiều cũng dễ tin hơn chút tiếc là nó không có nhiều thông tin về chiến tranh như tên China-defense . Không biết có Bác nào có thông tin từ các phía khác không ạ ? Để tham khảo thôi mà bác Việt. Ngoài mình và Tầu ra thì thông tin đều rất chung chung. Nhân tiện nói thêm với các bác là không chỉ có TQ mới tuyên bố quân ta chết nhiều đâu. Có trang hải ngoại còn tuyên bố là riêng từ Đồng Đăng về Lạng Sơn có 40 pháo đài bằng bê tông chứa tổng cộng 40.000 quân VN (mỗi pháo đài 1.000 quân), bị TQ tiêu diệt là 70.000 người (các bác lưu ý, TQ "chỉ" nhận diệt khoảng 50.000 lính ta trên cả 6 tỉnh). Thế mới kinh. Lấy trên trang của RFA. Không hiểu số liệu thương vong là từ đâu.

Nga ghi nhớ vai trò của Liên Xô cũ trong cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979 2004.03.22 Sergei Blagov Liên bang Nga vẫn ghi nhớ vai trò to lớn của Liên Xô cũ trong cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979. Chẳng hạn, vào ngày 19 tháng 3, tờ báo Izvestia (Nga) bình luận rằng “Liên Xô cũ đã gốp phần quyết định và chiến thắng của Việt Nam.” Tờ báo Izvestia nhắc lại về vai trò của Trưởng cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam, Ðại tướng Guennady Obaturov. Đúng 25 năm qua, nhiều diễn biến xẩy ra, khiến cho Bắc Kinh và Hà Nội không tránh được đụng độ trực tiếp. Lý do chính là Hà Nội theo sát con đường Liên Xô chống Trung Quốc, tranh chấp Việt-Hoa về lãnh thổ, và việc Việt Nam chiếm đóng Campuchia. Từ cuối năm 1978, nhà cầm quyền Việt Nam bắt đầu kêu gọi dân chúng sẵn sàng chống lại "chủ nghĩa bành trướng của nước lớn và ý đồ bá quyền của bọn Hán phong kiến." Liên hệ Việt-Trung "môi hở răng lạnh" tan rã. Mặt khác, vào ngày 3 tháng 11, 1978, Liên Xô và Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, trong đó điều 6 đặc biệt ghi rằng đôi bên sẽ áp dụng "các biện pháp thích nghi và hữu hiệu để bảo vệ hòa bình và an ninh" nếu một trong hai nước bị đe dọa hay tấn công. Liên Xô được phép lập căn cứ quân sự tại Cam Ranh và Đà Nẵng. Đầu năm 1979, số cố vấn và chuyên viên Liên Xô tại Việt Nam tăng lên 8.000. Phần thưởng của sự nhân nhượng này là Moscow bật đèn xanh cho Hà Nội xúc tiến thực hiện và điều khiển "Liên bang Đông Dương". Tiếp theo Việt Nam chiếm đóng Campuchia. Vào ngày 7 tháng 1, 1979, với sự đồng ý và hỗ trợ vũ khí của Moscow, 100,000 quân Việt Nam tràn ngập Campuchia và toàn thắng sau 1 tuần lễ. Nên cuộc "hành quân trừng phạt" của Quân đội Nhân dân Trung Quốc bắt đầu vào ngày 17 tháng 2, năm 1979, lúc 5 giờ sáng, theo chiến thuật "biển người", đến 600,000 lính Tàu tràn vào Lạng Sơn, (phía Đồng Đăng), Cao Bằng, Đồng Khê, Mông Cáy, và Lào Cai sau khi pháo kích mãnh liệt. Ngày 3 tháng 3, các tỉnh lỵ Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai và 17 quận thất thủ. Đáng lưu ý, Ðại tướng Obaturov bắt đầu chuẩn bị sang Việt Nam từ cuối năm 1978. Theo Tướng Yevstafy Melnichenko, cựu chuyên viên Bộ tham mưu Liên Xô, Mạc Tư Khoa đã biết trước Trung Quốc sẽ đánh Việt Nam nên nhóm cố vấn do Tướng Obaturov dẫn đầu đã được thành lập từ đầu tháng 2, năm 1979. Ðại tướng Obaturov (1915-1996), nhà chuyên môn về xe tăng, từng trực tiếp thăm gia hai vụ Liên Xô can thiệp quân sự ở Tiệp Khắc (1968) và Hungaria (Hungary, năm 1956). Vào ngày 19 tháng 2, nhóm cố vấn quân sự Liên Xô bao gồm tổng cộng 20 viên tướng đã bay qua Calcutta và đến Hà Nội. Sau khi làm việc với Ðại tướng Văn Tiến Dũng và Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn, Tướng Obaturov đã trực tiếp đến vùng Lạng Sơn và gần như bị lính Tàu giết hại. Tiếp theo, Tướng Obaturov đã gặp tổng bí thư Lê Duẩn và thuyết phục lãnh đạo Hà Nội rút một lữ đoàn từ Campuchia chuyển sang vùng Lạng Sơn. Phần lớn lữ đoàn đó do các máy bay vận tải Nga An12 vận chuyển. Sau khi lữ đoàn Việt Nam từ Campuchia đã đến biên giới phía Bắc, sự tiến quân Trung Quốc, mau lẹ lúc đầu, lần hồi bị chận lại. Moscow cũng yêu cầu Tàu rút quân khỏi Việt Nam. Thủ tướng Alexey Kosygin và Tổng bí thư Leonid Brezhnev cực lực lên án Trung Quốc. Căn cứ vào Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác XôViệt, Điện Kremlin đã tập trung 25 sư doàn gần biên giới giữa Siberi và Trung Quốc, đe dọa trừng phạt Bắc Kinh nếu họ không ngưng chiến dịnh chống Việt Nam. Sau đó, đến ngày 17 tháng 2, 1979, không còn đơn vị Trung Quốc nào ở Việt Nam. Số tổn thương của hai bên đều nặng. Phía Trung Quốc đã có đến 60,000 quân thương vong, mất 280 xe tăng, trong khi phía Việt Nam đã có đến 30,000 quân và dân thường thương vong.

Việt Nam lẫn Trung Quốc đều tuyên bố thắng trận nhưng không bên nào hoàn thành mục tiêu chính yếu. Trung Quốc không tiêu diệt được một sư đoàn Việt Nam nào, không chấm dứt được xung đột tại biên giới, không ép được các đơn vị Việt Nam rút khỏi Campuchia. Đối với Việt Nam, hậu quả của cuộc chiến khá nặng nề. Trong vòng một năm, 1979-1980, ngân sách quốc phòng Việt Nam tăng rất mạnh, lục quân vượt từ 600,000 bộ binh lên một triệu vì lý do an ninh và cũng vì nhu cầu chiếm đóng Campuchia và Lào. Vào những năm 1979-1982, Ðại tướng Obaturov tiếp tục hướng dẫn chiến dịch lục quân Việt Nam ở Lào và Campuchia. đọc 1 số trận đánh thì không biết có phải quân phòng thủ VN thường phạm 1 sai lầm là chờ đối phương lại gần mới nổ súng hay không. Lý do là để tiết kiệm đạn và bắn chính xác, nhưng hay bị tràn ngập! Tôi thì tin là ta chủ quan coi thường bọn Tầu nên mới phải không vận gấp rút như vậy vì thông tin tình báo của Liên Xô thời điểm có cho ta biết là nó sẽ đánh. Nhưng chắc là nhà ta đang tự hào quá về thắng Mỹ nên nghĩ thằng ranh con ghẻ nào dám đụng vào mình. Chuyện chờ địch lại gần mới nổ súng có lẽ là truyền thống chung của VN từ thời chống PhápMỹ, tiết kiệm đạn và nhất là không tạo khoảng cách đủ lớn để địch dùng phi pháo sát thương. Một bài khác : ------------------------------------------------------------------Trận Chiến Biên Giới Việt Trung năm 1979 Ngày thứ Bảy 17 tháng 2 năm 1979, lúc 3 giờ 30 sáng, pháo binh quân đội Trung Hoa bắt đầu pháo kích ào ạt vào các vị trí quân sự các huyện Tiên Lĩnh, Hà Quảng thuộc tỉnh Cao Bằng, mở đầu cho cuộc tấn công quy mô trên một chiến tuyến dài hơn 1 ngàn cây số dọc theo biên giới Việt-Trung , từ Lai Châu đến Móng Cái. Ngay buổi sáng ngày 17 tháng Hai năm 1979, quân đội Trung Hoa đã tấn công 39 mục tiêu dọc theo biên giới hai nước, trong đó có 26 mục tiêu bị tấn công bằng cấp tiểu đoàn trở lên. Riêng Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai bị tấn công bằng cấp sư đoàn. Tổng số quân Trung Hoa vượt biên giới trong ngày đầu chiến dịch khoảng 80 ngàn. Con số này tăng dần cho tới ngày cuối của chiến dịch lên tới trên 150 ngàn. Đó là không kể hàng mấy trăm ngàn binh sĩ khác giữ nhiệm vụ yểm trợ hay trừ bị phía sau. Chỉ huy tổng quát mặt trân là Hứa Thế Hữu, ủy viên trung ương đảng, kiêm tư lệnh quân khu Quảng Châu (gồm hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây). Hứa Thế Hữu đặt bộ tư lệnh tại Nam Ninh (Quảng Tây). Phụ tá cho Hứa Thế Hữu là Dương Đắc Chí, từng nổi danh khi phụ tá cho Bành Đức Hoài trong chiến tranh Triều Tiên. Trong những ngày đầu, Hứa Thế Hữu trực tiếp chỉ huy tấn công mặt trận Cao Bằng, Lạng Sơn, còn Dương Đắc Chí phụ trách tấn công Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang. 2 quân đoàn 13, 14 được giao trách nhiệm tấn công Lai Châu, Lào Cai. 2 quân đoàn 41, 42 tấn công Cao Bằng, còn những quân đoàn 43, 54, 55 tấn công mạn Lạng Sơn và Quảng Ninh. Bên phía Việt Nam, phòng thủ biên giới Việt Hoa là trách nhiệm của những quân khu I, II III. Tư lệnh quân khu I là Đàm Quang Trung, người Tày, cận vệ cũ của ông Hồ Chí Minh, được cử thay cho Chu Văn Tấn. Quân khu này gồm cả Cao Bằng lẫn Lạng Sơn nên chịu áp lực nặng nhất của quân Trung Hoa. Trong những ngày đầu, trách nhiệm phòng vệ Lạng Sơn được giao cho Nguyễn Văn Thương, tư lệnh sư đoàn 3. Tư lệnh quân khu II là Vũ Lập, phụ trách phòng thủ Lai Châu, Lao Cai và Hà Giang.Tư lệnh quân khu III là Nguyễn Quyết, trách nhiệm vùng châu thổ sông Hồng và có lẽ cả đặc khu Quảng Ninh do Sùng Lãm chỉ huy. Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam ở Hà Nội trực tiếp theo dõi, giám sát và điều hợp mặt trận. Trong những ngày đầu của trận chiến, dựa vào quân số đông đảo, Hứa Thế Hữu cho áp dụng chiến thuật biển người để tấn công. Tại Lai Châu, quân Trung Hoa đánh Gò Tô, Phong Thổ trên

đường tiến về tỉnh lỵ. Tại hướng quan trọng Lào Cai, 2 sư đoàn tấn công vào thị xã và các xã lân cận, như Thanh Bình, Bản Cầu. Tại Hà Giang, họ tấn công Bản Kiệt, La Quỳnh. Hướng quan trọng thứ hai là Cao Bằng cũng bị 2 sư đoàn tấn công. Tại Quảng Ninh, 2 trung đoàn Trung Hoa tấn công Than Phún, Cao Ba Lanh. Riêng tại mục tiêu chủ yếu Lạng Sơn, quân Trung Hoa tấn công theo thế gọng kìm bằng hai hướng. Hướng thứ nhất là 2 sư đoàn 163, 164 vuợt Hữu Nghị Quan tấn công Đồng Đăng, cửa ngõ phía Bắc Lạng Sơn. Hướng thứ hai là 2 sư đoàn 127, 128 đánh từ phía Đông vào các tiền đồn ở Bản Xâm, Đồng Nội, Hải Yến. Tại khắp nơi, quân Trung Hoa gặp phải sự kháng cự mãnh liệt. Quân Việt Nam, nhờ vào vị trí cố thủ hiểm trở, công sự kiên cố, binh sĩ thiện chiến nhiều kinh nghiệm nên trong đợt tấn công đầu vẫn giữ vững được vị trí. Với sự yểm trợ hùng hậu và hữu hiệu của đủ loại pháo binh, từ đại bác đến hỏa tiễn, họ đã gây cho quân Trung Hoa tổn thất nặng nề về nhân mạng, nhất là ở các mặt trận Lạng Sơn, Cao Bằng. Chiến thuật biển người mà Hứa Thế Hữu áp dụng hiển nhiên đã trở nên lỗi thời trước tác dụng của những vũ khí hiện đại. Phía Lai Châu, Lào Cai, quân Trung Hoa bị tổn thất ít hơn vì Dương Đắc Chí không tấn công chính diện, mà dựa vào điạ thế rừng núi hiểm trở để chuyển quân khi tấn công. Vì số tổn thất quá cao, mấy ngày sau, tuy Hứa Thế Hữu còn giữ chức tư lệnh mặt trận, nhưng quyền chỉ huy các cuộc hành quân được giao cho Dương Đắc Chí. Sau đó, tuy chiến thuật biển người bị bãi bỏ, hỏa lực pháo binh và thiết giáp được sử dụng nhiều hơn, nhưng quân Trung Hoa vẫn dựa vào ưu thế quân số đông đảo để tấn công bất kể tổn thất. Các công sự phòng thủ của Việt Nam dù kiên cố đến đâu cũng dần dần bị phá sập, và quân Trung Hoa cuối cùng cũng chiếm được một số mục tiêu. Riêng tại Lạng Sơn, sư đoàn 163 của Trung Hoa chiếm được Đồng Đăng ngày 22-2-1979. Trong những ngày 24, 25, 26 trận chiến tương đối lắng dịu. Quân Trung Hoa bị tổn thất nặng và thiếu tiếp liệu nên không thể tiếp tục tấn công. Việt Nam vẫn giữ các sư đoàn chính quy của quân đoàn I đóng quanh Hà Nội, điều động các tiểu đoàn dân quân từ các huyện ngoại thành Hà Nội, như Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Lâm lên bổ sung quân số . Mờ sáng ngày 27-2-1979 , sau khi được bổ sung và tiếp liệu đầy đủ, quân Trung Hoa mở một đợt tấn công mới. Trong vòng 1 ngày, các thị xã ven biên Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang lần lượt bị thất thủ. Sau khi chiếm Lào Cai, quân Trung Hoa tiếp tục tiến về phía Nam dọc quốc lộ số 2 tiến đánh Cam Đường. Tại hướng tấn công chính Lạng Sơn, Trung Hoa tung vào trận đánh 6 sư đoàn, với hàng trăm xe thiết giáp và đại bác yểm trợ Phía Việt Nam, các đơn vị phòng thủ chính gồm các sư đoàn 3, 327, 338, 347 và sư đoàn 337 mới từ quân khu IV ra tăng cường, kết hợp lại thành quân đoàn 14 để thống nhất chỉ huy. Sư đoàn 308 của quân đoàn I cũng có thể đã được gửi lên tiếp ứng. Kể từ ngày 27 tháng 2, quân Trung Hoa liên tục tấn công hai mặt, và dù quân VN đã chống trả mãnh liệt, tuyến phòng thủ quanh Lạng Sơn thu hẹp dần. Bộ Tổng Tham mưu Việt Nam điều động quân đoàn 2 chính quy gồm hai sư đoàn 325 và 304 đang hành quân tại phía nam Campuchia di chuyển bằng xe lửa và máy bay vận tải Antonov của Liên Xô khẩn cấp về lập tuyến phòng thủ sau quân đoàn 14 để bảo vệ châu thổ sông Hồng. Nhưng việc tiếp ứng Lạng Sơn không còn kịp nữa. Thị xã bị pháo kích suốt mấy ngày đêm, cuối cùng quân Trung Hoa xâm nhập được thị xã, và quân đội hai bên phải chiến đấu ác liệt trên đường phố. Tới khuya đêm 4 tháng 3, quân Trung Hoa hoàn toàn làm chủ thị xã Lạng Sơn. Ngày hôm sau, Trung Hoa tuyên bố đã đạt được mục đích dạy cho Việt Nam một bài học, đơn phương ngưng bắn, và hứa sẽ rút quân. Tuy nhiên, vì còn bận dùng công binh phá sập hết những công sự, đồn bót, cầu đường, nhà cửa, trường học, chợ buá, nhà máy, bệnh viện ... ở các thị xã chiếm đóng, nên cuộc lui quân của

Trung Hoa kéo dài đến ngày 16-3-1979 mới hoàn tất. Với bao đau thương đổ nát, với hàng mấy chục ngàn binh sĩ thương vong, cả hai bên đều tuyên bố thắng trận. (Theo Hoàng Dung ) -------------------------------------Có vài vấn đề cần kiểm tra lại : 1. Có chuyện diễn ra chiến đấu trên đường phố bên trong thị xã Lạng Sơn không ? Cuốn "Sư đoàn Sao Vàng" nói rằng phòng thủ ở thị xã Lạng Sơn và thị trấn Kỳ Lừa là sư đoàn bộ binh 327 (hoặc một bộ phận của sư đoàn), nhưng không ghi nhận có chiến đấu đường phố ở thị xã như một số nguồn phương Tây. Bài viết của Xu Meihong (trang 6) thì nói rằng trong thị xã không có quân phòng thủ. 2. Quân TQ có chiếm được thị xã Lai Châu và Hà Giang không ? Đây là những hướng phụ, địa hình khó khăn với không nhiều quân được huy động, trong khi thị xã Lai Châu cách biên giới tới >40km, Hà Giang >20km. 3. Vì sao thị xã Cao Bằng ở sâu nhất (gần 50km) lại bị chiếm sớm nhất (nếu không kể Lào Cai nằm sát biên giới) ngày 28-2 trong khi Lạng Sơn cách biên giới có 17km lại giữ được đến 4-3 ? Theo tư liệu về trận phục kích ở Bản Sẩy, Cao Bằng (trang 14) thì sáng 18-2 bộ binh và xe tăng địch đã vào cách thị xã có 20km. Nếu VN chủ quan đến mức ấy thì đã không điều một số sư đoàn từng qua chống Mỹ lên phía bắc, thành lập nhiều đơn vị mới và xây dựng hệ thống phòng thủ đâu bác ạ. Em có thể khẳng định điều này. Trong tập ký sự "Trên biên giới phía bắc" xuất bản tháng 1-1979 đã đề cập đến việc TQ điều quân lớn áp sát biên giới và phỏng đoán là đối phương sẽ tấn công. Còn trong chiến tranh giữa 2 quốc gia chung đường biên giới thì bên bị tấn công lúc nào chẳng bị động trong thời điểm ban đầu. Việt Nam biết thừa Tàu sẽ đánh Việt Nam từ lúc chuổn bị đánh Campuchia. Lúc Việt Nam chuổn bị đánh Campuchia, Pol Pốt lúc đó cầu cứu tên lùn Đặng để Tàu đổ quân vào Campuchia chống đỡ quân Việt nhưng chú lùn lúc đó đang phải lo củng cố cái ghế ở nhà và chắc cũng biết thừa quân Tàu sẽ bị nghiền nát ở Campuchia nên không giám làm mà chỉ hứa là nếu VN đánh Campuchia thì Tàu sẽ dạy Việt Nam một bài học chỉ ở biên giới phía bắc. Việc VN không thèm rút quân ở Campuchia về biên giới phía bắc là muốn chứng tỏ cho Tàu biết rằng VN đếch sợ Tàu và cũng muốn dùng các lực lượng du kích địa phương để tiêu hao lực lượng quân Tàu. Nếu Tàu trở mặt đánh xuống đồng bằng sông Hồng thì quân chính quy VN lúc đó sẽ đợi và đánh ở đây. VN chỉ bắt đầu rút quân về khi có một ông tướng Liên Xô mà tôi quên tên sang thăm biên giới phía bắc lúc đánh nhau và mém bị toi mạng ở đó. Sau chuyến viếng thăm này, ông tướng LX này bắt đầu thuyết phục các tướng lĩnh VN nên rút một số quân ở Campuchia về củng cố phòng tuyến sông Hồng. Lúc đó VN mới bắt đầu một số quân về bằng máy bay vận tải của LX. Nhưng lúc đó chú lùn Đặng cũng đã thấm đòn nên rút quân về. Cũng phải kể là lúc đó LX đã cử một số tàu chiến đến đậu ở vịnh Bắc bộ. Có lẽ chú Đặng cũng sợ mấy chiếc tàu LX nên rút quân sớm. Chú lùn Đặng chỉ tính đúng một nước trong cuộc chiến tranh xâm lược VN là LX sẽ không giám động đậy đánh Tàu giúp VN nếu Tàu chỉ đánh VN ở sáu tỉnh biên giới phía bắc. Nhưng trước khi đem quân đánh VN, Tàu cũng đã lo xa di chuyển hết số dân ở các tỉnh giáp với biên giới LX để đề phòng LX đem quân đánh. Xung đột biên giới giai đoạn 1981 (www.china-defense.com). Từ tháng 1-1980, lực lượng VN thuộc trung đoàn bộ binh 52 (sư đoàn bộ binh 337) chiếm lĩnh trận địa trên điểm cao Far Ca Shan cao 500m, mở các cuộc đột kích vào lãnh thổ TQ. Ngày 5-5-

1981 , sư đoàn bộ binh 3 quân địa phương Quảng Tây của TQ tiến công đánh chiếm điểm cao này. Tình hình sau đó tương tự như ở Vị Xuyên, phía VN tập trung một số đơn vị thuộc trung đoàn bộ binh 2 (sư đoàn bộ binh 337), trung đoàn đặc công 198, lữ đoàn công binh 514 cùng với vũ khí nặng như pháo, cối 160mm, tên lửa và xe tăng phản kích. Nhiều lần diễn ra đánh giáp lá cà, giành giật quyết liệt từng phần của điểm cao nhưng các đợt phản kích này đều không thành công. Xung đột kéo dài từ 5-5-1981 đến 31-6-1981. Số tổn thất của TQ là 78 chết, 106 bị thương. Số tổn thất của VN là 705 chết, 513 bị thương, 135 pháo cối (!!!), 2 xe tăng và 14 xe vận tải. Thông tin của VN về những trận đánh ở đây không có hoặc gần như không có. Chẳng hạn chỉ có 1 dòng cụt lủn như "Ngày 16-5-1981 quân dân VN trừng trị bọn bành trướng Bắc Kinh ở bình độ 400 xã Thanh Loà, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn" (bình độ 400 bị chiếm đóng từ năm 1981). Trận này theo phía TQ cũng khá ác liệt. Bộ đội VN xung phong vào được và đã diễn ra đánh giáp lá cà bên trong cứ điểm. Tổn thất của VN là 110 người, thương vong của TQ có thể vào khoảng 1 trung đội. Theo em thì chuyện bộ đội ta tổn thất nhiều là có thật. Theo phía ta thì phòng ngự Lạng Sơn giai đoạn này là sư đoàn bộ binh 3 Sao Vàng, một đơn vị khá sừng sỏ, nhưng sư đoàn cũng không thành công trong việc tái chiếm bình độ 400. Tuy nhiên số liệu TQ không tin được, ngay trong các nguồn TQ cũng sai lệch nhau, ví dụ như trận ngày 10-5-1981 có nơi bảo VN mất 14 người, có nơi bảo VN mất hơn 80 người. Hồi trước Thành cổ Hà nội còn mở cửa cho dân vào chơi bời, em có qua Cục tác chiến cũ thấy có tấm bản đồ Vị xuyên được vẽ trên giấy pơluya(?) cỡ A0 vẫn đang dán trên tường. Bản đồ có vẽ các bố trí cơ bản của ta và địch, hướng tấn công. Em đóng cửa....xé xuống vác về. ( hic, em xin lỗi vì đã táy máy.) Các bác có thích, để em scan lên. Võ Quốc Tuấn nên cẩn thận với những lời mời chào thế này. Cách đây ít lâu, tớ thấy trung đội các chiến sĩ bảo vệ Hoàng Thành họp về vụ mất một tấm bản đồ quan trọng được treo trong thành. Các đồng chí ấy điều tra ráo riết lắm nhưng vẫn chưa tìm ra thủ phạm (nghi là mật thám Tàu trà trộn vào lấy). Nay đã có manh mối rồi đây, chuẩn bị lập chiến công mừng 2/9 thôi ! nvl ơi, tôi với bác lên chỗ bảo vệ Hoàng thành, xì bác voquoctuan vụ bản đồ này đi. Kiếm ít xiền 2/9 đi chơi chứ nhỉ. Em nhớ năm 79 khi ấy em còn nhỏ thôi nhưng lúc ấy không khí chiến tranh đã quá gần rồi. Ở HN rất nhiều cơ quan, trường học đã chuẩn bị sơ tán còn bộ đội, dân quan tự vệ có mặt khắp nơi. Loa phóng thanh ngày nào cũng đưa tin " chiến thắng " nhưng cũng ngần ấy thông báo sẵn sàng sơ tán gửi đến nhà. Nhà em cũng gửi thư hoả tốc về quê để báo sắp về sơ tán. Trên đê sông Hồng các trận địa pháo phòng không và trên hè các hào chiến sự đã đào khắp nơi rất khó cho bọn trẻ như em vượt qua để về nhà. Khi ấy em có hỏi cậu em là Trung tá khi tranh thủ ghé nhà và biết quân Tàu đã tiến đến sông Cầu cách HN có hơn 60Km và trận đánh có thể diễn ra vào tuần tới. Nhưng rồi đột nhiên chiến tranh chấm dứt mà hồi đó bọn trẻ như em không biết vì sao mà chỉ biết quân Tầu đã bị đánh bại !!! vè sau mới biết thực tế không hoàn toàn như vậy. Về sau em mới có được tài liệu mật về tình hình khi ấy. Tài liệu in bằng roneo nên giờ không còn nữa như em vẫn nhớ hồi ấy khi cậu em mang về em đã phải đóng kín cửa thắp đèn dầu để đọc. Em nhớ khi ấy tài liệu nói trong những ngày ấy ta chuyển được bao nhiêu quân từ Tây Nguyên và Nam Căm Bốt về... hầu như bộ đội bỏ lại toàn bộ vũ khí và trang bị cá nhân theo tàu và máy bay đi thẳng ra Hn và được trang bị ngay tại HN rồi lên gấp Hà Bắc.

Trong khi Vn chuyển quân , LX tuyên bố vô cùng cứng rắn với TQ và hạm đôi TBD cũng lên đường sang VN và lập cầu viện trợ khẩn cấp ở HP. Trước những tổn thất QS lớn và cơ sở hậu cần chưa đáp ứng cho việc vượt sông trong khi tiềm lực VN tăng vọt bên kia chiến tuyến TQ đã làm chưa dám manh động. Cuối cùng áp lực chính trị Quốc tế, cán cân QS thay đổi khi lực lượng dự bị VN tăng cao đã khiến TQ phải chùn bước và cuối cùng rút quân. Ối trời ơi, bác có nhầm nhọt không đấy, làm gì có chuyện quân Tầu tiến được đến sông Cầu??? Thế có mà nó chiếm được Việt Trì rồi chắc? Bác khongquen25 này nhớ nhầm mất rồi! 79 thì em chưa đẻ nhưng hồi em còn bé (đầu những năm 80) người lớn vẫn hay kể chuyện đánh Tàu (trẻ con thằng nào mà nghịch ngơm láo lếu thì bị mắng là "trông mày như quân bành trướng TQ ý"). Em chỉ thấy những người quê (hoặc có người quen) ở Lạng Sơn kể chuyện dân mình chạy quân Tàu thế nào (ông trẻ em ở thị xã Lạng Sơn bị tàu ghẻ pháo kích cũng chạy vào trong núi kịp nhưng mà điếc luôn hai tai) đâu! Chắc bị CA đến nhà tóm rồi hôm nọ em có gặp một cựu chiến binh.nhà ông này ở trên lạng sơn.em nghe ông ấy kể hồi đánh nhau quân ta kéo cả pháo 105mm lên đồi gần biên giới KHỰA .ông này bảo là pháo mình đặt trên đó bắn sang tận CÔN MINH của TQ.nhưng em ko hiểu là giai đoạn 1979-1984 ta kéo pháo lên đó hay là giai đoạn sau. Pháo đặt ở Lạng Sơn bắn đến tận Côn Minh thì không biết là loại siêu pháo gì nhỉ ? Pháo 105mm của ta chỉ bắn được 11km thôi, có đặt ngay trên đường biên thì cũng làm sao bắn tới Côn Minh được, 200km là ít. bác nói có lí lắm.em ko tin là có loại pháo bắn đến tận côn minh.chắc là cái lão bộ đội già đó nhớ nhầm nhưng em đã từng lên lạng sơn rồi.đúng là có pháo 105 mm đặt trên đồi để bắn khựa thật. Có khi là bắn vào ĐQK Côn Minh đấy, vì lúc chưa sáp nhập thì ĐQK Côn Minh của Tàu gồm cả Vân Nam Vài số liệu về hoạt động chống phá VN của TQ : theo Ngoại giao Việt Nam của Lưu Văn Lợi thì trong thời gian 1979-1984 đã có : - 7.500 vụ khiêu khích vũ trang của lính TQ, xảy ra từ nhỏ cho đến cấp đại đội, tiểu đoàn, thậm chí trung đoàn. - 1.500 tên thám báo, biệt kích bị phát hiện. - 2.000 lần tốp máy bay tiến hành trinh sát, tập trận, xâm phạm không phận VN. - Hàng trăm lần tốp tàu thuyền vũ trang khiêu khích, trinh sát hải phận VN. Thời gian diễn ra xung đột ở Vị Xuyên luôn có trên dưới 10 sư đoàn bộ binh TQ đóng sát biên giới. Chỉ riêng trong năm 1985 TQ đã tiến hành 20 đợt pháo kích lớn với 800.000 quả đạn pháo lớn vào lãnh thổ VN (lưu ý là đạn pháo lớn). Gửi lời chúc tới cả nhà nhân ngày Quốc khánh 2-9. Không phải em “địa phương cục bộ”, hôm rồi tìm thấy trong cuốn “Đơn vị, cá nhân Anh hùng lực chứ còn những người ở tỉnh khác có thấy ai kêu ca gì

lượng vũ trang tỉnh Thanh Hóa” thấy có khá nhiều Anh hùng trong Chiến tranh Biên giới. Em xin post lên đây góp phần cùng chiangshan và các bác trong công cuộc kháng Tàu này.

Anh hùng liệt sỹ Lê Đình Chinh
Lê Đình Chinh, sinh năm 1960, quê ở xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trú quán: Nông trường Sông Âm, huyện Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hóa. Khi hy sinh đồng chí là thượng sĩ, tiểu đội trưởng, đại đội 6, tiểu đoàn 2, trung đoàn 12, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Ở gia đình Lê Đình Chinh là người con ngoan, ở trường phổ thông Lê Đình Chinh là học sinh giỏi toàn diện, là đội viên tốt. Lê Đình Chinh luôn luôn gương mẫu, hăng hái phấn đấu, rèn luyện tốt, được mọi người rất quí mến. Được vào lực lượng Công an nhân dân vũ trang, Lê Đình Chinh học tập ,rèn luyện hăng say, luôn luôn nêu cao ý thức kỷ luật, trưởng thành nhanh chóng và vững chắc. Lê Đình Chinh đã tham gia chiến đấu nhiều trận chống quân Pôn Pốt-Iêng Xa-ri gây chiến tranh biên giới Tây Nam. Đồng chí đã diệt và làm bị thương nhiều tên địch, góp phần tích cực bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh biên giới của Tổ quốc. Ngày 26 tháng 8 năm 1978, hàng chục tên côn đồ và công an Trung Quốc cải trang đã vượt biên giới sang đất ta hành hung cán bộ, phụ nữ và nhân dân địa phương. Lê Đình Chinh đã mưu trí tấn công địch bằng tay không, đánh gục hàng chục tên côn đồ và công an Trung Quốc góp phần tích cực cùng đơn vị và nhân dân đánh đuổi bọn côn đồ Trung Quốc gây rối về bên kia biên giới, đồng thời giải tỏa được số người Hoa ùn tắc ở cửa khẩu Hữu Nghị. Giữ vững được an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên phòng Ải Bắc. Lê Đình Chinh đã anh dũng hy sinh, nêu gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã kịp thời tuyên dương công trạng và truy tặng đồng chí Huy hiệu “Vì thế hệ trẻ”; phát động trong thế hệ trẻ Việt Nam phong trào “Sống chiến đấu rực lửa anh hùng như Lê Đình Chinh”. Ngày 31 tháng 10 năm 1978, Lê Đình Chinh được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Anh hùng Nguyễn Nho Bông
Nguyễn Nho Bông sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Trường Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 9 năm 1968. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung úy, đại đội trưởng đại đội 1 công binh, tiểu đoàn 15 sư đoàn 3, Quân khu 1, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong cuộc chiến đấu chống xâm lược tháng 2 năm 1979, Nguyễn Nho Bông chỉ huy đơn vị chiến đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, diệt 270 tên địch, phá hủy 3 xe tăng, thu 40 súng các loại, riêng đồng chí diệt được 39 tên, bắn cháy 1 xe tăng, thu 6 súng. Ngày 19 tháng 2 năm 1979, một tiểu đoàn địch đóng trên điểm cao 438 (tây Đồng Đăng) bắn phá ác liệt để ngăn chặn bước tiến của ta. Đồng chí chỉ huy chiến đấu rất dũng cảm, linh hoạt, đánh nhanh, đánh mạnh, diệt được 1 đại đội, chiếm lại được điểm cao này. Riêng đồng chí diệt được 10 tên địch. Ngày 20 tháng 2 năm 1979, địch cho 2 tiểu đoàn có hỏa lực mạnh, được pháo binh chi viện, bắn phá ác liệt hòng chiếm lại điểm cao 438. Tuy quân số hao hụt, Nguyễn Nho Bông đã cùng chính trị viên động viên giữ vững quyết tâm cho bộ đội kiên quyết đánh địch, giữ vững trân địa. Trận này đơn vị đồng chí diệt 100 tên địch thu 8 súng. Ngày 4 tháng 3 năm 1979, Nguyễn Nho Bông chỉ huy đơn vị phối hợp cùng đơn vị bạn diệt một đại đội địch, có xe tăng yểm trợ, đánh lui các cuộc tấn công của chúng. Quá trình chiến đấu,

đồng chí dũng cảm mưu trí giật súng B40 từ trong tay địch, đập chết một tên, một tên khác giương lê định đâm, Nguyễn Nho Bông nhanh chóng dùng súng ngắn bắn bị thương rồi cướp súng đâm chết tên địch này. Khi địch bỏ chạy, đồng chí đuổi theo, dùng súng, lựu đạn tiêu diệt địch. Kết quả trong trận này, riêng đồng chí diệt được 29 tên, bắn cháy 1 xe tăng. Hành động dũng cảm của đồng chí đã có tác dụng động viên, lôi kéo mọi người noi theo. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng 3, 2 Huân chương chiến công giải phòng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng 3. Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Nguyễn Nho Bông được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Anh hùng liệt sỹ Phan Bá Mạnh
Phan Bá Mạnh sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở xã Tiến Nông, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1972. Khi hy sinh đồng chí là trung úy, đại đội trưởng đại đội 10, tiểu đoàn 3, quân khu 1, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1972 đến tháng 4 năm 1975, Phan Bá Mạnh tham gia chiến đấu ở chiến trường khu 5, lập nhiều chiến tích đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng 3. Trong chiến đấu chống quân xâm lược tháng 2 năm 1979, đồng chí đã nêu cao tinh thần dũng cảm, chỉ huy mưu lược, linh hoạt, dù địch đông gấp nhiều lần cũng cương quyết đánh. Phan Bá Mạnh đã chỉ huy đơn vị tiêu diệt hàng trăm tên địch, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn địch. Trong quá trình chiến đấu đồng chí dùng 4 loại súng (AK, trung liên, B40, M79) của những đồng chí đã hi sinh, diệt 35 tên địch. Ngày 23 tháng 2 năm 1979, địch bắn phá dữ dội để yểm trợ cho bộ binh của chúng (đông hơn hơn ta hàng chục lần) tấn côgn vào trận địa do đại đội đồng chí đảm nhiệm. Phan Bá Mạnh đã bình tĩnh, chờ địch đến gần mới cho đơn vị đồng loạt nổ súng diệt hết lớp địch này đến lớp địch khác, đánh lui nhiều đợt tấn công của chúng. Riêng đồng chí diệt gần chục tên. Hành động dũng cảm của đồng chí đã có tác dụng nêu gương cho toàn đơn vị học tập. Phan Bá Mạnh đã anh dũng hy sinh sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 1 Huân chương chiến công giải phòng hạng ba, 12 bằng khen và giấy khen. Ngày 20 tháng 12 năm 1979, Phan Bá Mạnh được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong diễn đàn tớ thì tin của bác này với bác chiangsan thì nhà em không có gì phải lăn tăn . Còn tiến đến cách hanội 60 km mà ăn thua gì , bọn nó chỉ còn cách hà nội 30km thôi nữa là , các bác hỏi lại xem bởi vì em nghe kể về chuyện này cũng nhiều , cũng được kể như bác khongquen ;... rồi đùng một cái có tin mình chiến thắng , không hiểu tại sao luôn . Sau này mới biết là TQ nó chỉ vui chơi thế thôi chứ nó cũng chả có ý định vô tới hà nội mà làm gì, chứ nó mà muốn vô thì sá gì 60km với 30km ? Nói là quân đội của nó lúc đó kém hiện đại , dỏm ...blah blah...cũng không hẳn đâu các bác . Cỡ như mình nó mà chỉ có ý định chừng 30% thôi cũng đủ . Đúng là sá chi 60Km vô HN cũng được nữa . Nhưng cần triệu Xác lính Tào Lao lót đường . Mới sơ sơ ngoài biên ải cắn trộm qua tí chút đã chết thối cả đất Bác ạ . Lúc đấy Taò và Nga đang là kẻ thù lực lượng chính đang trông chừng cửa Bắc nhà Tào . Lấy đâu ra tinh nhuệ mà đòi vào Nam dễ dàng hả Bác . Theo tôi nếu ngày Xưa Tào nhất định phải vào HN rồi mới rút thì ngày nay đâu phải kế hoặch dân số chi cho khổ khỏi dẫn đến tệ nạn giết bé gái nữa vì kế hoặch chỉ được sinh 1 con trong khi Tào khóai cu hơn . Nếu vào được cách HN có vài chục km thì nửa miền Bắc bị chiếm rồi, kiểu gì Tầu cũng khoe ầm lên rồi. Theo em không có chuyện đó đâu các bác ạ.

Năm 1979 mũi tiến sâu nhất của ghẻ vào VN có lẽ là Sapa. Từ Lai Châu vào đến Sapa khoảng 17 km. Với phương tiện chiến tranh của BC thì chiếm được Miền Bắc NV phải trả giá ít nhất là 200000 lính! Nhất là khi đánh đến Hà Nội, có thể BC sẽ bị chặn đứng ở cửa ngõ Hà Nội, và một thất bại như Stalingrad cũng khiến Đặng không muốn đặt mình vào vị thế phiêu lưu như vậy! Mục đích của Đặng đã đạt được khi lấy được lòng tin của Mẽo khi đặt mình vào vị trí đối địch của LX và khối Vacsava! Vậy thì việc gì Đặng không rút quân về nước? Mũi vào sâu nhất của TQ là 45km ở thị xã Cao Bằng. Ở Lạng Sơn và Lào Cai khoảng 15km. Kế hoạch của Đặng là tiến hành một cuộc chiến tranh hạn chế (limited war) nhằm "dạy cho VN một bài học". Mục tiêu đánh chiếm là các thị xã, thị trấn giáp biên giới chứ không phải Hà Nội nên sau khi chiếm được những nơi này thì Bắc Kinh lập tức tuyên bố rút quân. Trước đây từng có ý kiến (hình như dẫn từ sách của nhà báo Australia Burchett) là để phối hợp với cuộc tiến công vào miền Bắc VN, TQ còn dự định đánh VN qua đường CPC (cùng với quân Khmer Đỏ) vào miền Nam, qua đường Lào vào miền Trung và hải quân từ biển vào. Đây có lẽ chỉ là thêu dệt thêm vì hội nghị Bộ Chính trị ĐCSTQ từ 15-11 đến cuối tháng 12-1978 đề nghị đưa quân đến hỗ trợ Khmer Đỏ và một bộ phận hải quân đến "thăm" các cảng của CPC đã bị bác bỏ. Cuộc họp này cũng đánh giá LX sẽ không tấn công lớn mà chỉ có khả năng can thiệp ở quy mô nhỏ và vừa và TQ đủ sức để đối phó (nguồn : Ngoại giao Việt Nam). Diễn biến chiến sự thì rõ ràng là không phải TQ "thắng như chẻ tre", khi gặp lực lượng chuẩn bị tốt như ở Lạng Sơn (mặc dù một phần lớn vẫn là tân binh) thì mãi đến 4-3 quân TQ mới vào được thị xã chỉ cách biên giới 15km và cách Hà Nội 150km. Thậm chí nhiều điểm trên đất TQ còn bị VN phản công đánh trả. Các đơn vị ứng chiến với TQ đa số là công an biên phòng, bộ đội địa phương tỉnh, huyện, một số sư đoàn tân binh mới lập cùng dân quân tự vệ mà đã khó khăn như thế. TQ chắc chắn không dại mà tiến tiếp về Hà Nội khi mà chờ tiếp đón họ lúc này sẽ là các quân đoàn thiện chiến với đầy đủ pháo binh, tăng thiết giáp, không quân... sẵn sàng ở tuyến 2. Lúc này cái giá phải trả sẽ lớn hơn nhiều. Và nếu TQ vào gần Hà Nội quá thì không loại trừ khả năng xe tăng, tên lửa, máy bay mới viện trợ sẽ được lính LX lái thẳng từ Hải Phòng lên tham chiến ! Mũi quan trọng nhất chiếm được Lạng Sơn, cách Hà Nội chỉ hơn trăm km (chim bay hay scud bay), tuy nhiên vất vả lắm chiếm xong Lạng Sơn thì Tàu cũng tuyên bố rút quân luôn! Mục tiêu của Tầu là dạy cho VN 1 bài học. Chiếm được Lạng Sơn là đạt được mục đích (sau đó là đồng bằng, nhiều quân, nhiều pháo thì có lợi thế... trên lý thuyết, so sánh với việc quân ta thắng ĐBP kéo về HN), bởi thế Tầu rút. (đợi vài hôm nữa thì đánh nhau to, VN chuẩn bị đưa cả Không quân vào tham chiến). Tổng kết thì VN phòng thủ có hiệu quả!!! (tất nhiên câu hỏi tiếp sẽ là tại sao lại mất LS...), vì lính VN thiện chiến hơn, vừa mới trải qua 30 năm chiến tranh, lính Tầu từ sau chiến tranh Triều tiên không còn đụng độ thực sự nữa!!! ngoài ra quân giải phóng có 1 cái dở nữa là thực hiện chế độ "bình đẳng" sỹ quan cũng như lính ăn mặc giống nhau, ra trận không phân biệt được thành ra communication rất tai hại và lộn xộn. Mặt khác thì VN nhận được 1 bài học. Nói như ông Trần Bạch Đằng: " cứ tưởng thắng Mỹ thì có cho kẹo cũng không thằng nào dám đụng đến VN", đấy là cái nhầm tai hại!!! Em nghe một thằng hàng xóm Tàu nói chuyện thì nó bảo hồi đấy chúng nó rút kinh nghiệm của bọn Mỹ ở Khe Sanh. Mỹ ở Khe Sanh bị ta bắn tỉa thiệt hại rất nhiều, vì quân hàm Mỹ màu vàng, trắng trên nền đen,

nhìn từ xa, sĩ quan trông khác hẳn lính. Bọn Tàu lột sạch quân hàm đi để tránh bị VN bắn tỉa. Mỹ thì khôn hơn, sau này thay quân hàm chiến đấu bằng chỉ đen trên nền xanh lục đậm, trông từ xa khó phát hiện mà ở gần vẫn phân biệt được . Thêm vào đó lính Tàu không phải chỉ có lột quân hàm, mà còn có nhiều lính già nhưng cấp vẫn thấp. Nhìn qua ko biết được ai là lính trơn, ai là sỹ quan cao cấp được, trừ chỉ huy trực tiếp mình quen mặt. Cái vụ phân biệt sĩ quan và lính của quân Tàu thì lính ta có một kinh nghiệm thế này : Hồi 79, hệ thống chỉ huy của Tàu còn rất cổ lỗ trước khi xung phong bao giờ cũng có một hồi kèn đồng hoặc kèn sừng dê thổi te...te ?! (như kiểu chiến tranh Triều Tiên), chỉ huy bao giờ cũng cầm một lá cờ đuôi nheo đỏ để phất chỉ huy lính. Quân ta muốn diệt chỉ huy của chúng chỉ việc ngắm vào chú nào cầm cờ hồng hoặc đứng cạnh thằng thổi kèn và...bùm...chíu ...thế là xong. Sau này, những năm 8x thì thằng chỉ huy bao giờ cũng luẩn quẩn cạnh cái máy 2w, nên chỉ việc tìm cái đầu anten lá lúa mà cả cái một quả cối hoặc B-41 là...hết phim ! Bác Đoành có thể nói thêm là đối với bộ đội ta thời kỳ đó thì phân biệt thế nào không. Địch không biết đã đành, nhưng với ta mà không phân biệt được thì cũng phiền phức. Ta thì...lính đương nhiên phải biết chỉ huy trực tiếp của mình rồi. Còn chỉ huy khác thì chỉ cần nhìn ai đeo súng ngắn và xà cột thì chắc chắn là...sếp ! Mà chú gọi anh thế hử ? Em nghe nói hồi chống Pháp và đầu chống Mỹ bộ đội ta cũng dùng kèn làm hiệu lệnh xung phong (có lúc dùng trống nữa). Chắc học của Tầu. Thế sau này quân ta không dùng cờ, kèn thì lên lạc, chỉ huy lúc đang chiến đấu thế nào hả các bác. Ta có khá nhiều ám hiệu chỉ huy, hoặc bài bản là dùng pháo hiệu, điện đàm (chỉ huy cấp cao), dùng tín hiệu tay, chân, điểm xạ AK, hoặc tiếng nổ của hỏa khí (B4x, DKZ, đại liên). Thường kế hoạch tấn công được chuẩn bị ký, bộ đội học nhiệm vụ trên sa bàn, nên chỉ cần tín hiệu chỉ huy trực tiếp của từng phân đội trong tấn công là đủ. Trong phòng thủ, dùng hữu tuyến, vô tuyến, và liên lạc viên Trận tổng công kích ở ĐBP, lúc đầu tưởng 1 tấn thuốc nổ to nên sử dụng làm hiệu lệnh toàn chiến trường, dẫn tới nhiều đơn vị không nghe thấy tấn công chậm. May mà tính thần cao, thấy đơn vị bạn đánh thì cũng đánh theo nên đỡ thiệt hại. 2-79 ta có cẩu mấy khẩu vua chiến trường của Mẽo ra Lạng sơn đặt trên đồi bắn xuống Khựa chết như rạ. sau đó phải gọi chúng nó sang khuân thịt xương về nhưng chúng nó đòi chôn tại chỗ, ta không chịu phải làm căng chúng nó mới chịu hót đống phân ấy về đấy. pháo tự hành được trực thăng chở ra hẳn hoi đấy nhé bác ạ. Nghe có vẻ hơi khó tin. Vua chiến trường là pháo tự hành tầm xa, vác lên đỉnh đồi bắn xuống thì chả lấy gì làm hiệu quả vì loại này bắn trực xạ kém do tốc độ nạp siêu chậm. Còn vụ dùng trực trăng không vận thì cũng làm ơn cho tôi biết loại trực thăng nào cẩu nổi thằng khổng lồ này với. Tôi đọc cuốn "Cuộc chiến tranh giữa những người anh em đỏ" - ta đổi lại thành cuốn "Chân lý thuộc về ai" của ông nhà báo Bơtsét (quên tên nguyên bản tiếng Anh) người Úc. Đại thể theo nghiên cứu của ông này thì xét vể mặt quân sự là Việt Nam thắng trong cuộc Chiến tranh biên giới 79. Vì đây là cuộc chiến mà phía Việt Nam chiếm ưu thế về kinh nghiệm trận mạc, vũ khí, trang thiết bị quân sự, không quân ta cũng làm chủ bầu trời. Có điều, nói gì thì nói, hồi 79 - 80, cả nước đang lao đao vì kinh tế sa sút, có thêm một cuộc xung đột vũ trang kiểu đấy, dù có thắng đi nữa thì cũng khốn nạn!

Nói thêm về khả năng chiến đấu của QDNDVN thời kỳ đầu 80: chưa nói đến kinh nghiệm, năng lực của chiến sỹ, chỉ nói về phần trang bị thôi thì chúng ta cũng thuộc loại khá nhất ĐNA về mặt chất lượng và số lượng (sau này thì thôi không tính). Hồi quân mình sang Campuchia, lúc đến sát biên giới Thái làm dân Thái Lan sợ vãi linh hồn, bọn phân tích quân sự quốc tế thì nhận xét đểu rằng, lúc đó VN có tiến sang Thái Lan, chắc chỉ có nạn kẹt xe ở Bankok là cản được đường tiến của Vi xi thôi. Tôi nghe chuyện của ông lớp trưởng thời đại học của tôi (nguyên là thượng úy quân đội, đánh ở Campuchia, xuất ngủ về đi học), ông ấy nó hồi đánh Pôn Pốt, súng đạn của mình dồi dào lắm. Chỉ cần ở đâu phát hiện thấy ba chú KhMe đỏ thôi là đã gọi pháo giã như giã tỏi rồi. Hệt như hồi mình đánh Mỹ bị Mỹ gõ hỏa lực như vậy đấy. Lão ấy còn kể, có lần lùa được một toán Pôn Pốt lên 1 quả đồi, các ông ấy chẳng việc gì xung phong lên cho mệt, cứ vây chặt xung quanh rồi lấy pháo bắn liên hồi kỳ trận. Cũng tưởng chỉ làm cho bọn nó thiệt hại bớt rồi xông lên cho đỡ tốn xương máu, ai ngờ lúc lên đến nơi thì bọn nó bị pháo bắn chết sạch, chính ông ấy cũng rùng mình vì sợ mà. Nhưng chính ông này cũng kể là bọn Pôn Pốt đánh du kích tởm lắm. Lính mình ở đó, nhiều ông cũng hóa điên vì sợ mà Thế các bác có biết kết quả của cuộc chiến này ta mất bao nhiêu đất không? Tui không biết chính xác là bao nhiêu, nhưng diện tích đất nước ta từ sau chiến tranh và hiệp định biên giới với anh CN: từ khoảng 336.300Km2 (số liệu từ thời 8x, 9x) còn 330.991Km2 (số liệu hiện nay). Thế là mất khoảng hơn 5.000Km2 - toàn theo số liệu mấy bác ở Sông Trong cung cấp cả. Ở Vị Xuyên thì không nhiều lắm. Địch lấn vào đất ta khoảng 1,5km trên chiều dài khoảng 6-7km. Những nơi khác chiều sâu bị lấn chiếm cũng tương tự. Không rõ sau khi ngưng chiến năm 89 TQ có trao trả lại điểm nào không. Mấy trang web chống đối chế độ (tôi không muốn dùng chữ chống cộng) ở hải ngoại cũng chỉ dám bù lu bù loa là sau Hiệp định biên giới Việt Nam mất cho Trung Quốc 700km2 thôi. Chưa bàn đến việc thay đổi địa giới do nguyên nhân tự nhiên, sai số đo đạc, tính toán sau 20 năm. Trong những cuốn sách địa lí, lịch sử dành cho học sinh cấp 3 những năm 8x cũng chỉ ghi lãnh thổ VN 330.000 km thôi. Có thể tui nhớ nhầm, bác nào còn tài liệu của VN từ thời 8x thì xem lại. Tui mới kiểm tra lại vài trang web cho thấy diện tích VN (số liệu 8x) ~331.700Km2, thế thì cũng mất hơn 700Km2. Chưa bao giwò có tài liệu nào chính thức nói Việt Nam có diện tích 336.000 kM2 cả. Về hiệp định Biên giới với tàu thì các chú nghe đọc cái đe''o gì cũng phải nghĩ 1 tí chứ?? chả thằng đe''o nào dám bán đất của Tổ tiên cả đâu?? chỉ có thằng tuyên bố "biên giới Mĩ kéo dài đến Vĩ tuyến 17 " thôi hê hê số liệu gần nhất là 339000 km2!Chưa tính hải đảo + Biển!Sau khi đánh Khựa Vn ta cũng chẳng mất tất đất nào, tuy 1 số điểm cao đang tranh chấp! Mà Trận đánh năm 1979 và 1984 thì ta là chiến tranh tự vệ, Tàu Khựa thì chiến tranh bành trướng!Nói cho công bằng thì thằng Khựa thua đau, hi sinh cả chục nàng mạng mà chỉ gậy cho ta thiệt hại về Ktế chứ còn cục diện chiến tranh thì kô thay đổi gì cả, quân ta vẫn ở Cam đấy thoai! Em xem lại cái bản đồ hành chính VN mua ngày xưa thì thấy số liệu năm 1999 là 329.240km2 các bác ạ. Sách lịch sử của những năm 70s, 80s vẫn dạy là diện tích nước VN là 329, 600 km vuông (làm tròn). Mấy con số trên 330,000 km vuông có vẻ phóng đại quá, chắc là đã được tính thêm diện tích Little Saigòn ở CA, Mỹ

Theo tài liệu của CIA thì diện tích của VN la 329, 540 km vuông. Tham khảo tại http://www.cia.gov/cia/publications/factbook/geos/vm.html Hy vọng Mỹ không "cấu kết" với VN để bào chữa cho việc "dâng đất, nhượng biển" như một số kẻ thối mồm vẫn nghĩ. Hình như là thằng Khựa sắp đánh mình hay sao Em chỉ đoán nó đánh trên đất liền

Được~! Anh cho chú lên biên giới! À, chú chiangsan xem hộ anh ngày 30/4/1984 có trận nào đánh nhau ở Yên Minh không? Nghe bảo trận này phòng thủ thành công, diệt khoảng 300 thằng. Chianshan à, cậu chỉ đúng ở phía dưới này thôi. Tại khu vực Vi Xuyên từ Làng P. đi lên sỹ quan cũng như lính mình đều quần cộc, áo dài (áo sỹ quan theo đúng quy định chít bo kiểu áo bay nhưng trên ấy họ mặc áo lính), tóc dài gần xõa vai (lúc ra quân bọn tớ bị tập trung cắt tóc). Chỉ có lính khác sỹ quan là đeo nhiều vòng bạc (thực ra bằng nhôm cắt từ đạn và vỏ đạn ra). Chỉ sỹ quan được sử dụng AK, còn đều dùng hỏa lực mạnh hết (tối thiểu RPĐ). Tớ ra quân vài tháng trước khi chiến tranh BG kết thúc, lúc đó đơn vị chuyển sang Yên Minh (Trung đoàn 2 là 881, các tiểu đoàn từ 1-3 tức là 5-7, còn F3 chắc là 314, QKII, được thành lập từ 1 đơn vị từ QK I sang, gốc của QK II chỉ có F313, đơn vị sau là F31 cũng không phải của QK II). Tuy vậy cũng biết được là sau đó phía TQ rút hết sang kia cột mốc, kể cả CĐ 1509! Bác phaphai cho em hỏi một chút. Em thấy bác hay nói đến từ "hầm", vậy "hầm" ở đây là 1 công sự của ta hay là một chốt (gồm nhiều công sự). Nếu là cách thứ nhất thì thường trên điểm cao của ta quân số và trang bị mỗi "hầm" như thế nào, khi chiến đấu "hầm" này có liên hệ được với "hầm" kia không ? Còn nữa, bác kể chốt của bác là núi đá, quân ta phải mặc quần đùi cho dễ leo trèo. Vậy tại sao lại dùng RPD mà không dùng AK báng gập hay M79 cho đỡ vướng. Em đọc thấy bảo chiến sĩ đánh chốt núi đá của địch ở Vị Xuyên thường dùng lựu đạn nhiều hơn súng vì không vướng và khó lộ vị trí. Có 2 loại hầm trên ấy: ví dụ như vị trí 4 hầm (BĐ 400)-> đó là các hầm núi đất, đào sâu vào trong núi (cả hầm pháo bắn thẳng 83 hay 76,2 cũng như vậy) chống bằng cột bê tông. Các hầm này miệng hướng về phía Hà Giang (tất nhiên là hầm TQ thì hướng về phía TQ rồi), rất bị đe dọa bởi pháo ta hụt tầm (đơn vị tớ có 1 đại đội pháo 120 có hôm bị thương mất hơn chục người do 1 quả pháo nổ trong hầm, mà lúc đó chỉ có pháo ta đang bắn). Còn ở các khu vực núi đá như 685 thì mỗi hầm chỉ có 1 hoặc 2 người dựng bằng các khúc gỗ ngắn dựa 1 bên vào khe đá lát bằng bao cát nhỏ và ngụy trang phía ngoài bằng đá (AK trong trường hợp này mang lên chỉ để chống hầm). Ở trong những hầm như vậy cả ngày chỉ cúi khom khom, đêm mới bò ra lập những cho bao cát hở ra do pháo bắn. Những hầm này thì đối mặt trực tiếp với pháo bắn thẳng của TQ, đặc biệt là DK. Những hầm do pháo bắn rung đã lở mất lộ bao cát (rất tiếc là hồi đó vỏ bao cát lại mầu xanh rêu thẫm) sẽ bị DK nó bắn vỡ. Những ngày trời mưa, cơm nắn đưa lên chỉ được ăn ở giữa, vì bùn trộn với phân và nước tiểu mà cầm tay ăn phải sẽ bị kiết ngay. Còn chuyện vũ khí thì thực ra RPD cũng không nhiều, chủ yếu là lựu đạn (buộc dây chỉ ném ra còn để có ánh lửa quan sát nữa), M79, cối 61, B41 và M72... Lính ở đơn vị loại súng nào cũng dùng được (trong đơn vị có khoảng gần 20 đại học và cao đẳng!). Ngoài các chiến dịch lớn đạn bắn đẹp hơn pháo hoa bây giờ, còn lại nếu nói tấn công cấp trung đội chắc cả hai phía công lại chưa được 20 người nhưng pháo sẽ bắn hàng giờ (cũng cả 2 phía)! Hồi đó có thấy cả xe chuyên gia Nga lên tận đỉnh 812 (phía trên L. P.).

Nói thêm về tổ chức của quân đội ta thời kỳ chiến tranh biên giới 1979 : Sau khi kết thúc chiến tranh chống Mỹ, đến tháng 7-1976, cả nước được tổ chức lại thành 6 quân khu : - Quân khu 1 ở phía bắc, thành lập trên cơ sở Quân khu Tây Bắc và Quân khu Việt Bắc cũ. - Quân khu 3 ở châu thổ sông Hồng và vùng Đông Bắc, thành lập trên cơ sở Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn cũ. - Quân khu 4 ở Bắc Trung Bộ, thành lập trên cơ sở Quân khu 4 và Quân khu Trị-Thiên cũ. - Quân khu 5 ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, thành lập trên cơ sở Quân khu 5, Quân khu 6 và Mặt trận Tây Nguyên cũ. - Quân khu 7 gồm Thành phố Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ. - Quân khu 9 ở phía Nam, thành lập trên cơ sở Quân khu 8 và Quân khu 9 cũ. Ngoài ra : - Quân khu 2 thành lập ngày 21-6-1978 gồm các tỉnh Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Lai Châu, Sơn La, Vĩnh Phú. - Quân khu Thủ đô thành lập ngày 5-3-1979 trên cơ sở Bộ Tư lệnh Thủ đô. - Đặc khu Quảng Ninh thành lập ngày 20-4-1979 trên cơ sở tách tỉnh Quảng Ninh ra khỏi Quân khu 1. Đến 14-8-1987 hợp nhất với Quân khu 3. Trong một thời gian ngắn hàng chục sư đoàn bộ binh mới và nhiều đơn vị binh chủng được thành lập (trong đó có nhiều đơn vị vũ khí mới như không quân chống ngầm của Hải quân, tên lửa đất đối đất của Pháo binh, tên lửa đất đối biển của Hải quân...). Lực lượng chủ lực trực thuộc Bộ Quốc phòng gồm 4 Quân đoàn : - Quân đoàn 1 - binh đoàn Quyết Thắng, gồm sư đoàn bộ binh 308, 312, 390; lữ đoàn pháo binh 45; lữ đoàn tăng thiết giáp 202; sư đoàn phòng không 367; lữ đoàn công binh 219 và trung đoàn thông tin 240. Sau đó tháng 7-1987 tăng cường thêm sư đoàn bộ binh 303 Quân khu 3. Tư lệnh : thiếu tướng Nguyễn Hoà. - Quân đoàn 2 - binh đoàn Hương Giang, gồm sư đoàn bộ binh 304, 306, 325; lữ đoàn pháo binh 164; lữ đoàn tăng thiết giáp 203; sư đoàn phòng không 673; lữ đoàn công binh 219 và trung đoàn thông tin 463. Sau đó tháng 7-1987 tăng cường thêm sư đoàn bộ binh 353 Quân khu 1. Tư lệnh : thiếu tướng Nguyễn Hữu An. - Quân đoàn 3 - binh đoàn Tây Nguyên gồm sư đoàn bộ binh 10, 31, 320; lữ đoàn pháo binh 40; lữ đoàn tăng thiết giáp 273; trung đoàn phòng không 232, 234; lữ đoàn công binh 7 và trung đoàn thông tin 29. Tư lệnh : thiếu tướng Nguyễn Kim Tuấn. - Quân đoàn 4 - binh đoàn Cửu Long gồm sư đoàn bộ binh 7, 9, 341; lữ đoàn pháo binh 24; lữ đoàn tăng thiết giáp 22; trung đoàn phòng không 71; lữ đoàn công binh 25 và trung đoàn thông tin 26. Sau khi sư đoàn bộ binh 341 ra Bắc được tăng cường các sư đoàn bộ binh 307 và 309 Quân khu 5. Tư lệnh : thiếu tướng Hoàng Cầm. Trong và sau khi chiến tranh 1979 kết thúc, 6 Quân đoàn khác được thành lập : - Quân đoàn 5 tức Quân đoàn 14 - binh đoàn Chi Lăng thuộc Quân khu 1 thành lập ngày 2-31979 gồm sư đoàn bộ binh 3, 327, 337, 338, 347; trung đoàn pháo binh 166; trung đoàn tăng thiết giáp 407; trung đoàn phòng không 272; trung đoàn công binh 514. Tư lệnh : thiếu tướng Hoàng Đan. Chính ủy : đại tá Phí Triệu Hàm. - Quân đoàn 6 thuộc Quân khu 2 thành lập ngày 16-4-1979, gồm các sư đoàn bộ binh 316, 335, 345 cùng một số đơn vị binh chủng. Tư lệnh : đại tá Nguyễn Năng. Chính ủy : đại tá Nguyễn Công Trang. - Quân đoàn 7 trực thuộc Bộ thành lập ngày 16-4-1979, gồm các sư đoàn bộ binh 341, 342, 343 và một số đơn vị binh chủng. Tư lệnh : thiếu tướng Nguyễn Thế Bôn. Chính ủy : đại tá Nguyễn Trọng Dần.

- Quân đoàn 8, tức Quân đoàn 26 - binh đoàn Pắc Bó thuộc Quân khu 1 thành lập ngày 16-71979, gồm các sư đoàn bộ binh 311, 322, 346; trung đoàn pháo binh 188; trung đoàn phòng không 814; trung đoàn công binh 522. Tư lệnh : đại tá Đàm Văn Ngụy. Phó chính ủy : đại tá Ngô Bằng Khê và đại tá Nguyễn Như Thuyết. - Quân đoàn 34 thuộc Quân khu Thủ đô thành lập ngày 23-1-1980. - Quân đoàn 68 thuộc Quân khu 3 thành lập ngày 23-1-1980. Trong năm 1979 và 1981, các sư đoàn bộ binh 308 (Quân đoàn 1) và 320 (Quân đoàn 3) cũng được tổ chức thành các sư đoàn bộ binh cơ giới, biên chế mỗi sư đoàn có 3 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn phòng không, 1 trung đoàn xe bọc thép cùng các tiểu đoàn : xe tăng, trinh sát xe tăng, hoả tiễn, pháo chống tăng, thông tin, công binh, sửa chữa. Bác phaphai cho em hỏi là khoảng năm 87 (nếu em nhớ không nhầm thì bác lên đợt này) việc tiếp tế đạn dược cho anh em có thiếu thốn không? Hồi trước em có xem đoạn clip của Tàu nó quay năm 87 thì vũ khí trang thiết bị của nó ngon lành lắm. Mà hình như là nó chiếm ưu thế hơn ta thì phải. 87 tớ không biết, vì ra quân từ 24/12/85. Nhưng hồi 83 - 85 thì ta chỉ kém Tầu cái khoản công binh làm đường thôi, còn pháo không những không kém, mà có phần còn hơn: 122, 130, 105, 83, BM13 và DKB.... Hồi ấy thấy đủ (bắn chứ không phải chỉ đặt đâu, tớ đã mô tả mỗi khi có chiến dịch pháo bắn còn đẹp hơn pháo hoa ở HN bây giờ)! Lính bộ binh bọn tớ còn mỗi nhiệm vụ vác thịt mình chống chọi với pháo Tầu (để trả đũa pháo ta-nó bắn truyền đơn sang nhờ hủy 3 núi đạn gỉ để khỏi ảnh hưởng đất đai bên Tầu). Tớ không được mang khẩu này, chỉ có AK nhưng cũng chi thỉnh thoảng bắn chim, còn chỉ lựu đạn. M79 thì không chỉ lính Tầu mà lính ta hồi chống Mỹ cũng ngán lắm, vì nó bắn cầu vồng, không cần bắn trực tiếp vẫn gây được sát thương. Tuy vậy tại các khu vực núi đá ở Vị Xuyên nó cũng chỉ là loại đạn nhỏ, tiếng nổ cả người bắn lẫn người bị bắn đều không nghe được, không có tác dụng dọa lắm! (ở đấy pháo lớn nói chuyện với nhau là chính!). Ở trên ấy bác đã lần nào phải đối đầu trực tiếp với bộ binh Tàu chưa? Theo lời các bác kể thì nếu đụng nhau chắc chỉ khoảng cỡ tiểu đội là cùng. Mà giai đoạn sau 84 thì hình như chỉ có ta lên tái chiếm điểm cao thì phải. Tàu nó chỉ giữ cao điểm và phản kích?? Theo Military Balance thì mỗi sư đoàn BB của VN có từ 5.000-12.000 quân. Sư đoàn BBCG chắc sẽ có quân số cao nhất này (12.000 quân so với 8.000-9.000 quân của sư đoàn BB thường đủ biên chế). Trung đoàn PB, PK, T-TG quân số thường chỉ có vài trăm người. Tuy nhiên theo cá nhân em thì tổ chức sư đoàn BBCG như vậy quá cồng kềnh, chưa chắc đã hiệu quả. Với địa hình VN chỉ nên tổ chức BBCG thành các lữ đoàn cơ động. Quy mô trung đội chắc chỉ ở khu núi đá thôi. Những trận ở 1509 (núi đất) Tàu tấn công cấp tiểu đoàn tăng cường đến trung đoàn. Ngay trận ở bình độ 400-500 của 1310 hay A6B đều là núi đá quân số tấn công của ta và Tàu đều ở cấp đại đội tăng cường. Ở trên đấy lính ta có đội mũ sắt như lính Tàu không bác phaphai, hay là chỉ đội mũ mềm ? Em thấy pháo Tàu giai đoạn này nhiều khủng khiếp, lại toàn 152 ly hạng nặng. Không biết có gây thiệt hại gì cho ta không. sau 84 thì hình như chỉ có ta lên tái chiếm điểm cao thì phải. Tàu nó chỉ giữ cao điểm và phản kích??

Không phải như vậy! Cuối 83, đầu 84 Tâu nó chiếm mất 1509, ta có lấy lại nhưng sau đó không ai giũ lại bị nó lấy mất. Tại Thanh Thuỷ, nó lấn sâu vào nước ta hơn 1 km và xây dựng các loại hầm cố thủ tại những chỗ chiếm được. Phía ta cũng làm các hầm cố thủ. Hầm Tầu miệng quay về phía Tầu và hầm ta quay về phía ta. Sau thời gian đó chiếm thêm 1 hầm của nhau rất khó. Khi vận chuyển nuớc lên các hầm chốt của đơn vị bằng can nhựa (kiểu ba lô), nước phải đổ đầy, nếu không bọn tầu nghe thấy gọi pháo bắn, hoặc ném lựu đạn sang. Do vị trí miện hầm pháo từ phía sau có thể bắn lọt vào trong hầm được. Đơn vị cũng mấy lần tham gia chiếm dịch để lấy lại vị trí 4 hầm ở 400 nhưng không được. Trước khi ra quân, đơn vị rút sang Yên Minh, Sư 31 lên tiếp quản làm ta bị mất mất 1 hầm và 1 đại trưởng đặc công! (đơn vị trước khi rút sang Yên Minh còn bị 1 trận mưa lớn làm sập hầm nữa-nhưng hầm này là hầm lớn, đào sâu trong núi đất chứ không phải loại hầm cá nhân ở núi đá 685) Bác kể thêm về mấy trận này được không ạ. Tại sao lại không lấy lại được, ta có bị thương vong không (Tàu thì lúc nào cũng bảo ta chết hàng trăm người nhưng không có số liệu của ta để bác lại). Còn trận chiếm lại 1509 có ác liệt lắm không ạ. Các trận ở 1509 không phải của đơn vị tớ, mà của F313, họ bỏ chốt sau đó 1 đơn vị tăng cường (bọn tớ ban dầu, lúc tham gia bình độ 400 cũng là quân tăng cường), bên Lạng Sơn (không rõ lắm vì phiên hiệu trên ấy thay đổi hết-đó là 982) họ lên lấy lại được, bàn giao lại cho 313 và đánh tiếp 1 vòng qua cả bên kia biên giới, lúc về đến HGiang đã thấy những người tiếp nhận trận địa bàn giao cũng ở HGiang rồi!! Nói chung đánh nhau hồi ấy nó cũng gần giống như bây giờ rồi, trên chốt thì chiến đấu, dưới này thì không thiếu cái gì cả, từ cà phê nhạc đến các kiểu tiêu cực (các thanh bên tông lính phải vác vai lên tận đỉnh núi làm hầm chốt bị rút hết xi măng, hầm vừa làm xong đã sụp-mà đất đào hầm phải vận chuyển tận sang bên kia triền núi để khỏi lộ). Còn lúc đánh Bình độ 400 đơn vị tớ cũng làm thê đội dự bị, vào tấn công lão tiểu đoàn trưởng bắt lính mang cơ số phòng ngự, kể cả gạo ăn cho lên lúc nổ bộc phá, lính còn rải tới tận thung lũng Hang Giơi chưa vào xong. Nhưng mà bảo ta thiệt hại nhiều thì cũng chẳng có người mà chết đâu. Trận ấy cũng chẳng tấn công được, Mìn Claymor do công binh 313 chuẩn bị và bị lắp ngược, không quét đưọc hàng rào và mìn của Tầu mà lại quét lính ta đang chuẩn bị xung phong ở phía sau. Trận ở Yên Minh tớ đã ra quân, chỉ nghe bọn về sau kể lại cũng chẳng có gì đặc biệt lăm, trân ấy đơn vị có 1 anh hùng, nhưng chúng chỉ bảo khi sang Yên Minh không còn ác liệt như ở Vị Xuyên vì pháo Tầu thưa hơn hẳn! Đánh nhau hồi đó cũng buồn cười lắm, tuần nào cũng về Thị xã nộp báo cáo, muốn biết tuần tới đơn vị làm gì chỉ cần vào gặp bà bán nước, khai rõ tên đơn vị là các bà ấy đọc vanh vách tấn công ở đâu, chuẩn bị phải vác bao nhiêu đạn.... Bắt bộ đàm gặp mấy em Việt "gốc mít" vừa hô "thấu xẻng, chiêu thâu..." các em đã đọc vanh vách phiên hiệu đơn vị mình, còn phía mình chỉ được QK thông báo đang đánh nhau với quân đoàn nào thôi. Nhưng lính mình thì phía Tầu cũng phải công nhận gan lì và đánh giỏi và xin các cậu đừng bao giờ tin những thông tin trên các trang của Tầu: lính mình hồi đó ở trên ấy không đông lắm đâu để mà chết như vậy. Cấp tiểu đoàn cũng chỉ biên chế hơn trăm 1 ít thôi! Bọn tớ có thể đọc trích ngang từn anh trong đơn vị (dù đơn vị cũng được bổ sung 1 đợt khoảng tháng 8-9/1985). Bác ơi bác kể tiếp đi tụi em sinh ra sau chiến tranh nên biết ít cũng nhờ các bác mà chúng em biết được những trang sử hào hùng của dân tộc ta, hồi đó bác ăn uống có khó khăn lắm không, chắc bác cũng không có điều kiện tắm rửa, và cho em hỏi sau này những hầm hố và điểm cao đó chúng ta chiếm lại khi nào hay bọn chúng trả lại khi nào Hà Giang những năm 83-85 (đến 86 ít dần và hình như đến cuối 86 thì chấm dứt hẳn) không thể nói là chiến tranh (mặc dù cũng rất ác liệt). Phía Tầu nói là cứa để VN chảy máu!. Bọn tớ cứ theo rõi tình hình biên giới phía Tây Nam (thực chất là ở Căm Pu Chia), nếu mình mở chiến dịch truy quét tàn quân Polpot ở CPC thì trên ấy Tầu cũng bắt đầu đánh. Nếu tớ có biết được một ít thông

tin chỉ vì là thống kê của 1 đơn vị, ngoài công việc 1 lính trơn của 1 đơn vi đang tham gia tác chiến dưới dạng tăng cường (lúc đầu là D tăng cường, sau đó E tăng cường) và khu vực phụ trách của F chính là phía trên (Yên Minh - Quảng Bạ, khi F31 vào thay thì đơn vị cũng rút hết sang hướng của F)-như tải đạn, cơm, thương binh, tử sỹ, tham gia trong thê đội dự bị tấn công, còn thường xuyên phải đi khắp các vị trí của D, thường xuyên phải về dưới thị xã nộp các loại báo cáo. Lúc ra quân chỉ mang quân hàm hạ sỹ ! Nhưng thực ra cũng chưa ngắm bắn trực tiếp vào một anh lính Tầu nào (hình như trong đơn vị cũng có rất ít người có cái may mắn này, mà chủ yếu là bắn gián tiếp-tớ đã nói là AK chỉ để cho sỹ quan thôi). Lính trong đơn vị, số lên trực tiếp từ Bắc Quang, sử dụng vũ khí rất thành thạo do được tập rất kỹ, nếu phát cho 1 băng AK đầy thì hầu như lính ai cũng bắn đủ 16 nhịp, không 1 viên tắc cú (tuy vậy trận đầu tiên ở C6 vẫn có 1 khẩu cối 61 bị bỏ đạn ngược đầu vào-chiến tranh mà), chỉ có sỹ quan thì tớ đã chứng kiến buổi bắn tập K54 của 5 sỹ quan, sau 3 lần, bia số 8, 25 mét mà không một phát rách áo!. Mấy ông sỹ quan đã tham gia ở Quảng Trị, lúc huấn luyện nói phét như thần, lên đó dúm dó lại. Trích từ "thế giới thế kỷ XX những sự kiện quân sự" của Viện lịch sử quân sự-Bộ quốc phòng do NXB Quân đội nhân dân ấn hành. ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Từ 17-2-1979, các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Trên các hướng, lực lượng vũ trang địa phương, một số đơn vị chủ lực và nhân dân các dân tộc đã chiến đấu ngoan cường, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Trước tinh thần chiến đấu anh dũng của các lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam, sự phản đối của dư luận quốc tế, ngày 5-3, chiến sự tạm lắng xuống, lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam giành thắng lợi bước đầu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Tuy vậy, chiến sự còn tiếp diễn và tình hình biên giới phía Bắc Việt Nam vẫn căng thẳng kéo dài trong nhiều năm cho đến hết thập niên 80 ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Các bài viết sinh động về từng trận đánh của quân ta với CHÍ NỔ thì nhiều bài của các bác "thực chiến" đã phân tích tỉ mỉ cụ thể rồi. E chỉ đưa thêm 1 chi tiết là , trong giai đoạn tiến như vũ bão của CHÍ NỔ , BỘ CHÍNH TRỊ đã có phương án xấu nhất là dời "bộ chỉ huy" vào SG. Tài liệu này E đã được đọc, nhưng vì vẫn thuộc tối mật nên đợi vài chục năm nữa được bạch hoá lúc đó chuyên mục này (nếu TTVNOL còn tồn tại) sẽ có thêm nhưng tư liệu sinh động bổ sung. Nếu các bạn để ý đoạn "giành thắng lợi bước đầu trong chiến tranh bảo Vệ tổ quốc" ở đoạn trên đã phảng phất điều này (E phải mang theo cuốn sách để post lên đây cho chính xác từng chữ) Ngẫm chuyện xưa để nói chuyện nay, qua cuộc chiến 1979 (ta bị bất ngờ) thì chúng ta càng phải cảnh giác với mấy anh Chí Nổ. Dù làm ăn hay giao lưu văn hoá thì vẫn phải cảnh giác kẻo sau này con cháu chúng ta lại phải nói tiếng Quan Thoại thì nằm dưới đất chúng ta chỉ biết "ngậm ngùi nơi chín suối" mà thôi. Qua đây E muốn những ai có "tinh thần Việt" ko bao giờ nói chuyện với nhau gọi China là Trung Quốc mà gọi là Chí Nổ, Tàu huặc Khựa gì gì cũng được miễn ko gọi là Trung Quốc. Em thấy gọi là ghẻ thì hay nhất mặc dù em đang ở đất nước nó, hôm đi cái bảo tàng quân sự có mua được 1 bộ đĩa 3 tập, chiến tranh Việt-ghẻ, Ấn -ghẻ, Nga-ghẻ. Xem cái đĩa nó quay (có màu hẳn hoi) làm cực kì cẩn thận, chiếu các tư liệu nó giúp đỡ mình trong chiến tranh thế nào, rồi lí do đánh VN ra sao, rồi đoạn cuối quay cảnh sau khi đánh VN đoàn quân trở về trong sự hân hoan của nhân dân, xem như một cuộc chiến chính nghĩa, mk xem mà lộn ruột!

Tội nghiệp! Thế là bọn Tàu con lại được nhồi sọ tiếp về lịch sử "vĩ đại" của cha anh chúng. Cứ như vậy chẳng trách cái suy nghĩ bành trướng vẫn còn tồn tại một cách mạnh mẽ trong đầu óc lũ này...Chúng sẽ mãi chẳng bao giờ được dạy rằng những gì chúng có ngày nay đã là quá nhiều so với cái chúng vốn có. Đ/c junbk có thể tường thuật lại rõ hơn hay là đưa lên đây một vài tư liệu xem nó thế nào chứ nhỉ? Mấy hôm nay đi lang thang bên room Dulich đọc mấy bài về Tây Bắc . Em ngac nhiên sao bây giờ năm 2005 rồi nhưng nhiều vùng trên gần biên giới phía tây bắc hoàn toàn không có đường giao thông gì hết . Xe không thể vào được . Thậm chí xe máy vào cũng khó , Cứ toàn là cuốc bộ thôi . Nếu như thế ta làm sao tiếp tế cho bộ đội trong hoàn cảnh chiến tranh ? không lẻ dùng đội quân cửu vạn như thời Điện Biên Phủ à ? Trực thăng của ta thì quá ít . không rõ Ta có hế hoặch phát triển giao thông cho vùng đất xa xôi ấy không nhỉ ? Ngày trước đọc sách thấy họ bảo trong chiến tranh biên giới cả hai phía VN và Tào đều gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tiếp tế cho tiền phương . Quả thật tình hình không có đường giao thông phải toàn dùng quân cửu vạn cho tiếp tế trong chiến tranh hiện đại thì khó thật chứ . Cái chỗ mà mình khó vào thì thằng Khựa cũng khó vào thôi. Những chỗ Tây Bắc mà mọi người lọ mọ vào là những vùng bản heo hút, chưa phát triển kinh tế, làm đường thì ko có ngân sách và kinh tế cũng chưa PT. Phía đấy thì tầu không đánh đâu vì núi cao ngút ngàn. Hơn nữa phía đấy lại giáp Lào. Chỉ có phía Lào Cai Sâp là thuận lợi ( năm 79 nó cũng đánh hướng này) thì mình cũng chuẩn bị hết mọi thứ rồi Tôi nghe ông già kể là, trước đây quân Tàu xâm phạm lãnh thổ Liên Xô, thấy im im cứ xông lên thì bị vây đằng sau bằng dây thép gai ( do trực thăng thả ) đằng trước thì bị dàn pháo phản lực dập như kiểu quét nhà, thiệt khoảng 6 sư đoàn. Nghe nói sau này thằng nào sống cũng phát rồ vì biển lửa khủng khiếp quá. Sau này khi xảy ra sự kiện tháng 2.79 ở biên giới phía bắc, Việt nam mình tham gia vội vào khối Vacxava, đồng thời Liên Xô áp sát quân đội vào biên giới TQ, đông thời chi viện cho Việt Nam 1 ( không nhớ rõ ) đơn vị không quân. Trên các điểm cao thì trực thăng triển khai cẩu pháo phản lực được viện trợ lên( chắc định tái lập hoả lực như đã diễn ra trước đây ở biên giới TQ- LX) Mà loại này thì ai cũng biết rồi đấy, kể cả phát xít Đức cũng nếm mùi rồi. Bác nào có thông tin cụ thể về chuyện này không? Chứ vua chiến trường mà triển khai được như thế hay sao? Còn tình hình sơ tán, năm 79 em gái tôi ( trong bụng mẹ ) cũng suýt được di chuyển vào miền Trung rồi đấy ạ !!! May mà mọi chuyện kết thúc. Chắc là despair lớn hơn tui rùi, thế thì tui gọi bằng bác! Bác có biết là thằng Tàu nó cũng có H12 không? Mà về mật độ hoả lực của nó thì hơn hẳn mình! Việt Nam không phải là Liên Xô! Các làng bản ở vùng Vị Xuyên còn phải chuyển sâu vào nội địa vì H12 của Tàu thì bác rõ! Tôi chỉ muốn nói đến động thái của Liên Xô sau khi Việt Nam mình vội vàng ký tham dự vào khối quân sự Vacsava thôi ( trước đó còn chần chừ ) Tôi cho rằng Liên Xô đã viện trợ 1 lực lượng đáng kể pháo phản lực, ( đã thực hiện triển khai ), kể cả 1, 2 trung đoàn máy bay chiến đấu ... cho Việt Nam, để bảo vệ thành viên mới của Khối.

Trước đó cũng có rồi nhưng số lượng và cách đánh khác ( đánh du kích, tháo rời từng quả và làm giá bệ ngắm bắn cơ động ). Cách triển khai kiểu con nhà nghèo thì đâu có đáng sợ khi đánh trực diện. Nhưng khi Liên Xô giúp thì có khác đấy nhé. Liệu Tàu có sợ không? Có bị khùng mới nói Vietnam tham gia vào khối Varsovie... Các nước ko liên kết thì đâu phải là khối do Liên xô lập ra, mà LX cũng không có chân trong khối này! Không liên kết được lập ra từ trước năm 1975 cơ mà. Sau 1975 Viet nam tham gia cái gọi là " Hội đồng tương trợ kinh tế " gồm các nước xã hội chủ nghĩa. Cuối những năm 70 Vn và LX còn kí hiệp ước hữu nghị và hợp tác. Thời điểm tháng 2 năm 79 chính là expiry date của hiệp ước hữu nghị giữa Liên Xô và TQ. Sau ngày đó TQ không vi phạm nếu tấn công 1 đồng minh của Liên Xô. Hình như tôi nhầm, nhưng rõ ràng Việt Nam và Liên Xô ngay lúc đó phải ký một thoả thuận bảo vệ lẫn nhau. As promised, China''''''''''''''''s military offensive against Vietnam began on 17 February 1979, within three days of the 29th anniversary of the 1950 Sino-Soviet Treaty. As Deng had announced, from the very beginning China conducted a limited action against Vietnam. Not only were many of China''''''''''''''''s best troops stationed along the Sino-Soviet border, but Beijing decided not to deploy the estimated 500 fighters and bombers it had stationed in the area. In response to China''''''''''''''''s attack, the USSR sent several naval vessels and initiated a Soviet arms airlift to Vietnam. On 22 February 1979, Colonel N. A. Trarkov, the Soviet military attach‚ in Hanoi, even threatened that the USSR would "carry out is obligations under the Soviet-Vietnam treaty;" elsewhere, however, Soviet diplomats made it clear that the USSR would not intervene as long as the conflict remained limited. (John Blodgett, "Vietnam: Soviet Pawn or Regional Power?" in Rodney W. Jones and Steven A. Hildreth, eds., Emerging Powers Defense and Security in the Third World (New York, Praeger Publishers, 1986), 98). The USSR clearly had no intention of risking a full-scale war with China for the sake of Vietnam. ............ Meanwhile, increasing signs of Soviet-Vietnamese cooperation also appeared during the summer of 1978, as Vietnam asked to become a member of Comecon. In addition, government sources in the United States reported that by August 1978 as many as 4,000 Soviet advisors were in Vietnam. During September 1978, the USSR began carrying out increased arms shipments to Vietnam, both by air and by sea, which included "aircraft, missiles, tanks, and munitions." Finally, all of these signs of improving Soviet-Vietnamese relations came to fruition on 3 November 1978, when Vietnam and the USSR signed a Treaty of Friendship and Cooperation. There was no doubt that this treaty was aimed at China, since the sixth clause stated that Vietnam and the USSR would "immediately consult each other" if either is "attacked or threatened with attack . . . with a view to eliminating that threat." Reportedly, this treaty also included a secret protocol granting Soviet military forces access to Vietnam''''s "airfields and ports." (Ramesh Thaku and Carlyle Thayer, Soviet Relations with India and Vietnam (New York, St. Martin''''s Press, 1992), 61.) Although Vietnam claimed that it signed this treaty with the USSR to stop Chinese "adventurist" acts, Chinese leaders in Beijing undoubtedly saw this as part of Moscow''''s efforts to pressure China into backing down and renewing the unequal terms of the 1950 Sino-Soviet Treaty .................. In 1978 that relationship had deteriorated to the point where protecting it was no longer a consideration, and circumstances in Cambodia confirmed the need for Vietnamese-Soviet military

cooperation. In spite of Vietnam''s needs, it is likely that the November 1978 Treaty of Friendship and Cooperation was imposed by the Soviets as a condition for military assistance. As a result of the treaty, the Vietnamese granted the Soviets access to the facilities at Da Nang and Cam Ranh Bay. Use of the bases represented a substantial regional strategic gain for Moscow, whose naval bases in the Pacific Ocean, until then, had been limited to the Soviet Far East. vì phía TQ đã tuyên bố sẽ rút quân về ,nên Liên xô không cần làm phản ứng quân sự với TQ rồi,có phải thế không các bác ạ? nhưng có điểu mà mình không hiểu là: trong giai đoàn đầu chiến tranh 1979,tại sao chúng tôi không đưa quân đoàn chủ lực sang biên giới để quyết chiến quyết thắng đánh quân địch và bảo vệ Lạng Sơn và Cao Bằng, chả lẽ những bộ đội tinh nhuệ này chỉ coi trọng bảo vệ thủ đô Hà Nội hay sao. Mình cũng nghe nhiều dân biên giới kể là trên thực tế chính dân quân đã có sự đóng góp to lớn nhất trong trận chiến đó, chứ không phải là các sư đoàn chính quy. vì dân quân cùng với các bộ đội biên phòng và bộ đội địa phương đã làm trì trề nhiều cho cuộc tấn công của địch. Các Quân đoàn là các lực lượng cơ động chiến lược của quốc gia thì việc điều động không thể tùy tiện phải tùy thuộc tình hình cụ thể. Hơn nữa lúc đó chỉ còn lại duy nhất Quân đoàn 1 (các Quân đoàn 2, 3, 4 đang chiến đấu ở CPC) nên phải ưu tiên bảo vệ những địa bàn quan trọng, những hướng có nguy cơ cao hơn... Ngoài ra còn phụ thuộc điều kiện ở đó sử dụng chủ lực có phát huy tác dụng không (địa hình hiểm trở quá thì chủ lực, tăng, pháo cũng không phát huy được hơn địa phương bao nhiêu). Bác xem diễn biến thì cũng thấy là ở Cao Bằng quân TQ vào được sâu nhất nhưng VN cũng không đưa các QĐ lên đó mà đưa sang hướng Lạng Sơn. Các đơn vị xe tăng của VN bố trí ở sâu phía trong và chỉ bắt đầu chuyển lên vào cuối tháng 2. Ở sát biên giới chỉ có một số bộ phận xe tăng thiết giáp nhỏ tham gia chiến đấu. Về không quân, theo lời bác kqndvn, đã sẵn sàng chiến đấu ngay từ những ngày đầu nhưng không được lệnh đánh của Bộ Chính trị. Chỉ có máy bay vận tải và trực thăng tham gia chuyển quân và khí tài cho mặt trận. Ngoài ra cũng có ý kiến cho rằng cả hai bên không muốn xung đột lan rộng nên không sử dụng không quân (cả phía TQ cũng vậy). Dân quân có vai trò rất quan trọng nhưng không bao giờ là lực lượng quyết định thắng bại của cuộc chiến, bất kể chiến tranh 79 hay cuộc chiến nào. Dân quân chỉ có tác dụng tiêu hao địch để tạo điều kiện cho chủ lực đánh các trận quyết định. 15 trung đội dân quân có thể gây cho địch thiệt hại lớn hơn rất nhiều so với 1 tiểu đoàn chủ lực nhưng khả năng ngăn chặn địch lại không bằng. Bên này thiếu gì hình tù binh TQ, đem lên cho nó xem. Mà cái đám đó mà là người Việt, tui đi bằng đầu. Lang thang trên net, tình cờ tìm được bài viết này. Nguời anh hùng của giây phút vinh quang Những người lính phong danh anh như thế Viên đạn cuối anh bắn vào vách đá Khắc tên mình trên dải đất biên cương. Đêm tối của ngày 22 tháng 2 năm 1979, những người lính đại đội 3, tiểu đoàn 1, trung đoàn An Lão, sư đoàn Sao Vàng- mặt trận Lạng Sơn "tóm" được một thanh niên nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, da đen xin vào chiến đấu. Trong túi anh có lá đơn "Kính gửi các thủ truởng đơn vị quân đội nhân dân Viẹt Nam" Tôi còn bản chép lại lá đơn đó hẹn năm sau hoặc gần đây sẽ post lên.

Anh có thẻ thương binh chống Mỹ, (nhập ngũ năm 1975) và thẻ sinh viên khoa toán đại học tổng hợp HN. Anh đã được cầm súng chiến đấu... đến sáng không còn nữa, đồng đội xác nhận hy sinh vì ko tìm thấy, cũng ko mấy ai nhớ người trong 8 tiếng màn đêm và lửa đạn. Trôi qua, năm 1980 đơn vị đề nghị trung đoàn truy tặng liệt sỹ, và phải đến năm 199 mấy được công nhận. Một ngày vừa qua tôi đến khoa toán, đoàn truờng ĐH KHTN, ko ai biết anh, và gặp một người cùng khoa thời đó xác nhận có Một Phạm Quang Thành đã vi phạm kỷ luật, bỏ đi chiến đấu, ko về. Đất nước cần tráng sỹ, cần nhiều tráng sỹ,...hơn,... tiến sỹ lúc chiến tranh. Nếu như anh PQT về chắc ko bị kỷ luật. Địa chỉ quê LS Phạm Quang Thành; xóm 2 thôn Mỹ Bổng xã Việt Hùng huyệnVũ Thư Thái Bình. Tôi đã đưa phần sự việc lên đây, kính anh PQT Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập -Tự do - Hạnh phúc ĐƠN XIN CHIẾN ĐẤU Kính gủi các thủ trưởng trong đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam Tên tôi là: Phạm Quang Thành, là học sinh năm thứ nhất khoa toán trường đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi xin trình bày một việc sau đây: Sau khi nghe sự kiện 4 giờ sáng ngày 17-2-1979 bọn phản động Trung Quốc đã xâm phạm lãnh thổ nước ta, lòng tôi như lửa đốt. Tôi không thể ngồi yên học hành khi đồng bào và đồng chí của tôi đang đổ máu trên tuyến đầu Tổ quốc bảo vệ từng tấc đất thân yêu. Tôi đã làm đơn xin đi chiến đấu, nhưng vi tôi là một người lính đã trở về trường học tập nên việc xin nhập ngũ là rất khó. Chính vì vậy tôi đã đi từ Hà Nội lên đây và sẽ xin vào công tác ở bất cứ đơn vị cầm súng đánh giặc. Tôi biết đó là một khuyết điểm của mình, nhưng đánh xong giặc tôi sẽ xin chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân với khuyết điểm của mình. Là một đoàn viên thanh niên cộng sản mang tên Bác Hồ vỹ đại. Tôi càng tự hào bao nhiêu thì tôi càng hiểu trách nhiệm của mình bấy nhiêu. Trong khi tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đang vang vọng trong lòng. Vậy, tôi khẩn thiết đề nghị các thủ trưởng hãy cho tôi sống và chiến đấu tại nơi đây. Tôi xin hứa sẽ hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ gì cấp trên giao phó. Được như vậy tôi chân thành cảm ơn Hà Nội ngày 19/2/1979 Người làm đơn (đã ký tên) Phạm Quang Thành -----------Mặt sau lá đơn

-Hy sinh anh dũng ngày 22-2-1979 tại đồi Thâm Mô, phía nam Đồng Đăng* -Năm 1980, đơn vị lập danh sách truy tặng liệt sỹ, đề nghị phong quân hàm: Thượng sỹ, trung đội trưởng, trước kia là binh nhất, chiến sỹ, thương binh trong kháng chiến chông Mỹ, cứu nước.** Người chép lại đơn lần 2 Ngày 26.9.1981 Ký tên đơn vị HT 1a. 6220 L.Sơn. Kính gửi anh Quế Anh Quế thân mến! Em vẫn hỏi thăm những người bạn đã đến thăm anh, biết anh chị và các cháu mạnh khỏe, năm 2000 anh làm nhà, mọi điều tốt đẹp đến với anh. Không rõ tướng Nam Khánh giúp anh những gì, anh vẫn nhìn Thủ trưởng như ngày khoác AK đi với chính ủy NK dằng dặc khúc ruột miền Trung (QK 5) Hai mươi ba năm nay em chưa viết thư cho những người bạn lính nhưng chúng em vẫn gặp nhau vào một ngày quy ước. Nay em lẩn thẩn viết cho anh trên Nét, không hy vọng anh nhận được, em muốn phần nào giải thoát những ám ảnh của một thời cầm súng, muốn nhắc nhớ kỷ niệm và cũng muốn chia sẻ với "khách hàng" của mạng VNN. Những gương mặt đồng đội thân yêu và đau khổ vẫn chập chờn trong ký ức, có lúc về trong mơ khiến em sợ. Mấy năm nay em ít mơ nhớ về 20 năm trước có lẽ thời gian đã xóa đi, làm cho ký ức màu trắng. Những giấc mơ súng đạn, những cuộc săn đuổi và trốn chạy, những bóng đen trước mũi súng, bóng người trong đêm là một sự thực trong mơ anh Quế ạ .Em bị ám ảnh nhất hình ảnh đang học rồi có giấy gọi vào quân ngũ. Có lẽ đó là một điều nghiệt ngã và oan trái của chiến tranh đã hiện hình trong tâm trí lúc lặng yên giấc ngủ. Nó đeo bám em, nhiều đêm giật mình xem có phải tạm biệt mái trường lần nữa không. Thực tế số phận em đã được định đoạt từ ngày giã từ tuổi thơ, mái trường thân yêu với bao bè bạn, ước mơ. Đó là giấc mơ đáng nguyền, còn sự thật những tháng năm cách đây 20-25 năm em đã quên nhiều. *** Tháng 2- 1979, anh về Tết, sáng 17 như mọi ngày anh em nhắc nhau đi trồng sắn thì súng nổ, đơn vị bị bất ngờ trước hành động ăn cướp của bên kia. Cuộc đối đầu bất đắc dĩ của lịch sử đã diễn ra, chúng em vào vị trí đã định và các chiến sỹ chúng ta đã chiến đấu anh dũng, em đi theo đội hình đại đội 3 khoác chiếc máy vô tuyến 2W. PRC 25 chiến lợi phẩm trong kháng chiến chống Mỹ. Mệnh lệnh giữ chốt, số thương vong, tình hình phía địch truyền đi theo mật khẩu toàn bằng số. Giặc quái lắm anh ạ, chúng đi vòng phía sau theo thung lũng, súng bộ binh vô tác dụng, hai bên chưa dùng pháo binh sợ bắn nhầm. Chẳng bên nào muốn thương vong ngay trận đầu nên đều thận trọng, tiểu đoàn vẫn vững trận địa nhưng giặc đã tràn khắp nơi theo chiến thuật biển người vào sâu lãnh thổ. Trong đội hình giặc có nhiều thằng không súng, đi tay không, đi hôi của, chúng ưu tiên lấy thứ ăn được như bắt lợn, lấy lương thực, cướp cả áo quần, nhiều thằng giặc lúc chết trong túi còn củ khoai, miệng nhá khoai sống trắng bã. Một ngày trôi qua chưa mấy thương vong. Địch chiếm được một vài điểm cao, gần trận địa ta. Đồi núi nhiều làm sao tiểu đoàn mình đủ quân chốt chặn.

Ngày 19 tiểu đoàn vận động tấn công ban đêm, được anh em đánh giá đó là trận đẹp nhất, đạn bắn mưa sao băng, hỏa lực mạnh yểm trợ. Giặc rút nhanh để tránh thương vong, anh em mình chiếm lại đồi Thâm Mô- Chậu Cảnh. Sáng 19 anh trả phép, về đơn vị trong tiếng hô tin cậy của anh em, từ trận đó anh em đặt anh biệt danh "thần chiến tranh" anh đã thể hiện bài bản của người lính chống Mỹ, người chỉ huy đại đội dũng cảm, mưu trí đưa anh em vào đội hình chặn giặc, đợi chúng đến đúng tầm đạn mới đồng loạt nổ súng. Có anh, người lính vững tâm, lính trẻ reo hò khi anh biểu diễn bắn súng M79 (loại cối cá nhân của Mỹ, đạn nhỏ như quả lêkima mà sát thương khủng khiếp bởi vô số viên bi trong đó.) Anh nâng súng theo tầm tay và "cóc" chính xác vào đám xâm lược ẩn náu ven đồi.

Ngày 20 hai bên giằng co thử sức "trâu bò" Ngày 21 địch đánh lấn và vòng sâu vào bản nhà dân bắt một số người không kịp chạy, chúng bỏ qua một số vị trí chốt chặn của tiểu đoàn, chúng lì lợm tiến sâu vào lãnh thổ. Đêm đó, những tên lính xâm lược đã rõ địa hình ban ngày, chúng mò mẫm vào hầm hào C1, vào hầm chỉ huy C1 .Thằng Cường người Từ Liêm là liên lạc C1 đã kịp hạ một thằng to vật vã. Cường bảo: "đến lượt tôi gác, thấy một bóng đen to đùng tụt xuống hào ngay mũi súng, tôi xỉa luôn, hôm đó không kịp thì tôi sẽ bị nó xỉa và hầm chỉ huy đại đội ăn vài trái bộc phá" .Tuấn gạo Từ Liêm chiếm vị trí chắc chắn, di chuyển liên tục, bắn rất nhiều nhưng địch chỉ bị thương phải kéo nhau chạy. Ngày 22 suốt đêm địch bắn pháo dữ dội vào các chốt, có lẽ đó là ngày đau thương. Trong chiến trận biên giới, tiểu đoàn mình chịu thiệt hại nhiều nhất ngày hôm đó. Chúng em dưới hầm, rồi chuyển vào địa đạo (hầm to trong núi). Thằng Bình chứng kiến chùm H12 của giặc bắn nát đồi và nó bị thương, thoát chết nhờ chiếc dây lưng bị mảnh pháo làm đứt rồi chạm cột sống; thằng "Minh đen" chuyển thành Minh sứt là do một viên đạn thẳng lướt qua môi, miệng xưng vù nói ngọng; anh Vỳ tiểu đoàn phó thấy ba lô ướt đẫm, thì ra viên đạn đã thâu qua vài hộp thịt cá và mắc lại ở một hộp. Cái ba lô sau lưng đã dụ con mắt, viên đạn thằng giặc chui vào. Rất nhiều hình ảnh anh dũng của chiến sỹ ta. Thằng Sướng Quảng Ninh chỉ huy tiểu đội cối 60, bắn hết đạn vào quân thù rồi bỏ về phía sau, tiểu đội đại liên của C3 đã chặn đứng đoàn xe giặc ở ga Tam Lung trong nửa buổi sáng. Tại vị trí đặt đại liên ấy, tháng sau là một nghĩa trang nhỏ có vài chục nấm mồ chiến sỹ, dân chúng nữa. Ngày 23-27 chúng ta vừa đánh vừa rút, súng đạn vơi, đội hình mỏng trên 14 km quốc lộ từ Đồng Đăng về thị xã Lạng Sơn, giặc đi như vào chỗ không người. Ngày 27 có lẽ là giặc thể hiện tối đa hỏa lực pháo binh tầm xa. Chúng bắn trước, bắn sau chia cắt đội hình ta. Anh em mình phải lui để cho tuyến sau lên thay thế.Một mặt trận nhiều thứ quân giăng bên sông Kỳ Cùng, người lui kẻ tiến, khỏe dìu bị thương, chết chôn vội, nhiều anh em bị kẹp giữa đành gặm mía còn sót lại sang xuân mà sống cho đến đầu tháng 3. Tiểu đoàn mình có hai chiến sỹ bị giặc bắt, tháng 6 được trao trả, thằng K Hải Hưng về qua nghĩa trang nhổ bia ghi tên nó, thằng T bị thương và bị bắt rất căm phẫn bởi giặc đối xử tàn bạo. Chúng trói kéo người bị thương, về bên biên giới đám thường dân định xông vào đánh, chúng giam ở trại chăn nuôi, đang ăn thì chúng rửa chuồng trại! Đầu tháng 3 bên kia cũng tuyên bố rút nhưng chúng rút chậm. Lực lượng phía sau của ta mạnh lắm.Khi về Ba Xã, ở trong nhà vắng chủ nhìn ra thấy đội hình xe tăng, pháo binh mình tiến lên mạnh mẽ, di chuyển nhanh để tránh bọn gian, bọn biệt kích giả dân gọi pháo địch. 7-3 lúc nhà báo Nhật bị bắn chết tại ngã tư trên phố LS. Lúc đó chúng em đi thu dây thông tin. Một thị xã hoang tàn, những tòa nhà bị giặc ốp ba quả mìn, ở hai đầu, một giữa cho nổ tung nhưng không xụp. Em không thể hiểu nổi hành động man rợ đó đã qua hơn 2000 năm không hề phục thiện?

Vùng chiến sự lúc đó thuộc kiểm soát của sư đoàn 337. Khi chúng em xuất trình lệnh của trung đoàn, mấy tay lính ở trạm nhìn em nói: "trẻ như thằng này nướng thịt thơm lắm". Câu nói như đùa, như nhắn hãy cẩn thận, đôi lúc vẫn rợn người anh Quế ạ! Ngày 7-3 chúng ta đánh trận cầu KKhê cho hả giận. Đêm đó pháo ta bắn dữ dội, em và H gác đêm thấy trời sáng rực, giữa tháng H đến thấy xác địch trôi trên sông. Sau này được biết trận cầu KKhê trên Ql 1B LS, trận ở thị xã Cao Bằng và ở Cốc San-Bản Phiệt Lào Cai, mỗi trận chiến pháo binh ta đã tiêu diệt và làm bị thương 1000 tên giặc, báo chí ta và đài Tây đánh giá là hiệu suất cao nhất của chiến tranh bảo vệ biên giới. Tên giặc cuối cùng ôm bộc phá đánh cầu KKhê được phong "anh hùng xâm lược", đài chúng ra rả la lên. Tháng 6 đơn vị hành quân qua cầu KKhê thấy vết bộc phá chỉ bằng cái nong tằm mà thằng giặc đó được phong danh. Anh Quế thân mến! sau đó là những ngày gian khổ, đơn vị lui vào dải 2 của tuyến một cách biên giới dưới 10 km để củng cố đội hình, nhận lính mới, và hành quân diễn tập liên miên. Anh được lên chức tiểu đoàn phó, quân hàm trung úy. Thời ấy chức trước hàm, nay hàm trước tìm chức sau. Em không còn nhớ đã bao lần đi theo đội hình của cả sư đoàn vận động hành quân, áo xanh của lính xanh hơn lá rừng, rồi áo lính bạc phếch như áo người"móc cống". Ngày ấy lính nói đồ "móc cống" là chỉ sự ăn mặc ở quá khổ của anh em mình. Lúc đó, em không cảm nhận hết nỗi khổ vì trước kia em có sướng gì, vừa đi học lại vừa đi làm. Cũng như bao người lính em không quan tâm đến khó nhọc, quần áo rách xấu hổ với ai? là người lính có gì mặc đó nhưng cái đói và cái rét thì không thể quên. " Trâu đói hóa ghẻ, trẻ đói hóa sài" anh Quế ạ. Lần đầu tiên và duy nhất, em được thằng Hạnh quê Đà Bắc, Hòa Bình dùng kim băng nhể ở tay ra 2 con ghẻ cái đặt lên móng tay thấy ghẻ bò và nó giết "bép" Lựu đạn nổ giữa đêm trong nhà dân bản Phai Cam , 6 chiến sỹ C1 bị thương, không hiểu tại sao đêm đó anh em ngủ đảo chiều, sau nữa lại nổ ở D3, thằng Th Gia Lâm mất, vừa hôm trước đi lấy gạo nó còn gọi chào em. Độc dược thù giết nhau "vô tư" ở chợ TĐ, em ở hang, ra sông tắm, ghẻ lở dầy người, lần về phép mẹ và bạn gái thương lắm; lên đồi hái củi, chặt trộm tre vầu, canh chốt không xuống núi cũng là may nhưng buồn lắm, chơi cờ bài ăn thuốc lá cuộn, hết thuốc lá thì không dám chơi bài ăn cơm, lấy áo của nhau. Đói, rét đã làm em ngã trong một cuộc hành quân giữa trưa tháng 6, may mà Mịu Hoà Bình kịp đỡ không thì "sống cũng thành tật" . Em không có tấm hình nào ngày ấy, bây giờ chỉ còn duy nhất tấm hình của mình được đứa em cắt ra từ tấm hình chụp đôi trong ngày nó đưa em đi khám sức khỏe. Tấm hình "vĩnh biệt" tuổi học trò. Lúc chiến chinh, mặt em xanh xao, thấy bạn bè bảo thế, nhưng chỉ một thời gian sau lại được gọi là "H mập" để phân biệt với thằng "H cao". Lần đói ngã rồi ốm đó, em vào bệnh xá Trung đoàn được ăn nghỉ một tuần là khỏe, cũng là lần duy nhất đến nay. Nhớ thương đồng đội, sống trong khe núi gió sương hun hút, bới bát cơm gạo hẩm nguội lạnh trong chiếc rổ rá đặt trên đất, chẳng có gì ăn đành đi cấu rau riếp cá, hái ớt rừng hòa nước muối cho ấm bụng. Mùa thu xứ Lạng tuyệt vời, nắng lên soi rõ sương bay thành dòng vào lán trại, anh em đào giếng lấy nước nguồn trong xanh tắm giặt. Thằng Lộc khuyên em: sẵn củi đun nước tắm cho sạch, sau đó nó lấy lá cây so đũa thả vào nồi nước tắm để trị ghẻ… Lần sau em vào núi trèo hái lá bưởi

tắm gội thơm như con gái. Thôi thì đói cơm cho sạch người, rách không cần vá, thiếu gạo thì ăn rau hoa quả… Những năm tháng chiến chinh em ăn nhiều hoa trái, rau quả lắm, quả gì ăn được là ăn từ đầu vụ đến cuối vụ, nhất là mận, mía, dứa, móc cọp, củ cải…có lẽ vì thế mà một đứa từ Camphuchia về, da tái mét nhìn thấy em nó bảo " nước da như anh H là hay" Bản năng sống, từ bé em đã thế, ăn hoa quả suốt ngày thay cơm và bây giờ em có thể chỉ uống bia bụi với rau xào nhiều tỏi, ít dầu thực vật hằng tuần vẫn ngon bụng. Một lần chuyện với nhà chùa về thực đơn, sư cười mà rằng "con tu hành nhanh đắc đạo" … Em sẽ viết tiếp những ấn tượng những tháng năm đó. Từ hồi trở về, như muôn người em bươn bả kiếm ăn, theo bọn đào vàng, chạy chợ, xin làm việc linh tinh, rồi chạy xe, đi học,… Quê anh ở huyện Mỹ Đức, Hà Tây, xóm Mít, em không nhớ xã .(Em coi qua bì thư chị gửi anh ngày đồn trú ở bến sông Giang) Ký ức đã trắng xóa, nhạt nhòa trong dòng mưa thời gian. Chúng em vẫn nhắc anh và đến thăm anh vào một lúc nào đó. Em. TB. Con chó thổ bốn mắt em và anh K tặng anh, anh cho thằng H mang về, nay “con cháu” chúng thế nào. Hồi đó em muốn nuôi nó nhưng anh thích… --Hóa đá hết rồi một thuở sống xa hoa Anh Quế thân mến! Là người lính, niềm tự hào còn mãi là mặc quân phục đứng dưới quân kỳ, khoác súng hát tiến quân ca. Sư đoàn ba của chúng ta mang tên Sao Vàng- tên huân chương cao quý nhất của đất nước. Chính ủy, Chính trị viên tiểu đoàn và lớp đàn anh trong KCCM đã kể chuyện truyền thống sư đoàn cho thế hệ em trong những ngày ở biên giới phía Bắc. Sư đoàn Sao Vàng thành lập năm 1966 ở giốc Bà Bơi tỉnh Bình Định, cách đèo Cù Mông không xa. Ngày ấy em còn ở tuổi học "vỡ lòng, vỡ ruột" chim non. Sư đoàn đã hoàn thành sứ mệnh vẻ vang, chặn đường tàn quân giặc thất trận ở Cao nguyên mùa xuân năm 1975. Trận đánh cuối cùng của SĐ trong chiến dịch HCM tại cầu Cỏ May trên quốc lộ 51 Biên Hòa- Bà Rịa Vũng Tàu. Tiếp đó sư đoàn lại ngược về cao nguyên truy quét Fun-Rô. Anh Bình lính 74, kể những cuộc truy quét Fun Rô qua những nhà mồ, vào hang ổ sờ chăn chiếu bọn phỉ còn hơi ấm mà chúng lẩn rất nhanh. Sau này em có dịp đi qua một số địa danh của SĐ trong KCCM, đến những huyện mà trung đoàn mang tên. Năm 1976, Sư đoàn chuyển ra Bắc… Những vị tướng lĩnh của chúng ta đã chọn mặt gửi vàng vào sức cơ động của SĐ 3. Tháng 8- 1978, SĐ đã có mặt ở Lạng Sơn, tham gia xử lý đám người gây rối ở cửa khẩu Hữu Nghị tháng 8 năm đó bằng đòn nghi binh,… thế là họ ù té về bên kia không thiệt mạng nào, chấm dứt trò ăn vạ, ăn ảnh của báo chí phương Đông- Tây. Chỉ một Chiến sỹ biên phòng Lê Đình Chinh hy sinh đêm ấy.( Sự thật của vụ này lính ta biết rõ và im lặng- một ngày nào đó sẽ có người tường trình, cùng nhiều vụ khác, chiến tranh buộc phải giành chiến thắng . Giặc nhiều thủ đoạn thâm độc "

Trên tuyến chính Lạng Sơn tháng 2-1979, SĐ đã hoàn thành nhiệm vụ trấn giữ biên cương. Xương máu người lính Sao Vàng đã góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ Quốc. Em nghe một thống kê nói rằng: Lá cờ sư đoàn SV trĩu nặng huân chương anh hùng của các tập thể, cá nhân; số thương binh, liệt sỹ SĐ đã đến gấp BA lần biên chế của sư đoàn gồm ba trung đoàn bộ binh mang tên ba huyện của Bình Định và các đơn vị khác: -TĐ 2- An Lão ( trung đoàn của anh và em); -TĐ 12- Tây Sơn mắc giữa vòng vây của giặc từ ngày 17 đến 10 -3 - 79 với sự hy sinh quá lớn (thằng Diện quê Ứng Hòa lạc vào tiểu đoàn mình làm liên lạc cho anh đã kể chuyện những ngày sống chiến đấu trong "biển giặc" -TĐ 141 mang tên huyện Hoài Ân, trấn ở Cao Lộc, Lộc Bình với địa hình khá rộng; -Trung đoàn 68 pháo binh; -Các tiểu đoàn trực thuộc sư đoàn. Những người lính chống Pháp, Mỹ nay cùng chiến hào với chúng em bảo vệ Tổ quốc đã minh chứng : " Nam quốc sơn hà Nam đế cư" Đã nhắc lại với giặc " Nước Nam ta có chủ" Hình như ngày 10-3 -79 khi súng vẫn nổ, tại BX hậu cứ của SĐ, TBT LD. đến thăm, tuyên dương, động viên chiến sỹ SĐ (sau này em mới biết). Và hôm đó sơ xuất một chút thì chúng em mất mạng bởi tai nạn hy hữu cho những thước phim đúng người nhưng giả trận địa. Đoàn làm phim quay hình ảnh chiến sỹ bắn DKZ, cối 82. Mấy đứa chúng em đứng sau, gần khẩu cối 82 .Quả DK bay vào khe núi, khói mù mịt, quả cối u u bay vào bầu trời tháng Ba, một quả cối rơi "phập" trước mâm cối đôi mét,.. tất cả bỏ chạy, em vượt qua rào vườn té xấp,.. nhưng đạn không nổ, tay chỉ huy chợt nhớ các quả đạn cối đã tháo đầu nổ. Em quay lại coi thấy quả đạn rơi vỡ hòn đá gan gà, rúc sâu xuống đất,… liệu có quả đạn cối nào bắn lên rồi rơi vào chính nòng súng nó thoát ra. Không. Trong chiến tranh, đã có chiến sỹ bắn B 41 quên không giật nắp an toàn đầu quả đạn, khác gì quẳng bắp hoa chuối vào xe tăng địch. Cũng trong những ngày đó em gặp đoàn thanh niên thành phố Hà Nội (chủ yếu là sinh viên đại học Sư phạm I) lên hát ca khúc chính trị. Lúc em đến thì họ đã hát xong, họ hát ngay trên ruộng rạ, bên con đường đỏ ngầu đất đá xe qua, bên nấm mồ ai đó vội chôn. Em có giây phút lơ ngơ nhìn nhóm người tuổi trẻ, em nhìn huy hiệu đoàn trên ngực cô gái lớn hơn em, chiếc huy hiệu đó được tháo ra gài trên ngực áo thằng Hợp. Mãi sau này em biết đó là cô Quỳnh Liên ca sỹ , cán bộ đoàn của ĐHSP I và gần đây mới biết đó là vợ (đầu và cũ) của nhà thơ Trần Hòa Bình, tác giả bài "thêm một" gì đó rồi sinh chuyện. Những thanh niên, sinh viên một lần dũng cảm. Nhầm lẫn và không biết tên thành LS (vô danh), nhầm cũng xong bởi đều là con em mình trứng gà trứng vịt. Nhưng không ai muốn nhầm hài cốt. Cấp trên yêu cầu lính thêu trên ngực áo tên đơn vị, tên em " H…Db1. AL" là ở trung đội thông tin thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn An Lão. Một cái tên rất âm lịch, lính hay tán chuyện.

Con trai cầm kim chỉ khâu túm ra chữ. Chúng em tìm mấy cô gái đi đào hào, mấy cô ở bản thêu, các em buồn thương biết đó là gì! Ngày bé, em chứng kiến các anh bộ đội đặc công chia tay các mẹ, các mẹ mang rổ trứng gà vịt tặng bộ đội, có mẹ khóc, một anh vui vẻ viết tên quê hương lên quả trứng nói rằng: "vào B, nổ súng trận đầu, con sẽ viết thư về cho mẹ báo tin vui". Không ai thư về! Sau này áo quần rách quá, một lần em được xuống chợ tìm vào hiệu may quen, được chủ mời cơm, cho con gái vá đồ miễn phí… cô gái tên T kém em 2 tuổi, rất quý em, hỏi chuyện nhiều em không nhớ, nhớ mãi T xinh, cao gần bằng em, mắt đen, tóc mượt lắm, môi miệng tươi, mũi nhỏ nhắn hay nhìn em cười. Bây giờ gặp, em không quên người. Sau đó em không dám nhờ như thế, ít qua lại nhà T. Chúng em đem áo mới đi đổi đồ ăn. No vẫn hơn lành, đói sợ hơn rách. Một lần chính ủy NDMạc thấy lính rách quá, ông động viên: "đúng phẩm chất người chiến sỹ ". Kính gửi anh Q 1-Hồi tân binh, em được CTV gọi lên lập danh sách, phân loại lính. Em hiểu người lính nào “dân đen, ngắn học” vào một danh sách gủi D, gủi E chuẩn bị đi chiến đấu ở Tây Nam. Trong danh sách, em biết HA trẻ tuổi, sau đó em đã nói “mày được đi CĐ” và HA đã đảo ngũ, sau này bạn nó kể đêm nó vượt đồi trốn về HN khổ lắm, khổ nữa là bố nó lên thăm không gặp con, buồn quá. CTV biết chuyện, chắc do HA nói ra tại sao trốn về và CTV doạ đưa em toà án binh có lẽ vì “tiết lộ BMQS” và em bị phạt đaỳ, hắt hủi. Em nghĩ đã là người lính thì lúc nào cũng sẵn sàng đi chiến đấu. Sau đó cả Trung đoàn lần lượt ra đi. Có người sỹ quan doạ lính “phải đi chiến đấu” lính quặc lại “ được đi chiến đấu” . Câu nói của lính tuyệt vời. Ngày đó, TĐ huấn luyện đã đưa ra toà một quân nhân “chí phèo” cào chân bôi nhựa xương rồng, phù nề dễ sợ, một chú lính đuổi chém B trưởng. Phiên toà xử lính trước ngày ra trận. Quân đội tuyệt vời, chỉ như vậy mới xua tan hèn nhát, vô kỷ luật. Sau này tại mặt trận, D mình cũng xử một lính chiến vô kỷ luật bằng cách cắt túi áo quân phục, xích tay cho đi trại. Về Hà Nội, đến nay em mới biết sự hy sinh của HA, và bố HA đã mất, nhà nó chuyển đi đâu không biết. Gương mặt những người lính không trở về em còn nhớ ít nhiều. 2-Chuyện này thì không phải lỗi: Hôm chúng em đang gác thì có tiếng pháo nổ dữ dội, yên lặng, hai tiếng sau, 11 cáng thương binh với hai người khênh, một người chạy theo để đổi vai. Em đến lật vải coi, thấy các thương binh nặng quá rồi- người sắp chết, sợ lắm. Người lính gắng sức cáng đồng đội mình ra trạm xá Sư đoàn, đến 20 cây số thì sức nào chịu đựng được. Đoàn thương binh đi được gần 1 km thì em chợt nghĩ cần dẫn họ vào trạm xá trung đoàn lấy xe đưa nhanh ra trạm xá sư đoàn. Có lẽ lần đâu em chạy hết sức mình, đứt hơi và kịp đoàn thương binh, họ quay lại vào trạm xá trung đoàn, hy vọng sẽ khá hơn. Em quay về, đội trưởng gác mắng em : “ không phải việc của mày” Em nín lặng. 3-Một lần nữa, em được trợ lý hậu cần giao dẫn lính đi lấy gạo, thực phẩm. Em không biết nhận bao nhiêu, do hai đầu ghi chép số lượng. Giữa đường gặp quán ăn, bọn lính dụ em, cho em ăn bát mỳ, uống ly rượu, chuyện trò để chúng lấy lạc đem bán rẻ cho dân. Em mặc kệ, đằng nào cũng là ăn, không trước thì sau. Kết quả là thiếu hụt 20 kg thực phẩm. Cùng là lính, tặng nhau mạng sống không tiếc thì mấy ký lô đậu phộng là cái gì. Bình độ 400-CL, tháng 5 nóng lửa tha em, Vị Xuyên năm ấy em ở xa. (thư sau CT được TL sưu tầm

BÌNH ĐỘ 400* Đêm tháng Năm vào Bình độ Bốn Trăm Đoàn xe trôi êm êm, tầm đại bác Thuốc súng tanh, lá rừng kêu xào xạc Chúng no máu rồi không cắn nữa đâu? Lắc lư xe quan tài vượt về sau Máu dỏ xuống đường cuốn vào cát bụi Lại xe quan tài vượt lên lầm lũi Tốp thương binh bê bết máu mặt, mày Đám cướp kia Thánh, Phật dạy ăn chay Chẳng kiêng gì ngày Rằm, mồng Một ! Đạn cày xới đất tơi trồng cây tốt Tưới máu người cướp, giữ đất biên cương. Tư lệnh Hoàng Đang trận này cầm quân Ông bảo rằng: Sống, chết, thời, vận, số ! Cả Trung đoàn ào ào như thác lũ Bình độ Bốn Trăm bình địa trận người. Những chàng trai sống, chết trận này ơi! Mưa đổ xuống ông Trời tuôn nước mắt Ơn nhớ mãi thân người đi giữ đất Người trở về ăn, sống, ở ra sao ? --*dải đất Việt Nam thuộc huyện Cao Lộc Lạng Sơn , mùa hè năm 1981

Het trang 52