HÀN SƠN VÀ THẬP ĐẮC by nhuocthuy

VIEWS: 8 PAGES: 39

									HÀN SƠN VÀ THẬP ĐẮC

Ðời Ðường tại tỉnh Chiết Giang, huyện Thủy Phong, núi Thiên Thai, ở phía Tây cách 40 cây số có cái
hang tối tại núi Hàn Nham, có một người không biết danh tánh tự xưng là Hàn Sơn, hoặc Hàn Sơn tử hoặc Bần tử. Ngài thường đi đến chùa Quốc Thanh, trong chùa có vị tăng tên là Thập Ðắc coi về việc dọn bàn cơm cho chư táng. Hai người kết bạn thân với nhau, Thập Ðắc mót những thức ăn dư của chúng để vào trong thúng, Hàn Sơn đến thi hai vị công nhau đi chơi, ăn những thức ăn thừa đó Thích Sử Thai Châu là Lư Khâu Dận được Hòa Thượng Phong Can giới thiệu hai vi Bồ tát Văn Thù Phổ Hiền là Hàn Sơn và Thập Ðạc, nên đến chùa Quốc Thanh để lễ bái. Khi Lư Khau Dận đến chùa Quốc Thanh hỏi, người ta mới dẫn hai Ngài Hàn Sơn Thập Ðắc ra, Lư Khâu Dận lễ bái, hai vị liền nói "giặc, giặc ?" rồi cõng nhau chạy mất. Lại một sách khác ghi hơi khác một chút. Nguyên Thiền sư Phong Can „có một cái thất trong khu chùa Quốc Thanh, ông thường ngao du nơi này nơi kia, có khi cỡi cọp đi về. Một hôm khi đi dạo ông gặp một đứa bé bị bỏ rơi ngoài đường, ông lượm đem về gởi chùa Quốc Thanh nuôi và đặt tên là Thập Ðắc (Thập là lượm, Ðắc là được). Ðứa bé lần lần lớn lên, lo việc săn sóc cơm cháo cho chư tăng và lượm những thức ăn thừa của chư tăng gom lại ăn. Gặp Hàn Sơn, hai người kết bạn với nhau, khi cõng nhau chạy, khi kinh hành, khi nhìn trời mây chửi mắng om sòm, ăn thì ăn thức ăn thừa, mặc thì mặc y phục rách rưới, nên chư tăng trong chùa cũng bực bội, cho hai vị là điên. Khi Hòa thượng Phong Can tịch, ông Lư Khâu Dận được bổ nhậm về đó. ông đau nặng, thuốc thang điều trị không khỏi, một đêm ông nằm mộng thấy Hòa Thương Phong Can chỉ cho phương thuốc, ông dùng thuốc đó trị thì lành bệnh. Sau khi lành bệnh, ông cầu nguyện Ngài Phong Can chỉ cho ông các vi Bồ tát để ông đảnh lễ đền ơn. Ngài Phong Can bảo : Trong chùa Quốc Thanh có hai vi Hàn Sơn là Bồ tát Văn Thù, Thập Đắc là Bồ Tát Phổ Hiền, hãy đến đó đảnh lễ. Khi ông tìm đến đảnh lễ hai Ngài, thì hai Ngài cõng nhau vào núi. Trích Đoạn: Tam Tổ Trúc Lâm Giảng Giải, HT. Thanh Từ

THƠ HÀN SƠN THẬP ĐẮC
Người dịch: Thiền sinh Trúc Lâm TỰA Nói về Hàn Sơn Tử, chẳng biết người ở đâu, từ xa xưa đã thấy Ngài, đều gọi là Bần Nhơn, kẻ sĩ điên cuồng. Ở ẩn núi Thiên Thai, cách huyện Đường Hưng bảy mươi dặm về phía tây, gọi là Hàn Nham. Ngài thường ở đất này, hay về chùa Quốc Thanh. Trong chùa có Thập Đắc, coi sóc việc hành đường, bình thường thu nhặt cặn bã rau thừa bỏ trong ống tre, nếu Hàn Sơn đến, vác lên vai mà đi. Hoặc đi thong thả dưới hành lang, kêu la, reo hò, mắng người, hoặc nhìn trời tự cười. Bấy giờ Tăng đuổi bắt, mắng chửi, đánh đuổi, Ngài đứng lại vỗ tay cười lớn ha ha, giây lát rồi bỏ đi. Lại dáng vẻ giống như kẻ nghèo cùng, hình tướng khô héo. Mỗi lời nói ra, ý nghĩa hợp với đạo, thầm suy nghĩ có lý; hoặc xướng nơi tình đạo, hoặc đi nơi hành lang ca vịnh: “Ôi chao! Ôi chao! Luân hồi trong tam giới.” Hoặc nơi thôn xóm, làm mục đồng chăn trâu múa may ca cười hoặc thuận hoặc nghịch, tự vui với tánh mình. Chẳng phải bậc thông suốt, đâu thể hiểu Ngài? Thường những lời nói ra, thông suốt bao hàm ý sâu kín. Ngài dùng da cây hoa làm nón, mặc áo vải thô rách nát, chân đi guốc gỗ, thế nên Chí Nhơn ẩn dấu vết, đồng loại để giáo hóa muôn vật. Dận Khoảnh nhậm chức đi làm quan ở Đơn Khâu, ngày sắp lên đường, đầu liền đau choáng váng, bèn dời lại ngày sau để điều trị. Bệnh càng lúc càng nặng, liền gặp một Thiền Sư tên là Phong Can, nói là từ chùa Quốc Thanh, núi Thiên Thai, riêng đến để hỏi thăm nhau. Dận Khoảnh cầu xin trị bệnh, Sư bèn dung nghi thong thả mỉm cười và nói rằng:

- Thân thuộc bốn đại, bệnh từ huyễn sanh, nếu muốn trừ bệnh, phải có nước sạch. Bấy giờ Dận lấy nước sạch dâng lên Sư. Sư liền ngậm nước phun vào mình quan, chốc lát trở lại bình phục, liền bảo Dận rằng: - Bãi biển Đài Châu khí độc, ngày mai lên đường cần phải giữ gìn! Dận liền hỏi rằng: - Chưa biết nơi đó sẽ có Hiền sĩ nào đáng thờ làm thầy? Sư đáp: - Thấy đó mà chẳng biết, biết đó thì không chấp, nếu muốn gặp thì chẳng được chấp tướng liền có thể gặp Ngài. Hàn Sơn là Văn Thù ẩn tích trong chùa Quốc Thanh. Thập Đắc là Phổ Hiền, hình dáng như nghèo cùng, lại giống kẻ điên cuồng, hoặc đi hoặc lại, làm kẻ phục dịch trong kho chùa Quốc Thanh, đốt lò trong nhà bếp. Nói xong liền đi. Dận liền lên đường, đến nhậm chức ở Đài Châu, chẳng quên việc đó. Sau ba hôm nhậm chức, đích thân qua tự viện, tìm hỏi các bậc Thiền Đức, quả đúng với lời Sư, liền sai khám xét huyện Đường Hưng xem có Hàn Sơn, Thập Đắc chăng? Bấy giờ người trong huyện nói rằng: tại khu vực của huyện, cách bảy mươi dặm về phía tây, có một núi, trong núi lâu đời, thấy có Bần Sĩ, thường về chùa Quốc Thanh, nghỉ ở trong nhà kho chùa; có một hành giả, tên là Thập Đắc. Dận liền riêng đến lễ bái. Đến chùa Quốc Thanh bèn hỏi chúng tăng rằng: - Chùa này ngày trước có phòng của Thiền Sư Phong Can nay ở đâu? Và Thập Đắc, Hàn Sơn hiện ở chỗ nào?” Bấy giờ tăng Đạo Kiển đáp rằng: - Phòng Thiền Sư Phong Can ở phía sau kho chứa kinh, hiện nay không có người ở được, thường có một con cọp luôn đến rống ở đây. Hai người Hàn Sơn, Thập Đắc hiện ở trong nhà bếp. Tăng hướng dẫn Dận đến phòng của Thiền Sư Phong Can, rồi mở cửa phòng, chỉ thấy dấu chân cọp, bèn hỏi tăng Bảo Đức và Thiền Sư Đạo Kiển rằng: - Thiền Sư ngày thường làm hạnh nghiệp gì? Tăng đáp: - Phong Can ngày thường chỉ giả gạo cúng dường đại chúng, đêm đến hát ca tự vui. Dận đến trong nhà bếp, thấy hai người hướng vào lửa cười lớn, Dận liền lễ bái, hai người hét liên tục “Dận”, tự nắm tay nhau, cười hớn ha hả, kêu réo vang trời, liền nói rằng: - Phong Can nhiều lời, Di Đà nhiều lời chẳng biết, lễ ta làm gì? Tăng chúng chạy xôn xao nhóm lại, nhìn nhau lấy làm kinh lạ. Vì sao tôn quan lạy hai kẻ bần cùng? Bấy giờ hai người nắm tay nhau chạy ra khỏi chùa, Dận liền sai người đuổi theo. Hai người chạy nhanh về hang Hàn Sơn. Dận liền hỏi Tăng rằng:

- Hai người ấy chịu ở chùa này chăng? Ngài sai hỏi tìm, mời về chùa ở yên. Dận trở về quận, liền cho may hai cái áo sạch bằng nhau, hương, thuốc, … mang đến dâng cúng dường. Bấy giờ hai người không chịu trở về chùa, sứ liền đến núi, dâng phẩm vật lên liền thấy. Hàn Sơn Tử liền to tiếng hét rằng: - Giặc! Giặc! Rồi lui mình vào hang núi. Bèn nói rằng: - Báo rõ các người, mỗi mỗi phải nổ lực! Nói xong vào hang rồi đi. Hang kia tự đóng lại, chẳng thể đuổi theo. Thu nhặt được những di tích rơi rớt của các Ngài, không có chỗ cố định. Đạo Kiển và những người khác thuật lại đầy đủ hành trạng những ngày khi Ngài còn sống, chỉ thấy ghi thơ kệ ở bụi trúc, vách đá, và trên vách ghế quan tòa trong thôn xóm, thơ kệ được sáng tác có hơn ba trăm bài; và Thập Đắc viết thơ kệ trên vách miếu thờ thần thổ địa, cùng góp chung biên tập thành một quyển. Dận từ đó để tâm vào lý Phật, may mắn gặp được Đạo Nhơn, bèn làm bài tụng khen ngợi rằng:

Bồ Tát ẩn dấu, Thị hiện nghèo cùng. Riêng ở Hàn Sơn, Tự vui tánh mình. Dáng khô hình gầy, Áo vải rách nát. Mở lời thành chương, Gọi là kẻ điên. Thường đến Thiên Thai, Vào chùa Quốc Thanh. Thả bộ hành lang, Vỗ tay ha hả. Hoặc đi hoặc đứng. Tự nói lầm thầm. Chỗ ăn nhà bếp, Cơm thừa canh cặn. Ngâm kệ buồn thảm, Tăng tục quát đánh. Đều chẳng dao động, Người đời tự thẹn. Tác dụng tự tại, Phàm ngu khó lường. Nói ra một lời, Chóng trừ trần lụy. Cho nên Quốc Thanh, Họa vẽ hình Ngài. Vĩnh kiếp cúng dường, Mãi làm đệ tử. Xưa ở Hàn Sơn, Thường đến đất này, Đảnh lễ Văn Thù, Bậc sĩ Hàn Sơn. Nam Mô Phổ Hiền, Chính là Thập Đắc. Tỏ bày khen ngợi, Nguyện thoát sanh tử.

HÀN SƠN TỬ
Hàn Sơn Tử, đời gọi là “gã bần”, hay là “kẻ sĩ ngông cuồng”, chẳng thể thường suy lường Ngài được. Ngài ở núi Thiên Thai, cách phía tây huyện Thủy Phong khoảng 70 dặm; gọi là “Hàn Ám Nhị Nham” (tức là Hàn Nham và Ám Nham). Ngài thường ở trong hang sâu nơi Hàn Nham, lấy đó làm chỗ ở nhất định. Về sau, tại chùa Quốc Thanh, có Thập Đắc. Tăng trong chùa sai Ngài trông coi thực đường (trai đường), hàng ngày thường thu nhặt thức ăn thừa, cặn bã của chúng tăng, cắt một cây tre lớn làm ống, rồi chứa thức ăn vào trong đó, nếu khi Hàn Sơn đến, liền vác lên vai mà đi. Hoặc có khi đi thong thả dưới hành lang, hoặc có lúc huýt sáo, la lối làm xúc phạm người, hoặc ngữa mặt lên hư không mà mắng, tăng trong chùa không chịu nổi, dùng gậy xua đuổi. Ngài lộn nhào người, vỗ tay cười ha ha, thong thả bước lui. Nhưng mà Ngài chỉ mặc áo cánh bằng vải rách rưới, dáng vẻ gầy gò, dùng vỏ cây hoa làm mũ để đội, mang guốc bằng gỗ to. Hoặc có nói ra lời gì rất có ý nghĩa, trở về lý Phật (đều có đạo lý). Lúc đầu Lư Khâu (tức Lư Khâu Vận là quan Thái Thú ở Thâu Châu), vào chùa tìm hỏi Hàn Sơn. Sa môn Đạo Kiển đáp rằng: - Đây là người điên cuồng, vốn ở Hàn Nham, thích ngâm thơ kệ, nói năng bất thường, hoặc lành hoặc dữ, không thể biết được. Cùng với hành giả (người làm công quả) Thập Đắc ở trong chùa này kết bạn. Tụ nhau nói chuyện, không thể hiểu rõ được. Tăng trong chùa thấy quan Thái Thú lễ bái hai người, bèn giật mình, nói: "Đại quan sao lại lễ kẻ điên ư?". Hai người kéo tay nhau cười cợt rồi đi ra khỏi chùa. Lư Khâu sau đó lại sang Hàn Nham tìm hỏi thăm, cùng đem theo quần áo thuốc men đến, Ngài lớn tiếng nói to: - Giặc ngã giặc lui (1) Liền rút thân vào kẽ hang đá, lại nói: - Bảo với các ngươi, mỗi người đều phải nỗ lực. Hang đá liền khép lại, bặt không dấu vết. Lư Khâu bèn bảo tăng Đạo Kiển tìm lại những di vật của Ngài. Chỉ có ở trong khoảng rừng, những lá cây kết lại, viết những lời thơ kệ, trong đó cùng với tại các tường vách nơi nhà dân ở trong thôn xóm; sau chép được hơn ba trăm bài, biên góp lại thành một tập, người đời thường hay đọc tụng. Sau đó, Thiền Sư Tịch ở Tào Sơn chú giải, gọi đó là “Đáp thơ Hàn Sơn Tử”. Do Ngài vốn không có dòng họ, nên người ở xứ Việt chỉ gọi Ngài là Hàn Sơn Tử. Đến như có câu: “Bên sân có những gì, mây trắng ôm núi đá.” Lời thơ sáng sủa cao đẹp. Nay ở dưới gộp đá có một tảng đá đứng sừng sững gọi là “U Thạch”. (Trích trong “Tống Cao Tăng truyện”) (1) Giặc ngã: Làm hại ta (tức làm lộ tung tích Ngài là Bồ Tát). Làm hại ta, làm giặc ta, tức là làm cho ta trở thành kẻ giặc. Vì Bồ Tát hiện ở đời độ sanh không để cho người biết; nếu để lộ thì dễ làm tăng sự sùng mộ mù quáng của người. Nên khi bị lộ thì Ngài coi đó là giặc, sống ở đời không còn ích gì cho người, nên nói “Giặc lui”, tức Ngài liền ẩn mình.

THƠ HÀN SƠN
1. Ta chọn ở núi rừng, Đường chim bặt dấu người. Trước sân có những gì? Mây trắng ôm núi đá. Ở đây gồm bao năm, Thường thấy xuân đông đổi. Nhắn nhủ khách lợi danh, Tên rỗng có ích gì? 56 . Có rượu đãi nhau uống, Có thịt mời nhau ăn. Suối vàng người trước sau, Tuổi trẻ cần nổ lực. Quan quyền tạm thời vinh, Vòng vàng trang sức tạm, Ông Trương cùng bà Trịnh, Chết rồi không tin tức.

2. Người đời đọc thơ ta, Trong tâm cần giữ tịnh, Keo tham ngày kế mõng, Dua nịnh ngay đó chánh. Đuổi trừ hết nghiệp ác, Quy y nơi chân tánh, Ngày nay được thân Phật, Hãy mau theo luật răn. 3. Nực cười đường Hàn Sơn, Không có dấu xe ngựa. Khe liền khó nhớ khúc, Núi chồng chẳng biết lớp Sương đọng ngàn đầu cỏ, Gió ngâm một dáng tùng. Lúc này quên đường tắc, Hình hỏi bóng về đâu? 4. Muốn được chỗ an thân, Hàn Sơn giữ gìn lâu. Gió nhẹ thổi tùng dày, Gần nghe tiếng càng hay. Dưới núi người áo vá, Lầm thầm tụng kinh Phật. Mười năm về chẳng được, Quên mất đường đã qua. 5. Tâm ta tợ trăng thu, Đầm xanh nước trong vắt. Không vật có thể sánh, Bảo ta nói thế nào? 6. Trong núi sao quá lạnh, Rét buốt hơn mọi năm. Đỉnh núi tuyết đóng mãi, Rừng sâu khói thường cuộn. Mùa hạ cỏ xanh tươi, Tiết thu lá vàng rụng. Đây có khách trầm mê, Nhìn mãi chẳng thấy trời. 7. Gái mày ngài trong thành, Đeo châu khua vang tai. Oanh vũ đùa trước hoa, Tỳ Bà đàn dưới trăng. Ca mãi âm mùa xuân, Múa vũ vạn người xem. Chẳng thể mãi như thế, Phù dung chẳng chịu lạnh. 8. Chàng trai tài cởi ngựa, Vun roi chỉ dương liễu. Nói rằng không ngày chết, Trọn chẳng làm thang, thuyền. Bốn mùa hoa tươi đẹp, Một mai thành héo vàng. Phô mai cùng đường phèn,

57 . Đáng thương bậc trượng phu, Thân thể rất oai linh. Tuổi chưa tròn ba mươi, Tài nghệ trăm thứ khéo. Ngựa vàng đuổi hiệp khách, Cơm vua nhóm bạn lành, Chỉ có một thứ ác, Chẳng truyền đèn vô tận. 58 . Hoa đào sắp qua hạ, Gió trăng thúc chẳng chờ. Tìm hỏi người đời Hán, Không thể còn một người. Mỗi sớm hoa héo rụng, Hàng năm người đổi dời. Ngày nay nơi đất liền, Khi xưa là biển lớn. 59 . Ta thấy gái nhà đông, Tuổi đời khoảng mười tám, Nhà tây bên cạnh hỏi, Nguyện cùng kết vợ chồng. Giết dê nấu mạng chúng, Tụ đầu hành dâm sát, Vui thích cười hỷ hạ, Tiếng khóc bị hành quyết. 60 . Nhà nông nhiều ruộng dâu, Vết trâu đầy mé hiên. Chẳng tin có nhân quả, Cố chấp khi nào tỉnh. Mắt nhìn tiêu tán hết, Mỗi người tự tìm sống. Mặc quần ngói, khố giấy, Cuối cùng lạnh đói chết. 61 .Ta thấy một bầy chó, Mỗi con lông bù xù, Con nằm tự vui nằm, Con đứng tự vui đứng. Quăng cho một khúc xương, Tranh giành cắn sủa nhau, Bởi do vì xương thiếu, Chó phần nhiều bất bình. 62 . Ta thấy một bầy chó, Mỗi con lông bù xù, Con nằm tự vui nằm, Con đứng tự vui đứng. Quăng cho một khúc xương, Tranh giành cắn sủa nhau, Bởi do vì xương thiếu, Chó phần nhiều bất bình. 63 . Lạc Dương nhiều thiếu nữ, Ngày xuân khoe sắc hương. Cùng hái hoa bên đường, Cày vào trong mái tóc.

Đến chết chưa từng nếm. 9. Muốn đi về vách đông, Đến nay biết bao năm. Hôm qua vịn dây leo, Giữa đường bị mây phủ. Đường hẹp khó tiến lên, Rêu bám giày khó bước. Mặc tình dưới gốc quế, Gối đầu mây trắng ngủ. 10 . Trước núi riêng tĩnh tọa, Trăng tròn đang sáng ngời. Muôn vật bóng trong ấy, Một vầng vốn không soi. Rỗng rang thần tự trong, Trùm khắp rỗng mầu nhiệm, Nương tay thấy trăng kia, Trăng là tâm quan yếu. 11 . Nhà ta khéo ẩn giấu, Chỗ ở không ồn ào. Đạp cỏ thành ba lối, Nhìn mây thành bốn thôn. Trợ ca có tiếng chim, Hỏi pháp người không lời. Ngày nay cây sa bà, Bao năm là một xuân? 12 . Đàn, sách phải tự theo, Tước lộc dùng làm gì? Vào xe theo vợ hiền, Trong xe có con hiếu. Gió thổi bày đất lúa, Nước tràn vào ao cá. Thường nhớ con chim ri, Đậu yên trên một cành. 13 . Anh em cùng năm quận, Cha con vốn ba châu. Muốn nghiệm bầy le hợp, Cần rõ thỏ trắng chạy. Bầu linh trong mộng nhận, Trong tòa thần quít thu. Cố hương sao xa xôi, Như cá nương dòng nước. 14 . Một lần làm khách văn võ, Ba phen gặp vua anh minh. Giữ đông không thưởng quan văn, Đánh tây không khen quan võ. Học văn cùng học võ, Học võ cùng học văn. Ngày nay đã già rồi, Sống thừa chẳng đáng nói. 15 . Trang Tử nói đám ma, Trời đất là quan tài. Ta có lúc về đây,

Tóc cao hoa một vòng, Người thấy đều liếc nhìn. Riêng cầu chút tình yêu, Sắp về thấy phu quân. 64 . Xuân nữ khoe nhan sắc, Dắt nhau về phương nam. Xem hoa sầu ngày tàn, Dưới cây ẩn sợ gió. Thiếu niên từ xa lại, Ngựa trắng (dây) hàm vàng ròng. Đâu cần đùa nhau lâu, Chồng em thấy sẽ biết. 65 . Nhóm nữ vui bóng chiều, Gió thổi đầy đường thơm. Quần thêu bươm bướm vàng, Tóc cày uyên ương ngọc. Tiểu tỳ quần lụa hồng, Tớ hầu xiêm gấm tía. Vì thấy người mất đạo, Tóc bạc lòng bàng hoàng. 66 . Nếu người gặp quỷ sứ, Bậc nhất chớ kinh sợ. Kềm cứng chớ đổi sắc(?). Gọi tên nó bỏ đi. Đốt hương thỉnh lực Phật, Lễ bái cầu Tăng giúp. Con muỗi chích trâu sắt, Không chỗ nó cấm mỏ. 67 . Mênh mông nước Hoàng Hà, Chảy mãi về biển đông. Nước cuộn dòng chẳng trong, Mỗi người tuổi có hạn. Nếu muốn cỡi mây trắng, Đâu cần mọc cánh lông. Chỉ đang lúc còn khỏe, Đi đứng phải nổ lực. 68 . Ngồi trên chiếc thuyền mục, Thái bỉ nhậm bà tử (?). Đi vào trong biển lớn, Sóng nhồi mãi chẳng dừng. Chỉ mang một ngày lương, Cách bờ ba ngàn dặm. Phiền não sanh từ đâu? Buồn thay do khổ khởi. 69 . Im lặng mãi chẳng nói, Người sau biết gì theo. Ở ẩn tại rừng cỏ, Do đâu cảnh trí bày. Khô khan chẳng giữ lâu, Gió sương thành họa bệnh. Trâu đất cày ruộng đá, Ngày nào thu được lúa.

Chỉ cần một tấm bạc. Chết đem nuôi ruồi xanh, Điếu chẳng cần hạc trắng. Đói đến núi Thủ Dương, (Bá Di, Thúc Tề chết đói tại núi này) Sống sạch chết cũng vui. 16 . Người hỏi đường Hàn Sơn, Đường Hàn Sơn chẳng thông. Mùa hạ băng không tan, Ba ngày mây lờ mờ. Giống ta từ đâu đến? Cùng tâm anh chẳng đồng. Tâm anh nếu giống ta, Lại được đến trong ấy. 17 . Trời sanh cây trăm thước, Cắt làm một khúc dài. Đáng tiếc tài rường cột, Quăng bỏ trong hang tối. Nhiều năm lỗi còn chắc, Lâu ngày da mục sạch. Người trí vác đem về, Còn chống được chuồng ngựa. 18 . Đuổi ngựa qua thành hoang, Thành hoang động tình khách. Tường thành xưa cao thấp, Mồ mã hoang lớn nhỏ. Bóng cỏ (bồng) tự bay lên, Vang vọng tiếng người chết. Thở than đều xương tục, Sách tiên không ghi tên. 19 . Oanh vũ nhà phía tây, Ngu La bắt đem về. Người đẹp sớm chiều đùa, Ra vào tại nhà mình. Ban cho lồng vàng nuôi, Lồng hẹp tổn cánh lông. Sao bằng loài ngỗng trời, Bồng bềnh vào mây trắng. 20 . Nhà ngọc rũ rèm châu, Trong có thiếu nữ đẹp. Dáng mạo hơn thần tiên, Hồng hào như đào lý. Nhà đông hợp sương xuân, Nhà tây nổi gió thu. Đã qua tuổi ba mươi, Lại thành bã xác mía. 21 . Cha mẹ nhiều kinh doanh, Ruộng vườn kia chẳng dư. Vợ dệt tơ kẻo kẹt, Con đùa miệng oa oa. Chống má nghe chim ca. Ngày sau ai khen ngợi,

70 . Khách núi tâm lặng lẽ, Thường than năm đổi dời. Siêng năng hái chi truật, (linh chi, bạch truật) Tìm tòi há thành tiên? Trước sân mây vừa cuộn. Trăng chiếu rừng sáng ngời, Chẳng về ở làm gì? Quyến luyến cùng cây quế. 71 . Có người ngồi đường núi, Áo mây hề mũ ráng. Ôm cỏ thơm muốn gởi, Đường dài hề khó đi. Tâm buồn sầu hồ nghi, Tuổi già không ra gì. Mọi người chê già suy, Riêng đứng hề trung trực. 72 . Heo ăn thịt người mất, Người ăn ruột heo chết, Heo chẳng chê người hôi, Người lại khen heo thơm. Heo chết quăng trong nước, Người chết đào đất chôn, Heo người chẳng ăn nhau, Nước sôi sen hồng nở. 73 . Vui thay thân hỗn tạp, Chẳng ăn lại chẳng tiểu. Gặp được ai dùi phủng, Do đó thành chín lỗ (cửu khiếu). Hàng ngày vì ăn mặc, Mỗi năm sầu thuế nhiều. Ngàn kẻ tranh một tiền, Dụm đầu than muốn chết. 74 . Khóc than do việc gì? Lệ rơi như dòng châu, Lý đáng có biệt ly, Lại là gặp họa tang. Bởi vì còn nghèo cùng, Chưa thể rõ nhân quả. Giữa mồ gánh thây ma, Sáu đường chẳng thích ta. 75 . Phụ nữ lười dệt vải, Nam nhi nhác cày ruộng. Buông lung mê ôm đàn, Ngón chân khảy dây hát. Lạnh xương cần áo gấp, No lòng trước phải ăn. Nay ai thông cảm anh, Đau khổ khóc trời xanh. 76 . Chẳng đi đường chân chánh, Theo tà gọi hạnh bà. Miệng niệm chút Thần Phật, Tâm ôm nhiều tật đố.

Tiều khách thường đi qua. 22 . Nhà ở ven dưới núi, Trước sân cỏ không cắt, Dây leo quấn chằng chịt, Đá xưa dựng cao vót. Quả núi khỉ vượn hái, Cá ao cò trắng ngậm, Sách tiên một hai quyển, Dưới cây đọc thì thào. 23 . Bốn mùa không dừng lại. Năm đi rồi năm đến. Muôn vật thường đổi thay, Trời cao không hoại diệt. Trời mọc rồi trời lặn, Hoa nở rồi hoa tàn. Chỉ có khách suối vàng, Lặng lẽ đi chẳng về. 24 . Năm đi đổi năm sầu, Xuân mới sắc vật tươi. Hoa núi cười nước xanh, Cây rừng múa khói biếc. Ong bướm tự nói vui, Chim cá lại rất thích. Tình bạn chơi chưa nguôi, Đến sáng không thể ngủ. 25 . Xử sự rất ngang tàng, Chiếc thân quá nặng nề. Sống là thân có hạn, Chết làm quỷ vô danh. Từ xưa nhiều như thế, Anh nay tính thế nào? Nên đến trong mây trắng, Dạy anh ca linh chi. 26 . Bèn tự ở Hàn Sơn, Đã qua bao vạn năm. Mặc tình ẩn suối rừng, Dừng lâu thấy tự tại. Trong núi người chẳng đến, Mây trắng thường mịt mù. Cỏ mịn làm nệm nằm, Trời xanh làm chăn đắp. Vui sống dựa đầu đá, Trời đất mặc đổi thay. 27 . Có đạo sĩ tu tiên, Chỗ ở kỵ người đến. Khí hậu thật mát mẽ, Mùa hạ cũng như thu. Khe tối thường chảy mãi, Tùng cao gió xạc xào. Trong ấy ngồi nửa ngày, Quên hẳn sầu trăm năm. 28 . Nhà thiếp ở Hàm Đan,

Sau lưng ăn cá thịt, Trước người niệm nam mô. Chỗ tu thân như thế, Nên khó tránh địa ngục. 77 . Đời có một hạng ngu, Mờ mịt tợ như lừa, Lại hiểu lời nói người, Tham dâm tợ như heo. Hiểm ca (3) khó thể lường, Lời thật lại thành hư, Ai hay cùng y nói, Khiến cho chớ ở đây. 78 . Có kẻ tánh ngạo mạn, Tên Tham tự Bất Liêm. Một thân không hiểu gì, Trăm việc bị người khi. Chết ghét hoàng liên đắng, Sống thích mật trắng ngon. Ăn cá vẫn chưa dừng, Xơi thịt lại không chán. 79 . Chọn lựa đất ở ẩn, Thiên Thai hết chỗ chê. Vượn kêu hơi khe lạnh, Cỏ xanh mọc đầy hiên. Lá trúc che thất tùng, Khơi ao dẫn suối về. Cam chịu buông tất cả, Hái rau hết tuổi già. 80 . Ích là ích tinh kia, Sao gọi là có ích. Đổi là đổi hình kia, Đó gọi là thay đổi. Hay ích lại hay đổi, Được ghi trên sách tiên, Không ích lại không đổi, Trọn chẳng thoát nạn chết.
(3) Hiểm ca: Khúc ca kỳ quặc, không bình thường.

81 . Uổng công nói ba sử, Tự nhọc xem năm kinh. Đến già kiểm sổ vàng, Như cũ ghi thường dân. Bói gặp quẻ xấu tệ, Mạng sống (là) sao hư dối. Sao bằng cây bên sông, Mỗi năm lá thêm xanh. 82 . Khe xanh suối nước trong, Hàn Sơn trăng sáng rõ, Thầm biết thần tự trong, Quán không cảnh càng lặng. 83 . Ta nay có một áo, Chẳng tơ cũng không lụa, Xin hỏi là màu gì?

Giọng ca thật trầm bổng. Nhờ ta ở an ổn, Khúc ấy dài xưa nay. Đã say chớ bảo về, Quyến luyến chưa hết ngày. Nhà em chỗ ngơi nghỉ, Chăn thêu đầy giường bạc. 29 . Chèo nhanh thuyền ba lá, Khéo cỡi ngựa ngàn dặm. Không thể đến nhà ta, Bảo rằng quá hoang vắng. Hang động sâu trong núi, Sấm vang trọn cả ngày. Nếu chẳng phải Khổng Khâu, Không thể đến với nhau. 30 . Người trí, anh bỏ ta, Người ngu, ta bỏ anh. Không ngu cũng chẳng trí, Từ đây nghe tiếp nhau. Vào đêm ca (với) trăng sáng, Bình minh múa (cùng) mây trắng. Đâu thể dừng tay miệng, Ngồi thẳng tóc phất phơ. 31 . Người quê ở nhà tranh, Trước cửa xe ngựa ít. Rừng sâu chim tụ họp, Khe rộng chứa nhiều cá. Dắt trẻ hái quả núi, Cùng vợ bừa ruộng cao, Trong nhà có những gì? Chỉ có sách đầy giường. 32 . Đi lên đường Hàn Sơn, Đường Hàn Sơn chẳng cùng. Suối dài đá chồng chất, Khe rộng cỏ chen nhau. Rêu trơn chẳng ngại mưa, Tùng kêu chẳng nhờ gió. Người nào thoát khổ lụy, Cùng ngồi trong mây trắng. 33 . Lục cực (2) trẻ thường bệnh, Chín châu luống tự bàn. Có tài bỏ hoang vắng, Không nghề nhàn lều tranh. Trời lên hang còn tối, Mây tan động còn mờ. Trong ấy con trưởng giả, Mỗi đứa không quần mặc. 34 . Mây trắng cao chót vót, Sóng nổi đầm nước xanh. Lúc này nghe ngư phủ, Luôn luôn vỗ chèo ca. Mỗi tiếng chẳng thể nghe, Nay ta nhiều lo sầu.

Chẳng hồng cũng không tím. Mùa đông làm áo ấm, Mùa hạ đổi thành chăn, Đông hạ thay đổi dùng, Nhiều năm chỉ thế ấy. 84 . Phất trần cán trầm hương, Mùi thơm trọn ngày nồng. Mềm mại như khói cuộn, Dao động tợ mây bay. Trời nóng phụng sự mãi, Quơ cao để quét bụi. Thường ở trong phương trượng, Dùng để chỉ người mê. 85 . Có người tham ái mong vui sướng, Chẳng biết họa tại thân trăm năm. Hãy xem sóng nắng bọt nước nổi, Liền biết vô thường thân rã tan. Ý chí trượng phu cứng như sắt, Trong tâm không cong đạo tự chơn. Mật hạnh tiết cao sương phủ trúc, Mới biết chẳng uổng dụng tâm thần. 86 . Bao nhiêu bọn người hèn, Trăm kế cầu danh lợi. Tâm tham tìm vinh hoa, Kinh doanh mong giàu có. Tâm chưa từng thôi dứt, Cuồn cuộn như mây khói. Gia quyến thật sum vầy, Vừa hô trăm kẻ dạ. Chẳng quá tuổi bảy mươi, Băng tan ngói bể rồi. Đã chết muôn việc thôi, Người nào thừa kế tiếp. Nước thấm vào hòn đất, Mới biết quá ngu si. 87 . Người tham thích chứa tiền, Giống như cú thương con. Con lớn ăn thịt mẹ, Tiền nhiều lại hại mình. Bố thí tức phước sanh, Tích lũy liền họa khởi. Không tiền cũng không họa, Vỗ cánh trong mây xanh. 88 . Cách nhà một vạn dặm, Đưa kiếm giết hung nô. Được lợi anh liền chết, Mất lợi anh cũng tàn. Mạng anh đã chẳng tiếc, Thân anh có tội gì? Dạy anh thuật trăm thắng,

Ai bảo (chim) sẻ không sừng, Làm sao xuyên mái nhà. 35 . Đường Hàn Sơn tối tăm, Bến khe lạnh vắng vẻ. Tiếng chim vang lảnh lót, Lặng lẽ không một người. Gió thổi mặt vùn vụt, Phất phới tuyết đầy thân. Mỗi sáng chẳng thấy trời, Năm năm chẳng biết xuân. 36 . Tuổi trẻ sầu những gì? Sầu thấy râu tóc bạc. Tóc bạc sầu những gì? Sầu thấy ngày rút ngắn. Dời đến ở Thái Sơn, Đày giữ nhà nghĩa địa. Sao nhẫn nói lời này, Lời này đau khách già. 37 . Nghe nói sầu khó bỏ, Bảo lời này chẳng đúng . Sáng qua vừa đuổi sạch, Ngày nay lại trói thân. Tháng hết sầu còn mãi, Năm mới sầu lại thêm. Ai biết dưới chiếc nón, Vốn là người sầu xưa. 38 . Hai rùa nương xe trâu, Vượt lên đầu đường đùa. Bò cạp bên cạnh đến, Kêu cứu muốn nương nhờ. Chẳng chở tình lầm lỡ, Vừa chở bị trầm lụy. Nháy mắt chưa nói gì, Ra ân lại bị đâm. 39 . Mùa xuân tầm còn nhỏ, Người nữ đi hái hoa. Đùa bướm nơi góc tường, Quăng ểnh ương xuống nước. Tay áo đầy trái mơ, Thoa vàng khều măng non. Bàn luận tranh sắc vật, Đất này hơn nhà tôi. 40 . Bà già nhà phía đông, Giàu sang khoảng ba năm. Ngày xưa nghèo hơn ta, Nay cười ta không tiền. Bà cười ta về sau, Ta cười bà ngày trước. Cười nhau nếu không dừng, Bên đông rồi bên tây.
(2) Sáu hiện tượng hoặc quá nóng, quá lạnh … khiến trẻ phải bệnh.

Chẳng tham là thượng mưu. 89 . Sân là lửa trong tâm, Hay thiêu rừng công đức, Muốn hành đạo Bồ Tát, Nhãn nhục gìn chơn tâm. 90 . Bọn anh vùi đầu quá lầm mê, Thích hướng vô minh hang la sát. Bao lần khuyên anh sớm tu hành, Chính anh ngu si tâm hoảng hốt. Chẳng chịu tin nhận lời Hàn Sơn, Càng tạo tăng thêm nghiệp chất chồng. Đợi khi chém đầu làm hai khúc, Mới biết thân mình là giặc nô. 91 . Ác thú rất mờ mịt, Tối tăm không ánh sáng. Nhân gian tám trăm năm, Địa ngục mới nửa đêm. Những bọn ngu si này, Theo tình rất đáng thương, Khuyên anh cầu xa lìa, Nhận lấy ngôi Pháp Vương. 92 .Trời cao vút chẳng cùng, Đất sâu dày vô cực. Động vật tại trong ấy, Nương sức tạo hóa này. Tranh giành tìm no ấm, Mưu kế cắn xé nhau. Nhân quả thảy chẳng rành, Bé mù hỏi màu sữa. 93 . Thiên hạ bao loại người, Khi bàn có vài hạng. Cổ bà theo Hứa phu, Hoàng Lão vốn không vợ. Họ Vệ con đáng mến, Nhà chung gái cực xấu. Nó nếu đi về tây, Ta nhắm hướng đông chạy. 94 . Hiền sĩ chẳng tham lam, Người ngu thích lò luyện. Chiếm đất lúa của người, Vườn trúc đều của ta. Ra sức tìm tiền tài, Cắn răng đuổi ngựa nô. Hãy xem ngoài cửa thành, Nhiều lũy dưới tùng bách. 95 . Lừa dối mua thịt cá, Gánh về nuôi vợ con. Đâu cần giết mạng nó, Đem về nuôi mình người. Chẳng phải nhân thiên đường, Chỉ thuần nghiệp địa ngục.

41 . Giàu sang nhiều phiền nhọc,

Gặp việc khó vâng theo. Gạo trắng đã đổi hồng, Một lít chẳng cho vay. Hỏi vặn tra xét mãi, Mua tơ chọn lụa trước. Nếu đến ngày lâm chung, Khách điếu có ruồi xanh. 42 . Tôi xưa từng thấy kẻ thông minh, Thông suốt tài ba chẳng ai sánh. Thi đậu tiếng khen rền đất trời, Thơ cú ngũ ngôn vượt quần chúng. Làm quan trị nước siêu tiền bối, Lại bảo người sau khó noi theo. Bỗng nhiên giàu có tham tài sắc, Ngói bể băng tan không lời bày. 43 . Hạc trắng ngậm hoa đắng, Một hơi bay ngàn dặm. Muốn qua núi Bồng Lai, Đến đây lương thực nhiều. Chưa đến lông gẫy rụng, Lìa bầy lòng nhớ thương. Bay về tổ xưa cũ, Vợ con chẳng biết nhau. 44 . Quen ở nơi xa vắng, Chợt về chùa Quốc Thanh. Thường hỏi lão Phong Can, Nhưng đến gặp Thập Đắc. Riêng về trên Hàn Nham, Không người nói hợp lòng. Tầm cứu không nguồn nước, Nguồn cùng nước không cùng. 45 . Đời trước quá ngu si, Chẳng phải ngộ hôm nay. Hiện tại nghèo như thế, Đều do đời trước làm. Đời nay nếu chẳng tu, Đời sau hoàn như cũ. Hai bờ đều không thuyền, Xa xôi nên khó qua. 46 . Rực rỡ gái họ Lư, Xưa nay tên chẳng sầu. Thích cỡi ngựa hái hoa, Vui chèo thuyền cắt sen. Quỳ trên chiếu thêu gấu, Thân mặc áo phụng xanh. Nhớ sầu sau trăm năm, Cũng phải về nghĩa trang. 47 . Vợ Trâu Công (ở) Để Nhãn, Mẹ nàng tại Hàm Đan. Hai người đều đã già, Đồng thích thiếu niên đẹp. Hôm qua gặp tiệc tùng, Áo rách bày sau lưng.

Lời Từ Lục vỡ tan, Mới biết không đạo lý. 96 . Có người nắm cây xuân, Gọi là bạch chiên đàn, Học đạo nhiều như cát, Mấy người đạt Niết Bàn. Bỏ vàng lại gánh cỏ, Dối người cũng lừa mình, Tợ nhóm cát một chỗ, Thành viên cũng rất khó. 97 . Nấu cát định làm cơm, Khát nước mới đào giếng. Ra sức mài đá gạch, Đâu kham làm kính soi. Phật nói vốn bình đẳng, Thảy có tánh chơn như. Hãy tự suy nghĩ kỹ, Đâu cần tranh luận suông. 98 . Suy tìm việc thế gian, Chín chắn thảy cần biết. Việc phàm chớ dễ duôi, Đều thích tìm tiện nghi. Giữ gìn tệ thành tốt, Hủy bỏ phải thành trái. Nên biết nhiều lời tạp, Trước sau thảy do y. Lạnh nóng ta tự lường, Chẳng tin môi nô tỳ. 99 . Ngơ ngác kẻ sĩ nghèo, Đói lạnh thành cùng khốn. Ngồi không thích làm thơ, Cố gắng dụng tâm lực. Người hèn lời tốt đẹp, Khuyên anh thôi than thở. Viết chữ là bánh Hồ, Cho chó cũng chẳng ăn. 100 . Muốn biết dụ sống chết, Hãy sánh băng và nước, Nước đông tức thành băng, Băng tan trở về nước. Chết rồi ắt phải sanh, Sanh ra rồi lại chết, Băng nước chẳng hại nhau, Sống chết thảy đều tốt. 101 . Nhớ lại thời còn trẻ, Đi săn đến Bình Lăng. Chẳng mong làm đại sứ, Thần tiên chưa đủ sánh. Cởi ngựa trắng nối nhau, Thỏ quát chim ưng chạy? Chẳng biết nay lưu lạc, Tóc bạc ai thấy xót.

Chỉ vì mặc quần rách, Ăn bánh thừa của người. 48 . Một mình nằm hang đá, Mây đùn ngày chưa tan. Trong thất tuy tối tăm, Nơi lòng dứt ồn náo. Nằm mộng dạo lầu vàng, Hồn về qua cầu đá. Đuổi trừ kẻ phiền ta, Rõ ràng bầu treo cây. 49 . Sự vật có chỗ dùng, Dùng nó phải thích hợp. Nếu dùng không đúng chỗ, Không lợi lại hại thêm. Đục tròn đẽo mộng vuông, Buồn thay phí công làm. Ngựa giỏi sai bắt chuột, Chẳng bằng con mèo què. 50 . Mọi người ai chẳng chết, Việc chết xưa nay đồng. Mới thấy gã to lớn. Bỗng thành một đống tro. Suối vàng không ánh sáng, Cỏ xanh có lúc tươi. Đi đến chỗ đau lòng, Gió tang buồn chết người. 51 . Đánh ngựa roi san hô, Đuổi chạy về Lạc Dương. Tự thích tuổi trẻ đẹp, Chẳng tin có già buồn. Tóc bạc chắc chắn điểm, Hồng nhan há bền lâu? Hãy xem mồ nghĩa trang, Chính là đảo Bồng Lai. 52 . Trọn ngày mãi như say, Dòng đời chẳng tạm dừng. Vùi dưới cỏ bồng lau, Sáng nay sao mờ mịt. Xương thịt tiêu tán hết, Hồn phách bao điêu linh. Chẳng cần cắn miệng sắt, Bởi do chẳng đọc kinh (kinh Lão) 53 . Chuyên bề ngồi Hàn Sơn, Thầm ở ba mươi năm. Hôm qua hỏi bạn thân, Quá nửa vào suối vàng. Chết dần như đuốc tàn, Chảy mãi tợ nước sông, Sáng nay đối ảnh mình, Chẳng theo dòng lệ rơi. 54 . Gọi nhau hái phù dung, Rất thích trên dòng xanh.

102 . Nằm nghỉ dưới rừng sâu, Từ sanh là nông phu. Lập thân đã ngay thẳng, Mở lời không nịnh hót. Gìn ta chẳng xem ngọc, Tin anh vừa được châu, Đâu thể đồng trôi nổi. Nhìn xa le trên sóng. 103 . Chẳng cần trách người ác, Chẳng cần khoe mình hiền. Làm được thì cứ làm, Thu lại thì cứ thu. Lộc nhiều lo nợ lớn, Lời sâu ngại bạc bẽo. Nghe đây nếu nhớ đây, Trẻ nhỏ đang tự thấy. 104 . Trẻ giàu nhóm lầu cao, Đèn treo sao sáng rực. Lúc này người không đuốc, Lòng muốn ở cạnh bên. Đâu ngờ bị xua đuổi, Chạy về chỗ tối ẩn. Giúp người đèn há giảm? Thật là tiếc sáng thừa. 105 . Đời có sĩ thông minh, Khổ công tìm văn sâu. Bút nghiên tự cô lập, Kinh sử vượt hơn người. Thần khí rất khác lạ, Văn hay siêu quần chúng. Chẳng biết ý trong ấy, Theo cảnh loạn lăng xăng. 106 . Chất chồng nước núi tuyệt, Mây ráng phủ xanh nhạt. Sương thấm áo cỏ thô, Chân bước qua các nơi. Tay nắm dây mây già, Nhìn về ngoài trần thế. Cảnh mộng lại làm gì? 107 . Sách đầy thơ tài tử, Bình tràn rượu thánh nhân. Đi thích nhìn trâu nghé, Ngồi chẳng lìa phải trái. Sương mù vào mái hiên, Trăng sáng soi lu nước. Lúc này uống hai cốc, Ngâm thơ hai ba bài. 108 . Thí chủ có hai con, Dùng tài can Tề, Sở. Văn võ đều tự đủ, Gởi thân đã có nơi. Mạnh Tử hỏi thuật kia, Con ta đích thân dạy.

Vui đùa chẳng biết chiều, Thường thấy gió cuồng thổi. Sóng bợ con uyên ương, Nước nhồi chim le le. Lúc này ngồi trên thuyền, Tình dâng trào không nguôi. 55 . Liễu rũ tối như khói, Hoa bay như tuyết rơi. Chồng ở châu Lìa Vợ, Vợ tại huyện Nhớ Chồng. Mỗi người trụ một nơi, Khi nào được thấy nhau? Nhắn nhủ lầu trăng sáng, Chớ chứa đôi én bay.

Tần, Vệ đều chẳng thành, Thất thời thành lận đận. 109 . Chim uyên ương dừng nghỉ, Con mái và con trống. Ngậm hoa cùng ăn chung, Rỉa lông thường theo nhau. Đùa giỡn vào mây ráng, Về nghỉ bên bờ cát. Tự nhớ chỗ sống vui, Chẳng cướp ao phụng hoàng. 110 . Hoặc có người kiêu ngạo, Tài nghệ hơn Chu Khổng. Nhìn thấy đầu lắc lư, Khi xem thân vạm vỡ. Trói cột chẳng thể đi, Dùi đâm vẫn bất động, Giống như hạc Dương Công, Đáng thương sống ngu ngốc.

111 . Lúc nhỏ từng vác bừa, Vốn cùng anh ở chung. Bởi bị người khiển trách, Lại bị vợ chê bỏ. Buông hết cảnh hồng trần, Thường thích xem kinh sách. Ai tiếc một gáo nước, Cứu lấy cá vết xe.

192 . Ở lâu Hàn Sơn đã mấy thu, Riêng ngâm khúc ca bặt u sầu. Đói ăn một viên thuốc già đà, Tâm địa điều hòa nương gò đá. 193 . Các sao la liệt đêm khuya sáng, Ngọn đuốc điểm núi trăng chưa chìm. Ánh sáng tròn đầy chẳng do tạo, Treo tại trời sanh là tâm ta. 194 . Già bệnh năm tàn một trăm hơn, Mặt vàng đầu bạc thích ở núi. Áo vải che thân tùy duyên qua, Đâu thích người đời khuôn mẫu khéo.

112 . Biến hóa kế vô cùng, Sanh tử lại chẳng dừng. Ba đường làm chim sẻ, 195 . Suy tàn lều tranh hoang, Ngũ Nhạc làm cá rồng. Trong ấy đầy lửa khói. Đời nhơ làm con cừu (giả Xin hỏi bọn trẻ nhỏ, ngu), Sanh ra đã mấy ngày? Đời trong làm ngựa giỏi. Ngoài cửa có ba xe, Lúc trước là phú ông, Đón chờ chẳng chịu ra. Ngày nay là bần sĩ. Tham ăn bụng phình to, Kẻ này thật ngu si. 113 . Sách đoán chẳng bất tài, 196 . Có thân cùng không thân, Trách thân chẳng chức Là ngã chẳng phải ngã. cao. Suy xét kỹ như thế, Tuyển quan bị loại bỏ, Dời đến nương núi ngồi. Tẩy nhơ tìm vết sẹo. Dưới chân cỏ xanh mọc, Chắc liên quan số mạng, Trên đầu bụi hồng rơi. Năm nay lại thử xem. Đã thấy người trong tục, Bé mù bắn mắt sẻ, Giường linh bày tiệc rượu. Bỗng nhiên trúng chẳng khó. 197 . Hôm qua thấy cây (bên) sông, Tồi tàn hết chỗ nói. 114 .Lừa nghèo một mét Hai ba hoa rêu bám, thiếu, Ngàn muôn vết búa rìu. Chó giàu ba tất hơn. Sương lột lá héo sạch,

So sánh nghèo bất bình, Khoảng nửa giàu và khốn. Mới cho lừa no đủ, Lại bắt chó đói nghèo. Vì nó suy nghĩ kỹ, Khiến ta cũng sầu muộn. 115 . Liễu Lang tám mươi hai, Lam tẩu tròn mười tám, Vợ chồng cùng trăm năm, Mối tình thật gian trá. Sanh trai tên Ô Đồ, Sanh gái gọi Oát Nạp, Cây dương khô nẩy mầm, Luôn bị sương tuyết hoại. 116 . Quán rượu ai rực rỡ, Rượu kia thật đậm đà. Đáng mến cờ xí cao, Xa xa hủ chất hàng. Ngạc nhiên sao chẳng bán, Nhà kia nhiều chó dữ. Đồng tử nếu đến mua, Chó cắn co chân chạy. 117 .Than thở chỗ hỗn tạp, La sát cùng hiền nhân. Bảo là bọn quê dốt, Đâu biết đạo chẳng gần? Dối trá lại xưng chơn. Quặng chì vào lò luyện, Mới biết vàng chẳng ròng. 118 . Nhà nông tránh tháng hạn, Cốc rượu cùng ai vui. Dọn ra trái tạp nhạp, Lưa thưa vài cốc rượu. Dùng cỏ khô làm chiếu, Lá chuối trải đầy mâm. Khi say chống má ngồi, Tu Di nhỏ (như) viên đạn. 119 . Kẻ tên Hà Thố Đại, Thường đến Nam Viện thăm. Tuổi khoảng hơn ba mươi, Từng trải nhiều lần thi.

Sương dập gốc khô mục. Chỗ sống đang như thế, Đâu cần oán trời đất. 198 . Trên đá ngàn năm dấu người xưa, Trước núi muôn thước một điểm không. Trăng tròn chiếu sáng thường trong vắt, Chẳng nhọc tìm xét hỏi tây đông. 199 . Thương thay bệnh chúng sanh, Ăn nếm mãi chẳng chán, Hầm thịt tương tỏi xông, Nướng quay chấm muối ớt. Lóc xương thái thịt nhỏ, Luộc da, thịt gò má, Chẳng biết mạng chúng khổ, Chỉ giữ nhà mình ngon. 200 . Đọc sách há khỏi chết, Đọc thư sao hết nghèo. Vì sao thích biết chữ, Biết chữ để hơn người. Trượng phu chẳng biết chữ, An thân ở chỗ nào? Hoàng liên hòa tương tỏi, Quên tính là cay đắng. 201 . Ta thấy kẻ khinh người, Như sọt múc đầy nước. Một hơi chạy về nhà, Trong sọt chẳng còn gì. Ta thấy người bị khinh, Giống tợ hẹ trong vườn. Mỗi ngày bị dao cắt, Trời sanh lá mọc thêm. 202 . Trên đảnh Hàn Sơn một vầng trăng, Chiếu cảnh trời không một vật không. Rất quý thiên nhiên báu vô giá, Vùi tại ngũ ấm chìm thân phàm. 203 . Ta đến trước khe soi dòng xanh, Hoặc tới bên núi ngồi bàn đá. Tâm tợ áng mây không chỗ nương, Việc đời lăng xăng cần tìm gì? 204 . Nhà ta vốn ở tại Hàn Sơn, Dừng nghỉ núi đá lìa phiền duyên. Buông hết vạn tượng không dấu vết. Thư thả bao trùm khắp Đại Thiên. Ánh sáng rực rỡ chiếu tâm địa, Không có một pháp đang hiện tiền. Mới biết một viên châu ma ni, Biết dùng vô cùng mỗi nơi tròn. 205 . Người đời việc gì đáng thở than, Khổ vui nung nấu không bờ mé. Sanh tử lại qua bao nhiêu kiếp? Đông tây nam bắc là nhà ai?

Trong túi không có tiền, Trong cặp có quyển sách. Đi đến trước quán ăn, Chẳng dám xoay mặt nhìn.

Trương, Vương, Lý,Triệu tạm là họ, Sáu đạo ba đường việc tợ (cây) gai. Chỉ vì chủ nhơn chẳng thấu suốt, Bèn chịu sanh diệt vào đường tà.

206 . Nhà ta vốn ở tại Thiên Thai, Đường mây khói sâu không khách đến. 120 . Có nhiều khách cơ Núi hiểm ngàn thước sâu đáng ẩn, hàn, Hang khe muôn lớp đá lâu đài. Sống nuôi cá thú ít. Khăn hoa guốc gỗ bước ven dòng, Mãi ở dưới miếu đá, Áo vải gậy lê quanh núi về. Luôn bên góc tường Tự biết cuộc đời việc huyễn hóa, cười. Tiêu diêu khoái lạc thật sướng thay! Nhiều ngày uổng nhớ cơm, 207 . Thấy chăng sương sớm đọng, Trọn đông không áo Nắng soi tự tiêu trừ, mặc. Thân người cũng như thế, Tư lương không bó cỏ, Diêm phù ở tạm thôi. Mang theo năm thăng Thận trọng chớ qua suông, trấu. Hãy khiến trừ ba độc. Bồ Đề tức phiền não, 121 . Dối đến gát cao Quét sạch không còn thừa. vút, Uổng lên lầu trăm 208 . Mặt nước lặng trong suốt, thước. Tự nhiên thấy tận đáy. Dưỡng sinh nhưng chết Trong tâm không một vật, non, Muôn cảnh chẳng thể chuyển. Dụ đọc (kinh) đâu phong Tâm đã không khởi vọng, hầu. Vĩnh kiếp không biến đổi. Chẳng cần theo trẻ nhỏ, Nếu hay biết như thế, Nào phải chán bạc đầu. Biết này không trước sau. Chưa thể thẳng như tê, Lại chớ cong như câu. 209 . Nói ăn trọn chẳng no, 122 . Lớp lớp mây núi liền trời xanh, Rừng sâu đường vắng không khách đến. Nhìn xa vầng trăng chiếu sáng ngời, Gần nghe bầy chim kêu lãnh lót. Ông già riêng ngồi tựa núi xanh, Thiếu Thất nhàn ở mặc đầu bạc. Than thở năm qua cùng ngày nay, Tâm không lại tợ nước về đông. 123 . Giàu có sơ thân tụ, Chỉ vì nhiều của tiền. Nghèo nàn ruột thịt lìa, Chẳng có tình anh em. Hãy mau về đi thôi, Gác chiêu hiền chưa mở. Lang thang đường công danh, Nói mặc không hết lạnh. Ăn no phải là cơm, Mặc áo mới khỏi lạnh. Chẳng biết suy nghĩ kỹ, Chỉ nói cầu Phật khó. Xoay tâm lại là Phật, Chớ hướng tìm bên ngoài. 210 . Đáng sợ khổ luân hồi, Qua lại như bụi bay, Kiến lòng vòng không dứt, Sáu đường loạn lăng xăng. Thay đầu đổi mặt mũi, Chẳng lìa người xưa nay, Chóng rõ ngục đen tối, Chớ khiến tâm tánh mờ. 211 . Đáng sợ vòng tam giới, Niệm niệm chưa từng thôi, Vừa mới được trồi đầu, Lại bị chìm xuống sâu. Giả sử trời Phi Tưởng, Bởi do nhiều phước lực, Sao bằng biết nguồn chơn, Sống được là bất tử.

Đạp nát gót da giày.

124 . Ta thấy một kẻ ngu, Nhưng cưới hai ba vợ. Nuôi tám chín đứa con, Số khẩu kẻ đòi nợ. Của tiền chẳng có sẵn, Hoàng bá cột miệng lừa. 213 . Từ xưa bao nhiêu thánh, Về sau mới biết đắng. Dặn dò bảo tự tin. Người căn tánh chẳng đồng, 125 . Lúa mới vẫn chưa Cao thấp có nhanh chậm. Chân Phật chẳng chịu nhận, chín, Gắng sức uổng nhọc phiền. Thóc cũ nay trống Chẳng biết tâm thanh tịnh, không. Chính là ấn Pháp Vương. Người đến vay vài lít, Ngoài cửa đứng chờ trông. 214 . Ta nghe núi Thiên Thai, Chồng ra bảo hỏi vợ, Trong núi có cây quý. Vợ ra sai tìm chồng. Nói mãi muốn trèo lên, Keo kiệt chẳng cứu đói, Chẳng theo đường cầu đá. Giàu có làm ngu thêm. Do đó sanh than buồn, May mắn ở lòng mến. 126 . Có nhiều việc đáng Sống vui tuổi về già. Ngày nay đối trước gương, cười, Tóc trắng rũ như tơ. Lược bày năm ba kẻ. Ông Trương giàu buông lung, 215 . Nuôi con chẳng thầy dạy, Mạnh Tử nghèo lận đận. Chẳng bằng chuột nhà trọ. Chỉ giữ thân lùn no, Nào từng thấy người tốt, Chẳng thương Phương Há nghe lời trưởng giả. Sóc đói. Bị nhiễm bởi hôi thơm, Ba ca (?) người xướng Phải cần chọn bạn lành. nhiều, Tháng năm bán cá tươi, Tuyết trắng không người Chớ để người cười anh. hòa. 216 . Đóng cửa ngồi lều tranh, 127 . Ông già cưới vợ Năm dời tháng đổi nhanh. trẻ, Chỉ nghe người thành quỷ, Tóc bạc vợ chẳng ưa, Chẳng thấy hạc thành tiên. Bà già lấy chồng trẻ, Nghĩ đây sao đáng nói, Mặt vàng chồng chẳng Theo duyên cần thương mình. thương. Quay nhìn vùng ngoại ô, Ông già cưới bà già, Mồ xưa thành đồng xanh. Mỗi mỗi không ghét nhau, 217 . Người đời thấy Hàn Sơn, Vợ trẻ lấy chồng trẻ, Đều cho là phong điên, Cả hai cùng thương yêu. Dáng mạo không muốn nhìn, Thân chỉ quấn mảnh vải. 128 . Ung dung tuổi trẻ Lời ta người chẳng hiểu, đẹp, Lời người ta chẳng nói, Học rộng hết sử kinh. Vì báo người tới lui, Mọi người gọi tiên sanh, Nên về hướng Hàn Sơn. Đều xưng là học sĩ. Khi chưa được chức 218 . Tự tại mây trắng nhàn, quan, Xưa nay chẳng mua núi. Chẳng biết dùng lưỡi Xuống núi hiểm chống gậy, cày. Lên non nguy vịn dây. Đông mặc áo lót rách, Bên khe thường tùng xanh,

212 . Hôm qua lên đỉnh núi, Nhìn xuống vách ngàn thước. Lâm nguy một gốc cây, Gió lay tét hai cành. Mưa soi thành bụi trần. Than ôi xưa tươi tốt, Ngày nay thành đống bụi.

Bởi do sách lầm ta. 129 . Đáng cười hang ngũ ấm, Bốn rắn cùng ở chung. Tối tăm không ánh sáng, Ba độc thay nhau đuổi. Đồng bọn sáu thằng giặc, Cướp phá báu pháp tài, Chém hết bọn quân ma, Bình an lặng như bơ. 130 . Nhà ta cột chẳng vẽ, Rừng xanh là am tớ. Nháy mắt một đời qua, Muôn việc chớ tưởng bền. Tế độ chẳng tạo phà, Chìm nổi vì hái hoa. Căn lành nay chưa trồng, Ngày nào thấy mầm sanh.

Đá vằng tại mé suối. Bạn lành tuy cách trở, Xuân đến chim kêu vang. 219 . Ta ở tại trong thôn, Người tìm không nơi chỗ. Hôm qua đến dưới thành, Nhưng bị hình tướng chó. Hoặc chê quần quá hẹp, Lại trách áo thiếu dài. Nhét đầy mắt diều hâu, Chim sẻ múa rõ ràng. 220 . Sanh tử vốn có mạng, Giàu có vốn do trời. Đây là người xưa nói, Ta nay chẳng lầm truyền. Thông minh thường chết yểu, Ngu ngốc lại sống lâu. Ngọc quý ẩn đá xấu, Kẻ sáng suốt không tiền.

221 . Nước lấy người làm gốc, Như cây mọc từ đất, Đất dầy cây sống lâu, Đất mỏng cây khô héo. 131 . Sanh ra ba mươi Chẳng được bày gốc kia, năm, Cành khô trái rụng trước. Thường dạo ngàn muôn Ngăn ao để bắt cá, dặm. Là mong một lúc lợi. Chơi sông hợp cỏ xanh, Vào đất hiểm bụi bay. 222 . Chúng sanh hết nói nổi, Nấu thuốc uổng cầu Đâu ngờ nhận điên tà, tiên, Trên mặt hai chim ác, Đọc thơ cùng vịnh sử. Trong tâm ba rắn độc. Ngày nay về Hàn Sơn, Bởi nó làm chướng ngại, Kê đầu suối rửa tai. Khiến anh việc rối bời, Dơ cao tay khảy nhẹ, 132 . Đời có người nhiều Nam mô Phật Đà Da. chuyện, Học rộng thấy nghe 223 . Tự vui đạo bình sanh, nhiều, Khói cuộn trong hang đá. Chẳng biết gốc chơn Tình quê thật mênh mông, tánh, Bạn thân mảnh mây nhàn. Cùng đạo càng cách xa. Có đường chẳng thông đời, Nếu hay rõ thật tướng, Không tâm ai nắm bắt? Đâu cần lập nguyện Giường đá đêm riêng ngồi, rỗng? Trăng tròn lên Hàn Sơn. Một niệm rõ tự tâm, Mở toang tri kiến Phật. 224 . Biển rộng nước vô biên, Cá rồng muôn vạn thiên, 133 . Hôm qua sao mơ Thay đổi ăn nuốt nhau, hồ, Lăng xăng mê miếng thịt. Trong trường hứa người Vì tâm chẳng thông suốt, thương. Vọng tưởng khởi như mây, Trên làm đường đào lý, Trăng bổn tánh lặng sáng, Dưới tạo bãi cỏ, (giàn) Rỗng rang chiếu vô biên. lan. Lại có người áo lụa, 225 . Ta thấy đỉnh Thiên Thai, Trong nhà nổi xanh biếc.

Gặp nhau muốn gọi nhau, Hồi hộp chẳng nên lời. 134 . Trượng phu chớ giữ khốn, Không tiền phải siêng năng. Nuôi một con trâu cái, Sanh được năm trâu con. Trâu con lại sanh con, Số lượng tăng không cùng, Nhắn lời ông Đào Chu, Giàu cùng vua tương tợ. 135 . Anh kia sao vội vàng, Phương nam nhiều bệnh độc, Đất bắc lắm gió sương. Xó hoang chẳng thể ở, Sông độc không thể uống. Hồn ơi về đi thôi, Ta ăn trái dâu vườn.

Riêng cao hơn các núi. Gió đọng tùng trúc kêu, Sóng biển nhồi bóng trăng. Nhìn xuống triền núi xanh, Bàn huyền có trăng sáng. Tình quê là núi nước, Bổn chí mến nếp đạo. 226 . Vài kẻ hậu sanh ngu, Làm việc chẳng chân thật, Chưa đọc mười quyển sách, Gượng cầm bút sửa bừa. Đem thiên hạnh nho kia, Gọi là luật trộm cướp, Hết thảy tợ con mọt, Cắn rách quyển sách kia.

227 . Tâm cao như núi Nhạc, Nhơn ngã chẳng phục người. Giảng giải sách Di Đà, Hay bàn văn tam giáo. Trong tâm không hổ thẹn, Phá giới trái luật răn, Tự nói pháp thượng nhơn, Xưng ta là số một. Người ngu đều khen ngợi, Người trí vỗ tay cười. Sóng nắng, hoa hư không, 136 . Hôm qua mộng về Há được thoát sanh tử? Sao bằng trăm chẳng hiểu, quê, Ngồi lặng dứt ưu phiền. Thấy vợ bên máy dệt. Dừng thoi dáng suy tư, Dời thoi tợ không sức. 228 . Của quý nhiều như thế, Gọi vợ quay mặt nhìn, Chèo thuyền mục vào biển. Sao lại chẳng biết nhau? Phía trước không cột buồm, Bởi vì xa nhiều năm, Phần sau không bến lái. Râu tóc đã đổi màu. Quay cuồng mặc gió thổi, Ngã nghiêng theo sóng nhồi. 137 . Đời người chẳng Làm sao được đến bờ? Nổ lực chớ ngồi yên. đầy trăm, Thường ôm lo ngàn năm, 229 . Ta thấy người phàm ngu, Thân mình bệnh vừa Chứa nhiều thóc tiền của, hết, Uống rượu ăn mạng sống, Lại buồn lo cháu con. Khoe rằng ta giàu sang. Nhìn xuống đất gốc lúa, Chẳng biết địa ngục sâu, Ngước lên ngọn cây Chỉ cầu phước trên Trời, dâu. Tội nghiệp như Tỳ Phú (4), Quả cân rơi bể đông, Há được thoát tai độc? Tận đáy mới chịu dừng. Tài chủ bỗng nhiên chết, Tranh nhau dụm đầu khóc. Cúng Tăng đọc sớ văn, 138 . Đời có một hạng Lộc quỷ thần trống rỗng. người, Ruộng phước một chút không, Lăng xăng như khúc Dối bày một bầy ngốc. cây, Mở lời không hiểu biết, Sao bằng sớm giác ngộ, Chẳng tạo ngục đen tối. Nói ta không gì phiền. Hỏi đạo đạo chẳng hội, Gió cuồng chẳng động cây, Chơn tâm không tội phước. Hỏi Phật Phật chẳng Nhắn nhủ người ngơ ngáo, cầu,

Chín chắn suy tìm đến, Nhắc nhở thường xuyên đọc. Mờ mịt một trường sầu. 230 . Khuyên anh còn tam giới, 139 . Đỗng Lang lúc còn Không đạo chớ nên làm. trẻ, Điều dở bị người khi, Ra vào trong cung vua. Việc tốt được người khen. Áo lót thêu ngỗng vàng, Thế gian người hỗn tạp, Dáng mạo giống như vẽ. Giống như xôi dính nhau. Thường cỡi ngựa trắng Thấy chăng người vô sự, tuyết, Siêu thoát không gì sánh. Phất phới bụi hồng bay. Sớm cần trở về nguồn, Người xem đầy bên Tam giới mặc duyên khởi. đường, Tâm tịnh vào dòng như, Kẻ này con nhà ai? Chớ uống nước vô minh. 140 . Kẻ này con nhà ai, Làm người quá bị ghét. Tâm si luôn dày đặc, Mắt thịt say lờ mờ. Thấy Phật chẳng biết lạy, Gặp tăng chẳng cúng dường. Chỉ biết ăn thịt ngon, Ngoài ra chẳng biết gì.
(4) Tỳ Phú: Nói đủ là Tỳ Phú La Sơn, một ngọn núi lớn gần thành Tỳ Xá Vệ bên Ấn Độ.

231 . Tam giới người lúc nhúc, Sáu đường người mờ mịt, Tham tài ái dâm dục, Tâm ác như cáo sói. Địa ngục như tên bắn, Quá khổ phải làm sao? Ngơ ngáo qua sớm chiều, Đều chẳng khác hiền lương. Tốt xấu đều chẳng biết, 141 . Người lấy thân làm Giống như heo và dê. gốc, Cùng nói như cây đá, Gốc do tâm làm chủ. Tật đố tợ điên cuồng. Gốc tại tâm chẳng tà, Chẳng tự thấy lỗi mình, Tâm tà mất bổn mạng. Như heo nằm tại chuồng. Chưa thể thoát họa này, Chẳng biết tự đền nợ, Lời nào lười soi kính? Lại cười bò kéo cối. Chẳng niệm kinh Kim Cang, 232 . Người sống ở trong trần, Lại khiến Bồ Tát bệnh. Giống như kiến trong bồn. Trọn ngày bò vòng quanh, 142 . Thành bắc có ông Chẳng rời cái bồn ấy. Trọng, Thần tiên chẳng thể sánh, Nhà to nhiều rượu thịt. Phiền não tính vô cùng. Ông Trọng khi vợ chết, Năm tháng như dòng nước, Khách điếu đầy cả nhà. Phút giây thành ông già. Ông Trọng tự thân mất, Không có một người 233 . Hàn Sơn nói lời này, khóc. Người ăn chén thịt kia, Lại tợ kẻ điên cuồng. Có việc giáp mặt nói, Thâm tình sao nhạt Cho nên đủ người oán. nhẽo. Chơn tâm nói lời thẳng, Tâm thẳng không trước sau. 143 . Hạ ngu đọc thơ ta, Chết rồi vào địa ngục, Chẳng hiểu lại chê cười, Ai là kẻ rên la? Trung dung đọc thơ ta, Mờ mịt đường âm phủ, Suy nghĩ nói rất yếu, Bị nghiệp trói cột nhau. Thượng Hiền đọc thơ ta, Nắm lấy nét mặt tươi, 234 . Nhắn nhủ các nhân giả, Dương Tu thấy vợ trẻ, Vừa nhìn liền biết diệu. Lại do lòng thế nào? Đạt đạo thấy tự tánh, Tự tánh tức Như Lai. 144 . Xưa có người keo Thiên chơn vốn đầy đủ,

kiệt, Ta chẳng đồng như họ. Áo lót mặc khiêu vũ, Rượu hết do mê ca. Thường ăn một bụng no, Chớ để hai chân yếu. Cỏ tranh dùi đầu lâu, Ngày nay anh nên hối.

Tu chứng càng lầm sai, Bỏ gốc lại theo ngọn, Chỉ giữ một trò ngốc.

235 . Đời có một hạng người, Không ác lại chẳng thiện, Chẳng biết ông chủ nhơn, Theo khách mỗi nơi chuyển. Lững thững thời gian qua, Đều do mê thịt ngon. 145 . Ta đi qua mộ xưa, Tuy có một đài linh, Lệ cạn than còn mất. Đồng như kẻ nghèo cùng. Mã sụp ép ruột vàng, Hòm mục lộ xương 236 . Thường nghe Phật Thích Ca, trắng. Xưa được Nhiên Đăng ký, Vò hủ bị nghiên ngã, Nhiên Đăng cùng Thích Ca, Không trâm chống đứng Chỉ là trí trước sau. lại. Thể trước sau không khác, Gió thổi lồng trong ấy, Trong khác không có khác, Bụi tro bay mịt mù. Một Phật tất cả Phật, Tâm là đất Như Lai. 146 . Mặt trời hạ núi tây, Cỏ cây ửng tươi tốt. 237 . Thường nghe các đại thần, Lại có chỗ mịt mờ, Lộc trâm vàng mũ đỏ, Tùng mây hòa quyện Giàu sang trăm ngàn thứ. nhau. Tham vinh chẳng biết nhục, Trong ấy nhiều chỗ ẩn, Nuôi ngựa đầy cả nhà. Thấy ta tóc đổi màu. Vàng bạc vun nhà kho, Trong tay không lưỡi Phước si tạm thời nương. dao, Vùi đầu tạo địa ngục, Thảy đều khép nép sợ. Bỗng chết muôn việc thôi. Con cháu dụm đầu khóc, 147 . Xuất thân đã mệt Chẳng biết có họa ương. mỏi, Giàu sang sao mau tàn, Việc đời chẳng một thứ, Nhà mục lạnh điều hiu. Chưa thể xả dòng tục, Không có hạt gạo ăn, Cho nên tìm hỏi nhau. Đói lạnh khổ thảm thương, Hôm qua điếu Từ Ngũ, Bởi do chẳng giác ngộ. Nay đưa tang Lưu Tam, Ngày ngày chẳng được 238 . Thượng nhơn tâm mạnh sắc, nhàn, Vừa nghe liền biết diệu; Do vậy tâm buồn Trung lưu tâm thanh tịnh, thương. Suy xét nói rất yếu; Bậc hạ dốt ngu si, 148 . Có vui hãy cứ vui, Cứng đầu rất khó dạy, Thời giờ chẳng để mất. Trực nhận buồn lâm ly, Tuy nói một trăm năm, Mới biết tự tiêu diệt. Đâu tròn ba vạn ngày. Chấp lấy mắt giặc mở, Cuộc đời trong nháy Chợ ồn nhóm người giết. mắt, Thây chết quăng như bụi, Bàn tiền chớ thở than. Lúc này nhằm ai nói? Kinh Hiếu chương cuối Nam nữ đại trượng phu, cùng, Một đao lìa hai đoạn. Quanh co nói hết tình. Mặt người lòng cầm thú, Tạo tác khi nào xong? 149 . Riêng ngồi thường buồn bã, 239 . Ta có sáu anh em, Trong lòng thật xôn xao. Tựu trung một thằng ác, Eo núi mây dày đặc, Đánh nó lại chẳng được, Cửa hang gió xạc xào. Mắng nó cũng chẳng nghe.

Vượn đu cây quằn quại, Chim vào rừng kêu vang. Thời gian gió vùn vụt, Tuổi tàn già buồn hiu.

Mỗi nơi biết làm sao? Tham tài thích dâm sát, Thấy đẹp vùi đầu yêu, Tâm tham hơn la sát. Người cha ghét nhìn nó, Người mẹ hiềm chẳng vui, 150 . Một người thích tài Hôm qua bị ta bắt, Mắng chưởi mặc tình lôi. năng, Đuổi vào chỗ không người, Sáu nghề đều thông Mỗi mỗi nhằm nó nói, suốt. Mầy nay cần đổi hạnh, Nhìn nam lầm hướng Xe lật cần chuyển lối. bắc, Nếu cũng chẳng tin nhận. Nhìn tây lầm hướng Cùng nó giận giết hết, đông. Nó nhận ta điều phục, Nổi mãi như bèo trôi, Chẳng dừng tợ (cỏ) bồng Ta cùng nó tìm sống. Từ đây thảy hòa đồng, bay, Như nay viếng Bồ Tát, Hỏi là những sắc gì? Học nghề chế lò đúc, Họ Bần tên là Không. Luyện được ba núi sắt, Đến nay rất vững vàng, 151 . Người hiền anh liền Mọi người đều khen ngợi. nhận, Chẳng hiền anh chớ 240 . Ta thấy người thế gian, chơi. Hình dáng thật tròn đầy. Anh hiền người thấy Chẳng đến ơn cha mẹ, dáng, Khuôn mẫu của tất lòng. Chẳng hiền người giả Thiếu nợ người kia tiền, từ. Gót lủng mới buồn than. Mến thiện chớ kiêu Mỗi kẻ tiếc vợ con, căng, Nhân nghĩa mới an ổn. Cha mẹ chẳng nuôi dưỡng. Anh em tợ oán thù, Khuyên theo lời Tử Trong tâm thường buồn vui. Trương, Nhớ xưa lúc còn trẻ, Buông hết lời so sánh. Cầu thần mong lớn khỏe. Nay làm con bất hiếu, 152 . Tục bạc chân thành Thế gian nhiều bọn này. bạc, Mua thịt ăn thỏa mãn, Tâm người chẳng đồng Lau miệng nói ta sướng. nhau. Tự bày nói ồn ào, Ông Ân cười lão Liễu, Thông minh không lợi ích. Lão Liễu cười ông Ân. Đầu trâu trừng mắt sân, Vì sao chê cười nhau, Khi biết thì đã muộn. Cùng đi trong gian xảo. Chọn Phật đốt hương thơm, Lựa tăng về cúng dường. 153 . Khi ta ngày có tiền, La Hán đứng trước cửa, Thường vì anh cho vay. Đuổi quách Hòa Thượng lười. Anh nay đã no ấm, Chẳng biết người vô vi, Thấy ta chẳng trả lại. Xưa nay không tướng trạng. Nhớ xưa anh muốn Viết thơ thỉnh danh tăng, được, Cúng tiền hai ba cắc. Đồng ta nay ngóng Pháp sư tướng tốt đẹp, trông. Trên đầu mọc hai sừng. Có không việc thay đổi, Tâm anh không bình đẳng, Khuyên anh suy nghĩ kỹ. Thánh Hiền chẳng đến thăm. Phàm thánh đều hỗn tạp, 154 . Người sống một Khuyên anh thôi chấp tướng. trăm năm, Phật nói mười hai bộ, 241 . Có chim lông năm màu, Từ bi như nai đồng, Đậu ngô (cây ngô) ăn quả trúc. Sân nộ tợ chó nhà.

Chó nhà đuổi chẳng đi, Nai đồng thường thích chạy, Muốn dừng tâm khỉ vượn, Cần nghe sư tử rống. 155 . Dạy anh bao nhiêu việc, Nghĩ hiền biết ta hiền. Quá nghèo nhịn mua nhà, Vừa giàu phải mua ruộng. Bụng trống chẳng được chạy, Chiếc gối chớ nên ngủ, Lời này mong cùng thấy, Treo tại đông mặt trời. 156 . Hàn Sơn nhiều cảnh lạ, Người lên đều nép sợ. Trăng soi nước lặng lẽ, Gió thổi cỏ vi vu. Mai tàn kết hoa tuyết, Cây trơ mây làm lá. Gặp mưa càng tốt tươi, Trời mù khó bước lên. 157 . Có cây mọc trước (khi có) rừng, Tính tuổi càng gấp đôi, Gốc bị hang đất đổi, Lá bị gió sương phai. Tức cười chạy rong ngoài, Chẳng tiếc thần quang mình. Da ngoài đã rơi sạch, Chỉ còn lại chân thật. 158 . Hàn Sơn có loài trùng, Thân trắng mà đầu đen, Tay cầm hai quyển sách, Một đạo và một đức. Ở không sắm bếp nồi, Đi chẳng mang áo cơm, Thường cầm kiếm trí tuệ, Định phá giặc phiền não. 159 . Có người sợ đầu bạc, Chẳng chịu bỏ trang sức, Hái thuốc uổng cầu tiên, Gốc mầm loạn lăng

Thong thả hợp oai nghi, Tiếng hót hợp cung luật. Gần đây vì sao đến. Khiến ta tạm thời ra, Tình cờ nghe tiếng ca, Hôm nay múa vui thích. 242 . Ngày xưa quá nghèo khổ, Hôm nay càng nghèo hơn, Làm việc không hòa hợp, Gặp việc thành cùng khốn. Lội bùn thường mỏi gối, Ngồi tại chúng đau bụng. Mất đi con mèo đốm, Chuột chạy quanh nồi cơm. 243 . Cả đời lười nhác làm, Ghét khó thích dễ dàng. Nhà anh học sự nghiệp, Ta trái một quyển kinh. Không tâm việc bổn phận, Đến đi giúp người tỉnh. Tùy bệnh mà cho thuốc, Phương tiện độ chúng sanh. Chỉ tự tâm vô sự, Chỗ nào chẳng sánh ngời. 244 . Ta thấy người xuất gia, Chẳng học tập xuất gia. Muốn biết chân xuất gia, Tịnh tâm không cột trói. Lặng lẽ thật huyền diệu, Như như không gá nương. Tam giới mặc tung hoành, Tứ sanh chẳng thể vương. Người vô sự vô vi, Thong dong thật vui thích. 245 . Hôm qua đến Vân Hà (5), Bỗng gặp tiên tôn sĩ, Khăn sao áo choàng nguyệt, Đều nói ở sơn thủy. Ta hỏi thuật thần tiên, Rằng đạo làm sao sánh? Nói linh không gì hơn, Thuốc hay dưỡng tâm thần. Giữ chết đợi hạc đến, Đều nói nương cá đi. Ta liền xét ngược lại, Suy tìm không đạo lý. Hãy xem tên bắn không, Giây lâu lại rơi đất. Dù anh được thành tiên, Giống hệt giữ thây quỷ. Trăng tâm tự sáng ngời, Muôn tượng làm sao sánh? Muốn biết thuật thần tiên, Trong thân vốn là thần. Chớ học ông Hoàn Công,

xăng. Nhiều năm không kết quả, Ý sân si chứa đầy, Thợ săn khoác cà sa, Chẳng phải áo của anh. 160 . Ngày xưa quá nghèo khó, Hôm nay càng nghèo hơn, Làm việc không hòa hợp, Gặp việc thành cùng khốn. Lội bùn thường mỏi gối, Ngồi tại chúng đau bụng. Mất đi con mèo đốm, Chuột chạy quanh nồi cơm.

Ôm ngu tự giữ si. 246 . Quê tôi có một nhà, Nhà kia không chủ chánh, Đất sanh một tất cỏ, Nước nhỏ một giọt sương. Lửa thiêu sáu thằng giặc, Gió thổi mây đen mưa. Chín chắn tìm người xưa, Chéo áo có chân châu. 247 . Gởi lời các nhân giả, Lại do lòng thế nào? Đạt đạo thấy tự tánh, Tự tánh tức Như Lai. Thiên chơn vốn đầy đủ, Tu chứng càng sai lầm, Bỏ gốc lại theo ngọn, Chỉ giữ một trường ngốc.

248 . Vì sao mãi buồn bã, Đời người tợ nấm sớm. 161 . Rất quý vật thiên Đâu kham vài mươi măm, nhiên, Mới cũ héo tàn sạch. Một mình không bè bạn, Do đâu nghĩ tự buồn, Tìm khác chẳng thể Tình sầu không chịu nổi. thấy, Làm sao làm thế nào? Ra vào không cửa nẻo. Buông hết về núi ẩn. Thu lại tại tất vuông, Buông ra khắp cả chỗ, 249 . Nghèo hèn do nghiệp cũ, Anh nếu chẳng tin nhận, Chớ trách thân hôm nay. Đối mặt chẳng biết Nếu nói tại mồ mả, nhau. Kẻ này là ngu si. 162 . Nhà ta có một hang, Trong hang không một vật, Sạch rỗng lại sáng ngời, Chói chang ánh nhật nguyệt. Cơm rau dưỡng thân tàn, Vải thô che huyễn chất, Mặc cho ngàn thánh hiện, Ta có Phật Thiên Chơn. 163 . Nam nhi đại trượng phu, Làm việc chớ cẩu thả. Vững mạnh tâm sắc đá, Thẳng giữ đường Bồ Đề. Đường tà chớ nên đi, Đi vào luống chịu khổ. Chẳng cần cầu quả Phật, Biết nhận chủ tâm Cuối cùng anh thành quỷ, Đâu khiến nam nữ nghèo. Rõ ràng việc dễ hiểu, Làm gì không tinh thần. 250 . Ta thấy nước Hoàng Hà, Trải qua bao lần trong, Dòng nước như tên bay, Đời người như bèo nổi. Si thuộc nghiệp căn bản, Hầm phiền não vô minh, Luân hồi bao nhiêu kiếp, Chỉ vì tạo mê lầm. (5) Vân Hà: Nói đủ là Vân Hà Quán, tức là căn nhà của tiên nhơn ở. 251 . Hai nghĩa đã mở rồi, Người liền ở trong ấy, Anh mê ta nhiều lời, Anh tỉnh liền thảnh thơi. Anh tiếc tức giàu có, Anh bỏ liền bần cùng, Mãi làm kẻ cùng tử, Mọi việc do ông trời.

vương.

252 . Ta khuyên những trẻ con, Mau ra khỏi nhà lửa. Ngoài cửa có ba xe, 164 . Nhàn tự hỏi cao Chở ông thoát phiêu bồng. tăng, Khói núi muôn vạn tầng, Ngồi ngã tư sờ sờ, Thầy thương chỉ đường Giữa trời muôn việc không. Mười phương không trên dưới, về, Đến đi mặc tây đông. Trăng treo như ngọn Nếu đạt ý trong ấy, đuốc. Tung hoành mỗi nơi thông. 165 . Nhàn dạo trên Hoa Đảnh, Trời trong trăng sáng ngời, Bốn phía trời trống vắng, Mây trắng đồng hạc bay. 166 . Hàn Sơn có một nhà, Trong nhà không ngăn cách, Sáu cửa phải trái thông, Giữa nhà thấy trời xanh. Mỗi phòng rỗng vắng tanh, Vách đông qua vách tây, Trong ấy không một vật, Khỏi bị người ở nhờ. Lạnh đến đốt lửa hơ, Đói đến luộc rau dùng. Chẳng theo ông Điền Xá, Rộng sắm ruộng vườn nhà. Thảy tạo nghiệp địa ngục, Đã vào khi nào ra? Trầm tĩnh khéo suy xét, Suy kỹ biết phép tắc. 253 . Đáng thương người sống tạm, Lăng xăng khi nào xong? Mỗi ngày không rảnh rổi, Năm qua chẳng biết già. Thảy vì cầu ăn mặc, Khiến tâm sanh phiền não, Lăng xăng trăm ngàn năm, Tới lui ba ác đạo. 254 . Người đời tìm đường mây, Đường mây bặt dấu vết, Núi cao lắm hiểm nguy, Khe rộng ít tiếng kêu. Núi xanh trước và sau, Mây trắng tây cùng đông, Muốn biết nơi đường mây, Đường mây tại hư không. 255 . Chỗ ẩn nơi Hàn Sơn, Dứt tuyệt người tạp qua. Thường gặp chim trong rừng, Cùng ca hát rừng núi. Cỏ lành ven khe hang, Tùng già cao chót vót. Hãy nhìn khách vô sự, Dừng nghỉ tại hang núi.

256 . Năm núi đều thành bụi, Tu di một tấc đất, 167 . Nhà kia tạm xuống Biển lớn một giọt nước, núi, Nuốt vào ruộng tâm kia. Vào đến trong thành đô, Sanh trưởng hạt Bồ Đề, Nhìn thấy nhóm thiếu Che khắp tất cả nơi, nữ, Nhắn anh người mến đạo, Đoan chánh dung mạo Thận trọng chớ tự trói. đẹp. Đầu cài hoa ong bướm, 257 . Không áo tự hỏi tìm, Môi son mặt phấn mịn, Chớ cùng cáo mưu áo. Vòng vàng điểm hoa Không cơm tự tìm lấy, bạc, Chớ cùng dê mưu ngon. Áo lụa tơ hồng tím. Mượn da cùng mượn thịt, Sắc hồng đồng thần Lòng than rồi lòng sầu, tiên, Đều do nghĩa bị mất, Thoa hương mùi nồng Ăn mặc thường chẳng đủ. nặc, Người đời đều cố nhìn, 258 . Tự thích vui giữa núi, Si ái nhiễm tâm ý. Thong dong không gá nương. Bảo rằng không ai bằng, Theo ngày dưỡng thân tàn, Bóng hồn mê theo kia,

Chó gậm khúc xương khô, Tự dối liếm môi răng. Chẳng biết suy nghĩ lại, Súc sanh nào khác gì? Nay thành bà đầu bạc, Già tàn như quỷ sứ. Từ lâu do tâm chó, Chẳng đạt cảnh giải thoát.

Lười nghĩ không làm gì. Thường mở kinh Phật xưa, Luôn luôn lên lầu đá. Nhìn xuống vách ngàn thước, Trên có mây bàng bạc. Trăng lạnh gió vì vèo, Thân tợ hạc lẻ bay.

259 . Ta thấy vua Chuyển Luân, Thiên tử thường vây quanh, Thập thiện hóa Tứ Thiên, 168 . Một mình ẩn Hàn Trang nghiêm nhiều bảy báu. Sơn, Thất bảo thường theo thân, Nuôi mạng ăn quả núi. Trang nghiêm rất tốt đẹp. Bình sanh có gì buồn, Một mai phước báo hết, Đời này sống tùy duyên. Giống như cò nương lau, Ngày tháng như nước Lại làm trùng cổ trâu, chảy, Sáu thú bị nghiệp dẫn. Thời gian như lửa Huống lại các phàm phu, nháng. Vô thường há bền lâu. Mặc cho trời đất đổi, Sanh tử như vòng lửa, Ta thích ngồi trong núi. Luân hồi tợ hạt mầm (6). Chẳng biết sớm giác ngộ, 169 . Ta thấy người thế Làm người uổng già rỗng. gian, Lăng xăng chạy đường 260 . Đồng bằng nước mênh mông, trần. Đơn Khâu bốn bề sáng. Chẳng biết việc trong ấy, Tiên Đô rất cao đẹp, Lấy gì làm mục tiêu. Dãy núi xanh bao bọc. Giàu sang được bao lâu, Xa xa nhìn không rõ, Quyến thuộc thân một Chất chồng thế nối nhau. lúc. Riêng vươn ra gốc bể, Dù có ngàn lượng vàng, Nơi nơi vang tiếng khen. Sao bằng nghèo ở rừng. 170 . Tự nghe triều nhà Lương, Kính nương bốn hiền sĩ, Chí Công, Sư Vạn Hồi, Tứ Tiên, Phó Đại Sĩ. Xiểng dương giáo một đời, Làm sứ gìn Như Lai. Xây dựng Tăng Già Lam, Tâm tin theo lý Phật. Tuy là được như thế, Hữu vi nhiều hoạn lụy. Cùng đạo càng cách xa, Cắt tây để vá đông. Chẳng đạt công vô vi, Tổn nhiều lợi chút xiu. Có tiếng mà không hình, Đến nay nơi nào phải? 171 . Thở than nghèo lại bệnh, Làm người không bạn thân. Trong hũ mãi hết gạo,
(6) Hạt mầm: Hạt sanh mầm, mầm lớn thành cây, cây trổ hoa, thành quả, quả rụng xuống sanh mầm. Một vòng luân hồi không có ngày dứt.

Trong nồi bụi phủ dầy. Mái am mưa thường dột, Giường mục tạm chứa thân. Chớ lạ nay tiều tụy, Buồn nhiều chắc chết sớm. 172 . Nuôi phụ nữ ngại nhiều, Lỡ sanh phải dạy dỗ. Ấn đầu bỏ tiểu tâm. Đánh lưng dạy giữ miệng, Chưa biết cầm máy dệt, Đâu kham việc quét sàng. Bà Trương nói lừa con, Nó to chẳng bằng mẹ. 173 . Vững chí chẳng mệt mỏi, Ta chẳng phải chiếc chiếu. Mặc tình đến núi rừng, Riêng nằm trên tảng đá. Biện sĩ đến khuyên ta, Mời nhận vàng ngọc gấp. Đục tường trồng bồng lao, Như thế chẳng có ích. 174 . Bởi chỗ ta dừng nghỉ, Tối sâu khó diễn tả. Không gió dây mây động, Không mù trúc tối om. Tiếng suối chảy róc rách, Mây núi bỗng tự đùn. Giữa trưa ngồi trong am, Mới thấy mặt trời hiện. 175 . Nhớ xưa chỗ thấy qua, Du lịch trong nhân gian. Dược Sơn lên vạn thước, Dạo nước buồm ngàn chiếc. Đưa khách hang Tỳ Bà, Ôm đàn châu Oanh Vũ. Đâu biết dưới cây tùng, Ôm gối lạnh lập cập. 176 . Báo người tu hành rõ,

Siêng cầu luống nhọc thần. Người có vật tinh minh, Không tên lại không chữ. Khi kêu ứng rõ ràng, Lúc ẩn không nơi chỗ. Nhắc nhở khéo giữ gìn, Chớ để dính vết nhơ. 177 . Năm qua chim xuân hót, Lúc này nhớ anh em. Năm nay thu cúc tàn, Khi ấy nhớ quê hương. Nước xanh uốn nhiều chỗ, Mây vàng bốn phía bằng. Buồn thay trong trăm năm, Đứt ruột nhớ Hàm Kinh. 178 . Bao nhiêu người Thiên Thai, Chẳng biết Hàn Sơn Tử, Chẳng rành lường chân ý, Gọi là lời nói suông. 179 . Khi ở Hàn Sơn muôn việc thôi, Lại không niệm tạp treo đầu tâm. Nhàn nơi vách đá ghi thơ cú, Mặc tình lại đồng thuyền không neo. 180 . Đáng tiếc nhà trăm năm, Trái đổ phải lại nghiên. Tường vách tiêu tán hết, Kèo cột nằm ngổn ngang. Mái ngói rơi từng mảnh, Mục nát chẳng thể ở. Mặc gió thổi tung đỗ, Dựng lại trọn khó thành. 181 . Tinh thần thật thanh thản, Dáng mạo rất sáng láng. Sức mạnh khó ai sánh, Đọc sách xem ngũ hành. Từng ngủ gối đầu hổ, Xưa ngồi giường ngà voi. Nếu không có vật này, Chắc là lạnh như

sương. 182 . Cười ta con nhà nông, Dưới đầu má ẩm ướt. Khăn quấn chẳng từng cao, Đai lưng lâu ngày xiết. Chẳng phải lo không kịp, Không tiền làm sao mua. Hôm nào có nhiều vàng, Một mình đứng nóc chùa. 183 . Mua thịt máu ứ đọng, Mua cá đuôi ngoe ngẩy. Thân anh chuốc tội lụy, Vợ con được sống vui. Đánh chết cả nhà anh, Người khác ai dám ngăn. Hôm nào nếu giường sập, Hai kẻ đương đầu thoát. 184 . Ngàn sống muôn chết khi nào dứt? Sanh tử đến đi thêm tình mê. Chẳng biết trong tâm báu vô giá, Giống hệt lừa mù chân bước càn. 185 .Dùng hết tâm thần vì danh lợi, Trăm thứ tham lam tiến thân mình. Cuộc đời huyễn hóa như đuốc cháy, Nấm mồ vùi thân là có không. 186 . Thế gian việc gì phải thở than, Thảy là tạo nghiệp thô tam đồ. Chẳng học dưới núi khách mây trắng, Một chiếc áo lạnh là sanh nhai. Thu đến mặc cho lá rừng rụng, Xuân về đúng tiết cây nở hoa. Tam giới ngủ say không một việc, Gió mát trăng sáng là

nhà ta. 187 . Khách chê Hàn Sơn Tử, Thơ anh không đạo lý. Ta xem nơi người xưa, Nghèo nàn chẳng thấy nhục. Phải chi cười lời này, Nói sao sơ lược vậy. Mong anh như hôm nay, Tiền là điều cần gấp. 188 . Từ sanh chẳng đến đi, Đến chết không hai nghĩa, Mở lời thành cành lá, Trong tâm liền gian xảo. Nếu anh mở đường nhỏ, Do đây sanh lầm to. Nói dối tạo thang mây, Cạo gọt thành gai góc. 189 . Một bình đúc bằng vàng, Một bình đất nung thành, Hai bình mặc anh xét, Cái bình nào bền lâu. Muốn biết bình có hai, Phải biết nghiệp chẳng một. Lấy đây nghiệm nhân sanh, Tu hành tại ngày nay. 190 . Đơn Khâu cao vút cùng mây bằng, Năm núi trên không xa nhìn xuống. Tháp Nhạn vươn cao ra núi xanh, Điện cổ tùng lâm ẩn mây ráng. Gió động lá tùng thành đỏ tuyệt, Mây đùn giữa núi quên đường tiên. Trời trong ngàn núi thấy muôn dặm, Dây leo chằng chịt khe nối khe. 191 . Tôi thấy Tăng Dao tánh kỳ đặc, Khéo léo sanh giữa đời nhà Lương. Dù nơi hư không vẽ dấu bụi,

Không thể vẽ được sư Chí Công. 261 . Ta thấy người thế gian, Sống rồi cũng phải chết. Sáng qua còn mười sáu, Tráng khí bậc anh hùng. Ngày nay quá bảy mươi, Sức tàn hình tiều tụy. Giống như hoa ngày xuân, Sáng nở đêm rụng tàn. 262 . Ngút ngàn ngoài trời xanh, Trong mây đường dốc đứng. Dòng thác đổ ngàn trượng, Như mảnh lụa trắng dài. Dưới có hang dừng nghỉ, Cầu định mạng bắt ngang. Hùng dũng trấn thế giới, Thiên Thai nổi tiếng cao. 263 . Ngồi trên mặt tảng đá, Khe suối lạnh buốt da. Lặng nhìn thật tuyệt đẹp, Vách núi mây che mờ. Vui thích chỗ ngơi nghỉ, Trời tà bóng cây nghiêng. Ta tự xét cõi lòng, Bùn nhơ sen hồng nở. 264 . Ẩn sĩ lánh nhơn gian, Phần nhiều vào núi ngủ. Dây bò xơ xác thưa, Tiếng khe chảy vang rền. Nước vang lòng an lạc, Xa vắng tự thanh nhàn. Khỏi bị nhiễm mùi đời, Lòng sạch như sen trắng. 265 . Nhắc nhở kẻ ăn thịt, Đang ăn khó dừng lại. Đời nay quá khứ gieo, Đời sau do nay trồng. Chỉ tham hôm nay ngon, Chẳng sợ đời sau buồn. Con chuột vào hũ gạo, Tuy no khó chui ra. 266 . Sau khi xuất gia rồi, Dần được đường nuôi sống. Duỗi thẳng tay chân đủ, Xét kỹ sáu căn toàn. Áo thô theo xuân đông, Gạo xấu dưỡng sáng chiều. Ngày nay tu gấp rút, Nguyện cùng Phật gặp nhau. 267 . Năm lời năm trăm thiên, Bảy chữ bảy mươi chín, 282 . Có kẻ Vương Tú Tài, Cười ta thơ nhiều lỗi, Rằng chẳng biết phong yêu, (7) Lại chẳng hiểu hạc tất, Bình trắc chẳng biết chán, Lời phàm mặc tình nói. Ta cười anh làm thơ, Như mù tả mặt trời. 283 . Ta ở tại xóm làng, Không cha cũng không mẹ. Không tên chẳng họ hàng, Người gọi là Trương Vương. Cũng không người dạy ta, Nghèo nàn cũng bình thường. Tự quý tâm chơn thật, Vững chắc như kim cương. 284 . Hàn Sơn nói lời này, Lại tợ kẻ điên cuồng. Có việc giáp mặt nói, Cho nê đủ người oán. Chơn tâm nói lời thẳng, Tâm thẳng không trước sau. Chết rồi vào địa ngục, Ai là kẻ rên la? Mờ mịt đường âm phủ, Bị nghiệp trói cột nhau. 285 . Ta thấy người đọc kinh, Nương theo ngôn ngữ hiểu. Miệng đọc tâm không đổi, Tâm miệng trái nghịch nhau. Chơn tâm không cong queo, Chẳng tạo điều mê lầm. Chỉ tự xét chính mình, Chớ tìm người khác thế. Trong ấy làm chủ được, Mới biết không trong ngoài. 286 . Hàn Sơn có mây trắng, Lặng lẽ bặt bụi hồng. Tòa cỏ cùng nhà núi, Đèn soi một vầng trăng. Giường đá bên ao xanh, Hổ nai thường làm bạn. Tự vui thích ở ẩn, Là người ngoài tục trần. 287 . Nai sanh trong rừng sâu, Uống nước và ăn cỏ, Duổi chân ngủ dưới cây, Đáng mến không phiền não. Trói cột tại nhà đẹp,

Ba chữ hai mươi mốt, Hết thảy sáu trăm bài. Lệ thường viết vách đá, Tự khoe rằng khéo tay, Nếu hay hiểu thơ ta, Chính là mẹ Như Lai. 268 . Việc đời sao lăng xăng, Tham sống mãi chẳng thôi, Nghiền hết đá quả đất, Bao giờ được nghỉ ngơi. Bốn mùa tuần hoàn đổi, Tám tiết nhanh nước trôi, Vì báo chủ nhà lửa, Sờ sờ cởi trâu trắng. 269 . Thường nghe Hán Vũ Đế, Và cùng Tần Thủy Hoàng. Đều thích thuật thần tiên, Kéo tuổi trọn chẳng dài. Ngai vàng gẫy làm hai, Sa Khâu liền diệt mất. Mao Lăng cùng Ly Nhạc, Ngày nay cỏ chen nhau. 270 . Nhớ hai mươi năm qua, Thả bộ về Quốc Thanh, Người trong chùa Quốc Thanh, Thảy nói Hàn Sơn si. Người si đâu cần nghi? Nghi chẳng biết suy xét. Ta còn tự chẳng biết, Thế anh đâu được biết? Cúi đầu chẳng cần hỏi, Hỏi được lại là sao? Có người đến mắng ta, Rõ ràng biết rành rẽ, Tuy nhiên chẳng nên đáp, Lại là được an nhiên. 271 . Bảo ông bọn xuất gia, Tên gì là xuất gia? Phung phí tìm nuôi sống, Nối tiếp dòng họ nhà. Lưỡi ngon miệng mồm ngọt, Tâm siểm khúc cong thêm, Trọn ngày lễ đạo tràng, Trì kinh làm công quả. Đốt hương cúng Thần Phật, Thỉnh chuông cao giọng hòa. Sáu thời dưỡng khách xuân, Mỗi đêm chẳng được nằm. Chỉ vì yêu tiền tài, Trong tâm chẳng giải thoát. Thấy người kia đạo cao, Ganh ghét cùng hủy nhục. Cứt lừa sánh xạ hương, Nam Mô Phật Đà Da! 272 . Lại thấy người xuất gia,

Ăn ngon rất béo phì, Trọn ngày chẳng từng nếm, Hình dung càng khô khao. 288 . Hoàng oanh đậu trên hoa, Hót líu lo đáng mến. Người đẹp dáng tợ ngọc, Đối cảnh khảy cung đàn. Ngắm nhìn chẳng thỏa mãn, Nhớ luyến thời ấu thơ. Chim bay hoa cũng tan, Lệ rưng trước gió xuân. 289 . Dừng lâu dưới Hàn Sơn, Lạ lùng rất kỳ đặc. Quảy giỏ đào rễ cây, Mang sọt hái quả về. Rửa rau trải cỏ ngồi, Ăn nếm nấm linh chi. Ao trong rửa bát bầu, Hòa tạp nấu sơ sài. Đương Dương sách áo ngồi, Nhàn đọc thơ người xưa. 290 . Ngày xưa chỗ kinh hành, Nay đã bảy mươi năm. Người xưa không qua lại, Chôn ở khoảng mộ xưa. Ta nay đầu đã bạc, Vẫn giữ mảnh mây núi. Vì báo người đến muộn, Sao chẳng đọc lời xưa?
(7) Phong yêu, hạc tất: Những lỗi lầm thường vấp phải khi sáng tác thơ.

291 . Ta thấy người trí sáng, Xem qua liền hiểu ý, Chẳng nhờ tìm văn tự, Thẳng vào đất Như Lai. Tâm chẳng theo các duyên, Ý căn chẳng khởi vọng, Tâm ý khi không sanh, Trong ngoài không việc khác. 292 . Thân mặc y không hoa, Chân mang giày lông rùa, Tay nắm cung sừng thỏ, Định bắn quỷ vô minh. 293 . Anh xem hoa trong lá, Tươi tốt được bao lâu. Hôm nay sợ người hái, Sáng mai mong người quét. Đáng tiếc tình đẹp đẽ, Nhiều năm trở thành già, Việc đời so với hoa,

Có sức và vô lực. Bậc tiết cao thượng thượng, Quỷ thần kính đạo đức, Vua chúa chia tòa ngồi, Chư hầu kính lễ rước, Đáng làm ruộng phước đời, Mọi người nên quý tiếc. Bậc ngu dốt hạ hạ, Lộ bày tìm cầu nhiều, Hỗn tạp có thể biết, Ngu si yêu tài sắc, Mặc được y phước điền, Trồng lúa tìm áo cơm. Đền trả nợ trâu cày, Làm việc chẳng trung trực, Sáng sớm hành tệ ác, Về chiều đau lưng mông. Chẳng biết khéo suy nghĩ, Địa ngục khổ vô cùng. Một mai bệnh đến thân, Ba năm nằm liệt giường. Cũng có chơn tánh Phật, Lại làm giặc vô minh. Nam Mô Phật Đà Da, Xa xôi cầu Di Lặc. 273 . Hàn Nham sâu lại đẹp, Không người đi đường này, Mây trắng cao hang núi, Núi xanh vượn lẻ kêu. Ta còn thân với ai? Sướng chí hợp tuổi già, Hình dung nóng lạnh đổi, Tâm châu phải giữ gìn. 274 . Bổn chí mến bạn đạo, Bạn đạo thường được gần, Khi gặp khách Xả Nguyên, Thường tiếp khách lời thiền. Bàn huyền đêm trăng sáng, Tìm lý đến rạng đông, Vạn cơ đều bặt dấu, Mới biết người xưa nay. 275 . Chẳng phải kẻ ẩn dật, Tự gọi người núi rừng. Đâu từng quấn khăn lụa, Chỉ thích khăn lót thô. Nói có đức Sào Hứa, Hổ thẹn (làm) thần Nghiêu Thuấn. Khỉ vượn đội chiếc nón, Bắt chước tránh gió bụi. 276 . Từ xưa người thông minh, Chẳng thấy còn sống mãi. Sanh ra rồi lại chết, Tan hết thành tro bụi. Chứa xương như Tỳ Phú. Biệt ly lệ như biển, Chỉ còn lại tên rỗng,

Hồng nhan há bền lâu? 294 . Dù anh ở tê giác, Dù anh mang mắt hổ. Cành đào bẻ làm thuốc, Củ tỏi lấy làm anh (lạc). Uống rượu thì bụng ấm, Bụng đói ăn (chè) câu kỷ. Cuối cùng chẳng thoát chết, Uổng công tìm trường sanh. 295 . Làm người thường ăn dùng, Tâm ái cần khô cạn. Già đi chẳng tự do, Dần bị người chê trách. Đưa đến núi Thái Sơn, Cả đời mong vô ích, Mất dê thôi sửa chuồng, Ý hết về vô cùng. 296 . Hàn Sơn vách vô lậu, Vách kia rất trọng yếu, Người xa xưa truyền diệu. Lặng lẽ khéo ở yên, Rỗng không lìa chê gièm, Trăng sáng soi suốt đêm, Trời hồng thường chiếu đến. Hổ Khâu và Hổ Khê, Chẳng cần gọi mời nhau, Thế gian có Vương Phó, Chớ cho đồng Châu Chiêu. Ta tự ẩn Hàn Nham, Vui thích ca cười mãi. 297 . Sa môn chẳng giữ giới, Đạo sĩ không uống thuốc. Từ xưa bao nhiêu hiền, Thảy dừng chân núi xanh. 298 . Có người cười thơ ta, Thơ ta đồng sách tà. Chảng phiền họ Trịnh giảng, Đâu cần ông Mao hiểu? Chẳng hận người hội ít. Nếu bắt theo luật thơ, Ta bệnh mãi không hết. Bỗng gặp người sáng mắt. Liền tự truyền thiên hạ. 299 . Đường Hàn Sơn, Không người đến. Nếu đi được, Gọi là Phật. Ve thường hát, Không quạ kêu. Lá vàng rơi, Mây trắng quét. Đá chồng chất, Núi âm u.

Đâu thoát vòng tử sanh. 277 . Ngày nay ngồi trước hang, Ngồi lâu thấm khói ráng. Một đường khe trong lạnh, Núi xanh cao ngàn thước. Mây sớm bóng lặng lẽ, Ánh trăng soi về đêm. Trên thân không bụi trần, Trong tâm nào lo âu. 278 . Trong ngàn mây muôn nước, Có một kẻ sĩ nhàn. Ban ngày dạo núi xanh, Đêm về dưới hang ngủ. Thấm thoát qua xuân thu, Lặng lẽ không phiền lụy. Vui thay không gá nương? Lặng như nước sông thu. 279 . Khuyên anh thôi đến đi, Chớ phiền lão Diêm La, Lỡ chân vào tam đồ, Bị đâm nghiền xương tan. Mãi làm người địa ngục, Hằng cách đạo đời nay, Khuyên anh tin lời tôi, Biết lấy châu trong áo. 280 . Thế gian có hạng người, Thật đáng bị người cười. Xuất gia thân mình tệ, Lừa tục cho là đạo. Tuy mặc y lìa trần, Trong áo nuôi nhiều rận. Chi bằng về đi thôi, Biết nhận lấy Tâm Vương. 281 . Chót vót trên đỉnh núi, Bốn phía không mé bờ. Ngồi tịnh chả ai biết, Suối lạnh vầng trăng soi. Trong suối vốn không trăng, Trăng tự ở trời xanh. Ngâm một khúc ca này, Trong ca chẳng có thiền.

Ta một mình, Khéo dẫn đường. Xem kỹ lưỡng, Có tướng gì? 300 . Hàn Sơn lạnh, Băng phủ đá. Núi xanh ẩn, Mây trắng hiện. Mặt trời chiếu, Đồng lúc tan. Từ đây ấm, Dưỡng khách già. 301 . Ta ở núi, Người chẳng biết, Trong mây trắng, Thường lặng lặng. 302 . Hàn Sơn sâu, Gọi tâm ta, Thuần đá trắng, Chẳng vàng ròng, Tiếng suối vang, Khảy Bá Cầm, Có Tử Kỳ, Rõ âm này. 303 . Trong vách núi, Đủ gió mát, Quạt chẳng động, Khí lành thông, Trăng sáng chiếu, Mây trắng che, Riêng tự ngồi, Một ông già. 304 . Hàn Sơn Tử, Mãi như thế, Riêng tự ở, Chẳng sanh tử. 305 . Ta thấy người thế gian, Mỗi kẻ tranh ý khí. Một mai bỗng nhiên chết, Chỉ được một miếng đất. Rộng một mét hai, Dài bốn mét. Ông nếu hiểu, Ra đây tranh ý khí. Ta cùng anh lập bia đá ghi. 306 . Nhà có thơ Hàn Sơn Hơn anh xem quyển kinh. Sách để trên bình phong, Thường thường xem một biến.

THẬP ĐẮC

Ngài Thập Đắc, do Thiền Sư Phong Can trước đó tình cờ đi dạo núi, đến bên đường Xích Thành, nhân nghe tiếng trẻ nít khóc, liền tìm đến, gặp một đứa trẻ vài tuổi trở lại. Ban đầu Ngài cho là trẻ con của những người chăn trâu, hỏi kỹ đầu đuôi mới biết rằng: “Đứa bé không nhà bỏ ở đây”. Ngài Phong Can dẫn về chùa Quốc Thanh trao cho vị tăng Điển Tòa, và nói, nếu có ai đến nhận thì trả lại. Sau đó Sa Môn Linh Tập nhận nuôi, sai trông coi hương đăng ở trai đường. Bỗng một hôm, thấy Ngài leo lên tòa, ngồi ngang mâm đối trước tượng mà ăn, lại gọi ngài Kiều Trần Như là : “Tiểu Quả Thanh Văn”. Coi như bên cạnh không có người, cầm đũa cười to. Tăng bèn xua đuổi. Ngài Linh Tập liền thưa lên các vị Tôn Túc, cho Ngài nghỉ việc nơi trai đường. Lại sai Ngài rửa đồ đạc trong nhà bếp. Rửa vừa xong, Ngài đãi lọc cơm canh thừa, dùng ống tre bỏ đầy trong đó, khi Hàn Sơn đến thì vác lên vai là đi. Lại ở nơi miếu Thần Hộ Già Lam, mỗi ngày thức ăn dưới nhà bếp của chúng Tăng bị chim quạ mổ lấy vun vãi. Thập Đắc lấy gậy đánh tượng hai ba cái rồi mắng rằng: “Ông ăn mà chẳng hay giữ gìn thì đâu được gọi là Hộ Già Lam ư? Đêm ấy, Thần báo mộng cùng khắp chúng Tăng trong chùa mà nói: “Thập Đắc đánh tôi”. Sáng hôm sau, chư Tăng thuật lại việc mộng đều giống hệt nhau, cả chùa xôn xao, mới biết Ngài chẳng phải người thường. Bấy giờ ở châu, quận, huyện mới thông tin xuống rằng: “Vị hiền sĩ ở ẩn, chính là hóa thân của Bồ Tát, nên biểu dương Ngài. Và gọi Thập Đắc là Hiền Sĩ. Lại, Ngài chăn trâu nơi trang sở của chùa, ca hát vang trời. Đang khi chúng Tăng trong chùa Bố Tát, Thập Đắc đuổi trâu đến trước nhà Tăng đang tụ tập, tựa cửa vỗ tay cười to nói: - Đông đảo tụ đầu. Khi ấy, vị Thủ Tọa trì luật quát mắng: - Kẻ điên vì sao làm ồn ào ngăn ngại buổi thuyết giới? Thập Đắc nói: - Ta chẳng thả trâu. Bầy trâu đây, phần nhiều là những người trông coi việc chúng Tăng (Ban Chức Sự) trong chùa này. Thập Đắc liền gọi pháp hiệu của mỗi vị Tăng đã mất, mỗi con trâu nghe đến tên mình liền ứng thanh mà đi qua. Cả chúng kinh ngạc, đều nghĩ, sửa đổi việc xưa kia và tu sửa lại về sau, để không phụ lòng Bồ Tát rủ lòng độ thoát. Lúc bấy giờ, Ngài Đạo Kiểng biên góp văn cú của Ngài Hàn Sơn, ở nơi miếu thổ thần thổ địa, gặp thơ kệ của Thập Đắc, liền ghép phụ chung vào thơ Hàn Sơn thành một quyển.

THƠ THẬP ĐẮC
1 . Từ khi đến chùa Thiên Thai này, Trải qua đến nay đã bao năm? Núi nước chẳng dời người tự già, Thấy rõ bao nhiêu người sanh sau. Anh thấy chăng trong tam giới nhiều phiền não, Chỉ vì vô minh chẳng thấu suốt. Một niệm chẳng sanh tâm lặng yên, Không đến không đi chẳng sanh diệt. 2 . Ta thấy người ngu độn, Tim đèn dùi Tu Di. Con kiến gậm cây to, Đâu biết khí lực nhỏ? Học cắn hai cọng rau, Nói cùng Tổ Sư đồng. Hãy mau xin sám hối, Từ nay lại chớ mê. 3 . Anh thấy trăng sáng rỡ, Chiếu soi Tứ Thiên Hạ, Tròn đầy treo hư không, 18 . Nếu biết bắt con chuột, Chẳng cần năm mèo trắng; Nếu thể ngộ lý tánh, Nào do gấm lụa bao. Chân châu vào túi lác, Phật tánh dừng bồng mao. Một đám kẻ chấp tướng, Dụng ý thảy không giao (dính). 19 . Dụng tâm thường rộng lớn, Đây ắt gọi là trùm. Tổn mình lợi nơi người, Mới gọi là bố thí. Về sau người chẳng biết, Đâu thể hội nghĩa này? Chưa tròn một tăng hèn, Sớm định mong giàu to. 20 . Khỉ vượn còn dạy được, Người sao chẳng vươn lên? Xe trước đã rơi hầm, Xe sau cần chuyển lối.

Sáng trong thật thanh thoát. Người nói có khuyết tròn, Ta thấy không suy giảm, Dáng tợ châu ma ni, Soi sáng không đêm ngày. 4 . Ta ở không chỗ nơi, Bàng bạc lý vô vi. Thường lên núi Niết Bàn, Hoặc ngắm chùa Hương Lâm. Bình thường chỉ an nhàn, Nói chẳng dính danh lợi. Biển đông thành ruộng dâu, Tâm ta đâu màng đến. 5 . Tay trái nắm ly châu, ( Tay phải cầm kiếm tuệ. Quyết bắn giặc vô minh, Châu thần tỏa ánh sáng. Xót thương người ngu si, Tham ái nào biết chán? Khi đọa vào tam đồ, Mới biết đường hiểm nạn. 6 . Rượu Bát Nhã lạnh nhạt, Người uống nhiều dễ tỉnh. Ta ở núi Thiên Thai, Phàm ngu nào thấy hình? Thường chơi hang động sâu, Trọn chẳng theo thường tình. Không sầu cũng không lo, Không nhục cũng không vinh. 7 . Thương thấy người thế gian, Thảy đều thích ăn thịt, Chén bàn chẳng từng cạn, Ăn hoài nói không chán. Hôm qua bày tiệc trai, Sáng nay giết lục súc, (9) Đều do nghiệp kéo lôi, Chẳng can tình ham muốn. Một lần tạo thiên đường, Trăm lần tạo địa ngục, Sứ Diêm La đến lôi, Cả nhà thảy kêu khóc. Bình đất vào lò nung, Chảo dầu sôi tắm rửa, Khi được thoát ra khỏi, Đổi hẳn y phục anh. 8 . Xuất gia cần thanh nhàn, Thanh nhàn tức là quý. Thế nào người ngoài trần, Lại vào trong trần lụy? Một khi quên bổn tâm, Suốt buổi đuổi danh lợi. Danh lợi được đến thân, Hình dung đã tiều tụy. Huống lại người chẳng theo, Mặc tình chí bình sanh.

Nếu cũng chẳng hiểu đây, Ngại anh ác giết hết. Khi xưa là dạ xoa, Biến đổi thành Bồ Tát. 21 . Đóng cửa riêng tạo tội, Nghĩ sẽ khỏi tai ương, Bị kẻ đày tớ xấu, Chép được báo Diêm Vương. Dù không vào chảo dầu, Cũng phải nằm giường sắt. Chẳng cho đày tớ thay, Tự làm tự thân chịu. 22 . Đường Phật xưa lạnh lẽo, Người ngu đến rồi quên. Chỉ vì nghiệp trước nặng, Do đó chẳng biết về. Muốn hiểu lý vô vi, Trong tâm chẳng vướng tơ. Đời đời cần khổ học, Quyết định gặp thầy ta. 23 . Người có Thiên Chơn Phật, Gọi đó là Bảo Vương. Ánh châu ngày đêm chiếu, Huyền diệu rất khó lường. Người mê thường ngơ ngáo, Nào sợ chịu tai ương? Chỉ tham dâm theo nghiệp, Bọn này thật đáng thương. 24 . Xuất gia cầu xa lìa, Thương nhớ khổ chúng sanh. Giúp Phật để giáo hóa, Dạy chọn đường trở về. Nào từng biết cứu khổ? Buông thói loạn tung hoành. Một khi bị sa đọa, Đều rớt xuống hầm sâu. 25 . Ta thấy người xuất gia, Thảy thích ăn rượu thịt. Đáng lý sanh Thiên Đường, Lại chìm về địa ngục. Nhớ được hai quyển kinh, Lừa dối người thành thị, Đâu biết người thành thị, Nhiều người căn tánh thuần. 26 . Ôi thấy kẻ biết nhiều, Trọn ngày uổng dụng tâm, Đường tẻ gặp lâu la, (10) Khinh mạn tất cả người. Chỉ tạo nghiệp địa ngục, Chẳng tu nhân đời sau. Bỗng nhiên vô thường đến, Biết chắc loạn lăng xăng.

Đáng thương người vô sự, Chưa thể cười được anh. 9 . Được thân phần đoạn này, Đáng cười hình dáng đẹp, Khuôn mặt tợ mâm bạc, Trong tâm đen như sơn. Hầm heo lại giết dê, Khoe nói ngọt như mật, Chết rồi vào địa ngục, Lại chớ than oan ức. 10 . Phật thương con tam giới, Thảy là trai gái ta, Sợ chìm hầm đen tối, Rủ lòng thương giáo hóa, Đều lên đạo vô thượng, Cùng chứng đường Bồ Đề. Dạy anh chúng sanh si, Tâm tuệ cần giác ngộ.
( Ly châu: Hòn ngọc dưới cổ con Ly Long. (9) Lục súc: Bò, ngựa, dê, chó, lợn, gà.

27 . Xa xôi đường núi cao, Muôn thước rất hiểm nguy, Cầu đá rong rêu bao, Thường thấy mảnh mây bay, Thác đổ như lụa treo, Bóng trăng rơi đầm trong, Lại lên trên Hoa Đảnh, Còn đợi hạc lẻ đến. 28 . Gió tùng lạnh vì vèo, Từng mảnh ráng mây hiện. Nhiều lớp núi bao quanh, Mặc tình ngắm muôn dặm. Khe đầm nước trong veo, Thấy đáy như soi kính. Rất quý vật đài linh, Bảy báu không thể sánh. 29 . Bùn thêm nước vò viên, Suy lường không lẽ thật. Thân mộng huyễn bọt nổi, Trăm năm được bao lâu? Chẳng biết suy nghĩ kỹ, Rằng sống mãi không chết. Mong cầu chứa nhiều vàng, Để lại cho vợ con. 30 . Đời có người biết nhiều, Ngu si học văn suông, Chẳng lo quả tương lai, Chỉ biết tạo nhân ác. Thấy Phật chẳng biết lạy, Gặp Tăng lòng sân thêm, Bọn ngũ nghịch thập ác, Ba độc làm quyến thuộc. Chết quyết vào địa ngục, Chưa biết ngày nào ra. (10) Lâu la: Đàn em của tướng cướp. 31 . Đáng cười suối rừng này, Nhiều dặm thiếu bóng người. Mây từ núi xanh bay, Thác đổ nước thì thào. Vượn kêu hát khúc đạo, Hổ gầm thoát nhơn gian, Gió tùng nhè nhẹ mát, Tiếng chim kêu lảnh lót. Riêng bước quanh khe đá, Một mình trèo núi cao. Thường ngồi trên mỏm đá, Nằm ngửa vịn dây leo. Xa trông về thành đô, Chỉ nghe tiếng ồn ào. 32 . Tự cười lão phu gân sức tàn, Riêng luyến tùng núi thích dạo chơi, Thở than năm qua đến ngày nay, Mặc tình lại đồng thuyền không neo.

11 . Phật bỏ vui tôn vinh, Vì thương các con ngu. Sớm nguyện ngộ vô sanh, Thành tựu việc Vô Thượng. Về sau người xuất gia, Nhiều duyên không chuyên nhất. Chẳng đầy đủ ăn mặc, Chui đầu vào trong chùa. Ôi thấy người thế gian, Vĩnh kiếp ở bờ mê. Chẳng xét cái ý ấy, Tu hành luống khổ nhọc. 12 . Thơ ta cũng là thơ, Có người gọi là kệ. Thơ kệ đều giống nhau, Người đọc phải chín chắn. Thong thả suy xét kỹ, Chẳng được sanh dễ duôi. Nương đây học tu hành, Có lắm việc đáng cười. 13 . Thơ kệ có ngàn vạn, Gấp rút thuật lại khó. Nếu cần người biết nhau, Hãy vào núi Thiên Thai. Chỗ sâu trong núi ngồi, Nói lý và bàn huyền. Cùng ta chẳng thấy nhau, Đối mặt tợ ngàn núi. 14 . Thế gian người ức vạn, Mặt mũi chẳng giống nhau. Xin hỏi do duyên gì, Khiến cho phải như thế? Mỗi người chấp thấy riêng, Đều nói phải và quấy.

Hãy tự sửa lỗi mình, Chớ bàn nói kia đây. 15 . Ta khuyên bọn xuất gia, Nên biết giáo pháp sâu, Chuyên tâm cầu xa lìa, Lại chớ nhiễm tham dâm. Có lắm bậc sĩ tục, Biết quấy chẳng nhận vàng, Nên biết chí quân tử, Mặc tình theo thịnh suy. 16 . Hàn sơn tự Hàn Sơn, Thập Đắc tự Thập Đắc, Phàm ngu há thấy biết? Phong Can lại biết nhau. Khi thấy chẳng thể thấy, Lúc tìm chỗ nào tìm, Xin hỏi có duyên gì? Hãy nói sức vô vi. 17 . Từ xưa là Thập Đắc, Chẳng phải ngẫu nhiên xưng. Riêng không thân quyến thuộc, Hàn Sơn là anh ta. Hai người tâm giống nhau, Ai thể theo tình tục? Nếu hỏi tuổi bao nhiêu, Hoàng Hà bao lần trong?

Không đến không đi vốn lặng lẻ, Chẳng kẹt trong ngoài và khoảng giữa. Một viên thủy tinh bặt vết tỳ, Ánh sáng tràn đầy thoát nhơn gian. 33 . Mây núi chất chồng mấy ngàn lớp, Hang tối đường sâu bặt bóng người. Khe xanh dòng trong nhiều thắng cảnh, Thời tiết chim kêu hợp lòng người. 34 . Tam giới (như) bánh xe quay, Cuộc đời như nước chảy. Lúc nhúc các chủng loài, Tham sống không biết chết. Anh xem sương sớm đọng, Thời gian được bao lâu. 35 . Lăng xăng người trong thành, Thường vui thú trong trần. Ta thấy người trong ấy, Tâm phần nhiều xót thương. Vì sao thương bọn này, Nhớ kia trong trần khổ.

PHỤ LỤC

THƠ PHONG CAN
Ta tự đến Thiên Thai, Từng trải bao lần về. Một thân như mây nước, Xa xôi mặc đến đi. Tiêu diêu bặt ồn náo, Quên cơ lên Phật đạo. Tâm thế gian nhiều mối, Chúng sanh lắm phiền não. Ngơ ngáo chìm biển sóng, Trôi nổi quanh tam giới. Đáng tiếc một vật linh, Từ lâu bị cảnh vùi. Điện chớp bỗng nhiên khởi, Sanh tử dấy bụi hồng. Hàn Sơn riêng hỏi nhau, Thập Đắc thường qua lại. Bàn tâm nói trăng sáng, Hư không rỗng không ngăn. Pháp giới tức vô biên, Một pháp trùm tất cả. Xưa nay không một vật, Cũng không bụi để phủi. Nếu hay thấu suốt đây, Chẳng cần ngồi ngơ ngáo. PHONG CAN

Phong Can chẳng biết người ở đâu. Niên hiệu Trinh Quán đời nhà Đường, Sư đến ở chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, cắt tóc ngang mày, mặc áo vải rách, có ai hỏi lý Phật, chỉ đáp hai chữ “tùy thời”. Thường xướng đạo, cởi cọp ra vào, chúng Tăng đều kinh sợ chẳng ai dám nói chuyện với Sư. Có Hàn Sơn, Thập Đắc chơi thân với Phong Can. Một hôm, Hàn Sơn hỏi Phong Can rằng: - Gương xưa chẳng lau, làm sao chiếu soi? - Đài băng không hình bóng. Khỉ vượn mò bóng trăng. - Đây là chẳng chiếu soi, thỉnh Sư nói thêm. - Muôn đức chẳng đem đến, bảo ta nói cái gì? Hàn Sơn, Thập Đắc đều làm lễ. Phong Can bảo Hàn Sơn: - Ông đi dạo Ngũ Đài Sơn với ta thì là bạn ta; nếu không đi không phải bạn ta. - Tôi không đi. Phong Can nói: - Ông chẳng phải bạn ta. Hàn Sơn hỏi Phong Can: - Ông đi Ngũ Đài Sơn làm gì? - Ta đi lễ Văn Thù. Ông không phải bạn của ta. Phong Can đi Ngũ Đài một mình. Gặp một ông già, Phong Can hỏi: - Có phải là Văn Thù không ? - Há có hai Văn Thù? Phong Can liền làm lễ. Chợt ông già biến mất. Sau Phong Can trở về núi Thiên Thai thị tịch. Hàn Sơn nhân chúng Tăng đang nướng cà, bèn lấy xâu cà đánh vào lưng một vị Tăng, Tăng quay đầu lại. Hàn Sơn đưa xâu cà hỏi: - Là cái gì? Tăng nói: - Gã điên này! Hàn Sơn hỏi Tăng bên cạnh: - Ông nói xem ông Sư này tốn bao nhiêu tương muối? Triệu Châu đến Thiên Thai, đi thấy dấu chân trâu. Hàn Sơn hỏi: - Thượng Tọa lại biết trâu chăng? Đâu là năm trăm La Hán dạo núi. - Đã là La Hán vì sao lại làm trâu? Hàn Sơn nói: - Trời xanh! Trời xanh! Triệu Châu cười ha ha. Hàn Sơn nói: - Cười cái gì? Triệu Châu nói: - Trời xanh! Trời xanh! Hàn Sơn nói: - Chú tiểu nhỏ này lại có tư cách đại nhân. Thập Đắc đang quét sân, chủ chùa hỏi: - Ngươi họ gì? Ở đâu? Thập Đắc buông chổi, vòng tay đứng. Chủ chùa mờ mịt. Hàn Sơn đấm ngực nói: - Trời xanh! Trời xanh! Thập Đắc hỏi: - Ông làm gì vậy? Hàn Sơn nói: - Há không nghe nói nhà phía Đông có người chết, nhà phía Tây buồn lây sao! Rồi vừa múa vừa cười khóc mà đi ra.

Thập Đắc lại chăn trâu ở Trang xá ca vịnh kêu trời rằng: - Ta có một hạt châu, chôn ở trong ấm giới, không một ai biết cả. Hết tập thơ HÀN SƠN THẬP ĐẮC Source: Thiền Tông Việt Nam Bài Đọc Thêm:
Thơ Hàn Sơn Thập Đắc Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế Đến Hàn San Tự Để Tìm Hiểu Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc Thiền Sư Nhất Hạnh Nói Về Bài Thơ Trên Đọc Lại Phong Kều Dạ Bạc, Trần Long Hồ Trở Lại Với Phong Kiều Dạ Bạc, Hải Đà Vương Ngọc Long Đôi Bạn Chùa Hàn Sơn, Duyên Trường Trao Đổi Thêm Về Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc, Hà Quảng Chùa Hàn Sơn Trong Hồn Thơ Trương Kế, Hồ Sĩ Hiệp Hoàng Hạc Lâu và Phong Kiều Dạ bạc, Trần Dương Hân


								
To top