Docstoc

Đánh giá thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2009

Document Sample
Đánh giá thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2009 Powered By Docstoc
					Đánh giá thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 1999 đến năm 2009

Thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 1999 đến nay ngày càng mở rộng về quy mô. Số
lượng các công ty kinh doanh bảo hiểm gia tăng nhanh và liên tục qua các năm. Trước
năm 1993, Bảo Việt là công ty bảo hiểm duy nhất được thành lập và hoạt động tại Việt
Nam, với hình thức sở hữu nhà nước, quy mô nhỏ, chủ yếu chỉ thực hiện các chức năng
bảo vệ tài sản, hơn là các chức năng thu hút đầu tư và tiết kiệm do kết cấu sản phẩm còn
khá đơn điệu. Năm 1993, nhà nước thành lập công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam
(BAVINA). Đến năm 1999, tổng số công ty bảo hiểm tham gia trên thị trường là 15 công
ty, và năm 2009, con số này tăng lên 50 công ty, gấp hơn 3 lần trong 10 năm.

Bảng 1: Gia tăng số lượng công ty bảo hiểm ở Việt Nam từ 1993-2009

                                                              NĂM
   CHỈ TIÊU KINH TẾ
                                        1999         2002   2006    2007   2008   2009
 Tổng số công ty BH                        15          20     37      40     49     50
      DN phi nhân thọ                      10          13     21      22     27     28
      DN nhân thọ                           3           4      7       9     11     11
      DN tái bảo hiểm                       1           1      1       1      1      1
      DN môi giới bảo hiểm                  1           2      8       8     10     10
Nguồn: Giáo trình nguyên lý và thực hành bảo hiểm.

Tuy nhiên, trong số 50 doanh nghiệp bảo hiểm thuộc các loại hình doanh nghiệp khác
nhau, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có tỷ trọng công ty 100% vốn nước ngoài lớn
nhất, 9 trên tổng số 11 công ty. Các doanh nghiệp trong nước chỉ có ưu thế ở loại hình
bảo hiểm phi nhân thọ, 21 trong tổng số 28 doanh nghiệp, trong đó, 4 doanh nghiệp Bảo
Việt, Bảo Minh, PVI và PJICO chiếm 72% thị phần bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam.
Trước mắt, các doanh nghiệp trong nước vẫn có thể giữ vững ưu thế trong thị trường bảo
hiểm phi nhân thọ, phần nào do sự bảo hộ của nhà nước trong các nhóm bảo hiểm trách
nhiệm, bảo hiểm cho các lĩnh vực có ngân sách nhà nước, bảo hiểm các công trình trọng
điểm, bảo hiểm kỹ thuật, là các lĩnh vực mà các công ty nước ngoài chưa được phép gia
nhập và khai thác. Tuy nhiên, trong tương lai không xa, khi Việt Nam hội nhập sâu và
nền kinh tế toàn cầu, đòi hỏi các rào cản này cần được dỡ bỏ, theo lộ trình đàm phán đa
phương và song phương của tổ chức WTO, lợi thế cạnh tranh này của các doanh nghiệp
bảo hiểm trong nước có thể không được tiếp tục duy trì, mà thay vào đó, áp lực cạnh
tranh các doanh nghiệp này phải gánh chịu sẽ không chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp
cùng ngành ở Việt Nam, mà còn là những tập đoàn bảo hiểm rất lớn trên thế giới do tiềm
năng phát triển ngành bảo hiểm trong các lĩnh vực vẫn còn rất cao và hấp dẫn, một số
lĩnh vực chưa được khai thác nhiều như bảo hiểm cho tài sản là thủy, hải sản xuất khẩu.

Bảng 2: Các loại hình doanh nghiệp trong các lĩnh vực

                                                           Liên        100% vốn
 Loại hình doanh nghiệp          Nhà nước   Cổ phần                                     Tổng cộng
                                                           doanh       nước ngoài

 Bảo hiểm phi nhân thọ                  2             16           3                7           28

 Bảo hiểm nhân thọ                                    1            1                9           11

 Tái bảo hiểm                                         1                                             1

 Môi giới bảo hiểm                                    6                             4           10

                     Tổng cộng          2             24           4            20              50
Nguồn: Bộ Tài Chính.




Số lượng các sản phẩm, dịch vụ của ngành bảo hiểm cùng ngày càng đa dạng. Năm 1993,
toàn thị trường có 22 sản phẩm. Đến năm 2002, các loại sản phẩm và dịch vụ bảo hiểm
mở rộng về số lượng trên cả 3 nhóm: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm và bảo hiểm
con người, số lượng bao gồm 90 sản phẩm. Năm 2009, số lượng này khoảng 800 sản
phẩm các loại. Nhưng nhìn chung các sản phẩm này đều chưa có những khác biệt lớn
mang tính đặc trưng riêng, nên dễ dàng được sao chép giữa các công ty trong cùng một
ngành, nguồn thu chủ yếu của các sản phẩm này đến từ nguồn phí bảo hiểm, dẫn đến các
cuộc chiến về hạ mức phí , tăng chi phí bán hàng, mở rộng các điều kiện bảo hiểm, thậm
chí là các hình thức cạnh tranh không lành mạnh nhằm tranh giành thị phần. Vấn đề này
càng nghiêm trọng hơn khi các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam thực hiện cơ chế giao
chỉ tiêu doanh thu cho các đại lý hoặc chi nhánh. Từ các bất cập này, cần thiết phải xây
dựng một định hướng phát triển các sản phẩm mới, mang nhiều đặc tính riêng và thỏa
mãn các nhu cầu đa dạng của khách hàng ở những phân khúc thị trường chưa được khai
thác, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ và cung ứng các dịch vụ bảo hiểm. Bên cạnh
đó, ngành bảo hiểm Việt Nam từ sau khi gia nhập WTO ngày 11/01/2007, còn phải chịu
sự cạnh tranh tăng thêm từ các tập đoàn bảo hiểm quốc tế kinh doanh tại thị trường Việt
Nam không chỉ trên lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, mà còn cả trên lĩnh vực phi nhân thọ,
lĩnh vực mà các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước chiếm ưu thế về quy mô thị phần.
Đơn cử như trong lĩnh vực bảo hiểm xe cơ giới, công ty TNHH BHPNT Liberty Việt
Nam, thành lập năm 2006, đã nghiên cứu và cho ra đời sản phẩm bảo hiểm Liberty
Truckcare, trong đó bảo hiểm không giới hạn trường hợp bảo hiểm, tức chỉ quy định các
trường hợp không thuộc diện được bảo hiểm, tất cả các trường hợp còn lại, loại trừ các
tình huống được nêu, đều được thực hiện trách nhiệm bảo hiểm. Sản phẩm này hứa hẹn
sẽ đáp ứng mức ưa thích an toàn càng cao của người dân khi thu nhập bình quân đầu
người ngày càng tăng ở Việt Nam.xxx Do vậy, khi tất cả các sản phẩm bảo hiểm trên thị
trường đều gần tương tự như nhau, một sự khác biệt nhỏ sẽ là một lợi thế cạnh tranh
chiến lược, nhân tố then chốt quyết định bối cảnh cạnh tranh và thiết lập bản đồ thị phần
trong vài năm tới giữa các doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng
và toàn ngành bảo hiểm nói chung. Áp lực cạnh tranh từ các sản phẩm thay thế cũng đang
là những vấn đề sống còn đối với ngành bảo hiểm, các doanh nghiệp đang có xu hướng
liên kết, góp vốn với nhau để tự bảo hiểm cho chính doanh nghiệp họ như sự ra đời của
công ty bảo hiểm phi nhân thọ Hàng không do sự góp vốn của 4 cổ đông và Vietnam
Airlines, trước đó tổng công ty cổ phần Bảo Minh là nhà bảo hiểm gốc cho Vietnam
Airlines với giá trị bảo hiểm ước tính khoảng 4 tỷ USD (năm 2007), và cung cấp dịch vụ
bảo hiểm cho 9 triệu lượt khách và đội bay của Vietnam Airlines (năm 2008). Công ty
bảo hiểm phi nhân thọ SHB-Vinacomin (SVIC) trong năm 2009 ra đời dưới sự góp vốn
liên kết giữa ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SHB) và Tập đoàn Than khoáng
sản Quảng Ninh (TKV), hoạt động kinh doanh bảo hiểm cho 40 doanh nghiệp thuộc TKV
cũng góp phần thu hẹp thị phần của Bảo Minh trong năm 2009. Nhìn chung, chính sự dễ
dàng trong việc tạo ra các sản phẩm bảo hiểm đã có trên thị trường đã khuếch đại bối
cảnh cạnh tranh trong ngành bảo hiểm, do không tồn tại các rào cản khi gia nhập ngành,
minh chứng là con số lợi nhuận của các công ty bảo hiểm vừa gia nhập ngành năm 2009,
công ty bảo hiểm Than-Khoáng sản lãi 32.4 tỷ đồng, bảo hiểm Hàng không lãi 66.2 tỷ
đồng.

Tốc độ tăng trưởng trong doanh thu của ngành bảo hiểm Việt Nam luôn được duy trì ở
mức cao và tăng liên tục trong nhiều năm, trung bình khoảng 16.53% năm, tính từ năm
1999-2009. Phần trăm đóng góp của ngành bảo hiểm vào GDP của nước ta tăng từ mức
0.57% năm 1999, lên mức 1.95% năm 2009.




Bảng 3: Quy mô thị trường bảo hiểm Việt Nam từ 1999-2009

                                                                        NĂM
        CHỈ TIÊU KINH TẾ
                                           1999       2002     2006           2007     2008      2009
 Quy mô thị trường BH (tỷ đồng)               2291     7825    18376      24273        28055     32018
 Tăng trưởng quy mô (%)                   -          80.52%   33.71%     32.09%       15.58%    14.13%
  Doanh thu phí BH (tỷ đồng)                  2091     6992     14898         17650     21256     25510
  Tăng trưởng doanh thu BH (%)            -          78.13%   28.27%      18.47%      20.43%    20.01%
  Đóng góp vào GDP (%)                        0.57     1.46     1.74          2.12       1.9      1.95
Nguồn: Giáo trình nguyên lý và thực hành bảo hiểm.




Hệ thống pháp luật quy định về các hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở nước ta đang dần
được hoàn thiện hơn kể từ sau năm 1993, chính điều này là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
sự tăng trưởng đột biến cho ngành bảo hiểm ở nước ta trong suốt hơn 10 năm nay. Khởi
đầu là sự ra đời của Nghị định 100/NĐ-CP, ban hành ngày 18/12/1993, tiếp theo là ban
hành luật kinh doanh bảo hiểm ngày 09/12/2000, các nghị định và thông tư hướng dẫn
ban hành năm 2001. Các cơ chế pháp lí bắt đầu hoàn thiện hơn theo sau việc ban hành
Nghị định 118/2003/NĐ-CP, ngày 13/10/2003, quy định về xử phạt hành chính trong
kinh doanh bảo hiểm. Trước đó chính phủ đã ban hành Quyết định 175/2003/QĐ-TTg
ngày 28/09/2003 về “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam 2003-2010”, có
hiệu lực ngày 09/2003 và Quyết định 153/2003/QĐ-BTC, ngày 22/09/2003, do Bộ Tài
Chính đưa ra, quy định về việc Ban hành hệ thống chi tiêu, giám sát doanh nghiệp bảo
hiểm, có hiệu lực tháng 10/2003, đã góp phần tác động tích cực đến thu hút vốn đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam nói chung và ngành bảo hiểm nói riêng trong giai đoạn này.
Tuy nhiên, chúng tôi muốn lưu ý rằng đây chỉ là các chỉ tiêu tăng trưởng trong quy mô
doanh thu của ngành bảo hiểm, trong khi số tiền thực nhận của các doanh nghiệp bảo
hiểm lại là các khoản lợi nhuận sau thuế. Năm 2000, hoạt động kinh doanh bảo hiểm
thuộc lĩnh vực phi nhân thọ có một vài trường hợp tổn thất đáng quan tâm như sự cố thiệt
hại hệ thống khớp nối phao neo đơn số 3 với tàu Ba Vì ngày 03/02/2000, giá trị thiệt hại
khoảng 4.6 triệu USD, tàu Tràng An đâm vào tàu cá ngày 08/07/2000, giá trị thiệt hại
ước tính 1.2 triệu USD. Thống kê về tỷ lệ tổn thất trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hóa xuất
nhập khẩu là 90%, bảo hiểm thân tàu biển là 80%, bảo hiểm xe cơ giới là 60%. Trong khi
tăng trưởng doanh thu từ 1999 đến 2002 vẫn giữ mức rất cao, cho thấy sự tăng trưởng
này có vẻ chỉ ở mặt số lượng hơn là chất lượng. Khẳng định thêm cho lập luận này,
chúng tôi nghiên cứu nguồn gốc các khoản lợi nhuận của các doanh nghiệp kinh doanh
bảo hiểm trong năm 2009. Tổng số lỗ toàn thị trường bảo hiểm năm 2009 là 264 tỷ, trong
đó, lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ có 27 doanh nghiệp thì đã có 16 doanh nghiệp lỗ từ
hoạt động kinh doanh chính là bảo hiểm, 1 doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh
toán. Trong khi hầu hết các doanh nghiệp này đều có lợi nhuận trước thuế dương, đơn cử
lợi nhuận trước thuế của công ty bảo hiểm Bảo Long đạt 19.9 tỷ đồng, tăng 149 lần so
với năm 2008, công ty bảo hiểm MIC đạt 50 tỷ đồng, tăng gấp 87 lần năm 2008,...Lý do
là vì các công ty này đạt lợi nhuận cao từ các hoạt động đầu tư tài chính, Bảo Việt (240 tỷ
đồng, tăng 46% so với năm 2008), PVI (200,1 tỷ đồng, tăng 20,2% so với năm 2008),
Bảo Minh (206 tỷ đồng, tương đương mức của năm 2008), AAA (78,6 tỷ đồng, gấp 5 lần
so với 2008), BIC đạt 89,6 tỷ đồng, Bảo hiểm hàng không (66,2 tỷ đồng, thành lập năm
2009), Bảo hiểm Than - Khoáng sản đạt 32,4 tỷ đồng, MSIG đạt 21,7 tỷ đồng, Furbon đạt
19,1 tỷ đồng. Như vậy, có vẻ như ngành bảo hiểm Việt Nam đang chú trọng vào tăng
trưởng quy mô doanh thu, thay vì nên quan tâm đến chất lượng tăng trưởng và hiệu quả
hoạt động.

Đầu tư vào ngành kinh tế của ngành này tăng mạnh. Năm 1999, đầu tư trở lại nền kinh tế
ở mức 2264 tỷ đồng, số tiền này tiếp tục tăng nhanh trong những năm tiếp theo, tăng gấp
gần 7 lần, từ năm 2002 đến năm 2009, ở mức 9955 tỷ đồng lên mức 66905 tỷ đồng. Ở
khía cạnh đầu tư trở lại nền kinh tế, các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước có những lợi
thế nhất định so với các doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài, thể hiện cụ thể
qua con số tăng trưởng lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính của các doanh nghiệp
trong nước giữ ở mức cao trong năm 2009, trong khi lợi nhuận sau thuế của các doanh
nghiệp bảo hiểm nước ngoài giảm 12% so với năm 2008. Nguyên nhân của vấn đề này là
do các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước được phép đầu tư thông qua nhiều hình thức
khác nhau theo luật định, như cho vay ủy thác đầu tư, góp vốn vào các doanh nghiệp
khác, đầu tư vào bất động sản, trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp.
Trong khi các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài 90% đầu tư trở lại nền kinh tế thông
qua hình thức gửi tiền tại các tổ chức tín dụng.

Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng qua các năm. “Tổng vốn chủ sở
hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm là 1.545 tỷ đồng năm 2000, đến cuối năm 2009, con
số này đã lên tới khoảng 20.000 tỷ đồng; Dự phòng nghiệp vụ cũng tăng từ 2.818 tỷ đồng
lên 49.000 tỷ; Hầu hết các DNBH đều đảm bảo khả năng thanh toán” (trích báo cáo đánh
giá 10 năm thực hiện luật kinh doanh bảo hiểm do Bộ Tài Chính ban hành, ngày
01/02/2010). Đồng thời tạo ra công ăn việc làm cho 30,000 lao động và đại lý bảo hiểm
năm 1999, và con số này năm 2009 tăng lên mức 182,319 lao động và đại lý bảo hiểm.

Bảng 3: Năng lực tài chính ngành bảo hiểm Việt Nam từ 1999-2009

                                                                   NĂM
         CHỈ TIÊU KINH TẾ
                                             1999   2002      2006       2007      2008     2009
Năng lực tài chính ngành BH
   Tổng tài sản (tỷ đồng)
                                                     3,692   12,503 39,698    57,543   71,831   82,802

   Tổng dự phòng nghiệp vụ (tỷ đồng)
                                                     2,107   8,685   27,707   35,685   42,214   49,181
 Giải quyết công ăn việc làm (lao
 động và đại lý BH)                                  30,000 76,600 118,200 131,910 135,256 182,319
Nguồn: Giáo trình nguyên lý và thực hành bảo hiểm.




Hoạt động từ các kênh phân phối cũng phát triển đáng kể. “Hoạt động môi giới bảo hiểm:
Từ năm 2001 đến nay, tổng phí bảo hiểm thu xếp qua các doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm tăng lên đáng kể: Từ 70 tỷ - 580 tỷ - 908 tỷ - 1.159 tỷ - 1311 - 1.856 - 1.581 tỷ
tương ứng với năm: 2001 - 2004 - 2005 - 2006 - 2007 - 2008 và 2009.

Doanh thu từ hoa hồng môi giới bảo hiểm cũng tăng lên nhanh chóng: Năm 2001 là 7,6
tỷ đồng, năm 2009 ước đạt 221 tỷ đồng.”. Số lượng đại lý bảo hiểm trong lĩnh vực nhân
thọ và phi nhân thọ ở mức 164,000 đại lý.

Năng lực quản lý và điều hành có nhiều bước phát triển mới, theo sau việc tuân thủ các
quy định của luật kinh doanh bảo hiểm. Theo báo cáo đánh giá của Bộ Tài Chính: “Hầu
hết các doanh nghiệp đều có bộ phận pháp chế để tham mưu, tư vấn cho lãnh đạo doanh
nghiệp trong việc áp dụng, thi hành pháp luật thể hiện trên các mặt như rà soát, hệ thống
hóa và cập nhật văn bản có liên quan đến doanh nghiệp; phổ biến, giáo dục pháp luật; tư
vấn soạn thảo, xây dựng quy trình, quy chế nội bộ, việc ký kết và thực hiện hợp đồng
kinh tế cũng như áp dụng pháp luật trong kinh doanh... giúp doanh nghiệp có khả năng
dự báo, phòng tránh, xử lý các rủi ro pháp lý trong kinh doanh.”

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:1248
posted:1/18/2011
language:Vietnamese
pages:7