MS2 Quan ly thuc hanh tot (BMP) trong nuoi Tom
Document Sample


Ministry of Agriculture & Rural Development
002/05/VIE: Tính khả thi về kinh tế và kỹ
thuật của việc áp dụng Quản Lý Thực Hành
Tốt trong nuôi trồng thuỷ sản quy mô nông
hộ ở Việt Nam
MS-2: BÁO CÁO TỔNG QUAN VỀ BMP
05/2007
1
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THỰC HÀNH TỐT TRONG NUÔI TÔM Ở VIỆT
NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Virginia Mosk
Animal Biology, University of Western Australia
Giới thiệu
Nếu thực hiện tốt việc Quản Lý Thực Hành Tốt (BMP) trong nuôi tôm sẽ ngăn chặn được
sự suy thoái về môi trường trong quá khứ cũng như hiện tại và thậm chí phát triển theo
chiều hướng tốt hơn qua đó sản lượng tôm sẽ được tăng lên. Thực tế cho thấy phát triển
nuôi tôm thiếu sự quản lý tốt đã ảnh hưởng đến môi trường như sự huỷ hoại các hệ sinh
thái đặc biệt là rừng ngặp mặn do phá rừng làm ao nuôi, vấn đề nhiễm mặn nước ngầm và
đất nông nghiệp. Việc sử dụng bột cá làm thức ăn nuôi tôm làm tăng hàm lượng nitơ gây ô
nhiễm nguồn nước do chất thải từ ao nuôi. Vấn đề đa dạng sinh thái bị ảnh hưởng do khai
thác tôm bố mẹ và tôm giống ngoài tự nhiên. Ngoài ra, phát triển nuôi tôm thiếu quy hoạch
và quản lý tốt đã nảy sinh các vấn đề xã hội như sự tranh chấp giữa các cộng đồng ở một
vài địa phương. Vấn đề nuôi tôm bền vững đã được đặt ra khi tình trạng ô nhiễm nội sinh ở
các khu vực nuôi tôm thịt cùng với sự xuất hiện của bệnh làm dịch bệnh lan tràn và ảnh
hưởng đến lợi ích kinh tế ở các nước sản xuất nuôi tôm (FAO/NACA/UNEP/WB/WWF,
2006). Báo cáo này nêu tổng quan về phát triển và hiện trạng áp dụng BMP ở Việt Nam.
Các ví dụ áp dụng BMP ở một số nước cũng được đề cập nhằm minh chứng sự cải thiện về
môi trường, nâng cao sản lượng tôm nuôi và lợi ích kinh tế thông qua thực hành áp dụng
BMP.
Cơ sở cho ứng dụng BMP tại Việt Nam
Nuôi tôm là hình thức khá phổ biến trong nuôi trồng thuỷ sản ven biển ở Việt Nam. Năm
2004, số hộ nuôi tôm khoảng 270,000 hộ và đã đóng góp đến 90% tổng sản lượng tôm xuất
khẩu với trị giá khoảng 1 tỷ đô la Mỹ. Sự thiếu kiến thức cơ bản, hạn chế về nguồn vốn
đầu tư và thiếu cơ hội nâng cao năng lực là nguyên nhân dẫn đến việc quản lý trang trại
chưa tốt, gây suy thoái môi trường, làm giảm chất lượng nước, thất thoát nguồn lợi tự
nhiên và dịch bệnh lan tràn. Trong vòng mấy năm trở lại đây, dư lượng kháng sinh và hoá
chất tìm thấy trong sản phẩm tôm xuất khẩu đã làm mất thị trường và giá thu mua tôm suy
giảm. Hệ quả tất yếu của nó là sinh kế của rất nhiều hộ nuôi tôm bị đe doạ và sản lượng
tôm cũng giảm đi.
Trước sự suy giảm về sản lượng, suy thoái về môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế
xã hội và vấn đề an toàn thực phẩm. Áp dụng BMP trong nuôi tôm ở các nông hộ đã được
đạt ra, đây là một biện pháp nhằm giúp các hộ nuôi tôm cũng như các nhà quản lý cấp cơ
sở tăng tính hiệu quả, năng suất và khả năng được chấp nhận của sản phẩm. Bên cạnh đó,
BMP còn giúp hạn chế những thiệt hại về môi trường. Các hộ nuôi tôm đã tự nguyện ứng
2
dụng phương pháp quản lý chiến lược này một cách rộng rãi nhằm tăng khả năng cạnh
tranh trên thị trường của sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản.
Một số thông tin chung về BMP
BMP được hình thành bắt nguồn từ Tổ chức Nông nghiệp và Lượng thực Thế giới
(International Code of Conduct for Responsible Fisheries – FAO, 1995). Bộ quy tắc về sản
phẩm được soạn thảo nhằm thiết lập một hệ thống nguyên lý và chuẩn mực trong bảo tồn,
duy trì và phát triển các sản phẩm thuỷ sản. Bộ quy tắc này đã dành một chương đề cập
đến nuôi trồng thuỷ sản, trong đó khuyến nghị “Các quốc gia nên cân nhắc đến nuôi trồng
thuỷ sản nói riêng và thuỷ sản nói chung như một phương tiện để tạo thêm thu nhập. Để
làm được như vậy, các quốc gia nên đảm bảo rằng nguồn lợi phải được sử dụng một cách
có trách nhiệm và những ảnh hưởng có hại đến môi trường và cộng đồng cư dân cần phải
được kiểm soát chặt chẽ”. Để thúc đẩy thực hiện Bộ Quy tắc Ứng xử có Trách nhiệm, một
bộ quy tắc Ứng xử Nghề cá có Trách nhiệm đặc biệt đối với Nghề cá Nội địa và Phát triển
Nuôi trồng Thuỷ sản đã được giới thiệu bởi Uỷ ban Nghề cá Nội địa ở Mỹ Latinh
(COPESCAL 1998).
Năm 1999, một chương trình với sự tham gia của Mạng lưới Nuôi trồng Thuỷ sản Châu Á
Thái Bình Dương (NACA), Ngân hàng Thế Giới (WB), Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới
(WWF) và Tổ chức Nông Lương của Liên Hợp Quốc (FAO) đã được thành lập nhằm mục
đích phân tích và chia sẻ kinh nghiệm về các vấn đề môi trường, xã hội và quản lý bền
vững nghề nuôi tôm. Chương trình đã tiếp tục với một loạt các tư vấn cho các đối tượng
liên quan đồng thời cho xuất bản Bộ Nguyên tắc Nuôi tôm có Trác nhiệm
(FAO/NACA/UNEP/WB/WWF 2006). Bộ nguyên tắc này gồm 8 nguyên tắc quốc tế quy
chuẩn hướng dẫn thực hiện. BMP đã được phát triển từ những hướng dẫn này. Tám nguyên
tắc đó là:
1. Các nông hộ chọn điểm nuôi tôm phù hợp với quy hoạch tổng thể của quốc gia và
không vi phạm quy định về môi trường, và đảm bảo các yêu cầu về: sử dụng có
hiệu quả nguồn đất và nước, duy trì tính đa dạng sinh học, nơi cư trú nhạy cảm và
chức năng của các hệ sinh thái. Việc lựa chọn phải đảm bảo việc sử dụng những
nguồn đất khác, những người khác và các loài động vật khác phải thuộc cùng hệ
sinh thái này.
2. Thiết kế trang trại phải đảm bảo giảm thiểu những thiệt hại về môi trường.
3. Sử dụng nước trong nuôi tôm phải đảm bảo hạn chế ảnh hưởng đến nguồn nước.
4. Nơi thích hợp sử dụng nguồn tôm bố mẹ và tôm giống nội địa nhằm đảm bảo an
toàn sinh học, giảm thiểu lây lan dịch bệch cũng như nhu cầu về nguồn giống tự
nhiên, đồng thời nâng cao sản lượng.
5. Sử dụng và quản lý thức ăn đảm bảo hiệu quả từ nguồn thức ăn sẵn có, tăng tốc
độ phát triển tôm nuôi và hạn chế tới mức thấp nhất về chất thải.
3
6. Quản lý sức khẻo tôm tốt nhằm giảm stress cho tôm, giảm nguy cơ bệnh phát sinh
ảnh hưởng đến cả tôm nuôi lẫn tôm tự nhiên và đảm bảo an toàn vệ sinh thực
phẩm.
7. An toàn vệ sinh thực phẩm nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm tôm, giảm thiểu
rủi do cho hệ sinh thái và sức khoẻ cộng đồng từ việc sử dụng hoá chất.
8. Trách nhiệm của người nuôi tôm, chính quyền cơ sở và cả đất nước là đóng góp
cho sự phát triển nông thôn và xoá đói giảm nghèo ở các vùng ven biển mà không
làm tổn hại đến môi sinh.
Chương trình đã sử dụng các kết quả đạt được trước đây từ các hội thảo quốc tế để xây
dựng nên các nguyên tắc ứng xử trong nuôi tôm có tính toàn cầu. Một số hội thảo như
“Sức khoẻ, an toàn và môi trường trong nuôi tôm” do Bộ Nông nghiệp Trung Quốc đồng
tổ chức với FAO và NACA (Bắc Kinh, 11/2004); Hội nghị về Nuôi trồng Thuỷ sản Thế
giới do chính phủ Indonexia tổ chức (Bali, 5/2005). Kết quả là một bản thảo các Nguyên
tắc Ứng xử Quốc tế về Nuôi tôm có Trách nhiệm đã được soạn thảo và giới thiệu tại cuộc
họp của tiểu Uỷ ban Nuôi trồng Thuỷ sản FAO tổ chức vào tháng 11/2006.
Các hoạt động ban đầu tại Việt Nam
Cùng với sự phát triển của các nguyên tắc quốc tế, một loạt các hoạt động ban đầu đã được
tiến hành nhằm khuyến khích nghề nuôi tôm có trách nhiệm. Tháng 10 năm 2003, một hội
thảo quốc gia về Bộ Quy tắc Ứng xử Nghề cá có Trách nhiệm và thực hành áp dụng trong
phát triển nuôi trồng thuỷ sản ven biển tại Việt Nam đã được tổ chức tại Huế (FAO, 2004).
Các đại biểu tham dự hội thảo kiến nghị nên soạn thảo Quy tắc Ứng xử quốc gia và Kế
hoạch thực thi cho nuôi trồn thuỷ sản ven biển có trách nhiệm ở Việt Nam bao gồm tất cả
các hệ thống trang trại nuôi ven biển, các loài nuôi và địa điểm nuôi nhằm nâng cao nhận
thức của các hộ nuôi thuỷ sản và các lĩnh vực liên quan (ví dụ như nông nghiệp hay du
lịch).
Bộ Thuỷ sản Việt Nam và Ngân hàng Thế giới gần đây đã tiến hành một nghiên cứu về
Hướng dẫn Quản lý Môi trường trong Đầu tư cho Nuôi trồng Thuỷ sản ở Việt Nam
(EASRD, 2006). Báo cáo phân tích về tác động của môi trường cũng như những nguy cơ
gắn liền với phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam (trong đó một chương đề cập đến
nuôi tôm) và hướng dẫn cho việc quản lý và kiểm soát môi trường hiệu quả hơn.
Một số dự án ứng dụng BMP phát triển từ những nguyên tắc và hướng dẫn nói trên đã
được thực hiện. Tổ chức phát triển quốc tế Thuỵ Điển (DANIDA) đã tài trợ cho dự án “Hỗ
trợ phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước mặn và nước lợ do trung tâm nuôi trồng thuỷ sản
4
Châu á Thái bình dương (SUMA/NACA) thực hiện tại Việt Nam”. Dự án được thực hiện
tại 6 xã ở Nghệ An và Hã Tĩnh.
Dự án này thực hiện với sự kết hợp chặt chẽ với chính phủ Việt Nam thông qua Cục Thú y
và An toàn Chất lượng Thuỷ sản Quốc gia (NAFIQAVED) cùng với một dự án thử nghiệm
về sự phát triển Thực hành Nuôi trồng Thuỷ sản Tốt (GAP) tại một số vùng nuôi trồng
thuỷ sản tập trung (như Bến Tre và các tỉnh khác). Dự án này của NAFIQAVED tập trung
vào đối tượng là các doanh nghiệp nuôi trồng thuỷ sản và các trang trại nuôi quy mô lớn và
chủ yếu tập trung vào vấn đề an toàn thực phẩm.
Các dự án trên đã tiến hành một số thử nghiệm về BMP ở quy mô nhỏ. Các kết quả vẫn
chưa được phổ biến rộng rãi đến người sản xuất và việc áp dụng BMP vẫn còn rất hạn chế.
Nguyên nhân của tình trạng này là do có những hạn chế về mặt tài chính, xã hội, công nghệ
cũng như kinh tế. Các trang trại nuôi tôm quy mô nhỏ hiện nay rất đa dạng và không đồng
nhất. Năng lực của các trang trại trong ứng dụng BMP còn hạn chế do thiếu nhận thức, sự
đầu tư ban đầu và thiếu động cơ. Kết quả là những lợi ích của việc ứng dụng BMP tại Việt
Nam đã chưa được nhận thấy rõ rệt. Tuy nhiên, kinh nghiệm từ Thái Lan, Ấn độ và
Bangladesh đã chỉ ra rằng các trang trại nuôi quy mô nhỏ, nơi áp dụng BMP, đã đạt được
một số kết quả khả quan trong nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng (SUMA,
2004). Việc thích ứng tuỳ thuộc vào từng nước và sự phát triển hợp lý cho từng vùng cụ
thể. Một số ví dụ về sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp nuôi tôm và ứng
dụng BMP sẽ được nêu chi tiết trong các phần tiếp theo.
Sự chấp nhận BMP tại Ấn Độ
Các hộ nuôi tôm ở Ấn Độ cũng giống như các hộ nuôi tôm khác trong vùng chịu thiệt hại
nặng nề do bệnh visrus gây nên. Họ rất dẽ bị tổn thương và khả năng phục hồi rất hạn chế.
Những hoạt động ban đầu của MPEDA/NACA (2005) trong ứng dụng các nguyên lý vào
thực tiễn sản xuất của các hộ nuôi quy mô nhỏ ở Ấn Độ đã đạt được một số kết quả khả
quan. Các hộ nuôi đã tiến hành một số các hoạt động:
• Thành lập các câu lạc bộ nông dân với khoảng 15-20 hộ
• Thiết lập mối liên hệ giữa các hộ nuôi thông qua các cuôc gặp gỡ hàng tuần.
• Thiết lập mối liên hệ giữa nhà cung cấp dịch vụ và hộ nuôi thông qua các cuộc gặp
hàng tuần.
• Thiết lập mối liên hệ trực tiếp giữa các hộ nuôi để hỗ trợ nhau về mặt kỹ thuật 2 lần
một tuần.
• Tổ chức các chuyến thăm quan chéo giữa các câu lạc bộ để trao đổi thông tin.
• Ký hợp đồng với các trại sản xuất giống.
5
• Việc ứng dụng BMP bao gồm các khâu: chẩn bị ao nuôi và nguồn nước, lựa chọn
giống, quy trình ương và nuôi thương phẩm.
Thông qua thành lập các câu lạc bộ nuôi tôm và thực hành BMP, các hộ nuôi ở Ấn Độ đã
đạt được một số kết quả:
• Hạn chế được nguy cơ lây nhiễm bệnh.
• Năng suất cao hơn.
• Chất lượng đầu vào cao hơn với giá thành thấp hơn về:
Giống
Vôi nông nghiệp
• Lợi nhuận tăng lên
• Chất lượng tôm tốt hơn
• Có thể truy xuất nguồn gốc sản phẩm đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Qua đánh giá dự án năm 2004 cho thấy năng suất tôm tăng 33%, sản lượng thu hoạch tăng
1,5 lần và dịch bệnh giảm 20% ở các hộ tham gia câu lạc bộ và chấp nhận ứng dụng BMP
so với các hộ không áp dụng BMP. Bên cạnh đó, hoá chất cũng như các chất độc hại đã bị
cấm sử dụng khi ứng dụng phương pháp quản lý BMP, sản phẩm trở nên hấp dẫn hơn đối
với người mua do tôm không bị nhiễm hoá chất. Dự án đã được mở rộng và công tác đánh
giá dự án được tiến hành năm 2005 trên 930 ao thử nghiệm với diện tích 484 ha tại 15 làng
nhận thấy rằng năng suất tăng gấp hai lần, cỡ tôm nuôi tăng 34% và dịch bệnh giảm 65%
so với các ao nuôi xung quanh không áp dụng BMP. Chất lượng sản phẩm cũng tăng lên
một cách đáng kể do không có dư lượng các chất kháng sinh cấm sử dụng và công tác quản
lý được thực thi có hiệu quả hơn trong suốt thời gian thu hoạch cũng như tôm được xử lý
tốt hơn sau khi thu hoạch. Ngoài ra, một lợi ích khác là các hộ nuôi quy mô nhỏ có thể
mua giống có chất lượng cao, thậm chí sẵn sàng trả cao hơn cho các chủ trại giống để có
được nguồn giống đáng tin cậy và có chất lượng (Bueno, 2006).
Sự chấp nhận BMP ở Indonesia
Pematang Pasir là một ngôi làng nhỏ ven biển ở Sumatra, Indonesia, đại diện cho rất nhiều
cộng đồng nuôi tôm quy mô vừa và nhỏ. Kinh nghiệm đạt được ở Pematang Passer có thể
có mối liên hệ tới sự phát triển của việc quản lý nguồn lợi trong tương lai của các cộng
đồng ven biển (Tobey et al. 2003). Các kết quả có được chủ yếu tập trung vào các yếu tố
có thể có ảnh hưởng đến sự thành công của việc quản lý các điểm nuôi cũng như quá trình
quản lý nghề nuôi tôm dựa vào cộng đồng. Những kết quả quan trọng trong nỗ lực quản lý
nghề nuôi tôm bền vững dựa vào cộng đồng bao gồm:
6
1. Cộng đồng quan tâm nhiều hơn nếu như nhận thấy việc nuôi tôm có ảnh hưởng tiêu
cực đến môi trường hoặc vấn đề quản lý sức khoẻ tôm không tốt.
2. Việc quản lý môi trường chỉ thực sự bắt đầu nếu như các hộ nuôi nhận thức được
vấn đề và thấy rằng cần phải làm một điều gì đó.
3. Các thành viên trong cộng đồng sẵn sàng hợp tác với nhau để phát triển, nhất trí và
cộng tác để giải quyết vấn đề liên quan đến sử dụng nguồn lợi.
4. Nuôi tôm càng trở nên quan trọng trong cộng đồng thì sự chấp nhận và ứng dụng
BMP càng được quan tâm.
5. Các hộ nuôi sẵn sàng áp dụng BMP nếu như họ nhìn thấy được lợi ích kinh tế của
nó.
6. Hệ thống luật pháp về quyền sở hữu, sử dụng và quản lý đất có ảnh hưởng lớn đến
hoạt động của người sở hữu.
Một số kết quả từ kinh nghiệm hoạt động ở Pematang Pasir:
1. Nâng cao nhận thức thông qua giáo dục và đào tạo giúp cộng đồng hiểu hơn về
phương pháp nuôi trồng thuỷ sản bền vững. Thông qua những chuyến tham quan và
thực địa giúp họ hiểu rõ hơn về lợi ích của BMP và thúc đẩy mọi người hành động.
2. Một nhóm hạt nhân lập kế hoạch cộng đồng đóng vai trò quan trọng như những
người lãnh đạo có ảnh hưởng đến sự phát triển rộng rãi sự hỗ trợ của cộng đồng
đến việc nuôi tôm và quản lý nguồn lợi ven biển.
3. Sự cố vấn từ bên ngoài tới cộng đồng giúp làm rõ thêm và giải quyết những vấn đề
đang tồn tại. Những cộng đồng nhỏ thường không có đủ năng lực về lập kế hoạch
cũng như công nghệ tương ứng để giải quyết những vấn đề mới phát sinh.
4. Các tổ chức phi chính phủ (NGO) đóng vai trò xúc tác và hỗ trợ cho việc thực thi
trong cộng đồng, đặc biệt khi năng lực của chính phủ hạn chế. Một số yếu tố khiến
cho các tổ chức này trở thành đối tác thích hợp trong các hoạt động quản lý vùng
ven biển ở cấp cơ sở là cơ cấu nhỏ, sự linh động, định hướng của người tham gia và
cộng đồng, kiến thức gần với cấp cơ sở, sự tự quản và năng động, khả năng phản
ứng nhanh, dễ thích ứng và hiệu quả về kinh tế.
Nhiều vấn đề về quản lý nguồn lợi ven biển và nuôi trồng thuỷ sản bền vững mức độ cộng
đồng cần phải được giải quyết thông qua việc củng cố các nguyên tắc và bổ sung cơ sở
pháp lý ở cấp quốc gia và khu vực.
Áp dụng BMP trong nuôi tôm ở Australia
Tại Australia, các quyết định hiện thời được đưa ra nhằm đảm bảo tính bền vững của
ngành công nghiệp vùng ven biển đem lại hiệu quả trong quản lý môi trường. Một số hoạt
7
động đã được thực thi để góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp
này (Preston et al., 2004). Đặc biệt, việc tăng cường đầu tư cho sự phát triển và thực hành
quản lý chất thải có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển của ngành công nghiệp cả về kinh
tế và môi trường (Burford et al., 2001). Trong các ao nuôi, thức ăn dư thừa có thể giảm đi
nhờ sự nâng cao chất lượng thức ăn, quản lý thức ăn, sử dụng vôi, loại bỏ các chất lắng
đọng, kích thích quá trình nitrat hoá và quá trình loại bỏ chất nitơ (Burford et al., 2001). Sử
dụng giống tôm nội địa nhằm mục đích nâng cao hiệu suất hấp thụ nitơ. Hiện nay, hầu hết
các trang trại nuôi tôm ở Australia đều sử dụng nguồn giống tôm không được chọn lọc từ
tôm bố mẹ ngoài tự nhiên. Tuy nhiên, quá trình sinh sản chọn lọc của các loài thuỷ sản
nuôi trồng khác, ví dụ cá hồi, chứng minh rằng khả năng duy trì lượng dinh dưỡng tăng lên
một cách có ý nghĩa, điều này cũng tương tự đối với nuôi tôm. Một nghiên cứu về cá hồi
được chọn giống cho thấy khả năng duy trì lượng protein tăng 35 đến 44% qua 5 thế hệ và
tỷ lệ tăng trưởng tăng 77% (Gjedrem 1998).
Hiệu quả về chi phí xây dựng ao và các hệ thống xử lý là giai đoạn phát triển ban đầu ở
Australia và các nơi khác. Mặc dù, lợi ích của việc xây dựng ao có tính toán đã được khẳng
định song chất lượng nguồn nước ban đầu bị giảm sút do nước thải từ các trang trại có
chứa nhiều chất rắn lơ lửng. Giảm chất dinh dưỡng (phốt pho và ni-tơ) dư thừa từ nguồn
nước thông qua việc xây dựng ao là chưa hiệu quả nên ảnh hưởng đến môi trường trong
quá trình nuôi. Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu tiếp theo nhằm phát triển những
phương pháp hữu hiệu hơn giúp giảm nước thải giàu dinh dưỡng từ các trang trại nuôi tôm
ra môi trường bên ngoài. Hiện nay, phương pháp nuôi tôm ít thay nước đã được ứng dụng
ở nhiều trang trại (Nghiên cứu điểm của Boyd and Clay’s về công ty TNHH nuôi trồng thuỷ
sản Belize). Một trang trại nuôi tôm ở bang Northern Territory đã rất thành công trong việc
sử dụng hệ thống nuôi ít thay nước và các mô hình tương tụ cũng đang được thực hiện tại
Queensland. Phát triển và ứng dụng rộng rãi các hệ thống như vậy góp phần tích cực vào
việc quản lý môi trường của ngành công nghiệp nuôi tôm.
Những nỗ lực kế tiếp là phát triển xây dựng các tiêu chuẩn môi trường quốc gia và quốc tế
và khuyến khích việc áp dụng các tiêu chuẩn này (ví dụ như nuôi tôm sinh thái nhằm thu
hút thị trường). Để đạt được những mục tiêu này, những biện pháp điều chỉnh và kiếm soát
đưa ra phải thích hợp với sự thay đổi nhanh chóng của môi trương ao nuôi và hàm lượng
chất dinh dưỡng.
Hiện trạng ứng dụng BMP tại Việt Nam
Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của Việt Nam đã tăng trưởng gấp đôi trong vòng 5 năm từ
1998 đến 2003 (năm 2003 đạt 1.150.000), nuôi tôm có vai trò quan trọng trong sự phát
triển này. Theo số liệu của FAO, sản lượng tôm nuôi trong 5 năm 1998-2003 tăng 4 lần và
đạt trên 220.000 tấn năm 2003. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, sản lượng tôm nuôi
năm 2005 đạt 350.000 tấn. Có được sự tăng trưởng về sản lượng này chủ yếu là nhờ vào sự
8
phát triển về số lượng của các trang trại nuôi hơn là sự tăng năng suất. Tuy nhiên, sự phát
triển này cũng có một số ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ, và do đó dẫn đến sự giảm
sút ước tính khoảng 11% sản lượng tôm năm 2004. Một số hộ nuôi tôm đã phải đối mặt với
nguy cơ về sức khoẻ do sử dụng hoá chất và các chất độc hại đã bị cấm sử dụng. Điều này
cũng gây thiệt hại rất nhiều cho ngành thuỷ sản do một số nước đã cấm nhập khẩu một số
sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam (NACA et al., 2005).
Chính phủ Việt Nam đã nhận ra sự cần thiết phải thúc đẩy phát triển nuôi thuỷ sản một
cách bền vững và tiến hành một số hoạt động ban đầu theo định hướng này. Một trong
những dự án hỗ trợ nuôi trồng thuỷ sản ven biển đã chứng minh được những lợi ích về mặt
xã hội khi ứng dụng BMP. Nguyên tắc thực hành BMP đã được phát triển trong cung cấp
tôm bố mẹ, các trại sản xuất, cung cấp tôm giống và người nuôi tôm. Trong đó tập trung
vào việc ứng dụng thực hành các nguyên tắc BMP đơn giản nhằm giải quyết nhu cầu cho
các hộ nuôi quy mô nhỏ và hạn chế về nguồn lực. Với sự kết hợp chặc chẽ cùng Bộ Thuỷ
sản, 10 bộ tài liệu khuyến ngư được phát triển và phổ biến. Một số kết quả nhìn thấy được
là:
• Ứng dụng BMP tại 6 trại giống và đã tăng sản lượng tôm giống lên 1,5 lần và giá
giống bán ra tăng 30- 40% so với các trại không ứng dụng BMP.
• Ứng dụng BMP tại 7 cộng đồng nuôi tôm (với 655 hộ được hưởng lợi). Kết quả là tỷ
lệ chết giảm, sản lượng tăng và có nuôi tôm có lãi.
• Các cộng đồng nuôi tôm thực hiện kiểm tra chất lượng tôm giống trước khi thả có lãi
tăng 7 lần.
• Sản lượng tôm nuôi ở những nơi chấp nhận ứng dụng BMP có khi tăng tới 4 lần so
với những nơi không ứng dụng BMP
• Dự án về BMP đã kết hợp chặt chẽ trong việc đưa ra các tiêu chẩn ban đầu trong sản
xuất tôm giống sạch.
Dự án hỗ trợ các cơ quan có liên quan trong quản lý sức khoẻ giống thông qua một số lớp
tập huấn và khuyến khích xây dựng các văn bản pháp quy cấp quốc gia và cấp tỉnh nhằm
sàng lọc và cấp chứng chỉ chứng nhận chất lượng giống. Khi chưa có các hiệp hội nông
dân, một số hộ đã tự tổ chức thành nhóm ở các làng xã và thông qua những cuộc họp định
kỳ triển khai ứng dụng BMP. Do một số các trại ương và nhà cung cấp tôm bố mẹ đã chấp
nhận BMP ở từng công đoạn nên lợi ích và trách nhiệm của họ có liên quan đến nhau.
9
Các kết luận và gợi ý.
Chuyến thăm tới Miền Trung Việt Nam tháng Giêng năm 2007
Chuyến đi thực tế đến miền Trung Việt Nam của tôi bao gồm việc tham gia Hội thảo triển
khai dự án tổ chức tại thành phố Vinh ngày 6 tháng 1 năm 2007 và thăm quan các nông hộ
tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Thừa Thiên-Huế. Chuyến đi này cho thấy sự phân tán
của việc ứng dụng BMP trong nuôi tôm ở các tỉnh này. Các nhà nghiên cứu, các khuyến
ngư viên, các tỉnh, các làng xã và các nông hộ mong muốn áp dụng BMP nhiều nhất có
thể. Trong hội thảo triển khai dự án, tiến sĩ Lê Xân, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu
Nuôi trồng Thuỷ sản 1 đã chỉ ra tầm quan trọng của sản xuất tôm trong việc xuất khẩu và
vô cùng quan trọng để các cơ quan đơn vị và cá nhân từ trung ương đến cơ sở hợp tác với
nhau trong việc đưa BMP ứng dụng vào thực tế sản xuất và cũng là tiền đề cho dự án thành
công.
Mặc dù BMP đã được thực hành tại nhiều nơi, tôi cũng xin đưa ra một số gợi ý như sau:
1. Hoàn thiện các hướng dẫn thực hành BMP một cách thân thiện với người sử dụng
và các hướng dẫn tập huấn khuyến ngư cho nông dân
2. Thiết kế xây dụng ao nuôi phù hợp hạn chế dùng chung kênh cấp và thoát nước
nhằm giảm thiểu rủi ro về bệnh dịch và hạn chế sự lây lan nội tại.
3. Phơi đáy ao khô triệt để trước khi lấy nước và thả giống nhằm hạn chế dịch bệnh.
Đồng thời nên sử dụng chế phẩm sinh học để cải thiện môi trường ao nuôi.
4. Cải thiện chất lượng nguồn nước thông qua tăng lượng ô-xy hoà tan bằng cách sử
dụng quạt nước sẽ giảm được nguy cơ bệnh tôm. Sản lượng tôm tăng nhờ sử dụng
quạt nước trong các ao nuôi đã được chứng minh ở nhiều nước (Spaargaren 1999).
Cần làm rõ với điều kiện nông dân Việt Nam bằng cách thực hiện 1 số nghiên cứu
ở địa phương cụ thể. Một số nông dân cho rằng có thể trang bị quạt nước nhưng chi
phí điện năng cao. Trong trường hợp này nhà nước nên hỗ trợ nông dân về quạt
nước hoặc chi phí điện năng.
5. Nên đánh thuế về việc thải chất ni-tơ (giảm thuế hoặc thưởng cho những hộ giảm
lượng chất thải ni-tơ và đánh thuế những hộ tăng chất thải ni-tơ vào môi trường)
đây là chiến lược nhằm giảm sự ảnh hưởng tiêu cực từ các hộ sản xuất tôm.
6. Khuyến khích việc đo đếm các số liệu gốc về xây dựng các hệ sinh thái và quá trình
hoạt động của các ao nuôi tôm. Một tiền lệ ở một số nước nơi có các công ty khai
khoáng và chế biến gỗ là họ phải đặt cọc tiền cho việc cải thiện môi trường nếu các
tiêu chuẩn về môi trường không được tuân thủ.
7. Kiểm tra chất lượng tôm giống trước khi thả, việc này đang được thực hiện có hiệu
quả trong ngành Thuỷ sản, sẽ giảm thiểu rủi ro lây lan dịch bệnh và tăng tích phù
hợp về nguồn gen của tôm giống.
Nâng cao kiến thức về thị trường và quảng bá sản phẩm mang tính cộng đồng sẽ tạo cơ hội
cho nông dân bán được sản phẩm với giá cao hơn sẽ giúp tăng lợi nhuận trong sản xuất.
10
Kết quả từ các dự án cho thấy có thể dễ dàng ứng dụng BMP trong các nông hộ sản xuất
quy mô nhỏ. Việc ứng dụng thành công BMP không chỉ tập trung vào các giải pháp về kỹ
thuật và môi trường mà còn phát huy tính trung thực, hài hoà và hợp tác giữa các thành
phần tham gia. Tính logic của vấn đề thể hiện ở chỗ các thành viên tham gia có thể học hỏi
lẫn nhau để cùng phát triển.
11
Tài liệu tham khảo
Arun Padiyar P., Vishnu Bhat B., Phillips M. & Mohan C.V. (2005) India Report BMPs
WAS Bali Shrimp Health Management: MPEDA / NACA initiative to put principles into
practice among small-scale farmers in India. MPEDA / NACA publication.
Boyd CE & Clay J. (2003) Case Study: Evaluation of Belize Aquaculture LTD
A Superintensive Shrimp Aquaculture System. Aqua KE Government Documents.
Bueno, P. (2006) Report of the 5-year Achievement of NACA. Review of the NACA Work
Programme. Governing Council Meeting of NACA, 25-29 February 2006. Tehran, Iran.
Burford, M.A., C.J. Jackson and N.P. Preston. 2001. Reducing nitrogen waste from shrimp
farming, an integrated approach. In: C. Browdy and D. Jory (eds.), The New Wave,
Proceedings of the Special Session on Sustainable Culture, Aquaculture 2001. The World
Aquaculture Society, Baton Rouge, Louisiana, United States. pp. 35-43.
Commission for Inland Fisheries in Latin America (COPESCAL) (1998) Code of Conduct
for Responsible Fisheries with Special Reference to Inland Fisheries and Aquaculture
Development.
Food and Agriculture Organization (FAO) (1995) Code of Conduct for Responsible
Fisheries, FAO, Rome.
FAO (2004) Report of the National Workshop on the Code of Conduct for Responsible
Fisheries and its Practical Application to Coastal Aquaculture Development in Viet Nam.
FAO/FishCode Review. No. 12. FAO, Rome.
FAO/NACA/UNEP/WB/WWF (2006). International Principles for Responsible Shrimp
Farming. Network of Aquaculture Centres in Asia-Pacific (NACA). Bangkok, Thailand,
pp.20.
Gjedrem, T. 1998. Selective Breeding in Aquaculture. Infofish International 3: 44-48.
12
Pongthanapanich, T & Roth E. (2006) Toward Environmental Responsibility of Thai
Shrimp Farming through a Voluntary Management Scheme. Department of Environmental
and Business Economics, IME WORKING PAPER 70/06
Preston N, Rothlisberg P, Burford M, and Jackson C. (2004) The Environmental
Management of Shrimp Farming in Australia. Aqua KE Gov. Doc.
Rural Development and Natural Resources East Asia and Pacific Region (EASRD) (2006)
Guidelines for Environmental Management of Aquaculture Investments in Vietnam.
Technical note prepared by the Ministry of Fisheries of the Government of Vietnam and
the World Bank.
Spaargaren D. (1999) 72, 99-107
Support to Marine and Brackish Aquaculture (SUMA) (2004) Proceedings of Workshop on
Code of Conduct for Responsible Fisheries and Code of Practise/Good Aquaculture
Practice in Vietnam. Hanoi, 5-6 August, 2004. SUMA publication, Hanoi.
Support to Brackish water and Marine Aquaculture/Network of Aquaculture Centre in
Asia-Pacific (NACA/SUMA) (2005) Reducing the risk of aquatic animal disease
outbreaks and improving environmental management of coastal aquaculture in Viet Nam.
Final report of the NACA/SUMA project FSPS I
Tobey J , Poespitasari H. & Wiryawan B. (2003) Good Practices for Community-based
Planning and Management of Shrimp Aquaculture in Sumatra, Indonesia. WORKING
PAPER, Proyek Pesisir, Jakarta
World Bank, NACA, WWF, FAO and UNEP. (2005) International Principles for
Responsible Shrimp Farming. Draft report of consortium program. www.enaca.org/shrimp.
13
Get documents about "