Docstoc

cac le hoi lon o Viet Nam

Document Sample
cac le hoi lon o Viet Nam Powered By Docstoc
					Các lễ hội lớn tại miền Trung Việt Nam
1. Lễ hội Katê

Lễ hội Katê của ngƣời Chăm hàng năm đƣợc tổ chức vào 1/7 lịch Chăm (khoảng cuối
tháng 9 hoặc đầu tháng 10 dƣơng lịch), diễn ra trong 3 ngày trên một không gian rộng lớn
tại các đền tháp Chăm thuộc xã Phƣớc Hữu, huyện Ninh Phƣớc, tỉnh Ninh Thuận.

Lễ hội Katê là một lễ hội dân gian đặc sắc nhất trong kho tàng văn hoá của cộng đồng
ngƣời Chăm. Lễ hội không chỉ là dịp để những ngƣời tham dự đƣợc chiêm ngƣỡng các
đền tháp cổ kính mà còn đƣợc thƣởng thức một nền nghệ thuật ca múa nhạc dân gian với
phong cách độc đáo. Lễ hội Katê là minh chứng về sự phong phú, đa dạng trong kho tàng
văn hoá của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Lễ hội Katê cũng bao gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ: các nghi lễ cơ bản
giống nhau về nội dung, nghi thức hành lễ nhƣ lễ đón rƣớc y phục, lễ mở cửa tháp, lễ tắm
tƣợng thần, lễ mặc y phục cho tƣợng thần, và đại lễ. Khi điệu múa thiêng trong tháp vừa
kết thúc thì ở ngoài tháp bắt đầu mở hội. Những điệu trống Gi Năng và kèn Saranai cùng
vang lên hoà với các điệu múa và làn điệu dân ca Chăm làm náo nức lòng ngƣời.

Chiều tối ngày thứ 2 lễ hội ở các tháp Chăm kết thúc và sau đó là lễ hội Katê ở làng và
từng gia đình. Tại các làng Chăm không khí lễ hội lại bừng lên tuy nhiên qui mô nhỏ hơn
và phần lễ cũng đơn giản hơn. Lễ hội diễn ra trong một ngày và sau đó là lễ hội của từng
gia đình. Tại các gia đình các thành viên trong gia đình tụ họp đông đủ, cùng chủ tế
(thƣờng là ngƣời lớn tuổi trong gia đình hoặc trong tộc họ) cầu mong tổ tiên thần linh phù
hộ cho con cháu làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn. Trong ngày hội Katê, cả làng tràn
ngập trong niềm vui, họ đi thăm viếng chúc tụng lẫn nhau, quên đi những nỗi vất vả, lo
âu của đời thƣờng tận hƣởng những phút giây tràn đầy hạnh phúc.


3. Lễ hội Cá Ông

Ðã từ bao đời nay, lễ hội Cá Ông (còn đƣợc gọi là lễ tế cá Voi) là lễ hội lớn nhất của ngƣ
dân tỉnh Quảng Nam - Ðà Nẵng. Thờ phụng Cá Ông ở miền đất này không chỉ đƣợc xem
là sự tôn kính thần linh mà còn gắn liền với sự hƣng thịnh của cả làng cá. Lễ hội đƣợc
diễn ra trong hai ngày vào trung tuần tháng 3 âm lịch. Trong ngày lễ bàn thờ đƣợc trang
hoàng hết sức rực rỡ, trang nghiêm. Các nhà đều đặt bàn hƣơng án bày đồ lễ cúng. Trên
mỗi tàu thuyền đều chăng đèn kết hoa. Lễ cầu an đƣợc tổ chức vào đêm đầu tiên tại làng
Cá Ông dƣới sự điều khiển của các vị chánh bái, là những vị cao niên, có uy tín lớn trong
làng chài.

Vị chánh bái dâng đồ tế lễ (thƣờng không dùng hải sản) và đọc văn tế nói lên lòng biết ơn
của dân làng đối với công đức Cá Ông và cầu mong mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè đi
khơi về lọng an toàn.
Rạng sáng ngày hôm sau, dân làng đánh trống làm lễ rƣớc trên biển. Tất cả tàu thuyền ra
khơi đến một vị trí đã định trƣớc và vị chánh tế tổ chức "xin keo". Ðó là lễ Cá Ông chứng
dám lòng thành của ngƣ dân ngoài biển. Vào nửa đêm hôm đó, dân làng làm lễ chánh tế
bao gồm lễ khai mõ, đội học trò dâng hƣơng, dàn nhạc trình diễn, hát bội... Trong suốt
ngày hội, các tàu thuyền dù ở xa cũng tập trung về bến để tham gia lễ hội Cá Ông.


4. Hội đua voi ở Tây Nguyên

Hội đua voi diễn ra vào mùa xuân (khoảng tháng 3 âm lịch). Hội đua voi thƣờng diễn ra ở
Buôn Đôn hoặc cánh rừng thƣa ven sông Sêrêpốc (Đăk Lăk).

Bãi đua là một dải đất tƣơng đối bằng phẳng (thƣờng là khu rừng ít cây to) đủ để 10 con
voi giăng hàng đi cùng một lúc, bề dài từ 1-2 km.

Một hồi tù và rúc lên, theo lệnh điều khiển, từng tốp voi đứng vào vị trí xuất phát. Khi có
lệnh xuất phát thì những chu voi bật lên nhƣ chiếc lò xo, phóng về phía trƣớc, tiếng
chiêng, trống, tiếng hò reo cổ vũ ầm vang cả núi rừng.

Cuộc đua kết thúc, những chú voi đƣợc giải, giơ cao chiếc vòi vẫy chào mọi ngƣời rồi
ngoan ngoãn bƣớc đi ung dung, đôi tai phe phẩy, mắt lim dim đón nhận những ống
đƣờng hoặc khúc mía của những ngƣời dự hội.

Ngày hội đua voi là ngày vui lớn ở Tây Nguyên, nó phản ánh tinh thần thƣợng võ của
ngƣời M'Nông, một dân tộc giàu đức tính dũng cảm, có kinh nghiệm trong những cuộc
săn bắt voi rừng.

Ngày hội đua voi là ngày vui lớn ở Tây Nguyên, nó phản ánh tinh thần thƣợng võ của
ngƣời M’Nông, một dân tộc giàu đức tính dũng cảm, từng đối mặt với những tình huống
hiểm nguy, căng thẳng trong những cuộc săn bắt voi rừng. Khung cảnh hùng vĩ của thiên
nhiên Tây Nguyên - nơi diễn ra cuộc đua voi đặc sắc - đã làm tăng lên bội phần chất hùng
tráng trong ngày hội cổ truyền của họ.


5. Lễ hội điện Hòn Chén

Lễ hội Điện Hòn Chén diễn ra một năm hai kỳ - tháng ba (lễ Xuân Tế) và tháng bảy (lễ
Thu Tế).

Lễ hội diễn ra ở Điện Hòn Chén trên núi Ngọc Trản và đình làng Hải Cát, huyện Hƣơng
Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Lễ Hội suy tôn Thiên Y A Na Thánh Mẫu.
Thiên Y A Na Thánh Mẫu, nguyên xƣa là nữ thần của ngƣời Chăm có tên là Pô Yang Inô
Nagar, gọi tắt là Pô Nagar, tức Thần Mẹ Xứ Sở, mà theo truyền thuyết Chăm là Thần đã
sáng tạo ra đất đai, cây cối, rừng gỗ quí, lúa, bắp,... và dạy dân cách trồng trọt.

Sau lễ tế là lễ rƣớc Thánh Mẫu diễn ra vào ban đêm trên sông Hƣơng. Đám rƣớc đi từ
điện Huệ Nam tới đình làng Hải Cát trên những chiếc thuyền đƣợc ghép lại thành bè với
đèn nến sáng trƣng, cờ xí sặc sỡ. Trên bè là đông đảo thiện nam tín nữ trong trang phục
khăn chầu, áo ngự lộng lẫy, muôn màu, muôn vẻ trông nhƣ những ông hoàng, bà chúa
đời Nguyễn. Đám rƣớc đem theo bàn thờ Thánh cùng long kiệu Thánh Mẫu và hòm sắc
vua phong, cùng các khí tự nhƣ tán, tàn, cờ, quạt; đội hầu bóng, những ngƣời phục dịch
và khách hành hƣơng. Đám rƣớc sôi động trong tiếng nhạc của phƣờng hát văn và
phƣờng bát âm. Tiếp đó là tế Túc Yết, hát thờ, lên đồng hầu bóng diễn ra suốt đêm.

Sáng hôm sau là lễ đại tế tại đình. Buổi chiều các kiệu rƣớc lại long trọng trở về điện Hòn
Chén. Đêm kết thúc hội có lễ phóng sinh và thả đèn.


6. Lễ hội làng Sình

Làng Sình nằm ở ngay bên bờ nam sông Hƣơng, thuộc xã Phú Mậu huyện Phú Vang.
Làng Sình nổi tiếng về hội vật mồng mƣời tháng giêng. Các lò vật khác nhau đến hội vật
để tranh tài giật giải.

Hàng năm cứ ăn tết xong, bà con dân làng Sình ra nhà thờ tổ vật võ chặt lấy gỗ, xẻ cây
làm giàn ngay bên trái chợ Lại An.

Ngày hội vật làng Sình đông vui, nhộn nhịp hơn ba ngày tết rất nhiều. Ngoài trai tráng
dân làng còn có hàng ngàn thanh niên nam nữ ở các huyện và thành phố Huế kéo về.

Võ đài là một cái nền đất bột cao hơn một mét, mỗi bề rộng chừng bốn sải tay đặt ngay
trƣớc sân đình thờ tổ.

Chỉ huy trận đấu có hai ngƣời. Một ngƣời trai trẻ làm trọng tài đứng ngay trên võ đài,
ngƣời thứ hai là một vị cao niên có uy tín trong làng, khăn đen áo dài theo lối cổ, cầm
chầu ngồi ngay trƣớc hiên nhà thờ tổ. Các võ sĩ trƣớc khi nhảy lên võ đài phải đến trƣớc
mặt vị cao niên chấp lệnh tiếp nhận một đôi lời căn dặn đƣợc xem nhƣ nội quy của cuộc
thi đấu.

Một cuộc đấu có hai buổi, buổi sáng đấu vòng loại, nếu ai thắng liên tiếp đƣợc ba ngƣời
thì đƣợc vào chung kết. Ngƣời nào vô địch thì ít nhất phải thắng tám keo vật, còn ngƣời
nào bị vật lấm lƣng, trắng bụng là bị thua. Nếu ai bị thua đau, chơi xấu sẽ bị phản đối
kịch liệt. Nhờ vậy mà cuộc thi đấu diễn ra hào hứng suốt ngày nhƣng không hề xảy ra xô
xát, ẩu đả gì.
Vật làng Sình là một truyền thống thƣợng võ đẹp của ngƣời dân Huế gần sáu thế kỷ qua.
Nó là một di sản văn hóa do ngƣời Việt Nam đem từ miền đất tổ phía Bắc vào. Vào
những ngày lễ lớn của dân tộc hay của Huế, lễ vật võ này cũng thƣờng đƣợc tổ chức, thu
hút rất đông ngƣời tham dự.


7. Hội xuân Tây Nguyên

Tháng 3 là tháng đẹp nhất trong năm ở Tây Nguyên. Trong thời gian này, hoa rừng nở
khắp nơi thu hút ong rừng đi tìm mật và bắt đầu một mùa vụ mới. Ðây cũng là mùa lễ hội
của các dân tộc.

Tây Nguyên là vùng rộng đất rộng lớn của Việt Nam bao gồm 3 cao nguyên lớn nhất của
Lâm Ðồng: Di Linh, Ðăk Lắk và Gia Lai - Kon Tum. Nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu
có với những khu rừng nguyên thuỷ và hệ động thực vật phong phú. Nơi đây cũng hội tụ
nhiều loài động vật quý hiếm.

Ở đây, các dân tộc thiểu số khác nhau nhƣ Gia Rai, Ba na, Xêđăng, Gié Chiêng, K'hor,
Ktu, Eđê đang sinh sống. Mỗi dân tộc có phong tục và văn hoá riêng. Chính vì vây, ở nơi
đây lễ hội văn hóa là lớn và rầm rộ nhất. Ông Krông Y Tuyên - Giám đốc của phòng Văn
hoá Thông tin của Ðắk Lắk cho biết thêm: "Vào tháng ba, các dân tộc nhƣ £đê, Mnông và
Gia Lai tổ chức các lễ hội khác nhau, bao gồm lễ bỏ mả, lễ cầu sức khoẻ, lễ vụ mùa, lễ ăn
trâu, cầu mƣa và hội đua voi". Những lễ hội này đƣợc tổ chức ở buôn, làng và tại các
dòng họ. Ðây cũng là hoạt động văn hoá cộng đồng thu hút rát nhiều khách tham gia.

Năm nay, lễ hội tháng Ba sẽ đƣợc tổ chức ở Buôn Ðôn nới nổi tiếng về hội đua voi.
Trƣớc khi vào cuộc đua, một hồi tù và vút lên, theo lệnh điều kiển của nài voi, lần lƣợt
các chú voi nối đua nhau rồi xếp thành hàng trƣớc mặt Ban giám khảo, từ từ quỳ phục
xuống chào. Sau đó từng tốp voi vào vị trí xuất phát. Khi có hiệu lệnh, các chú voi bật
lên, phóng về phía trƣớc trong tiếng chiêng, trống, tiếng hò reo của khán giả âm vang núi
rừng. Cuộc đua qua nhiều vòng , đến khi chọn đƣợc một chú voi chiến thắng về đích
trƣớc. Voi thắng cuộc đƣợc đeo một vòng nguyệt quế, nó giơ cao chiếc vòi chào khán
giả, đôi tai phe phẩy, mắt lim dim đón nhận những khúc mía, những trái chuối và những
ngƣời dự hội.

Nhạc khí truyền thống của các dân tộc là niềm tự hào của ngƣời Tây Nguyên. Họ có
gồng, chiêng, T'rƣng, Krôngpút, đàn môi... Âm nhạc là một trong những yếu tố hấp dẫn
các du khách tới đây.

Cứ mùa xuân tới, vùng đất Tây nguyên lại trở nên rộn ràng với các âm thanh của núi
rừng, của âm nhạc đã làm say đắm biết các du khách khi đến nơi đây.
8. Lễ hội Quan Thế Âm

Lễ hội Quan Âm (19/2) Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng đƣợc tổ chức hàng năm tại khu danh
thắng Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Lễ hội lần đầu đƣợc tổ chức vào năm 1960,
nhân ngày khánh thành tƣợng Bồ-tát Quán Thế Âm ở động Hoa Nghiêm thuộc ngọn
Thuỷ Sơn, phía tây Ngũ Hành Sơn. Hai năm sau, lễ hội đƣợc tổ chức nhân dịp khánh
thành chùa Quán Thế Âm ở động Quan Âm, là nơi phát hiện một khối thạch nhũ có hình
tƣợng Phật bà Quán Thế Âm. Sau đó, vì nhiều lý do, lễ hội không đƣợc tổ chức trong
nhiều năm. Đến năm 1991, vào ngày vía đức Phật bà Quán Thế Âm - 19/2 năm Tân Mùi,
lễ hội Quan Âm (19/2) Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng đƣợc khôi phục. Từ đó đến nay, hàng
năm cứ đến ngày 19/2 âm lịch, lễ hội lại đƣợc tổ chức với quy mô ngày càng lớn, nội
dung ngày càng phong phú, thu hút nhiều ngƣời đến tham gia lễ hội. Cũng nhƣ các lễ hội
truyền thống khác, lễ hội Quan Âm (19/2) Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng bao gồm hai phần lễ
và hội. Các hoạt động lễ và hội đan xen với nhau trong ba ngày (18 đến 20/2 âm lịch).
Phần lễ mang màu sắc lễ nghi Phật giáo với các nội dung: Lễ tế xuân, Lễ khai kinh (lễ
cầu nguyện cho quốc thái dân an), Lễ trai đàn chẩn tế (Nghi lễ này cầu mong ngƣời sống
an bình, linh hồn ngƣời chết đƣợc siêu thoát), Lễ thuyết pháp (thuyết giảng các đề tài văn
hoá, nghệ thuật), Lễ rƣớc tƣợng Quán Thế Âm, Phần hội: sinh hoạt trại, đua ghe, văn
nghệ, sinh hoạt văn hoá khác, rƣớc ánh sáng, hoa đăng.


9. Lễ hội Cầu Ngư

Đây là lễ hội của nhân dân làng Thái Dƣơng Hạ, thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang tỉnh
Thừa Thiên Huế. Lễ hội tổ chức vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hàng năm, để tƣởng
nhớ vị Thành Hoàng của làng là Trƣơng Quý Công (biệt danh của Trƣơng Thiều), ngƣời
gốc Thanh Hoá, có công dạy cho dân nghề đánh cá và buôn bán ghe mành.

Lễ tế thần diễn ra khoảng 2 giờ sáng ngày 12. Một bài văn tế dâng lên các vị thần linh và
tiền bối của làng, cầu mong quốc thái dân an, mƣa thuận gió hoà, đánh bắt đƣợc mùa, dân
làng no ấm, mọi ngƣời hạnh phúc. Khoảng 4 giờ sáng lễ chánh tế kết thúc. Tiếp sau đó là
phần hội cầu ngƣ Thuận An. Có nhiều màn diễn diễn tả những sinh hoạt nghề biển. Trò
diễn "bủa lƣới" là trò diễn trình nghề mang đậm tính chất lễ nghi. Tiếp theo trò bủa lƣới
bắt cá là màn trình diễn của các ngƣ dân bán thuỷ hải sản cho các "bà rỗi" (ngƣời bán cá)
đang chờ sẵn. Màn mua bán kéo dài khoảng hơn một giờ.

Chƣơng trình ngày hội đƣợc tiếp tục bằng cuộc đua trải trên phá Tam Giang. Cuộc đua
mang ý nghĩa cầu cho no ấm, vừa đƣợc mùa cá, vừa đƣợc mùa lúa, thoả mãn ƣớc vọng
no ấm của cƣ dân.

Lễ hội Cầu Ngƣ là ngày hội của cả cộng đồng, tràn đầy lạc quan và hy vọng. Lễ hội là
nguồn cổ vũ cho cƣ dân có thêm sức mạnh để vƣợt qua mọi khó khăn trong nghề sông
nƣớc.


Các lễ hội ở miền Bắc

   1. Hội làng Bưởi (xã Đại Bái, huyện Gia Lương, Hà Bắc):

      Đó là lễ hội diễn ra trong 3 ngày để tƣởng nhớ tổ sƣ nghề gò đồng nổi tiếng là
      Nguyễn Công Truyền sống ở khoảng thế kỷ X, XI. Ba ngày ấy là: Mùng 6 tháng
      Hai, ngày 16 tháng Tám và ngày 29 tháng Chín.

      Ngày 29 tháng Chín long trọng nhất, các thầy thợ gò đồng, chạm bạc xa gần về dự
      lễ, mang theo phẩm vật từ nghề gò đồng, chạm bạc cùng lễ vật xôi gà, quà bánh
      dâng lên bàn thờ tổ.

      Có mấy tục lệ rất lạ:
      - Lễ thắp hƣơng tuổi đồng niên: Những ngƣời trong làng hay đã đi làm xa, cứ
      đúng 49 tuổi là phải có nhiệm vụ thắp hƣơng trƣớc bàn thờ Tổ.
      - Ngày 10 tháng Tƣ, mọi ngƣời đƣa 1 con gà trống trắng ra đình làm lễ. Xong lễ,
      thả gà ra cho đi ăn vòng quanh bàn thờ 1 vòng. Đến 16 tháng Tƣ làm thịt gà, lấy
      đầu chôn xuống đất, còn thịt chia cho mọi ngƣời.
      - Buổi tế rã đám, hội Bƣởi có tục ném cây bông làm bằng đoạn tre, hai đầu chẻ vót
      thành những chùm xơ nhƣ bông, rồi đặt dƣới một cây đèn cao chừng 1,5m. Sau
      khi đèn hƣơng, hát ả đào xong, trai tráng tập trung đầy đủ trƣớc sân đình, chờ hiệu
      lệnh, rồi chiêng trống nổi lên, hai ông cai đám cầm cây bông lên, ném ra cho mọi
      ngƣời tranh nhau cƣớp. Chàng trai nào cƣớp đƣợc, chạy về xóm mình, coi nhƣ cả
      năm sẽ làm ăn may mắn.
   2. Hội đền Kiếp Bạc:

      Hai làng cũ là Vạn Yên (tên nôm là Kiếp) và Dƣợc Sơn (tên nôm là Bạc) gọi
      chung là Kiếp Bạc (nay thuộc xã Hƣng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hƣng).

      Ngôi đền mang tên Kiếp Bạc thờ anh hùng dân tộc Hƣng Đạo Vƣơng Trần Quốc
      Tuấn, ngƣời lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông.
      Ngôi đền xây dựng năm 1300, lăng mộ của ông cũng nằm trong khu vực đền Kiếp
      Bạc.
   Hàng năm, từ ngày 15 đến 20 tháng tám, nhƣng chính hội là ngày 19 - ngày giỗ
   của Hƣng Đạo Vƣơng sẽ diễn ra hội đền Kiếp Bạc. Đây là ngày giỗ thiêng liêng,
   bởi dân ta tôn thờ Hƣng Đạo Vƣơng nhƣ một ngƣời cha, vì thế có câu "Tháng
   Tám giỗ cha" là vậy!
3. Hội chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng):

   Đây là hội chọi trâu truyền thống ở vùng Đồ Sơn, có sự tham gia của 3 làng (Đồ
   Sơn, Đồ Hải và Ngọc Xuyên). Chính thức đƣợc tổ chức mùng 9 tháng Tám.

   Công việc chuẩn bị hàng nửa năm trƣớc, các trận đấu loại bắt đầu từ những ngày
   đầu tháng Tám, ngày chính hội là mùng 9 và kết thúc là ngày Rằm.

   Trâu phải chọn con màu đen tuyền, béo, khỏe, sừng cân, đầu nhỏ, trán dẹt, mắt
   tròn, nhanh, cổ dài, bụng mình thon, đùi dài, chân ngắn, phải chăm sóc và luyện
   tập nửa năm. Chăm sóc chu đáo, kiêng không cho phụ nữ đƣợc tiếp xúc với trâu
   chọi, dù trâu đƣợc nuôi ngay trong nhà mình.

   Đúng ngày 9, làm lễ tế thần, sau đó đƣa trâu vào sới chọi (rộng chừng 6 mẫu).
   Cũng đấu theo thể thức loại từng giáp. Hai chàng trai y phục đỏ dẫn trâu chọi vào,
   đứng đối diện cách nhau chừng 20m, ngƣời dẫn trâu nhanh chóng rút sẹo trâu rồi
   ra ngoài vòng đấu, chỉ còn lại hai con trâu chọi đứng nguyên vị trí. Trong nháy
   mắt, khi thấy nhau, chúng lao vào nhau trổ hết tài và ra những miếng hiểm hóc.
   Khi một con núng thế tháo chạy, con thắng cũng không tha mà rƣợt đuổi theo một
   cách hung hãn. Trƣờng hợp đó, phải có ngƣời dũng cảm, mƣu trí dám xông ra để
   "thu trâu".

   Sau ngày 9 tháng Tám phân thắng bại, ngày mùng 10, thịt toàn bộ các con trâu
   tham dự giải thƣởng để tế lễ tại đình. Và hội làng kéo dài thêm 5 ngày nữa, đến
   Rằm tháng Tám mới kết thúc.
4. Tết Trung Thu:

   Vào đêm Rằm tháng Tám => Tết này, em khỏi cần "gõ" nữa, nhá!
5. Hội đền Tép:

   Ở xóm Thọ Phú, thôn Dựng Tú, xã Kiến Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
   vào ngày 21 tháng Tám. Đó là ngày giỗ Lê Lai và ngày hôm sau là 22 tháng Tám
   là ngày giỗ Lê Lợi. Vì thế, dân gian có câu "21 Lê Lai, 22 Lê Lợi".
   6. Hội làng Thị Cầu:

      Ở thị xã Bắc Ninh từ ngày 9 đến 16 tháng Tám hàng năm. Tại hội này, có tục thi
      dọn cỗ, thi thả chim, thi ném pháo (ngày trƣớc có trò thi này)...

      Ngoài ra, xin mời bác quá giang dzô miền Tây để tham quan lễ hội Katê vùng
      đồng bào dân tộc Chăm vào ngày 14 và 15 tháng Mƣời. Lễ hội cúng trăng của
      đồng bào Khơme vào ngày 15 tháng Mƣời với tục thả đèn giấy, bè chuối và hội
      đua ghe Ngo nổi tiếng...
      NGOÀI RA CÒN 1 SỐ LỄ HỘI NỮA

 HỘI CHÙA HƢƠNG


+ Đối tƣợng suy tôn : Phật Thích ca, Phật Bà Quan thế âm, Phật
tín ngƣỡng tổ tiên.
+ Địa điểm : Hƣơng sơn, huyện Mỹ đức, Hà tây.
+ Thời gian :Từ 6/ 1 đến 15/ 3 Am lịch ( chánh hội 15 - 20/ 2 Am
lịch )
+ Đặc điểm :
Viếng chùa trong một quần thể thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam. Đến Chùa Hƣơng có
thể đi bằng đƣờng bộ hoặc đƣờng thủy. Hội Chùa Hƣơng đƣợc cả nƣớc ngƣỡng mộ, từ
ngày mùng 06 thánh Giêng cửa Chùa đã mở cùng với lễ mở cửa rừng ở đền Trình ( Ngữ
Nhạc ) , trong lễ này ngƣời dân cầu mùa, cầu an, tạ chúa rừng, thần núi và sau lễ ngƣời
dân mới vào rừng khai thác, săn bắn .
Cảnh hội tƣng bừng, từng đoàn ngƣời nƣờm nƣợp du xuân trên thuyền, cổng Chùa, trong
động Hƣơng tích.
Tổng thể của Chùa Hƣơng là biểu hiện của sự hòa hợp tinh tế giửa tự nhiên và tín ngƣỡng
trong dân gian.

 LỄ HỘI QUANG TRUNG :


+ Đối tƣợng suy tôn : Vua Quang Trung Nguyễn Huệ .
+ Thời gian : Mồng năm tháng Giêng Âm lịch.
+ Địa điểm : Gò Đống đa ( Hà Nội ), làng Kiên Mỹ, huyện Tây sơn, tỉnh
Bình định.
+ Đăc điểm :
Quang Trung Nguyễn Huệ ( là lãnh tụ kiệt xuất của phong trào nông dân
Việt Nam vào thế
kỹ 18 ) sinh năm 1753 tại làng Kiên mỹ, huyện Tây sơn, tỉnh Bình định. Lễ hội đƣợc tổ
chức hai nơi :
Hội Đống Đa : Lễ diển ra sáng sớm ngày mồng 5 tại đình làng Khƣơng Thƣợng với lá Cờ
Đại và Cờ Ngũ Hành cắm la liệt quanh sân đình. Chiêng trống báo hội vang lên liên tục.
Sau lễ tế thần đến giờ Ngọ đám rƣớc diển ra từ đình Khƣơng thƣợng về gò Đống Đa dẫn
đầu là Cờ Tiết, Cờ Mao biểu tƣợng uy đức thần linh sau đó là Cờ Ngũ Hành, Cờ Tứ
Trinh ... sau các cờ, biểu là trống, chiêng, phƣờng nhạc, rồi đến Long đình với hƣơng
trầm bay thoang thoảng có Lộng vàng che; các bô lảo, chức sắc dân làng đủ mọi lứa tuổi
đi theo cuộc hành trình, tốp sau cùng là “ Con Rồng lửa “ của thanh niên hai làng
Khƣơng thƣợng và Đồng quang bằng rơm, giấy bồi mang nhiều màu sắc rực rở, các
thanh niên mặc võ phục đi quanh “ rồng lửa “ biểu diển võ thuật. Tất cả trật tự, rực rở
màu sắc mang tính hoành tráng.
Tại gò Đống đa, sau nghi lễ rƣớc là các chƣơng trình biển diển nghệ thuật nhƣ : múa
rồng, múa lân, đánh đu, đánh vật, chơi cờ, chọi gà ......

Lễ hội Tây Sơn : Cùng thời điểm với lễ hội Đống đa ở Hà nội, tại Bình định ở các nơi
nhƣ làng Kiên Mỹ, thành Hoàng Đế cũng diển ra lễ hội Tây sơn . Những dòng ngƣời từ
Qui nhơn và các tỉnh thành lân cận đổ xô về, với sắc phục đẹp, nhiều màu sắc .Tiếng
trống đại vang lên báo hiệu buổi lễ khai mạc, mọi ngƣời tƣởng niệm vua Quang trung và
những tƣớng lĩnh của Ong , sau đó tham quan các di tích chung quanh Nhà Bảo tàng
Quang Trung; tại đây, quí khách đƣợc thƣởng thức múa trống võ Tây sơn, biểu diển song
kiếm, côn, đao ..., hát tuồng, uống rƣợu Bàn Đá với thịt bò Thƣng cuốn bánh tráng ( là
món “lƣơng khô” của nghĩa quân trên đƣờng hành quân thần tốc ).

 HỘI CHÙA THẦY


Đối tƣợng suy tôn : Phật Thích Ca, Thiền sƣ Từ Đạo Hạnh.
Địa điểm : Huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.
Thời gian : Từ mùng 5 đến mùng 7 tháng Ba Am lịch ( chính lễ mùng
7-3 Am lịch )
Chùa Thầy với Sài Sơn từ lâu nổi tiếng là danh lam thắng cảnh nhƣ
Chùa Hƣơng là một quần thể gồm nhiều Chùa, hang động, núi rừng
nhƣ : Chùa Cao, Chùa một mái, hang Bụt Mọc, hang Cắt Cớ, ao Rồng,
động Gío Lùa ... trong đó Chùa Thầy là trung tâm.
Từ ngày mùng 5-3 Am lịch khách thập phƣơng đến vái Chùa, viếng cảnh, thƣởng thức
các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống : Rối nƣớc, đây là loại rối que, con rối
bằng gổ sơn phết đẹp đƣợc điều khiển bằng sào, cọc dây chìm trong nƣớc. Sân khấu là
một khoản mặt nƣớc trƣớc nhà Thủy Đình, sau nhà là nơi để các con rối và đạo cụ. Trò
chơi đƣợc đƣợc thể hiện những cảnh truyện dân gian lƣu truyền hoăc mô tả đời sống sinh
hoạt của ngƣời dân địa phƣơng .
Chùa Thầy thu hút một lƣợng khách thập phƣơng lớn ( nhƣ Chùa Hƣơng ) về đây leo
núithƣởng ngoạn hoặc về thăm một vùng quê văn hiến trử tình gắn liền với nhiều nhân
vật lịch sử tài danh nhƣ thiền sƣ Từ Đạo Hạnh, trạng Phùng Khắc Khoan, các nhà thơ
Phạm Đình Hổ, Cao Bá Quát.

 HỘI LIM


+ Đối tƣơng suy tôn : Thờ ông Hiếu Trung Hầu ( ngƣời sáng lập
tục hát Quan ho ).
+ Địa điểm : Chùa Lim, đồi Lim, huyện Tiên sơn, tỉnh Hà bắc.
+ Thời gian : 13 tháng Giêng, Am lịch.
+ Đặc điểm : Hát Quan họ và tục kết bạn.
Dân ca Quan họ mang sắc thái trử tình của tình yêu đôi lứa với hơn 200 làn điệu âm nhạc
đặc sắc. Đây là truyền thống của một vùng nghệ thuật văn hóa. Hội hát Quan họ gắn liền
với hội chùa và quá trình phát triển đã tổng hòa với loại nhạc chèo, nhạc tuồng, ca trù làm
thành một làn điệu dân ca phong phú, đặc sắc.
Đến lễ hội Lim, ngƣời ta xem hát trên đồi, sau chùa, trên thuyền, trong tƣ gia hoặc nghe
đối đáp từng đôi, từng nhóm ( nam, nừ ).
Dự hội Lim quí khách đƣợc xem thi dệt vải, chọi gà, chọi chim, đấu vật, dự hội thi Cổ
chay.
Hội Lim là một sinh họat văn hóa nghệ thuật đặc sắc lâu đời lâu đời của miền Bắc, đây là
một cơ hội thƣởng thức loại hình nghệ thuật độc đáo, một phong cách giao tiếp xã hội
đẹp.

 HỘI ĐỀN AN DƢƠNG VƢƠNG

+ Đối tƣơng suy tôn : An Dƣơng Vƣơng ( Thục Phán ).
+ Địa điểm : Thành Cổ loa, huyện Đông Anh , Hà Nội
+ Thời gian : Mùng 06 đến 16 thàng Giêng Am lịch .
+ Đặc điểm :
Sáng mùng 06 đám rƣớc Văn đi đầu là năm lá cờ Ngũ hành; phƣờng bát âm, giá văn tế
trong kiệu Long Đình có lọng che; ngoài sân đền Cổ loa cờ Hội, cờ Đuôi nheo cắm theo
lối đi đến sân đền. Giửa sân là cột cờ Đại, hai bên là đôi ngựa hồng, ngựa bạch yên cƣơng
đầy đủ , kiệu của 12 xóm xếp chung quanh , trƣớc cửa đền là hƣơng án lớn bên cạnh là
một hƣơng án nhỏ có chƣng một chiếc đỉnh, đôi hạc đồng, chiếc nỏ ( biểu tƣợng của nỏ
thần An Dƣơng Vƣơng ) và thanh kiếm.
Sau phần nghi lễdiển ra quá 12 giờ trƣa là lễ rƣớc thần của 12 xóm, đây là lễ rƣớc có quy
mô lớn nhất.

 LỄ HỘI TRƢỜNG YÊN

Đối tƣợng suy tôn : Vua Đinh, vua Lê.
Địa điểm : Hoa Lƣ , Ninh Bình.
Thời gian : Từ 9 - 11 thánh Ba Am lịch ( Chính hội mùng 10 ) .
Trƣờng Yên thuộc Gia Viển, Hoa Lƣ, Ninh Bình nơi đặt Kinh Đô nƣớc Việt mang tên
Đại Cồ Việt. Lễ hội Trƣờng Yên là một lễ hội lớn tổ chức vào ngày 10-2 tức ngày vua
Đinh tƣớc vị. Đến hội Trƣờng Yên quý khách đƣợc xem lại các di tích cổ xƣa hơn 10 Thế
kỷ nay , đƣợc thƣởng hoạn với một “ Hạ Long trên cạn “ đƣợc dự đám rƣớc với cờ, quạt,
lọng, phƣờng bát âm Kiệu Long Đình và đoàn ngƣời già trẻ háo hức trong ngày hội; đám
rƣớc sẽ đến bến sông Hoàng Long ( nơi tƣơng truyền xƣa kia Đinh Bộ Lĩnh đến đây đƣợc
rồng vàng rƣớc qua sông )
lấy nƣớc váo Ché đƣa vào đền. Lễ Tế ở hội Trƣờng yên đƣợc tiến hành vào ban đêm
trong tiếng chiêng, trống trầm hùng , mùi hƣơng trầm lan tỏa trong không gian , ánh đèn,
đuốc rực rở; bản văn tế ca ngợi công đức đƣợc viết thành 9 đoạn ( Cửu khúc ) đƣợc diển
lại bằng lời hát Ca trù. Cũng nhƣ các lễ hội khác, sau khi tế lễ khách thập phƣơng đƣợc
dự các trò chơi vui nhộn nhƣng nét riêng ở đây là màn diển Cờ lau tập trận nói về thời
thơ ấu của vua Đinh Bộ Lĩnh.


CÁC LỄ HỘI Ở MIỀN NAM

 LỄ VIẾNG CHÙA BÀ XỨ

Đối tƣợng suy tôn : Bà Chúa Xứ.
Địa điểm : Núi Sam,Vĩnh Tế, Châu Phú, An Giang.
Thời gian : 23 - 27 tháng tƣ Am lịch ( chánh lễ 25 - 4 Am lịch )
Đây là lễ hội lớn nhất Nam bộ, thu hút khách vùng đồng bằng sông Cửu Long,các tỉnh
miền Đông và miền Trung ( từ Quảng Nam Đà Nẳng trở vào ) . Sau năm 1975 cả Hà Nội,
Hải Phòng dân chúng cũng đỗ xô về dự lễ. Chƣa có tài liệu nói rỏ về nguồn gốc miếu Bà
Xứ. Theo lời kể dân gian, miếu Bà có từ 1820 - 1825 với nhiều truyền thuyết khác nhau
về pho tƣợng đang thờ tại đây, tƣợng bằng đá tốt màu xanh có hìnnh dạng Nam Thần; các
nhà khảo cổ học cho rằng tƣợng thuộc loại nghệ thuật trung cổ An Độ.
Mở đầu lễ là hai ngọn nến lớn đƣợc thắp lên, Chánh lễ làm lễ dâng rƣợu, dâng trà sau đó
là lễ
“ Tắm Bà “ vào đêm ngày 25 rạng ngày 26 - 4 Am lịch, Chánh lễ lễ “ Túc Yết“ lễ “rƣớc
sắc”
từ lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà, đoàn rƣớc sắc gồm : Đội lân, Cờ phƣớng, học trò lễ,
Kiên Long Đình. Lễ vật cúng gồm một con heo trắng đã mổ xong, chén huyết kèm theo
một túm lông nhỏ, gạo muối, trái cây, mâm trầu cau.Sau lễ “ Túc Yết “ là lễ “ Xây chầu “
tiến hành nơi nhà Võ Ca gồm phần cầu nguyện “ mƣa thận gió hòa “ là trống “ tiếp giã “
nổi lên 3 hồi. Các đoàn hát thi nhau diễn nhiều đêm.
Đến 27 - 4 lễ “ hồi sắc “ diễn ra giống lễ “ Túc Yết “ để đƣa bài vị từ “ miếu Bà” về lăng
Thoại Ngọc Hầu .
Đến Vía Bà quí khách đƣợc thƣởng thức phong cảnh nên thơ, hữu tình của một vùng
đồng bằng Nam Bộ, các công trình kiến trúc cổ đặc sắc, những cuộc vui chơi phong phú
đƣợm nhiều màu sắc dân gian.

Thi cỗ v� thi đèn
Trong ng� y Tết Trung Thu ngƣời ta b� y cỗ với bánh trái hình mặt
trăng, treo đèn kết hoa, nhảy múa ca hát, múa lân rất tƣng bừng. Nhiều nơi
có những cuộc thi cỗ, thi l� m bánh của các b� các cô. Trẻ em có những
cuộc rƣớc đèn v� nhiều nơi có mở cuộc thi đèn. Nhiều gia đình b� y cỗ
riêng cho trẻ em v� trong mâm cỗ xƣa thƣờng có ông tiến sĩ giấy đặt ở
nơi cao đẹp nhất, xung quanh l� bánh trái hoa quả. Sau khi chơi cỗ trông trăng, các em
cùng nhau phá cỗ, tức l� ăn mâm cỗ lúc đã khuya.

Hát Trống quân
Tết Trung Thu ở miền Bắc còn có tục hát trống quân. Ðôi bên nam nữ vừa hát đối đáp
với nhau, vừa đánh nhịp v� o một sợi dây gai hoặc dây thép căng trên một chiếc thùng
rỗng, bật ra những tiếng "thình thùng thình" l� m nhịp cho câu hát. Những câu hát vận
(hát theo vần, theo ý) hoặc hát đố có khi có sẵn, có khi lúc hát mới ứng khẩu đặt ra. Cuộc
đối đáp trong những buổi hát trống quân rất vui v� nhiều khi gay go vì những câu đố
hiểm hóc.

Múa Sư tử (múa lân)
V� o dịp Tết Trung Thu có tục múa Sƣ tử còn gọi l� múa Lân. Ngƣời ta
thƣờng múa Lân v� o hai đêm 14 v� 15. Ðám múa Lân thƣờng gồm có
một ngƣời đội chiếc đầu lân bằng giấy v� múa những điệu bộ của con vật
n� y theo nhịp trống. Ðầu lân có một đuôi d� i bằng vải m� u do một
ngƣời cầm phất phất theo nhịp múa của lân. Ngo� i ra còn có thanh la,
não bạt, đèn m� u, cờ ngũ sắc, có ngƣời cầm côn đi hộ vệ đầu lân... Ðám múa Lân đi
trƣớc, ngƣời lớn trẻ con đi theo sau. Trong những ng� y n� y, tại các tƣ gia thƣờng có
treo giải thƣởng bằng tiền ở trên cao cho con lân leo lên lấy.

Trẻ em thì thƣờng rủ nhau múa Lân sớm hơn, ngay từ mùng 7 mùng 8 v� để mua vui
chứ không có mục đích lĩnh giải. Tuy nhiên có ngƣời yêu mến vẫn gọi các em thƣởng
cho tiền.

 LỂ HỘI OK OM BOK và HỘI ĐUA GHE NGO

Đối tƣợng suy tôn : Thần mặt trăng.
Địa điểm : Sân nhà, sân chùa, đua ghe trên sông ( Sóc trăng )
Thời gian : Rằm tháng 12 ( theo phật lịch Khơme ) khoảng tháng
10 Dƣơng lịch.
Lễ hội OK OM BOK Am lịch :
Đây là lễ để ngƣời dân Khơme tỏ lòng biết ơn đã mang lại mùa
màng tốt tƣơi, lƣơng thực dồi dào. Lúc này thời tiết khô ráo, gió chƣớng thổi nhẹ, lúa
ngoài đồng bắt đầu chín.
Buổi tối khi trăng tròn dân chúng tề tụ đầy đủ nơi khuôn viên chùa, sân nhà với hƣơng án
là một cổng lớn bằng tre có trang trí ngang 3m , một bàn nhang đèn, hoa, quả, củ tinh bột,
cốm dẹt. Môt cụ già đứng ra đọc lời khấn nói lên lòng biết ơn đối với thần thánh giúp cho
đƣợc mùa
xin thần tiếp nhận lễ vật và cầu mong cho những ngày tháng tới đƣợc ấm no. Sau khi
cúng xong các miếng cốm dẹt đƣợc đƣa vào mùng các cháu với câu hỏi “ các con muốn
gì ? “ , câu trả lời đa dạng, năm nào câu trả lời suông sẽ phong phú tức là tín hiệu điềm
lành của nngƣời dân của ngƣời dân trong Sóc . Các nơi đình làng công cộng có tổ chức
đánh võ, múa hát tâp thể. Tại các chùa Khơme ngƣời ta tổ chức thả đèn nƣớc trên sông
hoặc ao hồ, sông rạch với quan niệm đèn rƣớc xua tan bóng tối, sự ô uế, sầu nảo....
Hội đua Ghe Ngo :
Sau đêm diển ra lễ cúng trăng là lễ hội đua Ghe Ngo. Đây là lễ hội tƣng bừng thu hút
hàng vạn ngƣời Khơme, ngƣời Việt, ngƣời Hoa ở địa phƣơng và các vùng lân cận. Ghe
Ngođƣợc thiết kế đặc biệt từ 25m - 30m mình thon nhƣ con rắn, mủi và lái cong vót lên (
mủi thấp hơn lái một ít ), mủi ghe đƣợc chạm hình đầu xiết ( một loại rắn nƣớc ) hay đầu
phƣợng; thân ghe đƣợc sơn trang trí bằng những sọc : xanh, trắng, đỏ, vàng... lƣờn ghe
đƣợc sơn đen. Mỗi ghe chứa từ 40 - 50 tay bơi. Cuộc đua nghiêm trang hào hứng trên
chặng đƣờng hàng chục km, tiếng cồng thúc quân, tiếng chèo khua nƣớc, tiếng reo hò tở
mở thôi thúc vang động cả một vùng không gian rộng lớn .

 LỄ VIẾNG CHÙA BÀ XỨ


Đối tƣợng suy tôn : Bà Chúa Xứ.
Địa điểm : Núi Sam,Vĩnh Tế, Châu Phú, An Giang.
Thời gian : 23 - 27 tháng tƣ Am lịch ( chánh lễ 25 - 4 Am lịch )
Đây là lễ hội lớn nhất Nam bộ, thu hút khách vùng đồng bằng sông
Cửu Long,các tỉnh miền Đông và miền Trung ( từ Quảng Nam Đà
Nẳng trở vào ) . Sau năm 1975 cả Hà Nội, Hải Phòng dân chúng cũng đỗ xô về dự lễ.
Chƣa có tài liệu nói rỏ về nguồn gốc miếu Bà Xứ. Theo lời kể dân gian, miếu Bà có từ
1820 - 1825 với nhiều truyền thuyết khác nhau về pho tƣợng đang thờ tại đây, tƣợng
bằng đá tốt màu xanh có hìnnh dạng Nam Thần; các nhà khảo cổ học cho rằng tƣợng
thuộc loại nghệ thuật trung cổ An Độ.
Mở đầu lễ là hai ngọn nến lớn đƣợc thắp lên, Chánh lễ làm lễ dâng rƣợu, dâng trà sau đó
là lễ
“ Tắm Bà “ vào đêm ngày 25 rạng ngày 26 - 4 Am lịch, Chánh lễ lễ “ Túc Yết“ lễ “rƣớc
sắc”
từ lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà, đoàn rƣớc sắc gồm : Đội lân, Cờ phƣớng, học trò lễ,
Kiên Long Đình. Lễ vật cúng gồm một con heo trắng đã mổ xong, chén huyết kèm theo
một túm lông nhỏ, gạo muối, trái cây, mâm trầu cau.Sau lễ “ Túc Yết “ là lễ “ Xây chầu “
tiến hành nơi nhà Võ Ca gồm phần cầu nguyện “ mƣa thận gió hòa “ là trống “ tiếp giã “
nổi lên 3 hồi. Các đoàn hát thi nhau diễn nhiều đêm.
Đến 27 - 4 lễ “ hồi sắc “ diễn ra giống lễ “ Túc Yết “ để đƣa bài vị từ “ miếu Bà” về lăng
Thoại Ngọc Hầu .
Đến Vía Bà quí khách đƣợc thƣởng thức phong cảnh nên thơ, hữu tình của một vùng
đồng bằng Nam Bộ, các công trình kiến trúc cổ đặc sắc, những cuộc vui chơi phong phú
đƣợm nhiều màu sắc dân gian.

Núi Sam nằm cách thị xã Châu Đốc (tỉnh An Giang) 5 km, là nơi có quần thể di tích lịch
sử văn hoá với chùa cổ Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, chùa Hang, lăng Thoại Ngọc
Hầu...
Lễ hội Bà Chúa Xứ ( còn gọi là lễ Vía Bà) đƣợc tổ chức hàng năm bắt đầu từ đêm 23/4
âm lịch đến 27/4 âm lịch. Khách hành hƣơng đến lễ hội có thể đi theo đƣờng bộ từ Long
Xuyên lên Châu Đốc theo tỉnh lộ 10, rẽ vào 7km là tới núi Sam; hoặc đi bằng đƣờng thủy
từ Cần Thơ, Sóc Trăng lên hay từ Sài Gòn xuống.
Đêm 23/4 là lễ tắm và thay xiêm y cho tƣợng Bà. Nƣớc tắm tƣợng là nƣớc thơm, bộ y
phục cũ của Bà đƣợc cắt nhỏ ra phân phát cho khách trẩy hội và đƣợc coi nhƣ lá bùa hộ
mệnh giúp cho ngƣời khoẻ mạnh và trừ ma quỷ. Tiếp theo là lễ rƣớc bốn bài vị từ lăng
Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà. Lễ Túc Yết đƣợc tổ chức vào lúc 24 giờ ngày 25 rạng ngày
26. Lễ đƣợc tiến hành theo trình tự: dâng hƣơng, chúc tửu, hiến trà, đọc văn tế. Sau đó
bài văn tế đƣợc hoá cùng với một ít giấy vàng bạc. Tiếp ngay sau lễ Túc Yết là đến lễ
Xây Chầu - Hát Bội do do một ngƣời sành nghi lễ và có uy tín trong ban tế tại miếu Bà
thực hiện cùng đào kép hát bội cầu nguyện cho quốc thái dân an, mƣa thuận gió hoà. 4
giờ sáng ngày 26/4 lễ Chánh Tế đƣợc tiến hành (lễ nghi đƣợc tiến hành giống lễ Túc
Yết). Chiều ngày 27/4 bài vị Thoại Ngọc Hầu đƣợc đƣa về lăng. Chƣơng trình hát bội
cũng chấm dứt. Kết thúc lễ cúng vía bà.
Lễ Vía Bà hằng năm thu hút rất đông khách thập phƣơng. Đến với lễ hội hội họ vừa đƣợc
tham dự lễ hội dân gian phong phú để xin cầu tài cầu lộc, đồng thời họ có dịp để du
ngoạn, chiêm ngƣỡng cảnh trí thiên nhiên ở An Giang.

 LỄ HỘI CHÙA BÀ


+ Đối tƣợng suy tôn : Thiên Hậu Thánh Mẩu.
+ Địa điểm : Thị xã Thủ Dầu Một, Sông Bé.
+ Thời gian : 15 tháng Giêng Am lịch.
+ Đặc điểm :
Từ ngày 12 - 13 thánh Giêng, cuộc chuẩn bị đƣợc diển ra tƣng
bừng để chào đón khách thập phƣơng đỗ xô về dự lễ. Đây là lễ
Chùa của ngƣời Hoa gốc vùng Phúc kiến, bà Lâm My Châu có tài
tiên đoán về thời tiết gió bảo giúp cho ngƣ dân vùng Phúc kiến thóat khỏi nhiền cơn hiểm
nghèo ( nhờ công đức đó, vua Khang Hy đời Thanh phong chức Thiên Hậu Thánh Mẩu ).
Sau khi di cƣ sang Việt Nam, để tƣởng nhớ Bà họ đã lập chùa thờ. Lễ hội cúng vía vào
ngày 23 - 3, nhƣng lễ lớn nhất của hội diển ra vào ngày 15 tháng Giêng tại Thị xã Thủ
Dầu Một.
Lễ cúng vía diển ra nửa đêm 14 rạng ngày 15 tháng Giêng. Chủ trì do 4 vị Chánh tế của
các bang ngƣời Hoa ( Quảng Đông, Tiều Châu, Phúc Kiến, Hẹ ) cử ra luân phiên nhau
hàng năm. Chùa đƣợc trang trí hoa đèn lộng lẫy, 12 lồng đèn to tƣợng trƣng cho 12 tháng
trong năm treo hàng dài trƣớc sân Chùa ( sau đó các lồng đèn đƣợc đem đấu giá để làm
việc công ích ). Sau lễ khách đƣợc tham dự các thú vui chơi, dự lễ hội Chùa Ong ( thờ
Quan Công ), xem múa lân, múa sƣ tử . Khi bế mạc lễ hội, chiếc lồng đèn cuối cùng đƣợc
trao cho nhà hảo tâm . Đoàn gồm 20 lân, rồng, sƣ tử, hẩu ... tiếp đến là bộ tứ Tây du ký
tiến vào Chùa chúc Bà sau đó bắt đầu diễu hành trên đƣờng phố. Hai bên đƣờng nhà nào
cũng kê bàn bày hƣơng hoa, trái cây cúng Bà . Đến 06 giờ chiều đoàn rƣớc trở về Chuà
Bà và chấm dứt lễ hội.

 LỄ HỘI LĂNG ÔNG


Đối tƣợng suy tôn : Tả quân Lê Văn Duyệt.
Thời gian : mùng 1 - 8 Am lịch .
Địa điểm : Lăng Ong , Bà chiểu, Bình Thạnh
Tả quân Lê Va7n Duyệt là ngƣời từng giữ chức Tổng Trấn Gia
định thành. Lăng ông ba=ên cạnh chợ Bà chiểu nên thƣờng gọi là
“ Lăng ông Bà chiểu “ . Hằng năm , tại Lăng ông có 2 ngày lễ hội
lớn là ngày giổ Tả quân vào ngày mùng 1 - 8 Am lịch và ngày hội đầu Xuân mùng 1 và
mùng 2 Tết.
Ngày giổ Tả quân là ngày lễ lớn nhất về tƣởng niệm nhân vật lịch sử của vùng Gia định
xƣa và Nam bộ nay, hàng vạn ngƣời đến dâng hƣơng, cầu lộc trong đó ngƣời Hoa chiếm
50 % ; điều này có nguyên nhân lịch sử vì Tả quân là ngƣời có những chủ trƣơng nâng
đở, toạo điều kiện cho cộng đồng ngƣời Hoa phát triển.
Mở đầu hội là lễ “ Túc Yết “ diễn ra vào đêm 30 - 7 . Lễ “ Chánh tế “ bắt đầu vào sáng
mùng 1 - 8; sau lễ “ Chánh tế “ là “ Xây Chầu - đại hội “ đây là loại hình Tả quân Lê Văn
Duyệt đã có một thời say mê nhƣ : Lƣu Kim Đính giải giá Thọ Châu, Ngọc Kỳ Lân xuất
thế, Lục Vân Tiên, Mộc Quế Anh dựng cây ... kết thúc là 3 lớp tuồng “ Sau Hậu “

Ngƣời Sài Gòn xƣa cũng nay có thói quen gọi cặp từ "Lăng Ông Bà Chiểu" để chỉ lăng
thờ Tả quân Lê Văn Duyệt, từng giữ chức tổng chấn Gia Ðịnh thành (tức cả Nam Bộ và
tỉnh Bình Thuận ngày nay) tại khu vực Bà Chiểu hay cụ thể hơn: Bên cạnh chợ Bà Chiểu.
Có không ít ngƣời nhầm tƣởng rằng đây là phần mộ ông và bà tên Chiểu. Không phải
vậy. Ðây là phần mộ của ông bà Lê Văn Duyệt.
Hàng năm, tại Lăng Ông có hai lễ hội lớn, đó là ngày giỗ tả quân vào ngày 1-8 âm lịch và
ngày hội đầu xuân mồng 1 và ngày mồng 2 Tết.
Về lễ hội Tả quân: Xét riêng phƣơng diện các lễ hội tƣởng niệm các nhân vật lịch sử, thì
đây là lễ hội lớn nhất ở đất Gia Ðịnh xƣa và nay. Lễ bắt đầu từ 30 tháng 7 và kết thúc vào
3 tháng 8. Số ngƣời dự hội có đến hàng chục vạn. Suốt trong những ngày hội tại trung
tâm thành phố này, dòng ngƣời hành hƣơng tấp nập từ các nơi đổ về không ngớt cả ngày
lẫn đêm . Không chỉ ngƣời thành phố mà cả khách tỉnh xa cũng về dự hội. Ðáng chú ý
trong số khách đi lễ số lƣợng ngƣời Hoa chiếm khoảng 50%. Ðiều này có nguyên nhân
lịch sử của nó. Họ đến dâng hƣơng cầu khấn với lòng thành kính, để tạ ơn một vị phúc
thần mà lúc sinh thời khi làm Tổng chấn Gia Ðịnh đã có những chính sách, chủ chƣơng
nâng đỡ, tạo điều kiện cho cộng đồng ngƣời Hoa phát triển nghề nghiệp, an cƣ lạc nghiệp
trên quê hƣơng thứ hai của họ. Ngƣời hoa vì thế đã tôn vinh Tả quân Lê Văn Duyệt là
"Phò mã gia gia" coi ông nhƣ một vị thần ngang hàng với ông Bổn trong lịch sử Trung
Hoa.
Về lễ hội đầu xuân nơi Lăng Ông: Ngay đem 30 Tết từ 22 giờ trở đi, những dòng ngƣời,
những dòng xe cộ từ nhiều ngả đƣờng trong thành phố đổ về Lăng Ông đông nghẹt,
không có chỗ chen chân, để thắp hƣơng dâng cúng và hái lộc đêm giao thừa, nhƣng nơi
đây, ngoài những cây cổ thụ cao chót vót, đâu có lộc mà để hái? Ðể đáp ứng nhu cầu đã
trở thành tập tục này, ban quý tế của lăng đã chuẩn bị hàng xe ô tô cây "phát tài" từ các
làng hoa Gò Vấp đƣa về để sẵn từ chiều. Trên sân lăng rộng gần nơi cổng Tam quan, gần
nơi cổng bán hƣơng cho khách vào lễ bái ở lăng, có những chiếc bàn trên chất cao những
cây "phát tài" và cạnh đó có đặt một thùng "phƣớc sƣơng". Khách đến cứ chọn cành lộc
đầu năm mà mình vừa ý, sau đó cũng tự nguyện bỏ tiền vào quỹ "phƣớc sƣơng" của lăng
(vì ở đây không có ngƣời bán - hơn nữa ai mà đi bán lộc). Quang cảnh đêm lễ hội đầu
xuân tại nơi đây thật là náo nhiệt. ở trung điện và chánh điện khói hƣơng trầm mù mịt,
nhóm này ra, nhóm khác vào liên tục không ngớt, kẻ hái lộc, ngƣời "đổi hƣơng" tƣng
bừng, rộn rịp, mong mang một chút lộc Thánh về gia mình trong năm mới. Ngƣời ta thấy
bên cạnh ngƣời Việt có đông đảo bà con ngƣời Hoa tay cầm cành lộc hoặc cây hƣơng
trƣờng đang cháy đỏ, hoặc cùng lúc cả hai thứ. Có mặt trong hội đầu xuân này còn có
mặt không ít ngƣời ngoại quốc cùng tham gia chảy hội với nét mặt hân hoan, thích thú.
Ðêm hội kéo dài đến 2 giờ sáng mới vãn ngƣời để rồi ngày mồng 1 và mồng 2 lăng Ông
lại mở cửa đón bà con thành phố, mà đông đảo nhất là ba con tiểu thƣơng, tiểu chủ trong
các quận nội thành, và khách thập phƣơng đổ về với số lƣợng hàng chục vạn mỗi ngày.

 LỄ HỘI NGHINH CÔ

Đối tƣợng suy tôn : “ Cô “ Lê Thị Hồng Thủy.
Địa điểm : Dinh Cô, thị trấn Long Hải, Bà Rịa Vũng Tàu.
Thời gian : 10 - 12 tháng Hai Am lịch, chánh lễ 12 - 2 Am lịch.
Đặc điểm : “ Cô” là một ngƣời con gái theo cha từ Bình thuận vào buôn bán tại Bà Rịa,
Gò Công . Rồi mến cảnh, mến ngƣời “ Cô “ xin cha ở lại nhƣng cha “ Cô “ không đồng ý.
Cô gái đã trầm mình tự vẩn tại Núi Nhỏ. Sau đó “ Cô “ hiển linh nên dân lập miếu thờ.
Một truyền thuyết khác “ Cô “ là liên lạc của quân Tây sơn bị lộ và bị quân chúa Nguyễn
giết chết sau đó linh hiển đƣợc dân lập miếu thờ. Các cuộc khảo sát sau này xác nhận “
Cô “ là Lê Thị Hong Thủy con ông Lê Văn Khƣơng và bà Thạch Thị Hà ở Bình Thuận,
một hôm theo cha vào buôn bán ở vùng Bà Rịa, đến mũi Thùy Vân cô bị dây thuyền gạt
rơi xuống biển ngày
12 -2. Sau đó cô hiển linh nên đƣợc ngƣời dân lập miếu thơ vì cô có công giúp ngƣ dân
vùng ven biển .
Lễ Nghinh Cô diển ra trong ba ngày ( 10-11-12 tháng Hai Am lịch ), lề cầu an tiến hành
tại Chính điện vào tối 11 và kéo dài quá nửa đêm có hội hoa đăng tƣng bừng. Lễ Nghinh
Cô bắt đầu vào sáng 12 - 2 Am lịch. Từ Dinh Cô đoàn rƣớc đi về phía biển Cổ loa, lễ
phục, nhạc lễ tƣng bừng , sau đó lên “ Tàu Lễ “ ( chiếc tàu lớn và đẹp nhất trong đoàn tàu
đang đậu sẳn ) , sau lễ xuất phát đoàn tàu ra khơi. Khi đến điểm quy định, đoàn tàu lƣợn
thành vòng tròn, vị Chánh tế và học trò lễ làm lễ Nghinh Cô. Sau lễ, đoàn tàu quay trở về
Dinh Cô và đƣợc đoàn Lân ra nghinh đón. Dự lễ Nghinh Cô quí khách đƣợc xem hát bội,
đấu cờ, múa Lân, múa Rồng...

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Stats:
views:773
posted:1/22/2011
language:Vietnamese
pages:17