Docstoc

doanh nghiep vua va nho

Document Sample
doanh nghiep vua va nho Powered By Docstoc
					PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong giai đoạn đầu để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước việc đẩy mạnh và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể khẳng định đó là bước đi hợp với qui luật đối với nước ta, điều này đã được thể hiện trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong hơn mười năm qua. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọi nguồn lực kinh tế, đặc biệt những loại nguồn lực tiềm tàng sẵn có với khả năng có hạn ở mỗi người, mỗi miền của Tổ quốc. Các loại doanh nghiệp này nếu được phát triển, chắc chắn sẽ có tác dụng to lớn trong việc giải quyết mối quan hệ mà quốc gia nào trên thế giới cũng phải quan tâm chú ý đến đó là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và kiềm chế lạm phát. Nhưng để phát triển được doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta đòi hỏi chúng ta phải giải quyết hàng loạt những khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải, như: Thiếu vốn kinh doanh, thị trường tiêu thụ, môi trường pháp lý, mặt bằng sản xuất... Nhằm góp phần giải quyết những khó khăn trên đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu về: "Thực trạng về sử dụng vốn và những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay". 2. Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ về mặt lý luận, vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong Nhận thức lại vốn kinh doanh, đánh giá thực trạng tình hình sử dụng

quá trình phát triển kinh tế thị trường nói chung và ở Việt Nam nói riêng. vốn kinh doanh để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và những nguyên nhân tồn tại cần được giải quyết.

1

-

Đề xuất những giải pháp chủ yếu sử dụng vốn có hiệu quả để phát

triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. 3. a. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu: Khoá luận đi sâu vào nghiên cứu các phạm

trù doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn kinh doanh, các giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. b. Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, thực tiễn về vốn và sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam và có nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước để so sánh và đối chiếu. Các quan điểm, chủ trương, chính sách và giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 4. Phương pháp nghiên cứu. Khoá luận sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với điều tra phân tích, đánh giá để đưa ra những luận cứ khoa học cho những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả. 5. Những đóng góp của khoá luận. Hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về doanh Khẳng định vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình phát Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của vốn kinh doanh trong doanh Hệ thống hoá được tình hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đánh giá sát thực về tình trạng sử dụng vốn để phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. triển kinh tế ở nước ta. nghiệp. nước ta trong thời gian qua. nghiệp vừa và nhỏ khu vực kinh tế tư nhân và nguyên nhân chủ yếu doanh nghiệp dẫn đến thực trạng đó.
2

6.

Đưa ra một số giải pháp chủ yếu để phát triển doanh nghiệp vừa và Kết luận của khoá luận.

nhỏ ở Việt Nam. Tên đề tài: “Thực trạng về sử dụng vốn và những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay”. Khoá luận gồm 80 trang, nội dung gồm 3 chương: Chương I: Sử dụng có hiệu quả vốn với sự phát triển doanh nghiệp Chương II: Thực trạng về sử dụng vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ Chương III: Những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển vừa và nhỏ. ở Việt Nam. doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay. Sau đây là nội dung của các chương.

3

CHƯƠNG I SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ VỐN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM.

1.1-1 Sự cần thiết phát triển DN vừa & nhỏ trong nền kinh tế thị trường: Các nhà kinh tế học trên thế giới thừa nhận: doanh nghiệp vừa và nhỏ, giữ một vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân về nhiều mặt: Làm ra của cải vật chất, phân phối lưu thông và dịch vụ, đồng thời giải quyết công ăn việc làm cho người lao động... Theo số liệu do các nhà nghiên cứu kinh tế thế giới tổng kết, trung bình tại các nước phát triển như Mỹ, Anh, Đức ... các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo nên khoảng 51% kim ngạch xuất khẩu, số người làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 79% tổng số người làm việc trong toàn bộ các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ. Vì lẽ đó Chính phủ nhiều nước công nghiệp phát triển đã rất coi trọng hoạt động của loại hình doanh nghiệp này, và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng phát triển. Ngay như nước Mỹ, xứ sở của những khổng lồ công nghiệp như General Motors, General Electric, MicroSoft ...vẫn có một uỷ ban về các doanh nghiệp nhỏ trong Thượng viện. Tại các nước có nền kinh tế phát triển trong khu vực Đông Nam Á, bên cạnh việc xây dựng nhiều doanh nghiệp lớn, họ cũng khuyến khích nhiều thành phần xã hội khuyếch trương các doanh nghiệp vừa và nhỏ để đáp ứng cho các nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng trong nước, làm vệ tinh cho các công ty lớn và tham gia xuất khẩu. Ở nước ta, doanh nghiệp vừa và nhỏ càng đặc biệt có vai trò to lớn thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Trước hết vì phát triển loại hình doanh nghiệp này không những có khả năng khai thác
4

tiềm năng vốn có trong dân phát huy nội lực, mở rộng ngành nghề, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần tạo việc làm tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo mà còn góp phần đáng kể vào tăng thu ngân sách Nhà nước hàng năm. Chính vì vậy trong nhiều năm qua việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm và coi đó là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước với chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã mở ra thời kỳ phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX. Đồng chí Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhấn mạnh: “Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế”. Đây là một chủ trương có ý nghĩa thực tiễn và mang tính chiến lược lâu dài trong việc phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang có những những khó khăn về vốn, về công ăn việc làm, kiến thức quản lý hạn chế...Do đó việc kết hợp các loại qui mô lớn, qui mô vừa và nhỏ là một trong những nội dung quan trọng của quá trình công nghiệp, hiện đại hoá đất nước. Vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đến việc phân phối sử dụng có hiệu quả vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay. Nhưng để có được các chính sách thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đòi hỏi phải làm rõ các tiêu chuẩn xác định doanh

5

nghiệp vừa và nhỏ cũng như những đặc điểm chủ yếu của chúng trong qúa trình kinh doanh. 1.1-2 Tiêu chuẩn xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ: Có lẽ do số liệu thống kê, mà mỗi khi nói đến doanh nghiệp vừa và nhỏ là người ta lại nghĩ ngay đến doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tập trung ở khu vực tư nhân là chính. Điều đó âu cũng là hợp với qui luật tự nhiên, các doanh nghiệp tư nhân thường khởi sự công việc kinh doanh của mình từ nhỏ tới lớn. Họ có thể ra đời rất nhiều, nhưng cũng bị phá sản không ít trên bước đường phấn đấu để trở thành những doanh nghiệp lớn. Tiêu chí để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang rất khác nhau. Phân tích số liệu của 22 quốc gia, nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ, kể cả các nước phát triển, đang phát triển và đang chuyển đổi nền kinh tế cho thấy, chỉ tiêu về lao động được sử dụng 21 lượt, chỉ tiêu về tài sản và vốn được sử dụng 7 lượt, chỉ tiêu về doanh thu được sử dụng 5 lượt. Một loạt các quốc gia chỉ sử dụng duy nhất một chỉ tiêu về số lượng lao động. Tuy rằng định lượng về lao động cho các ngành cũng rất khác nhau, nhưng thường là tỷ lệ thuận với trình độ phát triển. Nước có trình độ phát triển cao nhất là Mỹ, số lao động theo tiêu chí về doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng lớn nhất doanh nghiệp dưới 500 người và được áp dụng cho tất cả các ngành. Ngành nào có trình độ phát triển cao hơn, ngành đó có tiêu chí lao động đối với loại doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cao hơn, chẳng hạn ngành chế tác, công nghiệp, xây dựng. Dù có phân loại hay không, nhưng tất cả các quốc gia đều bao gồm cả những doanh nghiệp cực nhỏ, thuê hoặc không thuê lao động (đều tính từ 0 hoặc 1 người để qui về doanh nghiệp nhỏ). Riêng Trung Quốc không gọi là doanh nghiệp cực nhỏ, nhưng doanh nghiệp nhỏ lại chỉ tính từ 50 đến 100 lao động. Hung-ga-ry thì lấy tiêu chí doanh nghiệp cực nhỏ là có từ 1-

6

10 lao động. Ác-mê-nia thì áp dụng tiêu chí thấp hơn, doanh nghiệp dưới 5 lao động là loại hình doanh nghiệp cực nhỏ. Hiện nay. Ở Việt Nam, nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, định nghĩa: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Cũng theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ bao gồm: Các doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh nghiệp, các doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, các hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 3 tháng 2 năm 2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh. Tuy vậy, trong các văn bản pháp quy của nước ta ranh giới thật rõ rệt giữa doanh nghiệp hộ gia đình và doanh nghiệp tư nhân vẫn còn chứa đựng nhiều sự tranh cãi. Điều này thể hiện rõ nhất về mặt hành chính, căn cứ vào danh sách đăng ký kinh doanh của các hộ gia đình. Chẳng hạn, trong Luật doanh nghiệp, được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X thông qua tại kỳ họp thứ 5, ngày 12 tháng 6 năm 1999, Chương I, Điều 3 nêu rõ: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy doanh nghiệp phải có tên, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định và tất yếu phải có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.

7

Như vậy, nếu theo quy định của Luật doanh nghiệp, thì các hộ kinh doanh cá thể, trong trường hợp không đăng ký kinh doanh, không được gọi là doanh nghiệp, cho dù số hộ này vẫn thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, nghĩa là họ thuộc thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và được sự khuyến khích của Nhà nước đối với kinh tế hộ, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn. Ngoài ra, cũng cần thống nhất quan điểm đối với Công ty là thành viên của Tổng Công ty Nhà nước có qui mô lớn. Qui mô của các Công ty thành viên có thể thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng vì là đơn vị trực thuộc một Tổng Công ty có qui mô lớn nên các Công ty thành viên không thể coi là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tính đến cuối năm 2002, số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta là 54.723 doanh nghiệp, với tổng số vốn là 72.000 tỷ đồng, thu hút 3,2 triệu lao động. (Theo số liệu tổng điều tra cơ sở kinh tế lần thứ hai) Việc nhận diện doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như đưa ra các tiêu chuẩn để qui định doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ, không phải chỉ đơn thuần là xác định xem ở nước ta có nhiều doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, mà điều quan trọng bậc nhất là để Nhà nước có được chương trình phát triển và có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ cho từng nghành sản xuất hay dịch vụ trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước. 1.1-3 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam: Việc thừa nhận kinh tế tư nhân đã được nhắc lại trong nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, trong đó nêu rõ: “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành
8

quan trọng của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”; kinh tế cá thể, tiểu chủ “được Nhà nước tạo điều kiện và giúp đõ phát triển”; kinh tế tư bản tư nhân “được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm”. Khu vực kinh tế tư nhân trước đây đóng vai trò phụ trong nền kinh tế, nay đã được đưa lên vị trí quan trọng và được đảm đương một nhiệm vụ to lớn, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm. Xét về khía cạnh việc làm thì chúng chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Theo số liệu thống kê năm 2001 thì quốc doanh sử dụng 48% tổng số lao động, ngoài quốc doanh chiếm 52%. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng phát triển về số lượng và vai trò của nó ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế nước ta, để có thể hiểu sâu về loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta, chúng ta cần xem xét đến đặc điểm của việc phát triển loại hình doanh nghiệp này. Việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta có những đặc điểm cơ bản sau: a. Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thường khởi đầu với xuất phát Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thường khởi đầu với những khả năng có hạn. Vốn ban đầu để thành lập doanh nghiệp vừa và nhỏ là vốn tự có của cá nhân hay một số cá nhân hoặc tổ chức do đó thường là hạn hẹp. Do hạn chế về vốn nên bước khởi xướng ban đầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta gặp nhiều khó khăn về máy móc thiết bị, lao động có tay nghề hạn chế. Bên cạnh đó chủ doanh nghiệp lại thiếu kiến thức về quản lý và công nghệ, cộng với thị trường hạn hẹp là những bất lợi quan trọng để đẩy mạnh phát triển công nghiệp.
9

điểm thấp:

b.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường khó có khả năng tiếp cận với Đây là đặc điểm có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất hay

nguồn vốn tín dụng: dịch vụ ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì nó hạn chế năng lực của họ để có được những dịch vụ cần thiết cho doanh nghiệp hoạt động. Trở ngại của doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là doanh nghiệp nhỏ là ít khi được sự quan tâm của ngân hàng hay các tổ chức tín dụng biết được nhu cầu của doanh nghiệp. Trong khi đó thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là không thể đáp ứng được những tiêu chuẩn đặt ra của ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Theo một kết quả điều tra về vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Viện Kinh tế Trung ương năm 1995, cũng như ý kiến của nhiều nhà doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ khu vực tư nhân tại cuộc gặp gỡ giữa các ngân hàng với hơn 60 nhà doanh nghiệp do Hiệp hội ngân hàng phối hợp cùng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh cuối tháng 9/1999 cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp này thường dựa vào thị trường tài chính phi chính thức để giải quyết các nhu cầu về vốn (như vay của người thân, bạn bè, của những người cho vay lấy lãi...). Việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhìn chung rất hạn chế. c. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam thường trang bị máy móc Cũng như tình trạng chung về công nghệ thiết bị của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, trình độ công nghệ, thiết bị của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ còn ở mức độ rất lạc hậu so với trình độ công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới. Hơn nữa, do khó khăn về vốn nên tỷ lệ đổi mới công nghệ, thiết bị của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (ngay cả đối với một số doanh nghiệp có sự phát triển khá nhanh trong những năm

thiết bị lạc hậu:

10

vừa qua), so với mặt bằng chung các doanh nghiệp trong nền kinh tế cũng rất thấp. d. Trình độ lao động thấp và thiếu kiến thức quản lý công nghệ Gắn liền với trình độ công nghệ, thiết bị lạc hậu, hầu hết lực lượng lao động trong doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là lao động trong các doanh nghiệp nhỏ ít được đào tạo, thiếu kỹ năng nghề nghiệp, trình độ văn hoá thấp, khoảng 74% người lao động chưa học hết phổ thông. Ngoại trừ một số doanh nghiệp có thể trả lương cao để thu hút một số thợ lành nghề, còn nhìn chung trình độ tay nghề của lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều thấp hơn mức bình quân chung trong nền kinh tế. Năng lực quản lý và kinh doanh, trình độ hiểu biết pháp luật của phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp vừa và nhỏ còn nhiều hạn chế, thiếu kinh nghiệm về thương trường. Theo một số tài liệu nghiên cứu thì có khoảng 30% số chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa qua trường lớp đào tạo nào, chỉ có 31,2% số chủ doanh nghiệp có trình độ đại học trở lên, và tập trung chủ yếu ở công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. e. gồm: Khả năng thoả mãn những yêu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, một khuynh hướng về sức mạnh lao động và trình độ khéo léo trong công việc từ thấp đến vừa và chuyển biến thích nghi nhanh chóng đối với sự thay đổi những yêu cầu và những điều kiện. Khả năng về chuyển hoá doanh nghiệp đễ doanh nghiệp càng nhanh Khả năng thích ứng linh hoạt của nền kinh tế trong nước trước những chóng hơn các công nghệ mới thành cơ hội làm ăn. biến động liên tục của nền kinh tế thế giới.
11

trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ:

Khả năng thích nghi nhanh trong môi trường kinh doanh:

Đây là sức mạnh tự nhiên của doanh nghiệp vừa và nhỏ, sức mạnh này bao

-

Khả năng đem lại những dịch vụ sản phẩm mới. Trên đây là những đặc điểm chủ yếu của những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến các chương trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, đến chính sách về phát triển về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, đến các giải pháp sử dụng có hiệu quả vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay.

12

1.1-4 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình phát triển của kinh tế ở Việt Nam: Nhìn chung, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò hết sức to lớn trong việc phát triển kinh tế, xã hội. Thực tế khu vực doanh nghiệp này đã đóng góp một phần rất quan trọng trong tổng sản phẩm xã hội, tạo việc làm và thu nhập cho một bộ phận khá lớn lao động, nhất là số lao động mới gia tăng hàng năm trong xã hội. Đồng thời cũng làm cho nền kinh tế trở nên năng động và hiệu quả hơn. Để làm rõ vấn đề này chúng ta đi xem xét cụ thể trên một số mặt sau: 1.1-4.1 Về giá trị hàng hoá dịch vụ: Với số lượng lớn các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, thu hút phần lớn lao động làm việc trong các lĩnh vực: Sản xuất, xây dựng, thương mại, dịch vụ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang tạo ra phần lớn sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân và đóng góp nhiều tích luỹ cho ngân sách Nhà nước. Chúng ta hãy xem xét cơ cấu tổng sản phẩm trong nước phân theo thành phần kinh tế Biểu số 1: Tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành phân theo thành phần kinh tế Chỉ tiêu 1995 1996 1997 Tỷ Giá trị trọng 313.623 100 126.970 40,48 27.946 8,91 10.590 3,38 107.632 34,32 12.035 3,84 1998 Tỷ Giá trị trọng 361.468 100 144.841 40,07 31.906 8,83 12.281 3,40 122.655 33,93 13.189 3,65 Tỷ Tỷ Giá trị trọng Giá trị trọng Tổng số 229.512 100 272.636 100 Kinh tế nhà nước 91.997 40,08 108.634 39,85 Kinh tế tập thể 23.620 10,29 27.271 10,00 Kinh tế tư nhân 7.139 3,11 9.103 3,34 Kinh tế cá thể 82.447 35,92 95.896 35,17 Kinh tế hỗn hợp 9.881 4,31 11.626 4,26 Kinh tế có vốn ĐTNN 14.428 6,29 20.106 7,37

28.450 9,07 36.596 10,12 (Nguồn: VCCI)

Khu vực doanh nghiệp Nhà nước: Trong tổng số 40% GDP thuộc về khu vực Nhà nước thì có khoảng 12% GDP là dịch vụ hành chính nhà
13

nước, như vậy khoảng 28% là của khu vực doanh nghiệp, và trong tổng số các doanh nghiệp Nhà nước thì có tới 86% là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên do hiện tại số doanh nghiệp nhà nước làm ăn cầm chừng, thua lỗ chiếm tới xấp xỉ 40% trong tổng số doanh nghiệp, mà trong đó phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên tỷ lệ đóng góp vào GDP của khu vực doanh nghiệp này không thể tương xứng với tỷ lệ về số lượng doanh nghiệp. Giả sử các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khu vực Nhà nước tạo ra xấp xỉ 50% GDP của toàn bộ khu vực doanh nghiệp này thì tỷ trọng đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào khoảng 14% tổng sản phẩm trong nước (con số này theo tính toán của Tổng cục Quản lý vốn tại các doanh nghiệp của Bộ Tài chính là khoảng 18-19%. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, theo một báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì số lượng doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ chiếm khoảng 30%. Giả sử các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tỷ lệ đóng góp vào GDP của toàn bộ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tương ứng với tỷ lệ doanh nghiệp thì tỷ lệ đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước của các doanh nghiệp này vào khoảng 3%. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tỷ trọng đóng góp vào GDP là 50%, trong đó khu vực kinh tế cá thể không đăng ký kinh doanh chiếm 34%, như vậy số đóng góp và GDP của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra khoảng 80% GDP của toàn bộ khu vực doanh nghiệp này, tương ứng khoảng 12% tổng sản phẩm trong nước. Như vậy tính chung toàn bộ khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thì khu vực này tạo ra khoảng 29% GDP (thời điểm năm 1998). Tuy nhiên, đây chỉ là kết quả của việc tính toán doanh nghiệp dựa trên số liệu thống kê và một số yếu tố có tính đến giả thiết như đã trình bày ở trên. Theo một tính toán của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại thời điểm năm 1995 thì tỷ lệ này vào khoảng 25-26%.
14

1.1-4.2

Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động

Hàng năm có khoảng một triệu người đến tuổi lao động, trong khi đó những năm gần đây khả năng thu hút lao động mới của khu vực doanh nghiệp nhà nước rất hạn chế. Ngoài ra thực hiện chủ trương tinh giảm biên chế các cơ quan hành chính, cũng như chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước nên một bộ phận khá lớn lao động trong khu vực này bị mất việc làm. Chính khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, mà chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc thu hút một lượng khá lớn lao động xã hội, kể cả số người mới đến tuổi lao động, cũng như số lao động bị mất việc làm từ khu vực nhà nước, các quân nhân trở về địa phương sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự... Theo số liệu tổng điều tra các cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp lần thứ hai (kết thúc 1/7/2002) thì số lượng lao động phân bố tại các doanh nghiệp như sau: Biểu số 2: Tình hình sử dụng lao động của các doanh nghiệp tính đến tháng 7/2002 Số cơ sở Số lao động I. Cơ sở sản xuất kinh doanh 2.682.481 11.219.853 A. Doanh nghiệp 56.737 3.840.701 Doanh nghiệp Nhà nước 5.231 1.846.209 - Trung ương 1.903 1.107.707 - Địa phương 3.328 738.502 Doanh nghiệp tập thể 3.853 140.770 Doanh nghiệp tư nhân 24.903 304.785 Công ty hợp doanh 14 397 Công ty TNHH 18.733 722.187 Công ty cổ phần 1.989 229.778 DN có vốn đầu tư nước ngoài 2.014 596.575 B. Cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể 2.625.744 7.379.152 II. Cơ sở hành chính sự nghiệp 161.282 2.583.035 (Nguồn: Tạp chí kinh tế Việt Nam số tháng 4/2003) So với số liệu của cuộc tổng điều tra các cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp lần thứ nhất - năm 1995, số lượng lao động của doanh nghiệp năm
15

1995 là 2,3 triệu người thì đến năm 2002 đã có 3,8 triệu người, tăng 66,5% so với năm 1995. Trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng gấp 6,1 lần, tiếp đến là của doanh nghiệp ngoài Nhà nước: gấp 3,3 lần. Về số tuyệt đối thì trong khi doanh nghiệp Nhà nước chỉ tăng trên 68 nghìn người thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng tới 498,2 nghìn người và doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng tới 967,8 nghìn người. Như vậy, qua các số liệu so sánh trên chúng ta thấy trong những năm qua doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần giải quyết một số lượng lớn công ăn việc làm cho đất nước. Tính đến 1995 các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tế đã giải quyết việc làm cho hơn 2 triệu lao động làm việc thường xuyên tại các doanh nghiệp và cho nhiều lao động làm việc ngoài doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy cứ 10 lao động trong doanh nghiệp cần 1 lao động ngoài doanh nghiệp thực hiện các công việc: cung ứng đầu vào, tiêu thụ đầu ra, gia công, vệ tinh. 1.1-4.3 Thu hút vốn đầu tư trong nền kinh tế Với chủ trương cổ phần hoá, mà thực tế hầu hết các doanh nghiệp đã và đang được cổ phần hoá là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo số liệu của Uỷ ban chứng khoán nhà nước, trong tổng số 227 công ty đã cổ phần hoá chỉ có bốn công ty có đủ điều kiện về mức vốn điều lệ 10 tỷ đồng để phát hành chứng khoán lần đầu. Mặt khác, Chính phủ đã ban hành Nghị định 103/1999/NĐ-CP về giao bán, khoán, cho thuê các doanh nghiệp nhà nước trên sổ sách kế toán doanh nghiệp dưới 5 tỷ đồng, nhằm mục đích sắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp nhà nước có qui mô nhỏ, thua lỗ kéo dài, hoặc không cần duy trì sở hữu nhà nước. Thông qua chủ trương này sẽ thu hút vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh của khu vực dân cư. Đối với khu vực ngoài quốc doanh, trong những năm qua khu vực doanh nghiệp này phát triển khá nhanh về số lượng, trừ khu vực có vốn đầu
16

tư nước ngoài, còn lại hầu hết các doanh nghiệp trong nước đều có qui mô vừa và nhỏ. Chẳng hạn trong 9 tháng đầu năm 1999, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 110 doanh nghiệp được thành lập, thì toàn bộ các doanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ với tổng vốn điều lệ 117 tỷ đồng, và chủ yếu là vốn của tư nhân đầu tư. Như vậy, thông qua các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã huy động được các nguồn lực dân cư vào mục đích đầu tư sản xuất kinh doanh. Tính riêng năm 1998, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của khu vực tư nhân là 20.500 tỷ đồng chiếm 21,3% trong tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nền kinh tế, và xấp xỉ bằng nguồn vốn đầu tư của ngân sách nhà nước. Mặt khác, chính các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các mối quan hệ cộng đồng, huyết tộc, nên họ có nhiều thuận lợi trong việc huy động một lượng vốn nhàn rỗi của ngưòi thân, bạn bè hoặc của người cho vay lấy lãi... và thực tế đây đang là nguồn vốn khá quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực ngoài quốc doanh. 1.1-4.4 Làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn Do chỉ cần một lượng vốn và lao động không nhiều để thành lập một doanh nghiệp, vì vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng trong việc thay đổi các mặt hàng sản phẩm kinh doanh. Nhìn tổng thể thì tốc độ phát triển về mặt số lượng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhanh hơn nhiều so với việc thành lập các doanh nghiệp có qui mô lớn. Chính khả năng gia tăng nhanh chóng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm cho số doanh nghiệp trong nền kinh tế tăng lên rất lớn, và do đó làm tăng tính cạnh tranh, năng động của nền kinh tế. Hơn nữa sự có mặt của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn hoạt động có hiệu quả hơn, như làm đại lý, vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn trong việc tiêu thụ hàng hoá, thâm nhập vào các thị trường nhỏ. 1.1-4.5 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
17

Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển công nghiệp, dịch vụ ở khu vực nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nông và độc canh, chuyển dịch cơ cấu nông thôn. Mặt khác, với tính chất đa dạng về ngành nghề, khu vực doanh nghiệp này làm cho nền kinh tế trở nên đa dạng và phong phú hơn. Các doanh nghiệp được phân bố đều hơn giữa các vùng lãnh thổ cả ở nông thôn lẫn thành thị, miền núi và đồng bằng..., làm thay đổi cơ cấu ngành nghề kinh tế cũng như cơ cấu vùng kinh tế. Xuất phát từ những vai trò hết sức quan trọng nói trên của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ta thấy rằng: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một hình thức kinh doanh không những thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển mà nó còn thích hợp cả với những nước công nghiệp phát triển. Chính vì vậy, mà việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là một tất yếu khách quan đối với nền kinh tế nước ta. Nhưng để thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng các doanh nghiệp vừa và nhỏ đòi hỏi chúng ta phải thực hiện hàng loạt các giải pháp để hỗ trợ chúng phát triển. Trong hàng loạt các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển thì giải pháp sử dụng có hiệu quả vốn, giữ vai trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, điều này đã được Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm khoá VI của Đảng chỉ rõ: "Để công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần huy động nhiều nguồn vốn, gắn với sử dụng vốn có hiệu quả".
1.2 SỬ DỤNG VỐN CÓ HIỆU QUẢ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.

Huy động và sử dụng vốn là hai bộ phận hợp thành của quá trình chu chuyển vốn trong nền kinh tế. Huy động vốn là quá trình tập trung, phân phối lại các nguồn vốn trong nền sản xuất xã hội. Nếu xét theo chu kỳ tái sản xuất xã hội thì việc huy động vốn gắn liền với quá trình phân phối và phân phối lại các sản phẩm của xã hội được tạo ra trong quá trình sản xuất,

18

còn việc sử dụng vốn gắn liền với quá trình sử dụng các sản phẩm đã được phân phối và phân phối lại thông qua công tác huy động vốn, nó gắn liền với quá trình sản xuất để tái tạo ra giá trị sản phẩm mới. Huy động vốn có đạt hiệu quả cao thì mới bảo đảm đáp ứng vốn đầu tư cho nền kinh tế, ngược lại sử dụng vốn có hiệu quả, sẽ bảo đảm tái tạo và phát triển các nguồn vốn, tạo tiền đề cho quá trình huy động và sử dụng vốn có ý nghĩa. Để có những luận cứ khoa học cho việc đưa ra các phương pháp quản lý, sử dụng vốn có hiệu quả, trước hết phải làm rõ bản chất và những đặc trưng của vốn kinh doanh trong quá trình sản xuất kinh doanh. 1.2-1 Vốn kinh doanh và vai trò của vốn kinh doanh Để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, cũng cần phải có vốn. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện đầu tiên có ý nghĩa quyết định tới các bước trong quá trình kinh doanh. Vốn là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố vật chất tác động đến tăng trưởng. Thậm chí có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tăng trưởng và phát triển thực chất là vấn đề tạo được các nguồn lực đầu tư để đảm bảo tỷ lệ tăng trưởng doanh nghiệp dự tính. Mức tăng trưởng sẽ chỉ là dự tính, chỉ là duy ý chí nếu không có lượng vốn tương ứng được huy động cho đầu tư phát triển. Vốn là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với mỗi quá trình sản xuất kinh doanh và việc sử dụng vốn có hiệu quả là hết sức cần thiết đối với việc phát triển doanh nghiệp. Vậy vốn kinh doanh là gì? Chúng ta cần phải có nhận thức đúng đắn về vốn, đó cũng là điều kiện tiền đề để sử dụng có hiệu quả vốn trong quá trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp là một loại quỹ tiền đặc biệt, mục tiêu của quỹ là để phục vụ cho sản xuất kinh doanh tức là mục đích tích lũy - không phải là mục đích tiêu dùng như một vài quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp. Vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra hoạt động
19

sản xuất kinh doanh - người ta đã nói vốn là số tiền phải được ứng trước cho kinh doanh. Song khác với một số quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp, vốn kinh doanh sau khi ứng ra, được sử dụng vào kinh doanh và sau một chu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho chu kỳ hoạt động sau. Vốn kinh doanh không thể bị tiêu mất đi như một số quỹ khác trong doanh nghiệp. Mất vốn đối với doanh nghiệp đồng nghĩa với nguy cơ phá sản. Ở đây cần có sự phân biệt giữa tiền và vốn - muốn có vốn thì thường phải có tiền, song có tiền, thậm chí có những khoản tiền rất lớn cũng không phải là vốn. Tiền được gọi là vốn phải đồng thời thoả mãn các điều kiện sau: Một là: Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định, hay nói một cách khác tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực. Hai là: Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định. Sự tích tụ tập trung và tập trung một lượng tiền đến một hạn độ nào đó mới làm cho nó đủ sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh, cho dù là nhỏ nhất. Vì thế, một doanh nghiệp dù ở mức độ quy mô nào muốn khởi nghiệp thì nhất thiết phải có một lượng vốn pháp định đủ lớn. Ba là: Khi đã có đủ về lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Cách vận động và phương thức vận động của tiền lại do phương thức đầu tư kinh doanh quyết định. Trên góc độ của kinh tế thị trường, giá trị thực của doanh nghiệp không chỉ là phép tính cộng giản đơn của các loại vốn cố định và vốn lưu động hiện có, mà điều quan trọng hơn còn là các giá trị của tài sản khác, như: vị trí địa lý của doanh nghiệp, những bí quyết về công nghệ chế tạo sản phẩm, mức độ uy tín của sản phẩm trên thị trường, uy tín của người lãnh đạo doanh nghiệp, khả năng sinh lời của doanh nghiệp... Vì thế khi góp vốn liên doanh, các thành viên tham gia góp vốn có thể góp bằng tiền, máy móc thiết bị, nhà xưởng, đất và bằng bí quyết kỹ thuật, hoặc khả năng

20

uy tín kinh doanh. Tất nhiên khi góp vốn, những tài sản đó đều được đánh giá, xác định lại, đó chính là giá trị thực của doanh nghiệp. Những nhận thức trên đây về vốn kinh doanh không chỉ giúp chúng ta trong việc xác định được giá trị thực của một doanh nghiệp, mà còn giúp cho công tác quản lý, sử dụng vốn có một tầm nhìn rộng để khai thác, sử dụng những tiềm năng sẵn có của doanh nghiệp phục vụ cho việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường. 1.2-2 Đầu tư vốn kinh doanh: Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có thể hiểu là một tổ chức kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời. Do đó động lực của đầu tư vốn là lợi nhuận cao với khả năng an toàn cao. Trong nội dung dung hoạt động của tài chính doanh nghiệp, quản lý sử dụng vốn kinh doanh là khâu quan trọng nhất, có tính chất quyết định đến mức độ tăng trưởng hoặc suy thoái của một doanh nghiệp. Quản lý sử dụng vốn kinh doanh bao gồm nhiều khâu như: Xác định nhu cầu vốn kinh doanh, khai thác tạo lập vốn kinh doanh, sử dụng và bảo toàn vốn kinh doanh...trong đó xác định nhu cầu vốn kinh doanh là một công việc rất hệ trọng đối với một doanh nghiệp nói chung và đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng, vì đây là khâu cuối cùng của quyết định tài chính. Trong khâu này, người quản lý phải tìm được lời giải của hàng loạt các bài toán, các phương án như: Cân đối các nguồn vốn hiện có, nếu thiếu vốn thì phải khai thác từ những nguồn nào, bằng phương thức nào; việc bố trí vốn kinh doanh của doanh nghiệp theo tỷ lệ nào là hợp lý, các biện pháp bảo toàn và phát triển vốn ...Điều quan trọng có tính nguyên tắc trong việc lựa chọn một quyết định trong đầu tư là độ an toàn của dự án và mức doanh lợi có khả năng thu được, hay nói cách khác là phải xác định được hiệu quả khả thi của dự án. Để xác định được hiệu quả khả thi của dự án đầu tư, người quản lý phải luôn so sánh giữa lợi nhuận thu được với các yếu tố chi phí như giá mua vốn (lãi suất) và thuế
21

phải nộp, trong đó yếu tố giá mua vốn trong đầu tư được coi là yếu tố quan trọng nhất. Nhờ có sự so sánh này mà bằng bằng các phương pháp kỹ thuật tính toán như: Lãi suất kép, hiện tại hoá giá trị của một khoản đầu tư trong tương lai, phân tích điểm hoà vốn...sẽ là cơ sở cho phép người quản lý có thể lựa chọn phương án sử dụng vốn cụ thể như: Đầu tư vào bên trong hay ra bên ngoài, đầu tư theo laọi hình nào hoặc nên khai thác vốn đầu tư từ nguồn nào để có hiệu quả. Đối với doanh nghiệp sản xuất, thông thường có hai hướng đầu tư chủ yếu là đầu tư vào bên trong hay đầu tư ra bên ngoài ... Đầu tư vào bên trong là những khoản đầu tư vốn để mua sắm các yếu tố của quá trình sản xuất khi khởi nghiệp doanh nghiệp như; Xây dựng, mua sắm tài sản cố định, mua nguyên vật liệu, tiền thuê nhân công và các chi phí về thủ tục kinh doanh như: thuế trước bạ, chi phí khai trương doanh nghiệp, chi phí quảng cáo... Với những doanh nghiệp đang hoạt động thì tuỳ theo tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị, khả năng cạnh tranh trên thị trường, doanh nghiệp có thể đầu tư thêm nhằm tăng khả năng sản xuất kinh doanh như: đầu tư đổi mới sản phẩm, đầu tư đổi mới qui trình công nghệ... Bên cạnh hướng đầu tư bên trong, doanh nghiệp có thể đầu tư vốn ra bên ngoài hoặc còn gọi là đầu tư tài chính. Đầu tư ra bên ngoài thường được thể hiện dưới các hình thức: Góp vốn liên doanh, đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu...Trong nền kinh tế thị trường việc các doanh nghiệp đầu tư ra bên ngoài không chỉ nhằm mục tiêu thu được lợi nhuận mà còn nhằm mục đích bảo đảm an toàn vốn, san sẻ rủi ro trong đầu tư. Cho dù là đầu tư bên trong hay ra bên ngoài, chủ doanh nghiệp phải lưu tâm đến công việc tiếp thị, tức là phải thăm dò, phân tích, lựa chọn phương án để đi đến các quyết định tài chính. Công việc này thường được tiến hành trên cơ sở kết hợp giữa sở trường, thế mạnh của doanh nghiệp với

22

các yếu tố khách quan của thị trường. Vì vậy để ra một quyết định tài chính, người quản lý phải lưu ý các yếu tố sau: Khả năng doanh lợi đạt được và thời gian thu hồi vốn. Dự kiến chủng loại và số lượng sản phẩm sẽ sản xuất và khả năng Khả năng cung cấp nguyên liệu cho sản xuất . Lựa chọn công nghệ thích hợp. Lựa chọn ngân hàng giao dịch. Lựa chọn mô hình và tổ chức quản lý. Cuối cùng là tổng hợp nhu cầu vốn cần được đầu tư. Đầu tư vốn là hành động chủ quan có cân nhắc của người quản lý trong việc bỏ vốn vào mục tiêu kinh doanh nào đó với hy vọng là sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế cao. Đó là thu nhập ròng hay còn gọi là phần giá trị tăng sau khi đã hoàn đủ số vốn bỏ vào đầu tư. Thu nhập ròng này càng lớn thì sức thu hút vào đầu tư càng mạnh. Thu nhập ròng chính là yếu tố của sự tăng trưởng về vốn của nhà đầu tư, xét trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế, thì sự tăng trưởng cá biệt đó dẫn tới tăng trưởng chung. Song ở đây, vấn đề có phức tạp hơn, không thể coi tăng trưởng chung là tổng của sự tăng trưởng cá biệt. Bởi lẽ, một sự tăng trưởng cá biệt có thể không phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế, thậm chí còn gây thiệt hại cho nền kinh tế, nhất là đứng trên góc độ chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược cơ cấu kinh tế. Chính vì vậy, ta cần phân biệt hai loại ảnh hưởng của kết quả đầu tư là đầu tư tăng trưởng và đầu tư phát triển. Đầu tư tăng trưởng là đầu tư mang lại kết quả làm tăng giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ của một ngành, một lĩnh vực và do đó cũng làm tăng giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ của một quốc gia kéo theo mức thu nhập bình quân đầu người của quốc gia đó cũng tăng lên. Đầu tư phát triển cũng có kết quả làm tăng giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ nhưng ý nghĩa của nó làm thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội của
23

tiêu thụ sản phẩm trên thị trường.

quốc gia. Nói cách khác, đầu tư phát triển là quá trình đầu tư làm tăng trưởng kinh tế song song với thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội. 1.2-3 Nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ: Sẽ là sai lầm trong công tác đầu tư sử dụng vốn kinh doanh, nếu người quản lý không bao quát được các nguồn vốn - nội dung và tính chất của các nguồn vốn có thể huy động được trong sản xuất kinh doanh. Vì vậy việc nghiên cứu nội dung, tính chất của nguồn vốn sẽ là cơ sở cho việc lựa chọn, khai thác, huy động và sử dụng vốn một cách phù hợp với nhu cầu vốn và khả năng cho phép của mỗi doanh nghiệp. Vốn kinh doanh của mỗi doanh nghiệp có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên mỗi loại hình doanh nghiệp cũng chỉ có thể khai thác huy động vốn trên một số nguồn nhất định. Vì thế người ta có thể căn cứ vào nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp để có nhận biết doanh nghiệp thuộc loại hình nào. Chẳng hạn doanh nghiệp có vốn kinh doanh chủ yếu thuộc nguồn ngân sách Nhà nước thì đó là doanh nghiệp Nhà nước, hoặc một doanh nghiệp khác lại có vốn kinh doanh từ nguồn vốn tự có và cổ phần thì đó là doanh nghiệp tư nhân, một công ty cổ phần...để hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định và trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp tiếp tục bổ sung vốn để tăng thêm tài sản kinh doanh tương ứng với sự tăng trưởng qui mô sản xuất kinh doanh. Đối với một doanh nghiệp, vốn kinh doanh được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Ở đây cần phân biệt hai trường hợp: Trường hợp, nguồn vốn kinh doanh khi hình thành doanh nghiệp và trường hợp nguồn vốn kinh doanh bổ sung trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ... a. Nguồn vốn kinh doanh khi hình thành doanh nghiệp: Khi hình thành doanh nghiệp, đòi hỏi phải có một lượng vốn cần thiết tối thiểu cho hoạt động kinh doanh, nguồn hình thành vốn kinh doanh ban đầu giữa các loại hình doanh nghiệp ta có thể khái quát chung như sau:
24

-

Với kế hoạch kinh doanh đã được ấn định doanh nghiệp có thể tìm

nguồn vốn. Những nguồn vốn phổ biến nhất đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nằm trong hai loại: Nguồn vốn tự có và nguồn vốn tín dụng. Nguồn vốn tự có là nguồn vốn do cá nhân chủ doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư kinh doanh. Nguồn gốc của loại vốn này là phần để dành, tiết kiệm trong ngân sách gia đình hoặc vốn cổ phần bằng hình thức phát hành cổ phiếu. Một doanh nghiệp ít nợ, nhiều vốn tự có sẽ làm cho các bạn hàng tin tưởng bỏ vốn ra cho vay, hoặc góp vốn cùng đầu tư. Các nguồn vốn tín dụng: Là các khoản vốn mà doanh nghiệp có thể vay dài hạn của các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm hoặc các tổ chức tài chính trung gian khác, cũng có thể bằng hình thức doanh nghiệp phát hành trái phiếu để huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh doanh. b. Nguồn vốn trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp: Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp tiếp tục bổ sung vốn để tăng thêm tài sản kinh doanh tương ứng với sự tăng trưởng quy mô kinh doanh. Sự phát triển của doanh nghiệp đến mức độ nhất định đòi hỏi phải bổ sung vốn kinh doanh để đầu tư vào tài sản cố định và tài sản lưu động. Theo các nhà kinh tế học thì tại thời điểm khởi đầu của một doanh nghiệp đồng tiền chưa nói lên được điều gì, vì chúng không đẻ ra được những ý tưởng hay, không thực sự đảm bảo cho sự thành công của một doanh nghiệp trong thương trường đầy bão tố, những cuốn hút bất tận và sau khi xem xét những thất bại, những vụ phá sản họ đi đến kết luận: “mọi tai hoạ đều do không đủ vốn quay vòng”. Việc bổ sung vốn kinh doanh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ là vô cùng quan trọng. Để đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung trong kinh doanh, doanh nghiệp có thể huy động từ hai nguồn chính đó là:

25

Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp và nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, điều đó đã tạo ra khả năng cho các doanh nghiệp có nhiều hình thức tạo vốn. Có nhiều loại nguồn vốn. Việc lựa chọn sử dụng nguồn vốn nào không phải dễ dàng. Có nhiều yế tố cần xem xét: như loại hình kinh doanh, nhu cầu vốn là bao nhiêu, uy tín tài chính của doanh nghiệp...Sau đây là nguồn vốn quan trọng nhất mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể sử dụng và ưu nhược điểm của từng loại. Một loại nguồn vốn cơ bản mà thường hay bị các doanh nghiệp bỏ qua là vốn ở quỹ doanh nghiệp (nguồn vốn nội bộ). Đó là số tiền thuộc thu nhập của doanh nghiệp được giữ lại ở quỹ (như quỹ khấu hao, quỹ phát triển sản xuất...). Chỉ có một số ít các nhà doanh nghiệp vừa và nhỏ nhớ ra khoản tiền này và dùng nó để tái đầu tư, mở rộng kinh doanh. Hầu hết các doanh nghiệp vội vã đi vay các ngân hàng. Vì vậy phải xem số tiền trong quỹ doanh nghiệp. Tín dụng thương mại: Một nguồn vốn khác cũng thường bị bỏ qua đó là tín dụng thương mại hay tín dụng hàng hoá mà người bán cấp cho người mua theo phương thức bán chịu. Nguồn vốn tự có: Đây là loại nguồn vốn được các doanh nghiệp vừa và nhỏ chú ý đầu tiên. Các doanh nghiệp trước hết phải nghiên cứu khả năng tài chính của mình. Còn có nguồn vốn cá nhân nào khác có thể đem vào sử dụng. Cuối cùng các nhà doanh nghiệp có thể huy động các nguồn vốn Vốn vay ngân hàng: Các ngân hàng cho vay vốn có nhiều hình thức. nhàn rỗi trong dân chúng bằng quan hệ và uy tín của mình. Các loại vốn chủ yếu là vốn vay phục vụ trực tiếp mua bán hàng hoá, vốn vay có kỳ hạn, vay đảm bảo bằng các khoản nợ của doanh nghiệp, vay
26

bằng đảm bảo bằng hàng hoá và vốn vay đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp. 1.2-4 Sử dụng có hiệu quả vốn với sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta: Có vốn cho tăng trưởng kinh tế là một việc song biện pháp phân phối và sử dụng có hiệu quả vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá là vấn đề hết sức quan trọng. Công nghiệp hoá, thực chất là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất hiện đại. Trước sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật lần hai, để đất nước tiến nhanh, tiến mạnh lên hiện đại, phải triệt để lợi dụng thành tựu khoa học kỹ thuật hiện có của thế giới. Do đó, việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta hiện nay vừa là mục đích cơ khí hoá sản xuất, thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc, vừa nhằm tạo ra những bước nhảy vọt đi tắt từ thủ công lên thẳng tự động hoá ở một số nghành mũi nhọn. Đối với một số lĩnh vực kinh tế có điều kiện chúng ta có thể; “ Không chỉ đi tuần tự cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá mà phải kết hợp đồng thời các thành tựu trên nhiều lĩnh vực và có những mũi nhọn đi tắt đón đầu. Không chỉ áp dụng các công nghệ tiên tiến mà còn phải biết tận dụng và hiện đại hoá công nghệ truyền thống”. Từ tư duy đổi mới về công nghiệp hoá nói trên, có thể rút ra chế độ phân phối và sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá phải gắn với chiến lược kinh tế xã hội. Sự gắn bó đó được thể hiện ở việc bố trí cơ cấu sử dụng vốn giữa các ngành và các vùng kinh tế. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước đây, các doanh nghiệp quốc doanh đều được nhà nước tài trợ vốn, nếu thiếu được ngân hàng cho vay với lãi suất ưu đãi. Trong cơ chế bao cấp nặng nề như vậy, vai trò của các giải pháp sử dụng có hiệu quả vốn cho sản xuất kinh doanh
27

ở các doanh nghiệp không được đặt ra như những nhu cầu cấp bách, có tính sống còn đối với các doanh nghiệp. Chế độ bao cấp một mặt đã thủ tiêu tính chủ động của các doanh nghiệp, mặt khác đã tạo ra sự cân đối giả tạo về quan hệ cung cầu vốn trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay đòi hỏi sự tồn tại một lượng vốn như một tiền đề bắt buộc. Không có vốn sẽ không có bất kỳ công việc kinh doanh nào. Tiền vốn kinh doanh của các doanh nghiệp là tiền đề đối với mọi thành phần kinh tế tham ra vào quá trình kinh doanh. Cạnh tranh và khát vọng lợi nhuận đã thực sự thôi thúc doanh nghiệp tăng cường đầu tư đổi mới thiết bị, đầu tư vào những ngành nghề mới, đầu tư chiếm lĩnh thị trường...Tình hình trên đây đã làm gia tăng nhu cầu vốn và phải có các giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả của doanh nghiệp. Vì vậy, vai trò của các giải pháp sử dụng hiệu quả vốn của các doanh nghiệp nói chung; các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng ở nước ta hiện nay là một bộ phận then chốt của chiến lược vốn. Vai trò các giải pháp đó được thể hiện trên các mặt cơ bản sau: Một là: Giải pháp sử dụng có hiệu quả vốn có vai trò quan trọng trong việc khai thác tiềm năng kinh tế hiện thực, có hiệu quả cao và có khả năng thu hồi vốn cao. Hai là: Các giải pháp sử dụng vốn có tác dụng trong việc điều hành sử dụng vốn phù hợp với các mục tiêu lớn của nền kinh tế theo yêu cầu của công nghiệp hoá hiện đại hoá. Ba là: Các giải pháp sử dụng hiệu quả vốn có tác dụng đẩy nhanh việc xây dựng cơ sở vật chất kinh tế, đặc biệt là một số ngành mũi nhọn, ngành có khả năng thu lợi nhuận cao, có khả năng hoàn vốn nhanh tạo thu nhập lớn cho xã hội. Bốn là: Các giải pháp sử dụng hiệu quả vốn có tác dụng sử dụng tốt nguồn “ chất xám” kinh tế.
28

Năm là: Các giải pháp sử dụng hiệu quả vốn có tác dụng tăng vòng quay của vốn trong doanh nghiệp vừa và nhỏ, để vốn chu chuyển được liên tục không gián đoạn, đảm bảo cho doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện các mục tiêu kinh doanh của mình. Như vậy, các giải pháp sử dụng hiệu quả vốn có những vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp. Các giải pháp sử dụng hiệu quả vốn bao gồm những giải pháp nào, nội dung, điều kiện, tác dụng của từng giải pháp sẽ đề cập ở chương 3.

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM

2.1

Thực trạng về sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và

nhỏ ở VN: 2.1.1 Bức tranh tổng quát nguồn gốc hình thành và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam: Công nghiệp hoá là con đường đưa đến một nền kinh tế hiện đại và có mức tăng trưởng cao. Những nền kinh tế hiện đại nhất ngày nay ngày càng dựa trên sự phát triển của nền ngành dịch vụ tinh xảo. Tuy nhiên nền kinh tế đó phải trải qua một quá trình phát triển lâu dài, từ chỗ là những nền

29

kinh tế nông nghiệp nông thôn chuyển dần thành nền kinh tế lấy công nghiệp và các ngành dịch hỗ trợ công nghiệp làm trung tâm. Trong nền kinh tế thị trường, thành phần kinh tế không phải là hình thức sở hữu riêng biệt, mà là một hình thức phát triển đan xen. Nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay cũng tương tự như vậy. Trong quá trình phát triển kinh tế, việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là vấn đề được Nhà nước hết sức quan tâm. Tuy nhiên mức độ đánh giá vai trò, vị trí của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở từng giai đoạn có khác nhau: - Giai đoạn 1: Từ hội nghị Trung ương lần thứ 6 khoá IV (tháng 8 năm 1979) đến tháng 8/1976: Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khoá IV) có thể coi là mức đánh dấu khởi đầu công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của nước ta. Tại Hội nghị, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra quan điểm phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dưới những chủ trương cụ thể như: “bỏ ngăn sông cấm chợ”, “cho sản xuất bung ra”, thừa nhận nhiều thành phần kinh tế với những qui định cụ thể: ở Miền Nam có 5 thành phần kinh tế, ở Miền Bắc có 3 thành phần kinh tế; kinh tế tư bản tư nhân không được thuê mướn quá 510 công nhân. Việc chấp hành những quan điểm mới đó thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực công nghiệp. Trong giai đoạn này toàn bộ ngành công nghiệp được chia ra thành công nghiệp quốc doanh và tiểu thủ công nghiệp. Tiểu thủ công nghiệp theo nghĩa đen là công nghiệp nhỏ và công nghiệp thủ công. Trong thực tế cũng diễn ra đúng như vậy, hầu hết các các doanh nghiệp khu vực tiểu thủ công nghiệp mà chủ yếu là hợp tác xã, tổ hợp tác đều có qui mô nhỏ cả vốn lẫn số lượng lao động. Sự thuê mướn lao động bị hạn chế nghiêm ngặt vì hành vi này được coi là bóc lột. Chính sách đối xử với khu vực công nghiệp quốc doanh và tiểu thủ công nghiệp trong giai đoạn này nhìn chung là không bình đẳng. Các doanh nghiệp tiểu thủ công nghiệp không được đầu tư đúng mức, việc vay vốn ngân hàng bị hạn chế, hay có thể nói khách hàng ngoài quốc doanh thường
30

phải vay vốn với lãi suất cao hơn so với doanh nghiệp Nhà nước, thậm chí cả tiền lương, tiền thưởng của người lao động trong khu vực tiểu thủ công nghiệp cũng phải thấp hơn người công nhân trong khu vực quốc doanh cùng loại. Định hướng phát triển các doanh nghiệp khu vực tiểu thủ công nghiệp chỉ là sự tồn tại tạm thời trong quá trình tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Các đơn vị cá thể phải tiến lên thành các đơn vị tập thể, các đơn vị tập thể có mức độ tập thể hoá tư liệu sản xuất thấp như hợp tác xã bậc thấp phải chuyển lên hợp tác xã bậc cao. Hợp tác xã bậc cao khi có đủ điều kiện sẽ chuyển thành xí nghiệp quốc doanh. Quan điểm nhận thức như trên đã tác động mạnh mẽ đến thực trạng phát triển các doanh nghiệp tiểu thủ công nghiệp. Sau mấy chục năm xây dựng cơ sở sản xuất, trang thiết bị của hợp tác xã - tổ hợp tác vẫn rất nghèo nàn, lạc hậu người quản lý không được đào tạo, nhiều ngành nghề truyền thống bị mai một. Bước vào cơ chế thị trường tuyệt đại bộ phận các cơ sở này không tồn tại được phải giải tán hàng loạt. - Giai đoạn 2: Từ năm 1986 đến khi Luật Doanh nghiệp ra đời và có hiệu lực (tháng 6/1999) Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, chương trình cải cách kinh tế cơ bản của Việt Nam mới được đưa ra thực hiện với tên gọi: “Đổi mới”. Trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế. Quan điểm cơ bản đó tác động đến sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là việc thừa nhận sự tồn tại lâu dài và vai trò của các thành phần kinh tế khác ở Việt Nam, song phải nói rằng, chính sách đối với khu vực ngoài quốc doanh được thay đổi về chất kể từ khi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành nghị quyết số 16/NQTW ngày 15/7/1988 thừa nhận vai trò của các khu vực ngoài quốc doanh và sự phát triển của chúng được Nhà nước chính thức khuyến khích và hỗ trợ, trong đó nêu rõ rằng: - Chúng sẽ hoạt động bên ngoài quá trình kế hoạch hoá Nhà nước
31

- Chúng sẽ không bị các cơ quan độc quyền của Nhà nước phân biệt đối xử về mặt cung cấp nguyên vật liệu và các phụ tùng sử dụng thay thế. - Chúng được bình đẳng với các đơn vị quốc doanh về cung cấp trang thiết bị. - Những cơ sở làm hàng xuất khẩu được sử dụng ngoại tệ kiếm được để nhập khẩu trang thiết bị và được tự tìm thị trường đầu ra. - Những cơ sở xuất khẩu có thể ký kết hợp đồng với nước ngoài. - Chúng có thể được đảm bảo không phải trả tiền về đào tạo kỹ thuật và công nghệ của các trường đào tạo Nhà nước. - Chúng được hưởng và bảo vệ quyền tác giả về các phát minh của mình Việc thừa nhận kinh tế tư nhân đã được nhắc lại trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 và được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII thông qua trong đó nêu rõ: “Mọi công dân được tự do hoạt động kinh doanh theo pháp luật, quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp của họ được bảo vệ. Nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều loại hình sở hữu và trình độ lực lượng sản xuất, nhằm tăng nhanh sự phát triển có hiệu quả của nền sản xuất xã hội. Mọi đơn vị kinh tế, bất kể hệ thống sở hữu như thế nào đều hoạt động trong một hệ thống kinh doanh tự chủ hợp tác và cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật. Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và vị trí ở các khu vực và ngành không bị pháp luật ngăn cấm...” Nhà nước duy trì chính sách vì một nền kinh tế hỗn hợp không phân biệt đối xử, không tước đoạt tài sản hợp pháp không ép buộc tập thể hoá tư liệu sản xuất hoặc áp đặt cơ cấu kinh doanh, khuyến khích các hoạt động. Trong giai đoạn này các xí nghiệp tư nhân và tập thể không hẳn là hiện tượng mới mẻ hoặc nhỏ nhặt ở nước ta, cụ thể: Trong giai đoạn này, nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên sự tồn tại và đan xen nhiều hình thức sở hữu đã bước đầu khơi dậy các nguồn lực của đất nước, tạo ra sự năng động trong hoạt động kinh tế thúc đẩy nền kinh tế
32

tăng trưởng và nhịp độ tương đối cao. Đặc biệt khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đóng vai trò lớn và đang được khuyến khích phát triển. Vấn đề này được thể hiện qua bảng sau: Bảng 3: Bước phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta trong giai đoạn 1991-1994.
Tổng số (tính đến cuối 1994) Loại doanh nghiệp Số doanh nghiệp Vốn (tỷ đồng) 56.382 2.000 3.599 1.022 48.713 997 Chia ra Từ 1991 đến cuối 1993 Vốn (tỷ Số DN đồng) 18.854 40.081 8.684 1.321 3.3390 2.573 106 807 5.704 34.612 214 756 768 Năm 1994 Số Vốn (tỷ DN đồng) 7.428 16.251 5.088 679 1.730 1.026 27 215 338 14.102 65 180 229

Tổng số 26.282 Doanh nghiệp tư nhân 13.772 Công ty TNHH 5.120 Công ty cổ phần 133 Doanh nghiệp Nhà 6.042 nước Doanh nghiệp đoàn thể 279 Văn phòng đại diện 936 (Nguồn tài liệu: Kinh tế

Việt Nam 1990-1995 Tạp chí kinh tế Việt

Nam, số tháng 4 năm 1996) Qua số liệu bảng tính trên, tính đến cuối năm 1994, sau gần mười năm từ khi có chủ trương phát triển mọi thành phần kinh tế ngoài 6.042 doanh nghiệp Nhà nước, số doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới có là 20.240 doanh nghiệp, đây là con số còn quá nhỏ bé đối với một quốc gia 74 triệu dân. Rõ ràng, Việt Nam cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thành lập các doanh nghiệp để mở thêm các laọi hình doanh nghiệp mới thích hợp với các đối tượng khác nhau và thể chế hoá nó là vấn đề đang trở nên cấp thiết. Kinh tế ngoài quốc doanh đã có bước phát triển mới cả về số lượng doanh nghiệp mà đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong những ngành nghề đòi hỏi ít vốn đầu tư, mau thu hồi vốn. Biểu hiện là các doanh nghiệp đều thành lập vào năm 1989 và tăng lên rất nhanh từ năm 1990, đồng thời
33

xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp mới như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần… Điều đáng chú ý là kinh tế ngoài quốc doanh thường đạt hiệu quả cao hơn kinh tế quốc doanh. Ví dụ: Trong ngành công nghiệp thì 1 đồng vốn tài sản cố định của tiểu thủ công nghiệp làm ra 4-5 đồng giá trị sản lượng, còn của công nghiệp quốc doanh thì chỉ tạo ra 1 đồng. Hoặc trong thương mại dịch vụ, cùng sử dụng một diện tích kinh doanh như nhau nhưng thương mại dịch vụ của tư nhân thường đóng góp cho ngân sách Nhà nước nhiều hơn từ 5-10 lần so với thương mại Nhà nước. - Giai đoạn 3: Từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực cho đến nay. Luật Doanh nghiệp được ban hành có hiệu lực từ 1/1/2000 đã đơn giản hoá rất nhiều thủ tục hành chính không cần thiết nhằm tạo thuận lợi trong việc đăng ký và hoạt động sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, đồng thời giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó các chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ được cụ thể hoá bằng các văn bản luật và dưới luật, thể hiện sự quyết tâm của Nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp này. Cụ thể: - Thông tư số 96/1999/TT-BTC ngày 8/12/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp có giá trị sản lượng lớn, thu nhập cao. - Thông tư 82/2000/TT-BTC ngày 14/8/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn chính sách tài chính nhằm phát triển kinh tế trang trại. - Thông tư liên tịch số 2341/2000/TTLT/KHCNMT-BTC ngày 22/11/2000 của liên bộ hướng dẫn Nghị định 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 của Chính phủ về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học, công nghệ. thôn.
34

Quyết định 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng

Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông

-

Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/2/2001 của Thủ tướng

giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính phủ ban hành qui chế thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã đưa ra các nhiệm vụ cụ thể để khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển, cụ thể: Thống nhất các quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân; Tạo môi trường thuận lợi về thể chế và tâm lý xã hội cho sự phát Sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, chính sách như:

triển của kinh tế tư nhân; + Chính sách đất đai + Chính sách tài chính, tín dụng + Chính sách lao động, tiền lương + Chính sách hỗ trợ về đào tạo, khoa học và công nghệ + Chính sách hỗ trợ về thông tin, xúc tiến thương mại + Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để thấy rõ những đặc điểm của kinh tế tư nhân ở nước ta trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phân tích thực trạng, xu hướng phát triển để có quyết sách phù hợp đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân theo chủ trương của Đảng. Tiếp tục hoàn thiện tăng cường quản lý nhà nước; Tăng cường lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ

quốc, các đoàn thể nhân dân và các hiệp hội doanh nghiệp đối với việc phát triển kinh tế tư nhân. Ngoài ra hàng năm Chính phủ còn tổ chức gặp gỡ trực tiếp giữa Thủ tướng Chính phủ và đại diện các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm giải quyết các vướng mắc kịp thời của đối tượng doanh nghiệp này.

35

Với những cố gắng trên thì sau năm 2000 (một năm sau khi thực hiện Luật Doanh nghiệp) thì đã có 14.417 doanh nghiệp mức và 15.000 hộ kinh doanh cá thể được thành lập, tổng số vốn đăng ký đạt hơn 24 ngàn tỷ đồng (tương đương 1,65 tỉ USD). Số lượng doanh nghiệp năm 2000 tăng gấp 3 lần, số vốn tăng gấp 5 lần so với năm 1999. Năm 2001 đã có thêm 21.040 doanh nghiệp mới đăng ký hoạt động, tăng 1,46 lần, vốn tăng gấp 1,78 lần so với năm 2000 (Trang 41-42, số 22 Tạp chí cộng sản, năm 2002). Điều đáng lưu ý là trong khi doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực dân doanh tăng lên nhanh chóng thì khu vực nhà nước lại giảm mạnh do chủ trương sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, thì những doanh nghiệp nhà nước nào mà Nhà nước không cần thiết phải nắm giữ 100% vốn, và không thể tiến hành cổ phần hoá cho có hiệu quả được, thì xử lý theo các giải pháp giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê. Nghị quyết Trung ương 3 (khoá IX) đã nêu rất cụ thể là giải pháp này sẽ được áp dụng đối với những doanh nghiệp thuộc thuộc diện trên với qui mô nhỏ có vốn nhà nước dưới 5 tỷ đồng. Trên đây chúng ta vừa xem xét thực trạng và sự phát triển của loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta trong các giai đoạn, chúng ta đã thấy được sự lớn mạnh của loại hình doanh nghiệp này. Tuy nhiên để tìm ra những giải pháp hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta, chúng tôi xin lấy doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc thành phần kinh tế thuộc khu vực dân doanh để phân tích vì: nhập. Các yếu tố sản xuất ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực dân Sự tăng trưởng sản xuất ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực dân doanh được sử dụng triệt để và hiệu quả hơn các doanh nghiệp nhà nước. doanh có thể đem lại hiệu quả trong việc mở rộng việc làm và tăng thu

36

-

Về triển vọng lâu dài doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực này có thể

được nhìn nhận như một mảnh đất màu mỡ cho các nhà doanh nghiệp, những người đóng vai trò quan trọng đối với công nghiệp hoá trong tương lai của đất nước. Khu vực này cần phải có tác dụng tăng được sự tin tưởng của các Sự tin tưởng vào tương lai lâu dài của doanh nghiệp vừa và nhỏ khu nhà doanh nghiệp vào các mục tiêu và chính sách của Chính phủ. vực dân doanh là một điều kiện kiên quyết cho đầu tư dài hạn và khả năng phát triển của chúng. Chúng ta có thể xem xét thực trạng của doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực dân doanh ở nước ta trên một số khía cạnh. 2.1.2 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh ở nước ta: a. Các doanh nghiệp ở thành thị: Bình quân mỗi doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực dân doanh ở thành thị đã tạo việc làm cho 15,5 người, trong đó có 13,1 người làm thuê và tạo ra tổng giá trị tăng thêm là 10.260 USD hay 702 USD cho mỗi lao động trong năm 1990 (bảng 4). Tổng tài sản trung bình là 25.636 USD hoặc 1.754 USD/lao động. Nguồn vốn vay ngoài của các doanh nghiệp chiếm tỷ lệ không đáng kể, chỉ 1.528 USD tính trung bình chỉ bằng 3,6% tổng số vốn của doanh nghiệp. Tổng tiền công trả cho một lao động hằng năm là 331 USD, cao hơn một chút mức tiền công cho một lao động 290 USD của các doanh nghiệp nhỏ quốc doanh được điều tra. Bảng 4: Những chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành thị theo thành phố 1990.
Đ.vị tính Hà Nội Hải Phòng TPHC M Toàn bộ ngoài quốc doanh Trung Trung bình vị

37

Doanh thu USD 7.542 35.558 57.589 40.883 12.118 Giá trị tăng thêm 4.989 7.873 14.238 10.260 4.621 Tiền công 2.240 3.450 5.319 4.043 1.871 Lợi nhuận 1.727 3.295 7.373 4.908 1.676 Tổng tài sản 16.832 32.166 28.336 25.636 1.086 Vốn lưu động 4.040 9.016 6.933 6.468 1.961 Nợ 688 1.944 1.860 1.528 0 G.trị tăng thêm/1LĐ USD 397 412 990 702 445 Tài sản/lao động 1.022 1.715 2.196 1.754 980 G.trị tăng thêm/vốn 1,2 0,86 3,86 2,49 0,5 Tiền công trung bình 212 217 441 331 261 Tỷ trọng LĐ làm thuê % 62 72 64 65 83 (Nguồn tài liệu: Kinh tế Việt Nam 1990-1995 Tạp chí kinh tế Việt Nam, số

tháng 4 năm 1996) Chỉ tiêu khái quát này của doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực ngoài quốc doanh ở thành thị hoàn toàn khác các doanh nghiệp nhà nước thể hiện ở bảng 5 Bảng 5: Những chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của các doanh nghiệp ở thành thị phân theo loại hình sở hữu 1990.
Đ.vị tính Hộ gia đình Tư nhân Tổ hợp Hợp tác xã Quốc doanh

Doanh thu USD 11.586 48.456 40.297 66.855 1.897.080 Giá trị tăng thêm 3.592 12.590 11.774 13.410 360.364 Tiền công 364 5.137 4.138 6.808 20.050 Lợi nhuận 2.838 5.725 6.140 4.816 30.482 Tổng tài sản 8.450 30.273 26.097 38.935 2.596.203 Vốn lưu động 1.127 10.646 5.922 8.166 1.382.028 Nợ 52 2.549 1.147 2.165 55.173 G.trị tăng thêm/1LĐ USD 648 813 809 505 4.011 Tài sản/lao động 1.501 2.188 1.802 1.332 23.909 G.trị tăng thêm/vốn 1,65 0,87 0,72 0,79 1,31 Tiền công trung bình 344 402 313 255 290 Tỷ trọng LĐ làm thuê % 14 72 81 96 92 (Nguồn tài liệu: Kinh tế Việt Nam 1990-1995 Tạp chí kinh tế Việt Nam, số

tháng 4 năm 1996) Đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực ngoài quốc doanh có vốn đầu tư thấp hơn nhiều và mức đầu tư cho một lao động cũng thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp nhà nước. Vốn đầu tư cho một lao động của

38

các doanh nghiệp nhà nước là 23.909 USD cao gấp 13 lần so với doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực ngoài quốc doanh. Nguồn vốn bên ngoài và số tiền nợ của doanh nghiệp nhà nước cũng cao hơn. Số liệu cho thấy mức lợi nhuận của doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh cao hơn đáng kể so với doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực nhà nước với 1,6% so với doanh thu là 1,2% so với tổng vốn. Bình quân các doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh có mức lợi nhuận cao hơn nhiều, tương ứng là 12,0 và 19,1. Chỉ có 4% doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh là thua lỗ, 4,8% có lợi nhuận bằng 0. Một số doanh nghiệp có lợi nhuận trên 1.675 USD và 25% có lợi nhuận trên 4.130 USD. Mức lợi nhuận bình quân cao 4.908 USD là do thực tế có một số doanh nghiệp có mức lợi nhuận rất cao 155.000 USD Dù sao các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực ngoài quốc doanh cũng kém đồng nhất, mức độ chênh lệch khá lớn, đa số các doanh nghiệp là nhỏ và một số ít các doanh nghiệp là vừa. Điều đó được phản ánh như có một nửa số doanh nghiệp có tổng tài sản nhỏ hơn 10.700 USD và 25% doanh nghiệp có tổng tài sản nhỏ hơn 3.850 USD, tính cho năm 1990 trong khi giá trị trung bình là 25.636 USD cũng tương tự, 1/2 số doanh nghiệp có giá trị tăng thấp hơn 4.630 USD và 25% thấp hơn 1.760 USD, trong khi đó 10% số doanh nghiệp lớn nhất đều có giá trị tăng thêm trên 26.000 USD. Hơn 82% số doanh nghiệp không vay vốn bên ngoài sự biến thiên về số lao động có ít hơn, 1/2 số doanh nghiệp có từ 5-12 lao động, chỉ 3% số doanh nghiệp có trên 50 lao động. Bản chất sự khác nhau của doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực dân doanh, sự chênh lệch và thiếu đồng đều của nó không đáng ngạc nhiên lắm, nhưng cần quan tâm hơn cả là việc hoạch định chính sách cho phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực dân doanh này. Điều quan trọng hơn chúng ta có thể thấy được là các doanh nghiệp thành thị phía nam sử dụng lao động và vốn có hiệu quả hơn các doanh nghiệp phía bắc; giá trị tăng thêm trên một đơn vị tài sản cố định cũng cao
39

gấp 3 lần ở phía bắc, sỡ dĩ như vậy là: do điểm khởi đầu liên quan đến cơ sở hạ tầng về kinh tế và vật chất ở phía nam phát triển cao hơn, nền kinh tế thị trường cũng phát triển hơn. Mặt khác, mặc dù thực tế các doanh nghiệp phía nam có thể hoạt động hiệu quả hơn, nhưng lại không có sự khác nhau lắm về mức độ lợi nhuận, điều đó cho chúng ta thấy rằng sự cạnh tranh của các doanh nghiệp phía nam cũng gay gắt hơn các doanh nghiệp ở phía bắc. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng trong phần lớn các trường hợp sự biến thiên của các giá trị trung bình được nêu trong bảng thường là rất lớn. Đối với tất cả các loại doanh nghiệp những giá trị trung bình ảnh hưởng bởi số ít các doanh nghiệp có vốn lớn, doanh thu cao, giá trị tăng thêm nhiều, do vậy sự biến thiên này đã đưa ra một bức tranh khá lạc quan về hoàn cảnh thực tại. Bản chất sự đồng nhất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực dân doanh cũng như từng loại hình doanh nghiệp có thể được giải thích bằng sự khác nhau giữa một bên là Hà Nội và Hải Phòng có giá trị tăng thêm trên một lao động thấp hơn mức trung bình, các hợp tác xã cũng không hoàn toàn giống nhau. Các hợp tác xã có năng suất lao động rất thấp, với giá trị tăng thêm trung bình trên một lao động chỉ có 505 USD và mức tiền công trung bình cũng rất thấp. Hơn một nửa số hợp tác xã có giá trị tăng thêm trên một lao động nhỏ hơn 312 USD, nên chúng cần được quan tâm và hỗ trợ về tài chính. Có thể nhận thấy rằng năng suất lao động ở các doanh nghiệp có qui mô lớn dường như cao hơn các doanh nghiệp có qui mô nhỏ. ở đây có mối tương quan chặt chẽ hợp lý giữa tổng doanh thu của doanh nghiệp với giá trị tăng thêm trên một lao động. Mối tương quan giữa tổng tài sản và năng suất lao động thì không rõ rệt nhưng cũng đáng chú ý. Khi phân tích các khoản mục trong tổng giá trị tăng thêm, ta thấy rõ mối tương quan chặt chẽ giữa qui mô của doanh nghiệp và năng suất lao động. Năng suất lao động cao hơn trong các doanh nghiệp có qui mô lớn hơn chỉ có thể là do vốn đầu tư cho một lao động có phần nào cao hơn
40

trong các doanh nghiệp này. Mặc dù là quan trọng nhưng tỷ lệ qua phân tích thực tế là 0,46 giữa vốn trên lao động và năng suất lao động lại tương đối lỏng lẻo, điều đó chỉ ra rằng các nhân tố khác chỉ thứ yếu, ở đây có mối liên hệ chặt chẽ giữa mức tiền công và năng suất lao động cũng như toàn bộ lợi nhuận, điều đó cho thấy rằng năng suất lao động và lợi nhuận tạo ra là căn cứ chủ yếu để xác định tiền công trong từng doanh nghiệp. Do đó, mức tiền công ở các doanh nghiệp có qui mô lớn hơn cũng có chiều hướng cao hơn. Việc phân tích các doanh nghiệp ở mỗi thành phố cũng chứng minh cho kết quả về sử dụng vốn, giá trị tăng thêm trên một đơn vị vốn thì độc lập với qui mô của doanh nghiệp. Sự khác nhau giữa các yếu tố sản xuất và các doanh nghiệp có qui mô lớn không thật rõ rệt. Không có gì ngạc nhiên khi các doanh nghiệp hộ gia đình với số lượng lao động ít thì mối quan hệ giữa tổng giá trị và số lượng lao động thấp thì mối quan hệ giữa tổng giá trị và giá trị tăng thêm cho một lao động rất chặt chẽ. Việc so sánh mối quan hệ giữa việc tăng vốn đầu tư lao động và giá trị tăng thêm cho thấy một số doanh nghiệp hộ gia đình tồn tại với vốn và năng suất lao động thấp. Các doanh nghiệp tư nhân có mối quan hệ chặt chẽ giữa một bên là qui mô bao gồm cả tổng doanh thu và giá trị tăng thêm với một bên là năng suất lao động. Mối quan hệ chặt chẽ giữa năng suất lao động và mức tiền công ở loại hình doanh nghiệp này cho thấy việc xác định mức tiền công phụ thuộc vào năng suất lao động của doanh nghiệp, không chịu tác động của các cơ quan và các vấn đề khác. Mặc dù việc tăng cường vốn đầu tư có liên quan đến qui mô của các doanh nghiệp tư nhân, nhưng nó không chặt chẽ như các doanh nghiệp khu vực dân doanh khác. Phần nhiều các tổ hợp cũng có những điểm tương đồng giống như doanh nghiệp tư nhân, loại trừ mối mối quan hệ năng suất lao động với qui mô doanh nghiệp và mối quan hệ giữa năng suất lao động với tiền công thì có phần lỏng lẻo hơn. Điểm
41

khác nhau giữa hợp tác xã với doanh nghiệp khu vực dân doanh là ở chỗ mối quan hệ giữa vốn đầu tư tăng thêm trên một lao động và giá trị tăng thêm trên một lao động rất chặt chẽ. Điều đó phản ánh một thực tế là phần lớn các hợp tác xã thường gặp khó khăn về vốn và năng suất lao động thấp hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. b. Các doanh nghiệp ở nông thôn: Doanh nghiệp hộ gia đình và doanh nghiệp tư nhân ở nông thôn đều nhỏ hơn đáng kể so với hai loại hình tương ứng ở thành thị. Tổng doanh thu của doanh nghiệp tư nhân trung bình ở nông thôn chỉ bằng khoảng 57% loại doanh nghiệp này ở thành thị. Trung bình một doanh nghiệp tư nhân nông thôn năm 1990 tạo ra được giá trị tăng thêm là 6.300 USD, trong khi đó doanh nghiệp tư nhân ở thành thị tạo ra giá trị tăng thêm là 12.600 USD. Sự khác nhau rõ rệt nhất giữa các doanh nghiệp nông thôn và thành thị là vốn đầu tư. Bình quân các doanh nghiệp ở thành thị có vốn đầu tư gấp 5 lần so với mỗi loại hình tương tự ở nông thôn thể hiện ở bảng 6: Bảng 6: Những chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình khu vực nông thôn và thành thị năm 1990. Đ.vị tính Doanh nghiệp hộ gia đình Doanh nghiệp tư nhân

Doanh thu Giá trị tăng thêm Tài sản Nợ G.trị tăng thêm/1LĐ Tài sản/lao động Tiền công trung bình

Thành Nông Nông Thành thị thị thôn thôn USD 11.586 4.127 48.456 27.693 3.592 1.216 12.591 6.299 8.451 1.847 3.273 5.679 196 33 2.549 347 USD 648 356 813 773 1.501 538 2.188 709 344 233 402 322 (Nguồn: Thời báo Tài chính số tháng 2/1991 Tác giả Bạch Thị Minh Tuyết)

Điểm khác nhau cơ bản giữa các doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh ở nông thôn và thành thị là việc sử dụng nhiều lao động hơn, sự khác
42

nhau này là từ 1-3 lần. Tài sản bình quân trên một lao động ở doanh nghiệp tư nhân vùng nông thôn chỉ là 709 USD, ở thành thị là 2.188 USD. Như vậy có thể thấy rằng năng suất lao động ở các doanh nghiệp nông thôn thấp hơn năng suất lao động ở thành thị. Sự khác nhau về năng suất lao động cũng được thể hiện trong mức tiền công. Đối với doanh nghiệp tư nhân mức tiền công ở khu vực nông thôn thấp hơn thành thị khoảng 20%. ở vùng nông thôn, các doanh nghiệp chế biến nông sản và sản xuất có xu thế chung là lớn hơn đáng kể so với dịch vụ. Bình quân về giá trị tăng thêm và năng suất lao động tăng gấp đôi. Năng suất lao động tính bằng giá trị tăng thêm một lao động và tiền công trung bình thay đổi rất nhiều giữa các ngành kinh tế khác nhau. Tuy nhiên cơ cấu ngành thay đổi giữa các tỉnh và năng suất lao động, mức tiền công thể hiện sự khác nhau về mặt địa lý, cụ thể là sự khác nhau giữa miền nam và miền bắc. Các doanh nghiệp ở nông thôn không có được cơ sở hạ tầng thuận lợi như các doanh nghiệp ở đô thị. Trình độ cơ khí hoá các doanh nghiệp nông thôn thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp ở thành thị. Trình độ cơ khí hoá giữa các tỉnh, các loại hình doanh nghiệp khác nhau không nhiều, nhưng cao nhất vẫn là các tỉnh phía nam. Hầu như tất cả các doanh nghiệp ở nông thôn đều là chủ sở hữu những máy móc mà họ sử dụng, còn việc đi thuê hoặc cho thuê máy móc thiết bị chỉ là cá biệt. Phần lớn các doanh nghiệp ở nông thôn mua máy mới, ngược lại các doanh nghiệp ở thành thị thường sử dụng máy cũ. Cũng như ở khu vực thành thị, mối tương quan giữa qui mô của doanh nghiệp và năng suất lao động ở khu vực nông thôn khá rõ ràng. Nếu coi qui mô của doanh nghiệp là giá trị tăng thêm tạo ra thì mối quan hệ đó chặt chẽ hơn khi qui mô là tổng doanh thu. Có thể giải thích điều đó là do tính phong phú, đa dạng của nó và do có nhiều doanh nghiệp dịch vụ trong số các doanh nghiệp điều tra mà mức lãi của nó không nhiều. Các doanh
43

nghiệp sản xuất ở nông thôn cho thấy mối tương quan giữa giá trị tăng thêm trên một lao động và các điều kiện tạo ra tổng giá trị tăng thêm (0,71) gần giống như các doanh nghiệp thành thị. Mối tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu ở các doanh nghiệp nông thôn năm 1990 thể hiện ở bảng 7: Bảng 7: Sự tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu ở các doanh nghiệp nông thôn năm 1990. Đơn vị tính: % Chung cho các DN nông thôn - Doanh nghiệp hộ gia đình - Doanh nghiệp tư nhân - Doanh nghiệp chế biến nông sản - Doanh nghiệp sản xuất P/A 0,44 0,47 0,4 0,43 0,44 P/O 0,59 0,49 0,57 0,42 0,71 P/G 0,24 0,3 0,3 Q/A 0,19 0,34 0,4 Q/O 0,17 0,27 0,24 P/Q 0,35 0,25 0,57 0,49 0,31

P/A: Giá trị tăng thêm của một công nhân/tổng thu nhập. P/O: Giá trị tăng thêm của một công nhân/tổng giá trị tăng thêm. P/G: Giá trị tăng thêm của một công nhân/tổng tài sản có. Q/A: Tổng tài sản có trên một công nhâ/tổng thu nhập. Q/A: Tổng tài sản có trên một công nhâ/tổng giá trị tăng thêm. P/Q: Giá trị tăng thêm trên một công nhân/ tổng số tài sản có trên Mối tương quan giữa mức đầu tư (tổng tài sản/lao động) và qui mô

một công nhân doanh nghiệp khá chặt chẽ. Việc đánh giá này cho thấy, hỗn hợp yếu tố sản xuất thì không thay đổi nhiều theo qui mô doanh nghiệp, thậm chí đối với cả các doanh nghiệp vốn lớn, sử dụng nhiều lao động. Điều đó cũng cho thấy rằng, vốn không thể thay thế cho lao động trong việc phát triển qui mô doanh nghiệp. Phân tích sâu hơn có thể thấy rằng mối liên hệ giữa vốn đầu tư (tính bằng tổng tài sản cho một lao động) và năng suất lao động cũng không chặt chẽ. Vì vậy, đối với các doanh nghiệp hộ gia đình thì các yếu tố khác ngoài
44

vốn đầu tư dường như quyết định năng suất lao động, nhưng đối với các doanh nghiệp tư nhân thì mối quan hệ giữa vốn và năng suất lao động lại rất chặt chẽ. Điều đó có thể thấy khi so sánh năng suất lao động giữa doanh nghiệp chỉ sử dụng công cụ cầm tay với các doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị. Cũng như đối với các doanh nghiệp thành thị, hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn khác nhau không đáng kể. Từ sự phân tích trên, ta rút ra những khó khăn chủ yếu ảnh hưởng tới sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng nông thôn. Thứ nhất: Doanh nghiệp vùng nông thôn bắt đầu hoạt động trong tình thế vô cùng bất lợi, đó là tình trạng kém phát triển ở vùng nông thôn. Thứ hai: Các doanh nghiệp vùng nông thôn còn non yếu về trình độ kỹ thuật và công nghệ thấp kém, năng suất và hiệu quả kinh tế thấp, khả năng cạnh tranh rất hạn chế. Thứ ba: Cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh chưa đáp ứng được các yêu cầu của việc phát triển nhanh chóng rộng rãi công nghiệp nông thôn.Hệ thống đường sá, bến bãi, kho tàng cũng như hệ thống điện, hệ thống thông tin liên lạc ở nông thôn rất yếu kém. Những khó khăn này không chỉ ngăn cản sự thâm nhập vào thị trường mới của các doanh nghiệp mà còn gây trở ngại cho sản xuất của các doanh nghiệp vùng nông thôn. Thứ tư: Sự đơn điệu về nguồn vốn đã làm không ít các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vùng nông thôn lâm vào tình trạng thiếu vốn. Vốn quá thiếu, mức đầu tư cho một chỗ làm việc quá nhỏ (chênh lệch nhiếu so với các doanh nghiệp thành thị), đã dưa các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn lâm vào tình trạng không có khả năng mở rộng đầu tư theo chiều sâu, nâng cao trình độ cơ khí hoá sản xuất cũng như áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất. Khoảng cách về năng suất lao động, chất

45

lượng sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành thị cũng vì thế mà càng xa. Thứ năm: Sự hạn hẹp về nguồn cung ứng vật tư kỹ thuật và thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như về mối quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan ở trong và ngoài vùng ngày càng hạn chế, khả năng thích ứng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Quan hệ hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa có điều kiện mở rộng đã ảnh hưởng đến khả năng sản xuất. 2.2-Đánh giá các chính sách sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta. 2.2.1. Chính sách quản lý và sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta trong thời gian qua: Bất cứ nước nào muốn phát triển kinh tế cũng đều cần có vốn. Tuy nhiên, vốn được tạo lập từ đâu và bằng hình thức nào đều phụ thuộc rất lớn vào chính sách và cơ chế vốn, quản lý và sử dụng vốn của nước đó. Thông thường, vốn được huy động từ hai nguồn: Từ trong nước và từ nước ngoài. Song từ nguồn nào đi chăng nữa, nó cũng chỉ được sinh ra trong quá trình tiết kiệm và tích luỹ của mỗi cá nhân và nhà nước. Vốn được chu chuyển và giao dịch phục vụ các nhu cầu của nền kinh tế thông qua nhiều kênh, xoay quanh thị trường vốn. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, vốn được tập trung theo cơ chế thị cấp phát và giao nộp, do vậy các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không được hưởng sự ưu tiên đó. Vốn trong nền kinh tế được sử dụng kém hiệu quả. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã thi hành chính sách kinh tế nhiều thành phần và sự chuyển dịch cơ cấu giữa các thành phần kinh tế trong quá trình phát triển. Về phương diện vốn mỗi thành phần kinh

46

tế được phép huy động vốn từ các nguồn khác nhau với các hình thức phong phú và đa dạng. Với sự thừa nhận khu vực kinh tế ngoài quốc doanh bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã và các hộ thủ công nghiệp cá thể. Do đặc điểm sở hữu vốn khác nhau cho nên chính sách quản lý và sử dụng vốn đối với từng loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh không giống nhau. Nhưng ta có thể đánh giá chính sách sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Từ những đóng góp to lớn của doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh ta có thể thấy rằng qua thực tế của nền kinh tế thị trường mấy năm gần đây, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh là vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam trong hiện tại và cả tương lai, đó là điều không thể phủ nhận được nhưng khi nói đến vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, thì một thực tế khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa phát huy hết được hết vai trò của mình đó là môi trường để các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển chưa hoàn toàn thuận lợi. Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thoát thai và gắn liền với nền kinh tế ngoài quốc doanh, nhưng trong nhiều năm trước đây khu vực này bị ngăn cấm, đố kỵ. Để xem xét, đánh giá các chính sách quản lý và sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta trong thời gian qua, ta có thể chia làm 2 giai đoạn: - Giai đoạn trước khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực (tháng 6/1999): Trong giai đoạn này các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong khuôn khổ của Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật công ty và các nghị định của Chính phủ. Khu vực kinh tế tư nhân đã có những bước phát triển nổi bật về số lượng, phạm vi hoạt động đa dạng. Đến năm 1994 tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong GDP là 98% trong nông, lâm ngư nghiệp; 76,5% trong thương nghiệp bán lẻ; 91% trong dịch vụ và 28% trong công nghiệp. Tuy nhiên nhìn chung nhà nước chưa xác định chiến
47

lược hợp lý để phát triển loại hình doanh nghiệp này. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế đã được thừa nhận, nhưng chưa được đánh giá đúng mức. Các chính sách đưa ra còn nặng về chức năng quản lý, chưa có tác dụng khuyến khích, thúc đẩy và hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, các chính sách phần nhiều chưa phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, việc cố gắng tạo ra sự bình đẳng máy móc trong chính sách đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như đối với doanh nghiệp lớn vô hình chung đã cản trở sự phát triển của doanh nghiệp nói chung. Chủ trương khuyến khích phát triển loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ dừng lại ở chủ trương mà chưa có những chính sách cụ thể tạo ra khuôn khổ pháp lý rõ ràng, hợp lý và tạo ra môi trường kinh tế thuận lợi cho các doanh nghiệp này hoạt động và phát triển. Thực tế, việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong giai đoạn này chưa được chú ý đúng mức, chưa có tổ chức và chưa có liên hệ chặt chẽ với các tổ chức tương ứng của khu vực này trên thế giới. Chưa có một tổ chức thống nhất đại diện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam và chính điều này phần nào hạn chế sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này. Cũng từ thực tế cho thấy, trong giai đoạn này hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam là yếu kém, thiếu vốn nghiêm trọng và hiệu quả sử dụng vốn thấp, các doanh nghiệp tuy hoạt động kinh doanh trong môi trường của nền kinh tế thị trường nhưng lại ở trong tình trạng gần như chưa có thị trường vốn, nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tạo và sử dụng vốn. Các phương tiện kỹ thuật và nghiệp vụ quản lý tài chính nghèo nàn, các thể thức kế toán chưa hoàn chỉnh, pháp luật kinh doanh vừa thiếu vừa lỏng lẻo và chưa đồng bộ, không đáp ứng được yêu cầu quản lý và kiểm soát các hoạt động tài chính doanh nghiệp. Dẫn tới tình hình tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ nghèo nàn, nhà xưởng , máy móc, thiết bị thiếu thốn không có công nghệ tiên tiến. Do
48

vậy, nhiều doanh nghiệp chỉ chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực, sản xuất thủ công qui mô vừa và nhỏ. Bên cạnh đó cũng có nhiều doanh nghiệp mà khả năng tài chính không tương xứng với năng lực và qui mô kinh doanh lại thường khuyếch chương khả năng vốn bằng các hình thức vay, huy động vốn, chiếm dụng vốn dẫn tới tình trạng vỡ nợ, mất khả năng chi trả. Vai trò quản lý tài chính của nhà nước thì tỏ ra yếu kém không thể quản lý và kiểm soát được. Cơ chế quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh gần như chỉ dừng lại các chính sách, chế độ thuế, trong khi các chính sách về vốn, quản lý chi phí lại thả nổi. Đối với các doanh nghiệp này thì cơ chế quản lý tài chính có khác những doanh nghiệp nhà nước. Sự khác biệt rõ nhất là ở cơ chế sử dụng vốn tín dụng và chính sách lãi suất cho vay của ngân hàng. Tỷ trọng vốn tín dụng đối với các khu vực kinh tế tư nhân chỉ chiếm khoảng 10%, còn đối với doanh nghiệp nhà nước là 90% trong khi đó 1/2 số doanh nghiệp này hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ à nợ nần chồng chất. Lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại đối với khu vực ngoài quốc doanh thường cao hơn lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ về mặt tài chính đối với khu vực kinh tế tư nhân thì không được quan tâm. Trợ cấp tài chính chủ yếu vẫn duy trì theo khu vực kinh tế, chứ không theo mặt hàng. Thực chất cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là cơ chế thị trường thả nổi, vai trò điều chỉnh và kiểm tra, kiểm soát của nhà nước là hết sức mờ nhạt. - Giai đoạn sau khi Luật doanh nghiệp ra đời: Trong những năm gần đây chính sách phát triển đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm và coi đó là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trong trong việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện tự do hoá thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng rộng mở thì việc
49

nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang trở thành vấn đề thời sự cấp bách. Nhận thức được tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế đất nước nên thời gian qua Nhà nước ta rất coi trọng áp dụng các biện pháp kinh tế - tài chính nhằm hỗ trợ thúc đẩy các doanh nghiệp này hình thành và phát triển. Có thể nêu lên một số chính sách cụ thể hỗ trợ tài chính của Nhà nước đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau: c. Chính sách tài chính hỗ trợ cho sự ra đời và phát triển của doanh Ưu đãi đầu tư theo quy định tại Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được hưởng các ưu đãi đầu tư đối với cơ sở mới thành lập theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 32%, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm đầu kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế thu nhạap doanh nghiệp phải nộp trong 2 năm tiếp theo; được hưởng các ưu đãi đầu tư cao hơn với mức ưu đãi cao nhất có thể hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 15%, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 4 năm đầu kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 9 năm tiếp theo nếu đầu tư vào lĩnh vực ưu đãi đầu tư, sử dụng nhiều lao động và đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có dự án đầu tư được hưởng các ưu đãi về tiền thuê đất với mức từ miễn tiền thuê đất trong 3 năm đến miến tiền thuê đất trong suốt thời gian thực hiện dự án. Ngoài ra, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có thể được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo qui định tại khoản 1 Điều 10 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp nếu đầu tư nghiệp vừa và nhỏ.

50

vào lĩnh vực hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư theo qui định của Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu có dự án đầu tư vào lĩnh vực hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư thao qui định của Luật khuyến khích đầu tư trong nước sẽ được miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nhập khẩu (nằm trong dây truyền công nghệ) để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp hoặc mở rộng qui mô đầu tư, đổi mới công nghệ, và phương tiện vận tải chuyên dùng đưa, đón công nhân.

d.

Chính sách tài chính về vốn, xúc tiến thương mại Bên cạnh các chính sách ưu đãi về tài chính qui định tại Luật

khuyến khích đầu tư trong nước và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn nhận được những sự hỗ trợ khác từ Nhà nước với mục tiêu trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ, cụ thể: Để hỗ trợ về vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Chính phủ đã ra quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20 tháng 12 năm 2001 ban hành qui chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả vốn vay; có tổng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố tại tổ chức tín dụng theo qui định của pháp luật tối thiểu bằng 30% giá trị khoản vay; không có các khoản nợ đọng thuế, nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế khác sẽ được Quỹ bảo lãnh tín dụng các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương cấp bảo lãnh tín dụng tối đa bằng 80% phần chênh lệch giưa giá trị khoản vay và giá trị tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng tại tổ chức tín dụng. Mức phí thẩm định hồ sơ bảo lãnh tín dụng chỉ bằng 50.000 đồng và mức phí bảo lãnh tín dụng bằng 0,8% tính trên số tiền được bảo lãnh tín dụng.

51

Cùng với chính sách bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo qui định tại Nghị định này, Chính phủ đã chỉ đạo Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tạo điều kiện thuận lợi cho cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận các thông tin về thị trường, giá cả hàng hoá; trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ mở rộng thị trường, tiêu thiệu thụ sản phẩm. Thêm vào đó, Chính phủ cũng đã chỉ đạo trợ giúp một phần chi phí cho doanh nghiệp vừa và nhỏ khảo sát, học tập, trao đổi hợp tác và tham dự hội trợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm, tìm hiểu thị trường ở nước ngoài. Để trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ, Chính phủ còn cho phép thành lập Cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Bộ kế hoạch và đầu tư để làm đầu mối nghiên cứu, xây dựng chính sách và tập huấn các chính sách cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; phối hợp, hợp tác với các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước để cung cấp các thông tin cần thiết cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và kêu gọi nguồn vốn từ bên ngoài để trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quỹ hỗ trợ xuất khẩu đã đợc thành lập theo quyết định số 195/1999/QĐ-TTg ngày 27/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp và các hiệp hội trong hoạt động phát triển thị trường, đảy mạnh xúc tiến thương mại như hỗ trợ một phần chi phí để tìm hiểu thị trường, tổ chức gian hàng hội chợ, triển lãm, lập kho hàng, đặt văn phòng đại diện và các trung tâm xúc tiến thương mại tại nước ngoài... Trong năm 2001, nhà nước thực hiện thêm chế độ thưởng theo kim nghạch xuất khẩu các mặt hàng gạo, cà phê, rau quả hộp và thịt lợn cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Ngoài ra nhà nước còn hỗ trợ chi phí vay vốn và những khoản lỗ phát sinh cho các doanh nghiệp thuộc diện mua tạm trữ và xuất khẩu lượng gạo dự trữ. Thực hiện giãn nợ

52

cũ và tiếp tục cho vay mới đối với nông dân trồng lúa và doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu gạo. f. Chính sách khuyến khích đầu tư phát triển khoa học công nghệ: Nghị định số 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 của Chính phủ có qui định các ưu đãi đối với hoạt động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các kết quả khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ, sản xuất sản phẩm mới, dịch vụ khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế như sau: a. Phần thu nhập có được từ các hoạt động ứng dụng công nghệ cao, dịch vụ khoa học công nghệ được áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%. b. Doanh nghiệp có dự án đầu tư vào hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng qui mô, đổi mới công nghệ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập tăng thêm của năm đầu và giảm 50% số thuế 4 năm tiếp theo do đầu tư đổi mới này mang lại. Nếu dự án trên được thực hiện ở các địa bàn đặc biệt khó khăn thì số năm được giảm miễn thuế theo nội dung trên là 4 và 7 năm. Các doanh nghiệp thuộc diện ưu đãi không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung từ các hoạt động khoa học và công nghệ. c. Doanh nghiệp có các hoạt động khoa học và công nghệ được vay vốn trung và dài hạn theo lãi suất ưu đãi, mức vốn vay tối đa là 70% số vốn đầu tư tại Quỹ hỗ trợ phát triển, Quỹ hỗ trợ xuất khẩu, Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ. 2.2.2 Kết quả đạt được và những khó khăn của doanh nghiệp vừa và nhỏ: Các chính sách khuyến khích hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhà nước được áp dụng trong thực tiến nhiều năm qua đã bước đầu phát huy tác dụng thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Nếu như đầu thập kỷ 90 nước ta mới có gần 90 doanh nghiệp thì hiện nay số lượng
53

doanh nghiệp này đã tăng lên nhanh chóng cả về tốc độ, qui mô và vốn đăng ký. Sau khi Luật doanh nghiệp được ban hành, tính đến 31/12/1999, só doanh nghiệp vừa và nhỏ đăng ký nộp thuế đã tăng lên 37.557 doanh nghiệp, với 562.000 lao động và nộp ngân sách Nhà nước là 5.538 tỷ đồng. Đến 30/9/2001, đã có 63.743 doanh nghiệp đăng ký nộp thuế và gần 1,5 triệu hộ kinh doanh cá thể. Tuy nhiên, tình hình hoạt động và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay vẫn còn gặp một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể: + Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay chiếm khoảng 90% tổng số doanh nghiệp trong cả nước nhưng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp này chỉ chiếm gần 30% tổng số vốn kinh doanh của các doanh nghiệp trong cả nước. Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ có số vốn dưới 5 tỷ đồng. Sau khi Luật doanh nghiệp được ban hành, số lượng doanh nghiệp tăng nhanh nhưng nhìn chung các doanh nghiệp mới có số vốn đăng ký trên dưới 1 tỷ đồng, quy mô sản xuất còn bé. Các doanh nghiệp này hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn vốn tự có và vay trên thị trường tài chính phi chính thức, ít tiếp cận được với các nguồn vốn tín dụng chính thức của các ngân hàng và tổ chức tín dụng do không đảm bảo được các điều kiện cần thiết và không có tài sản thế chấp. Thị trường chứng khoán mới được đưa vào hoạt động chưa thực sự trở thành thị trường vốn dài hạn và ổn định cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thiếu vốn đầu tư và năng lực tài chính vẫn là khó khăn lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay. Vẫn còn có sự phân biệt và chưa bình đẳng trong vay tín dụng, thuê đất ... nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thấp. Thị trường tiêu thụ hàng hoá dịch vụ còn là vấn đề nan giải đối với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng liên kết, hợp tác trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cồn nhiều hạn chế.

54

2.2.3 Nguyên nhân của việc kém hiệu quả trong việc sử dụng vốn kinh doanh ở doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh: Từ sự xem xét, phân tích thực trạng về vốn và quá trình sử dụng vốn kinh doanh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh, ta có thể rút ra là: Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh là mới được thành lập và xuất hiện nhiều loại hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân... nhưng qui mô về vốn ban đầu và vốn cho tăng trưởng doanh nghiệp là rất nhỏ bé. Vốn quá ít, mức đầu tư cho một chỗ làm việc quá nhỏ, đã đưa các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh vào tình trạng khó có thể sử dụng vốn vào việc đầu tư theo chiều sâu, nâng cao trình độ cơ khí hoá sản xuất cũng như áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mơí vào sản xuất. Thiếu nguồn vốn bổ sung từ tín dụng và các khoản vay từ thị trường tài chính chính thức để tạo vốn ban đầu và vốn cho quá trình tăng trưởng doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sự khác biệt rõ rệt. Một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm ăn có hiệu quả cao đã tạo ra một mức thu nhập đáng kể cho chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên có sự khác nhau rất lớn giữa doanh nghiệp nông thôn và doanh nghiệp thành thị, giữa doanh nghiệp phía nam và doanh nghiệp phía bắc, giữa loại hình sở hữu khác nhau có cùng qui mô và cơ cấu các loại doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh đều ở trong tình trạng thiếu vốn ban đầu và thiếu vốn cho quá trình phát triển doanh nghiệp nhưng không có nguồn cung ứng vốn. Việc thiếu vốn và sự khác nhau về hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh trong quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp là do nhiều nguyên nhân:

55

Thứ nhất: Ta có thể khẳng định được rằng: Việc thiếu vốn ban đầu thành lập và cho quá trình phát triển doanh nghiệp là trở ngại quan trọng nhất trong việc việc sử dụng vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong việc thành lập và tăng trưởng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh. Điều đó không chỉ là trở ngại tuyệt đối ngăn cản tiềm năng của các doanh nhân có tay nghề và đầu óc kinh doanh mà còn dẫn đến tình trạng thiếu thốn không đáng có về vốn ỏ các doanh nghiệp đã được thành lập. Điều đó nó còn ảnh hưởng đến việc làm, năng suất lao động và thu nhập của người lao động. Chính vì vậy, việc tăng vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh bằng cách tiếp cận với các nguồn vốn ngoại lai theo mối quan hệ thương mại sẽ là con đường hiệu quả nhất để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tạo thêm được việc làm và nâng cao thu nhập ở các doanh nghiệp này, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà nhà nước chẳng tốn kém gì. Thứ hai: Việc thiếu kiến thức về quản lý. Các giám đốc của doanh nghiệp vừa và nhỏ phải kiêm nhiệm nhiều chức năng quản lý. Các giám đốc này có thể thiếu kinh nghiệm hoặc được đào tạo chính thức về một hoặc hai trong số những chức năng ấy. Nếu họ được kinh nghiệm nào đó, thì nói chung chỉ hạn chế đối với 1 hoặc 2 khía cạnh chuyên môn. Thứ ba: Sự thấp kém về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông, cung cấp năng lượng và thông tin. Thứ tư: Sự hạn hẹp về nguồn cung ứng vật tư kỹ thuật và thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như về mối quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức cá nhân có liên quan trong và ngoài vùng ngày càng hạn chế khả năng thích ứng của các doanh nghiệp trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường.

56

Quan hệ hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa có điều kiện mở rộng đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển sản xuất và hiệu quả sử dụng vốn. Từ những vấn đề đã trình bày ở trên, có thể khẳng định rằng: Kinh doanh với quá ít vốn là khó khăn quan trọng bậc nhất để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đối với sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh ở Việt Nam mà nguyên nhân chủ yếu là do thiếu nguồn vốn bổ sung tín dụng và các khoản vay khác nên buộc các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh phải dựa vào khả năng vốn của mình để phát triển. Do vậy, đứng trên quan điểm hiệu quả kinh tế thì cần phải có cơ chế chuyển vốn tới người thực sự cần và nơi đồng tiền mang lại lợi nhuận nhiều nhất. Từ đó, chúng ta có thể nêu lên một vấn đề là không một biện pháp nào có thể đóng góp tốt hơn đối với sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh và tăng cường khả năng của doanh nghiệp này trong việc tạo công ăn việc làm và thu nhập, đó chính là tạo ra một hệ thống chính sách và cơ chế tài chính đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh.

CHƯƠNG III NHỮNG GIẢI PHÁP SỬ DỤNG VỐN CÓ HIỆU QUẢ ĐỂ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 3.1 Những cơ sở của các giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát

triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.

57

3.1.1 Chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước ta về chiến lược phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện tại cũng như trong tương lai: Cùng với quá trình cải cách kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Vì vậy trong thời gian tới về phía Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý và hỗ trợ cho các doanh nghiệp này phát triển thông qua các giải pháp sau đây: - Nghiên cứu sửa đổi bổ sung các qui định hiện hành về tài chính nhằm tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cả về nghĩa vụ và các ưu đãi của Nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. - Tăng cường hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua việc hạ bớt thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp để doanh nghiệp có điều kiện tự tạo vốn, đẩy mạnh cho vay ưu đãi qua quỹ hỗ trợ xuất khẩu, quỹ hỗ trợ phát triển, hỗ trợ xúc tiến thương mại. Thông qua quỹ hỗ trợ xuất khẩu nhằm trợ giúp một phần chi phí cho doanh nghiệp vừa và nhỏ khảo sát, học tập, trao đổi hợp tác và tham dự hội trợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm tìm hiểu thị trường nước nước ngoài. Đồng thời thực hiện chính sách bảo hộ hợp lý hàng sản xuất trong nước phù hợp với thông lệ quốc tế. - Chính sách khuyến khích xuất khẩu cần tập trung hỗ trợ đầu vào cho người sản xuất hàng xuất khẩu như hỗ trợ giá bán giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu cho nông dân, miễn giảm thuỷ lợi phí cho những vùng khó khăn. Ưu đãi cho sản xuất hàng xuất hàng xuất khẩu như cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn với lãi suất thấp đối với các dự án đầu tư, nâng cấp dây chuyền sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm tạo sức cạnh tranh cho hàng hoá trên thị trờng trong và ngoài nước. - Khuyến khích thành lập các tổ chức dịch vụ tài chính hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện lành mạnh hoá tình hình tài chính tạo điều kiện cho họ phát triển, củng cố. Đổi mới hệ thống tín dụng, phát triển các dịch vụ hỗ trợ
58

thông tin tư vấn tài chính doanh nghiệp, thành lập các công ty mua bán nợ và tài sản thanh lý của doanh nghiệp, công ty môi giới chứng khoán. - Nhà nước tăng cường mở các lớp đào tạo nâng cao kỹ năng quản lý cho các doanh nghiệp, các khoá tập huấn về quản trị kinh doanh cho giám đốc và cán bộ quản lý doanh nghiệp. - Trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh, thành phố, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi dành quỹ đất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt bằng sản xuất phù hợ, có chính sách khuyến khích xây dựng các khu, cụm công nghiệp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt bằng xây dựng tập trung cơ sở sản xuất và được ưu đãi trong việc thuê đất, chuyển nhượng, thế chấp theo qui định của pháp luật. - Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp khác trong sản xuất kinh doanh nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Triển khai xây dựng hệ thống khai thác dữ liệu thông tin và tư vấn tài chính giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển mạnh mẽ theo định hướng của Nhà nước. 3.1.2 Cơ sở thứ nhất: Dựa vào khả năng tạo vốn ban đầu và cho quá trình phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn. Trong nền kinh tế thị trường vốn là điều kiện đầu tiên có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình kinh doanh. Vốn là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố vật chất tác động đến tăng trưởng. Để đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động, với số vốn ứng trước tối thiểu cần thiết, các doanh nghiệp tiến hành mua sắm, hình thành nên các tài sản cần thiết như máy móc, thiết bị xây dựng nhà xưởng mua bằng phát minh sáng chế bản quyền, đào tạo công nhân, hình thành số vốn
59

lưu động thường xuyên cần thiết... nhằm phục vụ có tính chất lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong mọi trường hợp cần mở rộng qui mô đầu tư chiều sâu, các doanh nghiệp đều có quyền bỏ thêm vốn sở hữu hoặc sử dụng lợi nhuận được để lại dưới hình thức quỹ dự trữ tài chính để tái đầu tư... Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp tiếp tục bổ sung tiền vốn để tăng thêm tài sản kinh doanh, tương ứng với sự tăng trưởng quy mô sản xuất kinh doanh. Như vậy, các doanh nghiệp không những cần phải có một số vốn tiền tệ ban đầu mà còn có một nhu cầu liên tục về tiền vốn. Doanh nghiệp không thể mong đợi nhận được tất cả số tiền mà doanh nghiệp cần trong một lúc, mặc dù có một số ít doanh nghiệp phát triển hoàn toàn dựa vào tiền vốn trong nội bộ doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó, mà các giải pháp sử dụng vốn đưa ra phải dựa vào nhu cầu về vốn và số vốn tự có, số vốn đi vay để cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Do đó, các giải pháp sử dụng vốn cũng phải bao gồm loại giải pháp sử dụng vốn ban đầu và giải pháp sử dụng vốn cho sự tăng trưởng doanh nghiệp. 3.1.3 Cơ sở thứ hai: Căn cứ vào ưu thế và bất lợi của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có những lợi thế rõ ràng, gồm: Khả năng thoả mãn những yêu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, một khuynh hướng về sức mạnh lao động và trình độ khéo léo trong công việc từ thấp đến vừa và sự uyển chuyển thích nghi nhanh chóng đối với sự thay đổi những yêu cầu và những điều kiện của thị trường. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thực hiện được ở các thị trường mà đó không thu hút sự chú ý “không mong muốn” của công ty hoặc của doanh nghiệp lớn, nên chúng đảm bảo các cơ hội công ăn việc làm ở nhiều vùng khác nhau. Nó có thể phục vụ cho những phần xa nhất cua thị trường hoặc là bên phải, hoặc là bên trái của đường cong phân phối trung bình, vì
60

Marketting khối lượng lớn thường là mối quan tâm của các công ty lớn. Tương tự doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể khai thác nhanh chóng hơn việc thay đổi mẫu mã ở thị trường. Khả năng chuyển hoá dễ dàng nhanh chóng các công nghệ mới thành cơ hội làm ăn, có điều kiện đi vào các ngành nghề truyền thống, có khả năng đạt hiệu quả sản xuất cao. Từ quan điểm về hiệu quả kinh tế, đã có nhiều nhà khoa học kinh tế nêu lên một vấn đề là: “Không một biện pháp nào có thể đóng góp tốt hơn đối với sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh và tăng cường khả năng của loại hình này trong việc tạo việc làm và thu nhập, đó chính là việc tạo ra một hệ thống tài chính phục vụ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh với nguồn vốn tín dụng dựa trên cơ sở thương mại chặt chẽ và huy động các nguồn vốn nhàn rỗi” Bên cạnh những ưu thế nói trên, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng rất nhiều bất lợi so với những doanh nghiệp lớn. Trong những khó khăn, hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thấy những khó khăn, hạn chế sau: - Tình trạng giật gấu vá vai về tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ không khuyến khích các cơ hội đào tạo và phát triển, hậu quả tất nhiên là không sử dụng được đầy đủ tiềm năng và khả năng con người trong doanh nghiệp. Vì, vốn tự có trong doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thấp, khả năng tự tích luỹ rất hạn hẹp, khả năng tham gia vào thị trường vốn cũng rất ít, chỉ có doanh nghiệp loại vừa có uy tín lớn mới có hy vọng huy động vốn trên thị trường vốn. Vốn tự có ít nên khả năng vay vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng rất thấp. - Hạn chế, khó khăn trong việc tiếp cận với kiến thức mới trong lĩnh vực quản lý. Người quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường đảm nhiệm nhiều công việc ít có thời gian và điều kiện nắm bắt kịp thời những kiến thức mới về quản lý kinh doanh.

61

- Hạn chế, khó khăn trong việc tiếp cận mở rộng thị trường: Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ ít có điều kiện tiếp cận với những thông tin mới nhất về thị trường, bao gồm thị trường: nguyên vật liệu, thị trường công nghệ và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Với khả năng tài chính hạn hẹp các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp trở ngại lớn trong việc thực hiện công tác tiếp thị, quảng cáo và bảo hành sản phẩm, vì thế khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng rất khó khăn. Những hạn chế, khó khăn nêu trên ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ những ưu thế và bất lợi của doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của Nhà nước. 3.1.4 Cơ sở thứ ba: Căn cứ vào thực trạng, tình hình sử dụng vốn kinh doanh ở doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh: Qua phân tích thực trạng về vốn và sử dụng vốn kinh doanh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh trong chương II ta nhận thấy: Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh mới được thành lập từ khi có chính sách đổi mới, nên loại hình doanh nghiệp này ở Việt Nam còn rất non trẻ. Nhưng nhìn chung doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh đã có bước phát triển đáng kể về số lượng doanh nghiệp, nhưng tình trạng thiếu vốn ban đầu hình thành doanh nghiệp đã buộc các doanh nhân phải dựa vào các nguồn tự có và vốn đầu tư chỉ là khoản người sở hữu có thể bỏ ra hoặc vay từ bạn bè người thân, do đó: - Qui mô vốn kinh doanh ở doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam là rất nhỏ bé. Nguồn vốn hạn hẹp, mức đầu tư cho một chỗ làm việc quá nhỏ, đã đưa các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh vào tình trạng không có điều kiện để đổi mới công nghệ trang bị kỹ thuật hiện đại, nâng cao trình

62

độ cơ khí hoá sản xuất... Do vậy trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ hạn chế. - Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều trong tình trạng thiếu vốn. Nhưng đáng chú ý nhất là sự thiếu vốn tương đối đang diễn ra trên bình diện rộng và khá gay gắt, nhưng không có nguồn cung ứng vốn. Nguyên nhân thiếu vốn là do thiếu nguồn bổ sung tín dụng và các khoản vay khác cũng như cơ chế tài trợ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do đó, vốn ban đầu của các doanh nghiệp có khác nhau chủ yếu là do khả năng của doanh nghiệp. Việc thiếu vốn kinh doanh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ hạn chế việc sử dụng vốn như sau: Thứ nhất: Việc thiếu vốn sẽ hạn chế nghiêm trọng tới hiệu quả sử dụng vốn, vì sự đầu tư được chi phối bởi sự sẵn có về vốn chứ không phải do khả năng thị trường và do có lợi. Nhiều doanh nghiệp buộc phải duy trì qui mô nhỏ mặc dù họ có cơ hội mở rộng nhưng do thiếu vốn. Thứ hai: Sự thiếu vốn hạn chế sự phát triển về công nghệ, điều đó không chỉ làm ảnh hưởng xấu tới năng suất lao động và tăng thu nhập mà còn cản trở sự cạnh tranh và sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Thứ ba: Việc sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện thiếu thị trường vốn có thể làm tăng sự khác biệt trong sự phát triển kinh tế giữa hai khu vực thành thị và nông thôn. Từ thực trạng tình hình sử dụng vốn kinh doanh và những tác hại của sự thiếu vốn kinh doanh nói trên, đòi hỏi chúng ta phải có giải pháp sử dụng hiệu quả những phương tín dụng cho loại hình doanh nghiệp này. Bởi vậy, thực trạng về sử dụng vốn kinh doanh ở doanh nghiệp vừa và nhỏ là một căn cứ hết sức quan trọng để đề ra các giải pháp sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả. 3.2 Những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ:
63

Vốn là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố vật chất tác động đến tăng trưởng. Thậm chí có nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng tăng trưởng và phát triển thực chất là vấn đề làm thế nào tạo được các nguồn vốn đầu tư đủ để đảm bảo tỷ lệ tăng trưởng dự tính hay mục tiêu tăng trưởng sẽ chỉ là nguyện vọng, chỉ là duy ý chí, nếu không có lượng vốn tương ứng huy động cho đầu tư phát triển. Để công nghiệp hoá hiện đại hoá đòi hỏi phải huy động và sử dụng có hiệu quả cao mọi nguồn vốn trong và ngoài nước. Nghị quyết hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng đã chỉ rõ: " Để công nghiệp hoá, hiện đạI hoá cần huy động nhiều nguồn vốn, gắn với sử dụng vốn có hiệu quả. Trong đó, nguòn vốn trong nước là quyết định, nguồn vốn từ bên ngoài là quan trọng". Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thì nguồn vốn có thể huy động trong nước là khá lớn. Tuy nhiên, trên nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh, nhiều nhà doanh nghiệp vừa và nhỏ đều thiếu vốn để sản xuất và đầu tư phát triển. Nhưng vấn đề không hẳn chỉ là thiếu vốn, mà quan trọng là tổ chức sản xuất kinh doanh và sử dụng vốn cho có hiệu quả của doanh nghiệp. Những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả chủ yếu để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay có thể phân làm hai loại: Loại thứ nhất là những giải pháp có tính chất định hướng cho việc sử dụng vốn có hiệu quả đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tầm vĩ mô, bao gồm: 3.2.1. Giải pháp khuyến khích đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu. Chiến lược này là sự vận dụng “Lý thuyết về sự phụ thuộc vào hoàn cảnh mỗi nước nhằm đạt được mục tiêu tranh thủ ở nước ngoài những cái mình còn yếu để kịp với mặt mạnh ở trong nước một cách hợp lý nhất nhằm phát triển kinh tế nhanh nhất”.
64

Đây là một giải pháp thích hợp để các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta sử dụng có hiệu quả vốn, vì: Ở nước ta mạng lưới phân phối và thị trường kém phát triển, các biện pháp phổ biến thông tin thị trường chưa đầy đủ đã làm cản trở sự hoà nhập về kinh tế và phát triển của các doanh nghiệp làm ăn tốt, đồng thời các doanh nghiệp làm ăn yếu kém lại thoát khỏi sự cạnh tranh. Cạnh tranh là môi trường của kinh tế thị trường. Do đó doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu chỉ có thể lựa chọn cạnh tranh theo ba cách sau đây: Giá cả, chất lượng và uy tín. Trên thực tế mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào định hướng xuất khẩu được đánh giá là hiệu quả nhất. Chủ trương phát triển kinh tế đối ngoại là đặt nền kinh tế trong quan hệ cạnh tranh trên thị trường quốc tế nhằm: + Phát huy lợi thế so sánh (cả tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhân công). + Buộc sản xuất trong nước phải luôn đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động. + Tăng khả năng tiếp thị. + Đẩy nhanh tiến độ chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Như vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải luôn tồn tại trong môi trường cạnh tranh cao. Điều này bắt buộc họ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh và hoạt động có lãi. Do đó, họ luôn phải suy nghĩ tìm cách tăng tối đa những lợi thế của mình. Vì vậy cách được chọn là cần phải sử dụng tốt vốn kinh doanh. Để thực hiện được giải pháp này, Chính phủ cần giải quyết những vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất: Phải tập trung mạnh vào đầu tư cho họ thấy các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giao lưu của thị trường.
65

Thứ hai: Khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu. Phải mạnh dạn thực hiện phương châm đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng thuộc thế mạnh của Việt Nam để xuất khẩu. Chính sách này sẽ được thực hiện thông qua các công cụ thuế, ngân sách, tỷ giá và công cụ khác. Nơi nào, lĩnh vực nào cần ưu tiên và phát triển, thì nơi đó, lĩnh vực đó phải được hưởng qui chế ưu đãi về thuế, tín dụng, và các chính sách khác... Thứ ba: Phải có chiến lược cơ cấu hợp lý, tức là phải định hướng cơ cấu của nền kinh tế trong từng giai đoạn, để căn cứ vào định hướng đó, mà có chính sách điều chỉnh phù hợp đối với những quá trình phân phối, sử dụng vốn. Thực hiện tốt giải pháp này có những tác dụng quan trọng sau: + Tăng đáng kể thu nhập ngoại tệ cho đất nước. Nguồn thu nhập này vượt rất xa các nguồn thu nhập khác, kể cả vốn vay và đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đối với nhiều nước đang phát triển, xuất khẩu đã trở thành nguồn tích tụ tư bản chủ yếu của quá trình công nghiệp hoá. + Do có ngoại tệ nên đã tạo điều kiện cho việc nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị và nguyên liệu cần thiết cho sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. + Sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong sản xuất hàng xuất khẩu không những đã tạo ra một tiềm lực công nghệ mới về chất (sản xuất hàng xuất khẩu có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới) mà còn tạo ra việc làm, đặc biệt là tạo ra một đội ngũ cán bộ và đội ngũ công nhân kỹ thuật giỏi, lành nghề, đội ngũ cán bộ quản lý có kinh nghiệm, từ đó tạo tiền đề cho việc chuyển nền công nghiệp sang một bước phát triển cao hơn: từ công nghiệp sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có hàm lượng lao động và tài nguyên cao sang loại có hàm lượng công nghệ cao. + Nhờ xuất khẩu được hàng công nghệ, đã bớt đi được tình trạng xuất khẩu khoáng sản từ đó nâng cao được giá trị các loại hàng này. Nói rộng ra là đã

66

dưa được “giá trị nội địa” bao gồm nguyên vật liệu, lao động địa phương.. vào hàng công nghiệp xuất khẩu. 3.2.2 Giải pháp sử dụng vốn kinh doanh để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ qua hình thức tín dụng. Thiếu vốn là một hạn chế nghiêm trọng và thường xuyên đối với sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ( như đã phân tích ở chương II). Mặc dù một điều nghe có vẻ như nghịch lý thường xảy ra đó là các doanh nghiệp luôn mong muốn có nhiều vốn để họ có thể sử dụng có hiệu quả vào kinh doanh, đầu tư nhưng thực tế thì doanh nghiệp luôn trong tình trạng thiếu vốn. Nền tài chính Việt nam đã phân phối và sử dụng vốn ngân sách theo khuôn khổ của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nó chưa đủ khả năng đáp ứng được yêu cầu là trung gian có hiệu quả về vốn trong một nền kinh tế có nhiều thành phần, kết quả trên cho thấy phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có nguồn vốn bổ sung từ quỹ tín dụng và các khoản vay chính thống nên buộc phải dựa vào khả năng của mình để phát triển doanh nghiệp. Từ quan điểm hiệu quả kinh tế thì thật vô lý khi không có cơ chế để chuyển vốn từ người thực sự cần và nơi đồng vốn mang lại nhiều lợi nhuận nhất. Từ đó có thể nêu lên một vấn đề là không một biện pháp nào có thể đóng góp tốt hơn đối với sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ để tăng cường khả năng trong việc tạo việc làm và thu nhập, đó chính là việc tạo ra một hệ thống tài chính phục vụ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ với nguồn tín dụng trên cơ sở thương mại chặt chẽ và huy động các nguồn vốn nhàn rỗi. a. Giải pháp sử dụng vốn qua hình thức tín dụng ưu đãi: Đây là một hình thức hỗ trợ tài chính thông qua việc cho vay vốn với lãi suất thấp được chú ý và cần thiết đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới được thành lập ở Việt Nam. Đây cũng là một biện pháp hỗ trợ có hiệu quả và phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường. Đặc biệt trong giai đoạn trước mắt khi kinh tế thị
67

trường vốn đang hình thành và phát triển. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu dựa vào các nguồn vốn nhỏ bé của mình, nguồn vốn vay trung và dài hạn từ hệ thống ngân hàng rất hạn chế, tình hình đó làm cho việc huy động vốn bổ sung để đầu tư chiều sâu và mở rộng ở những doanh nghiệp vừa và nhỏ làm ăn có hiệu quả gặp rất nhiều khó khăn. Không có vốn thì không thể nói đến khả năng tăng trưởng về qui mô kinh doanh, đổi mới kỹ thuật, công nghệ, vì vậy khó có thể cạnh tranh với thị trường quốc tế. Trong điều kiện đó, tín dụng nhà nước có vai trò cực kỳ quan trọng. Nhà nước có thể tạo vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng cách cho vay từ các nguồn: GDP. Hình thành quỹ hỗ trợ đầu tư doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nguồn vốn ODA, các tổ chức kinh tế quốc tế … Nguồn vốn này cần được tập trung sử dụng để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sau: + Những doanh nghiệp thực hiện chương trình, dự án được duyệt, các lĩnh vực đầu tư Nhà nước cần ưu đãi như đầu tư ở vùng cần khuyến khích đầu tư... + Những doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng, sản phẩm thiết yếu cho sản xuất và đời sống, hàng xuất khẩu, sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu. + Những doanh nghiệp khai thác, chế biến nông lâm, thuỷ, hải sản xuất khẩu. + Những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cơ khí phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản. Để sử dụng tốt nguồn vốn này, Nhà nước cần phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau: Nhà nước phải có chính sách qui định cụ thể đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư kinh doanh ở những lĩnh vực, khu vực này, ngành nào sẽ
68

Sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước thu theo tỷ lệ nhất định so với

được hưởng tín dụng ưu đãi và phải có các chế định tài chính về sử dụng tín dụng ưu đãi. Sớm xây dựng, thông qua và điều phối chặt chẽ theo qui hoạch và sử dụng vốn tín dụng ưu đãi gắn với qui hoạch đầu tư nói chung và qui hoạch đầu tư phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng. Phải hình thành tổ chức tài chính trực thuộc Chính phủ, tổ chức tài chính chuyên làm nhiệm vụ xem xét để cấp tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tránh tình trạng phân tán như hiện nay. Nhà nước khẩn trương ban hành chính sách khuyến khích các tổ chức thành lập quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. b. Giải pháp sử dụng vốn thông qua các hình thức bảo lãnh tín dụng. Thông thường đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó đáp ứng được những yêu cầu về các điều kiện cho vay của các tổ chức tín dụng. Mặt khác, nhìn chung các tổ chức tín dụng thường có xu hướng thực thi một thái độ bảo thủ trong việc đánh giá gía giá trị - tín dụng xứng đáng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà thiên về áp đặt những điều kiện chặt chẽ trước đối với các doanh nghiệp. Hơn nữa chi phí cho việc thẩm định cho vay vốn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là khó khăn và mất thời gian đối với các tổ chức tín dụng, vì vậy, các tổ chức tín dụng thường làm theo cách dễ hơn và an toàn hơn là loại bỏ những đơn xin vay của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xuất phát từ những lý do trên, để giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng vốn tín dụng trong kinh doanh cần thiết phải có giải pháp bảo lãnh tín dụng. Để thực hiện được bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần phải có liên hiệp bảo lãnh tín dụng. Liên hiệp này được thành lập như là một hệ thống mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể cần đến khi họ gặp khó khăn trong vay vốn từ các tổ chức tài chính tư nhân. Hệ thống này hỗ trợ bổ sung các khoản vay trực tiếp từ các tổ chức tài chính của Chính
69

phủ và là phương tiện để tăng thêm các khoản cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng cách sử dụng vốn của các tổ chức tài chính tư nhân. Liên hiệp bảo lãnh tín dụng là một tổ chức bảo lãnh những doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng được sử dụng những khoản vay. Vì hoạt động của liên hiệp bảo lãnh tín dụng là khi một doanh nghiệp vừa và nhỏ không có bảo lãnh vay vốn kinh doanh từ một tổ chức tín dụng thì hội liên hiệp bảo lãnh tín dụng sẽ bảo lãnh khoản vay đó. Nếu người vay trong trường hợp này là doanh nghiệp vừa và nhỏ, không có khả năng hoàn trả nợ, thì liên hiệp bảo lãnh tín dụng sẽ hoàn trả khoản vay đó thay mặt cho doanh nghiệp. Sau này, doanh nghiệp sẽ hoàn trả lại khoản nợ đó cho liên hiệp bảo lãnh tín dụng. Thủ tục quá trình xin bảo lãnh và quyết định bảo lãnh như sau: Doanh nghiệp vừa và nhỏ đệ đơn xin bảo lãnh tín dụng Tổ chức hợp tác bảo lãnh tín dụng là bên nhận đơn, sẽ nghiên cứu và

xem xét nội dung của đơn và khi thấy nội dung hợp lý sẽ chuyến việc chấp nhận bảo lãnh tới tổ chức tài chính. Tổ chức tài chính đã nhận, tuyên bố “đồng ý bảo lãnh” cảu tổ chức hợp tác bảo lãnh tín dụng sẽ cho doanh nghiệp vay. Vào thời điểm này, sẽ trả một khoản phí bảo lãnh tín dụng (phí gốc là 1% số vốn vay, cộng thêm một khoản nào đó) cho tổ chức bảo lãnh tín dụng. Sau đó, doanh nghiệp phải hoàn trả lại vốn vay theo các điều kiện thanh toán. Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp không thể trả nổi khoản tiền vay đó thì vì các lý do cụ thể nào đó thì tổ chưcs hợp tác bảo lãnh tín dụng sẽ trả cho tổ chức tài chính thay cho doanh nghiệp (đây là quá trình thanh toán qua bên thứ ba). Về lâu dài, tổ chức bảo lãnh tín dụng sẽ thu khoản thanh toán qua bên thứ ba từ doanh nghiệp đó, khi hỗ trợ cho các cố gắng phục hồi của doanh nghiệp này.
70

Hơn nữa, mọi khoản vốn vay do tổ chức bảo lãnh tín dụng sẽ được bảo hiểm với hội đồng bảo hiểm tín dụng các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong trường hợp này tổ chức bảo lãnh tín sẽ trả cho hội đồng bảo hiểm tín dụng các doanh nghiệp vừa và nhỏ khoản phí bảo hiểm tín dụng. Nếu tổ chức hợp tác bảo lãnh tín dụng đã thực hiện thanh toán hộ cho doanh nghiệp thì hội đồng bảo hiểm sẽ trả cho tổ chức bảo lãnh 70% khoản thanh toán hộ này như là số tiền bảo hiểm khi tổ chức bảo lãnh lãnh thông báo sự việc cho hội đồng bảo hiểm. Để thực hiện được giải pháp sử vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có hiệu quả thông qua hình thức bảo lãnh tín dụng ở Việt Nam, cần phải giải quyết các vấn đề sau đây: Một là: Phải tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo lãnh tín dụng bao gồm: Điều lệ bảo lãnh tín dụng và bảo hiểm tín dụng, tiêu chuẩn, điều kiện bảo lãnh tín dụng, phí bảo lãnh tín dụng, qui chế hoạt động của liên hiệp bảo lãnh tín dụng và bảo hiểm tín dụng…việc tạo cơ sở pháp lý này phải dựa trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm các nước có loại hình bảo lãnh tín dụng phát triển và vận dụng phát triển và vận dụng vào điều kiện hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam cho phù hợp. Hai là: Thiết lập hệ thống bảo lãnh tín dụngvà hệ thống bảo hiểm tín dụng ở các tỉnh thành phố trong cả nước. Thực hiện tốt giải pháp này không những tạo được cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đủ tư cách để được sủ dụng vốn từ các ngân hàng, mà còn tạo ra cơ sở bảo đảm để các ngân hàng thu hồi được vốn, yên tâm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn, giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhận được những thuận lợi tối đa của số vốn doanh nghiệp được vay và chủ động trong sản xuất kinh doanh. c. Giải pháp sử dụng vốn qua hình thức tín dụng thuê mua.

71

Loại hình tín dụng thuê - mua là loại hình tín dụng rất phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Hình thức tín dụng thuê - mua bao gồm: Thuê tài chính, thuê vận hành. Đối với người đi thuê (các doanh nghiệp), tín dụng thuê mua có những ưu điểm sau: Thuê tài chính là một công cụ tài chính giúp cho doanh nghiệp có thêm vốn trung và dài hạn để mở rộng hoạt động kinh doanh. Điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau: + Sử dụng thuê tài chính giúp cho doanh nghiệp không phải huy động tập trung tức thời một lượng vốn lớn để mua sắm tài sản và như vậy, với số vốn hạn chế doanh nghiệp vẫn có khả năng mở rộng kinh doanh. + Sử dụng hình thức bán và tái thuê bán và có thể giúp cho doanh nghiệp có thêm vốn kinh doanh nhất là tăng thêm vốn lưu động. Sử dụng phương thức thuê tài chính giúp cho doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc huy động và sử dụng vốn vay. Bởi lẽ, một trong những khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp thường gặp phải khi vay vốn từ các tổ chức tài chính là không đủ tài sản thế chấp. Trong khi đó, do đặc thù của thuê tài chính là người cho thuê nắm quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản cho thuê. Vì vậy, đại bộ phận các hợp đồng thuê tài chính được ký kết, người cho thuê không đòi hỏi doanh nghiệp là người thuê phải có tài sản thế chấp (có thể người thuê phải trả trước một khoản tiền thuê ban đầu với một tỷ lệ nhất định tuỳ theo thoả thuận giữa người cho thuê và người thuê). Đây là một ưu thế rất lớn của thuê tài chính so với tín dụng thông thường. Sử dụng thuê tài chính giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện nhanh chóng dự án đầu tư, chớp được kịp thời cơ hội kinh doanh. Bởi lẽ, người thuê có quyền lựa chọn tài sản thiết bị và thoả thuận trước về hợp đồng thiết bị với người sản xuất hay người cung ứng, sau đó mới yêu cầu công ty cho thuê tài chính tài trợ, do vậy có thể ngắn được thời gian tiến hành đầu tư vào tài sản thiết bị. Mặt khác, công ty cho thuê tài chính thường có mạng
72

lưới tiếp thị, đại lý rộng rãi và có đội ngũ chuyên gia có trình độ sâu về thiết bị và công nghệ nên có thể tư vấn hữu ích cho người thuê về kỹ thuật, công nghệ của thiết bị mà người thuê cần sử dụng. Đối với trường hợp thuê vận hành có thể giúp doanh nghiệp hạn chế việc sử dụng máy móc thiết bị lạc hậu. Bởi vì, doanh nghiệp có thể thuê theo các hình thức ngắn hạn, do vậy có điều kiện để áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại. Thực hiện tốt giải pháp này, sẽ khắc phục được tình trạng thiếu vốn kinh doanh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là vốn trung và dài hạn, đẩy nhanh được quá trình đổi mới công nghệ, thay thế được máy móc thiết bị cũ, lạc hậu từ đó mới nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn, tăng được chất lượng hàng hoá, tăng được sản lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. 3.2.3 Giải pháp nâng cao sử dụng vốn kinh doanh qua hình thức liên doanh liên kết để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ: Qua xem xét ở chương II về mối quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh. Chúng tôi thấy: Rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh sử dụng các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra từ các doanh nghiệp nhà nước. Điều đó nói lên rằng sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh gắn liền với sự phát triển của các doanh nghiệp nhà nước. Với các chính sách của Nhà nước, trong tương lai lâu dài, sự hình thành mối quan hệ giữa khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh sẽ được ủng hộ và phát triển. Các doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh có thể giúp đỡ lẫn nhau bằng nhiều cách và bằng nhiều mối liên hệ mà có thể cả hai bên đều có lợi. Doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh có thể hỗ trợ doanh nghiệp quốc doanh thích nghi với môi trường và làm tăng tính linh hoạt trong hoạt động của mình. Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh, thông qua mối quan hệ với doanh nghiệp quốc doanh, họ sẽ được hỗ trợ về tiếp cận công nghệ,
73

vốn và thị trường đảm bảo giảm bớt rủi ro, ổn định, yên tâm đầu tư phát triển. Tuy nhiên, doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh còn có thể tham gia vào các hoạt động phối hợp với các doanh nghiệp quốc doanh trên cơ sở của mối quan hệ bình đẳng. Để thực hiện tốt mối liên kết đó, trước hết cần quán triệt nguyên tắc hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn cao nhất của sự phát triển; là nguyên cơ bản của hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Nguyên tắc này đòi hỏi doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, dịch vụ gì có lợi hơn thì phát huy tối đa lợi thế của doanh nghiệp đó. Nguyên tắc này cũng yêu cầu các đơn vị thực hiện liên doanh liên kết với nhau bằng nhiều hình thức thích hợp trên cơ sở tự nguyện, nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm của từng loại hình doanh nghiệp. Đây là một giải pháp tốt nhất để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh đối với sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay. Để thực hiện giải pháp này, nhà nước cần phải giải quyết tốt những vấn đề sau: Một là: Nhà nước sớm ban hành đồng bộ các luật kinh tế và đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vừa hợp tác và cạnh tranh với nhau thực sự bình đẳng trên thị trường. Hai là: Ban hành chính sách khuyến khích và ưu đãi đối với các đơn vị, cá nhân và các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước bỏ vốn đầu tư liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Thực hiện các giải pháp này, không những tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm ăn có hiệu quả mà còn là kết quả của những nỗ lực chung, không ngừng của cả doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân và của các doanh nghiệp lớn lẫn doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đó là sự nỗ lực liên tục và năng động trong việc tìm kiếm sự cân bằng tốt giữa khu vực quốc doanh và khu vực tư nhân, giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa
74

và nhỏ trong việc tìm kiếm giải pháp cân bằng hợp lý trong việc sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh của mình. - Loại thứ hai: Các giải pháp sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả do khả năng xác định đúng đắn các chiến lược kinh doanh, cũng như kết quả tổng hợp nghệ thuật điều hành tất cả các hoạt động của quá trình kinh doanh ở tầm vĩ mô (các doanh nghiệp vừa và nhỏ): 3.2.4 Giải pháp khai thác sử dụng vốn kinh doanh từ nguồn bên trong doanh nghiệp. Nguồn vốn từ bên trong doanh nghiệp bao gồm phần lợi nhuận để lại hàng năm nhằm tăng thêm vốn phát triển sản xuất kinh doanh và tiền khấu hao tài sản cố định. Trong cơ chế thị trường chủ doanh nghiệp có quyền được giữ lại lợi nhuận kinh doanh hàng năm (lợi nhuận sau thuế). Cơ sở kinh tế pháp lý quyết định nội dung phân phối lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp là quan hệ về sở hữu vốn ở doanh nghiệp. Người bỏ vốn vào kinh doanh, sau khi thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước và bù đắp các chi phí sản xuất kinh doanh từ doanh thu sẽ được hưởng toàn bộ phần lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp. Điều này hoàn toàn phù hợp với lý luận về quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lý và phân phối và mục đích khách quan của việc bỏ vốn vào kinh doanh sinh lời. Số tiền khấu tài sản cố định, mặc dù chủ yếu dùng để tái đầu tư sản xuất giản đơn tài sản cố định. Nhưng cũng cần thấy rằng, tài sản cố định sau một thời gian dài mới cần đổi mới, trong khi đó tiền khấu hao tài sản cố định được tính ra hàng năm và được tích luỹ lại. Do vậy trong khi chưa có nhu cầu thay thế tài sản cố định cũ có thể sử dụng số tiền khấu hao đó để đáp ứng nhu cầu đầu tư tăng trưởng của doanh nghiệp. Để khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh tự tạo nguồn từ bên trong doanh nghiệp, bằng cách tiết kiệm trong chi dùng để tăng tỷ lệ tiết kiệm, tận dụng vốn nhà rỗi trong doanh nghiệp vào đầu tư đổi
75

mới công nghệ kỹ thuật, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thì nhà nước cần phải: Hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý tài chính doanh nghiệp. Trong đó có việc nghiên cứu để ban hành chính sách doanh nghiệp chủ động và tích tụ vốn cho sản xuất kinh doanh. Đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh làm ăn có hiệu quả, Nhà nước nên khuyến khích áp dụng phương pháp khấu hao nhanh nhằm có điều kiện tái sản xuất tài sản cố định theo hướng tiến bộ hơn. Số tiền khấu hao trên mức hao mòn thực tế được phép tính vào chi phí để tính thu nhập chịu thuế. Có làm như vậy, loại hình doanh nghiệp này mới có điều kiện thu hồi vốn nhanh để hiện đại hoá máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ. Đây là giải pháp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh. Nó không những giúp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng trưởng bằng nội lực một cách nhanh chóng và vững chắc mà còn giúp cho loại hình doanh nghiệp này tăng sức cạnh tranh trên thương trường.
3.2.5

Giải pháp sử dụng có hiệu quả vốn cố định trong quá trình kinh

doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ: Vốn cố định là loại vốn không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó bao gồm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải... tuỳ theo quy hoạch, thiết kế của từng doanh nghiệp mà vốn cố định có tỷ lệ khác nhau trong tổng vốn của doanh nghiệp.Ngoài sức lao động, vốn cố định có vai trò rất lớn trong việc nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Trình độ trang bị kỹ thuật cho mỗi người lao động ở mỗi doanh nghiệp TPHCM (2.196 USD/người) cao hơn hai lần so với ở Hà Nội (1.022 USD/người), năng suất lao động của doanh nghiệp vừa và nhỏ TPHCM gần 1.000 USD/1 lao động cao hơn nhiều lần so với các doanh nghiệp thành thị phía Bắc (397 USD/1 lao động ở Hà Nội và 412 USD/1 lao động ở Hải Phòng) điều đó cũng được phản ánh trong tiền công
76

ở TPHCM (441 USD/người cao gấp hai lần ở Hà Nội (212 USD/người) và Hải Phòng (217 USD/người) đã tạo ra giá trị tăng thêm cho xã hội của mỗi doanh nghiệp TPHCM là 14.238 USD cũng cao gấp ba lần của các doanh nghiệp ở Hà Nội 4.989 USD. Như vậy hiệu quả kinh tế chung của các doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả sử dụng vốn cố định. Vì vậy, theo chúng tôi muốn nâng cao hiệu năng kinh tế nói chung cần phải tìm biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định. Để sử dụng có hiệu quả vốn cố định trong các hoạt động đầu tư dài hạn, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ các qui chế quản lý đầu tư và xây dựng từ khâu chuẩn bị đầu tư, lập dự án đầu tư, thẩm định dự án và quản lý thực hiện dự án đầu tư. Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được các hoạt động đầu tư kém hiệu quả.Để sử dụng có hiệu quả vốn cố định trong hoạt động kinh doanh thường xuyên, doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp để không chỉ bảo toàn mà còn phát triển được vốn cố định của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Thực chất là phải luôn đảm bảo duy trì được giá trị thực của vốn cố định để khi kết thúc một vòng tuần hoàn bằng số vốn này doanh nghiệp có thể bù đắp hoặc mở rộng được số vốn cố định mà doanh nghiệp đã bỏ ra ban đầu để đầu tư, mua sắm các TSCĐ tính theo thời giá hiện tại.Do đặc điểm TSCĐ và vốn cố định là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh song vẫn giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu (đối với TSCĐ hữu hình) còn giá trị lại chuyển dịch dần vào giá trị sản phẩm. Vì thế nội dung bảo toàn vốn cố định luôn bao gồm hai mặt hiện vật và giá trị. Trong đó bảo toàn về mặt hiện vật là cơ sở, tiền đề để bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị. Bảo toàn vốn cố định về mặt hiện vật không phải chỉ là giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ mà quan trọng hơn là duy trì thường xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó. Điều đó có nghĩa là trong quá trình sử dụng doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ không
77

làm mất mát TSCĐ, thực hiện đúng qui chế sử dụng, bảo dưỡng sửa chữa TSCĐ nhằm duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của TSCĐ, không để TSCĐ bị hư hỏng trước thời hạn qui định. Mọi TSCĐ của doanh nghiệp phải có hồ sơ theo dõi quản lý riêng. Cuối mỗi năm tài chính doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê TSCĐ. Để bảo toàn phát triển vốn cố định, doanh nghiệp cần đánh giá đúng các nguyên nhân dẫn đến tình trạng không bảo toàn được vốn để có biện pháp xử lý thích hợp. 3.2.6 Giải pháp sử dụng có hiệu quả vốn lưu động trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ: Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, để hình thành các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông các doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng vốn đầu tư ban đầu nhất định. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì vốn lưu động chiếm một tỷ trọng khá lớn trong vốn đầu tư. Để các giải pháp sử dụng vốn có hiệu, chúng ta phải nghiên cứu hoàn thiện các nhóm biện pháp nhằm tiết kiệm và tăng nhanh vòng quay của vốn lưu động. Các nhóm biện pháp chủ yếu bao gồm: Nhóm biện pháp về kỹ thuật như: Lựa chọn kết cấu của sản phẩm hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu... mà lại có khả năng thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng. Nhóm biện pháp vê tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, tổ chức tiêu nhóm biện pháp về kinh tế như sử dụng các đòn bẩy kinh tế để kích thụ nhằm tiết kiệm được chi phí cho một đơn vị sản phẩm. thích mỗi người, mỗi bộ phận không ngừng nâng cao tính chủ động sáng tạo nhằm đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh. Nhờ vào việc hoàn thiện các nội dung của các nhóm biện pháp nêu trên, để giúp doanh nghiệp có những giải pháp cụ thể về sử dụng vốn lưu động như: Giảm chi phí mua nguyên vật liệu, hạn chế dược sản phẩm dở dang, đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm...
78

Toàn bộ những giải pháp sử dụng vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trình bày trên là những giải pháp vừa mang tính cấp thiết vừa mang tính lâu dài trong giai đoạn mới của quá trình xây dựng phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.

79

3.2.7 Một số chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ : Để đánh giá trình độ sử dụng vốn có hiệu quả của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau đây: 1. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động:

Tổng mức luân chuyển vốn trong năm Số lần luân chuyển (số vòng quay = Vốn lưu động bình quân trong năm

2.

Hiệu suất sử dụng vốn lưu động: Doanh thu

Hiệu suất sử dụng vốn lưu động = Số vốn lưu động bình quân trong kỳ

3.

Tỷ lệ tài sản lưu động trên nợ ngắn hạn: Tài sản lưu động T1 = ––––––––––––––– Nợ ngắn hạn

4.

Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu trong kỳ –––––––––––––––– Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ

5. 6.

Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn cố định:

Lợi nhuận trước thuế thu nhập Tỷ suất lợi nhuận VCĐ = Số vốn cố định bình quân trong kỳ
80

x 100%

7.

Mức doanh lợi vốn lưu động Lợi nhuận trước thuế thu nhập Tỷ suất lợi nhuận VLĐ = x 100% Số vốn lưu động bình quân trong kỳ

8.

Tỷ lệ doanh số bán hàng ròng trên giá trị hàng tồn kho: Doanh thu bán hàng ròng trong kỳ = Giá trị hàng tồn kho bình quân trong kỳ

81

KẾT LUẬN Từ kết quả nghiên cứu đã đạt được trong khoá luận tốt nghiệp cho phép rút ra những kết luận chủ yếu sau: 1. Khoá luận đã đưa ra những lý luận cơ bản về phạm trù doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn kinh doanh, đặc trưng của vốn kinh doanh, nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế Việt Nam. 2. Đã hệ thống hoá được tình hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và vai trò của chúng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội ở nước ta trong thời gian qua. 3. Phân tích đánh giá thực trạng sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh và rút ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng chậm phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta trong thời gian qua. 4. Khoá luận đã đưa ra các giải pháp chủ yếu cho việc sử dụng vốn có hiệu quả: ở tầm vĩ mô và vi mô, để đẩy nhanh tốc độ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Vì nội dung nghiên cứu của đề tài khá là phong phú và toàn diện. Do đó, khoá luận còn có những hạn chế nhất định, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy, các Cô để khoá luận được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cám ơn các Thầy , các Cô và đặc biệt là thầy giáo Phan Anh Tuấn đã nhiệt tình giúp tôi hoàn thiện khoá luận này.

82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam - Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Hà Nội 1993 Chính sách và các biện pháp huy động các nguồn vốn - Thông tin chuyên đề - Bộ Kế hoạch và đầu tư - Trung tâm thông tin Hà Nội Quản lý và điều hành doanh nghiệp vừa và nhỏ - Nhà xuất bản Lao động 1994 Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế bền vững - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1996 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân - Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Kinh tế ngoài quốc doanh trong tiến trình đổi mới - Tạp chí Cộng sản tháng 5 - 1993 Lựa chọn giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả huy động vốn Tạp chí Tài chính tháng 10 - 2000 Một số vấn đề khó khăn và định hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ – Nội san nghiên cứu tài chính – kế toán, số tháng 2 năm 2001 Những định hướng của chính sách tài chính quốc gia 1996 - 2000, Trần Văn Tá - Tạp chí Tài chính tháng 9-1995 Tổng điều tra cơ sở kinh tế - Tạp chí kinh tế Việt Nam và thế giới, số tháng 4 năm 2003 Tháo gỡ những ách tắc trong chính sách phát triển đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ - Chu Tiến Quang, Lê Xuân Đình - Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 297 tháng 2 năm 2003 Doanh nghiệp vừa và nhỏ - hiện trạng và những kiến nghị giải pháp , Báo cáo nghiên cứu, Hà Nội, tháng 5 năm 2000 Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội 1995 Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX Chính sách tài chính đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ - TS Bạch Minh Huyền, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số tháng 11 năm 2002

12 13 14 15

83

16 Thực hiện Luật doanh nghiệp: Kết quả, vấn đề và kiến nghị giải pháp - Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp. MỤC LỤC

Trang

1 2 3 4 5 6 Chương I 1.1 1.1.1 1.1.2 1.1.3 1.1.4 1.2 1.2.1

Phần mở đầu Tính cấp thiết của đề tài Mục tiêu nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Những đóng góp của khoá luận Kết luận của khoá luận Nội dung Sử dụng có hiệu quả vốn với sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Quá trình phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế việt nam. Sự cần thiết phát triển DN vừa & nhỏ trong nền kinh tế thị trường Tiêu chuẩn xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình phát triển của kinh tế ở Việt Nam. Sử dụng vốn có hiệu quả với sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vốn kinh doanh và vai trò của vốn kinh doanh

2 2 3 3 3 4 5 5 5 7 9 13 18 19 21 23 26 29 29 29 36

1.2.2 Đầu tư vốn kinh doanh 1.2.3 Nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.2.4 Sử dụng có hiệu quả vốn với sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta Chương II Thực trạng về sử dụng vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 2.1 Thực trạng về sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở VN 2.1.1 Bức tranh tổng quát nguồn gốc hình thành và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. 2.1.2 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
84

2.2 2.2.1 2.2.2 2.2.3 Chương III 3.1 3.1.1 3.1.2 3.1.3 3.1.4 3.2 3.2.1 3.2.2 3.2.3 3.2.4 3.2.5 3.2.6 3.2.7

ngoài quốc doanh ở nước ta Đánh giá các chính sách sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta Chính sách quản lý và sử dụng vốn để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta trong thời gian qua Kết quả đạt được và những khó khăn của doanh nghiệp vừa và nhỏ Nguyên nhân của việc kém hiệu quả trong việc sử dụng vốn kinh doanh ở doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh Những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay Những cơ sở của các giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước ta về chiến lược phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện tại cũng như trong tương lai Cơ sở thứ nhất: Dựa vào khả năng tạo vốn ban đầu và cho quá trình phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Cơ sở thứ hai: Căn cứ vào ưu thế và bất lợi của doanh nghiệp vừa và nhỏ Cơ sở thứ ba: Căn cứ vào thực trạng, tình hình sử dụng vốn kinh doanh ở doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh Những giải pháp sử dụng vốn có hiệu quả để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Giải pháp khuyến khích đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu Giải pháp sử dụng vốn kinh doanh để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ qua hình thức tín dụng Giải pháp nâng cao sử dụng vốn kinh doanh qua hình thức liên doanh liên kết để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Giải pháp khai thác sử dụng vốn kinh doanh từ nguồn bên trong doanh nghiệp Giải pháp sử dụng có hiệu quả vốn cố định trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ Giải pháp sử dụng có hiệu quả vốn lưu động trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ Một số chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo

45 45 52 53 56 56 56 57 58 60 62 62 65 71 73 74 76 77 79 80

85

86


				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Tags:
Stats:
views:245
posted:1/5/2010
language:English
pages:86