Docstoc

Cố Hương_ 35 Năm Sau

Document Sample
Cố Hương_ 35 Năm Sau Powered By Docstoc
					            Cố Hương, 35 Năm Sau
                                                       Phạm Hoàng Chương

Phạm Hoàng Chương nay về hưu, an cư tại Riverside, Nam Cali. Sau đây là
bài viết đặc biệt của ông nhân dịp 35 năm Ngày Miền Nam sụp đổ 1975-2010.



1975
Ăn tết xong, khoảng tháng hai, tháng ba, cả trường Duy Tân tôi dạy xôn xao tin
Việt cộng đánh chiếm Kontum, Pleiku, rồi Ban mê thuột, địch lăm le chuẩn bị
tràn xuống Nhatrang... Anh Lực mới lên nắm chức Tân hiệu trưởng được mấy
tuần, không dấu nỗi vẻ rầu rĩ lo âu. Tiệm sách tôi chưa bao giờ bán báo đắt như
lúc ấy, mới 10 giờ sáng đã sạch nhẵn không còn tờ nào. Cả thành phố Phanrang
dân chúng nhốn nháo với những tin đồn rúng động chết người: Mỹ bỏ VN,
Thiệu Kỳ bỏ chạy, VC sắp chiếm miền Nam...

Mới hồi đầu năm, vô số sâu bọ trên rừng hàng hàng lớp lớp đua nhau lúc nhúc
tản cư bò xuống biển, băng qua đường quốc lộ bị xe cán chết hết lớp này tới lớp
khác, dân đã hoang mang không biết điềm gì, kế đến hòn Đá Dao cao mười
mấy thước trên núi Đá Chồng, quê ông Thiệu, tự dưng sụp lăn ra đât, để mặc
cho hòn Mặt Quỷ (tượng trưng cho Cọng Sản) bên kia làng Dư khánh ngạo
nghễ khinh khỉnh nhìn qua. Người nói Mỹ bỏ rơi Việt Nam, ông Thiệu giao
miền Trung và cao nguyên cho Việt cộïng, rút về giữ Saigon. Kẻ nói ông Thiệu
bằng mọi giá giữ lại từ Ninh thuận trở vô Nam, vì Ninh thuận là quê hương của
                        ổng, mồ mả ông bà còn chôn ở đó.

                      Qua đầu tháng Tư thì tin tức từng ngày càng lúc càng
                      sôi động. Sư đoàn 1 tan hàng. Dân chúng Huế hoảng hốt
                      bỏ nhà chạy vào Đà nẵng. Việt cộng chiếm Huế trong
                      vòng một ngày, rồi hai ngày sau, nghe đài BBC nói Đà
                      nẵng thất thủ luôn. Một ngày sau, Quảng Nam mất. Sợ
bom đạn, pháo kích, tôi cho vợ bế con nhỏ chạy trước ra đảo Cam ranh, ở nhà
ông bà nhạc cho an toàn. Người ta kháo nhau về đội quân vùng 1 vùng 2 tan
hàng bỏ ngũ từ Huế tơi tả chạy, dân chúng bỏ nhà bỏ cửa, bồng bế chạy theo
lính vào Nam, dọc đường cướp bóc hãm hiếp chết chóc xảy ra nhan nhản. Việt
Cọng hầu như mỗi ngày chiếm lấy một tỉnh, quân đội bên ta chưa đánh đã
chạy, cởi bỏ quân phục chạy trước cả dân. Cuối tháng 3, Qui nhơn, Tuy hòa
mất. Tôi hoảng quá. Tiệm sách còn đầy hàng hóa sách vở, phân vân không biết
nên giao nhà cho con bé giúp việc liều bỏ chạy vô Saigon hay ở lại giữ của.
Sáng ngày 1 tháng 4, anh bạn kỹ sư ở nhà đối diện chạy qua đập cửa nhà tôi hốt
hoảng:

- Anh Chương ơi, cả thành phố người ta bỏ chạy rồi. Nghe nói đại tá Tự, tỉnh
trưởng Ninh thuận bỏ trốn vô Phan thiết. Mình phải đi gấp chứ không kịp nữa.
Loạn lạc chết chóc tới nơi...

Thế là tôi không còn đắn đo suy nghĩ nữa, gói 50 ngàn bạc nhét dưới chân,
mang giầy vô, cầm cái xắc tay đựng một hai bộ đồ và ít đồ quí, giao chìa khóa
nhà cho con nhỏ người làm, xách Honda chở Chính vô Phan Thiết, không kịp
ghé nhà má báo tin. Chính nói ở Saigon, nhiều nhà giàu biết tin sắp mất nước,
đã lên tàu rời khỏi VN ra khơi, có tàu Mỹ đón. Dọc đường vô Phan thiết, hai
đứa gặp vô số dân quân tản cư, những kho xăng, tiệm thuốc tây bị cướp phá, xe
cộ hết xăng bỏ lăn lóc dọc đường, những xác chết khẳng khiu ở bờ sông. Vừa
tới Phan thiết thì thành phố bị pháo kích ầm ầm, cuống cuồng xách xe chạy trốn
chui trốn nhủi. Đường bộ vô Saigon bị chận vì hai bên giao tranh, đánh nhau ở
đâu trong Xuân Lộc, đường thủy thì ghe thuyền đầy lính tráng hung dữ, lăm
lăm súng ống giành nhau cướp để vô Vũng tàu sớm, bắn nhau chéo chéo,
không cho dân lên. Tôi và Chính đành phải xách xe trở về Phan Rang, hai bên
đường im lìm vắng ngắt thấy sợ.

Tiểu khu Ninh Thuận lúc đó đã bỏ ngỏ, tàn quân và dân chúng xông vào kho
cướp súng đạn uy hiếp các tiệm buôn trong phố. Thành phố tan hoang, xơ xác.
Hiệu buôn quần áo tơ lụa lớn của mẹ tôi bị bắn vỡ các tủ kính loảng xoảng, dân
cả trăm người kéo nhau vô nhà hôi của ào ào. Tôi ở Phan Thiết về thì mọi sự đã
xong, má đứng trước nhà dang tay phân trần, mếu máo khóc.

Ngày 2 tháng tư, VC khựng lại ở Cam Ranh. địch và ta giao tranh nhau ở Ba
Ngòi dằng co nhiều ngày. Chắc ông Thiệu ra lệnh cho giữ Ninh Thuận bằng
mọi giá, nên lính Ninh Thuận liều chết chiến đấu rất hăng. Tiệm sách tôi may
mắn còn nguyên, không ai thèm cướp sách. Tôi thở dài nằm nhà, phó mặc cho
số mệnh. Thôi, ai sao mình vậy, con người có số, chỉ biết thầm cầu nguyện Ơn
Trên. Lúc đó lại có tin đồn VC chiếm xong miền Nam sẽ thủ tiêu 1 triệu công
chức quân nhân VNCH, như họ đã từng làm ở Huế Tết Mậu Thân. Cầu cơ cố
thi sĩ Hàn Mạc Tử xuống xin cứu giúp, chú Hàn khuyên mọi người ai ở đâu, cứ
ở yên đó, đừng vọng động chạy tới chạy lui mà nguy hiểm, đây là Cộng nghiệp,
mọi sự ở Trên đã an bài đâu vào đó cả rồi.

Ngày 5 tây, dân Đa Lạt kéo nhau xe cộ đủ loại ồ ạt tản cư xuống Phan Rang,
mang theo rau quả hái non, hàng hóa, gia súc, của cải, tài sản, trải chiếu nằm
bừa bãi ngoài đường phố. Người ta bày bán tống tháo ngoài đường từng đống
bông cải trắng, cà rốt, rau cải nhổ vội trên Đa Lạt xuống, vót vét được đồng nào
hay đồng nấy để còn tiếp tục chạy vô Saigon, nếu như Cam Ranh thất thủ. Một
chủ tiệm sách vô tiệm tôi năn nỉ xin mua giùm cho một xe hơi đầy nhóc vở tập
100 trang mới tinh từ trên Ða Lat chở xuống với giá rẽ mạt, để rảnh tay chạy
tiếp vô Saigon. Tôi tiếc rẽ lắc đầu. Thân tôi còn chưa biết chết sống thế nào,
tiệm tôi còn chưa biết có được an toàn không, nắm tiền đi liền khúc ruột, lúc
này phải lo thủ, tiền đâu mà mua trữ vở tập cho mùa thu nhập học tới. Sau đó
mấy ngày thì nghe bên ta phi đoàn đánh sập cầu Tân Mỹ để chận VC trên Đa
Lạt xuống.

Nhưng rồi sau cùng, Cam Ranh cũng thất thủ sau 15 ngày cầm cự anh dũng, xe
tăng với lính bộ đội VC trẻ măng, đội nón tai bèo, ngơ ngác tiến vào thành phố.
Giáo chức tụi tôi nhận tháng lương cuối kể từ ngày đó, ngoan ngoãn theo lệnh
đi học tập chính trị mỗi ngày để giảng dạy lại cho học sinh. Tôi sống trong
phập phồng lo lắng cho đến tháng 8 thì cùng với tất cả các giáo sư biệt phái
khác được lệnh đi học cải tạo ở Sông Mao, cùng với nhiều thành phần quân dân
cán chính khác.

1976-1985
Tết năm đó, trong tù, tôi được mẹ và vợ vô thăm nuôi, báo tin đổi tiền 500 cũ
ăn một đồng tiền mới, nhiều nhà giàu ở Saigon thất điên bát đảo, có người nhảy
lầu tự tử. Đúng một năm sau, được phóng thích về với gia đình, tôi theo đúng
phương châm "Lao động là vinh quang", "Tư bản là bóc lột" học trong trại, dẹp
bỏ mua bán, hai vợ chồng kéo nhau ra lò gạch Nhơn Hòa ông Hai Lô làm công
nhân để tỏ ra "giác ngộ", được sớm trả "quyền công dân". Nghe tin một số bà
con ở Saigon bỏ nước đi từ 30 tháng tư qua Mỹ, vài người bạn cũ vượt biên
thành công. Nghe như chuyện cổ tích, không bao giờ dám nghĩ mình có đủ can
đảm và điều kiện bỏ nước ra đi an toàn như họ.

Cờ Mặt trận giải phóng miền Nam và bài quốc ca của họ xuất hiện mấy tháng
rồi tự nhiên biến mất, chỉ còn lại bài quốc ca và cờ đỏ sao vàng miền Bắc.
Trong năm 76, nhà cửa tài sản của "ngụy quân" cấp bậc đại úy trở lên, các
thành phần có "nợ máu" với nhân dân, các nhà giàu bỏ chạy đều bị tịch thu,
phân phát cho cán bộ ngoài Bắc vô ở. Mẹ tôi giữ 6 cái nhà cho thuê giùm bà cô
họ tôi ngoài Bắc 21 năm nay bị Ủy ban quân quản tịch thu hết cho cán bộ cao
cấp ở, cô chú tôi là đảng viên chạy vào làm đơn xin xỏ mãi không được, chán
nản bỏ về Bắc lại.

Rồi đăng ký hộ khẩu. Dân chúng phải khai báo tài sản, từ cái radio, xe Honda,
cho đến vàng bạc cất trữ. Ai ở xa tới tạm trú phải ra đồn khai báo công an.
Muốn ra khỏi tỉnh phải làm đơn xin phép. Xe hàng đói meo vì không ai dám đi
khỏi tỉnh, trừ mấy tay buôn chuyến biết cách hối lộ cho công an giao thông. Từ
thời Pháp thuộc tới giờ, làm gì có chuyện ngăn sông cấm chợ lạ lùng như vậy,
ai nấy gặp nhau cũng xầm xì bất mãn. Nhiều gia đình công chức quân nhân chế
độ cũ thất nghiệp đói nhăn răng, sống vất va vất vưởng, bị lùa đi kinh tế mới,
lên rừng thiêng nước độc, bịnh tật không có
thuốc men, chết nhiều lắm.

Thấy dân còn nhiều người giàu, qua năm 77,
nhà nước lại cho đổi tiền một lần nữa, để dễ cai
trị hơn. Dân đói, còn hơi sức đâu mà chống
đối, cái bao tử phải lệ thuộc tem phiếu nhà
nước thì làm sao mà bướng bỉnh được.... Nghe
nói nhiều người dại dột bồng bột tham gia các
phong trào phục quốc cò mồi, bị tóm bỏ tù chung thân. Thành phố đầy dẫy
những bộ xương biết đi, quần áo cũ rách, những con người còm cõi đạp xe,
cầm cuốc, mặt mày buồn bã khô khan vô vọng. Thiên hạ bị bắt đi làm thủy lợi
một năm 30 ngày, ai có tiền thì cho mướn người đi thế. Đàn bà con đông,
chồng đi cải tạo, có người khóc mong sao cho Trời sập chết hết cho rồi, sống
chi mà khổ như con chó. Có một dạo, trong nhà nhìn ra đường thấy nhiều
chuyến xe bịt bùng nhốt lính ngụy học cải tạo chạy qua, đâu như dời trại tù, hay
di chuyển tù ra Bắc, dân chúng kéo ra đứng coi hai bên đường, xầm xì thương
xót, có nhiều người mua bánh trái chạy tới, lấm lét canh chừng bộ đội, dúi nhét
quà, tiền vào tay người tù. Năm 79 lại có nhiều đoàn xe tăng thiết giáp của Nga
ngày đêm từ trong Nam chạy ra Bắc, nhiều xe tải chở lính bộ đội trang bị súng
ống, mặt mày nghiêm trọng. Có người rỉ tai VC đang đánh nhau với Trung
quốc ở Lạng Sơn, Lào Cai. Có người rành hơn, nói Lê Duẩn phủi ơn Tàu viện
trợ vũ khí đánh Mỹ lúc trước, chạy theo Nga, nên Tàu "dạy cho một bài học".
Nghe nói hai bên đều chết ngang nhau, nhiều tỉnh phía Bắc bị cướp phá tan
hoang. Người quen gặp nhau tâm sự mong cho Tàu thắng để Lực lượng phục
quốc thừa cơ nổi lên đánh giành lại miền Nam. Nghe đồn có nhiều tù nhân
"ngụy" được Tàu giải phóng khỏi trại tù, mang về Tàu thả cho tự do đi, Mỹ bốc
qua Mỹ.... Trước 75 tôi có đứa học trò là con ông Khu trưởng khu phố tôi ở,
nên ông tin cậy giao cho làm Tổ phó nhân dân, dẫn dân đi làm thủy lợi, chỉ huy
dân phường Kinh Dinh tranh đua với các phường khác đắp đập, đắp đê trên
mạn Sông Pha, được bằng khen hạng nhất. Nhờ vậy mà "được" đi cùng với
công an khu vực nửa đêm tới nhà mấy người xay cà phê lậu trong xóm, lập
biên bản, ký tên. Được đi họp với chức sắc. Lại nằm trong Ban giảng dạy các
lớp Bình dân ban đêm, được miễn đi thủy lợi. Môt tuần vài ba đêm, khu trưởng
khu phó chọn nhà một người nào đó, cho người tới từng nhà bắt dân trong phố
phải "đi họp", tới ngồi chồm hổm bên rãnh cống hôi, muỗi cắn lia chia, chịu
trận nghe lải nhải những điều ở trên đưa xuống đến phát ngấy, dân ngáp lên
ngáp xuống, không ai buồn dơ tay phát biểu ý kiến. Chính quyền gài "ăng ten"
vô trong dân, đủ mọi thành phần, trường học, chợ búa, công nhân...để thu lượm
tin tức chống đối, phản động. Lại có nạn mấy bà phụ nữ thợ thuyền dốt nát
được đưa lên nắm chút quyền hành, hống hách hạnh họe dân lành trong xóm
phường, rình rập báo cáo lấy điểm, hù dọa bắt đi kinh tế mới, ôi thôi người dân
mang đủ thứ tròng vô cổ, kêu Trời không thấu.

Thời đó như thời các nước Âu châu bị Đức quốc xã chiếm đóng, dân chúng
nghi kỵ nhau, ai giàu có ăn sung mặc sướng coi như có tội, ra đường thấy mặt
mấy người "cách mạng 30 tháng tư" lật đật cúi chào, sợ bị thù oán hãm hại.
Quán xá đóng im ỉm, gánh xôi, hàng quà nhỏ xíu cũng bị công an xô đuổi, nhu
yếu phẩm, đồ dùng, thức ăn khan hiếm, dân phải ăn độn bo bo, khoai sắn, bột
mì. Tôi may còn 500 cuốn sách dạy vỡ lòng, dụng cụ học sinh, hàng hóa, lén
lút bán lần ra ăn, bám lấy các ngành tổ hợp thợ mộc, điêu khắc, trồng thuốc
Nam cho có công ăn việc làm che mắt công an, rồi túng cùng phải mua xích lô
đạp trong thành phố sống qua ngày, chứ bên ngoài có biết bao gia đình bạn bè
người quen lăn lóc bữa đói bữa no, bần cùng thê thảm. Tôi còn may, có thằng
em họ làm lớn ngoài Hà Nội vô thăm, dặn riêng tuyệt đối bất cứ giá nào cũng
phải bám lấy thành phố mà sống, đừng đi kinh tế mới, đi kinh tế là mất hộ
khẩu, là chết đói. Nó kể ngoài Bắc hồi 54 cũng làm vậy, nhưng họ chỉ rầm rộ
làm dữ một thời gian rồi thôi. Ai nhẫn nhục khéo luồn lách thì sống, ai dại dột
nóng nảy thì chết. Có lần nghe anh Dự, giáo viên cấp 2, dẫn vợ ba con vô lục
tỉnh làm ăn không xong bỏ chạy về lại Phanrang, hết sạch tiền, được bạn cũ cho
ở nhờ nhà bếp phía sau, chưa biết giúp đỡ cách nào cho anh thì ít hôm sau đã
nghe anh bỏ thuốc độc vô chuối ép mấy đứa con ăn chết cho nhẹ gánh nợ, rồi
hoảng sợ bỏ trốn mất, bỏ lại chị vợ kêu gào khóc lóc thảm thiết ở nhà thương,
phường xã ém nhẹm cấm phổ biến tin thảm, sợ dân bức xúc. Tôi sững sờ cả
mấy tuần.

                            Rồi nghe tin gia đình tiệm buôn Quý Ký tổ chức
                            vượt biên ở Ninh chữ, lọt được ra khơi, nhưng
                            lại bị tàu Liên Xô vớt, đem về Vũng Tàu giao
                            cho nhà nước, bị nhốt tù cả đám. Kế lại xảy ra
                            vụ anh Trợ, hiệu trưởng tiểu học, tham gia Phục
                            quốc nửa đêm công an vô nhà còng tay bắt đưa
                            đi nhốt tù chung thân, chị vợ sau đó tuyệt vọng
                            bỏ thuốc chuột vào nồi chè đầu độc lũ con 6
                            đứa, may mà hàng xóm tri hô cứu kịp. Những
chuyện thương tâm như vậy nhiều lắm, suốt 8 năm dài còn kẹt ở Phanrang, tôi
không làm sao nhớ hết....

Năm 79, 80, tự nhiên phong trào vượt biển từ Nam chí Bắc rầm rộ nổi lên một
lượt với chính sách nhà nước cho người Hoa nộp vàng đi bán chính thức. Nghe
tin Phòng, một người bạn, đi chết chìm ngoài biển, bỏ lại vợ 3 con. Nhà tôi hên,
ba đứa em gái đi chui, lọt cả ba. Tôi có mấy chỗ quen rủ đi, nhưng thấy con gái
mới sinh còn bé xíu, không nỡ, lo cho các em đi trước, lâu lâu nghe người này
người kia trong phố đi lọt, trong bụng nôn nao bần thần. Có lần đạp xích lô chở
trúng khách từ Saigon ra Phan Rang vựợt biên, khách rủ cho đi theo không, tôi
biết chưa tới thời cơ, đều từ chối hết, an bần lạc đạo, nghiên cứu tử vi, kinh
Phật. Kham khổ cúi đầu chịu đựng, bứt rau dền dại ở bờ bụi đem về luộc, tiện
tặn mua tôm cá cặn cọt lúc chợ tan, mua khoai độn gạo, đem về cho vợ nấu
nướng nuôi con qua ngày. Trong nhà có cái gì giá trị đem bán hết, chắt chiu
mua từng chỉ vàng dấu cất, chỉ còn mỗi cái bàn giấy, cái tủ áo cao 2 mét bằng
sắt mấy người thầu rác Sở Mỹ bán ra ngày xưa là còn đáng giá, còn lại toàn các
mảnh gỗ ghép lại làm bàn tiếp khách, cái bàn tròn ọp ẹp sứt ốc làm bàn ăn, hai
cái ghế bành rách da làm furniture. Để nhà cửa sơ sài đạm bạc như vậy cho
công an thấy mình nghèo không nảy lòng tham, và có ra đi bỏ lại cũng không
tiếc. Bọn công an khu vực cứ tự tiện thường xuyên vào nhà rình mò quan sát,
hai mắt láo liên, có lúc nhìn chòng chọc vào mặt mình để dò xét tư tưởng thầm
kín, tôi tức cười cứ thản nhiên tỉnh bơ mặc kệ. Một lần đưa người bạn ra bến xe
về Saigon, thằng công an người dân tộc Tày tưởng bở, từ xa chạy xộc tới, quát
hỏi: "Anh kia, đi đâu, có giấy tờ xin phép không?", tôi đủng đỉnh cười nhạt trả
lời: "Đi đâu mà đi? Tiền đâu mà đi đâu? Tiễn bạn ra xe một chút thôi, có gì mà
nhặng lên thế?" Nó bẽn lẽn đi mất.

Lúc đó, đầu 1982, nhà nước thiếu tiền, nên ở Phường bắt đầu có chủ trương
mới, cho dân buôn bán nhỏ để đánh thuế lấy tiền trả lương công chức. Thấy họ
đang nhận đơn mấy người xin mua bán nhỏ, tôi xúi vợ đứng tên xin bán tạp
hóa, may sao Trời thương, đơn được chấp thuận. Bán buôn được mấy tháng có
chút tiền vô thì tôi lại bị Công an giao thông địa phương cấm đạp xích lô, lý do
trí thức mà giả đò làm nghề "hạ tiện" bêu riếu chế độ, bèn bán rẽ xe, ở nhà phụ
vợ giữ con bán hàng, bắt đầu để ý tìm mối ra đi. Họ bô bô nói "Lao động là
vinh quang", mà lao động kiểu đạp xích lô thì lại bị cấm, đúng là cái lý của kẻ
mạnh, muốn nói sao nói. Ở Saigon thiếu gì th ầy giáo bỏ nghề đạp xe, mạnh ai
nấy sống, ai mà để ý tới, tỉnh nhỏ ít người thì "đầy tớ nhân dân" lại chiếu cố
quá kỹ...Tổ trưởng, láng giềng, xích lô bạn, công an khu vực theo dõi dữ lắm,
nhưng tôi lè phè tỉnh bơ, bỏ tiền mướn thợ hồ xây sửa nhà cửa, ra vô thong thả,
không ai có thể ngờ được là mình đang mưu tính chuyện gì.

Thế rồi khi nhân duyên hội đủ đưa đến, tử vi mình có "Thân cư Di", số đi thì
phải đi, cãi cũng không được. Có người thân tổ chức lo sẵn ghe, mình chỉ nhảy
lên, đi theo. Mang theo đứa con trai đầu 10 tuổi, năm 1983. Bỏ lại 2 mẹ con.
Thời buổi lúc đó không dám liều đi cả nhà được, chỉ đi 50/50, để nếu có "bể "
thì còn quay về nhà an toàn không ai biết.

                                   1985-1995

                                   Cuối năm 84, tôi đặt chân lên đất Mỹ tự do,
                                   sau hơn một năm ở trại Chimawan
                                   Hongkong và Bataan ở Phi. Ở đảo, liên lạc
                                   thư về nhà, mừng biết nhà không sao, công
                                   an chỉ tới nhà mắng nhiếc, gạch tên 2 cha
                                   con khỏi hộ khẩu, chứ vợ con không bị ép đi
                                   kinh tế mới. Chương trình thất bại thê thảm,
                                   nhiều người lên đó đói rách, lâm bệnh bỏ về
thành phố lê la ở nhờ ở đậu, xin ăn đầy đường. Nhân dân ta thán khắp nơi, công
an cán bộ cũng đói, làm bậy, ăn cắp tài sản nhà nước, bóc lột của dân, lai rai bị
sa thải. Qua 85, đọc báo thấy bên Tàu đói nghèo thê thảm, Đặng Tiểu Bình phải
bắt chước Tây Phương, "đổi mới" kinh tế để sống còn, cho tư nhân buôn bán
nhỏ và đảng viên kinh doanh để xả bớt căng thẳng. Tôi làm đơn bảo lãnh vợ
con từ đầu 85, nhưng Việt Nam và Mỹ lúc đó quan hệ còn nhiều gay cấn lắm
nên hồ sơ nằm ỳ một chỗ. Hồi đó chưa có đường dây tư nhân gửi tiền về cho
thân nhân ở VN, phải mua vải vóc, thuốc tây đóng thùng gửi về bưu điện địa
phương cho gia đình ra nhận về, rồi bán lấy tiền chia nhau tiêu. Vợ ở nhà viết
thư qua cho hay đã dẹp mua bán vì có quá nhiều người mở tiệm, giao con gửi
bên bà nội, đi làm Hợp tác xã làm Xì dầu trên chùa Tỉnh Hội ngày hai bữa cho
yên thân. Một năm đi làm phải lo gửi tiền về cho vợ và mẹ ba bốn lần lấy tiền
chi dụng.

Năm 87, nghe nói VN thấy Tàu đổi mới thành công, bắt chước chuyển qua kinh
tế tư bản, nhưng vẫn tự ái không dám dùng danh từ "tư bản", để mặc cho dân
chúng tự do buôn bán cá thể, không dùng điệp khúc "buôn bán là bóc lột" nữa.
Việt nam phải đổi mới thôi, vì nếu không đổi mới thì chết, chết từ đảng viên
cao cấp ở trên chết xuống thằng dân khố rách áo ôm bên dưới. Hợp tác xã bán
gạo và nhu yếu phẩm đóng cửa. Hợp tác xã các ngành nghề thất bại, cũng lần
lượt giải thể. Nhà nông được trả ruộng đất lại làm tư, đóng thuế. Thợ may, thợ
mộc, thợ hồ trở lại làm chủ, tiệm buôn hai bên phố mọc ra như nấm, nhưng bên
cạnh lối làm ăn cá thể bắt đóng thuế cho nhà nước, vẫn còn hệ thống quốc
doanh "ăn hại đái nát" được nhà nước trợ cấp nuôi dưỡng song song. Lương
nhà giáo, công nhân viên thấp quá không đủ sống, nhiều người bỏ làm nhà
nước, tìm cách dạy tư, sữa chữa máy móc, chạy xe thồ, đi buôn ... Bác sĩ được
quyền mở lại phòng mạch tư, dược sĩ mở tiệm thuốc riêng. Hai vợ chồng em
gái nhỏ tôi, giáo viên cấp 3, bỏ dạy, biến mặt tiền căn phố lớn mẹ tôi ở thành
tiệm bán sửa đồ điện, radio, máy hát, quạt máy, Tivi, tủ lạnh. Ban đầu vốn ít,
bán ít, sửa nhiều. Dần dần buôn bán phát đạt, thấy dân chúng có tiền đua nhau
sắm sửa, xây nhà mới, xài toàn đồ điện trong nhà, sắm Tivi, tủ lạnh... phải mua
nhiều đồ, khuếch trương lớn, mướn thêm thợ, nhận làm đại lý Samsung, có lúc
thầu bắt điện cho cả một làng Chàm ở Như Ngọc. Mấy năm sau, mua thêm một
căn phố nữa, mở tiệm chuyên sửa Tivi, máy hát và bán computer, qua 95 lại
mua thêm ngôi nhà lầu mới cất, ở đường Trung tâm chạy xuống biển, bán
computers cho công sở, cho theo kịp với thời đại Internet đang bắt đầu phổ biến
rộng rãi toàn cầu.

Năm 89, như một phép lạ Trời cho, bức tường Bá Linh
sụp đổ, kéo theo một loạt các nước Đông Âu nổi lên
giành độc lập, khai tử hoàn toàn chế độ cộng sản. Cả
một Đế quốc Xã hội chủ nghĩa Liên Xô xây dựng 70
năm, giết chết bao nhiêu triệu người dân oan uổng, sụp
đổ tan tành trong một tháng, làm Trung Quốc và chư hầu Việt Nam mất chỗ
tựa, kinh hoàng chới với suốt mấy năm liền. Ai cũng hy vọng vụ này làm nhà
nước "mở mắt" ra, chuyển đổi qua thể chế dân chủ tự do như các nước Âu Mỹ
cho dân nhờ, nhưng mà họ chỉ "đổi mới nửa vời", đổi mới kinh tế, chứ nhứt
quyết không đổi mới chính trị. Chóp bu Đảng nhất định nắm giữ quyền hành,
dùng bè lũ công an làm tay sai để cai trị kềm kẹp người dân. Quyền hành gắn
liền với lợi lộc, làm chóa mắt con người vô thần duy vật dốt nát. Lòng tham
con người không đáy, quyền hành tiền bạc quân đội đang ở trong tay, cờ tới tay
ai người đó phất, dễ dầu gì mà nhả ra cho người khác ăn.

Cuối năm 90, sau 7 năm chờ đợi, bà xã mang con gái tôi sang Mỹ đoàn tụ. Vợ
chồng, cha con, anh em ngỡ ngàng nhìn nhau mếu máo thương cảm vui mừng.
Phong trào H.O. cũng bắt đầu nở rộ. Em gái lớn tôi dẹp hết buôn bán đang hồi
phát đạt, đem con theo chồng "ngụy quân" qua Cali năm 92, bắt đầu gầy lại
cuộc đời mới.

1995-2005
Qua giai đoạn này, chánh sách "bế quan tỏa cảng" ngu muội 20 năm qua được
nhà nước mở mắt ra, đã bãi bỏ hoàn toàn. Đánh hơi giá trị của đồng đô la Mỹ,
nhà nước tìm cách ngoại giao với các nước Tây phương giàu có. Việt kiều gửi
tiền về nước ào ào. Đời sống vật chất ở Việt Nam có mòi dễ thở dần dần. Dân
biển đua nhau phát triển kỹ nghệ nuôi tôm xuất khẩu. Dân núi trồng cà phê, hạt
điều. Phan Rang cũng lớn mạnh. Nhà nước thu mua gạo, thổ sản, tôm cá trong
nước bán qua Thái Lan, Thái Lan làm trung gian, đóng nhãn hiệu bán qua Mỹ.
Liên hệ giữa Việt và Mỹ không gay cấn nữa, cải thiện từ từ, nhưng hai bên vẫn
còn dè dặt. Việt Nam tranh đấu nhờ cậy các nước bạn xin cho được vô WTO để
được bán hàng thẳng qua Mỹ. Đời sống kinh tế trong nước cải thiện rõ rệt. Một
phần Việt kiều ở ngoại quốc làm ăn có tiền dồn gửi tiền về cho thân nhân cha
mẹ, một phần dân chúng trong nước được tự do làm ăn mua bán đi lại dễ dàng
                       hơn xưa nhiều, nên nhà cửa, ty sở, dinh thự mọc lên như
                       nấm.

                        Việt kiều bắt đầu bay về nước thăm gia đình. Ở Việt
                        Nam cũng có người xin được "visa" qua Mỹ chơi. Dân
                        chúng đua nhau học tiếng Anh, ở Saigon Đại học mở lại
                        phân khoa Luật, dạy môn điện toán computer. Trường
dạy Anh ngữ mọc ra la liệt, ngoại quốc bắt đầu bỏ tiền ra đầu tư ở Việt Nam
trong nhiều lãnh vực khác nhau. Bán bảo hiểm sức khỏe, nhân thọ, mở ngân
hàng, hãng thuốc tây, bán computer, xe gắn máy, xưởng ráp xe máy... Các luật
sư được mở văn phòng. Sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất được tân trang. Air
Viêt Nam ra đời, mở các đường bay nội địa và Thái Lan, Singapore... quảng
cáo thắng cảnh VN, phát triển ngành du lịch. Việt kiều về sân bay bị hải quan
xét giấy vòi vĩnh hối lộ. Xe chở hàng phải đóng thuế mãi lộ cho công an trạm
xét trên đường quốc lộ.

Du khách quốc tế bắt đầu tới Việt Nam du lịch, làm thiên hạ đua nhau xây
khách sạn 4 sao, 5 sao, "nhà nghỉ", đủ loại thượng vàng hạ cám, kéo theo dịch
vụ mãi dâm đĩ điếm. Các thắng cảnh, cung điện nhà vua ở Hà Nội và Huế được
trùng tu để lôi cuốn du khách. Hội An, Nha Trang, và Mũi Né cũng đặc biệt
được khai thác để thu hút ngoại tệ. Nhà nước hợp tác quốc tế khai thác dầu thô
ở Vũng Tàu, bán dầu đổi lấy xăng. Ở Phan Rang Tháp Chàm có năm bảy cây
xăng mọc ra. Đường xá mở mang nhiều, bắt chước Mỹ cũng vẽ vạch trắng chia
"lane", gắn đèn xanh đèn đỏ, nhưng ít người đi xe tôn trọng luật lệ, tai nạn giao
thông xảy ra như cơm bữa.

Năm 99, tôi về chơi lần đầu thấy Phan Rang thay đổi nhiều, có khi đi lạc, phải
ngừng hỏi đường. Xe gắn máy của Nhật, Tàu và Nam Hàn nhập cảng ồ ạt, chạy
đầy đường, lác đác có cả xe hơi sang trọng. Saigon Hà Nội tràn ngập xe cộ đủ
hiệu, đi bộ một mình nhiều khi không dám băng qua đường. Đang đi trên vỉa hè
phố Hàng Bông, đột nhiên cả chục xe máy dưới đường gầm rú ào ào túa lên
chạy tung tóe, hoảng kinh hồn vía. Các tiệm ăn nhậu cao cấp, phòng trà, cà phê
ôm, quán rượu, đấm bóp, tắm hơi, mở ra nhan nhản, đầy nghẹt khách. Công an
xuất cảnh gửi giấy mời tôi tới chơi, nhã nhặn hỏi han, ve vuốt, khuyến khích
đầu tư, tôi chỉ ậm ừ cười. Ngày xưa họ cho mình vượt biên là bám đít Mỹ ăn bơ
thừa sữa cặn, bây giờ lại thân mật chiều chuộng, gọi là "núm ruột ngàn dậm",
thật là trơ trẽn hết chỗ nói.

Chùa chiền, thánh đường họ cho hành lễ trở lại để khỏi bị quốc tế công kích,
nhưng vẫn ngấm ngầm theo dõi nhất cử nhất động. Hòa thượng Thích Huyền
Quang, Thích Quảng Độ không chịu sáp nhập với Giáo hội Quốc doanh, bị bắt
bớ, giam lỏng. Chức sắc Hòa Hảo bị đánh đập. Mục sư Tin Lành bị tra tấn.
Linh mục Thiên Chúa cũng bị cũng bị làm khó dễ nhưng chưa dám áp bức quá
đáng vì còn ngại ảnh hưởng của Tòa thánh Vatican.

Năm 2000 tôi mua nhà ở Cali. Hai năm sau, làm đơn bảo lãnh mẹ qua Mỹ chơi
6 tháng. Mọi sự đều dễ dàng. Khác xa thời kỳ 80, 85, ai ra khỏi nước rồi coi
như hết đường trở lại, người ở VN đừng hòng mong gặp lại người đi Mỹ. Năm
2004 tôi lại về quê thăm nhà, lại thấy đổi khác. Việt Mỹ đã lập lại bang giao
chính thức nên Việt kiều có quốc tịch Mỹ được Tòa Lãnh Sự Mỹ ở VN bảo vệ,
tha hồ đi du lịch từ Nam ra Bắc không bị khó dễ. Các quan chức và nhà giàu
trong nước đua nhau gửi con cái qua Mỹ, Úc, Singapore, du học càng lúc càng
nhiều. Nhờ hệ thống Internet bắt đầu phát triển càng lúc càng tinh vi, chánh
quyền bắt đầu mở rộng trí khôn, bớt kiêu ngạo, người dân, sinh viên mở mang
kiến thức, tầm nhìn, có thiện cảm dần với người Mỹ, học hỏi cái khôn của thế
giới tự do dân chủ. Nhà nước ngoại giao xin viện trợ, nhưng vẫn kềm kẹp báo
chí, ngôn luận trong nước, ém nhẹm những vụ tham nhũng lem nhem của tập
đoàn chóp bu, vẫn nhồi sọ sinh viên với mớ giáo điều Mác Lê cũ rich để yêu
kính "bác" Hồ, trung thành với "xã hội chủ nghĩa" mà Liên Xô đã vứt bỏ. Tổng
thống Clinton qua thăm xã giao, được dân chúng vui mừng chen nhau tiếp đón.
Phan văn Khải qua Mỹ, bị người Việt ở Mỹ biểu tình đả đảo. Doanh nhân trong
nước cho qua Mỹ tham quan, họp hành rút kinh nghiệm. Nhưng tuyệt đối đàn
áp biểu tình, cấm làm chính trị. Công an đàn áp dân biểu tình, sợ bị chụp hình
lên báo, thuê dân côn đồ xã hội đen dàn cảnh tung xe, đâm thuê, giết mướn các
kẻ chống đối. Bắt bớ, bỏ tù, hăm dọa các nhà tranh đấu dân chủ như bác sĩ Sơn,
linh mục Lý, luật sư Đài, Lê thị Công Nhân, tiến sĩ Giang... Cho dân tự do làm
giàu, nhưng không được hội họp bàn tán chính trị. Nhà nước bán, cho thuê đất
đai, dinh thự cho ngoại quốc đầu tư. Cán bộ cao cấp lợi dụng chánh sách quy
hoạch đât đai, cướp đất của dân hay đền bù rẽ mạt, làm dân đen khiếu nại ra tới
Hà nội. Có quyền thì làm ra tiền.Vợ các quan lớn lợi dụng uy chồng, tranh đua
kinh tài. Các nhà địa ốc mua rẽ bán đắt, làm giàu mau lẹ. Dịch vụ tổ chức môi
giới cho gái nghèo lấy chồng Đài Loan, Nam Hàn mọc ra như nấm. Mua con
nít gái bán qua các động mãi dâm ở Cambuchia, bị quốc tế phanh phui. Nhà
nước xuất khẩu lao động qua Mã Lai, Indonesia, Đông Âu, xén bớt lương thợ...
Dịch vụ môi giới cho khách Âu Mỹ xin con mồ côi VN bị tai tiếng lem nhem.
Các đường dây kết hôn giả, làm hôn thú giả qua Mỹ sống ngày càng lộ liễu.
Nhiều thanh thiếu niên sa vào con đường nghiện ngập ma túy, chơi bời mắc
bệnh SIDA. Con ông cháu cha mua xe hơi deluxe" chạy đua, gây tai nạn, bỏ
chạy... Nhưng đó chỉ là cái giàu bề ngoài, chỉ có ở thành phố lớn, của giới đảng
viên cán bộ chóp bu và thành phần ăn theo. Có đi về miền quê, miền sâu miền
xa, mới thấy cái nghèo đói thê thảm của người dân đồng ruộng, đồi núi thượng
du, các dân tộc thiểu số. Chênh lệch giữa giới giàu nghèo càng ngày càng rộng.
Nhà nước dùng cò mồi, nhiều thủ đoạn ra sức chiêu dụ "Việt kiều yêu nước" về
nước đầu tư, hầu như chẳng ai dám về. Về làm ăn thì tiền mất tật mang, cái
gương "Vua chả giò" Trịnh Vĩnh Bình ở Hòa Lan đem vàng và tiền về đầu tư bị
chụp mũ, nhốt tù còn đó. Ba quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp nằm cả
trong tay Đảng, ai mà dám về? Quốc hội thì đa số toàn các ông bà "Nghị gật",
ngậm miệng ăn tiền. "Đảng cử, dân bầu", dân bị lùa ép đi bỏ phiếu, nếu không
công an tới nhà làm khó dễ. Giai cấp cai trị cứ lo làm giàu, không thèm quan
tâm tới dân," sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi". Có nhiều tin đồn trong dân
gian rằng chóp bu Đảng và các tham quan giàu sụ, phải rửa tiền, lén lút chuồi
tiền ra ngoại quốc, gửi con qua Mỹ du học, mở các ngân khoản bạc tỷ ở ngân
hàng Thụy Sĩ, mua xe, mua nhà và cơ sở kinh doanh ở Mỹ bằng tiền mặt,
phòng khi có biến thì "dông".

Tin tức nhà nước tham nhũng, bất công, đàn áp nhân quyền, tôn giáo, truyền đi
nhanh chóng nhờ các bloggers trên Internet, nhờ tiếp sức của báo chí truyền
thông hải ngoại online, nhất là ở Mỹ và Úc, đua nhau khai thác bộ mặt xấu xa
của CSVN, chuyển tin về quốc nội. Thần tượng Hồ Chí Minh sụp đổ trong lòng
đại đa số nhân dân, với sự thật nham nhở cùng nhiều chứng cớ rõ ràng về đời tư
bị Internet đưa ra ánh sáng. Đối với tất cả các tin đồn "tiêu cực" đó, báo chí,
Tivi, truyền thông nhà nước CS một mực tuyên truyền do các "thế lực thù địch
hải ngoại" tung ra. Sau đó là đủ loại “nghị quyết” kiều vận, đưa tiền và gián
điệp ra hải ngoại lũng đoạn, chia rẽ đánh phá cộng đồng người Việt.

2005-2010
Trong khi báo chí người Việt hải ngoại ở Âu Mỹ và Úc hơn lúc nào hết, phổ
biến những điều xấu xa nhục nhã ở Việt Nam như qua Bắc Kinh hầu hạ nhận
lệnh quan thầy, xin xỏ viện trợ Âu Mỹ, luồn cúi nhịn nhục Trung Quốc, đàn áp
tôn giáo, chà đạp nhân quyền trong nước, ám sát bắt bớ các nhà tranh đấu dân
chủ, lực lượng tranh đấu hải ngoại luôn tìm cơ hội vận động quốc hội Âu Mỹ
lên án Việt Nam độc tài, khiến Nhà nước ta nổi dóa, áp lực các nước Đông
Nam Á phải đập phá các tượng đài tưởng niệm những thuyền nhân VN chết
trên biển Đông và cong cớn phản đối quốc tế không nên can thiệp xen vào nội
                          bộ chính sách Việt Nam.

                          Đây là thời kỳ mà phong trào tranh đấu dân chủ nhân
                          quyền trong nước lên cao tột đỉnh trong suốt 30 năm
qua, song song với những vụ tham nhũng khổng lồ vỡ lỡ cả thế giới đều biết
(PMU, cá độ bạc triệu, Dự án Xa lộ Đông tây, Air Viêtnam ăn cắp buôn lậu,
nhân viên sứ quán buôn lậu sừng tê giác ở Nam Phi, in giấy bạc Polymer ở Úc,
chiếm đất Xuân Lộc chia chác làm của riêng...) những sự kiện nhục quốc thể
chưa từng có trong lịch sử VN, đánh động tới lòng ái quốc và lương tâm của
người dân yêu nước, ngay cả trong giới đảng viên như tướng Trần Độ, ông
Hoàng Minh Chính, trung tá Trần Anh Kim cũng trả thẻ Đảng, công khai chống
đối...

Chưa bao giờ có nhiều nhà tranh đấu dân chủ trong nước bị ra tòa, bỏ tù nhiều
như giai đoạn này. Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, blogger Điếu Cày, Trần
Khải Thanh Thủy, các phụ nữ bênh vực cho nông dân bị cướp đất... Phạm thị
Thanh Nghiên ngồi nhà treo bảng "Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam" cũng
bị bắt nhốt, rồi lôi ra tòa xử 3 năm tù. Thật là tủi nhục cho đất nước bị ngoại
bang láng giềng khống chế, chưa bao giờ trong lịch sử có chuyện như thế xảy
ra.

 Cộng sản Viêt Nam ngoan ngoãn để cho Trung Quốc đuổi tàu Anh, tàu Mỹ
vào biển VN thăm dò dầu mỏ, chiếm hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa, lấn đất
biên giới, lấn chiếm hải phận, bắt cóc, cướp cá, đòi tiền chuộc và bắn chết ngư
dân VN trên biển nhà, nhưng lại bỏ tù không thương tiếc các nhà ái quốc trong
nước. Công an đàn áp các cuộc biểu tình sinh viên chống đoàn lực sĩ điền kinh
Tàu rước đuốc ngang qua Saigon, reo hò biểu tình trước tòa đại sứ Tàu ở Hà
Nội năm 2007. Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt đã về hưu, biết rõ sai trái, kêu gọi
thay đổi đường lối độc tài thì đột nhiên bệnh lăn ra chết, có tin đồn bị đánh
thuốc độc. Ký giả phóng viên có thẻ Đảng của báo Tuổi Trẻ do Kiệt đỡ đầu, lỡ
đăng tin tham nhũng chóp bu, cũng bị xử án, bỏ tù. Cha Lý bị công an bịt
miệng trước Tòa án không cho nói, có ký giả lén chụp được hình, tung ra trên
mạng, cả thế giới đều biết, công kích phản đối ầm ỹ, làm Hà Nội điếng hồn như
gái ngồi phải cọc. Kế đến vụ Nguyễn Tấn Dũng cho Tàu đem quân đội và dân
thất nghiệp vô khai thác Bâu-xít ở Tây Nguyên lên đến hàng vạn người, bị
tướng Giáp và vô số thành phần trí thức khoa học gia trong nước phản đối
nhiều lần không có kết quả. Trên mạng, loan khắp nơi tin đồn Tàu cho Dũng 50
triệu "đô" bỏ ngân hàng Thụy Sĩ đổi lấy Tây Nguyên. Lại có tin nói Tàu thật ra
cốt ý khai thác "uranium"(không phải bâu-xít) làm bom nguyên tử. Luật sư Cù
Hà Huy Vũ nộp đơn kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao Tây Nguyên cho
Tàu khai thác bâu-xít là trái luật, bị Dũng sai công an tới đập phá tường rào trả
thù.

Nhiều người tiên đoán có ngày Hải quân Tàu ngoài khơi ở Hoàng Sa sẽ bắn
vô, súng đại bác của lính Tàu trên Tây Nguyên sẽ bắn xuống, kẹp miền Trung
vô giữa, chia VN thành hai mảnh để dễ bề thôn tính. Nhà nước ta ý thức được
nguy hiểm của thế giới ảo Internet, môi trường thuận lợi cho sự liên kết phối
hợp các thành phần chống đối trong và ngoài nước với nhau, ra sức dùng kỹ
thuật "tường lửa" ngăn chận, kiểm soát chặt chẽ các quán cà phê Internet, theo
dõi email tư nhân... nhưng họ ngoan cố không hiểu rằng dưới ánh sáng mặt trời,
thế kỷ 21, thời đại mà tin học tiến bộ vượt bực từng ngày, không có gì ám
muội, xấu xa tồn tại mà không bị phanh phui.

Nhiều chuyện tham ô, bao che nhau từ nhà nước đến tư nhân, từ trên xuống
dưới lâu lâu đổ bể, được dân chúng bàn tán xôn xao, nhất là các vụ thầu xây
cất. Cầu đường xây lên chưa đầy năm đã nứt lõm, nghiêng vẹo, lủng lỗ, có khi
đang xây đã đổ sập, giết chết công nhân, vì tập đoàn toa rập ăn bớt xi măng, sắt
thép. Có lần bọn nhà thầu còn dám dùng tre thay cho thép để đúc bê tông, làm
cầu sập, cột gãy, thật là quá sức tham tàn độc ác. Vậy mà còn dám vay tiền
quốc tế chuẩn bị xây 2 nhà máy nguyên tử lực ở Ninh Thuận, biết có an toàn
bảo đảm không, hay lại rò rỉ phóng xạ gây nguy hiểm chết người như ở Liên
Xô năm nào. Tham nhũng là hiện tượng nổi bật, nhà nước luôn miệng tuyên bố
ưu tiên "giải quyết", nhưng chỉ làm nửa vời. Quan trên nói láo, tham ô, làm sao
dạy cho cấp dưới tánh thật thà, đức thanh liêm. Thượng bất nghiêm, hạ tắc
loạn, làm sao mà giải quyết? Tố tham nhũng có khi còn bị trả thù, trù dập,
người dân cũng chán không thèm tố nữa. Nhưng cũng không còn sợ công an,
bắt đầu đoàn kết đánh trả, nhốt cảnh sát, đốt xe công an, làm nhà nước địa
phương phải gửi thêm viện binh tới.

Trong khi đó, thì ai cũng thấy rõ đạo đức xã hội trong nước xuống cấp đến mưc
báo động. Chương trình học không có môn Đức dục, hay Công dân giáo dục,
dạy các giá trị làm người căn bản như hiếu thảo, trách nhiệm, lễ phép, vị tha,
trung thành, lương thiện của đạo Khổng. Lý nhân quả báo ứng của đạo Phật,
đạo Chúa lại không được tôn trọng, nên tôn ti trật tự đảo lộn, trong dân gian
nhan nhản xảy ra những cảnh trò đánh thầy, thầy đánh trò, hiếp dâm nữ sinh,
hiệu trưởng "mua dâm" nữ sinh, con giết cha, mẹ giết con, chồng giết vợ, cháu
giết bà, ông già hiếp dâm con nít, cướp giật,
lường gạt...

Vụ nổi cộm mới đây là vụ đụng chạm tự do tôn
giáo mà trong Hiến pháp VN quy định công
nhận rõ ràng: đàn áp cướp đất Tam Tòa và
đuổi tăng ni môn đồ làng Mai khỏi chùa Bát
Nhã mà cả thế giới đều nghe biết và lên tiếng
bất mãn... Kế đến, vụ dập phá Thánh giá ở
Đồng Chiêm, đả thương đổ máu linh mục giáo
dân. Thế giới tự do Âu Mỹ lên án, Hà Nội tỉnh bơ, bình chân như vại. Có tin
đồn bàn tay "lông lá" của cố vấn Tàu ngay trong Bộ chính trị thúc đẩy.

Thiên hạ đồn có 2 phe trong Bộ chính Trị, phe thân Mỹ, phe thân Tàu, "chơi
nhau", nên nhà nước hành xử mâu thuẫn, chuệch choạc. Trong khi đó thì mấy
năm nay, thiên tai bão lụt mỗi năm càng tàn phá đất nước nặng nề hơn, làm khổ
người dân đen đến cùng tận. Thành phố Hà Nội và Saigon chìm đắm ngập lụt
trong nước mỗi khi cơn mưa lớn đổ xuống. Nước biển lấn vào đồng bằng lục
tỉnh, sắp tràn lên nuốt hết đất đai trù phú miền Nam, vựa lúa lớn nhất Đông
nam Á. Sông Cửu Long ô nhiễm và Nhị Hà khô cạn lần. Triệu chứng Trời
phạt, hay chỉ là hậu quả việc tàn phá môi sinh, hiện tượng thay đổi khí hậu,
hâm nóng toàn cầu?

Trong những thay đổi biến động dồn dập trong nước mấy năm qua, biểu lộ lòng
khao khát dân chủ tự do của người dân Việt chịu đựng quá nhiều đau khổ, 35
năm sửa sai đổi mới mà đất nước vẫn còn chìm đắm trong nghèo đói, đạo đức
người dân lại ngày càng suy đồi, xã hội chỉ biết chạy theo tiền bạc, tôi thường
bâng khuâng tự hỏi xã hội đất nước mình đang đi vào ngõ cụt, hay bắt đầu giai
đoạn "cùng tắc biến" theo như trong Kinh Dịch nói.

2010
Thế là Tết này, sau 35 năm chế độ cộng sản cai trị người dân, tôi nảy ý về VN
ăn Tết để coi lại quê hương mình có gì thay đổi. Nhà cửa, đường xá, xe cộ,
kinh doanh rõ ràng là có sầm uất, hiện đại, tiến bộ hơn, so với cả trước 75 thời
kỳ chiến tranh Nam Bắc, nhưng con người, đường lối giáo dục đào tạo thế hệ
tương lai mất đi tính cách nhân bản và đạo đức của thế hệ trước đây.

Saigon, Hà Nội nhà cửa dinh thự mọc lên như nấm. Thành phố tỉnh lẻ như quê
tôi cũng lớn lên nhiều lắm, nhà cửa, đường xá chi chit, tiệm buôn sầm uất,
những người quen cũ đã già lão, có người đã chết, chỉ còn lác đác năm ba
người quen rải rác đó đây, tay bắt mặt mừng, nhắc kỷ nệm cũ, còn toàn là mặt
thanh niên thiếu nữ mới lớn, trơ mắt nhìn mình như người xa lạ.

                            Tục lệ cúng Ông táo ngày 23 tháng chạp vẫn còn
                            nhiều người giữ, áo quần giấy, vàng mã, nải chuối,
                            ly gạo,tách nước... Ngoài phố xe cộ nhộn nhịp,
                            buôn bán sầm uất, nhưng ở hang cùng ngỏ hẽm có
                            nhiều gia đình lao động nghèo suốt năm quần quật
                            làm không đủ ăn. Tết đến, đau buồn tủi hổ không
                            sắm nỗi áo quần, giày dép mới cho con. Trẻ con
                            nghèo giàu gì cũng có cùng một tâm hồn nao nức
chờ đón được mặc đồ mới, tiền lì xì mừng tuổi, đốt pháo, mua này mua kia, bỏ
tiền đồng binh... Chót sinh vào làm con nhà nghèo, con mồ côi, thì đành chịu,
ngồi nhà nhìn ra đường coi thiên hạ xe cộ qua lại, xanh đỏ tím vàng áo quần
lộng lẫy du Xuân chúc Tết...

Tôi nhớ lại cái cảm giác nô nức hiếu kỳ của những ngày cuối năm khi còn
trong nước. Bây giờ quá quen với phong tục Âu Mỹ mấy chục năm nay, đầu
hai thứ tóc, không còn cái cảm giác nao nao của những ngày niên thiếu lúc cuối
năm, tuy cố chuẩn bị cho mình cái tinh thần ngày Tết, mà sao nhìn đâu cũng
thấy "buồn ơi chào mi", thấy toàn là kỷ niệm, mất mát, người thân khuất bóng,
kẻ quen chia lìa, ly tán.

Gia đình tôi như mọi nhà khác trong nước vẫn giữ truyền thống Mồng Một
chúc Tết lì xì trong gia đình. Má mặc áo gấm, ngồi ghế trịnh trọng, con cháu
lớn nhỏ tề tựu xung quanh. Chín đứa con mà chỉ có ba anh em đứng đó chúc
Tết cho mẹ, những đứa khác không về. Xong màn chúc Tết, tất cả vào buồng
thờ lạy Phật và ông bà. Kế đó, cả nhà lên xe đi nghĩa trang thăm mộ thắp nhang
cho ông bà và ba... Ngày xưa mướn nguyên chiếc xe Lambretta chở cả nhà thật
vui, bây giờ thì cứ 2 người ngồi một xe Honda, nối đuôi nhau chạy. Mỗi lần ra
thăm mộ là mỗi lần thấy lòng chùng xuống, kỷ niệm xa xưa hiện về khêu gợi
mối thương tâm. Đưa mắt nhìn cây cỏ xung quanh mà biết tâm sự cùng ai, tâm
tư lan man nhớ lại những mùa Xuân mấy chục năm về trước, những năm hạnh
phúc êm đềm gia đình anh em còn đông đủ.

Trên đường về, ghé chùa Tỉnh Hội lễ Phật, cúng tiền phước sương, lì xì hỏi
thăm mấy chú tiểu. Qua chùa Diệu Ấn, thăm Sư cô trù trì, ăn miếng mứt gừng,
cúng tiền, dạo cảnh. Chùa chiền ngày Xuân bây giờ không được tấp nập, ấm
cúng, đông đúc rộn rã như ngày xưa, thời mà các sư các ni được quí trọng. Tôn
giáo bây giờ bị trù ếm, bôi nhọ, rình rập, nghi kỵ, Phật tử tín đồ cũng ngại
ngùng, ít dám tới chùa, tâm sự với ai. Biết tin ai trong xã hội này. Công an
chìm đầy dẫy. Thời nào cũng có những kẻ ươn hèn đốn mạt làm tay sai để
hưởng cơm thừa cá cặn của kẻ ác cai trị, không biết khi chết, đầu thai vào súc
sanh, địa ngục, hay cảnh giới tối tăm nào.

"Chia để trị" là sách lược của thực dân Pháp ngày xưa, giờ được Đảng dùng lại,
vì nó hiệu quả, có lợi cho nhà nước. Về nhà, em gái xuống bếp hâm thức ăn,
khui bánh chưng bánh tét, củ kiệu củ cải dưa muối, thịt heo kho nước dừa, dọn
lên cả nhà ăn trưa. Má mệt, đi nằm nghỉ, con cháu ai muốn đi đâu thì đi, thăm
bạn bè, người quen..

Tôi lái xe Honda xuống biển Bình Sơn, cách thành phố có 2 cây số, hóng gió
biển, thấy dân nhà quê áo quần xanh đỏ từ các nơi xa xôi đổ xô về, gửi xe đông
nghẹt, y chang như ngày xưa. Muốn mua vé vào xem Hội chợ, ăn uống, xem
xiếc, đánh bài, bầu cua cá cọp. Tiếng nhạc ồn ào, tưng bừng, màu sắc trang trí
cờ quạt xanh đỏ phất phới trong gió biển thật vui mắt. Cũng muốn gửi xe, bước
xuống lăn mình vào dòng người vui nhộn, coi này coi kia, vui lây cái vui của
thiên hạ, nhưng kịp hiểu rằng thời của mình không còn nữa. Sẽ chỉ lạc lõng
trong biển người mộc mạc dưới kia, gặp toàn những khuôn mặt trẻ mới lớn xa
lạ, đào tạo nuôi dưỡng trong một hệ thống giáo điều nhồi sọ, toàn những người
chưa hề biết chiến tranh Việt Nam là gì, không chút ý niệm gì về nhân quyền,
dân chủ, tự do. Sẽ nhớ tiếc thời vàng son tươi đẹp, thời đùm túm bè bạn thân
thiết của những ngày niên thiếu xa xưa...

Như thế đó, tôi trở về quê hương ăn Tết, để thấy mình chỉ là người già cô đơn
trong biển người trẻ mới lớn thụ động kia, xử dụng những tiếng Việt mới lạ,
không biết phép lịch sự và tôn trọng luật lệ như người Tây phương. Không có
một biến cố lịch sử chung nào, một hoạt động xã hội chính trị chung nào ràng
buộc mình với những người xa lạ đó để trở thành thân quen. Mình như thuộc về
một thế giới khác, một xã hội khác, sau khi rời bỏ quê hương gần ba mươi năm
qua... Dù có muốn về ở lại quê cũ, nhưng biết sẽ không thể chịu nổi đủ thứ rắc
rối, bực mình, khó dễ, mè nheo tiền bạc từ phía công an.

Con chim đã thoát ra khỏi lồng tối, nếm mùi tự do bay nhảy trong ánh sáng rực
rỡ của trời cao đất rộng, sao lại có thể chịu chui đầu vào chiếc lồng ọp ẹp hắc
ám trở lại./.

				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Stats:
views:9
posted:5/6/2010
language:Vietnamese
pages:16