khủng hoảng tài chính Mỹ 2007-2009 by blue123

VIEWS: 1,250 PAGES: 20

More Info
									                                                1



Bài nghiên cứu:
    KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ 2007 – 2009 VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM



                                            Lời nói đầu:

   Năm 2008, Thị trường tài chính toàn cầu đã rơi vào tình trạng hiểm nguy trước cuộc khủng
hoảng bắt nguồn từ Mỹ. Các nhà kinh tế đã cố gắng tìm ra nguyên nhân hợp lí cho cuộc khủng
hoảng lần này. Austin Murphy nhà kinh tế học Mỹ đã cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính là
hậu quả của việc mở rộng cho vay vô hạn và sự biến tướng của hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng
(CDS) đặc biệt là định giá sai thị trường CDS. Bài viết này sẽ dựa vào quá trình chứng khoán
hoá và đặc điểm của CDS để làm rõ nguyên nhân khủng hoảng. Đồng thời bài viết cũng nêu ra
những nhân tố trực tiếp xúc tác đến cuộc khủng hoảng, quy mô, giải pháp và tác động đến nền
kinh tế Việt Nam. Bài viết này gồm có 4 phần:

   Phần 1: Quá trình chứng khoán hoá.
   Phần 2: Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng ( CDS )
   Phần 3: Khủng hoảng tài chính Mỹ 2007-2009.
   Phần 4: Tác động đến nền kinh tế Việt Nam.



                            Phần 1: Quá trình chứng khoán hóa

   1.1 Khái quát về quá trình chứng khoán hoá:

   Chứng khoán hoá là quá trình kết hợp các tài sản hoặc khối tài sản có tính thanh khoản thấp
thành chứng khoán có tính thanh khoản cao hơn và có thể chuyển nhượng trên thị trường.
                                               2




                                                              ời
   Bắt đầu từ người đi vay thế chấp mua nhà (Mortgagor) và ngườ tạo lập khoản vay
                     i
(Originator), khi hợp đồng cho vay hoàn thành bảng cân đối của nhà tạo l sẽ có tài sản thế
                        ng                    b                      o lập
chấp. Trước khi có quá trình chứng khoán hoá (những năm 80 của thế kỉ 20) nhà tạo lập sẽ giữ
các khoản nợ này cho đến khi đáo hạn và nhận lãi suất định kì trong kì h nợ. Tuy nhiên khi
                       n                                nh             hạn
quá trình chứng khoán hoá xuất hiện, họ đã bán lại các khoản vay cho bên th ba (cũng là
             ng           xu                               n             thứ
                                                                    ột
chuyển lại rủi ro tín dụng cho bên này) nh lại tiền mặt và bắt đầu mộ vòng quay vốn mới.
                        ng              nhận
                        p              t                                  lệch giữa giá bán
Doanh thu của nhà tạo lập chính là phí tạo lập khoản vay và giá trị chênh l
                             đồng thời dòng lãi suất sẽ chuyển từ cho bên th ba.
khoản vay và số tiền cho vay đ
                   n                                                      thứ
                                                                       gi
   Bên thứ ba trong quá trình chính là nhà phát hành (Issuer). Lúc này giấy tờ vay thế chấp
                          ứng
mang một tên gọi mới là chứ khoán đảm bảo bằng thế chấp bắt động s nhà ở (RMBS –
                                                              ng sản
                                        N                          p      với
Residential Mortagage backed Security). Nhà phát hành thường kết hợp RMBS v các khoản
vay khác như: chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp bất động sản thươ
                 ng                                        n thương mại (CMBS –
Commercial mortgage backed security), vay đi học (student loan), mua xe (auto loan) và thẻ tín
                                               c                                       th
                          ột
dụng (credit card)…thành mộ gói tài sản (pool) gọi chung là chứng khoán đảm bảo bằng tài sản
                                                               ng
                                              3



                                                          s n           nhiều
(ABS – Asset backed Security). Nhà phát hành chia gói tài sản này thành nhi phần nhỏ và
                     i              th             c:                              Cu
phân chia theo mức rủi ro khác nhau thường là ba mức: Senior, mezzanine và equity. Cuối cùng
                                                                        đ
các phần tài sản sau khi đã chia s được phát hành ra thị trường cho nhà đầu tư dưới dạng chứng
                          ã      sẽ                          ng
khoán đảm bảo bằng tài sản (CDO – Collateralized Debt Obligation) và nhà phát hành sẽ nhận
                         n                                                         s
lại phí phát hành và phần lớn h mệnh giá của chứng khoán được phát hành. Nhà đầu tư vào
                            n hơn                           c
các loại chứng khoán này sẽ nh lợi tức định kì được nhà phát hành phân phát và nh lại phần
                            nhận                  c                            nhận
gốc khi khoản nợ đáo hạn.




                          ừa
   Một quá trình như vậy vừ giúp các ngân hàng huy động được thêm vốn tài trợ hoạt động
                                                           c      v
                                                                   ơh
cho vay, đồng thời kết thúc ti trình tạo ra sản phẩm CDO tạo thêm cơ hội đa dạng hoá danh
                     t      tiến
mục đầu tư cho thị trường. Nh vậy câu hỏi đặt ra là quá trình này đã góp ph gây ra khủng
                       ng. Như                                     ã     phần
hoảng như thế nào.
                                                4



   1.2 Sự bất cân xứng thông tin trong quá trình chứng khoán hoá và việc mở rộng cho
vay quá mức (vô hạn):

   1.2.1 Khái quát về sự bất cân xứng về thông tin:

   Bất cân xứng thông tin là khái niệm dùng để chỉ một bên trong giao dịch có thông tin tốt hơn
dẫn đến việc đưa ra các điều khoản trong thoả thuận không chính xác, dẫn đến nguy cơ gây ra
thiệt hại cho bên còn lại.
   Vấn đề bất cân xứng về thông tin dẫn đến hai hậu quả là: Lựa chọn đối nghịch (Adverse
selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard).
   Lựa chọn đối nghịch xảy ra trước khi thoả thuận được thông qua. Bên có ít thông tin hơn sẽ
không thể biết được chính xác mức độ rủi mà họ sẽ phải gánh chịu, vì vậy họ thường có xu
hướng đưa ra quyết định sao cho rủi ro họ nhận được là ở mức trung bình. Khi đó, bên đối tác sẽ
sẵng sàng chấp nhận nếu rủi ro thực tế là thấp hơn hoặc tương đương với mức mà bên có ít thông
tin đưa ra và ngược lại nếu thực sự rủi ro là ít hơn thì bên đối tác sẽ không chấp nhận. Do đó, bên
có ít thông tin vẫn phải gánh chịu rủi ro lớn. Ví dụ: trong hoạt động mua bán xe hơi cũ người
mua xe không thể hiểu rõ tất cả các vấn để bên trong của xe. Đứng trước những chiếc xe có vẻ
ngoài như nhau người mua không thể biết chiếc nào thực sự tốt hơn dẫn đến nguy cơ họ có thể
mua phải một chiếc xe hư hỏng (lemon). Vì vậy, người mua thường có xu hướng đưa ra mức giá
mua ở mức trung bình để giảm rủi ro. Tuy nhiên, đó chưa hẳn đã là điều tốt bởi vì những chiếc
xe có chất lượng thấp hơn mức giá họ đưa ra (chỉ mua được những chiếc xe tốt khi người bán
thật sự đang trong tình trạng khẩn cấp). Thật khó để người mua chấp nhận điều này khi họ nhận
ra vấn đề.
   Rủi ro đạo đức xảy ra sau khi giao dịch được thoã thuận. Bên có nhiều thông tin hơn sẽ thực
hiện các hoạt động nhằm làm tối đa lợi ích hoặc giảm thiểu thiệt hại của mình mà không hề quan
tâm rằng hành động đó sẽ làm gia tăng rủi ro cho phía đối tác. Ví dụ: một người đi vay tiền từ
ngân hàng và thế chấp bằng căn nhà của mình. Sắp đến hạn trả nợ, người đi vay biết không thể
trả được nợ và chắc chắn rằng trong tương lai họ sẽ không ở căn nhà này nữa. Khi đó ý thức bảo
quản căn nhà của họ không còn tốt nữa (không tu dưỡng khi nó có sự cố) và cuối cùng khi ngân
                                             5



hàng tịch thu và phát mãi nhà giá c căn nhà sẽ bị giảm dẫn đến nguy c thiệt hại cho ngân
       ch                         của                        n      cơ
hàng.

                   ng           giữa                             ch
   1.2.2 Bất cân xứng thông tin gi các đối tượng trong quá trình chứng khoán hoá và
                         m
việc mở rộng cho vay quá mức:

                                                                      đ
   Bài viết sẽ lần lượt tìm hi vấn đề bất cân xứng thông tin giữa các đối tượng tham gia vào
                      t     hiểu                                a
             ng           nhằm làm rõ nguyên nhân của việc mở rộng cho vay quá m (vô
quá trình chứng khoán hoá nh                                    ng             mức
hạn).




                  i        người tạo lập khoản vay:
   1.2.2.1 Người đi vay và ng

                    otcom     suất                            p nh
   Sau khủng hoảng Dotcom lãi su cho vay xuống thấp (xuống thấp nhất 1% vào 2003) do
                           ền
FED điều hành chính sách tiề tệ nới lỏng cùng với chính sách gia tăng s hữu nhà cho các đối
                                                                   ng sở
                            ịnh,
tượng có thu thập không ổn đị từ đó tiền được đổ vào cho vay mua nhà.
                                                6




   Các đối tượng đi vay (mortgagor) phần lớn đều được áp dụng (có thể nói là áp đặt) lãi suất
thay đổi (ARM – Adjustable rate mortgage). Với lãi suất ARM ban đầu người đi vay sẽ trả lãi
suất cố định theo hợp đồng và sau một khoảng thời gian (thường là 5 năm) (Murphy), lãi suất sẽ
điều chỉnh theo thị trường. Mặt khác, luôn có nhiều người cần vay hơn là số người được vay vì
họ không đạt được chuẩn vay. Lúc này chuẩn vay hạ xuống đối với người đi vay dường như là
một ân huệ, do đó họ thường chịu sự áp đặt trong điều khoản của hợp đồng vay.
   Với lựa chọn này khả năng nhà tạo lập sẽ có lợi đối với các khoản vay được giữ lại vì lãi suất
hiện tại rất thấp (lãi suất thực âm) khi nền kinh tế Mỹ phục hồi sau khủng hoảng dotcom và sự
kiện 11.9 có thể lãi suất sẽ tăng trở lại. Phần lớn các khoản vay đều được bán đi và nhà tạo lập sẽ
hưởng lợi từ phí tạo lập khoản vay và phần chênh lệch sau khi bán lại khoản vay. Rõ ràng, nhà
tạo lập có quá nhiều lựa chọn: chi phí vốn thấp, áp dụng lãi suất ARM có tiềm năng mang lại lợi
ích to lớn trong tương lai và họ còn có thể bán lại khoản vay cho nhà phát hành nếu không muốn
chờ lâu…điều này khuyến khích gia tăng hoạt động cho vay.

   1.2.2.2 Nhà tạo lập và nhà phát hành:
                                                7



   Nhà phát hành có vai trò mua các khoản vay từ phía nhà tạo lập khoản vay tức là tất cả rủi ro
từ việc người đi vay không thể trả được nợ đã chuyển từ nhà tạo lập sang nhà phát hành. Điển
hình trong hoạt động mua lại này là hai ngân hàng liên bang Fandie Mae và Freddie Mac với sự
bảo trợ của chính phủ Mỹ họ ra sức mua lại các khoản vay từ phía các nhà tạo lập góp phần thúc
đẩy gia tăng hoạt động cho vay (một lần nữa).
   Vấn đề phát sinh là nhà tạo lập đã không quản lí tốt mức tín nhiệm của người đi vay (thông
qua nhà môi giới) dẫn đến nhà phát hành phải gánh chịu rủi ro nhiều hơn. Nhiều trường hợp
được ghi nhận thông tin trong hợp đồng vay có thể bị sai lệch do nhà tạo lập và người đi vay đã
cố ý gây ra: vẫn thực hiện cho vay dù biết khả năng trả nợ của người đi vay rất thấp, gợi ý cho
người đi vay nhờ người có mức tín nhiệm cao hơn đứng tên vay và sẽ thay đổi hợp đồng sau một
thời gian... Lúc này người đi vay có thể vay nhiều hơn và ngược lại nhà tạo lập cũng cho vay
nhiều hơn nhưng rủi ro lại do nhà phát hành gánh chịu.
   Để tránh việc bảng cân đối của mình bị xấu đi do chứa các tài sản đầy rủi ro như các khoản
nợ, nhà phát hành thành lập một định chế tài chính độc lập có tên gọi là Special Purpose Vehicle
hay Trust và làm sạch bảng cân đối của nhà phát hành bằng cách mua lại các khoản vay. Dựa vào
trust nhà phát hành có thể mua lại khoản vay không hạn chế, chuyển sang cho trust mà vẫn đảm
bảo quy định về an toàn vốn.

   1.2.2.3 Nhà phát hành và nhà tài trợ:

   Một số nhà phát hành không có nguồn vốn tự có nên phải vay từ phía nhà tài trợ (warehouse
lender). Vấn đề bất cân xứng thông tin giữa hai đối tượng tham gia này đã dẫn đến lựa chọn đối
nghịch. Nhà phát hành dùng tài sản thế chấp (ở đây là các khoản nợ) để vay tiền từ nhà tài trợ.
Tuy nhiên họ có thông tin tốt hơn về rủi ro của tài sản mà họ đem thế chấp, từ đó phát sinh nguy
cơ nhà tài trợ nhận được các khoản thế chấp với giá cao hơn thực tế.
   Đối pháp từ phía nhà tài trợ là cho vay ít hơn giá trị thực tế của các giấy tờ nợ và bắt nhà phát
hành phải có một khoản đối ứng. Tuy nhiên vấn đề quan trọng ở đây là nhà phát hành đã có được
thêm nguồn tiền mặt tài trợ cho việc mua lại khoản vay, thúc đẩy thêm quá trình tạo lập hợp
đồng vay thế chấp.

   1.2.2.4 Nhà phát hành, nhà đầu tư và cơ quan xếp hạng tín dụng:
                                                 8



   Trước khi chứng khoán được đưa ra thị trường đã được xếp hạng tín dụng nhờ vào cơ quan
xếp hạng tín dụng do nhà phát hành thuê. Từ mức hạng tín nhiệm được đánh giá cho chứng
khoán nhà phát hành sẽ dùng một số biện pháp để gia tăng mức tín nhiệm (Credit enhancement)
để giảm bớt rủi ro cho nhà đầu tư và gia tăng mức hấp dẫn cho chứng khoán phát hành. Các công
cụ thường dùng là subordination và overcollateralization.
   Subordination tức là phân loại chứng khoán theo các mức rủi ro từ thấp lên cao: Senior,
Mezzanine và Equity. Từ đó ở mức rủi ro cao nhà đầu tư sẽ nhận lại lợi tức cao. Tuy nhiên, họ sẽ
là người nhận lợi tức sau cùng và chịu thiệt hại đầu tiên và ngược lại.
   Overcollateralization tức là tổng giá trị chứng khoán phát hành sẽ nhỏ hơn tổng giá trị các
khoản nợ khi đó nếu một vài khoản nợ không thể chi trả thì lợi tức vẫn được tiếp tục phân phát
cho nhà đầu tư.
   Đã có lựa chọn đối nghịch giữa nhà phát hành và các bên có liên quan về lợi ích (cơ quan xếp
hạn tín dụng và nhà đầu tư). Ở đây nhà phát hành có thông tin tốt hơn về tài sản cơ sở để phát
hành chứng khoán do đó làm phát sinh nguy cơ chứng khoán bán ra có chất lượng kém.
   Cơ quan xếp hạn tín dụng đưa ra quyết định mức tín nhiệm cho chứng khoán chủ yếu dựa
vào số liệu trên giấy tờ về tài sản cơ sở do nhà phát hành cung cấp. Vì vậy họ có thể đưa ra quyết
định sai lầm (cao hơn hoặc thấp hơn thực tế). Lúc này họ phải có chính sách để lợi ích đạt được
là tốt nhất khi luôn có sự cạnh tranh trên thị trường. Do đó, cơ quan xếp hạng tín dụng thường có
xu hướng đánh giá mức tín nhiệm cao cho chứng khoán, bởi vì nhà phát hành trả tiền cho họ chứ
không phải nhà đầu tư.
   Tuy nhiên điều này lại làm phát sinh lựa chọn đối nghịch giữa nhà phát hành và nhà đầu tư.
Họ là người có thông tin ít nhất về tài sản cơ sở để phát hành chứng khoán và dễ phát sinh tình
trạng họ mua được hàng xấu (The Lemon). Nên cách duy nhất là nhìn vào xếp hạng tín nhiệm
của cơ quan xếp hạng – vốn cao hơn thực tế.
   Tóm lại hoạt động tăng mức tín nhiệm (Credit enhancement) của nhà phát hành cùng với sự
“tiếp tay” của cơ quan xếp hạng tín dụng đã làm mờ đi rủi ro đối với nhà đầu tư và tín hấp dẫn
“giả tạo” cho chứng khoán được phát hành làm cho sản phẩm của quá trình được “tiêu thụ” dễ
dàng hơn. Ngược lại, nó sẽ thúc đẩy quá trình chứng khoán hoá diễn ra liên tục đồng thời với quá
trình này là các hợp đồng vay cũng phải liên tục được tạo ra.
                                                9



   1.2.2.5 Nhà quản lí tài sản và nhà đầu tư cuối cùng:

   Thông thường CDO phát hành ra thị trường thường được bán với số lượng lớn nên nhà đầu
tư chủ yếu là tổ chức gọi chung là nhà quản lí tài sản (Asset manager) đồng thời cũng là đại diện
cho những nhà đầu tư cá nhân không đủ khả năng tự tham gia thị trường này (vì kiến thức cũng
như quy mô vốn).
   Nhà quản lí tài sản thường là các ngân hàng đầu tư hoặc quỹ đầu tư, họ huy động vốn từ công
chúng và nhiệm vụ của họ là cơ cấu danh mục đầu tư sao cho lợi nhuận và mức rủi ro là tối ưu.
Trong mối quan hệ này đã phát sinh vấn đề về quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn đầu tư
(Principal – Agent, Một dạng rủi ro đạo đức). Họ đã quá tập trung vào quyết định từ cơ quan xếp
hạn tín dụng – vốn cao hơn thực tế – để lựa chọn danh mục đầu tư. Thực tế việc đầu tư vào các
CDO được phát hành sẽ nhận được lợi tức cao hơn so với chứng khoán công ty vì rủi ro của nó
là cao hơn, do đó nhà quản lí tài sản cơ cấu danh mục đầu tư của mình bằng một lượng lớn CDO
và có ít động lực để làm tốt việc xem xét rủi ro. Tiếp đó, việc này lại khiến nhà phát hành có rất
ít động lực để quản trị rủi ro từ các khoản vay mua của nhà tạo lập, cứ như vậy nó lại khuyến
khích nhà tạo lập cho vay quá mức và mở rộng sang các khu vực có chuẩn ngày càng thấp.
   Tuy nhiên, một vài năm trước khủng hoảng quá trình chứng khoán hoá đã phát triển thêm
một bật, đó là quá trình chứng khoán hoá lại (Resecuritization). Lúc này, ABS không chỉ là tổng
hợp từ MBS nữa mà còn từ cả CDO và sản phẩm tạo ra sẽ là CDO cấp 2 (squared) hay cấp 3
(scubed) hay cao hơn nữa…Một lần nữa rủi ro lại bị làm mờ hơn nữa đối với những nhà đầu tư
vào các CDO cấp cao hơn. CDO cấp cao không dựa trên tài sản thế chấp nhưng nó cũng dựa trên
CDO cấp 1 – dựa trên tài sản thế chấp – cho nên quá trình chứng khoán hoá lại cũng góp phần
thúc đẩy quá trình cho vay nhiều hơn.
   Tóm lại, càng xa hơn trong quá trình chứng khoán hoá thông tin của các đối tượng tham gia
càng hạn hẹp. Do đó nảy sinh khả năng người đầu tư cuối cùng sẽ phải gánh chịu rủi ro rất lớn –
đã bị làm mờ đi. Một quá trình chứng khoán hoá diễn ra nhanh hơn dẫn đến nhu cầu về các
khoản vay thế chấp (RMBS) nhiều hơn xúc tác hoạt động cho vay. Thêm vào đó tiền lại đang đổ
vào thị trường bất động sản dẫn đến cho vay quá mức.
                                              10



   Giá nhà đất tăng vụt do cầu tăng đột biến dẫn đến nảy sinh hoạt động đầu cơ. Hoạt động này
thúc đẩy giá nhà đất tăng nhanh hơn làm cho bong bóng nhà đất ngày càng phình to (Boom) và
không biết sẽ bùm nổ (Burst) lúc nào.


                         Phần 2: Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng.


   2.1 Khái niệm:

   CDS được xem là dạng thức cơ bản trong số các sản phẩm tín dụng phái sinh. Về bản chất,
CDS cũng tương tự như một hợp đồng bảo hiểm theo nghĩa CDS chuyển dịch rủi ro vỡ nợ của
của một thực thể được đề cập trong hợp đồng ( như rủi ro vỡ nợ của một trái phiếu ) từ bên mua
sự bảo hiểm sang bên bán bảo hiểm. Và tất nhiên bên mua sẽ phải trả một khoản phí theo định
kì cho bên bán ( thường là 5 năm ), trong trường hợp xảy ra sự kiện vỡ nợ của thực thể được đề
cập trong hợp đồng thì bên bán CDS có trách nhiệm thanh toán khoản bồi thường cho bên mua
theo các điều khoản trong hợp đồng.

   2.2 Đặc điểm của CDS:

   Như ta nói ở trên thì CDS cũng có cơ chế tương đồng như một hợp đồng bảo hiểm thông
thường, tuy nhiên CDS khác với hợp đồng bảo hiểm ở chỗ nó không yêu cầu người mua CDS
phải có mối liên hệ với thực thể được bảo hiểm, có nghĩa là bạn có thể mua CDS cho một loại
trái phiếu mà bạn không thực sự sở hữu và trông chờ vào sự vỡ nợ của loại trái phiếu đó để nhận
được một khoản bồi thường. Ở đây, việc mua bán CDS gần như mang tính cá cược.
   Chi phí của CDS phản ánh phần nào rủi ro vỡ nợ của thực thể pháp lý liên quan. Trong
trường hợp khả năng vỡ nợ gia tăng, giá cả của CDS sẽ tăng và ngược lại. Chính đặc điểm này
cho phép người mua biết được thị trường đang đánh giá thế nào về rủi ro vỡ nợ của thực thể pháp
lý trong tương lai. Tuy nhiên chi phí của CDS lại phụ thuộc nhiều vào nhận thức của thị trường,
do đó có thể đánh giá sai lầm.
   CDS được giao dịch trên thị trường phi tập trung( OTC ). 11/1999 đạo luật Glass-Steagall đã
bị thay thế bởi đạo luật Gramm-Leach-Bliley ( bắt đầu được áp dụng vào đầu năm 2000 ) và một
trong những điểm mới của đạo luật này là thị trường CDS không chịu sự giám sát, quản lý của
                                                 11



bất kì tổ chức nào. Và từ đây đã nảy sinh ra nhiều vấn đề phức tạp mà những người ủng hộ cho
đạo luật này không lường trước được.
   Từ chính những đặc điểm trên, CDS đã được chọn là giải pháp để gia tăng mức tín nhiệm
cho các loại trái phiếu nợ, khi đó nhà phát hành sẽ đảm bảo khả năng chi trả của mình ngay cả
khi có sự kiện vỡ nợ xảy ra và chính điều này cũng làm cho các nhà đầu tư vào các trái phiếu này
an tâm hơn. Về bản chất, thì rủi ro được chuyển từ nhà phát hành( người mua bảo hiểm ) sang
nhà bảo hiểm ( người bán ). Tuy nhiên, vấn đề ở đây là việc định giá các hợp đồng CDS sao cho
phù hợp với rủi ro của thực thể liên quan.

   2.3 Hạn chế trong việc định giá CDS:

   Về cơ bản giá cả của một hợp đồng CDS được chia thành hai thành phần: giá trị thời gian của
đồng tiền và rủi ro tín dụng. Trong rủi ro tín dụng gồm có rủi ro vỡ nợ ( rủi ro của thực thể được
bảo hiểm và rủi ro đối tác ) và rủi ro hệ thống. Xin nhắc lại, rủi ro hệ thống là rủi ro do các yếu tố
ngoài công ty gây ra và ảnh hưởng đến cả thị trường, đây là loại rủi ro không thể đa dạng hóa
được còn rủi ro đối tác là loại rủi ro xuất phát từ phía bên bán bảo hiểm khi mà thực thể vỡ nợ
nhưng nhà bảo hiểm không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán của mình. Tuy vậy, rủi ro đối tác
có thể được giảm thiểu bằng việc yêu cầu bên bán CDS có một khoản ký quỹ đối với hợp đồng
bảo hiểm của mình như là một khoản đảm bảo.
   Tuy nhiên, đối với các nhà bảo hiểm được xếp hạng tín nhiệm ở mức AAA, họ không cần
phải kí quỹ, do đó khoản đầu tư ban đầu là không có nên khoản bù đắp giá trị thời gian của đồng
tiền không được xét đến ở đây. Ngoài ra nó được bảo đảm bởi các nhà bảo hiểm lớn ( như ngân
hàng, các tập đoàn thế chấp liên bang FNMA hay FHLMC hay những công ty bảo hiểm như là
AMBAC, MBIA và AIG ) được thừa nhận có hệ số tín nhiệm gần với Bộ tài chính Mỹ tại mức
Aaa và một số trong những công ty bảo hiểm đó lại được ủng hộ bởi chính phủ Mỹ ( như FNMA
và FHLMC) hoặc có thể là “quá lớn để phá sản” (như nhiều ngân hàng thương mại và đầu tư ),
vậy nên phần bù rủi ro hệ thống và rủi ro đối tác trong rủi ro tín dụng là không có. Vậy nên trong
chi phí CDS chỉ tính đến phần bù rủi ro vỡ nợ của thực thể được bảo hiểm.
   Không chỉ dừng lại ở đây, việc định giá CDS còn nhiều hạn chế khác. Thứ nhất, do phương
pháp tín điểm tín dụng chỉ dựa trên thống kê đơn thuần: sử dụng hạn chế các yếu tố trong mô
                                               12



hình, không bao hàm tác động của các đầu vào không có giấy tờ chứng minh mà những yếu tố
này lại có ý nghĩa rất lớn để nhận biết “các sự kiện bất ngờ”, các số liệu đã bị bóp méo, số liệu
không được thẩm tra lại, áp dụng máy móc những lý thuyết toán học thuần túy mà thiếu đi những
nhận định cá nhân…Thứ hai, các nhà bảo hiểm quá chú trọng vào hệ số tín nhiệm về các khoản
vay vốn dĩ đã bị đánh giá một cách sai lầm từ các cơ quan đánh giá tín nhiệm. Và cuối cùng do
nhà bảo hiểm chạy theo yếu tố lợi nhuận: một phần do không cần phải đầu tư mà vẫn nhận được
một doanh thu đáng kể, đơn thuần là bán lại hệ số tín nhiệm của mình cho các chứng khoán của
các nhà phát hành ( góp phần nâng giá trị của nó ) và nhận được một khoản phí. Hơn thế nữa, đối
với các nhà bảo hiểm có hệ số tín nhiệm AAA ( như AIG ) thì họ không cần phải có mức kí quỹ
đối với các hợp đồng bảo hiểm nên họ có thể bảo hiểm một cách tràn lan, tính đến năm 2006 giá
trị bảo hiểm của AIG đã lên tới 527 tỷ USD, còn đối với những nhà bảo hiểm có hệ số tín nhiệm
thấp hơn thì họ chỉ cần ký quỹ là hoạt động bảo hiểm của họ có thể diễn ra một cách suôn sẻ.
Bên cạnh đó, từ năm 2000 thì các CDS này đã không còn chịu sự giám sát, quản ký của các cơ
quan chức năng. Chính những điều này đã thúc đẩy các nhà bảo hiểm tăng cường hoạt động của
mình hơn nữa.

   2.4 Rủi ro đạo đức xuất hiện như thế nào trên thị trường CDS?

   Thứ nhất, các khoản kí quỹ ban đầu của phía bên bảo hiểm có vai trò rất quan trọng, nó góp
phần đảm bảo khả năng bồi thường của các hợp đồng CDS trong trường hợp thực thể pháp lý
liên quan vỡ nợ. Nếu thiếu khoản ký quỹ này, bên mua bảo hiểm phải dựa vào một tín hiệu khác
để an tâm bên bán sẽ thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, đó chính là hệ số tín hiệm của bên bảo
hiểm. Tuy nhiên một số bên bán CDS có quy mô lớn, với khả năng chi phối tổ chức đánh giá độc
lập hoặc xây dựng hệ thống đánh giá của mình, dựa vào việc đánh giá có lợi cho mình ( hệ số tín
nhiệm ở mức AAA ) thì họ hoàn toàn có khả năng né tránh triệt để việc ký quỹ ban đầu trên mọi
hợp đồng CDS được phát hành. Trong khi những đánh giá tín nhiệm giữ vai trò quan trọng để
bên mua sự bảo hiểm định hướng trong việc ra quyết định của mình thì những tổ chức cung cấp
đánh giá này hoàn toàn có thể bị chi phối bởi những mâu thuẫn lợi ích và những đánh giá được
đưa ra nhiều khả năng không phản ánh khách quan và trung thực tình hình của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, những tổ chức này không đủ khả năng hạn chế được nguy cơ đạo đức từ bên bán
                                               13



CDS theo cách mà các khoản đảm bảo có thể làm được. Ví dụ, nếu bên bán CDS được yêu cầu
một khoản đảm bảo là 10% giá trị khái toán của hợp đồng hoán đổi, thì bên bán sẽ bị giới hạn
trong việc cung cấp hợp đồng bảo hiểm này và từ đó hạn chế được nguy cơ đạo đức từ bên bán
CDS. Tuy nhiên, việc né tránh được khoản ký quỹ ban đầu đã làm cho các nhà bảo hiểm không
giới hạn việc ký kết các hợp đồng mới mà không quan tâm đến rủi ro.
   Thứ hai, việc cung cấp các hợp đồng bảo hiểm CDS chỉ dự trên đánh giá một chiều rằng giá
cả của các tài sản tham chiếu ( ở đây là bất động sản ) sẽ không bị giảm trong suốt thời gian hợp
đồng CDS còn hiệu lực. Từ đây lại càng góp phần thúc đẩy nhà bảo hiểm tăng cường hoạt động
của mình hơn nữa.
   Thứ ba, sự thiếu minh bạch của thị trường OTC đối với CDS đã khiến bên mua CDS gần như
không thể có đủ khả năng đánh giá mức rủi ro đối tác tổng thể của bên bán. Như một hậu quả tất
yếu, những người bán CDS, điển hình là AIG, có thể đã chấp nhận nhiều rủi ro hơn cần thiết.
Cuối cùng, bản thân bên mua CDS, như các ngân hàng châu Âu, đã lạm dụng hợp đồng này để
chấp nhận nhiều rủi ro hơn mức được phép

   2.5 Sự bùng nổ của thị trường CDS:

   Chính do đánh giá thấp khoản bù đắp cho những rủi ro trong các hợp đồng CDS đã làm cho
giá của CDS rất rẻ. Và CDO một khi được bảo đảm bởi các nhà bảo hiểm uy tín thì nhà đầu tư
nhận thấy rằng loại chứng khoán này hầu như rủi ro ( gần như trái phiếu kho bạc Mỹ ở mức
AAA). Chính việc được bảo đảm này đã thúc đẩy việc đầu tư vào các CDO của nhà đầu tư. Cộng
với việc nhà bảo hiểm luôn sẵn lòng cung cấp những hợp đồng bảo hiểm này đã làm bùng nổ thị
trường CDS. Bên cạnh đó, thị trường CDS còn có khả năng đầu cơ rất lớn vì người mua CDS
không nhất thiết phải sở hữu tài sản hay chứng khoán cơ sở, họ chỉ mua nhằm cá cược khả năng
vỡ nợ của thực thể đó. Vấn đề xảy ra ở đây là các tổ chức mua CDS mang tính chất đầu cơ có thể
làm mọi thứ để thực thể đó vỡ nợ ( bán khống cổ phiếu để làm giá của nó đi xuống ). Chính việc
này cũng góp phần làm cho thị trường CDS trở nên to lớn như vây, chiếm 73% tổng số sản phẩm
phái sinh nợ trị giá 2.3 ngàn tỉ USD trong năm 2002 (O’Kane, 2005) và phát triển ngày càng
nhanh từ con số không vào 2001 đến khoảng 15 ngàn tỉ USD vào 2005 và hơn 60 ngàn USD vào
2007 (Baily et al 2008).
                                              14




                       Phần 3: Khủng hoảng tài chính Mỹ 2007-2009


   3.1 Nhân tố xúc tác và quy mô khủng hoảng

   Việc nhà đầu tư thích thú với các CDO này đã đảm bảo đầu ra cho các hợp đồng vay nợ (
ngay cả dưới chuẩn ), đã làm cho các nhà tạo lập các khoản vay tăng cường cho vay hơn nữa, các
nhà bảo hiểm bán CDS không ngừng. Vòng xoay này tiếp diễn đã làm chênh lệch giữa lãi suất
của các khoản nợ rủi ro và các khoản nợ không rủi ro sụt giảm xuống mức chưa từng thấy do
việc các nhà đầu tư sẵn sàng kinh doanh chênh lệnh giá, bán bất kì trái phiếu hoặc các khoản nợ
nào mà được định giá ở mức chênh lệch lợi tức cao hơn. Những nhà kinh doanh chênh lệnh giá
này sẽ mua những khoản nợ có mức lợi tức cao, mua bảo hiểm CDS rẻ cho chúng, và sau đó
kiếm tiền từ sự khác biệt giữa các mức chênh lệch giá và bảo hiểm như là một phần tiền lãi dư ra
cho một ít những rủi ro đã được nhận thấy. Những hoạt động trên đã kéo lãi suất của tất cả các
trái phiếu và khoản nợ xuống đến giá của các CDS như là sự cạnh tranh với mạng lưới những
người cho vay có sử dụng công cụ phòng ngừa rủ ro đã làm giảm lãi suất cho vay.
   Trong những năm đầu người cho vay có thể tạo ra lợi nhuận vì tỷ lệ nợ không có khả năng
chi trả có xu hướng thấp và vì việc hình thành các khoản cho vay mới cũng đã tạo một thu nhập
đáng kể từ các khoản phí của các công ty cho vay. Khi nền kinh tế vẫn mở rộng với một tốc độ
như những năm trước, và lãi suất thấp hơn mức bình thường đã dẫn đến khối lượng cho vay tăng
đột biến do nhu cầu tăng của khách hàng, những lợi nhuận ngắn hạn được tăng cường hơn nữa
cho các tổ chức cho vay.
   Tuy nhiên, do lạm phát ở Mỹ tăng từ 1.6% trong 2002 đến 2.3% trong 2003, 2.7% trong
2004, 3.4% trong 2005, lên đến đỉnh điểm 4.3% trong 2006 nên cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED)
đã tăng dần dần mức lãi suất từ 1% năm 2004 đến 5.25% năm 2006 và giữ nguyên mức đó đến
đầu năm 2008. Điều này dẫn đến sự xuất hiện những vết nứt đầu tiên trong thị trường nhà đất.
Một số người đi vay, đặc biệt là những người đi vay với mức lãi suất có thể điều chỉnh (ARM),
bắt đầu cảm thấy lo lắng vì lãi suất tăng quá cao sẽ làm giảm khả năng chi trả của họ, và cuối
cùng họ không thể trả được nợ thế chấp dẫn đến bị tịch thu tài sản. Số lượng tài sản thế chấp bị
tịch thu tăng lên khá nhanh từ 885000 trong 2005 đến 1259118 trong 2006, 2203295 trong 2007
                                               15



và 3157806 trong 2008. Chính việc phát mãi làm cho lượng cung nhà không ngừng tăng lên, dẫn
đến giá nhà giảm góp phần tạo ra nhiều hơn nữa các vụ vỡ nợ có thế chấp bằng bất động sản (thị
trường nhà đất diễn biến theo hướng mất cân bằng). Điều này càng làm gia tăng việc phát mãi
dẫn đến giá thị trường của các khoản thanh toán thế chấp giảm làm cho nhiều ngân hàng và các
định chế tài chính khác rơi vào tình trạng bấp bênh, khó có thể trụ vững được và họ buộc phải
thắt chặt tín dụng làm cho hoạt động kinh tế chậm lại, thất nghiệp gia tăng. Nền kinh tế có chiều
hướng đi xuống, thất nghiệp tăng càng làm gia tăng tỷ lệ vỡ nợ, thúc đẩy hơn nữa việc phát mãi.
Và điều này cứ thế diễn ra trong một vòng lẩn quẩn. Kết quả là nhiều ngân hàng đã đề nghị Cục
dự trữ liên bang Mỹ (FED) tung ra một gói cứu trợ tài chính có giá trị hàng trăm tỉ USD để làm
tăng tính thanh khoản vào mùa hè 2007.
   Các nhà đầu tư đã nhận thấy được rằng: các vụ vỡ nợ có thể lan rộng sang các khoản vay thế
chấp còn lại nên chi phí để bù đắp cho rủi ro hệ thống tăng lên làm giảm giá các khoản nợ. Giá
các khoản nợ giảm theo hệ thống làm cho rủi ro hệ thống tăng hơn nữa cùng lúc đó khoản bù đắp
cho rủi ro hệ thống cũng tăng cao.
   Và chu trình này ngày càng trở nên trầm trọng hơn với sự thất bại của nhiều tổ chức tài chính
lớn như là Bear Stearns, FNMA, FHLMC, Lehman Brothers, và AIG. Đây là thất bại có liên
quan đến việc đầu tư của những tổ chức này vào các hợp đồng nợ thuộc nhiều loại khác nhau mà
giá trị của chúng đã giảm đến mức các khoản nợ đã vượt quá tổng giá trị tài sản hiện có của
doanh nghiệp tính theo giá thị trường, dẫn đến khủng hoảng tính thanh khoản, trở thành chất xúc
tác cho sự sụp đổ. Chính tính thanh khoản thấp càng gây ra nhiều sự vỡ nợ hơn. Và những thiệt
hại từ vỡ nợ thế chấp dưới chuẩn đã vượt quá các khoản phí bảo hiểm tín dụng mà các công ty
bảo hiểm nhận được trước đó.
   Do ngày càng có nhiều tổ chức bị sụp đổ, khoản bù đắp rùi ro tín dụng (rủi ro đối tác) trên thị
trường tăng cao hơn bao giờ hết và các công ty bảo hiểm bị yêu cầu thêm khoản ký quỹ. Thanh
khoản thấp, vỡ nợ tăng cao càng làm tăng thêm khoản bù đắp rủi ro tín dụng trong một vòng lẩn
quẩn. Mặc dù Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã nỗ lực can thiệp bằng cách đưa ra một lượng
tiền mặt cần thiết nhưng khoản bù đắp rủi ro tín dụng vẫn không ngừng gia tăng.
   Khủng hoảng tín dụng dẫn đến một sự suy giảm nghiêm trọng của thị trường chứng khoán
khiến công chúng hoảng sợ và yêu cầu các nhà lãnh đạo chính phủ cứu trợ cho các tổ chức tài
                                                  16



chính đang lâm nguy vào mùa thu năm 2008. Niềm tin của người tiêu dùng đã giảm sút một cách
trầm trọng. Chính yếu tố này cùng với sự thắt chặt tín dụng từ những tiêu chuẩn lỏng lẻo ban đầu
cũng như sự vỡ nợ tài sản thế chấp gia tăng đã gây ra một sự suy giảm nghiêm trọng trong chi
tiêu tiêu dùng và kết quả tất yếu là suy thoái kinh tế.
   Do mức độ vỡ nợ ngày càng gia tăng nên vấn đề định giá sai phí bảo hiểm tín dụng có thể sẽ
được phóng đại hơn nữa, đặc biệt là đến năm 2009 các khoản chi trả cho một lượng lớn ARMs
sẽ tăng cao và sẽ tiếp tục tác động tiêu cực đến khả năng chi tiêu tiêu dùng. Kết quả có thể dẫn
đến sự suy giảm hơn nữa niềm tin và chi tiêu của người tiêu dùng, làm cho suy thoái càng thêm
trầm trọng. Cuộc khủng hoàng tín dụng rơi vào một vòng lẩn quẩn và có thể làm cho nền kinh tế
rơi vào suy thoái kéo dài. Tất cả những điều này đã tạo nên cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ.

   3.2 Giải pháp khả thi cho khủng hoảng

   Để giải cứu nền kinh tế, chính phủ Mỹ đã chi đến hơn 3000 tỉ USD (còn có thể hơn thế nữa)
cho các gói cứu trợ tài chính cho nền kinh tế. Tuy nhiên, các gói cứu trợ này dường như không
có hiệu quả tốt, không đáp ứng tốt nhu cầu bách thiết của nhiều tổ chức. Do đó cần đề ra được
các chính sách, biện pháp khác hiệu quả và tiết kiệm hơn. Trong bài viết của mình vào 2008,
Austin Murphy đã đưa ra một số giải pháp như sau:

   3.2.1 Quốc hữu hóa các tổ chức tín dụng có khả năng phục hồi:

   Trong bối cảnh kinh tế đang trong tình trạng suy thoái, khủng hoảng thanh khoản càng làm
cho tình trạng thêm khó khăn. Mặt khác, như là một đặt trưng, các tổ chức tín dụng thường sụp
đổ theo dây chuyền. Do đó, một biện pháp khả thi được đưa ra là quốc hữu hoá các tổ chức tín
dụng còn có khả năng phục hồi. Lúc này, việc tái cơ cấu lại các tổ chức này sẽ được thực hiện
trên cơ sở tiềm lực tài chính mạnh mẽ từ ngân sách chính phủ và sự giám sát chặt chẽ của các cơ
quan công quyền. Đồng thời, sau khi quốc hữu hoá các tổ chức này vẫn duy trì được hoạt động
(sản lượng và việc làm) nếu họ có cơ hội khôi phục lại. Biện pháp này có thể tránh được tình
trạng cứu trợ tràn lan gây lãng phí tiền của của nhân dân, chính phủ có thể chọn đích danh từng
đối tượng đứng trước nguy cơ sụp đổ nhưng còn có khả năng hồi phục. Đồng thời, biện pháp này
                                                17



còn có khả năng ngăn ngừa sự sụp đổ hệ thống (gây rủi ro hệ thống cho thị trường) khi các tổ
chức trụ cột của nền kinh tế được giải cứu.

       3.2.2   Tài trợ bằng hợp đồng thế chấp SAM (Shared Appreciation Mortgage):

       Khi bong bóng nhà đất nổ tung, giá nhà sụp giảm nghiêm trọng, số lượng người đi vay không
thể chi trả ngày càng gia tăng. Hoạt động tịch thu và phát mãi nhà làm tăng lượng cung nhà càng
đẩy giá nhà giảm sâu hơn. Lúc này, để tránh phải gánh chịu nhiều chi phí phát mãi một loại thế
chấp mới gọi là SAM đã được các ngân hàng phát hành. Với SAM một hợp đồng vay mới sẽ
được lập lại, người đi vay sẽ chỉ phải trả số nợ gốc bằng giá nhà hiện tại với một lãi suất thấp
hơn. Tuy nhiên, trong tương lai nếu giá nhà tăng lên thì ngân hàng sẽ hưởng một phần tuỳ theo
thoả thuận trong hợp đồng SAM. Điều này làm cho người đi vay vẫn có cơ hội có nhà ở và ngân
hàng cũng có cơ hội giảm thiệt hại trong tương lai.

       3.2.3 Quản lí chặt chẽ hoạt động bán khống (Short sale):

       Khi thị trường chứng khoán Mỹ sụp đổ, giá chứng khoán đi xuống mạnh mẽ. Xu hướng này
chính là điều kiện lí tưởng cho hoạt động short sale – vốn bị cấm sau đại khủng hoảng 1929 –
1933 và được chính phủ Mỹ khơi thông vào năm 2000. Hoạt động này làm cho giá chứng khoán
nhanh chóng rơi về zero nếu tổ chức đang thiếu tính thanh khoản. Ngược lại việc giá chứng
khoán giảm lại làm cho các tổ chức không thể thực hiện việc huy động vốn để giải quyết tình
trạng hiện tại và dẫn đến nhanh chóng sụp đổ, ngay với các tổ chức đang có giá trị tài sản lớn
hơn nghĩa vụ nợ của mình. Trong bối cảnh như vậy, việc cấm hoạt động bán khống chứng khoán
và bắt buộc phải thực hiện chuyển nhượng làm cho các nhà đầu tư đã thực hiện việc bán khống
phải mua lại chứng khoán để thực hiện chuyển nhượng. Do đó tạo cơ hội cho giá chứng khoán đi
lên.
       Trong bối cảnh khủng hoảng, niềm tin cùa người tiêu dùng sụt giảm nghiêm trọng. Tuy
nhiên, với mức độ phát triển cao của các ngành như công nghiệp oto hay xây dựng nhà ở…đang
có sự dư thừa lớn trong khả năng sản xuất và lợi nhuận biên khổng lồ. Do đó, tín dụng nên được
cấp tối đa cho bất cứ người mua nào có mức thiệt hại do không thể chi trả dưới mức 3% (nhỏ
hơn tổng lợi nhuận biên (sau các khoản chi phí khả biến) kiếm được từ việc bán hàng). Nhờ việc
                                               18



nới lỏng tín dụng này sẽ làm tăng lượng cầu thực, kéo theo gia tăng sản xuất và lợi nhuận mà
không cần tới gói cứu trợ của chính phủ.
   Phần lớn các gói kích cầu của chính phủ tung ra đều dùng để tiết kiệm hoặc tài trợ cho việc
chi trả nợ. Do đó, chính phủ còn phải chi nhiều hơn nữa để thay đổi tâm lí đang hoảng sợ của
người tiêu dùng đồng thời đầu tư vào các lĩnh vực như giáo dục, y tế, môi trường, cơ sợ hạ
tầng…Chi tiêu của chính phủ có thể được tận dụng để bù đắp phần nào sự suy giảm trong sản
lượng và việc làm do sự thất bại của các tổ chức tài chính cũng như các tập đoàn kinh tế khác.


                                Phần 4: Tác động đến Việt Nam


   Tác động trực tiếp đối với nền kinh tế Việt Nam thì không lớn, vì chưa có định chế tài chính
nào của Việt Nam đầu tư vào trái phiếu MBS, CDO, CDS và các hợp đồng cho vay cầm cố như
ở Mỹ. Tuy nhiên khủng hoảng tài chính ở Mỹ cũng có những tác động nhất định đến nền kinh tế
Việt Nam, vì kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn chiếm 30% tổng sản lượng, chu chuyển vốn thị
trường thế giới. Trong điều kiện hiện nay, tất cả các quốc gia đều đã hội nhập nên “nhất cử, nhất
động” của một nền kinh tế nào đó cũng có ảnh hưởng nhất định đối với thế giới, chưa nói tới một
nền kinh tế lớn như Mỹ. Vậy nên tác động gián tiếp lại khá mạnh, có thể thấy được những ảnh
hưởng nhất định của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đối với nền kinh tế Việt Nam qua một số lĩnh
vực như sau:

   5.1 Xuất khẩu:

   Trong lĩnh vực thương mại, một khi mà người tiêu dùng Mỹ thắt chặt hầu bao thì nhiều nền
kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi từ xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Với Việt
Nam cũng vậy, hiện nay 60% GDP của chúng ta là để phục vụ cho xuất khẩu, mà Mỹ là thị
trường nhập khẩu quan trọng các mặt hàng dệt may, da giày, thuỷ sản của Việt Nam. Khủng
hoảng tài chính của Mỹ làm cho xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ giảm mạnh vì hai lý do: thứ
nhất là hàng xuất khẩu của Việt Nam một phần lớn vẫn là các loại hàng thô, trong khi giá các
nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm, kể cả khi không có khủng hoảng ở Mỹ, và thứ
hai là sự eo hẹp của thị trường tài chính dẫn đến eo hẹp thị trường nhập khẩu hàng hóa, nhu cầu
                                               19



về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm đi. Mỹ là một nền kinh tế 70% tiêu dùng. Một khi mà
người tiêu dùng Mỹ thắt chặt hầu bao, không còn vung tiền chi tiêu mua sắm ôtô, tivi, tủ lạnh,
thực phẩm... thì các nền kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi từ xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp rất
nhiều khó khăn.
   Từ tháng 9 năm 2008, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toán cầu
đã bắt đầu thể hiện trong hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Hầu hết các mặt
hàng xuất khẩu đồng loạt giảm giá mạnh, đặc biệt ở mặt hàng dầu thô, nông sản, thủy
sản…Trong hai tháng cuối năm, lượng đơn hàng từ đối tác nước ngoài của nhiều ngành hàng bị
hủy bỏ hoặc sụt giảm, tiêu biểu như dệt may giảm khoảng 20% - 30% về số đơn hàng và giá,
thủy sản giảm khoảng 30% đơn hàng…

   5.2 Vốn đầu tư:

   Dưới tác động của khủng hoảng, chi phí vốn đắt đỏ và thị trường xuất khẩu có khả năng bị
thu hẹp nên dòng vốn đầu tư chảy vào Việt Nam có khả năng sẽ giảm sút. Thêm vào đó, hầu hết
các dự án đầu tư và phần nợ vay thường chiếm một tỷ phần rất lớn trong tổng vốn đầu tư nên khi
mà các tổ chức tài chính đang gặp khó khăn làm cho nhiều hợp đồng vay vốn sẽ không được ký
kết hoặc không thể giải ngân.
    Nhìn nhận ở góc độ toàn cầu, phần lớn các công ty có vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam là
các tập đoàn đa quốc gia với hoạt động trên toàn cầu. Do đó các công ty này cũng không nằm
ngoài tác động của khủng hoảng, trước tình hình đó các công ty dần cắt giảm đầu tư, thậm chí rút
vốn để giải nguy cho công ty mẹ làm cho một lượng không nhỏ USD ra khỏi Việt Nam. Hơn nữa
do nhu cầu tiêu thụ sụt giảm nên việc giải ngân vốn sẽ chậm lại đáng kể.
    Việt Nam có khoảng 2 triệu người sống ở hải ngoại trong đó có 1.3 triệu người đang sinh
sống ở Mỹ - cái nôi của cuộc khủng hoảng hiện tại. Trong thời buổi sản xuất bị cắt giảm, một số
người có khả năng bị mất việc làm hay chí ít là thu nhập bị giảm sút. Do đó lượng kiều hối về
Việt Nam cũng suy giảm nhiều.

   5.3 Việc làm
                                               20



   Kinh tế thế giới chao đảo đã hình thành “cơn lốc sa thải” với tốc độ lây lan nhanh chóng.
Nhiều doanh nghiệp, tập đoàn sừng sỏ đã phải đóng cửa các nhà máy, cắt giảm nhân công, rút
vốn đầu tư… hậu quả là theo báo cáo của ILO “Các xu hướng việc làm toàn cầu (GET) 2009” đã
đưa ra ba kịch bản theo đó tình trạng thất nghiệp toàn cầu trong năm 2009 so với năm 2007 có
thể gia tăng trong khoảng từ 18 triệu, 30 triệu cho tới hơn 50 triệu người lao động mất việc nếu
tình hình tiếp tục xấu đi.
   Nhiều người cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính đang ở tầm xa, ảnh hưởng của nó đến Việt
Nam sẽ không lớn. Tuy nhiên, trên phương diện này, khi xét về thị trường lao động trong nước,
chúng ta cũng cần nhìn nhận một cách tỉnh táo. Một thực tế không thể phủ nhận đang diễn ra ở
Việt Nam là tình trạng dư thừa lao động giản đơn nhưng đang rất thiếu lao động có trình độ
chuyên môn, có kinh nghiệm quản lý. Trong giai đoạn khó khăn như hiện nay, những lao động
giản đơn sẽ là những người đầu tiên nằm trong danh sách cắt giảm.
   Đồng thời Việt Nam cũng xuất khẩu một lượng lớn lao động nên với tình trạng cắt giảm sản
xuất như hiện nay số người đi xuất khẩu lao động cũng giảm đáng kể.


                                             Lời kết:


   Thông qua việc nghiên cứu về nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng tài chính 2008, ta có thể
đưa ra những giải pháp khả thi cho khủng hoảng đồng thời thấy được vai trò vô cùng quan trọng
từ phía nhà quản lí nói chung và nhà đầu tư nói riêng- những người đã đưa ra những quyết định
thiếu cân nhắc do quá tin tưởng vào các công ty xếp hạng tín dụng. Và một lời khuyên là những
giám đốc tài chính trong tương lai cần phải được đào tạo kỹ lưỡng và bài bản hơn nữa trong nghệ
thuật phân tích tín dụng để đưa ra những quyết định thật chính xác góp phần bình ổn thị trường.

								
To top