Docstoc

Phân tích kỹ thuật cac chi so

Document Sample
Phân tích kỹ thuật cac chi so Powered By Docstoc
					Phân tích kỹ thuật (12) - Bollinger Band - Dải băng Bollinger Bầu chọn của người dùng: / 12 Nghèo nàn Tốt nhất Người viết: Mai Thanh Trung 14/08/2007 Tiếp theo bài trước bàn về độ lệch chuẩn, bài này sẽ giới thiệu một phương pháp sử dụng độ lệch chuẩn là dải băng Bollinger (Bollinger Bands) của tác giả John Bollinger. Xem trước
  

Phân tích kỹ thuật (11): Độ lệch chuẩn Phân tích kỹ thuật (2): Trung bình động và xu thế. Phân tích kỹ thuật (1): Tổng quan.

1. Tính toán
Về tính toán và vẽ đồ thị, dải băng Bollinger sử dụng độ lệch chuẩn và được vẽ bởi hai đường đồ thị trên cùng đồ thị giá của cổ phiếu: một đường goi là băng trên (upper band) và một đường gọi là băng dưới (lower band):
 

Băng trên được vẽ bởi giá cổ phiếu cộng với độ lệch chuẩn. Băng dưới được vẽ bởi giá cổ phiếu trừ đi độ lệch chuẩn.

Về cách tính độ lệch chuẩn, xem bài Phân tích kỹ thuật (11): Độ lệch chuẩn

2. Ý nghĩa
Trong bài viết về độ lệch chuẩn đã chỉ ra xác suất giá cổ phiếu nằm trong dải băng Bollinger là xấp xỉ 70%. Nếu giá cổ phiếu không nằm trong dải băng Bollinger, tức là thuộc về phần xác suất 30% còn lại thì các tín hiệu này cần phải chú ý.




Khi sức tăng của giá quá mạnh, cầu lớn hơn cung nhiều, giá cổ phiếu sẽ vượt quá băng trên (upper band). Nếu giá cổ phiếu liên tục nằm trên dải băng trên thì điều này có nghĩa là sức tăng giá của cổ phiếu vẫn rất mạnh và được khẳng định chắc chắn. Khi sức giảm của giá quá mạnh, cung lớn hơn cầu nhiều, giá cổ phiếu sẽ đi thấp hơn băng dưới (lower band). Nếu giá cổ phiếu liên tục nằm dưới dải băng dưới thì điều này có nghĩa là sức giảm giá của cổ phiếu vẫn rất mạnh và được khẳng định chắc chắn.

Nếu giá cổ phiếu vượt ra ngoài dải băng bollinger rồi trở lại vào trong dải băng ngay sau đó thì đây là tín hiệu cảnh báo về sự suy giảm sức mạnh của tăng hoặc giảm giá khi sự tăng hoặc giảm giá đã đạt đến sự căng thẳng quá mức. Điều này giống như sự bùng phát

cuối cùng rồi lịm dần của sự sống vào thời điểm hấp hối.

3. Cách sử dụng:
Dựa vào giá vượt ra ngoài dải bollinger: khi giá cổ phiếu vượt ra ngoài dải Bollinger và tiếp tục nằm ở ngoài dải thì xu thê tăng hoặc giảm giá hiện tại sẽ tiếp tục:
 

Nếu giá nằm quá dải trên (upper band) và kéo dài liên tục thì tín hiệu này khẳng định xu thế tăng sẽ tiếp tục tăng mạnh. Nếu giá nằm dưới dải dưới (lower band) và kéo dài liên tục thì tín hiệu này khẳng định xu thế giảm sẽ tiếp tục giảm mạnh.

Dựa vào giá vượt ra ngoài dải bollinger rồi quay trở lại nằm trong dải:




Nếu giá cổ phiếu vượt quá dải trên (upper band) rồi sau đó thiết lập một đỉnh giá khác nằm trong dài bollinger thì tín hiệu này cảnh báo sự chấm dứt xu thế tăng giá hiện tại và chuyển sang xu thế giảm hoặc dập dềnh. Tín hiệu này sẽ là cảnh báo đảo chiều sang giảm và được khẳng định chắc chắn hơn nếu sau đó giá cổ phiếu rớt xuống dưới đường trung bình động tương ứng của dải băng Bollinger Band. Nếu giá cổ phiếu xuống dưới dải dưới (lower band) rồi sau đó thiết lập một đáy giá khác nằm trong dài bollinger thì tín hiệu này cảnh báo sự chấm dứt xu thế giảm giá hiện tại và chuyển sang xu thế tăng hoặc dập dềnh. Tín hiệu này sẽ là cảnh báo đảo chiều sang tăng và được khẳng định chắc chắn hơn nếu sau đó giá cổ phiếu vượt lên trên dưới đường trung bình động tương ứng của dải băng Bollinger Band.

Tuy nhiên để có kết luận chính xác hơn về các dấu hiệu đảo chiều này, cần phải có sự kết hợp với các phương pháp phân tích khác. Xét ví dụ về công ty Cổ phần Vận Tải Hà Tiên – HTV sử dụng Dải băng bollinger tính trong 20 phiên.

Nhấn để xem kích thước thật Nguồn đồ thị http://www.vietstock.com.vn


 



Tại các thời điểm xác định bằng các đường kẻ màu đỏ và xanh, giá cổ phiếu đã vượt quá băng trên (upper band) hoặc xuống thấp hơn băng dưới (lower band), nếu so sánh lên đồ thị RSI sẽ thấy các thời điểm này tương ứng với các ngưỡng siêu mua và siêu bán. Điều này khẳng định sức tăng (hoặc giảm giá) hiện tại là rất mạnh. Đặc biệt trong giai đoạn tháng 2, các đỉnh của giá liên tục được thiết lập cao hơn băng trên (upper band) khẳng định sức tăng giá rất mạnh và còn tiếp diễn dài trong giai đoạn này. Tại các vùng được khoanh tròn là các tín hiệu giá cổ phiếu vượt ra ngoài dải băng bollinger rồi trở lại vào trong dải băng này. Vòng tròn số 1 và số 4 là khoảng thời gian mà một đỉnh của giá cổ phiếu được thiết lập nằm trên băng trên và một đỉnh tiếp theo sau đó được thiết lập nằm trong dải băng bollinger. Tín hiệu này cảnh báo về sự đảo chiều của giá cổ phiếu sang giảm và càng được khẳng định chắc chắn hơn khi giá cổ phiếu đi xuống dưới đường trung bình động SMA-20. Vòng tròn số 2 và số 3 là khoảng thời gian mà một đáy của giá cổ phiếu được thiết lập nằm thấp hơn băng dưới và một đdáy tiếp theo sau đó được thiết lập nằm trong dải băng bollinger. Tín hiệu này cảnh báo về sự đảo chiều của giá cổ phiếu sang tăng. Tuy nhiên vòng tròn số 3 được khẳng định chắc chắn và có sức tăng mạnh mẽ hơn vì giá cổ phiếu sau đó đã xuyên phá và vượt lên trên đường trunh bình động SMA – 20.

Ichimoku

Kinko Hyo Written by Administrator Monday, 11 August 2008 06:49 Giới thiệu Là một kỹ thuật đồ thị của người Nhật được tạo ra trước thế chiến thứ 2 và được sử dụng để ngắm vẽ chân dung. Nó có thể định được hướng đi tiếp theo của đường giá và khi đó nó sẽ báo cho chúng ta khi nào nhảy vào hay thóat ra khỏi thị trường. Đây là chỉ báo độc lập không cần sự giúp đỡ của các kỹ thuật phân tích nào khác. Cái từ Ichimoku có nghĩa là "cái nhìn thóang qua", Kinko có nghĩa là "trạng thái cân bằng" giữa giá và thời gian còn Hyo theo tiếng Nhật có nghĩa là "đồ thị". Ichimoku Kinko Hyo có nghĩa là "Cái nhìn thóang qua về sự cân bằng của đồ thị giữa giá và thời gian". Nó có cái nhìn bao quát về giá và dự đóan hướng đi đến 1 vị trí mới khá vững chắc. Chỉ số này được sáng chế bởi 1 phóng viên báo của Nhật với bút danh là "Ichimoku Sanjin" nó có nghĩa là "người đàn ông vượt núi". Đồ thị Ichimoku đã trở thành công cụ khá phổ thông cho các nhà đầu tư Nhật, không chỉ riêng cho thị trường cổ phiếu mà nó còn được sử dụng cho currency, bond, futures, commodity và options markets cũng rất tốt. Đây là 1 kỹ thuật được công bố cách đây 30 năm nhưng trong những năm gần đấy mới thật sự gây được chú ý bởi lợi ích mà nó đem lại.

Cấu tạo Đồ thị Ichimoku gồm có 5 đường. Tính tóan chủ yếu cho 4 đường này bao hàm: điểm giữa, cao, thấp và đường trung bình đơn giản. Bây giờ để đơn giản hóa, đồ thị được hòan tất phải phản ánh được triển vọng của sự biến động giá. 5 đường được biểu thị trên hình vẽ trên và được tính tóan như sau: 1. Tenkan-Sen = Conversion Line = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 9 phiên 2. Kijun-Sen = Base Line = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 26 phiên 3. Chikou Span = Lagging Span = Giá đóng cửa hôm nay, được vẽ cho 26 phiên sau 4. Senkou Span A = Leading Span A = (Tenkan-Sen + Kijun-Sen) / 2, được vẽ cho 26 phiên đầu 5. Senkou Span B = Leading Span B = (Highest High + Lowest Low) / 2, sử dụng cho 52 phiên, được vẽ cho 26 phiên đầu. Kumo = Cloud = Area between Senkou Span A and B. Ichimoku sử dụng 3 phiên chủ yếu theo chuẩn: 9, 26 và 52. Khi xưa Ichimoku được tạo ra (vào năm 1930) lúc đó 1 tuần giao dịch 6 ngày và chuẩn được chọn tương ứng là:

1tuần rưỡi, 1 tháng và 2 tháng. Nhưng bây giờ 1 tuần hiện chỉ giao dịch có 5 ngày thì chuẩn được chọn thay đổi tương ứng là: 7, 22 và 44 phiên. Diễn giải Như chúng ta đã thấy, theo công thức tính tóan Ichimoku thì nó là 1 thể đơn giản của đường trung bình (Moving Average). Và cũng giống như đường trung bình, những tín hiệu mua bán được xác định qua kỹ thuật giao cắt giữa các đường: Tính hiệu tăng giá (bullish) khi Tenkan-Sen cắt Kijun-Sen từ dưới lên. Ngược lại tính hiệu giảm giá (bearish) khi Tekan-Sen cắt Kijun-Sen từ trên xuống. Ngòai ra, có những vùng biểu hiện cường độ khác nhau cho tín hiệu mua và bán của đồ thị Ichimoku. Nếu có 1 tín hiệu tăng giá được xác định bởi kỹ thuật giao cắt (tín hiệu cắt tăng giá) thì tại thời điểm đó đường giá phải nằm trên đám mây Kumo đây là 1 tín hiệu mua khá chắc chắn (rất mạnh). Trái lại nếu có 1 tín hiệu cắt giảm giá tại thời điểm đó đường giá nằm dưới đám mây Kumo thì đây là tín hiệu bán rất mạnh. Thứ 2 là 1 tín hiệu mua bán bình thường xày ra nếu đường giá nằm lân cận với đám mây Kumo và khi đường giá nằm trong đám mây Kumo này. Thứ 3 là 1 tín hiệu yếu xuất hiện nếu có 1 tín hiệu cắt tăng giá xuất hiện trong khi đó đường giá nằm phía dưới đám mây Kumo . Một cách khác 1 tín hiệu yếu xảy ra nếu có 1 tín hiệu cắt giảm giá xuất hiện trong khi đó đường giá nằm trên Kumo. Một chú ý đáng quan tâm là kỹ thuật đồ thị Ichimoku chỉ ra sự gắn bó giữa mức hỗ trợ (support) và mức kháng cự (resistance). Đây là những mức có thể dự báo trước xu hướng nhờ công cụ Kumo. Kumo có thể sử dụng để nhận diện xu hướng phổ biến của thị trường. Nếu đường giá nằm trên Kumo và xu hướng phổ biến sẽ nói rằng thị trường sẽ tăng. Và nếu đường giá nằm dưới Kumo thì xu hướng phổ biến sẽ là giảm. Phần cốt lõi của kỹ thuật Ichimoku là Chikou Span. Đây là đường được sử dụng để đo cường độ tín hiệu mua và bán. Nếu Chikou Span nằm dưới đường giá và tín hiệu bán xảy ra thì khi đó cường độ bán của thị trường là rất lớn. Nếu không nó sẽ là 1 tín hiệu yếu. Ngược lại nếu tín hiệu mua xầy ra và Chikou Span nằm trên đường giá thì khi đó thị trường sẽ tăng (upside). Nếu không nó sẽ là 1 tín hiệu mua yếu. Đây là 1 chỉ báo tổng hợp để hình thành các tín hiệu khác. Ứng dụng Phần lớn Phân tích kỹ thuật truyền thống dựa vào giá mở cửa, cao nhất, thấp nhất, đóng cửa và đường trung bình giá. Mặt khác cũng có thể sử dụng sự giao động của đường giá trong khi những số Fibonacci có 1 tỉ lệ cố định. Nhưng cùng cho 1 kết quả chung là mức hỗ trợ và kháng cự luôn được thể hiện như 1 điểm hoặc 1 đường. Với đồ thị Ichimoku thì Kumo là mức hỗ trợ hay kháng cự khá vững chắc và nó còn có thể sử dụng để tiên đóan trước các mức được hình thành trong tương lai. Vì vậy nó rất quan trọng với mức hỗ trợ/kháng cự thông qua sự xuất hiện của Kumo là những đám mây nhấp nhô. Sau đây là ví dụ minh họa:

Theo ví dụ trên chúng ta thấy tín hiệu bán xuất hiện 9/4/2007 với 2 mũi tên màu xanh (như trên hình vẽ) vì đường giá đã xuyên qua mức hỗ trợ Kumo. Sau đó đường giá tiếp tục xu hướng đi xuống và nằm phía dưới đám mây Kumo. Tín hiệu mua xuất hiện 21/5/2007 với 2 mũi tên màu đỏ (hình vẽ) vì đường giá đã xuyên qua mức kháng cự Kumo và tiếp tục xu hướng đi lên, và mức hỗ trợ mới được hình thành bởi đám mây Kumo như trên hình vẽ. Ứng dụng xác định điểm mục tiêu của Fib Written by shadowprincess Thursday, 09 October 2008 21:44 Cách dùng tiếp theo của Fib mà các bạn nên áp dụng là các xác định các điểm mục tiêu target. Cũng như retracement, sẽ có những công cụ giúp các bạn làm hết công việc này nhưng mình vẫn muốn các bạn hiểu các bước tính toán sau. Bạn sẽ luôn có khả năng có 3 điểm mục tiêu. Bạn lựa chọn điểm nào phụ thuộc vào điều

kiện thị trường và những tiêu chuẩn cụ thể. Các điểm này được tính toán bằng cách đo khoảng cách giữa A, B, và C. Với C là điểm thấp gần nhất trong giai đoạn retracement trước khi thị trường đi lên trong một uptrend. Ngược lại trong downtrend thì C là điểm cao gần nhất trước khi thị trường tiếp tục đi xuống. Những phép tính toán cho điểm mục tiêu là như sau: Mục tiêu 1: 0.618* (B-A) +C Mục tiêu 2: B - A +C Mục tiêu 3: 1.618 * ( B - A) + C Time frame - khung thời gian và sự quan trọng của khung thời gian trong fx Written by shadowprincess Wednesday, 08 October 2008 18:43 Có thể nói time frame là một yếu tố rất quan trọng. Hiểu được timeframe tương tự như việc bạn biết bạn nên sống ở đâu. Ko có khung thời gian nào là đúng, chỉ có khung thời gian khiến bạn cảm thấy thoải máy hay ko. Nếu bạn hỏi ai đó là hiện nay cặp EUR/USD đang theo xu hướng gì thì điều đầu tiên người ấy sẽ phải tìm hiểu xem là bạn đang nói đến khung thời gian nào. Vì đối với 1 trader theo ngày xu hướng có thể là lên nhưng đối với 1 trader theo giờ xu thế lại là xuống. Chúng ta hãy đi sâu hơn nữa vào vấn đề này. Một vài charts có thể quan sát theo daily chart tức là nếu bạn nhìn vào 1 thanh ( theo bar chart) hoặc 1 nến ( theo candlestick) thì thanh đó sẽ bao hàm mọi diễn biến chủ chốt xẩy ra trong ngày. Các bạn có thể thấy 4 chỉ số High, low, open , close khi nhấp vào thanh đó. 4 chỉ số này còn thường được gọi là OHLC. 4 chỉ số này ý chỉ Điểm open : điểm mở của thị trường trong khung thời gian bạn chọn ( ở đây là điểm thị trường mở trong ngày), điểm high điểm cao nhất, điểm low điểm thấp nhất, điểm close điểm đóng thị trường. 4 chỉ số này ở mỗi loại chart lại khác nhau VD: OHLC của 4 hour sẽ khác với OHLC của low chart. tương tự với các chart khác. cần phải 5 thanh hoặc 5 nến của thanh 1 phút mới có thể tạo được thành một thanh hoặc 1 nên của 1 khung 5'. Vì thế ko thể nói xu thế đi theo hướng nào nếu bạn ko biết khung thời gian bạn đang trade là gì. Nếu bạn trading chart 5' bạn có thể sẽ thấy chảt nay đang lên hầu như cả ngày và kiếm tiền rồi chỉ để thấy chart đó lại đóng ở mức thấp hơn trong ngày. Do vậy theo mình bạn nên trade với khung thời gian dài hơn khi mới trade, vì chart 5 phút thường khiến nhiều trader mới cám thấy bị đuổi khi đưa ra quyết định. Cũng nên chú ý rằng ko có 1 khung gian nào mà giúp kiếm nhiều tiền hơn khung thời gian khác. Lý do mà một trader bất kì chọn trade khung thời gian theo tuần (weekly) chứ ko phải là 5 phút ( 5mins) thì đơn thuần vấn đề chỉ là sự lựa chọn của cá nhân và theo tùy tình huống. Ưu điểm duy nhất mà bạn có thể có nếu bạn dùng khung thời gian nhỏ để trade là bạn có thể tận dụng mức use of margin tốt hơn, vì bạn có mức stop loss gần hơn rất nhiều so với điểm entry của bạn.

Trong bài viết này mình chỉ nói về time frame một cách chung chung và ko muốn đi sâu về việc khuyên các bạn lựa chọn time frame nào. Như mình nói hãy lựa chọn time frame khiến cho bạn cảm thấy thoải mái. Nhưng theo ý kiến của một vài trader kì cựu thì nên trade khung thời gian dài một chút khoảng 30' đến 1hr vì khung thời gian 5' thường quá nhanh và chứa đựng trong nó nhiều biến động,gây nhiễu, ko phản ánh đúng trend. Nói chung, một trong những bí mật của trading là giao dịch trong khung thời gian mà bạn cảm thấy thoải mái. Và đó cũng là một chức năng của thời gian và tiền bạc. MACD và MA Written by Administrator Monday, 11 August 2008 08:30 Các bạn có biết MACD và MA là 2 thông số mà các trader tin tưởng và xem nó như kim chỉ nam khi bắt tay vào giao dịch thay vì trade theo trực giác . Và sau đây là đôi nét về MACD và MA Phân kỳ và hội tụ của đường trung bình di động – MACD Công cụ chỉ báo MACD do Gerald Appel phát triển. Điều làm cho công cụ chỉ báo này hữu dụng đó là nó kết hợp một số nguyên tắc của dao động. Bạn có thể nhìn qua biểu đồ (ảnh). Đường di động nhanh hơn (gọi là đường MACD) là sự chênh lệch giữa hai đường trung bình di động san bằng hàm mũ của các mức giá đóng cửa (thường là 12 và 26 ngày hoặc tuần vừa qua). Đường di động chậm hơn (gọi là đường tín hiệu) thì thường sử dụng trung bình di động san bằng hàm mũ 9 kỳ của đường MACD. Các tín hiệu mua và bán thực chất được đưa ra khi hai đường này cắt nhau. Khi đường MACD cắt hướng lên đường tín hiệu chậm hơn thì đó là tín hiệu mua. Khi đường MACD băng xuống dưới đường tín hiệu chậm hơn thì đó là tín hiệu bán. Trong ý nghĩa đó, đường MACD giống như cách thức cắt nhau của hai đường trung bình di động. Tuy nhiên, giá trị của đường MACD cũng dao động lên trên và xuống dưới đường zero. Đó là nơi nó bắt đầu tương đồng với một dao động. Tình trạng mua quá mức được thể hiện khi hai đường này nằm quá cao so với đường zero. Tình trạng bán quá mức là khi hai đường này nằm quá thấp so với đường zero. Tín hiệu mua tốt nhất được đưa ra khi những đường giá nằm nhiều dưới đường zero (tức là đang bị bán quá mức). Những điểm băng lên trên hay xuống dưới đường zero là cách thức khác để tạo ra các tín hiệu mua và bán tương ứng, tương tự với kỹ thuật momentum. Sự sai lệch xuất hiện giữa xu hướng của các đường MACD và đường giá. Một sự sai lệch âm hay sai lệch thị trường đầu cơ giá xuống xuất hiện khi các đường MACD nằm xa phía trên đường zero (mua quá mức) và bắt đầu yếu đi mặc dù giá vẫn tiếp tục xu hướng tăng cao hơn. Đó thường là một lời cảnh báo của đỉnh thị trường. Khi dùng mắt để nhận định ra đường support và resistance thì ngư ời mua bán thường có xu hướng nhận định hai đường này theo ao ước của họ. Vì lẽ đó, người mới tập dượt mua bán dễ nhận định được đường support, resistance nhưng lại khó thành công. Và cũng có những biểu đồ không thể tìm ra đường support và resistance vì giá lên xuống quá thất

thường, vì vậy bạn phải sử dụng cách nhận diện xu hướng khác: Đường trung bình: Moving average (MA). Đường MA là đường vẽ theo giá cả mà không có giao động hằng ngày. Lợi ích đầu tiên của nó là giúp bạn nhận định được xu hưóng (trendline) trong quá khứ của biểu đồ. Nhưng nếu chịu khó tìm hiểu và phân tích MA rõ ràng thì nó sẽ cho bạn rất nhiều thông tin quý giá, giúp bạn ước đoán được khi nào mua, chờ và bán cổ phiếu. Bạn cần phải nhận biết những phương pháp tính toán MA để sử dụng nó một cách hiệu quả. Đơn giản nhất là cách tính đường trung bình đơn giản (Arithmetic Moving Average hay Simple Moving Average). Cách tính toán kiểu này là lấy tổng số giá cả của giá trong một giai đoạn thời gian rồi chia đều ra từng ngày theo công thức sau : p = price = giá cả, thường là giá cuối ngày ; fixing price, nhưng người ta cũng có thể tính giá cao nhất (+high) , thấp nhất (+low), hay lúc mở màn (open) của một ngày. n= period = một giai đoạn mua bán, thông thường là từng ngày Muốn tính đường trung bình của 10 ngày (MA10) thì bạn lấy tổng số giá cả của 10 ngày chia cho 10 sẽ ra mức giá trung bình của ngày 11. Nếu bạn muốn tính số trung bình ngày thứ 12 thì bạn loại bỏ giá niêm yết ngày thứ nhất và thêm vào giá niêm yết của ngày thứ 11 rồi chia tiếp cho 10. Vì đường trung bình này thay đổi dữ liệu theo từng phiên giao dịch, bỏ giá ngày đầu tiên, thêm vào ngày cuối cùng nên người ta còn gọi là đường trung bình biến đổi hay là đường trung bình lưu động (Moving Average). Cách sử dụng MA: Công dụng tối ưu của MA là không ghi lại sự giao động răng cưa hằng ngày mà tạo ra một đường gần như là thẳng để bạn nhận định xu hướng đường đi giá cả trong quá khứ ngay khi bạn xem biểu đồ. Nhiều người như tỷ phú Soros-cây đại thụ trong phái đầu cơ bảo rằng: “Giá cả giá không phản ảnh đúng với kinh tế của công ty. Nó luôn giao động ở mức cao hơn hoặc thấp hơn”. Nếu muốn khai thác MA để mua bán chứng khoán thì chúng ta phải chấp nhận giả thuyết không phải lúc nào cũng đúng rằng: MA là mức giá thực của công ty vì nó là đường trung bình của những khoảng cao và thấp. Người ta dùng MA 200 cho công việc mua bán dài hạn, MA 50 để biết xu hướng mua bán ở một thời gian tương đối. Còn MA 5, MA 13 thì ưu tiên cho ngư ời nào muốn mua bán trong thời gian rất ngắn, kiểu swing hay day trading. Theo quy luật thông thường, khi mà giá cả cao hơn đường MA thì bạn nên mua vào vì MA cho ta dấu hiệu cổ phiếu đang tăng tưởng hơn trung bình, phe đầu tư tin tưởng vào giá này và nó đang lên. Đường MA có thể xem là đường Support.

Khuyết điểm của MA. Bạn chỉ khai thác những cách mua bán dựa vào MA khi giá có xu hướng tăng hoặc rớt rõ ràng và điều đặn, nếu nó lưng chừng mãi ở một luồng giá cả (channel) thì MA cho bạn những dấu hiệu sai lầm, bắt bạn bán và mua liên tục mà không kiếm được lợi nhuận đáng kể. Bởi vậy người ta khuyên rằng khi giá cả trên hay dưới MA 3% thì bạn mới nên mua hay bán. Khuyết điểm thứ hai là MA chỉ ra dấu hiệu mua bán khi biều đồ đã có xu hướng hẳn hòi. Những ai chỉ sử dụng MA mà không kèm thêm những cách phương pháp dự đoán khác của phân tích kĩ thuật thì người đó sẽ mất đi cơ hội khi giá đang tăng hoặc giảm rõ rệt (đảo chiều ) Cách tính toán quá đơn giản như vậy cũng có khuyết điểm cho những người trade ngắn hạn .Để bù lấp sự khiếm khuyết này, người ta dùng phép tính khác, đư ờng trung bình lũy thừa: Exponential Moving Average (EMA) MACD: Moving Average Convergence Divergence MACD là một cách phân tích có khả năng cho bạn biết thời điểm giá có thể đảo ngược xu

hướng. Nó cho dấu hiệu để người đầu tư ngắn hạn mua bán thời điểm rất sớm vì thế nó là một cách phân tích không thể bỏ qua được trong phân tích kỹ thuật. Theo biểu đồ đây chia làm hai phần, thứ nhất là đường giá cả theo kiểu bar-chart. Phần dưới là biểu đồ MACD. gồm có đường MACD tính theo sự giao động giữa hai đường EMA (màu trắng) với một đường dấu hiệu ; signal (màu đỏ). Thông thường là EMA 12, EMA 26, và đường signal EMA9. Khi đường MACD (trắng) cao hơn đường signal (đỏ) là lúc nên mua. Giá đang lên. Khi đường MACD rớt thấp hơn đường signal xuống là lúc nên bán. Giá đang xuống. Khi đường MACD và đường signal gần hay giao nhau là khi bạn nên chú ý vì nó báo hiệu rằng có thể thay đổi xu hướng (convergence). Ngược lại khi hai đường này cách rời nhau là lúc nó đang theo xu hướng đã có sẵn, bạn cứ yên tâm chờ hoặc giữ giá đang sở hữu (divergence). Nếu bạn dùng chỉ duy nhất một dạng nhận định của phân tích kĩ thuật như EMA, MACD… thì bạn chỉ khai thác được một khía cạnh của biểu đồ. Người mua bán dựa trên phân tích kĩ thuật chính hiệu phải khai thác nhiều cách nhận định tổng hợp với nhau như: Bollinger band, candelstick, support, resistance… cho họ nhìn biểu đồ với nhiều góc cạnh. Họ giải mã được xu hướng của giá và ước đoán thời điểm (timing) cho phép họ mua bán chính xác hơn. Thắng lợi sẽ thuộc về những ai nhanh nhẹn, nhạy bén, biết phân tích và tổng hợp, vận dụng những yếu tố khách quan có sẳn phục vụ cho mục đích của mình. Dù không phải là hoàn toàn, nhưng MA, EMA va MACD vẫn là những trụ cột trong những cách dự đoán của phương pháp phân tích kỹ thuật. Nếu bạn sử dụng nó kèm theo vài cách dự đoán phân tích kĩ thuật khác thì bạn có thể tiên đoán và mua bán với tỷ lệ thành công nhiều hơn là mua bán theo trực giác.

Những chỉ số thông dụng trong phân tích kĩ thuật - RSI Written by Administrator Monday, 11 August 2008 08:16 RSI - Relative Strength Index có lẽ là chỉ thị phổ biến nhất được nhóm người giao dịch FX sử dụng. Nó được phát triển bởi J. Welles Wilder Jr. để đo sức mạnh hay động lực của 1 cặp tiền tệ. Chỉ số này được tính bằng cách so sánh thành tích hiện tại của cặp tiền tệ với thành tích trong quá khứ của nó, hoặc so sánh những ngày ở trên của nó với những ngày ở dưới. Mức chia độ của RSI là 0-100, nếu điểm nào trên 70 thì được xem là vượt mua trong khi điểm nào dưới 30 thì được xem là vượt bán. Khung thời gian chuẩn của cách đo này là 14 periods mặc dù 9 và 25 periods cũng thường được sử dụng. Nói chung, càng nhiều periods thì có khuynh hướng đem lại dữ liệu càng chính xác hơn. Chỉ số cường độ tương đối - RSI ( Relative Strenth Index ) Công thức tính: RSI = 100-100/(1+RS) RS= (Trung bình phần tăng giá đóng cửa trong X ngày ) chia (Trung bình phần giảm giá

đóng cửa trong X ngày) RSI được biểu diễn trên mặt chia đứng từ 0 đến 100. Dịch chuyển trên mức 70 được xem là mua quá mức. Dịch chuyển dưới 30 được xem là bán quá mức. Vì sự thay đổi xảy ra trong những thị trường giá lên và giá xuống nên mức 80 thường trở thành mua quá mức trong thị trường giá lên và mức 20 trở thành bán quá mức trong thị trường giá xuống. Trong thị trường bán quá mức: • Một sự dịch chuyển xuống dưới mức 30 báo trước một tình trạng bán quá mức, Nhà giao dịch nghĩ rằng thị trường đang ở mức đáy và đang tìm kiếm cơ hội mua. • Một sự cắt trở lại trên đường 30 lúc đó được tận dụng bởi nhiều nhà giao dịch như một sự xác nhận rằng xu hướng trong dao động đang kéo lên. • • Trong thị trường mua quá mức Sự cắt trở lại xuống dưới đường 70 có thể thường sử dụng như là tín hiệu bán.

Nhận định: Cũng tương tự như những chỉ số khác đường RSI cũng biến động trong một biên độ được xác định. Tuy nhiên với chỉ số này có thể thấy mức độ biến động phù hợp với biên dưới là 20 và biên trên là 80. Với RSI có quá nhiều biến động chưa được phản ánh rõ ràng có nhiều biến động sai và RSI chỉ tạo ra tín hiệu đúng khi nó vượt qua được mức tăng ( giảm ) trước đó. PS : nói thật với các bạn là hãy chỉ sử dụng nhưng thông số hết sức cở bản và học cách kết hợp nhuần nhuyễn nó hơn là biết quá nhiều chỉ số trong khi ra lại lạc giữa 1 rừng cách phân tích . Trên đây là 3 chỉ số mà mình cho là quan trọng mà các bạn nên nắm thật chắc để ứng dụng cho tốt . Ngoài ra còn có các thông sô khác mà mình sẽ lần lượt giới thiệu sau . Nhưng cũng chỉ là để có thêm công cụ phân tích mà thôi Tags: Relative Strength Index RSI Những chỉ số thông dụng trong phân tích kĩ thuật Stochastics Written by Administrator Monday, 11 August 2008 08:14 Stochastics là gì? Đường stochastics là 1 chỉ số động lực thường được sử dụng để đo giá tiền tệ hiện thời

với giá lịch sử của nó trong 1 khoảng thời gian cho trước. Nó giống như máy đo sức mạnh và động lực của 1 tác động giá lên cặp tiền tệ bằng cách đo mức độ tiền tệ bị vượt mua hay vượt bán. Mức chia độ của chỉ số này là từ 0 đến 100. Nếu thấy trên 80 thì chỉ ra những điều kiện vượt mua, khi nó phản ánh sự thật là tiền tệ đang mạnh và giá đang tiến gần tới điểm cao của dãy giao dịch. Nếu thấy dưới 20 thì chỉ ra những điều kiện vượt bán và phản ánh sự thật là tiền đang yếu và đang tiến gần tới điểm thấp của dãy giao dịch. Stochastics là một chỉ số giúp xác định một xu hướng sẽ chấm dứt vào thời điểm nào. Theo định nghĩa Stochastics là một chỉ số giao động xác định các điều kiện mua quá nhiều (Overbought) và bán quá nhiều (Oversold) trên thị trường. Hai đường Stochastics tương tự như các đường MACD theo nghĩa có một đường nhanh và có một đường chậm. Stochastics có thể được sử dụng cho giao dịch như thế nào? Tìm ra những điều kiện vượt mua và vượt bán Cách thông thường nhất để phân tích stochastics là bán khi thấy trên 80 là tín hiệu báo tình trạng vượt mua và mua khi thấy dưới 20, là tín hiệu báo tình trạng vượt bán. Phân kỳ Những tín hiệu mua và bán cũng có thể được đưa ra khi stochastics cho thấy sự phân kỳ, chỉ ra 1 xu hướng đảo ngược có thể. Phân kỳ xuất hiện khi giá trị stochastics di chuyển về 1 hướng và giá trị của giá di chuyển về hướng ngược lại.

Làm thế nào để ứng dụng Stochastics Giống như đã nói ở trên Stochastics cho chúng ta biết thị trường đang trong gian đoạn mua vào hay đang bán ra (overbought or oversold). Stochastics được chia tỉ lệ từ 0-100. Khi các đường Stochastics nằm trên 80 (Đường chấm màu đỏ ở biểu đồ phía trên) có

nghĩa là thị trường đang mua vào quá nhiều. Khi các đường Stochastics nằm dưới 20 (đường chấm màu xanh da trời) có nghĩa là thị trường đang bán ra và chúng ta sẽ bán ra khi thị trường đang mua vào quá nhiều. Những chỉ số thông dụng trong phân tích kĩ thuật - MACD Written by Administrator Monday, 11 August 2008 08:12 Các bạn đã biết khi phân tích theo kĩ thuật thì các chỉ số đc đưa ra khá quan trọng , nó góp phần định hướng cách trade của mỗi người . Nhưng kô ai dùng riêng biệt một chỉ số nào cả, vì gần như khi đứng 1 mình thì gần như chúng kô mang lại kết quả lớn . Vì thế điều quan trọng của các trader là cần tìm được mối liên hệ giữa các chỉ số và biết kết hợp nhuần nhuyễn để có thể xác định thời điểm giao dịch chính xác nhất . I > MACD ( Moving Average Conve rgence/Divergence ) MACD là gì? MACD là 1 trong những chỉ số được người giao dịch tiền tệ sử dụng phổ biến nhất. Đây là chỉ số động lượng hỗ trợ trong việc xác định những xu hướng, cùng lúc đó có thể chỉ ra được sự đảo ngược hay những điều kiện vượt mua (mua quá mức chấp nhận overbought)/ vượt bán (bán quá mức chấp nhận - oversold). MACD được tính bằng cách lấy sự khác biệt giữa 2 mức di chuyển trung bình theo luật số mũ. 2 mức di chuyển trung bình này thường được sử dụng là 26 ngày và 12 ngày. MACD có thể được sử dụng cho giao dịch như thế nào? Cắt đường tín hiệu Cách thông thường nhất để sử dụng MACD là để mua/bán 1 cặp tiền tệ khi nó vượt qua đường tín hiệu hay còn gọi là mức 0. Một tín hiệu bán xuất hiện khi MACD nằm dưới đường tín hiệu trong khi 1 tín hiệu mua xuất hiện khi MACD tập hợp trên đường tín hiệu. Overbought/Oversold (Vượt mua/vượt bán) MACD cũng có thể được sử dụng như là 1 chỉ số vượt mua/vượt bán. Khi di chuyển trung bình ngắn hạn di chuyển 1 cách đáng chú ý ra khỏi di chuyển trung bình dài hạn (ví dụ MACD tăng) thì nó giống như là những di chuyển giá tiền tệ đang bắt đầu kiệt quệ và sẽ sớm trở lại mức độ hiện thực. Phân kỳ Khi MACD phân kỳ từ xu hướng giá tiền tệ thì nó có thể đưa ra 1 tín hiệu đảo ngược xu hướng. Thêm vào đó, nếu MACD tạo ra 1 điểm thấp mới trong khi cặp tiền tệ không tạo ra điểm thấp mới, thì đây là phân kỳ đầu cơ giá hạ, chỉ ra 1 điều kiện có thể vượt bán. Lần lượt như vậy, nếu MACD tạo ra 1 điểm cao mới trong khi cặp tiền tệ không xác nhận những điểm cao này, thì đây là phân kỳ đầu cơ lên giá, chỉ ra 1 điều kiện có thể vượt mua. MACD = MA(P, nlong) - MA(P, nshort),

MACD Signal = MA(MACD, n), where MA(P, nlong) - moving average of the price P within nlong periods (usually 26), MA(P, nshort) - moving average of the price P within nshort periods (usually 12), MA(MACD, n) - moving average MACD within n periods (usually 9). Hãy xem và hiểu vì sao MACD lại là 12 26 9

Fibonnacci và ứng dụng retracement Written by Administrator Monday, 11 August 2008 08:01 Chúng ta sẽ sử dụng tỉ lệ của fibonacci rất nhiều khi trading nên việc bạn thấu hiểu được nguyên lí hoạt động của fibonacci như thế nào là điều vô cùng quan trọng. Fibonnaci là một chủ đề vô cùng rộng lớn và có rất nhiều lĩnh vực trong đó mà bạn nên tìm hiểu . Tuy nhiên vì mục đích của phương pháp này, mình chỉ xin được tập trung vào một vài điểm cụ thể. Sơ lược về lịch sử của Fibonacci: Leonardo Fibonnaci da Pisa sinh khoảng năm 1170, là con trai của một nhân viên công chức thành phố và một lái buôn. Ông trở thành một nhà toán học lỗi lạc và được vinh danh với phát hiện về dãy số Fibonnaci. Sau một chuyến đi tới Ai Cập ông xuất bản cuốn sách nổi tiếng " Liber Abacci" ( Book of Calculation) trong đó cùng với một vài phát hiện khác ông đưa ý tưởng về dẫy số này: 1,1,2,3,5,8,13,21,34,55,89 ....

Nếu bạn để ý bạn sẽ thấy dẫy số đi theo quy luật tổng của số thứ 3 bằng 2 số trước nó cộng lại VD :3+5=8 Sau khi bỏ qua một vài số đầu trong dãy, nếu bạn đo tỉ lệ của bất cứ một số nào với số cao hơn tiếp theo đó bạn sẽ được tỉ lệ 0.618 VD: 34:55=0.618. Bạn càng đi xe dọc dẫy số bạn càng tiến gần tới chỉ số phi hơn. Nếu bạn đo chỉ số giữa 2 số xen nhau bạn sẽ được tỉ lệ 0.382. Ví dụ 34:89=0.382 và chỉ số này sẽ là chỉ số mà mình sẽ giải thích đi sâu hơn . Là một trader bạn thực sự ko cần biết bất cứ cái gì về điều này cả . Vì chart của bạn đã tính toán hết cho bạn rồi. Chỉ số này chỉ hữu dụng nếu bạn hiểu được lí thuyết đằng sau công cụ Fibonnacci mà thôi. Hiện tại, mặc dù 3 chỉ số FIb thông dụng nhất trong trading là 0.382, 0.500 và 0.618 mình chỉ xin dùng chỉ số 0.382 (38.2%) và 0.618 (61.8%) để tính các điểm retracements ( các điểm mà thị trường phản hồi lại đường cũ). Mọi người thường hỏi mình vì sao ko dùng mức retracements 0.500 (50%) và lí do là vì 2 khía cạnh sau: 1. Mình muốn giữ phương pháp này đơn giản hết mức có thể 2. Theo khung thời gian mà mình đang trade, thì tỉ lệ 38.3% và 50% quá gần nhau để có thể đặt một điểm stop hiệu quả. Trong một uptrend, hãy đo khoảng cách giữa điểm A và điểm B với điểm A luôn là điểm thấp nhất mới xảy ra và điểm B là điểm cao nhất mới xảy ra trong một uptrend. Ngược lại với một downtrend, điểm A là điểm cao nhất và điểm B là điểm thấp nhất. Xin mời bạn xem ví dụ minh họa dưới đây

Trong chart phân tích dưới đây mình vẫn nêu đủ 3 mức này để cung cấp cho các bạn một kiến thức đầy đủ và rõ ràng nhưng mình xin nhắc lại mình chỉ quan tâm đến 0.382 và

0.618 mà thôi. Dưới đây là đồ thị của JPY/USD. Điểm A có mức giá 119.09 và điểm B là 123.16. Khoảng cách giữa A và B là 4.07==> 38.2% của 4.07 là 1.55. Lấy 123.16 (điểm B) trừ đi 1.55 ta được 121.61. Đó chính là mức giá tại 38.2% retracement. Làm tương tự như trên, 50% retracement sẽ là 121.13 và 61.8% retracement sẽ là 120.68.

Điều ngạc nhiên là mức support & resistance của fx thường xảy ra tại các mức Fibonacci. Đó là lí do chính vì sao các traders thường sử dụng kỹ thuật này cho việc phân tích và dự đoán. Ngoài ra, một lí do khác nữa là các mức Fibonacci thường trùng hợp với thứ tự tự nhiên của thị trường. Có một lí giải cho hiện tượng này là do niềm tin của các trader vào fibonnacci đã khiến tất cả các trader đều đi theo lý thuyết mà công cụ fibonnacci đề ra và vô hình khiến cho các mức này trở thành đúng. chứ ko hoàn toàn vì lí do chính ở các mức fib này. Vậy làm thế nào để sử dụng kĩ thuật này: trước hết phải xác định xu thế của thị trường. Tiếp đó, ngay sau khi phát hiện được một retracement sắp sửa xuất hiện, tiến hành tính các mức retracement. Sau đó, chúng ta tham gia thị trường tại mức 38.2% retracement và đặt mức thua lỗ (stop loss) ngay sau mức 61.8% retracement.

Ứng dụng khác của Fibonacci Written by Administrator Monday, 11 August 2008 07:53 Ngoài 2 ứng dụng chủ chốt là retracement và target mình xin được giới thiệu một vài ứng dụng khác của FIB : FIB Fan, FIB Arcs và Fib Time Zones Fibonacci Arcs (FA) đư ợc thiết lập đầu tiên bằng cách vẽ một đường trendline vô hình giữa 2 điểm (thường là đỉnh cao và thấp trong một giai đoạn cụ thể), và sau đó vẽ 3

đường cong tiếp cận với đường trendline này ở các mức FIB chủ chốt là 38.2%, 50% và 61.8%. Các quyết định giao dịch được đưa ra khi mà giá thị trường chạm vào 3 mức quan trọng này.

FA dùng để dự đoán mức support & resistance và các khu vực mà thị trường dao động sang ngang ko có xu hướng cụ thể. Một kỹ thuật phổ biến là theo dõi cả hai đường FA, FF (Fibonacci Fan) và dự đoán mức support & resistance tại điểm giao giữa đồ thị giá và đường FA/FF. Lưu ý rằng đồ thị giá cắt đường FA tại điểm nào còn tùy thuộc vào kích cỡ của đồ thị, nói cách khác đường FA được vẽ lên đồ thị nên nó có mối tương quan với kích cỡ cân đối của đồ thị trên màn hình vi tính hoặc trên giấy. Fibonacci Fan (FF) FF bao gồm 3 đường xiên sử dụng các tỉ lệ Fib để giúp phát các mức support và resistance quan trọng. FF được vẽ theo các bước sau : Đầu tiên vẽ một đường trendline qua 2 điểm (thường là high và low trong một giai đoạn cụ thể). Rồi chia khoảng cách dọc giữa 2 điểm này bằng các tỉ lệ của FIb : 38.2%; 50%; 61.8%. Kết quả của từng phép chia này đại diện một điểm trong khoảng dọc đó. Cuối cùng 3 đường fanlines là 3 đường được tạo bởi cách vẽ một đường thẳng từ điểm cực tả tới mỗi một điểm trong 3 điểm đại diện cho một tỉ lệ FIB ấy.. Đồ thị sau của Taxaco cho thấy các ngưỡng hỗ trợ/kháng cự trên đường FF

Bạn có thể thấy khi đồ thị gặp đường FF cao nhất (điểm A), đồ thị giá không thể vượt qua đường FF trong nhiều ngày. Khi giá vừa vượt qua đường FF, nó liền rớt nhanh chóng đến điểm đáy trên đường FF thứ 3 (điểm B và C) trước khi tìm được ngưỡng support. lưu ý: khi giá di chuyển qua điểm đáy (điểm C), nó di chuyển một mạch tới điểm cao nhất (điểm D) trên đường FF thứ 1 và cũng là resistance, sau đó rơi xuống điểm giữa trên đường FF thứ hai (điểm E) trước khi đổi chiều đi lên. Fibonacci Time Zones được hình thành bởi cách chia chart ra bằng các đường dọc thẳng đứng cách nhau một khoảng tỉ lệ bám vào dãy số Fib (1,1,2,3,5,8,13,etc...). Fib Time Zones giải thích quá trình tìm kiếm các hoạt động giá cả đáng chú ý gần những đường dọc thẳng đứng này Còn gọi là Fibonnacci Time Series..

Các kết quả nghiên cứu về Fibonacci này không có ý định làm kim chỉ nam cho việc xác định thời gian xâm nhập hoặc thoát ra khỏi thị trường. Tuy nhiên, nó có thể hữu ích trong việc xác định vùng support, resistance & ranging (FA). Đa phần các nhà đầu tư sử dụng kết hợp cả 4 phương pháp Fibonacci này để có thể đưa ra các mức dự đoán chính xác hơn. Một nhà phân tích có thể chỉ sử dụng Fibonacci Arcs và các điểm giao tại vùng suppport hoặc resistance. Nhiều người khác kết hợp các nghiên cứu về Fibonacci với các dạng thức phân tích kỹ thuật khác như “lý thuyết sóng Elliot” để dự đoán mức độ đảo ngược xu hướng sau mỗi bước sóng khác nhau. Chỉ số RSI và ADX Written by Administrator Monday, 11 August 2008 07:02 Điều mà chúng ta quan tâm nhất là quá trình xác định khi nào giá bắt đầu đi theo xu hướng. Và 1 công cụ có thể hỗ trợ việc đó là chỉ số định hướng trung bình ( Average Directional Index ) – ADX

Hầu hết người giao dịch đều tập trung vào các chỉ số xung lượng (momentum) phổ biến để tìm kiếm tín hiệu vượt mua / vượt bán ( overbought / oversold ), và các chỉ số giá / xung lượng phân kì ( divergence) xác điểm điểm kết thúc của xu hướng. Chúng ta hãy xem xét chỉ số RSI nhanh xác định tín hiệu vượt mua ./ vượt bán như thế nào trên đồ thị USD/JPY :

Thật rõ ràng ! chỉ số xung lượng RSI đã phản ánh chính xác thị trường, và nếu bạn mới bắt đầu về kĩ thuật thì chỉ số trên chắc sẽ gây ấn tượng mạnh với bạn ! Tuy nhiên, tất cả

các công cụ kĩ thuật không đơn giản như vậy. chúng ta hãy xem 1 ví dụ khác về sự thay đổi giá :

2 tín hiệu RSI đầu tiên ( vượt bán và vượt mua ) rất chính xác. Tuy nhiên, các tín hiệu sau đó liên tiếp chỉ mức vượt bán nhưng giá vẫn tiếp tục tăng cao. Điều gì đã xảy ra? Đơn giản, chỉ số xung lượng cung cấp tín hiệu vượt mua / vượt bán trong 1 thị trường dao động và chưa chắc chắn. Tuy nhiên, nó sẽ bị mất tác dụng khi thị trường bắt đầu đi theo xu hướng , và đó là những gì diễn ra tại biểu đồ trên. Trong kì xu hướng, các chỉ số xung lượng hầu hết đều nằm ở vị thế vượt mua / vượt bán cao và không phản ánh được chính xác diễn biến thị trường. Tại thời điểm này chúng ta cần bỏ qua tín hiệu xung lượng . Điều mà chúng ta quan tâm nhất là quá trình xác định khi nào giá bắt đầu đi theo xu hướng. Và 1 công cụ có thể hỗ trợ việc đó là chỉ số định hướng trung bình ( Average Directional Index ) – ADX Nhìn vào biểu đồ dưới đây: Trên biểu đồ có sử dụng công cụ chỉ số ADX (xanh lá cây) với +DI (xanh dương) và –DI (đỏ). 2 đường +DI và –DI biểu hiện xung lượng tích cực và tiêu cực của giá. Khi xu hướng rõ ràng đường +DI sẽ vượt từ dưới lên khỏi đường –DI , và ngược

lại. ADX là đường chỉ số định hướng trung bình cho cả xu hướng tăng và xu hướng giảm. Có nghĩa là khi giá tăng hay giảm theo 1 chiều rõ ràng ( theo 1 xu hư ớng – xu hướng tăng hoặc giảm ) , ADX vượt mức 30 cho biết xu hướng đang trong giai đoạn phát triển. Tôi thường dành nhiều chú ý cho đường ADX, và khi nó tăng vượt mức 30, có thể phớt lờ tín hiệu RSI. Tuy nhiên, ADX là 1 chỉ số chậm và nó chỉ đi theo sau 1 khoảng thời gian khi các chỉ số xung lượng đã báo tín hiệu vượt mua / vượt bán. Làm cách nào để hiệu quả? Trước tiên phải xác định nếu chỉ có các đường chỉ số xung lượng vào vùng cảnh báo, điều này chưa đủ để xác định cơ hội giao dịch. Trong ví dụ trên khi đường RSI nhanh tiến tới vùng vượt mua, chúng ta cần đánh giá biến động giá không chỉ trên biểu đồ ngày mà còn trên những khung thời gian ngắn hơn.

Trong những tình huống chúng ta sẽ xem xét đến các điểm đỉnh và đáy ( top and bottom) trước khi ADX vượt mức 25-30. Một lý do đáng tin cậy là xu hướng luôn có qui luật – đó là bước sóng. Hình vẽ trên cho thấy trong 1 xu hướng tăng vẫn có các điểm đỉnh và đáy , nhưng trong 1 “khung”, và khi điểm đáy bị phá vỡ, đó là dấu hiệu của 1 sự đảo ngược xu hướng. Để rõ ràng hơn chúng ta có thể vẽ thêm 1 đường kẻ hỗ trợ ( support line) dưới các điểm đáy , và khi nó bị phá vỡ, đó có thể là 1 tín hiệu báo xu hướng đã kết thúc. Một rủi ro nhỏ là giá có thể quay lại để tái lậ lại đường support sau khi đã “xuyên qua” nó, và điều này thỉnh thoảng xảy ra trong xu hướng tăng, do đó chúng ta cần xem xét khi ADX bắt đầu giảm thì xu hướng có thể đã kết thúc, kết hợp với đường RSI nhanh cung cấp tín hiệu vượt mua hoặc vượt bán. Vì vậy khi thêm ADX vào danh mục chỉ số của bạn, bạn có thể đánh giá được xu hướng đang xảy ra hay không. Đây là 1 vũ khí hiệu quả hỗ trợ cho các công cụ của bạn, cung cấp thông tin thay vì làm phức tạp các chỉ số xung lượng khác. Chúng ta cần quan tâm đến lợi ích từ việc kết hợp kiến thức về RSI và ADX vào trong một hệ thống đơn giản. Cả ADX và RSI đều là những công cụ hiệu quả và sự kết hợp giữa chúng dường như sẽ đem lại 1 khả năng rất lớn . Tôi thích sử dụng RSI chủ yếu như 1 chỉ số xác định tín hiệu mua mua trong xu hướng lên. Và ADX là chỉ số đo lường sức mạnh của xu hướng đó. Dưới đây là 1 số yếu tố làm cách nào 2 chỉ số này có thể phối hợp nhau trong 1 hệ thống để xác định thời điểm vào thị trường khi xu hướng mạnh và mua tại điểm đáy. ( tôi tập trung phân tích vào việc kì vọng giá lên nhưng lập luận này vẫn có thể áp dụng tốt cho kì vọng giá xuống ) Khi đường ADX đang tăng, đây là chỉ số xác định xu hướng mạnh đang diễn ra. Trong 1 vài trường hợp đợi đến khi có điểm thích hợp vào thị trường sẽ không hiệu quả bởi vì xu hướng tăng có thể bi vuột mất và điểm vào thị trường để tối đa lợi nhuận của bạn đôi khi quá chậm. Trong trường hợp này chúng ta phải vào ngay khi có xu hư ớng mạnh. Để thực hiện điều này như là 1 nguyên tắc đơn giản, chúng ta có thể dựa vào sức tăng của ADX ( chúng ta cũng có thể xem 1 số chỉ số khác đang tăng báo hiệu xu hướng tăng đang diễn

ra ) , và đặt lệnh MUA, bất kì lúc nào RSI đang thấp hơn ngưỡng cao 85. Nguyên tắc này giúp chúng ta xác định nhanh chóng điểm vào trong hầu hết mọi trường hợp và kết quả cho thấy chỉ cần giao dịch khi ADX tăng là 1 ý tưởng rất hay. Đường RSI sẽ giúp tránh mua ở mức vượt mua ( overbought) khi vư ợt qua 85, tránh được những tình huống quá mạo hiểm. Đường RSI, tuy nhiên, có vai trò rất quan trọng khi mà ADX đang theo chiều ngang hoặc hạ xuống. Trong trường hợp này nguyên tắc là nếu đường ADX không tăng chúng ta phải hoãn lại điểm vào lệnh. Một khi đường ADX không đưa cho chúng ta 1 tín hiệu tốt về sức mạnh của xu hướng, cần bổ sung thêm những chỉ số khác để xác định thị trường có tiềm năng tăng như thế nào. Nếu không chúng ta không thể chọn được điểm tốt vào thị trường khi xu hướng lên. Một vài đường như đường trung bình động MA 20 cũng không hiệu quả khi áp dụng với các chỉ số này. Bây giờ, sau khi đặt lệnh vào thị trường với sự kết hợp giữa 2 chỉ số ADX và RSI, chúng ta cũng sẽ kết hợp chúng để xác định điểm ra. Khi thị trường đang tăng, nhưng xu hướng không còn mạnh . chúng ta sẽ dựa vào đường RSI xác định điểm đóng lệnh thuận lợi nhất để thu lợi nhuận. Một ví dụ khi bạn đang giao dịch với RSI 9 tăng đến 75 – 80 điểm, đây là tín hiệu cho thấy sự hiệu chỉnh sắp xảy ra. Nếu xu hướng thị trường không còn mạnh chúng ta nên vui vẻ với khoảng lợi nhuận có được thay vì đợi đến việc đóng lệnh khi có sự hiệu chỉnh. Tuy nhiên nếu ADX vẫn tiếp tục tăng chúng ta có thể mạo hiểm với hi vọng xu hướng tiếp tục tăng hơn nữa. Khi ADX tăng cúng ta có thể phớt lờ đường RSI để tiếp tục đạt lợi nhuận. Việc nhẫn nại cho phép chúng ta tích lũy lợi nhuận và tiếp tục quan sát RSI và thị trường. Đôi khi ADX tăng nhưng không đủ sức để giữ sức mua tiếp tục cao khi RSI đạt mức vượt mua và có thể 1 số người mua sẽ đặt lệnh đổi chiều. Lúc này chúng ta nên lập tức thoát lệnh. Hoặc chúng ta có thể phớt lờ RSI cho đến khi đạt mức lợi nhuận mong muốn. Dưới đây là lập luận của 1 hệ thống mà theo tôi khá hiệu quả. ( nhưng nếu bạn áp dụng bạn phải theo cách thức của mình). Tât cả những con số tôi đưa ra chưa được kiểm tra hay đánh giá 1 cách khách quan. Một ví dụ là đường 20 –day MA chỉ là 1 con số mà tôi nghĩ đến trong đầu. Nhưng nó đủ để giúp bạn có những thông tin cần thiết để bắt đầu và bạn có thể tự xây dựng các nguyên tắc giao dịch trong khung thời gian thích hợp nhất.

Đặt lệnh mua: Đường MA 20 phải tăng Nếu đường ADX tăng ( ADX hôm nay cao hơn 0.2 so với hôm qua ) à đặt lệnh mua nếu đường RSI nhỏ hơn 85 Nếu đường ADX không tăng à đặt lệnh mua nếu đường RSI 14 nhỏ hơn 50. Một số nhà giao dịch thích lựa chọn RSI ở mức 60, nhưng 1 số khác lại chọn thấp hơn 40 Ra khỏi thị trường: Đường ADX không còn tăng , thoát lệnh buy nếu đường RSI 9 lớn hơn 75 Nếu đường ADX đang tăng , và lợi nhuận đã lớn hơn mức mong đợi à bán khi đường RSI 9 lớn hơn mức 75 Bạn cần xác lập thêm 1 vài nguyên tắc thoát lệnh để tránh thua lỗ. Bạn có thể sử dụng thời gian qui định tối đa thoát lệnh cho mỗi khung thời gian – khi giá bắt đầu xuống thấp hơn đường MA 20 hoặc đường MA 20 bắt đầu giảm ( xem nguyên tắc vào lệnh thứ 1) Chúc bạn may mắn và có được giao dịch thành công ! Sử dụng các Candlestick Written by Administrator Saturday, 09 August 2008 02:45 Candlestick(hay còn được gợi là candle – nến Nhật) được sử dụng bởi người Nhật từ thế kỉ 17. Nguyên tắc của Candle rất đơn giản và được đúc kết từ những yếu tố sau: “Như thế nào” (Biến động giá) quan trọng hơn “Tại sao” (tin tức, tác động của thị

trường)

Tất cả các thông tin đều được hiển thị trên giá Người mua và người bán trên thị trường dựa trên tác động của kì vọng và cảm xúc (hay tham vọng và sự sợ hãi) Biến động giá không phản ánh giá trị thật . Candestick được xây dựng bởi 4 yếu tố : giá mở (open), giá đóng (close), giá cao (high) và giá thấp (low). Khung candle hay còn gọi là thân candle có màu trắng hay đen tùy theo vào mức giá. Nếu đóng mở cao hơn giá mở, ta có candle trắng (while candle). Nếu giá đóng thấp hơn giá mở, ta có candle đen (black candle). Đường kẻ phía trên và phía dưới thân candle thể hiện giá cao nhất / thấp nhất của candle và còn được gọi là chân candle hay còn gọi là bóng của candle (shadow). Phần thân thể hiện giá giao dịch mở đầu (open) và kết thúc (close) trong 1 khung thời gian ( 1min, 5min, 15min… 1day, 1week) trong khi phần chân (phần bóng) thể hiện phần giá giao dịch nằm ngoài phạm vi giá mở và giá đóng.

Mua – Bán: Thân candle càng dài, sức mua / sức bán càng mạnh. Ngược lại, thân candle ngắn thể hiện biến động giá thấp. Candle trắng thể hiện sức mua. Thân càng dài, sức mua càng mạnh, là dấu hiệu người mua kì vọng cao vào thị trường lên. Nếu nhìn vào tổng quan hơn, khi thị trường đang trong xu hướng xuống, candle trắng dài cho thấy người mua đang xác lập điều khiển thị trường và kì vọng giá lên trở lại. Candle đen thể hiện sức bán. Thân càng dài, sức bán càng mạnh, là dấu hiệu người bán kì vọng cao vào thị trường xuống. Nếu nhìn vào tổng quan hơn, khi thị trường đang trong xu hướng lên, candle đen dài cho thấy có người bán đang xác lập điều khiển thị trường và kì vọng giá xuống.

Cuộc chiến giữa mua và bán: Candle thể hiện cuộc chiến tranh giành vị thế giữa mua (người kì vọng thị trường lên), và bán (người kì vọng thị trường xuống) trong 1 khoảng thời gian xác định. Có thể so sánh cuộc chiến này với 1 trận đá bóng giữa 2 đội bóng, mà chúng ta có thể gọi là đội MUA và đội BÁN. Điểm thấp nhất của candle (bottom) cho thấy đội BÁN đã dồn bóng đến “cấm địa” của đội MUA và điểm cao nhất của candle (top) cho thấy đội MUA đang áp đảo . Càng gần điểm thấp nhất, đội BÁN càng chiếm ưu thế, và càng gần điểm cao nhất, đội MUA càng tỏ ra áp đảo. Có rất nhiều lựa chọn khác nhau, nhưng tôi muốn nhấn mạnh 6 tình huống của cuộc chơi (6 mô hình candlestick):

1. Candle trắng dài (long white candle) cho thấy đội MUA kiểm soát bóng trong suốt trận đấu. 2. Candle đen dài (long black candle) cho thấy đội BÁN kiểm soát bóng trong suốt trận đấu. 3. Candle ngắn và không có chân (hoặc chân ngắn), cho thấy không đội nào kiểm soát được bóng và giá hầu như không thay đổi so với lúc ban đầu. 4. Candle với chân phía dưới dài cho thấy đội BÁN kiểm soát phần đầu trận đấu, nhưng đã bị mất phần kiểm soát vào bên đội MUA vào cuối trận và đội MUA giằng co trở lại. 5. Candle với chân phía trên dài cho thấy đội MUA kiểm soát phần đầu trận đấu, nhưng đã bị mất phần kiểm soát vào bên đội BÁN vào cuối trận và đội BÁN giằng co trở lại. 6. Candle với cả 2 phần chân đều dài cho thấy cả đội MUA và đội BÁN đều có giai đoạn kiểm soát trận đấu, nhưng không ai áp đảo được đối phương, và kết quả là vẫn giằng co nhau. Khi bạn định đặt lệnh mà gặp hình doji hay spinning top thì bạn nên chuẩn bị sẵn sàng nhập lệnh để đi theo xu hướng tiếp theo khi có dấu hiệu thông báo bên bán hoặc bên mua thắng thế. Các loại Candle đặc trưng: 1. Marubozu:

Hình Marubozu chỉ có thân mà không có bóng (body without shadow). Đây là d ấu hiệu xác lập 1 xu hướng rất mạnh Marubozu màu trắng có nghĩa là bên bán bị bên mua mạnh hơn nuốt chửng. Ngược lại nếu hình Marubozu đen thì ngư ời mua chiếm thế chủ động và thường được giá hời.

2. Spinning top ( bông vụ) :Thân nhỏ mà bóng dài cho ta biết là cuộc thương lượng của hai phe mua bán chưa phân thắng bại, giá cả đang còn tranh chấp. Sau 1 xu hướng dài, hình tượng này cho biết , bên mua / bên bán đã yếu thế dần và có dấu hiệu xu hướng sẽ đảo chiều.

3. Doji: Hình Doji xuất hiện khi mức giá đóng cửa xấp xỉ mức giá mở cửa , doji trông như 1 gạch ngang nằm giữa phạm vi giá , là dấu hiệu cho thấy người mua và người bán đang do dự.

Khi bạn định đặt lệnh mà gặp hình doji hay spinning top thì bạn nên chuẩn bị sẵn sàng nhập lệnh để đi theo xu hướng tiếp theo khi có dấu hiệu thông báo bên bán hoặc bên mua thắng thế. Bạn sẽ cần tới một trong bốn hình tượng sau đây xác nhận sự thay đổi xu hướng: Hình hammer, inverted hamme r, hangging man và shooting star cho ta biết giá đang đổi ngược xu hướng (reversal), cần phải mua hay bán ngay trước khi trễ.

Cụ thể là hình hammer và inverted hammer ngược theo Doji báo hiệu sự thắng thế của người mua và giá cả từ đây có thể sẽ đổi hướng từ giảm sang tăng, ít nhất là trong ngắn hạn. Trong khi đó hai hình tượng hanging man và shooting star cảnh báo trước người bán có thể đã thắng thế người mua và giá cả có nhiều khả năng sẽ đi xuống. Candle kết hợp: Mô hình Candles được tạo thành từ nhiều candle liên tục, và có thể được gộp chung thành 1 candle lớn hơn. Candle gộp sẽ thể hiện 1 cách đơn giản hơn so vớii mô hình candles, dựa trên nguyên tắc: • Giá mở là giá mở của candle đầu • Giá đóng là giá đóng của candle cuối • Giá high và giá low là Giá cao nhất và thấp nhất của mô hình.

Andrew's Pitchfork Written by Administrator Monday, 11 August 2008 06:45

Giới thiệu Andrew's Pitchfork được phát triển dựa trên đường nằm giữa (median line) của đường hỗ trợ (support line), đường kháng cự (resistance line) và sức kéo đường giá về đường nằm giữa này. Và được mô tả như hình phía dưới. Andrew's Pitchfork bao gồm:Tay cầm (handle) • Nhánh xu hướng kháng cự • Đường giữa (median line) • Nhánh xu hướng hỗ trợ

Các bước để hình thành Andrew's Pitchfork • Điều quan trọng nhất phải tìm được cái trục hay là mức thóai lui (nó nằm trên đồ thị và phía dưới góc trái). • Sau đó là tìm cái trục hay mức thóai lui tiếp theo (nó là đường chấm gạch màu cam nối điểm đầu trục thứ nhất và trục thứ 2) • Tìm mức thóai lui (trên đồ thị là đường thẳng màu cam bắt đầu từ bên trái và đi xuống bên phải). Phần mềm phân tích sẽ tự động vẽ các nhánh kháng cự cũng như là nhánh hỗ trợ và đồng thời cũ vẽ luôn đường giữa. Lưu ý các nhánh này chỉ là tên gọi để sử dụng cho kỹ thuật Andrew's Pitchfork của ngài Alan Andrews. Cách sử dụng • Nó cũng giống như cách sử dụng của đường hỗ trợ và kháng cự, nghĩa là mua tại đường hỗ trợ và xem xét bán ở đường kháng cự. Nếu đường giá xuyên qua đường giữa và có hướng như được mô tả như hình vẽ trên thì cho thấy đường giá có khuynh hướng bị hút về đường giữa. • Cuối cùng Andrew's Pitchfork có thể sử dụng một cách hiệu quả cho việc kinh doanh nông sản như: lúa mạch, lúa mì, ngũ cốc... và futures (Đây chỉ là câu nói đùa của tôi)


				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:1783
posted:5/21/2009
language:Vietnamese
pages:39