Docstoc

IzCode.Net - Free Ebooks - Co-2-cach-ct-bad-sector-cho-cng-ang-c-s-dng-ph-bin-hin-nay

Document Sample
IzCode.Net - Free Ebooks - Co-2-cach-ct-bad-sector-cho-cng-ang-c-s-dng-ph-bin-hin-nay Powered By Docstoc
					Có 2 cách để cắt bad sector cho ổ cứng đang được sử dụng phổ biến hiện nay.

Cách 1: Dùng Partition Magic cắt bỏ chỗ bad sector. Thực hiện như sau:

Khởi động máy tính từ đĩa CD Hiren’s Boot. Trong menu chương trình chọn mục 6, Hard
Disk Tool, rồi chọn tiếp mục 6 tiếp theo, Norton Utilities, cuối cùng chọn mục 1, Norton
Disk Doctor.




Sau khi dùng chương trình NDD xác định được vị trí bị bad của HDD, dùng chương trình
Partition Magic để ẩn các partition có bad sector bị lỗi.

Cách 2: Dùng chương trình HDD Regenerator. Cách thực hiện:

Khởi động hệ thống từ đĩa CD Hiren’s Boot. Cửa sổ đầu tiên xuất hiện, chọn 6.Hard Disk
Tools, chọn tiếp 2. HDD Regenerator, bấm phím bất kì để xác nhận. Kế đến ở dòng Starting
sector (leave 0 to scan from the beginning) gõ vào dung lượng lớn nhất hiện có của HDD,
gõ xong bấm Enter để chương trình thực hiện.

Thời gian chờ, tùy thuộc vào dung lượng đĩa và số lượng bad sector. Tuy nhiên, nếu ổ
cứng đã bị bad sector thì bạn cũng nên cẩn thận sao lưu dự phòng dữ liệu trên nó để
phòng khi bị lỗi vật lý hoàn toàn sẽ không khôi phục lại được.

 Partition Magic (PM) là một phần mềm không thể thiếu trong “túi càn khôn” đối với
       những người làm công tác “bảo trì” máy tính hay các “vọc sỉ” tại... gia.



 Đây là 1 phần mềm chuyên dùng để phân chia và tái... phân chia ổ cứng mà không
 làm mất dữ liệu đã có trong ổ cứng (dỉ nhiên là theo lý thuyết). Phần mềm này có
 thể làm việc với “gần như” mọi Hệ điều hành hiện có và chuyển đổi các dạng thức
  phân vùng ổ cứng một cách dể dàng. Nếu phân tích tỉ mỉ mọi tính năng của phần
  mềm này chắc phải viết thành 1 cuốn sách dày, ở đây e-CHÍP chỉ xin đề cập đến
 những tính năng căn bản và quan trọng vì giới hạn của 1 tờ báo, các bạn có thể tự
 ngiên cứu thêm để làm “chủ” phần mềm này. Chú ý: PM sẽ có 1 phiên bản cho Dos
bao gồm tất cả các file nằm trong thư mục Program Files\PowerQuest\PartitionMagic
 8.0\Dos. Bạn có thể chép các file nầy ra đĩa mềm hay đĩa CD để chạy độc lập. Cách
            sử dụng phiên bản cho Dos và cho Win hoàn toàn giống nhau.


       Reduced: 61% of original size [ 827 x 368 ] - Click to view full
                                        image
                          1/ Tạo phân vùng (partition)



 Trên một ổ đĩa bạn có thể tạo 4 phân vùng Primary hay 3 phân vùng Primary và 1
phân vùng Extanded. Trong phân vùng Extanded bạn có thể tạo bao nhiêu phân vùng
                               con (logic) cũng được.



Cách làm: Chọn ổ đĩa -> chọn Partition/Create -> chọn Logical Partition hay Primary
 Partition -> chọn Partition Type -> đặt tên (Label) -> chỉ định kích thước (Size) ->
 chọn vị trí đầu hay cuối đĩa (Beginning of unallocated space hay End of unallocated
                                    space) -> OK



                        2/ “Nhân bản” (Copy) phân vùng



 Bạn có thể tạo phân vùng mới là bản sao của phân vùng đang có. Chức năng này
được dùng khi: Di chuyển nhanh nội dung của ổ đĩa này sang ổ đĩa khác. Sao lưu dự
                         phòng. Thay đổi vị trí phân vùng...



  Cách làm: Chọn ổ đĩa và phân vùng -> chọn Partition/Copy -> chọn vị trí -> OK.



                      3/ Chuyển đổi (Convert) phân vùng
     - FAT sang FAT32 (Windows 9x/Me/2000/XP). - FAT sang NTFS (Windows
                                   NT/2000/XP).



            - FAT32 sang FAT. - FAT32 sang NTFS (Windows 2000/XP).



- NTFS sang FAT hay FAT32. Chú ý: Không thể chuyển đổi được nếu phân vùng NTFS
   có sử dụng những tính năng đặt biệt như: compressed, sparse, reparse points,
             encrypted hay có lỗi đĩa như: lost clusters, cross-linked...



                       - Primary thành Logical và ngược lại.




Cách làm: Chọn phân vùng -> bấm Partition/Convert -> chọn dạng thức cần chuyển.



                        5/ Sát nhập (Merge) phân vùng



Bạn có thể sáát nhập 2 phân vùng FAT, FAT32 hay NTFS để giảm bớt số lượng phân
vùng đang có mà không làm mất dữ liệu. Bạn cũng có thể sát nhập phân vùng logic
 vào primary. Chú ý: Giửa 2 phân vùng cần sát nhập không được có phân vùng thứ
      ba. Bạn không thể sát nhập phân vùng FAT/FAT32 với phân vùng NTFS.



Cách làm: Chọn ổ đĩa và phân vùng -> chọn Partition/Merge để mở hộp thoại Merge
Adiacent Partitions -> chọn phân vùng muốn sát nhập trong phần Merge Option. Nội
dung của phân vùng nầy sẽ trở thành thư mục (folder) trong phân vùng kia -> đÐặt
  tên cho thư mục lưu trữ nội dung của phân vùng bị mất khi sát nhập trong phần
    Merge Folder -> chọn kiểu bảng FAT cho phân vùng sau khi sát nhập -> OK.
                         6/ Chia tách (Split) phân vùng



   Bạn có thể chia một phân vùng FAT hay FAT32 thành 2 phân vùng có cùng định
dạng. Bạn có thể chọn dữ liệu từ phân vùng “gốc” để đưa sang phân vùng mới, chọn
               kích thước, vị trí cũng như đặt tên cho phân vùng mới.



   Cách làm: Chọn phân vùng -> chọn Partition/Split -> chọn bảng Data -> chọn
file/thư mục cần di chuyển -> đặt tên cho phân vùng mới -> chọn dạng thức -> chọn
                   bảng Size -> chỉ định kích thước -> chọn OK.


      Reduced: 88% of original size [ 576 x 479 ] - Click to view full
                                      image




7/ Thay đổi kích thước/Di chuyển (Resize/Move) phân vùng

Bạn có thể thay đổi kích thước hay di chuyển phân vùng với 1 số chú ý sau:
- Không thể thu nhỏ phân vùng nếu trong phân vùng không còn không gian trống.

- Không thể mở rộng phân vùng nếu không có không gian trống ở kề bên phân vùng.

- Trong thời gian điều chỉnh kích thước hay di chuyển phân vùng NTFS, nếu có trục
trặc phân vùng này có thể bị hư hỏng.




Cách làm: Chọn ổ đĩa và phân vùng -> chọn Partitiopn/Resize/Move -> dùng chuột
để điều chỉnh khoảng trống ở đÐầu đĩa/cuối đĩa qua thanh công cụ Partition Map
(hay gõ số dung lượng vào các ô kích thước). Di chuyển phân vùng qua vị trí khác
bằng cách đưa chuột vào giửa rồi bấm, giử và kéo chuột đi.

8/ “Giấu” (Hide) phân vùng

Bạn có thể giấu phân vùng đĩa hay cho “hiện” (unhide) nếu bạn... thích. Chú ý: Nếu
bạn có nhiều phân vùng Primary, chỉ phân vùng khởi động “hiện” còn các phân vùng
khác sẽ tự động “ẩn”.

Cách làm: Chọn ổ đĩa và phân vùng -> chọn Partition/Advanced/Hide Partition hay
Unhide Partition -> OK.

9/ Phục hồi phân vùng bị xoá (Undelete)

Bạn có thể phục hồi phân vùng FAT, FAT32, NTFS và Linux. Chú ý: Bạn chỉ phục hồi
khi không gian của phân vùng bị xoá chưa được sử dụng. Bạn chỉ có thể phục hồi lần
lượt nếu có nhiều phân vùng bị xoá vì chương trình chỉ hiển thị danh sách từng phân
vùng mỗi lần chạy. Bạn không thể phục hồi nếu phân vùng bi xoá có lỗi ở hệ thống
file. Bạn không thể phục hồi phân vùng primary nếu ổ đĩa có đến 4 phân vùng
primary.

Cách làm: Trên disk map hay danh sách phân vùng, chọn phần không gian trống
(unallocated space) -> chọn Partition/Undelete -> chọn phân vùng cần phục hồi ->
OK.
10/ Cài Hệ điều hành mới

Partition Magic còn có chức năng giúp bạn cài đặt thêm Hệ điều hành mới để chạy
song song với Hệ điều hành đang có. Chương trình sẽ giúp bạn tính toán dung lượng
sao cho phù hợp với HĐH và tạo phân vùng Primary mới từ không gian lấy ở các
phân vùng đang có. Chú ý: Bạn phải tự cài đặt HĐH lên phân vùng mới và cài đặt
trình quản lý Boot nếu cần thiết.

11/ Thay đổi thông tin ổ đĩa cho phần mềm

Trong bộ PM8 có “khuyến mại” phần mềm Drive Mapperv có chức năng tự động thay
đổi tên ổ đĩa, trong các file lưu trữ thông tin về địa chỉ của các phần mềm chạy trong
Windows. Thí dụ: Bạn có nhiều phần mềm cài trên ổ đĩa D, nay vì gắn thêm 1 ổ cứng
nên ổ D bị đổi thành F, tất cả sẽ không còn chạy được do sai địa chỉ. Phần mềm nầy
sẽ tự động thay đổi tất cả địa chỉ lưu trữ từ D (cũ) thành F (mới) để các phần mềm
nầy tiếp tục chạy.




Chức năng nầy đặc biệt có ích khi bạn chia lại (thêm, bớt, di chuyển...) phân vùng
trên ổ cứng, thay đổi số lượng ổ cứng trong máy mà không muốn cài đặt lại các phần
mềm.

Khi chạy chương trình, bạn có chọn lựa:

- Typical Operation: Cho phép bạn thay đổi ký tự ổ đĩa theo ý muốn.

- Merge Operation: Cho phép bạn thay đổi ký tự ổ đĩa bằng đường dẫn đến 1 thư
mục.

- Split Operation: Cho phép bạn thay đổi ký tự ổ đĩa bằng đường dẫn đến 1 file hay
thư mục.
Bài 2

Partition Magic 805 và Boot magic 8.0
(Sưu tầm)

Một ngày nào đó đột nhiên bạn chợt thấy ổ C bạn quá chật chội trong khi ổ D và E lại
thừa thãi, quá rộng. Bạn muốn chỉnh lại ổ C cho lớn hơn, nhằm giúp windows chạy
cho nhanh hơn. Chỉ có một phần mềm duy nhất thay đổi kích thước ổ đĩa mà không
mất dữ liệu là Partion Magic 8.05

Bạn không thể thay đổi, chỉnh sữa gì ổ đĩa C bằng Fdisk hay Disk manager: như thế
sẽ mất hết toàn bộ dữ liệu của bạn đấy sau khi format lại ổ đĩa

Với phiên bản Norton Partition Magic 8.0 Portable mới nhất này, Partion Magic
Portable ko phải activation


Code:
 http://rapidshare.com/files/41169550/npm80_portable.rar

  This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is
  sized 800x531 and weights 83KB.
PMagic 805 hoàn toàn lột xác và làm việc cực nhanh so với các phiên bản cũ 6.0 hay
7.0 trước đây. Chỉ trừ ổ đĩa C khởi động( primary active ) buộc phải ra DOS hay trước
khi vào XP, 2000 để làm việc còn những ổ khác như D, E ( logical ) không khởi động,
Partition Magic 8.05 giờ có thể làm việc ngay trong XP hay 2000 tốc độ nhanh thật
đáng nể: Từ vài phút đến vài chục phút với 3,4 ổ đĩa( partition ) kích thước tổng
cộng lên đến 40GB. Bạn nên tránh tối đa luôn chuyện làm việc PM8.05 trong DOS vì
tốc độ quá chậm chạp và chờ đợi khá lâu, khá với trong windows. Tuy vậy trong
DOS( Hiren CD 79 ) vẫn có giá trị vì đôi lúc bạn không vào được windows và buộc
phải làm phần vùng lại ngoài DOS thôi.

Partition Magic 8.05 còn kèm theo một tiện ích thật tốt giúp bạn khởi động bằng một
trong nhiều windows từ ổ C chung là pqboot làm trong DOS và pqbw.exe trong
windows.: có thể bạn không cần phải dùng gì đến Boot Magic 8.05

I)Chức năng chủ yếu của Partition Magic805 là phân vùng lại ổ đĩa
( partition ) được nói khá kỹ ở đây hướng dẫn các bạn nào còn chưa quen với phần
mềm này:

Sau khi cài xong trong Windows, khởi động lại vào Partition magic 8.05 bạn sẽ thấy
rõ ràng các ổ đĩa trong từng ổ cứng của bạn với từng tên đặt( label ). Trường hợp đặc
biệt nhất máy bạn chỉ có 1 ổ đĩa duy nhất khởi động là C . Muốn tạo thêm 1,2 phân
vùng khác để cài thêm windows khác hay dành lưu trữ file backup ư?

Nếu bạn chưa quen cách làm việc củạ PM805 , cứ chọn bên trái vào pick a task rồi
chọn mục đầu là create a new partition . Theo dõi những gì hướng dẫn từng bước của
nó cho bạn làm theo phong cách wizard, không gì gọi là quá khó với any new bie để
có thêm các phân vùng mới logical là D, E...

Bạn có thể đặt tên phân vùng lại tuỳ mình cho dễ nhớ hơn( quan trọng là khi làm
restore bằng ghost không sai ) bằng cách click nút phải vào từng ổ đĩa tạo ra và
chọn lại label.

Bạn muốn làm rộng ổ C ra ư? Không có gì dễ hơn với PM 8.05? Nhớ là bạn phải thu
nhỏ các ổ khác như E, D rồi mới làm rộng C ra được. Nếu ổ E đã nhỏ, không nên thay
đổi làm gì , bạn cứ thu nhỏ kích thước ổ D phần bên trái để dành thêm cho ổ C.

Bạn click vào ổ D bằng cách chọn nút phải và chọn resize/ move: bạn sẽ thấy 2 phần
màu sắc khác nhau ở ổ D : màu xanh đen là dữ liệu và phần xanh nhạt hơn là phần
trống. Bạn có thể thay đổi kích thước ổ D từ bên phải hay trái: làm bên trái D để
dành cho C, bạn click vào phần bên trái của D có mũi tên 2 bên, kéo qua phải. Kích
thước ổ D sẽ nhỏ lại, phần giảm hiện rõ giúp bạn biết khi nào nên ngừng lại. Xong
rồi, bạn qua ổ C click vào bên phải kéo rộng ra chiếm chỗ của ổ D mới vừa giảm.
Như thế kích thước ổ C tăng thêm tuỳ ổ D giảm bớt bao nhiêu. Bạn nhấn nút apply ở
góc dưới bên trái, là nó chui ra khỏi windows và trước khi vào lại WinXP, 2000 mới
bắt đầu làm( với file xmnt2002 .exe ). Dù bạn có kéo sai hay quá đáng muốn chỉnh
lại ấn nút undo là nó dừng lại, bỏ qua, bạn chỉ chọn lại cho thích hợp.

II )Chức năng thứ 2 quan trọng của PM 8.02 là giúp tạo ra thêm từ 2- 4
primary ở ổ C , nhưng chỉ có 1 là active: Mấy ổ khác trong C sẽ đặt tạm tên khác
như K, L, sẽ được dấu đi để không làm ảnh hưởng đến một ổ khởi động duy nhất
( active ). Như thế, bạn có thể khởi động từng lúc một: Windows như XP pro,. XP
home, Me và 98 hoặc phiên bản tiếng TQ, Pháp chứa cùng ở ổ C .
Muốn làm điều thú vị này, đầu tiên bạn phải chọn ổ C khá lớn đến 12GB-20GB để
chia primary cho 2-3 windows. Bạn cứ giảm ổ D, E và dành hết cho C như cách trên
đã nói phần đầu. Kế tiếp, bạn thu nhỏ C dành phần đầu là cho Xppro( P1 ) phần còn
lại( P2 ) dành cho WinXP home, . Phần trống khi kéo bên phải của ổ C chưa có tên,
bạn click vào nút phải nơi ấy chọn create tạo ra partition mới..

Đặt tên ngay cho nó để khỏi lộn khi làm ghost sao lưu. Đặt tên xong bạn cũng ở nút
phải chọn vào advanced chọn ổ mới( P2 ) là primary, active thì phần C cũ( XP pro )
sẽ bị dấu đi( hidden ), chọn luôn format bằng FAT 32 và không nên chọn NTFS;
Win98, DOS sẽ không nhận ra.

Nhớ là khi làm chuyện này bạn phải có thủ sẵn một ổ đĩa mềm tự khởi động, có gì
còn cứu hộ được. Bạn bắt đầu cài từ đầu XP home vào PV2( phân vùng 2) bằng đĩa
cài đặt CD

Khởi động lại, bạn sẽ có XP home làm việc thay vì XP pro nếu bạn chọn P2 là primary
và active thay vì P1 (XP pro )

Nếu có sẵn các bản sao lưu ghost của XP home ( mà bạn đã cài trước đây vào C
không dùng chung với XP pro được ), bạn cứ restore vào ổ đĩa primary ( P2 ) mới tạo
ra. Tạo ra các primary mới P2,P3.. bạn cần nhớ rõ ( đặt tên riêng ) cho từng
Windows để khi ghost lại đúng từng partition primary mới này, bạn còn phải chỉnh
sữa lại file boot. ini trong C nó mới tự khởi động được.

Muốn chỉnh lại boot.ini, điều đầu tiên bạn phải clíck vào properties của file này xoá
nút kiểm hidden và read only hay system mới thay đổi được. Thí dụ ở ổ D bạn có cài
Win 2000 và ổ C bạn có primary là XP pro và XPhome ở P2. Ngoài XP pro ở ổ C thì
boot.ini dành riêng cho XP home( P2 ) khởi động cùng với 2000 phải là :

[boot loader]
timeout=5

default=multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(2)\WINDOW S
[operating systems]

multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(2)\WINDOWS="Micro soft Windows XP Home
Edition" /fastdetect

multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(4)\WINNT="Microso ft Windows 2000 Professional"
/fastdetect

C:\="MS-DOS"

Bạn nhớ điều quan trọng là ổ nào mà bạn đã chọn là active, primary lúc khởi động nó
sẽ là ổ C . Ở ổ C khởi động đấy, Partition Magic 8.05 dấu thật khéo: chỉ có một
Windows lúc khởi động ở C như XP pro: bạn mới thấy được thôi.

Nhưng trái lại khi bạn đứng ở D ( Win2000 ), bạn sẽ thấy đủ hết các ổ primary,
hidden và active: Rõ ràng là Partition Magic 805 không dấu gì được với Win2000; các
ổ bị dấu đi, bạn sẽ thấy chúng sẽ mang tên tạm như I, K, L .. : Điều này cũng có ích
lợi phần nào là cần chép thêm file hay xoá file nào ổ đĩa dấu(hidden ) vẫn làm được
trong Win2000. Tương tự vậy, khi bạn xài Ghost 2003 trong DOS, bạn cũng thấy rõ
mọi ổ đĩa primary dấu như Win 2000. Drive image 2002 và cả Ghost 2003 làm việc
trong các windows cũng thế .
Do vậy bạn cần lưu ý điều tối quan trọng này để khi phục hồi ( restore ) lại bằng
Ghost , Drive image cho thật đúng như lúc đầu, nếu sai chỗ bạn sẽ mất hết dữ liệu
quí của bạn đấy.

Giờ với 2,3 primary có thêm trong C , bạn phải cần đến 2 file quan trọng của PM8.05
để lựa chọn phần primary nào sẽ khởi động( active ) : Đó là file pqboot.exe làm việc
trong DOS, bạn cũng nên sửa lại đường dẫn PATH trong autoexec.bat nơi có pqboot
lưu để sau này, bạn chỉ cần đánh pqboot ở C trong DOS là nó hiện ra giao diện giúp
bạn khởi động lần tới là ở P1( XP pro ), hay P2( XP home )

Trong các windows khác như XP pro, XP home, bạn cần tạo 1 shortcut cho file
pqbw.exe trong thư mục cài PM8.0 và bạn thích lần tới khởi động là Me ư? Cứ việc
click vào file ấy trong windows nó cũng hiện ra giao diện để lựa chọn là 1,2, Nếu bạn
chọn 2 ( XP home )là khởi động lần tới sẽ là Xphome chứ không thể là XP pro nữa.
Nhưng file này còn cho phép bạn chọn ngoài restart now còn có restart later để dành
đấy mà làm việc tiếp trong windows đến khi muốn khởi động lại cho lần tới thôi.

Có 2 file ấy giúp lựa chọn boot máy từng lúc mà bạn không cần gì cài Boot magic 8.0
cho chiếm hữu MBR( master boot record ) ảnh hưởng tới chức năng của Norton ghost
2003.. và nhiều thứ khác.

III) Các chức năng phụ của PM 8.05 không kém phần quan trọng : cũng click
bằng nút phải vào từng ở đĩa, bạn sẽ chọn :

- Là delete partition xoá 1 ổ đĩa tất tiện khi cài thêm một windows mới nhanh khỏi
phải xoá từng thư mục. Phải đặt tên lại ngay tránh cho các ổ đĩa khác bị đôn lên.

- Convert : thay đổi qua NTFS hay FAT thay vì FAT 32 .

- Merge hay Split: hoà lẫn vào partition khác hay phân ra thêm.

- Properties : cho biết đặc tính từng ổ đĩa hay phân vùng ( partition )

- Advanced: chọn vào ổ đĩa bị dấu hide sẽ có unhide: không dấu đi, hay set active
nếu nó không active, primary hay logical.

- Browse: cho biết rõ các thư mục hiện có trong ổ đĩa ấy.
IV ) Ngoài các operation partition ở dưới bên trái phần trên có thêm pick a task :
Phần này sẽ giúp cho các bạn chưa quen lắm với Partition Magic 8.05 , cứ chọn thoải
mái, nó có thêm phần wizard( phù thuỷ ) cho từng task hướng dẫn thật kỹ từng bước
để làm cho tốt khỏi sai:

Đó là các task create a new partition ( tạo ra thêm 1 ổ đĩa hay phân vùng mmới ),
create a back up partition ( tạo ổ đĩa sao lưu ), install a new operation system ( cài
đặt hệ điều hành mới ), resize a partition ( định lại kích thước một ổ đĩa ),
redistribute a free space ( phân phối lại chỗ trống ), merge a partition( tích hợp vào
1 ổ đĩ a khác ) , copy a partition ( chép thêm 1 partition khác y chan ).

BOOT MAGIC 8.0 CÓ THẬT SỰ CẦN THIẾT ?

Boot Magic8.0 là phần mềm có sẵn trong Partition magic 8.02 cùng với Datakeeper
5.0, bạn muốn cài thêm nó hay không là tuỳ bạn thôi. Bài này bàn về các chức năng
cùng cách hoạt động của Boot magic 8.0 để xem thực sự nó có thật đáng cho bạn cài
đặt vào hay thôi đi.




I ) Cài đặt Boot Magic 8.0 : Việc cài đặt boot magic 8.0 thật dễ dàng không
chút khó khăn không cần cả CD key nào cả: bạn chỉ cần cài nó trong một windows là
đủ, dùng chung Boot Magic này cho các windows khác vẫn được .

Dù bạn có muốn cài thêm một lần nữa, nó cũng không cho phép làm, sẽ bắt bạn phải
uninstall( gỡ bỏ ) cái cũ.
Bao giờ khi cài đặt nó cũng bắt bạn tạo một đĩa mềm rescue diskette ( đĩa cứu hộ )
để dành đó khi ổ cứng trục trặc, dùng đĩa này khởi động chọn lại hệ điều hành( do
B.M đã chiếm Master boot record hay (MBR ).

Tuy vậy, bạn vẫn phải cần có một đĩa mềm khác tự khởi động để khi đĩa rescue
diskette này có hư bad sector còn cứu hộ: Bạn nên tìm ra thư mục boot magic 8.0 đã
cài vào,ø thay đổi cấu hình bằng một file bmcfg.exe.

Trong file này, bạn có thể xoá dấu kiểm enable boot magic là nó phục hồi lại MBR
như cũ va nếu muốn uninstall( bạn xoá toàn bộ thư mục boot magic là xoá sạch ).
Đôi lúc, bạn tìm không thấy trong Add Remove programs của windows đâu .

Khi nào bạn muốn sử dụng Boot magic lại cứ chọn lại chính nút kiểm này( nếu chưa
xoá thư mục BM 80 ), khởi động máy lại nó sẽ chiếm hữu lần nữa MBR cho phép bạn
chọn 1 trong 2-4 hệ điều hành nào là khởi động.

File này rất quan trọng, bạn có thể đứng ở bất cứ đâu( ổ D hay E ), trong DOS(
bmcfg.exe ) trong windows khác( dùng file bmcfg32.exe ) vẫn thay đổi vẫn được cấu
hình boot magic này: điều này sẽ áp dụng cho mọi windows mà bạn đang có.
Với file này bạn có thể chọnï add hay delete ( xoá đi hay thêm vào ) bất cứ hệ điều
hành nào mà bạn muốn cho Boot magic 8.0 quản lý. Nhớ là phải chọn save/exit ở
hàng cuối thì thay đổi cấu hình lần tới mới có hiệu lực.ø

II) Nếu bạn chỉ sử dụng có 1 hệ điều hành windows như Me hay XP ở C và 2000 ở
D, liệu bạn có cần thiết phải dùng đến Boot Magic 8.0 không?: Phải nói thực là
không. Vì sao vậy?
Khi bạn có 1 hệ điều hành XP ở ổ C, D là 2000 thì lúc khởi động, bạn vẫn có menu
dual boot( khởi động kép ) giúp bạn dễ dàng chọn lựa giữa XP ở C và 2000 ở D. Bạn
muốn có thêm DOS ở 2 hệ điều hành XP và 2000 ư? Bạn chỉ cần sửa lại file boot.ini (
cần xoá đặc tính hidden, read only, system ) file này và thêm một dòng ở cuối là
C:\=”MS –DOS “.

Bạn có cài thêm boot magic 8.0 trong trường hợp này, nó sẽ chiếm hữu phần quan
trọng MBR , dù bạn có chọn thế nào, nó vẫn không cho vào ngay windows đã lựa mà
lại vào trước tiên là menu dual boot của windows và bạn phải chọn lần nữa, như vậy
cài thêm BM 8.0 làm gì cho mệt?

III) Khi bạn có nhiều hệ điều hành khởi động đều từ ổ C như là XP pro, XP home
hoặc WinMe: Lúc ấy bạn phải nhờ đến Partition magic 8.02 giấu đi giúp các hệ điều
hành khác và chỉ cho phép 1 hệ điều hành( active) mình muốn khởi động. Như thế,
đúng là Boot Magic 8.0 có thể cần thiết phần nào và nên cài vào thật sự.
Tạo ra thêm các partition primary ngoài ổ C như thế , bạn có thể cài thêm 1 hay 2 hệ
điều hành mới XP home, hoặc WinMe vào các primary tạo ra . Trong trường hợp, bạn
đã có các bản sao lưu ghost của XP home, Me trong CD trước đây muốn dùng lại vẫn
được : cứ restore vào đúng các ổ primary active mới tạo ra. Nhưng muốn cho ổ mới
này hoạt động và vào lại được các windows , banï nhớ là phải chỉnh sửa lại file boot
.ini của XP home hay WinMe cho thật đúng với thứ tự mới các primary partition vừa
tạo ra
Nhưng rõ ràng khi bạn chọn windows nào khởi động bằng menu riêng của Boot
magic 8.0, nó cũng không cho vào ngay windows đó mà đầu tiên lại qua phần trung
gian menu dual boot( khởi động kép ) của windows rồi tuỳ mình chọn thêm lần nữa
windows ấy với thực sự vào được. Riêng Boot magic 8.0 càng không thể làm điều gì
siêu đẳng như Partition magic 8.05 là giấu đi partition nào cả mà buộc phải có hỗ trợ
làm việc của chính yếu là PM8.05..
Thực sự là PM 8.05 đã có sẵn 2 file quí giá rồi là pqboot làm việc trong DOS và
pqbw.exe( trong windows ), bạn có thể cứ double click vào 1 trong 2 file ấy để khởi
động lần tới windows khác như XP pro hay XPHome. Khởi động máy lại, bạn có ngay
menu dual boot của windows để dùng( nhớ là phải xoá nút kiểm enable trong cấu
hình của BM 8.0 khi không còn muốn xài BM 8.0 nữa ) .
Cuối cùng, phải nói thực sự một điều là Boot magic 8.0 không cài vào cũng không
chết con giáp nào cả. Cài nó vào, chuyện phiền hà cho bạn nhất là nó chiếm hữu
thực sự MBR ( master boot record ) làm ảnh hưởng đến nhiều nhất Norton ghost
2003, boot bằng đĩa mềm khởi động không thể hoạt động mặc dù vào lúc khởi động
BM 8.0 có tiện lợi phần nào đôi chút.
Nhưng giờ này việc cài đặt hay gỡ bỏ đi ( uninstall ) Boot Magic 8.0 cũng rất dễ, hiện
đại. Muốn remove boot magic: vào add remove program trong windows đã cài nếu
có, hoặc ở windows khác: xoá nút kiểm enable trong boot configuration và xoá(
delete )toàn bộ thư mục Boot Magic là xong . Nên tuỳ bạn quyết định có nên cài hay
không?
Tôi lúc đầu quả là có thích B.M. 8.0 nhưng rồi cứ phải nhìn màn hình khởi động nó
chiếm hữu thấy bực mình; nên gỡ bỏ hẳn và chỉ dùng 2 file có sẵn của PM 8.0 như
đã nói trên để chọn lựa giúp mình lần tới hệ điều hành khác vào lúc khởi động.
Ðề: cho hỏi cách kiểm tra ổ cứng bị bad?
ong lúc đang cài đặt Windows hệ thống bị treo mà không hề xuất hiện một thông báo lỗi
nào (đĩa cài đặt Windows vẫn còn tốt), mặc dù vẫn có thể dùng Partition Magic phân
vùng cho HDD một cách bình thường.

- Tiến hành Fdisk thì báo lỗi "nofixed disk present" nên không thể thực hiện được. Đang
Fdisk máy bị treo giữa chừng. Format ổ cứng thì máy báo lỗi Badtrack 0 và không cho
format. Đang chạy bất kì ứng dụng nào, nhận được một câu thông báo như ‘Error reading
data on dirver C:, Retry, Abort, Ignore, fail?’ Hoặc ‘A serious error occur when reading
driver C:, Retry or Abort?’.
hắc phục: Dùng các chương trình trong đĩa Hiren’s Boot để xử lý.

- Cách 1: Dùng Norton Disk Doctor và partition Magic kiểm tra và cắt bỏ chỗ bad.


Đầu tiên khởi động từ đĩa Hiren’s Boot, ở menu của chương trình chọn mục 6. Hard Disk
Tools, chọn tiếp 6. Norton Utilities, chọn 1.Norton Disk Doctor. Xác định chỗ bad bằng
NDD, sau đó tiến hành chạy chương trình Partition Magic cắt bỏ phần bị bad bằng cách
đặt partition chứa đoạn hỏng đó thành Hide Partition.


Ví dụ: khoảng bị bad từ 6.3GB đến 6.6GB, bạn chia lại partition, chọn partition C đến
6GB, partition D bắt đầu từ 7GB, cứ như thế bạn tiến hành loại bỏ hết hẳn phần bị bad.
Cách này sử dụng rất hiệu quả tuy nhiên nó chỉ khắc phục khi đĩa cứng của bạn có số
lượng bad thấp.
ách 2: dùng chương trình HDD Regenerator.


Các nhà sản xuất luôn để dự phòng một số sector trên mỗi track hoặc cylinder, và thực
chất kích thước thực của sector vẫn lớn hơn 512bytes rất nhiều (tùy loại hãng đĩa). Như
thế nếu như số sector bị bad ít hơn số dự phòng còn tốt thì lúc này có thể HDD
Regenerator sẽ lấy những sector dự phòng còn tốt đắp qua thay cho sector bị hư ổ cứng sẽ
hoạt động tốt trở lại. Nếu lượng sector dự phòng ổ cứng ít hơn thì ổ cứng sẽ còn bị bad
một ít thì có thể trở lại dùng Cách 1.

Cách thực hiện:

Khởi động hệ thống từ đĩa Hiren’s Boot. Cửa sổ đầu tiên xuất hiện, chọn 6.Hard Disk
Tools, chọn tiếp 2. HDD Regenerator, bấm phím bất kì để xác nhận. Kế đến ở dòng
‘Starting sector (leave 0 to scan from the beginning)’ gõ vào dung lượng lớn nhất hiện có
của HDD, gõ xong bấm Enter để chương trình thực hiện. Thời gian chờ, tùy thuộc vào
dung lượng đĩa và số lượng bad.
10 GIÂY ĐỂ KHÔI PHỤC DỮ LIỆU TRÊN Ổ CỨNG -
ROLLBACK RX PRO
FRIDAY, 20. JULY 2007, 14:28:38
o với System Restore của Windows thì Rollback Rx Pro tốt hơn rất nhiều, đáng
để sử dụng: ít chiếm không gian dĩa hơn, phục hồi dữ liệu hoàn hảo hơn (kể cả
trường hợp bị virus), tạo được vô số thời điểm phục hồi, tốc độ nhanh hơn...
Nếu như system Restore của Windows XP phải mất từ 5 đến 15% không gian ổ
cứng để tạo snapshot (điểm phục hồi) thì RollBack Rx chỉ mất 0,1% cho cả ổ
cứng. Nếu như phần Restore của Windows chỉ có thể phục hồi được các file hệ
thống và chào thua trường hợp nhiễm virus thì RollBack Rx có thể lấy lại tất cả
mọi dữ liệu nguyên thủy trước khi bị hỏng hóc, trở lại thời điểm trước khi bị virus
tấn công, và qui trình phục hồi chỉ làm mất của bạn khoảng 10 giây cho toàn bộ
ổ cứng.

Nguyên nhân gây hỏng hóc hệ thống, mất dữ liệu, tạo ra các lỗi khó hiểu thường
bắt nguồn từ sự tấn công của virus hay việc liên tục cài và gỡ bỏ các phần mềm.
Chính vì việc này mà rất nhiều người sử dụng máy tính hiện nay thường dùng
một tiện ích khôi phục như phần system restore của Windows hoặc các phần
mềm chuyên nghiệp khác như Ghost, Acronis True Image, Drive Image... chưa
kể các phần mềm đóng băng hệ thống như DriveVaccine, Deep Freeze dành cho
những điểm kinh doanh Internet.

Các tiện ích này thường có cả những ưu lẫn khuyết điểm. Nếu như tiện ích
system restore của Windows kém hiệu quả với sự tấn công của virus thì các
phần mềm còn lại cũng có các phiền toái không mong muốn như tốc độ phục hồi
chậm, tốn nhiều dung lượng dĩa cứng, tăng thời gian khởi động hệ thống hay
buộc người dùng phải tạo CD lưu giữ ảnh dĩa, v.v...

Rollback Rx Pro Enterprise tránh được tất cả những phiền toái này. Đây là một
phần mềm được thiết kế do Horizon DataSys, công ty chuyên sáng tạo các giải
pháp quản lý và khôi phục dữ liệu an toàn (một trong những giải pháp là Drive
Vaccine mà LBVMVT số 110 đã giới thiệu). Phần mềm sẽ tạo ra một ổ dĩa ảo
chứa mọi thay đổi của hệ thống trong từng thời điểm với dung lượng rất nhỏ. Từ
đó, nó sẽ giúp bạn khôi phục tất cả dữ liệu của cả ổ cứng thật nhanh chóng, nếu
không tính phần restart lại Windows thì bạn chỉ mất chưa đầy 10 giây. Các điểm
vượt trội khác có thể kể như Rollback Rx ít ảnh hưởng tới thời gian khởi động,
không tốn nhiều tài nguyên, chỉ sử dụng 0,1% không gian dĩa cứng, có thể tạo
vô số các điểm khôi phục (60.000 snapshots!) và quan trọng nhất là mọi thứ
được phục hồi cực kỳ hoàn hảo!

Để tham khảo thêm, bạn có thể vào trang chủ:
http://www. horizondatasys.com/Default.aspx


Sau khi tải về file cài đặt có dung lượng 9.55 MB và giải nén, bạn xem bản
hướng dẫn kèm trong đó và bấm đôi vào file Setup để cài đặt. Bước cài đặt hoàn
tất, Rollback sẽ đề nghị bạn restart lại hệ thống. Sự hiện diện của chương trình
sẽ bắt đầu bằng một icon có hình chữ thập cạnh khay đồng hồ.
Cách sử dụng chương trình:
- Để tạo điểm khôi phục, bạn bấm phải chuột vào icon này rồi chọn Take
snasphot. Trong cửa sổ vừa mở, đặt tên điểm khôi phục trong khung Snapshot
name (bạn có thể gõ ngày, giờ...) và gõ vài dòng chú thích trong khung
Description, điều này sẽ giúp bạn nhớ và quản lý tốt hàng trăm, hàng ngàn
snapshot sau này. Điểm khôi phục sẽ hoàn thành chỉ vài giây sau khi bạn bấm
Next.
- Để khôi phục nhanh thì bạn chọn Restore system, tìm và chọn snapshot mình
muốn khôi phục trong khung vừa mở và bấm Next, phần việc còn lại là chỉ ngồi
chờ hệ thống khởi động lại và Rollback sẽ khôi phục cả ổ cứng của bạn trở về
thời điểm đã tạo snapshot.

Để thực hiện thêm các tác vụ khác, bạn hãy bấm đôi vào icon để gọi giao diện
Rollback Rx lên và chọn trong phần bên trái:
- Restore system: thể hiện tất các các snapshot từ lần cài đặt đầu tiên cho tới lần
mới nhất, chọn điểm khôi phục và bấm Next như hướng dẫn phía trên.
- Recover files: giúp bạn tìm và lấy lại file hay folder hay cả phân vùng đã mất,
chọn Browse and recover a folder... trong phần dĩa ảo của Rollback để phục hồi
lại thứ mình cần.
- Reset baseline: xóa bỏ tất cả các điểm khôi phục.
- Take snapshot: tạo điểm khôi phục mới, sử dụng như hướng dẫn trên.
- Update baseline: cập nhật lại điểm khôi phục bạn đã tạo.
- User settings: phần này giới hạn các tài khoản khác (ngoại trừ Adminitrator)
không được phép sự dụng Rollback, bạn có thể thêm vào danh sách sử dụng
các user khác bằng nút Add.
- Snapshot management: tại đây bạn có thể khóa hay mở khóa (Clock, Unlock)
một hay nhiều điểm khôi phục nào đó để không ai táy máy tới nó được. Cũng có
thể xóa bỏ hay xem những dòng ghi chú lúc bạn tạo snapshot cho từng thời
điểm
- Program settings: gồm nhiều chọn lựa như không cho hiển thị icon, tự động
defrag các snapshot trong phần dĩa ảo... Đáng chú ý là phần Network settings
giúp bạn có thể tạo điểm khôi phục hay restore hệ thống từ xa qua Internet.
- Program logs: ghi lại tất cả các quá trình hoạt động để bạn tiện theo dõi.
- Snapshot defragmenter: sắp xếp lại ổ ảo chứa các snapshot giúp tiện ích hoạt
động nhanh và ít tốn không gian dĩa hơn.
- Add scheduled task: thêm các nhiệm vụ do bạn tự ấn định.

Theo giới thiệu của nhà sản xuất thì bạn có thể tạo tới 60 ngàn điểm khôi phục
nhanh. Vì vậy, bạn có thể tạo snapshot mỗi ngày hay trước khi làm những việc
gì quan trọng như chuẩn bị cài một phần mềm lạ. Trong trường hợp phần mềm
đó không vừa ý bạn hay xung khắc với các thứ khác gây lỗi hệ thống thì
Rollback Rx Pro Enterprise sẽ giúp loại bỏ nó không còn chút dấu vết. Để tiện
quản lý và tránh rối mắt thì bạn nên xóa bớt các điểm khôi phục không cần thiết
và chọn defrag tự động trong phần Advance Settings.

Vài điều lưu ý khi sử dụng RollBack Rx Pro:
1. Vì Rollback Rx phục hồi nguyên ổ cứng nên khi hệ thống bị lỗi mà bạn muốn
phục hồi trở lại những ngày trước đó thì các dữ liệu gì mới (nếu có) có đều mất
hết. Ta có thể khắc phục điểm này bằng cách:

- Tạo snapshot trong thời điểm hiện tại.
- Restore lại thời điểm nào mình muốn trước khi trục trặc hệ thống.
- Vào Recover myfiles: chọn Browser and recover... rồi bấm Next, chọn snapshot
cuối cùng, bấm Next rồi chờ cho chương trình quét và thể hiện ổ ảo. Trong
khung vừa mở, chọn Driver, tìm file hay folder mình muốn lấy lại, bấm phải chuột
chọn Recover... để lấy nhanh thứ mình cần. Qui trình này bạn có thể thiết lập tự
động bằng cách chọn phần tùy chọn “Keep these files or folder unchanged when
restoring system to another snapshot” trong Program settings > Advance
Settings > Settings, lựa và add folder hay phân vùng bạn không muốn Rollback
Rx đụng chạm đến.

2. Nếu bạn không tự defrag ổ ảo của Rollback Rx thì sau 4 lần tạo snapshot,
chương trình sẽ tốn chút thời gian để defrag ổ ảo khi khởi động máy.

3. Nếu bạn có cài Acronis True Image và muốn bung file ảnh dĩa, cần vào Add
and Remove Programs để loại bỏ Rollback Rx trước đã (khi gỡ bỏ chương trình
này, bạn có quyền chọn bất cứ điểm khôi phục nào).

Bản full của Rollback Rx Pro có thể tải tại:

http://www.divshare.com/download/972463-ba1




                    NHẬN BIẾT ĐĨA CỨNG BỊ BAD:


1. Trong lúc đang cài đặt Windows hệ thống bị treo mà không hề
  xuất hiện một thông báo lỗi nào (đĩa cài đặt Windows vẫn còn
tốt), mặc dù vẫn có thể dùng Partition Magic phân vùng cho HDD
                           một cách bình thường.


2. Không Fdisk được: Khi Fdisk báo lỗi No fixed disk present (đĩa
cứng hiện tại không thể phân chia) hoặc Fdisk được nhưng rất có
                thể máy sẽ bị treo trong quá trình Fdisk.
3. Không format được HDD: Khi tiến hành format đĩa cứng máy
              báo lỗi Bad Track 0 - Disk Unsable.


4. Khi đang format thì máy báo Trying to recover allocation uint
xxxx. Lúc này máy báo cho ta biết cluster xxxx bị hư và nó đang
cố gắng phục hồi lại cluster đó, nhưng thông thường cái ta nhận
                    được là một bad sector!


 5. Đang chạy bất kỳ ứng dụng nào, nhận được một câu thông
 báo như Error reading data on driver C:, Retry, Abort, Ignore,
 Fail? Hoặc Sector not found on driver C:, Retry, Abort, Ignore,
Fail? Hoặc A serious error occur when reading driver C:, Retry or
                            Abort ?.


 6. Khi chạy Scandisk hay NDD (Norton Disk Doctor) hay bất kỳ
phần mềm kiểm tra bề mặt đĩa (surface scan) nào, ta sẽ gặp rất
                       nhiều bad sector.


                      CÁCH KHẮC PHỤC:


 (Tất cả các chương trình giới thiệu dưới đây nằm gọn trong đĩa
Hiren’s Boot có bán ở các cửa hàng phần mềm tin học, phiên bản
                         7.7 hoặc 7.8).


         Cách 1: Dùng Partition Magic cắt bỏ chổ bad.
                      Thực hiện như sau:


  Đầu tiên dùng chương trình NDD, khởi động hệ thống từ đĩa
 Hiren’s Boot, ở menu của chương trình chọn mục 6. Hard Disk
 Tools, chọn tiếp 6. Norton Utilities, chọn 1. Norton Disk Doctor.


Sau khi dùng NDD xác định được vị trí bị bad trên HDD, tiến hành
      chạy chương trình Partion Magic cắt bỏ phần bị bad.


Ví dụ: Khoảng bị bad từ 6.3 GB đến 6.6 GB, bạn chia lại partition,
 chọn partition C đến 6 GB, partition D bắt đầu từ 7 GB, cứ như
 thế bạn tiến hành loại bỏ hết hẳn phần bị bad (đừng hà tiện!).
Cách này thủ công nhưng sử dụng rất hiệu quả, tuy nhiên nó chỉ
     khắc phục khi đĩa cứng của bạn có số lượng bad thấp.


         Cách 2: Dùng chương trình HDD Regenerator:


Thông thường nhà sản xuất luôn để dự phòng một số sector trên
 mỗi track hoặc cylinder, và thực chất kích thước thực của sector
 vẫn lớn hơn 512 bytes rất nhiều (tùy loại và hãng đĩa). Như thế
 nếu như số sector bị bad ít hơn số dự phòng còn tốt thì lúc này
 có thể HDD Regenerator sẽ lấy những sector dự phòng còn tốt
  đắp qua thay cho sector bị hư, như vậy bề mặt đĩa sẽ trở nên
“sạch” hơn và tốt trở lại. Dĩ nhiên nếu lượng bad sector nhiều hơn
sector dự phòng thì ổ cứng sẽ còn một ít bad. Bạn có thể quay lại
                            cách 1.


Cách thực hiện: Khởi động hệ thống từ đĩa Hiren’s Boot. Cửa sổ
 đầu tiên xuất hiện, chọn 6. Hard Disk Tools, chọn tiếp 2. HDD
   Regenerator, bấm phím bất kỳ để xác nhận. Kế đến ở dòng
Starting sector (leave 0 to scan from the beginning) gõ vào dung
lượng lớn nhất hiện có của HDD, gõ xong bấm Enter để chương
trình thực hiện. Thời gian chờ, tùy thuộc vào dung lượng đĩa và
                         số lượng bad.


              HDD Regenerator 1.51



HDD Regenerator 1.51 có tốc độ quét và sửa lỗi khá chậm (ví dụ
với 426 bad sector mất 2 tiếng đồng hồ), nhưng tất cả đều được
 phục hồi lại trạng thái tốt (good). Các phân vùng đã phục hồi
   hoàn toàn có thể chứa dữ liệu, cài đặt hệ điều hành và các
 chương trình một cách bình thường y như cũ, không còn gì bất
                          thường nữa.


Bạn có thể dùng HDD Regenerator 1.51 theo một trong 3
                        cách sau đây:


 - Dùng đĩa CD Hiren 7.6 - 7.8 auto boot (trong đó có sẵn HDD
Regenerator 1.51 ở mục Hard disk tools). Sau khi boot bằng CD,
chọn vào phần Hard disk tools. Chương trình sẽ khởi động bằng
RAM disk vào DOS và bắt đầu thực hiện việc cứu hộ đĩa cho bạn.


 Theo thông tin của chương trình thì kết quả cứu hộ khá khiêm
tốn (chỉ vào khoảng 60% nếu không phải hư hỏng vật lý) nhưng
                 kết quả thực tế cao hơn nhiều.


  - Bạn cũng có thể tải về từ trang web của chính tác giả người
                  Nga Dmitritry Primochenko:
http://abstradrome.com/products/hddreg/151...7464//hr151.exe
                                .


 Nơi đây còn có các công cụ khác như Word Regenerator, Excel
    Regenerator... giúp sửa lỗi các file văn bản, bảng tính...


 Chạy file exe tải về trong Win XP, bạn sẽ tạo được một đĩa CD
hoặc đĩa mềm tự boot cứu hộ đĩa cứng. Lưu ý bạn nên dùng HDD
  Regenerator phiên bản mới nhất 1.51 thay vì 1.41 (không có
                 phần giúp làm ra CD tự boot).


Ngoài ra, chương trình chỉ quét ổ cứng trong máy tính chứ không
          thể các ổ cứng di động (cắm qua cổng USB).


- Ghi HDD Regenerator 1.51 ra CD cứu hộ. Như vậy, dung lượng
chỉ hết 1.44 MB, còn trống đến hơn 700 MB. Bạn có thể tận dụng
để tạo đĩa CD boot đa năng bằng BCDW 2.01 dùng cài mới WinXP
 SP2, hoặc bằng các các file ISO chương trình của Acronis như
   True Image 9.0, hay Disk Selector 1.0... kèm theo HDD
Regenerator 1.51 để khi cần đến có thể sử dụng vào nhiều mục
                         đích khác.


         Tải BCDW từ địa chỉ: http://www.wolfgang-
brinkmann.de/bcdw/bcdw_e.htm. Bạn có thể tự thực hiện một
       cách dễ dàng theo hướng dẫn của chương trình.

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Stats:
views:27
posted:8/17/2010
language:Vietnamese
pages:21
Description: IzCode.Net - Ebooks Developer - Webdesign - Template - Source Script - PHP - C# - .Net - Sliverlight