Docstoc

Chu nghia xa hoi khoa hoc

Document Sample
Chu nghia xa hoi khoa hoc Powered By Docstoc
					TẬP THỂ TÁC GIẢ BIÊN SOẠN


  GVC, ThS. Lê Thị Kim Phương
  GVC, ThS. Lương Thị Cảnh
  GVC, CN. Ngô Văn Qúy
                   ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
           HỌC PHẦN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
I. LƯỢC KHẢO LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Tóm tắt các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội không tưởng
1.1. Khái niệm chủ nghĩa nghĩa xã hội không tưởng
1.2. Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội không tưởng
2. Những giá trị và những hạn chế lịch sử của chủ nghĩa xã hội không tưởng
2.1. Những giá trị của chủ nghĩa xã hội không tưởng
2.2. Những hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng và nguyên nhân của nó
3. Sự hình thành của chủ nghĩa xã hội khoa học
3.1. Khái niệm chủ nghĩa xã hội khoa học
3.2. Những điều kiện và tiền đề khách quan dẫn đến sự ra đời chủ nghĩa xã hội khoa
học
3.3. Vai trò của C. Mác, Ph. Ăngghen đối với sự ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học
4. Các giai đoạn cơ bản trong sự phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học
4.1. C. Mác và Ph. Ăngghen tiếp tục phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học
4.2. V.I. Lênin vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học
4.3. Sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học từ sau khi V.I. Lênin từ trần

II. VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC HỌC TẬP CHỦ
    NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
1. Vị trí của chủ nghĩa xã hội khoa học
2. Chức năng, nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học
3. Ý nghĩa của việc học tập chủ nghĩa xã hội khoa học
III. XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Các điều kiện cơ bản của sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ
nghĩa
1.1. Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
1.2. Các điều kiện cơ bản của sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
2. Những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa
2.1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin
2.2. Những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
3. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
3.1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
3.2. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam

IV. SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
1. Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó
1.1. Khái niệm giai cấp công nhân
1.2. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
1.3. Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

                                           1
2. Tính tất yếu, quy luật hình thành và vai trò của Đảng Cộng sản
2.1. Khái niệm Đảng Cộng sản
2.2. Tính tất yếu ra đời Đảng Cộng sản
2.3. Quy luật ra đời của Đảng Cộng sản
2.4. Vai trò của Đảng Cộng sản
3. Sự hình thành và những đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam. Vai trò
của §ảng Cộng sản Việt Nam
3.1. Sự hình thành giai cấp công nhân Việt Nam
3.2. Những đặc điểm, điều kiện để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng
Việt Nam
3.3. Đảng Cộng sản Việt Nam với việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân Việt Nam

V. CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Nguyên nhân, điều kiện khách quan, chủ quan của cách mạng xã hội chủ
nghĩa
1.1. Khái niệm cách mạng xã hội chủ nghĩa
1.2. Nguyên nhân của cách mạng xã hội chủ nghĩa
1.3. Những điều kiện của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
2. Mục tiêu, nội dung và động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa
2.1. Mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa
2.2. Nội dung của cách mạng xã hội chủ nghĩa
2.3. Động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa
3. Lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác – Lênin và sự vận dụng ở
Việt Nam
3.1. Lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác – Lênin
3.2. Sự vận dụng lý luận cách mạng không ngừng ở Việt Nam

VI. THỜI ĐẠI NGÀY NAY
1. Khái niệm thời đại. Nội dung, tính chất và những mâu thuẫn cơ bản của thời
đại ngày nay
1.1. Khái niệm về thời đại
1.2. Nội dung cơ bản thời đại ngày nay
1.3. Tính chất của thời đại ngày nay
1.4. Những mâu thuẫn cơ bản của thời đại ngày nay
2. Những đặc điểm cơ bản và xu thế vận động của thời đại ngày nay
2.1. Những đặc điểm của thời đại hiện nay
2.2. Những xu thế vận động chủ yếu của thời đại ngày nay
VII. NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA
1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ và bản chất của dân chủ xã
hội chủ nghĩa
1.1. Quan niệm về dân chủ
                                         2
1.2. Bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
2. Khái niệm, bản chất, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Phương hướng cải cách Nhà nước ở nước ta hiện nay
2.1. Khái niêm, bản chất, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa
2.2. Phương hướng cải cách Nhà nước ở nước ta hiện nay

VIII. LIÊN MINH GIỮA CÔNG NHÂN VỚI NÔNG DÂN VÀTRÍ THỨC
TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1. Khái niệm, xu hướng biến đối của cơ cấu xã hội – giai cấp trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội
1.1. Khái niệm cơ cấu xã hội và cơ cấu xã hội – giai cấp
1.2. Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội
2. Đặc điểm của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Việt
nam. Tính tất yếu của liên minh công - nông - trí thức trong xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam
2.1. Đặc điểm của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Việt nam
2.2. Tính tất yếu của liên minh công - nông - trí thức trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam
3. Nội dung cơ bản của liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
3.1. Nội dung chính trị của liên minh
3.2. Nội dung kinh tế của liên minh
3.3. Nội dung văn hóa, xã hội của liên minh

IX. VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI
1. Dân tộc và “Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa mác – Lênin
1.1. Khái niệm dân tộc và các đặc trưng cơ bản của dân tộc
1.2. Nội dung “Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mác – Lênin
2. Vấn đề dân tộc ở Việt Nam và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
hiện nay
2.1. Tình hình các dân tộc ở Việt Nam
2.2. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

X. VẤN ĐỀ TÔN GIÁO TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI
1. Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo
1.1. Khái niệm tôn giáo
1.2. Bản chất của tôn giáo
1.3. Nguồn gốc của tôn giáo
1.4. Tính chất của tôn giáo

                                           3
2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo
trong chủ nghĩa xã hội và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
2.1. Quan điểm chỉ đạo trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội
2.2. Vấn đề tôn giáo ở Việt Nam và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện
nay

XI. VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI
1. Gia đình và mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
1.1. Khái niệm gia đình
1.2. Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
2. Các chức năng xã hội cơ bản của gia đình
2.1. Chức năng tái sản xuất ra con người
2.2. Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình
2.3. Chức năng giáo dục
2.4. Chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm – sinh lý, tình cảm

XII. VẤN ĐỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY
DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1. Con người và nguồn lực con người
1.1. Con người và con người xã hội chủ nghĩa
1.2. Nguồn lực con người
2. Những phương hướng và giải pháp phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam
hiện nay
2.1. Những phương hướng
2.2. Một số giải pháp phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay
XIII. CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRÊN LĨNH VỰC TƯ
TƯỞNG VĂN HÓA
1. Khái niệm tư tưởng, văn hóa, cách mạng tư tưởng và văn hóa
2. Nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và
văn hóa
2.1. Giáo dục hệ tư tưởng của giai cấp công nhân
2.2. Nâng cao trình độ dân trí và đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Phát triển khoa
học, kỹ thuật, công nghệ
2.3. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
2.4. Xây dựng con người phát triển toàn diện
2.5.Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cách mạng tư tưởng và văn
hóa




                                           4
                             TÀI LIỆU HỌC TẬP
      I. Tài liệu học tập:
       Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên
soạn. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Hà Nội. 2004.
      II.Tài liệu tham khảo:
       - Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên
soạn. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2002
       - Các văn kiện của Đảng sản Việt Nam: Cương lĩnh chính trị năm 1930; Văn
kiện Đại hội VI, Văn kiện Đại hội VII, Văn kiện Đại hội VIII, Văn kiện Đại hội IX.
       - Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh do Bộ giáo dục và đào tạo biên soạn. Nhà
xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, 2005




                                        5
                           CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Chủ nghĩa xã hội không tưởng là gì? Trình bày các giai đoạn phát triển cơ bản
    của chủ nghĩa xã hội không tưởng.
2. Phân tích những giá trị lịch sử, những hạn chế của chủ nghĩa xã hội không
    tưởng. Vì sao tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ này được gọi là chủ nghĩa
    xã hội không tưởng?
3. Trình bày sự hình thành của chủ nghĩa xã hội khoa học.
4. Trình bày các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ tịch Hồ
    Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
    nghĩa xã hội khoa học như thế nào?
5. Trình bày vị trí, chức năng và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học. Ý nghĩa
    của việc học tập chủ nghĩa xã hội khoa học trong tình hình hiện nay như thế
    nào?.
6. Phân tích những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về những điều
    kiện cơ bản của sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
7. Phân tích những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản
    Việt Nam đã xác định những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
    như thế nào?
8. Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
    xã hội. Phân tích tính tất yếu quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản
    chủ nghĩa ở Việt nam.
9. Phân tích khái niệm giai cấp công nhân. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
    là gì? Phân tích những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai
    cấp công nhân.
10. Trình bày tính tất yếu, quy luật hình thành và vai trò của Đảng Cộng sản. Liên
    hệ với tính tất yếu, quy luật ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (theo tư tưởng
    Hồ Chí Minh).
11. Trình bày sự hình thành và những đặc điểm, điều kiện để giai cấp công nhân
    Việt Nam làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình đối với cách mạng Việt Nam.
12. Trình bày khái niệm, nguyên nhân, điều kiện khách quan, chủ quan của cách
    mạng xã hội chủ nghĩa.
13. Trình bày mục tiêu, nội dung, động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
14. Trình bày lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự vận
    dụng ở Việt Nam.
15. Thời đại là gì? Trình bày nội dung, tính chất và mâu thuẫn cơ bản của thời đại
    ngày nay.
16. Trình bày những đặc điểm cơ bản và xu thế vận động chủ yếu của thời đại trong
    điều kiện hiện nay.
17. Hãy làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ và bản chất của
    dân chủ xã hội chủ nghĩa.
18. Trình bày khái niệm, bản chất, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ
    nghĩa. Nêu phương hướng cải cách nhà nước ở nước ta hiện nay.


                                      6
19. Nêu khái niệm cơ cấu xã hội - giai cấp và xu hướng biến đổi của cơ cấu xã hội -
    giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
20. Trình bày đặc điểm của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí
    thức Việt nam. Làm rõ tính tất yếu của liên minh công - nông - trí thức trong
    xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
21. Trình bày nội dung cơ bản của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
    nông dân và tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
    Nam.
22. Dân tộc là gì? Phân tích nội dung cơ bản "Cương lĩnh dân tộc" của chủ nghĩa
    Mác - Lênin.
23. Trình bày tình hình dân tộc các đặc trưng cơ bản của dân tộc Việt Nam và nội
    dung chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.
24. Phân tích nguồn gốc, bản chất và tính chất của tôn giáo.
25. Trình bày quan điểm chỉ đạo giải quyết vấn đề tôn giáo của chủ nghĩa Mác -
    Lênin và nội dung chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
26. Gia đình là gì? Phân tích vai trò, vị trí và mối quan hệ biện chứng giữa gia đình
    và xã hội.
27. Phân tích các chức năng xã hội cơ bản của gia đình. Hãy liên hệ với gia đình
    Việt nam hiện nay.
28. Nêu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, con người xã hội chủ
    nghĩa và nguồn lực con người.
29. Trình bày những phương hướng và giải pháp cơ bản mà Đảng ta đã đưa ra nhằm
    để phát huy nguồn lực con người Việt Nam hiện nay.
30. Trình bày khái niệm tư tưởng, văn hóa, cách mạng tư tưởng và văn hóa. Phân
    tích những nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư
    tưởng và văn hóa ở Việt Nam hiện nay?




                                       7
                                 NỘI DUNG ÔN TẬP
       I. LƯỢC KHẢO LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
       1. Tóm tắt các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội không tưởng
        1.1. Khái niệm chủ nghĩa xã hội không tưởng
        Chủ nghĩa xã hội không tưởng là một hệ thống những quan điểm, tư tưởng về
giải phóng xã hội, giải phóng con người; xây dựng một xã hội mới tốt đẹp không có áp
bức, bóc lột, đảm bảo cho mọi người thực sự có cuộc sống bình đẳng, hạnh phúc,
nhưng lại đưa ra con đường, biện pháp sai lầm, đó là bằng giáo duc, thuyết phục và
tuyên truyền hòa bình...cho lý tưởng của họ.
        Chính sự xuất hiện chế độ tư hữu, xuất hiện giai cấp thống trị và bóc lột mà xuất
hiện các phong trào và tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
        1.2. Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội không tưởng
        Giai đoạn thứ nhất: Những mầm mống và khuynh hướng tư tưởng xã hội chủ
nghĩa thời cổ đại
        Chế độ chiếm hữu nô lệ là bước phát triển tất yếu của lịch sử. Giai cấp quý tộc
chủ nô và giai cấp nô lệ là hai giai cấp cơ bản mang tính chất đối kháng quyết liệt.
        Mâu thuẫn giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp là miếng đất làm nảy sinh những
mầm mống tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời cổ đại thể hiện
trong dòng “văn học chưa thành văn”. Thông qua các câu chuyện dân gian như: các
chuyện thần thoại, chuyện cổ tích, chủ nghĩa xã hội không tưởng một mặt, phản ánh
những sự bất bình của đông đảo quần chúng lao động đối với các hành vi áp bức, bóc
lột của giai cấp thống trị; mặt khác, nêu lên ước mơ, khát vọng của công chúng bị bóc
lột, bị áp bức về một xã hội bình đẳng, công bằng, bác ái, nhưng rất mơ hồ, vụn vặt,
thậm chí muốn trở về với thời đại “hoàng kim nguyên thuỷ”.
        Giai đoạn thứ hai: Tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ
XVIII
        Chủ nghĩa tư bản ra đời và sau đó phát triển ở một số nước, trước hết là ở châu
Âu. Sự phân hóa giai cấp diễn ra mạnh mẽ và kèm theo đó là những xung đột giai cấp
cũng diễn ra quyết liệt. Giai cấp tư sản từng bước thiết lập địa vị thống trị của mình và
đã dùng nhiều thủ đoạn áp bức, bóc lột tàn bạo đối với người lao động. Trong bối cảnh
lịch sử đó, đã xuất hiện các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng. Thông qua các tác
phẩm “văn học nhân đạo” của mình, các nhà nhân đạo thời cận đại đã lên án, phê phán
chế độ xã hội dựa trên chế độ tư hữu, đòi hỏi phải thay thế chế độ xã hội đó bằng một
xã hội mới thực sự công bằng, bác ái.
        Giai đoạn này có rất nhiều đại biểu ưu tú, điển hình là những đại biểu sau:
        + Tômát Morơ (1478 - 1535) là tác giả của tác phẩm văn học xã hội chủ nghĩa
không tưởng đầu tiên, tác phẩm “Không tưởng” (“Utôpi”).
        + Tômađô Campanenla (1568 - 1639) là tác giả của tác phẩm “Thành phố mặt
trời”.
        + Grắccơ Babớp (1760 - 1797) và những người bạn chiến đấu cùng chí hướng
của ông, lần đầu tiên trong lịch sử, đã nói đến vấn đề đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội

                                           8
với tính cách một phong trào thực tiễn, chứ không chỉ là tư tưởng. “Tuyên ngôn của
những người bình dân” của chủ nghĩa Babớp được coi là một cương lĩnh hành động
chưa từng có trong lịch sử trước đây của tư tưởng xã hội chủ nghĩa với những nhiệm
vụ, những biện pháp cụ thể cần thực hiện ngay trong quá trình hành động dẫn đến xã
hội mới công bằng.
        Giai đoạn thư ba: Chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán đầu thế kỷ XIX
        Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp về cơ
bản hoàn thành ở nước Anh và sau đó tiếp diễn ở một số nước Tây Âu. Đây là giai
đoạn chủ nghĩa tư bản chiến thắng chế độ phong kiến, giai cấp tư sản đã bắt đầu bộc lộ
bản chất cố hữu của nó: phản động và bóc lột áp bức nhân dân lao động vì quyền lợi
của giai cấp mình; Đây cũng là giai đoạn giai cấp vô sản hiện đại hình thành và bắt đầu
thức tỉnh về chính trị.
        Trong điều kiện lịch sử ấy, đã xuất hiện những đại biểu mới của chủ nghĩa xã
hội không tưởng. Đó là các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng - phê phán vĩ đại:
C.H. Xanh Ximông, Ph.S. Phuriê, R Ôoen. Trong thời kỳ này, các tư tưởng xã hội chủ
nghĩa được thể hiện như là một học thuyết. Chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán
đã tố cáo, phê phán sâu sắc xã hội tư bản chủ nghĩa, phủ định nó, đồng thời đề xuất con
đường, biện pháp và những dự đoán thiên tài về xã hội tương lai.
        + Côlôđơ Hăngri Đơ Xanh Ximông (1760 - 1825)
        C.H. Xanh Ximông xuất thân từ một gia đình quý tộc Pháp. Ông là một nhà tư
tưởng vĩ đại, một nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng - phê phán nổi tiếng.
        Một trong những nội dung quan trọng trong học thuyết của C.H. Xanh Ximông
là lý luận về giai cấp và xung đột giai cấp. Ông có sự nhận xét khá độc đáo về cuộc
Cách mạng tư sản Pháp. Tai họa của nó là ở chổ giai cấp tư sản đã thay thế giai cấp
phong kiến và giành quyền thống trị xã hội, nó chưa thiết lập được một chế độ phù hợp
với quyền lợi “giai cấp đông đảo nhất và nghèo khổ nhất”. Ông đòi hỏi phải làm một
cuộc cách mạng mới vì hạnh phúc của toàn xã hội nhằm xóa bỏ những điều kiện bất
công và phi lý, song ông lại chủ trương giải quyết bằng con đường thuần túy hòa bình,
thực hiện sự tuyên truyền để thúc đẩy các vua chúa sử dụng quyền lực mà nhân dân
giao phó cho họ để thực hiện những biến đổi. Ông muốn xây dựng xã hội mới trên
nguyên tắc điều hòa giai cấp và không chủ trương xóa bỏ chế độ tư hữu. Nhưng với
những tư tưởng bình đẳng xã hội, nhân đạo chủ nghĩa và nhiều dự kiến độc đáo về xã
hội tương lai mà C.H. Xanh Ximông được thừa nhận là một nhà xã hội chủ nghĩa
không tưởng vĩ đại.
        +Phrăngxoa Mari Sáclơ Phuriê (1772 - 1837)
        Ph.S. Phuriê là một nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng, một nhà phê phán và lên
án xã hội tư sản một cách xuất sắc, một nhà tư tưởng tiến gần đến chủ nghĩa Mác.
        Một trong những tư tưởng nổi bật của chủ nghĩa Phuriê là sự phê phán và lên án
xã hội tư sản một cách sâu sắc. Ph.S. Phuriê thẳng tay lột trần cảnh khốn cùng, sự
nghèo nàn về vật chất và tinh thần của xã hội tư sản. Ông cho rằng, sự nghèo khổ sinh
ra từ chính bản thân sự dồi dào, hạnh phúc của thiểu số người này gây ra sự khổ ải cho
đa số người khác. Từ đó, Ph.S. Phuriê đòi hỏi phải thay thế xã hội tư sản bằng một xã
hội mới cao hơn. Xã hội mới, trong đó có sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân với lợi ích


                                          9
tập thể, mỗi con người riêng biệt chỉ có thể tìm thấy điều có lợi cho họ trong cái lợi của
toàn thể mọi người, mọi người đều có quyền lao động và quyền sống.
       Ph.S. Phuriê là người đầu tiên đã cho rằng, trình độ giải phóng phụ nữ là mực
thước tự nhiên để đo trình độ giải phóng chung. Ông quan niệm về lịch sử xã hội phát
triển qua bốn giai đoạn: mông muội, dã man, gia trưởng, văn minh.
       Ph.S. Phuriê chủ trương xây dựng xã hội mới vẫn còn chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất. Ông phản đối bạo lực cách mạng, xã hội mới hình thành bằng thực hiện việc
tuyên truyền cho người ta hiểu biết những “dục vọng” của mình.
       + Rôbớt Ôoen (1771 - 1858)
       R. Ôoen là một nhà tư tưởng nổi tiếng, một nhà nhân đạo chủ nghĩa, một nhà
cộng sản thực nghiệm.
       Khác với C.H. Xanh Ximông và S. Phuriê, điểm nổi bật của học thuyết Ôoen là
khuynh hướng phủ nhận và lên án chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất một cách toàn diện
và sâu sắc nhất. Ông cho rằng, chế độ tư hữu đã và đang là nguyên nhân của vô số tội
phạm và tai họa mà con người phải chịu đựng. Nó là nguyên nhân gây ra sự lừa đảo,
gian lận, nạn mãi dâm, đói nghèo, tội lỗi, đau khổ và bao nhiêu tệ nạn xã hội khác. Đó
là một xã hội bất chính và bất hợp lý trong thực tiễn cần phải xóa bỏ, thay thế bằng một
xã hội hoàn mỹ - xã hội xã hội chủ nghĩa.
       R. Ôoen đã tiến hành thực nghiệm xã hội, bằng cách xây dựng các công xã lao
động. Nổỉ bật là ở Niu La Nác (Anh) và Inđiana (Mỹ). Trong tổ chức cơ sở của xã hội
mới, mọi thành viên sẽ sống như trong một gia đình. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động
của công xã được xây dựng trên cơ sở lao động tập thể, cộng đồng sở hữu, bình đẳng
về nghĩa vụ và quyền lợi giữa tất cả các thành viên...
       Nhưng để có xã hội mới tốt đẹp, R. Ôoen cho rằng, cần phải có sự giúp đỡ của
những người lãnh đạo đất nước, những người giàu có.
        2. Những giá trị và những hạn chế lịch sử của chủ nghĩa xã hội không
tưởng
       2.1. Những giá trị của chủ nghĩa xã hội không tưởng
       Chủ nghĩa xã hội không tưởng có một quá trình phát triển lâu dài, từ chỗ là
những ước mơ, khát vọng thể hiện trong các câu chuyện dân gian, các truyền thuyết tôn
giáo đến những học thuyết xã hội - chính trị. Cống hiến lớn lao của chủ nghĩa xã hội
không tưởng:
       Một là, chủ nghĩa xã hội không tưởng đã thể hiện tinh thần lên án, phê phán
kịch liệt và ngày càng gay gắt, các xã hội dựa trên chế độ tư hữu, chế độ quân chủ
chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa; góp phần nói lên tiếng nói của những người lao
động trước tình trạng bị áp bức, bị bóc lột ngày càng nặng nề.
       Hai là, chủ nghĩa xã hội không tưởng đã phản ánh được những ước mơ, khát
vọng của những giai cấp lao động về một xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái. Nó chứa
đựng giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc thể hiện lòng yêu thương con người, thông
cảm, bênh vực những người lao khổ, mong muốn giúp đỡ họ, giải phóng họ khỏi nỗi
bất hạnh.
       Ba là, chủ nghĩa xã hội không tưởng bằng việc phác họa ra mô hình xã hội
tương lai tốt đẹp, đưa ra những chủ trương và nguyên tắc của xã hội mới mà sau này

                                           10
các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã kế thừa một cách có chọn lọc và chứng
minh chúng trên cơ sở khoa học. Ví dụ như những luận điểm: về tổ chức sản xuất và
phân phối sản phẩm; về xóa bỏ sự đối lập giữa lao động trí óc với lao động chân tay; về
vai trò của công nghiệp; về giáo dục; về sự nghiệp giải phóng phụ nữ; về vai trò lịch sử
của nhà nước,...
        Với những giá trị lịch sử trên mà chủ nghĩa xã hội không tưởng, chủ yếu là của
chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán đầu thế kỷ XIX, được các nhà sáng lập chủ
nghĩa xã hội khoa học thừa nhận là một trong ba nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác.
        2.2. Những hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng và nguyên nhân của
nó
         - Những hạn chế:
        Một là, chủ nghĩa xã hội không tưởng không giải thích được bản chất của các
chế độ nô lệ làm thuê. Đặc biệt là nó không thấy được bản chất của chế độ tư bản chủ
nghĩa, chưa khám phá ra được quy luật ra đời, phát triển và diệt vong của các chế độ
đó, đặc biệt là chủ nghĩa tư bản nên cũng không chỉ ra được con đường, biện pháp
đúng đắn để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
        Hai là, chủ nghĩa xã hội không tưởng đã không phát hiện ra lực lượng xã hội
tiên phong có thể thực hiện cuộc chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản-lực lượng xã hội đã được sinh ra, lớn lên và phát
triển cùng với nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, đó là giai cấp công nhân.
        Ba là, chủ nghĩa xã hội không tưởng muốn cải tạo xã hội bằng con đường cải
lương chứ không phải bằng con đường cách mạng.
         - Nguyên nhân của những hạn chế:
        Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trên của chủ nghĩa xã hội không tưởng
một phần là do bản thân các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng, nhưng cơ bản là do
điều kiện kinh tế - xã hội lúc bấy giờ quy định. Đó là, phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa chưa phát triển đến độ chín muồi, công nghiệp lớn chỉ mới xuất hiện ở nước
Anh, nên chưa bộc lộ mâu thuẫn kinh tế cơ bản trong phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa; giai cấp công nhân hiện đại chưa trưởng thành, cuộc đấu tranh giai cấp của giai
cấp công nhân còn ở trình độ thấp, nên mâu thuẫn xã hội còn ẩn dấu chưa bộc lộ hẳn,
quan hệ giai cấp và sự đối lập giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản còn ít phát
triển. Chính vì vậy, Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: ”Hoàn cảnh lịch sử ấy cũng đã quyết định
quan điểm của những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội. Tương ứng với một trình độ
chưa trưởng thành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, với những quan hệ giai cấp chưa
chín muồi, là một lý luận chưa chín muồi”.
        Ngày nay, người ta không thể đòi hỏi gì hơn ở những nhà xã hội chủ nghĩa
không tưởng khi mà những hạn chế của họ hoàn toàn do những điều kiện lịch sử khách
quan quy định.
        Mặc dù chủ nghĩa xã hội không tưởng có nhiều giá trị, song nó mắc phải những
hạn chế nên nó chỉ có vai trò tích cực trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Khi cuộc
đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản phát triển tới quy mô
rộng lớn, đòi hỏi phải có một lý luận khoa học và cách mạng soi đường, khi chủ nghĩa
xã hội khoa học ra đời thì các trào lưu của chủ nghĩa xã hội không tưởng trở nên lỗi


                                          11
thời, bảo thủ, thậm chí còn mang tính chất phản động, cản trở phong trào đấu tranh của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống giai cấp tư sản.

      3. Sự hình thành của chủ nghĩa xã hội khoa học
       3.1. Khái niệm chủ nghĩa xã hội khoa học
       Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học (hay chủ nghĩa cộng sản khoa học)
là chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung với tính cách là sự luận chứng toàn diện (triết học,
kinh tế chính trị và xã hội - chính trị) về sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và
thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa cộng sản, là sự biểu hiện khoa học những lợi ích cơ bản
và những nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp công nhân. Điều ấy nói lên sự thống nhất,
tính hoàn chỉnh về mặt cấu trúc của chủ nghĩa Mác - Lênin.
       Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành
của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa xã hội khoa học là bộ phận thể hiện tập trung
nhất tính chính trị - thực tiễn sinh động của chủ nghĩa Mác - Lênin.
       Chủ nghĩa xã hội khoa học là khoa học về các quy luật xã hội - chính trị, là học
thuyết về những điều kiện, con đường giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao
động, về cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, về cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa, về các quy luật, biện pháp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động dưới sự lãnh đạo của chính đảng mácxít nhằm thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân.
       3.2. Những điều kiện và tiền đề khách quan dẫn đến sự ra đời chủ nghĩa xã
hội khoa học
       - Điều kiện kinh tế - xã hội
       Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đã đạt được
những bước phát triển rất quan trọng trong kinh tế. Cuộc cách mạng khoa học - kỹ
thuật lần thứ nhất đã thúc đẩy phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh
mẽ. Chính sự phát triển đó làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bộc lộ mâu
thuẫn giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao
với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Chính vì
vậy, mà chủ nghĩa tư bản tạo ra những khả năng hiện thực cho những nhà dân chủ cách
mạng tiến bộ nhận thức đúng đắn bản chất của chủ nghĩa tư bản, để đề ra lý luận khoa
học và cách mạng.
       Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân hiện đại trưởng
thành bước lên vũ đài đấu tranh chống giai cấp tư sản với tư cách là một lực lượng xã
hội độc lập. Giai cấp công nhân là lực lượng xã hội có khả năng giải quyết những mâu
thuẫn mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra.
       Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ, đã bắt đầu có
tổ chức và trên quy mô rộng khắp. Nó đòi hỏi có một lý luận khoa học hướng dẫn. Tiêu
biểu cho các phong trào công nhân lúc đó là: cuộc khởi nghĩa của công nhân thành phố
Liông (Pháp) từ năm 1831 đến năm 1834; cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xêlidi
(Đức) năm 1844; phong trào Hiến chương (Anh) từ 1838 đến 1848. Những phong trào
đó có tính quần chúng và mang hình thức chính trị. Sự lớn mạnh của phong trào công
nhân đặt ra yêu cầu bức thiết phải xây dựng một hệ thống lý luận khoa học và cách
mạng.
                                          12
       Đó là những điều kiện kinh tế - xã hội khách quan cho chủ nghĩa xã hội khoa
học ra đời để thay thế các trào lưu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa đã tỏ ra lỗi
thời, không còn có khả năng đáp ứng phong trào công nhân trong cuộc đấu tranh chống
giai cấp tư sản, đồng thời chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời phản ánh bằng lý luận
phong trào công nhân.
        - Những tiền đề văn hóa - tư tưởng (tiền đề lý luận)
        Đến đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong lĩnh vực
khoa học, văn hóa và tư tưởng. Về khoa học tự nhiên có: thuyết tế bào của M.
Sơlayđen và T. Savanxơ (Đức); thuyết tiến hóa của Đ. Đácuyn (Anh); thuyết bảo toàn
và chuyển hóa năng lượng của M. Lômônôxốp (Nga). Về khoa học xã hội có: triết học
cổ điển Đức (tiêu biểu là Ph. Hêghen, L. Phơbách), kinh tế chính trị học Anh (tiêu biểu
là Ađam Smít, Đ. Ricácđô), chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán (tiêu biểu là H.
Xanhximông, S. Phuriê và R. Ôoen). Những thành tựu của khoa học, văn hóa, tư tưởng
đã tạo ra những tiền đề tư tưởng - văn hóa cho sự ra đời chủ nghĩa Mác nói chung và
chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng.
        3.3. Vai trò của C. Mác, Ph. Ăngghen đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội
khoa học
       - Các Mác (1818 - 1883)
       C. Mác là người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và kinh tế chính trị khoa học. Ông là lãnh tụ và người
thầy của giai cấp vô sản thế giới.
       - Phriđrích Ăngghen (1820 - 1895)
       Ph. Ăngghen là nhà bác học, lãnh tụ và là người thầy của giai cấp công nhân
hiện đại, đã cùng với C. Mác sáng lập ra học thuyết mácxít.
       Khi nghiên cứu miếng đất hiện thực tư bản chủ nghĩa trên quan điểm duy vật
biện chứng với phương pháp luận khoa học, C. Mác đã nêu ra hai phát kiến vĩ đại đó
là: chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư. “Nhờ hai phát kiến ấy, chủ
nghĩa xã hội đã trở thành khoa học”. Chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời không phải do
tưởng tượng, ước mơ mà là kết quả tất yếu trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản,
của tư duy lý luận có cơ sở khoa học.
       Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” do C. Mác và Ph. Ăngghen soạn
thảo theo sự ủy nhiệm của “Đồng minh những người cộng sản” - một tổ chức công
nhân quốc tế, đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học.
       “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (2-1848) là tác phẩm bất hủ, là khúc ca tuyệt
tác của chủ nghĩa Mác, là văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của phong trào
công nhân, phong trào cộng sản. Với những nội dung đã được trình bày một cách rõ
ràng và sáng sủa của thế giới quan khoa học, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, theo
V.I. Lênin, xứng đáng được thừa nhận là Tuyên ngôn của chủ nghĩa xã hội thế giới, là
“cuốn sách gối đầu giường cho tất cả những người công nhân giác ngộ”.
       “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là kim chỉ nam cho hành động của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế. Các Đảng Cộng sản mácxít - lêninnít lấy tác phẩm
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” làm cơ sở cho việc xây dựng đường lối chiến lược
và sách lược cách mạng nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: thủ
tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, để tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

                                          13
       4. Các giai đoạn cơ bản trong sự phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học
       4.1. C. Mác và Ph. Ăngghen tiếp tục phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học
(1848 - 1895)
       Sau “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C. Mác và Ph. Ăngghen tiếp tục bổ
sung, phát triển thêm nội dung cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học.
       Thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và phong trào
cộng sản, đặc biệt là cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp và Đức trong thời kỳ 1848 - 1851,
qua theo dỏi, chỉ đạo và tổng kết kinh nghiệm của Công xã Pari (1871), hai ông đã viết
nhiều tác phẩm và thông qua các tác phẩm, hai ông đã nêu lên những luận điểm hết sức
quan trọng, làm phong phú thêm chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là những luận điểm
sau:
       - Giai cấp công nhân chỉ có thể chiến thắng giai cấp tư sản trên cơ sở đập tan bộ
máy nhà nước tư sản và kịp thời trấn áp những hành động phục hồi của chúng.
       - Cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản và bản thân nền
chuyên chính đó cũng chỉ là bước quá độ để tiến lên xây dựng một xã hội không có giai
cấp.
       - Giai cấp công nhân chỉ có thể giành được thắng lợi khi có được sự lãnh đạo
của một chính đảng được vũ trang bằng lý luận khoa học.
       - Liên minh công - nông là điều kiện cần phải có để đưa cách mạng đến thắng
lợi.
       - Trình bày về tư tưởng cách mạng không ngừng; về chiến lược, sách lược đấu
tranh giai cấp của giai cấp công nhân; về sự lựa chọn các phương pháp và hình thức
đấu tranh trong từng thời kỳ phát triển cách mạng; về các vấn đề xã hội - chính trị mà
cách mạng xã hội chủ nghĩa phải giải quyết; v.v...
       4.2. V.I. Lênin phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học
trong hoàn cảnh lịch sử mới
       Vlađimia Ilích Lênin (1870 - 1924) là người kế tục một cách xuất sắc sự nghiệp
vĩ đại của C. Mác và Ph. Ăngghen. Ông vừa bảo vệ sự trong sáng, vừa phát triển toàn
diện và làm giàu thêm lý luận chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới, chủ nghĩa tư
bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Ông là người mácxít đầu tiên vận dụng
một cách sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn đấu
tranh xây dựng chính quyền cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
cải tạo xã hội cũ và bắt đầu xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa hiện
thực. Ông là lãnh tụ của giai cấp công nhân Nga và quốc tế, người sáng lập Đảng Cộng
sản Liên Xô và Nhà nước Xôviết.
       Sự phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học của V.I.Lênin
được chia thành hai thời kỳ cơ bản:
       - Trước Cách mạng Tháng Mười Nga: Trên cơ sở những di sản lý luận của C.
Mác và Ph. Ăngghen, V.I. Lênin đã xây dựng một hệ thống lý luận mang tính nguyên
tắc cho các đảng mácxít kiểu mới của giai cấp công nhân. Đó là những lý luận về
chuyên chính vô sản; về chính đảng kiểu mới; về liên minh công - nông; về sự chuyển
biến cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
       - Sau Cách mạng Tháng Mười Nga: Với yêu cầu của công cuộc xây dựng chế độ
mới, V.I. Lênin phân tích và làm rõ nội dung, bản chất của thời kỳ quá độ lên chủ
                                          14
nghĩa xã hội; về mối quan hệ giữa phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc với phong
trào đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân; về những vấn đề mang tính quy luật của
sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội; về vai trò của quần
chúng,v.v.
       Do cống hiến to lớn của V.I. Lênin đối với sự phát triển lý luận của chủ nghĩa
Mác, mà chủ nghĩa Mác đã phát triển thành chủ nghĩa Mác - Lênin.
       4.3. Sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học từ sau khi V.I.
Lênin từ trần
       - Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản khác trên thế giới
       Hơn 80 năm đã trôi qua kể từ sau khi V.I. Lênin từ trần, trong phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế đã trải qua nhiều thử thách to lớn. Các Đảng Cộng sản đã bảo
vệ, phát triển sáng tạo những nguyên lý, những luận điểm có tính nguyên tắc của chủ
nghĩa xã hội khoa học trong hoàn cảnh lịch sử mới và điều kiện cụ thể của mỗi nước.
Dựa vào sự tổng kết, kinh nghiệm của nước mình, các Đảng Cộng sản đã đóng góp vào
các vấn đề cấp bách của thời đại, vạch ra những vấn đề mang tính quy luật của cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, cũng như các
vấn đề của quá trình cách mạng thế giới.
       Trên cơ sở vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa
học nên một sự thật không thể phủ nhận là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh
em trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều mặt
của đời sống xã hội. Trong đó thắng lợi vĩ đại nhất là đã đưa nhân loại thoát khỏi thảm
họa phát xít, là tiền đề quan trọng nhất dẫn đến sự tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ và
mới, là sự hình thành và phát triển, lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới,
trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh vì các mục tiêu của thời đại ngày
nay trong suốt mấy thập kỷ qua.
       Tuy nhiên, từ những năm 80 về sau, nhiều Đảng mắc phải nhiều sai lầm, khuyết
điểm, trong đó có vấn đề nhận thức. Đó là sự chậm trễ phát triển lý luận; lý luận không
theo kịp thực tiễn, lạc hậu nhưng lại chỉ đạo thực tiễn, v.v...Trong cải tổ, các đảng cũng
lại phạm tiếp sai lầm trong nhận thức. Đó là từ bỏ chủ nghĩa xã hội khoa học, thực hiện
đa nguyên chính trị và sự tồn tại đa đảng đối lập, v.v... đã làm cho chủ nghĩa xã hội
hiện thực ở một số nước sụp đổ, tạo thế bất lợi cho phong trào cộng sản. Những tổn
thất đó hoàn toàn không phải là do sai lầm của chủ nghĩa xã hội khoa học.
       - Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam với sự vận dụng và phát
triển chủ nghĩa xã hội khoa học
       Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện cũng
đã vận dụng sáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học, những bài học kinh
nghiệm của các đảng anh em, của chính bản thân cách mạng Việt Nam vào hoàn cảnh
cụ thể của đất nước. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang thực
sự là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng nước ta trước kia,
trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện
nay. Những đóng góp, bổ sung và phát triển cũng như sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
xã hội khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta có thể tóm tắt trên một số vấn
đề cơ bản sau:


                                           15
            + Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một tính quy luật của cách
mạng Việt Nam, trong điều kiện thời đại hiện nay;
            + Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi
mới kinh tế làm trung tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị, đảm bảo giữ vững sự
ổn định chính trị, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để đổi mới và phát triển kinh
tế, xã hội;
            + Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tăng
trưởng, phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Đây được xem như
một nội dung cơ bản, thể hiện sự ưu việt của xã hội xã hội chủ nghĩa. Xây dựng phát
triển kinh tế phải đi đôi với giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đi đôi với bảo vệ
môi trường sinh thái;
            + Mở rộng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh
của mọi giai cấp và tầng lớp nhân dân, mọi thành phần dân tộc và tôn giáo, mọi công
dân Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài, tạo cơ sở xã hội rộng lớn và thống nhất
cho sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới;
            + Tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới,
khai thác mọi khả năng có thể hợp tác nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại;
            + Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam -
nhân tố quan trọng hàng đầu bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Khâu then chốt để đảm bảo tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng là phải coi trọng công tác xây dựng Đảng, nâng cao
chất lượng đội ngũ đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

       II. VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC HỌC TẬP
                      CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
       1. Vị trí của chủ nghĩa xã hội khoa học
       - Trước hết, với ý nghĩa là tư tưởng, là lý luận, thì chủ nghĩa xã hội khoa học
nằm trong quá trình phát triển chung của các sản phẩm tư tưởng, lý luận mà nhân loại
đã sản sinh ra. Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong những đỉnh cao nhất của các
khoa học xã hội của nhân loại.
       - Chủ nghĩa xã hội khoa học cũng nằm trong quá trình phát triển lịch sử tư
tưởng xã hội chủ nghĩa của nhân loại. Chủ nghĩa xã hội khoa học đã kế thừa có chọn
lọc, phát triển những giá trị của chủ nghĩa xã hội không tưởng, tìm ra những cơ sở khoa
học, cơ sở thực tiễn của tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
       - Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết hoàn chỉnh, gồm ba bộ phận hợp
thành: triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị học Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội
khoa học. Đây là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân hiện đại
trong cuộc đấu tranh thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
       Cả ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác - Lênin gắn bó, quan hệ biện chứng với
nhau để luận giải một cách toàn diện sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi
của chủ nghĩa xã hội là tất yếu như nhau, nhằm trang bị cho giai cấp công nhân và toàn

                                           16
thể nhân dân lao động thế giới quan khoa học, phương pháp luận khoa học để nhận
thức và cải tạo thế giới.
        Triết học Mác - Lênin, với phát kiến vĩ đại đầu tiên là chủ nghĩa duy vật lịch sử,
đã chỉ ra sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội diễn ra trong lịch sử là do sự phát
triển của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau quyết định.
        Kinh tế học chính trị Mác - Lênin, với phát kiến là học thuyết giá trị thặng dư,
đã làm rõ bản chất của giai cấp tư sản trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá
trị thặng dư mà giai cấp công nhân đã tạo ra. Giai cấp tư sản càng đẩy mạnh phát triển
kinh tế càng làm cho mâu thuẫn càng gay gắt giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội
ngày càng cao với tính chất chật hẹp của chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về
tư liệu sản xuất. Mâu thuẫn này là nguồn gốc kinh tế cho sự diệt vong chủ nghĩa tư
bản.
        Chủ nghĩa xã hội khoa học, với tư cách là một trong ba bộ phận hợp thành chủ
nghĩa Mác - Lênin, là học thuyết xã hội - chính trị, trực tiếp nghiên cứu sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân, những điều kiện, những con đường để giai cấp công nhân
hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
        Chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên nền tảng lý luận chung và phương pháp
luận của triết học và kinh tế chính trị học mácxít để đưa ra những luận cứ xã hội -
chính trị rõ ràng, trực tiếp nhất để chứng minh, khẳng định sự diệt vong tất yếu của chủ
nghĩa tư bản và thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội, khẳng định sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân, chỉ ra những con đường, các hình thức và biện pháp để tiến hành
cải tạo xã hội theo hướng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Như vậy chủ nghĩa xã
hội khoa học là sự tiếp tục một cách lôgích triết học và kinh tế chính trị học mácxít, là
sự biểu hiện trực tiếp mục đích và hiệu lực chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin trong
thực tiễn.
        Nếu như triết học, kinh tế chính trị học luận giải tính tất yếu, những nguyên
nhân khách quan, những điều kiện để thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội
thì chỉ có chủ nghĩa xã hội khoa học mới đưa ra được câu trả lời cho câu hỏi: bằng con
đường nào để thực hiện bước chuyển biến đó.
       2. Chức năng, nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học
       Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội khoa học trang bị tri thức khoa học, tri thức lý luận
(thế giới quan khoa học), đó là hệ thống lý luận chính trị - xã hội và phương pháp luận
khoa học mà chủ nghĩa Mác - Lênin để luận giải về quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến sự
hình thành, phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, giải phóng xã hội,
giải phóng con người.
       Thứ hai, chủ nghĩa xã hội khoa học giáo dục tư tưởng chính trị về chủ nghĩa xã
hội cho giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản và nhân dân lao động để hình thành nên thế
giới quan, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa.
       Thứ ba, chủ nghĩa xã hội khoa học định hướng chính trị - xã hội cho hoạt động
thực tiễn của Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân trong cách mạng
xã hội chủ nghĩa và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (kim chỉ nam).



                                           17
       3. Ý nghĩa của việc học tập chủ nghĩa xã hội khoa học
       - Về mặt lý luận
       Trong tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp như: sự sụp đổ của chủ
nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội
thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, không ít người nghi ngờ hoặc phủ nhận vai trò
của chủ nghĩa xã hội khoa học đối với cải tạo thực tiễn; vì vậy, việc nghiên cứu chủ
nghĩa xã hội khoa học có ý nghĩa lý luận to lớn là:
       + Chủ nghĩa xã hội khoa học trang bị những nhận thức chính trị - xã hội cho
Đảng Cộng sản, Nhà nước, cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong quá
trình bảo vệ và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Học thuyết Mác không
dừng lại ở chỗ giải thích thế giới mà còn nhằm cải tạo thế giới. Học thuyết về cải tạo
thế giới mà chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện rõ và trực tiếp nhất là chủ nghĩa xã hội
khoa học.
       + Chủ nghĩa xã hội khoa học là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống các
học thuyết phản động, phi mácxít.
       -Về mặt thực tiễn
       Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong những cơ sở lý luận và phương pháp
luận của nhiều khoa học xã hội chuyên ngành, đồng thời là cơ sở lý luận giúp cho các
Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế: xác định con đường đi, định hướng hành động
đúng đắn cho đường lối chiến lược, sách lược, chính sách phù hợp với quy luật phát
triển khách quan. Do đó, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải vận dụng
trung thành và phát triển sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học.
       III. XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
      1. Các điều kiện cơ bản của sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng
sản chủ nghĩa
        1.1. Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
        Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là một chế độ xã hội phát triển cao
nhất hiện nay, là chế độ có quan hệ sản xuất dựa trên sở hữu công cộng về tư liệu sản
xuất, thích ứng với lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, tạo thành cơ sở hạ tầng có
trình độ cao hơn so với cơ sở hạ tầng của chủ nghĩa tư bản; trên cơ sở hạ tầng đó có
kiến trúc thượng tầng tương ứng thực sự là của nhân dân.
        Cũng như mọi hình thái kinh tế - xã hội khác, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản
chủ nghĩa có quá trình phát triển từ thấp đến cao do sự trưởng thành về kinh tế và các
quan hệ xã hội phù hợp, thể hiện ở từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau, kế tiếp và thống
nhất với nhau.
        1.2. Các điều kiện cơ bản của sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản
chủ nghĩa
        Sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa bằng hình thái kinh tế - xã
hội cộng sản chủ nghĩa là hợp quy luật. Sự thay thế đó có nguồn gốc kinh tế - xã hội
sâu xa, đó là miếng đất hiện thực tư bản chủ nghĩa.
        Những điều kiện cơ bản của sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ
nghĩa:

                                           18
        Thứ nhất, khi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa càng phát triển, dựa trên sự phát
triển của khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại làm cho lực lượng sản xuất phát
triển không ngừng với trình độ xã hội hóa ngày càng cao, vượt khỏi giới hạn chật hẹp
của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ
sản xuất tư bản chủ nghĩa là mâu thuẫn kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa. Mâu thuẫn này dẫn đến mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn giai cấp không thể
điều hòa được giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tư sản.
        Thứ hai, trong xã hội tư bản chủ nghĩa có hai giai cấp cơ bản, tiêu biểu nhất, đối
lập nhau về lợi ích cơ bản, đó là giai cấp công nhân đại biểu cho lực lượng sản xuất
hiện đại, xã hội hóa ngày càng cao và giai cấp tư sản thống trị xã hội đại biểu cho quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Hai giai cấp này mâu thuẫn với nhau ngày càng rõ rệt,
sâu sắc và gay gắt. Các cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân chống giai cấp
tư sản áp bức, bóc lột phát triển từ thấp đến cao.
        Thứ ba, trong xã hội tư bản chủ nghĩa xuất hiện những tai họa cho cả giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và cho cả nhân loại cũng như môi trường thiên nhiên (áp
bức, bóc lột, bất công, phân hóa giàu nghèo, phân biệt chủng tộc, chiến tranh xâm lược,
lối sống văn hóa, đạo đức suy đồi, tệ nạn xã hội phức tạp, ô nhiễm môi trường...).
        Đến khi xuất hiện những tình thế, thời cơ, tạo ra những điều kiện cần và đủ thì
cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra. Cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra và thắng lợi sẽ
mở đầu cho sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong
thời đại hiện nay, có những nước tư bản chủ nghĩa mới ở trình độ trung bình và những
nước chưa qua chủ nghĩa tư bản cũng có thể nổ ra cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa để
bước sang hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
        Vậy, những điều kiện để những nước tư bản chủ nghĩa trung bình và những
nước chưa qua chủ nghĩa tư bản lên hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là:
        Một là, chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc gây chiến tranh xâm
lược các thuộc địa, gây tai hoạ cho hàng trăm quốc gia dân tộc, làm xuất hiện những
mâu thuẫn cơ bản và gay gắt của thời đại mới:
        - Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản.
        - Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc xâm lược với các quốc gia dân tộc thuộc
địa, phụ thuộc
        - Mâu thuẫn giữa các nước tư bản - đế quốc với nhau.
        - Ở hàng trăm nước nông nghiệp, vẫn còn mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân,
tư sản với nông dân, trong đó nổi lên mâu thuẫn giữa tư bản - đế quốc xâm lược và bè
lũ tay sai phong kiến với cả dân tộc bị áp bức, bóc lột, mất độc lập tự do.
        Hai là có những tác động toàn cầu của phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế, của học thuyết Mác Lênin ... thức tỉnh các dân tộc vùng lên giành độc lập dân tộc.
Nhiều nước sau khi giành được độc lập dân tộc đã chọn con đường phát triển đi lên
hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
       2. Những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa
       2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
       Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ
nghĩa. Nó có sự khác nhau về chất và nguyên tắc xây dựng so với Chủ nghĩa tư bản.

                                           19
Dựa vào cơ sở lý luận khoa học của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và
thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta có thể nêu ra những đặc trưng cơ bản của
chủ nghĩa xã hội như sau:
        Đặc trưng thứ nhất: Cơ sở vật chất - kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội là nền sản
xuất công nghiệp hiện đại.
        Chỉ có nền sản xuất công nghiệp hiện đại mới đưa năng suất lao động lên cao,
tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội, đảm bảo đáp ứng những nhu cầu về
vật chất và văn hóa của nhân dân, không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội cho toàn dân.
Nền công nghiệp hiện đại đó được phát triển dựa trên lực lượng sản xuất đã phát triển
cao. Ở những nước thực hiện sự quá độ "bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa
xã hội", trong đó có Việt Nam thì đương nhiên phải có quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa để từng bước xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại cho chủ nghĩa xã hội.
        Đặc trưng thứ hai: Chủ nghĩa xã hội đã xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa,
thiết lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu
        Thủ tiêu chế độ tư hữu là cách nói vắn tắt nhất, tổng quát nhất về thực chất của
công cuộc cải tạo xã hội theo lập trường của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, không phải
xóa bỏ chế độ tư hữu nói chung mà là xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa.
        Chủ nghĩa xã hội được hình thành dựa trên cơ sở từng bước thiết lập chế độ sở
hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
Chế độ sở hữu này được củng cố, hoàn thiện, bảo đảm thích ứng với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, xóa
bỏ dần những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội, làm cho mọi thành viên trong xã hội
ngày càng gắn bó với nhau vì những lợi ích căn bản.
        Đặc trưng thứ ba: Chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao
động mới
        Qúa trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một
quá trình hoạt động tự giác của đại đa số nhân dân lao động, vì lợi của đa số nhân dân.
Chính bản chất và mục đích đó, cần phải tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới phù
hợp với địa vị làm chủ của người lao động, đồng thời khắc phục những tàn dư của tình
trạng lao động bị tha hóa trong xã hội cũ.
        Đặc trưng thứ tư: Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao
động - nguyên tắc phân phối cơ bản nhất
        Chủ nghĩa xã hội bảo đảm cho mọi người có quyền bình đẳng trong lao động
sáng tạo và hưởng thụ. Mọi người có sức lao động đều có việc làm và được hưởng thù
lao theo nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động“. Đó là một trong những
cơ sở của công bằng xã hội ở giai đoạn này.
        Đặc trưng thứ năm: Chủ nghĩa xã hội có Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước
kiểu mới, nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân rộng rãi và tính
dân tộc sâu sắc; thực hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân.
        Nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thông qua nhà nước,
Đảng lãnh đạo toàn xã hội về mọi mặt và nhân lao động thực hiện quyền lực và lợi ích
của mình trên mọi mặt của xã hội. Nhân dân lao động tham gia nhiều vào công việc
nhà nước. Đây là một “nhà nước nửa nhà nước”, với tính tự giác, tự quản của nhân dân


                                          20
rất cao, thể hiện các quyền dân chủ, làm chủ và lợi ích của chính mình ngày càng rõ
hơn.
        Đặc trưng thứ sáu: Chủ nghĩa xã hội đã giải phóng con người thoát khỏi áp bức
bóc lột, thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện cơ bản để
con người phát triển toàn diện.
        Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người khỏi mọi ách áp
bức về kinh tế và nô dịch về tinh thần, bảo đảm sự phát triển toàn diện cá nhân, hình
thành và phát triển lối sống xã hội chủ nghĩa, làm cho mọi người phát huy tính tích cực
của mình trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhờ xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa mà xóa bỏ sự đối kháng giai cấp, xóa bỏ tình trạng người bóc lột
người, tình trạng nô dịch và áp bức dân tộc, thực hiện được sự công bằng, bình đẳng xã
hội.
        Những đặc trưng trên phản ánh bản chất của chủ nghĩa xã hội, nói lên tính ưu
việt của chủ nghĩa xã hội. Và do đó, chủ nghĩa xã hội là một xã hội tốt đẹp, lý tưởng,
ước mơ của toàn thể nhân loại. Những đặc trưng đó có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Do đó, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải quan tâm đầy đủ tất cả các
đặc trưng này.
        2.2. Những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
        Căn cứ vào tình hình cụ thể của đất nước và những đặc trưng của chủ nghĩa xã
hội theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, trong ”Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội“, Đảng ta đã xác định những đặc trưng của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam mà chúng ta sẽ xây dựng là:
        - Do nhân dân lao động làm chủ.
        - Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế
độ công hưũ về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
        - Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
        - Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực,
hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển
toàn diện cá nhân.
        - Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
        - Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”.
        Những đặc trưng trên đều mang tính dự báo. Với sự phát triển về kinh tế và xã
hội của đất nước, thời đại, những đặc trưng sẽ được tiếp tục bổ sung, phát triển trong
tiến trình phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
      3. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
      3.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội
       Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc toàn
bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện sự chuyển biến từ xã hội cũ sang
xã hội mới-xã hội chủ nghĩa.
       Giai cấp công nhân và chính đảng của nó muốn xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội với tư cách là một chế độ ưu việt, tốt đẹp hơn chủ nghĩa tư bản thì tất yếu phải
trải qua thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bởi vì:

                                         21
         - Chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội không thể ra đời tự phát
trong lòng chế độ tư bản chủ nghĩa hay các xã hội tiền tư bản chủ nghĩa. Các xã hội
trước chỉ chuẩn bị những điều kiện vật chất để giai cấp công nhân thực hiện bước quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, còn bản thân công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ được
thực hiện khi có cơ sở vật chất - kỹ thuật cũng như với kiến trúc thượng tầng về chính
trị, tư tưởng, văn hóa tương ứng.
         - Sau khi giành được chính quyền, giai cấp công nhân cũng không thể đem áp
dụng ngay tức khắc những nguyên tắc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, những
nguyên tắc xây dựng và bản chất của chủ nghĩa xã hội khác với các xã hội trước; giai
cấp thống trị cũ mới bị đánh bại về chính trị nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn; nhiều
tàn dư của xã hội cũ còn in vết trong xã hội mới. Do đó cần có thời gian để tiến hành
cải tạo những tàn dư của xã hội cũ, từng bước xây dựng các nhân tố mới. Trong bài
“Chào mừng công nhân Hunggari” V.I. Lênin khẳng định: “Mục đích đó, người ta
không thể đạt ngay tức khắc được, muốn thế, cần phải có một thời kỳ quá độ khá lâu
dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, vì cải tổ sản xuất là việc khó khăn, vì cần
có một thời gian mới thực hiện được những thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của
cuộc sống, và vì phải trải qua một cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài mới có thể thắng
được sức mạnh to lớn của thói quản lý theo kiểu tiểu tư sản và tư sản”.
         Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có hai kiểu: quá độ trực tiếp và quá độ gián
tiếp.
         * Quá độ trực tiếp từ các nước tư bản chủ nghĩa phát triển lên chủ nghĩa xã hội.
         * Quá độ gián tiếp từ các nước tiền tư bản chủ nghĩa hay các nước tư bản trung
bình lên chủ nghĩa xã hội.
         3.2. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
         - Tính tất yếu của sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa ở Việt Nam
         Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1954 ở Miền Bắc và
năm 1975 trên phạm vi cả nước theo kiểu quá độ gián tiếp hoặc như V.I.Lê nin nói là
kiểu "đặc biệt của đặc biêt". Đó là sự lựa chọn tất yếu dựa trên những căn cứ sau:
         + Căn cứ vào quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lê nin cho rằng, ở những nước
nghèo nàn lạc hậu, chậm phát triển về kinh tế vẫn có khả năng tiến thẳng lên chủ nghĩa
xã hội mà không phải trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
         + Căn cứ vào xu thế phát triển của thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại. Đó cũng là thời đại độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội, nên nhiều nước đã đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Triều Tiên, Lào...
         + Căn cứ vào điều kiện lịch sử của cách mạng nước ta, trong quá trình phát triển
của cách mạng Việt Nam, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản,
trước hết là sự lụa chọn của chính Đảng ta: Ngay từ "Cương lĩnh chính trị năm 1930"
đến "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" được
trình bày ở Đại hội VII năm 1991, Đảng ta đều thể hiện bản lĩnh chính trị về con đường
lên chủ nghĩa xã hội.


                                          22
         Cùng với sự lựa chọn của Đảng là sự lựa chọn của chính nhân dân lao động
nước ta khi theo Đảng làm cách mạng là muốn có cuộc đời ấm no, hạnh phúc. Để
mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân không có con đường nào khác là con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội.
         Hiện nay, mặc dù trước mắt, chủ nghĩa tư bản còn có tiềm năng phát triển về
kinh tế, chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đỗ ở Liên Xô và Đông Âu, nhưng Đảng ta vẫn
khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là con đường duy nhất đúng đắn. Chủ nghĩa xã
hội vẫn là khuynh hướng phát triển khách quan của thời đại. Nó không chỉ là lý tưởng
mà là hiện thực sinh động trong quá trình phát triển của cách mạng VIệt Nam.
         - Những phương hướng - nhiệm vụ cơ bản xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
         “Một là, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí
thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện ngày càng đầy đủ các quyền
dân chủ, làm chủ, quyền lực của nhân dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính
với mọi tội phạm và kẻ thù của nhân dân.
         Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện
đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm, nhằm
từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng
cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.
         Ba là, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh và kinh tế
tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện nhiều hình
thức phân phối, lấy hình thức phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là
chủ yếu.
         Bốn là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa,
làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời
sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất
cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã
hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người.
         Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt
trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình,
hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước, trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp
công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh
vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
         Sáu là, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược
của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước,
nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng.



                                           23
      Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức
ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”.

       IV. SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
       1. Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó
       1.1. Khái niệm giai cấp công nhân (hay còn gọi là giai cấp vô sản)
       Cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, giai cấp công nhân là con đẻ của một
hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cùng với sự phát triển của lịch sử, cũng luôn luôn phát triển
với những biểu hiện và đặc trưng mới trong từng giai đoạn nhất định.
       Sự phát triển của đại công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô
sản, mà còn tập hợp họ lại thành một tập đoàn xã hội rộng lớn, thành giai cấp vô sản
hiện đại. Chính vì vậy, một kết luận rút ra là, giai cấp công nhân hiện đại ra đời gắn
liền với sự phát triển của đại công nghiệp, nó là sản phẩm của bản thân nền đại công
nghiệp và lớn lên cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp đó.
       Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là một trong những giai cấp
cơ bản, chủ yếu, đối lập với giai cấp tư sản, là giai cấp bị giai cấp tư sản tước đoạt hết
tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống, bị bóc lột giá trị
thặng dư. Họ là những người được tự do về thân thể và có quyền bán sức lao động tùy
theo cung - cầu hàng hóa sức lao động. Đây là giai cấp bị bóc lột nặng nề, bị bần cùng
hóa về vật chất lẫn tinh thần. Sự tồn tại của họ phụ thuộc vào quy luật cung - cầu hàng
hóa sức lao động, phụ thuộc vào kết quả lao động của chính ho. Họ phải tạo ra giá trị
thặng dư, nhưng giá trị thặng dư lại bị giai cấp tư sản chiếm đoạt.
       Dưới chủ nghĩa tư bản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã định nghĩa rằng, “Giai cấp
vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất hết tư liệu sản xuất của
bản thân, nên buộc bán sức lao động của mình để sống”.
       Dù giai cấp công nhân có bao gồm những công nhân làm những công việc khác
nhau như thế nào đi nữa, thì theo C. Mác và Ph. Ăngghen, họ vẫn chỉ có hai tiêu chí cơ
bản để xác định, phân biệt với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác.
       - Một là, về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao
động trong nền sản xuất công nghiệp. Có thể họ là người lao động trực tiếp hay gián
tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã
hội hóa cao. Đã là công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công nghiệp, bởi vì nó là
sản phẩm của nền đại công nghiệp. Giai cấp công nhân hiện đại là hạt nhân, bộ phận cơ
bản của mọi tầng lớp công nhân.
       - Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân, chúng ta phải
xem xét trong hai trường hợp sau:
       + Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân là những người vô sản
hiện đại, không có tư liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà
tư bản và bị toàn thể giai cấp tư sản bóc lột. Tức là giá trị thặng dư mà giai cấp công
nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt. Chính căn cứ vào tiêu chí này mà những người
công nhân dưới chủ nghĩa tư bản được gọi là giai cấp vô sản.
       + Sau cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm
quyền. Nó không còn ở vào địa vị bị áp bức, bị bóc lột nữa, mà trở thành giai cấp thống
                                           24
trị, lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ
nghĩa. Giai cấp công nhân cùng với toàn thể nhân dân lao động làm chủ những tư liệu
sản xuất chủ yếu đã công hữu hóa. Như vậy họ không còn là những người vô sản như
trước và sản phẩm thặng dư do họ tạo ra là nguồn gốc cho sự giàu có và phát triển của
xã hội xã hội chủ nghĩa.
        Căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa giai cấp công
nhân như sau:
         Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển
cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển
của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng lao động
cơ bản trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất
và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biếu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản
xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay.
       1.2. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
        Khi phân tích xã hội tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác với hai phát kiến vĩ đại,
đó là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, đã chứng minh một
cách khoa học rằng sự ra đời, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản là tất yếu và
cũng khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng nhất, là lực
lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử: xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ chế độ
người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng
toàn thể nhân lọai khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội mới
- xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
        Là giai cấp cơ bản bị áp bức dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân chỉ có
thể thoát khỏí ách áp bức bằng con đường đấu tranh giai cấp chống giai cấp tư sản,
bằng con đường thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và thiết lập chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất. Bằng cách đó, giai cấp công nhân vĩnh viễn thủ tiêu mọi hình thức
người bóc lột người, chẳng những tự giải phóng mình, mà còn giải phóng cả các tầng
lớp lao động khác, giải phóng dân tộc và giải phóng toàn thể nhân loại.
        Ph. Ăngghen viết: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, - đó là sứ mệnh
lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.
       1.3. Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân
        Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C. Mác, Ph. Ăngghen viết:
“Sự phát triển của nền đại công nghiệp đã phá sập dưới chân của giai cấp tư sản, chính
ngay cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã xây dựng lên chế độ sản xuất và chiếm hữu
của nó. Trước hết, giai cấp tư sản tạo ra những người đào huyệt chôn nó. Sự sụp đổ của
giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều tất yếu như nhau”. Giai cấp công
nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới là do địa vị kinh tế - xã hội khách quan của nó quy
định:
        - Dưới chủ nghĩa tư bản, với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp
công nhân ra đời và từng bước phát triển. Giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng
nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao. Đây là giai cấp
tiên tiến nhất, là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, là
                                          25
người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới
cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, là giai cấp tiêu biểu cho xu hướng phát
triển của lịch sử trong thời đại ngày nay.
        - Mặc dù là giai cấp tiên tiến, nhưng giai cấp công nhân không có tư liệu sản
xuất nên buộc bán sức lao động của mình cho nhà tư bản để sống. Họ bị giai cấp tư sản
bóc lột giá trị thặng dư mà họ đã tạo ra trong thời gian lao động. Một khi sức lao động
đã trở thành hàng hóa, thì người chủ của nó (người vô sản) phải chịu đựng mọi thử
thách, mọi may rủi của cạnh tranh; số phận của nó tùy thuộc vào quan hệ cung - cầu
hàng hóa sức lao động trên thị trường làm thuê và phụ thuộc vào kết quả lao động của
chính họ. Họ bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột và ngày càng bị bần cùng hóa cả đời
sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Do đó, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai
cấp tư sản là mâu thuẫn đối kháng, cơ bản, không thể điều hòa trong xã hội tư bản chủ
nghĩa. Xét về mặt bản chất, giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt
để nhất chống lại chế độ áp bức bóc lột tư bản chủ nghĩa. Những điều kiện sinh hoạt
khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể giải phóng mình bằng cách giải phóng
toàn thể nhân loại khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, họ không
mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới về mình.
        - Địa vị kinh tế - xã hội khách quan không chỉ khiến giai cấp công nhân trở
thành giai cấp cách mạng triệt để mà còn tạo cho họ có khả năng thực hiện được sứ
mệnh lịch sử đó. Đó là khả năng đoàn kết giai cấp trong cuộc đấu tranh chống giai cấp
tư sản và xây dựng xã hội mới. Đó là khả năng đoàn kết với các giai cấp lao động khác
chống chủ nghĩa tư bản. Đó là khả năng đoàn kết toàn thể giai cấp công nhân và các
dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc.
        Vì vậy, C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: “Trong tất cả các giai cấp hiện
đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản thực sự cách mạng. Các giai
cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp; giai
cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.

      2. Tính tất yếu, quy luật hình thành và vai trò của Đảng Cộng sản
       Tự bản thân mình, giai cấp công nhân không thể thực hiện được sứ mệnh lịch
sử. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là khách quan, song để biến khả năng
khách quan thành hiện thực thì phải thông qua những nhân tố chủ quan. Trong những
nhân tố ấy, việc thành lập Đảng Cộng sản với lý luận tiên phong, trung thành với sự
nghiệp, lợi ích giai cấp là nhân tố quyết định đảm bảo cho việc thực hiện sứ mệnh lịch
sử thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
       2.1. Khái niệm Đảng Cộng sản
       Đảng Cộng sản là chính đảng của giai cấp công nhân. Nó là đội tiên phong, bộ
tham mưu chiến đấu, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho
lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng Cộng
sản bao gồm những bộ phận tiên tiến của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân
lao động. Đảng Cộng sản lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho hành động, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản
của mình.

                                         26
       Như vậy, Đảng Cộng sản mang bản chất giai cấp công nhân, không tách rời với
giai cấp công nhân, nhân dân lao động.
        2.2. Tính tất yếu ra đời Đảng Cộng sản
        Đảng Cộng sản ra đời là tất yếu lịch sử của phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân. Bởi vì, khi chưa có Đảng Cộng sản lãnh đạo, giai cấp công nhân chỉ có thể
đấu tranh tự phát, đấu tranh vì mục đích kinh tế, vì cơm ăn áo mặc, cải thiện sinh hoạt,
chứ không phải đấu tranh với tư cách là một giai cấp nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử
của mình. Chỉ khi nào giai cấp công nhân đạt tới trình độ tự giác bằng việc tiếp thu lý
luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin thì mới đưa cuộc đấu tranh tự
phát lên cuộc đấu tranh tự giác, đấu tranh chính trị, đấu tranh với tư cách là một giai
cấp để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Muốn vậy, điều kiện quan trọng trước tiên
là giai cấp công nhân phải tự xây dựng lên chính đảng chính trị của mình, đó là Đảng
Cộng sản..
        2.3. Quy luật ra đời của Đảng Cộng sản
        Sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân dẫn đến sự hình
thành chính đảng của giai cấp công nhân. V.I. Lênin chỉ ra rằng, Đảng Cộng sản là sản
phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân.
        Nhưng trong mỗi nước, sự kết hợp ấy là sản phẩm của lịch sử lại được thực hiện
bằng những con đường đặc biệt, tùy theo điều kiện không gian và thời gian. Ở nhiều
nước thuộc địa, nửa thuộc địa thì Đảng Cộng sản ra đời là kết quả của sự kết hợp chủ
nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
        Đảng Cộng sản ra đời đánh dấu sự phát triển nhảy vọt của phong trào công nhân
từ tự phát lên tự giác, cuộc đấu tranh vì lợi ích kinh tế trong giới hạn của chủ nghĩa tư
bản cho phép chuyển sang cuộc đấu tranh chính trị nhằm lật đổ giai cấp tư sản, xóa bỏ
chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
       2.4. Vai trò của Đảng Cộng sản
       Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định trước tiên trong việc thực hiện sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân.
       Trong lịch sử chưa có giai cấp nào giành được địa vị thống trị, giữ vai trò lãnh
đạo xã hội mà không tạo ra được trong hàng ngũ của mình một đảng chính trị, lực
lượng tiên phong để lãnh đạo toàn bộ cuộc đấu tranh. Trong cuộc đấu tranh chống giai
cấp tư sản, chừng nào và chỉ khi nào giai cấp công nhân tự tổ chức ra chính đảng của
mình để lãnh đạo cuộc đấu tranh thì mới đảm bảo giành được thắng lợi trọn vẹn, hoàn
thành được sứ mệnh lịch sử của mình. Nếu không có chính đảng lãnh đạo, giai cấp
công nhân chỉ có thể đấu tranh tự phát, đấu tranh vì mục đích kinh tế, chứ không phải
là cuộc đấu tranh tự giác, đấu tranh vì mục đích chính trị. Chính vì vậy, Đảng Cộng sản
là nhân tố quyết định hàng đầu đảm bảo cho giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh
lịch sử của mình.
       Với một Đảng Cộng sản chân chính thì sự lãnh đạo của Đảng chính là sự lãnh
đạo của giai cấp công nhân. Đảng với giai cấp là thống nhất, nhưng Đảng có trình độ lý
luận và tổ chức cao nhất để lãnh đạo giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc thực hiện
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Để làm tròn vai trò đó, Đảng Cộng sản phải là
một đảng kiểu mới, một đảng mácxít - lêninnít.

                                          27
     3. Sự hình thành và những đặc điểm của giai cấp công nhân Việt
Nam. Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam
       3.1. Sự hình thành giai cấp công nhân Việt Nam
       Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược, biến nước ta thành một nước thuộc
địa nửa phong kiến, nơi tiêu thụ hàng hóa, khai thác tài nguyên và bóc lột nhân công rẻ
mạt của chúng.
       Sau khi đặt được ách thống trị trên toàn bộ nước ta, vào đầu thế kỷ XX, thực
dân Pháp cấu kết với bọn phong kiến tay sai tiến hành khai thác các hầm mỏ, xây dựng
các nhà máy, xí nghiệp, mở các tuyến đường, mở các đồn điền trồng cây công
nghiệp,...Từ đó, ở nước ta có một lớp người lao động mới ra đời - đó là những công
nhân làm thuê, phần lớn tập trung ở các thành phố, các khu công nghiệp. Năm 1906,
nước ta có khoảng 5 vạn công nhân. Đến năm 1924, công nhân đã có 22 vạn người.
       Ở nước ta, với hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến thì sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân Việt Nam trước hết là phải lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc,
dân chủ nhân dân để giành độc lập dân tộc. Tiếp đến, trong giai đoạn cách mạng xã hội
chủ nghĩa, lãnh đạo nhân dân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu của
cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
       3.2. Những đặc điểm, điều kiện để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo
cách mạng Việt Nam
       Giai cấp công nhân là một bộ phận của giai cấp công nhân quốc tế nên có những
đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế; ngoài ra, giai cấp công nhân Việt Nam
ra đời và phát triển trong điều kiện cụ thể của dân tộc Việt Nam nên còn có những đặc
điểm riêng, ảnh hưởng đến việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt
Nam:
       - Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước cả giai cấp tư sản Việt Nam, là giai
cấp đối kháng trực tiếp với tư bản thực dân Pháp. Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc
địa, nửa phong kiến, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, một thứ chủ nghĩa tư bản
thực lợi không quan tâm mấy đến phát triển công nghiệp, nên giai cấp công nhân Việt
Nam phát triển chậm.
       Mặc dù ra đời muộn, số lượng ít, trình độ nghề nghiệp thấp chưa bằng giai cấp
công nhân thế giới, còn mang nhiều tàn dư của tâm lý và tập quán nông dân, song giai
cấp công nhân Việt Nam đã nhanh chóng vươn lên đảm đương vai trò lãnh đạo cách
mạng Việt Nam, thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là giải phóng dân tộc để giành
độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
       - Giai cấp công nhân Việt Nam tiếp thu và kế thừa truyền thống yêu nước, đấu
tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc. Giai cấp công nhân khi ra đời vừa chịu
nỗi nhục mất nước, vừa bị áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc nên họ có tinh
thần cách mạng kiên cường, triệt để, sớm nhận thức được mối quan hệ giữa sự nghiệp
giải phóng dân tộc và sự nghiệp giải phóng giai cấp, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ
nghĩa quốc tế.
       - Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong điều kiện các giai cấp khác đã bế tắc
về con đường cứu nước thì chỉ có giai cấp công nhân mới có khả năng tìm thấy lối
thoát cho cách mạng

                                         28
       - Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng
Mười Nga thành công, mở ra một chế độ xã hội mới trong lịch sử nhân loại, đó là chế
dộ xã hội xã hội chủ nghĩa và cùng lúc đó Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu
nước giảỉ phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của giai cấp
công nhân. Đó là yếu tố hết sức quan trọng khích lệ, thúc đẩy giai cấp công nhân Việt
Nam đứng lên làm cách mạng để giải phóng dân tộc.
       - Phần lớn những người công nhân nước ta vốn xuất thân từ nông dân và các
tầng lớp nhân dân lao động khác, nên có quan hệ mật thiết, tự nhiên với nông dân và
đông đảo nhân dân lao động. Chính vì vậy, giai cấp công nhân Việt Nam sớm liên
minh với nông dân, tạo thành khối liên minh công - nông và khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, đảm bảo cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng.
Đây cũng là điều kiện cần thiết đảm bảo cho cách mạng Việt Nam giành được thắng
lợi.
       - Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời sau một thời gian ngắn thì Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời. Đảng Cộng sản đã đem yếu tố tự giác vào phong trào công nhân, làm
cho phong trào công nhân có một bước phát triển nhảy vọt về chất. Giai cấp công nhân,
dưới sự lãnh đạo của Đảng, trở thành lực lượng chính trị độc lập, giành được quyền
lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam.
       - Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc và sớm có
Đảng lãnh đạo nên không bị tác động bởi các khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa, cải
lương, xét lại, không bị giai cấp tư sản đầu độc về tư tưởng nên luôn luôn đoàn kết,
thống nhất trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn địa chủ phong kiến tay
sai.
       Ngoài những đặc điểm nói trên, thể hiện những ưu điểm của giai cấp công nhân
Việt Nam, cho đến nay giai cấp công nhân Việt Nam còn có những hạn chế cần phải
khắc phục: Số lượng còn ít, trình độ văn hoá, chuyên môn và nghiệp vụ cũng như khoa
học kĩ thuật còn thấp; tư tưởng bảo thủ, chủ quan, cách làm ăn tuỳ tiện, manh mún của
người sản xuất nhỏ còn ảnh hưởng khá nặng nề.
       Nguyên nhân là do nền công nghiệp nước ta chưa phát triển và thành phần đa số
xuất thân từ nông dân. Tuy vậy, những hạn chế trên không thuộc về bản chất nên giai
cấp công nhân Việt Nam vẫn có đủ khả năng và điều kiện để đảm đương sứ mệnh lịch
sử của mình đối với dân tộc.
       3.3. Đảng Cộng sản Việt Nam với việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân Việt Nam
       Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03 - 02 - 1930. Do hoàn cảnh của Việt
Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản
phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào
yêu nước ở nước ta. Đảng Cộng sản Việt Nam đã đem yếu tố tự giác vào phong trào
công nhân, làm cho phong trào cách mạng nước ta có một bước nhảy vọt về chất, lên
một tầm cao mới.
       Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam,
đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân
tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy nguyên tắc tập trung dân

                                        29
chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, lấy sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp công nhân và nhân dân lao động làm mục đích tối cao của mình.
        Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện vai trò lãnh
đạo, tinh thần phụ trách trước giai cấp và dân tộc trong tiến trình cách mạng Việt Nam.
Trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối chiến
lược, sách lược, phương pháp cách mạng và lãnh đạo nhân dân Việt Nam hoàn thành
từng mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân trong cả nước và đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới
đất nước nhằm tạo ra bước ngoặt lịch sử, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng
hoảng kinh tế - xã hội, xây dựng nước ta theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”.
        Để đưa sự nghiệp đổi mới đến thắng lợi, để đảm đương được vai trò lãnh đạo,
Đảng Cộng sản Việt Nam coi việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng và nâng cao năng lực
lãnh đạo là yêu cầu quan trọng hàng đầu, đảm bảo cho Đảng luôn luôn ngang tầm
nhiệm vụ cách mạng. “Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải
thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh
đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đảm bảo đầy đủ dân chủ
và kỷ luật trong sinh hoạt đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh
chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành vi chia rẽ, bè phái. Đảng chăm
lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến
đấu cao. Đảng quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của
Đảng và nhân dân”.

      V. CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
      1. Nguyên nhân, điều kiện khách quan, chủ quan của cách mạng xã
hội chủ nghĩa
       1.1. Khái niệm về cách mạng xã hội chủ nghĩa
        Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo,
nhắm xoá bỏ chế độ xã hội cũ, nhất là chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội để tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
       Tuy nhiên, cách mạng xã hội chủ nghĩa có lúc được nghiên cứu theo nghĩa rộng,
có lúc được nghiên cứu theo nghĩa hẹp.
       - Theo nghĩa hẹp: Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng về chính trị.
Trong đó quần chúng nhân dân lao động vùng dậy dưới sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân để giành lấy chính quyền, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản (nhà nước của
giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động) tạo tiền đề cho việc tiến hành
cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế, văn hoá, tư tưởng ở giai đoạn tiếp
theo.
       - Theo nghĩa rộng: Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng xã hội.
Đó quá trình cải biến một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
bao gồm chính trị, kinh tế, văn hoá, tư tưởng ... dưới sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

                                         30
       Như vậy, theo nghĩa rộng, cách mạng xã hội chủ nghĩa bao gồm cả việc giành
chính quyền về tay giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả quá trình cải tạo xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
        1.2. Nguyên nhân của cách mạng xã hội chủ nghĩa
        Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, nguyên nhân sâu xa của cuộc cách mạng xã
hội là do sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển sẽ mâu
thuẫn với quan hệ sản xuất đã lỗi thời, kìm hãm nó và tất yếu phải thay thế quan hệ sản
xuất lỗi thời bằng quan hệ sản xuất mới tiên tiến hơn. Do vậy, dưới chủ nghĩa tư bản,
nhất là khi máy hơi nước ra đời làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, ngày
càng mang tính chất xã hội hoá cao; dẫn đến mâu thuẫn với quan hệ sản xuất mang tính
chất tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.
        Biểu hiện của mâu thuẫn trên, trong lĩnh vực kinh tế là tính tổ chức, tính kế
hoạch trong từng doanh nghiệp ngày càng tăng với tính tổ chức của sản xuất toàn xã
hội do tính cạnh tranh của nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa gây ra.
        Quy luật cạnh tranh, tính chất vô chính phủ trong sản xuất dẫn tới khủng hoảng
thừa, buộc một số doanh nghiệp phải ngừng sản xuất, khi sản xuất đình trệ, công nhân
không có việc làm, họ đã đứng lên đấu tranh chống lại giai cấp tư sản. Để khắc phục
tình trạng đó, giai cấp tư sản đã tổ chức ra các Xanhđica, Tờ rớt, Côngxocxiom và nhà
nước tư bản ngày càng can thiệp sâu vào kinh tế, bằng việc quốc hữu hoá một số ngành
khi khó khăn, tư hữu hoá khi thuận lợi.
        Tuy rằng, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong chế độ
tư bản ngày càng gay gắt, nhưng cách mạng xã hội chủ nghĩa không diễn ra một cách
tự phát mà phải thông qua hoạt động của con người và những điều kiện khách quan,
chủ quan nhất định.
        1.3. Những điều kiện khách quan, chủ quan của cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa
       Cách mạng xã hội chủ nghĩa muốn nổ ra và giành thắng lợi, phải có những điều
kiện khách quan và chủ quan.
       - Những điều kiện khách quan của cách mạng xã hội chủ nghĩa
        Những điều kiện khách quan là phải có những mâu thuẫn về kinh tế - xã hội
diễn ra gay gắt trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa. Đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất mang tính xã hội hoá cao với quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất. Đây là mâu thuẫn cơ bản nhất, quyết định nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Mâu thuẫn kinh tế này đã dẫn đến mâu thuẫn về xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp tư
sản và giai cấp vô sản.
       Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, nền đại công nghiệp phát triển cao dựa trên cơ sở
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật đã hình thành những thành phố lớn,
những khu công nghiệp tập trung, làm cho lực lượng sản xuất đạt đến trình độ xã hội
hoá cao. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tạo ra một đội ngũ công nhân ngày
càng đông về số lượng và cao về chất lượng. Họ gắn bó hữu cơ với nền sản xuất hiện
đại và giữ vai trò quyết định trong việc tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã
hội, nhưng của cải đó lại bị giai cấp tư sản chiếm đoạt. Điều đó giúp cho công nhân dễ


                                          31
dàng nhận thấy sự bạo tàn của giai cấp tư sản và họ trở thành kẻ thù của giai cấp tư
sản; làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản ngày càng gay gắt.
       Giai cấp tư sản không chỉ áp bức, bóc lột giai cấp công nhân và nhân dân lao
động trong nước, mà với lòng tham vô hạn, với khát vọng quyền lực, giai cấp tư sản đã
tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược các nước khác, biến những nước này thành
thuộc địa của chúng. Điều đó còn làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các nước tư bản với các
nước thuộc địa ngày càng trở nên gay gắt.
       Những mâu thuẫn trên đã dẫn tới nguy cơ tạo thành cách mạng xã hội và nó đòi
hỏi phải được giải quyết bằng cuộc cách mạng xã hội, nhằm xoá bỏ ách áp bức, bóc lột
của giai cấp tư sản, thiết lập một chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.
       - Những điều kiện chủ quan của cách mạng xã hội chủ nghĩa
       Những điều kiện khách quan đã tạo ra nguy cơ tạo thành cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Nhưng để cho nguy cơ đó biến thành hiện thực thì phải có những điều kiện chủ
quan.
       Điều kiện chủ quan có ý nghĩa quyết định nhất là sự trưởng thành của giai cấp
công nhân, đặc biệt là khi nó đã có Đảng tiên phong của mình là Đảng Cộng sản. Lúc
đó, giai cấp công nhân mới có đủ khả năng điều kiện để đứng ra đảm đương sứ mệnh
lịch sử của mình là tổ chức phát động quần chúng nhân dân lao động tiến hành cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nếu không có điều kiện chủ quan này thì cách mạng xã
hội chủ nghĩa vẫn không nổ ra. Bằng chứng là ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay
như Mỹ, Nhật, Anh, Pháp . . . Mâu thuẫn kinh tế - xã hội đã có, những giai cấp công
nhân và Đảng cộng sản ở những nước đó chưa muốn phát động cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Mặt khác, sự khống chế của giai cấp tư sản ở những nước đó quá chặt chẽ
nên cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa thể nổ ra được. Điều kiện chủ quan thứ hai là sự
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác
để tạo nên lực lượng khổng lồ, sức mạnh to lớn để đảm bảo cho cách mạng thắng lợi.
      2. Mục tiêu, nội dung, động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa
        2.1. Mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa
        Mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giải phóng xã hội, giải phóng con
người, đó là mục tiêu cao cả mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Việc thực hiện mục
tiêu đó gắn liền với từng giai đoạn của cách mạng xã hội chủ nghĩa:
        - Mục tiêu trong giai đoạn thứ nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giành lấy
chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
        - Mục tiêu trong giai đoạn thứ hai của cách mạng xã hội chủ nghĩa là xoá bỏ chế
độ người bóc lột người, giải phóng xã hội, giải phóng con người, đưa lại cuộc sống ấm
no hạnh phúc cho toàn dân; và một khi xoá bỏ được tình trạng người bóc lột người thì
tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ.
       2.2. Nội dung của cách mạng xã hội chủ nghĩa
       Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng có nội dung toàn diện trên tất cả
các lĩnh vực đời sống xã hội.
       - Trên lĩnh vực chính trị
       Nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực chính trị là đưa
quần chúng nhân dân lao động từ địa vị nô lệ, làm thuê, bị áp bức bóc lột trở thành
                                         32
người làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội. Muốn thực hiện được nội dung đó, giai cấp
công nhân cùng với nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản phải dùng
bạo lực cách mạng đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản, như C. Mác – Ph.
Ăngghen nói: "Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự
vươn lên thành giai cấp dân tộc" (C. Mác – Ph. Ăngghen: Toàn tập, Tập 4, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1995, Tr. 623 - 624).
       Bước tiếp theo là giai cấp công nhân phải xây dựng một nền dân chủ rộng rãi
cho nhân dân, đảm bảo cho nhân dân lao động thực hiện đầy đủ quyền làm chủ về
chính trị, tham gia vào công việc quản lý xã hội, quản lý nhà nước, làm cho nhà nước
thực sự là của dân, do dân và vì dân.
       - Trên lĩnh vực kinh tế
       Việc giành được chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động
mới chỉ là nhiệm vụ quan trọng bước đầu. Nhiệm vụ trọng tâm có ý nghĩa quyết định
cho sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa phải là phát triển kinh tế; nâng cao
năng suất lao động và cải thiện đời sống nhân dân. Nên thực chất của cách mạng xã hội
chủ nghĩa là cuộc cách mạng về kinh tế. Trong Điều lệ Quốc tế I, C. Mác viết: "Bất cứ
cuộc cách mạng chính trị nào cũng chỉ là thủ đoạn để giải phóng giai cấp công nhân về
mặt kinh tế". Trong Hệ tư tưởng Đức, ông nói: Xây dựng chủ nghĩa cộng sản về thực
chất là xây dựng về kinh tế. Chỉ có giải phóng về kinh tế là cơ sở giải phóng giai cấp
công nhân về mặt tinh thần, làm chủ được kinh tế mới làm chủ được mặt tinh thần.
       Nội dung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế trước hết phải
thay đổi vị trí, vai trò của người lao động đối với tư liệu sản xuất. Xoá bỏ chế độ chiếm
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xác lập chế độ sở hữu xã hội chủ
nghĩa về tư liệu sản xuất dưới những hình thức thích hợp; thực hiện những biện pháp
cần thiết gắn người lao động với tư liệu sản xuất. Sau đó phải cải tạo nền sản xuất cũ,
lạc hậu thành nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp
hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến để đưa năng suất lao động lên cao, nhằm từng
bước cải tiện đời sống nhân dân và tạo ra những cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa
xã hội. Trên cơ sở đó, chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc "Làm theo năng lực,
hưởng theo lao động".
       - Trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng
       Cách mạng xã hội chủ nghĩa tạo nên sự biến đổi căn bản trong phương thức và
nội dung sinh hoạt tinh thần của xã hội theo hướng tiến bộ. Trên cơ sở kế thừa và nâng
cao các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, thực hiện việc tiếp thu các giá trị văn
hóa tiên tiến của thời đại để thực hiện việc giải phóng những người lao động về mặt
tinh thần thông qua việc xây dựng từng bước thế giới quan và nhân sinh quan cộng sản,
xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản, C. Mác - Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: "Cách mạng cộng sản chủ
nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những quan hệ sở hữu kế thừa của quá khứ;
không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn
tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng kế thừa của quá khứ" (C. Mác - Ph.
Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr. 626)
       Các nội dung trên diễn ra đồng thời và có quan hệ mật thiết, tác động, thúc đẩy
lẫn nhau đưa đến sự thành công của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

                                          33
        2.3. Động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa
        Cách mạng xã hội chủ nghĩa với mục đích giải phóng giai cấp công nhân và
nhân dân lao động ra khỏi tình trạng áp bức, bóc lột. Do vậy, nó thu hút sự tham gia
đông đảo của giai cấp công nhân và tầng lớp nhân dân lao động, tạo thành những động
lực to lớn của cách mạng.
         Trước hết, đối với giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân thông qua đội tiên
phong của nó là Đảng cộng sản, là động lực cơ bản, quan trọng nhất, bởi lẽ, giai cấp
công nhân có vai trò quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, sản xuất ra nhiều của cải vật
chất làm giàu cho xã hội. Mặt khác, giai cấp công nhân đề ra mục tiêu giải phóng nhân
dân lao động khỏi áp bức, bất công, nghèo nàn, lạc hậu đã được các tầng lớp nhân dân
hưởng ứng, đi theo tạo thành một sức mạnh tổng hợp. Hơn nữa, giai cấp công nhân với
đường lối, chiến lược cách mạng đúng đắn đã đưa cách mạng từng bước đi đến thắng
lợi. Do vậy, giai cấp công nhân và chính đảng của nó như là đầu tàu thúc đẩy cả con
tàu cách mạng chuyển động đi về đích. Nên thực tế lịch sử cho thấy, khi nào và ở đâu
phong trào công nhân vững mạnh, sự lãnh đạo của giai cấp công nhân sáng suốt thì
cách mạng đi lên. Ở đâu phong trào công nhân suy yếu, sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân sai lầm thì phong trào cách mạng sẽ gặp khó khăn.
        Thứ hai, đối với giai cấp nông dân: Giai cấp nông dân là động lực quan trọng
của cách mạng xã hội chủ nghĩa vì giai cấp nông dân có nhiều lợi ích cơ bản thống nhất
với lợi ích của giai cấp công nhân, là lực lượng xã hội to lớn, đông đảo trong dân cư,
có khả năng cách mạng to lớn. Trong mỗi giai đoạn của cách mạng, không thể thiếu vai
trò của giai cấp nông dân.
        Trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền, giai cấp công nhân chỉ giành được
thắng lợi khi tập hợp được sức mạnh của giai cấp nông dân. C. Mác - Ph. Ăngghen chỉ
ra rằng: "Cách mạng vô sản (theo nghĩa hẹp) phải là bản đồng ca của hai giai cấp: công
nhân và nông dân. Trong các quốc gia còn tồn tại phổ biến là nông dân, nếu không có
được bản đồng ca ấy thì bài đơn ca của giai cấp công nhân sẽ trở thành một bài ca ai
điếu."
        Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, giai cấp nông dân là lực lượng quan
trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước, đồng thời là lực lượng to lớn bảo vệ
vững chắc thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo
của Đảng, là cơ sở xây dựng chính quyền nhà nước vững mạnh.
        Thứ ba, đối với tầng lớp trí thức: Trí thức đóng vao trò quan trọng trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. V.I.
Lênin đã từng khẳng định: "Không có trí thức không thể có chủ nghĩa xã hội" Vì rằng,
trí thức là những người có công lao chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, phát triển dân trí,
đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước; tham gia xây dựng đường lối của Đảng, chính
sách của Nhà nước, đưa nó vào trong quần chúng nhân dân. Đặc biệt là trong thời đại
ngày nay, khi khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại phát triển thì vai trò động lực
phát triển xã hội của trí thức lại càng cao. Tuy vậy, trí thức không bao giờ trở thành lực
lượng lãnh đạo cách mạng vì họ không đại biểu cho bất kỳ một phương thức sản xuất
nào; không có hệ tư tưởng độc lập. Trí thức phục vụ cho giai cấp nào thì mang ý thức
hệ của giai cấp đó. Trí thức dưới chủ nghĩa xã hội mạng ý thức hệ của giai cấp công
nhân.

                                           34
     3. Lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự
vận dụng ở Việt Nam
        3.1. Lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin
        - Tư tưởng về cách mạng không ngừng của C. Mác - Ph. Ăngghen
         C. Mác và Ph. Ănghen là những người đầu tiên nêu lên tư tưởng về cách mạng
không ngừng. Các ông quan niệm rằng: Cách mạng của giai cấp công nhân phát triển
không ngừng nhưng phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trong phạm vi một nước
cũng như trên toàn thế giới. Mỗi giai đoạn có những yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể tạo
tiền đề cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Tư tưởng đó thể hiện tính giai đoạn và tính
liên tục của sự phát triển cách mạng.
        Các ông còn chỉ ra rằng trong các quốc gia còn tồn tại chế độ quân chủ, phong
trào công nhân chưa đủ mạnh, lúc đầu giai cấp công nhân với tư cách là lực lượng
chính trị xã hội độc lập phải chủ động tích cực tham gia vào cuộc cách mạng dân chủ
do giai cấp tư sản lãnh đạo để đánh đổ chế độ quân chủ. Sau đó, giai cấp công nhân
liên minh với các tầng lớp nhân dân lao động, trước hết là nông dân chuyển sang đấu
tranh chống lại giai cấp tư sản và các thế lực đại diện cho chúng.
        Trong lời kêu gọi của Uỷ ban Trung ương gửi Đồng minh những người cộng
sản 1850, C. Mác - Ph. Ăngghen viết: "Lợi ích của chúng ta là phải làm cho cách mạng
trở thành cách mạng không ngừng, cho đến khi tất cả các giai cấp ít hay nhiều hữu sản
đều bị gạt ra khỏi chính quyền nhà nước, cho đến khi chẳng những ở một nước mà ở tất
cả mọi nước thống trị trên thế giới, các hội liên hiệp những người vô sản đã tiến bộ đến
mức có thể chấm dứt sự cạnh tranh giữa những người vô sản ở các nước đó, và ít nhất
là tập trung những lực lượng sản xuất quyết định vào tay mình". Hay C. Mác còn nói:
"Chủ nghĩa xã hội này là lời tuyên bố cách mạng không ngừng"
        - Sự phát triển của V.I. Lênin
        Dựa trên tư tưởng cách mạng không ngừng của C. Mác - Ph. Ănghen, căn cứ
vào điều kiện lịch sử mới: chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, giai cấp
tư sản đã trở thành giai cấp phản động, bỏ rơi ngọn cờ dân chủ, tiến hành những cuộc
chiến tranh xâm lược, biến những nước lạc hậu thành thuộc địa của chúng. Trong
phong trào công nhân đã xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, tư tưởng cách mạng không ngừng
của C. Mác - Ph. Ăngghen đã bị họ phủ định, V.I. Lênin đã đấu tranh chống lại những
tư tưởng đó và phát triển tư tưởng cách mạng không ngừng của C. Mác - Ph.Ăngghen
thành lý luận về sự chuyển biến cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới sang cách mạng xã
hội chủ nghĩa.
        Xuất phát từ tình hình nước Nga vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, là nơi tập
trung những mâu thuẫn, là khâu yếu nhất trong dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc đã
xuất hiện cùng một lúc tiền đề của hai cuộc cách mạng, V.I. Lênin cho rằng: "Giai cấp
công nhân Nga phải nắm lấy ngọn cờ cách mạng dân chủ tư sản (hay còn gọi là cách
mạng dân chủ tư sản kiểu mới), tiến hành cách mạng một cách triệt để, thực hiện
chuyển biến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
        Cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới là màn mở đầu, là nhịp cầu để chuyển lên
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới và cách mạng xã hội
chủ nghĩa là hai giai đoạn khác nhau nhưng cùng nằm trong một quá trình vận động

                                          35
không ngừng, giữa chúng có sự gắn kết, không có bức tường nào ngăn cách cả. Thắng
lợi của cách mạng dân chủ nhân dân tạo tiền đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa.
       V.I. Lênin còn chỉ ra những điều kiện để thực hiện sự chuyển biến từ cách mạng
dân chủ tư sản kiểu mới lên cách mạng xã hội chủ nghĩa:
       - Một là, giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình phải giữ vai trò
lãnh đạo trong suốt quá trình cách mạng.
       - Hai là, phải củng cố, tăng cường khối liên minh công công vững chắc trong
suốt quá trình cách mạng.
       - Ba là, chuyên chính dân chủ cách mạng của giai cấp công nhân, nông dân phải
chuyển sang thực hiện nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản.
       3.2. Sự vận dụng lý luận cách mạng không ngừng ở Việt Nam
       Lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận soi
đường cho sự phát triển cách mạng ở các nước thuộc địa, phụ thuộc, các nước dân tộc
chủ nghĩa, các nước chậm phát triển về kinh tế trong thời đại ngày nay, trong đó có
Việt Nam.
       - Tính tất yếu của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam
       Xuất phát từ việc thấm nhuần quan điểm, tư tưởng của C. Mác - Ph. Ăngghen và
V.I. Lênin về cách mạng không ngừng, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tiễn cách
mạng Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là sự áp bức, bóc lột của thực dân
phong kiến đối với quần chúng nhân dân lao động vô cùng dã man, tàn bạo; những
phong trào đấu tranh theo xu hướng tư sản và phong kiến đều bị thất bại, Đảng ta, đứng
đầu là Hồ Chí Minh đã nhận thức được tính tất yếu lịch sử của con đường cách mạng
Việt Nam là con đường cách mạng vô sản (xã hội chủ nghĩa) . Người nói: "Chỉ có chủ
nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức". Do vậy, người đã tích cực
tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, đưa đến việc thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam vào ngày 03 - 02 - 1930.
       Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời làm cho cách mạng Việt Nam thoát khỏi sự
khủng hoảng về đường lối chính trị, sự nghiệp đấu tranh của nhân dân Việt Nam đã kết
hợp được hai nhiệm vụ: giải phóng dân tộc bị áp bức và giải phóng giai cấp những
người lao động. Trên con đường đó, điều đầu tiên là phải tiến hành cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân (hay còn
gọi là cách mạng giải phóng dân tộc) nhằm tạo tiền đề cho việc chuyển lên cách mạng
xã hội chủ nghĩa.
       - Tính tất yếu chuyển từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã
hội chủ nghĩa
       Trong thời đại ngày nay, khi độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời
nhau và ở nước ta, khi giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản
giữ vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do đó, tính tất yếu của việc chuyển biến
từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa đã được khẳng
định ngay trong Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng ta là: Cách mạng Việt Nam
phải trải qua hai giai đoạn: cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng xã hội chủ
nghĩa.

                                         36
       Quan điểm tư tưởng đó lại một lần nữa được khẳng định trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam
được trình bày tại Đại hội VII (1991): "Bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước
ta là nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là điều
kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo
vững chắc cho độc lập dân tộc".
       Những quan điểm tư tưởng trên của Đảng ta là sự vận dụng một cách trung
thành, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào quá trình cách mạng Việt Nam; đưa cách
mạng Việt Nam tiến lên từng bước vững chắc.

     VI. THỜI ĐẠI NGÀY NAY
     1. Khái niệm thời đại. Nội dung, tính chất và những mâu thuẫn cơ
bản của thời đại ngày nay
        1.1. Khái niệm thời đại
        - Thời đại là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử xã hội, phân biệt
những nấc thang phát triển của xã hội loài người.
        Tuy nhiên ở mỗi ngành khoa học, mỗi phương diện công tác khác nhau có cách
gọi tên và phân chia thời đại khác nhau.
        Dưới góc độ của môn chủ nghĩa xã hội khoa học, chúng ta chỉ nghiên cứu thời
đại về mặt chính trị - xã hội chứ không nghiên cứu ở những lĩnh vực khác.
        - Cơ sở để phân chia lịch sử xã hội loài người thành các thời đại:
        + Căn cứ vào sự xuất hiện của một hình thái kinh tế - xã hội mới
        Lúc nào có một hình thái kinh tế - xã hội mới ra đời, nó sẽ mở ra một thời đại
mới cho loài người. Loài người có 5 hình thái kinh tế - xã hội tương ứng với nó có 5
thời đại lịch sử.
        + Căn cứ vào sự thay đổi của vị trí trung tâm của giai cấp trong xã hội
         Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp, một hình thái kinh tế - xã hội có
một giai cấp giữ vai trò thống trị đứng ở vị trí trung tâm của thời đại đó. Giai cấp ở vị
trí trung tâm phải là giai cấp tiên tiến, đại diện cho xu hướng vận động của lịch sử, có
khả năng tập hợp quần chúng nhân dân đấu tranh xoá bỏ chế độ cũ, thiết lập chế độ
mới và mở ra thời đại mới.
        1.2. Nội dung cơ bản của thời đại ngày nay
       Trong lý luận ngày nay, chúng ta đang sử dụng những khái niệm đồng nghĩa:
Thời đại ngày nay, thời đại mới, thời đại chúng ta ... mà nội dung cơ bản của thời đại
ngày nay đó là:
       - Theo quan điểm của V.I. Lênin: Nội dung của thời đại mới là xoá bỏ giai cấp
tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, đồng thời thiết lập những cơ sở của xã hội mới là xã
hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Đây là quá trình lịch sử lâu dài, bắt đầu từ
Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, sau đó là những cuộc cách mạng ở
nhiều nước khác trên thế giới.
       - Dựa trên quan điểm của V.I. Lênin, Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và
công nhân trong năm 1957 và năm 1960 đã xác định nội dung căn bản của thời đại
chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

                                           37
trên phạm vi toàn thế giới được mở đầu từ cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng
Mười Nga vĩ đại.
        Từ đó đến nay, mấy chục năm trôi qua và tình hình thế giới có nhiều biến đổi,
đặc biệt là sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, song tính chất và nội dung của thời đại
vẫn không thay đổi - vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
trên phạm vi toàn thế giới, vì rằng:
        + Chủ nghĩa xã hội tuy đang thoái trào, bị sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu mà
nguyên nhân cơ bản là do sự sai lầm chủ quan trong đường lối lãnh đạo của các Đảng
Cộng sản, nhưng bản chất của chủ nghĩa xã hội vẫn tốt đẹp, ưu việt nên nó là mô hình
mà nhân loại lựa chọn và đi tới.
        + Chủ nghĩa tư bản tuy đang phát triển và cố thích nghi để phát triển nhưng bản
chất của nó vẫn là xã hội có áp bức, bóc lột và bất công nên nó không phải là tương lai
của xã hội loài người, không phải là mô hình mà nhân loại lựa chọn và đi tới như Đảng
ta từng khẳng định: "Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách -
Lịch sử thế giới hiện trải qua những bước quanh co; song loài người cuối cùng nhất
định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử" (Cương lĩnh Đại
hội VII – ĐCSVN, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 8)
        - Sự thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga là cột mốc mở
ra thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
cộng sản vì:
        + Sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội đã từ lý
luận trở thành thực tiễn. Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ra đời; đối lập và
phủ định hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, đưa con người thoát khỏi chế độ
nô lệ làm thuê trở thành con người tự do chân chính.
        + Chiều hướng phát triển tất yếu, trục xuyên suốt của sự vận động lịch sử từ sau
Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga là đấu tranh xoá bỏ trật tự tư bản chủ
nghĩa, thiết lập và từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
        + Từ sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, các nước xã hội chủ
nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trở thành lực lượng nòng cốt đi đầu
trong cuộc đấu tranh vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
        + Sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, cách mạng giải phóng dân
tộc nằm trong phạm trù cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhiều nước sau khi giành được
độc lập dân tộc đã đi lên con đường xã hội chủ nghĩa.
        1.3. Tính chất của thời đại ngày nay
        Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga đã mở đầu một thời đại mới mà
nội dung cơ bản và tính chất của nó đã được xác định đó là sự quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội. Tính chất ấy của thời đại cho đến nay vẫn không hề thay đổi.
Dù chủ nghĩa tư bản vẫn còn tồn tại và còn những khả năng phát triển nhưng về
nguyên tắc, thời đại của chủ nghĩa tư bản đã trở nên lỗi thời về mặt lịch sử; thời đại đấu
tranh cho sự ra đời, phát triển và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đã bắt đầu, thay thế
cho thời đại tư sản một cách tất yếu. Song cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa tư bản, giữa cái cũ và cái mới; giữa những lực lượng cách mạng và phản cách
mạng đang diễn ra gay go, quyết liệt trên phạm vi toàn thế giới. Cuộc đấu tranh này


                                           38
đang chi phối toàn bộ quá trình vận động của lịch sử nhân loại và diễn ra trên tất cả
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị đến văn hoá, tư tưởng . ..
       1.4. Những mâu thuẫn cơ bản của thời đại ngày nay
        Hiện nay, trên phạm vi thế giới có 4 mâu thuẫn cơ bản sau:
       - Thứ nhất: Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản.
        Đây là mâu thuẫn cơ bản nhất, nổi cộm nhất của thời đại, mâu thuẫn giữa hai
chế độ chính trị đối lập. Nó xuyên suốt thời đại từ khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tháng Mười Nga thành công cho đến lúc chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản được
xác lập trên phạm vi toàn thế giới, chủ nghĩa tư bản hoàn toàn bị thủ tiêu. Thực tiễn
lịch sử từ sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga đến nay đã xác nhận mâu
thuẫn này.
       Sự vận động và giải quyết mâu thuẫn này có tác động, chi phối tới những mâu
thuẫn còn lại của thời đại. Mặc dù ngày nay, một số nước xã hội chủ nghĩa đã có quan
hệ ngoại giao, quan hệ kinh tế và nhiều quan hệ khác với các nước tư bản chủ nghĩa.
Điều đó không có nghĩa là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản dịu đi
hoặc không còn nữa. Trái lại, mâu thuẫn giữa hai chế độ này đang biểu hiện dưới dạng
mới là vừa hợp tác, vừa đấu tranh, trong đấu tranh có hợp tác trên nhiều phương diện.
       - Thứ hai: Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân; giữa tư bản và
lao động
        Đây là mâu thuẫn nội tại trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, trong đó mâu
thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là cơ bản nhất. Chừng nào chủ nghĩa tư
bản vẫn còn tồn tại thì mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản trong xã hội này vẫn là
khách quan vì giai cấp tư sản là giai cấp thống trị, nắm tư liệu sản xuất, còn giai cấp
công nhân là giai cấp làm thuê cho giai cấp tư sản. Mặc dù hiện nay do sự đấu tranh
của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, cùng với năng suất lao động cao do
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ tạo ra, chủ nghĩa tư bản có những điều
chỉnh trong chính sách xã hội, tăng phúc lợi xã hội. Song phân hoá giàu nghèo vẫn diễn
ra quyết liệt. Sự phân hoá đó càng làm cho mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản chủ
nghĩa vẫn tồn tại và gay gắt.
       - Thứ ba: Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế
quốc
       Mâu thuẫn này được nảy sinh khi chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế
quốc, biến các nước kém phát triển về kinh tế, văn hoá nhưng lại giàu về tài nguyên
khoáng sản và dồi dào sức lao động thành hệ thống thuộc địa và phụ thuộc của chúng.
Bằng những biện pháp tinh vi, các nước tư bản đang bóc lột các nước thuộc địa một
cách thậm tệ, làm cho khoảng cách giữa các nước giàu và các nước nghèo ngày càng
gia tăng. Nhiều nước hiện nay không còn khả năng trả nợ. Tình trạng đói nghèo của
các nước kinh tế chậm phát triển là nguyên nhân dẫn tới những xung đột dân tộc, tôn
giáo ở những nước này gia tăng.
       Như vậy, hiện nay các nước chậm phát triển, một mặt phải tiến hành đấu tranh
chống lại sự can thiệp và xâm lược bằng quân sự, bằng kinh tế, bằng văn hoá của các
nước phương Tây, mặt khác phải đấu tranh chống lại nghèo đói, bệnh tật, lạc hậu..
Tình trạng trên làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ
nghĩa đế quốc ngày càng tăng.

                                         39
       - Thứ tư: Mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau
       Mặc dù các nước tư bản chủ nghĩa luôn có sự thống nhất với nhau về bản chất
chế độ, về lợi ích giai cấp, về mục tiêu chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách
mạng, nhưng quan hệ giữa các nước tư bản chủ nghĩa, giữa các tập đoàn tư bản luôn là
quan hệ liên minh nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa. Song, giữa các nước tư bản chủ
nghĩa có những mâu thuẫn về lợi ích quốc gia, lợi ích của mỗi tập đoàn tư bản, do vậy,
luôn diễn ra những cuộc đấu tranh lúc ngấm ngầm, lúc công khai.
       Mâu thuẫn trên là nguyên nhân nổ ra hai cuộc chiến tranh thế giới. Hiện nay
mâu thuẫn này được thể hiện thông qua mâu thuẫn giữa ba trung tâm tư bản lớn: Mỹ -
Nhật - Tây Âu.
       Việc xác định đúng những mâu thuẫn của thời đại ngày nay giúp chúng ta từng
bước giải quyết mâu thuẫn và đưa lịch sử vận động, đi lên.
     2. Những đặc điểm cơ bản và xu thế vận động chủ yếu của thời đại
ngày nay
        2.1. Những đặc điểm cơ bản của thời đại ngày nay
        Đặc điểm 1: Đặc điểm nổi bật của thời đại ngày nay là cuộc đấu tranh giai cấp
và dân tộc của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội đang diễn ra trên phạm vi toàn thế giới.
        - Cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản vẫn diễn ra
quyết liệt. Chủ nghĩa xã hội vẫn là đối trọng chính của chủ nghĩa tư bản. Do vậy, kể từ
khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, giai cấp tư sản đã tìm mọi biện
pháp để chia rẽ, phá hoại phong trào công nhân và nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội cả
trên lý luận và thực tiễn.
        - Nguy cơ của cuộc chiến tranh thế giới mới đã bị đẩy lùi nhưng xung đột sắc
tộc, tôn giáo xảy ra gay go, quyết liệt và diễn biến phức tạp trên thế giới, cuộc chạy đua
vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi.
        Đặc điểm 2: Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang gây ra
những thay đổi to lớn trên thế giới.
        Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển hết sức mạnh mẽ,
với trình độ ngày càng cao, tạo ra điều kiện tăng nhanh năng lực sản xuất. Trung bình
cứ 10 - 15 năm của cải nhân loại tăng gấp đôi. Từ đó tạo ra những thay đổi trong nhiều
quan niệm của đời sống xã hội từ kinh tế đến chính trị, văn hoá . . . đồng thời còn tạo ra
xu hướng toàn cầu hoá trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, dẫn đến sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng; khoảng cách sự phân hoá giàu, nghèo giữa
các nước ngày càng lớn. Hiện nay, thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức, và vòng
đua của nhân loại trong thế kỷ 21 là vòng đua vào nền kinh tế tri thức.
        Đặc điểm 3: Sự xuất hiện những vấn đề toàn cầu đòi hỏi sự hợp tác giải quyết
của các quốc gia.
        Hiện nay, nhân loại đang đứng trước những vấn đề có tính toàn cầu, đó là: Tình
trạng bùng nổ dân số ở các nước nghèo; sự nghèo đói ở các nước chậm phát triển; tình
trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên đang đe doạ cuộc sống của hàng tỉ người
trên trái đất. Tình trạng buôn lậu ma tuý, buôn lậu quốc tế, bệnh tật hiểm nghèo đang
có xu hướng gia tăng gây hậu quả nặng nề cho nhiều quốc gia trên thế giới.
                                           40
        Vì vậy, đòi hỏi các quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, sắc
tộc, tôn giáo đều phải cùng nhau hợp lực để giải quyết có hiệu quả những vấn đề nêu
trên nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của thế giới.
        Đặc điểm 4: Khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang là khu vực phát triển
năng động, khả năng phát triển với tốc độ cao, đồng thời cũng đang tiềm ẩn một số
nhân tố có nguy cơ gây mất ổn định.
        Khu vực châu Á - Thái Bình Dương là nơi tài nguyên chưa bị khai thác nhiều,
giá lao động rẻ tạo điều kiện cho các nước trong khu vực thu hút nguồn vốn đầu tư
nước ngoài. Với thế mạnh nông nghiệp nhiệt đới, giúp cho các nước mở rộng giao lưu
quốc tế, tranh thủ công nghệ hiện đại. Song ở khu vực này chứa đựng những nhân tố
gây ra mất ổn định vì khu vực này bao gồm nhiều nền văn hoá, có nhiều hệ tư tưởng,
nhiều tôn giáo, nhiều nguồn vốn nước ngoài đầu tư. Do vậy, cũng tiềm ẩn nguy cơ gây
ra xung đột, mất ổn định.
        2.2. Những xu thế vận động chủ yếu của thời đại ngày nay
        Thứ nhất, hoà bình, ổn định để cùng phát triển
        Từ hậu quả của các cuộc chiến tranh thế giới, các quốc gia đều nhận thấy tầm
quan trọng của hoà bình, ổn định để phát triển. Bởi không nước nào phát triển được
trong điều kiện có chiến tranh. Do vậy, hoà bình đã trở thành nhu cầu bức xúc của các
dân tộc trên thế giới. Có hoà bình mới có điều kiện thu hút các nguồn vốn đầu tư nước
ngoài, mới huy động được sức người, sức của trong nhân dân để phát triển đất nước.
Nên phần lớn các nước trên thế giới đã dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, qua đó mà
phát triển tiềm lực của mình, tạo điều kiện giữ gìn hoà bình trong nước và trên thế giới.
        Thứ hai, gia tăng hợp tác giữa các quốc gia
        Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hoá, không một quốc gia nào có thể phát
triển được nếu không có sự hợp tác. Do vậy, hợp tác là xu thế tất yếu trên thế giới hiện
nay. Hình thức hợp tác hiện nay rất đa dạng: hợp tác song phương; hợp tác khu vực;
hợp tác quốc tế. Các tổ chức quốc tế như Liên hiệp quốc, Quỹ tiền tệ quốc tế, Tổ chức
thương mại thế giới... ngày càng tham gia nhiều vào đời sống kinh tế, đời sống chính
trị của các nước. Lĩnh vực hợp tác giữa các nước ngày càng đa dạng: Hợp tác kinh tế,
khoa học kỹ thuật, hợp tác thương mại, hợp tác nghiên cứu chinh phục vũ trụ và cả hợp
tác chính trị.
        Thứ ba, các dân tộc ngày càng nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự cường, đấu
tranh chống lại sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền
văn hoá dân tộc
        Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại, của phong trào
cách mạng trên thế giới, của phương tiện thông tin; các dân tộc ngày càng ý thức được
những quyền lợi dân tộc cơ bản của mình như: Quyền độc lập dân tộc, quyền tự quyết
chế độ chính trị, quyền lựa chọn con đường phát triển... mặt khác, các nước lớn thường
ỷ lại vào thế mạnh kinh tế và quân sự của mình để chi phối, lấn át, áp bức và xâm lược
các nước nhỏ. Điều đó dẫn tới những cuộc đấu tranh của các dân tộc đòi hoà bình và
độc lập dân tộc.
        Thứ tư, các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng Cộng sản và công nhân kiên trì đấu
tranh vì hoà bình, tiến bộ và phát triển

                                          41
       Hiện nay, các nước xã hội chủ nghĩa tuy đang gặp khó khăn rất lớn về kinh tế,
nhưng các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế vẫn là lực
lượng đi đầu, nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống lại những thế lực gây chiến, bảo vệ
hoà bình thế giới, phấn đấu cho sự phát triển và tiến bộ của nhân loại.
       Thứ năm, các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa hợp tác, vừa đấu tranh
cùng tồn tại trong hoà bình
       Các nước xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế phát triển thấp, có trình độ khoa học
kỹ thuật chưa cao, do vậy, cần tranh thủ khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến cuả các
nước tư bản và kể cả nguồn vốn để phát triển sản xuất. Ngược lại, các nước tư bản thấy
được tiềm năng to lớn về đầu tư sản xuất, mở rộng kinh doanh với các nước xã hội chủ
nghĩa nên sự hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa là tất yếu.
       Song sự đối lập giữa lợi ích và hệ tư tưởng giữa hai chế độ xã hội này không
phải vì thế mà mất đi. Cho nên giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vừa hợp tác
vừa đấu tranh là tất yếu.
       Muốn thực hiện được điều đó, các Đảng Cộng sản phải có đường lối cách mạng,
có chiến lược, sách lược đúng đắn, phải tìm ra nhiều hình thức đấu tranh, phải tiếp tục
bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với thời đại ngày nay.

      VII. NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ
            NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
     1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ và bản chất của
dân chủ xã hội chủ nghĩa
        1.1. Quan niệm về dân chủ
        - Ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, khi có ngôn ngữ, chữ viết, con người đã biết diễn
đạt nội dung dân chủ. Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, con người đã biết "cử ra và
phế bỏ người đứng đầu" là do quyền và sức lực của người dân. Nghĩa là dân chủ là
quyền lực thuộc về nhân dân.
        Nhưng trong các thời kỳ khác nhau của xã hội có phân chia giai cấp, dân chủ
không còn giữ nguyên nghĩa ban đầu của nó là quyền lực thuộc về nhân dân, mà bị chi
phối bởi quan điểm lập trường, thái độ chính trị của giai cấp cầm quyền trong xã hội.
Nó trở thành một hình thức nhà nước của một giai cấp thống trị nhất định trong xã hội.
Giai cấp thống trị cũ đã nhân danh cộng đồng, nhân danh lợi ích chung định ra pháp
luật, thao túng mọi quyền hành, tước quyền làm chủ của nhân dân. Bằng chứng là:
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, giai cấp chủ nô lập ra nhà nước, lấy tên là nhà nước dân
chủ - tức nhà nước dân chủ chủ nô thống trị đại đa số người lao động là giai cấp nô lệ.
Khi đó nhà nước chủ nô mới chính thức sử dụng danh từ "dân chủ", tiếng Hy Lạp còn
gọi là "demos", là "dân" và "Kratos", là "quyền lực" hoặc "sức mạnh". Có nghĩa là nhà
nước dân chủ chủ nô có quyền lực của dân. Nhưng “dân” lúc này theo quy định của
pháp luật gồm giai cấp chủ nô, tăng lữ, thương gia, một số trí thức và người tự do, còn
đại đa số nhân dân trở thành nô lệ thì không được coi là dân.
        Đến chế độ phong kiến, mặc dù khát vọng về dân chủ của người dân vẫn cháy
bỏng nhưng chế độ phong kiến không được thừa nhận là một chế độ dân chủ (dẫu chỉ
là hình thức) mà đó là một chế độ quân chủ.

                                         42
       Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, dù chế độ này có nhiều thành tựu to lớn, có
mang tên chế độ dân chủ, nhà nước dân chủ thì về thực chất vẫn không phải là nhà
nước thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân mà chỉ là nhà nước của giai cấp tư sản.
       Chỉ đến khi chủ nghĩa xã hội ra đời, nhân dân lao động giành lại chính quyền và
tư liệu sản xuất thì quyền lực thực sự của dân mới trở lại với nhân dân. Tức là nhà
nước xã hội chủ nghĩa đã thiết lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa để thực hiện quyền lực
của nhân dân. Vì vậy dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ cao nhất, đầy đủ nhất,
dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản.
       Tóm lại: Nhân loại từ lâu đời đã có quan niệm về dân chủ và quan niệm đó là
việc thực thi quyền lực của nhân dân.
       - Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ
       Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ thể hiện ở những quan điểm
sau:
       + Chủ nghĩa Mác - Lênin kế thừa những nhân tố hợp lý, những hoạt động thực
tiễn và nhận thức của nhân loại về dân chủ. Đặc biệt tán thành quan điểm: Dân chủ là
một nhu cầu khách quan của nhân dân lao động, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân
dân.
       + Khi xã hội có giai cấp và nhà nước - tức là một chế độ dân chủ thể hiện chủ
yếu qua nhà nước thì khi đó không có dân chủ chung chung, phi giai cấp, siêu giai cấp,
"dân chủ thuần tuý". Trái lại, mỗi chế độ dân chủ gắn với nhà nước đều mang bản chất
giai cấp thống trị xã hội. Nên dân chủ trong xã hội có giai cấp nó mang tính giai cấp,
gắn liền với các giai cấp đã thiết lập nên nền dân chủ đó, như: Dân chủ chủ nô, dân chủ
tư sản, dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa). Do đó, từ khi có chế độ dân chủ thì
dân chủ luôn luôn tồn tại với tư cách một phạm trù lịch sử, phạm trù chính trị.
       + Từ khi có nhà nước dân chủ, thì dân chủ còn với ý nghĩa là một hình thức nhà
nước, trong đó chế độ bầu cử, bãi miễn các thành viên của nhà nước, có quản lý xã hội
theo pháp luật nhà nước và thừa nhận ở nhà nước đó "quyền lực thuộc về nhân dân"
(còn dân là ai thì do giai cấp thống trị quy định) gắn liền với một hệ thống chuyên
chính của giai cấp thống trị xã hội.
       + Với một chế độ dân chủ và nhà nước tương ứng đều do một giai cấp thống trị
cầm quyền chi phối tất cả các lĩnh vực của toàn xã hội, do vậy, tính giai cấp thống trị
cũng gắn liền và chi phối tính dân tộc, tính chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... ở mỗi
quốc gia, dân tộc cụ thể.
       1.2. Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa
       - Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, chuyên chính vô sản và dân chủ xã hội chủ
nghĩa về căn bản là thống nhất. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta
thống nhất gọi chuyên chính vô sản là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (vẫn thực hiện nội
dung cơ bản của chuyên chính vô sản vì Đảng ta quan niệm: "Chuyên chính vô sản là
quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động được thực hiện bằng nhà nước dưới sự
lãnh đạo của Đảng")
       Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở những điểm sau đây:
       - Bản chất chính trị
        Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: Bản chất chính trị của nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa là sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua đảng của nó đối với

                                          43
toàn xã hội, nhưng không phải chỉ để thực hiện quyền lực và lợi ích riêng cho giai cấp
công nhân mà chủ yếu là để thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân, trong
đó có giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Trong chế độ dân chủ xã hội chủ
nghĩa thì bao nhiêu quyền lực đều là của dân, bao nhiêu sức mạnh đều ở nơi dân, bao
nhiêu lợi ích đều là vì dân... chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ
nghĩa ... do đó, về thực chất là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
        V.I. Lênin còn nhấn mạnh rằng: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ mà nhân
dân ngày càng tham gia nhiều vào công việc nhà nước. Do vậy, dân chủ xã hội chủ
nghĩa vừa mang bản chất giai cấp công nhân, vừa mang tính nhân dân rộng rãi và tính
dân tộc sâu sắc.
        - Bản chất kinh tế
         Dân chủ xã hội chủ nghĩa có cơ sở kinh tế là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
đảm bảo, dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu, đáp ứng sự phát
triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất trên cơ sở khoa học, công nghệ hiện đại,
nhằm thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao
động.
        Bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dù khác về bản chất kinh tế
của các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột nhưng cũng như toàn bộ nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa nó cũng là sự kế thừa và phát triển mọi thành tựu nhân loại đã tạo ra trong lịch
sử, đồng thời loại bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực, kìm hãm của các chế độ kinh tế
trước đó, nhất là bản chất tư hữu, áp bức, bóc lột...
        Thực hiện dân chủ trong kinh tế là tiền đề, cơ sở để thực hiện dân chủ về chính
trị và văn hoá - tư tưởng. Thực hiện dân chủ trên lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa cơ bản.
        - Bản chất tư tưởng - văn hoá
        Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng,
đồng thời kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hoá, tư tưởng của nhân loại. Do đó, đời
sống tư tưởng - văn hoá của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa rất phong phú, đa dạng, toàn
diện và ngày càng trở thành một nhân tố hàng đầu, thành mục tiêu và động lực cho quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bởi nó phát huy cao độ tính tự giác và sức sáng tạo to
lớn của con người trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
      2. Khái niệm, bản chất, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ
nghĩa. Phương hướng cải cách Nhà nước ở nước ta hiện nay
        2.1. Khái niệm, bản chất, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ
nghĩa
       - Khái niệm về nhà nước xã hội chủ nghĩa
       Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một trong những tổ chức chính trị cơ bản nhất của
hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, một công cụ quản lý mà Đảng của giai cấp công
nhân lãnh đạo nhân dân tổ chức ra để qua đó là chủ yếu, nhân dân lao động thực hiện
quyền lực và lợi ích của mình; cũng qua đó là chủ yếu mà giai cấp công nhân và Đảng
của nó lãnh đạo xã hội về mọi mặt.
       Nhà nước xã hội chủ nghĩa nằm trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và hệ thống
chính trị xã hội chủ nghĩa nên nó là một loại hình nhà nước dân chủ.


                                         44
        - Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa
         Bản chất của bất kỳ nhà nước nào trong xã hội có giai cấp đều mang bản chất
của giai cấp thống trị xã hội. Nên bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa (Nhà nước
chuyên chính vô sản) do đó, trước hết mang bản chất giai cấp công nhân. Nhưng giai
cấp công nhân lại là giai cấp thuộc nhân dân lao động mà ra, đại biểu cho phương thức
sản xuất mới hiện đại, có lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của toàn thể nhân dân lao
động và dân tộc. Do vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa không chỉ mang bản chất giai cấp
công nhân mà còn có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc. Đảng Cộng sản
Việt Nam và Hồ Chí Minh từ lâu đã nêu lên quan điểm “Nhà nước của dân, do dân, vì
dân” cũng nói lên một cách tổng hợp về bản chất, thực chất của nhà nước ta - nhà nước
xã hội chủ nghĩa. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, Đảng ta càng chú trọng
phát triển, cụ thể hoá nhà nước của dân, do dân, vì dân.
        - Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa
        + Chức năng, nhiệm vụ đối nội
         Chức năng đối nội của nhà nước xã hội chủ nghĩa thể hiện ở việc tập trung quản
lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực của toàn xã hội, chủ yếu bằng pháp luật, chính sách,
pháp chế xã hội chủ nghĩa và hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở.
         Nhà nước xã hội chủ nghĩa quán triệt và thể chế hoá quan điểm, đường lối cách
mạng, chủ trương lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam thành Hiến pháp, pháp luật,
pháp chế, chính sách, kế hoạch, biện pháp của nhà nước để chỉ đạo thực hiện thông qua
quá trình hoạt động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trên mọi lĩnh vực.
         Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện sự chuyên chính đối với mọi tội phạm và
mọi kẻ thù để bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, giữ vững ổn định chính trị, trật
tự an toàn xã hội. Tạo những điều kiện cơ bản để mở rộng dân chủ trong nhân dân.
         Nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa là:
        * Quản lý kinh tế, xây dựng và phát triển kinh tế, nhất là xây dựng cơ sở vật
chất - kỹ thuật cao của chủ nghĩa xã hội gắn liền với cải thiện đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân.
        * Quản lý văn hoá - xã hội, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, chăm lo sự nghiệp giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, để hình
thành con người mới xã hội chủ nghĩa.
        + Chức năng đối ngoại
         Nhà nước xã hội chủ nghĩa thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị,
bình đẳng, tin cậy lẫn nhau và cùng có lợi, vì sự phát triển và tiến bộ xã hội ... đối với
nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
        2.2. Phương hướng cải cách nhà nước ở nước ta hiện nay
        Đại hội lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặc biệt chú ý việc lãnh đạo quá
trình cải cách nhà nước ta theo hướng chung là: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
        Đảng ta chỉ rõ: "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của
nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp...

                                           45
       Cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước. Xây dựng
bộ máy nhà nước tinh gọn; nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng và các
đảng viên trong các cơ quan nhà nước.
       - Trước hết, đối với Quốc hội: Trong bộ máy nhà nước, Quốc hội là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất, có những quyền hạn quan trọng, to lớn. Để Quốc hội tiếp
tục hoàn thành tốt công việc của mình, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khoá VIII
đã chỉ rõ: "Đổi mới quy trình chuẩn bị và thông qua các dự án luật tại kỳ họp Quốc hội;
xây dựng luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, xác định rõ cơ chế giám sát đối với
Chính phủ, toà án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao, từng bước tăng tỷ
lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách. Coi trọng việc lấy ý kiến nhân dân trong quá trình
xây dựng pháp luật và chuẩn bị những quyết sách của Quốc hội". Trên cơ sở đổi mới
Quốc hội mà kiện toàn, nâng cao năng lực và hiệu quả của các cấp Hội đồng nhân dân.
        Đối với Chính phủ và cơ quan hành pháp phải chú trọng quá trình cải cách hành
chính, coi cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của việc thực hiện các quyền dân
chủ, làm chủ, quyền con người, quyền lực của nhân dân trên mọi lĩnh vực.
        Trong cải cách hành chính, trước hết là cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là
các thủ tục liên quan trực tiếp tới công dân và các doanh nghiệp. Đổi mới việc ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật và thi hành pháp luật cho rõ ràng, thống nhất,
chặt chẽ và dễ thực hiện có hiệu quả.
       - Hai là, phải cải cách bộ máy hành chính trước hết là bố trí lại cơ cấu tổ chức
chính phủ cho tinh - gọn, năng động và quản lý vĩ mô có hiệu quả cao hơn. Từ đó điều
chỉnh cơ cấu các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các cấp cũng theo hướng gọn nhẹ, năng
động, hiệu quả trong thực thi pháp luật. Từng bước hiện đại hoá cơ quan hành chính
các cấp, trong đó có vấn đề vai trò hoạt động "hành chính công".
       - Ba là, đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước: Bao
gồm nâng cao chất lượng đào tạo, đào tạo lại cán bộ, công chức theo yêu cầu mới của
cải cách nhà nước. Đồng thời đổi mới việc quản lý, đánh giá cán bộ, công chức; sử
dụng, đãi ngộ cán bộ, công chức. Nhà nước ta đã có "Chương trình tổng thể cải cách
hành chính nhà nước 2001 - 2010" (Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ)
      VIII. LIÊN MINH GIỮA CÔNG NHÂN VỚI NÔNG DÂN VÀ TRÍ
          THỨC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘLÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
     1. Khái niệm, xu hướng biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
       1.1. Khái niệm cơ cấu xã hội và cơ cấu xã hội - giai cấp
       - Cơ cấu xã hội là tất cả những cộng đồng người và toàn bộ các quan hệ xã hội
do sự tác động lẫn nhau của các cộng đồng ấy tạo nên. Bao gồm cơ cấu xã hội - giai
cấp, cơ cấu xã hội - dân số, cơ cấu xã hội - dân cư, cơ cấu xã hội - nghề nghiệp, cơ cấu
xã hội - dân tộc, cơ cấu xã hội - tôn giáo ... Dưới góc độ môn học, chỉ tập trung đề cập
cơ cấu xã hội - giai cấp.


                                          46
         - Cơ cấu xã hội - giai cấp là một cơ cấu bao gồm các giai cấp, các tầng lớp xã
hội và những mối quan hệ của chúng (như quan hệ sở hữu, quản lý, địa vị chính trị xã
hội ...) được hình thành dựa trên một cơ cấu kinh tế nhất định.
         Trong một xã hội có giai cấp thì cơ cấu xã hội - giai cấp là bộ phận cơ bản, có vị
trí quan trọng quyết định nhất, chi phối các loại hình cơ cấu khác, vì những lý do sau:
         + Cơ cấu xã hội - giai cấp tồn tại nhằm bảo vệ lợi ích của các giai cấp, tầng lớp
trong xã hội.
         + Cơ cấu xã hội - giai cấp quy định tính chất và bản chất của các quan hệ khác
về xã hội.
         + Cơ cấu xã hội - giai cấp còn liên quan trực tiếp đến quyền lực chính trị.
         + Cơ cấu xã hội - giai cấp còn là yếu tố đặc trưng cho sự khác nhau về chất giữa
xã hội này với xã hội khác.
         + Xuất phát từ cơ cấu xã hội - giai cấp mà người ta xây dựng các chính sách
phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá phù hợp với mỗi giai tầng.
         Như V.I. Lênin nói: Kết cấu xã hội và chính quyền có nhiều biến đổi, nếu không
tìm hiểu những biến đổi này thì không thể tiến được một bước trong bất kỳ lĩnh vực
hoạt động nào.
         1.2. Xu hướng biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời kỳ qúa độ lên
chủ nghĩa xã hội
         - Xu hướng chủ yếu
         Trong thời kỳ quá độ và kể cả dưới chủ nghĩa xã hội, mặc dù đã xoá bỏ được sự
đối kháng về giai cấp, bất bình đẳng về giai cấp, mang lại sự thay đổi về chất của các
giai cấp và tầng lớp nhân dân lao động so với xã hội trước đó, nhưng với nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần dưới sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa nên vẫn còn
tồn tại sự khác nhau giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội về nhiều mặt. Song, sự khác
nhau đó sẽ ngày càng được rút ngắn, sự xích lại gần nhau ngày càng được gia tăng
cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Xu hướng xích lại gần nhau được
thể hiện ở 4 điểm sau đây:
         + Sự xích lại gần nhau từng bước giữa các giai cấp, tầng lớp về mối quan hệ với
tư liệu sản xuất. Xu hướng này thể hiện thông qua việc dần dần hoàn thiện quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao. Với chủ trương phát triển nhiều thành phần kinh
tế, đa dạng hoá chế độ sở hữu ... tạo điều kiện cho các thành phần xã hội tồn tại bên
cạnh nhau, xích lại gần nhau, đan xen lẫn nhau để cùng phát triển.
         + Sự xích lại gần nhau về tính chất lao động giữa các giai cấp, tầng lớp. Xu
hướng này thể hiện thông qua việc phát triển cuộc cách mạng về khoa học và công
nghệ, áp dụng những thành tựu mới vào quá trình phát triển lực lượng sản xuất, rút
ngắn khoảng cách của sự khác biệt giữa các lực lượng xã hội trong quá trình lao động.
         + Sự xích lại gần nhau về mối quan hệ phân phối tư liệu tiêu dùng giữa các giai
cấp và tầng lớp. Xu hướng này diễn ra chủ yếu liên quan đến việc thực hiện ngày càng
hoàn thiện nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế.
         + Sự xích lại gần nhau về tiến bộ, về đời sống tinh thần giữa các giai cấp. Xu
hướng này thể hiện trực tiếp thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư
tưởng, văn hoá làm cho các giai tầng xích lại gần nhau.


                                           47
        - Tính quy luật của sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội
        Sự biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp gắn liền và được quy định bởi biến động
cơ cấu kinh tế, thành phần kinh tế, cơ chế hành chính kinh tế - xã hội. Sự tồn tại của
nhiều thành phần kinh tế tất yếu dẫn tới cơ cấu xã hội giai cấp đa dạng và phức tạp.
Trong thời kỳ này, có những giai cấp, tầng lớp của cơ cấu xã hội giai cấp mới và một
bộ phận của giai cấp, tầng lớp bóc lột. Quá trình biến đổi cơ cấu xã hội giai cấp cũ sang
cơ cấu xã hội giai cấp mới là quá trình liên tục, đa dạng, phức tạp và mạnh mẽ. Cơ cấu
xã hội giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội biến động và phát triển trong
mối quan hệ vừa có mâu thuẫn, vừa có mối quan hệ liên minh với nhau, tiến tới xoá bỏ
hiện tượng bất bình đẳng trong xã hội, đưa đến sự xích lại gần nhau giữa các giai cấp
và tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là giữa công nhân, nông dân và trí thức.
        - Xu hướng phát triển của cơ cấu xã hội - giai cấp ở Việt Nam trong thời kỳ quá
độ: tính đa dạng và tính thống nhất
        Tính đa dạng thể hiện ở sự tồn tại nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp xã hội: Giai
cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, bộ phận tư sản và các tầng lớp nhân
dân lao động khác. Tính đa dạng còn thể hiện ngay cả trong cơ cấu của mỗi giai tầng.
        Tính thống nhất thể hiện ở chỗ trong cơ cấu xã hội giai cấp ấy, giai cấp công
nhân, lực lượng tiêu biểu cho phương thức sản xuất giữ vai trò chủ đạo trong quá trình
cải biến xã hội. Đồng thời giai cấp công nhân cùng với giai cấp nông dân và tầng lớp
trí thức tạo thành nền tảng chính trị - xã hội vững chắc, tạo nên sự thống nhất của cơ
cấu xã hội - giai cấp trong thời kỳ quá độ.
     2. Đặc điểm của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí
thức Việt Nam. Tính tất yếu của liên minh công - nông - trí thức trong xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
       2.1. Đặc điểm của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức
Việt Nam
       - Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam
       Ngoài những đặc điểm chung với giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công
nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng:
       - Giai cấp công nhân Việt Nam tuy ra đời muộn và chiếm một tỉ lệ ít trong thành
phần dân cư, nhưng do kế thừa được truyền thống đấu tranh anh dũng kiên cường của
dân tộc mà giai cấp công nhân nước ta luôn tỏ rõ là một giai cấp kiên cường, bất khuất.
       - Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong nỗi nhục mất nước cộng với nỗi khổ
vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân
tộc kết hợp làm một, khiến động cơ cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để
cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên gấp bội.
       - Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam, lại có
Đảng lãnh đạo nên luôn giữ được sự đoàn kết thống thất và giữ vững vai trò lãnh đạo
của mình.
       - Giai cấp công nhân Việt Nam đa số xuất thân từ nông dân, có mối liên hệ máu
thịt với nông dân. Đó là điều kiện hết sức thuận lợi để thực hiện sự liên minh giai cấp,
trước hết là đối với giai cấp nông dân. Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
                                          48
đại hoá nông thôn, sẽ có nhiều nhiều người nông dân vào làm việc ở các cơ sở công
nghiệp và trở thành công nhân ở chính ngay quê hương mình ...
        Tuy vậy, số lượng công nhân nước ta còn ít, trình độ văn hoá, tay nghề, khoa
học kỹ thuật còn thấp, cách thức làm việc có nơi, có chỗ còn tỏ ra tuỳ tiện, manh mún.
Do vậy, để đảm đương được sứ mệnh lịch sử của mình, một trong những điều kiện
quan trọng là giai cấp công nhân Việt Nam phải liên minh được với giai cấp nông dân,
tầng lớp trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác.
        - Đặc điểm của giai cấp nông dân Việt Nam
        Giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động trong lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp ...
         Giai cấp nông dân có nhiều ưu điểm như: lao động rất cần cù, khó chịu, tạo ra
lương thực, thực phẩm nuôi sống con người, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và
hàng xuất khẩu. Là lực lượng chiếm số đông trong xã hội, và gắn bó lâu đời với cội
nguồn của dân tộc nên có nhiều công lao đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Trong xã hội cũ, nông dân bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất nên họ có
tinh thần phản kháng chống áp bức, bóc lột và bất công.
         Về hạn chế: Giai cấp nông dân là những người tư hữu nhỏ, tuy nhiên tư hữu của
nông dân không đồng nhất với tư hữu của giai cấp bóc lột. Do phương thức sản xuất
phân tán nên nông dân không có sự liên kết chặt chẽ cả về kinh tế, tư tưởng và tổ chức.
Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ
tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội. Nên nông dân không thể tự mình giải phóng
mình. Muốn được giải phóng, nông dân phải tham gia vào khối liên minh và chịu sự
lãnh đạo của giai cấp công nhân.
        - Đặc điểm của tầng lớp trí thức
         Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt của một bộ phận lao động trí óc phức
tạp và sáng tạo. Sản phẩm lao động trực tiếp của họ là những tri thức khoa học, những
giá trị về tinh thần, được tạo ra trong quá trình nghiên cứu, phát minh, giảng dạy, quản
lý có tác dụng định hướng cho nhận thức và hành động thực tiễn trên mọi lĩnh vực.
        Trí thức là những người có trình độ học vấn cao, am hiểu sâu trong lĩnh vực
công việc của mình. Các sản phẩm do trí thức tạo ra được áp dụng vào mọi mặt của đời
sống xã hội, nhất là trong sản xuất làm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả. Ngày
nay, cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại đã và đang trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp thì trí thức ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội và hội nhập khu vực, quốc tế. Trong các chế độ xã hội cũ, phần
lớn trí thức là những người lao động, họ cũng bị áp bức, bóc lột, bất công nên họ cũng
có tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đòi hoà bình, độc lập dân tộc và dân chủ.
         Trí thức không có phương thức sản xuất riêng và địa vị kinh tế, xã hội độc lập
nên trí thức cũng không có hệ tư tưởng độc lập. Mặc dù vậy, trí thức luôn giúp giai cấp
thống trị khái quát về lý luận để hình thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội.
Trí thức tuy có tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột nhưng lại thiếu kiên quyết,
triệt để. Vì vậy, trí thức muốn được giải phóng phải chịu sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân và tham gia vào khối liên minh.



                                          49
        2.2. Tính tất yếu của liên minh công - nông - trí thức trong xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
        - Xuất phát từ những quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về tính tất
yếu của liên minh công - nông - trí thức trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, và xuất phát
từ đặc điểm của nước ta là từ một nước nông nghiệp, đại đa số dân cư là nông dân,
trong quá trình cách mạng, đòi hỏi Đảng ta phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề liên
minh giai cấp. Liên minh giai cấp ở nước ta cũng là một tất yếu khách quan, bởi cả ba
giai tầng đều cùng chung cảnh ngộ mất nước, đều bị áp bức, bóc lột và cùng chung một
mục tiêu giải phóng. Quan điểm, đường lối của Đảng ta về tính tất yếu của liên minh
công - nông - trí thức được thể hiện từ văn kiện Đại hội II của Đảng lao động Việt Nam
(1951): "Chính quyền của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là chính quyền dân chủ
của nhân dân ... Lấy liên minh công nhân, nông dân và lao động trí thức làm nền tảng
do giai cấp công nhân lãnh đạo" (Đảng cộng sản Việt nam: Văn kiện Đảng toàn tập,
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 12, tr. 437)
        Trong "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội" và trong chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta đặc biệt coi trọng mối liên minh này và coi đó
là nền tảng của nhà nước của dân, do dân và vì dân.
        Đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định tính tất yếu và còn đặc biệt
coi trọng vấn đề này khi đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đại hội chỉ
rõ: "Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên sơ sở liên
minh giữa công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức do Đảng lãnh đạo" (Đảng cộng
sản Việt nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2001, tr. 86).
      3. Nội dung cơ bản của liên minh giữa công nhân với nông dân và trí
thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
        3.1. Nội dung chính trị của liên minh
        Liên minh công - nông - trí thức trên lĩnh vực chính trị cần thể hiện ở những
điểm sau đây:
         Một là: Mục tiêu, lợi ích chính trị cơ bản nhất của giai cấp công nhân, giai cấp
nông dân, đội ngũ trí thức và của cả dân tộc ta là: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Nhưng để đạt được mục tiêu, lợi ích chính trị cơ bản đó khi thực hiện liên minh lại
không thể dung hoà lập trường chính trị tư tưởng của 3 giai tầng mà phải trên lập
trường tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân. Bởi vì, chỉ có phấn đấu thực hiện
mục tiêu lý tưởng của giai cấp công nhân thì mới thực hiện được đồng thời cả nhu cầu
lợi ích chính trị cơ bản của công nhân, nông dân, trí thức và của dân tộc là độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội.
        Hai là: Khối liên minh chiến lược này phải do Đảng của giai cấp công nhân
lãnh đạo thì mới có đường lối chủ trương đúng đắn để thực hiện liên minh, thực hiện
quá trình giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công. Do đó,
Đảng Cộng sản từ trung ương đến cơ sở phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ
chức để lãnh đạo khối liên minh và lãnh đạo xã hội là vấn đề có ý nghĩa như một
nguyên tắc về chính trị của liên minh. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, liên
minh công - nông - trí thức ở nước ta còn làm nòng cốt cho liên minh chính trị rộng lớn
                                          50
nhất là mặt trận Tổ quốc, là cơ sở để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đồng thời
là nền tảng cho nhà nước xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố lớn mạnh để bảo vệ
tổ chức và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
        Ba là: Nội dung chính trị của liên minh không tách rời nội dung, phương thức
đổi mới hệ thống chính trị trên phạm vi cả nước. Dưới góc độ của liên minh, cần cụ thể
hoá việc đổi mới về nội dung tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức chính
trị trong giai cấp công nhân, nông dân và trí thức. Nội dung chính trị cấp thiết nhất hiện
nay là triển khai thực hiện "Quy chế dân chủ ở cơ sở", nhất là ở nông thôn.
        3.2. Nội dung kinh tế của liên minh
        Nội dung kinh tế là nội dung cơ bản, quyết định nhất, là cơ sở vật chất kỹ thuật
vững chắc của liên minh trong thời kỳ quá độ. Nội dung kinh tế của liên minh ở nước
ta trong thời kỳ quá độ được cụ thể hoá ở các điểm sau đây:
        - Phải xác định đúng thực trạng, tiềm năng kinh tế của cả nước và của sự hợp
tác quốc tế, từ đó mà xác định đúng cơ cấu kinh tế gắn liền với những nhu cầu kinh tế
của công nhân, nông dân, trí thức và của toàn xã hội. Đảng ta xác định cơ cấu kinh tế
chung của nước ta là: "Công - nông nghiệp - dịch vụ". Trong điều kiện hiện nay, Đảng
ta còn xác định "Từng bước phát triển kinh tế tri thức, từ đó mà tăng cường liên minh
công - nông - trí thức"
        - Trên cơ sở kinh tế, các nhu cầu kinh tế phát triển dưới nhiều hình thức hợp tác,
liên kết, giao lưu ... trong sản xuất, lưu thông phân phối giữa công nhân, nông dân, trí
thức; giữa các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, khoa học công nghệ và các dịch vụ
khác; giữa các địa bàn, vùng, miền dân cư trong cả nước, giữa nước ta và các nước
khác.
        - Từng bước hình thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong quá trình thực
hiện liên minh. Việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phải được thể
hiện qua việc đa dạng và đổi mới các hình thức hợp tác kinh tế, hợp tác xã, kinh tế hộ
gia đình, trang trại, dịch vụ ở nông thôn. Trong quá trình hình thành quan hệ sản xuất
phải trên cơ sở công hữu hoá các tư liệu sản xuất chủ yếu, kinh tế nhà nước vươn lên
giữ vai trò chủ đạo, cùng kinh tế tập thể làm nền tảng cho nền kinh tế cả nước, theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
        - Nội dung kinh tế của liên minh ở nước ta còn thể hiện ở vai trò của Nhà nước.
Nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện liên minh. Vai trò của nhà
nước đối với nông dân thể hiện qua chính sách khuyến nông, các tổ chức khuyến nông,
các cơ sở kinh tế nhà nước, Nhà nước có những chính sách hợp lý thể hiện quan hệ của
mình với nông dân, tạo điều kiện cho liên minh phát triển. Nông nghiệp và nông thôn
không chỉ là một ngành kinh tế, một khu vực kinh tế mà còn là một lĩnh vực mang ý
nghĩa sinh thái xã hội.
        Đối với trí thức, nhà nước cần phải đổi mới và hoàn chỉnh các luật, chính sách
có liên quan trực tiếp đến sở hữu trí tuệ như chính sách về phát triển khoa học và công
nghệ, giáo dục và đào tạo, về bản quyền tác giả, về báo chí, xuất bản, về văn học nghệ
thuật ... Hướng các hoạt động của trí thức vào việc phục vụ công - nông, gắn với cơ sở
sản xuất và đời sống toàn xã hội.


                                           51
       3.3. Nội dung văn hoá, xã hội của liên minh
       Liên minh về văn hoá, xã hội thể hiện qua các nội dung cụ thể sau đây:
       - Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.
       - Nội dung xã hội mang ý nghĩa kinh tế và chính trị cấp thiết trước mặt của liên
minh là tạo nhiều việc làm có hiệu quả, đồng thời kết hợp các giải pháp cứu trợ, hỗ trợ
để xoá đói, giảm nghèo cho công nhân, nông dân và trí thức.
       - Đổi mới và thực hiện tốt các chính sách xã hội, đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ xã hội
trong công nhân, nông dân, trí thức cũng là nội dung xã hội cần thiết, đồng thời nội
dung này còn mang ý nghĩa giáo dục truyền thống, đạo lý, lối sống ... cho toàn xã hội
và thế hệ mai sau.
       - Nâng cao dân trí là nội dung cơ bản, lâu dài. Trước mắt tập trung vào việc
củng cố thành tựu xoá mù chữ, trước hết là đối với nông dân, nhất là ở miền núi. Nâng
cao kiến thức về khoa học công nghệ, về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Khắc phục
các tệ nạn xã hội, các hủ tục lạc hậu, các biểu hiện tiêu cực như tham nhũng, quan liêu.
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
       - Gắn quy hoạch phát triển công nghiệp, khoa học công nghệ với quy hoạch phát
triển nông thôn, đô thị hoá, công nghiệp hoá nông thôn với kết cấu hạ tầng ngày càng
thuận lợi và hiện đại. Xây dựng các cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, các công
trình phúc lợi công cộng một cách tương xứng, hợp lý ở các vùng nông thôn, đặc biệt
là vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.
       Có như vậy nội dung liên minh mới toàn diện và đạt mục tiêu của định hướng
xã hội chủ nghĩa và mới làm cho công - nông - trí thức cũng như các vùng, các miền,
các dân tộc xích lại gần nhau trên thực tế.

      IX. VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
          CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
      1. Dân tộc và “ Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mác - Lênin
       1.1. Khái niệm dân tộc và các đặc trưng cơ bản của dân tộc
       - Khái niệm dân tộc
       Dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người.
Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp
đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.
       Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó
có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất:
       Một là, dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững,
có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù; xuất hiện
sau bộ lạc, bộ tộc. Với nghĩa này, dân tộc là một bộ phận của quốc gia - quốc gia nhiều
dân tộc.
       Hai là, dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có
lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống
nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn

                                          52
hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trìnhlịch sử lâu dài dựng nước và
giữ nước. Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó - quốc gia dân
tộc.
       Dưới giác độ môn học chủ nghĩa xã hội khoa học, dân tộc được hiểu theo nghĩa
thứ nhất.
       - Những đặc trưng cơ bản của dân tộc
       Dân tộc được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu sau đây:
       + Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế.
       Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở
liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng
đồng dân tộc.
       + Có thể cư trú tập trung trên một lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan
xen với nhiều dân tộc anh em.
       Đặc trưng này muốn chỉ vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc
xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.
       + Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của
quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
       Trong một quốc gia, ngoài ngôn ngữ chung làm công cụ giao tiếp trên các lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, tình cảm, thì mỗi dân tộc còn có tiếng nói riêng, chữ viết riêng
mang tính đặc thù của dân tộc.
       + Có nét tâm lý riêng (tâm lý dân tộc): Nó biểu hiện sự kết tinh trong nền văn
hóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng, gắn bó với nền văn hóa của cả cộng đồng các dân
tộc (quốc gia dân tộc).
       Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc trưng
trên. Các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời
mỗi đặc trưng có một vị trí xác định.
       1.2. Nội dung “Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mác – Lênin
       Dựa trên cơ sở tư tưởng của C. Mác - Ph. Ăngghen về vấn đề dân tộc, dựa vào
sự tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của phong trào cách mạng thế giới và cách mạng
Nga, phân tích hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc, V.I. Lênin đã khái
quát lại thành "Cương lĩnh dân tộc" của Đảng Cộng sản.
       Nội dung “Cương lĩnh dân tộc” thể hiện trên 3 vấn đề sau:
       Thứ nhất, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
       - Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa các dân tộc.
Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: Các dân tộc lớn hay nhỏ (kể cả Bộ tộc và
chủng tộc) không phân biệt trình độ cao hay thấp đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang
nhau, không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi và đi áp bức bóc lột dân tộc
khác.


                                         53
       - Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải
được pháp luật bảo vệ như nhau; khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế,
văn hóa giữa các dân tộc do lịch sử để lại.
       - Trên phạm vi giữa các quốc gia - dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các
dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, gắn với cuộc
đấu tranh xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới, chống sự áp bức bóc lột của các
nước tư bản phát triển đối với các nước chậm phát triển về kinh tế.
       - Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân
tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc.
       Thứ hai, các dân tộc được quyền tự quyết
       - Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh
của dân tộc mình: quyền tự quyết định chế độ chính trị - xã hội và con đường phát triển
của dân tộc mình; quyền tự do độc lập về chính trị tách ra thành một quốc gia dân tộc
độc lập vì lợi ích của các dân tộc; quyền tự nguyện liên hiệp lại với các dân tộc khác
trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên ngoài,
giữ vững độc lập chủ quyền và có thêm những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
quốc gia - dân tộc.
       - Khi giải quyết quyền tự quyết của các dân tộc cần đứng vững trên lập trường
của giai cấp công nhân ủng hộ các phong trào đấu tranh tiến bộ phù hợp với lợi ích
chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kiên quyết đấu tranh chống
những âm mưu thủ đoạn của các thế lực đế quốc, lợi dụng chiêu bài "dân tộc tự quyết"
để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước.
       Thứ ba, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại
       - Đây là tư tưởng cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của Lênin: Nó phản ánh bản
chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải
phóng dân tộc với giải phóng giai cấp. Nó đảm bảo cho phong trào dân tộc có đủ sức
mạnh để giành thắng lợi.
       - Nó quy định mục tiêu hướng tới; quy định đường lối, phương pháp xem xét,
cách giải quyết quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng dân tộc, đồng thời, nó là yếu
tố sức mạnh bảo đảm cho giai cấp công nhân và các đân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ
thù của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Muốn cứu nước và giải phóng dân
tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".
       - Đây là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động trong các
dân tộc để đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Vì
vậy, nội dung liên hiệp công nhân các dân tộc đóng vai trò liên kết cả 3 nội dung của
cương lĩnh thành một chỉnh thể.
       Tóm lại: “Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mác - Lênin (của Đảng Cộng sản)
là một bộ phận trong cương lĩnh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp; là cơ sở lý luận
của đường lối, chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa.


                                          54
     2. Vấn đề dân tộc ở Việt Nam và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước ta hiện nay
       2.1. Tình hình các dân tộc ở Việt Nam
       - Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc thống nhất (54 dân tộc). Dân tộc Kinh
chiếm 87% dân số còn lại là dân tộc ít người phân bố rải rác trên địa bàn cả nước.
       - Tính cố kết dân tộc, hòa hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở
thành truyền thống của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm,
bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước.
       Do những yếu tố đặc thù của nền kinh tế trồng lúa nước, một kết cấu công xã
nông thôn bền chặt nên dân tộc Việt Nam xuất hiện rất sớm, gắn liền với cuộc đấu
tranh chống giặc ngoại xâm, đấu tranh chống thiên tai. Vì vậy đoàn kết là xu hướng
khách quan trên cơ sở có chung lợi ích, có chung vận mệnh lịch sử, có chung tương lai,
tiền đồ..
       - Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt Nam ngày càng gia tăng. Các
dân tộc không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng. Và sự thống nhất giữa các
dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng được củng cố.
       - Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột trong
lịch sử nên trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc còn chênh lệch, khác
biệt. Đây là một đặc trưng cần hết sức quan tâm nhằm thực hiện bình đẳng, đoàn kết
dân tộc ở nước ta.
       - Các dân tộc thiểu số tuy chỉ chiếm 13% dân số cả nước nhưng lại cư trú trên
địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, giao
lưu quốc tế đó là vùng biên giới, vùng rừng núi cao, hải đảo.
       - Cùng với nền văn hóa cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân tộc
Việt Nam có đời sống văn hóa mang bản sắc riêng, góp phần làm phong phú thêm nền
văn hóa của cả cộng đồng.
       2.2. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
       - Quan điểm chung
       Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và thực tiễn
lịch sử đấu tranh cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như dựa vào
tình hình thế giới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã luôn luôn coi vấn đề dân tộc và
xây dựng khối đại đoàn kết có tầm quan trọng đặc biệt. Hồ Chí Minh đã nói: Nước Việt
Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, đồng bào các dân tộc đều là anh em ruột thịt là
con cháu một nhà, thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau là nghĩa vụ thiêng liêng của các
dân tộc.
       Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước coi việc giải quyết đúng đắn
vấn đề dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, cũng
như tiềm năng riêng của từng dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc
và đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.


                                          55
        Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã nêu rõ: "Vấn
đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng.
Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng
phát triển....; thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi,
kiên quyết chống kỳ thị và chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi,
dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc”.
        - Những chính sách cụ thể
        + Phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện
và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai thác
được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào việc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
        + Tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của
đồng bào các dân tộc, từng bước nâng cao dân trí đồng bào các dân tộc, nhất là các dân
tộc thiểu số ở vùng cao, hải đảo.
        + Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết và đấu tranh kiên cường của các dân
tộc vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi,
nghiêm cấm các hành vi miệt thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
"Đại đoàn kết dân tộc là động lực chủ yếu, là sức mạnh vĩ đại quyết định sự thành công
của cách mạng". Người khẳng định: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công,
thành công, đại thành công".
        + Tăng cường, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc ít người để phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội miền núi; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp tác cho
cán bộ các dân tộc.
        Như vậy, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta mang tính toàn diện, tổng
hợp tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, chính sách dân tộc còn mang tính
cách mạng và tiến bộ, đồng thời còn mang tính nhân đạo, bởi vì nó không bỏ sót một
dân tộc nào; Nó tôn trọng quyền làm chủ của mỗi con người và quyền tự quyết của các
dân tộc. Mặt khác, nó còn nhằm phát huy nội lực của mỗi dân tộc kết hợp với sự giúp
đỡ có hiệu quả của các dân tộc anh em trong cả nước.

      X. VẤN ĐỀ TÔN GIÁO TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
                  CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
      1. Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo
       1.1. Khái niệm tôn giáo
       Tôn giáo là một một hệ thống quan niệm tín ngưỡng, sùng bái một hay nhiều vị
thần và những lễ nghi để thể hiện sự sùng bái ấy. Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, tôn
giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực
khách quan. Qua sự phản ánh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và
xã hội đều trở thành thần bí, những sức mạnh của thế gian đã trở thành sức mạnh siêu
thế gian.


                                          56
       1.2. Bản chất của tôn giáo
       Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên
và lịch sử xã hội xác định. Do đó, xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã
hội phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước sức mạnh tự nhiên và sức mnạh xã
hội.
       Theo C. Mác: "Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn
hiên thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở
dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim...Tôn giáo là
thuốc phiện của nhân dân".
       Tuy nhiên, tôn giáo cũng chứa đựng một số nhân tố giá trị văn hóa, phù hợp với
đạo đức, đạo lý của xã hội.
       Về phương diện thế giới quan thì thế giới quan duy vật mácxít và thế giới quan
tôn giáo là đối lập nhau. Tuy vậy, những người cộng sản có lập trường mácxít không
bao giờ có thái độ xem thường hoặc trấn áp những nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo hợp
pháp của nhân dân. Ngược lại, chủ nghĩa Mác - Lênin và những người cộng sản, chế độ
xã hội chủ nghĩa luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân
dân.
       1.3. Nguồn gốc của tôn giáo
       - Nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo
       Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém
con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy, họ
đã gắn cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực to lớn, thần thánh hóa những sức mạnh
đó. Từ đó, họ xây dựng nên những biểu tượng tôn giáo để thờ cúng.
       Khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng, con người cảm thấy bất lực trước
sức mạnh của thế lực giai cấp thống trị. Họ không giải thích được nguồn gốc của sự
phân hóa giai cấp và áp bức, bóc lột, tội ác, v.v... tất cả họ quy về số phận và định
mệnh. Từ đó, họ đã thần thánh hóa một số người thành những thần tượng có khả năng
chi phối suy nghĩ và hành động người khác mà sinh ra tôn giáo.
       Như vậy, sự yếu kém về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự bần cùng
về kinh tế, áp bức về chính trị, bất lực trước những bất công của xã hội là nguồn gốc
sâu xa của tôn giáo.
       - Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
       Ở những giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức của con người về tự nhiên, xã
hội và bản thân mình còn có giới hạn. Mặt khác, trong tự nhiên và xã hội có nhiều điều
khoa học chưa khám phá và giải thích được nên con người lại tìm đến với tôn giáo.
       Sự nhận thức của con người có khi xa rời hiện thực, thiếu khách quan dễ rơi vào
ảo tưởng, thần thánh hóa đối tượng.
       - Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
       Do sự sợ hãi, lo âu của con người trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội mà dẫn
đến việc sinh ra tôn giáo. Các nhà duy vật cổ đại thường đưa ra luận điểm "sự sợ hãi

                                         57
sinh ra tôn giáo”. V.I. Lênin cũng cho rằng, sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản...,
sự phá sản "đột ngột" "bất ngờ", "ngẫu nhiên", làm họ bị diệt vong..., dồn họ vào cảnh
chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại.
       Ngay cả những tâm lý tích cực như lòng biết ơn, sự kính trọng cũng có khi được
thể hiện qua tôn giáo.
       1.4. Tính chất của tôn giáo
       - Tính lịch sử của Tôn giáo
       Con người sáng tạo ra tôn giáo. Mặc dù nó còn tồn tại lâu dài, nhưng nó chỉ là
một phạm trù lịch sử. Tôn giáo không phải xuất hiện cùng một lúc với con người. Tôn
giáo chỉ xuất hiện khi khả năng tư duy trừu tượng của con người đạt tới mức độ nhất
định.
       Tôn giáo là sản phẩm của lịch sử. Trong từng giai đoạn của lịch sử, tôn giáo có
sự biến đổi cho phù hợp với kết cấu chính trị và xã hội của thời đại đó. Thời đại thay
đổi, tôn giáo cũng có sự thay đổi, điều chỉnh theo.
       Đến một giai đoạn lịch sử nhất định, khi con người nhận thức được bản chất các
hiện tượng tự nhiên, xã hội, khi con người làm chủ được tự nhiên, xã hội, làm chủ
được bản thân mình và xây dựng được niềm tin cho mỗi con người thì tôn giáo sẽ
không còn.
       - Tính quần chúng của tôn giáo
       Tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần của một số bộ phận quần chúng
nhân dân lao động. Hiện nay số lượng tín đồ của các tôn giáo chiếm tỷ lệ khá cao trong
dân số thế giới (khoảng 1/3 đến 1/2 dân số thế giới chịu ảnh hưởng của tôn giáo).
       Tuy tôn giáo phản ánh hạnh phúc hư ảo, song nó phản ánh khát vọng của những
con người bị áp bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái... Bởi vì, tôn giáo thường có
tính nhân văn, nhân đạo, hướng thiện. Vì vậy, còn nhiều người ở trong các tầng lớp
khác nhau của xã hội tin theo.
       - Tính chính trị của tôn giáo
       Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, các
giai cấp thống trị đã lợi dụng tôn giáo để phục vụ lợi ích của mình.
       Trong nội bộ các tôn giáo, cuộc đấu tranh giữa các dòng, hệ, phái nhiều khi
cũng mang tính chính trị. Trong những cuộc đấu tranh ý thức hệ, thì tôn giáo thường là
một bộ phận của đấu tranh giai cấp.
       Ngày nay, tôn giáo đang có chiều hướng phát triển, đa dạng, phức tạp không chỉ
ở quốc gia mà còn cả phạm vi quốc tế. Đó là sự xuất hiện các tổ chức quốc tế của tôn
giáo với thế lực lớn đã tác động đến nhiều mặt, trong đó có chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội. Vì vậy, cần nhận thức rõ: đa số quần chúng đến với tôn giáo nhằm thỏa mãn
nhu cầu tinh thần; Song trên thực tế đã và đang bị các thế lực chính trị - xã hội lợi dụng
để thực hiện mục đích ngoài tôn giáo của họ.



                                           58
      2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết vấn đề
tôn giáo trong xã hội xã hội chủ nghĩa và chính sách tôn giáo của Đảng và
Nhà nước ta
       2.1. Quan điểm chỉ đạo trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội
       Tín ngưỡng, tôn giáo là một vấn đề tế nhị, nhạy cảm và phức tạp. Vì vậy, việc
giải quyết những vấn đề nảy sinh từ tôn giáo cần phải thận trọng, tỉ mỉ, vừa giữ vững
nguyên tắc, đồng thời vừa mềm dẻo, linh hoạt. Cụ thể là:
       Thứ nhất: Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống
xã hội phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới. Đây là yêu
cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
       Thứ hai: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không
tín ngưỡng của công dân. Mọi công dân theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo đều
bình đẳng trước pháp luật. Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng của
công dân.
       Thứ ba: Thực hiện đoàn kết giữa những người theo với những người không theo
một tôn giáo nào, đoàn kết các tôn giáo hợp pháp, chân chính, đoàn kết toàn dân tộc để
xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Nghiêm cấm mọi hành vi chia rẽ vì lý do tín
ngưỡng, tôn giáo.
       Thứ tư: Phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết vấn đề
tôn giáo. Mặt tư tưởng thể hiện sự tín ngưỡng của tôn giáo. Đây là mâu thuẫn không
đối kháng. Khắc phục mặt này là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài. Mặt chính trị thể
hiện sự lợi dụng tôn giáo để chống lại sự nghiệp đấu tranh cách mạng, chống chủ nghĩa
xã hội của các phần tử phản động đội lốt tôn giáo. Đây là mâu thuẫn đối kháng. Đấu
tranh loại bỏ mặt chính trị vừa phải khẩn trương, cương quyết, vừa phải thận trọng và
có sách lược.
       Thứ năm: Phải có quan điểm lịch sử - cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo. Ở
những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò tác động của từng tôn giáo đối với đời sống xã
hội không giống nhau. Vì vậy, cần có quan điểm lịch sử - cụ thể khi xem xét, đánh giá
và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo.
       2.2. Vấn đề Tôn giáo ở Việt Nam và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
nước ta hiện nay
       - Khái quát tình hình tôn giáo ở nước ta
       Nước ta có nhiều tôn giáo khác nhau. Trong đó có 6 tôn giáo lớn (Phật giáo,
Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo) với khoảng 20 triệu tín đồ.
       Đồng bào các tôn giáo trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã
góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
       Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhiều tín đồ và các giáo sĩ đã nhận
thức đúng chính sách, luật pháp của Nhà nước, làm tốt cả "việc đạo" và "việc đời".

                                         59
       Những năm gần đây, sinh hoạt tôn giáo có phát triển hơn trước. Số người tham
gia các hoạt động tôn giáo tăng lên, các đình chùa, miếu mạo, nhà thờ... xây cất, tu sửa
lại. Các hoạt động lễ hội mang màu sắc tôn giáo nhiều lên, mang nhiều màu sắc khác
nhau, tất nhiên cũng xuất hiện nhiều hiện tượng mê tín dị đoan. Thực trạng trên, một
mặt phản ánh nhu cầu tinh thần của quần chúng, mặt khác cũng nói lên điều không
bình thường vì trong đó không chỉ có sự sinh hoạt tôn giáo thuần túy, mà còn biểu hiện
lợi dụng tôn giáo để phục vụ cho mưu đồ chính trị và hoạt động mê tín dị đoan.
       - Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
       Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta khẳng định: "Tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất quán
chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo một tôn
giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật... Chống mọi hành
động vi phạm tự do tín ngưỡng đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn
hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân". Trên quan điểm đó, Đảng ta đã nêu ra chính
sách tôn giáo, cụ thể như sau:
       + Thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của công dân trên cơ
sở pháp luật.
       + Tích cực vận động đồng bào các tôn giáo tăng cường đoàn kết toàn dân nhằm
xây dựng cuộc sống "tốt đời, đẹp đạo" góp phần vào công cuộc đổi mới kinh tế - xã
hội.
       + Hướng các chức sắc giáo hội hoạt động tôn giáo theo đúng pháp luật, làm cho
các giáo hội ngày càng gắn bó với dân tộc và sự nghiệp cách mạng của toàn dân.
       + Luôn luôn cảnh giác, kịp thời chống lại những âm mưu và thủ đoạn của các
thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân.
       + Những quan hệ quốc tế và đối ngoại về tôn giáo hoặc có liên quan đến tôn
giáo phải theo chế độ, chính sách chung về quan hệ quốc tế và đối ngoại của Nhà nước
ta.


      XI. VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN
                   CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

      1. Gia đình và mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
       1.1. Khái niệm gia đình
       Gia đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người, một thiết
chế văn hóa - xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan
hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục... giữa các thành
viên.
       Gia đình là một thiết xã hội đặc thù, một hình ảnh “xã hội thu nhỏ”, cơ bản nhất
của xã hội.


                                          60
       Gia đình hình thành từ rất sớm và trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Lịch
sử nhân loại có những hình thức hôn nhân: tạp hôn, đối ngẫu, một vợ một chồng, thì
cũng có các hình thức gia đình: tập thể, cặp đôi, cá thể và cũng có các loại gia đình:
một thế hệ, hai thế hệ và nhiều thế hệ.
       1.2. Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
       - Sự tác động của gia đình đối với sự phát triển của xã hội
       + Trước hết, gia đình là tế bào của xã hội:
       Gia đình có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, là
nhân tố cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Gia đình như một tế bào tự nhiên, là đơn
vị nhỏ nhất để tạo nên xã hội. Không có gia đình để tái tạo ra con người thì xã hội
không tồn tại và phát triển được. Chính vì vậy, muốn xã hội tốt thì phải xây dựng gia
đình tốt.
       Tuy nhiên, mức độ tác động của gia đình đối với xã hội còn phụ thuộc vào bản
chất của từng chế độ xã hội. Trong các xã hội dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất, sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình, quan hệ xã hội đã hạn chế rất lớn đến sự
tác động của gia đình đối với xã hội.
       + Thứ hai, gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hội
       Mỗi cá nhân chỉ có thể sinh ra trong gia đình. Không thể có con người sinh ra từ
bên ngoài gia đình. Gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự
hình thành và phát triển tính cách của mỗi cá nhân. Và cũng chính trong gia đình, mỗi
cá nhân sẽ học được cách cư xử với người xung quanh và xã hội.
       + Thứ ba, gia đình là tổ ấm mang lại các giá trị hạnh phúc
       Gia đình là tổ ấm, mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống của
mỗi thành viên, mỗi công dân của xã hội. Chỉ trong gia đình, mới thể hiện được mối
quan hệ tình cảm thiêng liêng giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái.
       Gia đình là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc những công dân tốt cho xã hội. Sự hạnh
phúc của gia đình là tiền đề để hình thành nên nhân cách tốt cho những công dân của
xã hội. Vì vậy, muốn xây dựng xã hội thì phải chú trọng xây dựng gia đình. Hồ Chủ
Tịch nói: "Gia đình tốt thì xã hội tốt, nhiều gia đình tốt cộng lại thì làm cho xã hội tốt
hơn".
       Xây dựng gia đình là một trách nhiệm, là bộ phận cấu thành trong chỉnh thể các
mục tiêu phấn đấu của xã hội, vì sự ổn định và phát triển của xã hội.
       Thế nhưng, các cá nhân không chỉ sống trong quan hệ gia đình mà còn có những
quan hệ xã hội. Mỗi cá nhân không chỉ là thành viên của gia đình mà còn là thành viên
của xã hội. Không thể có con người bên ngoài xã hội. Gia đình đóng vai trò quan trọng
để đáp ứng nhu cầu về quan hệ xã hội của mỗi cá nhân.
       Ngược lại, bất cứ xã hội nào cũng thông qua gia đình để tác động đến mỗi cá
nhân. Mặt khác, nhiều hiện tượng của xã hội cũng thông qua gia đình mà có ảnh hưởng
tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát triển của mỗi cá nhân về tư tưởng, đạo đức, lối
sống.

                                           61
       - Trình độ phát triển của xã hội quy định hình thức tổ chức, quy mô và kết cấu
gia đình
       Quan điểm duy vật lịch sử đã chỉ ra rằng, gia đình là những hình thức phản ánh
đặc thù của trình độ phát triển kinh tế. Trong tiến trình lịch sử nhân loại, các phương
thức sản xuất lần lượt thay thế nhau, dẫn đến sự biến đổi về hình thức tổ chức, quy mô
và kết cấu gia đình. Từ gia đình tập thể - với hình thức quần hôn, huyết thống; gia đình
cặp đôi với hình thức hôn nhân đối ngẫu; đến gia đình cá thể với hình thức hôn nhân
một vợ một chồng. Từ gia đình một vợ một chồng bất bình đẳng sang gia đình một vợ
một chồng, vợ chồng bình đẳng. Tất cả những bước tiến trong gia đình đều phụ thuộc
vào những bước tiến trong sản xuất, trong trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội của mỗi thời đại lịch sử.
       Đặc điểm, đạo đức, lối sống trong gia đình cũng bị chi phối bởi những quan hệ
xã hội. Vì vậy, trong mỗi chế độ xã hội khác nhau, có quan điểm khác nhau về tiêu
chuẩn đạo đức, lối sống...
       - Tính độc lập tương đối của gia đình
       Mặc dù, gia đình và xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau, nhưng gia đình
vẫn có tính độc lập tương đối của nó. Bởi vì, gia đình và quan hệ gia đình còn bị chi
phối bởi các yếu tố khác như tôn giáo, truyền thống, pháp luật.. Vì vậy, mặc dù xã hội
có những sự thay đổi nhưng một số gia đình vẫn lưu giữ những truyền thống của gia
đình.
       2. Các chức năng xã hội cơ bản của gia đình
        2.1. Chức năng tái sản xuất ra con người
        Đây là chức năng riêng có của gia đình, nhằm duy trì nòi giống, cung cấp sức
lao động cho xã hội; cung cấp công dân mới, người lao động mới, thế hệ mới đảm bảo
sự phát triển liên tục và trường tồn của xã hội loài người.
        Chức năng này đáp ứng nhu cầu của xã hội và nhu cầu tự nhiên của con người.
Nhưng khi thực hiện chức năng này cần dựa vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia và sự gia tăng dân số để có chính sách phát triển nhân lực cho phù hợp.
Đối với nước ta, chức năng sinh đẻ của gia đình đang được thực hiện theo xu hướng
hạn chế, vì trình độ phát triển kinh tế nước ta còn thấp, dân số đông.
        2.2. Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình
        Đây là chức năng cơ bản của gia đình, bao gồm hoạt động sản xuất kinh doanh
và hoạt động tiêu dùng để thỏa mãn các yêu cầu của mỗi thành viên và của gia đình. Sự
tồn tại của kinh tế gia đình còn phát huy một cách có hiệu quả mọi tiềm năng về vốn,
sức lao động của từng gia đình, tăng thêm của cải cho gia đình và cho xã hội.
        Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với sự tồn tại của nền kinh tế nhiều
thành phần, các gia đình đã trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ. Đảng và Nhà nước đã
đề ra các chính sách kinh tế - xã hội tạo mọi điều kiện cho các gia đình làm giàu chính
đáng từ lao động của mình (Tùy vào hoàn cảnh của từng gia đình trí thức hay công
nhân, các nhà khoa học v.v... mà thực hiện chức năng này cho phù hợp). Ở nước ta
hiện nay, kinh tế gia đình được đánh giá đúng với vai trò của nó. Đảng và Nhà nước có
                                           62
những chính sách khuyến khích và bảo vệ kinh tế gia đình, vì vậy mà đời sống của gia
đình và của xã hội đã được cải thiện đáng kể.
       Thực hiện chức năng kinh tế tốt sẽ tạo ra tiền đề và cơ sở vật chất cho tổ chức
đời sống gia đình.
       Việc tổ chức đời sống gia đình chính là việc sử dụng hợp lý các khoản thu nhập
của các thành viên và thời gian nhàn rỗi để tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh trong
gia đình; đời sống vật chất của mỗi thành viên được đảm bảo sẽ nâng cao sức khỏe của
các thành viên đồng thời cũng duy trì sắc thái, sở thích riêng của mỗi người.
       Thực hiện tốt tổ chức đời sống gia đình không những đảm bảo hạnh phúc gia
đình, hạnh phúc của từng cá nhân mà còn góp phần vào sự tiến bộ của xã hội.
       2.3. Chức năng giáo dục
       Nội dung giáo dục gia đình bao gồm cả tri thức, kinh nghiệm, đạo đức, lối sống,
nhân cách, thẩm mỹ v.v... Phương pháp giáo dục của gia đình cũng đa dạng, song chủ
yếu là bằng phương pháp nêu gương, thuyết phục về lối sống, gia phong của gia đình
truyền thống.
       Chủ thể giáo dục gia đình chủ yếu là cha mẹ, ông bà đối với con cháu, cho nên
giáo dục gia đình còn bao hàm cả tự giáo dục.
       Giáo dục gia đình là một bộ phận và có sự quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho giáo dục
nhà trường và xã hội, trong đó giáo dục gia đình có vai trò quan trọng được coi là thành
tố của nền giáo dục xã hội nói chung. Dù giáo dục xã hội đóng vai trò ngày càng quan
trọng, nhưng có những nội dung và phương pháp giáo dục gia đình mang lại hiệu quả
lớn không thể thay thế được.
       2.4. Chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm - sinh lý, tình cảm
       Đây là một chức năng có tính văn hóa - xã hội của gia đình. Chức năng này kết
hợp với các chức năng khác tạo ra khả năng thực tế cho việc xây dựng gia đình hạnh
phúc.
       Nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến giới tính, tuổi tác, sự căng thẳng mệt mỏi
về thể xác và tâm hồn trong lao động và công tác... thì môi trường gia đình là nơi giải
quyết có hiệu quả nhất.
       Trong gia đình, mọi thành viên đều có quyền và nghĩa vụ thực hiện các chức
năng trên, trong đó người phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi họ đảm nhận một
số thiên chức không thể thay thế được. Vì vậy, việc giải phóng phụ nữ được coi là mục
tiêu quan trọng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, cần phải được bắt đầu từ gia đình.
       Tóm lại: Gia đình, thông qua việc thực hiện các chức năng vốn có của mình, có
vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Các chức năng này có quan hệ mật
thiết với nhau, tác động lẫn nhau. Việc phân chia chúng là tương đối. Cần tránh tư
tưởng coi trọng chức năng này coi nhẹ chức năng kia, hoặc tư tưởng hạ thấp chức năng
gia đình. Mọi quan điểm tuyệt đối hóa, đề cao quá mức hay phủ nhận, hạ thấp vai trò
của gia đình đều là sai lầm.



                                          63
      XII. VẤN ĐỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ
                TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
      1. Con người và nguồn lực con người
       1.1. Con người và con người xã hội chủ nghĩa
       - Quan niệm về con người
       Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, con người là một thực thể tự nhiên, vừa là
thực thể xã hội, đồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh. Các Mác quan niệm con người
là một thực thể tự nhiên đặc biệt, một thực thể tự nhiên đã nhân loại hóa. "Bản chất con
người không phải là một cái trừu tượng cố hữu cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực
của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội".
       Con người là sản phẩm tiến hóa, phát triển lâu dài trong tự nhiên. Ăng ghen cho
rằng, lao động là nguyên nhân sâu xa cho quá trình chuyển biến từ vượn thành người
và cũng là điều kiện cho con người tồn tại và phát triển. Mặt khác, trong quá trình lao
động, con người không chỉ tác động vào tự nhiên, làm biến đổi thế giới tự nhiên, mà
con người còn quan hệ với nhau tạo nên bản chất người, làm cho con người khác với
con vật.
       Con người không thể tồn tại được một khi tách khỏi xã hội. Chỉ trong xã hội
thông qua lao động và ngôn ngữ, con người mới thỏa mãn được nhu cầu trong cuộc
sống và nâng cao được nhận thức về mình một cách đầy đủ hơn để từ đó hoàn thiện
được mọi mặt.
       Xã hội càng phát triển, mối quan hệ giữa con người với con người ngày càng
bền chặt hơn, con người được mở rộng mối quan hệ với xã hội. Do vậy, để cho con
người ngày càng phát triển, cần phải mở rộng những quan hệ xã hội. Quan hệ giữa cá
nhân con người với xã hội là quan hệ thường xuyên và có sự thống nhất biện chứng với
nhau.
       Mặt khác, xã hội càng phát triển, năng suất lao động cao, của cải dồi dào càng
tạo điều kiện để chăm sóc con người. Khi con người được chăm sóc đầy đủ càng có
điều kiện cống hiến cho xã hội nhiều hơn. Vì vậy Hồ Chí Minh nói: "Muốn xây dựng
chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa".
       - Quan niệm về con người xã hội chủ nghĩa
       Con người xã hội chủ nghĩa là con người phát triển toàn diện, hài hòa được từng
bước hình thành trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ
nghĩa vừa là chủ thể trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa là sản phẩm của
quá trình đó. Con người xã hội chủ nghĩa không chỉ là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội,
mà còn là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội sẽ
không thành công nếu không xây dựng và phát triển con người xã hội chủ nghĩa.
       Mặt khác, trong lao động sản xuất, đấu tranh xã hội, con người tạo ra những
điều kiện cơ sở vật chất ngày một tốt hơn, cuộc sống con người ngày càng đầy đủ hơn,
môi trường xã hội ngày càng trong sạch hơn, nhân văn hơn. Do vậy, càng có những
điều kiện để xây dựng nên những phẩm chất của con người xã hội chủ nghĩa. Đồng

                                          64
thời, thông qua quá trình lao động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội mà con người cải tạo
chính bản thân mình.
        Mỗi thời kỳ lịch sử, trên cơ sở của sự phát triển lực lượng sản xuất, của trình độ
phát triển xã hội, cần phải xác định mô hình con người cần xây dựng. Một khi con
người đã hình thành với những phẩm chất tốt đẹp, nó lại trở thành chủ thể tự giác để
phát triển xã hội theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
        - Những đặc trưng cơ bản của con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà chúng
ta phấn đấu xây dựng là:
        + Đó là con người có ý thức, trình độ và năng lực làm chủ.
        + Đó là con người lao động mới, có nhận thức sâu sắc về công việc mà mình
đang đảm nhận, lao động có ý thức kỷ luật, có tinh thần hợp tác với đồng nghiệp, biết
đánh giá chất lượng và hiệu quả lao động của mình.
        + Đó là con người sống có văn hóa, có tình nghĩa, có ý thức nâng cao trình độ trí
thức về mọi mặt, giải quyết tốt các mối quan hệ xã hội.
        + Đó là con người giàu lòng yêu nước, thương dân, có tình thương yêu giai cấp
và đồng loại, sống nhân văn, nhân đạo, kiên quyết đấu tranh chống những âm mưu
chống phá của kẻ thù, bảo vệ thành quả cách mạng.
        1.2. Nguồn lực con người
        Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực khoa
học - công nghệ, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quyết định nhất, bởi
lẽ những nguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi nguồn lực con người
được phát huy, Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lại nguồn lực con
người ngày càng đa dạng và phong phú.
        Từ cách hiểu như vậy, ta có thể đưa khái niệm về nguồn lực con người.
        Nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo
đức, phẩm chất, trình độ, vị thế xã hội v.v... tạo nên năng lực của con người, của cộng
đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước và trong những hoạt động xã hội.
        Nội dung về nguồn lực con người bao gồm các khía cạnh sau:
        - Nói đến nguồn lực con người là nói đến con người với tư cách là chủ thể hoạt
động sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội.
        - Nói đến nguồn lực con người là nói đến số lượng và chất lượng nguồn nhân
lực. (Số lượng nguồn nhân lực được xác định trên quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, sự
phân bố dân cư giữa các vùng v.v....). Còn chất lượng của nguồn nhân lực là thể lực, trí
lực, tay nghề, năng lực quản lý v.v...).
        Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực có quan hệ chặt chẽ với nhau.
        Nếu số lượng ít sẽ gây khó khăn trong phân công lao động và do vậy, chất lượng
lao động cũng bị hạn chế. Chất lượng được nâng cao sẽ làm giảm số lượng người lao
động trong một đơn vị sản xuất.


                                           65
       Xã hội muốn phát triển nhanh và bền vững phải quan tâm đào tạo nguồn lực con
người có chất lượng ngày càng cao.
       Nguồn lực con người không khai thác, không phát huy được là lãng phí vô
cùng. Hồ Chí Minh khẳng định: "Con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định
thành công của cách mạng". Đặc biệt là đội ngũ trí thức càng hoạt động, càng nghiên
cứu, càng làm cho trí tuệ của họ đa dạng, phong phú và sâu sắc. Nước ta đang là một
nước nghèo, kinh tế kém phát triển, thì việc phát huy nguồn lực con người để xây dựng
đất nước càng trở nên quan trọng. Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm, bồi dưỡng
đội ngũ trí thức, tạo điều kiện cho họ cống hiến hết khả năng trí tuệ cho đất nước, cho
sự phát triển của xã hội. Bác Hồ nói "Vì lợi ích mười năm trồng cây; vì lợi ích trăm
năm trồng người".
      2. Những phương hướng và giải pháp phát huy nguồn lực con người ở
Việt Nam hiện nay
        2.1. Những phương hướng
        Thứ nhất: Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế
đất nước
        Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế đất nước, một mặt
vừa nâng cao mức sống nhân dân; mặt khác, đặt ra yêu cầu, thách thức đối với người
lao động phải phấn đấu vươn lên, nếu họ không muốn thải loại ra khỏi dây chuyền sản
xuất.
        Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa là điều kiện để xây dựng, bồi
dưỡng, phát huy nguồn lực con người, đồng thời nguồn lực con người là yếu tố quyết
định thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
        Thứ hai: Xây dựng và từng bước hoàn chỉnh một hệ thống chính sách xã hội
phù hợp
        Chính sách xã hội là một bộ phận hợp thành chính sách của Đảng và Nhà nước,
là sự thể hiện cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng, hệ thống pháp luật của Nhà
nước, nhằm đảm bảo những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, Đó là những
chính sách điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và là một trong những động lực trực tiếp
để con người hoạt động trên lĩnh vực xã hội. Chính sách xã hội dưới chủ nghĩa xã hội
phải hướng tới con người và vì con người. Thực hiện tốt chính sách xã hội là tạo điều
kiện cho người lao động học tập phấn đấu vươn lên, cống hiến hết sức mình cho xã hội
sẽ góp phần to lớn phát triển kinh tế của đất nước. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Con người vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Mục tiêu của cách mạng là giải phóng con
người, mang lại tự do, hạnh phúc cho con người.
        Thứ ba: Từng bước xây dựng và không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý của
chế độ xã hội chủ nghĩa
        Cơ chế quản lý của một xã hội là toàn bộ những thiết chế, những quy định về
mối quan hệ trách nhiệm, quyền hạn giữa cá nhân với tổ chức, giữa tổ chức với tổ chức
nhằm thực hiện mục đích quản lý xã hội theo một định hướng nhất định của giai cấp
cầm quyền.

                                         66
       Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ xã hội do nhân dân lao động làm chủ. Do vậy,
xã hội phải tạo ra những điều kiện cho con người lao động tham gia tích cực vào công
việc quản lý xã hội, quản lý nhà nước, thông qua đó để đóng góp tài năng, trí tuệ của
mình cho xã hội.
       Tóm lại, những phương hướng nói trên nhằm bồi dưỡng nguồn nhân lực nước ta
ngày càng có tri thức, có trình độ, có sức khỏe v.v..., đồng thời phát huy ngày càng tốt
hơn nguồn lực con người trong sự nghiệp xây dựng một xã hội "Dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
       2.2. Một số giải pháp cơ bản phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện
nay
       Thứ nhất: Trong lĩnh vực kinh tế.
       - Nâng cao vị thế của người lao động trong quá trình sản xuất, tạo điều kiện cho
mọi người dân làm chủ cụ thể những tư liệu sản xuất của toàn xã hội, ở mọi thành phần
kinh tế.
       - Huy động mọi người dân đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, của địa phương, của đơn vị mình.
       - Phát huy sáng kiến của người lao động, động viên mọi người dân bỏ vốn để
sản xuất kinh doanh, phát huy trình độ tay nghề, năng lực quản lý của mỗi thành viên
trong xã hội, để cùng nhà nước giải quyết những khó khăn của đất nước.
       - Tăng cường giáo dục đạo đức, khơi dậy lương tâm nghề nghiệp, nêu cao trách
nhiệm của mỗi người trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều đó vừa tạo điều kiện
cho xã hội phát triển, vừa là điều kiện cho sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả.
       Thứ hai: Trong lĩnh vực chính trị.
       - Nâng cao trình độ nhận thức chính trị về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng ta cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Từ đó nâng cao
trách nhiệm và năng lực của họ trong việc tham gia vào công việc của Đảng, Nhà nước
và hệ thống chính trị của nước ta.
       - Tăng cường vai trò kiểm tra giám sát của quần chúng nhân dân trong mọi hoạt
động của Nhà nước, thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội. Huy động nhân dân tham
gia đấu tranh chống tham nhũng.
       - Giáo dục tinh thần yêu nước, nâng cao ý thức tự cường dân tộc, trách nhiệm
của mỗi công dân, bản lĩnh chính trị của mỗi người dân. Kiên quyết đấu tranh với
những hiện tượng tiêu cực và những âm mưu chống phá của kẻ thù, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa.
       Thứ ba: Trên lĩnh vực xã hội.
       - Loại bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu; những quan hệ bất bình đẳng, xây
dựng mối quan hệ mới tốt đẹp giữa người với người trên tinh thần tương trợ giúp đỡ
lẫn nhau.



                                          67
       - Cần thực hiện những biện pháp làm giảm dần khoảng cách chênh lệch giữa các
tầng lớp dân cư, giữa các vùng lãnh thổ. Quan tâm đến hộ nghèo, gia đình chính sách,
tạo cho mọi người dân được hưởng những thành quả văn hóa, giáo dục, y tế.
       - Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ tri thức, trình độ
tay nghề cho người lao động để cống hiến sức mình cho xã hội.
       Thứ tư: Trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
       Nghị quyết Hội nghị lần 2 Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: "Giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài" cho đất nước, đáp ứng công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Cần tuyên
truyền cho mọi người dân thấy được tầm quan trọng của vấn đề này, để từ đó có trách
nhiệm của mình đối với sự nghiệp giáo dục.
       Để đào tạo ra những cán bộ vừa "hồng" vừa "chuyên" có ý thức và năng lực làm
chủ, cần phải có sự đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục. Nội dung giáo dục phải
phản ánh được tri thức quan trọng của thời đại. Phương pháp dạy phải kích thích được
tính sáng tạo của người học.
       Thứ năm: Trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật.
       - Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Đảng ta
khẳng định: "Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội".
Trong quá trình cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn hóa nghệ thuật nước ta đã
phục vụ tốt sự nghiệp cách mạng. Những năm đổi mới vừa qua, văn học, nghệ thuật đã
có những đổi mới về nội dung, hình thức, động viên toàn dân tham gia sự nghiệp đổi
mới, xây dựng bảo vệ đất nước.
       - Tăng cường hơn nữa công tác quản lý của nhà nước trong hoạt động sáng tác,
biểu diễn, sao cho văn học nghệ thuật phải cổ vũ cái hay, cái đẹp, góp phần xây dựng
lối sống lành mạnh, nâng cao giá trị nhân văn trong con người Việt Nam. Đồng thời,
đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, phê phán những tư tưởng phản động
đang tìm cách phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đấu tranh chống chủ
nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng, suy thoái về đạo đức, lối sống.

       XIII. CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRÊN
             LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG VÀ VĂN HÓA
       1. Khái niệm tư tưởng, văn hóa, cách mạng tư tưởng và văn hóa
        - Tư tưởng là quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách
quan. Tư tưởng thuộc phạm trù ý thức, là sản phẩm chủ quan của con người. Vì vậy, ý
thức như thế nào phụ thuộc vào đối tượng, phản ánh, môi trường xã hội và trình độ
nhận thức, tâm sinh lý của mỗi người. Khi quan điểm được khái quát hóa, xây dựng
thành một hệ thống lý luận, phản ánh lợi ích của một giai cấp thì được gọi là hệ tư
tưởng của giai cấp đó. Giai cấp nào thống trị xã hội thì hệ tư tưởng của nó cũng thống
trị xã hội - hệ tư tưởng thống trị.
        - Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người và loài người sáng
tạo ra nhờ lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình. Văn hóa
                                           68
được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Ở đây, chúng ta nghiên cứu theo
nghĩa hẹp, đó là văn hóa tinh thần..
       - Cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa là sự biến đổi
trước hết về bản chất của tư tưởng và văn hóa nhằm xác lập hệ tư tưởng mới, xây dựng
con người với đạo đức và lối sống mới, xây dựng nền văn hóa mới trong toàn bộ tiến
trình cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

     2. Nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư
tưởng và văn hoá ở Việt Nam
       2.1. Giáo dục hệ tư tưởng của giai cấp công nhân
       Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, công tác tư tưởng có vai trò quan
trọng trong việc hình thành, phát triển hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, biến hệ tư tưởng
đó thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội, động viên, cổ vũ mọi người hành động tích
cực, sáng tạo vì mục tiêu lý tưởng chủ nghĩa xã hội. Vì lẽ đó, tiến hành cách mạng trên
lĩnh vực tư tưởng và văn hóa phải quan tâm đến việc truyền bá hệ tư tưởng giai cấp
công nhân trong các tầng lớp nhân dân.
       Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: "Tiến hành cách mạng văn hóa trên lĩnh
vực tư tưởng và văn hóa làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội". Chủ tịch Hồ Chí Minh
cũng chỉ rõ: "Đảng không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không
có bàn chỉ nam". Người cũng luôn luôn khẳng định, chủ nghĩa Mác - Lênin - hệ tư
tưởng của giai cấp công nhân là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của
Đảng ta.
       2.2. Nâng cao trình độ dân trí và đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, phát triển
khoa học, kỹ thuật, công nghệ
       Nâng cao dân trí là điều kiện không thể thiếu được để xây dựng nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa, để quần chúng nhận thức được và tham gia trực tiếp vào quản lý Nhà
nước, xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Mặt bằng dân trí được nâng cao sẽ
góp phần thúc đẩy chất lượng nguồn lực lao động, tạo ra tiềm lực trí tuệ để phát triển
nhân tài cho xã hội.
       Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, đào tạo để nhằm đào tạo nguồn nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài cho xã hội. Đây là điều kiện quan trọng để thúc đẩy xã hội tiến bộ.
       Cùng với giáo dục, khoa học và công nghệ có vai trò rất to lớn trong việc tăng
cường tiềm lực trí tuệ, cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
       2.3. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
       C. Mác, Ph. Ăngghen, trong nhiều tác phẩm của mình, đã có những dự báo khoa
học và nhận định về những tính chất của, một nền văn hóa tất cả vì con người và có
khả năng xây dựng con người hoàn thiện. Nền văn hóa mới sẽ trả lại cho con người
những giá trị tinh thần vốn có và tất cả những giá trị ấy sẽ được phát huy trong xã hội
mới.


                                         69
        V.I. Lênin đã nêu rõ nhiệm vụ của nền văn hóa mới là phải xây dựng những con
người của thời đại mới có giác ngộ cách mạng và có trình độ văn hóa cao.
        Xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến có tính chất xã hội chủ nghĩa, thấm nhuần
nội dung và hình thức dân tộc, gắn với những yêu cầu của thời đại mới - thời đại quá
độ lên chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ, đồng thời cũng là một mục tiêu quan trọng
của cách mạng tư tưởng và văn hóa. Nền văn hóa vô sản, văn hóa xã hội chủ nghĩa,
như V.I. Lênin gọi, kết hợp được truyền thống với hiện đại, vừa giữ gìn và phát huy
được bản sắc của dân tộc vừa kế thừa được những thành quả tốt đẹp nhất của văn hóa
nhân loại qua các thời kỳ lịch sử.
        Hồ Chí Minh đưa ra tư tưởng về văn hóa: Văn hóa là một vũ khí tinh thần phục
vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước cũng như trong sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Văn hóa phải thực hiện được 3 chức năng, đó là: Bồi
dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp; nâng cao dân trí, bồi dưỡng những
phẩm chất tốt đẹp, phong cách lành mạnh; hướng con người vươn tới chân, thiện, mỹ.
        Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã
chỉ rõ "... Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống và hoạt động xã
hội, vào từng người, vào từng gia đình, vào từng tập thể và cộng đồng dân cư...".
        2.4. Xây dựng con người phát triển toàn diện
        Con người xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của xã hội mới được hình thành phổ
biến trong phong trào quần chúng lao động. Đó là thế hệ những người được rèn luyện,
thử thách trong đấu tranh cách mạng, là những người lao động đã trưởng thành, là các
thế hệ trẻ kế tiếp.
        Chủ nghĩa xã hội phải xây dựng con người phát triển toàn diện. Đó là con người
sống có lý tưởng, có trách nhiệm với công việc, với xã hội, với chính mình. Họ phải là
những người có học thức, có niềm tin khoa học, có năng lực hoạt động sáng tạo, luôn
luôn đấu tranh cho lẽ phải, cho sự công bằng, bình đẳng và dân chủ. Đó là con người
phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, sự phong phú về đời sống tinh thần.
        Những con người có lối sống xã hội chủ nghĩa là sự thể hiện trình độ phát triển
văn hóa cao của cá nhân và cộng đồng. Xây dựng con người xã hội chủ nghĩa phải chú
trọng tới đầy đủ những nội dung của nó. Trước hết con người phải có thể lực tốt, vừa
đảm bảo hạnh phúc riêng của họ, vừa đảm bảo chất lượng sinh thể của thế hệ người
Việt Nam trong quá trình tái sản xuất nòi giống. Thể lực tốt là tiêu chí đầu tiên của chất
lượng nguồn lực lao động, là tiền đề sinh học để phát triển trí tuệ, nhân cách, năng lực
hoạt động cá thể của mỗi cá thể.
        2.5. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cách mạng tư
tưởng và văn hóa
        Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là vấn đề có tính nguyên tắc, là nhân tố quyết
định trước tiên đối với sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng đồng thời cũng là sự đảm
bảo về chính trị, tư tưởng và tổ chức để cách mạng tư tưởng và văn hóa đi đúng định
hướng xã hội chủ nghĩa.

                                           70
        Nội dung và phương pháp lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng tư
tưởng và văn hóa là:
        - Đảng lãnh đạo bằng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, bằng cương lĩnh,
đường lối cách mạng và chủ trương, chính sách cùng sự chỉ đạo thực tiễn trên lĩnh vực
tư tưởng và văn hóa.
        - Đảng lãnh đạo bằng những phương pháp văn hóa, bằng sự am hiểu những đặc
điểm của văn hóa và hoạt động sáng tạo văn hóa, bằng sức mạnh của giáo dục thuyết
phục khoa học gắn với công tác tổ chức thực tiễn có hiệu quả.
        Các chính sách văn hóa của Đảng phải tạo được môi trường và điều kiện để phát
huy tối đa khả năng sáng tạo của quần chúng, làm cho quần chúng tích cực sáng tạo
văn hóa và hưởng thụ văn hóa, làm cho văn hóa trở thành động lực phát triển và mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội.
        - Đảng Cộng sản và Nhà nước phải tăng cường đầu tư vật chất tinh thần một
cách có hiệu quả vào việc đào tạo cán bộ, đặc biệt là cán bộ chuyên trách trong lĩnh
vực tư tưởng và văn hóa. Nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân, đặc biệt là vùng
nông thôn. Đồng thời, Đảng và Nhà nước không ngừng chăm lo xây dựng nền văn hóa
có tính truyền thống và hiện đại, giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, trên cơ sở đó
tiếp thu văn hóa nhân loại./.




                                           71

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Tags:
Stats:
views:824
posted:7/18/2010
language:Vietnamese
pages:72
Description: I. Lược khảo lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa II. Vị trí, chức năng và ý nghĩa của việc học tập chủ nghĩa xã hội khoa học III. Xã hội xã hội chủ nghĩa IV. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân V. Cách mạng xã hội chủ nghĩa VI. Thời đại ngày nay VII. Nên dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa VIII. Liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa