Một+số+hoạt+động+của+HĐND+tỉnh+khóa+VII

Shared by: NiceTime
-
Stats
views:
11
posted:
5/19/2010
language:
Vietnamese
pages:
6
Document Sample
scope of work template
							Một số hoạt động của HĐND tỉnh khóa VII, từ đầu nhiệm kỳ đến nay
                                   MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG
                        CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH KHOÁ VII
                                TỪ ĐẦU NHIỆM KỲ ĐẾN NAY


        Nhiệm kỳ hoạt động của Hội đồng Nhân dân tỉnh Đồng Tháp khoá VII (2004-2009) được bắt đầu
bằng sự tăng tốc mạnh mẽ trở lại của nền kinh tế của tỉnh – năm sau tăng cao hơn năm trước; trong đó
thành công quan trọng nhất là chặn được đà suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của thời kỳ 1996 -2000.
Là một nhiệm kỳ hoạt động diễn ra trong xu hướng chung của đất nước - thời kỳ phát triển năng động và
tăng tốc nhanh nhất từ trước đến nay.

      Những hoạt động đó được thể hiện trên một số mặt lớn như sau:

      I. Thực hiện công tác tổ chức bộ máy; xây dựng quy chế quy định lề lối và phương hướng
hoạt động đảm bảo theo luật định
       1. Bầu các quan chức năng theo luật định:
      Ngay sau ngày bầu cử HĐND các cấp kết thúc đúng một tháng (25/6/2004); theo luật định HĐND
Tỉnh Đồng Tháp khóa VII bắt đầu họp phiên đầu tiên để bầu ra các cơ quan của HĐND và các chức danh
chủ chốt của các cơ quan này; phân công nhiệm vụ; củng cố tổ chức bộ máy giúp việc cho HĐND,
Thường trực và các Ban của HĐND; đó là:


    - Thường trực HĐND tỉnh, gồm: Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND và Ủy viên Thường trực
HĐND; Chủ tịch HĐND tỉnh là Bí thư Tỉnh ủy.
      - Ba Ban của HĐND tỉnh, gồm:
      + Ban Kinh tế - Ngân sách: 9 vị ; trong đó có 01 Trưởng ban, 01 Phó trưởng ban và 7 thành viên.
      + Ban Văn hoá – Xã hội: 9 vị; trong đó 01 là Trưởng ban, 01 Phó trưởng ban và 7 thành viên.
      + Ban Pháp Chế HĐND tỉnh: 9 vị; trong đó 01 là Trưởng ban; 02 là Phó trưởng ban; còn lại là
thành viên .

      Trưởng các Ban của HĐND tỉnh hoạt động chuyên trách, Phó trưởng ban và các thành viên hoạt
động kiêm nhiệm.

        (Danh sách và chức vụ cụ thể của các cơ quan HĐND (Thường trực, các Ban của HĐND),
đại biểu HĐND được thể hiện ở phần sau của trang tài liệu về HĐND tỉnh)

        Việc xác lập các cơ quan của HĐND và các chức danh đúng theo luật định. Việc bố trí, sắp xếp
cán bộ dảm đương các vị trí, chức vụ chủ yếu trong các cơ quan của HĐND theo hướng đảm bảo đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao và theo trình độ chuyên môn, năng lực sở trường công tác của từng vị
trí.

      - Song song với việc hình thành các cơ quan chức năng của HĐND và UBND; ngày 29/7/2004,
Chủ tịch HĐND tỉnh Quyết định thành lập bộ máy Văn phòng HĐND tỉnh theo tinh thần Nghị định
133/2004/NĐ-CP ngày 9/6/2004 của Chính phủ về việc thành lập Văn phòng HĐND các tỉnh, thành - cơ
quan tham mưu và phục vụ hoạt động cho Thường trực HĐND và các Ban HĐND tỉnh.

     2. Xây dựng lề lối, cải tiến hình thức hoạt động của các bộ phận, cơ quan giúp việc của
HĐND phù hợp với điều kiện và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
      Với tinh thần kiên quyết thực hiện đầy đủ, đúng những quy định mà luật đã định”; nên ngay từ
đầu nhiệm kỳ, HĐND tỉnh đã có những định hướng cụ thể trong hoạt động như:
     - Nêu cao ý thức trách nhiệm của từng vị trí công tác trong cơ quan HĐND với mục đích: “chất
lượng, hiệu quả, tận tụy và đảm bảo đúng luật”; đó là yêu cầu đặt ra trong hoạt động của HĐND
nhiệm kỳ này.
      - Xây dựng Quy chế quy định nguyên tắc, lề lối, phương thức hoạt động, mối quan hệ và phân
công nhiệm vụ cụ thể theo phạm vi trách nhiệm và nhiệm vụ được tổ chức phân công.
      - Thông qua Nghị quyết về phương hướng hoạt động của HĐND trong nhiệm kỳ 2004-2009 (NQ
số 10/2004/HĐND.K7 ngày 01/7/2004). Đây là lần đầu tiên trong các nhiệm kỳ hoạt động, HĐND ban
hành được Nghị quyết về phương hướng hoạt động cả nhiệm kỳ cho mình.
       - Hàng năm xây dựng chương trình giám sát, chương trình xây dựng Nghị quyết của HĐND đưa ra
kỳ họp của HĐND bàn bạc, thống nhất và ban hành Nghị quyết thông qua, tiến hành thực hiện theo nghị
quyết.
      - Đảm bảo chế độ thông tin báo cáo về các họat động của HĐND theo quy định của Pháp luật.


      Những điều đó thể hiện sự nghiêm túc, chủ động và đảm bảo thực hiện đúng luật trong hoạt động
của HĐND. Đó cũng là định hướng, là một trong những cơ sở để HĐND đảm bảo thực hiện chức năng
nhiệm vụ, quyền hạn của mình hiệu quả và hiệu lực.

      II. HĐND tỉnh Đồng Tháp đảm bảo thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các chức năng và nhiệm
vụ theo luật định ().
      Thứ nhất; đối với chức năng Quyết định:
       HĐND xác định rõ: để hoạt động của HĐND thực sự có hiệu quả, hiệu lực, điều cốt lõi là HĐND
phải thực hiện tốt chức năng quyết định của mình; phải có được những quyết sách đúng đắn, khả thi về
các chủ trương, chính sách, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Do vậy; HĐND tỉnh
bám sát chủ trương, Nghị quyết của Đảng, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và nhiệm
vụ trọng tâm trong từng thời gian… để thực hiện chức năng quyết định của mình, đảm bảo hiệu quả, hiệu
lực.
       Do vậy; hoạt động của HĐND trong những năm gần đây tập trung cao cho việc đảm bảo tổ chức
tốt và đúng luật các kỳ họp của mình; luôn cải tiến để nâng cao chất lượng trong mỗi kỳ họp, trong việc
thảo luận, chất vấn, ban hành các nghị quyết… Đảm bảo các Nghị quyết thông qua tại kỳ họp là nghị
quyết về nội dung; trong đó từng chỉ tiêu, từng giải pháp là thể hiện tính pháp lệnh phải được triển khai
thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả; có kiểm tra, giám sát việc triển khai, thực hiện các Nghị quyết của
HĐND đã ban hành; coi đó là điểm mấu chốt của vấn đề cần tháo gỡ.
       1. Về các kỳ họp của HĐND:
       Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND tỉnh đã thực hiện được 8 kỳ họp; xem xét và quyết định nhiều
vấn đề quan trọng của địa phương; đã thông qua và ban hành 89 nghị quyết; bao trùm, điều chỉnh toàn
bộ các hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương; trong ñoù có 03 Nghò quyeát năm veà nhieäm vuï
phaùt trieån kinh teá - xaõ hoäi (từ 2005, 2006 và 2007); 03 nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội của 3
vùng kinh tế (Hồng Ngự, Cao Lãnh, Sa Đéc); 51 Nghị quyết về các lĩnh vực kinh tế xã hội như: quy
hoạch, đầu tư phát triển, ngân sách, giáo dục đào tạo, pháp chế …; 08 nghò quyeát coù lieân quan ñeán
lĩnh vực họat động của HĐND; còn lại là 24 Nghò quyeát veà toå chöùc boä maùy, nhaân sự, phát triển
đô thị, chia tách, thành lập Thành phố, Thị xã mới.
     Trong số những Nghị quyết ban hành trên, có nhiều Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, ngân
sách… áp dụng thực hiện cho cả một chu kỳ, một nhiệm kỳ hoạt động trên địa bàn, như:
        * Lĩnh vực Kinh tế - ngân sách có:
        - Nghị quyết về Phương hướng, nhiệm vụ năm 2006 -2010;
        - Nghị quyêt về thông qua kế hoạch vốn đâu tư XDCB giai đoạn 2006 -2010 bằng nguồn vốn cân
đối ngân sách tập trung do Tỉnh quản lý và phân bổ;
        - Nghị quyết về việc thông qua Kế hoạch sử dụng đất giai đọan 2006 – 2010;
        - Nghị quyết về thông qua Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh giai đọan 2006 -2010, xét đến 1015;
        - Nghị quyết về việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách các cấp theo luật ngân sách nhà
nước từ năm 2007-2010;
        - Nghị quyết về định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách cho các Sở, ban, ngành,
đảng, đoàn thể cấp tỉnh và các huyện thị, xã, phường, thị trấn từ năm 2007;
        - Nghị quyết về phân cấp nhiệm vụ chi đầu tư XDCB giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách huyện,
thị, xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đến 2010;
        - Nghị quyết về thông qua các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển
bằng nguồn ngân sách Nhà nước áp dụng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2007 -2010;
        - Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ giải pháp chủ yếu phát triển KT -XH vùng Hồng Ngự đến
năm 2010;
        - Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ giải pháp chủ yếu phát triển KT-XH vùng Sa Đéc đến
năm 2010;
        - Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ giải pháp chủ yếu phát triển KT-XH vùng Cao Lãnh đến
năm 2010;
        - Nghị quyết về thông qua nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Thị xã Sa Đéc giai đoạn
2007 – 2025;
      * Các nghị quyết về lĩnh vực văn hoá - xã hội có:
      - Nghị quyết về việc điều chỉnh bổ sung những chỉ tiêu nhiệm vụ và giải pháp thực hiện chiến lược
dân số giai đoạn 2006 -2010;
       - Nghị quyết về Chương trình hành động vì trẻ em giai đọan 2006 -2010;
       - Nghị quyết về kế hoạch hành động Vì sự tiến bộ của Phụ nữ giai đọan 2006 -2010;
       - Nghị quyết về việc thông qua Đề án nâng cao chất lượng giáo dục tỉnh Đồng Tháp giai đoạn
2006 -2010;
      - Nghị quyết về việc thông qua Đề án nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Tháp giai
đoạn 2006-2010….
      2. Thực hiện tốt công tác thẩm tra các báo cáo, đề án trình tại kỳ họp
      Những nội dung đưa ra trình tại kỳ họp, theo luật định đều được các Ban của HĐND thực hiện
thẩm tra.

       Hoạt động thẩm tra các báo cáo, đề án … trình tại kỳ họp của các Ban HĐND ngày càng được
nâng lên về mặt chất lượng và đảm bảo về nguyên tắc, trình tự hay những quy định của pháp luật; thể
hiện: các báo cáo thẩm tra đã phân tích, bóc tách được vấn đề thiết yếu; làm sáng tỏ những mặt làm
được, chưa làm được cũng như chỉ ra được nguyên nhân, khuyến nghị những vấn đề cần thiết và đề
xuất, kiến nghị những giải pháp khả thi để thực hiện; đồng thời báo cáo cũng thể hiện rõ tính phản biện,
khắc phục được tình trạng thẩm tra chung chung, không thể hiện rõ chính kiến … thực sự là cơ sở và
cung cấp được những thông tin cần thiết, tin cậy, chính xác; giúp đại biểu HĐND nắm bắt được vấn đề
kịp thời, đầy đủ, cân nhắc trươc khi biểu quyết. Tại một số kỳ họp gần đây, những vấn đề các Ban HĐND
tỉnh quan tâm đặt ra, thực sự đã trở thảnh đề tài để các đại biểu thảo luận, chất vấn tại kỳ họp; các kiến
nghị của cáC Ban HĐND tỉnh được các cơ quan chức năng làm rõ trước khi đại biểu biểu quyết về vấn
đề đó.

        3. Thực hiện có hiệu quả công tác chất vấn, trả lời chất vấn
        Qua 8 kỳ họp của HĐND, tổng cộng có 66 vị đại biểu chất vấn với 102 vấn đề đặt ra; bình quân
mỗi kỳ họp có 8 đại biểu thực hiện chất vấn với khoảng 12 đến 13 vấn đề (kỳ họp thứ 2 có 5 đại biểu
chất vấn với 5 nội dung; kỳ họp thứ 3 có 7 đại biểu chất vấn với 7 nội dung; kỳ họp thứ 4 có 10 đại biểu
chất vấn với 25 nội dung; kỳ họp thứ 5 có 10 đại biểu chất vấn với 12 nội dung; kỳ họp thứ 6 có 10 đại
biểu chất vấn với 16 nội dung; kỳ họp thứ 7 có 12 đại biểu chất vấn với 20 nội dung và kỳ họp thứ 8 có
12 đại biểu chất vấn với 17 nội dung).
       Nhìn chung hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND tại mỗi kỳ họp được nâng lên cả về mặt chất
và lượng. các ý kiến chất vấn đã đi đúng trọng tâm, trọng điểm; thể hiện tâm huyết, trách nhiệm của đại
biểu trước nhân dân và đối với nhiệm vụ đại biểu của mình.
      Tại các kỳ họp gần đây, một số đại biểu trẻ, mới lần đầu tham gia HĐND đã rất mạnh dạn thực
hiện quyền đại biểu của mình, thực hiện chất vấn và theo vấn đề, truy vấn nội dung chất vấn để vấn đề
được làm sáng tỏ, tạo xu hướng hình thành một nếp nghĩ mới: sẵn sàng trao đổi, tranh luận những vấn
đề mới, vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau để đi đến một thống nhất với tiếng nói chung.
        Việc trả lời chất vấn tại kỳ họp được UBND và các ngành chức năng thực hiện đúng luật, nghiêm
túc, trả lời đầy đủ bằng văn bản kể cả trực tiếp tại kỳ họp và sau kỳ họp. Những nội dung quan trọng, còn
nhiều ý kiến khác nhau, nhiều dại biểu và cử tri quan tâm đều được Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu làm rõ
thêm.
      4. Thực hiện tốt công tác tiếp xúc cử tri trước, sau mỗi kỳ họp và giám sát việc thực hiện
các kiến nghị của cử tri.
       Nhiệm kỳ này hoạt động tiếp xúc cử tri được quan tâm, đẩy mạnh và đảm bảo thực hiện đúng luật
định: tiếp xúc trước và sau mỗi kỳ họp. Trong hoạt động tiếp xúc cử tri có những cải tiến như: trước kỳ
họp tiếp xúc cử tri ở đâu, sau kỳ họp đại biểu phải trở về đó báo cáo lại kết quả kỳ họp; báo cáo ngắn
gọn xúc tích, giành nhiều thời gian cho cử tri phát biểu; những ý kiến đóng góp của cử tri được tiếp thu
đầy đủ và giải trình trả lời làm rõ ngay tại buổi tiếp xúc (nếu được), còn không thì tiếp thu phản ảnh kịp
thời đến các cơ quan chức năng trả lời và thông tin lại cho cử tri biết kết quả; chú ý làm tốt công tác
tuyên truyền giải thích pháp luật để cử tri thông hiểu chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước …
nên các buổi tiếp xúc không gây nhàm chán nặng nề, thu hút được sự chú ý của cử tri và cũng lắng
nghe, thu thập được nhiều ý kiến đóng góp của cử tri hơn .
      Những kiến nghị của cử tri đã kiến nghị nhiều lần, các cơ quan chức năng đã cam kết thực hiện..
nếu chưa thực hiện đều được đại biểu HĐND tái giám sát, đôn đốc, nhắc nhở, tiếp tục kiến nghị thực
hiện.
      5. Chủ động trong công tác chuẩn bị và phục vụ kỳ họp
      - Để chủ động; Thường trực HĐND và các Ban của HĐND nắm chắc nhiệm vụ trọng tâm, bám sát
nội dung Nghị quyết của HĐND; chương trình của kỳ họp … xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động
năm, tháng vụ phù hợp để thực hiện nhiệm vụ và chuẩn bị nội dung cho các kỳ họp theo yêu cầu.
      - Phối hợp với các đơn vị có liên quan chuẩn bị và tổ chức kỳ họp: họp liên tịch thống nhất nội
dung, chương trình kỳ họp, kế hoạch tiếp xúc cử tri; phân công các đơn vị chuẩn bị các nội dung của kỳ
họp theo thẩm quyền.
      - Ngay sau kỳ họp kết thúc, tiến hành họp rút kinh nghiệm, nhanh chóng hoàn chỉnh các văn bản,
nghị quyết ban hành, tạo cơ sở pháp lý và đáp ứng kịp thời yêu cầu triển khai thực hiện nhiệm vụ, nhất là
giao kế haọch nhiệm vụ năm, phân bổ ngân sách, phân bổ vốn đầu tư XDCB.
      - Các phiên họp quan trọng của HĐND như khai mạc, bế mạc, chất vấn, trả lời chất vấn, trả lời các
kiến nghị của cử tri đều được truyền hình trực tiếp để đông đảo đồng bào và cử tri trong tỉnh theo dõi.
       Nhìn chung, chất lượng của các kỳ họp HĐND tỉnh gần đây nhận thấy có sự thay đổi rõ rệt, nhất
là chất lượng ngày càng được nâng lên; Các vấn đề đưa vào chương trình trình tại kỳ họp bàn bạc quyết
định là những vấn đề quan trọng, bức xúc, có tính chất quyết định đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương; liên quan và gắn liền với cuộc sống của người dân. Đảm bảo những nội dung trình tại
kỳ họp đúng thẩm quyền và thực hiện đúng quy trình quy định.
      - Các Nghị quyết được ban hành đảm bảo phù hợp với Hiến pháp, Luật và các văn bản quy định
của cơ quan Nhà nước cấp trên; đúng chủ trương và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương. Đa số Nghị quyeát được ban hành sát thực tiễn cuộc sống; có tính khả thi cao, nhanh chóng đi
vào đời sống xã hội; được đông đảo nhân dân và cử tri trong tỉnh đồng tình ủng hộ.
      Những Nghị quyết về nhiệm vụ năm, Nghị quyết về lĩnh vực ngân sách được xây dựng cụ th ể với
những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp rõ ràng, có những biện pháp chế tài hữu hiệu để đảm bảo thực
hiện nghiêm và có hiệu quả. Nghị quyết chuyên đề được xây dựng chuyên sâu, nhằm đạt mục đích là có
những giải pháp cụ thể khắc phục có hiệu quả những hạn chế cũng như phát huy được tiềm năng, lợi
thế, mặt mạnh của từng lĩnh vực một cách phù hợp.
       - Không khí kỳ họp dân chủ, cởi mở, thẳng thắn và có trách nhiệm; sau kỳ họp thực hiện tốt công
tác giám sát việc triển khai thực hiện các Nghị quyết, thực hiện tiếp xúc cử tri báo cáo lại kết quả kỳ họp.


        Thứ hai; thực hiện được chức năng giám sát theo luật định
      Cùng với việc quyết định các chủ trương và biện pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội ở
địa phương, họat động giám sát cũng được TT/HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND đảm bảo
thực hiện theo luật định.
      1. Bằng nhiều hình thức giám sát phù hợp (giám sát trực tiếp, qua các văn bản báo cáo tại kỳ
họp, chất vấn, trả lời chất vấn, tiếp xúc cử tri …) và trên cơ sở Nghị quyết về Chương trình giám sát hàng
năm của HĐND thông qua; TT/HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND đang từng bước thực hiện
chức năng giám sát đầy đủ các lĩnh vực, nội dung theo luật định;
       Các hoạt động giám sát được thực hiện thường xuyên: trước trong và sau kỳ họp. kế hoạch g iám
sát được xây dựng cụ thể, sát thực tế, phù hợp từng vấn đề; chú trọng nội dung giám sát thực sự cần
thiết và bức xúc, đảm bảo giám sát đúng trọng tâm. trọng điểm, không giám sát tràn lan gây khó cho cơ
sở.
        Trong các kỳ họp gần đây, hoạt động giám sát của HĐND tỉnh và một số huyện, thị xã, có điểm
mới là được thực hiện gắn kết chặt chẽ giữa hai hình thức: khảo sát và giám sát, nhằm tạo sự hỗ trợ, tác
động nhau trong việc nâng cao hoạt động và chất lượng công tác giám sát; tiến hành thực hiện khảo sát,
nắm thông tin trước từ cơ sở liên quan đến nội dung cần giám sát…, sau đó mới làm việc với cơ quan
chịu trách nhiệm cao nhất về lĩnh vực được giám sát để trao đổi, làm rõ thêm một số vấn đề, kiến nghị
những nội dung cần thiết và yêu cầu các cơ quan chức năng trả lời. làm rõ. Hình thức giám sát này đem
lại hiệu quả cao.
      2. Thực hiện giám sát đầy đủ các nội dung các cơ quan chức năng đưa ra trình và báo cáo tại
kỳ họp theo chức năng luật định, góp phần vào việc thông qua, ban hành 89 nghị quyết các loại từ đ ầu
nhiệm kỳ đến nay.
       - Bên cạnh việc thực hiện giám sát các báo cáo, đề án dự thảo Nghị quyết trình tại các kỳ họp theo
luật định. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay (đến kỳ họp thứ 8 - vào tháng 6/2007); Thường trực và các Ban
HĐND tỉnh đã tổ chức được 34 lượt đoàn đi giám sát và trên 20 đợt khảo sát tại cơ sở để nắm tình hình
liên quan đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực thi pháp luật ở địa phương. Những nội dung giám
sát đã được thực hiện sau:
      *Đối với lĩnh vực kinh tế- ngân sách:
     + Tình hình thực hiện Nghị quyết 23/2001/NQ.HĐND.K6 của HĐND tỉnh về kế hoạch sử dụng đất
năm 2001 và quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010; các đề án, dự án, chính sách khuyến khích đầu tư
của ngành nông nghiệp về giống cây, con, giải pháp áp dụng công nghệ vào sản xuất, chế biến; kiến cố
hoá kênh mương; hiệu quả của các đề án dự án này.
      + Về thực hiện danh mục các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng được sử dụng quỹ đất để tạo
vốn trên địa bàn Tỉnh; kết quả thực hiện chỉ tiêu về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn;
      + Tình hình thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp; chương trình khuyến công, tình hình tổ chức
quy hoạch các cụm CN-TTCN;
      + Tình hình xây dựng và hiệu quả công tác đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; xây
dựng cơ sở hạ tầng cụm, tuyến dân cư trên địa bàn. Kết quả triển khai thi công tác công trình trọng điểm
từ nguồn vốn tập trung của ngân sách từ năm 2001-2005
      + Tình hình triển khai thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, việc đầu tư sử dụng kinh phí cho
công tác nghiên cứu, ứng dụng; việc ứng dụng các tiến bộ khoa họac kỹ thuật; hiệu quả từ các đề tài
nghiên cứu khoa học. Việc thực hiện các chương trình dự án về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn.
       + Tình hình phát triển chợ trên địa bàn ( mô hình chợ dân lập, đầu mối trái cây, chợ nông sản…);
xúc tiến thương mại và khuyến khích đầu tư;
       + Tình hình thực hiện Luật Ngân sách, kinh nghiệm và giải pháp điều hành ngân sách; việc thực
hiện phân cấp quản lý về ngân sách; phân cấp và quản lý vốn đầu tư XDCB; tình hình và giải ph áp huy
động các nguồn vốn ODA, FDI, vốn ngòai tỉnh; phân bổ vốn đầu tư XDCB; tình hình thanh quyết toán
(vốn, công trình); việc thực hiện chỉ tiêu thu, chi ngân sách; tình hình thực hiện thu các loại phí trên địa
bàn.
      * Đối với lĩnh vực Văn hóa – Xã hội:
      - Việc thực hiện NQ của HĐND tỉnh về Đề án nâng cao chất lượng giáo dục tỉnh Đồng Tháp giai
đoạn 2006-2010; về chỉ tiêu xây dựng Trạm y tế đạt chuẩn quốc gia;
      + Chất lượng phổ cập giáo dục trung học cơ sở, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên; kiên có hóa trường,
lớp học.
      + Việc thu và sử dụng các học phí, các lọai quỹ (xây dựng trường học, lao động công ích, đền ơn
đáp nghĩa);
      + Chính sách lao động, việc làm, dạy nghề, tạo nguồn nhân lực, phát triển ngành nghề truyền
thống; công tác xóa đói giảm nghèo; việc xét bố trí dân vào cụm tuyến dân cư tránh ngập lụt, việc làm và
cuộc sống của người dân sống trên các cụm tuyến dân cư .
      + Tình hình triển khai thực hiện các chương trình quốc gia có liên quan (135, 173) đến VH – XH
thực hiện trên địa bàn tỉnh.
      + Việc thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, giải pháp ngăn chặn các dịch bệnh nguy
hiểm; việc thực hiện một số chương trình y tế quốc gia, viện phí, bảo hiểm y tế; việc thực hiện củng cố
nâng cao y đức, tinh thần, thái độ phục vụ của đội ngũ thầy thuốc.
      + Tình hình xây dựng đời sống văn hóa và việc thực hiện QC dân chủ cơ sở;
      + Tình hình thi hành Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em; tình hình thực hiện NQ của HĐND về
Chương trình hành động vì trẻ em, chiến lược dân số tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2001-2010 và Kế hoạch
hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2005 - 2010; tình hình phụ nữ Đồng Tháp lấy chồng nước
ngòai….
      Ngòai ra, còn thực hiện giám sát một số chuyên đề như:
      + Việc thực hiện công tác xã hội hóa các lĩnh vực: giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, đào
tạo nghề, giải quyết việc làm.

      + Kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết số 56/2003/NQ.HĐND.K7 ngày 04/01/2003 của HĐND tỉnh
về đề án kiên cố hóa trường, lớp học vựợt lũ tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2003-2005.

      * Đối với lĩnh vực pháp chế giám sát về:
      + Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND các cấp; trong đó chú trọng đi
sâu vào giám sát việc xử lý một số án tồn đọng kéo dài trong lĩnh vực thi hành án dân sự có liên quan
đến tranh chấp đất đai .
      + Tình hình triển khai thực hiện thẩm quyền của các cơ quan tố tụng huyện, thị xã theo quy định
mới của Bộ luật tố tụng hình sự.
      + Hoạt động của các cơ quan tư pháp trong lĩnh vực điều tra; tạm giữ, tạm giam; truy tố, xét xử, thi
hành án.
     + Về công tác cải cách hành chánh; việc thực hiện NQ 49-NQ/TW của Bộ Chính trị và KH 06-
KH/TH của Ban Thường vụ TU về chiến lược cải cách tư pháp; việc thực hiện Nghị quyết 388 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội; việc thực hiện nhiệm vụ của các ngành Tòa án, Viện Kiểm sát tỉnh…
      + Tình hình triển khai thực hiện công tác tuyên truyền, học tập, giáo dục pháp luật trong nhân dân,
hiệu quả hoạt động của tủ sách pháp luật.
      Giám sát một số chuyên đề như: tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, tập trung những
vụ việc có tính chất phức tạp, kéo dài nhiều năm chưa được giải quyết; tình hình tổ chức thực hiện
những kiến nghị của cử tri và trả lời chất vấn của đại biểu.
      - Trong những đợt giám sát trên các đoàn giám sát đã có 40 kiến nghị yêu cầu các cơ quan liên
quan xem xét giải quyết khắc phục. Nhìn chung số kiến nghị của các đoàn giám sát được các cơ quan
chức năng thực hiện khá tốt đạt 100%. Bước đầu theo dõi công tác giải quyết, khắc phục những hạn chế
yếu kém của các cơ quan chức năng sau giám sát
       - Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hoá các chủ trương chính sách,
chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và HĐND tỉnh về cơ bản đảm bảo đúng hình thức, quy trình thực hiện.
Thực hiện thường xuyên công tác rà soát tính pháp lý và tính hiệu lực của văn bản, để kịp thời bãi bỏ, bổ
sung, điều chỉnh.
       Về cơ bản Hội đồng Nhân dân, Thường trực và các Ban HĐND tỉnh Đồng Tháp xác định đúng
đắn tầm quan trọng của công tác giám sát; xem việc tổ chức thực hiện chức năng này là góp phần thực
hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của HĐND đã đề
ra; là đảm bảo cho hoạt động của HĐND thực sự có hiệu lực, hiệu quả, đúng luật định. Căn cứ Nghị
quyết của HĐND; Thường trực HĐND, các Ban HĐND và đại biểu HĐND tỉnh Đồng Tháp trong phạm vi
quyền hạn, nhiệm vụ HĐND tỉnh đã thực hiện được chức năng cơ bản này; được đánh giá là “đúng
hướng, có trọng tâm, trọng điểm và có kế hoạch”.
      III. Một số mặt hạn chế trong hoạt động của HĐND
       - Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn vẫn còn nhiều hạn chế: có những vấn đề chất vấn chưa
đúng tầm; số đại biểu thực hiện chất vấn thường xuyên xoay quanh chỉ mấy vị, còn lại một số đại biểu
hầu như không thực hiện quyền này. Hoạt động thảo luận làm rõ vấn đề đối với một số nội dung quan
trọng chưa sâu, chưa làm bật ra vấn đề cốt lỏi, chưa chỉ ra được những giải pháp có tính đột phá.
       - Một số nghị quyết thông qua chưa đảm bảo tính chặt chẽ, lo gich, cón nghị quyết khung… nên có
khó khăn trong tổ chức thực hiện, giảm tính khả thi của nghị quyết.
       - Công tác giám sát của HĐND tỉnh thực chất chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao
của nhiệm vụ: đôi lúc thực hiện còn hình thức; tâm lý nể nang, né tránh, ngại va chạm trong giám sát dẫn
đến có những vấn đề giám sát chưa chỉ đúng căn nguyên; kiến nghị còn thiếu tính thuyết phục. Nhận
thức về hoạt động giám sát của một số ít đại biểu và một số Cơ quan được giám sát chưa đầy đủ, chưa
đúng nên công tác chuẩn bị làm việc với đoàn giám sát có lúc thiếu nghiêm túc, chưa đạt yêu cầu.
       - Thông tin cho lĩnh vực giám sát, cho hoạt động chất vấn, thảo luận, tiếp xúc cử tri…đến với các
đại biểu còn hạn chế; bên cạnh đó một số đại biểu giành thời gian cho nhiệm vụ đại biểu còn hạn chế./.

						
Other docs by NiceTime
Finding Balance and Relaxation In Arizona
Views: 1  |  Downloads: 0
Health_And_Beauty_-_Celebrities_And_Perfumes
Views: 5  |  Downloads: 0
Making a Great Teacher Website
Views: 20  |  Downloads: 0
Security07 Communityof Character Bulletin
Views: 3  |  Downloads: 0
consentdecrees
Views: 3  |  Downloads: 0
iprcr 0909
Views: 14  |  Downloads: 0
THU TUC MIEN THUE XNK
Views: 23  |  Downloads: 0
legal-notice- ROD
Views: 2  |  Downloads: 0
titles
Views: 7  |  Downloads: 0