Giang Sinh2008(gy) by NiceTime

VIEWS: 0 PAGES: 115

									                      LỄ GIÁNG SINH 2008
            Mt 1,1-25; Lc 2,1-14; Lc 2, 15-20; Ga 1,1-18
                           24/25-12-2008

             Lễ Chúa Giáng sinh (Lễ Vọng)
                    NOËL CHIA SẺ
                                            + TGM Giuse Ngô Quang Kiệt
I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA Mt 1, 1-25
Sách gia phả của Chúa Giêsu Kitô, con vua Ðavít, con của
Abraham. Abraham sinh Isaac; Isaac sinh Giacóp; Giacóp
sinh Giuđa; Phares sinh (bởi bà Thamar) và các anh em
người. Giuđa sinh Phares và Zara Esrom; Esrom sinh Aram;
Aram sinh Aminadab; Aminadab sinh Naasson; Naasson
sinh Salmon; Salmon sinh Booz do bà Rahab; Booz sinh
Giobed do bà Rút. Giobed sinh Giêsê; Giêsê sinh vua Ðavít.

Ðavít sinh Salomon do bà vợ của Uria; Salomon sinh Robo-
am; Roboam sinh Abia; Abia sinh Asa; Asa sinh Giosaphát;
Giosaphát sinh Gioram; Gioram sinh Ozia; Ozia sinh
Gioatham; Gioatham sinh Achaz; Achaz sinh Ezekia; Ezekia
sinh Manas-se; Manasse sinh Amos; Amos sinh Giosia;
Giosia sinh Giêconia và các em trong thời lưu đày ở
Babylon.
                                                       1
Sau thời lưu đày ở Babylon, Giêconia sinh Salathiel;
Salathiel sinh Zorababel; Zorababel sinh Abiud; Abiud sinh
Eliakim; Eliakim sinh Azor; Azor sinh Sađoc; Sađoc sinh
Akim; Akim sinh Eliud; Eliud sinh Eleazar; Eleazar sinh
Mathan; Mathan sinh Giacóp; Giacóp sinh Giuse, là bạn của
Maria, mẹ của Chúa Giêsu gọi là Ðức Kitô.

Vậy, từ Abraham đến Ðavít có tất cả mười bốn đời, từ Ðavít
đến cuộc lưu đày ở Babylon có mười bốn đời, và từ cuộc lưu
đày ở Babylon cho đến Chúa Kitô có mười bốn đời.

Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là
Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau,
bà đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse, bạn của
bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, nên định
tâm lìa bỏ bà cách kín đáo. Nhưng đang khi định tâm như
vậy, thì thiên thần hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo:

"Hỡi Giuse con vua Ðavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm
bạn mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần;
bà sẽ hạ sinh một con trai mà ông đặt tên là Giêsu, vì chính
Người sẽ cứu dân mình khỏi tội". Tất cả sự kiện này đã
được thực hiện để làm trọn lời Chúa dùng miệng tiên tri
phán xưa rằng: "Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh
một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa
là Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-ta".

Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời thiên thần Chúa
truyền. Ông tiếp nhận bạn mình, nhưng không ăn ở với
nhau, cho đến khi Maria sinh con trai đầu lòng, thì Giuse đặt
tên con trẻ là Giêsu.

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

                                                           2
Mỗi dịp Noel, tôi thừơng đứng trước máng cỏ, nhìn ngắm
Đức Giê su bé thơ và hỏi xem Người muốn nhắn gửi điều gì
nhân ngày lễ Giáng sinh trong tình hình xã hội hiện tại. Năm
nay, khi nhìn ngắm Người rét run giữa mùa đông lạnh giá,
tôi chợt thấy tái hiện cảnh những đồng bào nạn nhân bão lụt
trong năm qua. Và tôi nghe tiếng Người mời gọi “ CHIA SẺ”

Chia sẻ không phải là bố thí, cũng không phải là ban ơn. Bố
thí và ban ơn là đứng từ trên cao ban xuống và chỉ cho
những gì dư thừa. Chia sẻ là đứng ngang hàng và cho đi
những gì chính bản thân cần thiết. Hiểu như thế, Đức Giê su
chính là mẫu gương chia sẻ. Đức Giê su là Thiên Chúa,
Người có thể ngự trên trời, dùng quyền năng mà cứu độ
nhân loại. Nhưng vì muốn chia sẻ với nhân loại, nên Người
đã xuống thế làm người để ở với nhân loại. Sự chia sẻ của
Người đạt đến tột đỉnh vì Người không chỉ chia sẻ một phần
nhưng đã tặng ban tất cả bản thân cho nhân loại. Vì muốn
chia sẻ, Người đã tự huỷ mình khỏi thân phận Thiên Chúa.
Vì muốn chia sẻ, Người đã không ngần ngại chọn xuống
chỗ bé nhỏ rốt cùng của thân phận con người. Vì muốn chia
sẻ, nên Người đã tự nguyện nếm cảm hết những đau khổ
mà con người có thể gặp. Ta đau khổ vì cảnh nghèo ư ?
Chính Người cùng chia sẻ với ta cảnh khó nghèo, đói khát,
lạnh lẽo. Ta đã chịu nhiều đau khổ ư ? Chính Người chia sẻ
với ta trong những thất bại, bị phản bội, bị hành hạ và chết
cô đơn nhục nhã. Người chia sẻ với mọi người dù ở những
hoàn cảnh khốn cùng, khắc nghiệt nhất của cuộc sống.

Nằm trong hang đá nghèo hèn, với bầy chiên bò, giữa đêm
đông giá rét, Đức Giê su trở nên một lời mời gọi chia sẻ.
Giờ đây, Người chỉ là một em bé sơ sinh yếu ớt cần đến sự
giúp đỡ của ta. Đêm đông lạnh lẽo, Người cần cả đến hơi
thở của con bò để sưởi ấm tấm thân. Khi trốn sang Ai cập,

                                                          3
Người cần nhờ con lừa chở đi. Khi còn thơ bé, Người cần
bàn tay săn sóc nâng niu của Đức Mẹ và thánh Giu se. Khi
đi rao giảng, Người cần có bạn bè giúp đỡ. Khi cầu nguyện
trong vườn Cây Dầu, Người bộc bạch nỗi buồn mong được
các môn đệ an ủi. Khi vác thánh giá, Người yếu nhược phải
nhờ đến ông Simon giúp sức. Người hoá thân làm một con
người yếu ớt nhất, túng thiếu nhất, khốn cùng nhất, đau khổ
nhất, để mời gọi ta biết mở rộng tâm hồn chia sẻ. Người sẵn
sàng đón nhận sự giúp đỡ, dù rất bé nhỏ, kể cả của súc vật,
để mời gọi ta quảng đại.

Hôm nay, lời mời gọi chia sẻ ấy vẫn vang lên rất thiết tha,
rất khẩn cấp. Đức Giê su vẫn đang lên tiếng kêu cứu qua
những trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, không những
không được chăm sóc, không có cơ hội đến trường, mà còn
bị hất hủi, bị lạm dụng, bị xâm hại. Đức Giê su vẫn đang âm
thầm nhẫn nhục trong số phận hẩm hiu của những người bị
quên lãng. Đức Giê su vẫn đang oằn vai gánh nặng trong
kiếp lầm than của những người nghèo nàn, vất vả vật lộn
với cuộc sống. Đức Giê su vẫn đang quằn quại trong những
tấm thân gầy mòn bị cơn bệnh nan y gặm nhấm. Đức Giê su
vẫn đang tức tưởi trong những người thất bại, không tìm
thấy tia sáng hy vọng cho tương lai.

Trong năm nay, nhiều thiên tai trên thế giới đang làm xuất
hiện những khuôn mặt mới của Đức Giê su với những lời
kêu cứu khẩn cấp. Đây Đức Giê su bé thơ với khuôn mặt tái
xanh vì đói vì lạnh. Kia Đức Giê su bị đóng đinh vào mái nhà
chết chìm dưới dòng nước lũ. Đó Đức Giê su hốt hoảng
nhìn những người thân yêu bị dòng nước oan nghiệt cuốn
đi. Tất cả là một hang đá Bê lem, trong đó Đức Giê su đang
cất lời mời gọi chia sẻ.


                                                          4
Hãy mở rộng tâm hồn để chia sẻ, Vì khi mở rộng tâm hồn
chia sẻ, ta đón nhận ơn Chúa. Chính khi mở rộng tâm hồn
để chia sẻ, ta đáp lại lời mời gọi của Đức Giê su bé thơ
trong hang đá Bê lem.

Lạy Chúa Giêsu bé thơ, xin dạy con biết sống trọn vẹn mầu
nhiệm giáng sinh bằng mở lòng ra chia sẻ với mọi người.

                                      + TGM Giuse Ngô Quang Kiệt




                      Thánh Lễ Đêm
 HÃY CỨU LẤY GIA ĐÌNH HÃY CỨU LẤY TRẺ THƠ
                                      + TGM Giuse Ngô Quang Kiệt


I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA Lc 2, 1-14
Ngày ấy, có lệnh của hoàng đế Cêsarê Augustô ban ra,
truyền cho khắp nơi phải làm sổ kiểm tra. Ðây là cuộc kiểm
tra đầu tiên, thực hiện thời Quirinô làm thủ hiến xứ Syria.
Mọi người đều lên đường trở về quê quán mình. Giuse cũng
rời thị trấn Nadarét, trong xứ Galilêa, trở về quê quán của
Ðavít, gọi là Bêlem, vì Giuse thuộc hoàng gia và là tôn thất
dòng Ðavít, để khai kiểm tra cùng với Maria, bạn người,
đang có thai.

Sự việc xảy ra trong lúc ông bà đang ở đó, là Maria đã tới
ngày mãn nguyệt khai hoa, và bà đã hạ sinh con trai đầu
lòng. Bà bọc con trẻ trong khăn vải và đặt nằm trong máng
cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong hàng quán.

                                                              5
Bấy giờ trong miền đó có những mục tử đang ở ngoài đồng
và thức đêm để canh giữ đoàn vật mình. Bỗng có thiên thần
Chúa hiện ra đứng gần bên họ, và ánh quang của Thiên
Chúa bao toả chung quanh họ, khiến họ hết sức kinh sợ.
Nhưng thiên thần Chúa đã bảo họ rằng: "Các ngươi đừng
sợ, đây ta mang đến cho các ngươi một tin mừng đặc biệt,
đó cũng là tin mừng cho cả toàn dân: Hôm nay Chúa Kitô,
Ðấng Cứu Thế, đã giáng sinh cho các ngươi trong thành của
Ðavít. Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Người:
Các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải
và đặt nằm trong máng.

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
Nhìn vào hang đá ai cũng phải chạnh lòng. Một trẻ thơ mới
sinh ra đời đã phải vất vả lầm than. Không có nhà cửa
giường chiếu đã đành. Lại còn phải ở chung với súc vật. Đối
với một con người bình thường như thế đã là khốn khổ quá
mức. Đối với Thiên chúa làm người thì lại càng không thể
chấp nhận được.

Chịu cảnh lầm than khốn khổ trước sự vô tình của đồng loại
chưa đủ, Chúa Giêsu bé thơ còn phải chịu cảnh khốn khổ vì
sự độc ác của bạo vương Hêrôđê. Hêrôđê nghe tin có Đấng
Cứu Thế ra đời, sợ mất chức quyền nên đã cho quân đội
truy tìm để tiêu diệt. Thánh Giuse và Đức Mẹ Maria đã phải
bồng bế Hài nhi Giê su còn non nớt chạy trốn sang Ai cập.

Tuy khung cảnh hang đá có thô sơ đạm bạc, nhưng nhìn
vào vẫn thấy ấm cúng. Một bầu không khí thương yêu toả ra
bao trùm cảnh tối tăm nghèo khổ hôi hám. Ánh mắt thánh
Giuse, ánh mắt Đức Mẹ, ánh mắt Chúa Giêsu bừng lên tình
thương yêu, sự quên mình, sự quan tâm. Đó là bầu khí gia

                                                         6
đình yên vui đầm ấm. Hạnh phúc vẫn dâng đầy dù trong
cảnh khó khăn túng thiếu.

Ta không thể mường tượng được cuộc đời trần thế của Đức
Giê su sẽ ra sao nếu không có gia đình. Chính gia đình tốt
đẹp đã đưa hài nhi Giêsu vượt qua mọi khó khăn gian khổ.
Chính gia đình vui tươi đầm ấm đã giúp hài nhi Giêsu triển
nở nên người, hoàn thành sứ mạng cứu nhân độ thế.

Gia đình là chiếc nôi êm ái nhất nâng niu giấc ngủ trẻ thơ.
Gia đình là lương thực bổ dưỡng nhất giúp phát triển trẻ
thơ. Gia đình là thành trì vững chắc nhất để bảo vệ trẻ thơ.

Nhìn ngắm Chúa Giêsu sơ sinh trong máng cỏ nghèo hèn,
ta không thể không nghĩ tới biết bao trẻ thơ sinh ra hôm nay
đang phải chịu cảnh đói nghèo thiếu thốn. Không chỉ là thiếu
thốn vật chất mà còn thiếu thốn tình thương. Không chỉ thiếu
thốn nhà cửa mà còn thiếu một mái gia đình. Không chỉ bị
giá lạnh của thời tiết mà còn bị giá lạnh vì thiếu vòng tay ôm
ấp vỗ về.

Không có cảnh nghèo nào khốn cùng hơn cảnh trẻ thơ thiếu
tình thương. Không có mái nhà nào rách nát hơn mái gia
đình tan vỡ. Không có mùa đông nào giá lạnh hơn mùa
đông của trái tim.

Muốn cứu lấy trẻ thơ phải cứu lấy gia đình. Gia đình là
tương lai của trẻ thơ. Gia đình là tương lai của thế giới.

Nhìn cảnh bạo vương Hêrôđê săn đuổi Chúa Giêsu bé thơ,
ta không khỏi nghĩ đến biết bao trẻ thơ hôm nay cũng đang
bị săn đuổi. Những bạo vương thời đại mới chỉ vì tiền bạc
lợi nhuận mà giết chết biết bao đời trẻ thơ. Vì tư lợi các bạo

                                                            7
vương thời mới không ngần ngại phát tán nọc độc chết chóc
trong các sách báo, phim ảnh xấu. Vì lợi nhuận những
Hêrôđê thời mới đã giết biết bao đời trẻ thơ trong nạn
nghiện ngập xì ke ma tuý. Để phục vụ quyền lợi của cá
nhân, các bạo vương thời mới không ngần ngại khai thác trẻ
thơ trong lãnh vực kinh doanh.

Hãy cứu lấy trẻ thơ khỏi tay các bạo vương thời mới. Trẻ
thơ là tương lai của chúng ta. Hãy cứu lấy tương lai chúng
ta.

Chúa Giêsu vẫn tươi cười trong hang đá lạnh lẽo tối tăm hôi
hám vì bên cạnh Người còn có một gia đình yên vui đầm
ấm, có tình yêu thương của Đức Mẹ Maria, của thánh
Giuse.

Yêu thương trẻ thơ, trân trọng tương lai của Giáo hội, của
thế giới, ta hãy cầu nguyện cho các gia đình, đặc biệt trong
năm nay, năm mà Giáo phận đã dành để cầu nguyện, học
hỏi và canh tân gia đình công giáo.

Xin Chúa Giêsu bé thơ thương đến các trẻ em hôm nay,
ban cho các em được sự quan tâm chăm sóc của mọi
người. Xin Người gìn giữ các gia đình được yên vui đầm ấm
để tương lai trẻ thơ được tươi sáng. Amen.


                                      + TGM Giuse Ngô Quang Kiệt


                   LỄ GIÁNG SINH
                                            Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái


I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

                                                               8
Sau mấy tuần chuẩn bị, đêm nay chúng ta cử hành lễ mừng
Chúa giáng sinh. Một đứa trẻ yếu ớt sinh ra trong máng cỏ,
trong hang súc vật. Nhưng đứa trẻ ấy chính là Chúa Cứu
Thế. Là một vị Thiên Chúa, Ngài đã nhập thể làm người để
cứu độ chúng ta. Đó là một hồng ân to lớn. Chúng ta hãy
cảm tạ Thiên Chúa.

Nhưng chúng ta cũng hãy ý thức rằng, việc Chúa Cứu Thế
sinh ra tại hang đá Bêlem sẽ chẳng ích lợi gì cho chúng ta
nếu như Ngài không sinh ra trong chính tâm hồn chúng ta.
Vậy chúng ta cũng hãy mở rộng cửa lòng để cho Ngài đến
và cư ngụ với chúng ta.

II. GỢI Ý SÁM HỐI
    - Trong Mùa Vọng, chúng ta chỉ lo chuẩn bị bề ngoài
      mà chưa chuẩn bị tâm hồn cho đủ để xứng đáng đón
      rước Chúa.
    - Chúa Cứu Thế đã mang lấy thân phận của một người
      nghèo. Vậy mà từ trước tới nay chúng ta thường coi
      khinh những người nghèo.
    - Chúa Cứu Thế là ánh sáng của sự lành và sự thiện.
      Vậy mà từ trước tới nay nhiều lần chúng ta trốn lánh
      ánh sáng để ngụp lặn trong bóng tối của tội lỗi.

III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Is 9,2-7) :
Bối cảnh lịch sử : Dân Israel đang sống một thời kỳ hãi
hùng : quân đội Assyria đã càn quét đất nước, đâu đâu cũng
toàn cảnh điêu tàn đổ nát ; dân chúng rên siết dưới ách
thống trị bạo tàn của ngoại bang : "Dân tộc bước đi trong u
tối". Nhưng giữa bóng tối hãi hùng đó, Isaia tiên báo một
thời tươi sáng. Vì tin chắc tương lai tươi sáng ấy sẽ tới, nên
tuy nói về tương lai nhưng Isaia đặt những động từ ở thì

                                                            9
quá khứ, kể như sự việc đã xảy đến rồi : "Sự sáng đã bừng
lên trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết… Cái ách
nặng nề trên người nó, cái gông nằm trên vai nó, cái vương
trượng quyền của kẻ áp bức, Chúa đã nghiền nát ra… Bởi
lẽ một hài nhi đã sinh ra cho chúng tôi và một người con đã
được ban tặng cho chúng tôi".

Lời tiên tri của Isaia đã được ứng nghiệm khi Israel thoát
khỏi ách thống trị của Assyria. Nhưng lời tiên tri này còn
mang một chiều kích phổ quát hơn nhiều : sự cứu thoát ấy
chỉ sẽ được thực hiện trọn vẹn nơi Đấng Messia.


2. Đáp ca (Tv 95) :
Tv 95 này là một bài ca diễn tả niềm hân hoan trào tràn đến
tột độ : Con người bày tỏ niềm hân hoan bằng hát ca, nhảy
múa. Con người còn kêu mời cả trái đất, biển khơi và các
tầng trời chia sẻ niềm hân hoan của mình. Lý do của sự vui
mừng to lớn ấy là vì Thiên Chúa đã đến.

3. Bài đọc II (Tt 2,11-15) :
Trong một đoạn thư rất ngắn chỉ có 5 câu, Thánh Phaolô
vạch cho Titô thấy cả một "lịch sử cứu độ" rất dài gồm 3 giai
đoạn :
- Giai đoạn khởi đầu là tình thương bao la của Thiên Chúa :
Ngài đã ban Đức Giêsu cho loài người. Đức Giêsu chính là
"ân sủng" của Thiên Chúa.
- Giai đoạn sẽ đến là lúc Đức Giêsu lại xuất hiện trong vinh
quang trong ngày Ngài trở lại. Khi ấy Đức Giêsu là "vinh
quang" của Thiên Chúa.
- Giữa hai giai đoạn ấy là cuộc sống của người tín hữu : để
đáp lại "ân sủng" của Thiên Chúa lúc khởi đầu, và để xứng
đáng chia phần "vinh quang" trong ngày sau hết, tín hữu

                                                          10
phải : "từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết
độ, công minh và đạo đức".

4. Tin Mừng (Lc 2,1-14) :
Giây phút quan trọng mà loài người mong chờ mấy ngàn
năm đã điểm : Đấng Cứu Thế đã sinh ra. Điều đặc biệt là
Ngài sinh ra một cách rất âm thầm, khiêm tốn và nghèo
nàn : Bêlem nhỏ bé, máng cỏ, hang súc vật…
Dù vậy cả đạo binh thiên quốc hát mừng. Các ngài nói rằng
đó là một tin mừng đặc biệt.
Và Tin Mừng đặc biệt này được gởi đến trước tiên cho
những người chăn chiên nghèo khổ.

IV. GỢI Ý GIẢNG
1. Ánh sáng bừng lên trong đêm tối
Tại sao Thánh Lễ chính của Lễ Giáng sinh được cử hành
ban đêm ? Phải chăng vì đó là thời gian thuận tiện cho giáo
dân dự lễ ? Phải chăng vì bầu khí ban đêm làm cho cuộc lễ
thêm phần huyền diệu và thánh thiện (như lời ca "đêm thánh
vô cùng") ? Phải chăng để cho đúng với sự kiện lịch sử
ngày xưa Chúa Giêsu sinh ra ban đêm ?

Các lý do trên đều có phần đúng. Nhưng lý do căn bản nhất
là : Chúa Giêsu là ánh sáng, Ngài sinh xuống trần gian như
Ánh sáng bừng lên trong đêm tối.

Đêm tối tượng trưng cho tội lỗi, bất hạnh, buồn sầu ; Ánh
sáng tượng trưng cho ân sủng, hạnh phúc, mừng vui. Khi
sinh xuống trần gian, Chúa Giêsu mang lấy trên mình tất cả
tăm tối của loài người với bao tội lỗi, bất hạnh và buồn sầu,
nhưng để ban lại cho loài người ánh sáng của Thiên Chúa
bao gồm mọi ân sủng, hạnh phúc và mừng vui.


                                                           11
Thực ra, những sử gia còn chưa xác định được Chúa Giêsu
sinh ra vào ngày nào tháng nào. Nhưng Giáo Hội đã chọn
ngày 25 tháng 12 để cử hành Lễ sinh nhật của Ngài vì hai lý
do : a/ Đây là ngày mà mặt trời chiếu sáng nhất và là ngày
dài nhất trong năm ; b/ xưa kia ngày này là lễ mừng Thần
Mặt trời của người rôma ngoại giáo. Giáo Hội muốn chúng
ta hiểu rằng Chúa Giêsu chính là Mặt Trời đích thực đánh
tan tối tăm của tội lỗi và sự gian tà.

2. Lễ của người giàu hay của người nghèo ?
Trong dịp Lễ Giáng sinh, người ta chi tiêu rất nhiều : trang
hoàng, tiệc mừng, thiệp chúc, quà tặng… Xem ra đây là lễ
của người giàu.

Nhưng Đấng mà người ta mừng sinh nhật thì rất nghèo : cỏ
rơm, hang súc vật, tả lót sơ sài… Những khách mời ưu tiên
cũng là những người chăn chiên nghèo… Dấu chỉ mà thiên
thần cho những người chăn chiên ấy dựa vào để nhận ra
Chúa cũng là dấu hiệu nghèo : "Và đây là dấu hiệu để các
ngươi nhận biết Ngài : các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới
sinh bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ". Vậy đây
phải là lễ của người nghèo mới đúng.

Để cho Lễ Giáng sinh có ý nghĩa nghèo, người ta tổ chức
thăm viếng, tặng quà, khám bệnh, phát thuốc cho người
nghèo…Thực ra tất cả những việc ấy chỉ mặc cho lễ Giáng
sinh một chút dáng vẻ nghèo mà thôi. Tinh thần nghèo của
Lễ Giáng sinh và của Đấng giáng sinh phải thấm sâu vào và
thể hiện ra :
- bằng một lập trường sống không thượng tôn tiền bạc như
chúa tể.
- bằng một thái độ đối xử tôn trọng và yêu thương người
nghèo.

                                                         12
- bằng một cách nhìn mới hẳn, thấy chính Chúa trong người
nghèo : "Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Ngài :
các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh bọc trong khăn vải
và đặt nằm trong máng cỏ".

3. Khởi đầu của một cuộc cách mạng
Những cuộc cách mạng thường khởi đầu một cách rất rầm
rộ. Biến cố Chúa Giêsu giáng sinh khởi đầu cho một cuộc
cách mạng vĩ đại nhất trong tất cả các cuộc cách mạng. Tuy
nhiên sự khởi đầu này rất im lìm, nhỏ bé, bình thường : một
đứa trẻ con nhà nghèo, sinh ra trong thiếu thốn, vào thời
điểm âm thầm giữa đêm khuya, tại một nơi hẻo lánh hiu
quạnh.

Nhưng suy cho kỹ thì sẽ thấy khởi đầu như vậy mới đúng
hướng và vững chắc, vì điều mà Thiên Chúa muốn làm
cách mạng thay đổi chính là cách sống ồn ào, vật chất, cao
ngạo, tham lam. Rồi đây, nhà cách mạng Giêsu sẽ tiếp tục
lớn lên trong khiêm hạ, sẽ chiêu mộ những đệ tử khiêm hạ,
rao giảng một Tin Mừng khiêm hạ… Cuộc cách mạng của
Ngài sẽ biến đổi cả thế giới. Cuộc cách mạng của mỗi người
chúng ta cũng phải bắt đầu như thế.

4. Vài mẫu chuyện Giáng sinh
a/ Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta
Một người kia không thể nào tin được việc Ngôi Hai Thiên
Chúa cao sang mà xuống thế mang lấy thân phận con
người hèn hạ. Vì thế, đêm lễ Giáng sinh ông không cùng vợ
con đi nhà thờ dự lễ, mà ở lại nhà.
Sau khi vợ con đã ra đi được một lúc thì trời bắt đầu đổ
tuyết. Ông thầm nghĩ : đêm nay lễ Giáng sinh, ước gì tuyết
rơi trắng hết mọi nơi. Một lúc sau, ông nghe một tiếng sột
soạt, rồi tiếp theo là một tiếng nữa, và nhiều tiếng nữa,

                                                        13
giống như có ai đó ném tuyết vào cửa sổ. Ông mở cửa nhà
bước ra xem. Thì ra là một đàn chim đang lao đao trong
mưa tuyết muốn bay vào cửa sổ nhà ông để tìm chỗ trú.
- "Tội nghiệp những chú chim nhỏ bé. Mình phải tìm cách
giúp chúng mới được". Ông chợt nghĩ đến nhà kho của
mình. Ông mặc áo ấm vào, đi ra cái kho sau nhà, mở cửa
và gọi chúng vào. Nhưng bầy chim vẫn đứng im.
- "Hay là chúng không thấy lối". Ông bật đèn nhà kho lên.
Rồi trở ra gọi chúng. Chúng vẫn đứng im.
- "Lạ thế ! Hay mình đi lùa chúng vào". Thế là ông đi đến
chỗ cửa sổ, đưa tay lùa. Lũ chim chẳng những không bay
theo hướng ông lùa, mà còn bay trốn tán loạn.
Cuối cùng ông mới hiểu ra : "Chúng sợ mình, vì chúng lạ với
mình. Phải chi mình giống như chúng thì khi mình đến gần
chúng sẽ không sợ nữa."
Đúng lúc đó, một lời Tin Mừng từ nhà thờ vọng đến tai ông :
"Ngôi Lời đã trở thành xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta".
Ông quỳ gối xuống và thưa : "Lạy Chúa, bây giờ con đã hiểu
tại sao Chúa giáng sinh làm người như chúng con".

b/ Món quà giáng sinh
Một đôi vợ chồng trẻ, Gim và Đêla, tuy nghèo tiền của
nhưng rất giàu tình thương đối với nhau. Giáng sinh sắp tới,
Đêla tự hỏi phải tặng Gim món quà gì đây. Nàng muốn tặng
chàng sợi dây cho chiếc đồng hồ của chàng. Nhưng nàng
không có đủ tiền để mua. Vì thế nàng nẩy sinh một sáng
kiến : Nàng có bộ tóc dài rất đẹp, nàng rất quý nó và rất
hãnh diện vì nó. Nàng quyết định cắt ngắn bộ tóc và đem
bán để mua cho Gim sợi dây đồng hồ.
Hôm áp lễ giáng sinh, từ phố về, nàng cầm trong tay một
chiếc hộp rất đẹp đựng sợi dây đồng hồ mạ vàng mà nàng
vừa sắm được bằng mái tóc của mình. Bỗng nhiên Đêla
cảm thấy lo lắng. Nàng biết Gim rất quý mái tóc dài của

                                                         14
nàng. Nàng tự hỏi không biết Gim có buồn vì nàng cắt và
bán nó đi hay không. Về tới nhà, Đêla mở cửa và thấy Gim
đang đợi nàng. Tay chàng cầm một cái hộp thật đẹp đựng
món quà chàng mới mua cho nàng. Khi nhìn thấy mái tóc
ngắn của vợ, Gim như muốn khóc, nhưng chàng không nói
gì cả. Cố trấn tỉnh, chàng trao cho nàng chiếc hộp xinh xắn.
Mở hộp ra, Đêla rất đỗi bàng hoàng. Trong hộp là một bộ
lược chải tóc bằng xà cừ rất đẹp. Còn chàng, khi mở món
quà vừa nhận được từ tay vợ, Gim cũng ngỡ ngàng không
kém. Chính lúc đó Đêla mới nhận ra rằng Gim đã bán chiếc
đồng hồ vàng, món đồ quý nhất của anh, để mua lược chải
tóc tặng nàng. Phút chốc cả hai đều hiểu rằng họ đã tặng
nhau những gì quý giá nhất. Họ đã hy sinh tất cả cho nhau.
(Trích "Món quà Giáng sinh" )

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
CT : Anh chị em thân mến
Vì yêu thương nhân loại, Ngôi Hai Thiên Chúa đã từ trời
xuống thế làm người, ở cùng chúng ta và chia sẻ mọi vui
buồn của chúng ta. Với tâm tình cảm tạ tri ân Thiên Chúa là
Tình yêu, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.
   1- Khi giáng sinh làm người / Đức Kitô đã khai mạc một kỷ
   nguyên mới / kỷ nguyên thái bình thịnh vượng mà các
   ngôn sứ loan báo thuở xưa. / Chúng ta hiệp lời cầu xin
   cho Hội Thánh Chúa luôn tươi trẻ / hầu có thể thích nghi
   với mọi thời đại.
   2- Đức Kitô đã mang thân xác yếu hèn của nhân loại khi
   xuống thế làm người / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho người
   mù được thấy / kẻ đau yếu mau lành bệnh / và những tâm
   hồn đau khổ được an vui.
   3- Đức Kitô đã sinh ra trong cảnh nghèo hèn tại hang
   Bêlem. / Chúng ta hiệp lời cầu xin Người an ủi / nâng đỡ
   những ai đói rách bần cùng.

                                                         15
   4- Đức Kitô giáng sinh mang sứ điệp yêu thương và vui
   tươi đến cho nhân loại. / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho
   cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết chia sẻ tình thương và
   niềm vui / với những người nghèo khổ, bất hạnh đang
   sống chung quanh mình.
CT : Lạy Chúa Giêsu là Chúa hòa bình, là Vua tình thương.
Chúa đang ngự giữa chúng con để an ủi, nâng đỡ và khích
lệ chúng con bước theo chân Chúa. Xin cho tình thương hải
hà của Chúa luôn hướng dẫn chúng con trong cuộc hành
trình về quê trời. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

                                                    Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái


                LỄ GIÁNG SINH- LỄ ĐÊM
  Nhập thể, mầu nhiệm của tình yêu thương
             Is 62,1-5 / Tđcv 13,16-17.12-25 / Lc 2,1-14

                                                      Lm. Phạm Minh Tâm


Có lẽ trong năm phụng vụ, không có lễ nào có vẻ nhộn nhịp,
phấn khởi và vui tươi cho bằng lễ Chúa Giáng Sinh. Những
máng cỏ, những đèn sao, những cờ xí, những bài thánh ca,
những nghi lễ... đều như góp phần tạo nên dáng vẻ thơ
mộng, hấp dẫn, vui tươi, trang trọng của cuộc lễ. Nhưng nếu
chỉ dừng lại ở những dáng vẻ và những niềm vui bên ngoài
ấy, thì rồi lễ Chúa Giáng Sinh năm nay cũng sẽ qua đi,
những niềm vui cũng sẽ tắt như mọi cuộc lễ khác mà không
để lại một âm hưởng tốt đẹp nào trong tâm hồn và trong
cuộc đời ta. Như thế, cuộc lễ dù vui đến đâu, dù trang trọng
đến đâu cũng vẫn là một thất bại. Ðiều quan trọng là mỗi
người tìm ra sứ điệp mà Chúa muốn nhắn gởi qua cuộc lễ
long trọng này và sống sứ điệp ấy trong đời mình.

Kính thưa quí ông bà và anh chị em,
                                                                     16
Trung thành với lời hứa cứu độ, khi thời giờ đã mãn, Thiên
Chúa đã sai Con Một Người đến trong trần gian. Những
tưởng Con Thiên Chúa sẽ được sinh ra trong cung điện huy
hoàng với đàn ca hát xướng, với những lời tung hô và chúc
tụng. Nhưng không, Người đã sinh ra trong cảnh nghèo hèn
tột cùng. Ðối với mỗi người chúng ta dù nghèo, dù khổ,
nhưng chúng ta cũng đã được sinh ra trong một mái ấm gia
đình, trong vòng tay của những người thân yêu, của họ
hàng và bạn bè. Còn Con Thiên Chúa thì không. Thánh
Luca đã mô tả việc sinh ra của Con Thiên Chúa như sau:
"Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong
máng cỏ, vì hai ông bà KHÔNG TÌM ÐƯỢC CHỖ TRONG
NHÀ TRỌ" (Lc 2,7). Thế đấy! Con Thiên Chúa không những
sinh ra trong cảnh nghèo khổ về vật chất, nhưng Người còn
phải chịu cảnh nghèo khổ về tinh thần nữa. Ngay từ lúc sinh
ra, Người đã bị con người từ chối và xua đuổi. Ði đến quán
trọ nào, Người cũng đều nhận được câu trả lời: Quán hết
chỗ rồi. Thánh Gioan đã viết: "Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận" (Ga 1,11). Nếu đặt
mình vào hoàn cảnh bi đát ấy của gia đình Nazareth, chúng
ta sẽ cảm nhận được tất cả những nỗi xót xa và cay đắng
mà các Ngài phải chịu. Nhưng Con Thiên Chúa chấp nhận
những điều ấy vì ai và để làm gì?

Thưa rằng: Vì chúng ta và để cứu rỗi chúng ta như lời kinh
Tin Kính mà chúng ta vẫn thường tuyên xưng: Vì loài người
chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ Trời xuống
thế.- Vâng, vì chúng ta Người đã hy sinh tất cả, chấp nhận
tất cả và trao ban tất cả.
* Hy sinh như thế, chấp nhận như thế và trao ban như thế là
để cho chúng ta biết rằng Người yêu thương chúng ta
dường nào.


                                                          17
* Hy sinh như thế, chấp nhận như thế và trao ban như thế
cũng còn để cho chúng ta thấy những tội lỗi, những phản
phúc của chúng ta lớn lao và nặng nề biết bao. Trong mối
quan hệ giữa người và người, sự phản bội lẫn nhau đã là
điều đáng trách. Ở đây, chính con người phản bội lại Thiên
Chúa, chính thụ tạo thấp hèn đã chống lại Ðấng tạo dựng
nên mình thì sự phản bội ấy còn đáng trách đến độ nào. Vậy
mà dường như Người đã quên đi tất cả.

Do đó, lễ Chúa Giáng Sinh chính là một cơ hội để chúng ta
suy nghĩ, hầu có thể nhận ra rằng mình được Thiên Chúa
yêu thương. Biết mình được yêu thương, chúng ta sẽ biết
mình phải làm gì để đáp trả.
Trong đêm cực thánh này, chúng ta cùng cảm tạ Chúa vì
Người đã đến sống giữa chúng ta, đã chia sẻ những đớn
đau, những khổ ải, những cơ cùng của chúng ta. Ngày hôm
nay, Người vẫn muốn giáng sinh trong tâm hồn chúng ta,
vẫn muốn ở bên ta, vẫn muốn đồng hành với ta trong cuộc
sống, để nâng đỡ sự yếu đuối, sự vất vả mệt nhọc của ta về
tinh thần cũng như thể xác. Ước gì chúng ta biết mở rộng
lòng để đón Người. Và ước gì đừng ai trong chúng ta nói
với Người những lời bẽ bàng như các chủ quán xưa: Quán
hết chỗ rồi.
                                                   Lm. Phạm Minh Tâm


                  TIN MỪNG VĨ ĐẠI
                         Lc 2, 1-14
                                      Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR
Đêm nay cách đây hơn hai ngàn năm, Con Thiên Chúa đã
đản sinh nơi hang đá Bêlem. Đọc Tin Mừng của thánh Luca
2, 1-14, chúng ta cảm nhận được Hài Đồng Giêsu năm xưa
cũng đang hiện diện với thế giới, với loài người, với con
người lúc này và mãi mãi.Muôn thiên thần đang rợp một
khúc ca: ” Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế
                                                                  18
cho người Chúa thương “. Sứ điệp của các thiên thần vẫn là
lời mời gọi nhân loại “ Hãy sống yêu thương, ngay thẳng,
hòa bình “. Mùa Đông ngày Chúa sinh ra gợi cho chúng ta
về cái giá lạnh và hơi ấm của bò lừa thở hơi cho Chúa…

CÁI XÔN XAO CỦA ĐÊM ĐÔNG NĂM XƯA:
Đêm đông gợi cho chúng ta cảm giác lạnh căm. Cái buốt giá
của đêm đông như làm xôn xao cả màn đêm, làm xôn xao
đàn súc vật và làm nôn nao cả lòng người. Tin Mừng của
thánh Luca thuật lại cuộc Giáng Sinh của Chúa Giêsu rất chi
tiết và rõ ràng: ” …ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê
lên thành vua Đavít tức là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc
gia đình dòng tộc vua Đavít. Ông lên đó khai tên cùng với
người đã thành hôn với ông là Maria, lúc ấy đang có thai.
Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn
nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con,
rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được
chỗ trong nhà trọ “( Lc 1, 4-7 ). Rõ ràng, Con Thiên Chúa là
Đức Giêsu Kitô đã được Chúa Cha định liệu có mẹ có cha
để Ngài được lớn lên trong một mái ấm gia đình. Chúa
Giêsu đã chia sẻ kiếp sống làm người với những con người
bị bỏ rơi nhất. Ngài sinh ra trong một hang súc vật. Do đó,
cái giá lạnh đêm đông lại càng có ý nghĩa nhiều hơn
nữa.Cái xôn xao của một đêm đông không trăng, không sao
làm rõ nét số phận của một Con Thiên Chúa đến trần gian
để sống với, sống vì, sống cho nhân loại. Chúa Giêsu sẻ
chia số phận với những con người nghèo khổ, bơ vơ tất bạt,
không nhà không cửa, bị bỏ rơi bên lề xã hội. Hài Đồng
Giêsu đêm năm ấy đã cho nhân loại thấy một Vị Vua Hòa
Bình, Vị Vua Nhân Ái và Tình Thương đã đến để cứu chuộc
loài người.



                                                         19
NHỮNG MỤC ĐỒNG ĐƯỢC LOAN BÁO TIN MỪNG LỚN
LAO:
Con Thiên Chúa, Đấng EM-MA-NU-EN nghĩa là Thiên-
Chúa-ở-cùng-chúng-ta đã không được ai đón tiếp trong đêm
đông lạnh giá,chỉ có các mục đồng mà Tin Mừng thánh Luca
ghi: ” Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài
đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa
đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung
quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ:
” Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng
trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một
Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít,
Người là Đấng Kitô Đức Chúa “ ( Lc 1, 8-11 ). Và sứ thần
còn căn dặn các mục đồng: ” Anh em cứ dấu này mà nhận
ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm
trong máng cỏ “ ( Lc 1, 12 ). “ Các mục đồng liền hối hả ra
đi. Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài nhi
đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã
được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe các người chăn chiên
thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên “ ( Lc 1, 16-18 ). Các mục
đồng là những người đầu tiên đã đón nhận Tin Mừng. Họ đã
nhận ra Hài Đồng Giêsu, Con Thiên Chúa đã muốn trở nên
nghèo vì loài người, vì mỗi người để cho con người và nhân
loại được sự giàu có của Chúa Giêsu. Thế giới và nhân loại,
con người, ngay những con người ở trong vùng ấy đang
chìm đắm trong giấc ngủ, đang hưởng sự ấm cúng của
chăn bông, lò sưởi thì chỉ có vài người chăn chiên đã nhìn
thấy Thiên Chúa. Họ đã được sứ thần báo tin và mời tới
hang đá máng cỏ bởi vì Thiên Chúa muốn tỏ mình ra cho họ
là những người nghèo. Mẹ Maria và thánh Giuse, chắc chắn
đã có niềm vui vì được chia sẻ với các mục đồng một phần
nào bí mật của các ngài.

                                                        20
CHÚA SINH RA LÀ MỘT LỜI CHO NHÂN LOẠI, CHO
CON NGƯỜI:
Biến cố Giáng Sinh là một Lời của Thiên Chúa ngỏ cho
nhân loại, ngỏ cho con người. Tin Mừng thánh Luca viết: ”
Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi
nghĩ lại trong lòng “ ( Lc 2, 19 ). Mẹ Maria đã kinh ngạc, thán
phục, nhưng không ngỡ ngàng bởi việc Chúa Giêsu sinh ra,
Mẹ đã được mạc khải, do đó, lòng tin của Mẹ Maria không
hề nao núng chút nào cả. Sự kiện Giáng Sinh được trình
bày cho thế giới, cho nhân loại với dâu chỉ là một Lời để
nhìn, để chiêm ngắm, để loan báo cho người khác, một Lời
để suy niệm và giữ mãi trong lòng để suy đi nghĩ lại trong
cuộc đời. Giáng Sinh là một Lời, một biến cố rõ ràng, một sự
kiện tràn đầy ý nghĩa. Giáng Sinh đang tiếp tục nói với nhân
loại, nói với mỗi người chúng ta.

CHÚA GIÁNG SINH LÀ MỘT LỜI CỨU RỖI CỦA THIÊN
CHÚA:
Hài Đồng Giêsu nằm trong máng cỏ là Đấng Cứu Thế. Ngài
đến trần gian không như một nhân vật lịch sử, một vĩ nhân
hay là một người lạ lùng theo nghĩa con người, nhưng Ngài
là Vị Cứu Tinh, là Đấng Cứu Độ. Ngài đến để cho người què
đi được, người điếc nghe được, người mù thấy được và
người nghèo được nghe loan báo Tin Mừng. Chúa Giêsu ở
với Thiên Chúa cha từ trước muôn đời. Trong Chúa Giêsu,
nhân loại và mỗi người chúng ta được Thiên Chúa yêu
thương, tha thứ và qui tụ. Chúa đến cho chiên được sống
và sống dồi dào ( Ga 10, 10 ).Chính vì thế, Hài Đồng Giêsu,
Con Thiên Chúa đã đến để xua tan nỗi thất vọng, chiến
thắng thần chết, sự dữ bị khuất phục. Tất cả những ai đón
nhận Hài Đồng Giêsu như các mục đồng đã làm cũng sẽ


                                                            21
hưởng được niềm vui tràn đầy và nhận được ơn giải thoát
của chính Thiên Chúa.

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài
người Chúa thương “ ( Lc 2, 14 ) vẫn luôn là lời ngợi khen,
chúc tụng và lời hứa ban Hòa Bình, Tình Thương và An
Bình cho mọi người đón nhận Con Thiên Chúa.

Lạy Thiên Chúa, xin ban thêm đức tin cho chúng con để
chúng con mau mắn đón nhận Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu
Độ. Amen.



                                  Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR


       THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA
                                           Lm Giuse Đinh lập Liễm
I. CHÚNG TA MỪNG LỄ GIÁNG SINH.
1. Ý nghĩa ngày lễ Giáng sinh.
Hôm nay khắp nơi trên thế giới hoan hỉ mừng lễ Chúa Giáng
sinh, đó là ngày lễ quốc tế chứ không phải của một dân tộc
nào ; đối với Kitô hữu , hôm nay được gọi là lễ Chúa Giáng
sinh. Nhiều người không muốn dùng từ lễ Giáng sinh mà chỉ
dùng chữ Noel trên các tấm thiệp cũng như trong các đèn
ông sao và nơi hang đá.

Tại sao gọi là Noel ? Chính ra phải gọi là lễ Nuel mới đúng,
 vì từ Nuel được rút ra từ chữ Emmanuel, có nghĩa là Thiên-
Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Sau này người ta đổi chữ Nuel
thành Noel. Như vậy mừng lễ Noel là mừng ngày Thiên
Chúa giáng trần và ở cùng chúng ta.


                                                              22
Ngược dòng lịch sử : khi Ađam và Evà phạm tội bất trung,
Thiên Chúa đã ra án phạt cho ông bà, nhưng đồng thời
cũng hứa ban Đấng Cứu thế đến cứu chuộc nhân loại bằng
cách cho Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người và ở
cùng chúng ta , và sẽ dùng cái chết của mình trên thập giá
để xóa bỏ tội lỗi cho con người. Khi thời gian tới hồi viên
mãn, Ngôi Hai Thiên Chúa đầu thai trong lòng Trinh Nữ
Maria và đã được sinh ra tại hang đá Belem trong một đêm
đông lạnh lẽo.

Hôm nay khắp thế giới kỷ niệm ngày Thiên Chúa giáng trần
để ở cùng loài người. Loài người chúng ta hân hạnh quá vì
được đồng hành với Thiên Chúa. Thiên Chúa đã hoá thân
làm người như chúng ta, nhận lấy kiếp sống phàm trần như
ta để chia sẻ buồn vui với loài người và nâng cao thân phận
con người lên để xứng đáng làm con Thiên Chúa.

2. Mừng ngày Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Hôm nay Con trẻ Giêsu được sinh ra tại hang đá Belem, mọi
người đều hướng về Ngài. Vậy Ngài là ai mà quan trọng thế
? Ngài vừa là Con Thiên Chúa vừa là con của loài người.
Ngài đến nối kết trời và đất, Ngài là Đấng Trung hòa. Trong
Ngài trời và đất không còn xa nhau, không còn khoảng
cách. Tất cả đều nên một cho nên phải nói :Ngài thực sự là
Đấng “Chí Trung Hoà”, là Đấng “Thái Hoà” thực hiện đúng lý
tưởng của văn hóa Đông phương hằng mong ước.

Ngài là Con Thiên Chúa , cho nên Ngài nên một với Thiên
Chúa. Ngài là con người nên hoà đồng với con người, nhận
lấy thân phận khốn khổ của loài người. Chính thánh Phaolô
đã giải thích mầu nhiệm này :”Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là
Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất thiết duy trì địa vị
ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ

                                                        23
vinh quang mặc lấy thân nô lệ trở nên giống phàm nhân,
sống như người trần gian. Người lại còn hạ mình vâng lời
bằng lòng chịu chết trên cây thập tự” (Pl 2,1-8). Người đồng
hóa như vậy đó :”Cho loài người tham dự với Người vào các
mầu nhiệm Thiên Chúa. Biến đổi loài người nên giống hình
ảnh Thiên Chúa. Cầu bầu cho nhân loại, và cứu rỗi họ bằng
sự chết của mình” (Thân văn Tường, Kitô học, tr 136).

Theo Đông phương, Đức Giêsu Kitô là Đấng “Chí Trung
Hoà”. Chững Trung O gồm nét sổ thẳng chính giữa tâm
hình tròn. Hình tròn biểu tượng thái cực là Trời, là Thiên
Chúa. Hình tròn viết thành chữ thì biến thành hình vuông .
Vuông chỉ đất là người. Nét sổ thẳng chính trung tâm vuông
tròn không xê dịch, sai lệch một chút nào, đó là Chí Trung,
dấu chỉ Đức Giêsu là trung tâm trời đất. Còn Chí Hoà, chữ
Hoà gồm chữ hoà là lúa và chữ khẩu là miệng :
*P* cơm bánh là thực phẩm hợp khẩu vị nhất, là đồ ăn hoà
đến cùng cực để trở nên sự sống của loài người. Đức Kitô
đã biến bánh miến và rượu nho trở nên Thịt Máu mình để
trở nên của ăn của uống ban cho chúng ta sự sống muôn
đời. Một sự hoà đồng cùng cực :Chí Hoà”. Thật Người là
Đấng ChíTrung Chí Hoà để cho tất cả nên một. Thiên Chúa
và con người không còn xa cách, không còn không gian,
thời gian nào phân ly được nữa...
(Vũ khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, năm B, tr 22)

Truyện : hoàng tử và cậu bé nghèo.
Văn hào Mark Twain cách đây ba thế kỷ, có viết một cuốn
sách tiểu thuyết nổi tiếng tựa đề “Hoàng tử và cậu bé
nghèo”. Chuyện kể lại tình bạn của hai cậu bé giống hệt
nhau khiến người ta tưởng là sinh đôi. Một trong hai cậu bé
tên là Edward, hoàng tử xứ Galles. Còn Tom Canty, người
bạn của vị hoàng tử, lại là một cậu bé con nhà nghèo.

                                                         24
Một ngày kia, hai cậu bé có một ý nghĩ ngộ nghĩnh là thay
đổi địa vị xã hội. Tom vào thế chỗ của vị hoàng tử Edward
trong triều đình, còn Edward thì khoác lên mình một mảnh
áo rách rưới và bắt đầu cuộc phiêu lưu. Cậu lang thang đầu
đường xó chợ bên cạnh những người cùng cực nhất trong
xã hội.

Thế nhưng một lúc nào đó, hai cậu cũng cảm thấy mệt mỏi
với trò chơi đầy phiêu lưu này. Edward mới sực tỉnh về ngôi
vị hoàng tử của mình. Trong bộ áo rách rưới nhơ bẩn, cậu
tìm đủ mọi cách để chứng minh rằng mình là hoàng tử nối
ngôi của xứ Galles. Nhưng cảnh sát đã không tin... Thế là
hoàng tử Edward đành phải lặng lẽ bước vào tù vì tội giả
mạo.
Giữa lúc Tom cậu bé nghèo sắp sửa được tấn phong làm
vua, thì hoàng tử Edward xuất hiện... Không mấy chốc cậu
đã được phục hồi trong ngôi vị hoàng tử của cậu. Chính nhờ
kinh nghiệm của những tháng ngày làm người ăn xin, lang
thang đầu đường xó chợ với những người cùng khổ, mà
Edward đã trở thành một vị vua đạo đức và giầu lòng
thương người (Lẽ sống,447)

Cũng giống như câu chuyện trên đây, Thiên Chúa đã đến
giữa loài người để hoán đổi vị thế với chúng ta. Người mặc
lấy thân xác nghèo hèn của chúng ta để chúng ta được
mang lấy tước hiệu làm con Thiên Chúa. Nhờ ân sủng của
Ngài, Ngài chia sẻ với chúng ta sự sống thần linh và đón
nhận trong thân xác Ngài tất cả những hệ lụy của kiếp sống
khổ đau của con người.

3. Những Đấng Kitô ngày nay !
Chúa Giêsu đã xuống thế lần thứ nhất vào ngày Ngài giáng
sinh. Ngài hứa sẽ trở lại lần thứ hai trong vinh quang của

                                                        25
Ngài để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Trong khi chờ đợi
Ngài đến lần thứ hai, ngày nay ta thấy xuất hiện nhiều người
tự xưng là Đấng Kitô, Chúa Cứu thế. Cho đến nay, đã xuất
hiện 18 tân Kitô tại Ấn độï, Nga, Mỹ và Pháp và tự xưng
mình là Chúa, trong đó có một nữ Chúa Cứu thế với 15 triệu
tín đồ. Điên khùng hay bịp bợm, các nhà tiên tri ấy hứa hẹn
với các tín đồ một thiên đàng dưới đất chăng ?

Cách đây 1000 năm, loan báo ngày tận thế sẽ vào năm
1000, phải chăng nay lại tái diễn? Trong số các Đấng Cứu
thế này có Sathya Sai Baba là nổi tiếng nhất trong số các
Messie hiện tại. Ông ở tuổi 68, ông Kitô Ấn độ này với kiểu
tóc bờm ngựa, đã chiêu tập được 10 triệu tín đồ. Xuất hiện
trước công chúng, ông ta luôn mặc cái áo dài màu cam,
ngồi trên ngai và để chân lên đệm. Ông cũng làm được một
vài điều lạ như đẻ ra trứng trước mặt nhiều người, chữa
bệnh bằng thần giao cách cảm. Có một cặp vợ chồng
người Tây phương hỏi ông có phải là Đấng Kitô đăng quang
lần thứ hai không, ông ta chỉ mỉm cười.

Còn Đấng Kitô đáng chú ý nữa là Mary Davy Christ, Kitô
đàn bà, người Do thái. Theo truyền thống Do thái, lại không
nhận có Kitô đàn bà. Nhưng các đệ tử của Mary Davy Christ
lại lý giải thật đơn giản : đăng quang lần đầu tiên Kitô là đàn
ông, thì lần thứ hai để loan báo ngày tận thế, Kitô sẽ là đàn
bà : chuyện đó rất đơn giản.

Đấng Cứu thế đã đến rồi và Ngài sẽ trở lại mà chưa biết
ngày nào, chúng ta hãy chờ đợi. Còn những Kitô giả hiệu
không được có chỗ đứng trong suy nghĩ của chúng ta :
Chúng ta chỉ có một Chúa Kitô là Đức Giêsu.

II. CẢM NGHĨ VỀ LỄ GIÁNG SINH.

                                                            26
 Thiên Chúa đã ban cho chúng ta Người Con yêu qúi của
Ngài là Đức Giêsu. Trong ngày kỷ niệm ngày Ngài giáng
sinh, chúng ta phải có những tâm tình nào đây ? Không lẽ
chúng ta chỉ coi lễ Giáng sinh như là một ngày vui chơi sao
? Như thế lễ Giáng sinh không còn có ý nghĩa thiêng liêng
nữa.

1. Ngày lễ của Tình yêu.
Hôm nay chúng kỷ niệm ngày Đức Giêsu ra đời. Ngày đáng
ghi nhớ. Ngày trời đất gặp nhau hôn nhau âu yếm. Ngày trời
đất se chữ đồng. Ngày Thiên Chúa hạ xuống làm người để
con người được làm Thiên Chúa. Lễ hôm nay phải được gọi
là lễ của Tình yêu, tình yêu cao vời của Thiên Chúa đối với
loài người. Thiên Chúa đã bỏ mọi vinh quang trên trời, hạ
mình xuống làm con người hèn hạ. Nhìn vào hang đá, ta
thấy một hài nhi bé bỏng nằm trong nôi, ngoài Đức Maria và
thánh Giuse chỉ có mấy con bò lừa thở hơi ấm cho Chúa
Hài nhi, và trên không trung chỉ có tiếng ca hát của các thiên
thần. Sau đó, các thiên thần báo tin cho mục đồng đến
chiêm bái Chúa Hài đồng.

Người ta ai cũng có quan niệm rằng : Đấng Cứu thế phải là
con vua con chúa, phải sinh ra nơi lầu son gác tía, được mọi
người tung hô chúc tụng ; nhưng thực tế lại khác hẳn, Ngôi
Hai Thiên Chúa sinh ra trong một hoàn cảnh bi đát : không
nhà không cửa, không giường không chiếu, không lấy một
mảnh chăn êm, không ai đến thăm hỏi. Thật là cám cảnh.
Có ai trong chúng ta đi lễ đây đã bao giờ sinh con trong
hoàn cảnh như vậy chưa ? Chắc chắn là không. Thế mà
Ngôi Hai Thiên Chúa đã sinh ra trong hoàn cảnh như vậy
đó. Vậy lý do nào đã khiến Thiên Chúa hành động như vậy
? Không còn lý do nào khác ngoài tình yêu đối với chúng ta,
vì đã yêu thì không có tính toán hơn thiệt.

                                                           27
Truyện : Hoàng đế Sabat.
Hồi đó, Hoàng đế Sabat cai trị vương quốc Ba tư và rất
được toàn dân mến phục. Nhà vua thường cải trang như
một thường dân để dễ tiếp xúc với dân chúng. Một hôm,
nhà vua cải trang như một công nhân nghèo khổ lần mò các
bậc thang để xuống tận hầm tối của lâu đài là nơi cư ngụ
của một cụ già chuyên lo việc củi lửa sưởi ấm cho cả lâu
đài. Giường ngủ của cụ là đống tro tàn và lương thực hằng
ngày là mẩu bánh mì đen với ly nước lã. Nhà vua đến ngồi
bên cạnh cụ già và bắt đầu gợi chuyện. Đến bữa ăn, cụ già
mời nhà vua chia sẻ mẩu bánh mì khô cứng thấm mềm
trong ly nước lã. Cả hai cùng ăn và tiếp tục chuyện trò thân
mật.
Nhà vua động lòng thương cụ già và từ ngày đó, nhà vua
nhiều lần cải trang để đến thăm cụ. Riêng cụ già, tuy không
biết lý lịch của người đến thăm mình là ai, nhưng vẫn tiếp
tục đáp trả cử chỉ nhân đạo của nhà vua. Sau cùng, nhà vua
tự nhủ : ta sẽ tỏ lộ cho cụ già này biết ta là ai, để xem ông ta
sẽ xin ta sự gì. Ít hôm sau, nhà vua xuống hầm tối thăm cụ
già trong y phục sang trọng và nói :
   - Bấy lâu nay có lẽ ông tưởng ta chỉ là một công nhân
       nghèo khổ như ông, nhưng nay ta nói thật ta là vua, ta
       rất mến tình bạn của ông, vậy ông muốn gì, cứ nói, ta
       sẽ ban cho.
Nhà vua tưởng cụ già sẽ xin tiền bạc hoặc ân huệ, nhưng
ông chỉ ngồi yên lặng. Tưởng cụ già không hiểu mình nói gì,
nhà vua cắt nghĩa thêm :
   - Có lẽ ông chưa hiểu rằng ta là vua, ta có thể làm cho
       ông nên giầu sang, danh vọng.
Cụ già cúi đầu đáp :
   - Tâu Hoàng thượng, con đã hiểu tấm lòng của Hoàng
       thượng trong những lần đến hầm tối này để thăm con

                                                             28
      và không ngần ngại chia sẻ với con mẩu bánh mì đen
      và ly nước lạnh. Đó là món quà cao qúi nhất rồi, con
      không muốn gì hơn nữa, con chỉ xin một điều là
      Hoàng thượng đừng bao giờ lấy lại món quà quí giá
      ấy bao lâu con còn sống trong cảnh cô đơn nghèo
      khổ này.

2. Tâm tình trong ngày lễ.
Hôm nay mọi người đều nô nức đi dự lễ, kể cả những người
ngoài công giáo. Mỗi người có một cái nhìn về lễ Giáng sinh
: họ cũng mừng lễ, chúng ta cũng mừng lễ, nhưng tâm tình
về ngày lễ thì khác nhau. Vậy chúng ta có tâm tình nào ?
Với ý tưởng gì ? Ta có những ý tưởng tốt đẹp và cao qúi
trong ngày lễ Giáng sinh không ? Hay chỉ nghĩ rằng hôm
nay là ngày lễ để vui chơi, để có dịp gặp gỡ nhau hoặc có
dịp khoe thời trang ?
 Truyện : Ý tưởng về Lễ Giáng sinh.
Một giáo sư tâm lý của trường đại học tại Hoa kỳ ra một bài
thi để dò xem ý tưởng của 40 sinh viên trong lớp của mình.
Trước hết ông bảo họ lấy giấy bút ra viết chữ “Lễ Giánh
sinh”, rồi ông nói :”Bây giờ các anh chị hãy viết vào sau chữ
ấy ý nghĩ đầu tiên mà các anh chị liên tưởng đến về ngày lễ
ấy”.

Khi họ nộp quyển, ông coi lại thì thấy có những chữ sau đây
: cây giáng sinh, dây kim tuyến, tặng phẩm, gà tây, bài ca
giáng sinh và ông già Noel, không có một ai viết “Ngày Chúa
Giêsu ra đời”.

Ngày này lễ Giáng sinh không còn ý nghĩa cao qúi ấy nữa,
người ta đã tục hóa lễ Giáng sinh, người ta chỉ coi lễ Giáng
sinh là một ngày vui chơi cho mọi người, thậm chí có những
người lợi dụng lễ Giáng sinh để kinh doanh.

                                                          29
Tôi xin nhắc lại câu hỏi : hôm nay anh chị em nghĩ gì về lễ
Giáng sinh ? Nếu anh chị em quên hay không biết, tôi xin
được phép nhắc lại : Hôm nay chúng ta mừng lễ Giáng sinh
là có ý kỷ niệm ngày Thiên Chúa giáng trần, ngày Thiên
Chúa làm người và ở cùng chúng ta. Anh chị em hãy nhìn
vào chữ Emmanuel hay chữ Noel để nhớ đến ý nghĩa của
ngày lễ. Emmanuel hay Noel có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng
chúng ta. Chúng ta hãy dâng lời cảm tạ Chúa.

Trong dịp lễ Giáng sinh hôm nay, tôi xin gửi đến mỗi người
một tấm thiệp Noel với hàng chữ ghi trong tấm thiệp mà tôi
mới nhận được từ bên Mỹ :
       Every day is Christmas for me
       because I love you.

                                                       Lm Giuse Đinh lập Liễm
                 LỄ GIÁNG SINH (LỄ ĐÊM)
                                                        Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Lễ Giáng Sinh được ghi nhận vào thế kỷ thứ tư. Thật ra, các giáo hội Đông
Phương đã cử hành Sinh Nhật của Đức Giê-su rồi. Họ tưởng niệm vào ngày
mồng 6 tháng giêng, dưới danh xưng lễ “Hiển Linh” vừa biến cố các nhà đạo sĩ
đến thờ lạy Hài Nhi vừa biến cố Đức Giê-su chịu phép rửa bởi Gioan Tẩy giả,
đồng thời tiệc cưới Ca-na, nghĩa là ba biến cố đầu tiên Chúa Giê-su tỏ mình ra
công khai. Ấy vậy, cuộc tưởng niệm ba biến cố cùng một lúc nầy được đi trước
bởi đêm canh thức cầu nguyện, suốt đêm đó cuộc Giáng Sinh của Đức Giê-su
được gợi lên. Có thể đó là nguồn gốc của lễ Đêm Giáng Sinh của chúng ta.

Is 9: 2-4, 6-7.
Bài đọc I là bài thơ tràn đầy hy vọng của ngôn sứ I-sai-a.
Tám trăm năm trước đó, vị ngôn sứ hân hoan loan báo cuộc
đản sinh của Đấng Cứu Độ tám trăm năm trước đó.

Tt 2: 11-14.
Trong đoạn trích thư gởi cho Ti-tô, thánh Phao-lô nhắc nhở
cho người môn đệ của mình đồng thời cũng là người bạn
                                                        30
đồng hành của mình rằng lòng nhân từ của Thiên Chúa bắt
đầu tỏ rạng ở nơi cuộc Giáng Sinh của Đức Giê-su, Ngài là
Thiên Chúa vĩ đại và là Cứu Chúa của chúng ta, bởi vì lễ
Giáng Sinh đã gieo mầm cho sự huy hoàng vinh quang ngày
lễ Phục Sinh.

Lc 2: 1-14.
Với hoạt cảnh Giáng Sinh của Đức Giê-su, thánh Lu-ca dẫn
chúng ta vào trong ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Thiên
Chúa làm người trong cảnh cơ hàn: “một trẻ sơ sinh bọc tã
nằm trong máng cỏ”.

BÀI ĐỌC I (Is 9: 2-4, 6-7)
Ngôn sứ I-sai-a sáng tác bài thơ nầy không bao lâu sau lời
sấm về Đấng Em-ma-nu-en: ông gợi lên những biến cố đã
xảy ra vào những năm 734-732 trước Công Nguyên. Ông ca
ngợi một trẻ thơ thuộc hoàng tộc Đa-vít sắp chào đời, chắc
hẳn trẻ thơ nầy là “Em-ma-nu-en” (“Thiên Chúa ở cùng
chúng ta”) trong lời sấm trước đây của ông (Is 7: 14).

Hoàn cảnh lịch sử vào lúc đó không kém phần nghiêm
trọng, nhưng không liên quan đến kinh thành Giê-ru-sa-lem.
Phần đầu của bài thơ (không được trích dẫn ở đây) cho thấy
đó là miền Ga-li-lê.

Vua Át-sua là Tích-lát Pi-le-xe xâm chiếm vương quốc
phương Bắc và đã bắt đi lưu đày thành phần dân Ga-li-lê ưu
tú đến Át-sua. Quân đội Át-sua có tập quán tàn bạo là móc
mắt tù binh. Có lẽ ngôn sứ I-sai-a ám chỉ đến ở đây: “Đoàn
người đang lần bước giữa tối tăm…” Dù thế nào, bóng tối
biểu tượng nỗi khốn cùng.



                                                       31
1. Miền Ga-li-lê sẽ thấy một ánh sáng huy hoàng (Is 9: 2-
4).
Nhưng nầy một niềm vui vỡ bờ. Đức Chúa giải thoát dân
Ngài. Vị ngôn sứ phác họa bức tranh đầy màu sắc tươi vui:
niềm tủi nhục thành vinh quang, tối tăm thành ánh sáng,
cảnh đời nô lệ thành cuộc sống tự do. Bài thơ sánh ví
những giờ phút hân hoan nầy với niềm hoan hĩ của nông
dân trong mùa gặt và của chiến binh khi chia nhau chiến lợi
phẩm. Cuối cùng và nhất là không còn dấu vết chiến tranh
nữa: những đôi giày chiến và những quân phục nhuốm máu
trở thành mồi cho lửa. Thiên hạ sẽ không cần những trang
cụ chiến tranh nữa, vì Thiên Chúa can thiệp sẽ đảm bảo một
nền hoà bình viên mãn.

Để viện dẫn lý do cho lời sấm của mình, ngôn sứ I-sai-a nêu
lên một tiền lệ lịch sử: Đức Chúa đã giải thoát dân Ga-li-lê
rồi trong một giai đoạn đau thương khác của lịch sử của họ:
khi họ gặp phải những quấy nhiễu của dân Ma-đi-an, Ngài
giúp ông Ghít-ôn lập chiến công lẫy lừng đánh bại những kẻ
áp bức.

2. Một trẻ thơ chào đời cho chúng ta (Is 9: 6-7).
Nguyên do của niềm hân hoan và những viễn tượng tràn
đầy hy vọng nầy, chính vì một trẻ thơ chào đời thuộc hoàng
tộc Đa-vít.

Phần tiếp theo của bài thơ cho thấy rằng xem ra đây không
là một hoàng nhi chào đời nhưng một tân vương lên ngôi.
Quả thật, qua những từ ngữ mà vị ngôn sử sử dụng, chúng
ta không thể nào không đọc thấy những ám chỉ đến nghi lễ
phong vương. Rõ ràng việc phong vương được xem như
một cuộc sinh ra lần thứ hai: ngày vua trở thành Thiên Tử:
“Tân vương lên tiếng: Tôi xin đọc sắc phong của Chúa,

                                                         32
Người phán bảo tôi rằng: Con là con của Cha, ngày hôm
nay Cha đã sinh ra con” (Tv 2: 7).

“Người con đó gánh vác quyền bính trên vai”. Người ta nghĩ
đến nghi thức choàng áo long bào trên vai của vị tân vương
– hay trao cho tân vương một vương trượng (cả hai biểu
tượng nầy đều được chứng thực trong lễ phong vương). Xa
hơn, vị ngôn sứ viết: “Nó sẽ là cha đối với cư dân Giê-ru-sa-
lem và với nhà Giu-đa. Chìa khoá nhà Đa-vít, Ta sẽ đặt trên
vai nó” (Is 22: 21-22).

“Danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, là Thần Linh dũng
mãnh, là Người Cha muôn thuở, là Hoàng Tử Hòa Bình”.
Chắc chắn đây là những vương hiệu được ban cho vị tân
vương vào ngày tấn phong. Người ta gặp thấy nguyên mẫu
tương tự ở Ai-cập.
Quả thật, những danh hiệu tôn kính nầy là những phẩm tính
thần linh, nhằm nhắc nhở rằng “tân vương là thiên tử”. “Cố
Vấn kỳ diệu”, “Thần Linh dũng mãnh”, đó là những ân huệ
được hứa ban cho một mầm non từ gốc tổ Gie-sê: “thần khí
khôn ngoan và minh mẫn”, “thần khí mưu lược và dũng
mãnh” (Is 11: 1-10). “Người cha muôn thuở” danh hiệu
thường được ban cho vua – vị cha của dân tộc – để cầu
chúc vương triều của vua muôn đời bền vững. “Hoàng Tử
Hoà Bình”, hoà bình là thiện hảo của thời mê-si-a. Các ngôn
sứ tranh nhau tiên báo nền hoà bình nầy.

Phụng vụ lễ Giáng Sinh áp dụng tất cả những danh hiệu tôn
kính nầy cho Hài Nhi Bê-lem, vì nhận ra ở nơi trẻ thơ nầy là
“Đấng Em-ma-nu-en” đích thật.

3. Lời sấm bí ẩn


                                                          33
 Vị ngôn sứ loan báo sự giải thoát của dân Ga-li-lê, niềm
hân hoan và ánh sáng bừng lên trên xứ sở của họ (vương
quốc phương Bắc). Thật lạ lùng, ông nối kết biến cố nầy với
cuộc chào đời - hay cuộc phong vương – của một hậu duệ
nhà Đa-vít ở vương quốc phương Nam, ở Giê-ru-sa-lem.
Phải chăng ông hy vọng hai vương quốc được thống nhất
dưới vương quyền của vua mê-si-a?

Điều bí ẩn nầy sẽ gặp thấy lời giải đáp bảy thế kỷ sau. Miền
Ga-li-lê rực sáng lên ánh sáng Tin Mừng; Đức Giê-su tự
thân là người Ga-li-lê. Nhưng với tư cách là hậu duệ của
vua Đa-vít, Ngài sinh ra ở Bê-lem, trong vương quốc
phương Nam xưa. Lời loan tin vui của đoàn thiên sứ cho
toàn dân (Lc 2: 10) đối đáp với khúc hoan ca của vị ngôn sứ
ca ngợi một hoàng nhi ra đời.


BÀI ĐỌC II (Tt 2: 11-14)
Ông Ti-tô là một trong số môn đệ và bạn đồng hành kỳ cựu
nhất của thánh Phao-lô. Ông đã cải đạo; song thân ông đều
là người Hy lạp.

Thánh Phao-lô đã trao gởi cho ông các cộng đoàn Ki tô hữu
miền Tiểu Á. Vì thế, ông gặp phải những khó khăn nghiêm
trọng. Những chống đối đặc biệt đến từ môi trường Do thái,
từ Do thái giáo chịu ảnh hưởng Hy lạp nầy mà chính thánh
Phao-lô đã hạm trán ở nơi khác. Vì thế, đối với ông Ti-tô,
những lời khuyên của thánh nhân thật là quý báo.

Thật khó xác định niên biểu của bức thư nầy. Chắc chắn
đây là một trong số những bức thư cuối đời của thánh nhân.
Nhưng chúng ta không biết chắc là thánh nhân đã chịu hành
hình vào năm 63 hay năm 67. Nếu thánh nhân được diễm

                                                         34
phúc tử đạo vào năm 67, thì thư gởi cho ông Ti-tô được viết
vào năm 65. Lúc đó, thánh nhân có thể đang ở Ma-xê-đoan.

1. Thần tính của Đức Giê-su.
Trong vài hàng, thánh Phao-lô nhắc nhở ông Ti-tô giáo huấn
cốt lõi mà ông phải kiên vững truyền đạt: ơn cứu độ Thiên
Chúa đã gởi đến cho con người là nhưng không và phổ
quát. Thiên Chúa đòi buộc các tín hữu từ bỏ tội lỗi và sống
thánh thiện trong khi chờ đợi ngày quang lâm của Đức Ki tô,
là “Thiên Chúa vĩ đại, và là Đấng Cứu Độ của chúng ta”.

Việc dùng chữ Thiên Chúa cho Đức Giê-su Ki tô không là
cách dùng quen thuộc của thánh Phao-lô. Thánh nhân
thường hay dùng chữ “Thiên Chúa” chỉ để chỉ Chúa Cha.
Chúng ta gặp thấy một ví dụ duy nhất trước đây trong thư
gởi tín hữu Rô-ma: “Người (Đức Ki tô) là Thiên Chúa, Đấng
vượt trên mọi sự. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn
đời. Amen” (Rm 9: 5b). Dường như những người Do thái
giáo bác bỏ Thần Tính của Đức Giê-su Ki tô, một vấn đề mà
ông Ti-tô đang phải đương đầu.

2. Lợi ích của bức thư.
Bức thư nầy không chỉ có lợi ích về phương diện tín lý,
nhưng còn về phương diện mục vụ. Quả thật, cùng với hai
bức thư gởi cho Ti-mô-thê, bức thư gởi cho Ti-tô được gọi
“thư mục vụ”, vì vị sứ đồ cho những huấn lệnh liên quan đến
việc tổ chức các cộng đoàn Ki tô hữu. Quả thật, tất cả các
Tông Đồ của Đức Giê-su đã qua đời, đến thời của những
người được các Tông đồ uỷ quyền (ông Ti-tô là một trong số
họ).




                                                        35
Bức thư mục vụ này giúp chúng ta hiểu được giai đoạn
chuyển tiếp giữa việc tổ chức đầu tiên, dưới chỉ thị của các
“Kỳ Mục”, và việc hình thành cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội.

TIN MỪNG (Lc 2: 1-14)
Trong số bốn thánh ký Tin Mừng, thánh Lu-ca là thánh ký
quan tâm nhiều nhất đến những quy chiếu lịch sử. Ông là vị
thánh ký duy nhất giải thích cho chúng ta biết tại sao Đức
Giê-su sinh ra ở Bê-lem chứ không ở Na-da-rét. Việc kiểm
tra dân số theo chiếu chỉ của hoàng đế Xê-da Âu-gu-tô (năm
30 trước Công Nguyên – năm 14 sau Công Nguyên) được
thực hiện trên xứ Palestine theo tập tục Do thái, nghĩa là
phải đăng ký ở nơi nguyên quán, chứ không theo cách thức
Rô-ma, ở nơi cư ngụ.

Thánh Giu-se trở về Bê-lem vì ông thuộc gia tộc vua Đa-vít.
Quả thật, hơn mười thế kỷ trước đó, chính Bê-lem là quê
quán của ông Gie-sê, cha của vua Đa-vít. Đối với dân Do
thái, kỷ niệm về dòng dõi của mình không bao giờ phai nhạt,
nơi chôn nhau cắt rốn vẫn tồn tại trong ký ức của mình. Đó
là lý do tại sao việc kiểm tra dân số dưới thời hoàng đế Âu-
gu-tô được thực hiện theo tiêu chuẩn truyền thống. Vì thế,
thánh Giu-se phải lên đường trở về Bê-lem, nguyên quán
của mình.

Tại sao Đức Ma-ri-a theo thánh Giu-se? Phải chăng cô cũng
thuộc dòng tộc Đa-vít? Có thể, vì người Do thái thường
muốn dựng vợ gả chồng ở trong vòng gia tộc của mình,
nhưng không chắc lắm. Thật ra, Đức Ma-ri-a là em họ của
bà Ê-li-sa-bét thuộc gia tộc Lê-vi. Người ta gặp thấy cuộc
kiểm tra dân số tương tự đã xảy ra ở Ai-cập vào năm 104
sau Công Nguyên và những chứng liệu chứng thực rằng vợ
phải trình diện bên cạnh chồng mình.1

                                                         36
1. Hoàn cảnh giáng sinh của Đức Giê-su.
“Khi hai ông bà đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn
nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con,
rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được
chỗ trong quán trọ.

Đừng hiểu rằng Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se bị xua đuổi,
điều nầy hoàn toàn trái với phong tục tập quán hiếu khách
của người Do thái. Nhưng thật bất tiện đối với một người
phụ nữ bụng mang dạ chữa sắp đến ngày mãn nguyệt khai
hoa ở nơi đông đúc như vậy. Chỉ nghĩ đến những lữ quán
Đông Phương, ở đó người, vật và hàng hoá chen nhau
trong sân. Có thể có các phòng trọ nhưng tiền thuê rất đắc,
chỉ dành cho những người giàu.

2. Hai dấu chỉ cùng một lúc.
Đức Giê-su chào đời ở Bê-lem, có nghĩa là “nhà của bánh”.
Đó không phải là tên tiền định sao? Thiên Chúa bằng lòng
đón nhận thân phận làm người của chúng ta. Ngài còn đi xa
hơn trong sự tự hạ: trút bỏ quyền lực và vinh quang của
mình, vì tình yêu Ngài làm cho mình trở thành một mẫu
bánh.

Ngoài ra, chiếc nôi đầu đời của Ấu Chúa là một “máng cỏ”.
Thánh Lu-ca nhấn mạnh sự kiện nầy đến ba lần (hai lần
trong đoạn văn trích nầy, và một lần khác nữa xa hơn). Đây
cũng là dấu hiệu mà các sứ thần cho các mục đồng để nhận
ra Ngài. Điểm nhấn nầy chắc hẳn có chủ ý. Với điểm nhấn
nầy, thánh ký có thể đã hiểu lời tiên báo về số phận của hài
nhi nầy, Đấng sẽ dâng hiến thân mình khi nói: “Anh em hãy
cầm lấy mà ăn, vì nầy là Mình Thầy”.


                                                         37
3. Con trai đầu lòng.
 “Đức Ma-ri-a sinh con trai đầu lòng”. Diễn ngữ là thuật ngữ
pháp lý; nó không bao hàm rằng Đức Ma-ri-a còn có những
người con khác. “Anh em của Đức Giê-su” mà các thánh ký
nói đến là anh em họ của Đức Giê-su. Trong Cựu Ước, chữ
“anh em” có một phạm vi ngữ nghĩa rất rộng. Ngôn ngữ Do
thái không có đặc ngữ để chỉ “anh em họ”. Vả lại, “anh em
của Đức Giê-su” có những bà mẹ khác nhau (cf. Mt 27: 56;
Mc 15: 40-41; Ga 19: 45). Giáo Hội luôn luôn công bố Đức
Ma-ri-a trọn đời đồng trinh.

“Con trai đầu lòng” phải chịu nhiều quy định của Lề Luật:
phải được thánh hiến và dâng hiến cho Thiên Chúa nhờ hy
lễ “chuộc lại” như trường hợp của Đức Giê-su với “một đôi
chim gáy hay một cặp bồ câu non” (của lễ của con nhà
nghèo).

Diễn ngữ “con đầu lòng” được lấy lại trong những viễn cảnh
Ki tô giáo: Đức Giê-su là Trưởng Tử của một cuộc sáng tạo
mới; Trưởng Tử của các vong nhân; mầu nhiệm Nhập Thể
của Ngài thật sự mang ơn cứu độ đến cho nhân loại: “người
anh cả của một đàn em đông đúc”, như lời của thánh Phao-
lô.

4. “Đức Ma-ri-a lấy tả bọc con, rồi đặt nằm trong máng
cỏ”.
Đấng Tạo Hóa hóa thân thành thân phận yếu hèn và phụ
thuộc của một hài nhi bé bỏng. Ngôi Lời Thiên Chúa, Lời
Quyền Năng tự mình trở nên “một trẻ sơ sinh không nói
được”. Thiên Chúa Hằng Sống giáng trần và chấp nhận tiến
trình lớn lên như bao con người khác.
Ba mươi năm sau đó, Đấng ấy sẽ cất cao giáo huấn của
mình: “Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là

                                                         38
người lớn nhất Nước Trời” (Mt 18: 4); “Cứ để trẻ em đến với
Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì nước trời là của những ai
giống như chúng” (Mt 19: 13-15). Trong Tin Mừng, có một
con đường thánh thiện bằng cách trở nên trẻ thơ, và con
đường nầy bắt nguồn từ Hài Nhi Bê-lem.

5. Thiên Chúa nghèo khó.
Cũng chính Hài Nhi Máng Cỏ nầy một ngày kia sẽ nói về
cảnh đời của mình: “Chim có tổ, chồn có hang, nhưng Con
Người không có nơi gối đầu qua đêm”.

Thế nên, không ai gợi lên nhiều mâu thuẩn ở nơi chính mình
cho bằng Đức Giê-su nầy, Ngài sinh ra như một kẻ đầu
đường xó chợ khốn cùng nhất trong số những kẻ vô gia cư
và chết như một tên tội phạm nguy hiểm nhất trong số các
tên tội phạm.

René Habachi sử dụng khái niệm triết học để diễn tả mầu
nhiệm mâu thuẩn nầy: Thiên Chúa là “Cái Là” (l’Ētre: Hữu
Thể), “Cái Là tuyệt đối”, vì thế Ngài không cần “Cái Có”
(Avoir), vì ở nơi Ngài “Cái Có” bị tiêu tan bởi “Cái Là”. Cũng
một cách nào đó như vậy “cái nghèo vô tận của Thiên Chúa,
cái không có tận cùng của Thiên Chúa, là dấu chỉ Thần Tính
của Ngài”.2

Jacques Loew trong tác phẩm “Như thấy Đấng Vô Hình” đã
cho chúng ta một bài suy niệm sâu sắc về mầu nhiệm Giáng
Sinh theo cùng một cách nầy: “Chúa Giê-su đã sinh ra bé
nhỏ và nghèo hèn chắc là để biểu lộ tình thương của Ngài
đối với những bé nhỏ và nghèo hèn trong thế giới cho tới
tận thế; nhưng thật ra cuộc đản sinh khiêm tốn của Ngài còn
có ý nghĩa sâu xa hơn nhiều. Chẳng có gì xứng đáng cho
Chúa cả; chẳng có gì cao trọng đủ để mà tiếp rước Ngài, cù

                                                           39
có trang hoàng mỹ lệ, dù có cung điện lộng lẫy, dù loài
người có khôn ngoan. Vì thế Thiên Chúa chọn một nơi
không gì hết là vì ở đó không có sự cạnh tranh lố bịch,
không có vẻ giàu sang giả tạo. Chúa chỉ ngự đến nơi nào
mà ở đó Ngài là tất cả: ở Máng cỏ, trong cảnh nghèo nàn
thực sự, nơi mà Đức Ma-ri-a, một tâm hồn khó nghèo” (bản
dịch của Lưu Tấn, trang 16-17).

6. Mục đồng.
“Trong vùng ấy, có những người chăn chiên thức đêm ngoài
trời, canh giữ đàn vật”. Đó là lý do tại sao chuồng chiên thì
trống: đàn vật ở bên ngoài và những người chăn chiên ngủ
ngoài trời. Ở xứ Palestine, giữa lễ Vượt Qua và mùa thu,
thời tiết rất đẹp. Đức Giê-su không sinh ra vào ngày 25
tháng 12. Việc chọn niên biểu nầy để tưởng niệm ngày chào
đời của Ngài đã đề cao ý nghĩa biểu tượng: đông chí đã
qua; ánh sáng chiến thắng bóng tối.

Những người đầu tiên được loan tin mừng Giáng Sinh là
những người chăn chiên, nghĩa là những người tầm
thường, thường vô học, được liệt vào hạng đàn bà, trẻ con
và nô lệ. Đức Giê-su tự đặt mình vào số những người
nghèo, khiêm hạ và bé nhỏ.

Những người chăn chiên đến vây quanh Hài Nhi, thờ lạy
Ngài: Đức Giê-su đến “để chăn dắt dân Ngài”. Ngài là Mục
Tử đích thật, Mục Tử nhân lành (Ga 10: 11-15).
Sau cùng việc Đức Giê-su sinh hạ ở giữa những người
chăn chiên Bê-lem là “dấu chỉ Đa-vít” tuyệt vời. Ngài sinh ra
ở những nơi mà cậu bé Đa-vít đã canh giữ đàn chiên. Ngài
là Đa-vít mới.

7. Thiên sứ.

                                                          40
Bản hợp xướng của các thiên sứ là một dấu chỉ khác: dấu
chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Triều đình thiên giới đã
dời chỗ vì Hài Nhi Máng Cỏ không ai khác hơn là Thiên
Chúa đích thân.

Các thiên sứ loan báo “một tin vui trọng đại cho toàn dân”.
Thánh Lu-ca là tác giả Tin Mừng nhạy bén nhất trước bầu
khí vui tươi mà biến cố Nhập Thể đem đến. Niềm vui nầy là
niềm vui mê-si-a mà các ngôn sứ biết bao lần đã loan báo
(ví dụ như bài đọc I), khúc dạo đầu cho niềm vui viên mãn
của cõi đời đời.

Sứ điệp các thiên sứ gởi đến thật vĩ đại, những từ ngữ thật
cảm động: “Đấng Cứu Độ”, “thành vua Đa-vít”, “Đấng Ki tô
(Mê-si-a)”, “Đức Chúa”. Thật tương phản biết bao với lời kết
thúc thật khiêm tốn nầy: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ
sinh bọc tã nằm trong máng cỏ”. Tương phản nầy tiền trưng
một tương phản khác: bên máng cỏ nầy được bao quanh
bởi ánh sáng và lời hoan ca, ẩn hiện một bóng tối, bóng tối
của núi Sọ; vì Ngôi Lời hóa thành nhục thể, không phải để
nhục thể nầy một ngày kia bị tra tấn, bị nhục mạ, bị đóng
đinh vào thập giá sao?

Bài ca của các thiên sứ: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
Bình an dưới thế cho loài người Chúa yêu”, có thể được
mượn ở một bài thánh thi phụng vụ Do thái. Lời hoan hô
chúc tụng của đám đông vào lúc Đức Giê-su khải hoàn vào
thành thánh Giê-ru-sa-lem trích dẫn cùng những lời như
vậy: “Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời”
(Lc 19: 38).

8. Một sự trao đổi kỳ diệu.


                                                            41
Mầu nhiệm Thiên Chúa làm người vừa mặc khải về Thiên
Chúa vừa mặc khải về con người. Trong một cuộc yết kiến
của thứ tư ngày 28 tháng 12 năm 1977, Đức Thánh Cha
Phao-lô VI nói: “Trong nội dung thần linh của nó, mặc khải
của lễ Giáng Sinh thì vô giới hạn”. Trong nội dung con
người của nó, mặc khải làm chứng về sự cao cả của con
người. Con người đã được tạo dựng theo hình ảnh của
Thiên Chúa; nầy đây chính Thiên Chúa mặc lấy dung mạo
con người. Kinh Tiền Tụng Giáng Sinh III nói về cuộc trao
đổi kỳ diệu: “Vì khi Ngôi Lời của Chúa mặc lấy thân phận
mỏng giòn của chúng con, thì loài người phải chết, không
những được hưởng vinh dự vĩnh cửu mà nhờ việc tham dự
kỳ diệu ấy, Chúa còn cho chúng con được sống muôn đời.”



                                         Lm. Inhaxiô Hồ Thông




                 Lễ Rạng Đông (Lc2, 15-20)
           SỨ ĐIỆP TỪ HANG BÊ-LEM
                                     + TGM Giuse Ngô Quang Kiệt


I. TIN MỪNG:
II. SUY NIỆM
    • Mỗi khi gió mùa đông bắc thổi, tôi cảm thấy năm
       tháng qua nhanh. Năm cũ trôi qua, năm mới sắp tới.
       Trong niềm háo hức đón chào năm mới tôi thường
       băn khoăn tự hỏi: tôi phải làm gì để năm mới này trở
       thành những ngày tháng tươi vui ?
    • Làm sao để năm mới này là thời gian của hạnh phúc?
    • Làm sao để năm mới này chan chứa hồng ân của
       Thiên chúa ?
                                                         42
Trong niềm băn khoăn thao thức, tôi đến trước hang đá
Bêlem để tìm câu trả lời. Việc Chúa Giêsu giáng trần đã mở
ra một kỷ nguyên mới. Để bắt đầu một thời gian mới, không
gì bằng đến học theo gương Người, nghe những lời giáo
huấn của Người.
Chúa Giesu bé thơ lặng im không nói, nhưng thái độ của
Người trao gửi chúng ta biết bao sứ điệp, giúp định hướng
cho những ngày tháng sắp tới.

Sinh ra trong cảnh nghèo hèn, Người muốn gửi đến cho ta
sứ điệp tình yêu. Vì yêu thương con người, Đức Giê-su đã
tự nguyện sinh xuống thế làm người. Người đã đồng hành
với con người, chia sẻ mọi nỗi vui, nỗi buồn của kiếp người.
Tình yêu của Người đặc biệt hướng về những người bé
nhỏ, nghèo hèn, yếu đuối, tội lỗi. Những người đầu tiên
được mời gọi đến hang đá Bê-lem là những mục đồng
nghèo nàn, đơn sơ, chất phác. Trong tình hình kinh tế thế
giới hiện nay, hố ngăn cách giầu – nghèo ngày càng lớn.
Trong cuộc chạy đua kinh tế hiện nay, người nghèo ngày
càng bị thua thiệt. Vì thế, sứ điệp tình yêu của Đức Giê-su
vẫn là một tín hiệu khẩn cấp cho nhân loại.

Hoá thân làm một trẻ sơ sinh yếu đuối trần trụi, Người mong
gửi đến ta sứ điệp hoà bình. Là Thiên Chúa, Người mang
thân phận con người để nối kết đất với trời, để con người
được làm hoà với Thiên chúa. Trở thành anh em của mọi
người, Người kêu gọi con người hãy thương yêu nhau vì
mọi người là anh em với nhau. Người không mang theo vũ
khí, không mang theo quyền lực. Vũ khí của Người là đôi
mắt thơ ngây. Quyền lực của Người là tấm thân trẻ thơ non
nớt. Hai ngàn năm qua rồi, nhưng sứ điệp ấy vẫn còn mang
tính thời sự, vì chiến tranh chưa một ngày vắng bóng trên

                                                         43
hành tinh. Ngay tại Bê-lem, nơi Chúa sinh ra, năm nay
không có thánh lễ, vì cuộc chiến giữa Israel và Palestine vẫn
còn tiếp diễn.

Nằm trong tấm vải thô đặt trên máng bò lừa, Người muốn
gửi đến ta sứ điệp tự do. Là Thiên chúa, Người không muốn
sinh ra trong gia đình vua chúa giầu sang. Nhưng chọn sinh
ra trong gia đình dân dã nghèo hèn. Người không chọn sinh
ra tại một nơi đầy đủ tiện nghi. Nhưng chọn sinh ra trong
chuồng bò lừa. Tâm hồn Người hoàn toàn tự do, không bị
ràng buộc bởi bất cứ nhu cầu vật chất nào. Ngày nay chế độ
nô lệ đã bị xoá sổ trên toàn thế giới. Nhưng con người đang
vướng vào những vòng vây nô lệ mới. Có thứ nô lệ dục
vọng. Có thứ nô lệ đam mê. Có thứ nô lệ chức quyền. Có
thứ nô lệ danh vọng. Có thứ nô lệ vật chất tiền tài. Có thứ
nô lệ sì ke ma tuý. Tất cả những thứ nô lệ mới trói buộc tâm
hồn khiến con người mất hết tự do, nhân phẩm. Nhìn vào
hang đá Bê-lem, sứ điệp tự do của Đức Giê-su như một lời
nhắn nhủ ân cần, như một lời mời gọi tha thiết, như một ánh
sáng soi đường cho ta bước vào vùng trời tự do của tâm
hồn, của nhân phẩm, của con người, của con cái Thiên
chúa.

Năm mới đang mở ra một viễn tượng đầy hứa hẹn nhưng
cũng đầy đe doạ. Cơn lốc kinh tế, khoa học kỹ thuật sẽ cuốn
đi nhiều giá trị đạo đức, sẽ nhận chìm nhiều kiếp người lầm
than. Cơn cám dỗ vật chất sẽ khiến nhiều tâm hồn mất
phẩm chất, nhiều con người sẽ đánh mất chính mình.
Những xung đột sẽ xô đẩy thế giới vào những cuộc chiến
tàn sát.

Hãy đến với Hài nhi Giê- su nằm trên máng cỏ trong hang
đá Bê-lem. Người là hiện thân của tình yêu, của hoà bình,

                                                          44
của tự do. Nhìn ngắm Người, ta sẽ học được những bài học
giải đáp cho những vấn đề của thế giới, của con người, và
nhât là của chính bản thân ta. Sống theo gương Người, ta
sẽ góp phần xây dựng một thế giới tươi đẹp, không chỉ ấm
áp tình người mà còn cao đẹp với những giá trị tinh thần,
những phẩm chất đạo đức.

Lạy Chúa Giê-su Hài Đồng, xin thương xót chúng con.
Amen.

III. KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
     1. Trong những sứ điệp của Chúa Giêsu bé thơ, sứ điệp
        nào được nhắn riêng cho bạn ?
     2. Bạn có tự do thật không ? Hay là có thứ nô lệ nào
        đang trói buộc bạn ?
     3. Tình yêu, tự do, hòa bình. Thế giới hiện nay cần gì
        nhất ? Bạn sẽ làm gì để đóng góp vào hạnh phúc của
        thế giới ?

                                     + TGM Giuse Ngô Quang Kiệt




          CHÚA CỨU THẾ ĐÃ SINH RA
                                          Lm. Carolô Hồ Bặc Xái


I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến ,
"Chúa đã xuống làm người để loài người lên làm chúa".
Thực vậy, mục đích của việc Đức Giêsu giáng sinh là để
sống chung với loài người tội lỗi chúng ta và cứu chuộc
chúng ta. Ngài đã cho thấy rõ mục đích này khi vừa mới
sinh ra: những người khách mời đầu tiên đến hang đá
Bêlem chính là những người chăn chiên, nghèo nàn, tội lỗi,
bị xã hội khinh chê.
                                                       45
Chúng ta hãy có những tâm tình như các kẻ chăn chiên ấy
để đến với Chúa Hài Đồng.

II. GỢI Ý SÁM HỐI
Trong Mùa Vọng, chúng ta chỉ lo chuẩn bị bề ngoài mà chưa
chuẩn bị tâm hồn cho đủ để xứng đáng đón rước Chúa.
Chúa Cứu Thế đã mang lấy thân phận của một người
nghèo. Vậy mà từ trước tới nay chúng ta thường coi khinh
những người nghèo.
Chúa Cứu Thế là ánh sáng của sự lành và sự thiện. Vậy mà
từ trước tới nay nhiều lần chúng ta trốn lánh ánh sáng để
ngụp lặn trong bóng tối của tội lỗi.

III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I Is 62, 11-12
Bối cảnh của những lời tiên tri này là hoàn cảnh khốn khổ
của dân do thái ("thiếu nữ Sion") đang bị lưu đày bên
Babylon.

Ngôn sứ Isaia báo cho họ biết rằng "Đấng cứu độ" sẽ đến
giải thoát họ khỏi cảnh lưu đày, làm cho họ trở thành một
dân thánh, và thành Giêrusalem của họ sẽ trở nên thành
được quý chuộng.

Trong bối cảnh lịch sử ngắn hẹp thời đó, "đấng cứu độ" là
Cyrus vua nước Ba Tư. Còn trong lịch sử cứu độ phổ quát,
Đấng cứu độ chính là Ngôi Hai Thiên Chúa sinh xuống làm
người mang tên là Giêsu.

2. Đáp ca Tv 96
Đây là bài chúc tụng vương quyền của Đấng cứu độ. Tầm
mức bao la của vương quyền này ("trái đất nhảy mừng, các
đảo hân hoan, các tầng trời loan truyền sự công chính của

                                                      46
Chúa, mọi dân tộc nhìn thấy vinh quang Người") chỉ có thể
thực hiện nơi Đức Giêsu mà thôi.

3. Bài đọc II Tt 3, 4-7
Thánh Phaolô tìm hiểu ý nghĩa ơn cứu độ:
Đó không phải do công lao hay sự công chính của loài
người.
mà là một ơn cho không.
xuất phát từ lòng từ tâm và nhân ái của Thiên Chúa.
Ơn này khởi sự từ việc con người lãnh nhận phép rửa
và dẫn đến sự sống đời đời.

4. Tin Mừng Lc 2, 15-20
Bài tường thuật giáng sinh của Thánh Luca có nhiều chi tiết
đáng suy gẫm:
Những kẻ đầu tiên được thiên thần loan báo tin mừng giáng
sinh là những mục tử: mặc dù họ nghèo, mặc dù họ không
có cơ hội để thường xuyên đến đền thờ tham dự các lễ
nghi, mặc dù họ bị xã hội coi khinh, nhưng họ chính là
"những người thiện tâm" (câu 14 phía trước) cho nên đáng
được Thiên Chúa thương ban bình an (câu hát thiên thần:
"Bình an dưới thế cho người thiện tâm").
"Thiện tâm" của họ thể hiện trong cách họ đáp lại với Tin
Mừng: sau khi nghe thiên thần loan báo, họ hối hả đi tìm, và
sau khi gặp được Đức Giêsu, họ trở về loan truyền những
việc kỳ diệu mà họ đã thấy.
Phần Đức Maria thì ghi nhớ tất cả mọi sự và suy niệm trong
lòng để ngày càng hiểu thêm về Đức Giêsu và về cách hành
động kỳ diệu của Thiên Chúa.

IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Một Thiên Chúa nghèo


                                                         47
Ngày nay, trong mức độ hoặc nhiều hoặc ít, việc mừng lễ
Giáng sinh có phần sang trọng và tốn kém: trang hoàng, tiệc
tùng, quà cáp v. v.
Nhưng ngày xưa ở Bêlem thì sao? Thánh gia rất nghèo, nơi
Đức Giêsu sinh ra rất nghèo… Những người nhận được
"một Tin Mừng đặc biệt" cũng là những mục tử nghèo chứ
không phải là những người Rôma quyền thế hay những cư
dân Giêrusalem sang trọng.
Thiên Chúa yêu thương mọi người, Ngài ban Con mình cho
mọi người, giàu cũng như nghèo. Nhưng Ngài ưu ái những
người nghèo hơn; và mặt khác những người nghèo dễ nhận
ra Ngài hơn.
Muốn sống đúng ý nghĩa lễ Giáng sinh, chúng ta phải có
tâm hồn nghèo, phải mở cửa lòng với những người nghèo
và nhận ra hình ảnh Thiên Chúa nơi những người nghèo.

* 2. Một Thiên Chúa nhỏ bé
Chúng ta đã quen với hình ảnh một Thiên Chúa to lớn, uy
quyền…
Nhưng khi Thiên Chúa tỏ mình ra cho chúng ta thấy cụ thể
bằng hình hài xương thịt, thì lại là một đứa trẻ nhỏ bé, yếu
đuối: không biết nói, không biết làm, không biết tự lo cho
mình… Đứa trẻ cần mọi sự nơi người khác: nuôi nấng,
chăm sóc, bảo vệ…
Vậy mà trong gia đình, đứa trẻ lại là người được chú ý nhất,
có thể nói là uy thế nhất: mọi người từ cha mẹ đến anh chị
đều phục vụ cho nó, chịu cực chịu khổ vì nó, tốn kém cho
nó, sẵn sàng thay đổi giờ giấc và công việc vì nó… Thật là
mầu nhiệm của sự nhỏ bé!

* 3. Ngôi Lời đã trở thành nhục thể
Ngày xưa có một cậu bé được tặng cho một chú lính chì
trong dịp lễ Giáng sinh. Cậu rất sung sướng. Nhưng chẳng

                                                         48
bao lâu sau cậu nghĩ: giá như có cách gì làm cho chú lính
bằng chì này có được sự sống như mình thì hay biết mấy!
Và cũng chẳng bao lâu sau cậu bé lại lưỡng lự: làm cho chú
lính này có sự sống tức là biến chú từ chì thành ra xác thịt;
mà như thế không biết chú có chịu hay không, bởi vì khi
mang xác thịt thì có thể bị đau, bị thương và nhất là bị chết.
Thế là cậu bé không nghĩ tới việc làm cho chú lính chì thành
người nữa.

Câu chuyện nhỏ trên giúp ta hiểu mầu nhiệm Chúa nhập
thể. Nhập thể là trở nên xác thịt như loài người. Đức Giêsu
là Thiên Chúa nhưng đã trở thành một đứa trẻ sơ sinh, và
trước khi là một đứa trẻ sơ sinh Ngài còn là một bào thai
trong lòng một phụ nữ. Khi nhập thể, Ngài muốn được giống
như người phàm, gần gũi với người phàm, chịu đói, chịu
khát, chịu đau, chịu chết như người phàm.

Truyền thuyết Ấn giáo xem những vị thần Krishna và Rama
là Thượng đế nhập thể. Tuy nhiên những vị thần này không
bao giờ chịu khổ và chịu chết. Họ không phải là Thượng đế
thực sự thành người, mà chỉ là những hình thái mà Thượng
đế tạm mượn để hiện ra cho loài người thấy mà thôi. Còn
Đức Giêsu thì khác: Ngài thực sự thành người và cùng chia
xẻ mọi yếu đuối khổ đau của loài người.

* 4. Chúa ở cùng chúng ta
Một nhóm người đang trao đổi với nhau những suy nghĩ về
ý nghĩa lễ Giáng sinh. Trong nhóm có một phụ nữ ít ai để ý
tới, nhưng khi bà chia xẻ thì ai nấy đều chăm chú lắng nghe,
vì bà kể về chính cuộc đời của bà.

Bà kể rằng gần đến lễ Giáng sinh thì bà rất sợ hãi, bởi vì bà
rất cô đơn. Cha mẹ bà đã mất hết. Bà là đứa con độc nhất,

                                                           49
không anh chị em. Bà cũng chẳng còn một người bà con
nào cả vì bà là người cuối cùng trong dòng họ. Bạn bè thì
bà cũng có, họ có gởi quà hoặc thiệp giáng sinh, nhưng
chẳng ai mời bà đến nhà đề cùng gia đình họ mừng lễ
Giáng sinh.

Thế thì ngày lễ Giáng sinh bà làm gì? Sáng sớm Bà đến nhà
thờ dự Thánh lễ. Sau lễ, bà đến một hội thiện nguyện giúp
họ làm một số việc. Rồi trở về nhà, nấu cơm. Ăn xong, mở
TV. Nhưng TV đâu có thay thế được những người thân ở
bên cạnh mình, bởi đó bà vừa xem TV vừa khóc. Đến chiều,
bà thả bộ dạo phố. Nhưng phố phường ngày lễ Giáng sinh
rất vắng lặng, ai nấy đều rút vào mái ấm gia đình. Các cửa
tiệm đóng kín cửa. Bà lần bước đến nhà thờ. Nhưng cửa
nhà thờ cũng đóng kín. Bà đành trở về nhà, một mình gặm
nhắm nỗi cô đơn, ý thức rất rõ mình chẳng có một chỗ nào
giữa thành phố đông đảo và mênh mông này.

Nhưng chính lúc đó, bà chợt nghĩ đến câu Tin Mừng: "Hai
ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ". Bà thông cảm
với hoàn cảnh hài nhi Giêsu và thấy mình với Ngài rất giống
nhau. Ý tưởng ấy làm cho lòng bà ấm lại. Theo bà, ý nghĩa
lễ Giáng sinh chính là Thiên Chúa đến chia xẻ thân phận
con người.

* 5. Ghi nhớ và suy nghĩ
"Còn Bà Maria thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy, và suy
đi nghĩ lại trong lòng"

Trong những dịp Lễ Giáng sinh, chúng ta đã thấy và đã
nghe rất nhiều điều. Nhưng các năm trước, tất cả những
điều ấy chỉ rộn lên trong một ngày rồi mau chóng chìm vào
quên lãng. Lễ Giáng sinh năm nay, chúng ta hãy noi gương

                                                        50
Đức Mẹ "ghi nhớ tất cả những điều ấy, và suy đi nghĩ lại
trong lòng"

Hãy ghi nhớ và suy nghĩ về sự nghèo nàn. Tại sao Chúa có
quyền chọn, thế mà Ngài lại chọn sinh ra trong cảnh nghèo
nàn?

Hãy ghi nhớ và suy nghĩ về những mục tử. Họ là hạng
người bị xã hội thời đó coi là hèn hạ, thậm chí bất hảo. Tại
sao Chúa lại ưu ái họ đến nỗi mời họ đến gặp Ngài trước
tiên?

Hãy ghi nhớ và suy nghĩ về nhiệt tình của tín hữu trong dịp
Lễ Giáng sinh. Tại sao hôm nay họ đi lễ đông đủ như thế,
còn những Chúa nhựt khác thì thưa thớt?

Hãy ghi nhớ và suy nghĩ về sự tham gia của những người
không phải kitô hữu. Cả họ cũng mừng Lễ Giáng sinh, nhiều
người còn đi lễ. Vì động cơ nào? Họ nghĩ gì về Đức Giêsu
và về Kitô giáo?

* 7. Chuyện minh họa
Vào buổi sáng nọ, người thợ giầy thức giấc rất sớm. Anh
quyết định chuẩn bị căn xưởng nhỏ của anh cho tươm tất
rồi vào phòng khách chờ đợi cho bằng được người khách
quý. Người khách đó không ai khác hơn là chính Chúa, bởi
vì tối qua trong giấc mơ Ngài đã hiện ra và báo cho anh biết
Ngài sẽ đến thăm anh trong ngày hôm sau.

Người thợ giầy ngồi chờ đợi, tâm hồn tràn ngập hân hoan.
Khi những tia nắng sớm vừa rọi qua khung cửa, anh đã
nghe được tiếng gõ cửa. Lòng anh hồi hộp sung sướng.
Hẳn là Chúa đến. Anh ra mở cửa. Thế nhưng kẻ đang đứng

                                                         51
trước mặt anh không phải là Chúa, mà là người phát thư.
Sáng hôm đó là một ngày cuối đông. Cái lạnh đã khiến mặt
mũi tay chân người phát thư đỏ như gấc. Người thợ giầy
không nỡ để nhân viên bưu điện run lẩy bẩy ngoài cửa. Anh
mời ông ta vào nhà và pha trà mời khách. Sau khi đã được
sưởi ấm, người phát thư đứng dậy cám ơn và tiếp tục công
việc.

Người thợ giầy lại vào phòng khách chờ Chúa. Nhìn qua
cửa sổ, anh thấy một em bé đang khóc sướt mướt trước
cửa nhà. Anh gọi nó lại hỏi cớ sự. Nó mếu máo cho biết đã
lạc mất mẹ và không biết đường về nhà. Người thợ giầy lấy
bút viết vài chữ để lại trên bàn, báo cho người khách quý
biết mình đã đi ra ngoài. Nhưng tìm đường dẫn đứa bé về
nhà đâu phải là chuyện đơn giản và nhanh chóng. Mãi chiều
tối anh mới tìm ra nhà đứa bé và khi anh về lại nhà thì phố
xá đã lên đèn.

Vừa bước vào nhà, anh đã thấy có người đang đợi anh.
Nhưng đó không phải Chúa mà là một người đàn bà với
dáng vẻ tiều tụy. Bà cho biết đứa con của bà đang ốm nặng
và bà đã không thể chợp mắt suốt đêm qua. Nghe thế,
người thợ giầy lại hối hả đến săn sóc đứa bé. Nửa đêm anh
mới về nhà, anh để nguyên quần áo và lên giường ngủ.

Thế là một ngày đã qua mà Chúa chưa đến thăm anh.
Nhưng đột nhiên trong giấc ngủ, người thợ giầy nghe tiếng
Chúa nói với anh: "Cám ơn con đã dọn trà nóng cho Ta
uống. Cám ơn con đã dẫn đường cho Ta về nhà. Cám ơn
con đã săn sóc an ủi Ta. Cám ơn con đã tiếp đón Ta ngày
hôm nay" (Trích "Món quà giáng sinh")

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

                                                        52
Chủ tế: Anh chị em thân mến, trong niềm vui lớn lao của Lễ
Giáng sinh, kỷ niệm tình thương giáng thế. Chúng ta hãy vui
mừng dâng lên Chúa những lời nguyện tha thiết sau đây:
    1. Xin cho Hội thánh và mọi Kitô hữu biết dùng lễ Noel
    này / để loan báo tin vui hòa bình và cứu độ cho mọi
    người trên thế giới.
    2. Xin cho những người có trách nhiệm quốc gia hay
    quốc tế / biết dùng dịp lễ Noel này để tìm kiếm và duy
    trì những giải đáp đem lại công lý và hòa bình cho mọi
    dân tộc.
    3. Xin cho những đôi vợ chồng đang chia rẽ, những gia
    đình bị phân ly, những người đang đau khổ vì chiến
    tranh huynh đệ tương tàn / được ánh sáng đêm Noel
    soi / để tìm về hòa giải và sống hiệp thông với nhau.
    4. Xin cho anh chị em trong cộng đồng xứ đạo chúng ta
    đang mừng lễ Noel hôm nay / biết sống một lễ Noel
    trọn tình nghĩa với Chúa / và chia sẻ niềm vui cho mọi
    người chung quanh.

CT: Lạy Chúa, chúng con cảm tạ ơn Chúa vì đang được
hưởng đem thánh huyền diệu này, xin cho ánh sáng đêm
Noel chiếu soi vào mọi người chưa biết Chúa, và dẫn lối
đưa đường cho họ tìm về hiệp thông với Hội thánh Chúa.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô. . .
                                                       Lm. Carolô Hồ Bặc Xái




  NHẬP THỂ, MẦU NHIỆM CỦA SỰ CHIA SẺ
                Is 62,11-12 / Tit 3,1-7 / Lc 2,15-20
                                                         Lm. Phạm Minh Tâm
Theo Thánh Kinh, sau khi nghe lời các Sứ Thần loan báo,
các mục đồng đã hối hả sang Bêlem để xem sự việc xảy ra.
Và như lời đã được loan báo, họ đã gặp thấy Bà Maria, ông
Giuse và một Hài Nhi nằm trong máng cỏ. Một Hài nhi mới
                                                                        53
sinh được đặt nằm trong máng cỏ là một sự kiện có thật đã
xảy ra, và khi ghi chép cũng như truyền bá điều này thì
những người đương thời vẫn còn sống như những chứng
nhân đích thực.

Ðức Giêsu là Thiên Chúa đã làm người để thực hiện tình
thương của Thiên Chúa đối với con người. Tình thương ấy
đã hội nhập vào cảnh sống của những con người đáng
thương nhất: những người nghèo và khổ. Người chia sẻ
thân phận nghèo khổ ấy đến độ không có một nơi xứng
đáng và đầy đủ để sinh ra. Chẳng có nôi hồng mà chỉ có
máng cỏ hôi tanh. Chẳng có gì để ăn đầy tháng. Cũng
chẳng có nồi chè trôi nước để mừng ngày thôi nôi. Người
chia sẻ thân phận nghèo khổ của kiếp người đến độ chẳng
có chỗ tựa đầu. Cả cuộc sống chỉ toàn là vay mượn. Mượn
máng cỏ của bò lừa để nương náu trong những giây phút
đầu đời. Mượn ghe thuyền của các đệ tử để giảng đạo.
Mượn lừa con của người khác để đi vào thành Giêrusalem.
Mượn nhà để tổ chức bữa tiệc cuối cùng. Và khi chết rồi
cũng phải mượn ngôi mộ của ông Giuse Arimathea... Tất cả
cho thấy Người đã chia sẻ thân phận của con người tới tột
cùng, và chính cuộc sống của Người đã trở thành một lời tỏ
tình với con người cách cụ thể, cách chân thành nhất.

Kính thưa quí ông bà và anh chị em,
Chúa Giêsu đã sinh ra, đã sống cách đây hơn 2.000 năm
rồi, nhưng không phải vì thế mà ngày hôm nay Người không
còn chia sẻ cuộc sống với ta. Người vẫn hiện diện bên đời
ta dù ta không thấy được Người. Người hiện diện để nâng
đỡ ta trong cảnh sống thiếu thốn cơ hàn. Người hiện diện
để xoa dịu những nỗi đau thương trong đời ta. Người hiện
diện để ban phát những ân huệ cần thiết cho cuộc sống của
ta.

                                                       54
Chính như thế đó mà dù cho cuộc sống của ta ngày mai có
thể vẫn như hôm qua, vẫn nghèo túng cơ cùng, vẫn hai vai
nặng nề hai gánh, nhưng ta sẽ cảm thấy bình an, bởi biết
rằng có Thiên Chúa cùng đi bên ta và Người đang ghé vai
vác đỡ gánh nặng của đời ta.

                                          Lm. Phạm Minh Tâm


           Lễ Chúa Giáng sinh (Lễ Ban ngày)

           LỜI ĐÃ THÀNH XÁC PHÀM
                                   + TGM Giuse Ngô Quang Kiệt
I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA Ga 1, 1-18
1) Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời
Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa
và Ngôi Lời là Thiên Chúa.
(2) Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.
(3) Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành,
và không có Người,
thì chẳng có gì được tạo thành.
Ðiều đã được tạo than
(4) ở nơi Người là sự sống,
và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.
(5) Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối,
và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.
(6) Có một người được Thiên Chúa sai đến,
tên là Gio-an.
(7) Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sang
để mọi người nhờ ông mà tin.
(8) Ông không phải là ánh sáng,
nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.
(9) Ngôi Lời là ánh sáng thật,
ánh sáng đến thế gian
                                                         55
và chiếu soi mọi người.
(10) Người ở giữa thế gian,
và thế gian đã nhờ Người mà có,
nhưng lại không nhận biết Người.
(11) Người đã đến nhà mình
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
(12) Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh
Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.
(13) Họ được sinh ra, không phải do khí huyết
cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
hoặc do ước muốn của người đàn ông,
nhưng do bởi Thiên Chúa.
(14) Ngôi Lời đã trở nên người phàm
và cư ngụ giữa chúng ta.
Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người
vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người
là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.
(15) Ông Gio-an làm chứng về Người, ông tuyên bố
"Ðây là Ðấng mà tôi đã nói:
Người đến sau tôi,
nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi."
(16) Từ nguồn sung mãn của Người,
tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.
(17) Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-
sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Ðức Giê-su Ki-tô mà có.
(18) Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả;
nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa
và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha,
chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
Lời nói thật quan trọng trong đời sống. Nhờ lời nói ta có thể
bộc bạch nỗi lòng. Nhờ lời nói ta hiểu được người khác.

                                                          56
Chúa Giêsu chính là Ngôi Lời của Thiên Chúa đã thành xác
phàm. Qua Hài nhi Giêsu trong hang đá Bêlem, ta hiểu
được phần nào tâm tình của Thiên Chúa muốn ngỏ với loài
người.

Lời của Thiên Chúa là Lời Yêu Thương. Một trẻ sơ sinh nằm
trong máng cỏ. Đó là gì nếu không phải là tình yêu. Vì yêu
thương Thiên Chúa đã muốn nói với nhân loại bằng chính
ngôn ngữ của nhân loại. Không phải chỉ nói bằng lời nói
nhưng còn bằng cả thân xác. Lời Thiên Chúa trong thân xác
trẻ thơ. Thật gần gũi. Thật yêu thương. Vì yêu thương Thiên
Chúa đã vượt ngàn trùng để đến chia sẻ kiếp người. Nếu
yêu thương là muốn ở gần và muốn hi sinh cho người mình
yêu thì Chúa Giêsu bé thơ trong hang đá Bêlem chính là
một lời yêu thương bằng xương bằng thịt. Một lời yêu
thương có thể chạm tới được. Thân xác bé bỏng hôm nay
rét run trong làn gió lạnh, mai sau sẽ run rẩy dưới những
ngọn roi, co giật vì những nhát búa, tả tơi trên thánh giá. Tất
cả đều là lời ngỏ của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại.

Lời của Thiên Chúa là Lời Cứu Độ. Tình yêu của Thiên
Chúa không phải là cảm tính, nhưng là một chương trình lâu
dài. Lời Thiên Chúa nói với loài người không phải để làm vui
tai, nhưng đem đến ơn cứu độ. Trong kinh Tin Kính chúng
ta đọc: “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi,
Người đã từ trời xuống thế”. Vâng, Chúa xuống thế làm
người chính là để cứu chuộc chúng ta. Chúa xuống thế làm
người để biến đổi thân phận con người. Ngài trở nên bé nhỏ
để ta được lớn mạnh. Ngài trở nên nghèo hèn để ta được
giàu có. Ngài xuống thế làm người để ta được nâng lên làm
con Thiên Chúa. Thân xác bé bỏng của Hài nhi Giêsu là tất
cả niềm hi vọng được cứu độ của loài người. Lời Chúa nói
với người bất toại: “Tội của con đã được tha”(Mt 9, 2), và lời

                                                            57
hứa với người trộm lành: “Hôm nay con sẽ ở trên thiên đàng
với ta”( Lc 23, 43) đã bắt đầu từ hang đá Bêlem.

Lời của Thiên Chúa là Lời Soi Sáng. Trong tội lỗi, định mệnh
của con người bị bế tắc. Tội lỗi là bóng tối bao phủ khiến ta
mất phương hướng không biết đi về đâu. Con người đánh
mất ý nghĩa cuộc sống. Ngôi Lời Thiên Chúa từ trời xuống
để khai thông định mệnh con người. Ngôi Lời Thiên Chúa
mặc lấy xác phàm để làm cho cuộc đời con người có ý
nghĩa. Ngài từ trời xuống thế để mở cho ta đường về trời.
Ngài đã chiếu ánh sáng vào đêm tối loài người. Ai đi theo
Ngài là đi trong ánh sáng. Anh sáng dẫn đưa tới sự thật và
sự sống.

Từ ngàn xưa Thiên Chúa đã dùng đủ mọi người, mọi cách
để ngỏ lời với nhân loại. Hôm nay, Ngài muốn nói với ta qua
Người Con của Ngài. Nhưng Lời Yêu Thương ấy thì thầm
quá, chỉ trái tim rộng mở mới có thể lắng nghe. Lời Cứu Độ
ấy nhẹ nhàng quá, chỉ tấm lòng khao khát mới có thể đón
nhận. Lời Anh Sáng ấy sâu thẳm quá, chỉ những tâm hồn
thiện chí mới hiểu thấu ý nghĩa. Hãy mở rộng trái tim như
Đức Mẹ và thánh Giu se để ta nghe được lời yêu thương
của Thiên Chúa. Hãy có tấm lòng khao khát như các mục
đồng để ta nhận được ơn cứu độ. Hãy có tâm hồn thiện chí
như ba nhà đạo sĩ để ta hiểu được ý nghĩa lời Chúa soi
sáng hướng dẫn cuộc đời ta.

Lạy Chúa Cha từ ái, xin mở trái tim con, mở tâm trí con, mở
linh hồn con để con lắng nghe được tiếng Chúa, để con đón
nhận Chúa Giêsu là Lời của Cha, và để con cũng được
hạnh phúc trở thành Con của Cha.



                                                          58
                                                 + TGM Giuse Ngô Quang Kiệt




                NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI
                Ga. 1: 1-18 – Giáng Sinh ban ngày
Ngôi Lời có tương quan mật thiết với Chúa Cha, nhưng cũng rất gắn bó với
loài người, được sai phái đến trần gian là để làm cho chúng ta có thể thông dự
vào sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa, nhờ chúng ta tin. Đây là chân trời từ đó
bung mở tất cả câu truyện Giêsu.
                                                    Lm PX. Vũ Phan Long, ofm


1.- NGỮ CẢNH
Mười tám câu đầu tiên của TM IV được nhiều học giả coi
như là một Lời Tựa long trọng của tác phẩm: giọng văn của
phân đoạn này cũng như các đề tài chính của TM được hàm
chứa trong đó biện minh cho nhận định này. Đoi với những
vị khác, Lời Tựa là như phần Mở của TM, theo nghĩa là một
vở nhạc kịch có một phần mở: các đề tài chính sẽ được
nhắc lại trong phần thân của TM (sự sống, ánh sáng, sự
thật, vinh quang, Con, tin, làm con Thiên Chúa, thế gian,
bóng tối, v.v.). Cuối cùng, có một số tác giả cho rằng cc. 1-
18 còn hơn là một lời tựa hay một phần mở nữa; các câu ấy
chính là Tin Mừng trong một cái nhìn tổng hợp và sâu sắc,
tất cả phần còn lại chỉ lấy lại sứ điệp mà diễn tả chi tiết bằng
những câu truyện, qua đó ta thấy Ngôi Lời đã đến trong thế
gian này và chia loài người thành hai ra trước mặt Người
theo cách nhiệm mầu.

Tuy nhiên, cũng có những khác biệt quan trọng giữa Lời
Tựa và TM. Thể thơ trong cc. 1-5.9-12.14-18 chỉ có ở trong
                                                        59
Những điểm tương đồng và dị biệt giữa Lời Tựa và TM đã
khiến các nhà chú giải đi đến ba kiểu nhận định về cách
soạn thảo Lời Tựa:
      - Bởi vì có nhiều điểm tương đồng, một số vị cho rằng
cùng một tác giả đã soạn Lời Tựa và TM.
      - Do có những khác biệt, những vị khác nghĩ rằng Lời
Tựa không phải là công trình nguyên thủy của tác giả,
nhưng là một bài thơ hay là một bài thánh ca có sẵn đã
được cải biên để mở đầu TM. Tuy nhiên, lập trường này
không thể giải thích được vì sao trong bài thơ gốc ấy lại có
nhiều từ ngữ chuyên biệt của TM IV đến thế (ví dụ: sứ sống,
ánh sáng, bóng tối, làm chứng, thế gian, vinh quang).
      - Một số vị cho rằng Lời Tựa là một thánh ca Ki-tô học
truyền thống, có lẽ đã được sáng tác ra trong cộng đoàn
Gioan, và đã được tác giả TM đặc biệt cải biên thành một
phần mở của TM. Ý kiến này được hỗ trợ bởi các điểm
tương đồng về từ vựng và đề tài giữa Lời Tụa và phần còn
lại của TM cũng như bởi các thánh ca Ki-tô học trong một số
thư Phaolô (x. Pl 2,6-11; Cl 1,15-20; 1 Tm 3,16).
Dù thế nào đi nữa, hiện nay Lời Tựa có đó như một dẫn
nhập tuyệt vời vào TM IV. Hầu như chắc chắn là Lời Tựa,
cũng như phần Kết của TM, đã được thêm vào sau khi
quyển TM đã được viết xong. Như thế, Lời Tựa có thể được
coi như một suy tư vừa để nghiền ngẫm vừa để đánh giá
TM, do tác giả và cộng đoàn ngài đã ghi lại trong quyển TM
vừa mới hoàn tất, đặc biệt về lời công bố của quyển TM

                                                         60
rằng bản thân Đức Giêsu là Đấng Mêsia và Con Thiên
Chúa. Lời Tựa có thể được coi như “lời chú giải có uy tín và
chính lục” cổ nhất về quyển TM IV. Nó cũng cung cấp chìa
khóa để chú giải TM IV (Collins). Và như vậy, Lời Tựa chỉ
“hoàn toàn hiểu được” đối với người nào “biết trọn quyển
Tin Mừng” (Bultmann).

2.- BỐ CỤC
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Ngôi Lời Thiên Chúa là Sự Sống và Ánh sáng (1,1-13):
a) Lời ban sự sống (1,1-5);
b) Gioan là chứng nhân (1,6-8 [15]);
c) Ngôi Lời là ánh sáng thật (1,9-13);
2) Ngôi Lời Thiên Chúa là ân sủng và sự thật (1,14.16-18).

3.- VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
- Lúc khởi đầu (1): Đây là những từ đầu tiên của sách Sáng
thế, nhắm tới không phải là khởi đầu thời gian của thế giới,
nhưng là khởi đầu tuyệt đối (x. St 1,1).

- có (1): Động từ ên (was, était) ở thì vị-hoàn (imperfect)
diễn tả sự kéo dài: Lời luôn hiện hữu cách siêu vời và vĩnh
cửu.

- Lời (1): Đối với người Sê-mít, “lời” không phải chỉ là một
âm thanh của tiếng nói, sẽ tan biến đi theo nhịp độ ta phát
ra. Theo họ, một khi lời con người đã được nói ra, thì tồn tại
như một sức mạnh huyền nhiệm, luôn luôn làm việc để tạo
ra cái mà lời ấy diễn tả, về mặt tốt hay xấu. Trong Tân Ước,
Đức Giêsu không bao giờ tự xưng là “Lời” và cũng chưa
bao giờ được gọi như thế ngoài những bản văn Gioan.
Nhưng trong các bản văn Cựu Ước và Tân Ước, có những
chuẩn bị cho giáo lý của TM IV về Ngôi Lời. Chẳng hạn, có

                                                           61
ba trào lưu tư tưởng nhắm nhân cách hóa Đức Khôn
Ngoan, Lề Luật và Lời Thiên Chúa (Cn 8,22t; Hc 24,22t; Is
55,10t; Kn 18,14t), cũng như có khuynh hướng đồng hóa sự
Khôn Ngoan với Lời Thiên Chúa, thậm chí đồng hóa Lề Luật
với Lời (Hc 24,1.3.22t). Đàng khác, trong các bản văn đầu
tiên của Tân Ước, Lời có nghĩa là sứ điệp cứu độ nơi Đức
Giêsu Kitô, và thánh Phaolô đã trình bày Đức Kitô như là
Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa và gán cho Lời những
phẩm tính tương tự các phẩm tính của Đức Giêsu Kitô (Cv
8,4; 19,20; 1 Cr 1,24; Pl 2,16).

- Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa (2): Giới từ pros cho
thấy một sự hướng chiều về một người nào. Tách khỏi Cha
được gọi là Thiên Chúa, Ngôi Lời cũng ở trong một sự hiệp
thông hoàn hảo với Chúa Cha.

- Nhờ Người, vạn vật được tạo thành (3): Dịch sát là “nhờ
Người, mọi sự đã trở thành (egeneto)”: Đọng từ egeneto
cũng được bản LXX sử dụng trong St 1,3, diễn tả rất rõ viễc
tạo thành mọi sự “từ không có gì” (a nihilo) (x. 17,24). Thiên
Chúa nhờ trung gian của Ngôi Lời mà tạo thành vạn vật.
Cựu Ước đã gán công cuộc tạo dựng thế giới cho Lời Thiên
Chúa (Tv 33,6.9; 147,15-18; Is 40,26; 48,3; Kn 9,1; x. St 1,3)
hoặc cho Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa (Cn 8,27-30; Kn
7,12; 8,4; 9,9).

- không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành lại đã
được tạo thành (3): Chỗ cắt giữa c. 3 và c. 4 là một vấn đề
được tranh luận rất nhiều. Bởi vì cả truyền thống thủ bản lẫn
ngữ pháp không cho phép vĩnh viễn giải quyết cuộc tranh
luận, thì phải giải quyết bằng chú giải. Nếu ghép c. 3c với c.
4a, có thể hiểu theo nhiều cách:
- những gì đã được tạo thành thì là sự sống nơi Người;

                                                           62
- những gì đã được tạo thành, trong những cái đó (tức trong
thế gian) có sự sống;
- những gì đã được tạo thành, trong những cái đó, Logos là
sự sống;
- những gì đã được tạo thành nơi Người, đó là sự sống.

Tất cả các cách dịch và giải thích đó, vì gán cho từ ngữ “sự
sống” ý nghĩa là sự sống tự nhiên, chung cho mọi sinh vật,
đều vấp phải một vấn nạn căn bản như nhau, đó là chưa nói
đến những khó khăn riêng của mỗi kiểu dịch. Quả thế, cho
dù không có kèm theo tính từ “đời đời/vĩnh cửu”, “sự sống”
thường được nói đến trong TM IV luôn luôn là sự sống đời
đời, mà Đức Kitô mang đến cho loài người: loài người nhận
được sự sống đó chính là được cứu độ. Đàng khác ngữ
cảnh gần lại cho thấy: mệnh đề kết hợp (coordinate) tiếp đó
lấy lại từ “sự sống” với quán từ (article): Tin Mừng bảo
chúng ta rằng sự sống vừa nói đó là “ánh sáng cho nhân
loại”. Do đó, chắc chắn sự sống dó phải là sự sống thần
linh, lúc đầu có từ muôn đời trong Ngôi Lời, rồi được Người
thông ban cho loài người.

- Câu 3 là câu thơ ở thể biền ngẫu đối nghĩa, nhằm nêu bật
rằng Ngôi Lời đóng vai trò trung gian tuyệt đối trong công
trình tạo dựng.

- những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người
(12): Tin vào ai có nghĩa là hoàn toàn gắn bó với người ấy,
đặt mọi sự dựa vào người ấy, tin tưởng hoàn toàn vào
người ấy. Đây là thái độ căn bản của con người đối với Đức
Giêsu. Có 33 lần, tác giả nói đến “tin vào Đức Giêsu”, chỉ 1
lần “tin vào Thiên Chúa” (14,1). “Tin vào danh” là một công
thức hiếm hơn (1,12; 2,23; 3,18; 1 Ga 5,13) và luôn luôn quy


                                                         63
về Đức Giêsu; công thức này có nghĩa là đặt tất cả sự tin
tưởng vào tư cách của con người được nêu tên.

- Ngôi Lời đã trở nên người phàm (14): Dịch sát là “đã trở
thành xác thịt/xác phàm”. Từ ngữ “xác thịt” (sarx) trong Kinh
Thánh không nhắm đến một phần của con người, hoặc
thậm chí thân xác của người ấy, mà là con người toàn vẹn,
nhưng yếu đuối và mỏng dòn mong manh, một hữu thể phải
chịu đau đớn và phải chết.

- Chúa Cha (14.18): TM IV dùng từ “Cha” để gọi Thiên Chúa
122 lần trong quan hệ với Đức Giêsu; chỉ có 3 lần là “Cha
của loài người” (8,41-42 [2x]; 20,17 [1x]). Cũng trong TM
này, chỉ Đức Giêsu được gọi là “Con Thiên Chúa” theo
nghĩa riêng, trên một bình diện bình đẳng và đồng phân với
Thiên Chúa; loài người không được gọi là “con”, mà là “tạo
thành” của Thiên Chúa.

4.- Ý NGHĨA CỦA BẢN VĂN
Mỗi Tin Mừng bắt đầu theo cách của mình. Mt liên kết với
lịch sử cứu độ: ngài tức khắc giới thiệu Đức Giêsu Kitô như
là con cháu Đavít và con cháu Abraham (Mt 1,1-17). Mc quy
chiếu về công việc rao giảng Tin Mừng hiện tại: Đức Giêsu
là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa (Mc 1,1-15). Lc bắt đầu tác
phẩm theo cách các sử gia cổ thời, với một lời tựa, cho biết
ngài tiến hành có lớp lang (Lc 1,3): ở 1,31, ngài giới thiệu
tên Đức Giêsu lần dầu và ở 2,11, ngài cho biết địa vị của
Đức Giêsu. Còn tác giả Gioan, trước khi gọi tên Đức Giêsu
Kitô ở 1,17, thì ở 1,1-13, đã nêu lên những đặc điểm của
Đức Giêsu và ở 1,14-18, mô tả hình thức, các nội dung và
những điểm liên can đến biến cố Đức Giêsu đến trần gian.

* Ngôi Lời Thiên Chúa là Sự Sống và Ánh sáng (1,1-13)

                                                          64
Đối với tác giả TM IV, Đức Giêsu Kitô là Ngôi Lời. Bằng
danh xưng này, ngài muốn diễn tả ra thực tại thâm sâu nhất
của Đức Giêsu, sự kiện Người nhiệm xuất từ Thiên Chúa và
tầm quan trọng của Người đối với loài người chúng ta. Dân
Ít-ra-en nhận biết vị Thiên Chúa của riêng mình như là Đấng
nói với họ: không phải như vị Thiên Chúa khép kín mình lại
và giam mình trong cõi thinh lặng, vị Thiên Chúa vô danh, xa
cách và gây ra sợ hãi, nhưng như vị Thiên Chúa ngỏ lời với
họ và cho họ biết các ý định và ý muốn của Người. Người
đã nói với Abraham, đã gọi ông và đã ban cho ông lời hứa
là muôn dân được chúc phúc (x. St 12,1-3). Qua trung gian
Môsê, Người đã giải phóng dân Người khỏi kiếp nô lệ và đi
cho biết ý muốn của Người đặc biệt trong “Mười điều răn”.
Nhờ các ngôn sứ, Người đã can thiệp vào trong các tình
cảnh khác nhau của lịch sử dân Người. Người đã ngỏ lời
với họ, để cho họ truyền đạt như là lời khuyên nhủ, lời
khuyến cáo, lời hứa và lời động viên. Lời Thiên Chúa ở tại
khởi đầu của toàn thể lịch sử. Bằng Lời tạo dựng quyền
năng, Thiên Chúa đã gọi mọi sự ra hiện hữu. Nhờ Lời này,
Thiên Chúa giao tiếp với các tạo thành của Người, tự mạc
khải ra cho họ, cho họ được thông dự vào tất cả dự phóng
và ý muốn của Người về họ. Lời Thiên Chúa đã ban sự hiện
hữu và sự sống. Lời này ngỏ với chúng ta, và kêu gọi chúng
ta dấn thân. Lời này vừa là yêu cầu vừa là lời hứa. Lời này
đến từ Thiên Chúa, làm nền tảng và xác định tương quan
giữa Thiên Chúa và loài người.

Đức Giêsu Kitô không chỉ truyền đạt Lời Chúa như một
ngôn sứ, nhưng Người chính la lời này, lời đầu tiên và cuối
cùng của Thiên Chúa. Nơi Người, Thiên Chúa tự mạc khải
ra vĩnh viễn và chan hòa, Thiên Chúa nói với chúng ta và
cho ta được biết Người. Khi Người ngỏ lời với chúng ta, thì
cũng luôn luôn có một yêu cầu, một đòi hỏi phải trả lẽ. Các

                                                         65
đặc điểm của Lời Thiên Chúa này là thế nào, Người đến từ
những chiều sâu nào, Người có tương quan thế nào với
toàn thể tạo thành, tương quan với Người thì đưa lại điều gì
cho loài người chúng ta, tất cả những điểm này đều được
Gioan mô tả trong 1,1-13.

Lời đang ở nơi Đức Giêsu Kitô đã được chuyển đến cho loài
người chúng ta không phải để vang lên rồi tắt mất, nhưng
Lời ấy vĩnh cửu và trường tồn như Thiên Chúa: “Lúc khởi
đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và
Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về
Thiên Chúa” (1,1-2). Tương quan của Ngôi Lời Thiên Chúa
với chính Thiên Chúa được xác định ở đây với ba ý: Ngôi
Lời thì vĩnh cửu và vô tạo như Thiên Chúa; Người sống
trong sự hiệp nhất trường tồn với Thiên Chúa; Ngài là Thiên
Chúa theo cùng một cách như Thiên Chúa là Thiên Chúa.
Ba điểm này được tóm trong c. 2, được nhắc lại và khẳng
định như là bất biến. Chúng nêu lên bản chất sâu xa nhất,
đặc tính chính yếu và tư cách của con người là Ngôi Lời
Thiên Chúa: TM IV nói với chúng ta về hành trình, các lời
nói và các hành động của Người trên mặt đất. Trong tất cả
những gì Đức Giêsu làm, ta thấy được điều này: Người
không phải là người mang các lời của Thiên Chúa, mà là
chính lời Thiên Chúa, lời vững chắc và đáng tin như chính
Thiên Chúa trong thần tính sâu xa và cao cả của Ngài.

Kinh Thánh mở ra với khẳng định: “Lúc khởi đầu, Thiên
Chúa sáng tạo trời đất” (St 1,1). Ngược lại, TM IV không mở
đầu bằng lời khẳng định: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng
tạo Lời”, nhưng bằng lời khẳng định: “Lúc khởi đầu đã có
Ngôi Lời”. Giống như Thiên Chúa, Ngôi Lời không được tạo
thành, nhưng hiện hữu từ muôn đời, sống trước cuộc tạo
dựng, không có khởi đầu và không có kết thúc, vĩnh cửu và

                                                         66
không ai trổi vượt hơn. Ngôi Lời vĩnh cửu này ở bên Thiên
Chúa từ muôn đời. Người là một partner hằng sống của
Thiên Chúa và liên kết với Thiên Chúa bằng một sự hiệp
nhất vĩnh cửu và không có trung gian. Sự hiệp nhất này xảy
ra ngay trên bình diện Thiên Chúa; các partner bình đẳng
với nhau. Ở đây không phải là tương quan giữa Đấng Tạo
hóa và tạo thành. Ngôi Lời có bản tính Thiên Chúa, phẩm
cách Thiên Chúa, Người có cùng bình diện hiện sinh của
Thiên Chúa, Người là Thiên Chúa, Thiên Chúa thế nào thì
Người cũng là như thế. Chỉ khởi đi từ tương quan của
Người với Thiên Chúa, ta mới có thể hiểu được tầm quan
trọng và giá trị, quyền năng và sự viên mãn của Ngôi Lời.

Từ muôn thuở muôn đời và vô biên trước tương quan Tạo
Hóa–tạo thành, có tương quan Thiên Chúa–Ngôi Lời Thiên
Chúa. Bây giờ tương quan của Ngôi Lời với tạo thành mới
được nói đến: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành”.
Khẳng định này lại được nhắc lại và nhấn mạnh: “Và không
có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” (1,3). Toàn thể
tạo thành nhờ Ngôi Lời Thiên Chúa mà có (x. 1 Cr 8,6; Cl
1,16; Dt 1,2), lệ thuộc vào Người mà hiện hữu. Ngôi Lời
sống trong sự hiệp nhất vĩnh cửu với Thiên Chúa; Người
gắn bó với tạo thành ngay từ thuở ban đầu; trong bản tính,
Người là Ngôi Lời Thiên Chúa. Và khi đến trần gian, Người
không thiết lập một tương quan mới với tạo thành, Người
không đi vào một xứ sở xa lạ, nhưng Người đến nhà của
Người, đến với sản nghiệp của Người (1,9-11). Khởi đi từ
những tương quan căn bản của Người, Người nhắm tới việc
thông truyền và liên kết, Người là Ngôi Lời Thiên Chúa quay
hướng về tạo thành của Người.

Tương quan đặc biệt của Ngôi Lời với loài người được diễn
tả bằng sự sống và ánh sáng. Trong Cựu Ước, có lời khẳng

                                                        67
định: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng
chỉ đường con đi” (Tv 119,105) và: “Lạy Chúa, thân con bị
muôn phần khổ nhục, theo lời Ngài, xin cho con được sống”
(Tv 119,107). Đặc tính căn bản của Ngôi Lời chắc chắn là
sự sống vô cùng viên mãn, tức không có chút gì là bóng tối
sự chết và giới hạn nơi Người. Như thế, Ngôi Lời có đặc
điểm như Thiên Chúa, vì Người là Thiên Chúa hằng sống
(x. Ga 5,26). Nhờ sự sống viên mãn không hề cạn kiệt của
Người, Ngôi Lời trở thành ánh sáng cho loài người đang
sống trong bóng tối và tiến về sự chết. Ngôi Lời là ánh sáng
chiếu soi, ánh sáng làm cho mọi sự nên rõ ràng và làm cho
ta có thể sống và định hướng đời mình.

Nhưng đến đây lần đầu tiên, tác giả cho thấy công trình của
Ngôi Lời có gặp một sức mạnh đối nghịch. Bóng tối ngăn
cản loài người nhận được ảnh hưởng của ánh sáng. Toàn
thể TM IV nói đến cuộc xung đột giữa ánh sáng và bóng tối.
Nhưng ánh sáng vẫn tỏa rạng và thắng vượt. Cuối cùng, có
lời loan báo chiến thắng, tiên báo kết quả của trận đấu:
“Bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (1,5). Ánh sáng
mạnh mẽ và mang sự sống tiếp tục chiếu soi loài người.

Sau khi nhìn lần đầu tiên đến chứng nhân Gioan, tác giả giải
thích lần cuối cùng biến cố Ngôi Lời đến trong thế gian (1,9-
13). Người đến như là ánh sáng thật soi chiếu mọi người.
Tuy nhiên, cách thức đón tiếp khác nhau. Hai lần tác giả nói
rằng Ngôi Lời bị xua trừ. Người đã ở trong thế gian, nhưng
thế gian, tuy vẫn nhờ Người mà hiện hữu, lại không nhận
biết Người; tạo thành bị mù lòa và cứ muốn ở trong tình
trạng mù lòa khi ở trước Đấng Tạo nên mình. Từ ngữ
“người nhà” một lần nữa cho thấy thế giới con người là sở
hữu của Đấng tạo thành nó, hoặc Ít-ra-en là dân của Thiên
Chúa (x. Tv 135,4). Người nhà của Người đã muốn đẩy

                                                          68
Người ra cửa, chứ không muốn có Người ở với họ. Thế mà
không những Người đã tạo thành họ, Người còn xuống để
đi tìm họ trong thế giới của họ.

Nhưng Ngôi Lời Thiên Chúa cũng có được tiếp đón. Người
ta tiếp đón Người bằng đức tin, nhờ đó họ trở thành con
Thiên Chúa. Tin là một quyết định cá nhân, một thái độ của
ý chí con người. Đối với TM IV, “tin vào/tin vào danh” là thái
độ căn bản mà con người phải có đối với Đức Giêsu. Theo
3,18 (x. 1 Ga 5,13), danh của Ngôi Lời là “Con Một Thiên
Chúa” (x. 1,14.18). Như thế, chúng ta đón tiếp Ngôi Lời khi
nhận biết Người là Con Một của Thiên Chúa và hoàn toàn
tín thác vào Người.

Tất cả những ai tin vào Ngôi Lời Thiên Chúa thì được ban
cho quyền trở nên con Thiên Chúa. Tương quan của một
người cha với các con có đặc điểm là người cha truyền
thông sự sống cho các con và họ sống một dây liên kết
riêng tư thân tình. Các con của Thiên Chúa là những người
có sự sống phát xuất từ Thiên Chúa và có thể sống hiệp
nhất với Ngài. Sự sống này hoàn toàn khác với sự sống trần
gian: trong sự sống này, loại trừ một loạt những nhân tố
cho thấy nguồn gốc của sự sống trần gian tự nhiên (1,13).
Được sinh ra lần nữa bởi Thiên Chúa (x. 3,3), chúng ta trở
thành con của Ngài, chúng ta có sự sống đời đời, được
thông sự vào chính sự sống của Ngài. Sự tái sinh này tùy
thuộc niềm tin đặt nơi Con Một Thiên Chúa.

* Ngôi Lời Thiên Chúa là ân sủng và sự thật (1,14.16-18)
Ngoại trừ tên của chứng nhân Gioan (1,6), trong phần thứ
nhất của Lời Tựa, chúng ta không gặp bất cứ tên người
nào. Sau khi tác giả đã nói nhiều điều về Ngôi Lời Thiên
Chúa, phát sinh các câu hỏi: Người ở trong thế gian như thế

                                                           69
nào? Ta tìm ra Người ở đâu? Ai đã gặp Người? Người có gì
mà thông ban cho chúng ta?

Trong phần thứ hai (1,14-18), các tên người được gom lại
với nhau: một nhóm đi vào sân khấu, với tên gọi “chúng
ta/chúng tôi” (1,14.16). Các khẳng định đan quyện vào nhau.
Trước khi khẳng định rằng Ngôi Lời đã làm người (= đã
thành xác phàm) có đầy ân sủng và chân lý (1,14), tác giả
nói rằng “Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của
Người” (1,14). Và trước khi nói rằng “Từ nguồn sung mãn
của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn
khác”, ngài nêu bật chứng tá của Gioan [Tẩy Giả] (1,15).
Chứng tá có tầm quan trọng đặc biệt cho khả năng thấy của
nhóm “chúng ta/chúng tôi” (x. 1,29.30.36). Tác giả TM hẳn là
đang nhắm đến một kinh nghiệm phi thường khiến ngài như
nghẹt thở, và dường như ngài diễn tả điều này khi nêu lên
chuỗi các khẳng định đan quyện nhau. Kinh nghiệm lớn lao
duy nhất, cuộc gặp gỡ với Ngôi Lời làm người, hẳn là tác
giả muốn diễn tả tất cả ngay trong một lần, trong khi kinh
nghiệm ấy chỉ có thể thông tri dần dà, từng phần một.

Ngôi Lời như là ánh sáng thế gian đã đến (1,9), điều này
được thể hiện trong việc Người “thành xác phàm”, trong khi
cứ theo lẽ thường, chúng ta nói là trong việc Người “làm
người”. “Trở thành xác phàm” có nghĩa là Ngôi Lời Thiên
Chúa đã trở thành một con người thật sự, mỏng dòn và phải
chết, và bằng cách đó Người đã đến hiện diện trong thế
gian như là ánh sáng cho loài người. Ngôi Lời vô tạo, luôn ở
trong một tương quan vĩnh cửu và sống động với Thiên
Chúa và là chính Thiên Chúa, nay vẫn không thôi là Ngôi
Lời Thiên Chúa ấy, nhưng đồng thời trở thành một con
người tất tử.


                                                         70
Trước khi nêu tên của con người ấy, cũng là Ngôi Lời Thiên
Chúa, là người thật và là Thiên Chúa thật, tác giả TM IV
phác ra các đặc điểm của sự hiện diện thường trực của
Người với loài người. Ngôi Lời không chỉ đến phớt qua rồi
biến mất ngay, nhưng đã sống lâu dài trong và với cộng
đồng loài người: Người đã cư ngụ giữa họ. Tác giả cũng mô
tả cuộc gặp gỡ lạ lùng ngài đã có với Đấng ấy: “Chúng tôi
đã được nhìn thấy vinh quang của Người” (1,14). Không
phải là một con người đơn lẻ, nhưng là một nhóm đã được
gặp Ngôi Lời đã trở thành xác phàm. Bởi vì ngài nói đến
“chúng ta/chúng tôi”, tác giả TM coi mình thuộc về nhóm
này. Đây là nhóm các môn đệ; họ đã được sống hiệp thông
trực tiếp với Đức Giêsu và hiểu thực tại đích thật của Ngài
(x. 2,11; 20,30). Họ đã được thấy “vinh quang của Con Một
Chúa Cha” (1,14). Cựu Ước đã nói đến “vinh quang của
Thiên Chúa” vào dịp các cuộc tỏ mình của Thiên Chúa (x.
Xh 24,16-17; Ed 1,28). “Vinh quang” này không phải là bất
cứ thứ huy hoàng lộng lẫy nào, nhưng là nguồn sáng chói
lọi trong đó ta trải nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa.
Ngôi Lời Thiên Chúa, nay hiện diện như là con người phải
chết và ẩn giấu, trở thành thấy được cho các môn đệ trong
thực tại đích thực của Ngài. Các môn đệ đã được sống cuộc
tỏ mình cho thấy bản thân thâm sâu của Ngôi Lời, khiến họ
nhạn được ánh sáng (1,4.9) và hết sức vui mừng (x. 1 Ga
1,4).

Đến đây đã rõ là Ngôi Lời chính là Con duy nhất và vô song
của Thiên Chúa, mà Chúa Cha đã cử đến trần gian. Tác giả
diễn tả tương quan có một không hai này nhiều cách: Thiên
Chúa hầu như chỉ là “Cha” của Đức Giêsu, và chỉ Đức
Giêsu mới là “Con” của Thiên Chúa.



                                                        71
Ngôi Lời làm người, Con được Chúa Cha sai phái đến thế
gian, là Đấng “đầy tràn ân sủng và sự thật” (1,14). Công
thức này cho biết điều gì đã được ban cho loài người nhờ
sự hiện diện của Ngôi Lời, điều gì các môn đệ đã nhận
được khi hiểu rõ ràng bản thân ngôi Lời (1,16). Nhờ Đức
Giêsu, là chính ân sủng và sự thật, ân sủng và sự thật đã có
đó (1,17). “Ân sủng” là quà tặng được ban nhưng-không;
còn “sự thật” là mạc khải về một thực tại cho đến nay vẫn
còn ẩn giấu. Chính Đức Giêsu là “sự thật” (x. 14,6). Vì
Người là “sự thật”, Người cho chúng ta được biết một
phương diện hoàn toàn mới của Thiên Chúa: “Ai thấy Thầy
là thấy Chúa Cha” (14,9). Trong thân phận là Con, Người
mạc khải về Thiên Chúa như là Cha: ta không thể biết Đức
Giêsu như Con Thiên Chúa mà không đồng thời biết Thiên
Chúa như là Cha của Đức Giêsu. Được biết rõ như thế về
Thiên Chúa là một ân sủng, là một sự chiếu cố nhân ái của
Thiên Chúa đối với loài người.

Để cho thấy đây là một điều mới mẻ, tác giả so sánh với
Cựu Ước. Nhờ trung gian Môsê, Lề Luật đã được ban cho
dân Chúa. Lề Luật này là lời Thiên Chúa, dấu chỉ lòng ân
cần của Thiên Chúa, cũng mạc khải ý muốn của Thiên
Chúa, xuyên quan các điều răn và các lời hứa của Thiên
Chúa; Lề Luật loan báo điều mà chính Thiên Chúa muốn
làm, điều Ngài sẽ ban cho dân Ngài (x. 1,45; 5,46), đồng
thời cho biết điều mà dân Chúa phải làm, để sống phù hợp
với ý muốn của Thiên Chúa. Ngay các điều răn của Thiên
Chúa cũng được nhận biết như là những dấu chỉ về ân sủng
của Ngài: xuyên qua các điều răn này, Ít-ra-en có thể biết
điều gì Thiên Chúa muốn (x. Tv 19; 119).

Nhưng điều Thiên Chúa chuyển đến cho loài người nhờ
trung gian Đức Giêsu còn vượt quá ân ban trên. Đức Giêsu

                                                         72
Kitô không phải là một trung gian theo kiểu Môsê, là người
chỉ truyền đạt điều đã nhận. Nhờ Đức Giêsu, Con Thiên
Chúa đã đến trong thế gian, ân ban là sự thật, là mạc khải
về điều cho đến nay còn bị giấu kín, đã được ban cho ta:
“Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả” (1,18). Không một
ai, kể cả Môsê, đã được cho gặp trực tiếp và biết đầy đủ về
Thiên Chúa. Nay “Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng
hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho
chúng ta biết” (1,18). Nhiệm vụ chính của Đức Giêsu là loan
báo cho chúng ta sự hiểu biết này. Chính ba tư cách được
nêu vừa rồi cho phép Đức Giêsu làm công việc mạc khải về
Chúa Cha.

Trong ba tư cách này, tác giả nhắc lại những gì Lời Tựa đã
nói về ngôi Lời: Đức Giêsu là Con Một (x. 1,14), Người có
một tương quan hoàn toàn đặc biệt với Thiên Chúa, Người
là Thiên Chúa (x. 1,1c). Đây là tương quan giữa những
nhân vật ngang hàng nhau, có cùng một bản tính và đặc
điểm như nhau. Tương quan này được sống trong sự hiệp
nhất thân tình, tin tưởng (x. Ga 13,23). Cựu Ước đã biết đến
vị Thiên Chúa Tạo hóa, hoàn toàn cách biệt với các thọ tạo;
khi đó, người ta nhận biết Thiên Chúa chỉ có một, “nhất
khối”. Nhờ Đức Giêsu, ngay tại bình diện Thiên Chúa, có sự
hiệp thông, có tương quan tình yêu âu yếm và tin tưởng
giữa Chúa Cha và Chúa Con. Đức Giêsu mang đến một sứ
điệp về Thiên Chúa, mà thật ra Người chính là sứ điệp đó.
Người mang đến sứ điệp này, để những ai tin vào Người
như là Con thì được thông dự vào tương quan của Người
với Thiên Chúa, và trở thành con Thiên Chúa (1,12). Đây là
điều mới mẻ tuyệt đối mà Đức Giêsu cho chúng ta biết. Cho
đến nay thì đúng là “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy
cả” (1,18); nhưng bây giờ, “ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”
(14,9).

                                                         73
Lời Tựa có ghi ba tên: Gioan, Môsê và Giêsu. Như thế, các
lời khẳng định của Lời Tựa được liên kết với ba nhân vật
lịch sử. Gioan đã đến như chứng nhân của ánh sáng (1,7).
Nhờ trung gian Môsê, Lề Luật đã được ban cho dân (1,17).
Với Đức Giêsu, ân sủng và sự thật đã đến trong thế gian.
Đây là con người lịch sử mang tên là Giêsu Nadarét. Khi tác
giả nói tên Người ra (1,17), thì ngài đã nói tất cả những gì
làm cho rõ về bản thân Đức Giêsu và ý nghĩa của tên này.
Nhưng tất cả những gì ngài trình bày không phải là hoa trái
của suy diễn, nhưng rút ra từ việc chiêm ngắm và gặp gỡ
con người lịch sử này ngày càng sâu sắc hơn. Lời Tựa tóm
tắt những gì đã được ban cho các môn đệ khi họ được nhìn
xem vinh quang của con người ấy.
Chỉ Đức Giêsu mới có một danh hiệu: Người được gọi là
“Kitô”. Như thế, Người được tuyên xưng như là vị vua cuối
cùng đã được Thiên Chúa ban cho dân Ít-ra-en, Ngài là “ân
sủng và sự thạt”. Đến cuối TM, chính Đức Giêsu sẽ tóm tắt
địa vị và nhiệm vụ của Người trước mặt Philatô: “Chính ngài
nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm
mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự
thật thì nghe tiếng tôi” (18,37). Nhiệm vụ thiên sai và vương
giả của Đức Giêsu là mang sự thật, là mạc khải vị Thiên
Chúa ẩn mình ra trong thực tại của Ngài là Cha.



+ Kết luận
Ngôi Lời có tương quan mật thiết với Chúa Cha, nhưng
cũng rất gắn bó với loài người, được sai phái đến trần gian
là để làm cho chúng ta có thể thông dự vào sự sống vĩnh
cửu của Thiên Chúa, nhờ chúng ta tin. Đây là chân trời từ
đó bung mở tất cả câu truyện Giêsu.

                                                          74
Tác giả TM IV đã chiêm ngắm công trình và tầm quan trọng
của Đức Giêsu theo cách quy thần. Ngôi Lời mang đến sứ
điệp về Thiên Chúa, một sứ điệp cũng chính là bản thân
Người. Tất cả những gì tác giả khẳng định về Ngôi Lời
Thiên Chúa đã thành xác phàm, với các từ “ánh sáng, sự
sống, vinh quang, ân sủng, sự thật”, đều trở nên rõ nghĩa
trong sứ điệp về Thiên Chúa. Chúa Con, Đấng mạc khải
Thiên Chúa như là Cha và sự hiệp thông trong Thiên Chúa,
vẫn đang soi sáng thế gian, Người xán lạn vinh quang,
Người chính là mạc khải về Thiên Chúa và sự quan tâm đầy
tràn ân sủng của Thiên Chúa và Người ban sự sống đời đời
cho những ai tin vào Người.

5.- GỢI Ý SUY NIỆM
1. Khi chiêm ngắm Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng diễn tả trọn
vẹn ý muốn của Thiên Chúa và mạc khải chính Thiên Chúa
ra cho loài người, để họ tin và được cứu độ, chúng ta cũng
được mời gọi nhìn lại và lượng định kinh nghiệm của chúng
ta về khả năng “nói” của loài người (như là thông giao, diễn
tả sự tin tưởng, khuyến khích, trân trọng v.v.) và về “sự
thinh lặng” (do cần thiết, do bị câm, do thiếu quan tâm, do
hiềm khích v.v.).
2. Các ki-tô hữu cũng được thúc bách nhìn lại: chúng ta có
chăng khả năng nhận ra được là nhiều lần chúng ta bị bóng
tối vây hãm. Chúng ta phải tự hỏi: Điều gì ngăn cách giữa
tôi và Đấng tạo thành tôi, điều gì đang che phủ Ngài, khiến
tôi không nhận ra Ngài và ngăn cản tôi đi vào thông hiệp
sống động với Ngài? Dường như chúng ta còn đang bị cám
dỗ thấy có nhiều điều đáng quan tâm hơn, quan trọng hơn,
thuyết phục hơn và hứa hẹn hơn là việc đón tiếp Thiên
Chúa, Đấng tự hiến ban chính mình!
3. Ở 1 Ga 2,23, chúng ta đọc: “Ai chối Chúa Con thì cũng

                                                         75
không có Chúa Cha; kẻ tuyên xưng Chúa Con thì cũng có
Chúa Cha”. Chúng ta phải hiểu tương quan của Đức Giêsu
với Chúa Cha có ý nghĩa gì cho chúng ta? Dường như cho
đến hôm nay, sự hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa vẫn
ở tầm mức Cựu Ước hơn là Tân Ước?
4. Làm thế nào liên kết những gì tác giả TM IV đã nói về
Ngôi lời Thiên Chúa với Đức Giêsu Nadarét lịch sử? Hoặc là
chúng ta nghĩ đến Ngôi Lời Thiên Chúa như một nhân vật
siêu vời hoàn toàn không dính dáng gì đến thế giới chúng
ta, hoặc chúng ta nghĩ đến Đức Giêsu như một con người
chìm trong những thực tại trần thế đến mức không còn gì là
siêu phàm nữa. Dường như hiện nay đang có một xu hướng
kéo Đức Giêsu “là người thật” xuống trần gian đên mức
không còn là “Thiên Chúa thật” nữa!

                                             Lm PX. Vũ Phan Long, ofm
               NIỀM VUI ƠN CỨU ÐỘ
                 Gios.52,7-10/Dt.1,1-6/Ga.1,1-18
                                                   Lm. Phạm Minh Tâm


Lễ Giáng Sinh quả là một ngày lễ mang nhiều niềm vui. Vui
vì số người tham dự đông đảo như trẩy hội. Vui vì những
trang trí lộng lẫy huy hoàng. Vui vì những bài thánh ca như
cuốn hút lòng người. Vui vì những bữa tiệc liên hoan thật
thân tình... Nhưng cho tới giờ này, những niềm vui bên
ngoài ấy đã tạm lắng xuống nhường chỗ cho một niềm vui
sâu xa hơn, ngọt ngào hơn và đích thực hơn. Ðó là niềm vui
vì biết mình được yêu thương. Nhưng căn cứ vào đâu để ta
biết mình được yêu thương?

Có lẽ chúng ta còn nhớ lời của Thiên Sứ đã báo cho các
mục đồng trong đêm Chúa Giáng Sinh rằng: "Ðây tôi đem
đến cho anh em một tin vui mừng đặc biệt. Ðó cũng là tin vui
mừng cho toàn dân: HÔM NAY ÐẤNG CỨU THẾ ÐÃ
                                                                 76
GIÁNG SINH CHO ANH EM" (Lc.2,10-11). Nhưng Ðấng
Cứu Thế giáng sinh đem đến cho nhân loại điều gì để đáng
được gọi là vui mừng? Thưa: Người mang đến cho chúng
rất nhiều quà tặng quý giá vô song.

- Trước hết là chính sự HIỆN DIỆN đầy tình yêu thương của
Người. Thánh Gioan đã viết: "Ngôi Lời đã hoá thành nhục
thể và đã cư ngụ giữa chúng ta" (Ga.1,14). Hoá thành nhục
thể nghĩa là: Từ một Ngôi Vị Thiên Chúa cao sang, thánh
thiện tuyệt đối, Ngôi Lời đã mặc lấy một thân xác mong
manh, mỏng dòn và yếu đuối như chúng ta. Và khi hoá
thành nhục thể như vậy, Người đã chấp nhận sự tự hạ sâu
thẳm, chấp nhận tự huỷ và từ bỏ hoàn toàn. Thư gửi giáo
đoàn Philipphê đã diễn tả: "Ðức Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa,
nhưng không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng
với Thiên Chúa. Song Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh
quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống
như người trần thế" (Phil.2,6-7). Làm như vậy là để Người
có thể hiện diện một cách hữu hình với con người. Người
hiện diện để chia sẻ thân phận yếu hèn và hay chết của con
người. Người hiện diện để cảm thông và nâng đỡ con người
trong mọi cảnh ngộ đau thương. Một sự hiện diện như vậy
không đáng để chúng ta vui mừng sao?

- Tiếp đến Người mang cho chúng ta SỰ SỐNG và ÁNH
SÁNG. Thánh Gioan cũng đã viết: "Ở nơi Người là sự sống.
Và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi
trong bóng tối và bóng tối đã không diệt được ánh sáng"
(Ga.1,4-5). Là ánh sáng, Người soi dẫn chúng ta đi trên con
đường tìm về gặp gỡ Thiên Chúa để chúng ta nhận được
sự sống đời đời. Không có ánh sáng của Người, chúng ta
sẽ phải mò mẫm trong đêm tối mịt mù. Mò mẫm trong đêm
tối, chúng ta sẽ vấp ngã, sẽ lạc đường. Vì thế mà chúng ta

                                                        77
sẽ không đến được với Thiên Chúa là nguồn sự sống. Sự
sống thể lý và sự sống tâm linh, sự sống đời này và sự sống
đời sau chính là những quà tặng quý giá nhất mà Thiên
Chúa đã ban cho con người. Thật vậy, chúng ta lam lũ, vất
vả để làm gì, nếu không phải để lo cho cuộc sống của thân
xác? Chúng ta miệt mài học hành để làm gì, nếu không phải
để thăng hoa cuộc sống đời này? Tại sao những người cao
tuổi, những người đau yếu bệnh tật vẫn không muốn nghĩ
tới cái chết? Chẳng phải là vì họ còn rất yêu mến cuộc sống
đời này hay sao? Sự sống thể lý, sự sống đời này dẫu mong
manh như hoa sớm nở chiều tàn mà còn đáng quý như vậy,
huống chi sự sống tâm linh, sự sống bất diệt đời sau còn
đáng quý đến độ nào? Ðức Kitô đến đem cho chúng ta sự
sống ấy chẳng lẽ không phải là điều đáng mừng lắm sao?
- Ngoài ra, Ngôi Lời đến còn mang cho chúng ta vô vàn ân
phúc quý giá khác. Thánh Gioan viết tiếp: "Từ nguồn sung
mãn của Người, tất cả chúng ta được lãnh nhận hết ơn này
tới ơn khác" (Ga.1,16). Ðược đón nhận những ân huệ quý
báu của Thiên Chúa chẳng lẽ không phải là điều rất đáng
vui mừng?

Vâng, Ngôi Lời làm người rất đáng để chúng ta vui mừng.
Và nếu Người làm người để hiện diện với chúng ta, hiện
diện trong đời chúng ta thì chúng ta có quyền tin tưởng và
phó thác nơi Người mọi sự. Nếu Ngôi Lời là ánh sáng ban
sự sống thì chúng ta có quyền an tâm bước đi, dẫu cho
đường đời chất đầy muôn nỗi thương đau. Chỉ cần chúng ta
đón nhận Người và để Người dẫn dắt trong mọi sự. Chỉ cần
chúng ta nhìn mọi biến cố vui buồn trong cuộc đời như
Người đã nhìn và làm mọi việc theo Thánh Ý Người, chúng
ta sẽ thấy đời mình tốt đẹp, hạnh phúc biết bao.

                                            Lm. Phạm Minh Tâm


                                                          78
               TÌNH YÊU VÀ HY SINH
                                             Gm. JB. BÙI TUẦN


Có lẽ chưa bao giờ tôi khát khao sự cứu độ một cách mãnh
liệt cho bằng hiện nay. Tôi xác tín sự cứu độ luôn rất cần
cho tôi. Tôi cảm thấy sự cứu độ cũng luôn rất cần cho anh
chị em, cho chính Hội Thánh và cho nhân loại.

Sự cứu độ, mà tôi nói đây, không chủ yếu là cứu thoát khỏi
những nghịch cảnh, những nguy cơ, những yếu đuối, những
bấp bênh đủ loại vốn đi liền với thân phận con người, nhưng
là cứu thoát khỏi tội lỗi và những đường lối lầm lạc dẫn
chúng ta tới sự băng hoại nhân phẩm, tàn phá gia đình, hỗn
loạn xã hội và huỷ hoại khả năng xây dựng nếp sống công
bình bác ái ở đời này, cũng như khả năng đi vào cuộc sống
hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.

Một sự cứu độ như thế quả là quá sức chúng ta. Rất may
cho chúng ta, vì chúng ta có thể tìm được sự cứu độ nơi
Chúa Giêsu. Người là Ngôi Hai Thiên Chúa. Người giáng
trần để Cứu Độ chúng ta. Người là Đấng Cứu Thế của
chúng ta.

Nhìn vào hang đá, nơi Chúa Cứu Thế Giáng Sinh, chúng ta
thấy một tình yêu bao la cao cả và một hy sinh lớn lao vô
bờ. Từ đó việc cứu độ được hiểu như một việc của tình yêu
và của hy sinh.

Với tình yêu và hy sinh, từ bỏ mình, tuyệt đối thực hiện
thánh ý Chúa Cha, Đấng cứu thế đã trở nên một đền thờ
sống động, để chúng ta có thể vào nơi đó, mà thờ phượng
Thiên Chúa trong tinh thần và trong chân lý.

                                                          79
Với yêu thương và hy sinh, hiến cuộc sống mình đền tội cho
nhân loại, Đấng Cứu Thế đã trở nên của lễ xứng đáng, để
chúng ta hiệp thông vào đó, mà xin Thiên Chúa ban ơn tha
thứ cho mình và cho kẻ khác.

Với yêu thương và hy sinh, khiêm nhường trọn vẹn vâng
phục Chúa Cha cho đến chết, Đấng Cứu Thế đã trở nên
nguồn sức mạnh, để chúng ta nương tựa vào đó, mà thắng
vượt quyền lực ma quỉ, biết chọn Chúa và trung thành với
Chúa trong mọi tình huống.

Chúa Giêsu Kitô đã và đang cứu độ chúng ta bằng yêu
thương và hy sinh như thế. Chúng ta sẽ được hưởng ơn
cứu độ đó, nếu chúng ta biết đón nhận và cộng tác vào. Đón
nhận cách nào, cộng tác cách nào?

Thưa cách đơn giản nhất là mở tâm hồn chúng ta ra bằng
yêu thương và hy sinh.

Khi đọc kinh, tham dự thánh lễ, nghe Lời Chúa, chúng ta
thực hiện các việc ấy với tất cả tình yêu vô vị lợi, và chấp
nhận mọi hy sinh Chúa muốn, nhất là từ bỏ cái tôi kiêu căng
hẹp hòi của mình. Như thế là chúng ta mở tâm hồn ra.

Khi chúng ta phục vụ người khác, chúng ta hãy thực hiện
đúng lúc, đúng việc, đúng cách, với lòng yêu thương kính
trọng chân thành kẻ khác và với những hy sinh cần thiết.
Như thế là chúng ta mở tâm hồn ra.

Khi chúng ta xây dựng bản lãnh chính mình và thăng tiến
đời mình, chúng ta hãy thực hiện theo mô hình Đức Kitô và
nhờ Đức Kitô, Đấng đã chọn con đường yêu thương và hy
sinh. Như thế là chúng ta mở tâm hồn ra.

                                                         80
Ngày nay, ma quỉ càng tìm cách đánh phá công việc cứu độ
của Chúa Giêsu. Đánh phá khắp nơi, cả trong chính Hội
Thánh. Đánh phá đủ cách, cả bằng những việc mang danh
đạo đức, nhưng không có thực chất đạo đức. Đánh phá đủ
các mặt: tôn giáo, tự do, văn hoá, xã hội, kinh tế, cả về nhân
bản.

Khi ý thức rằng chúng ta đang đi tìm ơn cứu độ, và nguồn
ơn cứu độ không đến từ ma quỉ, nhưng chỉ đến từ Đức
Giêsu Kitô, chúng ta sẽ tỉnh thức và cầu nguyện rất nhiều.
Khi tỉnh thức và cầu nguyện, chúng ta sẽ được Chúa ban
ơn, để có thể nhận ra đâu là cạm bẫy của ma quỉ, và đâu là
Tin Mừng của Chúa Giêsu.

Tôi nghĩ rằng: chúng ta đang bước vào một tương lai có
nhiều thử thách và có nhiều bất ngờ đáng e ngại. Vì thế, tôi
xin anh chị em điều này: Hơn bao giờ hết, hãy nhìn lên Đức
Giêsu Kitô. Hãy tin Người là Đấng cứu độ. Hãy gắn bó với
Người, bởi vì Người là đường, là sự thực và là sự sống.
Hãy cộng tác với Người bằng tình yêu và hy sinh. Hãy cầu
nguyện với Người, bởi vì Người thương yêu chúng ta và
gần gũi chúng ta.

Với những suy nghĩ trên đây, tôi xin thân ái cầu chúc anh chị
em một lễ Giáng sinh đầy Tin Mừng Cứu Độ của Chúa
Giêsu, Đấng Cứu Độ chúng ta.

                                                         Gm. JB. BÙI TUẦN


       QÙA GIÁNG SINH CỦA THIÊN CHÚA
             BAN CHO CHÚNG TA
Chủ đề: "Đức Giêsu đã đem lại cho thế giới một tin mừng là Thiên Chúa chính
là Cha của chúng ta, còn chúng ta là anh em với nhau. "
                                                                       81
                                               Lm Mark link S.J.


Cách đây một vài năm, trong cuộc hành trình tới đất Thánh,
James Martin mua một bộ tượng Giáng Sinh, trong đó có
Chúa Giêsu Hài Đồng, Đức Maria, Thánh Giuse và các mục
đồng, Khi Martin tới phi trường Tel Aviv để lên đường trở về
Hoa kỳ, thì người ta kiểm soát an toàn hết sức chặt chẽ.
Các nhân viên hải quan kiểm soát từng bức tượng một, cả
tượng Chúa Giêu Hài Đồng nữa. Viên hải quan xin lỗi
Martin: "Chúng tôi không được phép bỏ qua bất cứ một
trường hợp nào. Chúng tôi có nhiệm vụ bảo đảm rằng trong
bộ tượng này chắc chắn không có chất nổ". Sau đó, Martin
tự nghĩ: "phải chi nhân viên hải quan đó biết được! bộ tượng
này hàm chứa môt năng lượng nổ kinh khủng nhất thế giới
đấy".

Năng lượng nổ mà Martin vừa nói tới thì khinh khủng hơn
năng lượng nguyên tử của hai nước Hoa kỳ và Sô Viết hợp
lại rất nhiều. Năng lượng nổ ấy là gì?

Đó không phải là năng lượng vô biên của Thiên Chúa đã tạo
dựng nên thế giới này trong chớp mắt, và có thể tiêu hủy thế
giới này chỉ bằng một cái búng tay. Năng lượng mà Martin
nói tới là năng lượng mà Đức Giêsu đem theo khi đến với
thế giới này vào đêm Giáng Sinh đầu tiên tại Belem. Đó là
một năng lượng không giống bất cứ một năng lượng nào
khác mà thế giới đã từng biết được cho tới thời điểm này.
Cái năng lượng duy nhất đã được diễn tả qua cách Đức
Giêsu đã đến với thế giới này. Ngài đến không phải như một
ông hoàng đầy quyền năng sống tại một toà nhà to lớn và
sang trọng trong một quốc gia hùng cường nhất thế giới.
Ngài đã đến với thế giới như con trai của một bác thợ mộc
nghèo nàn, sống tại một căn nhà tồi tàn trong một quốc gia
yếu kém nhất thế giới.
                                                          82
Đức Giêsu đã gia nhập thế giới này y như bạn và tôi gia
nhập thế giới này vậy: trần truồng, yếu đuối, bơ vơ lạc lõng,
dễ bệnh, dễ chết. Giống như mỗi người chúng ta, Ngài phải
nhờ đến người khác giúp đỡ săn sóc. Ngài biết đói, biết
khát, biết đau. Ngài đã bị nhạo cười, bị hất hủi, và thậm chí
phải chịu một cái chết thậm tệ nhất mà con người có thể
chịu đựng được, đó là chết tử hình thập gía.

Khi Đức Giêsu đến trong thế giới này, Ngài không được các
nhà lãnh đạo thế giới chào mừng, cũng không được các
tướng lãnh hay những nhân vật danh tiếng đón chào. Mà
Ngài được tiếp đón bởi những mục đồng hôi hám, thuộc giai
cấp thấp hèn đến độ lời chứng của họ không được coi là có
gía trị trước toà án. Khi Đức Giêsu đến với thế giới này,
Ngài đã tự đồng hóa mình với người nghèo, người đau khổ,
với dân ngu cu đen, thậm chí với người tội lỗi. Điều đó khiến
chúng ta nghĩ tới quyền năng mà Đức Giêsu đã đem theo
Ngài theo Ngài vào trong thế giới này.

Cái quyền năng to tát mà Đức Giêsu đem vào trong thế giới
này là quyền năng được chứa đựng trong sứ điệp mà Ngài
đem theo, một sứ điệp thật là khó tin. Đó là một sứ điệp hai
mặt.

Trước hết đó là Tin Mừng báo cho chúng ta biết vị Chúa tể
vị đại của trời đất này yêu thương chúng ta, yêu thương
từng người trong chúng ta. Thiên Chúa yêu thương chúng
ta không trừ ai, và cũng không đòi điều kiện gì. Vị Chúa Tể
vĩ đại của trời đất yêu thương chúng ta đến độ để nói với
chúng ta Ngài không chỉ gửi một lá thư, cũng không chỉ gửi
tới một Thiên sứ của Ngài. Ngài đã quan tâm săn sóc yêu
thương chúng ta đến nỗi đã gửi đến cho chúng ta cái tốt đẹp

                                                          83
nhất. Ngài đã gửi đến chúng ta chính con trai yêu qúi của
Ngài. Và điều này dẫn chúng ta đến mặt sau của sứ điệp mà
Đức Giêsu đem vào thế giới này.

Đó là phần thứ hai của Tin Mừng báo cho chúng ta biết rằng
Chúa tể trời đất này không chỉ yêu thương chúng ta mà thôi,
Ngài còn là Cha của chúng ta nữa, và tất cả chúng ta đều là
anh chị em với nhau.

Chính cái sứ điệp lạ lùng này là làm cho một sử gia ngoài
Kitô giáo tên là H. G. Wells đã xếp Đức Giêsu là nhân vật
thứ nhất đứng đầu toàn bộ những người đã từng sống trên
trái đất này. Khi giải thích về việc ông chọn lựa Đức Giêsu,
Wells nói:

"Tôi đang nói về Ngài với tư cách một con người… Người
viết sử thì phải coi Ngài như một người cũng y như người
hoạ sĩ phải vẽ Ngài như một người vậy".

Wells nói tiếp rằng người viết sử phải coi nhẹ sự kiện này, là
có rất nhiều người coi Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Họ sẽ
phải bối rối vì những sự kiện không thể chối cãi được ấy đã
xẩy ra một cách tự nhiên và được mọi người trên trái đất
này chấp nhận, dù tin hay không tin.

Tiếp tục bình luận về sứ điệp của Đức Giêsu, Wells nói: "đó
là một trong những thay đổi về quan điểm có tính cách
mạng nhất đã từng lay động và biến đổi tư tưởng cả thế
giới. Chưa từng có một thời đại nào hiểu thấu được sự
thách thức kinh khủng mà sự thay đổi đem lại…Nhưng thế
giới đã bắt đầu trở thành một thế giới khác từ ngày mà giáo
lý đó được rao giảng".


                                                           84
Wells nói: điều mà các sử gia dùng để trắc nghiệm về sự vĩ
đại của một người là: người ấy đã để lại cho nhân loại
những gì mà càng về sau càng phát triển lên? Người ấy có
làm cho dân chúng suy nghĩ theo những chiều hướng hấp
dẫn, và những chiều hướng đó vẫn tiếp tục phát triển sau
khi người ấy chết không? Qua trắc nghiệm này, Đức Giêsu
đã vượt hẳn tất cả mọi người đã từng sống trên mặt đất
này.

Quyền năng tích chứa trong mầu nhiệm Giáng Sinh là
quyền năng của một sứ điệp hai mặt mà Đức Giêsu đã đem
đến cho thế giới. Sứ điệp dó là Chúa tể trời đất này là người
Cha rất yêu thương của chúng ta, và chúng ta là những anh
chị em rất thân thương của nhau. Sứ điệp này là món qùa
Giáng Sinh của Thiên Chúa tặng mỗi người chúng ta. Và
những gì chúng ta làm được với món qùa ấy chính là món
qùa mà chúng ta sẽ tặng lên Thiên Chúa.

Điều này khiến chúng ta nghĩ đến sự thách đố của mầu
nhiệm Giáng Sinh. Sự thách đố đó được diễn tả gọn gàng
và rất nghệ thuật trong bài thơ sau đây do một thi sĩ vô danh
sáng tác:
"Khi bài ca của các Thiên Thần ngừng bặt,
Khi ngôi sao trên bầu trời đã đi khỏi,
Khi các vua chúa và hoàng tử đã ở nhà,
Khi các mục tử cùng đàn súc vật đã trở về,
Thì công việc Giáng Sinh mới bắt đầu;
Để tìm lại những gì đã mất,
để hàn gắn những gì đã gẫy, để người đói được ăn no,
để tù nhân được giải phóng,
để các nước xây dựng lại,
để đem lại hoà bình đến với mọi người,
để hoà nhạc bằng trái tim".
                                                Lm Mark link S.J.

                                                             85
        ĐÁNH MẤT CƠ HỘI NGÀN VÀNG
                                              Lm Inhaxiô Trần Ngà
Có một vị hoàng thái tử vào rừng săn bắn tình cờ gặp một
cô gái quê đang kiếm củi một mình. Không hiểu Trời xui đất
khiến làm sao mà hai con người có địa vị cách biệt quá xa
lại tỏ ra tâm đầu ý hợp và hai bên lại yêu nhau tha thiết ngay
từ lần gặp gỡ đầu tiên.

Hoàng tử quay về triều như kẻ mất hồn, ngày đêm tương tư
cô gái nghèo mà anh đã đem lòng thương mến. Thế rồi, do
lòng yêu thương thúc đẩy, anh khẩn khoản xin vua cha cưới
nàng cho bằng được.

Để tìm hiểu xem cô gái có thực sự yêu thương con trai mình
bằng tình yêu chân thực, hay chỉ yêu chàng vì gia tài, địa vị,
quyền thế của chàng, vua cha khiến hoàng tử cải trang làm
nông dân để thử lòng cô gái.

Thế là vị hoàng tử quyền quý hoá thành người nông dân,
đến cắm lều gần nhà cô gái, ngày ngày vác cuốc ra đồng
làm lụng, làn da cháy nắng, đôi tay chai sần. Anh lân la đến
làm quen với cô gái trong hình hài một nông dân.

Mặc dù cô gái vẫn thầm yêu và khát mong được kết hôn với
vị hoàng tử mà cô đã gặp trong rừng, nhưng trớ trêu thay,
cô ta không nhận ra vị hoàng tử nầy trong hình hài người

                                                             86
nông dân nghèo khổ. Cô đã đối xử với anh rất lạnh nhạt và
cuối cùng đã xua đuổi anh đi, trong khi lòng cô vẫn thổn
thức nhớ thương chàng hoàng tử hào hoa mà cô đã gặp
trong rừng!

Tiếc thay, cô đã đánh mất cơ hội vô cùng quý báu: mất một
người yêu lý tưởng, mất luôn cả vinh dự trở thành công
nương, thành hoàng hậu tương lại.

Như vị hoàng tử hoá thân thành nông dân đến cắm lều ở
bên cạnh nhà cô gái, Ngôi Hai Thiên Chúa đã từ bỏ ngai
trời, hoá thân thành người phàm và đến ở giữa chúng ta.
Ngài là Emmanuen, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ngài tự
đồng hoá mình với những người láng giềng đang sống với
ta.

Chúa Giê-su khẳng định rằng tha nhân là hiện thân của
Ngài. Ngài phán: "những gì các ngươi đã làm cho các anh
chị em bé mọn của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính
Ta". (Matthêu 25, 40. 45)

Và hôm xưa, đang khi Sao-lô dong ruổi trên đường Đa-mát,
tìm bắt những người tín hữu của Chúa, thì chính Chúa Giê-
su quật ngã ông xuống ngựa và cảnh cáo ông: "tại sao
ngươi bắt bớ Ta?" (chứ không nói là tại sao ngươi bắt bớ
các tín hữu của Ta) (Rm 9,4).

Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II cũng dựa vào giáo huấn
nầy để nhắn nhủ các gia đình: "Thiên Chúa đã tự đồng hoá
với người cha, người mẹ, người con trong gia đình. Những
gì mà cha, mẹ, con cái làm cho nhau là làm cho chính Chúa"
(tâm thư gửi các gia đình)


                                                       87
Thật trớ trêu, đang khi chúng ta vẫn yêu mến, suy tôn chúc
tụng Thiên Chúa uy linh trên cõi trời cao, chúng ta lại tỏ ra
thờ ơ hờ hững và thậm chí còn đối xử tồi tệ với tha nhân là
những chi thể của Ngài, là hiện thân của Ngài đang hiện
diện chung quanh.
Thánh Phanxicô Assisi nhận ra người phong cùi là một phần
chi thể đang bị ung nhọt của Chúa nên ngài đã ôm hôn
người phong ấy với tình yêu thắm thiết.

Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta cũng đã nhận ra những người
bệnh tật, hấp hối là những phần chi thể bị tổn thương của
Chúa Giê-su nên Mẹ đã dành phần lớn đời mình yêu
thương chăm sóc họ. Mẹ còn dạy các tập sinh hãy trân
trọng những người hấp hối cùng khổ trong nhà Lâm Chung
như tôn trọng Mình thánh Chúa Giê-su.

Hôm nay, Thiên Chúa vẫn tiếp tục đóng vai người nông dân,
người cùng khổ, người láng giềng, người bạn đồng nghiệp
và cả những người nhà, để sống với chúng ta. Thế nhưng
chúng ta rất khó nhận ra đó là hiện thân của Thiên Chúa
nên thường đối xử tệ bạc với tha nhân. Thế là bi kịch cô gái
nghèo hết lòng yêu thương chàng hoàng tử hào hoa nhưng
lại phụ bạc anh ta dưới lốt nông dân nghèo khổ vẫn còn
đang tiếp diễn từng ngày, từng giờ từng phút. Thế là "Người
đã đến nhà của Người mà người nhà đã không tiếp nhận
Người." (Gioan 1, 11)

Thật vô cùng đáng tiếc cho cô gái trong câu chuyện trên đây
vì cô đã đánh mất cơ hội ngàn vàng: cơ hội trở thành công
nương chốn cung đình, cơ hội được hạnh phúc trăm năm
bên hoàng tử giàu sang phú quý!


                                                          88
Và cũng vô cùng đáng tiếc cho chúng ta khi chúng ta tiếp
tục lặp lại bi kịch ấy trong cuộc đời mình.

                                            Lm Inhaxiô Trần Ngà




            MỘT HÀI NHI ĐÃ SINH RA
       CÙNG CHIA SẺ THÂN PHẬN CON NGƯỜI

                                      Lm.. Giuse Nguyễn Hữu An

Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt suy niệm lễ đêm Giáng
sinh với chủ đề “Chia sẽ”. Mỗi dịp Noel, tôi thừơng đứng
trước máng cỏ, nhìn ngắm Đức Giêsu bé thơ và hỏi xem
Người muốn nhắn gửi điều gì nhân ngày lễ Giáng sinh trong
tình hình xã hội hiện tại. Năm nay, khi nhìn ngắm Người rét
run giữa mùa đông lạnh giá, tôi chợt thấy tái hiện cảnh
những đồng bào nạn nhân bão lụt trong năm qua. Và tôi
nghe tiếng Người mời gọi “ Chia sẻ”.Chia sẻ không phải là
bố thí, cũng không phải là ban ơn. Bố thí và ban ơn là đứng
từ trên cao ban xuống và chỉ cho những gì dư thừa. Chia sẻ
là đứng ngang hàng và cho đi những gì chính bản thân cần
thiết. Hiểu như thế, Đức Giê su chính là mẫu gương chia
sẻ…Nằm trong hang đá nghèo hèn, với bầy chiên bò, giữa
đêm đông giá rét, Đức Giêsu trở nên một lời mời gọi chia
sẻ. (Vietcatholic 22.12.2008)

Anh JB Nguyễn Hữu Vinh, trong bài “Cảm nhận trước Noel
2008 ở Hà Nội”(Vietcatholic 22.12 2008), viết về những trăn
trở …năm nay Hà Nội có một Noel buồn, nhưng đong đầy ý
nghĩa chia sẻ. Toà TGM Hà Nội vẫn như mọi ngày, TGM
Giuse Ngô Quang Kiệt tiếp từng đoàn sinh viên, giáo dân,
                                                           89
linh mục… từ nhiều nơi đến chúc mừng Giáng sinh. Trong
các buổi nói chuyện, Ngài luôn nhắc nhở mọi người cần
quan tâm đến những người nghèo. Trong xã hội còn quá
nhiều những người nghèo, họ nghèo không chỉ về vật chất,
mà còn là nghèo về tinh thần, về công lý và sự thật. Tất cả
đều đáng được thương yêu và giúp đỡ…Thời gian qua, kể
từ sau nạn lụt lội ở Hà Nội và các tỉnh, Đức TGM hầu như
không tuần nào không có vài chuyến đi đến với những
người nghèo khổ, đau ốm và cần sự cứu trợ, nâng đỡ, giúp
đỡ của Ngài từ miền Vinh đến các tỉnh phía Bắc… Trong
câu chuyện với các vị chủ chăn, tôi được biết các Ngài đang
hướng cộng đồng đi tới tìm niềm vui trong việc thực hiện ơn
cứu độ qua việc chăm sóc những người nghèo khó, thay
cho những niềm vui rộn rã trần thế đời thường. Đặc biệt là
trong Noel năm nay.
Thiên Chúa làm người và làm một Hài Nhi, một biến cố tầm
thường nhưng rất vĩ đại, mời gọi nhân loại chia sẻ tình yêu
thương.

Trong các trình thuật ngôn sứ của Cựu Ước, Is 9,1-6 là lời
sấm thích hợp rõ ràng đã khơi lên mầu nhiệm Giáng Sinh.
Lời sấm trên đây là một ám chỉ về việc sinh ra của một vị
thừa kế ngai báu và sự thực hiện “dấu Emmanuel” đã được
nói đến trong (Is 7,14).

Một Hài Nhi đã sinh ra là điểm nhấn vĩ đại đánh dấu lịch sử
Tình Yêu Thiên Chúa.

Tin mừng Lc 2,1-20 kể lại một câu chuyện tầm thường nhất
nhưng cũng là vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Một biến cố tầm thường nhất:


                                                        90
Một gia đình nghèo khổ không tìm ra chỗ trọ trong lữ quán.
Số người Do thái trở về Giêrusalem để làm sổ khai sinh quá
đông. Hai ông bà Giuse - Maria không có tiền để vào khách
sạn, vào các nhà nghỉ đắt tiền, các quán trọ đã hết chỗ, mùa
tăng giá và bắt chẹt khách hàng. Tăng giá để loại trừ người
nghèo, ở đó không có chỗ trống cho tình người. Họ đành
phải qua đêm ngoài đồng hoang tại Bêlem trong một hang
đá nơi dành riêng cho chiên bò nghỉ ngơi. Đêm đông hôm
ấy trong cảnh sương tuyết gió lạnh, Maria đã hạ sinh một
con trai, bà đặt con trong máng cỏ, bạn hữu thân nhân
chẳng có ai, chỉ có vài mục đồng đến thăm viếng, sự kiện
chỉ có thế, thật là đơn giản.

Một biến cố vĩ đại nhất.
Thế nhưng, em bé ra đời trong cảnh nghèo hèn đó lại là một
vị Thiên sai, đã cắt đôi dòng lịch sử loài người thành hai
phần: trước công nguyên và sau công nguyên, trước và sau
ngày giáng sinh của Người. Em bé ấy không phải là một nhà
bác học, không phải là một nhạc sĩ mà chính là Thiên Chúa,
là Ngôi Lời vĩnh cửu của Chúa Cha, Đấng cao sang, quyền
năng, Đấng sáng tạo vũ trụ, hôm nay đã làm người. Ngài
giáng sinh làm người trong thân phận một em bé yếu ớt
nằm trong máng cỏ hang lừa chứ không phải trong một
cung điện sang trọng lầu son gác tía. Thiên Chúa đã chọn
làm một người nghèo sinh ra trong một gia đình nghèo chứ
không phải quyền quý giàu sang. Bởi vậy, biến cố giáng
sinh hôm nay bên ngoài xem ra thật tầm thường nhưng lại là
một biến cố vĩ đại. Quá vĩ đại đến nỗi nhiều người đã không
tin. Ngay trong số những người tin có Thiên Chúa cũng đã
có người không dám nghĩ rằng Thiên Chúa đã xuống thế
làm người. Tin vào một Thiên Chúa là Đấng thần linh thì hầu
hết các tôn giáo đều tin nhận; nhưng tin vào một Thiên Chúa
nhập thể làm người, chấp nhận thân phận con người thì còn

                                                         91
rất nhiều tranh luận. Làm sao một Thiên Chúa lại có thể làm
những chuyện quá tầm thường như được cưu mang, được
sinh ra ? Môt sự kiện táo bạo. Táo bạo đến độ sững sờ sợ
hãi,chẳng phải vì khó tin giật gân cho bằng vì không dám tin
vào điều vượt tầm quan niệm.Thiên Chúa Đấng khôn tả của
triết học bỗng dưng trở thành diễn tả được.Thiên Chúa
Đấng vô hình của tôn giáo đã chọn cho mình một thể thức
xuất hiện hữu hình,và Thiên Chúa Đấng cứu độ trước đây
chỉ muốn bày tỏ với con người khốn khổ qua trung gian của
các thụ tạo được tuyển chọn,giờ đây lại ngỏ lời trực tiếp với
con người qua Hài Nhi bé bỏng nắm trong máng cỏ.Quả là
sự kiện táo bạo

Đứng trước hang đá máng cỏ, nơi có Hài Nhi, Đức Mẹ,
Thánh Giuse, các mục đồng, các bò lừa, chắc hẳn mỗi
người luôn tự hỏi:
  - Tại sao Thiên Chúa lại chọn sinh ra bởi Maria, một
     thôn nữ vô danh tiểu tốt mà không chọn sinh ra bởi
     một công chúa thuộc hoàng tộc giàu sang phú quý?
  - Tại sao lại chọn Giuse làm cha nuôi, một bác thợ mộc
     quá đỗi tầm thường ?
  - Tại sao Chúa lại không chọn sinh ra nơi cung điện
     nhà vua lầu son gác tía mà lại chọn sinh ra nơi hang
     bò lừa ?
  - Tại sao Chúa lại không chọn sinh ra ở thủ đô
     Giêrusalem huy hoàng tráng lệ mà lại chọn sinh ra ở
     làng Bêlem bé nhỏ ?
  - Tại sao Thiên Chúa làm người và làm một trẻ thơ ?

Và còn nhiều câu hỏi tại sao trước Một Hài Nhi đã sinh ra.
Tìm cách giải đáp là tìm cách tiếp cận mầu nhiệm Nhập
Thể, mầu nhiệm Giáng Sinh. Thiên Chúa toàn năng, toàn trí,
Thiên Chúa siêu việt muốn tự bộc lộ mình là một Thiên

                                                          92
Chúa yếu ớt, bé nhỏ, mong manh, không quyền lực, không
sức mạnh trong tay, cần được che chở, bảo vệ cũng như
cần được chăm sóc dưỡng nuôi. Thiên Chúa làm người và
làm một trẻ thơ chính là để yêu thương và hoà đồng, trở nên
dễ gần gũi, ai cũng có thể gặp Ngài, ai cũng có thể tìm thấy
niềm vui và bình an nơi Ngài. Thiên Chúa làm người và làm
một em bé sơ sinh yếu ớt cần đến sự giúp đỡ của chúng ta.

Theo Thánh Kinh, biến cố lớn nhất đánh dấu lịch sử nhân
loại là Thiên Chúa làm người vì tình yêu. Một Hài Nhi đã
sinh ra vào một đêm đông giá rét trong hang bò lừa ngoài
đồng hoang nghèo hèn, dưới mắt người đương thời không
những bình thường mà còn tầm thường hơn những hài nhi
khác. Nhưng sự chào đời của Hài Nhi này lại là một niềm
vui cao cả, một sự kiện đặc biệt của lịch sử nhân loại, là sự
“hoàn tất” Lời Hứa của Thiên Chúa, là trung tâm của nhiệm
cuộc cứu độ của Thiên Chúa, là đỉnh cao và là chủ đích của
Thánh Kinh.

Một Hài Nhi đã sinh ra mang một ý nghĩa hiện sinh sâu sắc:
Thiên Chúa trở nên một trẻ thơ. Ngắm nhìn trẻ thơ Giêsu
trong máng cỏ nghèo hèn, chúng ta nghĩ tới bao trẻ thơ sinh
ra hôm nay đang chịu cảnh đói nghèo thiếu thốn. Thiếu thốn
vật chất, thiếu thốn tình thương. Thiếu thốn nhà cửa, thiếu
thốn một mái gia đình. Giá lạnh của rét mướt và giá lạnh bởi
thiếu vòng tay ôm ấp vỗ về. Hài Nhi Giêsu ấm áp trong tình
thương của cha mẹ, bàn tay nâng niu của Đức Mẹ, ánh mắt
âu yếm của Thánh Giuse. Đó là bầu khí gia đình đầm ấm.
Gia đình là chiếc nôi êm ái vỗ về giấc ngũ trẻ thơ. Gia đình
là lương thực bồi bổ, là thành trì bảo vệ tuổi thơ. Không có
cảnh nghèo nào khốn cùng hơn cảnh trẻ thơ thiếu tình
thương. Không có mái nhà nào rách nát hơn cảnh gia đình


                                                          93
tan vỡ. Không có mùa đông nào lạnh giá hơn mùa đông của
trái tim.

Đêm nay, Đêm Thánh Vô Cùng, chiêm ngắm Hài nhi trong
máng cỏ, chúng ta được mời gọi chia sẻ:

- Hãy mở rộng vòng tay: Đôi tay Chúa giang rộng như muốn
ôm tất cả nhân loại, cử chỉ đó nhắn gửi chúng ta hãy mở
rộng vòng tay tiếp đón mọi người.

- Hãy mở rộng tầm nhìn: Anh mắt Hài nhi đơn sơ trong sáng
như muốn nhắn bảo: Đừng chỉ nhìn hạn hẹp vào bản thân
mình, hãy biết mở rộng tầm nhìn ra xã hội, ra giáo hội, ra
thế giới. Đừng hạn chế tầm nhìn vào lãnh vực vật chất kinh
tế, hãy mở rộng tầm nhìn sang lãnh vực tinh thần tâm linh.

- Hãy mở rộng trái tim: Mở rộng trái tim mình ra để đón
Chúa sinh vào, để nghe và hiểu Lời Chúa, Lời Chúa nói thì
thầm vào trái tim, Lời ấy nhẹ nhàng sâu thẳm.

Trong đêm hồng phúc này, chúng ta chiêm niệm Hài Nhi nơi
máng cỏ, hãy cầu xin cho mọi người trên thế giới được đón
nhận giáo lý cao đẹp của Chúa Giêsu. Đó là Tin Mừng cho
nhân loại, Tin Mừng dẫn đường soi lối cho nhân loại xây
dựng hoà bình trên công lý và tình yêu.

Sau Thánh Lễ, mỗi người về nhà mình, lòng đầy ắp niềm vui
Giáng Sinh chia sẻ.

Niềm vui Giáng Sinh không đến từ bữa tiệc có đầy thức ăn
mỹ vị, nhưng đến từ sự kiện mọi người cùng nắm tay nhau
hát vang lời ca Giáng Sinh chung quanh máng cỏ có Chúa
Giêsu Hài Đồng: ”Một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta. Một

                                                       94
Người Con đã được ban tặng cho chúng ta”. Niềm vui Giáng
Sinh đến từ tâm hồn rộng mở để chia sẻ, mọi người đón
nhận ơn Chúa, cùng nhau đáp lại lời mời gọi của Chúa
Giêsu bé thơ trong hang đá Bê lem.

                                                 Lm.. Giuse Nguyễn Hữu An




         ' NGÔI LỜI VẪN LÀ THIÊN CHÚA...
         NGÔI LỜI ĐÃ NÊN NGƯỜI PHÀM '
Chúng ta cùng suy niệm về mầu nhiệm Giáng Sinh dựa theo các tư tưởng của
Thánh Romanos le Mélode (?-560 ?) là một nhà sáng tác các thánh thi. Đây là
trích đoạn từ thánh thi 13 về lễ Giáng Sinh.

                                                             UBKT-HĐGM VN
Hỡi các mục đồng, hãy lắng nghe tiếng kèn ... Ngôi Lời đã
sinh ra, Thiên Chúa được tỏ bày cho thế giới ! Còn các cô,
hỡi các công chúa, hãy đi vào trong niềm vui của Mẹ Thiên
Chúa (x. Tv 44,10). Hỡi các dân nước, chúng ta hãy nói lên
: « Chúc tụng Chúa, Thiên Chúa sơ sinh của chúng ta, vinh
danh Ngài ! »
Người Trinh Nữ không hề biết người nam (Lc 1,34), đã sinh
hạ ra niềm vui, nỗi buồn của các tổ phụ đã chấm dứt. Hôm
nay, Đấng Vô tạo đã được sinh ra, Đấng mà thế giới không
thể chứa nổi đã đi vào trong thế giới. Hôm nay, niềm vui đã
tỏ mình ra cho loài người; hôm nay sự sai lầm đã bị quăng
xuống vực thẳm. Hỡi các dân nước, chúng ta hãy nói :
« Chúc tụng Chúa, Thiên Chúa sơ sinh của chúng ta, vinh
danh Ngài ! ».
Hỡi các mục đồng..., hãy ca hát chúc tụng vị Chủ nhân đã
sinh ra ở Bêlem..., Đấng cứu chuộc thế giới. Này đây lời
nguyền rủa Evà đã bị phá vỡ, nhờ Đấng do Đức Trinh Nữ
sinh ra... « Vỗ tay đi nào, hãy cất tiếng hò reo » (Tv 46,2) ;
                                                                       95
chúng ta hãy làm thành một ca đoàn với các thiên thần.
Đức Chúa đã sinh ra từ Đức Trinh Nữ Maria để « nâng dậy
ai quỵ ngã, cho đứng thẳng lên kẻ bị đè nén » (Tv 144,14),
những người đang reo lên với đức tin : «Chúc tụng Chúa,
Thiên Chúa sơ sinh của chúng ta, vinh danh Ngài ! »...

Tác giả của Lề Luật đã nhập thể dưới Lề Luật (Gl 4,4), Chúa
Con vô thời gian đã sinh ra bởi Đức Trinh Nữ, Đấng Tạo
Hóa lại nằm trong máng cỏ. Đấng mà Chúa Cha sinh ra
trong vĩnh cửu, không thân mẫu trên trời, lại đã sinh ra bởi
Đức Trinh Nữ, không có cha trên trái đất. Hỡi các dân tộc,
chúng ta hãy cùng nói lên: «Chúc tụng Chúa, Thiên Chúa sơ
sinh của chúng ta, vinh danh Ngài ! ».
Quả thật, niềm vui vừa sinh ra trong chuồng bò. Hôm nay
các ca đoàn thiên thần hoan hỷ mừng vui ; mọi dân nước
chuc mừng Đức Trinh Nữ vô nhiễm ; tổ phụ chúng ta là
Ađam nhảy lên vì vui mừng, bởi vì hôm nay Đấng Cứu Thế
đã sinh ra. Hỡi các dân tộc, chúng ta hãy nói lên : «Chúc
tụng Chúa, Thiên Chúa sơ sinh của chúng ta, vinh danh
Ngài ! »
                                                 UBKT-HĐGM VN




                GIẢI ĐÁP THẮC MẮC


             GIÁNG SINH:
 NGÀY LỄ CỦA THƯƠNG YÊU VÀ HÒA GIẢI
                                                          96
                                                  Lê Đình Thông


Giáng Sinh là ngày lễ của thương yêu, hòa giải và tha thứ.
Giáng Sinh còn là ngày lễ của niềm vui Thiên Chúa và của
cả nhân loại, vì ’’Đấng Cứu Nhân Độ Thế đã giáng trần,
Người là Kitô Đức Chúa’’ (Lc 2, 11). Chúa Hài Đồng giáng
sinh cách đây 2008 năm. Ngài là Đấng Cứu Chuộc nhân
loại. Như lời tiên tri đã phán, Thiên Chúa ban Đấng Thiên
Sai (Messie) cứu chuộc tội nhân trần: ‘‘Ngài từ bỏ địa vị
Thiên Chúa, mang thân phận người phục vụ giống như mọi
phàm nhân’’ (Pl, 2 6-7). Sau cùng, Giáng Sinh là ngày lễ của
những người khiêm hạ, vì Ngôi Hai xuống trần mặc thân
phận người phàm. Sau đây, ta lần luợt đề cập lễ Giáng Sinh
về hai phương diện lịch sử và văn học. I - Lễ Giáng Sinh về
mặt lịch sử:




        Ngôi sao bạc đặt nơi Chúa Giêsu giáng sinh

Theo từ vựng Việt Nam, ‘‘Giáng ( ) là xuống, hạ xuống.
Giáng thế: xuống thế, ra đời. Giáng sinh (  ): Sinh ra đời.’’
(Paulus Huỳnh Tînh Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, Saigon,
Imprimerie Rey, Curiol, 1895, trang 369). Trước công trình
                                                         97
ngữ học của học giả Paulus tám năm, Pétrus Trương Vĩnh
Ký gọi lễ Giáng sinh là ‘‘lễ sinh (sanh) nhựt Đức chúa Giê-
giu’’ (Trương Vĩnh Ký, Vocabulaire annamite-français,
Saigon, Bản in Nhà hàng Rey et Curiol, 1887, trang 184).
Ngày nay, danh từ Giáng sinh ghi trong Đại Nam Quốc Âm
Tự Vị trở nên thông dụng. Trong Hán tự, Giáng ( ) bộ Phụ
( ) có nghĩa là thịnh vượng, to lớn (Không phải là Giáng ( )
bộ Thủy ( ). Tiếng Pháp có chữ Nativité chỉ ngày sinh của
Đức Kitô. Nativité (xuất hiện từ thế kỷ XII, do tiếng latinh
nativitas) còn đưọc dùng để chỉ định sinh nhật Đức Trinh Nữ
Maria và thánh Gioan Tẩy Giả (J.-B.). Chữ Noël (xuất hiện
khoảng 1120, do chữ latinh Natalis) để chỉ lễ Giáng sinh của
Chúa Kitô. Từ ngữ này trở nên phổ thông và được quốc tế
hóa. Chúng ta quen gọi là lễ Nô en. Trong khi ‘‘la Noël’’ là lễ
Noël hoặc ca khúc Noël, ‘‘le Noël’’ được dùng để chỉ quà
tặng Giáng sinh. Thành ngữ Pháp có câu: Noël au balcon,
Pâques au tison (Giáng sinh ngoài bao lơn, Phục sinh trong
củi lửa): Nếu khí hậu Nô en ấm áp, trời sẽ rất lạnh vào dịp
Phục sinh.

Ngày nay, kỷ nguyên Kytô (ère chrétienne) hay Kỷ nguyên
Công giáo (viết tắt là Công nguyên) được áp dụng rộng rãi
trên khắp thế giới. Các tôn giáo khác giữ niên lịch riêng chỉ
dùng trong phạm vi nội bộ: Năm 2008 sẽ là năm 5768 của
Do Thái giáo, năm 1427 của Hồi giáo v.v.

Sau khi lược bàn về lễ Giáng sinh về phương diện ngôn
ngữ, chúng ta cùng nhau bước qua lãnh vực sử học.

I. Hộ tịch Chúa Cứu Thế:
Ngày nay, mỗi khi có một hài nhi ra đời, xã hội cấp giấy khai
sinh trên đó ghi tên do cha mẹ đặt cho, ngày tháng năm
sinh, nơi sinh, tên cha mẹ. Còn Chúa Giêsu Kitô thì sao?

                                                            98
Khi nhập thể, giấy khai sinh của Ngài chính là lịch sử cứu
độ, đồng thời là lịch sử nhân loại. Có thể tóm tắt từng đề
mục trong ‘‘hộ tịch’’ (état civil) Chúa Giêsu như sau:

Họ và tên: Tài liệu sử học bằng tiếng Pháp ghi tên Ngài là
Jésus le Nazaréen (Giêsu Nazareth). Giêsu là tên Ngài. Còn
Nazaréen (người Nazareth) là một biệt danh (surnom) để chỉ
nơi sinh của Ngài: Nazareth. Trong thư gửi tín hữu Phi-líp-
phê, thánh Phaolô viết: ‘‘Thiên Chúa đã siêu tôn Người
(exalté au-dessus de tout) và tặng ban danh hiệu trổi vượt
trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh
thánh Giêsu, cả trên trời dướt đất và trong nơi âm phủ
(enfer), muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa
Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu
Kitô là Chúa.’’

Trong Cựu Ước, sách I-sai-a chép:‘‘Chính Chúa Thượng sẽ
ban cho các ngươi một dấu chỉ: Này đây người thiếu nữ
mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.’’.
(Emmanuel có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta: Dieu
est avec nous).

Ngày sinh: Ngày lễ Giáng sinh 25-12 được ấn định trong
lịch phụng vụ của Giáo hội vào đầu thế kỷ IV. Nhà văn Công
giáo Clément d’Alexandrie (150-215) dựa vào thánh sử Luca
về việc các mục tử nghỉ đêm ngoài đồng, cho rằng Chúa
Kitô ra đời vào mùa xuân hơn là mùa đông, nên đề nghị
ngày 6-1. Sau cùng, lễ Giáng sinh được định vào 25-12 như
hiện nay, vì 25-12 là ngày lễ của thần mặt trời Mithra, trùng
hợp với tiết Đông chí (solstice). Sự ấn định này căn cứ vào
sách Malachie: ‘‘Mặt trời công lý sẽ mọc trên các ngươi là
kẻ kính sợ Thánh Danh ta’’ (Mais sur vous, qui craignez
mon nom, se lèvera le soleil de justice). Theo ý chúng tôi, sự

                                                           99
ấn định này rất có ý nghĩa: Chúa Giêsu Cứu thế được sánh
với mặt trời công lý. Ngài đến thế gian để cứu chuộc nhân
loại đắm chìm trong tối tăm.

Nơi sinh: Linh mục Lagrange trong cuốn Évangile selon
saint Marc (Phúc âm theo thánh Mác-cô) phân biệt giữa
thành phố (ville), làng mạc (pays: petite ville, village) và
quốc gia (patrie). Các đơn vị địa lý này có thể là nơi sinh
(lieu de naissance), không nhất thiết là nguyên quán (lieu
d’origine). (Thí dụ: một em bé Việt Nam sinh ra ở Pháp
nhưng nguyên quán vẫn ở Việt Nam). Vì vậy, theo hai thánh
sử Mát-thêu và Lu-ca, Nazareth là nguyên quán của Chúa
Giêsu. Theo Mát-thêu 2,1, Chúa Giêsu sinh ở Bê Lem. Luca
2,4 nói thêm Bê Lem là thành phố của vua David. Theo Mát-
thêu, Thánh Cả Giuse và Thánh Mẫu Maria cư ngụ ở Bê
Lem trước khi sinh hạ Chúa Giêsu. Theo thánh Luca, Thánh
gia từ Nazereth tới Bê Lem để tham gia cuộc kiểm tra dân
số. Bê Lem (Beit Lehem, tiếng Do Thái, có nghĩa là nhà làm
bánh mì) cách Giêrusalem khoảng 5 km về phía nam. Địa
danh này được ghi chép lần đầu tiên trong sách Sáng thế
(St 34, 19): ‘‘Rachel chết và được an táng trên đường
Ephrata, nghĩa là Bê Lem’’ (Rachel mourut et fut enterré sur
la route d’Ephrata, c’est-à-dire Bethléem’’ (Gn 34, 19) (La
Bible TOB 1977, tr. 61).

Tên cha mẹ: Theo sử sách, Thánh Mẫu tên là Mariam. Tên
Thánh Cả là Giuse. Các nhà sử học cho rằng thánh Mác-cô
đã giải thích trung thực danh hiệu ‘‘le fils du charpentier’’
(con trai người thợ mộc). Cách ghi chép này trong cổ ngữ
araméen có nghĩa là ‘‘le charpentier’’ (người thợ mộc). Theo
thánh Luca, thánh Giuse là dưỡng phụ (père nourricier) của
Chúa Giêsu. Ngày 19-3 là lễ kính Thánh Cả Giuse.


                                                         100
Phúc âm theo thánh Luca thuật lại lịch sử Đức Thánh Mẫu
(Lc I, 36), Tổng lãnh Thiên Thần Gabriel truyền tin cho Đức
Mẹ: nhờ ơn Chúa Thánh Thần, Đức Trinh Nữ sinh hạ một
hài nhi đặt tên là Chúa Con (Fils de Dieu). Đại lễ kính Đức
Thánh Mẫu là ngày 15-8. Từ cuối thế kỷ 18, Đức Mẹ hiện ra
trước tiên tại La Vang, sau đó là nhiều nơi khác, theo thứ tự
thời gian như sau:
   - La Vang (Việt Nam): 1798 - Giáo dân tôn kính Đức
       Trinh Nữ với danh hiệu Đức Mẹ La Vang.
   - Paris (rue du Bac): 1830.
   - La Salette (Pháp): 1846
   - Lộ Đức (Lourdes): 1858.
   - Pontmain (Pháp): 1871.
   - Fatima: 1917, Cách mạng tháng 10 biến nước Nga
       thành cộng sản.

Các dĩa nhạc Noë ngợi ca Đức Mẹ qua bản Ave Maria của
Franz Schubert (1797-1828), Mozart (1756-1791), Bruckner
(1824-1896), Gounod (1818-1893) v.v. Các ca khúc này tôn
vinh Đức Mẹ trong lễ Giáng sinh và lịch sử cứu độ. Vì vậy,
đoạn sau sẽ được dành để triển khai chủ đề Thánh Mẫu.

- Đức Trinh Nữ trong lịch sử cứu độ:
Đức Trinh Nữ Maria còn gọi là Myriam, mẹ của Chúa Giêsu
Nazareth (Jésus de Nazareth). Làng, hoặc thị trấn nhỏ
Nazareth (bourgade de Nazareth) nằm trong tỉnh Galilée ở
phía Bắc Do Thái, giáp ranh Liban, thường được mệnh
danh là Galilée des nations: xứ sở của những người di cư tỵ
nan.

Nhà thờ Saint Praxède có bức bích họa (fresque) và nhà
thờ Saint-Clément có bức tranh gồm nhiều viên gạch vuông

                                                         101
nhỏ ghép lại (mosaĩque) thành hình Đức Mẹ. Hai công trình
mỹ thuật này được thực hiện vào thế kỷ thứ VIII minh họa
Đức Mẹ ngồi trên ngai, có Chúa Hài Đồng ngự trong lòng.
Cả hai cùng nhìn về một hướng.

Nhà thờ Đức Bà ở Bruges (Belgique) có tượng Đức Bà với
khuôn mặt cực kỳ thanh tú. Tại Ba Lan, quê hương Đức
Thánh Cha Gioan-Phaolô II, có tượng Đức Trinh Nữ mầu
đen (Vierge noire), mô phỏng theo hình ảnh Mẹ-Đất (Terre-
Mère). Về nguồn gốc của danh hiệu Đức Bà (Notre-Dame):
tại châu Âu, danh hiệu Đức Bà xuất hiện đồng thời với ảnh
tượng Đức Mẹ mầu đen. Trong ngôn ngữ Ấn-Âu, Dame có
nghĩa là nữ chủ nhân (maîtresse), nữ hoàng (souveraine).

Người ta truyền tụng câu chuyện sau đây về Đức Bà thành
Puy, thủ phủ hạt Haute-Loire (Pháp): Một phụ nữ bị sốt
nặng. Đức Mẹ hiện ra và bảo bà tới nằm trên tảng đá chữa
bệnh sốt (pierre des fièvres). Người đàn bà vâng lời, liền
được khỏi bệnh. Người phụ nữ này thuật chuyện cho đức
giám mục sở tại. Ngài tới quan sát tảng đá chữa bệnh
(rocher guérisseur). Lúc đó là mùa hè nhưng có lớp tuyết
dầy phủ trên phiến đá và cả khu vực xung quanh. Một con
nai hiền chợt xuất hiện trước vị giám mục, dẫm chân trên
tuyết trắng, vẽ thành một họa đồ kiến trúc. Để khỏi mất vết
chân nai, vị giáo chủ cho trồng dậu gai trên đường đi của
nai. Ngày hôm sau, dậu gai biến thành hàng tường vi nở
hoa (églantier fleuri). Ngôi giáo đường ngày nay được dựng
từ lớp chân nai để vinh danh Đức Mẹ. Đó là một công trình
kiến trúc tuyệt mỹ, dung hợp giữa kiến trúc La Mã và kiến
trúc Đông phương. Trong nhà thờ có bức tượng Đức Bà
Thành Puy nổi tiếng. Mái nhà trên cung thánh là sáu vòm
cung (coupoles).


                                                       102
II - Lễ Giáng Sinh trong văn học:
Noël là thời gian Trời mới - Đất mới giao hòa. Trong những
ngày này, nhạc và thơ hòa điệu, mỹ thuật gặp gỡ văn học.
Các nhà văn, nhà thơ nhặt sao sáng, lượm cỏ rơm còn
thơm mùi lúa mới, cảm nhận hơi ấm bò lừa và sự rung động
của tâm hồn kết thành máng cỏ thi văn. Sử học nhìn sự việc
một cách khách quan. Văn học chú ý nhửng cảm xúc chủ
quan. Vì vậy, nếu phần I của bài viết là lịch sử ngàn năm thì
phần II được bổ túc bằng những rung động, tuy nhất thời
mà trở thành thiên thu bất diệt. Phần thứ II gồm ba mục:

A - Thánh Phanxicô và sự tích hang đá.
B - Tinh thần Phanxicô trong thơ Giáng sinh của Hàn Mặc
Tử.
C - Giáng sinh trong văn học Pháp.


A - Thánh Phanxicô và sự tích hang đá:
Phanxicô (1181-1226) trước hết là vị thánh của nhân đức
khó nghèo. Vì vậy, ngài có biệt danh là ‘’il Poverello’’ (người
nghèo khiêm hạ). Tuy là vị thánh lập Dòng các Anh em hèn
mọn (Ordre des Frères mineurs, viết tắt: OFM), ngài tự
nguyện là phó tế vĩnh viễn. Hang đá Bê Lem là biểu tượng
của khó nghèo. Vì vậy, thánh nhân yêu mến lễ Giáng sinh.
Chính Ngài đã nghĩ ra việc dựng máng cỏ Noël để tôn kính
Chúa Hài đồng và Thánh gia. Trước khi thuật lại chiếc máng
cỏ Noël đầu tiên được thực hiện theo sáng kiến của thánh
Phanxicô, thiết tưởng nên nhắc lại một tích xưa nói lên nhân
đức khó nghèo của thánh lập dòng Phanxicô. Năm 1223,
thánh nhân từ thành Assise đến Rôma để thỉnh cầu Đức
Thánh Cha Honorius IV (1210-1287) phê chuẩn luật dòng.
Nhân dịp này, Đức Hồng y Hugolin mời thánh nhân dùng

                                                           103
bữa trưa cùng với một số vị khác. Thánh nhân tới bàn tiệc,
rút trong tay thụng nâu vài mẩu bánh mì đen bình dân vừa
xin được ngoài phố, mời các vị khách. Vị giáo chủ không vui
trước việc làm của thánh nhân, vì ngài khoản đãi bữa tiệc
theo nghi lễ (repas protocolaire). Nhưng tất cả đều vui lòng
san sẻ cùng thánh nhân bánh mì xin được. Sau bữa tiệc, vị
giáo chủ nói với thánh nhân:


- Người anh em ơi, tại sao lại làm ta phải cực lòng vì phải ăn
xin, trong khi con là khách quý của ta? Con không biết nhà
ta chính là nhà của con, và những gì có trong nhà này là của
con hay sao?

- Lạy Ngài, thánh nhân lễ phép thưa lại, bởi vì không có gì
làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn nhân đức Khó nghèo. Không
phải là con muốn làm Ngài phải xấu hổ. Trái lại, con muốn
làm vinh danh Ngài nên nghênh đón Chúa ngự trong nhà
Ngài. Thiên Chúa đã chấp nhận sống nghèo ở trần gian chỉ
vì yêu mến chúng ta.

- Con ơi, ĐHY Hugolin ôm chầm lấy thánh nhân nghẹn ngào
nói tiếp, con cứ làm theo ý con đi. Bởi vì, thật rõ như ban
ngày, Thiên Chúa ở cùng con. Chính Ngài đã dẫn dắt
đường đi nước bước của con.

Sau mẩu đối thoại làm xao xuyến lòng người vừa kể, xin trở
lại hang đá của thánh nhân. Theo tác giả Omer Englebert,
hai tuần lễ trước Giáng sinh năm 1223, trên đường từ Rôma
về Assise, thánh nhân dừng chân ở thị trấn Greccio (khoảng
giữa đường từ Roma tới Assise), và gặp Jean Velita, một
điền chủ giầu có vừa từ bỏ binh nghiệp để nhập dòng. Kế
cận Greccio là dải núi đá bao quanh một thung lũng rộng.

                                                          104
Trên núi đá thẳng đứng có một cái hang, được che khuất
bằng một hàng cây. Phanxicô nói: ‘‘Ta mong ước cử hành lễ
Giáng sinh để suy tôn Chúa ra đời ở Bê Lem, nhưng làm
sao thể hiện được nỗi cơ cực và khổ đau của Ngài ngay từ
thuở còn thơ để cứu chuộc nhân loại. Vì vậy, ta xin con làm
một hang đá giống như thật với cỏ khô. Con dẫn theo một
con lừa và một con bò, giống như bò lừa đã chầu quanh
Chúa Hài đồng năm xưa.’’
Theo Celano kể lại, trong đêm Noël, các anh em ẩn sĩ
quanh vùng và dân làng đốt đuốc sáng trưng địa điểm hành
lễ. Đoàn người lặn lội men theo đường núi gập ghềnh, khúc
khuỷu tới trước hang đá. Bao nhiêu hang động xung quanh
dội lại lời ca nguyện của các thầy trợ sĩ, chen lẫn đồng ca
điệp khúc của cộng đoàn. Thánh lễ cử hành trên một bàn
thờ treo. Thánh nhân bận chiếc áo thụng (dalmatique) của
thầy phó tế, giúp vị chủ lễ. Ngài hát bài phúc âm, công bố
Tin Mừng cho những người thiện tâm và chia sẻ lời Chúa.
Ngài dùng những lời dịu ngọt để nhắc lại sự tích vị ‘‘Hoàng
đế nghèo’’ sống trước thánh nhân 12 thế kỷ, chào đời ở Bê
Lem. Người ta kêu ngài là Giêsu, hoặc Hài đồng Bê Lem
(Enfant de Bethléem). Thánh Phanxicô bắt chước tiếng
chiên lừa khi phát âm hai tiếng: ‘’Bethléem’’ (prononçant
Bethléem comme un agneau qui bêle). Jean Velita kể lại lúc
thánh nhân bắt chước tiếng chiên lừa, hài nhi Giêsu đang
ngủ yên trong hang đá chợt thức giấc, nhoẻn miệng cười.
Trong bút ký của thánh Bonaventura có đoạn chép rằng:
‘‘Ba năm trước khi từ trần, thánh Phanxicô quyết định mừng
lễ Giáng sinh trọng thể. Sau khi được Đức Thánh Cha cho
phép, Ngài sai làm máng cỏ, bảo người mang cỏ khô và dẫn
một con lừa và một con bò (il avait obtenu, du pape, les
autorirations nécessaires. Il fit donc préparer une crèche,
apporter du foin, amener un âne et un boeuf). Máng cỏ
Greccio đã ban ơn thiêng cho nhiều người và cho cả những

                                                       105
gia súc bị bệnh tới gậm cỏ khô. Kể từ máng cỏ đầu tiên tại
Greccio (1223), hàng năm, tại các giáo đường và tư gia trên
khắp thế giới, người ta lại bầy máng cỏ cùng với cây thông
để mừng lễ Giáng sinh.

Tiếp nối truyền thống của thánh Phanxicô, trong số các nhà
văn, nhà thơ công giáo Việt Nam khai triển đề tài Giáng Sinh
có thi sĩ Hàn Mặc Tử.
B - Tinh thần Phan sinh trong thơ Hàn Mặc Tử:
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí (1912-1940). Ông
cố thi sĩ là Phạm Nhượng, vì can dự vào một vụ án chính trị
nên phải đổi thành họ Nguyễn. Khi chịu phép rửa tội, thi sĩ
nhận tên thánh là Phêrô. Tới khi chịu phép thêm sức thêm
tên thánh Phanxicô. Trong di ngôn bằng tiếng Pháp nhan đề
‘‘Pureté de l’âme’’ (Tâm hồn trắng trong), thi nhân đã bầy tỏ
tinh thần Phanxicô không những qua chữ ký: François Trí,
mà còn bầy tỏ lòng tôn kính sự tinh tuyền (blancheur
immaculée), bình an (paix). Niềm vui Phan sinh (joie
franciscaine) cùng với nhân đức khó nghèo và lòng bác ái là
ba đạo hạnh Phan sinh.

Tập Xuân Như Ý có bài thơ ‘‘Ra Đời’’, kết thúc bằng hai câu:
‘‘Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua, Mùa xuân tới mà
không ai biết cả’’. Theo cách nhìn của thi nhân, tuy nhân
gian gian vẫn còn là mùa đông, mùa xuân đã thực sự trở về
trong lịch sử cứu chuộc. Vì vậy, cung điệu của bài thơ ‘‘Ra
Đời’’ ngây ngất, ‘‘hương cám dỗ mê người trong khoái lạc’’.
Bài thơ này đã được cố nhạc sư Hải Linh phổ nhạc và trở
thành ca khúc Giáng sinh quen thuộc.

C - Giáng sinh trong văn học Pháp:
Sự kiện Chúa ra đời nơi hang đá Be Lem được cả hai thánh
sử Mát-thêu và Lu-ca ghi chép. Cùng một sự kiện này đã

                                                         106
gây nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn, nhà thơ. Vì khuôn
khổ giới hạn của bài báo, chúng tôi chỉ giới thiệu một số
sáng tác tiêu biểu trong văn học Pháp, cả văn xuôi (prose)
lẫn văn vần (poésie).

Văn xuôi:
Trong các áng văn xuôi trình thuật việc Chúa ra đời, phải kể
tới các công trình của Blaise Pascal, Ernest Renan và
François Mauriac.

Trước hết là Pascal (1623-1662). Ông vừa là nhà văn, vừa
là nhà khoa học. Năm 1642, ông phát minh ra ‘‘máy số học’’
(machine arithmétique) đưa đến việc phát sinh ra các máy
tinh sau này. Sau hai năm suy nghĩ, ông quyết định dâng
mình cho Chúa.
Bản tóm lược cuộc đời Chúa Giêsu-Kitô (Abrégé de la vie
de Jésus-Christ) của ông gồm 354 đoạn có đánh số. Ba
đoạn 6, 7, 8 trình thuật việc Chúa ra đời: ‘‘Ngày 25-12, Chúa
Giêsu-Kitô ra đời ở Bê Lem thuộc miền Judée. Salomon kể
lại gia phả trong Mat. 1 1, và Nathan kể lại trong Luc 3 23.
Các thiên thần báo tin Chúa giáng sinh để các mục đòng tới
thờ lạy. Sau tám ngày, vào ngày 1-1, Hài nhi được được đặt
tên là Giêsu’’.

Tiếp theo, Ernest Renan (1823-1892) là một học giả am
tường cổ ngữ Do Thái. Trong thời gian diễn giảng ở Collège
de France, ông viết tác phẩm Cuộc đời Chúa Giêsu (Vie de
Jésus), giải thích các sử liệu một cách khoa học. Trong
đoạn 2, ông viết ‘’Giêsu ra đời ở Nazareth, một thị trấn nhỏ
miền Galilée, trước đó chưa ai biết tiếng. Lúc sinh thời, ngài
được gọi là ‘‘người quê quán Nazareth’’ (Nazaréen). (...)
Danh hiệu Giêsu là một biến đổi của chữ Josué.’’


                                                          107
Sau cùng là François Mauriac (1885-1970), một nhà văn
hiện đại. Cuộc đời Chúa Giêsu (La Vie de Jésus) ấn hành
năm 1936 được nhiều người đọc nhất trong số các tác
phẩm của ông. Ngay đoạn 1: Đêm Nazareth (La nuit de
Nazareth), ông chứng tỏ hành văn sáng sủa, bút pháp mới
lạ, khác với các bút ký lịch sử viết về cùng đề tài. Thay vì
mô tả lại sự kiện, ông nhắc lại lời tiên tri Michée: ‘‘Hỡi
Bethléem d’Ephrata, tuy nhà ngươi là một chi tộc bé nhỏ
trong các chi tộc Juda, nơi nhà ngươi sẽ sinh ra thủ lãnh
nước Israël’’.

Các tiểu luận lược thuật trên đây chỉ trình bầy khác đi cùng
một sự kiện. Ngược lại, trong thi ca (poésie), nhiều bài thơ
lấy cảm hứng từ Giáng sinh đưa ra nhiều hình ảnh mới lạ.

Văn vần:
Trong văn học Pháp, thơ Giáng sinh tuy không nhiều nhưng
mang tính sáng tạo. Người ta tìm thấy sự tươi mát trong
những bài thơ Giáng sinh. Tuy sự việc Chúa Giáng sinh xảy
ra cách đây 2008 năm, nhưng cảm xúc của thi nhân luôn
mới mẻ. Đó là làn sương sớm (thi ca) che phủ một thực tại
có chiều dầy lịch sử (giáng sinh). Trong số thi ca lấy đề tài
Giáng sinh có bài thơ Noël của Théophile Gautier (1811-
1872), văn phong giản dị nên rất dễ thương:

Le ciel est noir, la terre est blanche:
   - Cloches, carillonnez gaîment!
   - Jésus est né.
   - La Vierge penche Sur son visage              charmant.
      (Trời đen đất trắng nhân trần:
   - Chuông ơi, réo rắt xa gần điệu ru.
   Hài nhi Cứu thế Giêsu,

                                                         108
   Mẹ hiền trông xuống Hài đồng dễ thương)

Victor Hugo (1802-1885), nhà văn lớn nhất trong văn học sử
Pháp, trước tác trường thi 132 câu, vần liên tiếp, đặt tên là
Celui qui est venu.
Trong bản trường ca Giáng sinh này, tác giả Notre-Dame de
Paris đã lược thuật cuộc đời Chúa Cứu Thế. Trong đoạn 2,
Victor Hugo viết:

On racontait sa vie, et qu’il avait été
Par une vierge au fond d’une étable enfanté
Sous une claire étoile et dans la nuit sereine;
L’âne et le boeuf, pensifs, l’ignorance et la peine,
Etaient à sa naissance, et sous le firmement
Se penchaient, ayant l’air espérer vaguement

(Lời truyền Đức Mẹ vào hang,
Hạ sinh Thiên Chúa chẳng màng khó khăn.
Vì sao thắp sáng long lanh,
Bò lừa ngẫm nghĩ điềm lành thế gian.
Cúi đầu ấp ủ Ngôi Hai,
Hài nhi bé nhỏ một mai cứu đời)

Nhiều nhà thơ thuộc các khuynh hướng thi ca khác nhau
như Alfred de Vigny, Lamartine, Verlaine cũng sáng tác
những bài thơ công giáo đầy rung cảm. Tuy nhiên, vì đề tài
của các bài thơ này không liên hệ đến lễ Giáng sinh nên
không chép lại ở đây.

Kết luận:
Giáng Sinh là ngày lễ của những người khiêm hạ. Trong bài
giảng Nửa đêm tại Thánh điện Vatican năm ngoái (2007),
Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI đã chứng minh vì sao Thiên

                                                         109
Chúa không bỏ loài người trong khi một phần nhân loại
dường như không còn dành cho Ngài địa vị tôn kính nữa.
Ngài mời gọi các tín hữu hãy ra khỏi tháp ngà để lo cho
những người bị gạt ra ngoài lề xã hội. Chúng tôi viết bài này
vào mùa vọng tại Paris, trời về đêm tuyết sương lạnh dưới
không độ C. Nhớ lại lời dặn dò của Đức Thánh Cha, chúng
tôi có bài thơ như sau.

Bê Lem Không Nhà
Một ngàn năm như gió cuốn mây bay (2 Pr 3,8),
Đêm hôm trước Bê Lem còn ngây ngất.
Một trời sao, hội hoa đăng đường mật.
Và thần linh tấu khúc nhạc mê say.
Nhạc âm vang đánh thức trẻ mục đồng,
Cùng chiên lừa theo sao sáng phương Đông.
Sương khuya lạnh, tuyết cơ hàn rét mướt,
Nơi Bê Lem vừa giáng thế Hài Đồng.

Ngàn năm sau thiên niên kỷ thứ ba (2 Pr 3,8),
Kẻ cùng đinh sống vất vưởng không nhà.
Khác mục đồng, lòng thiên hạ dửng dưng,
Không nhường cơm sẻ áo nghĩa mặn mà.
Lạy Hài Nhi nơi hang lừa buốt giá,
Xin sót thương bao kiếp sống đọa đầy.
Niềm thương đau hàng ngày trên Thập giá,
Xin mưa ơn cứu độ cõi ngàn mây.

                                               Paris, Giáng Sinh 2008
                                                       Lê Đình Thông



GIÁO HỘI CHO THỜ CÁC THIÊN THẦN VÀ CÁC THÁNH?
  Phải chăng Giáo Hội cho thờ phượng các thiên thần và các thánh?
                                                Lm PX Phan Long, ofm
Xin chào
                                                                110
Xin cho hỏi tại sao điều răn thứ 1 cấm thờ lạy các thiên thần và các thánh, sao
giáo hội lại cho thờ, xin giải đáp giúp, cảm ơn (tran quang).

Thưa anh Tran Quang,
Trước khi trả lời câu hỏi của anh, thiển nghĩ nên xác định
nền tảng chúng ta dựa lên mà trao đổi.

1.- Thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất
Chúng ta quen đọc trong Kinh “Đạo đức Chúa Trời có mười
điều răn”: Thứ nhất, Thờ phượng một Đức Chúa Trời và
kính mến Người trên hết mọi sự”. Còn câu tóm của Giáo Lý
của Hội Thánh Công Giáo là: “Điều răn thứ nhất kêu gọi con
người tin vào Thiên Chúa, trông cậy nơi Người và yêu mến
Người trên hết mọi sự” (GLHTCG, số 2134). Câu tóm này
đưa chúng ta trở lại các lệnh truyền của Cựu Ước và Tân
Ước như sau:
- Xuất hành 20,2-5 (x. Đnl 5,6-9): “Ta là Đức Chúa, Thiên
Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh
nô lệ. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với
Ta. Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở
trên trời cao cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước
phía dưới mặt đất, để mà thờ. Ngươi không được phủ phục
trước những thứ đó mà phụng thờ”.

- Đệ nhị luật 6,13: “Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh
em, là Đấng anh em phải kính sợ; chính Người là Đấng anh
em phải phụng thờ”.

- Khi bị cám dỗ, Đức Giêsu đã trả lời quỷ: “Đã có lời chép
rằng:’Ngươi phải thờ lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của
ngươi và phải thờ phượng một mình Người mà
thôi’”(Mátthêu 4,10). Lời này nhắc lại câu Đnl ở trên.

- Đệ nhị luật 6,4-5: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en: Đức Chúa, Thiên
                                                                          111
Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức
Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh
em”.

- Đức Giêsu sẽ nhắc lại yêu cầu này: “Ngươi phải yêu mến
Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và
hết trí khôn ngươi” (Mt 22,37; x. Lc 10,27).

Như vậy, thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất là một vấn
đề đức tin (GLHTCG 2087-2089), đức cậy (GLHTCG 2090-
2092) và đức mến (GLHTCG 2093-2094).
Đã nói đến thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất thì dĩ
nhiên “ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với
ta” (Đnl 5,7), tức là dứt khoát không được để cho trái tim
mình còn nghiêng về những thứ không phải là Thiên Chúa,
mà coi như là Thiên Chúa, qua việc chấp nhận các chuyện
mê tín (GLHTCG 2111), thờ ngẫu tượng (GLHTCG 2112-
2114), bói toán ma thuật (GLHTCG 2115-2117).

Liên hệ với câu hỏi của anh, chúng ta có thể suy nghĩ rộng
hơn về “thờ ngẫu tượng”. Sách GLHTCG dạy: “Thờ ngẫu
tượng là tôn thờ và kính bái một thụ tạo thay vì Thiên Chúa,
cho dù đó là thần linh hay ma quỷ” (số 2113). Vậy các thiên
thần và các thánh cũng chỉ là những thụ tạo (GLHTCG 311,
326, 330), là những loài trong “muôn vật hữu hình và vô
hình” (Kinh Tin Kính; x. GLHTCG 279), do đó nếu bày tỏ với
các vị đó những cử chỉ và thái độ cung kính như đối với
chính Thiên Chúa để rồi thậm chí quên mất vị trí siêu việt
của Thiên Chúa, thì đó là “thờ ngẫu tượng”.

2.- Giáo Hội cho thờ các thiên thần và các thánh?
Vấn đề anh hỏi là sao Giáo Hội lại “cho thờ các thiên thần
và các thánh”. Tôi tự hỏi là anh dựa vào đâu để nói rằng GH

                                                        112
“cho thờ các thiên thần và các thánh”, bởi vì trong thực tế
không có một lời công bố nào cả .

(a) Phải chăng là dựa vào các ngày lễ theo Phụng Vụ, vì các
Tổng lãnh thiên thần (ngày 29-9) và các thiên thần hộ thủ
(ngày 2-10) đều có lễ riêng, và một số các vị thánh cũng thế
(với dủ cấp lễ: lễ nhớ không buộc, lễ nhớ buộc, lễ kính và lễ
trọng)?

Thật ra, tất cả các ngày lễ này không hề làm cho chúng ta
quên Thiên Chúa để chỉ quy tuyệt đối về các đấng ấy; trái lại
các ngày lễ ấy lại càng tôn vinh Thiên Chúa là Đấng đã làm
những điều lạ lùng cho chúng ta qua các đấng ấy. Chẳng
hạn:
   - Trong Lời Nguyện đầu lễ ngày kính các Tổng lãnh
      thiên thần, linh mục đọc: “Lạy Chúa là Đấng thượng
      trí vô song, Chúa đã muốn cho thiên thần và người
      thế cộng tác vào chương trình cứu độ. Xin cho các
      thiên thần đang phục vụ Chúa trên trời cũng luôn luôn
      phù hộ chúng con ở dưới đất”.
   - Trong Lời Nguyện đầu lễ ngày lễ các thiên thần hộ
      thủ, linh mục đọc: “Lạy Chúa là Đấng an bài mọi sự
      cách tuyệt vời, Chúa sai các thiên thần đến gìn giữ
      chúng con. Xin ban cho chúng con đời này được các
      ngài luôn bênh vực che chở, và đời sau được cùng
      các ngài hưởng phúc vinh quang”.
   - Về các thánh, xin chọn lễ trọng hai thánh tông đồ
      Phêrô và Phaolô. Trong Lời Nguyện đầu lễ, linh mục
      đọc: “Lạy Chúa, Chúa đã ban cho chúng con được vui
      mừng hoan hỷ nhân ngày đại lễ kính hai thánh tông
      đồ Phêrô và Phaolô. Chính nhờ các ngài Hội Thánh
      đã bắt đầu đón nhận đức tin, xin cho Hội Thánh cũng
      luôn trung thành tuân giữ lời các ngài giảng dạy”.

                                                         113
Trong mấy Lời nguyện ấy, chúng ta không hề thấy có việc
các thiên thần hoặc các thánh chiếm chỗ của Thiên Chúa
duy nhất, mà chỉ thấy là có một chuyển động quy về Thiên
Chúa để ghi nhận quyền năng cứu độ của Người qua trung
gian của các đấng ấy mà thôi!

(b) Phải chăng là anh dựa vào việc tôn kính ảnh tượng các
thánh? GLHTCG dạy: “Tất cả các dấu chỉ dùng trong Phụng
Vụ đều quy về Đức Kitô. Các ảnh tượng về Đức Mẹ và các
thánh cũng vậy, vì biểu thị Đức Ktô vinh hiển nơi các ngài.
Các ảnh tượng cho thấy “đám mây các nhân chứng” (Dt
12,1) đang tham dự vào công trình cứu độ thế gian và hiệp
nhất với chúng ta, đặc biệt khi chúng ta cử hành các bí tích.
Qua các ảnh tượng, chúng ta thấy con người “được tạo
thành theo hình ảnh Thiên Chúa”, đã được biến đổi “nên
giống Thien Chúa” và cùng với các thiên thần được quy tụ
trong Đức Kitô” (số 1161).

Như thế, trong lãnh vực ảnh tượng cũng vậy, chúng ta
không hề thấy có việc ảnh tượng các thiên thần hoặc các
thánh được Giáo Hội chủ trương dùng thay cho Thiên Chúa!

Vậy, hiểu “Giáo Hội” là “Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo”,
thì không thể có chủ trương “thờ” các thiên thần và các
thánh, theo nghĩa la tôn kính các ngài như là Thiên Chúa,
khiến Thiên Chúa bị xóa mất. Hiểu “Giáo Hội” là các đấng
chủ chăn, thì chắc cũng không có, vì các vị ấy luôn phải
quan tâm dẫn dắt các tín hữu trung thành đi theo đường lối
đạo lý chân chính. Còn nếu trong thực tế, các tín hữu có tôn
kính các thiên thần hoặc các thánh, kể các Đức Maria, khiến
cho như Thiên Chúa bị quên lãng, thì đó không phải là Giáo
Hội cho phép, mà là do lòng sùng kính thái quá của các tín

                                                         114
hữu. Nhiệm vụ các các chủ chăn là giúp các tín hữu điều
chỉnh các lệch lạc đó.

Nói riêng trên lãnh vực thánh nhạc, hiện này có một số bài
hát tôn kính Mẹ Maria thái quá vì gán cho Mẹ những đặc
điểm và chức năng như Thiên Chúa. Điều này cũng là do
lòng mộ mến quá đáng đã khiến một vài nhạc sĩ sáng tác ra
những bài hát chất chứa các tâm tình riêng tư cá nhân, chứ
không tải được đạo lý mạc khải của Kinh Thánh. Theo chỗ
tôi biết, Ủy Ban Thánh Nhạc trực thuộc Hội Đồng Giám Mục
Việt Nam đang thanh lọc các bài hát tình cảm thiếu vững
chắc về giáo lý đó ra khỏi danh sách các bài hát được phép
dùng trong Phụng Vụ.

Dĩ nhiên công việc điều chỉnh cũng cần có thời gian và sự
hiểu biết cũng như tiếp tay của mọi thành phần Dân Chúa.

Xin cầu chúc anh biết luôn luôn đặt niềm tin cậy mến nơi
Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng cũng sẵn sàng đón nhận sự trợ
giúp của Đức Maria, các thiên thần và các thánh, vì Thiên
Chúa đã đặt để các ngài giúp đỡ chúng ta trên đường tiến
về quê trời.
Thân mến,

Lm PX Phan Long, ofm




                                                      115

								
To top