BẢN LÊN TIẾNG CỦA MỘT LINH MỤC VIỆT NAM

Document Sample
BẢN LÊN TIẾNG CỦA MỘT LINH MỤC VIỆT NAM Powered By Docstoc
					        BẢN LÊN TIẾNG CỦA MỘT LINH MỤC VIỆT NAM
             VỀ LẬP TRƯỜNG CỦA HỒNG Y PHẠM MINH MẪN

       Trong thư gửi cho 3 vị Giám Mục Việt Nam tham dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới
(ĐHGTTG) năm 2008 tại Sydney, Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã công khai bày tỏ thái độ chống
báng lá cờ vàng ba sọc đỏ; không muốn thấy lá cờ đó trong ĐHGTTG; đánh giá rất thấp những
người đang bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ và Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã công khai cổ vũ cho lá
cờ đỏ của đảng cộng sản Việt Nam qua ba đoạn văn sau đây:

1. “WYD ba lần trước ở Pháp, Đức, Canda đều có một sự kiện mà các bạn trẻ ở một số nơi coi
như là một sự cố làm tắc nghẽn con đường hiệp thông của các bạn trẻ VN. Sự cố đó là lá cờ
vàng ba sọc đỏ đã được dương lên trong lúc các bạn trẻ VN từ nhiều châu lục quy tụ lại để cử
hành phụng vụ hoặc sinh hoạt chung”.

2. “Một lá cờ tượng trưng cho điều gì? Có lúc lá cờ được coi là biểu tượng cho một đất nước,
lúc khác được coi là biểu trưng một chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa
quốc gia...Có lúc chỉ biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng”.

3. “ Giám mục của tôi, cách nay 30 năm, lúc còn sinh thời đã để lại cho các tín hữu và cho bản
thân tôi bài học lịch sử này: người mẹ VN lúc mặc áo vàng( cờ vàng) lúc mặc áo đỏ (cờ đỏ)...”

       Ngay từ khi lá thư đó được công bố vào ngày 6 tháng 6 năm 2008 đã gây ra sự phản bác
mạnh mẽ của nhiều người thuộc nhiều giới tại nhiều nơi khác nhau. Ngoài sự chống dối của từng
cá nhân, từng hội đoàn, phải kể đế sự phản bác chính thức của các Cộng Đồng Người Việt Tị
Nạn, nơi mà Hồng Y Phạm Minh Mẫn dự định sẽ tới làm công tác mục vụ như Cộng Đồng
Người Việt Quốc Gia tiểu bang Washington và đáng lưu ý nhất là Cộng Đồng Người Việt Tự Do
Úc Châu. Càng gần tới ngày khai mạc ĐHGTTG thì làn sóng chống đối Hồng Y Phạm Minh
Mẫn càng mạnh mẽ và trở nên gay gắt hơn.

      Mặc dù ai cũng biết đây là lập trường chính trị cá nhân của Hồng Y Phạm Minh Mẫn,
nhưng Hồng Y Phạm Minh Mẫn cũng là một chức sắc cao cấp nhất của Giáo Hội Công Giáo
Việt Nam và sự kiện này đã tạo cái cớ cho một số người có nhận xét không tốt đẹp về người
Công Giáo Việt Nam đối với chế độ độc tài cộng sản.

        Sự kiện này cũng đã gây ra đau buồn không ít cho những người Công Giáo không đồng
chính kiến với Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Đặc biệt là đối với Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam
Hải Ngoại, trong đó đại đa số là đồng bào tị nạn đã liều chết trốn chạy chế độ vô thần cộng sản
và lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng thiêng liêng và cao quý nhất của họ.

       Là một Linh mục, mặc dù tôi rất tôn kính chức Giám mục và tôn trọng tước vị Hồng Y
của Đức HồngY Phạm Minh Mẫn, nhưng tôi phải công khai phản bác thái độ sai trái của Hồng Y
Phạm Minh Mẫn muốn áp đặt lập trường chính trị của cá nhân ngài lên đồng bào Công Giáo Hải
Ngoại và Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn Cộng Sản Hải Ngoại nói chung.



                                     CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                    23
       Là một cựu tù nhân của chế độ cộng sản, tôi hiểu rất rõ tính cách vô nhân, tàn bạo và qủy
quyệt của chế độ này. Là một người Việt Nam vượt biên trốn chạy chế độ tàn bạo đó, tôi nguyện
luôn sát cánh với đồng bào Việt Nam tị nạn cộng sản trên toàn thế giới trong việc tôn vinh và
bảo vệ lá cờ vàng ba sọc đỏ, vì đó là biểu tượng cao quý và hùng hồn nhất để đối kháng với lá cờ
đỏ của đảng cộng sản Việt Nam.

       Lá cờ vàng ba sọc đỏ cho dù đã bị Hồng Y Phạm Minh Mẫn hạ giá xuống chỉ còn là
“biểu trưng một thói đời mang tính đối kháng” thì cũng là để đối kháng với chế độ phản dân hại
nước cộng sản Việt Nam, và những kẻ làm tay sai cho bọn chúng.

Làm tại Auckland, New Zealand ngày 13 tháng 7 năm 2008

Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
Tuyên Úy Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Auckland. New Zealand




              TỔNG HỘI CỰU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
             Federation of Association of Former Vietnamese Political Prisoners
                    ID # 76-0410230, Email: tonghoictnctvn@yahoo.com
    Mailing Address: 62 W. Kings bridge Rd, Bronx, New York 10468. Tel (718) 364 -3673

                                         TUYÊN BỐ:

 Trích Yếu : v/v Thư của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn ngày 4 tháng 6 năm 2008 nhận định về
cờ vàng ba sọc đỏ.

Kính thưa:- Qúy chiến hữu trong Ban Cố Vấn, Ban Giám Sát, Ban Chấp Hành Tổng Hội
CTNCT/VN
-Quý chiến hữu Chủ Tịch các khu Hội và phân khu Hội CTNCT.

Đọc thư của Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Hội CTNCT/VN nhận định:

1. Đức Hồng Y tỏ ý quan ngại về sự hiện diện của lá cờ vàng ba sọc đỏ trong Đại Hội Giới Trẻ
Công GiáoThế Giới 2008 tại Sydney sẽ là một trở ngại: “ gây tắc nghẽn cho con đường hiệp
thông của các bạn trẻ Công Giaó Việt Nam”

2. Khi nói về biểu tượng của lá cờ Quốc Gia, ĐHY cho rằng: “Có lúc lá cờ chỉ biểu trưng cho
một thói đời mang tính đối kháng”

3. ĐHY viết rằng: “Mẹ Việt Nam khi mặc áo đỏ, khi mặc áo vàng “.

       Qua nhận định những điều trong lá thư của ĐHY nêu trên, Tổng Hội CTNCT/VN
Tuyên bố:




                                      CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                    24
1. Lá cờ vàng ba sọc đỏ (cờ Quốc Gia) ở Sydney chắc chắn sẽ không gây tắc nghẽn hiệp thông
như ĐHY nghĩ vì những kỳ Đại Hội trước, lá cờ vàng đã hiện diện cùng các phái đoàn Giới Trẻ
Công Giáo Việt Nam mà không hề “ gây tắc nghẽn hiệp thông”

2. ĐHY cho là cờ vàng ba sọc đỏ là :” Có lúc lá cờ chỉ biểu trưng cho một thói đời mang tính đối
kháng “.Qua dòng viết đó, ĐHY đã phản bội và hạ nhục lá cờ quốc Gia. Vì lá cờ vàng ba sọc đỏ
là lá cờ của dân tộc Việt Nam, là biểu tượng của tự do, dân chủ, là lá cờ oai hùng đã nhuộm máu
đào của hàng trăm ngàn Quân , Dân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hoà để linh mục Phạm Minh
Mẫn được sống bình an và làm tròn Thiên Chức Linh Mục và sống sót sau cuộc chiến do CSVN
gây ra. Nhưng nay ĐHY đã bội ơn những ngưòi đã chết và nhục mạ lá cờ Quốc Gia, đó là điều
không thể chấp nhận đưọc.

3. ĐHY viết:” Mẹ Việt Nam khi mặc áo đỏ, khi mặc áo vàng” chứng tỏ ĐHY ủng hộ và cổ võ
cho CSVN nhuộm đỏ dân tộc Việt Nam. Thực ra hơn nửa thế kỷ qua, ngưòi Mẹ Việt Nam đã bị
cưỡng bức phải mặc áo đỏ, màu áo tượïng trưng của độc tài đảng trị, phi nhân và bạo lực. Người
Mẹ Việt nam đã đau khổ, xót xa, cay đắng trước những tội ác giết người tâp thể của CSVN, với
chính sách đàn áp và tiêu diệt các Tôn Giáo trong đó có Giáo Hội Công Giáo Việt Nam mà ĐHY
là một trong những hàng Giáo phẩm cao cấp nhất. Ngưòi Mẹ Việt Nam cũng đau lòng, xót dạ khi
thấy CSVN cắt dần lãnh hãi, lãnh thổ của Tổ Tiên để lại dâng cho Trung Cộng. Tóm lạ, ĐHY đã
phù “Tà” chứ không phù “Chánh”, thích áo đỏ hơn áo vàng.

4. Tổng Hội CTNCT/VN nghĩ rằng Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn có quyền đi hay không đi
tham dự Đại Hội Giới Trẻ Công Giáo Thế Giới nhưng ĐHY không có quyền cấm giới trẻ tham
dự không được mang cờ vàng ba sọc đỏ tại Đại Hội.

5. Tổng Hội CTNCT/VN tha thiết kêu gọi quý chiến hữu và đồng hương nếu như có dịp đón tiếp
ĐHY Pham Minh Mẫn tại hải ngoại. Hãy chào mừng ĐHY bằng một rừng cờ vàng ba sọc đỏ.

6. Tổng hội CTNCT/VN de nghị ĐHY Phạm Minh Mẫn không nên về tham dự Đại Hội Thánh
Mẫu vào tháng 8 này tại Chi Dòng Đồng Công, Carthage, Missuori vì kỳ Đại Hội Thánh Mẫu
nào, với sự chứng kiến của hàng chục ngàn ngưòi Công Giáo tỵ nạn CS, ban tổ chức cũng thả hai
lá đại kỳ, đó là lá cờ của Giáo Hội Công Giáo và lá cờ Quốc Gia nền vàng ba sọc đỏ. Đức Hồng
Y không nên đến vì thấy lá đại kỳ nền vàng ba sọc đỏ tung bay ngạo nghễ trên không gian lại
không yên tâm, lo lắng sợ bị “tắc nghẽn hiệp thông”


                                             Newyork ngày 14-7-2008.
                                           TM/BCH/ Tổng Hội CTNCT/VN
                                                Nguyễn Trung Châu.




                                               `


                                      CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                    25
                Bản Điều trần của BS Nguyễn Thể Bình
            Trước Nhóm Nhân Quyền Hạ Viện ngày 14-5-2008
       Như quý vị đã rõ, sau khi được gia nhập tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO) và trở
thành hội viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ, Việt Nam đã không thực hiện lời
hứa tôn trọng nhân quyền, và tiến tới một xã hội dân chủ và văn minh hơn. Thay vào đó, thế giới
đã chứng kiến một số những vụ đàn                           áp thô bạo các nhà đối lập và các
phong trào vận động dân chủ tại                             Việt Nam.

       Thật bất hạnh khi chúng tôi                          phải tường trình trước quý vị hôm
nay, vào đầu thế kỷ 21 rằng, Việt                           Nam vẫn còn bị cai trị bởi chế độ
độc đảng, và không có phân quyền                            giữa hành pháp, lập pháp và tư
pháp. Vì Đảng Cộng Sản Việt Nam                             nắm trong tay quyền cai trị tuyệt
đối nên không thể có cơ may cải tổ                          về các lãnh vực tư pháp, dân chủ,
xã hội, hay bất cứ cách nào khác                            có thể bảo đảm cho người dân Việt
Nam khỏi bị xâm phạm tới nhân                               quyền, và dân quyền.

       Xin chia sẻ sau đây cùng quý vị những điều đáng quan tâm hơn cả về các vi phạm nhân
quyền và thiếu dân chủ:

       Về tự do thông tin, phát biểu, và báo chí:

        Trước hết là Internet: Đảng Cộng Sản kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng internet bằng
cách ngăn chặn hay lựa lọc hầu hết các mạng lưới chứa đựng nội dung nhạy cảm, hay những
thông tin không có chiều hướng thuận lợi cho nhà cầm quyền.

        Thêm vào đó, những người dân muốn phát biểu ý kiến của mình trên internet qua các
hình thức như thảo luận (chat rooms), nhật ký (blogs), hay điện thư (emails) đều bị phát hiện lý
lịch và bị phiền hà. Gần đây đã có những trường hợp người dân bị bắt giữ và cầm tù chỉ vì đã
trình bầy quan điểm của mình trên internet.

       Đảng Cộng Sản buộc chủ nhân các quán cà phê internet phải hợp tác với chính quyền
bằng cách lấy căn cước và địa chỉ điện thư, hay theo dõi những người xử dụng internet để báo
cho chính quyền.

        Về phương diện thông tin: Hiện đang có tình trạng bất quân bình trầm trọng trong lãnh
vực trao đổi thông tin giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Qua nhiều đường lối khác nhau, Đảng Cộng
Sản VN có thể gửi các tài liệu như sách báo, DVD hay CD sang Hoa Kỳ, nhưng cấm tất cả
những tài liệu tương tự nhập cảng từ Mỹ vào Việt Nam. Đảng Cộng Sản vẫn cho phá chương
trình Việt ngữ của Đài Á châu Tự do (RFA) tại Việt Nam.

     Về quyền phát biểu: Các nhà đối lập như Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Bác Sĩ Nguyễn
Đan Quế, Giáo Sư Nguyễn Thanh Giang…, không được phép xuất bản hay lưu hành tác phẩm


                                      CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                    26
của mình. Họ không được sử dụng các phương tiện truyền tin thông thường, như telephone, fax,
và internet.

       Về báo chí: Mặc đầu Đảng Cộng Sản nói rằng họ có khoảng 600 tờ báo, tạp chí hay ấn
phẩm định kỳ, và rằng 75% dân chúng có thể nghe radio, và 50% có thể coi TV, nhưng không có
báo chí hay truyền thông tư nhân tại Việt Nam, vì tất cả đều dưới quyền kiểm soát của Đảng
Cộng Sản. Thí dụ mới nhất là vụ bắt giữ nhà báo Việt Chiến của tờ Thanh Niên, và nhà báo Trần
Thanh Hải của tờ Tuổi Trẻ, vì đã viết những bài báo phanh phui vụ tham những lớn có tên là
“PMU 18” tại Việt Nam. Tất cả mọi ấm phẩm đều bị chính quyền kiểm duyệt.

       Về tự do tín ngưỡng

       Đảng Cộng Sản tiếp tục loại trừ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (lãnh đạo bởi
các Hòa Thượng Thích Huyền Quang, và Thích Quảng Độ), Giáo hội Tin Lành miền Thượng, và
các tôn giáo bản địa như Hòa Hảo, và Cao Đài. Đại lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc Vesak năm
nay được tổ chức tại Việt Nam, từ 13 đến 17 tháng 5 tại Hà Nội, và tại 54 trong số 64 tỉnh tại
Việt Nam. Nhưng đại lễ này được tổ chức bởi Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được
thành lập bởi Đảng Cộng Sản, và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không được tham
dự. Thêm vào đó, Đảng Cộng Sản còn tiếp tục can thiệp vào các hoạt động tôn giáo của Giáo
Hội Công Giáo.

       Về tự do lập hội và nghiệp đoàn độc lập

       Đảng Cộng Sản nghiêm ngặt phủ nhận tự do lập hội bằng cách ban hành các nghị định
đặc biệt không cho phép hội họp quá năm người nếu không được phép của chính quyền. Tất cả
mọi cuộc biểu tình chống chính quyền đều bị Đảng Cộng Sản coi là bất hợp pháp. Hàng triệu
công nhân Việt Nam không có một nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ họ. Tổng Liên Đoàn Lao Động
Việt Nam đã được thành lập và kiểm soát bởi Đảng Cộng Sản. Lãnh đạo tổ chức này bao giờ
cũng là thành viên của một nhóm chính trị trực thuộc Đảng Cộng Sản, và do Bộ Chính Trị chỉ
định.

       Về tự do chính trị:

        Đảng Cộng Sản tiếp tục duy trì điều 4 Hiến Pháp, bảo đảm quyền cai trị của Đảng trên
toàn dân. Đảng Cộng Sản còn dùng các Nghị định hay Nghị quyết để kiểm soát người Việt trong
nước và hải ngoại. Đảng Cộng Sản dùng hình luật với tội danh không rõ ràng và hình phạt nặng
nề (như các điều 79 và 88) để xách nhiễu, bắt giữ, trừng phạt hay cầm tù các nhà đối lập. Vì
không có phân quyền nên chế độ tư pháp đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của đảng Cộng Sản, và
tòa án không vô tư, và thủ tục xét xử không phù hợp với thông lệ quốc tế.

        Đảng Cộng Sản tiếp tục gây phiền hà cho các cựu tù nhân chính trị, các nhà vận động
nhân quyền và các lãnh tụ tôn giáo. Những người này liên tiếp sống dưới sự canh chừng của
nhân viên công lực theo dõi hoặc bao vây quanh nơi cư trú. Họ bị cắt đường giây điện thoại, fax,
và internet. Thư tín của họ bị coi lén. Họ bị coi như thường phạm và bị cô lập với dòng chính
của xã hội.

       Các viên chức Việt Nam Cộng Hòa, và những người có liên hệ với chế độ cũ bị xử tệ
bởi chính quyền. Dù cách đối xử kỳ thị này không còn rõ rệt trong những năm gần đây nhờ


                                      CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                    27
sự canh chừng và chỉ trích của quốc tế, nhưng sự tệ bạc này vẫn sâu rộng và ngấm ngầm.
Ngay cả với người chết, như những nấm mồ của các tử sĩ tại nghĩa trang Biên Hòa đã bị xâm
phạm bằng cách lấy đất và không cho người Việt hải ngoại được trùng tu những ngôi mộ
trong tình trạng đổ nát.

Những đề nghị:

       Chúng tôi có một số đề nghị để phái đoàn Hoa Kỳ nêu ra với phía Việt Nam trong cuộc
đối thoại thường niên Việt-Mỹ về nhân quyền vào ngày 29 tháng 5:

        1- Phái đoàn Hoa Kỳ không nên bỏ lỡ cơ hội thông báo cho Đảng Cộng Sản Việt Nam
biết là người dân cũng như chính quyền Hoa Kỳ hỗ trợ một xã hội Việt Nam cởi mở hơn về dân
chủ (Theo Công Luật số 103-258 ban hành bởi Tổng thống Hoa Kỳ ngày 25 tháng 5, năm 1994)

       2- Nhân dân và chính quyền Hoa Kỳ cũng khuyến khích Đảng Cộng Sản Việt Nam có một
khuôn mẫu và thời biểu cho cuộc bầu cử tự do và công bằng dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp
Quốc, để dân Việt Nam có thể tự chọn cho mình một thể chế chính quyền.

       3- Phóng thích ngay các tù nhân chính trị và các nhà lãnh đạo tôn giáo bị cầm tù. Chúng
ta không nên để cho Đảng Cộng Sản sử dụng tù chính trị để mặc cả với Hoa Kỳ. Hơn nữa, Đảng
Cộng Sản không được xử tệ và cô lập cựu tù nhân chính trị, và phải phục hồi các quyền dân sự
và chính trị cho họ.

        4- Có hai quyền căn bản cực kỳ quan trọng và không thể thiếu cho công cuộc dân chủ
hóa và phát triển Việt Nam, là: Tự do thông tin, và tự do phát biểu. Chúng tôi đề nghị Quốc Hội
và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phối hợp với nhau để điều chỉnh hiện trạng thiếu một đường lối thông
tin hai chiều giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Phái bộ Hoa Kỳ nên nhấn mạnh rằng Đảng Cộng Sản
Việt Nam cần chấm dứt việc phá sóng chương trình Việt ngữ của đài Á châu tự do. Người dân
Việt Nam phải được in và phát hành các tác phẩm của mình, cũng như được phát biểu những
quan điểm có thể khác với quan điểm của Đảng Cộng Sản, miễn là bất bạo động. Đảng Cộng
Sản phải chấm dứt việc ngăn chặn internet, cho phép mọi người dân Việt được tự do tiếp cận
internet.

        5- Cộng đồng người Mỹ gốc Việt sẵn sàng cộng tác với bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ theo
đường lối xây dựng trên căn bản tương kính và năng tham khảo ý kiến. Trong tương lai, chúng
tôi hy vọng tích cực tham dự vào phái đoàn Hoa Kỳ về bất cứ cuộc thảo luận nào với nhà cầm
quyền Việt Nam liên quan tới những vấn đề về nhân quyền và dân chủ. Chúng tôi tin rằng, với
căn bản liên hệ quá khứ, chúng tôi có thể hữu ích bằng cách sử dụng những hiểu biết về văn hóa
và những giá trị về phong tục, ngôn ngữ Việt Nam, và những kinh nghiệm tổng hợp của trên nửa
thế kỷ đối phó với Đảng Cộng Sản Việt Nam.

       (Vì nguyên văn Bản điều trần bằng Anh ngữ dài 5 trang nên CSCH chỉ xin trích phần mở
đầu và phần nói về sự phân biệt đối xử tàn tệ tại VN hiện nay với những người cựu lính VNCH
của chính quyền Cộng sản đương thời):




                                     CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                    28
TESTIMONY OF DR. BINH NGUYEN BEFORE THE HUMAN RIGHTS CAUCUS
                                             TH
         U.S. HOUSE OF REPRESENTATIVES MAY 14 , 2008

       Madam Chairman, the Honorable Zoe Lofgren, and Honorable Members of the Human
Rights Caucus:

Ladies and Gentlemen:

       I am honored to be here today and I very much appreciate the opportunity to testify
before the Human Rights Caucus regarding the issues of lack of democracy and violations of
human rights in Vietnam.
       As you are aware, after joining the World Trade Organization in 2006 and becoming a
non-permanent member of the United Nations’ Security Council at the beginning of this year,
Vietnam has not fulfilled its commitments to improve human rights and to move toward a more
democratic and civil society. Instead, the international communities have witnessed some of the
worst crackdown on dissidents and movements for democratic reform in Vietnam.
……
Veterans of the Republic of South Vietnam, people with past affiliation with the former
regime are mistreated by the government. While the discrimination may not be blatant in
recent years due to the international surveillance and criticism, the mistreatment is deep,
widespread and concealed. Even in death, the tombs of the veterans in the Bien Hoa
Cemetery have been left decrepit and vandalized. Now the regime is also taking away the
land without allowing the Vietnamese overseas to restore the dilapidated conditions that
these tombs suffer.
……




(Bức tượng "Tiếc Thương" ở ngoài cổng đã bị kéo đổ như một cách trả thù. Mộ phần cuả các tử
sĩ VNCH bị bỏ quên, hoang phế lẫn lộn với cỏ cao).



                                     CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                    29
Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh Những Ngày Cuối Tại
                   Cổ Thành
                                                                         VƯƠNG HỒNG ANH.
                                                                                  Việt Báo




Những ngày cuối tháng 4/1972 tại bộ Tư             tá Cục trưởng Tâm Lý Chiến đặc trách về
lệnh SĐ 3 BB ở Cổ Thành:                           Truyền Hình Điện Ảnh, ông đã hướng dẫn
                                                   một toán phóng viên quân đội từ Sài Gòn đến
     Vào những ngày cuối tháng 4/1972, bộ Tư       bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 BB để thực hiện cuốn
lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh đã hoạt động 24/24          phim chiến sự về mặt trận Quảng Trị. Sau đây
giờ để kịp thời điều động các đơn vị ứng phó       là ghi nhận của tác giả Lê Huy Linh Vũ về sự
với tình hình. Ngoài tư lệnh Sư đoàn là tướng      việc này:
Vũ Văn Giai và đại tá Ngô Văn Chung-tư lệnh
phó- luôn theo sát diễn biến trận địa, từ các          Một tiếng động mạnh rơi loảng xoảng, một
trưởng phòng, sĩ quan tham mưu cho đến hạ sĩ       người nào đó la to: Chết cha! Cột cờ đổ rồi.
quan, binh sĩ đại đội Tổng hành dinh tất cả        Tôi vùng dậy, chụp lấy cái máy ảnh, chạy ra
đều ở trong tình trạng ứng chiến thường trực.      ra sân cờ. Cái cột cờ hiên ngang với lá cờ phất
Giữa lúc trận chiến diễn ra khốc liệt thì một sự   phới theo gió như muốn thách đố với bất cứ ai
việc đã xảy ra ảnh hưởng đến tinh thần quân        và bất cứ cái gì, niềm hãnh diện của người
sĩ: Do vô ý, tài xế một quân xa Hoa Kỳ đã húc      lính Sư đoàn 3 Bộ binh, chỉ còn là một đống
xe làm sập trụ cột cờ ở trong doanh trại Đinh      sắt vụn. Mấy anh cố vấn Mỹ đứng gần một
Công Tráng (Cổ Thành). Câu chuyện này đã           chiếc căm nhông nói năng chỉ chỏ. Cái gì mà
được ghi lại trong loạt bài ký sự phổ biến vào     kỳ vậy? Chính họ đã làm ngã cột cờ. Dù vô ý
năm 1972 của trung tá Nguyễn Thượng Thọ,           chứ không phải cố ý, họ cũng đã gieo vào lòng
(bút hiệu Lê Huy Linh Vũ, tác giả truyện phim      những chiến sĩ Quảng Trị có mặt tại đó một
Nguyện Cầu, ông đã mất tại Sài Gòn sau khi ở       nỗi hoang mang vô tận. Cột cờ tượng trưng
trại tù CS về). Lúc bấy giờ trung tá Thọ là phụ    cho một cái gì thiêng liêng. Cột cờ ngã là


                                       CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                     30
điềm rất xấu. Cả bộ Tư lệnh nhốn nháo. Nhiều      sư đoàn 304, 308 và 325. Ngoài ra còn có hai
người nóng mặt muốn bước ra dần cho mấy           trung đoàn pháo và 1 trung đoàn chiến xa,
anh Mỹ một trận. Vài anh lính hung hăng           chưa kể du kích, dân công.
bước đến gây sự. Mấy anh Mỹ hình như cũng
đoán biết sự bất bình của ta nên rủ nhau rút
êm về phía hầm trú ẩn dành riêng cho họ.

    Tướng Giai đã có mặt ngay. Ông điềm
tỉnh trấn anh em: Không sao! Cột cờ này nhô
lên ngay giữa trung tâm bộ Tư lệnh là điểm
chuẩn cho địch điều chỉnh pháo kích. Ngã đi
là may, địch sẽ không còn điểm chuẩn nào              Đối diện với 4 sư đoàn địch, ta chỉ có 2 sư
khác để canh súng vào bộ Tư lệnh. Thôi tất cả     đoàn. Gọi là 2 sư đoàn nhưng thật ra chỉ có 1
giải tán và tuyệt đối không được bàn tàn gì       sư đoàn chính thức, còn lại là các binh đoàn
nữa.                                              thuộc đủ mọi binh chủng: TQLC, BĐQ, Thiết
    Dù tướng Giai tỏ ra không quan tâm đến        giáp, Pháo binh, Địa phương quân, Nghĩa
vụ cột cờ gãy và các sĩ quan cao cấp trong bộ     quân, tập đoàn quân này tuy đông nhưng rời
Tổng tham mưu trấn an binh sĩ bằng đủ mọi         rạc, không có sự thống nhất chỉ huy, khó điều
cách nhưng lòng người vẫn xao xuyến. Vì tập       động. Về sư đoàn chính thức là Sư đoàn 3 BB
quán, vì mê tín dị đoan, ai ai cũng đinh ninh     mà ông hãnh diện chỉ huy từ hơn 6 tháng qua
đó là điềm xấu.                                   (thành lập ngày 1 tháng 10/1971). Tuy quân số
                                                  và trang bị chưa đầy đủ, huấn luyện chưa
Lời tướng Giai về cuộc chiến Quảng Trị:           xong, nhưng đã một thân một mình lúc đầu
                                                  trong khi chờ đợi các đơn vị bạn đến tiếp cứu.
     Cũng trong thời gian công tác tại bộ Tư      Chận được địch tại phòng tuyến Đông Hà khi
lệnh Sư đoàn 3 BB, nhà văn Lê Huy Linh Vũ         trận chiến xảy ra đó là công của Sư đoàn 3 BB
đã có cuộc phỏng vấn tướng Vũ Văn Giai, ông       vì mãi đến 4, 5 ngày sau BĐQ và TQLC mới
được vị tư lệnh Sư đoàn 3 thố lộ một số chi       được vận chuyển đến nơi. Sau một tháng trời
tiết về tình hình trận liệt với nội dung được     chiến đấu, sư đoàn hao hụt hết 1 trung đoàn
ghi nhận như sau:                                 phải đưa về căn cứ Nancy (gần Mỹ Chánh)
     Tôi (Lê Huy Linh Vũ) nhớ đến vụ cột cờ       dưỡng quân và bổ sung quân số. Đó là trung
gãy khi chiều và mơ hồ có linh cảm những lời      đoàn 56 BB của nguyên trung tá Phạm Văn
tướng Giai sắp thố lộ với tôi có thể là lời nói   Đính đã bị địch bắt sống và hiện do trung tá
cuối cùng của một vị tướng. Tôi mở to mắt,        Vĩnh Giác xử lý thường vụ trung đoàn trưởng.
quan sát từng nét mặt của ông và chuẩn bị         Phần còn lại của trung đoàn, khoảng trên 1
nghe thật kỹ những lời ông nói, tay ghi chép      trung đoàn, được rải dọc theo bờ nam sông
thật nhanh cho kịp.                               Đông Hà, hiện giờ là tuyến đang giáp địch.
                                                      Điều động phòng thủ tuyến Đông Hà có
    Tướng Giai bắt đầu phân tích và so sánh       một bộ Tham mưu đặt tại căn cứ Ái Tử. Ông
tình hình ta với địch. Ông cho biết qua tình      chỉ giữ lại 1 tiểu đoàn để bảo vệ bộ Tư lệnh
báo và khẩu cung tù binh, CQ vừa tung thêm        Sư đoàn đóng ở Quảng Trị. Đó là tiểu đoàn 2
vào chiến trường Sư đoàn 325 từ bên kia vĩ        đang giữ cầu Quảng Trị (bắc ngang sông
tuyến 17 mới xâm nhập qua bốn năm hôm nay         Thạch Hãn) và rải theo bờ Nam sông này.
thôi. Sự có mặt của Sư đoàn 325 CSBV nâng         Lực lượng trung ương đến tăng cường thì
tổng số địch hiện diện trong vùng Quảng Trị       được phân phối: lữ đoàn TQLC phòng thủ khu
và Đông Hà lên đến 4 sư đoàn. BB thì có các       vực Tây Bắc của chiến trường từ bờ sông



                                      CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                     31
Đông Hà đến bờ Tây Bắc sông Thạch Hãn, 3          quân số hao hụt, đạn dược không được tiếp
liên đoàn Biệt động quân giữ mặt Tây với La       liệu kịp, di tản thương binh bị đình trệ, đó là
Vang là địa điểm trọng yếu, rút về cố thủ nếu     những yếu tố bất lợi cho ta. Muốn chận địch ta
                                                  nên thiết lập nhiều phòng tuyến, mỗi phòng
địch mạnh ta yếu và dùng bàn đạp dồn địch         tuyến do một đại đơn vị phụ trách. Vỡ phòng
trở lên núi ra tới biên giới Việt Lào nếu ta      tuyến thứ nhất, đại đơn vị thứ nhất rút về qua
mạnh địch yếu. Địa phương quân có Thiết           khỏi tuyến thứ hai lập tuyến thứ ba. Địch tiến
giáp tăng cường được giao phó trọng trách bảo     quân đến tuyến 2 đụng đơn vị mới của ta, sức
vệ Quốc lộ 1, con đường tiếp liệu chính nối       lực tương đồng, cuộc tiến quân của địch chậm
liền với hậu tuyến là Huế. Quyền điều động        lợi, ta có thì giờ hoàn hảo hóa công sự bố
Địa phương quân nằm trong tay đại tá Phan         phòng ở tuyến 3 để chờ địch.
Bá Hòa, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng              Sau khi hỏi tôi đã ghi chép kỹ chưa và
Quảng Trị.                                        nghe tôi đọc lại đầy đủ gần như một cái máy
                                                  ghi âm những lời ông nói, tôi chào tướng Giai
    Sau khi đề cập sự phối trí lực lượng, tướng   ra về. Trở về phòng, tôi suy nghĩ về những lời
Giai giải thích cho biết quan niệm chiến thuật    nói của tướng Giai, số phận của thành phố
mới của ông. Theo vị tư lệnh này, địch đánh       Quảng Trị đã được định đoạt, chỉ còn vấn đề
từng giai đoạn một: giai đoạn thứ nhất, sư        thời gian, tối nay, tối mai hay tối mốt. Địch sẽ
đoàn 304 và 308 vượt sông Bến Hải chiếm           vây chặt thành phố này. Tướng Giai sẽ tử thủ
đến Đông Hà thì hết nhiệm vụ, ngừng lại nghỉ      tại đây như tướng Hưng đã tử thủ tại An Lộc,
ngơi và nhường chỗ cho sư đoàn 325 thực           liệu ta có tiếp viện kịp thời không, và bao lâu
hiện giai đoạn 2 tiến chiếm Quảng Trị. Nếu        mới giải tỏa được vòng vây của địch.
chiếm được Quảng Trị, sư đoàn 325 sẽ dừng
lại nhường cho một đơn vị khác vượt lên tiến      Ngày dài nhất ở tuyến Thạch Hãn:
đánh Huế, đó là giai đoạn 3. Mỗi giai đoạn,
địch luôn luôn dùng đơn vị mới chưa xáp trận               Trước các biến động chiến sự ngày
tinh thần chưa bị lung lạc nhờ vậy tiến quân      càng nguy kịch, sáng ngày 30 tháng 4/1972,
rất nhanh và đánh rất mạnh.                       chuẩn tướng Vũ Văn Giai-tư lệnh Sư đoàn 3
                                                  BB triệu tập các sĩ quan đơn vị trưởng trực
                                                  thuộc và tăng phái về họp tại bộ Tư lệnh Hành
                                                  quân Sư đoàn 3 BB trong Cổ Thành (trại Đinh
                                                  Công Tráng). Tại buổi họp, tướng Giai trực
                                                  tiếp trình bày kế hoạch triệt thoái về phía Nam
                                                  sông Thạch Hãn. Theo sự phối trí của tướng
                                                  Giai, lữ đoàn 147 Thủy quân Lục chiến từ Ái
                                                  Tử sẽ rút về thị xã Quảng Trị để lập vòng đai
                                                  cố thủ bảo vệ tỉnh lỵ, một tuyến phòng thủ
                                                  mới sẽ thiết lập dọc theo bờ Nam sông Thạch
                                                  Hãn bởi lực lượng Bộ binh và Biệt động quân
     Để chận địch, ta lại luôn luôn dùng đơn vị   với sự yểm trợ của một nửa lực lượng chiến xa
cũ. Carroll, Gio Linh, A2, A1, C2... thì cũng     và thiết vận xa, thành phần Thiết giáp còn lại
Sư đoàn 3. Vỡ phòng tuyến thứ nhất, rút về        sẽ phối hợp với đơn vị bộ chiến nỗ lực giải tỏa
lập phòng tuyến thứ nhì dọc theo sông Đông        Quốc lộ 1 về hướng Nam. Tất cả các đơn vị sẽ
Hà thì cũng Sư đoàn 3 Bộ binh BB. Áp lực          hoàn tất kế hoạch di chuyển vào ngày hôm
địch quá mạnh, phải bỏ Đông Hà, tập trung về      sau. Riêng lữ đoàn 147 TQLC sẽ rời Ái Tử
Ái Tử lập phòng tuyến bảo vệ Quảng Trị thì        trưa ngày 30 tháng 4/1972.
lại cũng Sư đoàn 3BB nữa. Binh sĩ mệt mỏi,


                                      CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                      32
        Như đã trình bày trong bài viết về trận   Bộ binh, một trong những trung đoàn kỳ cựu
chiến của lữ đoàn 147 TQLC, khi các đơn vị        nhất của Quân lực VNCH, một trung đoàn mà
của lữ đoàn này về đến bờ Bắc sông Thạch          chính tướng Giai đã chỉ huy khi ông còn mang
Hãn trưa ngày 30/4/1972 thì cả hai cầu bắc        cấp thiếu tá, và cũng chính từ trung đoàn, ông
ngang sông Thạch Hãn đã bị giật sập. Cầu          đã có những thăng tiến trong binh nghiệp: chỉ
Ván do Cộng quân giật sập đêm 28/1972, còn        trong vòng 2 năm, với chức vụ trung đoàn
cầu Sắt thì do thiếu phối hợp, toán Công binh     trưởng trung đoàn 2 Bộ binh, ông đã hai lần
đã đặt chất nổ phá cầu trước khi đoàn quân xa     thăng cấp (trung tá vào giữa năm 1967, 18
của tiểu đoàn 2 Pháo binh TQLC và ba tiểu         tháng sau đó, vào đầu tháng 1/1969, ông được
đoàn 1, 4 và 8 TQLC đi qua. Đoàn xe và súng       thăng đại tá). Tướng Giai đã có hơn 3 năm chỉ
đại bác đã được phá hủy tại chỗ, còn các tiểu     huy trung đoàn 2 BB trước khi được bổ nhiệm
đoàn TQLC thì đã vượt sông Thạch Hãn,             làm tư lệnh phó Sư đoàn 1 vào tháng 9/1969,
chiếm giữ các vị trí trọng yếu quanh thị xã.      ông được thăng chuẩn tướng tại mặt trận trong
                                                  cuộc hành quân Hạ Lào tháng 3/1971, và trở
       Đến ngày 30/4/1972, sư đoàn 3 Bộ           thành tư lệnh đầu tiên của sư đoàn 3 Bộ binh
binh chỉ còn lại trung đoàn 2 BB và 1 tiểu        vào tháng 10/1971.
đoàn của trung đoàn 57 Bộ binh. Vị trung
đoàn trưởng trung đoàn 57 BB đã không liên              Nỗi cô đơn của Chuẩn tướng Giai
lạc được với hai tiểu đoàn trực thuộc, ông chỉ    vào những ngày cuối của trận chiến:
còn bên mình một trung đội Trinh sát để bảo
vệ bộ chỉ huy Trung đoàn. Còn trung đoàn 56               Trở lại với quyết định của tướng Giai
BB, sau khi tan rã ở căn cứ Tân Lâm, đã được      trong kế hoạch triệt thoái lực lượng từ phía
tái bổ sung quân số và tập trung ở căn cứ         Bắc sông Thạch Hãn rút về phía Nam, trước
Nancy-gần Mỹ Chánh, phía Nam Quảng Trị.           khi ban quân lệnh cho các đơn vị thực hiện, vị
Trung đoàn này đang trong giai đoạn tái chỉnh     tư lệnh Sư đoàn 3 BB đã báo cáo cho trung
trang nên chưa tham chiến được.                   tướng Hoàng Xuân Lãm-tư lệnh Quân đoàn 1.
                                                  Theo lời của cựu Trung tướng Ngô Quang
                                                  Trưởng, thì khi nhận được kế hoạch của tướng
                                                  Giai, trung tướng Lãm lặng thinh đồng ý, dẫu
                                                  cho ông ta chưa bao giờ xác nhận sự chấp
                                                  thuận trong cương vị tư lệnh Quân đoàn, cũng
                                                  như ông ta chưa đưa ra bất cứ một chỉ thị nào
                                                  cho vị tư lệnh Sư đoàn 3 BB là triệt thoái hay
                                                  cố thủ.

                                                         Tướng Giai gần như cô đơn tại mặt
                                                  trận Quảng Trị. Một số binh đoàn tăng phái
                                                  không thực hiện đúng các quân lệnh của ông
                                                  như trường hợp lữ đoàn 1 Ky binh mà theo lời
       Theo ghi nhận của một sĩ quan đơn vị       kể của cựu Trung tướng Trưởng thì vị lữ đoàn
trưởng thuộc Sư đoàn 3 BB, thì sau sự kiện        trưởng thường nhận lệnh trực tiếp từ vị trung
trung đoàn 56 BB thất thủ, tinh thần chiến đấu    tướng Lãm và cũng không báo lại cho tướng
của binh sĩ các đơn vị thuộc 2 trung đoàn 2 và    Giai. Gần cuối tháng 4/1972, vị đại tá chỉ huy
57 Bộ binh đã bị giao động mạnh. Còn với          lữ đoàn này bị thương nhẹ và đã được tản
chuẩn tướng Vũ Văn Giai-tư lệnh Sư đoàn 3         thương về quân y viện. Sự ra đi của vị đại tá
Bộ binh, ông vẫn còn tin cậy vào trung đoàn 2



                                      CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                    33
này đã kéo theo sự triệt thoái ngoài kế hoạch
của các đơn vị Thiết giáp thống thuộc.

                      VƯƠNG HỒNG ANH




       Hình WebsiteTSQ



        LIÊN TỈNH LỘ 7 VÀ THIẾU SINH QUÂN
                Hạ Sĩ Phó - viết theo lời kể của CTSQ Trung Tá Trần Lý Hưng

Chúng tôi nhận được bài này qua e-mail từ Pháp. Với mục đích nói lên gương anh dũng của
các em Thiếu sinh quân, xin phép trích đăng bài này gần như nguyên văn. Những quan điểm
khác trong bài là của riêng tác giả. CSCH
                                                 chẳng ai thèm dòm ngó tới nó nữa kìa. Nó bị
                                                 mưa gió tàn phá, cây cỏ mọc lấn cả mặt
                                                 đường, biến con đường mòn còn tồi tệ hơn
       Cuộc tháo chạy của Quân Đoàn II từ đường mòn Hồ chí Minh nữa.
Pleiku qua Phú Bổn tới Củng Sơn rồi chạy về
Tuy Hòa là một cuộc rút lui hỗn loạn. Không
thể là một cuộc hành quân lui binh. Nó cũng
chẳng phải là một cuộc di tản chiến thuật
được. Nó vô tổ chức, hỗn loạn và chẳng có ai            Sau khi Quận Cheo Reo của Tỉnh
chỉ huy cả. Nó là một cuộc tháo chạy.            Pleiku được TT Ngô Đình Diệm cho trở thành
                                                 tỉnh Phú Bổn, đoạn đường từ Pleiku tới Phú
       Con đường Liên Tỉnh số 7 là một con       Bổn được sửa chữa, tu bổ, mở rộng tráng nhựa
đường bỏ hoang lâu ngày, từ sau chiến dịch thì nó là trục giao thông chính và duy nhất để
Atlante (1954) hay trước nữa không chừng.        nhân dân Tỉnh Phú Bổn liên lạc với bên ngoài.
Không những không ai dùng tới nó, mà cũng        Hằng ngày xe cộ đủ loại lưu thông tấp nập.
                                                 Còn khúc đường từ Tuy Hòa lên Củng Sơn thì


                                     CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                   34
mãi tới năm 1963, Sư Đoàn 9 Bộ Binh, căn cứ     những con vật trong lò sát sinh vậy. Chắc lúc
đóng ở mãi tận chân đèo Cù Mông, dưới           lấy cái quyết định chọn Liên Tỉnh lộ số 7 để
quyền Tư Lệnh Đại Tá Bùi Dzinh, có một lần      cho QĐ II rút chạy thì ông T… đã cho rằng
mở cuộc hành quân từ Tuy Hòa lên Củng Sơn,      ông sẽ có được yếu tố bất ngờ, VC sẽ không
khúc đường này nhờ thế mà đã được Tiểu          thể ước tính rằng QĐ II sẽ rút lui một cách vô
Đoàn 9 Công Binh Chiến Đấu tu sửa và bắc        tổ chức theo con đường tồi tệ này !. Quả vậy,
một cây cầu qua sông Ba để dân chúng có qua     lúc đầu VC đã không có kế hoạch để chặn
lại thong thả. Xe lam ba bánh theo con đường    đánh QĐ II trên con đường này.
này chở gạo, muối, nước mắm, đồ dùng bằng       Nhưng nếu yếu tố bất ngờ mà có được thì nó
nhựa lên bán tại Củng Sơn cho dân chúng tại     chỉ tồn tại được trong vài ngày đầu thôi, sau
đây. Còn lại đoạn đường từ Củng Sơn tới Phú     đó thi VC đã có đủ thì giờ để điều động nhiều
Bổn thì đã từ lâu bị gián đơạn bỏ hoang hoàn    đơn vị từ xa tới, xúm vào mà làm thịt quân
toàn, chẳng ai thèm dòm ngó tới chứ đừng nói    dân ta đang kẹt cứng trên khúc đường từ Phú
gì đến chuyện tu bổ. Nó gần như bị xoá tên      Bổn tới Củng Sơn vì vô tổ chức, vì không có
trên bản đồ rồi.                                kế hoạch lui binh; người và xe cộ quá đông,
                                                con đường lại quá xấu cho nên bị tắc nghẽn, di
                                                chuyển quá chậm chạp.
                                                         Vào lúc đầu, từ Pleiku tới Phú Bổn thì
                                                đoàn người và xe cộ đã tới Phú Bổn rất là yên
                                                ổn dù trong sự hỗn loạn. VC bất ngờ thật !
                                                Đường xá của khúc đường này cũng là một
                                                đoạn đường tráng nhựa rộng rãi. Nhưng khi
                                                đoàn di tản tới Phú Bổn, thì Tỉnh Phú Bổn trở
                                                nên động loạn. Quân và dân ở đây vội vã chạy
                                                theo. Đoàn người và xe cộ di tản, vốn đã đông
       Từ Pleiku, nơi có Bộ Tư Lệnh QĐ II       quá mức, chen lấn nhau rất là vô trật tự, bây
và các Đơn Vị cơ hữu trú đóng, chỉ có hai con   giờ cộng thêm một đám người và xe cộ của
đường đi xuống Vùng Duyên Hải Trung Phần.       Tỉnh Phú Bổn vào nữa, cái khối người và xe
Con đường chạy qua An Khê về Qui Nhơn và        cộ lúc nhúc đó đã trở nên đông đảo hơn, hỗn
con đường Liên Tỉnh Lộ số 7 khốn khỏ chạy       loạn hơn. Tất cả đều cố sức chen lấn nhau để
qua Phú Bổn, Củng Sơn về Tuy Hòa. Chẳng         tìm đường về Tuy Hòa. Con đường từ đây trở
hiểu vì sao mà một ông Trung Tướng thuộc        đi lại là khúc đường gần như mất dấu tích thật
loại giỏi của QLVNCH là ông Tổng Tư             là khó đi…
Lệnh… lại chọn con đường Liên Tỉnh số 7                  Chỉ một ngày sau đó thì VC đã kịp tới
này để QĐ II rút lui về Nha Trang. Cũng         đón đường để cho cuộc chạy loạn đã khốn khổ
chẳng hiểu ma đưa lối, quỷ dẫn đường thế nào    rối, bây giờ “ơn bác và đảng” các đồng chí VC
mà ông lại chỉ định ông Đại Tá T… chỉ huy       đã biến đoàn người di tản trên khúc đường này
cuộc rút quân khó khăn như thế !.Thế mới biết   của Liên Tỉnh lộ số 7 thành một lò sát sinh vĩ
rằng, khi chính trị nắm quyền quyết định quân   đại nhất thế kỷ. Hàng vạn trái đạn trọng pháo
sự cho một trận chiến, thí mạng người, quân     tầm xa 130 ly của VC, do Liên Sô và Trung
cũng như dân, chỉ là những con số vô hồn trên   Cộng viện trợ, bắt đầu tưới dài dài vào đoàn
những bảng tổng kết hàng ngày ở các Trung       người di tản, một số đông là đàn bà và con nít.
Tâm Hành Quân mà thôi. Cuối cùng thì chỉ vì     Có những đứa nhỏ còn bế ngửa trên tay của
cái quyết định đơn giản của ông T… mà biết      các bà mẹ, nhiều đứa khác chỉ mới ba, bốn
bao sinh mạng đã được lùa vào cái con đường     tuổi. Chỉ trong phút chốc pháo binh của VC đã
định mệnh để cho Việt Cộng làm thịt, y như      “giải phóng” đồng bào vô tội trên con đường



                                     CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                    35
di tản về “nước Chúa hay Phật” . Các “chiến
sĩ VC anh dũng” đã hoàn thành một chiến
công lớn nhất thế kỷ, vì đã gây ra một lò sát
sinh thật vĩ đại cho đồng bào ruột thịt cùng
chung máu mủ với họ. Còn về phần tác giả
của kế hoạch lùa quân và dân của ông vào con
đường số 7 này để cho VC làm thịt , thì ngồi ở
Dinh Độc Lập tuyên bố “Một cuộc bỏ phiếu                  Chuyện này mãi sau này, lúc đi tù cải
bằng chân”. Bây giờ nên thêm vào đó hai chữ       tạo về gặp họ hàng ngoài Bắc có tham dự vào
“và XƯƠNG MÁU” nữa cho đủ nghĩa.                  vụ giết chóc dân lành ở Liên Tỉnh lộ số 7 kể
                                                  lại cho chúng tôi biết .
           Để tránh sự chết chóc do VC khát
máu gây ra. Quân và dân Vùng II Chiến Thuật               Em YK’ DOU, 15 tuổi, người sắc tộc
chẳng còn con đường nào khác là chạy tản vào      JARAI. Ba của em là Thượng Sĩ của một đon
rừng tìm đường sống để lần mò may ra cũng         vị thuộc QĐ II đóng ở gần Thị Trấn Pleiku.
về được đến Tuy Hòa chăng !! Dù rằng tất cả       Ngày xưa ông là một Trung Sĩ rất trẻ và khá
đều biết chắc rằng “biết bao hiểm nguy đang       đẹp trai. Ông nhập ngũ tại một Tiểu Đoàn
chờ đội họ...”                                    Ngự Lâm Quân bảo vệ Biệt Điện của Quốc
        Trong đám người chạy tản vào rừng có      Trưởng Bảo Đại tại Ban Me Thuộc. Trong Thị
cả nhóm Thiếu Sinh Quân Cao Nguyên của            Trấn “Buồn Muôn Thuở” này ông đã gặp và
Trung Tá Trần Lý Hưng từ Pleiku theo đoàn         yêu một nữ sinh Trung Học, Trường Trung
người tháo chạy về Tuy Hòa. Các em TSQ            Học dành cho riêng các sắc tộc Vùng Cao
đều là người thuộc sắc tộc, các em vốn có bản     Nguyên Trung Phần, lúc đó được gọi là
năng sinh tồn giữa rừng núi hoang dã, các em      Hoàng Triều Cương Thổ. Cô nữ sinh lớp đệ
đã giúp ích cho đồng bào di tản không ít. Từ      ngũ ấy sau này là mẹ của YA K’DOU.
cách nhìn mặt trời để định hướng đi, cách tìm     YA K’DOU được 11 tuổi thì Trường TSQ
những lạch nước uống được, không bị độc.          Cao Nguyên được tái thành lập ở Pleiku, do
                                                  đề nghị của Trung Tướng Vĩnh Lộc, lúc đó
        Thậm chí đến việc băng bó những vết       đang làm Tư Lệnh QĐ II Chiến Thuật. Ông
thương cho đồng bào do đạn pháo kích của          vốn giòng dõi Hoàng Tộc nhà Nguyễn, nên rất
VC hay bị vấp ngã gây ra. Mỗi khi có máy          quí mến thật tình đồng bào thiểu số Cao
bay trực thăng bay trên vòm trời thì các em lại   Nguyên Trung Phần, ông luôn săn sóc tới họ,
nhớ lời dặn của ông Thày trước khi ra đi, các     và đã làm được nhiều việc để giúp đỡ một
em lại lấy nón bêrê đỏ ra đội lên đầu làm hiệu    cách cụ thể đồng bào sắc tộc vốn xưa kia nằm
cho các anh/chú Không Quân của Sư Đoàn 6          trong phạm vi “Hoàng Triều Cương Thổ” của
KQ hạ xuống bốc các em. Các anh/chú Phi           nhà Nguyễn, có lẽ vì thế mà ông có cái tên
Công trực thăng của SĐ 6 KQ cũng đã bốc           Anh Cả Trường Sơn, do Bộ sắc tộc vinh danh
được vài chuyến, sau thì đồng bào cũng biết,      cho ông.
cho nên mỗi khi thấy các em đội nón đỏ lên                Một trong những việc ông đã làm cho
thì lại bám theo đông quá, trực thăng không       con em đồng bào sắc tộc của chúng ta là giúp
thể đáp xuống được nữa. Tuy nhiên, việc các       đỡ cho Trường Thiếu Sinh Quân phát triển
em đội mũ đỏ lên cũng làm cho bọn VC khát         mạnh hơn, vị Chỉ Huy Trưởng lúc đó la`
máu không dám tiến sát đoàn người di tản giết     Trung Tá Phan Như Hiên, một sĩ quan rất yêu
người cướp của, bọn VC bảo nhau rằng “ Có         trẻ và rất giỏi khoa Sư Phạm cũng như huấn
bọn nhảy dù trong đám di tản ! Chớ có tới gần     luyện quân sự. Ông đã tốt nghiệp khóa chỉ huy
mà tan mạng !!!”.                                 và tham mưu cao cấp tại Đại Học Quân Sự Sài



                                      CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                   36
Gòn. Trong công tác tu bổ và xây dựng thêm         chết đang lởn vởn quanh họ. Điều chắc chắn
phòng ốc cho Trường Thiếu Sinh Quân Cao            là không bao lâu nữa thì một mạng hai người
Nguyên. Thượng Sĩ cha của YA K”DOU đã              sẽ được thần chết đưa đi trong sự đau đón của
tích cực tham dự cùng với Trung Đội của ông        bà mẹ trẻ và sự thống khổ của bà mẹ già.
từ những ngày đầu.                                 Đúng lúc đang tuyệt vọng như thế thì YA
                                                   K’DOU đi tới. Mọi người thấy một em bé 15
        Khi ông biết được rằng đây là một          tuổi chạy tới thì chẳng ai tin rằng Ya K’DOU
Trường dành riêng để dạy giỗ huấn luyện các        có thể giúp được điều gì cụ thể cả !.
Thiếu Niên người sắc tộc, thì ông quyết định       Nhưng không! Ya K’DOU đã vội vã đốt một
gửi con trai ông la YA K’DOU vào học               đống lửa, lấy nước và đun trong một cái lon
Trường này. Thế mà cũng phải hơn một năm           “guigoz” của em, rồi em cởi áo ra, đỡ đẻ cho
sau YA K”DOU mới đủ tuổi để nhập học               bà mẹ trẻ…
TRƯỜNG TSQ Cao Nguyên. Ya K’DOU là                 YA K’DOU đỡ đứa bé ra khỏi lòng mẹ, lấy
một cậu trai tuy là sắc tộc Jarai, nhưng rất       tóc của bà mẹ buộc rốn rồi ghé răng cắt rốn
bảnh trai, thông minh và hay giúp đỡ bạn bè        cho em bé thật là gọn ghẽ.
trong Trường. Vì hay giúp đỡ bạn bè, nhường        Khi sản phụ sanh xong em bé sơ sanh, được
nhịn nên em được các bạn bè và Thày thương         YA K’DOU tắm rửa rồi bọc em bé trong cái
mến. Trong cuộc di tản từ Pleiku về Tuy Hòa        áo lính của chú YA K’DOU mới cởi ra, em
để tìm đường về Trường TSQ Vũng Tàu, em            giao đứa bé cho bà nội của nó, em chạy đi mót
cùng tản lạc vào với đoàn người tháo chạy hỗn      được một ít củ khoai lang để lại cho ba bà
loạn, tản mác vào rừng để tránh đạn pháo kích      cháu rồi em lại tiếp tục đi về Tuy Hòa.
của VC.                                            Ba bà cháu này cũng về tới Tuy Hòa nhưng
        Bản tính hay giúp tha nhân nên đã          khi đó thi VC đã chiếm xong Tuy Hòa và đã
hướng dẫn một đám đông lần mò trong rừng           tràn về tới Nha Trang rồi, nghĩa là cả tháng
một cách khá an toàn, không đến đỗi quá đói        sau khi sanh em bé...
khát vì nhờ em tìm ra được những củ ăn trong
rừng có thể ăn được cho đỡ dạ. Đôi khi họ
cũng gặp những mảnh vườn bỏ hoang của
người Thượng và tìm thấy vài trái bí đỏ hoặc
đào được ít củ khoai lang. Những dịp như thế
cũng hiếm nhưng cũng làm cho đám người
chạy cùng phấn khởi và tin tưởng em YA
K’DOU hơn.

         Lúc đoàn người của YA K’DOU đi
gần tới Củng Sơn thì gặp một bà cụ khoảng
gần 70 tuổi dẫn theo cô con gái đang có mang.
Cô con gái này là vợ một quân nhân QĐ II
đang cùng đơn vị rút chạy đâu đó, nhưng anh
ta không thể nào đưa vọ và mẹ di tản được..               Trung Tá Hưng trên đường di tản đã
Bà mẹ trẻ mang bầu, chưa thoát được ra khỏi        lạc mất gần 300 học trò của ông. Ông chỉ còn
vòng nguy hiểm của cuộc di tản đầy chết chóc       có gần chục em còn bám sát quanh ông thôi.
thì lại trở dạ muốn sanh con. Bà mẹ già nhìn       Tuy vậy, mấy thày trò cũng về tới Thị Trấn
con quằn quại dưới đất rên la vì đau đẻ mà         Nha Trang. Đến đây Trung tá Hưng cố đi tìm
không biết làm sao cả. Bà ngồi khóc, cảnh          lũ học trò lạc để tập họp lại rồi thày trò tìm
tượng thật là não nùng, bi đát, tuyệt vọng, thần



                                       CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                    37
phương tiện về Vũng Tàu.. Ông may mắn gặp         Đó là hành động biểu hiệu đức tính từ bi nhà
lại YA K’DOU tại đây. Thày trò gặp lại nhau       Phật. Em Ya K’DOU làm được như vậy là vì
mừng rỡ, YU K’DOU mới kể lại chuyện em            trong em vốn sẵn có Phật tính từ lúc bẩm sinh.
đỡ đẻ trên bước đường chạy loạn. Trung Tá         Riêng phần tôi thì thấy rất hãnh diện cho Tập
Hưng ngạc nhiên lắm, ông hỏi “Làm sao con         Đoàn lính tráng chúng tôi vì đã có đứa con
biết đỡ đẻ? Làm sao con biết cắt rốn cho em       như YA K’DOU. Đâu cần phải cầm quân
bé? Dao đâu con làm việc đó?” Em YU               thắng trận mới là chiến công! Chỉ một việc
K’DOU trả lời rằng “Vì em đã thấy mẹ em lúc       làm đầy lòng từ bi, bác ái, vị tha của YA
đẻ thằng em út của em ở bụi tre bên bờ suối       K’DOU đã thể hiện trong tình huống như thế
trong Buôn làng em, cho nên em cũng bắt           cũng đủ nói lên cái truyền thống vì dân vì
chước làm theo như vậy.”                          nước của QLVNCH dù rằng trong lúc tháo
    Cùng nghe câu chuyện Ya K’DOU kể lại          chạy, mạng ai nấy lo !...
với Trung Ta Hưng, có Đại Úy Bác Sĩ Bùi           Ô! YA K’DOU! Giờ này em ở đâu? Nào ai
Trọng Căn, Trưởng Ty Y tế Pleiku. Bác Sĩ          biết! Cho đến hôm nay, chúng tôi, những
Căn cũng phải gật đầu công nhận là YA             thằng lính bại trận, lưu vong nơi hải ngoại,
K’DOU đã làm đúng những gì cần phải làm           vẫn ghi nhận hành động của em như một bông
để đỡ đẻ trong hoàn cảnh ngặt nghèo như thế.      hồng rực rỡ trong bó hoa mà các anh các chú
                                                  của em đã dâng lên cho Tổ Quốc Việt Nam
    Câu chuyện này, Trung Tá Trần Lý Hưng,        thân yêu, của chúng ta trước khi nó bị chìm
Chỉ Huy Trưởng Trường Thiếu Sinh Quân             đắm trong máu và nước mắt sau ngày 30
Cao Nguyên vào những ngày cuối của nền Đệ         tháng 4 năm1975.
Nhị Cộng Hòa đã kể lại cho chúng tôi nghe         Xin Đức Phật và Đức Chúa hãy mở rộng vòng
thật là đơn giản trong lúc ngồi uống nước trà ở   tay nhân ái phù hộ cho em YA K’DOU và Gia
cái Hội Gìa tý hon mà ông là Hội Trưởng.          Đình em, một Thiếu Sinh Quân Cao Nguyên
Ông không có ý khoe khoang thành tích của         đáng yêu của Tập Thể CTSQVN.
học trò ông. Tuy thế câu chuyện của Trung Tá
Hưng đã làm cho các bà trong Hội khá xúc          Houston một ngày 30 tháng 4
động. Họ nói rằng “Đó là một hành động cứu        Hạ Sĩ Phó
được một người bằng xây bảy bức phù đồ”.




                                      CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                    38
              VINH DANH 60 NĂM LÁ CỜ VÀNG
                                    Phạm Văn Thanh




                              Vua Bảo Đại và Quốc Kỳ VNCH

I. Ý NIỆM VỀ QUỐC KỲ

        Trước cuộc Cách Mạng Pháp năm         quốc gia theo thể chế tự do, dân chủ trọng
1789, đa số các quốc gia trên thế giới đều    nhân quyền khác đã chấp nhận các màu sắc
theo chế độ quân chủ hoặc là quân chủ         xanh, đỏ, trắng làm màu sắc căn bản cho
chuyên chế do một nhà Vua nắm quyền hay       quốc kỳ của mình trong đó có nước Anh, Hoa
quân chủ phong kiến do nhà Vua cùng nhóm      Kỳ, v.v.
quý tộc nắm quyền cai quản quốc gia và sở      II. LỊCH SỬ CÁC LÁ QUỐC KỲ TỰ DO
hữu chủ lãnh địa. Năm 1793 sau cuộc cách      TẠI VIỆT NAM
mạng, Quốc Ước Hội Nghị Pháp đã chọn cờ
tam tài làm quốc kỳ của nước Pháp. Quốc kỳ
Pháp có 3 màu: xanh tiêu biểu cho Tự Do
(Liberté), trắng tiêu biểu cho Bình Đẳng
(Egalité) và màu đỏ tiêu biểu cho Bác Ái
(Fraternité).

       Quốc kỳ tam tài của Pháp mang đầy
đủ ý nghĩa tượng trưng cho những giá trị Tự
Do, Bình Đẳng và Bác Ái rất phù hợp với lý
tưởng chung của nhân loại nên về sau, nhiều         Từ thời quân chủ xa xưa, người Việt



                                      CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                               39
đã dùng cờ làm biểu tượng cho những nhân        2. Cờ Quẻ Ly
vật quan trọng như viên đại tướng, nhà Vua              Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo
hoặc tiêu biểu cho một triều đại. Ví dụ, hiệu   chánh Pháp tại Đông Dương và lên tiếng trao
kỳ của một viên đại tướng thường dùng cờ        trả độc lập lại cho Việt Nam. Hai ngày sau,
theo màu Ngũ Hành hợp với mạng của vị           Hoàng Đế Bảo Đại tuyên bố Việt Nam đôc
tướng đó: vị tướng thuộc mạng Kim dùng cờ       lập và giao cho học giả Trần Trọng Kim lập
màu trắng, Mộc dùng màu xanh, Thủy dùng         nội các ngày 17 tháng 4. Ngày 2 tháng 6,
màu đen, Hỏa dùng màu đỏ và mạng Thổ            Chính Phủ Trần Trọng Kim chọn cờ vàng
dùng cờ màu vàng. Mỗi triều đại cũng tự         chính giữa có một quẻ Ly của Bát Quái Đồ
chọn lá cờ có hình thức và màu sắc kết hợp      gồm 2 vạch liền hai bên và một vạch đứt
cách riêng theo thuyết vận hành Âm Dương        khúc ở giữa làm quốc kỳ cho toàn nước Việt
thế nào để tượng trưng cho sự hưng thịnh        Nam gọi là cờ Quẻ Ly. Tuy nhiên, Nhật hoãn
nhất của triều đại đó như triều Lý chọn cờ      trả Nam Kỳ lại cho Triều Đình Huế mãi đến
viền màu ngũ hành có chữ Lý ở giữa, triều       ngày 14 tháng 8, năm 1945 chỉ 4 ngày trước
Nguyễn chọn màu vàng của hoàng tộc. Cũng        khi Nhật đầu hàng Đồng Minh và 10 ngày
vậy, lá cờ biểu tượng cho vị quân vương         trước khi Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị nên trên
thường có thêu hình rồng ở chính giữa, tụy      thực tế, Nam Kỳ chưa từng treo quốc kỳ Quẻ
nhiên dù lá cờ biểu tượng cho nhà Vua, hoặc     Ly.
cho một triều đại cũng chỉ tượng trưng cho
hoàng gia mà thôi và thường treo tại hoàng
thành hoặc chỗ nào có nhà Vua ngự đến mà
không phải là lá quốc kỳ tiêu biểu tổng quát
cho một quốc gia gồm cả chính quyền, lãnh
thổ và nhân dân trong đó như quốc kỳ Pháp.

1. Cờ Long Tinh
       Sau Thế Chiến Thứ II, Hoàng Đế Bảo                        Cờ Quẻ Ly
Đại ấn định quốc kỳ đầu tiên của nước Việt
Nam gọi là cờ Long Tinh gồm nền vàng với        3 Cờ. Quẻ Càn:
một sọc đỏ nằm ngang bằng 1/3 chiều rộng lá
cờ. Cờ Long Tinh được dùng trên toàn cõi
Bắc Kỳ và Trung Kỳ do Triều Đình Huế cai
quản. Trong khi đó, Nam Kỳ đã bị Pháp
chiếm làm nước thuộc địa nên treo cờ tam tài
của mẫu quốc Pháp.


                                                                 Cờ Quẻ Càn

                                                       Sau Thế Chiến Thứ II, quân Trung
                                                Hoa sang giải giáp quân Nhật tại miền Bắc,
                                                ủng hộ các đảng phái quốc gia hòa giải với
                                                Việt Minh để lập nên Chính Phủ Liên Hiệp
                                                qua Hiệp Định Sơ Bộ ký ngày 6 tháng 3 năm
Cờ Long Tinh có từ ngày 11 tháng 3 năm          1946. Phần vì không đồng ý với tinh thần bản
1945 (1)



                                     CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                 40
Hiệp Định Sơ Bộ và phần khác vì Việt Minh      Việt yêu tự do này vẫn nhất quyết dùng lá cờ
ra tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia, cụ    vàng ba sọc đỏ làm biểu tượng của họ.
Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam
phải rút sang Tàu. Ngày 17 tháng 2 năm                Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là cờ của quốc
1947, các đảng phái quốc gia họp tại Hồng      gia Việt Nam tự do từ Nam ra Bắc có từ ngày
Kông lập nên Mặt Trận Quốc Gia, mời            5 tháng 6 năm 1948, sau khi Hoàng Đế Bảo
Hoàng Đế Bảo Đại chấp chính trở lại. Hoàng     Đại ký Hiệp Ước Vịnh Hạ Long với Pháp.
Đế Bảo Đại sai nối vạch đứt khúc ở giữa cờ     (3)
Quẻ Ly làm thành cờ Quẻ Càn, quẻ thứ nhất
trong Bát Quái Đồ. Quẻ Càn tượng trưng cho     III. Ý NGHĨA LÁ QUỐC KỲ VÀNG BA
Trời, nhà Vua và quyền lực, ứng với quốc       SỌC ĐỎ
gia, dân tộc và sức mạnh của dân Việt. Kể từ          1. Về Phương Diện Màu Sắc
lúc này, trên nguyên tắc, cờ Quẻ Càn là quốc   Không những màu vàng và đỏ tượng trưng
kỳ của nước Việt Nam độc lập tự do             cho dân Việt da vàng máu đỏ mà màu quốc
.                                              kỳ Việt Nam còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn
(Phần II: Sơ Lược Về Lịch Sử Quốc Kỳ Việt      nhiều, liên hệ đến nhân-sinh-quan cùng vũ-
Nam Tự Do)                                     trụ-quan của dân Việt. Nói chung, màu vàng
                                               thuộc hành Thổ (trong ngũ hành) nằm tại
4. Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ                           trung ương, vì thế màu vàng tượng trưng cho
                                               lãnh thổ và cho uy quyền sở-hữu-chủ của
        Không thể thỏa hiệp được với Việt      lãnh thổ này. Màu đỏ thuộc hành Hỏa và nằm
Minh, vào tháng 9 năm 1947, Pháp quay sang     ở hướng Nam; do đó, màu đỏ chỉ dân tộc
thương nghị chính thức trao trả độc lập cho    Việt ở phương Nam so với Trung Hoa.
Việt Nam với Hoàng Đế Bảo Đại qua Hiệp
Ước Vịnh Hạ Long ký kết ngày 5 tháng 6
năm 1948. Hoàng Đế Bảo Đại chọn mẫu cờ
vàng ba sọc đỏ của Họa Sĩ Lê Văn Đệ vẽ (nối
dài 3 vạch đỏ của cờ Quẻ Càn) làm quốc kỳ
cho quốc gia Việt Nam độc lập và giao cho
Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân lập chính
phủ lâm thời ngày 1 tháng 6 năm 1948 tại Sài
Gòn. Hôm sau, Thủ Tướng Nguyễn Văn
Xuân ký pháp lệnh ban hành quốc kỳ và quốc
ca. Quốc Kỳ của nước Việt Nam nền vàng,                2. Về Phương Diện Chính Trị
ba sọc đỏ ở giữa. Quốc Ca là bài “Tiếng Gọi    Nền vàng của lá quốc kỳ chỉ quốc gia và dân
Sinh Viên” sau đổi thành “Tiếng Gọi Thanh      tộc Việt Nam và ba sọc đỏ tượng trưng cho
Niên”của Lưu Hữu Phước. Lá quốc kỳ nền         ba kỳ. Quốc kỳ vàng mang hai ý nghĩa quan
vàng ba sọc đỏ đã chính thức là quốc kỳ của    trọng: thứ nhất, tiêu biểu cho chế độ tự do,
nước Việt Nam độc lập, tự do kể từ thời đó     dân chủ tại Việt Nam; thứ hai, tiêu biểu cho
đến khi đất nước chia đôi năm 1954, nối tiếp   một quốc gia thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ,
qua các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa miền       có chính quyền lãnh đạo nhân dân trong lãnh
Nam cho đến cuối tháng 4 năm 1975. Sau         thổ đó và nhân dân gồm tất cả 3 kỳ: Bắc Kỳ,
năm 1975, gần 3 triệu người Việt chối bỏ chế   Trung Kỳ và Nam Kỳ. Do đó, nước Việt
độ CS đã di tản ra hải ngoại và định cư khắp   không thể bị phân chia như thời Trịnh
nơi trên thế giới và những cộng đồng người     Nguyễn phân tranh, cắt nhượng cho bất cứ



                                     CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                 41
ngoại bang nào như Pháp đã chia Nam Kỳ         của dân tộc Việt cùng tiêu biểu cho tinh thần
thành một nước khác biệt với Bắc và Trung      bất khuất của dân Việt trong suốt chiều dài
Kỳ.                                            lịch sử thăng trầm từ thuở khai quốc đến nay.
        3. Về Phương Diện Triết Lý             Quốc kỳ vàng đượm thắm máu đào của bao
Tương tự như quan niệm về vũ trụ gồm Trời      tiền nhân và anh hùng liệt sĩ đã hi sinh xây
ở trên, Đất ở dưới và Người ở giữa mà tất cả   dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam, không
hợp với nhau biến thái, chuyển dịch thành lẽ   phân biệt người dân sống dưới thể chế chính
biến dịch của vạn vật trong vũ trụ, lá Quốc    trị Quốc Gia hay Cộng Sản, sắc tộc Kinh hay
Kỳ Việt Nam chính thống cũng được chọn         Thượng, hoặc tôn giáo, phái tính, tuổi tác
thế nào để phù hợp hài hòa với lẽ biến dịch    nào. Vì thế, người Việt quốc gia có bổn phận
này. Màu vàng thuộc hành Thổ, màu đỏ           phải bảo vệ và phát huy chính nghĩa quốc gia
thuộc hành Hỏa và vận chuyển theo Ngũ          tượng trưng bởi lá quốc kỳ chính thống nền
Hành Tương Sinh thì Hỏa sinh Thổ nên thuận     vàng ba sọc đỏ, lá cờ tiêu biểu cho tự do,
hợp với nhau. Như vậy, kết hợp hai màu vàng    công bằng và bác ái của truyền thống dân
và đỏ làm thành quốc kỳ, chúng ta nhấn         Việt. (trích Hồn Việt Online)
mạnh cho Trung Quốc biết rằng dân Việt ở
phương Nam là một dân tộc có lãnh thổ riêng    Phạm Văn Thanh
và chủ quyền hoàn toàn trên đất nước ta như
ý nghĩa bài thơ Phạt Tống Lộ Bố Văn của Lý
Thường Kiệt (4) và bản Bình Ngô Đại Cáo        (1), (2) và (3) Éric Deroo & Pierre Vallaud,
(5) mà Nguyễn Trãi đã khẳng định.              “Indochine Francaise 1856- 1956 Guerres,
                                               Mythes et Passions” Perrin, Paris, France, 2003.

                                               (4) Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
                                               Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
                                               Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
                                               Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
                                               (Lý Thường Kiệt)

                                               Nước Nam là của dân Nam
                                               Thiên thư phân định giang san rõ ràng
                                               Nghịch quân xâm lấn tham tàn
                                               Tất là nuốt nhục chuốc vàn bại vong
                                               (Phạm Văn Thanh dịch)

                                               (5) “...Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng nền
                                               văn hiến đã lâu;
           Tóan Quốc Kỳ VNCH                   Sơn hà cương vực đã chia, phong tục Bắc Nam
                                               cũng khác.
IV. KẾT LUẬN                                   Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập;
       Quốc kỳ vàng ba sọc đỏ đã từng được     Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một
dùng làm biểu tượng chính thức cho một         phương.
Quốc Gia Việt Nam chưa bị phân chia trước      Dẫu cường nhược có lúc khác nhau,
năm 1954; nên chi, quốc kỳ vàng sẽ vẫn là      Song hào kiệt đời nào cũng có...”
biểu tượng chung của những người Việt quốc     (Bình Ngô Đại Cáo, Bùi Kỷ dịch)
gia chân chính. Quốc kỳ vàng mang linh hồn




                                     CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ                                     42
             Nhận Định về Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa
                                  của Đại-tướng Louis C. Wagner Jr.

Lời giới-thiệu
        Đại tướng Louis C. Wagner Jr., khi còn là sĩ-quan cấp tá, giữ chức-vụ cố-vấn-trưởng các đơn-vị Bộ-
Binh và Thiết-Giáp Việt-Nam Cộng-Hòa tại Vùng 1 Chiến-Thuật trong hai nhiệm-kỳ, ông có cái nhìn về
Quân-lực Việt-Nam Cộng-Hòa rất rõ-ràng. Trong Lời Nói Đầu của cuốn STEEL and BLOOD - South
Vietnamese Armor and the War for Southeast Asia do Naval Institute Press xuất bản, Tướng Wagner đã hết
lời ca-ngợi các chiến-sĩ Việt-Nam Cộng-Hòa và thẳng-thắn nhận-định về khả-năng tác-chiến của quân-đội
Nam và Bắc Việt-Nam, đồng thời ông cũng khách-quan kể lại những gì ông đã ghi nhận được trong thời-
gian phục-vụ tại Nam Việt-Nam.
        Nhân ngày Quân-Lực 19-6-2008, chúng tôi trân-trọng phổ-biến tài-liệu này đến quý chiến-hữu.

                                                                      Hầu hết các cuộc chiến-tranh đều
                                                              được một số sách – nhiều bất-tận – theo sau,
                                                              bàn về những kỳ-công và hùng-khí của
                                                              những người đã từng vào sinh ra tử. Chỉ cần
                                                              nhắc đến trường-hơp Thế-Chiến II: Số sách
                                                              liên-quan đến cuộc chiến-tranh này hiện vẫn
                                                              được tiếp-tục viết ra theo một tốc-độ kinh-
                                                              ngạc. Nhưng trường hợp cuộc chiến của
                                                              chúng ta, lâu dài nhất tính đến nay, là chiến-
                                                              tranh Việt-Nam, thì lại không như vậy. Tuy
                                                              đã có một số sách viết về vai-trò của Quân-
                                                              Lực Hoa-Kỳ trong cuộc chiến-tranh ấy,
                                                              nhưng chính vì cái bản-chất thất nhân-tâm
                                                              của cuộc chiến mà phần lớn các sách này đã
                                                              không thể-hiện chính xác được cái thực-tại
                                                              chiến-tranh như hàng triệu Nam Nữ quân-
                                                              nhân Hoa-Kỳ đã cảm-nhiệm rõ vì họ đã
                                                              phục-vụ tại đó.

                                                                     Kể ra đã có hàng triệu người Việt-
                                                              Nam luôn nêu cao danh-dự, phục-vụ trong
                                                              Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa suốt cả thời
                                                              chinh-chiến, nhưng số người viết thì không
             Hà-Mai-Việt, sọan-giả Steel and Blood            nhiều, mà lại viết quá ít về quân-vụ của
                                                              chính họ. Hậu-quả là hiện có nhiều kẻ vẫn
                                                              đinh-ninh tin rằng quân-sĩ Việt-Nam đã
            Đại-tướng Wagner nói:                             không quyết-tâm chiến-đấu để bảo-vệ tư-do
                                                              cho quê-hương. Nhận-thức tai-hại này hiện
                                                              vẫn tồn-tại ngay cả trong số đông các cưu

                                         CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ
                                                                                                         43
chiến-binh Hoa-Kỳ có mặt trong chiến-tranh        tốt và trang-bị tốt của Việt-Cộng tại mấy
Việt-Nam, nhưng đã không cùng phục-vụ             tỉnh ở phía Bắc, khu-vực này kể từ năm
với, hoặc phục-vụ bên cạnh các đơn-vị của         1965 về sau, là khu-vực hành-quân của
Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.                       Thủy-Quân Lục-Chiến Hoa-Kỳ. Trung-đoàn
        Đại-tá Hà-Mai-Việt đã viết xong một       5 lúc ấy được chỉ-huy tốt, nhưng trang-bị
cuốn lịch-sử tuyệt-vời, đề-cập đến một            kém vì phải xử-dụng các loại vũ-khí cũ-rích,
thành-phần quan-trọng của Quân-Lực Việt-          và gần như không có hỏa-lực Pháo-binh
Nam Cộng-Hòa, đó là lực-lượng Thiết-Giáp.         yểm-trợ. Nhưng bất kể tình-huống đó, quân-
Việc sưu-tập được tài-liệu và viết ra một         sĩ của Trung-đoàn này đều chiến-đấu giỏi
cuốn sách không dễ-dàng đâu, bởi lẽ chỉ có        mặc dù phải chịu đựng nhiều thương-vong.
một số ít sử-liệu của Quân-Lực Việt-Nam
Cộng-Hòa liên-quan tới cuộc chiến-tranh                   Trong những năm 1971-72, Tôi đã
lâu-dài trước kia còn sót lại sau khi Bắc-Việt    làm cố-vấn-trưởng cho Trung-đoàn 51 Bộ-
đã xâm-chiếm Nam Việt-Nam. Do đó, Đại-            Binh và Lữ-đòan 1 Kỵ-Binh, và cũng ở tại
tá Việt đã phải bỏ ra tám năm trường, làm         mấy tỉnh phía Bắc. Vì đã có kế-hoạch Việt-
việc cực-nhọc, đi hàng ngàn dặm, để truy-         Nam Hóa Chiến-Tranh kể từ năm 1969, cả
tầm tin-tức và phỏng-vấn nhiều người, cố          hai đơn-vị này đều được trang-bị vũ-khí và
công phục-hoạt cho bằng được một cuốn             quân-dụng ngang hàng với các lực-lượng
lịch-sử nói về các đơn-vị Thiết-Giáp thuộc        Hoa-Kỳ, ngoại-trừ Pháo-binh và Không-
Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Tác-phẩm              quân. Sự-kiện nâng cấp này đã tạo ra một
của ông độc-đáo ở chỗ này: Nó không               khác-biệt lớn-lao ghê-ghớm xét về phương-
những chỉ trình-bày khía-cạnh tốt đẹp, mà         diện hiệu-năng tác-chiến, lớn-lao đến nỗi
còn nói cả đến những cái yếu kém của các          khó tưởng-tượng được trừ phi đã từng phục-
đơn-vị Thiết-Giáp, và của các cấp chỉ-huy         vụ với Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa trong
Thiết-Giáp trong Quân-Lực Việt-Nam                cả hai-giai-đoạn kể trên.
Cộng-Hòa nữa. Ông thuật chuyện điềm-
nhiên, trung-thực. Khi các đơn-vị hoặc các
cấp chỉ-huy thi-hành tốt đẹp, thì ông kể lại
rõ-ràng và còn giải-thích tại sao; khi họ thất-
bại, ông cũng mô-tả ra. . . Quả thực họa-
hoằn lắm mới thấy được cái tính-cách ấy
trong một cuốn lịch-sử chiến-tranh.
        Sở-dĩ tôi có được một cái nhìn bao-
quát về Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa mà
nhiều người khác không sao có được là vì
chính tôi đã từng phục-vụ qua hai nhiệm-kỳ
với tư-cách là cố-vấn-trưởng cho các đơn-vị              Tôi sẽ không xoáy sâu vào cuộc Tấn-
tác-chiến Việt-Nam. Trong giai-đọan 1964-         công mùa Phục-Sinh của Bắc-Việt năm
65, tôi làm cố-vấn-trưởng cho Trung-đoàn 5        1972, bởi lẽ trận chiến này đã được gói
Bộ-Binh, thuộc Sư-đoàn 2 Bộ-Binh của              ghém, trình-bày đầy-đủ trong cuốn sách này
Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Trong giai-           rồi. Tôi chỉ muốn nói thêm rằng đại đa số
đoạn này, Trung-đòan 5 liên-miên đụng trận        các đơn-vị thuộc Quân-Lực Việt-Nam
nặng-nề với các đại đơn-vị được huấn-luyện        Cộng-Hòa mà tôi đã phục-vụ đều đã chiến-

                                     CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ
                                                                                           44
đấu giỏi. Luôn-luôn bị Địch quân đông gấp
bội tấn-công, họ vẫn ngăn-chặn và sau cùng
đánh bại cái đội quân trang-bị tốt và huấn-
luyện tốt của Bắc-Việt. Không-lực Hoa-Kỳ
– được các sĩ-quan cố-vấn Lục-quân và
Thủy-quân Lục-chiến Hoa-Kỳ phối-hợp – đã
giữ một vai-trò chủ-chốt trong thành-công
của họ, bù đắp cho những khiếm-khuyết về
trang-bị trong Pháo-binh và Không-quân
Việt-Nam. Điều này nói lên đặc-tính của các
đơn-vị tác-chiến thuộc Nam Việt-Nam thời
bấy giờ.
        Buồn thay, chính vì cái tình-cảm
phản-chiến tại đất nước chúng tôi mà Quốc-
Hội đã cắt giảm số viện-trợ dành cho Nam
Việt-Nam giữa lúc Liên-Sô đang chỉnh-
trang và tiếp-vận ồ-ạt cho Bắc-Việt. Quân
Bắc-Việt được bồi-dưỡng xong xuôi, đã
xâm-chiếm và đánh bại Nam Việt-Nam vào
năm 1975. Nhiều chiến-hữu Nam Việt-Nam
của tôi đã chết trong cuộc chiến đó hoặc đã
bị giam-cầm suốt nhiều năm dài, độc-ác tại
những nơi được gọi là các “Trại Cải-tạo”.
Đó là thời-gian thuộc về lịch-sử của quê-
hương chúng tôi, mà tôi không hãnh-diện
được.
        Câu chuyện trong cuốn Thép và Máu
là câu chuyện cần được kể ra. Tôi hy-vọng
nó sẽ gây cảm-hứng cho nhiều cựu quân-
nhân khác lên tiếng thêm và trưng ra thêm
bằng chứng nhằm chống lại những huyền-
thoại hiện-hữu, tai-ác, xúc-phạm đến Quân-
Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
        Tôi hãnh-diện về thời-gian mà tôi đã
trải qua, phục-vụ cánh sát cánh với các
chiến-sĩ thuộc Quân-Lực Việt-Nam Cộng-
Hòa.

T.D. dịch theo nguyên bản
Virginia, ngày 6-6-2008




                                  CHIẾN SĨ CỘNG HOÀ
                                                      45

				
DOCUMENT INFO