Quan tri cong nghe chien luoc by xinhvadepcom

VIEWS: 202 PAGES: 20

T�i liệu kinh doanh, chiến lược kinh doanh, Quản trị nh�n sự, định vị kinh doanh, chiến lược nh�n sự, lập kế hoạch kinh doanh, cơ cấu tổ chức kinh doanh, tổ chức c�c ph�ng ban c�ng ty, ph�ng TCKT, ph�ng nh�n sự, t�i liệu nh�n sự, t�i liệu kinh doanh, t�i liệu ban nội dung, quản trị rủi ro

More Info
									      LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ CHO DOANH NGHIỆP


     CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ

      Trong thời đại ngày nay, những bước tiến kỳ diệu và những thành tựu to
lớn của khoa học và công nghệ tác động sâu sắc đến sự phát triển của xã hội
loài người, khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là
nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, là cứu cánh của mọi quốc
gia. Để có thái độ ứng sử đúng với khoa học và công nghệ phải có nhận thức
đúng và chính xác về nó.

     Đối với nước ta, khoa học và công nghệ cùng với giáo dục đào tạo là quốc
sách hàng đầu để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ quản lý của nhà
nước và tiềm năng lãnh đạo của Đảng.

     1. Khái niệm khoa học và công nghệ

     1.1. Khoa học, theo cách hiểu thông thường là một hình thái ý thức xã hội,
bao gồm tập hợp các hiểu biết của con người về các quy luật tự nhiên, xã hội, tư
duy, và nó sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp khi nó được đem vào áp
dụng trong sản xuất và cuộc sống của con người.

      1.2. Công nghệ: là tập hợp những hiểu biết (các phương pháp, các quy tắc,
các kỹ năng) hướng vào cải thiện thiên nhiên phục vụ cho các nhu cầu của con
người. Công nghệ là hiện thân của văn minh xã hội và sự phát triển của nhân
loại.

      Quá trình lịch sử phát triển khoa học và công nghệ cho thấy, trong giai
đoạn phát triển, nhờ hoạt động thực tiễn con người đã dần dần tích luỹ được
những kinh nghệm nghề nghiệp nhất định, và việc tổng kết các kinh nghiệm này
đã tạo nên những bộ môn công nghệ khác nhau. Việc hệ thống hoá các tri thức
tích luỹ được đã dẫn tới sự ra đời của khoa học. Nói một cách khác, ở giai đoạn
đầu, sản xuất đi trước công nghệ và công nghệ lại đi trước khoa học.

    Nhưng trong giai đoạn cách mạng khoa học - kỹ thuật ngày nay, nhờ
những phát minh lớn của khoa học, một xu thế mới đã hình thành là nhiều
nghành công nghệ mới như: điện tử và tin học, công nghệ sinh học, công nghệ
vật liệu, công nghệ vũ trụ v.v.. lại là kết quả trực tiếp của vận dụng các thành quả
của hoạt động nghiên cứu cơ bản.

    Tuy mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ hết sức gắn bó, nhưng giữa
chúng cũng có những khác biệt quan trọng:

      Một là, nếu như các tri thức khoa học có thể được phổ biến không hạn chế,
thì công nghệ lại là một thứ hàng dùng để mua bán với các yếu tố sở hữu và giá
cả.

      Hai là, trong khi các hoạt động khoa học thường được giá bằng các thước
đo trực cảm thì thước đo đối với công nghệ lại là phần đóng góp cụ thể đối với
việc giải quyếtcác mục tiêu kinh tế xã hội.

      Ba là, các hoạt động khoa học thường đòi hỏi phỉ có một khoảng thời gian
giải quyết dài với các yếu tố bất định khá lớn, ngược lại, đối với hoạt động công
nghệ thời gian giải quyết thường ngắn hơn.

      2. Các yếu tố và điều kiện chi phối đến việc đưa công nghệ vào phát
triển kinh tế - xã hội

      Công nghệ như thương hiệu là tập hợp các yếu tố và điều kiện để tiến
hành sản xuất ra sản phẩm, công trình hay hoàn thành một công việc hoàn chỉnh
nào đó. Các điều kiện và yếu tố bao gồm: công cụ lao động (thiết bị, máy móc,
phương tiện vận chuyển, phụ tùng, công cụ v.v..); đối tượng lao động (năng
lượng, nguyên vật liệu), lực lượng lao động có kỹ thuật; các phương pháp gia
công chế biến và các kiến thức, kinh nghiệm tích luỹ được; hệ thống thông tin –
tư liệu cần thiết, cơ chế tổ chức quản lý.Nói một cách khác, công nghệ cả phần
cứng và phần mềm trong sự liên kết với nhau quanh mục tiêu và yêu cầu của tổ
chức sản xuất – kinh doanh và quản lý (khái niệm này về cơ bản đồng nhất với
cách diễn đạt công nghệ biểu hiện biểu hiện trên 4 mặt: Thiết bị (Techno ware);
Con người (Human ware); Thông tin (Inform ware); và Tổ chức (Organ ware).

      Cách phân chia 4 thành phần này thuận tiện cho việc phân tích mức độ cân
đối, mức độ đồng bộ, chỉ ra rõ chỗ yếu, điểm mạnh của hệ thống công nghệ và
từ đó định hướng tăng cường nhằm đáp ứng các nhiệm vụ do yêu cầu sản xuất
đặt ra với những chi phí ít nhất về nguồn lực.
     Công nghệ là “công cụ để giải quyết vấn đề” chứ không phải là “lực lượng
độc lập và tự trị” cho nền công nghệ còn phụ thuộc môi trường xã hội – kinh tế -
chính trị của mỗi quốc gia. một công nghệ có thể phù hợp với môi trường này
nhưng không phù hợp với điều kiện khác. Yêu cầu chất lượng, chủng loại và quy
định hướng thị trường của sản phẩm v.v.. là những yếu tố quy định sự lựa chọn
công nghệ. Đồng thời, sự lựa chọn này lại bị ràng buộc bời các quan hệ buôn
bán và đầu tư quốc tế.




                    Công nghệ và môi trường công nghệ

     Xét về mặt kinh tế, trong mối quan hệ sản xuất, công nghệ được coi là
phương tiện để thực hiện quá trình sản xuất, để biến đổi các đầu vào thành các
đầu ra là các sản phẩm và dịch vụ mong muốn.
            Mối quan hệ giữa công nghệ và hoạt động sản xuất

       Cho nên các yếu tố và điều kiện chi phối đến việc đưa công nghệ vào phát
triển là cả một tổ hợp các vấn đề phải được giải quyết một cách đồng bộ.

     3. Vai trò của công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội

     Phát triển công nghệ, ứng dụng hiệu quả nó vào sản xuất, thích ứng và
từng bước hoàn thiện nó là những điều kiện tiên quyết có ý nghĩa then chốt cho
việc đạt được hiệu suất cao nhất của nguồn vốn vật chất và các nguồn vốn lực
khác, đặc biệt là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

     Trong 20 năm qua, việc phát triển và triển khai rộng rãi các công nghệ mới
đã trở thành lực lượng quyết định trong việc hình thành cạnh tranh quốc tế và
thay đổi cơ cấu trong công nghiệp, vì thế các nước đang phát triển của khu vực
(châu Á Thái Bình Dương) ngày càng quan tâm tới một loạt các vấn đềmới về
công nghệ, phục vụ việc tăng cường khả năng cạnh tranh công nghiệp và đổi
mới cơ cấu công nghiệp trong nền kinh tế.

      Nhờ có các tiến bộ công nghệ và làm chủ được các công nghệ hiện đại mà
ngày nay các nước NICs đã trở thành các nước phát triển. Sản phẩm của những
nước này trong khoảng thời gian tương đối ngắn đã có khả năngcạnh tranh về
chất lượng và giá cả trên thị trường quốc tế. Việc làm chủ của các nước này đối
với công nghệ ngày càng tinh xảo trong sản xuất tự động những sản phẩm điện
tử (trong trường hợp của Đài Loan) và sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới dựa trên
kỹ thuật sinh học đã trở thành yếu tố chủ yếu trong việc mở rộng nhanh chóng
xuất khẩu công nghiệp và nông nghiệp của các nước này.

     Hơn nữa, cơ cấu nhu cầu thay đổi và sự khan hiếm những yếu tố sản xuất
đặc thù đã ảnh hưởng mạnh mẽ đế phương án biến đổi các thành quả công
nghệ thành các sản phẩm và các quá trình đổi mới trong nền kinh tế của những
nước này.

      Năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia trên thị trường quốc tế được định
đoạt ngày càng mạnh mẽ bởi trình độ phát triển công nghệ của quốc gia đó.
Những xu hướng hiện nay đã chỉ rõ rằng mô hình thương mại quốc tế được hình
thành do sự biến đổi công nghệ trong đó những sản phẩm có đầu tư khoa học –
công nghệ cao ngày càng chiếm vai trò nổi bật, đặc biệt là trong trao đổi thương
mại giữa các nước công nghiệp hoá. Chỉ xét năm 1987, nhập khẩu các sản
phẩm có hàm lượng khoa học cao vào thị trường các nước phát triển đạt 256,6
tỷ USD tăng nhanh hơn nhập khẩu các sản phẩm khác. Trong thời gian đó, nhập
khẩu các sản phẩm có hàm lượng khoa học trung bình đạt 630,3 tỷ USD với
mức tăng là 9% một năm trong thập kỷ 80. Nhập khẩu các sản phẩm có đầu tư
khoa học thấp chiếm giá trị 552,9 tỷ USD và tăng ít hơn 5% một năm tính cho
giai đoạn đầu những năm 1980.

       Hiện trạng công nghệ trong một nền kinh tế có thể được đánh giá là kém
phát triển, nếu như nó không có khả năng trợ giúp cho 4 yếu tố cơ bản của phát
triển là: a/ Các phương tiện sản xuất hiện đại. b/ Các tri thức có ích và khả năng
tiếp thu. c/ Tổ chức và quản lý hiệu quả. d/ Các kỹ năng và khả năng kỹ thuật.

     Nếu thiếu những yếu tố này thì cần phải đầu tư cho nâng cao công nghệ,
thu nhập và truyền bá thông tin, đổi mới cơ cấu tổ chức cho giáo dục và đào tạo
nhằm thúc đẩy hoạt động công nghệ.

     Vì kinh tế luôn luôn phát triển, nên vai trò của công nghệ cũng luôn thay
đổi. Ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, mức tăng trưởng dường như phụ
thuộc cứng nhắc vào khả năng tiếp thu và sử dụng một cách hiệu quả công
nghệ. Tiếp thu công nghệ nước ngoài tạo ra một bước rất quan trọng để cải tiến
khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước, cũng như quốc tế. Những tiếp
thu công nghệ như vậy, cần được nhìn nhận là sự bổ sung hơn là sự cạnh tranh
với những nỗ lực quốc gia trong việc phát triển công nghệ. Có nhiều phương
thức để tiếp thu công nghệ nước ngoài: đầu tư trực tiếp của nước ngoài: nhập
khẩu, hàng hoá tư liệu sản xuất, hợp đồng Li-xăng và các phương tiện không
chính thức như “kỹ thuật ngược” (hay sao chép mẫu có cải biên) và khảo sát ở
nước ngoài.

      Một khi công nghệ đã được thu nhận, nhiệm vụ tiếp theo là đảm bảo quá
trình triển khai rộng rãi chúng. Quá trình này phụ thuộc vào một loạt yếu tố, bao
gồm: lợi nhuận mong muốn và mạo hiểm, các yêu cầu về nghiên cứu ứng dụng
và khả năng nghiên cứu của các hãng, chi phí phát triển, nghiên cứu thị trường
và khả năng sản xuất của các doanh nghiệp, khả năng có được của các nguồn
kỹ thuật, tài chính và các nguồn khác.

     Hoàn thiện và phát triển công nghệ đã tăng cường khả năng công nghệ của
các nước đang phát triển. Các biện pháp hỗ trợ như khuyến khích tài chính là
cần thiết để thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu và phát triển, nâng
cao trình độ công nghệ thông qua kiểm tra chất lượng, thử nghiệm và huấn
luyện công nghệ. Yếu tố quyết định khả năng công nghệ và khả năng cạnh tranh
trong nước cũng như quốc tế là số người có khả năng quyết định mọi vấn đề
công nghệ. Trong phương diện này, đầu tư đào tạo nhân lực kỹ thuật là quan
trọng, đặc biệt là đầu tư phát triển hệ thống giáo dục khoa học kết hợp với
trương trình huấn luyện thực tế một cách hiệu quả và linh hoạt.

      Trong giai đoạn phát triển tương đối cao, khi một quốc gia đã đuổi kịp các
nước có nền công nghệ tiên tiến ít hơn (ít nhất là trong một số lĩnh vực lựa chọn)
thì khả năng phát triển công nghệ mới (tức là đổi mới công nghệ) trở thành nhân
tố cơ bản để đạt được thành công trong cạnh tranh. Tới một thời điểm nào đó, tỷ
lệ tăng trưởng kinh tế sẽ phụ thuộc mạnh mẽ vào các tiến bộ khoa học và công
nghệ thể hiện qua số các nhà khoa học và kỹ sư, đặc biệt là số các nhà khoa
học và kỹ sư trong khu vực sản xuất, cũng như mức chi phí cho nghiên cứu và
phát triển có thể đáp ứng được.

     Ngày nay, các công nghệ mới và ngành mới có hàm lượng khoa học và kỹ
thuật cao phát triển theo hướng sau đây:

          1.      Tạo ra các loại quy trình sản xuất công nghệ mới được tự
      động hoá, các hệ thống quản lý tự động hoá trên cơ sở kết hợp thành tựu
      của ngành điện tử, vi điện tử, chế tạo máy tính điện tử, những phân
      ngành mới của ngành chế tạo máy, gắn liền với kỹ thuật chế tạo người
      máy và hệ thống sản xuất tự động hoá linh hoạt, kỹ thuật Laser và các
      phương tiện liên lạc, viễn thông, tin học và vi tin học.
            2.     Tạo ra vật liệu mới, các vật liệu chuyên dụng, các vật liệu
      composit hỗn hợp, vật liệu gốm, vật liệu siêu sạch, vật liệu siêu dẫn nhiệt
      độ cao.
            3.     Mở rộng và hoàn thiện cơ sở năng lượng của nền sản xuất
      trên cơ sở phất triển năng lượng nguyên tử, nhiệt hạch, năng lượng sinh
      học, năng lượng địa nhiệt và năng lượng mặt trời.
            4.     Trên cơ sở của các thành tựu của kỹ thuật gen, tạo ra các
      ngành sản xuất, sử dụng kỹ thuật và công nghệ sinh học.

      Các công nghệ mới về bản chất mang tính cải tạo, nghĩa là chúng thay đổi
cơ bản điều kiện sản xuất hàng hoá. Chúng không chỉ tạo ra một làn sóng các
sản phẩm mới, mà còn có tác dụng ảnh hưởng sâu sắc đến các quá trình sản
xuất. Các công nghệ mới mang tính bao trùm, nghĩa là phạm vi của chúng xâm
nhập vào mọi lĩnh vực dù nhỏ nhất của vật chất. Ngày nay công nghệ mới làm
thay đổi nhiều đến các chỉ số cơ bản của công nghiệp, ảnh hưởng sâu sắc đến
chiến lược chung, thay đổi cơ cấu, mô hình thương mại và đầu tư trong sự phát
triển công nghiệp của đất nước.

     Công nghệ mới là kết quả của quá trình công nghiệp hoá và đồng thời là
một trong những động lực chính của quá trình công nghiệp hoá. Việc phát triển
công nghệ mới là yếu tố quan trọng làm thay đổi trực tiếp hay gián tiếp phạm vi
phương thức sản xuất công nghiệp, góp phần phân công lại lao động trong sự
phát triển công nghiệp. Công nghệ mới thực hiện những đột phá quan trọng có
tác động mạnh mẽ đến quá trình công nghiệp hoá, có thể nói phát triển công
nghiệp trong tương lai trên cơ sở của công nghệ mới.

     Trong vòng 20 năm qua, một số nước châu Á đã thành công trong việc đuổi
kịp các nước phát triển ở những lĩnh vực nhất định và chiếm lĩnh chiếm lĩnh
thành phần ngày càng tăng rõ rệt của các sản phẩm có hàm lượng khoa học và
công nghệ cao. Giai đoạn 1970 – 1987, tham gia thị trường xuất khẩu sản phẩm
chế tạo có hàm lượng khoa học – công nghệ cao của các nước đang phát triển
sang các nước phát triển tăng liên tục (trừ dược phẩm và thuốc chữa bệnh).
Tiến bộ rõ rệt nhất dường như đã diễn ra trong xuất khẩu sản phẩm có hàm
lượng khoa học – công nghệ cao. Khối lượng mặt hàng này tham gia thị trường
tăng 2,6% trong năm 1970 lên 13,1% trong năm 1987. Vi điện tử công nghệ
thông tin là những lĩnh vực, mà trong đó các nước đang phát triển đạt khả năng
cạnh tranh một cách nhanh chóng.

     Các nước này tạo ra được các mức tham gia thị trường tăng đối với các
sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ trung bình và thấp. Mặc dù
tham gia thị trường của các nước đang phát triển đối với sản phẩm có hàm
lượng khoa học và công nghệ cao và trung bình tăng gần 15% trong giai đoạn
1980 – 1987, mức tăng sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ thấp
giảm xuống chỉ còn 6,3%. Các nước châu Á – Thái Bình Dương kém năng động
hơn với khả năng công nghệ thiên về sản phẩm có hàm lượng khoa học và công
nghệ, thiên về sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ phấp được lời ít
hơn so với các nước đang phát triển có nền công nghiệp tiên tiến hơn.

     Trong những năm gần đây, các tiến bộ công nghệ quan trọng nhất đã đạt
được trong lĩnh vực vi điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công
nghệ vật liệu mới, công nghệ vũ trụ và công nghệ hạt nhân. Điều rõ ràng là
không phải tất cả các nước trong vùng đều đã bị tác động như nhau bởi những
công nghệ này. Trên thực tế, tồn tại một sự tương quan giữa phát triển công
nghiệp và tiến bộ công nghiệp mà dựa vào đó, hầu hết những công nghệ này
được tiếp nhận, phát triển và triển khai rộng nhanh hơn trong những nước năng
động hơn của khu vực so với những nước đang phát triển khác, một xu hướng
rõ ràng đang mở ra là nhiều nước đang phát triển của khu vực đang bị tác động
bởi những công nghệ này thông qua các luồng thương mại và đầu tư và đang
thực hiện những biện pháp đẩy mạnh quá trình tiếp thu, phát triển và triển khai
rộng công nghệ.

      Các công nghệ thông tin, bao gồm cả tự động hoá viễn thông máy tính hoá
các hệ thống quản lý và tự động hoá thiết bị cũng như sản xuất (CAD/CAM).
Quá trình triển khai rộng rãi vi điện tử và công nghệ thông tin tuy chậm nhưng
đang đẩy mạnh trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Những năm vừa qua
các hoạt động trong nghành vi điện tử như lắp ráp, thử cấu kiện và thử hoàn
thiện đã được Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore và Thái Lan hết sức chú ý. Ở
những nước này thị trường bán dẫn mở rộng rất nhanh, trước hết là do sự mở
rộng sản xuất máy tính và thiết bị ngoại vi cho thị trường quốc tế. Được hỗ trợ
bởi những khuyến khích tài chính rộng rãi và sử dụng ngoại tệ dễ dàng. Ấn Độ
đã đạt được thành công nổi bật trong lĩnh vực phát triển phần mềm, trong
khoảng thời gian ngắn với giá trị xuất khẩu đạt 100 triệu USD và đạt mức tăng
hàng năm 40%. Nhận rõ nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại để nâng
cao khả năng cạnh tranh của công nghiệp chế tạo. Trung Quốc đã nhập máy
tính trị giá tới 300,4 triệu USD trong năm 1986, tăng hơn 4 lần mức nhập khẩu
năm 1993.

      Một lĩnh vực gia tăng khác nữa trong vòng 30 năm qua là công nghệ vật
liệu mới, bao gồm hợp kim, kim loại phủ chất dẻo, nhựa nhiệt dẻo, thuỷ tinh tấm
mỏng, gốm cường hoá bằng sợi. Các vật liệu này đều có ứng dụng trong hầu
hết các hoạt động công nghiệp. Ở châu Á. Nhật Bản là nước dẫn đầu về công
nghệ nổi bật này với phạm vi thị trường gần 24 tỷ USD vào cuối thế kỷ này. Một
loạt các nước Châu Á đã bắt tay vào nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực hợp
kim, polime và Composit có những vật liệu xây dựng rẻ tiền, kim loại hiếm và kim
loại đất hiếm, vật liệu bán dẫn tổ hợp, chất dẻo và gốm và những vật liệu mà ở
đó một số nước châu Á và Thái Bình Dương có những hứa hẹn tốt đẹp.

      Trong lĩnh vực công nghệ sinh học, những kết quả mới đã có một loạt ứng
dụng trong sản xuất nông nghiệp và thực phẩm, năng lượng tái sinh và y học
điều trị. Các tiến bộ đạt được trong công nghệ sinh học dường như là nguồn lợi
lớn cho các nước đang phát triển, vì chúng có yêu cầu thấp về hạ tầng cơ sở.
Các nước như Thái Lan, Malaixia đã sử dụng công nghệ

      Sinh học để sản xuất những loại cây dầu cọ và dầu dừa mới. Philipine
chương trình công nghệ sinh học đã được đề ra như là một bộ phận của chiến
lược công nghiệp hóa tổng thể. Các nước khác như ấn độ và Indonesia.
Pakistan và Thái Lan đã đưa các chương trình nhằm áp dụng công nghệ sinh
học trong công nghiệp và nông nghiệp. Về mặt này Thái lan đã đạt được những
tiến bộ trong công nghệ lên men, đặc biệt trong hóa chất công nghiệp.

     Tóm lại công nghệ chiếm vai trò quyết định trong việc đưa các nước chậm
phát triển đuổi kịp các nước phát triển. Vì thế trong giai đoạn 1994 – 2000 theo
Văn kiện Đại hội VII, hoạt động khoa học và công nghệ phải đảm bảo cơ sở
khoa học cho các quyết định quan trọng của các cơ quan lãnh đạo, quản lý, là
công cụ chủ yếu để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của mọi họat
động kinh tế-xã hội, góp phần xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, thúc
đẩy công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.

     4. Công nghệ với xu thế thời đại

     Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trong giai đoạn ngày nay cùng với
làn sóng vĩ đại của đổi mới công nghệ đang tổ chức lại một cách cơ bản đời
sống xã hội con người về mọi mặt từ kinh tế đến văn hóa, với xu thế lớn mang
tính toàn cầu sẽ là hiện tượng xã hội thông tin phát triển và xu thế toàn cầu hóa
nền kinh tế thế giới, mà trong các thập kỷ tới các nước không tính đến trong quá
trình phát triển kinh tế nước mình sẽ khó có thể tồn tại và đứng vững.

      Nhiều nhà tương lai học dự báo rằng, ở ngưỡng cửa của thế kỷ 21 nhân
loại có cơ hội đứng trước một bước nhảy kỳ diệu, tiến vào một nền văn minh
mới, một “xã hội thông tin”, chứa đựng những vận hội lớn về chính trị và sự phục
hưng lớn về văn hóa. Tuy nhiên, quá trình đó sẽ diễn ra không đồng đều ở các
nước, phụ thuộc vào hòan cảnh lịch sử, năng lực nội sinh và những tác động
bên ngoài . Ở đó xuất hiện sự va chạm giữa những đặc trưng của nền văn minh
công nghiệp với những mầm mống của nền văn minh thông tin (hậu công
nghiệp) . Trong thời kỳ chuyển tiếp này, do còn tồn tại sự không ăn khớp giữa
những căng thẳng xã hội, phân cực kinh tế, thậm chí xung đột vũ trang. Ngoài ra
nhưữn vấn đề toàn cầu như lương thực tài nguyên, môi trường sinh thái, dân số
- việc làm, nghèo khổ, bệnh AIDS v.v...là hoàn toàn không thể giải quyết trong
khuôn khổ, trật tự quốc gia.

     Trong nền văn minh thông tin, một đặc điểm nổi bật là sự tổng hợp tri thức.
Con người sẽ thay đổi những quan niêmk cơ bản đối với thiên nhiên và xã hội.
sẽ phấn đấu đến cộng sinh, hài hòa với thiên nhiên và xã hội, sẽ phấn đấu đến
cộng sinh, hài hòa với thiên nhiên, tìm khả năng phục hồi, chống đỡ với các hệ
thống của thiên nhiên, sẽ rõ rằng sự tốn tại của con người gắn liền với sự tồn tại
của thiên nhiên và vũ trụ. Trong xã hội thông tin, phương thức sản xuất dựa trên
nền công nghiệp vừa và nhỏ tác động nhanh, tiêu tốn ít năng lượng nhờ sử dụng
các thiết bị vi điện tử, công nghệ sinh học và vật liệu mới. Tin học với chức năng
là xử lý tự động thông tin nhờ máy tính, sẽ trở thành một bộ phận hữu cơ của
cuộc sống hàng ngày . Thông tin và tri thức trở thành yếu tố đầu vào của sản
xuất, nó là nguồn lực đặc biệt, không những có khả năng tự sinh sản. Xã hội
thông tin tiềm lực cao phát triển theo hai hướng : 1/ Tin học hóa và tự động hóa
sản xuất, 2 / Hiện đại hóa các nghành dịch vụ.

      Xã hội hóa thông tin sẽ đòi hỏi một cuộc cách mạng về giáo dục và nâng
cao tiềm năng trí tuệ và sản sinh ra kiến thức mới cho phát triển, đồng thời phải
đáp ứng nhu cầu phổ cập tin học như là một sự phổ cập văn hóa lần thứ hai, coi
đó là một kết quả chủ yếu của nền giáo dục hiện đại.
      Mặt khác nó có tác dụng đổi mới sâu sắc cơ cấu của khu vực sản xuất. Tin
học hóa doanh nghiệp sẽ dẫn đến một nền kinh tế thất nghiệp, mà đòi hỏi đào
tạo lại, sử dụng lao động linh hoạt hơn, xuất hiện những nghề mới. Cuối thập kỷ
80 Nhật sử dụng 8000 người máy công nghiệp (robốt), tỷ lệ thất nghiệp 2%,
CHLB Đức dùng 3000 robot nhưng tỷ lệ thất nghiệp là 4%. Theo một dự báo, ở
năm 2000, có đến 25%, tổng số nghề làm việc hiện nay, chúng ta chưa biết,
50% số nghề sẽ có nội dung mới. Trong xã hội nông nghiệp sơ khai, con người
đã từng phải cần 90% lực lượng lao động để sản xuất ra 100% lương thực,
nhưng ở xã hội công nghiệp hóa phát triển cao (ở Mỹ) cũng để sản xuất ra số
lương thực đó chỉ cần ít hơn 3% lực lượng lao động. Trong xã hội thông tin,
chức năng vật lý sẽ chuyển dần và phụ thuộc vào chức năng trí tuệ.

      Xã hội hóa thông tin còn có tác dụng đổi mới căn bản nền văn hóa và sự
giao tiếp xã hội. Những tiêu chuẩn nhanh, kịp thời sẽ chi phối các hoạt động từ
nghiên cứu, đào tạo, sản xuất đến chào hàng, chuyển giao công nghệ và các
loại dịch vụ khác. Công nghệ thông tin bao gồm tin học và viễn thông sẽ liên kết
gia đình, công ty, doanh nghiệp, quốc gia, quốc tế thành một mạng lưới, mở
rộng bộ nhớ tập thể nhờ các cơ sở dữ liệu, các hệ chuyên gia. Các hoạt động
điện thoại, phát thanh truyền hình, truyền dữ liệu, siêu lộ thông tin kinh doanh,
đào tạo ... sẽ được liên kết trong một mạng lưới điện tử cao tốc.

     Chính trong xã hội thông tin sẽ xác lập những chuẩn mới về sản xuất, về
quản lý. Với sản phẩm, người ta phải ra sức nâng cao tỷ suất giữa giá trị gia
tăng so với vốn bỏ ra, nhờ hàm lượng trí tuệ dựa trên nghiên cứu khoa học và
đào tạo đội ngũ nhân lực. Đối với doanh nghiệp, lợi nhuận không còn là mục tiêu
duy nhất, công ty còn phải là nơi sáng tạo ra thông tun và tri thức, nơi tiến hành
những hoạt động phi lợi nhuận, liên quan đến xã hội, sinh thái đạo đức, tạo
thành một nền văn hóa công ty góp phần cấu thành giá trị xã hội.Quan điểm về
hoạt động kinh tế không thay đổi. Không thể coi kinh tế là một bộ máy, một
guồng máy như trong xã hội công nghiệp, mà kinh tế là một cơ thể sống, thị
trường là một hệ sinh thái. Thị trường từ quan niệm là một địa điểm, hay như
một mạng lưới, mở ra theo chiều sâu với quá trình “cá nhân hóa” tiêu dùng, sản
phẩm có chất lượng tốt và thẩm mỹ cao.

     Như vậy, ở thế kỷ 21, xã hội thông tin sẽ đòi hỏi phải có sự phối hợp hài
hòa giữa công nghệ cao (high tech) với sự giao tiếp tinh tế (high touch), giữa
nền công nghiệp dựa trên trí tuệ với tiềm năng của con người. Phải có sự cân
bằng giữa nhu cầu cao về vật chất với nhu cầu về tinh thần của bản thân con
người. Chẳng hạn , công nghệ sinh học không những hỗ trợ cho công nghệ
thông tin trong phát triển thế hệ “máy tính suy nghĩ”, “hệ phần mềm thần kinh
nhân tạo” , mà còn đưa ra chìa khóa cho một “xã hội tự dưỡng”, mở ra một thời
đại mới về chăm sóc sức khỏe con người.

     - Xu thế toàn cầu nền kinh tế: Đây là một xu thế chứa đựng các cơ hội,
đồng thời cũng mang tính chất thách thức quan trọng bậc nhất đối với mọi quốc
gia hiện nay. Có thể nói, về phương diện kinh tế, thế giới hôm nay đã có một
khuôn khổ toàn cầu. Trong 4 thập kỷ gần đây, thương mại thế giới đã tăng
nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Đến 1990, thương mại thế giới đã vượt
3000 tỷ USD hàng năm và khối lượng tiền tệ lưu chuyển hàng ngày đã tăng gấp
26 lần giá hàng hóa buôn bán trên thế giới. Nền kinh tế thị trường đang trở thành
một không gian mang tính toàn cầu với xu hướng giảm bớt vai trò Nhà nước
trong quản lý trực tiếp kinh tế, cũng như trong tỷ trọng sở hữu, nhằm tăng hiệu
quả, chống đỡ với chu kỳ suy thoái của kinh doanh quốc tế . Dòng đầu tư của
nước ngoài tăng nhanh với sự có mặt của các công ty xuyên quốc gia, đặc biệt ở
khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong hai thập kỷ gần đây đã tăng 16% năm

      - Thị trường tài chính quốc tế mở rộng không ngừng bùng nổ ở thập kỷ 80
tương ứng với nhịp độ mở rộng thương mại quốc tế. Trong 25 năm gần đây các
khoản cho vay quốc tế đã tăng 2 lần .Thị trường chứng khoán tăng vọt, đặc biệt
ở các nước đang phát triển. Do sự lưu chuyển nhanh chóng với quy mô xuyên
quốc gia của các luồng thông tin, trí thực, vốn, dịch vụ .... Trong mạng lưới toàn
cầu, do ngày càng tăng của vai trò các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia,
các doanh nghiệp quốc tế, chuyên môn quốc tế... quá trình toàn cầu hóa nền
kinh tế thế giới đã tăng nhanh.

     - Trong khung cảnh đó, kinh tế thường được xem như một yếu tố có tầm
quan trọng hơn cả chính trị, hợp tác kinh tế được ưu tiên trong việc giải quyết
trong các mối quan hệ quốc tế. Vai trò nhà nước và quốc gia đang thay đổi, nó tỏ
ra quá nhỏ trước những vấn đề lớn như môi trường, nận nghèo khổ, bệnh
AIDS.... nhưng lại là quá lớn trước những vấn đề nhỏ của đời sống liên quan
đến sản xuất kinh doanh . Phải tìm kiếm một mức độ hợp lý trong quản lý của
quốc gia. Nhà nước.

     - Xu thế tự do hóa mậu dịch giữa các quốc gia ngày càng có ưu thế, cho dù
vẫn còn hiện tượng quá độ thể hiện qua hàng rào bảo hộ mậu dịch. Năm 1988
những hiệp ước tự do buôn bán giữa Mỹ - Canada. Mêhicô và Australia với Niu
dilơn: năm 1992 bắt đầu tự do buôn bán giữa 12 nước Tây Âu (EC). Đã có
những dấu hiệu đầu tiên của thị trường tự do Nam Mỹ: cũng vào năm 1988 đột
ngột có sự trao đổi tự do thương mại giữa Mỹ và Nhật... Sự buôn bán trong nội
bộ từng khu vực có xu hướng giảm, mà gia tăng mức độ giao lưu toàn cầu. Dự
đoán sang thế kỷ 21 sẽ có một sự liên kết của “một tam giác vàng” tự do mậu
dịch giữa Bắc Mỹ - Châu Âu và Đông Á (Nhật).

      Cùng với thương mại, tài chính, xu thế toàn cầu cũng tác động đến các lĩnh
vực công nghệ sản xuất. Ngày càng có sự nhất thể hóa giữa nghiên cứu khoa
học, triển khai công nghệ và sản xuất - kinh doanh. Có xu thế toàn cầu (Mỹ Nhật
và Tây Âu). Các siêu cường kinh tế đang đua nhau nắm giữ các nền “công nghệ
bình minh” như vi điện tử, máy tính, phần mềm, cáp quang, viễn thông, người
máy, năng lượng thay thế, vũ trụ, đại dương: và cũng nhận thức rõ sự thách
thức về phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao, dễ thích ứng. Yếu tố giáo dịch
và đào tạo sẽ là một nguồn lực chủ yếu tạo thế cạnh tranh của các nước khi
bước vào thế kỷ 21. Chính các nước đang phát triển có nền kinh tế thành công
đang sử dụng cơ hội này dựa trên sự phát triển nền “kinh tế kiến thức” để đột
phá vào các công nghệ cao mà không phải đầu tư quá lớn.

       Tóm lại, xã hội thông tin phát triển và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế
giới đã đặt ra trên con đường phát triển của mỗi quốc gia những thời cơ, đồng
thời cũng gặp nhiều khó khăn mang tính cạnh tranh, thách đố. Những nước “đi
sau” vừa có khả năng học hỏi, “rút kinh nghiệm”, nhưng cũng gánh chịu những
chèn ép do sự chậm trễ của mình. Trên thế giới tuy còn nhiều phân cách giàu
nghèo, nhưng một số nước đang phát triển đã sử dụng tốt những cơ hội tốt để
“đi tắt”, “đón đầu”, để tiếp nhận công nghệ, tiến thẳng vào một số công nghệ hiện
đại. Tuy nhiên, cũng có nhiều nước đang không thành công, không đạt được
tăng trưởng kinh tế như mong muốn, nhiều lúc thụt lùi và rơi vào tình trạng nợ
nần, suy thoái. Những quốc gia có nền kinh tế thành công, quá trình phát triển
thường bắt đầu bằng những nỗ lực tăng trưởng kinh tế, liền sau đó là những
điều khiển vĩ mô nhằm đạt những kết quả về xã hội văn hóa, môi trường. Những
nước này thường xuất phát từ xã hội truyền thống, với nông nghiệp chiếm 75%
lao động, trên 30% GDP; sau đó là giai đoạn tạo tiền đề cho “cất cánh” dựa trên
những đột phá công nghệ trong nông nghiệp, trong xây dựng cơ sở hạ tầng và
sản xuất các sản phẩm chế tạo hướng về xuất khẩu, thúc đẩy doanh nghiệp đầu
tư...Giai đoạn “cất cánh” được khẳng định thông qua những yếu tố về chuyển
dịch cơ cấu kinh tế (giảm mạnh tỷ lệ nông nghiệp trong GNP); về khả năng duy
trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao; về một chính sách thuận lợi cho sự phát triển
các công nghiệp hiện đại; về một nền giáo dục-đào tạo vững vàng tạo năng lực
nội sinh của quốc gia, đảm bảo cho giai đoạn trưởng thành sau “cất cánh” v.v...
Quá trình phát triển công nghệ có thể đi tuần tự hoặc thực hiện xen kẽ theo các
giai đoạn từ thấp đến cao.

     Giai đoạn 1: Công nghệ có cường độ lao động cao và công nghệ sử dụng
chủ yếu nguồn tài nguyên thiên nhiên (mà ta là một trong những nước đang thực
hiện chủ yếu).

     Giai đoạn 2: Công nghệ dựa chủ yếu vào trang thiết bị kỹ thuật, giai đoạn
này chủ yếu dựa vào các công nghệ nước ngoài, thích nghi vào công nghệ nước
ngoài và cải tiến công nghệ nước ngoài, chuẩn bị cho nguồn nhân lực có trí thức
và có kỹ năng.

    Giai đoạn 3: Công nghệ dựa chủ yếu vào vốn trí thức và sự thành thạo tay
nghề của con người trong đất nước mình.

     Sơ đồ 14: Các bộ phận của chính sách khoa học và công nghệ




      Chính sách khoa học và công nghệ là hệ thống các quan điểm, mục tiêu,
nguyên tắc chỉ đạo. định hướng phát triển, các thể chế và biện pháp thúc đẩy
việc tiếp thu phát triển và sử dụng khoa học và công nghệ và các ngành khoa
học hỗ trợ công nghệ để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đồng
thời phát triển năng lực khoa học và công nghệ quốc gia trong từng thời kỳ. Về
thực chất chính sách khoa học công nghệ là chính sách phát triển đất nước
bằng khoa học và công nghệ.

       Đối với các nước đi sau như nước ta, tình hình không giống các nước tư
bản ở những thế kỷ 18, 19 khi mà công nghệ cần thiết cho công nghiệp hóa đều
phải chờ những sáng thể phát minh khoa học làm cơ sở cho sự phát triển công
nghệ đó, hoặc phải có thời gian dài đúc kết và hoàn thiện dần trong việc thực
tiễn sản xuất. Ngày nay hầu hết những công nghệ cần thiết cho công nghiệp tiên
tiến - thậm chí còn thay đổi rất nhanh, buộc họ phải chuyển giao công nghệ đã
lạc hậu của họ cho các nước di sau, dẫn đến tình trạng không cần theo một tuần
tự nhất định như các nước đi trước. Vấn đề ngày nay không còn là phải tự mình
sáng tạo mà là phải nắm bắt được những công nghệ nào phù hợp với hoàn cảnh
của mình nhất, có khi chưa cần công nghệ tiên tiến nhất mà là công nghệ đem
lại hiệu quả kinh tế xã hội và có điều kiện tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Điều
kiện quốc tế đã mở ra cho chúng ta con đường đi tắt cho phép thực hiện công
nghiệp hóa trong một thời gian rất ngắn, không phải trải qua tuần tự các bước
như của các nước đã đi trước.

      Đại hội giữa nhiệm kỳ (khóa VII) của Đảng ta cũng đã chỉ rõ: “Những tiến
bộ về kinh tế xã hội cùng với sự mở rộng và tăng cường hợp tác phát triển với
các nước, các tổ chức quốc tế cho phép chúng ta đẩy tới một bước công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm tạo nhiều công ăn việc làm, đẩy
nhanh tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân. Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời
gian tới. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu
so với các nước chung quang. Giữ được ổn định chính trị, xã hội bảo vệ được
độc lập chủ quyền và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa”.

     Phướng hướng , quy mô bước đi của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa phải được cân nhắc kỹ trên cơ sở thấu suốt các quan điểm lớn của Đảng và
Nhà nước đã được Văn kiện hội nghị ban chấp hành trung ương 7 khóa VII chỉ
rõ:

    - Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng
một cách phổ biến sức lao động cùng đổi mới công nghệ, phương tiện và
phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Đối với
nước ta, đó là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm
cải biến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp, gắn với việc hình
thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện đầy đủ hơn bản
chất ưu việt của chế độ mới.

     - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải tạo ra những điều kiện cần thiết về
vật chất - kỹ thuật, về con người và khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, không
ngừng tăng năng suất lao động xã hội, làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh
và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, thực hiện
công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, sinh thái.

       Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tạo ra tiềm lực to lớn, đủ khả
năng xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của toàn dân, thực hiện dân
giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, bảo vệ vững chắc cho nền độc
lập của Tổ quốc. Đó là một quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ, đòi hỏi mọi
người phải có hoài bão, quyết tâm cao, chấp nhận những khó khăn và thử thách
và hy sinh cần thiết để vĩnh viễn đưa dân tộc ta thoát khỏi lạc hậu, nghèo nàn;
tiến lên “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Bác Hồ từng nói. Đó
cũng là lòng mong ước của biết bao thế hệ đi trước mà ngày nay chúng ta phải
nỗ lực làm bằng được. Song mục tiêu và mong ước đó không phải là điều xa
vời, mà phải thể hiện ngay từng bước phát triển, quan tâm đáp ứng các nhu cầu
thiết thân hàng ngày của nhân dân, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh
thần cho người lao động, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng,
giữa lợi ích trước mắt và lâu dài: huy động đi đôi với bồi dưỡng sức dân, chăm
lo nhu cầu đời sống hằng ngày đi đôi với sức tiết kiệm để đầu tư phát triển...
Chính sự quan tâm thường xuyên đó sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ và bền vững
để thực hiện mục tiêu lâu dài, bảo đảm thành công của công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.

     - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân. Đó là một cuộc
cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, đòi hỏi
phải đầu tư rất nhiều với trí tuệ, sức người, sức của. Chỉ có huy động sức mạnh
và khả năng sáng tạo to lớn của toàn dân, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng,
sự quản lý điều hành có hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước thì mới đảm bảo
thắng lợi.

      - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải động viên các thành phần kinh
tế tích cực tham gia đầu tư phát triển.
     - Công nghiệp, hiện đại hóa phải được thực hiện theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

      Xử lý tốt mối quan hệ giữa kế hoạch và thị trường. Việc xây dựng và thực
hiện các chương trình, kế hoạch phát triển công nghiệp và công nghệ phải xuất
phát từ những yêu cầu của sản xuất và đời sống trong nước và xuất khẩu thông
qua việc đánh giá và dự báo đúng đắn nhu cầu và chiều hướng phát triển của thị
trường trong và ngoài nước. Giá cả phần lớn hàng hóa, dịch vụ được hình thành
trên thị trường. Nhà nước can thiệp trong trường hợp thật cần thiết. Thị trường
phản ánh nhu cầu xã hội, có tiếng nói quyết định trong việc phân bổ phần lớn
các nguồn lực để sản xuất cái gì, bao nhiêu, cho ai bằng cách nào, kể cả đối với
nguồn lực tập trung của Nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước cũng như tư nhân
được tạo đủ điều kiện tự chủ kinh doanh căn cứ vào tín hiệu thị trường thông
qua cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp mà đổi mới và phát triển.

     Đối với mọi quốc gia, kể cả nước ta, chỉ tiêu của Nhà nước bao giờ cũng là
nguồn chi lớn nhất. Nguồn chi đó phải được kế hoạch hóa thông qua việc Nhà
nước sử dụng một cách tập trung các nguồn vốn trong và ngoài nước, các công
cụ và phương tiện cần thiết để đầu tư cho các công trình, dự án trọng điểm, chủ
yếu là xây dựng kết cấu hạ tầng và một số ngành, lĩnh vực, công trình then chốt
có tác dụng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của toàn bộ nền kinh tế và xã hội.
Việc chi tiêu của Nhà nước phải được hạch toán và quản lý thật chặt chẽ, lấy
hiệu quản làm thước đo, với tinh thần triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô
làm với bất cứ giá nào.

      Đồng thời, Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý toàn bộ quá trình
phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua pháp luật, các chương trình, kế hoạch,
chính sách phát triển, các biện pháp tổ chức, hành chính, kinh tế trong đó biện
pháp kinh tế là chính. Nhà nước duy trì cân bằng cung cầu, xuất khẩu, thu chi,
tiền hàng... ổn định vĩ mô, tạo môi trường và thể chế thuận lợi cho sản xuất kinh
doanh phát triển, can thiệp và điều tiết thị trường, khắc phục những biến động
lớn những khuyết tật vốn có của thị trường để nó hoạt động hữu hiệu trở thành
công cụ điều tiết có hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế.

     Nhà nước cũng thi hành các chính sách, biện pháp chăm lo sự nghiệp giáo
dục, đào tạo, y tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, giữ vững ổn định chính
trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, duy trì hiệu lực của pháp
luật, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn dân làm ăn sinh sống.

     Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải huy động và sử dụng có hiệu
quả cao mọi nguồn vốn trong và ngoài nước.

      Vốn bên ngoài, dù là viện trợ phát triển chính thức (ODA) hay vốn đầu tư
trực tiếp (FDI) hầu hết là loại vốn phải hoàn trả, kèm theo cả lãi suất, Nguồn
trang trải quy cho cung chính là từ kết quả lao động của bản thân chúng ta, kể cả
ngân sách cũng là do toàn đan đóng góp. Vì vậy, phải tính toán thận trọng , huy
động và sử dụng vốn bên ngoài vào những lính vực, những địa bàn cần thiết, có
hiệu quả. Chỉ có như vậy, chúng ta mới giữ vững được độc lập, chủ quyền kinh
tế, tránh được tình cảnh nợ nần chồng chất cũng như những hậu quả nghiêm
trọng về nhiều mặt khác.

     Để thực hiện tốt chính sách khoa học – công nghệ quốc gia, ngoài vấn đề
nhận thức, cơ chế chính sách, một vấn đề cực kỳ quan trọng là phải đổi mới hệ
thống giáo dục đào tạo trong nước theo hướng hòa nhập quốc tế, trẻ hóa đội
ngũ cán bộ các cấp, các ngành của đất nước.

       5. Các bước xây dựng và thực hiện chính sách công nghệ

     5.1 Xác định mức độ đã đạt được của trình độ công nghệ quốc gia, trên tất
cả các khía cạnh:

       - Tiềm lực

       - Hiệu quả thực tế

       - Các bế tắc cần xử lý

       5.2 Dự đoán các biến động có thể có trong tương lai

       - Khả năng biến đổi công nghệ trong nước

       - Nhu cầu cần đáp ứng về công nghệ cho nền kinh tế trong tương lai.

       - Khả năng thu hút công nghệ từ bên ngoài.

       5.3 Phân tích lựa chọn mục tiêu cần đạt cho giao đoạn trước mắt và tiếp
theo
     - Các mục tiêu mũi nhọn

     - Mục tiêu thu hút công nghệ bên ngoài

     - Mục tiêu thu hút chất xám từ việt kiều

     - Các mục tiêu phân chia theo lĩnh vực (ngành sản xuất, lĩnh vực quản lý)

     5.4 Xây dựng các quan điểm phát triển chính sách công nghệ

     - Công nghệ hàng đầu hay thích hợp ?

     - Nhập mua cải tiến công nghệ ra sao ?

     - Công nghệ mũi nhọn đặc thù ?

     - Các nguồn vốn cho công nghệ v.v...

     5.5 Lựa chọn cơ quan thực thi

      Giống như chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chính sách công nghệ
có tình bao trùm quốc gia, cho nên nó cũng phải do các cơ quan cao nhất của
Nhà nước từ các cấp (Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường - Bộ Giáo dục và
đào tạo – các bộ ngành sản xuất và các sở ban ngành thuộc ngành dọc ở cấp
tỉnh thành phố).

     5.6 Xác định hiệu lực và hiệu quả của chính sách công nghệ

     Đây là trách nhiệm của tất cả các cấp có sử dụng và đưa vào công nghệ
hoạt động. Các tính phải do các cơ quan cao nhất thuộc chuyên ngành nghiên
cứu và đưa vào sử dụng.

     5.7 Lựa chọn hình thức thực hiện chính sách

     Đây là trách nhiệm, tài năng của các cán bộ thuộc các cơ quan tổ chức
thực hiện chính sách, căn cứ vào diều kiện và xu thế phát triển của đất nước,
kinh nghiệm và khả năng hợp tác bên ngoài v..v.. mà tìm tòi các hình thức thích
hợp.

     5.8 Tổng kết thực hiện
    Là quá trình đánh giá mỗi chặng thực thi chính sách để chuyển sang một
chặng đường phát triển mới.

     Trên đây là những chính sách lớn về kinh tế mà tất cả các quốc gia ngày
nay đểu phải quan tâm. Ngoài ra còn có không ít các chính sách kinh tế khác
cũng phải quan tâm nhưng do khuôn khổ có hạn, giáo trình không thể đề cập hết
(chính sách sử dụng tài nguyên chính sách môi trường, chính sách dân số,
chính sách đối ngoại v.v...).

								
To top