Your Federal Quarterly Tax Payments are due April 15th Get Help Now >>

TÌNH HÌNH NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM by blue123

VIEWS: 5,241 PAGES: 9

									                 TÌNH HÌNH NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM

                        CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

1. Nguy cơ nợ công Hy Lạp lan đến châu Á:

- Với tình hình nợ công ở châu Âu ngày càng căng thẳng, nhiều mối lo ngại cho rằng
sẽ có tác động dây truyền sang các nước châu Á.

- Ngày 9/6, phát biểu tại Singapore, Phó giám đốc điều hành IMF Naoyuki Shinohara
cho rằng, cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu có thể gián đoạn thương mại toàn cầu
và ảnh hưởng tới nhu cầu hàng hóa xuất khẩu của châu Á và đưa dòng tiền nóng vào
châu lục này nếu các nhà hoạch định chính sách không có hành động nhanh chóng và
thích hợp. Triển vọng tăng trưởng kinh tế tươi sáng của châu Á, cùng với tỷ lệ lãi suất
thấp tại các nền kinh tế lớn trong khu vực, sẽ thu hút thêm nhiều nguồn vốn và điều
này có thể dẫn tới nguy cơ tăng trưởng quá nóng tại một số nền kinh tế nếu không có
các chính sách ứng phó hợp lý. Theo ông Shinohara, chính phủ các nước châu Á cần
thận trọng trước những nguy cơ tiềm tàng từ cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu và sẵn
sàng hành động khi cần thiết. Ông khẳng định do châu Á có tốc độ tăng trưởng kinh tế
mạnh nên những lựa chọn chính sách được đưa ra tại khu vực này ảnh hưởng rất lớn
đến nền kinh tế toàn cầu.

- Cũng mới đây, tân thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan cho rằng, Nhật Bản đang đứng
trước “nguy cơ suy sụp” vì những khoản nợ công khổng lồ. Hiện nay Nhật Bản, nền
kinh tế phát triển khá mạnh ở châu Á, đang gánh khoản nợ công cao gấp 2 lần GDP.
Và theo dự đoán nếu tiếp tục phát hành trái phiếu mới như hiện nay nợ công trong vài
năm tới sẽ vượt mức 200% GDP.

Trước tình hình kinh tế thế giới như thế, Việt Nam bị ảnh hưởng như thế nào? Tình
hình sử dụng nợ công của Việt Nam những năm qua ra sao? Việt Nam co nguy cơ
phải đối diện với cuộc khủng hoảng nợ công hay không?

2. Tình hình nợ công ở Việt Nam:

 a) Ảnh hưởng bởi tình hình nợ công châu Âu:
- Với những gì đang diễn ra, Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nhất định đến hoạt động xuất
nhập khẩu, dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp. Ngoài ra, việc ổn định tỷ giá và tâm
lý trên TTCK cũng là một thách thức không nhỏ. Chi tiêu công mở rộng cũng đang
gây sức ép lên thâm hụt ngân sách của Việt Nam. Mô hình tăng trưởng dựa quá nhiều
vào nguồn vốn đầu tư bên ngoài sẽ dễ bị tổn thương nếu kinh tế thế giới ngưng trệ.

- Tại hội thảo quản lí và giám sát tài chính công tổ chức ngày 2/7, phó chủ tịch ủy ban
giám sát tài chính tiền tệ quốc gia Lê Xuân Nghĩa đã nêu lên 6 ảnh hưởng lớn đến
Việt Nam trước những vấn đề nợ công ở châu Âu:

 + Thứ nhất, xuất khẩu khó khăn kéo GDP sụt giảm. Cuộc khủng hoảng nợ đã kéo
theo nhiều hệ quả ở châu Âu: kinh tế phát triển chậm, kéo theo tình trạng thất nghiệp
và lạm phát tăng cao, đồng Euro mất giá, làm cho thu nhập thực tế của người dân và
cầu tiêu dùng đối với hàng nhập khẩu giảm mạnh. Mà châu Âu là một thị trường xuất
khẩu chính của Việt Nam, vì vậy cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu sẽ tác động tiêu
cực đến xuất khẩu và tăng trưởng GDP Việt Nam với mức suy giảm khoảng 1.7%
GDP.

  + Thứ hai, trong khi các nước phát triển duy trì mức lãi suất thấp nhằm kích thích
phục hồi kinh tếmức lãi suất cao, khoảng 14-16%/năm kỳ hạn ngắn và khoảng 14,5-
17%/năm với kỳ hạn trung, dài hạn. Nếu tính đến lạm phát ước cho năm 2010 là dưới
10%, doanh nghiệp phải đạt mức tỷ suất lợi nhuận trên 24-27%, là mức cao so với tỷ
suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân của các ngành trong năm 2009 (khoảng
20%),các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn ở mức lãi suất như thế và rất nhiều khả
năng rơi vào tình trạng thua lỗ.

  + Thứ ba, khủng hoảng nợ công châu Âu có thể tạo ra hai tac động trái chiều hoàn
toàn với luồng vốn FDI trên phạm vi toàn cầu. Trong những quốc gia có trình độ phát
triển tương đương với các nước thuộc EU sẽ hưởng lợi do nguồn vốn FDI sẽ dịch
chuyển từ châu Âu sang các quốc gia này khi nhà đầu tư muốn tránh thuế thu nhập
doanh nghiệp đang có xu hướng tăng cao tại các quốc gia châu Âu. Ngược lại, các
nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam lại hoàn toàn không được hưởng lợi từ
việc dịch chuyển luồng vốn FDI khỏi châu Âu do sự chênh lệch quá lớn về trình độ
công nghệ, trong khi luồng vốn từ các nhà đầu tư châu Âu vào các quốc gia này giảm
sút do cuộc khủng hoảng nợ.

   + Thứ tư, Các nhà đầu tư trên thế giới đang tìm vàng như một nơi trú ẩn an toàn
trước nguy cơ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu ngày một lan rộng, làm cho giá vàng
trong thời gian qua tăng mạnh, lên mức trên 1.300 USD/ounce. Điều này sẽ tác động
xấu đến đầu tư toàn thế giới và Việt Nam bởi một khi vàng chiếm tỷ trọng lớn trong
danh mục đầu tư của các tổ chức thì cũng đồng nghĩa với việc các danh mục khác như
cổ phiếu, trái phiếu sẽ bị giảm mạnh. Như vậy, luồng vốn đầu tư gián tiếp càng trở
nên hạn chế.

   + Thứ năm, Việt Nam với tỷ lệ nợ cao, thâm hụt ngân sách triển miên đang bị các
tổ chức tài chính quốc tế xếp vào mục rủi ro cao, với mức bảo hiểm rủi ra tin
dụng(CDS) là 263, xếp ngay trên Hy Lạp (321). Điều này sẽ là một cản trở rất lớn
trong việc thu hút các luồng vốn đầu tư gián tiếp, trực tiếp và cho vay từ nước ngoài.

  + Thứ sáu, khủng hoảng nợ đã làm đồng euro mất giá trầm trọng so với đồng USD,
do đó sẽ tạo ra những rủi ro nhất định trong việc vay, trả ngoại tệ cho các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu cũng như cho hoạt động ngoại hối của các ngân hàng thương
mại.Ngoài ra, đồng USD tăng giá mạnh trong khi thâm hụt thương mại của Việt Nam
đang gia tăng, cộng với thời điểm đáo hạn của các khoản vay tín dụng ngoại tệ, sẽ gia
tăng sức ép tăng rủi ro hối đoái và biến động tỷ giá vào các tháng cuối năm 2010.

- Trên đây là những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ ở Hy Lạp nói riêng, ở châu
Âu nói chung đến Việt Nam. Vậy ngay nội tại, tình hình sử dung nợ công của Việt
Nam những năm qua như thế nào?

  b) Tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam:

- Trong suốt vài chục năm qua chi ngân sách luôn cao hơn thu ngân sách nên nợ công
ngày càng tăng. Để bù đắp cho thâm hụt ngân sách, Chính phủ thường đi vay bằng
cách phát hành trái phiếu hay vay các tổ chức quốc tế.

- Trong báo cáo Chính phủ cho thấy, nợ đang tăng cao: từ 33,8% GDP năm 2007 đến
năm 2008 là 36,2%GDP và năm 2009 chiếm 41,9%GDP. Cuối năm 2010 nợ chính
phủ sẽ chiếm 44,6% GDP, do điều chỉnh tăng bội chi ngân sách lên trên 5% GDP
(năm 2009 là 6,9% GDP và năm 2010 là 6,2% GDP), cùng với việc tăng phát hành
trái phiếu Chính phủ (trong 2 năm 2009 và 2010 là 120.000 tỷ đồng). Đó là những con
số biết nói, khi nợ quốc gia tăng sát mức an toàn, vay nợ trong nước và nước ngoài
gặp khó khăn và phải vay với lãi suất cao, dẫn tới an ninh tài chính quốc gia đứng
trước khó khăn, khi bội chi ngân sách chưa giảm và năm nào nợ chính phủ cũng tăng
khá nhanh, tiệm cận mức không an toàn, cứ đà này có thể đến năm 2012 nợ Chính phủ
sẽ “vươn” đến mức không an toàn.

- Điều đáng lo ngại là hiệu quả chi tiêu, hiệu quả đầu tư không cao, nạn tham nhũng
và nạn “khát đầu tư” của các cơ quan nhà nước vẫn không giảm, và vì thế nợ có thể
tăng nhanh nều không được kiểm soát chặt chẽ, nhất là việc bảo lãnh cho các doanh
nghiệp nhà nước và tư nhân vay vốn, việc phân cấp vay vốn.

 c. Những bất cập trong công tác quản lý và sử dụng nợ công:

Điển hình là vụ việc Vinashin

- Chức năng chính của Vinashin là tập trung phát triển năng lực cốt lõi của ngành
công nghiệp đóng tàu, nhưng Vinashin đã dùng lượng vốn rất lớn đầu tư tràn lan và
thua lỗ nghiêm trọng. Trong 2 năm 2006- 2007, tổng số vốn dài hạn mà Vinashin huy
động được lên đến trên 43.700 tỷ đồng, tương đương gần 3 tỷ USD. Các báo cáo cho
biết, trong thương vụ cổ phiếu Bảo Việt, Vinashin lỗ khoảng hơn 700 tỷ, vụ tàu du
lịch Hoa Sen dự tính lỗ hơn 1000 tỷ, hiện tại đội tàu có tới 2/3 số tàu không sử dụng
được… Trong số các tàu nói trên, có 9 tàu được mua với tổng số 3.100 tỷ đồng nhưng
phải treo cờ nước ngoài vì không được đăng kiểm tại Việt Nam do quá “đát”.

- Trong việc triển khai các dự án, Vinashin đầu tư quá nhiều dự án ở nhiều lĩnh vực
kinh tế khác nhau, không tập trung vào trọng tâm trọng điểm, vượt khả năng cân đối
tài chính, hầu hết các dự án đầu tư đều triển khai dở dang. Sau 8 năm, nhà máy thép
cán tấm nóng tại Cái Lân, Quảng Ninh mới bắt đầu chạy thử.

- Được biết, nguồn vốn 750 triệu USD trái phiếu quốc tế được dùng đầu tư tới 219 dự
án nên số dự án dở dang nhiều, có đến 75% số dự án chưa phát huy tác dụng.
TBKTSG thì cho biết, từ khoảng năm 2003, Vinashin đã bắt đầu đến các tỉnh, thành
vùng ĐBSCL ồ ạt xin đăng ký đầu tư nhiều dự án lớn. Nhưng qua hơn năm năm, đất
quy hoạch cho một số dự án của tập đoàn này vẫn để hoang.

- Nợ công nếu sử dụng khéo có thể phục vụ tốt cho phát triển đất nước, còn sử dụng
kém hiệu quả có thể dẫn đất nước đến nợ nần chồng chất và thế hệ mai sau phải gánh
trách nhiệm trả nợ. Nợ công có thể tính và theo dõi dễ dàng và phải công bố chính xác
cho nhân dân, những người sẽ phải trả nợ, được biết.

 d. Một số nhận định về tình hình nợ công ở Việt Nam:

- Trong báo cáo tựa đề “Vietnam – Dự báo tháng 2/2010”, do Bộ phận Đánh giá Nguy
cơ Quốc gia (CRS) của Đơn vị Thông tin Kinh tế (EIU) thuộc tạp chí Nhà Kinh tế
(Anh) công bố tháng 2/2010, có một phần đánh giá Việt Nam trên các lĩnh vực nợ
công, tiền tệ, ngân hàng... EIU cho rằng Việt Nam đã vượt qua được những tác động
của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng những áp lực về thâm hụt ngân sách và lạm
phát vẫn còn đe dọa tới sự ổn định của nền kinh tế.
- Về nợ công, EIU cho rằng hiện có những quan ngại về những tác động thứ cấp tiêu
cực tiềm tàng của các nỗ lực kích thích kinh tế đang thực hiện. Nổi lên nhiều lo ngại
về việc các chương trình kích thích kinh tế như thế nào trong khi đồng thời phải trang
trải thâm hụt ngân sách lớn (tương đương 8,1% GDP, thâm hụt ngân sách, không kể
các khoản đang cho vay) dự kiến sẽ tiếp tục cao trong năm 2010 sau khi đạt con số
9% GDP năm 2009. Trong hai năm tới, nợ công của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng, từ con
số ước tính 52,1% GDP (2009) lên 54,3% GDP (2011).
- Cũng theo báo cáo trên, Việt Nam hiện có các nhân tố tích cực bao gồm:
 + Một, sự ủng hộ mạnh mẽ của các nhà tài trợ. Tới thời điểm này, các nhà tài trợ
nước ngoài đã cam kết sẽ ủng hộ 8 tỷ USD viện trợ phát triển chính thức (ODA) trong
năm 2010, tăng đáng kể so với con số 5 tỷ USD cam kết trong năm 2009.
 + Hai, tỷ lệ nguồn dự trữ ngoại tệ so với nợ ngắn hạn nước ngoài ở mức cao đã làm
giảm đáng kể sự dễ tổn thương của Việt Nam trong bối cảnh xảy ra khủng hoảng tiền
mặt. Tuy nhiên, tỷ lệ này gần đây đã giảm do sự tụt giảm của nguồn dự trữ ngoại tệ.
- Bên cạnh đó, Việt Nam phải đối mặt với việc thực hiện đúng hạn đối với các cam kết
nợ công, cả ngoài nước và trong nước, trước các áp lực về kinh tế và xã hội. Mức dự
trữ ngoại hối của Việt Nam đã giảm 21,3% xuống còn 18,8 tỷ USD trong giai đoạn
cuối năm 2008 tới cuối tháng 8/2009. Một mức độ dự trữ ngoại hối thấp sẽ làm tăng
nguy cơ thực hiện những cam kết về nợ trong bối cảnh xảy ra khủng hoảng tiền mặt.
- Về tổng thể, EIU nhận định vấn đề nợ công của Việt Nam ở mức ổn định. Xếp hạng
nguy cơ nợ công của Việt Nam có thể sẽ không được cải thiện hơn trong những năm
tới (2010-2011). Chính phủ Việt Nam đã khẳng định sẽ thực hiện các cam kết về nợ.
Hiện chỉ tồn tại một nguy cơ nhỏ rằng chính phủ sẽ không thể giải quyết các khoản nợ
của mình trong năm 2010-2011. Trong 2 năm tới, việc Việt Nam sẽ có thể tiếp tục
phát hành trái phiếu quốc tế dưới dạng đồng USD, nhưng đây sẽ tiếp tục là một
phương thức đắt giá của việc huy động tài chính.
- EIU nhận định rằng triển vọng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam vẫn là tích cực.
Trong năm 2010-2011, kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng của năm
2009 và sẽ đạt mức tăng trưởng GDP lần lượt là 6,2% và 7,0%. Thâm hụt ngân sách
của Việt Nam sẽ giảm xuống còn khoảng 7,8% GDP so với mức 9% GDP của năm
2009. Tuy nhiên, lạm phát của Việt Nam trong 2 năm 2010-2011 sẽ ở mức cao, lần
lượt là 10,3% và 9,9%.
- Ngoài sự phát triển của đầu tư vào xây dựng văn phòng, đầu tư của nhà nước trong
các dự án phát triển hạ tầng cũng sẽ giúp hỗ trợ cho ngành công nghiệp xây dựng
trong năm 2010-2011. Ngành dịch vụ, vốn là động lực chính của tăng trưởng trong
năm 2009, sẽ tiếp tục đạt mức tăng trưởng vững chắc trong những năm tới.
- Bảng tin nợ công (bảng tin số 5, file đính kèm)

3. Dự đoán nguy cơ khủng hoảng nợ công ở Việt Nam:

- Người dân Việt Nam đang được nhận xét là “ăn” những món khó nuốt, nào là siêu
dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam, Vinashin, Chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô dâm ô
…đó là những vụ việc cụ thể, sai phạm của cá nhân. Tất cả những sự việc trên, cho
thấy đang phát sinh một nguy cơ, đó là liệu trong tương lai gần Việt Nam có xảy ra
một cuộc khủng hoảng nợ công như đã từng xảy ra ở Hy Lạp? Nói như vậy, nhiều
người lạc quan cho rằng không tin, thiết nghĩ trong số nhiều nguyên nhân dẫn đến
khủng hoảng nợ công của Chính phủ Hy Lạp đang tiềm tàng và có bóng dáng ở Việt
Nam.

- Câu chuyện khủng hoảng nợ công của Chính phủ Hy Lạp, nguyên nhân trực tiếp là
bệnh thành tích, vì mặc dù chưa đủ tiêu chuẩn nhưng để đáp ứng đủ những tiêu chuẩn
khắt khe cho việc trở thành thành viên liên minh EU, chính phủ Hy Lạp đã có gắng
làm đẹp những con số về lạm phát, tăng trưởng,…kết quả là nhân dân nước này trở
thành những con nợ nước ngoài lúc nào không biết. Ở Việt Nam cũng vậy, bệnh thành
tích là một căn bệnh trầm kha (mãn tính), báo chí nói nhiều, Quốc hội cũng đăng đàn
nhiều lần, nhưng vẫn chưa tìm được “thuốc” để chữa khỏi “bệnh”. Nói về bệnh thành
tích ở xã hội Việt Nam xuất hiện ở mọi nơi, mọi cấp, mọi ngành, chỉ có điều tính chất,
mức độ khác nhau. Đặc biệt trong ngành giáo dục, gần đây nổi lên “người đương thời”
Đỗ Việt Khoa, một thầy giáo làng ở Hà Tây (cũ), hơn 04 năm đấu tranh chống tiêu
cực, bệnh thành tích trong ngành giáo dục, kết quả bị buộc thôi việc và cũng mất danh
hiệu “người đương thời”, trở thành “người không hợp thời”.

- Tại Việt Nam trong tương lai gần chưa thể xảy ra một cuộc khủng hoảng nợ công
như từng xảy ra đối với Chính phủ Hy Lạp, nhưng trong tương lai xa, nguy cơ này
khó tránh khỏi, nếu như cung cách điều hành của Chính phủ không thay đổi. Với
những khoản vay ODA, phát hành trái phiếu quốc tế, bảo lãnh nợ nước ngoài… đặc
biệt, những khoản vay giành cho các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước làm ăn không
hiệu quả (Vinashin, PMU 18…), thì nguy cơ hoàn toàn có thể xảy ra.

- Trong báo cáo Chính phủ cho thấy, nợ đang tăng cao: từ 33,8% GDP năm 2007 đến
năm 2008 là 36,2%GDP và năm 2009 chiếm 41,9%GDP. Cuối năm 2010 nợ chính
phủ sẽ chiếm 44,6% GDP, do điều chỉnh tăng bội chi ngân sách lên trên 5% GDP
(năm 2009 là 6,9% GDP và năm 2010 là 6,2% GDP), cùng với việc tăng phát hành
trái phiếu Chính phủ (trong 2 năm 2009 và 2010 là 120.000 tỷ đồng). Đó là những con
số biết nói, khi nợ quốc gia tăng sát mức an toàn, vay nợ trong nước và nước ngoài
gặp khó khăn và phải vay với lãi suất cao, dẫn tới an ninh tài chính quốc gia đứng
trước khó khăn, khi bội chi ngân sách chưa giảm và năm nào nợ chính phủ cũng tăng
khá nhanh, tiệm cận mức không an toàn, cứ đà này có thể đến năm 2012 nợ Chính phủ
sẽ “vươn” đến mức không an toàn.

- Giả định, một khi các khoản vay được ưu tiên cho phát triển kinh tế không mang lại
hiệu quả, nợ quốc gia ngày càng tăng, chẳng hạn như những tập đoàn kinh tế Nhà
nước làm ăn thua lỗ như kiểu Vinashin (nợ hơn 80.000 tỉ đồng, trong đó hơn 750 triệu
USD trái phiếu quốc tế) không có khả năng thanh toán, thì các khoản nợ đó Chính phủ
phải trả, và còn rất nhiều dự án khác. Đáng lo ngại hơn nếu tới đây Chính phủ trình lại
siêu dự án đường sắt cao tốc Bắc- Nam số vốn hơn 50 tỉ USD, được thông qua, nguy
cơ càng hiện rõ. Tất cả những khoản nợ trên đến hạn không trả được, trong khi đó dư
nợ quốc gia đã vượt ngưỡng không an toàn, thì một kịch bản tương tự, Chính phủ Việt
Nam tuyên bố phá sản, Việt Nam sẽ trở thành Hy Lạp thứ hai tại châu Á, người dân
Việt Nam sẽ như người dân Hy Lạp là “con nợ” của nước ngoài.

4. Hướng khắc phục, ổn định nợ công:

 a) Khó khăn:

- Theo Bộ Tài chính, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và
nợ chính quyền địa phương. Theo định nghĩa này, tổng số dư nợ công đến cuối năm
2009 của Việt Nam ước khoảng 44,7% GDP, trong đó nợ của Chính phủ là 35,4%
GDP, nợ được Chính phủ bảo lãnh là 7,9% GDP và nợ của chính quyền địa phương là
1,4% GDP.

- Theo Cơ quan Tình báo kinh tế (EIU), nợ công của Việt Nam tăng liên tục từ 36%
GDP trong năm 2001 lên 51% GDP vào năm 2009. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế, mặc dù
tỉ lệ nợ công của Việt Nam vẫn nằm trong tầm kiểm soát nhưng đã trở nên cao hơn so
với tỉ lệ phổ biến 30-40% ở các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi khác.

- Một xu thế rất đáng lo ngại là cũng trong giai đoạn 2001-2009, thâm hụt ngân sách
(cả trong và ngoài dự toán) tăng từ 2,8% GDP lên tới 9% GDP. Như vậy, trong khi nợ
công tăng liên tục thì ngân sách lại ngày càng trở nên thâm hụt. Điều này vi phạm một
nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công bền vững, đó là nợ công ngày hôm nay phải
được tài trợ bằng thặng dư ngân sách ngày mai.
- Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam đã trở thành kinh niên và mức thâm hụt đã vượt xa
ngưỡng “báo động đỏ” 5% theo thông lệ quốc tế, khiến tính bền vững của nợ công
càng bị giảm sút. Trong khi đó, với nhu cầu tiếp tục đầu tư để phát triển, chắc chắn nợ
công của Việt Nam sẽ còn tăng trong nhiều năm tới. Cụ thể là, với tỉ lệ tiết kiệm nội
địa chỉ khoảng 27% GDP trong khi mức đầu tư toàn xã hội mỗi năm khoảng 42%
GDP thì Chính phủ sẽ phải tiếp tục đi vay rất nhiều (bên cạnh vốn đầu tư nước ngoài)
để bù đắp khoản thiếu hụt đầu tư. Nếu nhìn vào một số dự án đầu tư cụ thể từ nay đến
năm 2030 như dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam (56 tỉ USD), dự án xây dựng thủ đô
(60 tỉ USD), nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận (hơn 10 tỉ USD)... - trong đó nguồn
tài trợ chủ yếu là từ ngân sách và nợ công - có thể thấy nợ công sẽ tăng mỗi ngày.

- Trong những năm gần đây tốc độ tăng năng suất của Việt Nam khá thấp, và tăng
trưởng GDP chủ yếu nhờ vào việc gia tăng lao động và vốn. Theo dự báo của EIU, tốc
độ tăng GDP trung bình hằng năm của Việt Nam sẽ giảm còn khoảng 5% sau năm
2020 và 3-4% sau năm 2030.

- Mức lãi suất cao khiến việc vay mới và tài trợ nợ công trở nên đắt đỏ hơn, do vậy
ảnh hưởng tới tính bền vững của nợ công. Mức lãi suất, đến lượt mình, lại phụ thuộc
vào quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ và kỳ vọng lạm phát trong nền kinh tế. Là
một nền kinh tế thâm dụng đầu tư, ở Việt Nam nhu cầu tín dụng luôn luôn cao và lạm
phát rất khó kiềm chế ở mức thấp. Một bằng chứng cụ thể là ngay cả khi mới chớm
thoát khỏi suy giảm kinh tế thì chỉ số CPI và lãi suất ở Việt Nam đã tăng nhanh trở lại,
cao hơn nhiều so với hầu hết các nền kinh tế trong khu vực. Hệ quả là khi Chính phủ
đi vay bằng cách phát hành trái phiếu trong nước, lợi suất phải trả đã lên tới 11-12%.
Tương tự như vậy, khi Chính phủ phát hành trái phiếu quốc tế, lợi suất phải trả cũng
cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh (như Indonesia và Philippines) do mức độ rủi ro
cao hơn.

- Việt Nam gia nhập nhóm nước thu nhập trung bình, các khoản vay quốc tế ưu đãi sẽ
dần không còn nữa mà thay vào đó là các khoản vay thương mại với lãi suất cao hơn
nhiều.

- Bên cạnh tốc độ tăng GDP, lạm phát và lãi suất, mức độ rủi ro của nợ công cũng phụ
thuộc vào một số biến số vĩ mô khác, chẳng hạn như mức thâm hụt tài khoản vãng lai
và dự trữ ngoại hối của quốc gia. Trên những phương diện này, Việt Nam cũng đang
có những bất lợi đáng kể so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực.

 b) Hướng giải quyết:

- Chấn động từ cuộc khủng hoảng nợ công ở Hi Lạp đang có nguy cơ lan rộng sang
một số quốc gia EU khác khiến các nước, nhất là những nước có nợ công lớn và thâm
hụt ngân sách kinh niên, phải đánh giá lại tình trạng tài khóa của mình. Tại Việt Nam,
tình trạng nợ công liên tục tăng làm cho yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý nợ công
của Việt Nam cũng trở nên cấp thiết. Cần nhấn mạnh là việc quản lý nợ công không
chỉ liên quan đến trách nhiệm của Bộ Tài chính mà còn liên quan đến nhiều cơ quan
khác.
- Quản lý nợ công có hai phương diện, đó là kinh tế vĩ mô và quản lý vi mô. Theo
phương diện thứ nhất, quản lý nợ công phải được coi là một bộ phận hữu cơ trong
hoạt động quản lý vĩ mô tổng thể của quốc gia, trong đó quan trọng nhất là ổn định vĩ
mô và tăng trưởng bền vững. Theo phương diện thứ hai, quản lý nợ công là một thành
phần của quá trình quản lý và quản trị công. Vì vậy, để quản lý nợ công tốt, cần có
một sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan dưới sự điều hành chung một cách hiệu
quả của chính phủ.

- Các cơ quan chính phủ cần xác định rõ những dự án kinh tế nào khả thi và có tác
dụng thực tế thì hãy tiến hành đầu tư, vay nợ nước ngoài.

- Cần quán triệt tư tưởng chạy đua theo thành tích, tiếp tục điều tra, ngăn chặn và phát
hiện kịp thời những hành vi hối lộ, rút ruột.

- Sử dụng vốn vay một cách hiệu quả bài bản, trẻ hóa bộ máy quản lý, tinh giảm bộ
máy quản lý, cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục đầu tư hơn nữa.

- Ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ lạm phát, thất nghiêp.

								
To top