KINH TẾ VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO

Document Sample
KINH TẾ VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO Powered By Docstoc
					BÌNH LUẬN

KHÓA HỌP LẦN 7

KINH TẾ VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO

Bình luận bài tham luận của ông Nguyễn Công Mỹ và bà Nguyễn Thị Lan Hương Viện Chiến lược Phát triển Đánh giá các tác động của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam « Một cách tiếp cận bằng mô hình cân đối chung »
Phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Dự báo và Thông tin Quốc tế1 (CEPII)

GS-TSKH Nguyễn Quang Thái Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam

Đà Nẵng, ngày 26 và 27 tháng 2 năm 200

Những mô phỏng được giới thiệu trong báo cáo này phần lớn được các chuyên gia thực hiện tại CEPII (Paris) với sự hỗ trợ của mô hình cân đối chung Mirage dưới sự hỗ trợ của các chuyên gia kinh tế của CEPII.

1

1- Mô hình MIRAGE là mô hình đa ngành, liên quốc gia rất mạnh do CEPII nghiên cứu thành công năm 2002 để đánh giá chính sách thương mại quốc tế. Đây là một mô hình CGE sử dụng cơ sở dữ liệu về quan hệ thương mại quốc tế được xử lí rất tinh tế. Nhờ sự hỗ trợ của CEPII, một số cán bộ trẻ của Viện Chiến lược phát triển đã được tiếp cận với mô hình Mirage và cùng phối hợp một số đồng nghiệp ở CEPII để cùng đưa ra môt số kết quả bước đầu đánh giá định lượng về tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO trong dài hạn. Đây là hướng đi rất đáng quan tâm. Chắc chắn những kết luận rút ra từ nghiên cứu này sẽ tiếp tục được nghiên cứu sâu hơn và cập nhật được các diễn biến mới trên thế giới và Việt Nam trong mấy năm gần đây. 2- Trước hết, các tác giả đã tổng hợp được các đánh giá dựa vào các cam kết giảm thuế nhập khẩu theo các thỏa thuận song phương và đa phương mấy năm gần đây. Đây là công việc không đơn giản vì cần “quy chuẩn” các thỏa thuận này về một thang bậc thống nhất, có thể đánh giá tác động. Từ đó xây dựng kịch bản đối chứng về khả năng hội nhập sâu hơn (như giản thuế mạnh hơn với hàng dệt may) để đánh giá tác động của quá trình hội nhập này đối với sự phát triển thương mại và kinh tế thế giới và Việt Nam, nhất là với hàng nông sản và các vấn đề khác của kinh tế vĩ mô và thương mại. Báo cáo đã đưa ra bức tranh khá tổng quát và có những nhận xét bước đầu rất lí thú. 3- Có thể nêu ra đây một số ưu điểm quan trọng nhất. a. Đã cập nhật các thông tin cơ bản và đưa ra kịch bản phân tích khá hay như thực hiện bỏ hạn ngạch 50% và 100% may mặc; bỏ 0-10% hàng rào dịch vụ; v.v… trên cơ sở thực hiện các thỏa thuận về BTA, AFTA, ASEAN-EU, ASEAN-Trung Quốc. Cùng với các số liệu kinh tế khác khá gần với hiện nay, nên mô hình phân tích đưa ra các kết luận rất đáng quan tâm; b. Kết luận từ mô hình rất đáng quan tâm, như: tác động của WTO không đều với các nước, các mặt hàng, nhưng tác động tích cực là rất quan trọng tới tăng trưởng GDP và thương mại với Hoa Kỳ và một số thị trường; tác động nhiều tới các mặt hàng thâm dụng lao động và tác động tương đối xấu tới hàng nông sản. Tuy nhiên, một vài đánh giá cụ thể còn chưa sát với thực tế, như hàng xuất khẩu từ gỗ qua nhập khẩu để tái chế và xuất là cực lớn, nhưng lại được đánh giá là có thể bị giảm sút,… Nghiên cứu cũng đã nêu lên các tác động đến cơ cấu và tiền lương của lao động. 4- Bên cạnh những ưu điểm không thể chối cãi, tôi cũng muốn lạm bàn về một số điểm muốn đóng góp nhất là về hướng ứng dụng MIRAGE trong tương lai. a. Mô hình bao giờ cũng là sự trừu tượng hóa, tước bỏ những mặt được cho là thứ yếu. Do đó, không thể xem mô hình có đúng hay không mà chỉ nên xem nó như một công cụ nhận thức để đóan nhận chiều hướng phát triển trên bình diện phân tích một cách hệ thống. Tuy nhiên, mô hình do CEPII phát triển là mô hình khá “vạn năng” có thể ứng dụng cho các nền kinh tế đã phát triển và kinh tế thị trường nói chung. Trong khi đó, nhiều vấn đề của nền kinh tế Việt nam có thể chưa được phản ánh hết. Chẳng

2/3

hạn, kinh tế Việt Nam đang phát triển ở mức thấp, mà còn có những cơ chế thị trường còn ở giai đoạn “sơ khai(?)” nhưng lại có chuyển biến khá nhanh. Hơn thế, quy mô và cơ cấu kinh tế của Việt Nam thay đổi rất nhanh và rất khó dự đoán trong khoảng thời gian 3-5 năm. Mấy năm gần đây, tốc độ tăng trưởng GDP theo đồng đôla lên tới trên dưới 15%/năm, tức là sau 5 năm đã tăng 2 lần (chứ không phải tăng 2 lần sau 10 năm theo giá so sánh bằng VND, với tốc độ trên 7%/năm). Trong khi đó, chúng ta phải dùng bảng số liệu I-0 2000 và cải biên theo 2003, có tính đến những thay đổi trong năm đến 2005, trong khi chúng ta đang ở năm 2008 là một trong những điểm hạn chế của nghiên cứu. Điều này càng trở nên khó khăn hơnkhi thương mại Việt Nam đang tăng trưởng trên 20%/năm, tức là cũng chuyển biến nhanh và nói chung tăng nhanh hơn cả GDP tính theo đồng đôla USD. Đó là chưa tính đến những chuyển biến mạnh về hướng và điều kiện giao lưu. Và trên hết là chuyển biến bên trong nền kinh tế Việt nam là quan trọng nhất, mà trong mô hình này chưa thể phản ánh hết. Theo kết quả đánh giá lại của Ngân hang Thế giới năm 2007, GDP/đầu người tính theo sức mua tương đương PPP của Việt Nam giảm 30% (GDP theo PPP củaTrung Quốc và Ấn Độ còn giảm đến 40%), Điều này cho thấy có thể sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế “đan xem” 2 hệ thống, trong đó 1/3 khu vực đô thị hoặc cận đô đang tiến nhanh vào hội nhập và 2/3 trong tình trạng rất kém phát triển của xã hội nông nghiệp, với năng suất rất thấp. Đó là chưa tính đến các luồng vốn FDI và FII, luồng kiểu hối tăng lên rất nhanh mấy năm gần đây. Các sự kiện này liệu đã được tính đến khi sử dụng mô hình MIRAGE? Hơn nữa, quy mô nền kinh tế Việt Nam chỉ bằng hơn 0,1% kinh tế thế giới, thì đánh giá rất khó. Do đó, các nghiên cứu này là đáng khen nhưng cần tiếp tục được cập nhật và sử dụng kết hợp với các mô hình định lượng khác để làm cho bức tranh tòan cảnh đậm nét hơn. b. Theo kinh nghiệm của bản thân nhưng người làm mô hình tóan kinh tế ở Việt Nam, nên chăng dùng một số lọai mô hình có quy mô và mức độ bao quát khác nhau. Từ đó có thể nhận thức rõ hơn sự phát triển của nền kinh tế, với các khía cạnh “đạm, nhạt” khác nhau, để có bức tranh nhiều sắc mầu của nền kinh tế xã hội đất nước trong giai đọan chuyển động nhanh. Mô hình vài chục biến trong nhiều trường hợp có vẻ thích hợp để phân tích và hoạch định một số chính sách chung. Các lọai mô hình mô phỏng theo kịch bản như MIRAGE có thể là tốt để làm rõ chiều hướng phát triển, nhưng nên sử dụng như một khuyến cáo hơn là một kết luận. 5- Dù sao, tôi thấy nói chung đây là kết quả hay, rất đáng khuyến khích và tiếp tục đi sâu trong tương lai. Bản chất của công tác mô hình hóa không lúc nào đơn giản. Xin hoan nghênh Nhóm nghiên cứu và sự trợ giúp của CEPII với Viện Chiến lược Phát triển và phía Việt Nam trong Diễn đàn nói chung cả về thông tin, nguồn lực vật chất, know-how và kèm cặp, đào tạo cán bộ trẻ.

3/3


				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Tags: KINH, VIỆT, NHẬP
Stats:
views:10950
posted:1/8/2010
language:Vietnamese
pages:3