8 cách dễ dàng để giải phóng RAM giúp máy chạy nhanh hơn

Document Sample
8 cách dễ dàng để giải phóng RAM giúp máy chạy nhanh hơn Powered By Docstoc
					8 cách dễ dàng để giải phóng RAM giúp máy chạy nhanh hơn
                        Máy vi tính thời nay cần nhiều RAM để có thể hoạt động hiệu
                        quả hơn, đặc biệt là nếu nó đang chạy Windows Vista 32-bit.
                        Một hệ thống với 2GB bộ nhớ RAM vẫn có thể chạy ì ạch nếu nó
                        được cấu hình không tốt và bạn phải nâng cấp lên 4GB RAM để
                        rồi phát hiện ra PC của mình chỉ có thể truy cập khoảng 3GB.
                        Vậy dung lượng RAM đã đi đâu, và có cách nào giúp bạn có thể
                        lấy lại không? Cài đặt Windows Vista 64-bit có thể tạo nên sự
khác biệt thực sự nếu như phần cứng của bạn đủ đáp ứng. Nhưng nếu điều đó quá tầm với
bạn thì vẫn còn có các cách khác để khắc phục. Sau đây là những điều bạn cần biết.

1. Kiểm soát những chương trình lúc khởi động:

Con đường dẫn tới việc làm chủ bộ nhớ máy tính bắt đầu bằng việc nắm quyền kiểm soát
nhiều hơn đối với những chương trình bạn đang chạy.

Vào Start > All Programs và gỡ bỏ bất kỳ phần mềm nào bạn không sử dụng, sau đó khởi
chạy MSCONFIG.EXE và nhấp vào thẻ Startup để xem những gì được cấu hình khởi
động cùng Windows. Nếu bạn thấy những chương trình không cần thiết, bạn có thể gỡ bỏ
hoặc thay đổi các thiết lập của nó để chương trình ấy không tự khởi động khi bạn đăng
nhập vào Windows.

Ứng dụng Add-ons cho các trình duyệt, Microsoft Office và những thứ tương tự cũng có
thể tiêu thụ lượng RAM lớn đến không ngờ. Kiểm tra các add-ons trên trình duyệt hiện
tại của bạn (vào Tools > Manage Add-ons trong IE, Tools > Add-ons trong Firefox) và
vô hiệu hóa (hoặc gỡ bỏ cài đặt) bất kỳ cái nào mà bạn không sử dụng đến.

2. Vô hiệu hóa những dịch vụ không mong muốn:

Để tăng tốc cho Windows một số người khuyên bạn nên vô hiệu hoá dịch vụ Windows
không cần thiết. Nhưng trong hầu hết các trường hợp thì cách này không hiệu quả lắm,
ngoại trừ Windows Defender, nó chiếm khoảng 20MB (hoặc nhiều hơn nếu bạn để nó
chạy nền). Nếu bạn đã có một công cụ Antispyware hoặc Antivirus khác thì nên tắt
Defender (trong Vista, chạy Windows Defender, nhấp chuột vào Tools > Options, cuộn
xuống và bỏ chọn 'Use Windows Defender')

Nếu bạn quyết định thử vô hiệu hoá các dịch vụ khác, bấm vào Start khởi chạy
services.msc, di chuyển xuống trong danh sách để xem những gì có sẵn. Trên máy tính
thử nghiệm cài đặt Windows Vista Ultimate, chúng tôi có thể vô hiệu hoá một cách an
toàn những dịch vụ sau bằng cách click đúp chuột vào và thiết lập Startup type thành
Disabled.

Apple Mobile Device: đi kèm iTunes, không cần thiết nếu như bạn không có một thiết bị
của Apple để kết nối.
Distributed Link Tracking Client: duy trì các liên kết giữa các tập tin trên một mạng lưới
tên miền, không phải là một tính năng mà chúng tôi sử dụng.

Nero BackItUp Scheduler 3: cung cấp với Nero Burning ROM, nhưng không cần thiết
nếu bạn không sử dụng các công cụ back-up.

Offline Files: hữu ích nếu bạn đồng bộ hóa các tập tin giữa các máy tính, nhưng chúng tôi
không cần.

Tablet PC Input Service: Đây không phải là một Tablet PC (máy tính bảng).

Quá trình này có lẽ giúp phục hồi 10MB bộ nhớ RAM. Bạn có thể đạt được nhiều hơn
nếu bạn lược bỏ thêm nhiều dịch vụ, nhưng bạn cũng gặp những sự cố nguy hiểm nếu
bạn loại bỏ những thứ gì đó mà bạn thực sự cần.

3. Giảm bớt yêu cầu phần cứng:

Nếu PC của bạn có 4GB bộ nhớ thì rất có thể bạn sẽ thấy rằng chỉ có thể truy cập từ 3
đến 3.5GB RAM, bởi vì BIOS của bạn đã cấp phần địa chỉ trống còn lại cho card màn
hình, card mạng, và những phần cứng khác.

Để xem những gì được cấp cho phần cứng trên PC của bạn, khởi chạy Device Manager
(bấm vào Start và nhập devmgmt.msc), bấm View > Resources by type và mở rộng bộ
nhớ. Phần tài nguyên thực sự bị cắt mất hầu như chắc chắn là do card màn hình của bạn.
Nếu bạn có một chiếc card đồ họa 512MB, thì có thể nói rằng nó sẽ chiếm lấy 512MB
(và nhiều hơn nữa, trên thực tế) ô nhớ của bạn. Điều này có lẽ sẽ không phải là vấn đề
nếu bạn có 2GB RAM mà ở đó không có phần bộ nhớ nào bị khóa, nhưng nếu bạn có
4GB thì nó sẽ ngăn cản bạn sử dụng tối đa bộ nhớ.

Bạn không thể giải quyết vấn đề này một cách hoàn toàn, nhưng cũng có những cách để
giảm tác động của nó. Ví dụ, nếu bạn có cài đặt một card mở rộng mà bạn không còn cần
nữa, hãy tháo gỡ nó. Nếu bạn không tận dụng hết card màn hình thì hãy xem xét hạ nó
xuống với một mức RAM tối thiểu (128MB là đủ để chạy Vista). Kiểm tra BIOS để tắt
các tính năng mà bạn không cần. Có một trình đơn thường được gọi là 'Onboard Device
Configuration' hoặc ‘Integrated Periphrals', nơi bạn có thể vô hiệu hoá card đồ họa on-
board, card âm thanh tích hợp, network adapters hay kênh IDE chưa sử dụng...v.v.. Dùng
cách này để tắt các phần cứng dư thừa, BIOS sẽ không phân bổ bộ nhớ cho chúng và
phần dung lượng ấy sẽ dành cho bạn.

4. Tắt những tính năng không cần thiết:

Đừng kích hoạt quá nhiều tính năng Windows, trừ khi bạn thực sự cần nó. Ví dụ để tăng
tốc cho Windows Vista, tắt các giao diện Aero nếu bạn có thể làm việc mà không có nó
(click chuột phải vào màn hình, chọn Personalize > Theme và chọn Windows Classic).
Máy tính của bạn sẽ nhìn không đẹp lắm, nhưng bù lại bạn sẽ tiết kiệm gần 40MB bộ nhớ
RAM. Nếu việc xem biểu tượng mạng nhấp nháy khi chuyển giao dữ liệu là không cần
thiết, click chuột phải vào biểu tượng, chọn Turn Off Activity Animation và bạn sẽ tiết
kiệm được 1 đến 5Mb bộ nhớ RAM.

5. Chạy Explorer hiệu quả:

Windows Explorer có thể chạy mỗi cửa sổ Explorer trong một quá trình riêng biệt, vì
vậy, nếu một cửa sổ bị treo thì nó sẽ không ảnh hưởng tới cái khác. Nghe thật hợp lý,
nhưng trong thử nghiệm của chúng tôi, nó sử dụng ít nhất thêm 10MB bộ nhớ RAM cho
mỗi cửa sổ Explorer bạn mở. Nếu Windows vẫn bị treo nên tìm hiểu lý do tại sao, tắt tính
năng này đi và đòi lại phần bộ nhớ bị lãng phí. Click vào Tools > Folder Options > View,
di chuyển xuống và chắc chắn rằng 'Launch folder windows in a separate process' không
được chọn và bấm vào OK.

6. Giảm thiểu các ứng dụng:

Nếu bạn đang chạy một ứng dụng, chắc hẳn nó sẽ tiêu thụ RAM, nhưng có một cách để
giảm bớt điều đó: giảm thiểu nó. Nếu ứng dụng không thực hiện bất kỳ việc gì (ví dụ một
trình duyệt với một vài tab mở), khi nó được giảm thiểu, Windows sẽ nhận lại phần bộ
nhớ dành cho nó để cung cấp cho ứng dụng khác. Vì vậy, tốt nhất là nên giảm thiểu các
chương trình không hoạt động hơn là để mặc những cửa sổ của nó trên màn hình desktop
của bạn.

7. Tránh các công cụ tối ưu hóa không rõ ràng:

Đừng lãng phí thời gian của bạn với các thủ thuật thiếu hiệu quả liên quan tới việc tối ưu
bộ nhớ hoặc với những chương trình vô dụng chỉ làm mọi thứ tồi tệ hơn.

Một số trang web khuyên dùng chương trình tinh chỉnh Registry 'AlwaysUnloadDLL'
được giới thiệu rằng giúp Windows giải phóng DLLs ngay sau khi chương trình sử dụng
chúng được đóng. Nhưng nó không hoạt động trong XP hay Vista. Những người khác lại
quả quyết rằng thiết lập khóa cho Windows XP Registry có thể kích hoạt Superfetch (một
tiện ích của Windows Vista) trong Windows XP. Đó thật là chuyện hoang đường. Nhiều
trang web còn giới thiệu những chương trình tối ưu RAM với nhiều lời hứa hẹn, nhưng
chúng không thể khắc phục được lỗi bộ nhớ và không thể 'giải phóng' RAM (trong thực
tế, chúng còn chiếm dụng thêm bộ nhớ).

8. Theo dõi máy tính của bạn:

Một khi bạn đã dọn dẹp máy tính, hãy khởi động lại và nhìn xem những gì đang sử dụng
RAM của bạn.

Bấm Ctrl + Shift + Esc để mở Task Manager, chọn thẻ Processes, bấm View > Select
Columns và chắc rằng 'Memory (Private Working Set)' được chọn. Bấm OK, chọn nút
‘Show processes from all users', sau đó bấm vào tiêu đề cột 'Memory (Private Working
Set)'.
Bây giờ bạn sẽ thấy từng quá trình trên hệ thống, theo thứ tự mà ở đó chúng đang sử
dụng bộ nhớ. Duyệt trong danh sách - bạn có đang chạy bất kỳ chương trình nền nào mà
bạn thực sự không cần? Nếu có, hãy tắt nó đi. Nếu bạn phát hiện một tiến trình mà bạn
không rõ nó là gì, hãy nhập tên của tiến trình đó lên Google để tìm hiểu thêm.

Nếu bạn thực sự muốn đi sâu vào các hoạt động của máy PC, có hai công cụ Sysinternal
vô giá dành cho bạn. Autoruns sẽ hiển thị tất cả mọi thứ được tải khi Windows khởi
động, trong khi Process Explorer hiển thị các chương trình đang chạy một cách rất chi tiết
và cho bạn thấy những nguồn tài nguyên mà chúng đang sử dụng. Đây là những công cụ
tối ưu máy tính tốt nhất hiện nay.



Giải pháp sử dụng RAM hiệu quả và khai thác triệt để hiệu năng và
độ ổn định làm việc của máy tính
(Tiếp theo và hết)
Bài 2 - Khai thác triệt để hiệu năng và độ ổn định làm việc của máy tính.
Điều      chỉnh     thông    số     cho    phù    hợp      với   hệ      thống    phần     cứng.
Một là, đối với tốc độ muốn tối ưu hóa hiệu năng của RAM, cấu hình trong BIOS.
Các thông số nằm trong phần CPU Voltage/Frequency. Mỗi hãng có cách sắp xếp khác nhau
nhưng đều dựa trên một nguyên tắc chung là tốc độ của RAM tỷ lệ với FSB của CPU theo một
hệ số nhất định. Một số hãng như Asus chọn cách hiển thị tốc độ RAM trực tiếp nên không mất
thời gian tính toán còn Abit lại chọn cách sử dụng tỷ lệ, nên phải tính toán để có kết quả tốc độ
tuy nhiên điều này sẽ giúp hiểu rõ hơn về thông số của máy tính. Tốc độ của RAM được tính
theo tỉ số CPU/DRAM, ví dụ khi CPU có bus ngoài là 200MHz và tỉ lệ này là 1:1 thì RAM sẽ chạy
ở bus 200MHz (400MHz DDR). Khi tỉ lệ là 5:4, bus ngoài CPU là 200MHz thì tốc độ RAM sẽ là
(200/5)*4 = 160MHz (320MHz DDR).
Những thông số khác về RAM như CAS Latency, RAS-to-CAS Delay… được đưa vào một nhóm
chung là Advance Chipset Configuration. Thông số quan trọng nhất là phần DRAM Timing bao
gồm bốn thông số chính theo thứ tự là CAS Latency, Act to Precharge Delay, Ras-to-CAS Delay
và DRAM Ras Precharge.
Hai là, đối với điện thế cung cấp cho RAM (DRAM Voltage). Thường thì DDR sử dụng mức điện
thế 2,5V và DDR-II là 1,8V. Một số loại RAM DDR tốc độ cao có thể yêu cầu tới 2,8V hoặc 2,85V.
Tuy nhiên, một nguyên tắc an toàn là không được quá 2,9V nếu không có giải pháp tản nhiệt hữu
hiệu vì RAM có thể sẽ bị cháy hoặc phồng IC sau một thời gian sử dụng. Đối với những
mainboard cấp thấp (low-end), không điều chỉnh được điện thế của RAM mà chỉ có thể thay đổi
tốc độ. Thực tế chứng minh, những chip RAM của SamSung có khả năng chịu được điện cao
nhất và ép xung lên được mức tốc độ tương xứng, còn những loại chip của Winbond thì có thể
chạy ở tốc độ cao, với điện thế mặc định.
Ba là, sau khi đã có giải pháp về phần cứng, điều quan trọng nhất của việc chọn RAM chính là
hiệu năng cao và ổn định. Dùng những phần mềm chuyên dụng để kiểm tra tốc độ cũng như khả
năng hoạt động lâu dài của RAM cho dù chạy ở tốc độ mặc định hay ép xung. Chương trình
CPU-Z. có khả năng kiểm tra băng thông của RAM kèm theo thử nghiệm tối đa “nội lực” của
RAM để phát hiện lỗi nếu có. RAM đạt được thời gian kiểm tra từ 8 đến 10 tiếng và tốc độ đảm
bảo.
Tóm lại, giải pháp sử dụng, lựa chọn RAM đúng với cấu hình máy tính và phù hợp với công việc
của mình là rất quan trọng. RAM là sản phẩm của các hãng có uy tín sẽ đảm bảo về chất lượng
cũng như bảo hành (03 năm).
Nâng cấp RAM
Có thể nhận thấy là tốc độ, điện thế của RAM sử dụng ngày càng cao. Ban đầu DDR200/2,5v thì
bây giờ DDR500/2,8v (thậm chí là 2,85v đối với một số loại nhất định) hay DDR2-667/1,8v. Hai
yếu tố này đã góp phần làm cho nhiệt độ của RAM ngày càng tăng, vì vậy RAM cao cấp thường
có lá thép ốp ở mặt để bảo vệ và tản nhiệt. Mặt khác, có thể dùng tản nhiệt cho RAM. Một số nhà
sản xuất lại chọn giải pháp dùng những tấm giải nhiệt với chất liệu như hợp kim dẫn nhiệt hay
đồng đỏ cũng hỗ trợ.
Thứ nhất, nâng cấp bộ nhớ, khi nhận thấy máy tính chạy chậm chạp, thường nghĩ ngay tới việc
nâng cấp bộ xử lý, mainboard hay card màn hình. Xét trong trường hợp cụ thể nâng cấp bộ nhớ
RAM để tăng hiệu năng máy tính rất cao..
Thứ hai, xác định dung lượng bộ nhớ phụ thuộc vào hệ điều hành và ứng dụng. Windows XP
yêu cầu bộ nhớ RAM tối thiểu 64MB (khuyến khích 128MB). Nếu thêm bộ Microsoft Office cần tối
thiểu 128MB RAM. Để chạy đồng thời các ứng dụng như Word, Excel và Power Point, cần tối
thiểu 152MB. Nói chung, nên trang bị 256MB RAM khi sử dụng hệ thống Windows XP. Thực tế là
512MB RAM và cao hơn; nếu có thể sử dụng tối đa khả năng hỗ trợ của mainboard.
Thứ ba, xác định loại bộ nhớ, có 3 công nghệ bộ nhớ phổ biến là SDRAM, DDR-SDRAM và
RDRAM cần xác định loại bộ nhớ dựa theo tài liệu hướng dẫn của mainboard.
SDRAM: Phổ biến trong các hệ thống Pentium III trở xuống, SDRAM có 3 loại: PC66, PC100 và
PC133; tương ứng với tần số làm việc 66MHz, 100MHz và 133MHz (Hiện nay không sử dụng).
DDR SDRAM: Phổ biến trong hệ thống từ Pentium IV trở lên hay AMD. Cũng giống như SDRAM,
DDR SDRAM cũng có nhiều loại tốc độ khác nhau như PC2100, PC2700, PC3200, PC3500 và
PC3700 (xung làm việc tương ứng là 266MHz, 333MHz, 400MHz, 433MHz và 466MHz).
DRDRAM (Direct Rambus DRAM), một bước ngoặc mới trong lĩnh vực chế tạo memory, hệ
thống Rambus có nguyên lý và cấu trúc chế tạo hoàn toàn khác loại SDRAM truyền thống.
Memory sẽ được vận hành bởi một hệ thống phụ gọi l Direct Rambus Channel có độ rộng 16 bit
và một clock 400MHz điều khiển (có thể lên 800MHz). Theo lý thuyết thì cấu trúc mới có thể trao
đổi thông tin với tốc độ 800MHz x 16bit = 800MHz x 2 bytes = 1.6GB/giây. Kỹ thuật Rambus (của
Rambus và Intel) sẽ cho ra đời loại chân Rambus Inline Memory Module (RIMM) tương đối khác
so với bộ nhớ truyền thống. RAM này hiện nay chỉ được hỗ trợ bởi CPU Intel, tốc độ từ 400 -
800Mhz
Thứ tư, độ tương hợp, một số trường hợp RAM tốc độ nhanh chưa chắc hiệu quả, nên chọn bộ
nhớ có thông số tương thích với bộ nhớ hiện thời trên hệ thống. Nếu DDR-SDRAM PC3700 tốc
độ 466MHz trong khi mainboard chỉ hỗ trợ tối đa RAM 266MHz không hiệu quả bằng loại DDR
SDRAM PC2100 tốc độ 266MHz.
Khi hệ thống báo dung lượng RAM đủ chạy một số ứng dụng và kiểm tra; bởi RAM không tương
thích có thể gây ra sự cố treo máy hoặc đông hình.
Một số RAM được sử dụng trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ
Bộ nhớ Flash là dạng bộ nhớ ghi lại được, không mất, trạng thái ổn định, có chức năng kết hợp
của RAM và ổ đĩa cứng. Bộ nhớ flash lưu bit dữ liệu dưới dạng tín hiệu điện trong ô nhớ (giống
DRAM) nhưng có khả năng nhớ cả khi ngắt điện (giống đĩa cứng). Nhờ đặc tính điện thế thấp, ổn
định, tốc độ cao, bộ nhớ flash thích hợp với rất nhiều ứng dụng di động như máy ảnh số, máy
quay phim số, điện thoại di động, máy in, PDA, máy nhắn tin, máy ghi âm số, máy MP3, hệ thống
GPS.
MRAM RAM từ tính (Magnetic Random Access Memory) kết hợp các nguyên lý công nghệ từ,
nền tảng của nền công nghiệp ổ cứng và sản xuất silicon. Trong MRAM, một từ trường siêu nhỏ
được tạo ra bên trong một ô bộ nhớ trên một con chip. Máy tính sau đó sẽ đo điện trở được tạo
ra bởi từ trường tại bất kỳ thời điểm cho trước nào để xác định xem một ô nhớ sẽ được đọc là
„‟1‟‟ hay „‟0‟‟, được gọi là các khối dữ liệu nhị phân. RAM từ tính có khả năng bảo toàn thông tin
trong máy ảnh số, điện thoại di động, máy in... ngay cả nếu nguồn năng lượng bị tắt đột ngột.
Video Ram (VRAM) được phát triển dựa trên công nghệ FPM (fast page mode), có hai cổng giao
tiếp thay vì một cổng như thông thường: một cổng dành cho chức năng làm tươi màn hình) cổng
còn lại xuất ra màn hình. Nhờ thiết kế này, VRAM hoạt động hiệu quả hơn DRAM trong những
ứng dụng video.
Graphic DDR(GDDR) được phát triển dựa trên công nghệ DDR SDRAM dành riêng cho đồ họa.
Tần số làm việc từ 500MHz đến 800MHz với mục tiêu giảm điện năng tiêu thụ, tăng mật độ chip
nhớ và đơn giản hóa giải pháp tản nhiệt.
SynChronous Graphic Ram (SGRAM) là loại SDRAM thiết kế riêng cho video với chức năng
đọc/ghi đặc biệt. SGRAM cho phép truy xuất và chỉnh sửa dữ liệu theo khối thay vì từng đơn vị
nên giảm bớt số lượt đọc/ghi bộ nhớ và tăng hiệu năng của bộ điều khiển đồ họa.
Base Rambus và Concurrent Rambus công nghệ Rambus được dùng làm bộ nhớ video. Công
nghệ bộ nhớ Rambus dùng làm bộ nhớ chính hiện tại được gọi là Direct Rambus.
Enhance SDRAM (ESDRAM) bộ nhớ cải tiến để tăng tốc độ và hiệu năng, thanh nhớ chuẩn có
thể được tích hợp thêm bộ đệm SRAM (Static RAM) trực tiếp trên chip. ESDRAM là SDRAM có
thêm bộ đệm SRAM để có khả năng làm việc với tần số 200MHz. Cũng tương tự nguyên lý bộ
nhớ đệm ngoài, DRAM cũng dùng một bộ đệm SRAM để lưu dữ liệu thường dùng, nhằm rút
ngắn thời gian truy xuất DRAM. Ưu điểm của SRAM trên chip là tạo lập tuyến bus rộng hơn giữa
SRAM và DRAM, tăng cường băng thông và tốc độ DRAM một cách hiệu quả.
Fast Cycle RAM (FCRAM) được phát triển nhằm phục vụ máy chủ, máy in cao cấp và hệ thống
chuyển mạch viễn thông. Bộ nhớ được phân thành nhiều mảng và có thiết kế hàng đợi nên tăng
được tốc độ truy xuất ngẫu nhiên và giảm điện năng tiêu thụ.
Virtual Channel Memory (VCM) cho phép các “khối” bộ nhớ khác nhau giao tiếp độc lập với bộ
điều khiển nhớ và có đệm riêng. Cách này cho phép mỗi tác vụ hệ thống thành một khối riêng,
không chia sẻ hay dùng chung với các tác vụ cùng chạy khác.




Tối ưu hóa RAM
Thứ tư, 23 Tháng sáu 2004, 18:42 GMT+7
Tags: Ezmem V1, tối ưu hóa, bộ nhớ ảo, Tối ưu hoá, dung lượng, chúng ta, hệ
thống, tiện ích, sử dụng, chương trình, ram, bạn, dùng, bấm, động




+++VỚI EZmem V1.0

Dung lượng siêu nhỏ (file nén chỉ 38KB). Tiện ích miễn phí Ezmem V1.0 sẽ giúp
chúng ta tối ưu hoá lượng RAM mình đang có chỉ bằng một cú bấm chuột đơn
giản.

Chương trình hiển thị cho chúng ta: Tổng dung lượng RAM, lượng RAM đã sử
dụng, lượng RAM còn chưa dùng. Theo thời gian thực đang hoạt động của hệ
thống.
Có ba mức độ cho người dùng lựa chọn: Light, Moderate, Heavy. Đánh dấu chọn
xong, bấm nút Free RAM, chờ vài phút để chương trình hoạt động và bạn sẽ nhận
thấy sự thay đổi đạt hiệu quả đến mức bất ngờ. Tải về từ địa chỉ http://www.e-
systems.ro/downloads.htm

+++ Với Fast Defrag 2.0

Phần mềm do Andrei Dan Zanoaga viết, dung lượng 481KB, miễn phí nếu bạn
không dùng nó vì mục đích kinh doanh. Tương thích trong mọi môi trường
Windows. Bạn có thể tải về từ địa chỉ http://amsn.ro hoặc có thể từ
http://www.webtechgeek.com/Free-Windows-Utilities22.htm

Chương trình gồm 4 phần chính đó là:

1/ System Manager: cung cấp cho chúng ta thông tin sau
+Used Hard Memory: Phần trăm dung lượng RAM và bộ nhớ ảo mà hệ thống
đang                                  sử                                 dụng
+ Total Physical Memory: Tổng dung lượng của RAM (tính bằng KB, MB)
+ Free Physical Memory: Dung lượng RAM còn trống, chưa dùng đến
+ Virtual Memory Size: Không gian đĩa cứng dành cho bộ nhớ ảo
+ Free Virtual Memory: Dung lượng bộ nhớ ảo chưa dùng đến
Ngoài ra System Manager còn cung cấp cho chúng ta thông tin về CPU, tốc độ xử
lý của nó là bao nhiêu, công suất đang sử dụng thế nào.
Để chống phân mảnh cho RAM một cách thủ công, bạn có thể bấm vào nút Clean
hoặc bấm nút phải chuột vào biểu tượng của FAST Defrag trong khay hệ thống.

2/ Task Manager: Cung cấp cho chúng ta thông tin về các ứng dụng đang chạy
trong hệ thống, vị trí ứng dụng đó ở đâu, mỗi ứng dụng đang chạy xầi hết bao
nhiêu dung lượng RAM, dung lượng bộ nhớ ảo.

3/ System Config: Cho phép bạn gọi ra tiện ích System Configuration của
Windows gíông như bạn gọi nó từ StartRunmsconfig vậy. Thực ra hàm ý của chức
năng này muốn chúng ta sử dụng thẻ Startup để cho phép hoặc không cho phép
tiện ích nào sẽ chạy đồng thời cùng Windows để tiết kiệm bộ nhớ của hệ thống cho
những lần khởi động sau.

4/ Fast Options: Cung cấp các tùy chọn cho người dùng như sau

+ Khung Startup Options:

Đánh dấu vào ô Conservative Swap File Usage thì hệ thống chỉ làm việc với các
ứng dụng trên RAM mà thôi, chưa sử dụng đến Swap file. Do đó hệ thống sẽ hoạt
động nhanh hơn. Khi nào khả năng của RAM không đáp ứng kịp thời lúc đó bộ
nhớ            ảo           mới             bổ          sung             vào.
Đánh dấu ô: Start with Windows thì chương trình này sẽ chạy ngay sau lúc
Windows khởi động với biểu tượng là hai thanh RAM màu xanh lá cây nằm trong
khay hệ thống

+ Khung Select Memory Cleanup Method thực ra không có khác biệt lớn khi lựa
chọn cách chống phân mảnh RAM do đó bạn cứ để nguyên theo mặc định

+ Khung Memory Guardian for Automatic Cleanup: Nên đánh dấu để Enable vào
ô này rồi lựa chọn kiểu Server hoặc kiểu máy để bàn. Chương trình FAST Defrag
sẽ giúp chúng ta tối ưu hóa hệ thống nếu làm việc với quảng thời gian dài trong
ngày

				
DOCUMENT INFO
Categories:
Stats:
views:7881
posted:3/24/2010
language:Vietnamese
pages:7