Các mô hình cơ bản phần cuối

Document Sample
Các mô hình cơ bản phần cuối Powered By Docstoc
					" Các mô hình cơ bản phần cuối " Mức giá sàn (support) và mức giá trần (resistance) < ...>

Như những gì đã đề c ập t rong bài viết này, các kỹ thuật phân t ích bắt đầu với những đường xu hướng. Đường xu hướng c ũng là điểm đầu tiên của c ác mức giá sàn và giá trần. Dự kiến 1 đường xu hướng để quyết định vùng giá sàn và giá trần trong tương lai luôn đem lại hiệu quả. 1 đường xu hướng dọc theo các mức giá thấp là 1 đường hướ ng lên và và ngược lại nếu đi qua các điểm giá cao là 1 đường hướng xuống và đó là ranh giới quan trọng để vượt qua nếu thị trường định thay đổi xu hướng. Tuy nhiên đường xu hướng không chỉ là nguồn gốc của các mức giá sàn và giá t rần. 1 trong những phương pháp phổ biến để quy ết định các mức giá sàn và giá trần là dựa vào 1 dãy đồ thị và các mức giá trước đây của chúng, sau đó quan sát xem mức giá nào là mức giá cao, mức giá thấp và mức gần nhất dễ đạt đến nhất. Phương pháp quyết đị nh mức giá sàn và mức giá trần dựa trên bất kỳ dãy đồ thị ở các khung t hời gian như mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tuần và mỗi tháng. 1 loạt giá cao và thấp nhiều lần tập trung ở các vùng giá thấp nhưng không phải là 1 mức giá nhất định. Thay vào đó nếu có 1 miền giá trần và giá sàn hẹp sẽ hiệu quả hơn. Nhiều đỉnh và đáy c ũng là các mức giá sàn và giá trần. Những đoạn giá bỏ trống trên đồ thị cũng được xem như những mức giá trần và giá sàn tốt. Đường dịch chuyển trung bình, đặc biệt là những đường dài hạn, có t hể cung cấp các mức giá sàn và giá trần. Ngoài ra còn có các h khác để nhận biết các mức giá sàn và giá trần như là qua các góc hình học từ các điểm quan trọng xác định, 1 k hái niệm liên quan đến W.D.Gann (1 người kinh doanh chứng khoán và hàng hóa trước đây đã qua đời vào năm 1955). Cuối cùng, các mức giá trần và giá sàn có thể quyết định bởi các mức giá “tâm lý” (psychological price levels ). Chúng thường là những số được làm tròn nhưng lại rất có ý nghĩa trong 1 t hị trường. V í dụ như đối với dầu thô thì mức giá “tâm lý” là khoảng 60$/ thùng. Đối với đậu nành, thì mức giá có thể là 5$ hoặc 6$/giạ hay vải cotton là 0.5$/ pao(0.45g). Những điểm giá này xác định các mức giá tăng hoặc giảm khi thị trường tạm ngưng để củng cố lại. Nhiều mô hình đồ t hị được phát triển là kết quả của sự biến động của giá trong vùng giá sàn và giá trần. Ví dụ như mô hình 2 đáy có thể hình thành bởi vì thị trường tìm ra được mức giá sàn từ 1 điểm đáy trước, hoặc là mô hình tam giác được định hình khi giá không thể vượt qua mức giá sàn và giá trần của đường xu hướng trong ngắn hạn cho đến khi có sự phá vỡ xuất hiện. Một điểm quan trọng cần chú ý về các mức giá sàn và giá trần là khi mức giá sàn quan trọng hoặc là 1 miền giá bị phá vỡ theo hướng giảm, thì mức giá hoặc miền giá đó có thể sẽ trở thành mức giá trần quan trọng. Cũng như thế, 1 mức giá trần hoặc 1 miền giá quyết định sẽ bị phá vỡ theo hướng tăng sau đó có thể trở thành mức giá mức giá sàn hoặc vùng giá quan trọng.

Sự quay trở lại xu hướng cũ (retracement) – 1 cách khác để tìm ra vùng giá trần và giá sàn là bằng cách tìm ở “retracement” của sự di chuyển c ác mức giá quan trọng. Giá biến động có nghĩa là có sự chống lại x u hướng đang tồn tại. Những biến động này có thể gọi là sự điều chỉnh của thị trường (correction). Một khi thị trường đã vượt ra khỏi xu hướng ban đầu, điều đầu tiên mà nhiều người giao dịch muốn biết là sự biến đổi này hay sự điều chỉnh này sẽ đi đến đâu. Dựa t rên những nghiên cứu về giá t rước đây, 1 “retracement” phổ biến là khoảng 50% xu hướng c ũ. Ví dụ như 1 t hị trường đang có xu hướng tăng chắc chắn t hường bắt đầu từ mức giá 100 và tăng dần lên đến 200. Sau đó sẽ có điều chỉnh, thông thường thì thị trườ ng hiếm khi biến động theo 1 chiều. Vậy khi nào giá của 1 thị trường sẽ đổi hướng? Những nhà phân tích dựa trên “retracement” thì đặt ra 1 mục tiêu khoảng 150 hay 50% của sự dịch chuyển giá từ 100 đến 200 và mong rằng giá sẽ bật lên và trở lại hướng tăng sau khi chạm đến 1 mức nào đó. Sự điều chỉnh “retracement” thấp hơn 50% chỉ sổ trung bình là 1 xu hướng mạnh, ngược lại là 1 xu hướng yếu. Mức 50% không chỉ là 1 mức “retracement” phổ biến. Một số nhà phân tích sử dụng mức từ 33% đến 67% như các mức trần và mức sàn. Còn t heo các số liệu mang t ính quy luật thì sử dụng mức từ 0.382% đến 0. 618% của 1 sự di chuyển ưu tiên như các mức trần và mức sàn quyết định. Cho dù bạn sử dụng như 1 mục tiêu “ retracement” như thế nào thì bạn có thể đạt được 1 giá trị cao nếu như nó trùng khớp với dạng mức sàn và mức trần quan trọng như 1 đường xu hướng, mức cao hoặc thấp trước đây hay 1 khoảng trống.

Vùng trống (gap) – Vùng trống là những vùng mà không có giao dịch nào xảy ra. Dãy giá thấp sau cùng thì cao hơn dãy giá cao đối với 1 dịch chuyển của 1 vùng trống hướng lên. Dãy giá cao sau cùng thấp hơn dãy giá thấp trước đó để tạo ra sự dịch chuyển của 1 vùng trống hướng xuống. Ví dụ như nếu thị trường gần đến mức 100 trong 1 phiên và sau đó mở rộng đến 105 ở phiên tiếp theo thì sẽ có 1 vùng trống hiển nhiên trên đồ thị. Với các giao dịch điện tử 24/24 thì vùng t rống ít có khả năng xuất hiện khi thị trường dễ di chuyển từ mức giá đến mức giá khác. Tuy nhiên đối với những t hị trường chỉ c ó các phiên trong ngày mà gồm những hàng hóa mang tính vật chất nhất ( ví dụ như chứng khoán) thì các vùng trống có thể lộ ra bởi những tin tức hoặc hướng phát t riển có giá trị t rong 1 đêm mà t ạo ra 1 sự thay đổi đột ngột về giá. Các vùng giá trống là biểu hiện tiêu biểu của sự thay đổi mạnh của t hị trường và sau đó sẽ tạo ra các mức giá sàn và giá trần quan trọng trên đồ thị.

Vùng trống không thể được mô tả như 1 dấu hiệu nghịch đảo hay tiếp diễn mà những vùng trống khác nhau có nghĩa khác nhau – đôi khi c húng có những ảnh hưởng k hông nhỏ chút nào. Có 3 dạng vùng trống chính sau đây:  V ùng trống chạy trốn (breakaway gap). Vùng trống này xuất hiện ở đầu của 1 sự thay đổi về giá khi giá không theo hướng cũ mà đột nhiên đi ngược chiều hoặc vượt ra khỏi đồ thị đã hình thành như tạo ra 1 hướ ng đi hay 1 dạng tạm giác. Điểm “breakaway” c ó thể do những điều kiện mới mà người giao dịch đã biết hoặc việc mua hay bán bị kiềm lại xảy ra trong 1 hướng đi mạnh.  Vùng trống đo lường được (measuring gap). Khi thị trường dịch chuyển lên hay xuống, nó có thể đột nhiên thay đổi tạo ra 1 vùng trống c ao hơ n hoặc thấp hơn với 1 mức phát triển mới. Một số nhà phân tích xem vùng trống dạng này như 1 điểm nửa chừng để đi đến 1 đích giá c uối cùng. Rõ ràng là không thể biết chắc điều này đến k hi chấm dứt sự dịch chuyển vì vậy những vùng trống như dạng này chỉ là 1 mẹo nhỏ được sử dụng trong phân tích. Tuy nhiên, bạn có thể liên kết các vùng trống với các vùng giá trần và giá sàn xác định như là sự tăng lên hay giảm xuống để mục tiêu giá tiềm năng.  Vùng trống suy yếu (ex haustion gap). Vùng trống này xuất hiện ở cuối của 1 sự dịch chuyển mở rộng và phản ánh sự bùng phát cuối cùng của việc mua ở thị trường hướng lên hoặc là bán ra ở thị trường hướng xuống. Một khi việc mua hoặc bán này xảy ra thì s ẽ không có thêm người mua hoặc bán nào mới để duy trì xu hướng – thế lực để vận hành xu hướng đã suy yếu. Kết quả là sự thay đổi trong xu hướng có thể tạo ra những chuyển động đột ngột ngược với định hướng như là sự tranh giành muộn của người mua hoặc người bán để tránh vị thế kém c ủa họ. Đây là 1 dạng t ình huống mà đôi khi tạo ra 1 vùng đỉnh hay 1 vùng đáy trên đồ thị. Các hoạt động của giá trong 1 ngày hoặc nhiều ngày có thể bị cô lập bởi các vùng t rống suy y ếu và sau đó 1 vùng trống ly khai sẽ đột nhiên quay ngược lại.


				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:301
posted:5/20/2009
language:Vietnamese
pages:4