quản trị doanh nghiệp by blue123

VIEWS: 170 PAGES: 17

									Công bố thông tin của doanh nghiệp trên sàn chứng khoán: Siết chặt để minh bạch hơn
Thứ tư, 08/04/2009, 23:53 (GMT+7)

Công bố thông tin chậm, nhiều báo cáo tài chính (BCTC) quý, năm chậm và sai lệch so với trước và sau kiểm toán. UBCKNN đã có nhận định như vậy về thực tế hiện nay tại nhiều doanh nghiệp (DN) trên sàn Hà Nội và TPHCM trong Hội nghị DN niêm yết diễn ra hôm qua (8-4).



Chậm và thiếu chính xác

Theo thống kê của UBCKNN, đối với việc công bố thông tin định kỳ các BCTC trong từng quý của năm 2008, chưa khi nào số lượng DN công bố đúng hạn (ít thì 11 DN, nhiều lên đến 79 DN chậm nộp). Đáng chú ý trong các báo cáo quý, số DN nộp chậm báo cáo của sàn TPHCM thường nhiều hơn sàn Hà Nội. Các loại công bố thông tin như bất thường, theo yêu cầu, giao dịch của cổ đông nội bộ và người có liên quan cũng thường chậm. Theo ông Nguyễn Thế Thọ, Trưởng ban Quản lý phát hành (UBCKNN), dù có ý thức trong việc công bố thông tin giao dịch của cổ đông nội bộ và người có liên quan nhưng vẫn còn tình trạng vi phạm vì giao dịch quá số lượng đăng ký, có công bố về giao dịch nhưng không thực hiện báo cáo kết quả giao dịch hoặc báo cáo chậm. Nhận định về điều này, ông Ngô Phương Chí, Phó Tổng giám đốc Nhà đầu tư chứng khoán rất cần những báo Công ty Chứng khoán Bảo Việt nhấn mạnh: “Việc chậm trễ trong cáo tài chính minh bạch từ các doanh nghiệp công bố thông tin diễn ra khá thường xuyên và vẫn chưa có chế tài tham gia sàn giao dịch. Ảnh: VIỆT DŨNG thật sự nghiêm khắc để xử lý vi phạm này. Điều này đã làm giảm tính minh bạch của các công ty và ảnh hưởng đến sự cạnh tranh trên thị trường”. Không những chậm, sự thiếu minh bạch trong các BCTC của DN cũng là thực tế nhức nhối: báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán có nhiều khác biệt; BCTC quý còn thiếu phần thuyết minh; nhiều thuyết minh không đầy đủ, chi tiết để nhà đầu tư có thể hiểu rõ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty; các khoản đầu tư tài chính không được công bố đầy đủ ra thị trường và chưa được trích lập dự phòng thường xuyên, chủ yếu dồn vào quý 4. Bên cạnh đó, việc công bố, cập nhật thông tin của doanh nghiệp trên website của mình còn hạn chế. Theo UBCKNN, tính đến 31-3-2009, trên sàn Hà Nội có 95,8% công ty niêm yết xây dựng website của mình. Tuy nhiên, phần lớn các website của các công ty niêm yết hiện còn sơ sài và chưa cập nhật đầy đủ thông tin, đặc biệt đối với các công ty có quy mô vốn nhỏ, nằm trên địa bàn vùng sâu, xa. Còn tại sàn TPHCM, dù đã có 176/177 công ty có website nhưng vẫn có tới 31 công ty chưa cập nhật đầy đủ thông tin đã công bố, 7 website không truy cập được hoặc đang được xây dựng lại. Quy định chặt chẽ lại công bố thông tin Về những hạn chế, bất cập trong công bố thông tin của doanh nghiệp hiện nay, ông Nguyễn Sơn, Trưởng ban Phát triển thị trường (UBCKNN) thừa nhận, đó là bất cập về chất lượng BCTC (quý, bán niên, năm) do thiếu ý kiến soát xét của kiểm toán; BCTC chưa được đăng tải đầy đủ, không đăng ý kiến của kiểm toán; chưa có công bố thông tin về tiến độ sử dụng vốn sau khi phát hành; nội dung công bố thông tin tại website của doanh nghiệp còn sơ sài, không cập nhật… Chính vì vậy, để khắc phục những bất cập trên, UBCKNN đang xây dựng Thông tư thay thế Thông tư 38 về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán theo hướng chặt chẽ hơn. Chẳng hạn, BCTC bán niên (6 tháng) của công ty niêm yết phải có soát xét tài chính của kiểm toán được chấp thuận; BCTC bán niên, năm phải công bố cả ý kiến của tổ chức kiểm toán; định kỳ 6 tháng kể từ ngày

kết thúc huy động vốn, công ty phải báo cáo UBCKNN, hai Sở và công bố thông tin trên website về tiến độ sử dụng vốn (trường hợp thay đổi mục đích sử dụng phải công bố lý do và kèm theo nghị quyết của đại hội cổ đông)… Theo ông Bùi Văn Mai, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), để thông tin đến nhà đầu tư được chính xác, cần có quy định khi công bố báo cáo tài chính đã kiểm toán, bắt buộc phải công bố cả báo cáo kiểm toán đi kèm. Có như vậy, cổ đông mới yên tâm vì biết kiểm toán viên nhận xét về BCTC như thế nào. Nhận xét về các BCTC chậm trễ, ông Mai cũng cho rằng, việc lập BCTC và công bố thông tin trước hoặc đúng thời hạn thể hiện sự trung thực của thông tin, “khi có thế nào nói thế đó thì báo cáo rất nhanh”. Còn “BCTC chậm trễ có một phần lý do là tìm cách xử lý số liệu theo chủ quan của lãnh đạo doanh nghiệp”. Ngọc Quang

Niêm yết – Chậm trễ công bố thông tin
Cập nhật: 7:00:00 18/4/2009 UBCK Nhà nước đã phối hợp với Sở GDCK TP. Hồ Chí Minh (HOSE), Trung tâm GDCK Hà Nội (HASTC) tổ chức Hội nghị công ty niêm yết 2009.

CôngThương - Theo đánh giá của UBCK Nhà nước: nhìn chung, các công ty niêm yết đã tuân thủ đầy đủ Luật Chứng khoán và văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, việc công bố thông tin và quản trị của các công ty niêm yết vẫn còn chậm trễ, yếu và chưa đồng bộ… Chậm trễ trong công bố thông tin Trong công bố thông tin, theo đánh giá của UBCK Nhà nước, nhiều công ty niêm yết không kịp thời gửi báo cáo đã công bố cho Ủy ban theo quy định tại Luật Chứng khoán và Thông tư 38/2007/TT-BTC. Chất lượng báo cáo tài chính còn tồn tại một số vấn đề: báo cáo chưa được kiểm toán, thiếu phần thuyết minh hoặc thuyết minh không đầy đủ… Ông Nguyễn Thế Thọ, Trưởng ban Quản lý phát hành UBCK Nhà nước cho biết: tính đến ngày 31/3, chỉ có 32/177 công ty niêm yết trên HOSE nộp báo cáo thường niên năm 2008, trên HASTC là 33/177. Còn về báo cáo tài chính đã được kiểm toán năm 2008, tính tới ngày 31/3, mới có 105 công ty trên sàn HASTC hoàn thành, trên sàn HOSE, con số này ít hơn: 91/177 công ty. Điều đáng nói là khoảng 10 công ty niêm yết trên HOSE có báo cáo tài chính sau khi được kiểm toán không khớp với số liệu do chính công ty thực hiện. Đơn cử trường hợp của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (mã STB), lợi nhuận trước thuế đạt 1.243 tỷ đồng. Tuy nhiên, sau khi kiểm toán lại, chỉ còn gần 1.110 tỷ đồng, chênh lệch đến 133 tỷ đồng. Nguyên

nhân chủ yếu do sự khác biệt về phương pháp trích lập dự phòng giảm giá đối với các loại cổ phiếu chưa niêm yết giữa STB và phía kiểm toán. Trường hợp tương tự cũng xảy ra với Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Khánh Hội (mã KHA) chỉ trích lập cho các khoản đầu tư tài chính dài hạn năm 2008 có 12,59 tỷ đồng nhưng phía kiểm toán yêu cầu trích thêm 6,31 tỷ đồng nữa khiến lợi nhuận sau thuế của KHA từ mức 46 tỷ xuống còn 38,4 tỷ đồng, giảm mất 7,62 tỷ đồng. Về công bố thông tin của cổ đông nội bộ và những người có liên quan, vẫn còn tình trạng vi phạm đối với giao dịch cổ đông nội bộ vượt quá số lượng cổ phần đăng ký, có công bố thông tin về giao dịch nhưng không thực hiện báo cáo giao dịch hoặc báo cáo chậm. Thực trạng các vi phạm trong công bố thông tin tập trung chủ yếu tại các công ty mới niêm yết do khả năng nhận thức của lãnh đạo DN về tuân thủ pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán còn hạn chế. Quản trị công ty còn yếu Tính đến nay, tại HASTC, 171/177 công ty đã ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động theo Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết; 109/177 công ty đã ban hành quy chế quản trị công ty. Còn tại HOSE, 118/117 công ty đã ban hành quy chế quản trị công ty. Theo đại diện của UBCK Nhà nước: vi phạm thường gặp trong công tác quản trị của DN là thời gian từ ngày chốt danh sách đến ngày tổ chức đại hội cổ đông quá dài dẫn đến nhiều cổ đông không còn nắm giữ được cổ phiếu nên không tham dự đại hội, dẫn đến đại hội không tiến hành được. Ngoài ra, trong năm 2008 xảy ra trường hợp Công ty Dệt may Gia Định – cổ đông lớn của Công ty CP Bông Bạch Tuyết đã tiến hành triệu tập đại hội cổ đông bất thường 3 lần vẫn chưa thực hiện được và hiện tại, vẫn đang còn kiện tụng kéo dài. Bên cạnh đó, quy chế quản trị công ty quy định 1/3 tổng số thành viên HĐQT là thành viên độc lập, không điều hành nhưng thực tế lại hoàn toàn khác như tại HOSE, chỉ có 107/177 công ty tuân thủ đúng quy định. Truớc tình hình đó, UBCK Nhà nước khẳng định sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về công bố thông tin và quản trị công ty như: sửa đổi, bổ sung Thông tư 38/2007/TT-BTC về công bố thông tin, sửa đổi bất hợp lý đồng thời xử phạt nghiêm khác đối với vi phạm về hoạt động công bố thông tin. Ủy ban cũng tiếp tục tổ chức các hội nghị tập huất về quản trị công ty dành cho các công ty đại chúng; đào tạo và cấp chứng chỉ quản trị công ty cho các thành viện HĐQT, Ban kiểm soát, Ban giám đốc của DN niêm yết.

Nhật Quang

Giám sát báo cáo tài chính sẽ ngày càng chặt
Thứ năm, 9/4/2009, 10:29 GMT+7

Báo cáo tài chính bán niên (6 tháng) của doanh nghiệp niêm yết sẽ phải được soát xét, nhằm giảm dần trường hợp không phản ánh đúng sức khỏe tài chính của doanh nghiệp. Đây là bước đầu để dần minh bạch hóa hoạt động của các công ty niêm yết. Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 38 của Bộ Tài chính mới đây quy định, báo cáo tài chính quý chưa phải soát xét, song với báo cáo 6 tháng, doanh nghiệp phải mời công ty kiểm toán được chấp thuận soát xét. Trong vòng 45 ngày, doanh nghiệp phải nộp báo cáo tài chính 6 tháng và thời hạn với báo cáo quý và năm lần lượt là 30 ngày và

100 ngày. Hiện nay, chỉ báo cáo năm phải kiểm toán. Ủy ban chứng khoán nhà nước (SSC) cũng thừa nhận, chất lượng của báo cáo tài chính quý, bán niêm và năm là đáng chú ý trong những bất cập về công bố thông tin hiện nay. Mới đây, một loạt doanh nghiệp niêm yết tại HOSE đã phải giải trình khi báo cáo kiểm toán cho thấy có sự "vênh" lớn giữa lợi nhuận do doanh nghiệp công bố với con số của đơn vị kiểm toán. Trong số này, có những tên tuổi như STB, PPC, BHS, LGC, PIT, ASP, PAC, TMS, VSC.

Tại hội nghị công ty niêm yết sáng 8/4, ông Nguyễn Thế Thọ, Trưởng ban quản lý phát hành (SSC) cho biết, với quy định báo cáo quý hiện nay chưa phải kiểm toán, báo cáo quý do một số doanh nghiệp công bố không phản ánh hết tình hình tài chính. Một vài báo cáo thậm chí gây khác biệt lớn với báo cáo năm được công bố sau đó. Đây là lý do cơ quan quản lý quyết định yêu cầu báo cáo tài chính bán niên phải được soát xét theo chuẩn mực kiểm toán 900. Trước đó, Hội Kiểm toán hành nghề Việt Nam (VACPA) và Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) đã đề xuất báo cáo quý cũng cần được soát xét để đảm bảo thông tin cung cấp cho nhà đầu tư không mắc phải sai sót lớn. Song theo nhiều doanh nghiệp niêm yết, soát xét báo cáo tài chính quý là quá khó, bởi tiến độ công việc gấp gáp, và chính các công ty kiểm toán cũng không kham hết được lượng công việc lớn như vậy. Bà Đào Thị Ân, Trưởng phòng tài chính của Công ty Cơ điện miền trung (CJC) khẳng định, soát xét báo cáo quý vào lúc này là bất khả thi. "Với doanh nghiệp có nhiều đơn vị trực thuộc như chúng tôi, việc lập báo cáo tổng hợp để công bố đã quá cập rập, nếu soát xét để công bố vào ngày 25/4 thì chắc chắn sẽ bị trễ", bà cho hay. Công ty này tổ chức đại hội cổ đông thường niên vào ngày 29/4 và tại đại hội mới lựa chọn đơn vị kiểm toán báo cáo tài chính năm 2009. Vì thế, doanh nghiệp không thể kịp thuê đơn vị kiểm toán soát xét báo cáo quý I/2009 và công bố vào ngày 25/4. Ông Nguyễn Thế Thọ cho biết, nhiều công ty niêm yết cũng cho rằng, soát xét báo cáo tài chính và nộp vào 25/4 sẽ dồn lượng công việc lớn cho doanh nghiệp và đơn vị kiểm toán. Vì thế, việc soát xét báo cáo quý được coi như một bước để dần dần minh bạch hóa hoạt động của các doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo năng lực của doanh nghiệp và đơn vị kiểm toán. Hiện có 38 công ty kiểm toán đủ điều kiện kiểm toán doanh nghiệp niêm yết, trong khi 2 sàn có tổng cộng trên 350 công ty niêm yết. Theo thống kê của SSC, tại sàn Hà Nội có 37 công ty niêm yết chậm nộp báo cáo tài chính quý IV/2008, còn tại sàn TP HCM là 66 doanh nghiệp. Tính tới 31/3, mới có 105 công ty tại HASTC và 91 công ty tại HOSE gửi báo cáo tài chính kiểm toán năm 2008. TS. Nguyễn Sơn, Trưởng ban Phát triển thị trường cho biết, SSC sẽ yêu cầu 2 sở giao dịch nhắc nhở doanh nghiệp thực hiện nghiêm việc công bố báo cáo tài chính đúng hạn và xử lý với những trường hợp cố tình trì hoãn. Những trường hợp này sẽ bị yêu cầu giải trình, đồng thời bị chuyển cho Thanh tra SSC xem xét. Mặt khác, SSC cũng yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về tiến độ giải ngân 6 tháng một lần, để tránh việc nguồn vốn huy động cho các dự án đi "nhầm" hướng, sang dự án khác hay sang các khoản đầu tư tài chính. Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Việt Nam (VASB) Nguyễn Thanh Kỳ cho rẳng, ngoài nỗ lực của cơ quan quản lý, cũng cần chú ý đến chính các đơn vị kiểm toán. "Thực tế đã cho thấy rằng, không hẳn mọi công ty kiểm toán đều làm hết trách nhiệm. Việc doanh nghiệp điều chỉnh lợi nhuận từ năm này sang năm khác đôi khi vẫn qua mắt được đơn vị kiểm toán", ông Kỳ nói. Theo Tổng thư ký VASB, các tiêu chí gốc và chuẩn mực rất quan trọng trong việc giám sát doanh nghiệp niêm yết.(Nguồn: VNE, 8/4)

Trả thù lao cho giám đốc thế nào là hợp lý? (Phần 1)

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường ở nước ta, Giám đốc đang dần trở thành một nghề thực thụ. Giám đốc cũng là người làm thuê như bao người làm thuê khác, nhưng là ở một trình độ cao hơn và với vai trò đặc biệt hơn. Vì có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của doanh

nghiệp nên việc trả thù lao cho giám đốc thế nào cho hợp lý cũng không đơn giản như với các nhân viên bình thường khác. Trên thực tế làm thế nào để có một cơ chế thù lao hợp lý, bảo đảm cân đối giữa lợi ích của giám đốc (người làm thuê) và chủ doanh nghiệp (người đi thuê) luôn là một câu hỏi hóc búa đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Bài viết này dựa trên Lý thuyết về uỷ quyền (Agency Theory), nhằm trao đổi một số yêu cầu quan trọng cần có để bảo đảm một cơ chế thù lao hợp lý cho giám đốc - tiền đề quan trọng cho sự thành công của mỗi doanh nghiệp. Sự tách biệt quyền quản lý - kiểm soát và những tổn thất do phân quyền (agency costs)

Trong một nền kinh tế phát triển ở trình độ cao, quy mô và mức độ phức tạp của các doanh nghiệp khiến cho việc điều hành trực tiếp của các chủ doanh nghiệp trở nên không khả thi và thiếu hiệu quả. Việc điều hành những doanh nghiệp quy mô lớn và phức tạp đòi hỏi những kỹ năng và phẩm chất mà không phải nhà đầu tư nào cũng có được. Thực tế đó dẫn tới sự tách biệt giữa quyền quản lý và quyền kiểm soát (ownership – control). Những người có vốn nhưng không có khả năng quản lý đầu tư vào các doanh nghiệp và trở thành ông chủ (owner, hay còn gọi là nhà đầu tư investor). Các ông chủ này sẽ thuê những chuyên gia có đủ năng lực điều hành doanh nghiệp của mình, thường gọi là giám đốc (Chief Executive Officer).

Sự tách biệt quyền sở hữu và quản lý một mặt giải quyết mâu thuẫn giữa vốn và năng lực điều hành như đã nói ở trên; mặt khác, nó cũng làm nảy sinh những nguy cơ khiến cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không đạt mức tối ưu, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư. Trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và nhà quản lý {1}, cả hai bên đều mong muốn tối đa hoá lợi ích của mình, tuy nhiên điều kiện để tối đa hoá lợi ích của hai bên không giống nhau. Nhà đầu tư mong muốn tối đa hoá lợi ích của mình thông qua việc tăng giá trị của doanh nghiệp, còn lợi ích của nhà quản lý thường gắn trực tiếp với thu nhập nhận được. Do nhà quản lý là người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp nên họ có thể thực hiện những hành vi hay quyết định nhằm tối đa hoá lơi ích cho cá nhân mình nhưng lại làm tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư. Những tổn thất gây ra trong trường hợp này được gọi là tổn thất do phân quyền (agency costs) (Jensen & Meckling, 1976). Ví dụ, nhà quản lý có thể không nỗ lực với khả năng cao nhất của mình, do đó làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (giám đốc, như bất kỳ một người bình thường nào khác, có xu hướng thích nghỉ ngơi hơn là làm việc); nhà quản lý có thể quyết định không đầu tư nguồn lực vào một dự án có khả năng sinh lời cao trong tương lai vì làm như vậy sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận trong ngắn hạn (nếu thu nhập của nhà quản lý được xác định dựa trên kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngắn hạn); thậm chí nhà quản lý có thể báo cáo không trung thực về tình hình hoạt động của doanh nghiệp (earnings management) nhằm đạt mức lợi nhuận kế hoạch (kèm theo đó là tiền thưởng). Những hành vi như vậy của nhà quản lý sẽ làm tổn hại tới lợi ích dài hạn của nhà đầu tư (dysfunctional behaviors).

Mặc dù ý thức được vấn đề này (thường gọi là agency problems) nhưng không dễ để nhà đầu tư có thể kiểm soát được, bởi trên thực tế tồn tại tình trạng thông tin không cân xứng (information asymmetry) giữa nhà đầu tư và nhà quản lý (Scott, 2006). Nhà quản lý có những thông tin mà nhà đầu tư không thể có hoặc không muốn có do chi phí để thu thập các thông tin đó là quá cao. Ví dụ, nhà quản lý có thể biết được mức độ nỗ lực của mình trong khi nhà đầu tư không biết được; nhà quản lý nhờ trực tiếp điều hành nên có được những thông tin nội bộ mà nhà đầu tư hoặc không

biết được hoặc biết nhưng không hiểu được đầy đủ. Do tình trạng thông tin không cân xứng này mà nhà quản lý có cơ hội để thực hiện các dysfunctional behaviors như nêu trên mà không sợ b trừng phạt. Tất nhiên, nếu thị trường lao động là hoàn hảo thì trong dài hạn những hành vi của nhà quản lý sẽ bị phát giác. Khi đó nhà quản lý sẽ phải gánh chịu những thiệt hại do dysfunctional behaviors của mình trong dài hạn (mất uy tín, mất việc, phải bồi thường cho nhà đầu tư…). Giá trị hiện tại của các thiệt hại này sẽ lớn hơn hoặc bằng lợi ích hiện tại có được nhờ dysfunctional behaviors. Vì vậy, các giám đốc sẽ không có động cơ để thực hiện các hành vi này. Tuy nhiên, thực tế cho thấy thị trường lao động là không hoàn hảo, đặc biệt là ở những nước kinh tế thị trường còn chưa phát triển như Việt Nam. Trong điều kiện thị trường lao động không hoàn hảo như vậy, làm thế nào để các nhà đầu tư có thể bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc hạn chế các dysfunctional behaviors của các nhà quản lý? {1} Chức danh Giám đốc trong bài viết này chỉ những người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh ngônghiệp, vì vậy thuật ngữ Giám đốc và Nhà quản lý được dùng thay thế cho nhau trong bài này. Trần Đức Nam. (2006).Trả thù lao cho giám đốc thế nào là hợp lý? (Phần 1). Bản quyền kiemtoan.com.vn/modules.php?name=News&file=article&sid=879 Phần 2

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường ở nước ta, Giám đốc đang dần trở thành một nghề thực thụ. Giám đốc cũng là người làm thuê như bao người làm thuê khác, nhưng là ở một trình độ cao hơn và với vai trò đặc biệt hơn. Vì có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp nên việc trả thù lao cho giám đốc thế nào cho hợp lý cũng không đơn giản như với các nhân viên bình thường khác. Áp dụng một cơ chế thù lao hợp lý nhằm hạn chế agency costs Một cơ chế thù lao hợp lý cho giám đốc phải bảo đảm được tối thiểu ba yêu cầu (Scott, 2006): - Thứ nhất, cơ chế thù lao đó phải có tác dụng khuyến khích nhà quản lý làm việc với nỗ lực cao nhất. Muốn vậy mức thù lao phải tỷ lệ thuận với mức độ nỗ lực của nhà quản lý. - Thứ hai, cơ chế thù lao phải khuyến khích nhà quản lý đồng thời quan tâm tới lợi ích ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp. - Thứ ba, phải bảo đảm kiểm soát được mức độ rủi ro đối với doanh nghiệp.

Làm thế nào để xây dựng một cơ chế thù lao có tác dụng khuyến khích nhà quản lý? Như đã phân tích ở trên, tình trạng thông tin không cân xứng khiến cho nhà đầu tư không thể quan sát được mức độ nỗ lực của nhà quản lý. Tuy nhiên, nhà đầu tư có thể quan sát được kết quả công việc của nhà quản lý thông qua một số tiêu chí như lợi nhuận, dòng tiền, giá trị thị trường của doanh nghiệp. Xuất phát từ thực tế đó, một trong những cơ sở để xác định mức thù lao cho các nhà quản lý là lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp, dựa trên giả thiết lợi nhuận của doanh nghiệp tỷ lệ thuận với mức độ nỗ lực của nhà quản lý. Tuy nhiên, sử dụng lợi nhuận để đánh giá hiệu quả công

việc của các nhà quản lý có hai nhược điểm: (1) lợi nhuận chịu ảnh hưởng của phương pháp kế toán áp dụng (phương pháp kế toán khác nhau dẫn tới mức lợi nhuận khác nhau) và thường phản ánh không đầy đủ nỗ lực của các nhà quản lý (do nguyên tắc thận trọng trong kế toán nên lợi nhuận thường không được ghi nhận kịp thời); (2) trong nhiều trường hợp quyết định của nhà quản lý có thể không mang lại lợi nhuận trong ngắn hạn nhưng sẽ mang lợi lợi nhuận trong dài hạn. Lợi nhuận kế toán không phản ánh được yếu tố tiềm năng này.

Tiêu chí thứ hai thường được sử dụng để xác định mức thù lao của các nhà quản lý là dựa trên mức độ tăng giá trị doanh nghiệp, thể hiện ở mức tăng giá cổ phiếu. Phương pháp này khắc phục được hai nhược điểm của lợi nhuận kế toán vì giá cổ phiếu không phụ thuộc vào phương pháp kế toán áp dụng {2}, đồng thời giá trị cổ phiếu phản ánh thông tin về tiềm năng của doanh nghiệp cả trong ngắn hạn và dài hạn. Hơn nữa, mục tiêu của nhà đầu tư là tối đa hoá giá trị doanh nghiệp, vì vậy gắn thù lao của nhà quản lý với mức tăng giá cổ phiếu sẽ giúp đồng nhất hoá mục tiêu của nhà quản lý và nhà đầu tư, do đó hạn chế agency costs {3}. Tuy nhiên, cũng như lợi nhuận kế toán, cơ chế thù lao gắn với giá cổ phiếu cũng có những hạn chế. Giá trị cổ phiếu chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của các nhà quản lý. Ví dụ, những biến động của cả nền kinh tế khiến cho giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp biến động theo; sự không hoàn hảo của thị trường chứng khoán khiến cho giá trị cổ phiểu phản ánh không chính xác giá trị của doanh nghiệp. Nói cách khác, giá trị cổ phiếu không phải là một thước đo hoàn hảo cho mức độ nỗ lực của nhà quản lý. Như vậy, có thể thấy sử dụng lợi nhuận kế toán hay giá trị cổ phiếu để đánh giá hiệu quả công việc của các nhà quản lý đều có những ưu và nhược điểm. Liệu kết hợp cả 2 tiêu chí này có mang lại một kết quả tốt hơn? Holmstrom (1979) nghiên cứu vấn đề này và ch ra việc sử dụng đồng thời lợi nhuận kế toán và giá cổ phiểu mang lại kết quả tốt hơn sử dụng một trong 2 tiêu chí riêng lẻ. Trên thực tế hầu hết các công ty lớn ở những nước có thị trường chứng khoán phát triển đều sử dụng đồng thời hai chỉ tiêu này trong việc xây dựng cơ chế thù lao cho giám đốc điều hành.

Yêu cầu thứ hai đối với cơ chế thù lao là phải khuyến khích nhà quản lý đồng thời quan tâm đến lợi ích ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp. Cần lưu ý là cả lợi nhuận kế toán và giá trị cổ phiếu đều có thể bị phản ánh sai lệch trong ngắn hạn nếu nhà quản lý cố tình lợi dụng tình trạng thông tin không cân xứng để bóp méo thông tin về kết quả hoạt động của doanh nghiệp (earnings management). Earnings management có thể được thực hiện bằng cách thay đổi các chính sách kế toán áp dụng nhằm làm thay đổi bức tranh tài chính của doanh nghiệp, “đánh lừa” các nhà đầu tư (ví dụ: vốn hoá các chi phí không đủ điều kiện vốn hoá nhằm tăng lợi nhuận (WorldCom), không hợp nhất các công ty con nhằm che giấu các khoản nợ (Enron)). Earnings management cũng có thể được thực hiện bằng cách cố tình dàn xếp các giao dịch nhằm thay đổi kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong năm (ví dụ: để đạt kế hoạch doanh thu, các công ty sản xuất ôtô có thể công bố kế hoạch tăng giá bán xe đầu năm sau nhằm tăng số lượng xe bán ra cuối năm hiện tại; để tăng lợi nhuận năm hiện tại doanh nghiệp có thể giảm bớt chi tiêu cho nghiên cứu phát triển). Đặc điểm chung của các biện pháp earnings management này là làm tăng kết quả hoạt động kinh doanh năm hiện tại, nhưng sẽ làm giảm kết quả hoạt động trong tương lai (chi phí vốn hoá năm nay sẽ được ghi nhận vào chi phí năm sau; số xe bán ra tăng thêm trong tháng cuối năm nay sẽ làm giảm số xe bán ra năm sau; cắt giảm chi phí nghiên cứu phát triển có thể hạn chế những cơ hội đầu tư tốt trong tương lai). Kết quả là lợi ích của nhà đầu tư trong dài hạn bị tổn hại. Để ngăn chặn nguy cơ này, thông thường một phần thù lao của nhà quản lý sẽ được xác định theo kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một số năm (ví dụ: 3 năm liên tiếp) thay vì một năm

hiện tại. Một biện pháp nữa cũng thường được sử dụng là trả thù lao cho nhà quản lý bằng chính cổ phiếu, hoặc yêu cầu các nhà quản lý nắm giữ một tỷ lệ nhất định cổ phiếu của doanh nghiệp. Bằng cách đó nhà đầu tư khuyến khích nhà quản lý nỗ lực trong việc tăng giá trị của doanh nghiệp trong dài hạn.

Một yếu tố rất quan trọng nữa cần phải tính đến trong xây dựng một cơ chế thù lao là phải bảo đảm một mức độ rủi ro hợp lý đối với doanh nghiệp. Rủi ro luôn tiềm tàng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Do thù lao của nhà quản lý gắn với kết quả hoạt động của doanh nghiệp (lợi nhuận) và giá trị cổ phiếu nên thu nhập cũng biến động tỷ lệ thuận với các chỉ tiêu này. Như vậy, rủi ro của doanh nghiệp kéo theo sự không chắc chắn về mức thu nhập, chính là rủi ro mà nhà quản lý phải gánh chịu. Các nhà quản lý, cũng như những người bình thường, nói chung không ưa thích rủi ro (risk-averse). Vì vậy, cơ chế thù lao có thể ảnh hưởng tới hành vi của nhà quản lý. Nếu thù lao của nhà quản lý hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thì nhà quản lý có xu hướng hạn chế rủi do cho mình bằng cách từ bỏ những dự án có lợi nhuận tiềm năng cao nhưng mức rủi ro cũng cao để tập trung vào những dự án có mức lợi nhuận vừa phải nhưng ít rủi ro hơn. Điều này đi ngược lại mong muốn của nhà đầu tư (thường có xu hướng chấp nhận rủi ro cao hơn với mong muốn thu được lợi nhuận cao). Nguy cơ này có thể được hạn chế bằng cách trả cho nhà quản lý một mức lương tối thiểu (base salary), không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Tức là nhà quản lý sẽ được hưởng một mức thu nhập cố định nếu kết quả hoạt động trong năm đạt dưới mức tối thiểu nào đó. Nếu kết quả hoạt động vượt trên mức tối thiểu thì thu nhập sẽ tăng tỷ lệ thuận với kết quả hoạt động. Tuy nhiên, việc áp dụng lương cơ bản như vậy có thể khiến cho nhà đầu tư phải đối mặt với nguy cơ rủi ro quá cao (so với mức rủi ro mà nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận). Nhà quản lý, được hạn chế thiệt hại (tối thiểu cũng được hưởng mức lương cơ bản) trong khi không bị hạn chế lợi ích tối đa, sẽ có xu hướng lựa chọn những dự án có mức lợi nhuận tiềm năng cao (hứa hẹn thù lao cao) nhưng đồng thời mức rủi ro cũng rất cao. Ý thức được nguy cơ này, cùng với lương cơ bản thông thường các doanh nghiệp cũng xác định một mức thù lao tối đa. Khi mức thù lao thực tế của giám đốc (xác định theo kết quả hoạt động của doanh nghiệp) đạt tới mức tối đa này thì sẽ không có thưởng nữa {4}. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thường sử dụng một hội đồng chuyên trách (ccompensatiuon committee) như là một biện pháp kiểm soát rủi ro. Hội động này có trách nhiệm quyết định mức thù lao ối cùng cho nhà quản lý, dựa trên cơ sở đánh giá một số tiêu chí mang tính định tính (khả năng lãnh đạo, sáng kiến…), đồng thời rà soát lại các tiêu chuẩn định lượng để bảo đảm mức thù lao là hợp lý và công bằng. Trong nhiều trường hợp nếu hội đồng này xác định doanh nghiệp không đạt chỉ tiêu kế hoạch nhưng do những nguyên nhân khách quan chứ không phải do lỗi của nhà quản lý thì nhà quản lý vẫn có thể được thưởng cho những nỗ lực của mình.

Tóm lại, có thể thấy một cơ chế thù lao cho giám đốc hợp lý cần phải kết hợp được tối thiếu các yếu tố: có tính khuyến khích cao; kết hợp lợi ích ngắn và dài hạn; và bảo đảm mức rủi ro hợp lý cho nhà đầu tư. Ví dụ cụ thể về cơ chế thù lao cho giám đốc điều hành của tập đoàn máy tính IBM sẽ minh hoạ rõ hơn cho điều này. Ví dụ: Cơ chế thù lao cho giám đốc điều hành của tập đoàn IBM Cơ cấu thù lao của ông Palmisano, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của tập đoàn IBM, trong 3 năm 2003-2005 được tóm tắt trong bảng sau:

Nguồn: IBM Notice of 2006 Annual Meeting and Proxy Statement Chi tiết thù lao của ông Palmisano bao gồm hai thành phần chính:

- Thù lao ngắn hạn (lương, thưởng, thu nhập khác) dưới hình thức tiền mặt. Mức thù lao ngắn hạn được xác định dựa trên kết quả hoạt động hằng năm theo 3 tiêu chí lợi nhuận ròng, mức tăng trưởng doanh thu, và luồng tiền thuần. Mức độ quan trọng của từng tiêu chí thay đổi từng năm, phù hợp với mục tiêu của công ty. Năm 2005 trọng số của lợi nhuận ròng là 70%, mức tăng trưởng doanh thu là 20%, và dòng tiền là 10%. Thù lao ngắn hạn bao gồm 2 phần: lương cơ bản (base salary) không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của Công ty và thưởng (bonus) gắn với kết quả hoạt động của Công ty.

- Thù lao dài hạn được gắn với cổ phiếu, gồm có Quyền chọn mua cổ phiếu với thời gian đáo hạn 10 năm, Chương trình khuyến khích dài hạn gắn với kết quả hoạt động cho từng thời kỳ kéo dài 3 năm, và Cổ phiếu hạn chế với yêu cầu người nhận phải làm việc cho IBM trong 5 năm. Bằng cách đó lợi ích của Giám đốc Palmisano được gắn với lợi ích dài hạn của các cổ đông.

Mặc dù có các tiêu thức định lượng rõ ràng để xác định mức thù lao, nhưng mức thù lao cuối cùng của Giám đốc được quyết định bởi một Hội đồng chuyên trách (Executive Compensation and Management Resources Committee). Hội đồng này đánh giá và xác định mức thù lao của ông Palmisano dựa trên ba yếu tố: kết quả hoạt động của tập đoàn, tình hình phát triển thị phần của IBM, và mức độ phức tạp tiềm tàng của công việc lãnh đạo IBM. Ngoài ra, để xác định một mức thù lao hợp lý IBM còn tham gia vào nhiều chương trình khảo sát thù lao cho các giám đốc (executive compensation benchmarking surveys), bảo đảm chế độ thù lao của IBM đủ sức cạnh tranh để giữ được nhân viên quản lý của mình trước sức hút của các đối thủ cạnh tranh. Lưu ý là IBM không xác định cụ thể mức thù lao tối đa, nhưng việc xác định mức thù lao dựa theo các benchmarking surveys chính là một cách giới hạn trên mức thù lao.

Tóm lại, có thể thấy cơ chế thù lao của IBM có tính khuyến khích rất cao (75% thu nhập hằng năm là tiền thưởng, lương cơ bản chỉ chiếm 25%); hài hoà giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn (thù lao dài hạn chiếm khoảng 45% tổng thù lao trong năm 2005); đồng thời, việc áp dụng mức lương tối thiểu và sự tham gia của Hội đồng chuyên trách bảo đảm sự hài hoà giữa lợi ích và rủi ro cho cả nhà

đầu tư và giám đốc điều hành. {2}Phương pháp kế toán được cho là không ảnh hưởng tới giá trị doanh nghiệp vì không làm thay đổi dòng tiền của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy thay đổi phương pháp kế toán có thể ảnh hưởng tới giá cổ phiếu (Scott, 2006). {3}Cần lưu ý mục tiêu của nhà đầu tư là “tối đa hoá giá trị doanh nghiệp” chứ không phải “tối đa hoá giá trị cổ phiếu”. Không phải lúc nào giá cổ phiếu cao cũng tốt cho nhà đầu tư (Jensen, 2004) {4}Cơ chế này cũng có hạn chế là khi mức thù lao đã đạt đến mức tối đa thì nhà quản lý sẽ không muốn nỗ lực hơn nữa, hoặc cố tình trì hoãn lợi nhuận sang các năm sau (Healy, 1985) Trần Đức Nam. (2006).Trả thù lao cho giám đốc thế nào là hợp lý? (Phần 2). Bản quyền kiemtoan.com.vn/modules.php?name=News&file=article&sid=880]
minhhoang (08/04/2007 12:20 AM) Có ích: 4/4

Có ích

Không có ích

Chí phí đại diện là loại chi phí phát sinh khi một tổ chức gặp phải vấn đề về sự thiếu đồng thuận giữa mục đích của người quản trị và người sở hữu và vấn đề thông tin bất cân xứng. Vấn đề thông tin bất cân xứng tồn tại giữa người sở hữu và CEO là một dạng điển hình của dạng chi phí này. Người đại diện (nhà quản trị doanh nghiệp) chính là người làm việc thay mặt cho người sở hữu, nói cách khác là các cổ đông của doanh nghiệp. Thông thường cổ đông của doanh nghiệp không hoặc rất ít có điều kiện giám sát thường xuyên từng hành động của người quản trị. Đây là một điểm dễ làm phát sinh tình trạng thông tin bất cân xứng và tiếp tục gây ra các vấn đề rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch. Theo Ross và Westerfield (tác giả cuốn Corporate Finance, phiên bản thứ 7): khi doanh nghiệp mang một khoản nợ, sẽ có xung đột lợi ích phát sinh giữa cổ đông (người nắm giữ cổ phiếu) và trái chủ (người nắm giữ trái phiếu) của doanh nghiệp (nếu doanh nghiệp có phát hành trái phiếu). Xung đột phát sinh ở chỗ người sở hữu (cổ đông công ty) thường muốn theo đuổi những chiến lược hoạt động có tính "ích kỷ", điều này làm phát sinh chi phí đại diện (agency cost). Những chiến lược "ích kỷ" này thường tốn kém do chúng làm giảm giá trị thị trường của toàn doanh nghiệp, chẳng hạn một chiến lược kinh doanh với mức độ rủi ro cao; hoặc một chiến lược nhắm vào đầu tư những tài sản có độ rủi ro thấp hơn kỳ vọng của trái chủ (trái chủ với mức đầu tư của mình vào doanh nghiệp, ở dạng cho vay, có những kỳ vọng riêng về mức độ rủi ro trong hoạt động đầu tư của doanh nghiệp để đảm bảo lợi ích tối đa cho mình) - còn gọi là underinvestment problem; hoặc cũng có thể là chiến lược nhằm vắt kiệt lợi ích mà tài sản hiện tại của công ty có thể sinh ra phục vụ cho mục đích của cổ đông - còn gọi là milking the property hay milking strategy. Khi có quá nhiều "diễn viên" trên cùng một sân khấu và mỗi người diễn với một mục đích khác nhau thì điều này có thể làm phát sinh những hành động sai lệch mà để điều chỉnh lại sẽ rất tốn kém. Trong doanh nghiệp, có nhiều cơ chế có thể được áp dụng để hạn chế tình trạng bất đồng thuận giữa lợi ích của đại lý và lợi ích của người sở hữu, chẳng hạn: trả hoa hồng, trả lợi ích trên thành công đầu việc, chia sẻ lợi nhuận, trả tiền công theo hiệu quả công việc, áp dụng các hình thức theo dõi tạo khả năng phạt, cho nghỉ việc nếu không làm đúng yêu cầu,... Sơ lược về một số khái niệm: Thông tin bất cân xứng (asymmetrical information hoặc information asymmetry) Trong kinh tế học nói chung, tình trạng thông tin bất cân xứng phát sinh khi trong một giao dịch, một trong các bên tham gia có nhiều thông tin hơn hoặc có thông tin tốt hơn (các) bên còn lại. Mô hình thông tin bất cân xứng trong kinh tế học giả định rằng có ít nhất một bên tham gia giao dịch phải có thông tin ở mức độ tốt hơn (các) bên còn lại. Hoặc cũng có thể là trường hợp một bên tham gia có khả năng áp đặt, tác động hoặc phả ứng lại một hay một số điều khoản bị phá vỡ trong thỏa thuận mà (các) bên còn lại ko có năng lực đó.

Thông tin bất cân xứng là nguồn gốc hình thành hai vấn đề "Rủi ro đạo đức" và "Lựa chọn đối nghịch". Rủi ro đạo đức (moral hazard), xét trên góc độ kinh tế học, là khái niệm phản ánh khả năng việc tái phân bổ rủi ro (chẳng hạn như trong hợp đồng bảo hiểm - rủi ro được chuyển từ người được bảo hiểm sang người nhận bảo hiểm - công ty bảo hiểm) sẽ làm thay đổi hành vi của người tham gia/có liên quan. Chẳng hạn khi một người sở hữu xe hơi và mua bảo hiểm cho xe của mình khi bị trộm thì bản thân người đó sẽ giảm đi ý thức khóa xe so với khi họ chưa có bảo hiểm. Vấn đề này liên quan đến cơ chế thông tin bất đối xứng ở điểm có một bên không thể hoặc có rất ít khả năng giám sát, thu nhận những thông tin có tính chất quyết định tới giao dịch. Ở ví dụ về bảo hiểm, hiện tượng này thể hiện qua khả nặng hạn chế trong việc giám sát và thu nhận thông tin của công ty bảo hiểm về hành vi và hoạt động của người được bảo hiểm. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của ngành bảo hiểm, thuật ngữ rủi ro đạo đức ngày nay được phân thành hai nhóm là: (i)rủi ro đạo đức hành vi (vẫn sử dụng moral hazard), và (ii) rủi ro đạo đức ý thức (morale hazard). Theo sự phân biệt này, "rủi ro đạo đức hành vi" sẽ được coi là trái đạo đức và vi phạm pháp luật, vi phạm hợp đồng bảo hiểm. Còn những thay đổi trong thái độ, quan điểm được gọi là rủi ro đạo đức ý thức, không thuộc phạm vi xử lý vi phạm đạo đức hay quy định hợp đồng. Với rủi ro lựa chọn đối nghịch, có một phía thiếu thông tin và kiến thức phục vụ cho quá trình đàm phán thỏa thuận chung hay hợp đồng giao dịch. Nó khác với rủi ro đạo đức ở chỗ rủi ro lựa chọn đối nghịch phát sinh khi đàm phán để đạt được thỏa thuân công bằng, còn rủi ro đạo đức phát sinh khi một bên không đảm bảo thực hiện thỏa thuận từ trước hoặc có năng lực tác động, điều chỉnh hoặc phản ứng với một hoặc một số điều khoản bị sai lệch khỏi thỏa thuận ban đầu trong khi (các) bên còn lại ko thể làm được. Rủi ro lựa chọn đối nghịch phát sinh khi có tình trạng thông tin bất đối xứng giữa các bên khi bắt đầu tham gia và một giao dịch. Lấy ví dụ thị trường điện thoại di động cũ. Có những điện thoại cũ chất lượng tốt và dĩ nhiên có những điện thoại cũ chất lượng kém. Vấn đề ở chỗ người mua không thể biết trước khi vào cửa hàng mua một chiếc điện thoại cũ thì cái nào là tốt và cái nào là không tốt. Điều này làm cho người mua buộc phải giả định một mức chất lượng trung bình, từ đó tự đưa ra một mức giá trung bình mà họ chấp nhận mua. Việc này dẫn đến một kết quả khác là trong quá trình giao dịch, những chiếc điện thoại cũ dù còn rất tốt cũng không thể được bán với đúng giá cao thích hợp, còn những chiếc rất kém lại có thể được bán với mức giá cao hơn giá trị thực của nó. Hiện tượng này được Giáo sư George Akerlof mô tả trong nghiên cứu năm 1970 của mình "The Market for Lemons: Quality Uncertainty and the Market Mechanism". Akerlof, Michael Spence, và Joseph Stiglitz cùng nhận giải Nobel Kinh tế năm 2001 cho nghiên cứu của mình liên quan đến vấn đề thông tin bất cân xứng. Về tài liệu, tôi thấy chi cần search google từ khóa < agency cost + .pdf > hoặc < asymmetrical information + .pdf> sẽ ra rất nhiều tài liệu có thể download về để nghiên cứu. Một vài dòng trao đổi, xin được chia sẻ cùng các bạn Saganors.

Vấn đề xung đột lợi ích nhóm trong doanh nghiệp
( Bình chọn: 4 -- Thảo luận: 3 -- Số lần đọc: 5288)

Trong hoạt động của doanh nghiệp, tồn tại hai nhóm liên quan mật thiết: nhóm cung cấp nguồn lực tài chính và nhóm điều hành doanh nghiệp. Bảo đảm và phân chia quyền lợi giữa hai nhóm này là nguyên nhân phát sinh xung đột lợi ích trong doanh nghiệp. Chủ sở hữu, nhà đầu tư... lo ngại về việc thất thoát và sử dụng kém hiệu quả nguồn tài chính đã cung cấp cho doanh nghiệp. Do vậy, khi đã bỏ vốn vào doanh nghiệp, nhóm này có xu hướng giành quyền kiểm soát (control) mọi hoạt động. Ban giám đốc, các vị trí điều hành chủ chốt... bị hạn chế và khó linh hoạt với các quyết định điều hành khi chịu quá nhiều kiểm soát từ các nhà cung cấp tài chính. Xung đột cũng nằm trong việc phân chia phần lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra. Chủ sở hữu và nhà đầu tư, một cách hợp lý, hưởng phần lớn lợi nhuận. Đội ngũ điều hành có thể không hài lòng với điều này khi lý luận rằng ngoài lượng tư bản ban đầu bỏ ra, nhóm cung cấp tài chính không còn đóng góp gi thêm cho doanh nghiệp. Trong khi đó, chính họ, nhưng người quản lý với năng lực và danh tiếng của mình, đang

ngày đêm gắn bó với hoạt động vận hành và làm nên thành công cho doanh nghiệp. Ngược lại, các nhà đầu tư tin rằng họ đã chấp nhận rủi ro lớn ở khi bỏ vốn vào doanh nghiệp. Các cơ chế giải quyết mối xung đột lợi ích giữa các nhóm trong doanh nghiệp (corporate governance mechanism) đã được phát triển và sử dụng hiệu quả tại: Mỹ, Đức, Nhật, và Anh. Với các nền kinh tế kém phát triển, và/hoặc đang trong giai đoạn chuyển đổi, gần như chưa hề xuất hiện cơ chế giải quyết này. Giải quyết bất hợp lý xung đột lợi ích giữa nhóm sở hữu và nhóm điều hành là nguyên nhân dẫn tới: tình trạng thất thoát tài sản doanh nghiệp trong quá trình tư nhân hóa tại Nga; một số tập đoàn Hàn Quốc (chaebol) bán lại các nhà máy thành viên cho người thân của lãnh đạo điều hành với giá rẻ; cán bộ quản lý cung cấp sản phẩm của doanh nghiệp đang điều hành cho doanh nghiệp của riêng mình hoặc thân cận với mình với nhiều điều kiện ưu đãi... (Andrei Shleifer, Robert W. Vishny, 1997. A Survey of Corporate Governance. The Journal of Finance, Vol. 52, No. 2, (Jun. , 1997), pp. 737-783). Cạnh tranh trên thị trường sẽ buộc doanh nghiệp tìm mọi cách giảm thiểu chi phí sản xuất. Một trong các giải pháp là tìm tới các nguồn tài chính có giá rẻ hơn. Qua đó, xung đột lợi ích giữa hai nhóm sẽ được giải quyết. Tuy nhiên, trông chờ vào sự tự điều chỉnh nhờ cơ chế thị trường là không khả quan. Giải pháp phải là của chính doanh nghiệp. Giải pháp có thể áp dụng gồm:



   



Thực thiện hợp đồng/cam kết khuyến khích (incentive contract) dài hạn và gắn bó quyền lợi của nhóm quản lý với quyền lợi của nhóm sở hữu. Để đảm bảo hiệu quả của cách làm này, các biện pháp đo lường kết quả/chất lượng các quyết định quản lý là rất quan trọng. Công cụ thực hiện có: tiền lương (salary), tiền thưởng trên kết quả kinh doanh (performance bonus), quyền chọn mua lại cổ phần hiện tại (stock option), quyền mua cổ phần mới (stock warrant). Trong nhiều trường hợp, đội ngũ quản lý của doanh nghiệp rất có danh tiếng và thành công. Khi đó, nhiều nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn vào doanh nghiệp mà không có bất kỳ đòi hỏi nào về quyền kiểm soát điều hành doanh nghiệp. Xây dựng cơ chế bỏ phiếu (voting scheme) đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư nhỏ cũng như cho phép nhân sự điều hành chủ chốt được tham gia bỏ phiếu ngay cả khi không nắm giữ cổ phần, và/hoặc áp dụng tỉ lệ hợp lý với phiếu bầu của nhân sự điều hành chủ chốt. Tập trung sở hữu doanh nghiệp vào một vài cổ đông lớn (mỗi cổ đông sở hữu từ 10-20%, có thể gồm cả nhân sự điều hành chủ chốt). Doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phần (convertible bond) vừa như công cụ huy động vốn, vừa giải quyết xung đột trong quản trị doanh nghiệp. Khi nhóm quản lý hoạt động yếu kém và có thể không trả được nợ, người sở hữu trái phiếu có thể trở thành cổ đông và có quyền tham gia, kiểm soát hoạt động điều hành sản xuất, kinh doanh. Ngoài trái phiếu chuyển đổi, còn có thể sử dụng hợp đồng vay nợ có điều khoản qui định quyền kiểm soát điều hành trong trường hợp kết quả kinh doanh xấu. LBOs (leveraged buy outs) là giao dịch trong đó doanh nghiệp sau khi đã chuyển sang hình thức cổ phần rộng rãi bị mua lại (với tỷ lệ cổ phần khống chế) bởi nhóm các nhà đầu tư mới, thường là chính người chủ cũ, hay các nhà quản lý cũ, ngân hàng, hay tổ chức tài chính, đầu tư. Qua cách này, các nhà đầu tư mới tăng quyền kiểm soát doanh nghiệp của mình và thậm chí còn thu hồi một phần tiền trước đây họ đã đầu tư vào doanh nghiệp.

Thành công của các hệ thống quản trị xung đột lợi ích doanh nghiệp tại Mỹ, Nhật, Đức nhấn mạnh sự kết hợp của hệ thống pháp lý bảo vệ lợi ích nhà đầu tư và vai trò của các nhà đầu tư lớn. Đây là điểm khác biệt lớn nhất khi so sánh với thực tế quản trị tại các quốc gia khác. Tại phần lớn các quốc gia, quyền lợi của nhà đầu tư được bảo vệ rất hạn chế, các doanh nghiệp bế tắc trong mô hình quản trị gia đình, và chịu kiểm soát từ bên trong bởi chính đội ngũ điều hành (trường hợp phổ biến: người sở hữu lớn đồng thời là người phụ trách điều hành) dẫn tới năng lực hạn chế trong tiếp cận các nguồn lực tài chính từ bên ngoài. Dù các mô hình Mỹ, Đức, Nhật được coi là thành công, câu trả lời cho một mô hình quản trị xung đột tối ưu là không có. Mô hình phù hợp có thể được xây dựng và phát triển trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng đặc tính, kế hoạch phát triển dài hạn, cũng như các yếu tố khác của doanh nghiệp. Trần Trí Dũng (Tổng hợp

Xuất xứ và mục đích của quản trị xung đột (corporate governance)
( Bình chọn: 8 -- Thảo luận: 5 -- Số lần đọc: 8991)

Bài của GS. Eric de Keuleneer - Đăng lần đầu trên SAGA ngày 22/12/2006... Đăng lại nhân sự kiện TTCKVN và ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10/2007. Trong nền kinh tế thị trường, mọi tác nhân đều theo đuổi lợi ích riêng và một “bàn tay vô hình” trong thị trường cạnh tranh đảm bảo mục tiêu này sẽ được chuyển thành hiệu quả tối ưu và tạo ra của cải với hàng hóa thông thường. Chọn lọc Darwin và cạnh tranh là động cơ kinh tế đầy sức mạnh; hợp tác cũng vậy. Hành vi của các công ty trong thị trường cạnh tranh cho phép cả hai cơ chế cùng phát triển. Alfred Chandler (1977) nối tiếng với phát biểu rằng bàn tay vô hình của quản lý hiệu quả hơn bàn tay vô hình của thị trường, minh chứng bằng sự đi lên của các công ty trong nền kinh tế hiện đại. Quản trị doanh nghiệp (corporate governance) là tập hợp các quy tắc, điều luật hỗ trợ và khuyến khích các công ty áp dụng chế độ quản lý ngăn nắp và độc lập. Ai là người chăm sóc lợi ích của công ty? Công ty không do chính chủ sở hữu quản lý dễ gặp phải bất ổn về tổ chức: những người quản lý công ty được yêu cầu đặt lợi ích của công ty cao hơn lợi ích của chính họ và hai lợi ích này có thể không gặp nhau. Đây là điều mà các nhà kinh tế vẫn gọi là “vấn đề đại diện”: người quản lý công ty là người đại diện cho chủ sở hữu, và khi lợi ích của người đại diện được đặt lên trên, lợi ích thực sự của công ty sẽ bị đe dọa. Một vài cơ chế nỗ lực bằng cách này hay cách khác dung hòa các lợi ích trên nhưng sự khác biệt vẫn luôn tồn tại. Tất nhiên, các cổ đông có thể kiểm soát đội ngũ quản lý, nhưng lợi ích của chính họ cũng có thể xung đột với lợi ích của công ty. Vấn đề về cổ đông không nảy sinh khi một người nắm giữ 100% cổ phần, bởi nếu làm điều gì đó sai trái: anh ta sẽ làm một việc có hại cho chính mình, và do đó trên thực tế rất hiếm khi điều này xảy ra. Vấn đề là cổ đông lớn có thể kiểm soát công ty trong khi chỉ nắm giữ 51% cổ phần hay thậm chí là ít hơn nếu các cổ đông khác yên lặng (thường với trường hợp công ty niêm yết); nếu họ hành động đi ngược lại lợi ích của công ty, bản thân họ chỉ phải gánh chịu thiệt hại theo tỉ lệ phần trăm nắm giữ. Đặc biệt, trong một số trường hợp, nhờ cấu trúc tài chính kiểu kim tự tháp hoặc cổ phiếu có quyền bỏ phiếu ưu đãi, phần trăm kiểm soát lớn hơn tỷ lệ sở hữu. Thậm chí còn có thể xấu hơn khi người đại diện cổ đông không nắm giữ cổ phần của công ty nhưng lại có thể hưởng thụ 100% lợi ích và không phải chịu bất kỳ tổn thất nào; đây là trường hợp những người làm việc cho ngân hàng, công ty hoặc cơ quan nhà nước có ảnh hưởng lớn tới công ty: họ có thể yêu cầu các loại ưu đãi cho bản thân và bạn bè với chi phí do công ty gánh chịu. Hiện tượng này được gọi là “vấn đề lạm dụng của cổ đông” Bởi vậy, các vai trò quan trọng của Ban Giám đốc, gồm cả những vị trí độc lập và không tham gia điều hành, nên do những người sở hữu phần lớn trong công ty đảm nhận. Với sự hỗ trợ của các kiểm toán viên, phụ trách theo dõi các tài khoản của đội ngũ quản lý, các thành viên này có thể vừa giám sát các vị trí quản lý vừa kiềm chế các cổ đông lớn lạm dụng quyền lực. Phát triển mô hình quản lý ở Mỹ Sau một giai đoạn phát triển hoang dã tới cực điểm với sự đầy rẫy các “vấn đề lạm dụng của cổ đông” trong những năm 1920, mô hình các công ty ở Mỹ bắt đầu được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của các qui định trong những năm 1930; các nhà quản lý chuyên nghiệp, chủ yếu là Giám đốc điều hành (Chief Executive Officer - CEO), đảm nhận vai trò trung tâm (do đó mà Berle và Means đặt ra thuật ngữ “managerial company” (tạm dịch là công ty được quản lý chuyên nghiệp) vào năm 1932), chịu sự kiểm soát của Hội đồng Quản trị, với các thành viên được lựa chọn hầu như không chịu bất kỳ ảnh hưởng nào từ phía cổ đông. Hệ thống này vận hành cho tới những năm 1970 khi “vấn đề đại diện” nổi lên dữ dội và dẫn theo làn sóng mua lại công ty đối thủ vào những năm 1980.

Theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, dần tăng lên từ những năm 1980, được sử dụng như thước đo hiệu quả của công ty và hạn chế “vấn đề đại diện”. Điều này cũng dẫn tới tình trạng thái quá khi động lực của các CEO và bộ phận quản lý gắn kết quá mức với lợi nhuận trong ngắn hạn. Việc sử dụng quyền chọn mua cổ phiếu, mang lại khoản tiền lớn trong trường hợp giá cổ phiếu tăng, đi liền với tình trạng thái quá này; trong nhiều trường hợp, nó mang lại các khoản lợi nhuận trời cho và thúc đẩy các nhà quản lý tập trung vào giá cổ phiếu và “thông tin quản lý” (đọc: tuyên truyền và thủ thuật kế toán) làm tăng giá cổ phiếu, trên thực tế là khiến họ trở nên tham lam. Đặc trưng nổi bật về sự thống trị của các nhà quản lý chuyên nghiệp trong mô hình quản lý tại Mỹ vẫn được duy trì mặc dù từ những năm 1980, đối tượng này đã bắt đầu phải chịu áp lực từ các cổ đông. Mục tiêu lợi nhuận và hơn thế nữa là giá cổ phiếu do vậy trở thành động lực chính của các nhà quản lý; thuật ngữ “shareholder value” (tạm dịch là “giá trị cổ đông”) tóm tắt các mục tiêu của công ty. Điều này làm tăng tinh thần doanh nghiệp của các nhà quản lý và mang lại hiệu quả cho công ty, nhưng các nhà quản lý cũng ngày một tham lam hơn. Một số công ty đã có cách hành xử không tốt với người làm công, môi trường, khách hàng v.v… Một liên kết giữa các CEO và các ngân hàng đầu tư, cả hai đều được thúc đẩy bởi tính tham lam, được hình thành và dẫn tới tình trạng làm giá và thao túng tràn lan trên thị trường chứng khoán giai đoạn 1995-2002. Mô hình thay thế Mô hình thay thế cho cái gọi là “tối đa giá trị cổ đông” (shareholders value maximization) đã được tìm kiếm trong một thời gian . Mô hình được đưa ra là “tối đa giá trị các bên tham gia mật thiết” (stakeholders value maximization) với cơ sở lý thuyết đi ngược lại thời điểm những năm 1930 . Dù còn mang nặng tính lý thuyết do chưa chỉ ra được các mục tiêu rõ ràng, dễ dàng xác định và giám sát như lợi nhuận kinh tế nhưng mô hình này mở ra hướng thảo luận về các giá trị tương ứng giữa hai mô hình. Trong thực tiễn, mô hình đầu tiên vẫn được sử dụng nhiều hơn. Việc xác định sắc thái mục tiêu của công ty tùy thuộc vào Hội đồng Quản trị. Hệ thống thị trường dựa trên phân tích thị trường sẽ biến đổi việc theo đuổi mục tiêu cá nhân của các tác nhân thành các hàng hóa thông thường; Adam Smith là người đầu tiên làm nổi bật điểm này nhưng ông cũng nhấn mạnh sự khác biệt giữa việc theo đuổi lợi ích bản thân một cách tích cực và tính tham lam tiêu cực. Ai giám sát hệ thống? Vì thế, quản trị xung đột là xác định và giám sát cách thức trong đó hàng loạt tác nhân trong và ngoài công ty được thúc đẩy làm việc vì lợi ích của công ty. CEO được giám sát bởi Hội đồng Quản trị, và các thành viên của Hội đồng Quản trị chịu sự giám sát của các cổ đông. Cổ đông tốt do vậy có vai trò quan trọng. Với công ty niêm yết, nhiều cổ đông nhỏ không tham gia bỏ phiếu và một số cổ đông lớn có thể tận dụng ưu thế này và quyền lực của họ để lạm dụng công ty. Vì thế, nhiều đạo luật như ban đại diện và quá trình lựa chọn chuyên nghiệp hoá được sử dụng (gần như mang tính hệ thống tại Anh và Mỹ) để “hướng dẫn” việc bổ nhiệm các Giám đốc không tham gia điều hành tại các công ty niêm yết, và trên thực tế, hạn chế ảnh hưởng của cổ đông trong quá trình lựa chọn này. Hai loại cổ đông lớn thường có tác động tích cực tới công ty là: (i) sáng lập viên của công ty và người thân trong gia đình họ, thường ưu tiên lợi ích dài hạn của công ty và (ii) người quản lý tài sản chuyên nghiệp có khả năng giám sát với mức rủi ro lạm dụng thấp. Các điều luật và nguyên tắc là cần thiết để ngăn chặn việc lạm dụng của các cổ đông; đó là ưu tiên hàng đầu trong các nguyên tắc quản trị xung đột theo truyền thống Anglo-Saxon, với rủi ro về “vấn đề đại diện” chưa được kiểm tra.Ở phần lớn các quốc gia còn lại trên thế giới, quản trị xung đột truyền thống thường ưu ái các cổ đông lớn, đi liền với rủi ro về lạm dụng của cổ đông. Có một sự hội tụ toàn cầu về hệ thống AngloSaxon do hệ thống này dường như hiệu quả hơn, nhưng ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới, luôn có một làn sóng mạnh mẽ cho rằng quản trị xung đột không chỉ có luật và nguyên tắc mà còn là lựa chọn và khuyến khích các cá nhân có khả năng và nguyện vọng làm việc hết mình và tài năng quản lý, giám sát công ty với mức lương và phần thưởng xứng đáng. Bài học nào cho Việt Nam? Việt Nam có thể tìm được các ví dụ tốt và xẩu ở đâu? Các quốc gia như Hồng Kông, Singapore, Thái Lan có thể được nhắc đến với truyền thống doanh nghiệp. Trung Quốc hưởng lợi lớn từ nguồn lực do các doanh nhân Hoa kiều cung cấp, lý giải cho sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp tại quốc gia này. Tại các quốc gia trên khuôn khổ cho hoạt động của thị trường chứng khoán đều được chú trọng phát triển trong

nhiều năm qua, đôi khi là dưới tác động từ bên ngoài. Nhật Bản và Hàn Quốc có các tập toàn thương mại lớn trong một thời gian dài, đây là điểm khác biệt của hai trường hợp này. Việt Nam có khu vực sở hữu nhà nước lớn và có lẽ không nên chỉ quan tâm tới việc tư nhân hóa thật nhanh mà còn cần tránh lặp lại các sai lầm ở Nga, nơi việc tư nhân hóa quá sớm đã dẫn tới các tài sản thuộc sở hữu nhà nước bị bán với giá rẻ và làm nổi lên tầng lớp các nhà tư bản tham lam và không quan tâm tới các hàng hóa thông thường. Hình thành tích cực cơ chế thị trường đúng đắn, đội ngũ kiểm toán viên tốt, hình thành tầng lớp doanh nhân bản địa, các nhà quản lý tài sản chuyên nghiệp, tăng số lượng các nhóm cá nhân có khả năng đảm nhiệm vai trò thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành… tất cả đều là chuẩn bị cần thiết trước khi tiến trình tư nhân hóa thông qua thị trường chứng khoán được triển khai với qui mô lớn. Eric de Keuleneer Solvay Business School The University of Brussels 21 Ave. F.D. Roosevelt, B-1050 Brussels, Belgium

Hệ thống quản trị và kiểm soát xung đột trong doanh nghiệp
( Bình chọn: 8 -- Thảo luận: 1 -- Số lần đọc: 6370) Mối quan tâm đến Corporate Governance hình thành từ thế kỷ 19 khi những ràng buộc được gỡ dần và ban quản trị công ty có thể thực hiện công việc của mình mà không nhất thiết cần tới sự đồng thuận hoàn toàn của tất cả các cổ đông. Điều này góp phần vào sự sụp đổ của phố Wall năm 1929 và làm dấy lên nhiều tranh luận xung quanh vấn đề quản trị và sở hữu.

Sự ra đời của ngày càng nhiều các tập đoàn lớn và hoạt động đầu tư trên quy mô toàn cầu dẫn đến thực tế người sở hữu thường không phải là người trực tiếp điều hành. Điều này tạo ra khoảng cách giữa những người sở hữu thực và những người được thuê để đứng ra điều hành – những Tổng Giám đốc hay Giám đốc Điều hành. Quyền lực của người được thuê làm chủ ngày càng lớn. Xung đột lợi ích phát sinh khi người sở hữu cảm thấy người họ đang thuê không làm vì lợi ích của họ. Quả bom corporate governance thực sự nổ cùng với khủng hoảng Châu Á 1997 và hàng loạt các vụ sụp đổ của các tên tuổi như Enron, Worldcom,… đầu thế kỷ 21. Corporate Governance (CG) đang thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng vì tầm quan trọng rõ rệt của chủ đề này đối với sức khỏe của doanh nghiệp và sự lành mạnh của xã hội nói chung. Tuy nhiên, bản thân khái niệm CG lại được định nghĩa mờ nhạt và dễ nhầm lẫn, vì lý do cũng rất tự nhiên là CG bao trùm lên một số lớn các hiện tượng kinh tế khác biệt. Kết cục là nhiều người khác nhau đã đi tới nhiều định nghĩa khác nhau về CG. Mỗi người cố gắng đưa ra một loại định nghĩa phản ánh mối quan tâm riêng của cá nhân về tác động và ảnh hưởng của CG trong lĩnh vực của mình. Định nghĩa Corporate Governance Ở mức độ cơ bản nhất, những vấn đề thuộc CG phát sinh khi có một nhà đầu tư bên ngoài muốn tham gia điều khiển theo cách khác với những nhà quản lý hiện tại. Sự phân tán trong quyền sở hữu góp phần làm khuếch đại vấn đề này, nó làm gia tăng các xung đột lợi ích giữa những người có lợi ích từ doanh nghiệp và kích thích những hành động vì lợi ích cá nhân của nhà đầu tư. Trong tiếng Việt, CG cũng rất khó có được một chữ nghĩa chuẩn xác. Chúng ta có thể tạm gọi nó là Hệ thống quản trị và kiểm soát xung đột, hay thay chữ hệ thống bằng "cơ chế". (Có thể tham khảo một số định nghĩa về CG tại đây. Thành phần của hệ thống? Tham gia vào CG gồm đầu tiên là các cá nhân và nhóm có năng lực điều chỉnh hoạt động doanh nghiệp (như CEO, ban giám đốc, điều hành, và cổ đông). Những nhóm có liên quan lợi ích mật thiết khác tham gia trong CG gồm có các nhà cung, người lao động, tổ chức cấp tín dụng, khách hàng và công chúng nói chung. Ban giám đốc là lực lượng có vai trò chính trong CG, chịu trách nhiệm với các chính sách, chiến lược phát triển và giám sát chung. Các bên tham gia khác đều có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp từ hiệu quả vận hành của tổ chức. Họ trao quyền cho những nhân sự quản lý để ra quyết định và triển khai công việc vì lợi ích chung tốt nhất. Như thế có thể thấy hệ thống CG được hình thành nhằm làm thống nhất động lực hành vi của những nhà

quản lý với các bên có lợi ích liên quan của doanh nghiệp. Động lực cơ bản để một cá nhân ra quyết định có tham gia vào một tổ chức hay không thể hiện qua niềm tin họ sẽ nhận được phần chia sẻ công bằng từ lợi ích của toàn tổ chức. Nếu một phía nào đó nhận được nhiều hơn mức công bằng, động lực này biến mất và là nguyên nhân dẫn đến sụp đổ của toàn tổ chức. Nguyên lý đảm bảo một hệ thống CG vận hành tốt Những nguyên lý cơ bản bao gồm có trung thực, tin tưởng, liêm khiết, mở, hướng đến hiệu quả vận hành chung, trách nhiệm rõ ràng, tôn trọng lẫn nhau và cùng cam kết vào tổ chức. o Khái niệm thể hiện hệ thống quản trị và kiểm soát xung đột trong toàn doanh nghiệp o Tham gia vào hệ thống này có tất cả nhưng bên liên quan về lợi ích với doanh nghiệp o Các Giám đốc điều hành và cổ đông lớn là những người có vai trò vai trò quan trọng nhất trong hệ thống này o Vấn đề cơ bản của hệ thống là xung đột lợi ích o Để quan trị tốt cần có vai trò của những chuyên gia và bên thứ ba độc lập. Những điều này thể hiện qua: o Quyền và quy tắc ứng xử công bằng giữa các cổ đông; o Quyền lợi của các bên liên quan mật thiết; o Vai trò và trách nhiệm của ban giám đốc; o Hệ thống quy chuẩn đạo đức ứng xử và tinh thần liêm khiết trong công việc; o Thông tin công bố rộng rãi và minh bạch. Để đảm bảo những tiêu chuẩn trên, hoạt động của hệ thống CG sẽ có những nội dung cơ bản: o Giám sát quá trình chuẩn bị các báo cáo tài chính; o Điều khiển nội bộ và sự tham gia của đơn vị kiểm toán độc lập; o Đánh giá điều chỉnh công bằng lợi ích của CEO và các nhân sự điều hành cao cấp; o Các quy định về việc chỉ định cá nhân vào vị trí trong ban giám đốc; o Các nguồn lực mà giám đốc có thể sử dụng để thực hiện nhiệm vụ của mình; o Giám sát và quản trị rủi ro; o Chính sách cổ tức Sự kiện Enron Enron là công ty năng lượng có trụ sở tại Houston, Texas, Mỹ, từng có 21,000 nhân viên và nằm trong những tên tuổi hàng đầu thế giới về các lĩnh vực điện, khí gas, bột giấy và giấy, truyền thông; với tổng doanh thu công bố năm 2000 là 111 tỉ đô-la Mỹ. Enron được tạp chí Fortune trao tặng danh hiệu “Doanh nghiệp năng động nhất nước Mỹ” trong sáu năm liên tiếp. Năm 2001, người ta phát hiện toàn bộ báo cáo tài chính của Enron được làm giả mạo qua một hệ thống kế toán được thiết kế có tổ chức, rất hệ thống và “đầy tính sáng tạo”. Điều này có được nhờ sự thông đồng giữa Enron với công ty kiểm toán của nó là Arthur Andersen- công ty đứng thứ năm thế giới, chỉ sau bốn đại gia kiểm toán thế giới . Kinh nghiệm từ Enron Sau sự kiện Enron, thị trường chứng khoán nhiều nước, đặc biệt là thị trường chứng khoán Mỹ đã phải nghiêm túc nhìn nhận lại hệ thống Corporate Governance ở các công ty niêm yết. Hai vấn đề chính được xem xét là (i) vấn đề về thành viên hội đồng quản trị (HĐQT) độc lập và (ii) vấn đề về kiểm toán viên độc lập. Vấn đề thành viên HĐQT độc lập được cân nhắc về tỉ trọng, tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ. Tháng 6 năm 2002, đã có một bản kiến nghị được trình lên NYSE trong đó đưa ra những yêu cầu định nghĩa lại về thành viên HĐQT với vai trò giám sát hoạt động của ban giám đốc, mô tả trách nhiệm, vai trò của các thành viên này cũng như yêu cầu các doanh nghiệp phải điều chỉnh và công bố cơ chế quản trị trong đó có vai trò của thành viên HĐQT. Về vấn đề kiểm toán viên độc lập, Quốc hội Mỹ thậm chí đã phải sửa đổi Đạo luật Sarbanes- Oxley năm 2000 nhằm quy định chặt chẽ hơn về việc lựa chọn đơn vị kiểm toán độc lập và giới hạn các dịch vụ kiểm toán và phi kiểm toán mà một công ty kiểm toán có thể cung cấp cho khách hàng. Đừng nói ta không liên quan Ở Việt Nam, nhiều người cũng đã biết đến sự kiện Enron nhưng dường như đa số vẫn đang suy nghĩ việc đó sẽ không xảy ra ở nơi ta đứng. Thực tế có vẻ như chưa có sự kiện nào tương tự xảy ra nhưng thử nghĩ

kĩ lại những “sự vụ” từ “ngày xưa” cũng không khác là mấy. Kết thúc quý I năm 2003, Bibica đã vài lần xin hoãn nộp báo cáo quyết toán, mãi đến tháng 5 sự vụ mới được phơi bày. Bibica thông báo mức lỗ năm 2002 là 2,7 tỷ đồng, rồi ngay lập tức sửa thành 5,4 tỷ đồng trong một buổi họp sau đó vài ngày. Nhưng báo cáo độc lập của Ban Kiểm soát công ty trong Đại hội cổ đông năm 2003 lại có nội dung bác bỏ con số lỗ 5,4 tỷ đồng mà Ban giám đốc công bố và đưa ra con số lỗ thực lên đến 12,7 tỷ đồng. Sau khi những thông tin trên được công bố, cổ phiếu BBC trên thị trường mất hơn 50% giá trị chỉ trong vòng 6 tháng. Cùng đó là việc nhiều nhân sự chủ chốt trong phòng kế toán của Bibica ra đi. Kết quả kiểm toán lần thứ hai đối với báo cáo tài chính 2002 của Công ty Bibica cho thấy có sự "xào nấu" sổ sách kế toán (balance cook) và mức lỗ thực của Bibica đúng như số liệu của Ban Kiểm soát. Ngoài ra, Công ty kiểm toán cho biết họ đã cùng Bibica lập lại một bản quyết toán của tài khóa 2002 trước khi kiểm toán. Theo bản quyết toán lần đầu do các nhân sự cũ của phòng kế toán, Bibica đạt lợi nhận 8,9 tỷ đồng trong năm 2002. Như vậy, tổng cộng số tiền mà kế toán trưởng cũ của Công ty Bibica "chế biến" ra được sau khi "xào nấu" cũng xấp xỉ 20 tỷ đồng. Công ty Đồ hộp Hạ Long (Canfoco) bị ngưng giao dịch vào ngày 8/10/2002 sau khi ba nhân viên công ty bị khởi tố vì làm khống chứng từ, chiếm đoạt 7 tỷ đồng thuế VAT. Từ ngày 16/10/2002 khi bắt đầu được giao dịch trở lại, cổ phiếu cho đến 20/11/2002, CAN chỉ có 3 ngày tăng nhẹ, còn lại là giữ giá và giảm giá. Theo điều tra, hơn 100 tỷ đồng trong phần doanh thu của năm 2001 là số ảo. Gần đây là sự kiện “vui” của VF1, chỉ trong vài ngày đã làm thiệt hại hàng tỉ đồng của nhà đầu tư nhỏ. Như thế, những vấn đề đặt ra về minh bạch kinh doanh và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư nhỏ là rất rõ ràng và sát sườn với chúng ta. Thị trường đang tăng trưởng, doanh nghiệp phát triển khỏe mạnh và để đảm bảo độ bền của tình trạng này thì đã đến lúc đặt nhiều quan tâm đến xây dựng cơ chế quản trị và kiểm soát xung đột bên trong doanh nghiệp. ========================= Bài Saga hợp tác với báo Đầu tư Chứng khoán, số 41 (409) ngày 21/05/2007


								
To top