adsl adsl2+

Document Sample
adsl adsl2+
Shared by: oreka
Categories
Tags
Stats
views:
1565
posted:
11/13/2008
language:
Vietnamese
pages:
14
BÁO CÁO ĐỀ TÀI ADSL2++ 1.LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN LOẠI CÔNG NGHỆ xDSL: 1.1 ISDN ISDN (Integrated Services Digital Network - Mạng số tích hợp đa dịch vụ) được coi sự mở đầu của xDSL. ISDN ra đời vào năm 1976 với tham vọng thống nhất cho truyền dữ liệu và thoại. Trong ISDN, tốc độ giao tiếp cơ sở (BRI - Basic Rate Interface) cung cấp 2 kênh: 64kbps (kênh B) dành cho thoại hoặc dữ liệu.Mỗi đường dây ISDN ở BRI có thể bố trí tối đa 8 thiết bị đầu cuối và cùng một lúc có thể thực hiện được nhiều cuộc gọi khác nhau và một kênh 16kbps (kênh D) dành cho các thông tin báo hiệu điều khiển. Với những người sử dụng ISDN tại Mỹ (quê hương của ISDN) thì cũng khó quên được các lợi ích mà ISDN đem lại khi ISDN là công nghệ mở đầu cho tất cả các loại dịch vụ tích hợp. Dùng ISDN cho phép mọi người sử dụng các dịch vụ mới như dịch vụ khẩn cấp, dịch vụ ghi số điện nước. Hơn nữa thiết bị ISDN được chuẩn hoá trên toàn cầu nên dễ thay thế, chuẩn loại phong phú, đặc biệt các thiết bị cũ của mạng đt PSTN vẫn dùng được với ISDN qua một bộ thích ứng đầu cuối TA (Terminal Adaptor). Chất lượng và độ tin cậy của đường dây ISDN chấp nhận được. Nhược điểm của công nghệ là chỉ truyền dịch vụ thoại và chuyển mạch gói tốc độ thấp.Nó không thích hợp cho chuyển mạch gói tốc độ cao và thời gian chiếm giữ đường truyền lâu dài chính điều này là đặc điểm của mạng Internet hiện nay và ISDN vẫn không phải là dịch vụ tự động 128 kbps mà nó chỉ là 2 kênh 64 kbps. Nếu muốn sử dụng dung lượng đầy đủ 128 kbps của đường dây ISDN thì phải mua thêm một bộ thích ứng đầu cuối đặc biệt để nhập 2 kênh 64 kbps lại. ISDN không phải là công nghệ có thể ứng dụng riêng cho từng thuê bao mà toàn bộ tổng đài phải được lắp đặt thiết bị ISDN với yêu cầu là tổng đài phải sử dụng kỹ thuật chuyển mạch số. Do đó, ISDN không được áp dụng rộng rãi mà chỉ áp dụng cho các gia đình hoặc doanh nghiệp nhỏ 1.2HDSL HDSL (high-bit-rate digital subscriber line) ra đời trong phòng thí nghiệm vào năm1986. Thực chất các thiết bị thu phát HSDL là sự kế thừa của



ISDN nhưng ở mức độ phức tạp hơn. HDSL ra đời dựa trên chuẩn T1/E1 của Mỹ/châu âu. HDSL1 cho phép truyền 1,544Mbps hoặc 2,048Mbps trên 2 hay 3 đôi dây. HDSL2 ra đời sau đó cho phép dùng 1 đôi dây để truyền 1,544Mbps đối xứng. HDSL2 ra đời mang nhiều ý tưởng của ADSL. Ưu thể của HDSL là loại công nghệ không cần các trạm lặp, tức là có độ suy hao thấp hơn các loại khác trên đường truyền. Do vậy HDSL có thể truyền xa hơn mà vẫn đảm bảo được chất lượng tín hiệu. HDSL được ưa dùng do có các đặc tính chẩn đoán nhiễu(đo SNR) và ít gây nhiễu xuyên âm. HDSL được dùng bởi các nhà khai thác nội hạt (các công ty điện thoại) hay cung cấp các đường tốc độ cao giữa nhiều tòa nhà hay các khu công sở với nhau. 1.3VDSL VDSL (very-high-bit-rate digital subscriber line) là một công nghệ xDSL cung cấp đường truyền đối xứng trên một đôi dây đồng. Dòng bit tải xuống của VDSL là cao nhất trong tất cả các công nghệ của xDSL, đạt tới 52Mbps, dòng tải lên có thể đạt 2,3 Mbps. VDSL thường chỉ hoạt động tốt trong các mạng mạch vòng ngắn. VDSL dùng cáp quang để truyền dẫn là chủ yếu, và chỉ dùng cáp đồng ở phía đầu cuối. 1.4ADSL/ADSL2+ ADSL (Asymmetrical DSL) chính là một nhánh của công nghệ xDSL. ADSL cung cấp một băng thông bất đối xứng trên một đôi dây. Thuật ngữ bất đối xứng ở đây để chỉ sự không cân bằng trong dòng dữ liệu tải xuống và tải lên. Dòng dữ liệu tải xuống có băng thông lớn hơn băng thông dòng dữ liệu tải lên.ADSL ra đời vào năm 1989 trong phòng thí nghiệm. Dịch vụ ADSL mà chúng ta hay sử dụng hiện nay theo lý thuyết có thể cung cấp cung cấp 8 Mbps cho đường xuống và 2 Mbps cho đường lên, tuy nhiên vì nhiều lý do từ phía các ISP nên chất lượng dịch vụ sử dụng ADSL tại các đầu cuối của chúng ta thường không đạt được tốc độ nêu trên. Công nghệ đường dây thuê bao số bất đối xứng (ADSL) là một thành viên quan trọng của họ xDSL, đã được phát triển từ năm 1989 nhờ nghiên cứu của Joseph Lechleider ở Bellcore. Hai đặc điểm riêng của ADSL là cho phép dịch vụ POTS cùng tồn tại với truyền số liệu trên một đôi dây và băng thông hướng lên hẹp hơn băng thông hướng xuống.Bellcore bắt đầu hướng phát triển ADSL để đáp ứng các ứng dụng Video theo yêu cầu (VoD). Động cơ thúc đẩy các nghiên cứu của Bellcore từ đầu những năm



1990 là do yêu cầu cạnh tranh của các công ty viễn thông với các công ty cáp trong việc phân phối các dịch vụ VoD tới khách hàng. Bell Atlantic đã triển khai thử những thử nghiệm VoD đầu tiên sử dụng ADSL ở phía bắc New Jersey cùng lúc với Time Warner đang triển khai những thử nghiệm VoD sử dụng cáp ở Orlando, Florida. Trong các cuộc thử nghiệm ban đầu này, tốc độ hướng xuống cao nhất xấp xỉ 1,5 Mbit/s đủ để phân phối các luồng video MPEG-1. Tốc độ hướng lên vào khoảng 64Kbit/s đủ để cho phép người sử dụng gửi các yêu cầu đơn giản tới video serve (nghĩa là các lệnh để lựa chọn chương trình và các chức năng tương tự như VCR để tạm ngừng, quay thuận nghịch...) Vào giữa những năm 1990, thị trường VoD bị chững lại do thiếu nhu cầu. Lý do căn bản không phải là do kỹ thuật ADSL mà do thực tế chi phí triển khai các dịch vụ video cao đã làm tăng giá cước thuê bao hàng tháng. Khách hàng không muốn trả cước phí này khi có các điểm cho thuê băng hình rẻ hơn nhiều. Khi thị trường VoD bị thu hẹp lại, cả công ty viễn thông và công ty cáp đều nhận ra các cơ hội mới cho các kỹ thuật của họ. Nhu cầu truy nhập internet tốc độ cao đã mang lại cơ hội mới cho ADSL. Tính không đối xứng của công nghệ này rất phù hợp cho các ứng dụng như duyệt trang Web với nội dung thông tin hướng xuống thường đòi hỏi băng thông lớn hơn hướng lên.Tốc độ hướng lên được cải thiện đến 640 Kbit/s hoặc cao hơn và hướng xuống từ 6 đến 8 Mbit/s (phụ thuộc vào chiều dài và trạng thái đường dây).Điều này có nghĩa là, tốc độ hướng xuống đủ cao để hỗ trợ các luồng video MPEG-2. Tỷ số băng thông hướng lên và hướng xuống được cân nhắc là 1:10 là giá trị tối ưu phù hợp với lưu lượng TCP/IP. Một điểm cải tiến khác là khả năng thích ứng tốc độ cho phép hai modem ADSL điều chỉnh các tốc độ hướng lên và hướng xuống trên cơ sở trạng thái mạch vòng. Một ưu điểm khác của ADSL cho truy nhập ADSL là chế độ “luôn sẵn sàng” nghĩa là khi thuê bao truy nhập Internet không cần thao tác quay số và chờ đợi vì kết nối Internet không qua tổng đài PSTN. Việc sử dụng mạch vòng nội hạt cho cả thoại tương tự và truyền số liệu yêu cầu các loại mã đường hiệu quả hơn. Kỹ thuật mã đa tần rời rạc (DMT), ban đầu được phát triển ở Bellcore sau đó được bổ sung và hoàn thiện nhờ công sức của giáo sư M.Cioffi ở trường Đại học Stanford, người đã thành lập công ty Amati vào năm 1992. Amati đã phát triển một loại modem có tên là Prelude và được các công ty viễn thông thử nghiệm trên toàn thế giới để đánh giá công nghệ. Sau đó, Amati đã kết hợp các bài học rút ra trong các cuộc thử nghiệm này vào các modem và bộ thu phát ADSL thế hệ tiếp theo. Cùng thời gian đó, công ty Globespan đã đề xướng một kỹ thuật mã đường cạnh tranh gọi là “điều chế biên độ pha không sóng



mang” (CAP) và một lựa chọn khác nữa cho mã đường là kỹ thuật “điều chế biên độ cầu phương” (QAM), rất gần với CAP về mặt kỹ thuật căn bản. Một số nhóm đã tán thành với CAP và QAM vì chúng có ưu điểm là dựa trên những hiểu biết được thiết lập giữa những người sáng lập và sản xuất modem băng tần thoại. Ngay từ đầu những năm 1990, Bellcore đã cân nhắc nhiều loại mã đường khác nhau và đã lựa chọn DMT dựa trên thể nghiệm thành công về kỹ thuật của Amati. Mặc dù những người sử dụng CAP không đồng tình nhưng DMT có thể hoạt động tốt hơn CAP khi có tạp âm trên đường truyền. Lựa chọn mã DMT có thể thuyết phục các tổ chức tiêu chuẩn ở Mỹ và Châu Âu về các đặc tính của DMT nhưng những thử nghiệm và triển khai ADSL ban đầu lại là dựa trên kỹ thuật CAP. Mỗi kỹ thuật mã đường đều thể hiện những ưu nhược điểm riêng tuỳ thuộc vào trạng thái đường dây vì vậy đã nổ ra một cuộc tranh cãi về mặt kỹ thuật để tìm loại mã đường phù hợp cho ADSL. Đôi khi những cuộc tranh cãi trở nên gay gắt dẫn đến cạnh tranh trên thị trường. Những người ủng hộ DMT tập trung vào sự chấp nhận của các tổ chức tiêu chuẩn còn những người ủng hộ CAP tập trung vào việc triển khai thực tế. Những người ủng hộ DMT đã bác bỏ con số triển khai vào thời điểm này là không có ý nghĩa. Cuối cùng, các hãng truyền thông do sự thúc đẩy của các nhà cung cấp dịch vụ đã lựa chọn DMT cho ADSL. Những nỗ lực tiêu chuẩn hoá quốc tế cho DMT của ITU có ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn này. Diễn đàn ADSL không tập trung vào loại mã đường mà giải quyết các vấn đề ở các lớp trên lớp vật lý. Sau đó, diễn đàn ADSL đã phối hợp với các nhóm làm việc và các tổ chức tiêu chuẩn khác để bàn bạc nhiều vấn đề liên quan đến cấu hình (end to end) của ADSL. Đầu năm 1998, diễn ra một sự kiện có ý nghĩa trong lịch sử ADSL, đó là sự thành lập của nhóm hoạt động chung UAWG. Chuyển hướng quan tâm từ video theo yêu cầu sang truy nhập Internet tốc độ cao đã tạo ra một tiêu chuẩn ADSL mới cho việc triển khai rộng khắp trên thị trường. Một số yêu cầu như giảm giá thành cho khách hàng, xoá bỏ các khó khăn khi triển khai trên diện rộng như lắp đặt mạng cho nhà cung cấp dịch vụ và phương pháp đi dây mới. Có nhiều đề xuất giảm chi phí cho khách hàng nhờ đặc tính kỹ thuật của ADSL sao cho tốc độ truy nhập số liệu tối đa hướng xuống là 1,5 Mbit/s. Tốc độ này được lựa chọn để cung cấp cho khách hàng truy nhập Internet vì những lý do sau: - Tốc độ này khá phù hợp cho các nhà cung cấp dịch vụ ADSL trong thời gian đầu. - Tốc độ này phù hợp với khả năng của mạng đường trục Internet. Nói



cách khác, tăng tốc độ đường xuống của ADSL lên tới 6-8 Mbit/s không có ý nghĩa gì lớn vì mạng đường trục Internet hiện nay không đủ đáp ứng lưu lượng lớn đó nên điều chỉnh tốc dộ hướng xuống tới khoảng 1,5 Mbit/s là phù hợp. - Tỷ lệ giữa tốc độ và chi phí của khách hàng có thể tạo ra sự cạnh tranh với các công nghệ khác như Modem cáp. Do đó thuật ngữ ADSL.Lite ra đời và gắn liền với tiêu chuẩn mới này. Tiêu chuẩn cũ với băng thông hướng xuống 6-8 Mbit/s được goi là ADSL full-rate hoặc ADSL “heavy”. Nhóm UAWG chịu trách nhiệm giúp đỡ ITU-T trong việc chuẩn hoá ADSL.Lite. Công việc của diễn dàn ADSL và nhóm UAWG bổ xung cho nhau. Diễn đàn ADSL tập trung vào ADSL full-rate và các vấn đề giao thức ở lớp cao còn nhóm UAWG tập trung chủ yếu vào việc tối ưu lớp vật lý để cho phép truy nhập số liệu tốc độ cao trên thị trường rộng rãi. ADSL2+ gia nhập vào gia đình xDSL năm 2003 là sự mở rộng của ADSL tăng tốc độ luồng tải xuống lên 24Mbps bằng cách tăng gấp đôi dải tần từ 1.1MHz trong ADSL/ADSL2 lên 2.2MHz). Tốc độ đường lên vẫn được duy trì ở 1Mbps. Ngoài ra thì trong họ xDSL còn có chuẩn khác nhưng do chưa được chuẩn hóa nên không được phổ biến rộng rãi: SDSL(single pair DSL) đây là công nghệ DSL sử dụng một đôi dây truyền đối xứng tốc độ 784kb/s trên một đôi dây sử dụng mã 2B1Q. SHDSL : là sự kết hợp giữa HDSL2 và SDSL với tốc độ thay đổi từ 192kbps đến 2134kbps khoảng cách tương ứng với tốc độ tối đa là 2km. Trong thực tế nó có thể cấu hình ở dạng 2 đôi dây cung cấp tốc độ tối đa là từ 384kbps đến 4,264Mbps.



Nói thêm về chuẩn MPEG: MPEG-1 Đây là chuẩn của Video CD và đĩa CD-I (Compact Disc – interactive, đĩa CD tương tác). Nó được thiết kế để mã hóa video với tốc độ khoảng 1,5 triệu bit/giây. Với tốc độ truyền tải đồng bộ video và audio 150KB/s, nó tương đương với tốc độ của ổ CDROM1x. MPEG-1 cho video có độ phân giải 353x240 pixel với tốc độ 30 khuôn hình một giây (fps). Tuy nhiên, chất lượng của nó hơi kém hơn so với băng video VCR và kém xa chất lượng tivi chuẩn.Ở đây xin được tạt ngang một lát để lưu ý bạn MP3 có "dây mơ rễ má" với MPEG-1 nhưng không phải là chuẩn video MPEG-3



đâu à nghen. MP3 là tên tắt từ “MPEG-1 audio layer-3” (lớp âm thanh thứ ba của MPEG-1). MPEG-2 Chuẩn này đứt khoát là xịn hơn MPEG-1 rồi. Nó chia thành hai cấp:cao nhất là DVD Video và thấp hơn một chút là Super VCD (SVCD). Nó mã hóa video với tốc độ dày ken (interlacedvideo) bắt chóng mặt hơn 4triệu bit/giây. MPEG-2 cũng được dùng trong truyền hình kỹ thuật số. MPEG-2 cho video có độ phân giải 720x480 và 1280x720 pixel với tốc độ 60fps và âm thanh đạt chất lượng AudioCD. Chuẩn này có thể nén một bộ phim dài 2 giờ thành một file có dung lượng vài GB. Máy chơi MPEG-2 có thể chơi cả chuẩn MPEG-1. Xin nói thêm cho “rộng đường dư luận”:Gọi là MPEG-1 và MPEG-2 là để định nghĩa các kỹ thuật nén phim số với các tỷ lệ thay đổi từ 25:1 tới 50:1. MPEG-3 Chuẩn này ban đầu được tính dành cho truyền hình độ phân giải cao (HDTV). Nhưng cuối cùng nó lại được sáp nhập với chuẩn MPEG-2 khi các chuyên gia xác định rằng chuẩn MPEG-2 đủ sức đáp ứng được các yêu cầu của HDTV. Chuẩn MPEG-3 chết từ trong trứng nước. Nhờ vậy, giờ đây dân mê “multimedia” đỡ phải lúng túng giữa chuẩn video nén MPEG-3 và chuẩn âm thanh nén MP3. MPEG-4 Đây là chuẩn nén video giàu tham vọng nhất. Các chuyên gia muốn huy động các yếu tố như sự tổng hợp thoại và hình, hình học bất quy tắc, trực quan máy tính và trí thông minh nhân tạo (AI) để tái tạo lại các hình ảnh. MPEG-4 tạo ra một bước ngoặc mới cho truyền thông video. Trước nay, trên mạng Internet, người ta chỉ có thể xem phim với các định dạng rút gọn tới mức não lòng (xem bằng Real, Quick Time, WindowsMedia Player...). Với kỹ thuật nén MPEG-4, người ta có thể thưởng thức các bộ phim điện ảnh chất lượng cao trên mạng Internet, đặc biệt là qua các giao thức băng rộng Wireless, vệ tinh, ADSL...MPEG-4 là chuẩn thuật toán đồ họa và video dựa trên hai chuẩn MPEG-1, MPEG-2 và công nghệ QuickTime của Apple. Nhờ có kích thước nhỏ hơn và tốc độ truyền tải thấp hơn, MPEG-4 có thể truyền qua một băng thông hẹp hơn, có thể trộn video với text, đồ họa, các lớp 2D và 3D động... Nó đã được tổ chức ISO công nhận vào tháng 10-1998.MPEG-4 được coi là một cuộc cách mạng mới trong media số. Nó là chuẩn multimedia toàn cầu thế hệ kế tiếp. Nó được thiết kế để truyền tải video với chất lượng DVD(MPEG-2) qua mạng. 2.CÁC VẤN ĐỀ KỸ THUẬT CỦA CÔNG NGHỆ ADSL/ADSL2+ 2.1 CÁC KỸ THUẬT ĐIỀU CHẾ SỬ DỤNG TRONG CÔNG NGHỆ ADSL/ADSL2+



Cả DMT và CAP đều là các mã đường truyền hiệu quả được thiết kế để tận dụng lượng băng tần lớn nằm trên dải thông của tín hiệu thoại tương tự. Mã đường truyền đơn giản là quyết định các bit 0 và 1 được phát đi từ ATU-R và ATU-C như thế nào. Một mã đường truyền hoàn hảo phải hoạt động tốt ngay cả trong các điều kiện đường dây không tốt, kể cả sự có mặt của nhiễu, xuyên âm và các yếu tố ảnh hưởng khác như các cầu rẽ và kích cỡ dây hỗn hợp. Tuy nhiên, DMT và CAP về cơ bản là khác nhau trong quá trình thực hiện. Vì vậy, một bộ thu phát DMT không thể hoạt động chung với một bộ thu phát dựa trên CAP.Ưu điểm của DMT so với CAP đã được tranh luận nảy lửa trong các cuộc thảo luận của nhóm công tác tiêu chuẩn, trong các tạp chí kỹ thuật và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Về mặt kỹ thuật mà nói, cả hai loại mã đường đều có những ưu và nhược điểm của chúng, nếu một công nghệ rõ ràng là nổi trội thì sẽ không có tranh cãi. Tuy nhiên trong phân tích cuối cùng các tổ chức tiêu chuẩn phần lớn đã nghiêng về DMT do sự đồng thuận chung (tối thiểu là trong số các thành viên phát triển tiêu chuẩn) là DMT có khả năng xử lý trong các tình huống có sự ảnh hưởng có hại lên đường truyền. Trong thực tế, CAP cũng chứng tỏ là công nghệ mạnh. Tuy nhiên, các kết quả phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau ảnh hưởng lên đường truyền. Cho đến nay, cuộc tranh luận đã dừng lại với phần ủng hộ dành cho DMT. 2.1 .1Mã đa tần rời rạc DMT DMT được đánh giá thực hiện tốt hơn CAP và QAM. AMT được ANSI chấp nhận vào năm 1993 và được đưa vào tiêu chuẩn ANSI T1.413 vào năm 1995, sau đó DMT được ITU-T đưa vào tiêu chuẩn G.992.1 vào 6/1999. Các modem ADSL dựa trên DMT có thể được coi là nhiều mini-modem hoạt động đồng thời. DMT sử dụng nhiều sóng mang có thể tạo ra các kênh con, mỗi kênh con mang một phần nhỏ của tổng lượng thông tin. Thường thì DMT chia dải tần 0 ÷ 1,104 MHz thành 256 kênh con (gọi là bin), mỗi kênh có độ rộng băng là 4,1325 KHz. Các kênh con được điều chế độc lập với mỗi tần số sóng mang tương ứng với tần số trung tâm của kênh con và được xử lý song song. Mỗi kênh con được điều chế sử dụng QAM và có thể mang từ 0 tới tối đa 15 bits/symbol/Hz. Trong 256 kênh con thì có 26 kênh dùng cho hướng



lên , 250 kênh dùng cho hướng xuống nếu có sử dụng phương pháp triệt tiếng vọng EC hoặc 223 kênh dành cho hướng xuống nếu không sử dụng phương pháp EC, các kênh 1-6 và kênh 32 để trống. DMT được minh họa như trong hình 3.7. Tốc độ luồng lên tối đa theo lý thuyết là 26 x 15 bits/symbol/Hz x 4 KHz = 1,56 Mb/s, tốc độ luồng xuống tối đa theo lý thuyết là 250 x15 bits/symbol/Hz x 4 KHz = 15 Mb/s. Số lượng bit thực tế được mang trên mỗi kênh con phụ thuộc vào đặc tính đường truyền. Những kênh con nào đó có thể không được sử dụng do nhiễu bên ngoài. Ví dụ, một trạm vô tuyến AM gây ra can nhiễu tần số vô tuyến trong một kênh con nào đó có thể làm cho kênh con đó không sử dụng được. Hình 3.8 là sơ đồ khối một máy phát DMT.



DMT đem lại một số ưu điểm bao gồm: truyền được tốc độ bit tối đa trong các khoảng băng tần nhỏ, linh hoạt trong việc tối ưu tốc độ đường truyền nhờ vào thay đổi số bit trong một kênh con dựa vào tỉ số S/N (xem ví dụ hình 3.9), khả năng chống nhiễu từ các tần số vô tuyến và tránh nhiễu xung rất tốt. DMT khắc phục được ISI bằng cách giải mã độc lập các ký hiệu trong các sóng mang phụ. Tuy nhiên do sử dụng nhiều sóng mang nên thiết bị sử dụng DMT rất đắt và phức tạp.



3.2.2 Điều chế pha và biên độ không sóng mang CAP CAP là phương pháp điều chế pha và biên độ không sóng mang, dựa trên phương pháp điều chế biên độ cầu phương QAM, một số nhà sản xuất thiết bị ADSL sử dụng CAP làm mã đường truyền. Cũng giống như QAM, CAP sử dụng cả điều biên nhiều mức (tức là nhiều mức điện áp cho 1 xung) và điều chế pha dẫn tới các chùm sao mã hóa như cho thấy trên Hình 3.10.



Sự khác biệt giữa CAP và QAM thực chất là quá trình thực hiện. Với QAM, hai tín hiệu được kết hợp với nhau trong miền tương tự. Tuy nhiên, do tín hiệu sóng mang không mang thông tin nên trong quá trình thực hiện CAP không truyền đi chút sóng mang nào. Điều chế tín hiệu được thực hiện theo phương thức số sử dụng hai bộ lọc số với các đặc tính biên độ bằng nhau nhưng khác nhau về đáp ứng pha. Ưu điểm của CAP so với QAM là điều chế tín hiệu số chứ không phải là tương tự - điều này dẫn tới tiết kiệm được chi phí. Sự vắng mặt của sóng mang tạo nên việc thực thi "không sóng mang" hay "nén sóng mang". Với QAM, chùm sao mã hóa là



cố định nhưng với CAP chùm sao mã hóa là tự do quay do không có sóng mang để cố định nó tới một giá trị tuyệt đối. Để bù trừ cho điều này, một máy thu CAP phải có chức năng quay để phát hiện vị trí tương đối của chùm sao. Thật may là chi phí cho việc thực hiện chức năng quay khá thấp.



Hình 3.11 là sơ đồ thu phát tín hiệu theo phương pháp điều chế CAP. Các bít dữ liệu được đưa vào bộ mã hóa, đầu ra bộ mã hóa là các symbol được đưa đến các bộ lọc số. Tín hiệu sau khi qua bộ lọc số đồng pha và bộ lọc số lệch pha 900 sẽ được tổng hợp lại,đi qua bộ chuyển đổi D/A, qua bộ lọc phát và tới đường truyền.Tại đầu thu, tín hiệu nhận được qua bộ chuyển đổi A/D, qua các bộ lọc thích ứng và đến phần xử lý sau đó là giải mã. Bộ lọc phía thu và bộ xử lý là một phần của việc cân bằng điều chỉnh để chỉnh méo tín hiệu. CAP tạo ra các thuận lợi sau: - CAP dựa trên QAM một cách trực tiếp nên nó là một kỹ thuật hoàn thiện dễ hiểu, và do không có các kênh con nên thực thi đơn giản hơn DMT. - Có thể thích ứng tốc độ nhờ việc thay đổi kích cỡ chùm sao mã hóa (4-CAP, 64-CAP, 512-CAP vv...) hoặc bằng cách tăng hoặc giảm băng tần.



- Mạch thực hiện đơn giản. CAP có nhược điểm là do không có sóng mang nên năng lượng suy giảm nhanh trên đường truyền và tín hiệu thu chỉ biết biên độ mà không biết pha do đóđầu thu phải có bộ thực hiện chức năng quay nhằm xác định chính xác điểm tín hiệu. CAP vẫn là tiêu chuẩn riêng của hãng Paradyne và có rất ít thiết bị hỗ trợ. So với DMT, CAP sử dụng toàn bộ băng tần sẵn có (ngoại trừ băng tần thoại tương tự), do đó không có các kênh con trong CAP. Nói cách khác, mặc dù DMT và CAP cả hai đều dựa trên QAM, nhưng sự khác nhau cơ bản nhất là DMT sử dụng QAM trong mỗi kênh con còn CAP (giống như QAM truyền thống) phân phối đồng đều năng lượng qua toàn bộ dải tần. Các hệ thống CAP sử dụng ghép kênh phân tần số (FDM) để tách biệt các tần số thành kênh luồng lên và kênh luồng xuống. Số liệu của : học viện công nghệ bưu chính viễn thông Hà Nội “NGUỒN WIKIPEDIA TIẾNG VIỆT http://vi.wikipedia.org/wiki/XDSL”




Share This Document


Related docs
Other docs by oreka
Cambridge - English Vocabulary in Use - Upp_Adv
Views: 126  |  Downloads: 10
linux
Views: 157  |  Downloads: 19
dien tu
Views: 215  |  Downloads: 7
boitoan
Views: 195  |  Downloads: 0
boitoan
Views: 905  |  Downloads: 0
adsl adsl2+
Views: 1565  |  Downloads: 118
VIET NAM NET
Views: 238  |  Downloads: 0
by registering with docstoc.com you agree to our
privacy policy

You are almost ready to download!

You are almost ready to download!