định giá cổ phiếu bằng pp chiết khấu luồng tiền

Document Sample
định giá cổ phiếu bằng pp chiết khấu luồng tiền Powered By Docstoc
					Định giá cổ phiếu bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền
Thảo luận: 6 -- Số lần đọc: 12496) ( Bình chọn: 5 --

Bên cạnh định giá cổ phiếu bằng phương pháp chiết khấu dòng cổ tức thì phương pháp chiết khấu dòng tiền được khá nhiều người ủng hộ và thậm chí phương pháp này còn được giới phân tích tài chính ưa dùng hơn. Về mặt lý thuyết thì đây thực sự là một phương pháp khá tuyệt vời, tuy nhiên trên thực tế, chúng ta có thể gặp vài khó khăn khi dùng phương pháp chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phiểu. Một số phương pháp định giá khác cũng hữu ích, chúng giúp chúng ta có được một cái nhìn tòan diện hơn về giá trị của cổ phiếu. Những vấn đề cơ bản về phân tích chiết khấu dòng tiền. Lý thuyết chiết khấu dòng tiền phát biểu rằng giá trị của tất cả dòng tiền tạo ra tài sản bao gồm từ những thu nhập cố định cho đến các khoản đầu tư đối với tòan bộ doanh nghiệp thực ra chính là giá trị hiện tại của dòng tiền mong đợi trong tương lai được chiết khấu về hiện tại với một chiết khấu hợp lý. Đối với định giá doanh nghiệp thì người ta hay dùng khái niệm dòng tiền tự do. Mức chiết khấu hợp lý đối với doanh nghiệp chính là chi phí sử dụng vốn trung bình (WACC) của chính doanh nghiệp đó. Công thức thường dùng là:

Theo DCF thì để xác định được giá trị của doanh nghiệp cần phải xác định khoảng thời gian dự báo (thường là 5-10 năm đối với các doanh nghiệp đã tương đối vững mạnh) rồi ước lượng các dòng tiền tự do, xác định mức chiết khấu hợp lý, ước đóan mức tăng trưởng của doanh nghiệp và xác định giá trị còn lại vào cuối kỳ dự báo. Gía trị còn lại vào cuối kỳ dự báo( terminal value) chính là thành phần [TFCF / (k - g)] / (1+k)n-1 trong công thức trên. Lấy giá trị hiện tại PV chia cho số cổ phần đang lưu hành của doanh nghiệp ta sẽ được giá trị hợp lý của mỗi cổ phần. Đó chính là giá trị mà bạn đang tìm kiếm đấy! Đến đây có vẻ như phương pháp DCF cũng không mấy khó khăn để sử dụng. Nhưng thực tế thì bạn sẽ gặp phải một số vấn đề sau: Các vấn đề thường gặp với phương pháp chiết khấu dòng tiền

Các kế họach tạo ra dòng tiền hoạt động Yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố quan trọng nhất trong việc dùng mô hình chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phần chính là ước đoán chuỗi các kế hoạch tạo ra dòng tiền hoạt động cho doanh nghiệp. Có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn đối với thu nhập và dòng tiền được dự báo. Đó chính là nguyên nhân bạn sẽ gặp vấn đề khi sử dụng phương pháp DCF. Dễ thấy nhất là tính không chắc chắn của các dự án về dòng tiền tăng lên qua từng năm dự báo trong khi mô hình DCF thường phải sử dụng từ 5 đến 10 năm để có được một dự đoán có giá trị. Chính tính không chắc chắn với thời gian có thể sẽ khiến mô hình của bạn không mang lại kết quả như mong đợi, thậm chí là một kết quả khác xa nhiều so với kết quả bạn mong muốn. Các nhà phân tích có thể dự báo khá chính xác dòng tiền hoạt động trong năm nay và năm sau nhưng cũng không thể có đủ khả năng để dự báo chính xác cho những năm xa hơn của tương lai. Thu nhập và dòng tiền có thể bị giảm một cách nhanh chóng bởi vì các yếu tố bất ngờ nào đó. Tệ hại hơn là các dự án về dòng tiền xây dựng cho một năm bất kỳ thường được dựa trên kết quả của năm liền trước đó.

Các kế hoạch về chi tiêu vốn Các dự án về dòng tiền tự do cũng đi liền với các kế hoạch về chi tiêu vốn cho mỗi năm. Cũng vậy, mức độ không chắc chắn của các con số trong kế hoạch chi tiêu vốn tăng lên theo mỗi năm. Trong năm hoạt động không mấy khả quan thì tình hình chi tiêu vốn có thể tạo nên những sai lệch do các nhà quản trị sẽ thắt chăt các kế hoạch chi tiêu vốn và ngược lại. Do đó các giả thiết để xây dựng kế hoạch về chi tiêu vốn luôn hàm chứa rất nhiều rủi ro. Trong khi đó, có khá nhiều phương pháp để tính toán chi tiêu vốn ví dụ như sử dụng tỷ số vòng quay tài sản cố định hoặc là sử dụng phương pháp tính theo phần trăm doanh thu, những sự thay đổi dù nhỏ trong các giả định của mô hình cũng có thể tạo nên những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với kết quả tính toán của mô hình DCF. Mức chiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng Có lẽ một trong các giả định quan trọng nhất của mô hình DCF chính là các giả định về mức chiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng. Có khá nhiều cách để xác định mức chiết khấu trong mô hình DCF định giá cổ phần. Các nhà phân tích thường sử dụng công thức mức chiết khấu R=Rf + β*(Rm - Rf) hoặc là sử dụng chi phí sử dụng vốn trung bình WACC của doanh nghiệp như một tỷ lệ chiết khấu hợp lý khi sử dụng DCF để định giá doanh nghiệp. Cả hai phương pháp trên đều khá lý thuyết và chúng thật sự không vận hành hiệu quả lắm trong ứng dụng đầu tư thực tế. Các nhà đầu tư khác có thể chọn một tỷ suất rào cản tuỳ ý để định giá cho tất cả các khoản đầu tư vốn cổ phần. Dĩ nhiên là bạn nên biết rằng khi chọn một phương pháp nào để dự báo suất chiết khấu thì không có nghĩa là bạn sẽ có được những câu trả lời chắc chắn chính xác. Có lẽ vấn đề lớn nhất đối với giả định về tỷ lệ tăng trưởng chính là khi chúng được sử dụng như một giả định về tốc độ tăng trưởng liên tục. Gỉa định rằng một doanh nghiệp có thể giữ mức tăng trưởng liên tục là một giả định rất lý thuyết. Các nhà phân tích đã tranh luận rằng tất cả các công ty lớn mạnh đang hoạt động với mức tăng trưởng liên tục như giả định sẽ có khuynh hướng chỉ đạt ở mức tăng trưởng chung của nền kinh tế trong dài hạn. Thêm vào đó, mức tăng trưởng của công ty sẽ thay đổi, đôi khi là thay đổi rất nhanh qua từng năm hoặc thậm chí là qua từng thập kỷ. Hiếm khi nào mà một doanh nghiệp đạt đến một mức tăng trưởng nào đó và có thể duy trì mức tăng trưởng đó mãi mãi. Quay trở lại với cách tính toán trong mô hình DCF dễ thấy kết quả của nó rất nhạy cảm với bất cứ một sự thay đổi nào dù là nhỏ nhất trong giả định về tỷ lệ chiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng. Các phương pháp thay thế Ngay cả với một người có lòng tin chắc chắn đối với DCF, xem đây là mô hình tuyệt vời nhất trong xác định giá trị của đầu tư cổ phần thì việc xem xét thêm các phương pháp khác để xác định giá cả mục tiêu cũng là một việc làm hữu ích. Nếu bạn đang lập kế hoạch về thu nhập và dòng tiền cho các khoản đầu tư, thì việc tính toán một số chỉ số bổ trợ để bạn ra quyết định là hết sức đơn giản. Các chỉ số như P/E, giá/ dòng tiền là các chỉ số được xác định dựa trên lịch sử hoạt động của công ty và thông tin trong ngành của nó. Cố gắng lựa chọn khéo léo một loạt các chỉ số nói lên mức độ hấp dẫn của doanh nghiệp là việc nên làm. Chúng ta đều biết rằng khác với mô hình DCF, nếu định giá doanh nghiệp dựa trên tỷ số P/E hoặc giá/ dòng tiền thì cứ sau mỗi lần giao dịch, chúng ta lại có các dữ liệu quá khứ để dự đoán chính xác hơn khả năng trong tương lai. Trong khi đó ngược lại các tính toán về tỷ lệ chiết khấu trong mô hình DCF thì ít phụ thuộc vào các dữ liệu quá khứ, chúng ta chỉ tính toán lần đầu tiên rồi cứ thế sử dụng cho suốt nhiều năm trong khoảng thời gian dự báo. Thay lời kết!

Là một nhà đầu tư, khôn ngoan nhất chính là tránh việc luôn tin tưởng rằng một phương pháp nào đó là tốt nhất cho việc định giá cổ phần. Trong khi rất nhiều nhà đầu tư đồng tình rằng giá trị của cổ phần có liên quan với giá trị hiện tại của các dòng tiền tự do trong tương lai và phương pháp DCF được sử dụng xuất phát từ quan điểm ấy. Tuy nhiên mô hình DCF không hề dễ dàng để thực hiện trong bối cảnh thực tế. Có quá nhiều bất trắc với các giả định của nó. Việc tìm kiếm các phương pháp bổ trợ để ra quyết định chắc chắn là một việc làm không vô nghĩa. Các phương pháp bổ trợ sẽ giúp bạn có một cái nhìn toàn diện hơn về giá trị của cổ phiếu.

Nhà tạo lập thị trường
Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Nhà tạo lập thị trường

( Bình chọn: 5 -- Thảo luận: 0 -- Số lần đọc: 4459) Nhà tạo lập thị trường là một khái niệm chưa xuất hiện ở Việt Nam, tất nhiên đây là thành viên quá quen thuộc tại các thị trường chứng khoán phát triển trên thế giới. Thời gian gần đây, các chuyên gia và cả một số bài báo bắt đầu đề cập đến vấn đề thiết lập nhà tạo lập thị trường như là một giải pháp cho điều kiện thị trường đang tăng trưởng nóng. Khoan nói về thiết lập thế nào và vận hành ra sao tại sàn giao dịch chứng khoán (GDCK) Hà Nội hay Hồ Chí Minh, thì đa phần nhà đầu tư hiện nay vẫn còn những khái niệm rất mơ hồ về "nhà tạo lập thị trường". Bài viết này, tôi tổng hợp một vài khái niệm về nhà tạo lập thị trường mong cũng chia sẻ với các bạn Saganor.

Có thể khái niệm chính xác về nhà tạo lập thị trường thì không nhiều người biết, nhưng sẽ có nhiều người nhận thức được mối quan hệ giữa sự tồn tại của những thành viên đặc biệt này với tính thanh khoản của thị trường. Trước hết ra định nghĩa về tính thanh khoản: Bạn có thể tham khảo khái niệm này trên Saga tại http://www.saga.vn/dictview.aspx?id=1607 Tôi xin diễn đạt theo một cách khác Thanh khoản là khái niệm phản ánh mức độ mà một tài sản bất kỳ có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá thị trường của tài sản đó. Một tài sản có tính thanh khoản cao thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn. Nói cách khác, tính thanh khoản là khả năng chuyển được một tài sản thành tiền mặt nhanh chóng. Một tổ chức thực hiện hoạt động tạo lập thị trường đối với một (hay nhiều) loại chứng khoán có nghĩa là tổ chức đó sẽ thực hiện các kĩ thuật để đảm bảo duy trì tính thanh khoản cao đối với (những) loại chứng khoán đó. Từ khái niệm thanh khoản đến khái niệm nhà tạo lập thị trường Theo báo cáo của Tổ chức Quốc tế các Uỷ ban Chứng khoán - IOSCO (1999), nhà tạo lập thị trường được định nghĩa là “những thành viên tham gia trên các thị trường mua bán các công cụ tài chính hoạt động theo phương thức khớp giá, thực hiện chức năng đặt các lệnh chào mua, chào bán. Những nhà tạo lập thị trường tạo ra thị trường có tính thanh khoản cao bằng cách thường xuyên yết lên các mức giá chào mua, chào bán, qua đó đảm bảo một thị trường hai chiều (mua bán liên tục) ” Định nghĩa tại http:///www.investopedia.com như sau: Nhà tạo lập thị trường là một công ty môi giới-giao dịch chấp nhận rủi ro nắm giữ một khối lượng nhất định của một loại chứng khoán nhất định để nhằm hỗ trợ, thúc đẩy giao dịch đối với loại chứng khoán đó. Mỗi nhà tạo lập thị trường sẽ cạnh tranh trên thị trường để nhận được lệnh đặt từ phía khách hàng (là các nhà đầu tư tham gia trên thị trường) bằng cách báo các mức giá chào mua, chào bán đối với một khối lượng chắc chắn có thể giao dịch của loại chứng khoán nhất định. Khi nhận được lệnh đặt từ phía khách hàng, nhà tạo lập thị trường sẽ gần như ngay lập tức bán những chứng khoán mà tổ chức đó nắm giữ trong kho hoặc tìm kiếm một lệnh đối ứng phù hợp. Toàn bộ quá trình này diễn ra trong khoảng vài giây. Công ty môi giới-giao dịch là công ty tiến hành hoạt động mua hoặc bán chứng khoán với đồng thời cả vai trò nhà môi giới và đơn vị giao dịch tuỳ thuộc vào đặc tính của giao dịch được tiến hành. Một đơn vị giao dịch, hay một công ty giao dịch là công ty sẵn sàng tiến hành mua, bán chứng khoán cho tài khoản riêng của công ty. Công ty này khác với các tổ chức trung gian giao dịch ở chỗ nó đóng vai là một trong hai phía mua hoặc bán khi thực hiện giao dịch. Có nghĩa là công ty giao dịch sẽ thực sự phải mua bán chứng khoán và chịu những rủi ro, hưởng lợi nhuận đối với chứng khoán nằm trong tài khoản (hay “trong kho”) của mình, còn những tổ chức trung gian (như các nhà môi giới hay đại lý) chỉ đứng ra thay mặt khách hàng thực hiện giao dịch. Như thế một nhà nhà tạo lập thị trường có thể đứng trên cả hai phía của thị

trường để chào mua và chào bán. Khoảng chênh lệch giữa mức giá chào mua và chào bán được gọi là chênh lệch mua-bán. Thị trường trong đó tồn tại các nhà tạo lập thị trường có tên tiếng Anh là “Dealer Market”. Do hiện nay ở Việt Nam chưa tồn tại chính thức một nhà tạo lập thị trường cũng như chưa có qui định cụ thể cho hoạt động của thị trường có vai trò nhà tạo lập thị trường nên trong phần còn lại của đề tài sẽ sử dụng nguyên khái niệm bằng tiếng Anh này. Đối với thị trường này, các giao dịch tiến hành trên thị trường chủ yếu là giao dịch giữa nhà tạo lập thị trường với nhau, với các tổ chức trung gian và với nhà đầu tư bình thường (ta sẽ gọi tên chung cho nhà đầu tư loại này là nhà đầu tư công chúng, bao gồm cả các cá nhân và các tổ chức tham gia vào nhưng không đóng vai trò nhà tạo lập thị trường hay một tổ chức trung gian). Nhà đầu tư hầu như sẽ không trực tiếp giao dịch với nhau. Nhà tạo lập thị trường thường thực hiện hai công việc để đáp ứng các lệnh từ phía nhà đầu tư. Do yêu cầu phải liên tục chào mua và chào bán, với những thị trường mà có nhiều nhà tạo lập thị trường cùng tham gia, việc cạnh tranh để thu hút khách hàng đặt lệnh, như trong định nghĩa, khi đã nhận được lệnh từ phía nhà đầu tư, các nhà tạo lập thị trường sẽ thực hiện một trong hai việc: Thứ nhất, nhà tạo lập thị trường có thể đóng vai trò đối tác trong giao dịch, có nghĩa là nếu lệnh đặt đến là lệnh mua, nhà tạo lập thị trường sẽ bán các chứng khoán tương ứng có “trong kho” của mình. Còn nếu lệnh đặt đến là lệnh bán, nhà tạo lập thị trường sẽ tiến hành mua khối lượng chứng khoán mà nhà đầu tư muốn bán. Lệnh mua hay bán mà nhà tạo lập thị trường nhận được chính là lệnh đáp lại các chào mua, chào bán mà nhà tạo lập thị trường đã yết ra trên thị trường. Ở Dealer Market, trong các chào mua, chào bán của nhà tạo lập thị trường, giá yết ra do yêu cầu cạnh tranh nên sẽ thường phải bám sát với tình hình thị trường, khối lượng yết ngoài do nhà tạo lập thị trường quyết định tuỳ theo các phân tích của mình còn phải chịu thêm tác động của luật định về khối lượng nhỏ nhất phải đảm bảo giao dịch đối với mỗi lệnh yết ra. Thông thường để có thể chuyển sang yết mức giá khác, hay tham gia với một loại chứng khoán khác, nhà tạo lập thị trường phải thực hiện một giao dịch với số lượng tối thiểu theo qui định, điều này đảm bảo tính thanh khoản mà mỗi giao dịch tạo ra. Thứ hai, trong trường hợp lệnh đặt mua đến nhưng nhà tạo lập thị trường không có đủ số chứng khoán đặt mua trong tài khoản của mình, hoặc lệnh đặt bán đến nhưng nhà tạo lập thị trường không đủ khả năng để mua toàn bộ số chứng khoán đặt bán của khách hàng thì để đảm bảo giao dịch, nhà tạo lập thị trường sẽ phải tìm một lệnh đối ứng khác thoả mãn toàn bộ hoặc một phần khối lượng của khách hàng đặt ra. Để tìm lệnh đối ứng này, nhà tạo lập thị trường này sẽ phải tìm đến một nhà tạo lập thị trường khác. Nhà tạo lập thị trường kia có thể trực tiếp mua hoặc bán hoặc cũng có thể chuyển tiếp một lệnh mua hoặc bán của một nhà đầu tư khác mà họ nhận được sang để đối ứng. Cơ chế này được thực hiện rất nhanh thông qua hệ thống công nghệ cơ sở của toàn thị trường.

Giải quyết vấn đề yết giá như thế nào, khối lượng bao nhiêu, khi nào thì tự mua, tự bán, khi nào tìm lệnh đối ứng, khả năng kiếm được lệnh đối ứng nhanh nhất và rẻ nhất là bao nhiêu (vì khi đã phải thông qua một nhà tạo lập thị trường khác thì nhà tạo lập thị trường hiện tại cũng sẽ phải mất phí) là một bài toán hàng đầu cần giải quyết đối với một nhà tạo lập thị trường. Trên thực tế thuật ngữ “nhà tạo lập thị trường” dùng để chỉ chung cho các tổ chức thực hiện các chức năng như trong định nghĩa. Ở mỗi thị trường khác nhau và đối với những loại chứng khoán khác nhau, tên gọi đối với các tổ chức thực hiện vai trò này là khác nhau. Lấy định nghĩa trên làm cơ sở, ta có thể tiến hành phân loại như sau

1.

2.

3.

Nhà tạo lập thị trường với hệ thống tạo lập thị trường trên sàn giao dịch điện tử, đấu giá theo giá Một ví dụ điển hình là nhà tạo lập thị trường tại NASDAQ. Tại đây nhà tạo lập thị trường được gọi tên chính thức là “market maker” tức là nhà tạo lập thị trường. Cơ bản, nhà tạo lập thị trường trên NASDAQ thường thực hiện tạo lập thị trường cho nhiều loại chứng khoán và thực hiện hoàn toàn chủ động, ít chịu tác động từ bên ngoài ngoại trừ các qui định, luật lệ. Nhà tạo lập thị trường với hệ thống tạo lập thị trường tập trung trên sàn giao dịch cổ điển đấu giá theo lệnh (khớp lệnh) Điển hình là thị trường NYSE. Đối với những thị trường như NYSE, chức năng tạo lập thị trường do một người gọi là chuyên gia thị trường (specialist). Tất nhiên, đứng sau một chuyên gia thị trường bao giờ cũng là cả một tổ chức, thực hiện các hoạt động phân tích, đánh giá, nghiên cứu thị trường, hỗ trợ chuyên gia trong việc ra quyết định. Chuyên gia chỉ thực hiện chức năng tạo lập thị trường với một loại chứng khoán duy nhất và công việc chính là kết nối các lệnh đối ứng chứ không phải là tham gia trực tiếp vào mua bán (có tham gia nhưng chỉ khi cần). Nhà tạo lập thị trường với hệ thống tạo lập thị trường trên sàn giao dịch điện tử khớp lệnh Với hệ thống này, có hai hình thức là hệ thống tạo lập thị trường tập trung và phi tập trung. Hệ thống tạo lập thị trường tập trung có cơ chế hoạt động giống với hệ thống tạo lập thị trường tập trung tại sàn giao dịch cổ điển, điểm khác biệt là hệ thống này dùng sàn điện tử. Hệ thống tạo lập thị trường phi tập trung là hệ thống mới nhất, hiện đang được áp dụng khá rộng rãi và linh hoạt, tên gọi với nhà tạo lập thị trường trong mô hình này ở mỗi nước có áp dụng là khác nhau với các cấp độ ưu tiên về thông tin khác nhau. Thường mỗi nhà tạo lập thị trường sẽ đảm trách một số công ty niêm yết nhất định.

Theo đối tượng ta có thể phân loại nhà tạo lập thị trường cho cổ phiếu và tạo lập thị trường cho trái phiếu. Tuy nhiên một nhà tạo lập thị trường có thể tiến hành tạo lập thị trường đồng thời cho cả trái phiếu và cổ phiếu. Với thị trường trái phiếu, tuy xét trên phương diện rủi ro là ít hơn so với cổ phiếu, tuy nhiên nhà tạo lập thị trường tham gia trên thị trường này thường có những yêu cầu đặc thù liên quan trực tiếp đến đặc tính của trái phiếu. Tổ chức tham gia tạo lập thị trường trên thị trường trái phiếu có hai cấp độ. Cấp độ thứ nhất là các công ty giao dịch giống như bình thường, cấp độ thứ hai, có một tên riêng là Môi giới giao dịch nội bộ Inter-dealer broker). Bản thân tên gọi đã phản ánh hoạt động của tổ chức loại này. Các hoạt động cơ bản của một nhà tạo lập thị trường trái phiếu không có nhiều khác biệt, tuy nhiên do các giao dịch trái phiếu thường có khối lượng và giá trị lớn nên thời gian tiến hành thường lâu hơn, bên cạnh đó một nhà tạo lập thị trường thông thường dù có vốn lớn đến đâu cũng rất khó có thể đảm bảo tiến hành được tất cả các giao dịch bằng lượng chứng khoán “trong kho” của mình, và cũng không thể đảm bảo luôn tìm kiếm được các lệnh đặt đối ứng cần thiết của khách hàng. Thực tế này cho thấy cần có một dạng tạo lập thị trường thứ hai, đó là các nhà môi giới-giao dịch nội bộ. Đây là một hình thức tổ chức tồn tại trong các thị trường trái phiếu và các thị trường OTC sản phẩm phái sinh, những tổ chức này đóng vai trò như những trung gian giữa các công ty môi giới chính trên thị trường với mục đích hỗ trợ, thúc đẩy các giao dịch nội bộ giữa các tổ chức này. Đối tượng giao dịch của họ là các công ty môi giới khác, các nhà môi giới khác, các tổ chức nhận quản lý danh mục đầu tư, tín thác, … Khi sàn GDCK Hà Nội còn trong giai đoạn thử nghiệm hệ thống, tôi có may mắn được tham gia, trao đổi với các chuyên viên. Khi đó có nghe nói tới hướng thiết lập sàn GDCK Hà Nội theo hướng sàn giao dịch điển tử khớp liên tục có nhà tạo lập thị trường. Gần đây báo chí cũng đưa tin về việc sàn Hà Nội được đầu tư để mở rộng theo hướng đó, hy vọng sẽ sớm có sự xuất hiện của nhà tạo lập thị trường.

www.saga.vn

Hiệu ứng ngược trên TTCK VN
( Bình chọn: 8 -- Thảo luận: 14 -- Số lần đọc: 3445)

Trên TTCK Việt Nam thời gian gần đây xuất hiện một vấn đề có thể nói là bất thường. Đó là sự giảm giá cổ phiếu vào thời gian gần ngày chốt quyền hưởng cổ tức. Các nhà đầu tư khi mua cổ phiếu trước đây đều kỳ vọng vào hai điều: một là, hưởng cổ tức; hai là, kỳ vọng tăng giá cổ phiếu. Sự tăng giá cổ phiếu liên quan đến sự phát triển của doanh nghiệp, liên quan đến sự tăng trưởng đều đặn hoặc đột biến theo thời gian. Tất nhiên sự tăng trưởng này cũng liên quan đến mức cổ tức mà doanh nghiệp hứa hẹn với các cổ đông. Vậy mà, hầu hết các cổ phiếu niêm yết trên sàn chứng khoán tập trung đều bị giảm giá khi có thông tin công bố ngày chốt từ công ty niêm yết. Đây là tâm lý phản ứng ngược từ các nhà đầu tư. Sự việc này được hiểu thế nào? Một sự thật phi lý đang tồn tại: Kỳ vọng mua một loại cổ phiếu nào đó thời gian trước ngày không hưởng quyền là để hưởng cổ tức bằng tiền cũng như bằng cổ phiếu, và cũng là để hưởng quyền mua thêm cổ phiếu khi doanh nghiệp phát hành nâng vốn điều lệ. Về lý, một doanh nghiệp làm ăn có lãi thì sau khi trừ chi phí trong quá trình hoạt động, một phần lãi đó phải được trích ra để chia cho những người làm chủ doanh nghiệp đó, tức là chia cho các cổ đông đang nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp. Nhưng nghĩ cho cùng, việc trở thành cổ đông được hưởng quyền lại chịu nhiều thiệt thòi hơn là cổ đông không được hưởng quyền. Như mọi người đều biết, vào ngày không hưởng quyền thì giá của cổ phiếu sẽ bị điều chỉnh giảm. Nếu giá giảm do phát hành nâng vốn thì là chuyện đương nhiên và các

nhà đầu tư không có gì phải bàn cãi. Nhưng điều chỉnh giá giảm do hưởng cổ tức của doanh nghiệp chia cho cổ đông thì tôi thấy hình như không hợp lý. Cổ đông hiện hữu được hưởng cổ tức bao nhiêu thì giá cổ phiếu bị giảm bấy nhiêu. Vậy thì đâu còn là ý nghĩa của việc hưởng cổ tức. Người hưởng cổ tức xét đúng ra là thua thiệt hơn người không hưởng cổ tức. Khi được hưởng cổ tức bằng cổ phiếu, tỷ lệ điều chỉnh giảm giá cổ phiếu đúng bằng tỷ lệ được hưởng. Cổ đông hưởng quyền vừa bị giảm giá cổ phiếu, vừa phải mất thời gian chờ cổ phiếu về, thông thường phải mất từ hai đến ba tháng. Điều này đã gây ra tâm lý chờ đợi căng thẳng cho các nhà đầu tư và đa số là không muốn mất nhiều thời gian như thế. Một vấn đề nữa làm các nhà đầu tư băn khoăn là tình trạng số cổ phiếu sau khi chia thưởng và phát hành thêm thường là bị lẻ, không đủ lô giao dịch. Vậy làm thế nào để họ có thể thanh khoản được phần lẻ đó khi có ý định cơ cấu lại danh mục đầu tư? Nhất là khi lô giao dịch của HaSTC là 100 thì phần lẻ từ 1 đến 99 đều phải nằm lại trong tài khoản. Và với những cổ phiếu thị giá cao thì lượng vốn đọng lại ở cổ phiếu lẻ là một con số không nhỏ chút nào. Trong tương lai còn nhiều doanh nghiệp chia cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành nâng vốn và các con số lẻ sẽ còn là băn khoăn của nhiều nhà đầu tư. Liệu UBCK và hai trung tâm giao dịch đã nghĩ đến và đưa ra giải pháp cho các vấn đề này hay chưa? Một ví dụ minh họa: Cổ phiếu ngân hàngSài gòn Thương tín (STB) có ngày giao dịch không hưởng quyền là 7-6. Vào ngày 6-6, cổ phiếu này có giá đóng cửa là 144.000 đồng. Tỷ lệ hưởng cổ tức là 12% bằng cổ phiếu và quyền mua 1:1 với giá 15.000 đồng. Ngày 7-6 giá cổ phiếu bị giảm theo tỷ lệ (144.000 + 15.000) / 2.12 = 75.000. Như vậy, người nào mua 1000 cổ phiếu vào ngày 6-6 với giá 144.000 thì tương lai sẽ có 2.120 cổ phiếu và phải nộp thêm 15 triệu đồng (tổng tiền phải chi là 159 triệu đồng), nhưng giá trị cổ phiếu của họ đã bị giảm còn 75.000. Vấn đề là 1.120 cổ phiếu có thêm kia phải chờ đợi gần 3 tháng sau mới về đến tài khoản. Còn người nào mua vào ngày 7-6, với số tiền là 159 triệu thì có thể vẫn mua được 2.120 cổ phiếu (nếu giá không tăng), được hơn 2.120 cp (nếu giá giảm), được ít hơn 2.120 (nếu giá tăng). Nhiều nhà đầu tư chấp nhận mua tăng 5% vào ngày không hưởng quyền để có thể có được toàn bộ số cổ phiếu vào ngày T+3 mà không phải chờ đợi hơn một nửa số cổ phiếu trong thời gian gần 3 tháng. Đấy cũng chính là lý do khiến nhiều nhà đầu tư đặt lệnh bán cổ phiếu trước ngày không hưởng quyền để tránh tình trạng trên. Khi lượng cung quá lớn với giá sàn đã gây cho giá cổ phiếu bị giảm trong nhiều phiên liên tiếp. Trên quan điểm của nhà đầu tư, tôi thấy vấn đề trốn quyền hưởng cổ tức của các nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu cũng là hiện tượng đáng quan tâm. Ở góc độ nhà đầu tư cá nhân, động cơ chính là quyền lợi sát sườn của mỗi người trong quá trình tham gia thị trường. Cá nhân tôi nghĩ đây cũng là một vấn đề nên chăng cần xem xét đối với thị trường.

Nhận định của một nhà đầu tư cá nhân


				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:699
posted:1/11/2010
language:Vietnamese
pages:7