; Chi phi dai dien -nhom TC04K32
Documents
Resources
Learning Center
Upload
Plans & pricing Sign in
Sign Out
Your Federal Quarterly Tax Payments are due April 15th Get Help Now >>

Chi phi dai dien -nhom TC04K32

VIEWS: 8,327 PAGES: 18

  • pg 1
									Bài tiểu luận của Nguyễn Quang Anh Quyền Trần Thanh Tâm Nguyễn Thanh Vân TCDN 04K32 LÝ THUYẾT CHI PHÍ ĐẠI DIỆN

MỤC LỤC TRANG A. LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ ĐẠI DIỆN ....................................3 1. Khái niệm chi phí đại diện.........................................................3 2. Phân lọai chi phí đại diện...........................................................3 3. Nguyên nhân và các trường hợp phát sinh chi phí đại diện................................................................4 4. Thành phần chi phí đại diện.......................................................7 B. THỰC TIỄN MỘT SỐ CÔNG TY ...................................................9 a. Công ty Enron............................................................................9 b. Công ty Madoff..........................................................................10 c. Công ty Bông Bạch Tuyết .........................................................11 d. Mô hình tiêu biểu.......................................................................13 C. GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU CHI PHÍ ĐẠI DIỆN...........................15 Công ty cổ phần ...............................................................................................15 Doanh nghiệp nhà nước ...................................................................................16

1

Lời mở đầu

Trong một nền kinh tế phát triển ở trình độ cao, quy mô và mức độ phức tạp của các doanh nghiệp khiến cho việc điều hành trực tiếp của các chủ doanh nghiệp trở nên không khả thi và thiếu hiệu quả. Việc điều hành những doanh nghiệp quy mô lớn và phức tạp đòi hỏi những kỹ năng và phẩm chất mà không phải nhà đầu tư nào cũng có được. Thực tế đó dẫn tới sự tách biệt giữa quyền quản lý và quyền kiểm soát (ownership – control). Những người có vốn nhưng không có khả năng quản lý đầu tư vào các doanh nghiệp và trở thành ông chủ (owner, hay còn gọi là nhà đầu tư - investor). Các ông chủ này sẽ thuê những chuyên gia có đủ năng lực điều hành doanh nghiệp của mình, thường gọi là giám đốc (Chief Executive Officer). Vấn đề xuất hiện khi mối quan hệ giữa các bên bị ảnh hưởng. Một trong những vấn đề này chính là chi phí đại diện – một phạm trù có ảnh hưởng sâu sắc đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì lí do đó chúng tôi đã chọn vấn đề về chi phí đại diện để phân tích. Trong phần trình bày sau để tiện cho quí độc giả theo dõi, chúng tôi chia bố cục bài viết thành những phần sau: PHẦN I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ ĐẠI DIỆN PHẦN II. THỰC TIỄN Ở MỘT SỐ CÔNG TY PHẦN III. GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU CHI PHÍ ĐẠI DIỆN Trong mỗi phần chúng tôi sẽ cố gắng trình bày để làm rõ nội dung chính, từ đó giúp các bạn có thể nắm được khái niệm phần chi phí đại diện

2

A. LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ ĐẠI DIỆN
Khái niệm về chi phí đại diện Ngày nay, nền kinh tế ngày càng phát triển thì càng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Trong nội bộ các công ty thường xảy ra nhiều vấn đề liên quan đến quyền lợi của từng cá nhân mà một trong những vấn đề đó chính là chi phí đại diện. Vậy chi phí phí đại diện là gì, vì sao cần phải quan tâm, tìm hiểu về lí thuyết này? Những câu hỏi đó sẽ được chúng tôi lần lượt trả lời trong những phần dưới. Chi phí đại diện là chi phí phát sinh mà người chủ sở hữu doanh nghiệp phải gánh chịu khi có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lí. Trong một công ty sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lí là hết sức cần thiết. Đối với các công ty nhỏ chỉ có một vài thành viên góp vốn thì có thể những thành viên này cùng tham gia quản lí nhưng đối với công ty lớn như công ty cổ phần thì việc này là không thể. Các công ty này có thể có hàng trăm, hàng ngàn cổ đông, do đó không có cách nào thỏa mãn tất cả các cổ đông cùng tham gia quản lí. Như vậy cần có sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lí. Hơn nữa, các cổ đông sở hữu công ty chưa chắc đã có trình độ, chuyên môn để tham gia quản lí. Tuy nhiên việc phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lí sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến quyền lợi của các bên. Các cổ đông thì luôn muốn tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp, giá trị của phần vốn góp của mình. Trong khi những nhà quản lí luôn có ước vọng tìm kiếm sự nhàn nhã, hoặc một phong cách sống xa hoa, họ có thể tránh những quyết định không hợp lòng người hay những quyết định mạo hiểm, đầy rủi ro mặc dù khi thành công sẽ tạo nên một nguồn lợi khổng lồ cho các cổ đông. Chính sự mâu thuẫn cơ bản này đã tạo nên vấn đề giữa người chủ và người đại diện 2. Phân lọai chi phí đại diện a. Chi phí đại diện của vốn cổ phần Một dạng chi phí đại diện có nguồn gốc từ mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và các nhà quản lý do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý của các loại hình doanh nghiệp hiện đại. Khi cổ đông bị giới hạn hoặc mất kiểm soát đối với người quản lý thì phía quản lý sẽ có động cơ tiến hành những hoạt động có lợi cho bản thân và có thể làm nguy hại đến quyền lợi của cổ đông. Ví dụ: Người quản lý có thể dùng tài sản của công ty cho việc riêng bằng nhiều hình thức như lương bổng hậu hĩnh, phát hành cổ phiếu, hay định giá chuyển giao cho chính mình. Jensen (1986) gợi ý rằng: Vấn đề chi phí đại diện nghiêm trọng hơn trong các doanh nghiệp có dòng tiền vượt quá mức cần thiết để thực hiện tất cả các dự án có hiện giá ròng NPV dương. Ông gọi dòng tiền dôi dư này là dòng tiền tự do, và hậu quả của chi phí đại diện do dòng tiền này là chi phí đại diện của dòng tiền tự do. Chi phí đại diện của vốn cổ phần cũng xuất hiện trong tính huống các nhà quản lý thường xuyên thực hiện những chiến lược đầu tư khiến công ty phát triển
3

1.

vượt mức tối ưu hoặc tham gia vào những lĩnh vực kinh doanh mà công ty không có lợi thế cạnh tranh. Với hành động như vậy, nhà quản lý mới có thể tăng quyền hạn của mình bằng cách thâu tóm nhiều nguồn lực hơn, tăng thu nhập (do mức lương và tiền thưởng được gắn với doanh số) hay giảm rủi ro mất việc. b. Chi phí đại diện của nợ Phát sinh từ mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và chủ nợ. Trong tình huống vốn cổ phần của một công ty có vay nợ là một quyền chọn mua đối với tài sản của công ty. Khi đó, cổ đông có thể chiếm hữu tài sản của chủ nợ bằng cách gia tăng rủi ro đầu tư (Jensen và Meckling 1976). Myers (1977) gợi ý xa hơn là sự hiện diện của nợ có thể khiến những dự án có NPV dương bị từ chối . Do nếu chấp nhận dự án này thì rủi ro tài chính sẽ tăng (rủi ro phá sản) và giá trị sẽ chuyển từ cổ đông sang trái chủ. Do đó, trái chủ sẽ đòi hỏi mức lãi suất cao hơn và kiên quyết áp dụng những ràng buộc hạn chế vay vốn như khế ước vay nợ và sử dụng các công cụ giám sát. c. Chi phí đại diện do bất cân xứng thông tin giữa nhà đầu tư và nhà quản lý Do thông tin mà nhà đầu tư biết được thì rất khác biệt so với thông tin mà các nhà quản lý nắm giữ như kết quả hoạt động kinh doanh của công ty, các nguồn tài trợ, các dự án đầu tư… khi đó nhà đầu tư sẽ có những quyết định không đúng. Điều chúng ta dễ thấy, đó là sự thao túng giá cổ phiếu của một số cổ đông. Bằng cách này, họ sẽ làm cho giá cổ phiếu của công ty tăng cao. Các nhà đầu tư họ sẽ không có đầy đủ thông tin để nhận biết điều này. Thông thường việc tăng giá là do công ty hoạt động có hiệu quả hay có một khả năng tăng trưởng trong tương lai. Các nhà đầu tư sẽ thông qua giá cổ phiếu trên thị trường mà có thể biết được công ty hoạt động có hiệu quả hay không. Nhưng sự tăng giá này chỉ do một số cổ đông liên kết với nhà đầu cơ tạo ra. Khi mà các nhà đầu tư nhận biết, thì lúc ấy giá cổ phiếu đã giảm mạnh. Những điều này sẽ được giải thích rõ hơn ở phần sau. 3. Nguyên nhân xuất hiện, tồn tại chi phí đại diện

Mâu thuẫn mục tiêu giữa người chủ và người đại diện a. Như đã nói ở phần trên, trong một công ty luôn có sự mâu thuẫn về quyền lợi giữa người chủ và người quản lí. Người sở hữu công ty yêu cầu nhà quản lí phải đặt lợi ích của công ty (gắn liền lợi ích cổ đông) lên trên quyền lợi của họ nhưng đôi khi quyền lợi của hai bên không gặp nhau mà thậm chí còn mâu thuẫn lẫn nhau. Cổ đông là những người trực tiếp đầu tư vào doanh nghiệp và tất nhiên họ luôn mong muốn kiếm được nhiều lợi nhuận, tức tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Còn có những nhà quản lý chuyên nghiệp được thuê về để điều hành hoạt động của doanh nghiệp theo hướng hiệu quả nhất nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu của doanh nghiệp đã đề ra. Người ta thường nói: khi thuận lợi thì cùng nhau
4

hưởng, khi bất lợi thì bất đồng quan điểm, mâu thuẫn lẫn nhau. Trong thời điểm bình thường, doanh nghiệp họat động bình thường thì lợi ích của hai bên có thể gặp nhau. Khi công ty họat động hiệu quả, lơi nhuận được chia cho cổ đông lớn, tạo sự hài lòng cho họ. Chính điều này làm địa vị nhà quản lí được nâng cao, quyền lợi họ đạt được cũng nhiều hơn. Nhưng khi công ty có những vấn đề khó khăn, sự thống nhất về mục tiêu chung có thể bị đổ vỡ. Nhà quản lí sẽ rụt rè trước những dự án có tỷ suất sinh lợi rất cao nhưng mức độ rủi ro cũng rất cao. Còn trong lĩnh vực tài chính, tại những thời điểm bình thường, ngân hàng và trái chủ, những người cho doanh nghiệp vay tiền, sẽ có cùng quan điểm với các cổ đông trong việc mong muốn doanh nghiệp thành công và phát đạt. Nhưng khi một doanh nghiệp gặp khó khăn, sự thống nhất về mục tiêu chung có thể đổ vỡ. Vào những lúc như vậy sự thay đổi ban quản lý là điều cần thiết để cứu doanh nghiệp, nhưng những nhà cho vay lại không còn muốn tiếp tục đầu tư vào doanh nghiệp và họ quan tâm đến việc thu hồi lại khoản tiền cho doanh nghiệp vay. Sự tranh cải có thể xảy ra giữa các nhà tài trợ khác nhau và khi các chủ nợ cảm nhận công ty có khả năng bị phá sản sẽ có sự tranh giành giữa các chủ nợ nhằm giành cho mình một vị trí ưu tiên hơn để nhận lại khoản vay theo thứ tự chi trả của luật phá sản. Ngoài ra, khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính ( kiệt quệ tài chính xảy ra khi không thể đáp ứng các hứa hẹn với các chủ nợ hay đáp ứng một cách khó khăn. Đôi khi kiệt quệ tài chính đưa đến phá sản, đôi khi nó chỉ có nghĩa là đang gặp khó khăn, rắc rối ), các mâu thuẫn quyền lợi sẽ cản trở các quyết định đúng đắn về hoạt động, đầu tư, và tài trợ. Các cổ đông thường từ bỏ mục tiêu thông thường là tối đa hóa giá trị thị trường doanh nghiệp và, thay vào đó, theo đổi mục tiêu hạn hẹp hơn là quyền lợi riêng của mình. Họ thường có khuynh hướng thực hiện các “trò chơi” riêng mà phần thiệt hại sẽ do các chủ nợ gánh chịu. -Ví dụ : Trong lĩnh vực xây dựng, có một dự án xây dựng mang lại tỷ suất sinh lợi cao nhưng kèm theo đó mức rủi ro cũng rất cao. Nếu đầu tư có thể đem về nguồn lợi nhuận khổng lồ nhưng cũng có thể thất bại. Để bảo vệ địa vị và quyền lợi của mình, nhà quản lí sẽ không lựa chọn dự án này. Để giành được gói thầu công ty phải có bản đề án chi tiết, đúng thời hạn, có chất lượng để tham gia tranh thầu song nhà quản lý công ty đã không thực sự nỗ lực hoàn thành bản dự án tham gia đầu thầu kịp thời gian, làm vụt mất những cơ hội làm ăn sinh lợi của doanh nghiệp. - Nhà quản lí lợi dụng quyền hạn của mình để tư lợi cá nhân, sử dụng đồng tiền của các cổ đông thực hiện những dự án an tòan, không tạo ra nhiều lợi nhuận, thậm chí là bỏ túi cho riêng mình gaây toån haïi ñeán doanh nghieäp hay noùi caùch khaùc laøm aûnh höôûng ñeán lợi ích của cổ đông. Trong vụ án PMU18, Bùi Tiến Dũng-nguyên tổng giám đốc thay vì phải quản lý nguồn vốn ODA trong việc xây dựng các công trình giao thông phục vụ nhân dân đã vì mục tiêu ăn chơi sa đoạ nên đã rút ruột hàng ngàn tỷ đồng từ nguồn vốn ODA của nhà nước đem đánh bạc,cá độ bóng đá …Và hậu quả là nhân dân ta, nhà nước ta phải gánh chịu khoản nợ rất lớn của nước ngoài. Ở đây nguyên nhân thì có nhiều nhưng một trong những nguyên nhân để xảy ra vụ bê bối gây thất thoát trên là sự không thống nhất
5

về mục tiêu hoạt động giữa nhà nước - chủ sở hữu là phục vụ nhân dân với ban quản lý - người đại diện là ăn chơi, tư tưởng hưởng thụ cá nhân. Đề án 112 cũng gậy xôn xao dư luận bởi thất thoát và lãng phí hàng ngàn tỷ đồng ngân sách nhà nước. Một đề án lớn, được thực thi tùy tiện, sai phạm, vụ lợi được thực hiện và tiếp tay từ một số cán bộ của Văn phòng chính phủ. Họ không chỉ yếu kém về năng lực chuyên môn mà còn tha hóa về đạo đức cách mạng, tự tung tự tác nâng giá thiết bị…Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, hàng ngàn tỷ đồng của dân đã đi vào túi của không ít người tư lợi và đề án 112 trở nên bất khả thi, không đưa vào ứng dụng được.. b. Giöõa ngöôøi quaûn lyù vôùi ngöôøi quaûn lyù Trong một công ty, bên cạnh mối quan hệ giữa người chủ và người đại diện còn có mối quan hệ giữa những người qủan lí với nhau. Cấu trúc tổ chức của một công ty sẽ bao gồm một tổng giám đốc và giám đốc các bộ phận (hay trưởng phòng bộ phận). Vai trò của người chủ và người đại diện ở đây được thể hiện là mối quan hệ giữa tổng giám đốc và các giám đốc bộ phận. Người lãnh đạo cấp trên đóng vai trò là người chủ, các giám đốc bộ phận là những người đại diện. Những cổ đông giao nhiệm vụ lại cho tổng giám đốc, đến lượt mình tổng giám đốc lại phân chia nhỏ ra và giao việc cụ thể cho từng giám đốc bộ phận. Tuy nhiên do sai lệch mục tiêu, người quản lí không còn làm đúng như những gì cấp trên đề ra. Chính vì vậy các họat động cụ thể của công ty sẽ diển ra sai lệch với mục tiêu ban đầu. Đây là một cấu trúc mang tính dây chuyền, chỉ cần một sai lệch nhỏ của mỗi bộ phận sẽ dẫn đến một sai lệch lớn của tòan hệ thống dẫn đến sự sụt giảm trong doanh thu, lợi nhuận công ty. Như vậy mục tiêu tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng. Điều này còn trở nên phức tạp hơn nếu cấu trúc của công ty quá cồng kềnh, phức tạp như những công ty Nhà nước. Ví dụ: khi tổng giám đốc giao việc thực hiện một dự án xuống cho các phòng ban cấp dưới nhưng do sự triển khai chậm, không kịp thời của phòng nhân sự khiến nguồn lực không đảm bảo đã ảnh hưởng đến tiến độ của việc triển khai dự án. Sự trì trệ này có thể gây nên sự sụt giảm trong doanh thu. c. Giöõa chuû sôû höõu vaø chuû nôï Vào những năm 1994 – 1996, công ty Coca-cola khi mới thâm nhập thị trường Việt Nam, công ty đã phải tồn tại dưới hình thức liên doanh (do thời kì trước đó Chính Phủ nước ta chưa cho phép thành lập công ty có 100% vốn nước ngòai), nên có 30% vốn củ doanh nghiệp Việt Nam, 70% là của tập đòan công ty mẹ ở Mỹ. Trong trường hợp này ta có thể xem công ty Việt Nam đóng vai trò là chủ nợ đầu tư vào công ty liên doanh, công ty Coca-cola Mỹ là chủ sở hữu.Với mục tiêu biến công ty liên doanh trên thành công ty 100% vốn nước ngoài, công ty Cocacola Mỹ đã cố tình điều hành công ty liên doanh làm ăn thua lỗ trong thời gian dài, vì tiềm lực tài chính hạn hẹp Công ty Việt Nam không thể tiếp tục đầu tư (trong khi đó Coca-cola là một tập đòan lớn mạnh, với chi phí thua lỗ không đáng

6

Bất cân xứng thông tin d. Các giám đốc thì biết nhiều về tiềm năng, rủi ro và các giá trị của công ty mình hơn là các nhà đầu tư từ bên ngoài. Chúng ta có thể chứng minh điều này bằng cách quan sát các thay đổi giá cổ phần do các công bố của các giám đốc. Khi một công ty công bố một gia tăng cổ tức thường xuyên, giá cổ phần thường tăng, vì các nhà đầu tư diễn dịch việc gia tăng này như một dấu hiệu về sự tin tưởng của ban giám đốc công ty về thu nhập tương lai. Cũng như lập luận của Modigliani và Miller, một gia tăng trong cổ tức chuyển một loại thông tin nào đó đến các cổ đông. Đó là, ban điều hành doanh nghiệp dự kiến thu nhập tương lai sẽ cao hơn. Tương tự, một cắt giảm cổ tức được xem như truyền đạt các thông tin bất lợi về triển vọng lợi nhuận của doanh nghiệp. Trên thực tế, các thay đổi trong chi trả cổ tức tiêu biểu một tín hiệu cho các nhà đầu tư đánh giá của ban điều hành về lợi nhuận và dòng tiền tương lai của doanh nghiệp. Ban điều hành, là người trong nội bộ công ty, được coi là có tiếp cận thông tin về khả năng sinh lời của công ty đầy đủ hơn các thông tin có sẵn các nhà đầu tư bên ngoài. Các thay đổi trong cổ tức được coi như cung cấp các tín hiệu rõ ràng về triển vọng tương lai của công ty – thông tin không thể chuyển tải đầy đủ bằng các phương tiện khác nhau như báo cáo thường niên và phần trình bày của ban điều hành trước các nhà phân tích chứng khoán chẳng hạn. Khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán mới, sự kiện này có thể được coi là đang cung cấp một tín hiệu cho thị trường tài chính về viễn cảnh tương lai của doanh nghiệp hay các hoạt động tương lai do các giám đốc của doanh nghiệp hoạch định. Các nghiên cứu về thay đổi cấu trúc vốn đều cho rằng các cung ứng chứng khoán mới đưa tới đưa tới các đáp ứng giá chứng khoán giảm. Việc mua lại cổ phần thường là sẽ đưa tới các lợi nhuận được công bố dương lớn từ cổ phần thường của doanh nghiệp. Các hành động làm tăng đòn bẩy tài chính thường gắn với thu nhập cổ phần dương và các hành động làm giảm đòn bẩy tài chính thường gắn với thu nhập cổ phần âm. Một doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức, ngoài lợi thế do tấm chắn thuế mang lại, doanh nghiệp còn phải đối mặt với chi phí kiệt quệ tài chính và chính khoản chi phí này mà các chủ nơ thường đòi hỏi một lãi suất hứa hẹn cao. Vì vậy, khi một doanh nghiệp thực hiện quyết định thay đổi cấu trúc vốn, doanh nghiệp phải chú ý đến tín hiệu có thể có về viễn cảnh thu nhập tương lai và hiện tại của doanh nghiệp cũng như các dự định của các giám đốc mà giao dịch được đề xuất chuyển đến thị trường. 4. Thành phần chi phí đại diện
7

Chính những mâu thuẫn trên và những chiến lược hoạt động có tính “ích kỷ” của những người quản lý đã tạo ra chi phí đại diện. Để kiểm sóat chi phí đại diện, người chủ đã tìm cách để quản lí người đại diện của công ty. Chi phí đại diện sẽ bao gồm những chi phí mà người chủ sở hữu phải bỏ ra để chi trả cho việc kiểm sóat người đại diện, khuyến khích, tài trợ họ và những tổn thất, mất mát mà người chủ phải gánh chịu. ban quản lý và do đó ảnh hưởng đến công việc của họ. Theo Jensen – Meckling, những vấn đề như các nhà quản lý trốn tránh nhiệm vụ của mình sẽ được xem như một loại chi phí, các nhà quản lý không thể hiện năng lực lãnh đạo của họ cũng được xem là một loại chi phí. Jensen – Meckling định nghĩa chi phí đại diện như là sự tổng hợp các chi phí của một hợp đồng có tổ chức (có hình thức và không hình thức). Hợp đồng này được định nghĩa, một người (người chủ) thuê một người khác (người đại diện) làm nhiệm vụ thay thế cho người chủ. Người chủ đưa ra quyết định - ủy quyền cho người đại diện. (M) : chi phí theo dõi bởi người chủ. (B) : chi phí ràng buộc bởi người đại diện. (R) : sự mất mát. Khi đó, chi phí đại diện sẽ là = (M)

+ (B) + (R)

Chi phí theo dõi bởi người chủ. Đây là những chi phí để giám sát người đại diện để đảm bảo rằng người đại diện gắn với lợi ích của người chủ. Đồng thời còn mở rộng hơn nữa là đối với các giám đốc, họ được các cổ đông khuyến khích làm việc hiệu quả, thì bản thân họ- những nhà quản lý cấp cao- lại phải tiếp tục suy nghĩ những biện pháp để khuyến khích các nhân viên dưới quyền mình cũng nỗ lực làm việc- và tất cả những nhân viên lại là người đại diên cho quản lý cấp cao hơn. Chi phí ràng buộc bởi người đại diện. Người đại diện gánh chịu chi phí để cam kết rằng bản thân họ không xâm phạm đến lợi ích của người chủ. Sự mất mát- những chi phí được kết hợp với một kết quả mà kết quả đó không hoàn toàn phục vụ lợi ích của người chủ. Trong những doanh nghiệp có dòng tiền vượt quá mức cần thiết để thực hiện được tất cả các dự án có NPV dương thì vấn đề chi phí đại diện càng trở nên nghiêm trọng hơn. Nếu công ty áp dụng chính sách tài trợ bằng nợ thì có thể có những dự án có NPV dương bị từ chối. Do nếu chấp nhận dự án này thì rủi ro tài chính sẽ tăng và gía trị sẽ chuyển từ cổ đông qua trái chủ. Đối với công ty cổ phần, đó có thể là sự thao túng giá cổ phiếu trên thị trường làm gía cổ phiếu của công ty tăng cao để thu lợi nhuận, rồi đến lúc nào đó gía cổ phiếu sẽ trở lại giá trị thực của nó. 5. Có thể triệt tiêu chi phí đại diện được hay không ?

8

Chi phí đại diện không thể triệt tiêu chừng nào còn có sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lí. Việc này có thể xảy ra khi các cổ đông đồng thời cũng chính là nhà quản lí. Đây chính là thuận lợi của mô hình công ty tư nhân: người chủ và người quản lí là một, không có sự mâu thuẫn về quyền và lợi ích. Tuy nhiên mô hình công ty này không phát triển mạnh mẽ, dễ chấp nhận như công ty cổ phần. công ty tư nhân sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc huy động nguồn vốn khi vấn đề tài chính của người chủ gặp khó khăn. Sự quản lí thiếu sáng suốt, kinh nghiệm của người sở hữu cũng dễ dẫn đến sự sụp đổ. Hiện nay công ty cổ phần chính là sự lựa chọn của nhiều doanh nghiệp vì tính ưu việt của nó. Mà một khi đã chấp nhận công ty cổ phần thì chi phí đại diện là vấn đề không thể tránh khỏi. Để tối đa hóa giá trị của công ty, vì không thể triệt tiêu mất chi phí này nên các công ty sẽ tìm cách giảm thiểu chi phí đại diện.

B. THỰC TIỄN MOẬT SỐ CÔNG TY
a. Công ty Enron Enron là một công ty đa quốc gia hùng mạnh trong lĩnh vực năng lượng. Enron đã trở thành công ty lớn thứ 7 của Hoa Kỳ và có lúc là công ty năng lưuợng hàng đầu thế giới. Công ty đã có họat động trên 30 quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam. Lĩnh vực chính của công ty đã mở rộng dần từ vận chuyển và phân phối khí đốt sang buôn bán xăng dầu, khí đốt, xây dựng các nhà máy cung cấp điện. Trên con đường phát triển, việc kinh doanh của Enron ngày càng có nhiều rủi ro. Trong việc kinh doanh vận chuyển qua hệ thống đường ống, cả lượng và giá đều ổn định. Nhưng trong lĩnh vực buôn bán khí đốt, xăng dầu giá cả dao động rất mạnh đồng thời số lượng cũng dao động do sức ép cạnh tranh. Từ cuối năm 1985 đến cuối năm 2001, giá cổ phiếu của công ty liên tục tăng. Khủng hỏang bắt đầu hiện ra vào cuối năm 2001. Ngày 26/10/2001 công ty đã thừa nhận lỗ hàng trăm triệu USD trong một quý. Ngay trong tháng 12 măn đó công ty tuyên bố phá sản, khiến cho hàng nghìn người mất việc, xóa sổ tài khỏan hưu trí hàng tỷ USD của các nhân viên. Phép màu đã đưa công ty Enron đi lên nhanh chóng và đi xuống không phanh là do câu chuyện về mô hình công ty mẹ - công ty con. Một công ty có thể mở nhiều công ty con núp dưới bóng của mình. Công ty con dựa vào bóng công ty mẹ để được vay vốn, để thắng thầu, xây dựng thương hiệu. Công ty mẹ sử dụng công ty con để huy động vốn, để hứng chịu những hợp đồng đầy rủi ro, để giấu bớt những trách nhiệm nợ nần của mình, làm cho báo cáo tài chính đẹp hơn…ngay cả những hợp đồng mua bán lại giữa mẹ và con cũng tạo ra doanh thu và lợi nhuận để báo cáo. Chẳng có gì sai nếu chỉ dừng lại 2 hay 3 công ty con. Vấn đề là Enron đã tạo ra hơn 900 công ty con, chủ yếu nằm ở các nước dễ dãi nhất về luật kế tóan. Tất cả hệ thống nhằm che dấu lỗ và rủi ro, trong đó lại phóng đại lợi nhuận và tài sản. hệ thống được thiết kế bởi những chuyên gia tài chính rất giỏi, và được bảo trợ bởi một trong 5 đại gia của ngành kiểm tóan thế giới: Arthur Andersen. Sự sụp đổ của Enron là một điều không thể tránh khỏi khi các nhà quản trị của công ty này đã thực hiện việc gian lận. Trước khi tuyên bố
9

tình trạng phá sản, chủ tịch kiêm tổng giám đốc của Enron, ông Kenneth Lay đã bán 71% số cổ phiếu của mình và thu được lợi nhuận 90 triệu đôla. Vào đầu năm 2001, ông bán mỗi cổ phiếu giá 79 đô. Vào cuối năm 2001, mỗi cổ phiếu chỉ còn trị giá 0.6 đô. Do sự mất cân đối thông tin, Lay đã đi trước tất cả mọi người trước khi thảmm họa xảy ra và để phần thiệt hại lại cho các cổ đông khác và phần lớn những người mua cổ phiếu. những người bên trong đã nhanh tay bán cổ phiếu còn những người bên ngòai mua cổ phiếu với giá 90 đô để chỉ còn 0.6 đô sau không đầy một năm. Sự sụp đổ của một công ty năng lượng hàng đầu của Mỹ cho thấy vấn đề chi phí đại diện là hết sức quan trọng trong một công ty và đặc biệt là những công ty có tầm ảnh hưởng lớn đến kinh tế, đến xã hội của quốc gia đó. Chính vì sự nắm quyền lực quá lớn của Kenneth Lay khiến cho những thông tin sai phạm bị bưng bít, không được phanh phui. Hơn nữa Ban kiểm sóat , các thành viên Hội đồng quản trị tỏ ra không độc lập để kiềm chế quyền lực của ban giám đốc đồng thời bảo vệ quyền lợi của các cổ đông. Và cuối cùng là sự mất cân xứng thông tin, người thì biết quá rõ về tình hình của công ty, về thảm họa sắp xảy ra trong khi những người khác không biết chút gì. Mặc dù ý thức được điều này nhưng không dễ để nhà đầu tư có thể kiểm soát được, bởi trên thực tế tồn tại thông tin bất cân xứng giữa nhà đầu tư và nhà quản lý. Nhà quản lý có những thông tin mà nhà đầu tư không thể có hoặc không muốn có do chi phí để thu thập các thông tin đó là quá cao. Ví dụ, nhà quản lý có thể biết được mức độ nỗ lực của mình trong khi nhà đầu tư không biết được hoặc biết nhưng không hiểu được đầy đủ. Do tình trong thông tin bất cân xứng này mà nhà quản lý có cơ hội để thực hiện các hành vi không trung thực như trên mà không sợ bị trừng phạt. Bài học từ công ty Enron là một bài học lớn, từ sau sự sụp đổ của công ty này, cảnh quan quản trị công ty chắc chắn sẽ có nhiều thay đổi. b. Công ty Madoff Madoff sáng lập công ty đầu tư chứng khoán Bernard L. Madoff năm 1960. Công ty của ông ta hoạt động theo hình thức tư vấn đầu tư, và điều hành các quỹ đầu tư với tổng số tài sản quản lý lên tới 17 tỉ USD. Ông là một trong những sáng lập viên của sàn Nasdaq và là chủ tịch sàn này từ những năm 1990. Cho đến năm 2001, công ty của ông vẫn là một trong 3 nhà tạo lập thị trường lớn nhất trên sàn Nasdaq, và là doanh nghiệp môi giới lớn thứ ba tại Sở Giao dịch chứng khoán New York (NYSE). Tên tuổi của ông Bernard Madoff đã trở thành huyền thoại trên thị trường phố Wall. Chính vì vậy mà nhiều doanh nghiệp, quỹ đầu tư danh tiếng, thậm chí cả quỹ từ thiện và các trường đại học... đã tin tưởng gửi gắm tiền cho ông. Họ cũng hoa mắt trước khoản lãi suất 11% mà ông Madoff cam kết trả hàng năm, với chi phí thấp. Quỹ Fairfield Sentry có tài sản 7,3 tỉ USD xác nhận, tới tháng 10 vừa qua, họ vẫn nhận được khoản lãi 11%, đều đặn trong suốt 15 năm qua. Nhiều nhà quản lý quỹ
10

không hiểu làm thế nào mà ông Madoff có thể trả lãi cao như vậy trong bối cảnh thị trường hiện nay. Girish Reddy - một nhà quản lý quỹ của Công ty Prisma - cho biết, ông không dám đầu tư vào Madoff chỉ vì... khoản lãi mà công ty này trả quá ấn tượng và không thể hiểu nổi. Đúng như lo lắng của Reddy, chiêu bài của ông Madoff thật đơn giản: Lấy tiền của nhà đầu tư đến trước để trả cho nhà đầu tư đến sau. Đó là hình thức lừa đảo xuất hiện từ đầu thế kỷ 20. Do vốn không tự sinh lời, do khoản tiền đến sau không thể gánh nổi khoản đến trước, và do một số nhà đầu tư rút vốn, khoản lỗ đã lên tới 50 tỉ USD và ông Madoff buộc phải nói ra sự thật. Vụ việc vỡ lở đầu tuần trước, khi ông Madoff nói với một nhân viên điều hành cấp cao của công ty rằng ông muốn trả thưởng năm cho các nhân viên sớm hơn 2 tháng. Trước đó, ông cũng thừa nhận đang không biết kiếm đâu ra 7 tỉ USD tiền mặt để đáp ứng yêu cầu rút tiền của một khách hàng. Các lãnh đạo công ty đã đến gặp ông để tìm hiểu vụ việc. Madoff mời hai người về nhà riêng của mình. Tại đây, ông thú nhận: "Tất cả đều là dối trá". Madoff tuyên bố, mọi việc đã kết thúc. Ông sẽ tự ra trình diện, nhưng trước hết, ông muốn phân phát từ 200 triệu đến 300 triệu USD cho một số nhân viên. Sáng sớm thứ năm (11.12), Madoff tra tay vào còng. Ông thừa nhận rằng không có lời giải thích nào cho hành động của mình. Madoff có khả năng lĩnh tối đa 20 năm tù giam và nộp phạt 5 triệu USD. Vụ lừa đảo trên khiến nhiều người đặt câu hỏi, các cơ quan giám sát thực thi pháp luật của Uỷ ban Chứng khoán và Hối đoái Mỹ ở đâu, khi những sai phạm của Công ty Madoff diễn ra trong một thời gian dài mà không ai hay biết. c. Bông Bạch Tuyết (BBT) Tài chính sai phạm nhiều năm liền Theo kết quả thanh tra, nhiều năm liền, BBT đã không đủ điều kiện niêm yết là kinh doanh có lãi. Cụ thể, năm 2004, báo cáo tài chính (BCTC) được kiểm toán cho thấy BBT lỗ 2,121 tỷ đồng. Năm 2005, BCTC do Công ty Kiểm toán A&C thực hiện cho thấy BBT có lợi nhuận sau thuế là 982 triệu đồng. Tuy nhiên, kiểm toán viên của A&C có nêu ý kiến loại trừ nhiều khoản mục như chưa trính lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, làm BCTC năm 2005 chưa thể hiện chính xác và phù hợp với chuẩn mực kế toán; BBT thay đổi chính sách khấu hao đã làm giảm chi phí khấu hao so với năm 2004 một con số ước tính là 1,253 tỷ đồng; BBT sử dụng khoản lương dự phòng để nộp BHXH và BHYT số tiền 147 triệu đồng. Ngoài ra, theo báo cáo kiểm toán năm 2006 thì trong năm 2005, BBT đã thực hiện chương trình quảng cáo sản phẩm mới nhưng không hạch toán chi phí vào năm đó, kiểm toán viên của A&C đã không lưu ý điều này trong báo cáo kiểm toán. Năm 2006, BCTC năm và các quý do BBT lập đều có lãi, nhưng ý kiến kiểm toán viên cuối năm ngoại trừ nhiều khoản mục trọng yếu. Theo hợp đồng kiểm toán cho năm tài chính 2007, BBT đã yêu cầu kiểm toán lại một số khoản mục của năm 2006, kết quả kiểm toán đã loại trừ một số khoản, dẫn tới kết quả lợi nhuận sau
11

thuế năm 2006 bị lỗ 8,448 tỷ đồng. Số liệu điều chỉnh này chỉ được công bố trong BCTC kiểm toán năm 2007 ở số liệu đầu kỳ. Theo Biên bản kiểm tra, tháng 10/2007, HĐQT BBT đã phê chuẩn đề nghị của Ban giám đốc về việc thực hiện lập báo cáo tài chính quý III/2007 phản ánh chính xác, đầy đủ, minh bạch tình hình tài chính của Công ty. Trong quý III/2007, BBT bắt đầu thực hiện một số bút toán điều chỉnh hồi tố đối với phần lợi nhuận để lại từ các năm trước. Trong BCTC kiểm toán năm tài chính 2007, Công ty lỗ 6,809 tỷ đồng. 6 tháng đầu năm 2008, BCTC do Công ty lập cho thấy, BBT lỗ 4,537 tỷ đồng. Công ty ngừng sản xuất hoàn toàn kể từ ngày 12/7 cho đến nay. Trách nhiệm của đơn vị kiểm toán Một điều gây nghi ngờ và bức xúc cho nhiều NĐT là chất lượng báo cáo kiểm toán tại BBT, đặc biệt là BCTC năm 2006, bởi khi kiểm toán lại thì lãi đã chuyển thành lỗ. Về vấn đề này, Đoàn thanh tra đánh giá: "Về Công ty Kiểm toán A&C, đơn vị đã kiểm toán BCTC của BBT năm 2005, kiểm toán viên đã không cẩn trọng trong việc kiểm toán BCTC. Cụ thể, kiểm toán viên không đưa khoản loại trừ chi phí quảng cáo vào BCTC kiểm toán năm 2005. Ngoài ra, A&C cũng không có thư quản lý sau kiểm toán". Về công tác kiểm toán của Công ty Kiểm toán AISC, đơn vị kiểm toán BBT hai năm 2006 và 2007, Đoàn thanh tra đánh giá các ý kiến loại trừ của kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán của BBT là thông tin không đầy đủ, gây hiểu nhầm cho NĐT. Kết quả kinh doanh năm 2006 của BBT sau khi hồi tố chênh lệch rất lớn, từ lãi sang lỗ, kiểm toán viên ước lượng ảnh hưởng các khoản ngoại trừ đều có thể ảnh hưởng trọng yếu đến kết quả kinh doanh, nhưng chưa nêu rõ trong báo cáo kiểm toán. Ngoài ra, Đoàn thanh tra cũng đánh giá một số khiếm khuyết khác như: BCTC được kiểm toán năm 2007 có một số khoản điều chỉnh hồi tố từ năm 2006, nhưng thư kiểm toán đã không nêu rõ vấn đề này; AISC không cung cấp thư quản lý theo hợp đồng kiểm toán năm 2006; AISC không thông báo ngay cho UBCK khi phát hiện tại BBT có những sai phạm trọng yếu Những sai phạm khác Về nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ, BBT không nộp báo cáo thường niên các năm 2004, 2005; hai năm 2006 - 2007, BBT có gửi báo cáo thường niên cho HOSE nhưng không gửi cho UBCKNN; BBT xin gia hạn việc nộp báo cáo kiểm toán năm 2007 nhiều lần; BBT liên tiếp nộp chậm BCTC quý II, III, IV/2007 và quý I/2008, số liệu luỹ kế của các quý so với báo cáo kiểm toán năm có sai lệch lớn. Về việc phát hành chứng khoán, vào tháng 1/2007, 3 thành viên HĐQT và 4 NĐT đã nộp tiền mua cổ phiếu cho BBT, phương án dù đã được ĐHCĐ năm 2006 thông qua, nhưng BBT chưa làm thủ tục đăng ký với UBCKNN theo quy định. Số tiền 7,28 tỷ đồng thu được hiện đang hạch toán vào khoản nợ phải trả của Công ty. Đoàn thanh tra kết luận: HĐQT, Ban kiểm soát, Ban giám đốc, Kế toán trưởng BBT chưa thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, thiếu trách nhiệm, không trung thực trong việc lập và công bố BCTC để hoạt động kinh doanh của Công ty ngày càng xấu đi. Về phương án phát hành
12

Điều quan trọng nhất, liên quan đến sự tồn tại của thương hiệu Bông Bạch Tuyết đã có 48 năm, công việc của 250 CB-CNV tại Công ty và quyền lợi gần 3.000 cổ đông là phương án phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ, hướng ra khả thi duy nhất cho đến giờ phút này để khôi phục lại hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty. Đoàn thanh tra đánh giá: Việc phát hành riêng lẻ với giá khoảng 9.000 đồng/CP so với giá trị sổ sách vào thời điểm ngày 30/6/2008 là 8.100 đồng/CP và giá thị trường ngày 25/8 là 7.900 đồng/CP là không trái với Điều 87 Luật Doanh nghiệp. Việc phát hành vào thời điểm dây chuyền ngừng sản xuất, CB-CNV có trình độ nghỉ việc, nội bộ Công ty mâu thuẫn nghiêm trọng sẽ gây khó khăn trong việc tìm kiếm NĐT chiến lược. Thông tin về các đối tác chiến lược và tiềm lực cũng chưa đầy đủ, chưa có cam kết chắc chắn, phương án sử dụng vốn chưa có sự ưu tiên cho việc giải quyết những vấn đề cấp bách nên không tạo được sự tin tưởng cho cổ đông lớn cũng như đối tác chiến lược Trên cơ sở đó, Đoàn thanh tra chỉ nêu kiến nghị chung: HĐQT cần xác định thời điểm, lộ trình và lượng vốn cần huy động. Công ty nên lập phương án phát hành cho từng giai đoạn sao cho phù hợp phù hợp với mục đích sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành trước khi đưa ra ý kiến tại ĐHCĐ. Việc sử dụng vốn thu được của đợt phát hành cần ưu tiên cho việc khôi phục, ổn định sản xuất - kinh doanh đối với sản phẩm có thế mạnh và có lợi nhuận. Theo ghi nhận của Báo ĐTCK, chiều 10/9, BBT vẫn đang duy trì điều kiện sản xuất tối thiểu với khoảng 15 CB-CNV khối văn phòng làm việc. Nhà xưởng của Công ty tại Khu công nghiệp Vĩnh Lộc được chạy không tải tuần 1 lần để chống han rỉ. d. Một số mô hình tiêu biểu Phát triển mô hình quản lý ở Mỹ Sau một giai đoạn phát triển hoang dã tới cực điểm với sự đầy rẫy các “vấn đề lạm dụng của cổ đông” trong những năm 1920, mô hình các công ty ở Mỹ bắt đầu được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của các qui định trong những năm 1930; các nhà quản lý chuyên nghiệp, chủ yếu là Giám đốc điều hành (Chief Executive Officer - CEO), đảm nhận vai trò trung tâm (do đó mà Berle và Means đặt ra thuật ngữ “managerial company” (tạm dịch là công ty được quản lý chuyên nghiệp) vào năm 1932), chịu sự kiểm soát của Hội đồng Quản trị, với các thành viên được lựa chọn hầu như không chịu bất kỳ ảnh hưởng nào từ phía cổ đông. Hệ thống này vận hành cho tới những năm 1970 khi “vấn đề đại diện” nổi lên dữ dội và dẫn theo làn sóng mua lại công ty đối thủ vào những năm 1980. Theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, dần tăng lên từ những năm 1980, được sử dụng như thước đo hiệu quả của công ty và hạn chế “vấn đề đại diện”. Điều này cũng dẫn tới tình trạng thái quá khi động lực của các CEO và bộ phận quản lý gắn kết quá mức với lợi nhuận trong ngắn hạn. Việc sử dụng quyền chọn mua cổ phiếu, mang lại khoản tiền lớn trong trường hợp giá cổ phiếu tăng, đi liền với tình trạng thái quá này; trong nhiều trường hợp, nó mang lại các khoản lợi nhuận trời cho và thúc đẩy các nhà quản lý tập trung vào giá cổ phiếu và “thông tin quản lý” (đọc: tuyên truyền và thủ thuật kế toán) làm tăng giá cổ phiếu, trên thực tế là khiến họ trở nên
13

tham lam. Đặc trưng nổi bật về sự thống trị của các nhà quản lý chuyên nghiệp trong mô hình quản lý tại Mỹ vẫn được duy trì mặc dù từ những năm 1980, đối tượng này đã bắt đầu phải chịu áp lực từ các cổ đông. Mục tiêu lợi nhuận và hơn thế nữa là giá cổ phiếu do vậy trở thành động lực chính của các nhà quản lý; thuật ngữ “shareholder value” (tạm dịch là “giá trị cổ đông”) tóm tắt các mục tiêu của công ty. Điều này làm tăng tinh thần doanh nghiệp của các nhà quản lý và mang lại hiệu quả cho công ty, nhưng các nhà quản lý cũng ngày một tham lam hơn. Một số công ty đã có cách hành xử không tốt với người làm công, môi trường, khách hàng v.v… Một liên kết giữa các CEO và các ngân hàng đầu tư, cả hai đều được thúc đẩy bởi tính tham lam, được hình thành và dẫn tới tình trạng làm giá và thao túng tràn lan trên thị trường chứng khoán giai đoạn 1995-2002. Mô hình thay thế Mô hình thay thế cho cái gọi là “tối đa giá trị cổ đông” (shareholders value maximization) đã được tìm kiếm trong một thời gian . Mô hình được đưa ra là “tối đa giá trị các bên tham gia mật thiết” (stakeholders value maximization) với cơ sở lý thuyết đi ngược lại thời điểm những năm 1930 . Dù còn mang nặng tính lý thuyết do chưa chỉ ra được các mục tiêu rõ ràng, dễ dàng xác định và giám sát như lợi nhuận kinh tế nhưng mô hình này mở ra hướng thảo luận về các giá trị tương ứng giữa hai mô hình. Trong thực tiễn, mô hình đầu tiên vẫn được sử dụng nhiều hơn. Việc xác định sắc thái mục tiêu của công ty tùy thuộc vào Hội đồng Quản trị. Hệ thống thị trường dựa trên phân tích thị trường sẽ biến đổi việc theo đuổi mục tiêu cá nhân của các tác nhân thành các hàng hóa thông thường; Adam Smith là người đầu tiên làm nổi bật điểm này nhưng ông cũng nhấn mạnh sự khác biệt giữa việc theo đuổi lợi ích bản thân một cách tích cực và tính tham lam tiêu cực. Ai giám sát hệ thống? Vì thế, quản trị xung đột là xác định và giám sát cách thức trong đó hàng loạt tác nhân trong và ngoài công ty được thúc đẩy làm việc vì lợi ích của công ty. CEO được giám sát bởi Hội đồng Quản trị, và các thành viên của Hội đồng Quản trị chịu sự giám sát của các cổ đông. Cổ đông tốt do vậy có vai trò quan trọng. Với công ty niêm yết, nhiều cổ đông nhỏ không tham gia bỏ phiếu và một số cổ đông lớn có thể tận dụng ưu thế này và quyền lực của họ để lạm dụng công ty. Vì thế, nhiều đạo luật như ban đại diện và quá trình lựa chọn chuyên nghiệp hoá được sử dụng (gần như mang tính hệ thống tại Anh và Mỹ) để “hướng dẫn” việc bổ nhiệm các Giám đốc không tham gia điều hành tại các công ty niêm yết, và trên thực tế, hạn chế ảnh hưởng của cổ đông trong quá trình lựa chọn này. Hai loại cổ đông lớn thường có tác động tích cực tới công ty là: (i) sáng lập viên của công ty và người thân trong gia đình họ, thường ưu tiên lợi ích dài hạn của công ty và (ii) người quản lý tài sản chuyên nghiệp có khả năng giám sát với mức rủi ro lạm dụng thấp. Các điều luật và nguyên tắc là cần thiết để ngăn chặn việc lạm dụng của các cổ đông; đó là ưu tiên hàng đầu trong các nguyên tắc quản trị xung đột theo truyền thống Anglo-Saxon, với rủi ro về “vấn đề đại diện” chưa được kiểm tra.Ở phần
14

lớn các quốc gia còn lại trên thế giới, quản trị xung đột truyền thống thường ưu ái các cổ đông lớn, đi liền với rủi ro về lạm dụng của cổ đông. Có một sự hội tụ toàn cầu về hệ thống Anglo-Saxon do hệ thống này dường như hiệu quả hơn, nhưng ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới, luôn có một làn sóng mạnh mẽ cho rằng quản trị xung đột không chỉ có luật và nguyên tắc mà còn là lựa chọn và khuyến khích các cá nhân có khả năng và nguyện vọng làm việc hết mình và tài năng quản lý, giám sát công ty với mức lương và phần thưởng xứng đáng. Bài học nào cho Việt Nam? Việt Nam có thể tìm được các ví dụ tốt và xẩu ở đâu? Các quốc gia như Hồng Kông, Singapore, Thái Lan có thể được nhắc đến với truyền thống doanh nghiệp. Trung Quốc hưởng lợi lớn từ nguồn lực do các doanh nhân Hoa kiều cung cấp, lý giải cho sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp tại quốc gia này. Tại các quốc gia trên khuôn khổ cho hoạt động của thị trường chứng khoán đều được chú trọng phát triển trong nhiều năm qua, đôi khi là dưới tác động từ bên ngoài. Nhật Bản và Hàn Quốc có các tập toàn thương mại lớn trong một thời gian dài, đây là điểm khác biệt của hai trường hợp này. Việt Nam có khu vực sở hữu nhà nước lớn và có lẽ không nên chỉ quan tâm tới việc tư nhân hóa thật nhanh mà còn cần tránh lặp lại các sai lầm ở Nga, nơi việc tư nhân hóa quá sớm đã dẫn tới các tài sản thuộc sở hữu nhà nước bị bán với giá rẻ và làm nổi lên tầng lớp các nhà tư bản tham lam và không quan tâm tới các hàng hóa thông thường. Hình thành tích cực cơ chế thị trường đúng đắn, đội ngũ kiểm toán viên tốt, hình thành tầng lớp doanh nhân bản địa, các nhà quản lý tài sản chuyên nghiệp, tăng số lượng các nhóm cá nhân có khả năng đảm nhiệm vai trò thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành… tất cả đều là chuẩn bị cần thiết trước khi tiến trình tư nhân hóa thông qua thị trường chứng khoán được triển khai với qui mô lớn. Theo Eric de Keuleneer Solvay Business School C. GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU CHI PHÍ ĐẠI DIỆN Từ những phân tích trên, ta thấy chi phí đại diện sẽ được giảm thiểu nếu có sự đồng thuận giữa người chủ sở hữu và người đại diện (người quản lí). Để làm được điều này cần phải gắng kết quyền lợi của người quản lí chung với quyền lợi của người chủ. Từ phương trình trên ta thấy muốn giảm chi phí đại diện thì phải làm giảm thiệt hại do người quản lí gây ra bằng cách tăng cường kiểm sóat. Phải có những tiêu chuẩn tối thiểu cho trách nhiệm của người được ủy thác Hệ thống kiểm sóat nội bộ phải chặt chẽ Để làm được hai điều trên thì phải củng cố sự kiểm sóat, áp đặt cho bên ngòai bằng cách tăng cường lượng thông tin trên thị trường vốn, chuyển giao quyền lực của những cổ đông lớn và hạn chế làm ăn với chính bản thân mình (không vụ lợi, ích kỉ) Đối với công ty cổ phần
15

Thứ nhất cần phải sử dụng các thành viên Hội đồng Qủan trị (HĐQT) độc lập để kiềm chế quyền lực của ban giám đốc đồng thời bảo vệ quyền lợi của các cổ đông. Yêu cầu này cần thiết phải được đặt ra vì khả năng xung đột lợi ích của những người cung cấp vốn, tức là cổ đông và ban giám đốc. Do những người quản lí công ty thường không nắm giữ vốn góp đáng kể trong công ty, có nguy cơ họ dành riêng ưu tiên cho các quyền lợi của họ hơn là quyền lợi cổ đông. Vì thế một trong những vai trò của HĐQT là giám sát ban giám đốc. Hoặc nếu Chủ tịch HĐQT là Tổng giám đốc thì cần phải lập ra một Ban kiểm sóat độc lập, riêng biệt để kiểm tra HĐQT. Các thành viên này không có quan hệ kinh doanh hay quan hệ gì khác với công ty hay với các quan chức của công ty, thậm chí có thể thuê mướn họ với vai trò Ban kiểm sóat. Có các thành viên HĐQT độc lập, ít nhất trên lí thuyết là để giảm nguy cơ ban giám đốc lạm dụng quyền hạn. Vì những thành viên HĐQT độc lập không tham gia trực tiếp vào việc quản lí nên không có cơ hội như ban giám đốc để lạm dụng chức vụ vì lợi ích riêng thay vì bảo vệ lợi ích của công ty, của cổ đông. Ở Hoa Kỳ, nhiều công ty phát hành chứng khóan ra công chúng đa số thành viên HĐQT là thành viên độc lập. Điều này thường hiếm ở châu Á. Một phần do nhiều công ty phát hành chứng khóan ra công chúng có các cổ đông chi phối(ưu thế) trên thực chất họ kiểm soát công ty nên họ không cần phải bổ nhiệm thành viên độc lập để tránh giảm bớt quyền hạn của mình. Hơn nữa, tại các công ty không có áp lực thị trường để cải tiến cách quản trị. Đó là trên lí thuyết, thực tế lại hơi khác. Có nhiều lí do các thành viên HĐQT độc lập vẫn không thực sự độc lập. họ có thể chịu ơn ban giám đốc về việc được bổ nhiệm hay vì một lí do nào khác. Đây cũng là thực tế thường thấy ở các công ty mà Tổng giám đốc cũng chính là cổ đông kiểm sóat. Hơn nữa, nhiều thành viên độc lập được bổ nhiệm chủ yếu là để làm vẻ vang, tăng thêm uy tín cho HĐQT. Qua quá trình phân tích tìm hiểu chi phí đại diện ta có thể khẳng định rằng khi mà quyền sở hữu tách biệt với quyền quản lý thì sự tồn tại của chi phí đại diện là một điều tất yếu, không thể xoá bỏ . Vậy sự ra đời các lý thuyết chi phí đại diện có vai trò gì ? Có thể trả lời rằng các lý thuyết đấy sẽ cho chúng ta hiểu rõ hơn bản chất của chi phí đại diện để từ đó tìm cách hạn chế tối đa sự gia tăng chi phí đạị diện trong quá trính điều hành doanh nghiệp .Sau đây chúng tôi xin kiến nghị một số biện pháp để hạn chế chi phí đại diện như sau : Minh bạch hóa thông tin bằng cách tiến hành kiểm tóan tình hình doanh nghiệp định kì hàng năm, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường chứng khóan, điều đó sẽ tạo điều kiện cho các cổ đông nắm rõ hơn tình hình của công ty. Nâng cao đạo đức nghề nghiệp, giáo dục tinh thần làm việc vì lợi ích chung của công ty cho bộ máy quản lí từ những người quản lí cao cấp đến nhân viên. Tiến hành bán cổ phần của công ty cho những người quản lí của công ty, hoặc có thể thưởng cổ phần cho họ, làm cho người quản lí trở thành người chủ sở hữu. Từ đó hạn chế mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu và người đại diện. Điều đó sẽ nâng cao, ràng buộc người quản lí làm việc tốt hơn.
16

Có chính sách động viên, khuyến khích, khen thưởng đối với người quản lí, nhân viên để gia tăng thái độ tích cực trong quá trình làm việc, cùng chung một mục đích làm tăng giá trị của công ty. Nâng cao trình độ người quản lí bằng các hình thức đãi ngộ để thu hút nhân tài, những cá nhân xuất sắc bên ngòai, có nhiều khả năng điều hành tốt giúp nâng cao giá trị của doanh nghiệp. Xây dựng môi trường văn hóa công ty lành mạnh, giáo dục tất cả các cán bộ công ty cùng nỗ lực xây dựng hình ảnh của công ty và tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà Nước Doanh nghiệp Nhà Nước thường có cơ cấu tổ chức phức tạp, cồng kềnh nên sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp giữa các thành viên quản lí trong nội bộ doanh nghiệp Nhà Nước. Để có thể giảm thiểu chi phí đại diện trong doanh nghiệp Nhà Nước, chúng ta cần phải Thay đổi cơ cấu bộ phận quản lí theo hướng tinh giản hóa, không thể duy trì một bộ máy quản lí quá cồng kềnh, trì trệ sẽ là khởi nguồn của chi phí đại diện rất lớn mà người chủ sở hữu doanh nghiệp phải gánh chịu không ai khác là Nhà Nước và cũng chính là nhân dân Việt Nam. Cải thiện và nâng cao mức sống của người quản lí bằng cách nâng cao mức lương, tiền thưởng để kích thích người quản lí cố gắng tìm việc vì lợi ích chung, không tạo điều kiện để họ lợi dụng quyền hạn chiếm đọat tài sản công. Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà Nước tức là cụ thể hóa chủ sở hữu, làm tăng khả năng giám sát của cổ đông, Nhà Nước đối với các họat động của công ty. Đây là giải pháp hiệu quả nhất mà Nhà Nước ta đang thực hiện. sau khi cổ phần hóa thì các biện pháp hạn chế chi phí đại diện đối với công ty cổ phần sẽ được áp dụng cho doanh nghiệp.

17

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN:
............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ......................................................................................................................... .. ......................................................................................................................... .. ............................................................................................................................ ......................................................................................................................... .. ......................................................................................................................... .. ............................................................................................................................ ............................................................................................................................

.......................................................................................................... .......................................................................................................... .......................................................................................................... .......................................................................................................... .......................................................................................................... .......................................................................................................... .......................................................................................................... .......................................................................................................... .......................................................................................................... ..........................................................................................................

18


								
To top