THẦN THOẠI TRUNG QUỐC - DOC

Document Sample
THẦN THOẠI TRUNG QUỐC - DOC Powered By Docstoc
					THẦN THOẠI TRUNG QUỐC

Sự tích Bành Tổ
Theo sự tích, Bành Tổ là tên một ngƣời sống lâu đến nghìn tuổi. Sự tích đó nhƣ sau: Thời xƣa, nhà nọ sinh đƣợc một bé trai kháu khỉnh, mặt mũi sáng sủa, đặt tên là Bành Nhi. Có một vị thầy bói đi qua thấy chú bé liền thất kinh nói rằng: "Tội nghiệp, thằng bé đĩnh ngộ thế mà 10 tuổi đã phải chết!" Cha mẹ cậu bé hoảng hốt, xin thầy cứu giúp. Thầy liền bảo cha mẹ cậu bé phải làm theo đúng các bƣớc ông chỉ dẫn. Sáng hôm sau, Bành Nhi bèn bƣng một mâm đào vừa to vừa ngon lên núi, tới nơi thầy bói dặn, thì thấy ở nơi đó suối chảy, hạc bay, mây vờn tùng bách, trên một tảng đá phẳng có hai ông tiên đang ngồi đánh cờ tƣớng. Bành Nhi rón rén lại gần, nhẹ nhàng đặt mâm đào xuống rồi vòng tay ngồi đợi. Hai ông tiên mải đánh cờ, thấy có đào ngon bèn cứ thế cầm lên, vừa đánh cờ vừa thƣởng thức đào. Khi đánh xong ván cờ, hai vị thần mới phát hiện ra chú bé dâng đào lấy làm thích lắm, bèn hỏi chuyện. Bành Nhi bèn kể hết mọi chuyện của cậu. Té ra hai vị tiên đó là Nam Tào và Bắc Đẩu, giữ sổ sinh tử trên Thiên đình. Giở sổ ra, hai ông thấy số tuổi của Bành Nhi đến số 10 là hết. Cả hai bèn bàn nhau thêm một nét phẩy lên trên chữ "thập", biến chữ "thập" (十) thành chữ "thiên" (千, hay nghìn). Thế là Bành Nhi đƣợc sống đến nghìn tuổi. Từ sự tích này mới có câu "Sống lâu nhƣ ông Bành Tổ".

Điển cố Văn học
Bành Tổ: Chỉ ngƣời sống lâu. Theo "Thần tiên truyện" thì Bành Tổ là một ngƣời họ Tiên tên Khanh, là cháu xa đời vua Chuyên Húc. Vua Nghiêu phong cho ông đất Đại Thành (tức Bành Thành) vì thế nên gọi ông là Bành Tổ. Trải qua nhà Hạ đến cuối nhà Ân, ông đã 767 tuổi mà vẫn còn khoẻ, đƣợc mời ra giữ chức Đại phu. Thuở nhỏ, ông thích điềm tĩnh, không thiết gì công danh phú quý, chủ việc dƣỡng sinh. Khi phải ra làm quan, ông thƣờng cáo ốm ở nhà, không dự gì đến chính sự.

Tư tưởng Đạo gia
Theo Trang Tử: Thiên địa mạc đại vu thu hào chi mạt, nhi đại sơn vi tiểu; mạc thọ vu thương tử, nhi Bành Tổ vi yểu. Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất. Dịch: Thiên hạ không có gì lớn bằng cái đầu chiếc lông của chim và thú vào mùa thu; còn núi Thái thì nhỏ. Không có gì sống lâu bằng đứa trẻ chết non; còn ông Bành Tổ thì chết yểu. Trời đất với ta cùng sinh ra; vạn vật với ta là một.

Khái niệm khác

Một số tài liệu có nhắc đến Bành Tổ nhƣ một tên gọi khác của Bàn Cờ, một ngƣời Việt. Họ Bàn đọc là Bàng (Hồng Bàng), nhƣng theo lối đọc miền Nam mấy âm đó xuýt xoát nên đọc là Bành. Tƣơng truyền mồ mả ông còn đâu đó trong miền rừng núi tỉnh Quảng Đông, ông mới đƣợc đƣa vào Trung Hoa đời Tam Quốc trong quyển "Tam ngũ lƣợc kỳ" của Từ Chỉnh và đến đời nhà Tống thì đƣợc đƣa vào Triết.

*HẰNG NGA
Hằng Nga (tiếng Trung: 姮娥), Thường Nga (tiếng Trung:嫦娥) hay đơn giản là chị Hằng, là một nhân vật thần thoại trong truyền thuyết của ngƣời Trung Quốc và một số nền văn minh chịu ảnh hƣởng của nền văn minh Trung Hoa, nữ thần của mặt trăng. Không giống nhƣ các vị thần mặt trăng đã đƣợc nhân cách hóa của các nền văn minh khác, Hằng Nga chỉ sống trên Mặt Trăng. Nhƣ là "ngƣời phụ nữ trên Mặt Trăng", Hằng Nga có thể coi là sự bổ sung cho khái niệm ngƣời đàn ông trên Mặt Trăng của ngƣời phƣơng Tây. Miệng núi lửa trên Mặt Trăng Chang-Ngo do IAU đặt là lấy theo tên gọi Thƣờng Nga. Hằng Nga là đề tài của một vài truyện cổ tích trong truyền thuyết Trung Hoa, phần lớn đều gắn liền với các thành phần sau: Hậu Nghệ-ngƣời bắn cung; vị vua-hoặc là nhân từ hoặc là độc ác; thuốc trƣờng sinh; mặt trăng; thỏ ngọc. Ngƣời ta cũng cho rằng Hằng Nga sống trong cung Quảng Hàn.

Truyền thuyết
1/- Với Hậu Nghệ

a/-Phiên bản 1
Theo phiên bản này, Hằng Nga và chồng của mình là Hậu Nghệ đã từng là những vị thần bất tử sống trên thƣợng giới. Một ngày kia, mƣời ngƣời con trai của Ngọc Hoàng biến thành mƣời mặt trời, làm cho mặt đất trở nên nóng bỏng và khô cằn. Thất bại trong việc ra lệnh cho các con mình ngừng phá hủy mặt đất, Ngọc Hoàng triệu Hậu Nghệ đến cứu giúp. Hậu Nghệ, bằng tài bắn cung của mình, đã bắn hạ chín mặt trời, chỉ để lại một ngƣời con trai của Ngọc Hoàng làm mặt trời. Ngọc Hoàng rõ ràng là không vui mừng gì với giải pháp của Hậu Nghệ trong việc cứu mặt đất và các sinh linh trên đó: chín con trai của ông đã chết. Nhƣ là một sự trừng phạt, Ngọc Hoàng đày Hậu Nghệ và Hằng Nga xuống hạ giới để sống cuộc sống của con ngƣời. Cảm nhận thấy là Hằng Nga rất đau khổ vì bị mất khả năng bất tử, Hậu Nghệ quyết định lên đƣờng đi tìm thuốc trƣờng sinh trong một cuộc hành trình dài và đầy gian khổ, nguy hiểm để hai ngƣời có thể trở lại cuộc sống bất tử. Vào cuối cuộc hành trình, Hậu Nghệ đã gặp đƣợc Tây Vƣơng Mẫu. Tây Vƣơng Mẫu đồng ý cho Hậu Nghệ một viên thuốc, nhƣng dặn rằng mỗi ngƣời chỉ cần nửa viên để trở thành bất tử. Hậu Nghệ mang viên thuốc về nhà và cất nó trong một cái hộp. Hậu Nghệ dặn Hằng Nga không đƣợc mở chiếc hộp và sau đó rời khỏi nhà trong một khoảng thời gian (tại sao?). Giống nhƣ Pandora trong truyền thuyết Hy Lạp, Hằng Nga trở thành ngƣời tò mò: Nàng mở chiếc hộp và nhìn thấy viên thuốc ngay khi Hậu Nghệ quay lại nhà. Sợ rằng Hậu Nghệ có thể nhìn thấy mình đang lục lọi chiếc hộp, nên vô tình Hằng Nga đã nuốt chửng viên thuốc. Ngay lập tức Hằng Nga bay lên trời do thuốc quá mạnh. Mặc dù Hậu Nghệ muốn bắn Hằng Nga để tránh không cho

nàng bị lơ lửng trên bầu trời, nhƣng chàng không thể nhằm mũi tên vào nàng. Hằng Nga cứ bay lên mãi cho đến khi hạ xuống đƣợc mặt trăng. Trên cung trăng, Hằng Nga kết bạn với một con thỏ ngọc đang chế thuốc trƣờng sinh, cũng đang sống trên cung trăng. Một ngƣời bạn khác là ngƣời thợ đốn củi Ngô Cƣơng. Ngƣời thợ đốn củi này trƣớc đó đã làm cho các vị thần bực tức vì cố gắng trở thành bất tử và vì thế đã bị đày tới cung trăng. Ngô Cƣơng chỉ đƣợc rời khỏi cung trăng nếu có thể hạ đƣợc một cây gỗ mọc ở đó. Vấn đề là mỗi lần chàng chặt cây thì thân cây lại liền ngay lại, điều này làm cho chàng vĩnh viển phải ở lại cung trăng.

b/- Phiên bản 2
Hằng Nga là một cô gái trẻ sống trong cung điện của Ngọc Hoàng trên thiên giới, nơi chỉ có các vị thần tiên bất tử sống. Một ngày, nàng vô tình đánh vỡ một chiếc bình sứ quý báu. Vô cùng bực tức, Ngọc Hoàng đày nàng xuống trần, nơi con ngƣời sinh sống. Nàng chỉ có thể trở về trời nếu nhƣ làm đƣợc những việc có ích khi sống tại mặt đất. Hằng Nga bị hóa thành con trong một gia đình nông dân nghèo khổ. Khi nàng 18 tuổi, một ngƣời thợ săn trẻ tuổi là Hậu Nghệ từ làng bên nhìn thấy nàng, khi đó đã là một cô gái trẻ và đẹp. Họ trở thành bạn của nhau. Một ngày kia, một hiện tƣợng lạ xảy ra - mƣời mặt trời cùng xuất hiện trên bầu trời thay vì chỉ có một, làm mặt đất bị cháy. Hậu Nghệ, một ngƣời bắn cung tài giỏi, đã cố gắng để bảo vệ mặt đất. Chàng lần lƣợt bắn hạ chín mặt trời. Sau đó Hậu Nghệ trở thành vua và cƣới Hằng Nga. Nhƣng Hậu Nghệ nhanh chóng trở thành một bạo chúa. Hậu Nghệ tìm kiếm sự bất tử bằng cách ra lệnh chế thuốc trƣờng sinh để kéo dài cuộc sống của mình. Thuốc trƣờng sinh dƣới dạng một viên thuốc gần nhƣ đã sẵn sàng khi Hằng Nga nhìn thấy nó. Nàng đã nuốt viên thuốc này (hoặc là vô tình hoặc là có chủ ý). Việc này làm Hậu Nghệ, ngƣời đến ngay sau Hằng Nga, tức giận. Cố gắng bỏ chạy, Hằng Nga đã nhảy qua cửa sổ của căn phòng ở tầng trên của cung điện-- và thay vì bị rơi xuống thì nàng lại bay lên đƣợc về hƣớng mặt trăng. Hậu Nghệ cố gắng bắn hạ nàng nhƣng không thành. Bạn đồng hành của Hằng Nga trên cung trăng là một con thỏ ngọc đang nghiền thuốc trƣờng sinh trong một chiếc cối giã lớn. Trên cung trăng còn có một ngƣời thợ đốn củi đang cố gắng đốn hạ cây quế (Cinnamomum aromaticum), nguồn tạo ra cuộc sống. Nhƣng chàng càng đốn nhanh bao nhiêu thì thân cây lại liền lại nhanh bấy nhiêu và chàng không bao giờ đạt đƣợc mục đích của mình. Ngƣời Trung Quốc sử dụng hình ảnh cây quế để giải thích sự sống có sinh có tử trên Trái Đất - các cành cây luôn luôn bị chặt - đó là cái chết, nhƣng các chồi mới cũng luôn luôn sinh ra - đó là sự sống. Trong thời gian đó, Hậu Nghệ cũng đã tới mặt trời và xây cung điện ở đó. Vì thế Hằng Nga và Hậu Nghệ trở thành tiêu biểu cho âm (Thái Âm-tức mặt trăng) và dƣơng (Thái Dƣơng-tức mặt trời).

c/- Vị vua hung ác
Nhiều năm sau khi đã trở thành thần mặt trăng, Hằng Nga nhìn xuống mặt đất và thấy có một tên vua hung ác ngồi trên ngai vàng. Để giúp đỡ mọi ngƣời, Hằng Nga đã tái sinh thành một ngƣời

và xuống mặt đất. Các thành viên khác trong gia đình nàng đã bị tên vua này giết chết hoặc bắt làm nô lệ, nhƣng Hằng Nga đã trốn thoát về vùng nông thôn. Trong thời gian ấy, tên vua hung ác đã có tuổi và bị ám ảnh bởi ý nghĩ tìm kiếm thuốc trƣờng sinh. Hắn bắt mọi ngƣời đến để tra hỏi cách tìm ra thuốc trƣờng sinh; lẽ dĩ nhiên là không ai biết, nhƣng tên vua này không chấp nhận các câu trả lời và hành hình tất cả những ngƣời không có câu trả lời hoặc có câu trả lời mà ông ta không thỏa mãn. Ở nông thôn, Hằng Nga gặp Quan Âm, và Quan Âm đã đƣa cho Hằng Nga một viên thuốc "trƣờng sinh" nhỏ. Hằng Nga đem viên thuốc tới cho tên vua. Tên vua đa nghi này ngờ là thuốc độc nên đã ra lệnh cho Hằng Nga thử trƣớc. Sau khi nàng thử và không có biểu hiện ngộ độc nào thì tên vua kia uống viên thuốc và chết ngay lập tức. Sau đó, Hằng Nga cũng rời khỏi thế giới con ngƣời. Do nếm ít nên tác động của viên thuốc chỉ là làm chậm lại cái chết của nàng. Tuy nhiên, thay vì hấp hối, nàng đã kịp thời quay lại mặt trăng để biến thành nữ thần của cung trăng.

* Đạo giáo
Trong Đạo giáo, Hằng Nga đƣợc coi là vị thần mặt trăng (nguyệt thần), gọi là Thái Âm tinh quân, tôn xƣng là Nguyệt Cung Hoàng Hoa Tố Diệu Nguyên Tinh Thánh Hậu Thái Âm Nguyên Quân, hoặc là Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Quân Hiếu Đạo Minh Vương.

*PHỤC HI
Phục Hy (chữ Hán: 伏羲), khoảng năm 2800 trƣớc Công Nguyên, là ngƣời đầu tiên trong ba vị vua huyền thoại của Trung Quốc cổ. Ông là một nhân vật văn hóa đƣợc cho là ngƣời phát minh ra chữ viết, nghề đánh bắt cá, và bẫy thú. Kinh Dịch đƣợc cho là do ông đọc Hà Đồ (bản đồ sông Hoàng Hà ???). Theo truyền thuyết, một cách sắp xếp của Bát quái (八卦) của Kinh Dịch đã hiện lên trƣớc ông một cách thần bí. Cách sắp xếp này có trƣớc biên soạn Kinh Dịch trong thời nhà Chu. Phục Hy đƣợc cho là đã phát hiện cấu trúc Bát quái từ các dấu trên lƣng một con long mã (có sách viết là một con rùa) nổi tên từ dƣới sông Hoàng Hà. Phát kiến này còn đƣợc cho là nguồn gốc của thƣ pháp. Sách Bạch hổ thông nghĩa (白虎通義) của Ban Cố (班固 - 32 – 92), thời đầu của nhà Hậu Hán, đã viết về tầm quan trọng của Phục Hy nhƣ sau: Thời đầu, còn chƣa có đạo đức hay trật tự xã hội. Ngƣời chỉ biết đến mẹ, không biết cha. Khi đói, ngƣời ta tìm thức ăn, khi thỏa mãn, ngƣời ta vứt đồ còn lại. Họ ăn thịt cả lông, uống máu, và che thân bằng da thú và vỏ cây. Rồi Phục Hy đến, nhìn lên ngắm trời, nhìn xuống ngắm đất. Ông hợp chồng với vợ, sắp đặt ngũ hành, và đề ra luật lệ cho con ngƣời. Ông đề ra bát quái, để thu tóm sự thống trị thiên hạ. —Ban Cố. Bạch hổ thông nghĩa. trích từ Kinh dịch.

Phục Hy dạy dân nấu ăn, dùng lƣới đánh cá, và săn bắn bằng vũ khí sắt. Ông thể chế hóa hôn nhân và thực hiện buổi tế trời đầu tiên. Một bia đá, niên đại 160 CE, vẽ hình Phục Hy với Nữ Oa - ngƣời vừa là vợ vừa là chị em gái của ông. Cùng với Thần Nông và Hoàng Đế, Phục Hy còn đƣợc cho là ngƣời phát minh ra đàn cổ cầm.

*VĂN XƢƠNG ĐẾ QUÂN
Văn Xương Đế Quân (文昌帝君) hay Văn Xương Tinh (文昌星 ) là vị thần đƣợc dân gian lẫn Đạo giáo tôn sùng là thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân. Văn Xƣơng là tên vì sao, cũng gọi là sao Văn Khúc (Văn Khúc tinh) hoặc sao Văn (Văn tinh). Ngƣời Trung Quốc thời xƣa cho rằng đây là tinh tú nắm giữ công danh và văn vận của thế nhân. Đạo giáo đã sớm có tín ngƣỡng Văn Xƣơng, trong Lão Quân Âm Tụng Giới Kinh chép: "Đƣơng giản trạch chủng dân, lục danh Văn Xƣơng cung trung." (Phụ trách tuyển chọn phẩm hạng dân chúng, ghi danh vào cung Văn Xƣơng). Đến đời Nguyên (1279–1368) và đời Minh (1368–1644), các đạo sĩ lợi dụng tín ngƣỡng dân gian về Văn Xƣơng Đế Quân mà viết ra "Thanh Hà Nội Truyện" và "Tử Đồng Đế Quân Hóa Thƣ"... kể lại những thần tích của Văn Xƣơng Đế Quân. Các sách viết rằng: Văn Xương Đế Quân vốn sinh đầu đời Chu, đã trải 73 kiếp hoá thân, từng là sĩ đại phu, cuối đời Tây Tấn ngài giáng sinh nơi đất Thục, tên là Á họ là Trương, tự là Bái Phu, được lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế cho chưởng quản Văn Xương phủ và lộc tịch (sổ sách về quan lộc) của nhân gian. Đạo Tạng Tập Yếu thu thập quyển Văn Xƣơng Đế Quân Bản Truyện viết vào những năm Sùng Đức (1636–1648) đời Thanh (1644–1911). Trong đó ghi rằng: "Văn Xương Đế Quân họ là Trương, húy là Thiện Huân, có những thần tích linh dị, phàm nhương tai khử họa đảo vũ cầu tự, hễ có thành tâm tất có ứng nghiệm, có thể trấn phục yêu ma tảo trừ dịch bệnh. Ngài được gọi là Văn Chương Tư Mệnh vì các giới quý tiện văn vũ y bốc sĩ nông công thương hễ có lòng mong cầu công danh đều trông cậy vào ngài. Ngài cư ngụ nơi cung Văn Xương nơi chòm sao Tử Vi, thường giáng cơ viết kinh, hiển mộng báo tin, phân thân ứng hóa, cứu độ nhân sinh." Trong Tử Đồng Đế Quân Hóa Thƣ (do Đàm Tiễu viết đầu thế kỷ X) tóm lƣợc 17 kiếp của Văn Xƣơng Đế Quân, nhƣng nội dung hết sức hoang đƣờng. Có lẽ sáng tác này của đạo sĩ Đàm Tiễu muốn củng cố và chuyển tín ngƣỡng Văn Xƣơng Đế Quân từ một tín ngƣỡng dân gian sang tín ngƣỡng của Đạo giáo.

*VĂN XƢƠNG ĐẾ QUÂN (CAO ĐÀI TỪ ĐIỂN)

Văn Xương Đế Quân:


文昌帝君

"Văn Xƣơng Đế Quân đƣợc dân gian lẫn Đạo giáo tôn sùng là Thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân. Văn Xƣơng là tên vì sao, cũng gọi là sao Văn Khúc (Văn Khúc tinh hoặc Văn tinh). Ngƣời Trung quốc xƣa cho rằng đây là tinh tú nắm giữ công danh và văn vận của thế nhân. Sự kiện Văn Xƣơng Đế Quân đƣợc dân gian và Đạo giáo phụng thờ có liên quan đến thần Tử Đồng Trƣơng Á Tử. Đời Đông Tấn (317-420), năm Ninh Khang thứ 2 (374) triều vua Hiếu Vũ Đế [Tƣ Mã Diệu], một ngƣời nƣớc Thục tên là Trƣơng Dục tự xƣng là Thục Vƣơng, khởi nghĩa chống Phù Kiên và hy sinh. Dân chúng quận Tử Đồng (Tứ Xuyên) lập miếu thờ (gọi là Trƣơng Dục từ) tại núi Thất Khúc, tôn Ngài là Lôi Trạch Long Thần. Trên núi Thất Khúc cũng có một miếu thờ thần Tử Đồng Trƣơng Á Tử. Vì hai miếu gần nhau, ngƣời đời sau mới gọi chung hai thần là Trƣơng Á Tử hoặc Trương Á Tử Sĩ Tấn chiến một (Trƣơng Á Tử, quan đời Tấn, chết trong chiến tranh). Sự việc Trƣơng Dục có chép trong Tấn Thƣ. Thần Trƣơng Á Tử (cũng gọi Trƣơng Ác Tử) đƣợc ghi chép trong Hoa Dƣơng Quốc Chí, quyển 2: "Tử Đồng huyện, quận trị, hữu Thiện Bản tự, nhất danh Ác Tử" (huyện Tử Đồng là một quận trị có miếu Thiện Bản, một tên khác là Ác Tử). Trong dân gian thƣờng truyền nhau sự hiển linh thần dị của thần Tử Đồng Trƣơng Á Tử. Thái Bình Hoàn Vũ Ký quyển 84 mục Kiếm Châu Tử Đồng huyện có trích dẫn Quận Quốc Chí rằng: "Ác Tử tích chí Trường An kiến Diêu Trường, vị viết: Kiếp hậu cửu niên, quân đương nhập Thục, nhược chí Tử Đồng Thất Khúc sơn, hạnh đương kiến tầm." (Xƣa Ác Tử đến Trƣờng An gặp Diêu Trƣờng bảo rằng: 9 năm sau, ngƣời phải vào Thục, nếu đến núi Thất Khúc huyện Tử Đồng, may mắn thì tìm gặp ta). Thập Lục Quốc Xuân Thu Tập Bổ - Hậu Tần Lục ghi rằng: "Tiền Tần Kiến Nguyên thập nhị niên (376), Diêu Trường chí Tử Đồng Thất Khúc sơn, kiến nhất thần nhân vị chi viết: Quân tảo hoàn Tần, Tần vô chủ, kỳ tại quân hồ? Trường thỉnh kỳ tính thị, viết: Trương Ác Tử dã. Ngôn cật bất kiến. Chí cứ Tần xưng đế, tức kỳ địa lập Trương Tướng công miếu tự chi" (Năm Kiến Nguyên thứ 12 [tiền Tần, 376], Diêu Trƣờng đến núi Thất Khúc ở huyện Tử Đồng, gặp một thần nhân bảo rằng: Ngƣơi hãy sớm quay về Tần, Tần không có chủ, chẳng phải chủ ở nơi ngƣơi sao? Trƣờng xin hỏi danh tánh, ngƣời đó đáp: Trƣơng Ác Tử đây. Nói xong thì chẳng thấy ngƣời đó. Đến lúc Tần xƣng đế, nơi nầy lập miếu Trƣơng tƣớng công mà thờ). Khi loạn An Lộc Sơn nổi lên, Đƣờng Huyền Tông lánh nạn chạy vào đất Thục, trên đƣờng đi ngang núi Thất Khúc, nghĩ đến Trƣơng Á Tử anh liệt kháng Tiền Tần, bèn dừng chân vái lạy. Tƣơng truyền khi tá túc núi Thất Khúc, Huyền Tông mộng thấy Trƣơng Á Tử hiển linh mách

rằng, không bao lâu nữa, Huyền Tông sẽ trở thành Thái Thƣợng Hoàng. Hiện nay trên núi Thất Khúc còn dấu tích "Ứng mộng tiên đài" của Đƣờng Huyền Tông. Năm Quảng Minh thứ 2 đời Đƣờng, Hy Tông lánh loạn Hoàng Sào vào Thục, đi ngang núi Thất Khúc cũng vào vái lạy, truy phong Trƣơng Á Tử là Tế Thuận Vƣơng và cởi bội kiếm tặng cho Thần. Thần Tử Đồng Trƣơng Á Tử vì đƣợc các vua Đƣờng sùng bái, thanh danh lan truyền xa, từ một vị Thần địa phƣơng trở thành một đại thần khắp Trung quốc. Năm Hàm Bình thứ 3 (1000) triều vua Tống Chân Tông (trị vì 998-1023) (Bắc Tống), Đô Ngu Hầu ở Ích Châu là Vƣơng Quân nổi loạn, thần Tử Đồng linh hiển trợ giúp vua diệt quân phiến loạn. Tống Chân Tông bèn sắc phong Trƣơng Á Tử là Anh Hiển Vũ Liệt Vƣơng, đồng thời cho tu bổ miếu thờ. Đời Nam Tống, năm Thiệu Hƣng thứ 10 (1140), vua Tống Cao Tông (trị vì 1127-1162) cho đại tu Tử Đồng Thần miếu và sắc phong miếu thờ là Linh Ứng Từ. Vua Tống Quang Tông (trị vì 1190-1194) truy phong Trương Á Tử là Trung Văn Nhân Vũ Hiếu Đức Thánh Liệt Vương. Tống Lý Tông (trị vì 1225-1264) truy phong Trƣơng Á Tử là Thần Văn Thánh Võ Hiếu Đức Trung Nhơn Vương. Đời Nguyên, năm Diên Hựu thứ 3 (1316), vua Nhân Tông (trị vì 1312-1320) sắc phong Trƣơng Á Tử là Phụ Nguyên Khai Hóa Văn Xương Tư Lộc Hoằng Nhơn Đế Quân và khâm định là Trung Quốc Hiếu Gia Ích Dân Chính Trực Thần. Kể từ đó, thần Tử Đồng và sao Văn Xƣơng đƣợc hợp nhất thành một danh xƣng là Văn Xương Đế Quân. Từ đời Tống rất thịnh hành vô số câu chuyện linh dị kể lại thần Tử Đồng hiển linh phù hộ các sĩ tử thi đậu làm quan, cho nên việc phụng thờ Ngài càng thêm thịnh. Đời Nam Tống, Ngô Tự Mục trong quyển Mộng Lƣơng Lục thứ 14 chép rằng Tử Đồng Đế Quân tại đạo quán Thừa Thiên ở Ngô Sơn là thần nƣớc Thục, chuyên nắm giữ lộc tịch (sổ sách về quan lộc) của con ngƣời, nói chung các sĩ tử bốn phƣơng đi thi cầu danh đều xin Ngài ban phúc. Ngài đƣợc phong là Huệ Văn Trung Vũ Hiếu Đức Nhân Thánh Vương (Tử Đồng Đế Quân tại Ngô Sơn Thừa Thiên quán, thử Thục trung thần, chuyên chưởng lộc tịch, phàm tứ phương sĩ tử cầu danh phó tuyển giả tất đảo chi. Phong vương tước viết Huệ Văn Trung Vũ Hiếu Đức Nhân Thánh Vương). Cuối đời Nam Tống, các châu và phủ đều lập nhiều miếu thờ Tử Đồng Đế Quân. Nhƣ vậy, những tƣợng thờ Văn Xƣơng Đế Quân trong các chùa miếu và đạo quán ngày nay tức là tƣợng Tử Đồng Đế Quân. Đạo giáo đã sớm có tín ngƣỡng Văn Xƣơng, trong Lão Quân Âm Tụng Giới Kinh chép: Đương giản trạch chủng dân, lục danh Văn Xương cung trung. (Phụ trách tuyển chọn phẩm hạng dân chúng, ghi danh vào cung Văn Xƣơng). Đến đời Nguyên (1279-1368) và đời Minh (1368-1644) các đạo sĩ lợi dụng tín ngƣỡng dân gian về Văn Xƣơng Đế Quân mà viết ra "Thanh Hà Nội Truyện" và "Tử Đồng Đế Quân Hóa Thư" kể lại những thần tích của Văn Xƣơng Đế Quân.

Sách viết rằng: "Văn Xương Đế Quân vốn sanh đầu đời Chu (Châu), đã trải 73 kiếp hóa thân, từng là sĩ đại phu. Cuối đời Tây Tấn, Ngài giáng sanh nơi đất Thục tên là Á, họ là Trương, tự là Bái Phu, được lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế cho chưởng quản Văn Xương Phủ và lộc tịch (sổ sách về quan lộc) của nhân gian." Đạo Tạng Tập Yếu thu thập quyển Văn Xƣơng Đế Quân Bản Truyện viết vào những năm Sùng Đức (1638-1648) đời Thanh, trong đó ghi rằng: "Văn Xương Đế Quân họ là Trương, húy là Thiện Huân, có những thần tích linh dị, phàm nhương tai khử họa, đảo vũ, cầu tự, hễ có thành tâm tất có ứng nghiệm, có thể trấn phục yêu ma, tảo trừ dịch bệnh. Ngài được gọi là Văn Chương Tư Mệnh, vì các giới quí tiện văn võ y bốc sĩ nông công thương, hễ có lòng mong cầu công danh đều trông cậy vào Ngài. Ngài cư ngụ nơi cung Văn Xương, nơi chòm sao Tử Vi, thường giáng cơ viết kinh, hiển mộng báo tin, phân thân ứng hóa, cứu độ nhân sanh." Trong Tử Đồng Đế Quân Hóa Thƣ (do Đàm Tiễu viết đầu thế kỷ thứ 10) tóm lƣợc 17 kiếp của Văn Xƣơng Đế Quân nhƣng nội dung hết sức hoang đƣờng. Có lẽ sáng tác nầy của đạo sĩ Đàm Tiễu muốn củng cố và chuyển tín ngƣỡng Văn Xƣơng Đế Quân từ một tín ngƣỡng dân gian sang tín ngƣỡng của Đạo giáo. Trong Đạo Tạng và Đạo Tạng Tập Yếu thu thập rất nhiều kinh sách do Văn Xƣơng Đế Quân giáng cơ bút, trong đó thịnh hành nhứt kể từ đời Tống và đời Nguyên là Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn. Tác phẩm nầy tuyên xƣng: Văn Xương Đế Quân cứu dân chi nạn, tế nhân chi cấp, mẫn nhân chi cô, dung nhân chi quá, quảng hành âm chất, thượng cách thương khung. (Văn Xƣơng Đế Quân cứu nạn dân chúng, giúp ngƣời trong khốn khó nguy cấp, xót thƣơng kẻ bơ vơ, khoan dung lỗi lầm của thế nhân, [ai] thi hành rộng khắp âm chất đƣợc đặc cách lên trời [ghi tên trong Tiên tịch]). Đồng thời khuyến dạy ngƣời đời: "Hành thời thời chi phương tiện, tác chủng chủng chi âm công, lợi vật lợi nhân, tu thiện tu phúc, chính trực đại thiên hành hóa, từ tường vị quốc cứu dân, trung chủ hiếu thân, kính huynh tín hữu. Hoặc phụng Chân triều đẩu, hoặc bái Phật niệm kinh, báo đáp tứ ân, quảng hành Tam giáo." (Thƣờng thi hành tiện ích, tạo vô vàn công đức vô hình, ích lợi cho ngƣời cho vật, tu thiện tu phúc, chính trực thay Trời hành hóa đạo đức, từ ái vì nƣớc cứu dân, trung vua hiếu cha mẹ, kính trọng huynh trƣởng, tin cậy bằng hữu. Hoặc thờ Tiên tu đạo, hoặc bái Phật niệm kinh, để báo đáp bốn ân và quảng hành Tam giáo). Văn Xƣơng Đế Quân Âm Chất Văn là một trong tam đại khuyến thiện thƣ của Đạo giáo, có ảnh hƣởng rất lớn trong dân gian. Từ đời Nguyên và đời Minh về sau, các địa phƣơng ở Trung quốc kiến tạo rất nhiều cung và đền miếu thờ Văn Xƣơng Đế Quân (gọi là Văn Xƣơng Cung, Văn Xƣơng Từ, Văn Xƣơng Các) nguy nga, hiện nay vẫn còn. Đài Loan hiện có 29 miếu thờ Văn Xƣơng Đế Quân. Tại Việt Nam, Văn Xƣơng Đế Quân đƣợc thờ trong đền Ngọc Sơn nơi Hồ Hoàn Kiếm Hà Nội kể từ khi đền đƣợc trùng tu năm Thiệu Trị thứ nhứt (1841), ngoài ra Ngài còn đƣợc thờ trong các ngôi chùa miếu của ngƣời Hoa. Đạo giáo lấy ngày 3 tháng 2 âm lịch làm ngày vía Đức Văn Xƣơng Đế Quân.

Khi Văn Xƣơng Đế Quân du hành, tùy tòng có Huyền Đồng Tử (Thiên lung: trời điếc) và Địa mẫu (Địa á: đất câm). Hai tùy tòng có nhiệm vụ biệt lập về hành chánh, phụ giúp Văn Xƣơng Đế Quân. Để giữ công bình và bí mật, Thiên lung không thể lắng nghe những lời van xin cầu khẩn của thế nhân, Địa á không thể tiết lộ cho họ những dự định của Đế Quân." (Bài Lƣợc khảo về Văn Xƣơng Đế Quân nầy của Lê Anh Minh). Trong quyển "Đại Động Chơn Kinh" 大洞眞經 in vào triều vua Hàm Phong nhà Thanh bên Tàu vào năm Đinh Tỵ (1857), có một bài kinh tụng về Văn Xƣơng Đế Quân. Bài kinh nầy rất giống bài kinh Nho giáo trong kinh Nhựt Tụng của Đạo Cao Đài, xin chép ra sau đây:

桂香內殿 文昌上宮 九十五回 種善果於詩書之圃 百千萬化 培桂根於陰騭之田 自雷杼炳靈於鳳山 至如意儲祥於鰲岫 開人心必本於篤親之孝 壽國脈必先於致主之忠 夢保生垂慈憫苦 大仁大孝大聖大慈 神文聖武孝德忠仁 王新冊輔元開化 文昌司祿宏仁帝君 澄真正觀寶光慈濟天尊 (諱亞二月初三日生)
Phiên âm: Quế Hƣơng Nội Điện Văn Xƣơng Thƣợng Cung. Cửu thập ngũ hồi, Chƣởng thiện quả ƣ thi thơ chi phố Bá thiên vạn hóa Bồi quế căn ƣ âm chất chi điền Tự lôi trữ bính linh ƣ phụng sơn Chí nhƣ ý trừ tƣờng ƣ ngao trụ. Khai nhơn tâm tất bổn ƣ đốc thân chi hiếu. Thọ quốc mạch tất tiên ƣ trí chúa chi trung. Ứng mộng bảo sanh, thùy từ mẫn khổ Đại nhơn đại hiếu, đại Thánh đại từ, Thần văn Thánh võ, hiếu đức trung nhơn, Vƣơng tân sách phụ nguyên khai hóa Văn Xƣơng tƣ lộc, hoành nhơn đế quân, Trừng chơn chánh quan,

Bửu quang từ tế Thiên Tôn. (Húy Á nhị ngoạt sơ tam nhựt sanh) (Tên húy là Á, ngày sanh là mùng 2 tháng 3) (Tài liệu của Lê Anh Dũng) --------------------------------------------------------------------

ĐỘNG VẬT THẦN THOẠI
Bạch Hổ (白虎) là một trong Tứ tƣợng của Thiên văn học Trung Quốc, và cũng là một khái niệm rộng trong phong thủy, thuyết âm dƣơng, triết học. Bạch Hổ là linh vật thiêng liêng có tƣợng là hình con hổ (虎), có màu trắng (bạch, 白) là màu của hành Kim ở phƣơng Tây, do đó tƣơng ứng với mùa thu.

Trong Thiên văn
Trong thiên văn, Bạch Hổ chỉ cung gồm 7 chòm sao phƣơng tây trong Nhị thập bát tú, đó là:

Cung Bạch Hổ gồm 7 chòm sao trong thiên văn học Trung Quốc
      

Khuê Mộc Lang (Khuê) Lâu Kim Cẩu (Lâu) Vị Thổ Trệ (Vị) Mão Nhật Kê (Mão) Tất Nguyệt Ô (Tất) Chủy Hỏa Hầu (Chủy) Sâm Thủy Viên (Sâm)

Trong các chòm đó, thì chỉ có hai chòm Chủy và Sâm tạo thành hình con hổ, với Chủy là đầu hổ, Sâm là bốn chân và thân hổ. Các chòm này xuất hiện giữa trời vào mùa thu[cần dẫn nguồn].

Trong Phong thủy
Trong Phong thủy, Bạch Hổ tƣơng ứng với thế đất cao



Chòm sao [ẩn]

x•t•s

Chòm sao Trung Quốc cổ đại
Tam viên Tử Vi viên · Thái Vi viên · Thiên Thị viên Đông phƣơng Thanh long (青龍): Giác (角) · Cang (亢) · Đê (氐) · Phòng (房) · Tâm (心) · Vĩ (尾) · Cơ (箕) Nam phƣơng Chu tước (朱雀): Tỉnh (井) · Quỷ (鬼) · Liễu (柳) · Tinh (星) · Trƣơng (張) · Dực (翼) · Chẩn (軫) Tây phƣơng Bạch hổ (白虎): Khuê (奎) · Lâu (婁) · Vị (胃) · Mão (昴) · Tất (畢) · Chủy/Tuy (觜) · Sâm (參) Bắc phƣơng Huyền vũ (玄武): Đẩu (斗) · Ngƣu (牛) · Nữ (女) · Hƣ (虛) · Nguy (危) · Thất (室) · Bích (壁) Ngũ hành Mộc · Hỏa · Thổ · Kim · Thủy

Tứ tượng (四象) và Nhị thập bát tú (二十八宿)

*TAM VIÊN:1/- Tử Vi viên (紫微垣) là một trong tam viên, nhóm sao trong thiên văn cổ Trung Quốc, phân bố xung quanh cực bắc và nhóm sao Bắc đẩu. Chúng đƣợc nhìn thấy quanh năm từ các vĩ độ trung bình của bán cầu Bắc. Trên hình bản đồ sao, Tử Vi tả viên (phía trên bên phải) và Tử Vi hữu viên (phía dƣới bên trái) gần nhƣ đối xứng với nhau qua cực bắc. "Tinh cung" Bắc Cực không chứa sao Bắc Cực, mà sao Bắc Cực nằm trong "tinh cung" Câu Trần.
  

Hình Lịch sử tập tin Liên kết đến tập tin

Kích thƣớc xem thử: 692 × 599 điểm ảnh

Độ phân giải tối đa (1.039×900 điểm ảnh, kích thƣớc tập tin: 248 kB, định dạng MIME: image/png)

Chú thích
1. Thiên Thƣơng (天枪/槍); 2. Bắc Đẩu (北斗); 3. Văn Xƣơng (文昌); 4. Nội Giai (內阶/階); 5. Nội Trù (內廚); 6. Tử Vi Hữu Viên (紫微右垣); 7. Truyền Xá (传/傳舍); 8. Thiên Câu (天钩/ 鉤); 9. Thiên Trù (天廚); 10. Thƣợng Thƣ (尚书/書); 11. Thiên Sàng (天床); 12. Bắc Cực (北极/ 極); 13. Đại Lý (大理); 14. Âm Đức (阴/陰德); 15. Lục Giáp (六甲); 16. Ngũ Đế Nội Tòa /Tọa (五帝內座); 17. Cống (杠); 18. Hoa Cái (华/華蓋); 19. Tử Vi Tả Viên (紫微右垣); 20. Ngự Nữ (御女); 21. Thiên Trụ (天柱); 22. Tứ Phụ (四輔); 23. Câu Trần (勾陈/陳). Nguồn: en:Image:ZǐWēiYuán.png

2/- Thái Vi viên (太微垣) là một trong tam viên, nhóm sao trong thiên văn cổ Trung Quốc, phân bố xung quanh cực bắc và nhóm sao Bắc đẩu. Chúng đƣợc nhìn thấy quanh năm từ các vĩ độ trung bình của bán cầu Bắc.
  

Hình Lịch sử tập tin Liên kết đến tập tin

Kích thƣớc xem thử: 666 × 600 điểm ảnh

Độ phân giải tối đa (804×724 điểm ảnh, kích thƣớc tập tin: 283 kB, định dạng MIME: image/png)

Chú thích
Bản đồ sao Thái Vi viên theo hệ thống các chòm sao Trung Quốc cổ đại. Phiên bản có đánh số khi Việt hóa.

1. Ngũ Chƣ Hầu (五諸侯); 2. Thái Vi Tả Viên (太微左垣); 3. Cửu Khanh (九卿); 4. Tam Công (三公); 5. Lang Vị (郎位); 6. Ngũ Đế Tòa /Tọa (五帝座); 7. Nội Bính (內屏); 8. Minh Đƣờng (明堂); 9. Thái Vi Hữu Viên (太微右垣); 10. Thiếu Vi (少微); 11. Linh Đài (灵/靈台) 3/- Thiên Thị viên (天市垣) là một trong tam viên, nhóm sao trong thiên văn cổ Trung Quốc, phân bố xung quanh cực bắc và nhóm sao Bắc đẩu. Chúng đƣợc nhìn thấy quanh năm từ các vĩ độ trung bình của bán cầu Bắc. Thiên Thị viên gồm 19 "tinh cung":




                

Thiên Thị Tả Viên (天市左垣, dịch sang tiếng Anh: Left Wall) có 11 sao: Tống (宋), Nam Hải (南海), Yên /Yến (燕), Đông Hải (东海), Từ (徐), Ngô Việt (吴越), Tề (齐), Trung Sơn (中山), Cửu Hà (九河), Triệu (赵), Ngụy (魏) Thiên Thị Hữu Viên (天市右垣, dịch sang tiếng Anh: Right Wall) có 11 sao: Hàn (韩), Sở (楚), Lƣơng (梁), Ba (巴), Thục (蜀), Tần (秦), Châu /Chu (周), Trịnh (郑), Tấn (晋), Hà Gian (河间), Hà Trung (河中) Thị Lâu (市楼; Municipal Office) có 6 sao Xa Tứ (车肆; Commodity Market)có 2 sao Tông Chính (宗正; Official for the Royal Clan) có 2 sao Tông Nhân (宗人; Official of Religious Ceremonies) có 4 sao Tông (宗; Patriarchal Clan) có 2 sao Bạch Đạc /Độ (帛度; Textile Ruler) có 2 sao Đồ Tứ (屠肆; Butcher's Shops) có 2 sao Hầu (候; Astrologer) có 1 sao Đế Tòa /Toạ (帝座; Emperor's Seat) có 1 sao Hoạn Giả (宦者; Eunuch Official) có 4 sao Liệt Tứ (列肆; Jewel Market) có 2 sao Đẩu (斗; Dipper for Liquids) có 5 sao Hộc (斛; Dipper for Solids) có 4 sao Quán Tác (贯索; Coiled Thong) có 9 sao Thất Công (七公; Seven Excellencies) có 7 sao Thiên Kỷ (天纪; Celestial Discipline) có 9 sao Nữ Sàng (女床; Woman's Bed) có 3 sao

  

Hình Lịch sử tập tin Liên kết đến tập tin

Kích thƣớc xem thử: 706 × 600 điểm ảnh

Độ phân giải tối đa (1.288×1.094 điểm ảnh, kích thƣớc tập tin: 237 kB, định dạng MIME: image/png)

*SAO BẮC ĐẨU
Sao Bắc Đẩu còn gọi là Bắc Đẩu tinh (北斗星) hay tên tiếng Trung Quốc đầy đủ Bắc Đẩu thất tinh (北斗七星) là mảng sao của bảy ngôi sao, tạo nên hình ảnh cái gàu sòng hay cái xoong. Sao Bắc Đẩu và Sao Bắc cực là hai vấn đề khác nhau. Sao Bắc Đẩu là cách gọi dân gian, nói về một mảng sao bao gồm nhiều ngôi sao, trong khi sao Bắc Cực nói đến một ngôi sao.

Sao Bắc Đẩu theo quốc gia

Trong hệ thống các chòm sao Trung Quốc, Sao Bắc Đẩu là bảy ngôi sao mang hình ảnh cái đấu (đẩu). Do chúng nằm ở hƣớng Bắc nên còn gọi là Bắc Đẩu thất tinh. Bốn ngôi đầu tạo thành một tứ giác gọi là Đẩu khôi, ba ngôi sau tạo thành cái đuôi gọi là Đẩu thƣợc. Ngoài ra còn một ngôi sao nằm sát bên cạnh ngôi sao ở giữa của Đẩu thƣợc, đƣợc coi là sao phụ, gọi là Phụ tinh. Mỗi ngôi sao đƣợc đặt một tên riêng, theo thần thoại Trung Quốc thì tại mỗi ngôi sao có một vị Tinh quân trông coi. Mỗi vị Tinh quân đó lại có một tên riêng. Trong thiên văn học hiện đại, nhóm sao này là một mảng sao này nằm trong ranh giới của chòm sao Đại Hùng tại thiên cầu bắc. Ngƣời Việt Nam thƣờng gọi chòm sao này là chòm sao Cái gầu vì trông giống cái gầu tát nƣớc. Trong Đạo giáo, Bắc Đẩu thất tinh tức là Bắc Thần, đƣợc gọi là Thiên Cƣơng, ở phía cực Bắc và có hình dáng giống cái đấu đo lƣờng.

Các ngôi sao thành phần
Sao Bắc Đẩu gồm bẩy ngôi sao chính:

Tên sao

Ký hiệu theo Tên Hán Việt Bayer

Tên Trung Tên Việt Cấp sao Quốc Nam biểu kiến

Khoảng cách ly

Dubhe α UMa

Thiên Xu (Tham Lang)

天枢

Bắc Đẩu 1,8 m 1

124

Merak β UMa

Thiên Toàn/ Tuyền (Cự 天璇 Môn)

Bắc Đẩu 2,4 m 2

79

Phecda γ UMa

Thiên Cơ/ Ky (Lộc Tồn) 天玑

Bắc Đẩu 2,4 m 3

84

Megrez δ UMa

Thiên Quyền (Văn Khúc)

天权

Bắc Đẩu 3,3 m 4

81

Alioth ε UMa

Ngọc Hoành/ Thiên Hành (Liêm Trinh)

玉衡

Bắc Đẩu 1,8 m 5

81

Mizar

δ UMa

Khai Dƣơng/ Khải Dƣơng (Vũ Khúc)

开阳

Bắc Đẩu 2,1 m 6

78

Alkaid ε UMa

Dao Quang (Phá Quân)

摇光

Bắc Đẩu

1,9 m

101

7

Vị trí Sao Bắc Đẩu trên bản đồ sao

Bắc Đẩu là một mảng sao

nằm trong chòm sao Đại Hùng

khác với sao Bắc cực, sao Polaris

Nam Thập Tự
Crux

Nhấp chuột để xem hình lớn

Viết tắt Sở hữu cách

Cru Crucis

Hình tượng Xích kinh Xích vĩ Diện tích

thập tự 12 h -60° 68 độ vuông đứng thứ 88

Số lượng sao < 3m 4 Sao sáng nhất Mưa sao băng Giáp với các chòm sao β Crucis (Becrux hay Mimosa) (1,25 m) Crucids
 

Bán Nhân Mã Thƣơng Dăng

Quan sát đƣợc giữa các vĩ độ +20° và −90° Quan sát tốt nhất trong tháng 5

Chòm sao Nam Thập Tự (hay Nam Tào, Chữ Thập Phương Nam, Nam Thập, tiếng Latinh: Crux, ngƣợc lại với Bắc Thập hay Thiên Nga) gồm 4 ngôi sao khá sáng xếp thành hình chữ thập. Chòm sao Nam Thập ở vào khoảng giữa chòm sao Bán Nhân Mã (Centaurus) và Thƣơng Dăng (Musca), là những ngôi sao sáng và rõ, cho nên chòm Nam Thập rất dễ nhận diện. Tuy là nhỏ nhất trong số 88 chòm sao hiện đại, tuy nhiên nó lại là một trong những chòm sao nổi tiếng nhất. Bao quanh ba phía của nó là chòm sao Bán Nhân Mã (Centaurus) và ở phía nam của nó là chòm sao (Thƣơng Dăng (Musca-tức Con Ruồi). Nó là chòm sao sáng nhất trên bầu trời, với độ sáng tổng thể là 29,218. Vì vị trí của Việt Nam nằm ở Bắc Bán Cầu nên ngƣời ta chỉ có thể thấy chòm sao Nam Thập vào chập tối trong khoảng tháng 5 đến tháng 7 hàng năm.

Các đặc điểm nổi bật
Do thiếu vắng một ngôi sao Nam Cực có độ sáng đáng kể trên bầu trời phía nam (sao Sigma Octantis gần cực Nam nhất, nhƣng nó quá mờ để có thể trở thành có ích cho con ngƣời định hƣớng), hai trong số các ngôi sao của chòm Nam Thập (Alpha và Gamma, hay Acrux và Gacrux) nói chung đƣợc sử dụng để định hƣớng cực nam địa lý. Kéo dài đƣờng thẳng đƣợc tạo ra từ hai ngôi sao này khoảng 4,5 lần khoảng cách giữa chúng sẽ tới điểm sát với Nam cực của bầu trời. Ngoài ra, nếu dựng một đƣờng vuông góc nằm giữa đoạn thẳng tạo ra bởi Alpha Centauri và Beta Centauri, thì điểm giao nhau của đƣờng nói trên và đƣờng này sẽ là điểm đánh dấu Nam cực của bầu trời. Trái với suy nghĩ của nhiều ngƣời, vị trí của chòm sao này không phải là đối diện với chòm sao Đại Hùng qua tâm Trái Đất. Trên thực tế, ở vùng nhiệt đới cả hai chòm sao Nam Thập (thấp ở phía nam) và Đại Hùng (thấp ở phía bắc) có thể cùng xuất hiện trên bầu trời từ tháng Tƣ cho đến tháng Sáu. Vị trí của chòm sao này chính xác là đối diện với vị trí của chòm sao Tiên Hậu (Cassiopeia) trên bầu trời, và vì thế chúng không thể cùng xuất hiện trên bầu trời trong cùng một thời gian. Đối với các khu vực nằm về phía nam của 34° vĩ nam thì Nam Thập luôn luôn ở trên bầu trời suốt cả đêm. Trong chiêm tinh học của ngƣời Hindu cổ đại, cái đƣợc nói đến nhƣ là 'trishanku' chính là chòm sao 'Nam Thập' hiện đại.

Các thiên thể nổi bật
Tinh vân Bao Than (Coalsack) là tinh vân tối nổi bật nhất trên bầu trời, dễ dàng nhìn thấy bằng mắt thƣờng nhƣ là một vết đốm lớn sẫm màu ở phần phía nam của dải Ngân Hà. Các thiên thể khác trong phạm vi chòm sao Nam Thập là Quần sao mở NGC 4755, đƣợc biết đến nhièu hơn qua tên gọi Quần sao Hộp Châu Báu (Jewel Box) hay Kappa Crucis, đƣợc Nicolas Louis de Lacaille phát hiện vào khoảng những năm 1751-1752. Nó nằm ở khoảng cách chừng 7.500 năm ánh sáng và chứa khoảng 100 ngôi sao trên một khu vực khoảng 20 năm ánh sáng.

Lịch sử

Chòm sao Nam Thập trên một số lá cờ. Do tuế sai của điểm phân, các ngôi sao tạo thành chòm sao Nam Thập đã đƣợc nhìn thấy từ khu vực Địa Trung Hải trong thời Cổ đại, vì thế các ngôi sao này cũng đã đƣợc các nhà thiên văn ngƣời Hy Lạp biết đến. Tuy nhiên, chúng đã không đƣợc coi nhƣ là một chòm sao riêng biệt, mà đƣợc coi là một phần của chòm sao Bán Nhân Mã. Sự phát hiện ra Nam Thập nhƣ là một chòm sao riêng rẽ nói chung đƣợc coi là của nhà thiên văn ngƣời Pháp Augustin Royer năm 1679. Tuy vậy, nó đã đƣợc biết đến với hình dạng nhƣ vậy từ trƣớc đó rất lâu. Năm ngôi sao sáng nhất của Nam Thập (α, β, γ, δ và ε Crucis) xuất hiện trên các lá cờ của Úc, Brasil, New Zealand (bỏ đi sao epsilon), Papua New Guinea và Samoa, cũng nhƣ trên cờ của các bang và vùng lãnh thổ của Úc nhƣ Victoria, Lãnh địa thủ đô Úc, Northern Territory và cờ của Khu vực Magallanes, Chile và trên một số cờ và biểu trƣng của các tỉnh thuộc Argentina. Lá cờ của khu vực thƣơng mại Mercosur có bốn ngôi sao sáng nhất (bỏ đi sao epsilon). Nam Thập cũng xuất hiện trên quốc huy Brasil. Phiên bản cách điệu hóa của Nam Thập xuất hiện trên cờ Eureka. Chòm sao này cũng đƣợc sử dụng trên phù hiệu nền lam thẫm của Sƣ đoàn America thuộc quân đội Mỹ, cũng nhƣ trên phù hiệu hình thoi màu tím nhạt của sƣ đoàn Hải quân đánh bộ số 1, Hoa Kỳ. Hình ảnh trên đá của chòm sao này cũng đã đƣợc tìm thấy trong khu vực khảo cổ Macchu Picchu, Peru.

Các ngôi sao

Các sao với tên gọi chính xác:


(α1,2 Cru) – sao đôi 0,77 và 1,73 Acrux

  

(β Cru) 1,25 Becrux hay Mimosa (γ Cru) – sao đôi 1,59 và 6,42 Gacrux (δ Cru) 2.79; Decrux [Delcrux]

Các sao với danh pháp Bayer: ε Cru 3,59; δ Cru 4,06; ζ1 Cru 4,32; ζ2 Cru 4,72; ε Cru 4,14; η Cru 4,69; θ Cru 5,89; ι Cru 4,62; κ1 Cru 4,03; κ2 Cru 5,08

*THANH LONG
Trong thiên văn, Thanh Long chỉ cung gồm 7 chòm sao phƣơng đông trong Nhị thập bát tú, đó là:
      

Giác Mộc Giảo (sao Giác) Cang Kim Long (sao Cang) Đê Thổ Lạc (sao Đê) Phòng Nhật Thố (sao Phòng) Tâm Nguyệt Hồ (sao Tâm) Vĩ Hỏa Hổ (sao Vĩ) Cơ Thủy Báo (sao Cơ)

Trong đó Giác là hai sừng của rồng, Cang là cổ của rồng, Đê là chân trƣớc của rồng, Phòng là bụng của rồng, Tâm là tim của rồng, Vĩ là đuôi của rồng, Cơ là phân của rồng. Bảy chòm sao này xuất hiện giữa trời tƣơng ứng với mùa xuân. Hai sao Phòng và Tâm là gần nhau nhất trong cung Thanh Long, có nhiều đặc điểm tƣơng đồng về độ sáng, cấu tạo, chu kỳ, ... nên thời đƣợc ví nhƣ hai chị em sinh đôi.

Trong phong thủy
Trong phong thủy, đại long mạch thì Thanh Long tƣơng ứng với các dãy núi dài, hoặc dòng sông dài. Chẳng hạn với thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay) thì sông Hồng chảy ở phía Đông là thế Thanh Long. Đối với kinh thành Huế thì cồn Hến ở giữa sông Hƣơng, ở về phía đông là Thanh Long.
  

Hình Lịch sử tập tin Liên kết đến tập tin

Không có độ phân giải cao hơn.

ThanhLong_thienvan.jpg (475×335 điểm ảnh, kích thƣớc tập tin: 23 kB, định dạng MIME: image/jpeg)

*CHU TƢỚC
Chu Tƣớc (朱雀) là một trong Tứ tƣợng của Thiên văn học Trung Quốc, và cũng là một khái niệm rộng trong phong thủy, thuyết âm dƣơng, triết học Phƣơng Đông. Chu Tƣớc thời cổ còn gọi là Chu Điểu (朱鳥, con chim màu đỏ) là linh vật thiêng liêng có tƣợng là hình con chim sẻ (tƣớc 雀), có màu đỏ (chu, 朱) là màu của hành Hỏa ở phƣơng Nam, do đó tƣơng ứng với mùa hạ.

Trong Thiên văn

Cung Chu tƣớc với 7 chòm sao trong thiên văn học Trung Quốc Trong thiên văn, Chu Tƣớc chỉ cung gồm 7 chòm sao phƣơng nam trong Nhị thập bát tú, đó là:

      

Tỉnh Mộc Hãn (sao Tỉnh) Quỷ Kim Dƣơng (sao Quỷ) Liễu Thổ Chƣơng (sao Liễu) Tinh Nhật Mã (sao Tinh) Trƣơng Nguyệt Lộc (sao Trƣơng) Dực Hỏa Xà (sao Dực) Chẩn Thủy Dẫn (sao Chẩn)

Trong đó Tỉnh tƣợng hình mỏ chim, Quỷ tƣợng hình mào chim, Liễu tƣợng hình diều chim, Tinh tƣợng hình cổ chim, Trương tƣợng hình bụng chim, Dực tƣợng hình cánh chim, Chẩn tƣợng hình đuôi chim. 3 sao Liễu, Tinh, Trƣơng có vị trí gần nhau nhất trong cung Chu Tƣớc thƣờng xuất hiện cùng lúc trên bầu trời tạo thành một đƣờng thẳng.

Trong Phong thủy Ý nghĩa khác
Đối chiếu với văn minh Phƣơng Tây, Chu Tƣớc thƣờng đƣợc so sánh với Phoenix, phƣợng hoàng lửa có sự trƣờng sinh, sức mạnh hồi sinh. Tuy nhiên hai hình tƣợng và khái niệm tƣơng ứng không giống nhau, Chu tƣớc phƣơng Đông không phải Phƣợng hoàng.


				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:9626
posted:11/16/2008
language:Vietnamese
pages:22