tập đo�n kinh tế by adoka14

VIEWS: 197 PAGES: 23

									NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                                                     QTKD TỔNG HỢP




                                                        MỤC LỤC
        LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................................ 2
        PHẦN I: TÌM HIỂU CHUNG VỀ CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TẠI VIỆT
NAM .................................................................................................................................... 4
           1.      Định nghĩa về Tập đoàn kinh tế ........................................................................... 4
           2.      Sự cần thiết phải thành lập các Tập đoàn kinh tế ................................................ 5
           3.      Đặc trưng của các Tập đoàn kinh tế tại Việt Nam .............................................. 7
        PHẦN II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG QUỐC GIA VIỆT
NAM (VNPT) .................................................................................................................... 10
           1.      Sơ lược về Tập đoàn Bưu chính viễn thông QG Việt Nam .............................. 10
           2.      Những kết quả đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của VNPT ...... 12
           3.      Những khó khăn, hạn chế của VNPT trong hoạt động sản xuất kinh doanh ... 17
        KẾT LUẬN .............................................................................................................. 22
        TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 23




                                                                    1
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                    QTKD TỔNG HỢP



                                      LỜI NÓI ĐẦU
     Việt Nam đang trên con đường phát triển và hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế
quốc tế. Chúng ta đang từng bước gỡ bỏ hàng rào về hành chính, thuế quan… Các
doanh nghiệp của Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh bình đẳng với các tập đoàn
kinh tế đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới đặc biệt là sau khi chúng ta gia nhập tổ
chức thương mại quốc tế WTO. Thực tế, kinh nghiệm các nước cho thấy những tập
đoàn kinh tế mạnh ở cả khối kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân sẽ là “đội quân chủ
lực” đảm bảo quá trình hội nhập thành công. Sự phát triển các tập đoàn kinh tế là tất
yếu của quá trình hợp tác phát triển các loại hình doanh nghiệp, các mối quan hệ hợp
tác đầu tư trên cơ sở nhu cầu phát triển thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong
bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã chủ trương thành lập các tập đoàn kinh tế lớn trong
một số ngành then chốt theo hướng chuyển đổi các tổng công ty nhà nước và khuyến
khích sự phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân. Tuy nhiên trong việc hình thành
và chuyển đổi các tổng công ty thành các tập đoàn kinh tế còn rất nhiều điều tranh
luận. Câu hỏi đặt ra là hiện trạng các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay ra sao? Xu
hướng phát triển của các tập đoàn kinh tế trong thời gian sắp tới như thế nào? Liệu đây
đã là thời điểm thích hợp cho việc xây dựng các tập đoàn kinh tế ở các lĩnh vực khác
nhau, đặc biệt là sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân hay chưa?
     Trong những năm gần đây, hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn
kinh tế nhà nước tại Việt Nam đã có những thành công mong đợi, tuy nhiên bên
cạnh đó, mô hình tập đoàn vẫn tồn tại những khuyết điểm, hạn chế cần khắc phục.
Hiện nay, Việt Nam có 12 tập đoàn kinh tế nhà nước bao gồm: TĐ Bưu chính - Viễn
thông (VNPT), TĐ Than - Khoáng sản (TKV), TĐ Dầu khí (Petro Vietnam), TĐ
Điện lực (EVN), TĐ Công nghiệp Tàu thủy (Vinashin), TĐ Dệt may (Vinatex), TĐ
Cao su (VRG), TĐ Tài chính - Bảo hiểm (Bảo Việt); TĐ Viễn thông Quân đội
(Viettel); TĐ Hóa chất Việt Nam (Vinachem); TĐ Phát triển nhà và đô thị (HUD
Holdings) và TĐ Công nghiệp Xây dựng (Songda).




                                              2
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                               QTKD TỔNG HỢP


     Trong khuôn khổ của bài tiểu luận, tôi đã chọn tập đoàn Bưu chính viễn thông
Quốc Gia Việt Nam (VNPT) để làm đề tài nghiên cứu của mình.
     Bài tiểu luận có 3 phần: phần 1 là những thông tin chung nhất về mô hình Tập
đoàn, bao gồm định nghĩa về Tập đoàn kinh tế, sự cần thiết thành lập Tập đoàn kinh
tế, đặc trưng về Tập đoàn kinh tế tại Việt nam. Phần 2 tôi sẽ tập trung phân tích
những kết quả đạt được, cũng như hạn chế, khó khăn của các Tập đoàn kinh tế trong
hoạt động sản xuất kinh doanh.




                                           3
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                    QTKD TỔNG HỢP




      PHẦN I: TÌM HIỂU CHUNG VỀ CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TẠI VIỆT
                                         NAM
     1. Định nghĩa về Tập đoàn kinh tế
     Tập đoàn kinh tế là một cơ cấu sở hữu được tổ chức thành hệ thống với quy mô lớn,
vừa có chức năng sản xuất - kinh doanh (SXKD), vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm
tăng cường khả năng tích tụ, tập trung cao nhất các nguồn lực (tài chính, lao động, công
nghệ...) để có sức mạnh cạnh tranh trên thị trường nhằm tối đa hoá lợi nhuận thông qua
hoạt động trên nhiều ngành, nhiều lĩnh vực ở nhiều vùng lãnh thổ khác nhau.
     Sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng của Việt Nam đòi hỏi
nền kinh tế Việt Nam phải có những tập đoàn kinh tế mạnh, giữ vai trò chủ đạo và
điều tiết một số lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế để hạn chế sự thao túng và chi
phối của nhiều công ty đa quốc gia và các tập đoàn kinh tế tư bản quốc tế xâm nhập
vào Việt Nam khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế
(WTO).
     Đồng thời, Tập đoàn kinh tế đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm nay nhưng
lại khá mới mẻ so với Việt Nam vì các tập đoàn kinh tế Việt Nam thực sự mới chỉ
đang ở những bước khởi động đầu tiên của sự vận hành với chủ trương nâng cao hiệu
quả hoạt động của các doanh nghiệp (DN) Nhà nước, trong đó có các Tổng công ty
Nhà nước bằng việc thực hiện chuyển đổi hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế.
Đến nay, đã có nhiều tập đoàn kinh tế đã được hình thành từ một số Tổng công ty
mạnh như Dệt may, Than - Khoáng sản; Bưu chính viễn thông, Công nghiệp tàu
thuỷ, Điện lực, Bảo Việt, Công nghiệp Cao su,...
     Tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ - công ty con là hình thức tập đoàn
kinh tế phổ biến hiện nay được hình thành từ sự liên kết các DN trên cơ sở các quan
hệ về đầu tư tài chính, chi phối và gắn kết với nhau về thương hiệu, thị trường. Tuy
nhiên các tập đoàn kinh tế Việt Nam được hình thành trong một nền kinh tế đang
chuyển đổi sang cơ chế thị trường do đó các các tập đoàn mang nhiều đặc trưng khác


                                              4
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                   QTKD TỔNG HỢP


biệt với những tập đoàn kinh tế tư bản nước ngoài đã ra đời, tồn tại và phát triển hàng
trăm năm trong nền kinh tế thị trường.
     2. Sự cần thiết phải thành lập các Tập đoàn kinh tế

     Việc phát triển của các tập đoàn kinh tế là một tất yếu của quá trình hợp tác và
phát triển các loại hình doanh nghiệp, các mối quan hệ hợp tác đầu tư trên cơ sở nhu
cầu phát triển thị trường. Nếu chỉ có các doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể nào dẫn
dắt nền kinh tế, không thể cạnh tranh cũng như hội nhập được. Kinh nghiệm của các
nước phát triển trên thế giới cho thấy rằng những tập đoàn kinh tế lớn là những đầu tàu
trong việc phát triển nền kinh tế. Trong giai đoạn phát triển và hội nhập, trong điều
kiện kinh tế Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt khi gia nhập
WTO thì vai trò của các tập đoàn kinh tế trở nên quan trọng hơn lúc nào hết. Điều này
được thể hiện ở các khía cạnh sau:

     Thứ nhất, tập đoàn kinh tế cho phép huy động được các nguồn lực vật chất,
lao động và vốn trong xã hội vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sự hỗ trợ trong
việc cải tổ cơ cấu sản xuất, hình thành những công ty hiện đại, quy mô có tiềm lực
kinh tế lớn. Việc hình thành tập đoàn kinh tế cho phép phát huy lợi thế kinh tế có quy
mô lớn, khai thác triệt để thương hiệu, hệ thống dịch vụ đầu vào, đầu ra và dịch vụ
chung của cả tập đoàn. Việc hình thành tập đoàn kinh tế còn có ý nghĩa tăng cường
hiệu quả quản lý, sử dụng lợi thế về quy mô và kết hợp các ưu thế của sự chuyên môn
hoá với hoạt động kinh doanh đa dạng và tách bạch được quản lý hành chính và quản
lý hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp của tập đoàn. Bởi vì hầu
hết các tập đoàn đều có các bộ phận nghiên cứu thống nhất, bộ phận thực hiện chức
năng mà một doanh nghiệp riêng lẻ khó có thể đảm đương nổi như thu thập thông tin,
dự đoán thị trường, nghiên cứu kỹ thuật tiên tiến, dự báo xuất khẩu các doanh nghiệp
cùng nghành.

     Thứ hai, tập đoàn kinh tế góp phần mở rộng phân công lao động quốc tế và hợp
tác quốc tế, đẩy nhanh quá trình phát triển. Trong chiến lược kinh doanh các tập đoàn


                                             5
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                    QTKD TỔNG HỢP


kinh tế tìm mọi biện pháp để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận trước hết là
triệt để khai thác các lợi thế so sánh quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế. Tập đoàn
kinh tế tạo ra mối liên hệ chặt chẽ giữa các công ty tạo điều kiện thuận lợi trong việc
thống nhất phương hướng, chiến lược trong phát triển kinh doanh, tăng cường sức
mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của từng công ty thành viên. Bên cạnh việc đi
đầu trong quá trình cạnh tranh khốc liệt với các tập đoàn kinh tế đa quốc gia, các tập
đoàn kinh tế cũng đi đầu trong việc hợp tác, phân công chuyên môn hoá với các đối tác
trong và ngoài nước nhằm tận dụng những ưu thế của nhau, giảm thiểu các chi phí và
tăng thêm lợi nhuận. Chính các tập đoàn kinh tế là lực lượng tiên phong trong việc mở
rộng phạm vi kinh tế quốc tế, là tác nhân chủ yếu thúc đẩy hợp tác kinh tế quốc tế.

     Thứ ba, tập đoàn kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với các nước mới công
nghiệp hoá. Nó bảo vệ nền sản xuất trong nước, cạnh tranh với các công ty đa quốc
gia, tập đoàn kinh tế lớn của các nước khác. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong
nước có thể thâm nhập vào thị trường quốc tế kể cả thị trường các nước phát triển.

     Thứ tư, việc hình thành nên các tập đoàn kinh tế sẽ khắc phục được tình trạng
hạn chế về vốn của các công ty riêng lẻ. Trong tập đoàn kinh tế nguồn vốn được huy
động từ các công ty thành viên và được tập trung đầu tư vào những công ty, những dự
án có hiệu quả nhất, những dự án tạo ra được sức mạnh quyết định cho phát triển tập
đoàn đáp ứng nhu cầu lợi nhuận tối đa cho công ty thành viên và tập đoàn. Việc lưu
thông vốn từ công ty này đến công ty khác giúp cho các công ty có mối liên kết chặt
chẽ hơn, quan tâm đến hiệu quả hơn và giúp nhau phát huy có hiệu quả nguồn vốn của
công ty và của cả tập đoàn.

     Thứ năm, tập đoàn kinh tế có vai trò to lớn trong việc đẩy mạnh nghiên cứu,
triển khai ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh của các công ty
thành viên. Khi các công ty liên kết lại với nhau sẽ tận dụng được các lợi thế của các
thành viên và áp dụng được cho bản thân công ty mình. Sự hợp tác nghiên cứu ứng
dụng khoa học công nghệ trong tập đoàn kinh tế còn cho phép các công ty thành viên


                                              6
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                   QTKD TỔNG HỢP


có khả năng đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào thực tiễn trên một quy mô rộng lớn hơn
nâng cao hiệu quả của hoạt động nghiên cứu và ứng dụng và thu hồi vốn nhanh. Điều
này có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện phát triển nhanh chóng của khoa học công
nghệ hiện nay. Bên cạnh đó tập đoàn kinh tế cũng có ý nghĩa rất lớn trong việc cung
cấp, trao đổi thông tin và những kinh nghiệm quan trọng trong tổ chức nghiên cứu ứng
dụng khoa học công nghệ giữa các công ty thành viên. Thứ sáu, tập đoàn kinh tế là
công cụ điều tiết kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Ở nhiều quốc gia việc xây dựng
các tập đoàn kinh tế được coi là một chiến lược nhằm nhanh chóng rút ngắn khoảng
cách với các nước phát triển khác như Hàn Quốc, Trung Quốc…Các nước này đã dựa
trên sự phát triển của các tập đoàn kinh tế là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
biến đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu. Họ hướng các tập đoàn kinh tế vào ngành, lĩnh vực
then chốt và nền tảng làm nòng cốt và có đủ tiềm lực để mở cửa vươn thế lực ra bên
ngoài.

     3. Đặc trưng của các Tập đoàn kinh tế tại Việt Nam
     Thứ nhất, các Tập đoàn được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi và tổ
chức lại các Tổng công ty Nhà nước theo quyết định của Chính phủ
     Khác với sự hình thành của các tập đoàn kinh tế tư bản nước ngoài (được hình thành
trên cơ sở sáp nhập, mua bán, đầu tư vốn giữa các DN), sự hình thành của hầu hết các tập
đoàn kinh tế Việt Nam theo mô hình Công ty mẹ - con là kết quả và là giải pháp để thực
hiện chủ trương đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DN Nhà nước mà cụ thể
hơn là các Tổng công ty Nhà nước của Chính phủ. Hiện nay đã có 8 tập đoàn kinh tế được
hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con được thành lập từ kết quả của sự chuyển
đổi, sắp xếp lại các Tổng công ty Nhà nước.
     Thứ hai, các Tập đoàn đang hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn,
những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, là một trong những công cụ điều hành
kinh tế vĩ mô của Chính phủ
     Hầu hết các tập đoàn này đều hoạt động trong các ngành kinh tế trọng điểm của
quốc gia như: điện lực, dầu khí, bưu chính viễn thông, than và khoáng sản,... bởi vì đây


                                              7
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                       QTKD TỔNG HỢP


là các ngành, lĩnh vực mà tư nhân và các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư
hoặc khó thể thực hiện được do hạn chế về năng lực tài chính hoặc kinh nghiệm quản lý.
Do đó, hoạt động của các tập đoàn này không chỉ tác động và đóng góp đáng kể cho sự
phát triển kinh tế xã hội mà còn là một trong những công cụ điều tiết hiệu quả kinh tế vĩ
mô của Chính phủ. Việc điều hành các tập đoàn kinh tế cùng tham gia vào việc kìm chế
lạm phát trong năm 2008 là một minh chứng sinh động. Đây có lẽ là đặc trưng rất cơ bản
và rõ nét nhất của các tập đoàn kinh tế Việt Nam hoạt động theo mô hình Công ty mẹ -
Công ty con so với các tập đoàn tư bản nước ngoài và các tập đoàn kinh tế tư nhân.
     Thứ ba, quy mô và khả năng tích tụ vốn của các Tập đoàn kinh tế Việt
Nam còn hạn chế, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp
     Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tập đoàn chỉ được hình thành và có điều kiện phát
triển khi đã đạt tới trình độ nhất định về khả năng tích tụ và tập trung vốn, tài sản và quá
trình tập trung hoá về SXKD, tích tụ, tập trung vốn và tài sản của các Tổng công ty 91
được chuyển đổi thành các tập đoàn kinh tế (Điện lực, Bưu chính viễn thông, Than,...) tuy
có trình độ cao hơn và quy mô lớn hơn so với các Tổng công ty khác nhưng vẫn được
đánh giá là chậm và yếu so với các nước trong khu vực và chưa tương xứng với yêu cầu
hình thành các tập đoàn kinh tế. Chẳng hạn so sánh với quốc gia láng giềng, có điều kiện
và con đường hình thành tập đoàn kinh tế giống Việt Nam là Trung Quốc, thì thấy rằng
Trung Quốc có 503 tập đoàn nhà nước có công ty mẹ là xí nghiệp quốc hữu, đã có tới 3
tập đoàn trong danh sách 500 tập đoàn lớn nhất thế giới về vốn và doanh thu, tài sản trung
bình của một tập đoàn kinh tế là 12,4 tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 24.800 tỷ đồng
Việt Nam. Trong khi đó tại Việt Nam chỉ có 3 Tổng công ty là Tổng công ty Điện lực,
Tổng công ty Dầu khí và Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam là có tổng tài sản
vượt mức trung bình này của Trung Quốc. Nếu so với quy mô vốn các một số tập đoàn
của một số nước trong khu vực và trên thế giới thì các tập đoàn kinh tế nước ta có số vốn
còn quá khiêm tốn. Đồng thời, trong khi phạm vi hoạt động của các tập đoàn kinh tế khác
hầu như dàn trải khắp toàn cầu, các khu vực kinh tế thì phạm vi các hoạt động của các tập
đoàn kinh tế giới hạn trong lãnh thổ Việt Nam, mặc dù có một số tập đoàn đã thực hiện
đầu tư hoặc xuất khẩu ra nước ngoài nhưng tỷ trọng còn nhỏ bé.


                                                8
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                     QTKD TỔNG HỢP


     Thứ tư, hợp tác và liên kết kinh doanh giữa các đơn vị trong Tập đoàn
kinh tế chưa cao, chưa thể hiện được bản chất kinh tế của Tập đoàn kinh tế
     Bản chất các tập đoàn kinh tế Việt Nam là các tổng công ty Nhà nước thực hiện
chuyển đổi trong đó liên kết trong các Tổng công ty chuyển đổi sang tập đoàn kinh tế chưa
phù hợp với liên kết trong tập đoàn kinh tế. Trong các tổng công ty quan hệ giữa các đơn
vị thành viên hầu hết là mang tính hành chính, sự chi phối của tổng công ty đối với đơn vị
thành viên cũng vẫn mang tính hành chính mà chưa thực sự dựa trên cơ sở quan hệ lợi ích
kinh tế và tự nguyện theo nguyên tắc thị trường. Sự điều hành, chi phối của tổng công ty
đối với các đơn vị thành viên không hiệu quả, ví dụ, các tổng công ty hầu như chưa thực
hiện được chức năng điều hoà vốn hợp lý giữa các đơn vị thành viên: tập trung vốn nhàn
rỗi của các DN thành viên thừa vốn cho các đơn vị thành viên thiếu vốn vay,... Đồng thời,
quan hệ về đầu tư vốn và tài chính, thị trường, phân công chuyên môn hoá, nghiên cứu và
phát triển giữa các đơn vị thành viên trong tổng công ty chưa thực sự chặt chẽ và rõ nét
đặc trưng quan hệ giữa các DN thành viên trong tập đoàn kinh tế.
     Thứ năm. trình độ tổ chức quản lý - đặc biệt là quản lý tài chính còn hạn chế
để đáp ứng yêu cầu quản lý đối với tập đoàn kinh tế
     Trong các tổng công ty Nhà nước- đơn vị tiền thân của các tập đoàn kinh tế Việt
Nam do chưa thực hiện phân tách rõ ràng giữa quyền sở hữu hoặc đại diện sở hữu và
quyền điều hành DN do đó chưa có sự chuyên môn hoá và chuyên sâu trong công tác
quản lý.




                                               9
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                               QTKD TỔNG HỢP




         PHẦN II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
   DOANH CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG QUỐC GIA VIỆT
                                  NAM (VNPT)
     1. Sơ lược về Tập đoàn Bưu chính viễn thông QG Việt Nam
     Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Quốc gia Việt Nam” là tổ hợp doanh
nghiệp, không có tư cách pháp nhân, bao gồm: Công ty mẹ là Tập đoàn Bưu chính
Viễn thông Việt Nam và các đơn vị thành viên, được hình thành trên cơ sở tổ chức
lại Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các đơn vị thành viên theo
quyết định của Thủ tướng.
     “Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam” (viết tắt là VNPT) là Công ty mẹ
trong Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Quốc gia Việt Nam. VNPT là công ty nhà
nước, có tư cách pháp nhân, cũng được thành lập theo một quyết định của Thủ
tướng.
     VNPT có các đơn vị trực thuộc là các đơn vị hạch toán phụ thuộc. VNPT còn
có các công ty con, là các đơn vị hạch toán độc lập, được tổ chức dưới các hình
thức như công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên,
công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài, công ty ở nước ngoài, tổng
công ty, công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con và các loại hình
công ty khác theo quy định của pháp luật. Các công ty con còn được gọi là các công
ty bị chi phối.
     Bên cạnh các công ty con và đơn vị trực thuộc thì VNPT còn có các “công
ty liên kết” và “công ty tự nguyện tham gia liên kết”. Công ty liên kết là những
công ty mà VNPT có cổ phần hay vốn góp không ở mức chi phối nhưng lại chịu sự
ràng buộc về quyền lợi, nghĩa vụ với VNPT theo tỷ lệ vốn góp hoặc theo thoả thuận
trong hợp đồng liên kết. Công ty tự nguyện tham gia liên kết với VNPT là doanh
nghiệp mà VNPT không có cổ phần, vốn góp nhưng lại tự nguyện liên kết với
VNPT theo một hình thức nào đó và chấp nhận chịu sự ràng buộc về quyền lợi,


                                           10
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                  QTKD TỔNG HỢP


nghĩa vụ với VNPT. Các công ty con, công ty liên kết, công ty tự nguyện liên kết
và các đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ nghiên cứu, đào tạo, y tế mà VNPT có
đầu tư được gọi là các “đơn vị thành viên” của tập đoàn. Trong số các đơn vị thành
viên này có một đơn vị đặc biệt, đó là Tổng công ty Bưu chính Việt Nam, không
phải do VNPT thành lập mà do Nhà nước trực tiếp thành lập và giao vốn thông qua
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Bản thân TCT Bưu chính Việt Nam cũng
được phép thực hiện kinh doanh đa ngành (trong đó bưu chính là ngành kinh doanh
chính), đồng thời thực hiện các nhiệm vụ công ích về bưu chính.
         Về ngành, nghề kinh doanh, bên cạnh nhiệm vụ kinh doanh theo quy hoạch,
 kế hoạch và chính sách của Nhà nước trong những lĩnh vực truyền thống như
 dịch vụ viễn thông đường trục, dịch vụ viễn thông - công nghệ thông tin, dịch vụ
 truyền thông, sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu, cung ứng vật tư, thiết bị viễn
 thông và công nghệ thông tin và v.v. thì VNPT còn được phép trực tiếp hay gián
 tiếp tham gia vào các lĩnh vực khác như dịch vụ tài chính, tín dụng, ngân hàng, dịch
 vụ quảng cáo, kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng và các ngành nghề
 khác.
         Về mặt sở hữu, Nhà nước là chủ sở hữu của VNPT. Thủ tướng Chính phủ
 trực tiếp thực hiện hoặc uỷ quyền cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
 Chính phủ thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với VNPT.
 Quyền của nhà nước với tư cách là chủ sở hữu của VNPT được đại diện bởi Hội
 đồng quản trị (HĐQT). HĐQT của VNPT có không quá 9 thành viên do Thủ
 tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc thay thế, khen thưởng, kỷ luật theo
 đề nghị của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông.
         Về mặt quản lý, Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của VNPT
 và là người điều hành hoạt động hàng ngày của VNPT, điều hành kế hoạch phối
 hợp kinh doanh theo mục tiêu, kế hoạch phù hợp với Điều lệ VNPT và các nghị
 quyết, quyết định của Hội đồng quản trị.




                                            11
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                    QTKD TỔNG HỢP


     2. Những kết quả đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
         VNPT
     Năm 2009, Tập đoàn đã nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh
doanh, trong đó tổng doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 78.600 tỉ đồng, tăng gần 30%
so với năm 2008, nộp ngân sách nhà nước 7.650 tỉ đồng. Tốc độ tăng trưởng của Tập
đoàn đã được cải thiện rõ rệt thông qua việc chỉ đạo các đơn vị tổ chức lại các lực
lượng bán hàng, bám sát thị trường, bám sát khách hàng, tổ chức tốt các đợt khuyến
mại; xây dựng các cơ chế nội bộ nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị thành viên hoạt
động tốt hơn. Mạng lưới của Tập đoàn tiếp tục được đầu tư mở rộng nhằm đáp ứng
nhu cầu thông tin liên lạc và tăng sức cạnh tranh, trong đó dự án backbone 80 Gb đã
lắp đặt xong đưa vào khai thác; tập trung đầu tư mạng 2G, 3G cho 2 Công ty thông
tin di động, trong đó mạng Vinaphone đã lắp đặt và đưa vào sử dụng thêm hơn 6.000
trạm BTS; mạng Mobifone đã có thêm hơn 5.000 trạm BTS; mạng Internet tiếp tục
khai thác 6 hướng quốc tế và mở rộng sang Lào, Campuchia... với tổng dung lượng
Internet quốc tế tăng trưởng 15 Gbps.
     Chất lượng mạng lưới, chất lượng các dịch vụ của Tập đoàn tiếp tục được duy
trì an toàn, ổn định và ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng,
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, phòng, chống lụt, bão ....

     Theo VNPT, sáu tháng đầu năm nay, doanh thu của tập đoàn duy trì ở mức tăng
trưởng hơn 30%. Trong số 8 tập đoàn kinh tế nhà nước, VNPT có đóng góp vào ngân
sách đứng thứ nhì, chỉ sau Tập đoàn Dầu khí. Mục tiêu năm 2009, VNPT đạt tổng
doanh thu 78.450 tỷ đồng, tăng hơn 18.000 tỷ đồng so với mục tiêu đặt ra hồi đầu
năm. Tuy duy trì được tốc độ tăng trưởng cao nhưng nội tại VNPT còn nhiều ngổn
ngang kể từ sau cuộc “cách mạng” tái cơ cấu mô hình tổ chức bắt đầu từ năm 2006 –
VNPT chuyển thành tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty
con. Như ông Phạm Long Trận, Chủ tịch HĐQT VNPT tại hội nghị triển khai kế
hoạch năm 2009 của tập đoàn đã nhận xét: “VNPT vẫn còn tồn tại những điểm yếu,
hạn chế cần nhận thức rõ và đề ra các giải pháp khắc phục”.


                                              12
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                   QTKD TỔNG HỢP


     Hơn một thập kỷ trước đây, khi nói đến VNPT, người ta nghĩ ngay đến độc
quyền. Theo báo cáo TOP 200 của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP),
đây chỉ là một ví dụ của giai đoạn những năm 1990, khi khuôn khổ pháp lý về Tổng
công ty nhà nước được ban hành và các công ty được thành lập trong một loạt ngành.
Trong một số trường hợp, Tổng công ty chiếm toàn ngành với nhiệm vụ được giao là
phát triển lĩnh vực ngành của họ. Song giữa các Tổng công ty này cũng có sự khác
biệt nữa, đó là tính chất “độc quyền tự nhiên” như than, dầu khí.

     Hội nhập với nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có
nhiều thành phần tham gia. Các Tổng công ty được dỡ bỏ và thậm chí đang “lấn sân”
lẫn nhau. Như Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng công ty Viễn thông quân đội
(Viettel) và nhiều doanh nghiệp khác đã tham gia vào kinh doanh dịch vụ viễn thông
để cạnh tranh với VNPT.

     Tuy nhiên, việc thay đổi các Tổng công ty chỉ là một phần của công cuộc cải
cách DNNN. Cùng với quá trình cổ phần hóa, tức đa dạng hóa sở hữu trong doanh
nghiệp vốn trước đây hoàn toàn thuộc sở hữu Nhà nước, Chính phủ quyết định thí
điểm thành lập một số tập đoàn kinh tế Nhà nước trong những lĩnh vực chủ chốt – kỳ
vọng đây sẽ là những “quả đấm thép” dẫn đầu nền kinh tế về năng lực cạnh tranh,
trình độ nguồn nhân lực, công nghệ, có sức cạnh tranh quốc tế, đóng góp lớn cho
kinh tế, xã hội.

     VNPT là tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tiên do Thủ tướng Chính phủ ký quyết
định thành lập năm 2005. Khi đó, yêu cầu đặt ra đối với Tập đoàn VNPT phải là
doanh nghiệp chủ lực trong lĩnh vực BCVT, có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại,
chuyên môn hóa cao, kinh doanh đa ngành trong nước và quốc tế, trong đó BCVT là
cốt lõi. VNPT hoạt động theo cấu trúc công ty mẹ - công ty con. Công ty mẹ không
thuần túy chỉ là đơn vị hành chính như trước. Nó là một thực thể kinh doanh kiểm
soát các công ty con (gồm các hình thức công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty
liên doanh...), tùy thuộc vào mức đầu tư của nó.


                                             13
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                 QTKD TỔNG HỢP


     Cho đến nay, VNPT đã hoàn thành một nhiệm vụ khó khăn chia tách bưu chính,
viễn thông (việc này đặc biệt có ý nghĩa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho lĩnh
vực viễn thông). VNPT cũng đi đầu về công nghệ với cơ sở hạ tầng viễn thông hiện
đại hóa, rộng khắp (đầu tư phát triển mạng thế hệ mới NGN trên tất cả các lĩnh vực
viễn thông quốc tế, liên tỉnh, nội tỉnh, thông tin di động, tạo nên mạng tổng thể có
khả năng cung cấp đa loại hình dịch vụ). Đầu năm 2008, VNPT đã phóng thành công
vệ tinh viễn thông đầu tiên của Việt Nam lên quỹ đạo.

     Ngoài bảo toàn, phát triển vốn nhà nước, kết quả kinh doanh của VNPT là một
thực tiễn sống động nhất đáp lại cho những chỉ trích DNNN làm ăn kém hiệu quả.
Theo các con số thống kê, năm 2005, doanh thu của VNPT đạt 33.000 tỷ đồng, nộp
ngân sách Nhà nước 5.000 tỷ đồng. Chỉ ba năm sau đó, doanh thu VNPT đã tăng
68%, đạt gần 55,5 nghìn tỷ đồng; nộp ngân sách tăng 36%, đạt hơn 6.800 tỷ đồng.
Tính đến hết năm 2008, VNPT đã cổ phần hóa được hơn 40 đơn vị thành viên, mở
chi nhánh tại Mỹ, lập liên doanh tại Singapore.

     Mặc dù đạt thành quả kinh doanh lạc quan, nhưng công bằng mà nói, VNPT nói
riêng và cả 8 tập đoàn kinh tế Việt Nam nói chung vẫn chưa đạt được sự kỳ vọng đối
với một tập đoàn kinh tế nhà nước như Kế hoạch Phát triển KT-XH 5 năm (2006-
2010) đề ra. Kế hoạch tổng thể này đề ra mục tiêu hình thành các tập đoàn kinh tế
mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, có tiềm lực về tài chính, công nghệ để tham
gia thị trường khu vực và thế giới.

     Chưa kể đến vươn ra thị trường quốc tế, xét về đa dạng hóa ngành nghề, VNPT
bị cho là chậm chân hơn so với các tập đoàn kinh tế nhà nước khác đang bung ra đầu
tư vào ngân hàng, bất động sản, tài chính, chứng khoán... Một lãnh đạo VNPT giải
thích sự chậm trễ của VNPT như vậy là “chậm mà chắc”. Thực tế, thời gian gần đây
các cơ quan chức năng đã bắt đầu tỏ ra lo lắng việc các tập đoàn kinh tế đem tiền đầu
tư sang các lĩnh vực khác.




                                             14
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                  QTKD TỔNG HỢP


     Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi của VNPT không phải là mở rộng, đầu tư sang các
lĩnh vực khác hay vấn đề vốn, cùng những bất cập về khung pháp lý như các tập đoàn
kinh tế nhà nước khác gặp phải mà là hoàn thiện mô hình tập đoàn. Cho đến nay,
VNPT vẫn trong quá trình thí điểm mô hình mặc dù được biết, VNPT đã nghiên cứu
chuẩn bị mô hình hàng chục năm trước khi Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành
lập Tập đoàn. Các Tổng công ty Viễn thông I, II, III không được thành lập vì lý do
tình hình thị trường, công nghệ thay đổi mạnh mẽ. Hiện tại, các viễn thông tỉnh,
thành phố (được tách ra từ Bưu điện) trực thuộc trực tiếp Tập đoàn.

     Khi được hỏi về mô hình tập đoàn VNPT, nhiều vị chuyên gia kinh tế có tiếng
của Việt Nam đều từ chối hoặc tránh trả lời trực tiếp về VNPT. Thứ nhất, việc các
tập đoàn chưa hoàn thiện được mô hình có thể do mô hình lựa chọn chưa phù hợp.
Trên thế giới có nhiều mô hình tập đoàn nhà nước thành công như chaebol của Hàn
Quốc, tập đoàn đầu tư Temasek (Singapore). Đối với lĩnh vực viễn thông, có những
tập đoàn lớn cũng trải qua quá trình tư nhân hóa như France Telecom (Pháp),
Deutsche Telekom (Đức)... Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế là “Không nên
học hết mà phải chọn lọc những cái gì nên học. Thời thế đã thay đổi nhiều, bối cảnh
quốc tế cũng thay đổi, cộng với những đặc thù của Việt Nam nên mô hình có lẽ sẽ
phải có những cái khác biệt”. Có gợi ý là công ty mẹ của VNPT nên hoạch định
chiến lược, quản lý đầu tư vốn, trực tiếp kinh doanh hạ tầng mạng đường trục (bán lại
dịch vụ cho các nhà bán lẻ)... còn các công ty con với tính tự chủ, linh hoạt cao
chuyên kinh doanh các dịch vụ giá trị gia tăng đó.

     Những gợi ý trên đều đã là định hướng của VNPT từ trước. Tuy nhiên, trước
những biến động của thực tế về cạnh tranh, công nghệ, quản ly... đòi hỏi Tập đoàn
VNPT phải tiếp tục đổi mới tìm ra mô hình phù hợp nhất nhằm đạt được mục tiêu
“chiếm lĩnh thị phần trên tất cả các đối tượng khách hàng, các tầng lớp dân cư các địa
bàn và trên tất cả các dịch vụ trọng yếu”




                                             15
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                QTKD TỔNG HỢP


     Hiện VNPT là doanh nghiệp có cơ sở hạ tầng rộng lớn nhất trong các doanh
nghiệp khai thác viễn thông. Cụ thể, VNPT đang sở hữu tới 93% cơ sở hạ tầng của
mạng điện thoại cố định; gần 60% hạ tầng mạng điện thoại di động quốc gia, 100%
số xã có điện thoại của VNPT. Tổng số thuê bao điện thoại của VNPT hiện có là
62.741.000 (tăng 90 lần so với năm 1995). Cho dù trên thị trường di động Việt Nam
có tới 7 mạng di động đang cạnh tranh quyết liệt, nhưng hai mạng di động của VNPT
vẫn là những mạng di động có số thuê bao và doanh thu lớn nhất. Trong đó,
MobiFone nhiều năm liền được đánh giá là mạng di động có chất lượng dịch vụ và
chăm sóc khách hàng tốt nhất. Ở thị trường Internet, VNPT cũng đang chiếm giữ vị
trí chủ đạo. Trong năm 2009, VNPT đã phát triển và chiếm tới 75% thị phần Internet.
Trên thực tế, với sức mạnh của VNPT hiện nay thì trong vài năm tới dịch vụ này cơ
bản vẫn thuộc “sân chơi” của VNPT.

      VNPT hiện có 18.800 điểm phục vụ BCVT – CNTT, bán kính phục vụ bình
quân đã được rút ngắn xuống còn 2,41km/điểm, đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng dịch vụ
BCVT của người dân. Hệ thống bưu cục và điểm BĐVHX đã thường xuyên đáp ứng
tốt mọi nhu cầu thông tin cho Đảng, chính quyền các cấp và nhân dân vùng nông
thôn, vùng sâu vùng xa trên toàn quốc. Với mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu là phổ cập
các dịch vụ BCVT, Internet tới nông thôn, vùng sâu, vùng xa, mô hình điểm BĐVHX
đã thực sự là một điểm sáng vùng nông thôn, góp phần nâng cao dân trí và thúc đẩy
quá trình CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn. Cũng từ nhiều năm nay, VNPT đã
đặt ra chỉ tiêu số xã có báo đọc trong ngày làm thước đo để đánh giá hiệu quả của
công tác phát hành báo chí. Đến nay, người dân của 96% số xã trên cả nước đã được
đọc báo trong ngày.

     Với hạ tầng BCVT hiện đại này (đồng bộ, rộng khắp, dựa trên nền tảng mạng
viễn thông thế hệ mới NGN, tích hợp đa dịch vụ), VNPT đã tham gia đóng góp tích
cực vào việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội của Đảng và
Nhà nước, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội như:
Ổn định và liên tục giảm giá các dịch vụ viễn thông; đóng góp lớn cho việc phổ cập

                                           16
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                  QTKD TỔNG HỢP


thông tin tới người dân, đưa tỷ lệ người dân sử dụng Internet của Việt Nam lên xấp xỉ
25% (trong đó VNPT đóng góp tới 75%); đưa Internet đến phần lớn các điểm
BĐVHX, bưu cục, trường học và hộ gia đình. Bên cạnh đó, VNPT là doanh nghiệp
chủ chốt tham gia các hoạt động cung ứng dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích
của Nhà nước, với 100% sản lượng dịch vụ bưu chính công ích, 63% sản lượng dịch
vụ viễn thông công ích.

        Kết quả hoạt động SXKD của các đơn vị thuộc Tập đoàn Bưu chính viễn
                   thông sau khi thực hiện CPH (Đơn vị: Tỷ đồng)

                               Trước khi         Sau khi             So sánh
        Chỉ tiêu             thực hiện CPH    thực hiện CPH         mức độ tăng
Doanh thu                        2.427            5.331               220%

Nộp NSNN                           200              364                182%
Lợi nhuận sau thuế                                                     159%
                                   158              252

     3. Những khó khăn, hạn chế của VNPT trong hoạt động sản xuất kinh
        doanh

     Việc xây dựng tập đoàn kinh tế là chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm đưa
nền kinh tế phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới. Đảng và nhà nước cũng đã xác
định rõ một số lĩnh vực trọng điểm cần phải hình thành tập đoàn kinh tế. Trong hầu
hết các chính sách phát triển kinh tế của mình, Nhà nước đều thể hiện quan điểm hình
thành các tập đoàn kinh tế mũi nhọn và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Theo
đó một số tổng công ty nhà nước trong một số lĩnh vực mũi nhọn sẽ được chuyển đổi
thành các tập đoàn kinh tế. Trên thực tế trong năm 2006 và đầu năm 2007, tám tập
đoàn kinh tế quốc gia trong các lĩnh vực mũi nhọn như Bưu chính-Viễn thông, Than-
Khoáng sản, Dầu khí, Điện lực, Công nghiệp tàu thuỷ, Dệt may, Cao su, Tài chính-
Bảo hiểm đã được thành lập. Đây là những tổng công ty có quy mô lớn mạng lưới
thành viên có quan hệ mật thiết, liên doanh và hợp tác với nhiều đối tác. Tuy nhiên


                                             17
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                   QTKD TỔNG HỢP


trong quá trình thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước đã xuất hiện sự lúng túng
trong giải quyết các vấn đề cụ thể khi xây dựng đề án. Các vấn đề nảy sinh đó là mối
quan hệ và liên kết giữa các đơn vị trong tập đoàn, cơ chế thực hiện liên kết, cơ cấu tổ
chức bộ máy quản lý (thành phần, quyền, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các bộ
phân quản lý trong bộ máy của tập đoàn), thương hiệu của tập đoàn, quy mô, vốn điều
lệ và các vấn đề khác để xác lập tập đoàn. Ngay như địa vị pháp lý của tập đoàn vẫn
còn những ý kiến khác nhau như tập đoàn có hay không có tư cách pháp nhân, đăng ký
hay không đăng ký, có hay không có bộ máy quản lý riêng. Như vậy, trong những năm
vừa qua vẫn còn rất nhiều những quan điểm khác nhau về nguyên tắc hình thành tập
đoàn kinh tế trên cơ sở Tổng công ty nhà nước. Việc hình thành các tập đoàn chỉ mang
tính thuần tuý thị trường hay chỉ cần quyết định hành chính hay kết hợp cả hai nguyên
tắc trên.

      Bên cạnh việc thí điểm hình thành các tập đoàn kinh tế mũi nhọn theo định
hướng của nhà nước dưới hình thức chuyển đổi các tổng công ty nhà nước thành tập
đoàn kinh tế, Nhà nước cũng khuyến khích sự hình thành và phát triển của khu vực tư
nhân. Khu vực kinh tế tư nhân thời gian qua cũng có những bước phát triển rất đáng
chú ý. Nhiều tập đoàn kinh tế tư nhân đã được hình thành và phát triển trở thành đầu
tầu kinh tế trong một số lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Khu vực kinh tế tư nhân
đã có những bước phát triển rất năng động nơi đóng góp khoảng 40% GDP và một
phần ba tổng đầu tư toàn xã hội, cũng cho thấy một sức sống mạnh mẽ thực sự là động
lực để phát triển đất nước. Các doanh nghiệp tư nhân ở nước ta ngày nay có những thế
mạnh riêng có thể là vốn, công nghệ, mạng lưới phân phối, thương hiệu…nếu như các
doanh nghiệp có thể liên kết với nhau tận dụng được các lợi thế của nhau sẽ tạo điều
kiện cho sự phát triển không chỉ của công ty đó mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển
chung của nền kinh tế.

      Có được điều này là do Nhà nước đã có những chính sách ngày càng cởi mở và
đúng đắn hơn với khu vực kinh tế tư nhân. Các chính sách tự do hoá đã khuyến khích
sự phát triển đa dạng của các loại hình doanh nghiệp mới, tích cực thu hút vốn đầu tư

                                              18
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                  QTKD TỔNG HỢP


nước ngoài (FDI), chú trọng cải cách thị trường vốn…Tất cả các chính sách đó cùng
với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã tạo ra những động lực mới cho khu vực kinh
tế tư nhân phát triển. Trên thực tế trong khoảng 5 năm gần đây khu vực kinh tế tư nhân
Việt Nam có tốc độ tăng trưởng đạt trên 10% (cao hơn so với mức 8% của cả nền kinh
tế), trong đó có những công ty có mức tăng trưởng về doanh thu lên đến hơn 50%.
Hiện nay tại Việt Nam ngày nay cũng đã có những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn mạnh
và có tầm ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế như tập đoàn FPT, Đồng Tâm, Kinh
Đô, Hoà Phát, Hoàng Anh, Trung Nguyên, Vincom…Các tập đoàn này đều có vốn
góp, cổ phần chi phối lẫn nhau ở các công ty con, các công ty liên kết, ngân hàng, đối
tác chiến lược trong và ngoài nước với hàng ngàn cổ đông. Các tập đoàn kinh tế tư
nhân đang có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam và trở
thành những đầu tầu về kinh tế trong các doanh nghiệp tư nhân.

     Mặc dù nhà nước có chủ trương xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân và
tạo điều kiện thuận lợi cho mô hình tập đoàn phát triển nhưng trong thời gian qua các
mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân cũng đã gặp rất nhiều những khó khăn, lúng túng và
trở ngại trong quá trình hình thành và phát triển. Trong mô hình tập đoàn, VNPT cũng
gặp những khó khăn chung trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong hệ thống các
Tập đoàn kinh tế tại Việt Nam.

     Khó khăn đầu tiên mà tập đoàn VNPT gặp phải trong thời gian qua là vấn đề về
pháp lý, mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân ở nước ta thời gian qua chưa được thừa
nhận. Các tập đoàn phải mang tên không chính danh như “Công ty cổ phần tập đoàn”
hoặc công ty “TNHH tập đoàn”. Trong các văn bản pháp lý đã ban hành đều chưa tạo
được hành lang pháp lý cho việc hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân. Tuy nhiên,
trong thời gian tới các khó khăn này sẽ không còn tồn tại bởi nghị định 139/2007/ND-
CP của chính phủ ngày 5 tháng 9 năm 2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
doanh nghiệp. Theo đó, các nhà đầu tư hoàn toàn có quyền lựa chọn cụm từ “tập
đoàn” trong tên riêng khi đăng ký kinh doanh của công ty mẹ, dù công ty được tổ chức
dưới dạng công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn. Nghị định 139 cũng đã

                                             19
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                   QTKD TỔNG HỢP


nêu rõ tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh
theo quy định của luật doanh nghiệp. Việc tổ chức hoạt động của tập đoàn hoàn toàn
do các công ty thành lập tập đoàn tự thoả thuận và quyết định. Quyết định này cũng
chấm dứt tình trạng nhiều cơ quan nhà nước luôn phân vân khi đăng ký đầu tư cho
doanh nghiệp có cụm từ tập đoàn trong tên vì không biết doanh nghiệp có đủ tiêu chí
đủ năng lực làm tập đoàn hay không.

     Khó khăn thứ hai là hiện tại vẫn chưa có một hoạch định, định hướng cụ thể nào
nhằm khuyến khích việc hình thành và hoạt động của của mô hình tập đoàn kinh tế tư
nhân. Các chủ trương hình thành tập đoàn kinh tế tư nhân vẫn mang tính chung chung.
Hệ thống tiêu chí để xác định về tập đoàn đến nay vẫn chưa có, các nghiên cứu cụ thể
để hình thành một chiến lược tổng thể để thúc đẩy sự phát triển của mô hình mới. Có
thể nói rằng những nhân tố mới về tập đoàn kinh tế tư nhân Việt Nam thời gian qua
vẫn đang hoạt động dò dẫm và chưa có được những định hướng mang tầm vĩ mô về
hoạt động của các tập đoàn. Hệ thống quy định chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển
của các tập đoàn.

     Khó khăn thứ ba là những khó khăn tự thân của các tập đoàn trong quá trình hoạt
động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Hầu hết các tập đoàn được thành lập trong vòng 10
năm trở lại đây và vận hành bằng phương thức gia đình chứ chưa thực sự chuyên
nghiệp. Bên cạnh đó là các xu thế phát triển của các doanh nghiệp, cần liên doanh, liên
kết, cổ phần hóa…nên đòi hỏi có cách quản lý công khai, minh bạch, hiệu quả… Do
đó, khi quy mô phát triển lớn hơn thì việc quản lý theo cách cũ không còn phù hợp
trong khi đó thời gian phát triển lại ngắn nên kinh nghiệm quản lý thiếu dẫn đến hầu
hết các doanh nghiệp đều rơi vào tình trạng khủng hoàng về nhân lực đặc biệt là nhân
sự cao cấp.

      Thứ tư, lộ trình hội nhập quốc tế và thực hiện các cam kết WTO buộc nhà
 nước phải xóa bỏ các đặc quyền, đặc lợi và vị thế độc quyền kinh doanh của
 doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, tình trạng bao cấp trong hoạt động tài trợ vốn


                                             20
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                QTKD TỔNG HỢP


cho các DNNN cũng phải được xoá bỏ, và thay vào đó là các khoản vay có tính
thương mại. Tuy nhiên, sự mở rộng nhanh chóng của các tập đoàn vẫn phải dựa
nhiều vào nguồn tài trợ và sự đảm bảo vị thế độc quyền từ phía nhà nước một cách
trực tiếp hay gián tiếp. Hãy khoan nói về tính hiệu quả sử dụng của những đồng
vốn này và những tổn thất về mặt phúc lợi do tình trạng độc quyền đem lại, riêng
việc nhà nước tiếp tục can thiệp sâu vào hoạt động của thị trường đã là một rủi ro,
đặc biệt trong thương mại quốc tế, vì khi ấy nền kinh tế của Việt Nam vẫn tiếp tục
bị coi là một nền kinh tế phi thị trường. Hệ quả là các doanh nghiệp xuất khẩu của
Việt Nam (cả DN dân doanh và DNNN) phải chịu thiệt thòi vì bị đối xử không
công bằng trên thị trường quốc tế và là nạn nhân của những vụ kiện và áp thuế
chống bán phá giá tiếp diễn trong tương lai.




                                               21
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                  QTKD TỔNG HỢP



                                       KẾT LUẬN

     Trong quá trình hội nhập và phát triển ngày nay chúng ta phải xây dựng hệ thống
doanh nghiệp Việt Nam có khả năng cạnh tranh cao, có thương hiệu uy tín, có đủ sức
mạnh trong quá trình hội nhập quốc tế, trong đó các tập đoàn kinh tế lớn đóng vai trò
cốt yếu. Như vậy, phương hướng cơ bản hình thành tập đoàn kinh tế ở nước ta hiện
nay là quá trình sắp xếp đổi mới cổ phần hoá các tổng công ty và các doanh nghiệp nhà
nước đồng thời với quá trình cải cách mạnh mẽ thể chế chính sách thúc đẩy sự phát
triển nhanh chóng của hệ thống doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong môi
trường hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng. Các tập đoàn kinh tế sẽ là nòng cốt
thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và thúc đẩy sự liên kết hợp tác của hệ thống
doanh nghiệp Việt Nam. Như vậy, cùng với sự phát triển kinh tế, các tập đoàn kinh tế
Việt Nam đã được hình thành với những đặc trưng rất cơ bản. Tập đoàn kinh tế nói
chung và tập đoàn VNPT nói riêng đã góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng và
phát triển của nền kinh tế, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đây có thể coi là “tay chèo” chủ lực của con tàu kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, với
lịch sử phát triển hàng trăm năm trên thế giới nhưng đối với Việt Nam, tập đoàn kinh
tế vẫn còn là mô hình kinh tế khá mới mẻ. Vì vậy, để các tập đoàn kinh tế này có thể
ổn định và phát triển, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi tình hình kinh tế thế
giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp thì vấn đề kiểm soát tài
chính trong các tập đoàn kinh tế cần được đặc biệt quan tâm. Một số biện pháp để
giúp các tập đoàn kinh tế có thể thực hiện kiểm soát tài chính một cách hiệu quả có
thể là những gợi ý để các tập đoàn kinh tế Việt Nam tùy theo đặc thù và lĩnh vực hoạt
động của mình có thể vận dụng được. Hy vọng rằng tập đoàn VNPT với những đặc
trưng và sự thay đổi về quản lý, hoạt động và điều hành thông qua thực hiện kiểm
soát tài chính sẽ sớm hoàn thiện, nhanh chóng ổn định và vận hành theo mô hình
mới, tạo nên “những quả đấm thép” đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập.



                                             22
NGUYỄN THỊ THU HÀ                                                QTKD TỔNG HỢP


                             TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Trần Tiến Cường, Tập đoàn kinh tế- Lý luận và kinh nghiệm quốc tế ứng dụng
      vào Việt Nam, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, 2005
  2. Baoli Xu và Minggao Shen (2004), Phát triển tập đoàn doanh nghiệp, Phần 3
      trong chính sách phát triển kinh tế - Kinh nghiệm của Trung Quốc, NXB Giao
      thông vận tải, Hà Nội, 2004
  3. Cục Tài chính doanh nghiệp, Báo cáo tình hình SXKD của các Tập đoàn kinh
      tế Nhà nước năm 2006, 2007.
  4. TS. Đỗ Đức Minh, Viện nghiên cứu tài chính, Rủi ro tài chính và giải pháp
      phòng ngừa trong phát triển kinh tế và hội nhập tài chính, Tạp chí nghiên cứu
      kinh tế số 285
  5. Trần Đình Thiên, Tập đoàn kinh tế Việt Nam, hiện trạng và xu hưỡng phát
  triển, Viện Quản lý Kinh tế TW




                                           23

								
To top