BAN HOP XUONG ONG DO CUA VU DINH LIEN by PhamHuuCuong

VIEWS: 1,353 PAGES: 5

									Cườngvăn ­  BẢN HỢP XƯỚNG “ÔNG ĐỒ” CỦA VŨ ĐÌNH LIÊN 

BẢN HỢP XƯỚNG “ÔNG  ĐỒ” CỦA VŨ ĐÌNH LIÊN 
WRITEN BY M.Sc.PHẠM HỮU CƯỜNG 

龍舞而鳳飛 冷落年復年 僱客何茫然 紅箋悲色矧 追跰愁墨堅 秀 才猶 在斯 路過有誰知

I ­ Tưởng nhớ  Mỗi năm hoa đào nở  Lại thấy ông đồ già  Bày mực tàu giấy đỏ  Bên phố đông người qua  Bao nhiêu người thuê viết  Tấm tắc ngợi khen tài  "Hoa tay thảo những nét  Như phượng múa rồng bay"  Nhưng mỗi năm mỗi vắng  Người thuê viết nay đâu?  Giấy đỏ buồn không thắm  Mực đọng trong nghiên sầu...  Ông đồ vẫn ngồi đấy,  Qua đường không ai hay  Lá vàng rơi trên giấy  Ngoài giời mưa bụi bay  Năm nay đào lại nở,  Không thấy ông đồ xưa  Những người muôn năm cũ  Hồn ở đâu bây giờ?  ­1936­  (Bài  thơ  “Ông  Đồ”  được  Vũ  Đình  Liên  sáng tác, đăng trên báo Tinh Hoa vào năm 1937).  Cườngvăn:  ÔNG  ĐỒ  là  một  bài  thơ  hay  rất  nhiều người  yêu  thích,  viết  về  các  ông  thầy  dạy  chữ  Hán  viết  thư  pháp  Hán  ngữ,  thế  thì  sao  không dịch bài này ra Hán ngữ nhỉ.Máy cả bạn  phải  có  font  Hán  thì  mới  đọc  được  chữ  HÁN  .  Bài này mình đã đăng ở bên thuhoavietnam được  một số bạn sửa giúp cho hoàn chỉnh , mong mọi  người  góp  ý  kiến.  老秀才 年年桃花開 總見老秀才 追硯紅箋擺 通衢人往來 多 少 恃字者 嘖嘖 羨 珠 機 巧筆壹揮就

箋上黄葉落 天邊細雨飛 今 年 桃 又新 不見舊時人 傷然 空 悵惘 煙 災萬 古 魂  Phiên âm: LÃO TÚ TÀI  Niên niên đào hoa khai  Tổng kiến lão tú tài  Truy nghiễn hồng tiên bãi  Thông cù nhân vãng lai  Đa thiểu thị tự giả  Trách trách tiễn châu ky  Xảo bút nhất huy tựu  Long vũ nhi phụng phi  Lãnh lạc niên phục niên  Cố khách hà mang nhiên  Hồng tiên bi sắc thấn  Truy nghiễn sầu mặc kiên  Tú tài do tại ti  Lộ quá hữu thùy tri  Tiên thượng hoàng diệp lạc  Thiên biên tế vũ phi  Kim niên đào hựu tân  Bất kiến cựu thời nhân  Thương nhiên không trướng vọng  Yên tai vạn cổ hồn. 

II ­ Thuỷ chung  Năm nay đào lại nở  Chật đường chợ hàng hoa  Từ đáy sâu quá khứ  Ông đồ lại hiện ra

1 

Cườngvăn ­  BẢN HỢP XƯỚNG “ÔNG ĐỒ” CỦA VŨ ĐÌNH LIÊN 

Sáng nay mưa chớm lạnh  Nắng nằm trên giấy hồng  Một đám người ngồi cạnh  Có nhà thơ ngồi cùng  Tôi xin đôi câu đối  Cụ rọc tờ giấy điều  Bàn tay xưa viết nối  Những nét chữ thân yêu 

Năm, bốn mùa nở hoa  Một ông đồ bất tử  Tay với bút không già  Hoa tươi màu sông núi  Chữ thấm tình bốn phương  Cành đào và câu đối  Ngàn đời Tết Việt Nam  Nghiên bút xưa vẫn đợi  Từ ngàn năm bài thơ  Từ ngàn năm câu đối  Đảng sáng tác bây giờ  Nghệ sĩ với "ông đồ"  Tình nước non vô tận  Như Đảng với Bác Hồ  Hương Đất Trời Cộng sản  Năm, năm, đào lại nở  Vui người mới, hồn xưa  Một mùa xuân bất tử  Tươi nét hoạ, lời ca.  (Không đề năm tháng) 

Bài thơ "Ông Đồ" mới  Dưới bút cụ nở ra  Tôi chân thành chép lại  Đánh dấu một mùa hoa  Chỉ thêm lời ghi chú  Vần thơ xưa, thơ nay  Thuỷ chung một lòng cũ  Dù vui buồn đổi thay.  ­1974­ 

III ­ Hạnh phúc  Năm nay đào nở rộ  Mừng hội Đảng, hội Dân  Bút ông đồ lại họa  Những nét chữ đẹp, thân  Cờ biển ngập phố phường  Cánh đào bay thắm đỏ  Như cả ngàn mùa xuân  Nở hoa trên mỗi chữ  Người trẻ lại, già qua  Nghe mực gieo giấy hát  Nhìn ông đồ, nhà thơ  Rỡ ràng một khuôn mặt  Thấy trong lòng say sưa  Dừng chân không muốn bước  Nghe đọc những vần thơ  Ngợi khen những nét bút  Xuân Cộng hoà Xã hội  Mai, đào, tươi thắm hoa  Một nguồn hạnh phúc mới  Trào ngọn bút, dòng thơ.  ­1977­ (Bài thơ sáng tác năm 1977, Tết Đinh  Tỵ.Vũ Đình  Liên dựa vào bài “Ông Đồ” để diễn  tả tấm lòng trung thành theo Đảng của mình)  Nguồn: Báo Quân Đội Nhân Dân số ra ngày  02/02/2007  V.Bóng ông Đồ  Bài  thơ  khai  bút  Xuân  Nhâm  Tuất  1982  của  “Ông đồ” Vũ Đình Liên  Tháng  11­1975,  “Ông  đồ”  Vũ  Đình  Liên  vào  Bến  Tre  gặp  bà  Tám  Phụng  ­  cháu  nội  cuối  cùng của “Cụ đồ” Nguyễn Đình Chiểu, để tặng  cho bà cuốn Lục Vân Tiên vừa được tái bản tại  Hà Nội vào tháng 7­1975.  Bà Tám Phụng đã nhận nhà thơ là con và gọi nhà  thơ là Cậu Mười. Bà qua đời tháng 5­1976.  Cứ  mỗi  độ  Xuân  về  là  chúng  ta  lại  nhớ  đến  nhà  thơ­nhà  giáo  Vũ  Đình  Liên,  như  chính  ông  đã  từng  tưởng  nhớ  đến  hình  bóng  Ông  đồ  vào  mỗi  năm Tết đến, hoa đào nở.  Có lẽ không cần phải nói nhiều về thân thế và sự  nghiệp của ông, hay bình luận dài dòng về bài thơ  bất hủ Ông đồ, vì qua bao năm, kể từ khi thi phẩm  Ông đồ lần đầu tiên xuất hiện trên Báo Tinh Hoa  vào năm 1936, cho đến hôm nay, người đời đã tốn  biết  bao  giấy  mực  để  tấm  tắc  ngợi  khen  bài  thơ  trác  tuyệt  này,  cũng  như  nghiêng  mình  ca  tụng  người  đã  trút  hết  tâm  hồn  và  tinh  túy  ra  mà  viết  nên nó.  Hôm nay, được sự cho phép của người lưu giữ bút  tích  nhà  thơ­nhà  giáo  Vũ  Đình  Liên  đề  tặng,  tôi

IV ­ Mùa xuân Cộng sản  Một cây đào muôn thuở 

2 

Cườngvăn ­  BẢN HỢP XƯỚNG “ÔNG ĐỒ” CỦA VŨ ĐÌNH LIÊN 

xin  giới  thiệu  bài  thơ  Bóng  ông  Đồ,  xem  như  là  Ông đồ  2 ­  một sự tiếp  nối  hoàn  hảo­mà  nhà thơ  đã âm thầm như một con tằm nhả tơ trong những  năm  tháng  cuối  của  cuộc  đời.  Nhưng  trước  tiên,  tưởng cũng cần nói qua về mối quan hệ giữa nhà  thơ  và  người  được  nhà thơ  đề tặng bài  thơ Bóng  ông Đồ chưa hề được công bố.  Khoảng  cuối  năm  1944,  nhà  thơ  “Ông  đồ”  Vũ  Đình  Liên  cùng  Ban  kịch  Tinh  Hoa  nổi  tiếng  (thuộc  Sở  Nhà  đoan)  ở  Hà  Nội  được  lệnh  di  tản  tránh bom  vào đến Quy Nhơn ­vùng đất  của  “Tứ  tinh  ­  Bàn  thành  tứ  hữu”  (Hàn  Mặc  Tử  ­  Long,  Yến  Lan  ­  Lân,  Quách  Tấn  ­  Quy,  và  Chế  Lan  Viên ­ Phụng)­ tình cờ đọc được tập thơ Chơi hè  của  nhóm  văn  thi  sĩ  gồm:  Trần  Thanh  Địch,  Lê  Đình Ngân, Tố Trai, Hoàng Đình Ngâm, B.Đ. Ái  Mỹ,  Trinh  Tiên  và  một  số  thi  hữu  khác...  Trong  tập  thơ  này,  bài  thơ  Những  giọt  huyết  ngà  của  Trinh Tiên đã gây ấn tượng sâu đậm cho ông, rồi  nhà thơ đã tự tìm đến nhà của nữ sĩ và chồng của  bà  là  B.Đ  Ái  Mỹ  để  kết  tình  thi  hữu.  Sau  khi  tự  giới thiệu về mình, ông đã chân tình nói: Tôi vừa  đọc  xong  tập  thơ  văn  này  tại  quán  cà  phê  Nam  Xuân, tìm thấy địa chỉ của anh chị ghi trong ấy là  tôi đi thẳng đến đây ngay.  Bài thơ của chị hay và  độc đáo quá, tôi đã đọc kim cổ Đông Tây mà chưa  thấy bài thơ nào do một người mẹ lấy nguồn cảm  xúc từ con cái mà sáng tác lại thần tình đến thế!”.  Vậy  là  sau  đó,  những  người  của  văn  chương  thi  phú vốn chưa hề thân quen, ở cách xa nhau hàng  mấy trăm cây số, chỉ từng nghe danh và mến mộ  tài nhau qua báo chí ­ văn thi đàn đã trở thành bạn  tri âm của nhau.  Trong thời gian ở lại Quy Nhơn, nhà thơ Vũ Đình  Liên đã  cùng  những  nghệ sĩ trong Ban  kịch Tinh  Hoa thường xuyên lui tới thăm hỏi gia đình nữ sĩ,  trông thân thiết cứ như là những người bạn cố cựu  chi giao vậy. Đến khi vở kịch thơ Bóng giai nhân  được Ban  kịch  dàn  dựng  do  chính  “Ông đồ” làm  đạo  diễn,  ông  đã  khăng  khăng  mời  nữ  sĩ  Trinh  Tiên thủ vai giai nhân mà không chịu một ai khác,  vì một lẽ đơn giản: Nữ sĩ rất đẹp và quý phái, rất  phù  hợp  với  vai giai  nhân trong  vở  kịch,  mặc  dù  bà  đã  có  hai  con.  Nhà  thơ  Yến  Lan­tác  giả  kịch  bản ­ sau này khi xem diễn tập cũng phải đắc ý gật  gù  khen:  “Cái ông Liên  này quả  có  con  mắt tinh  thông  chọn  người!”.  Nhưng,  sau  khi  vở  kịch  đã  được giao vai tập xong nhuần nhuyễn, chỉ còn một  tuần  lễ  nữa  là  ra  mắt  công  chúng  thì  được  tin  Hoàng thái  hậu ­  mẹ  của  vua  Bảo Đại  ­ qua đời,  nên  có  lệnh  cấm  xướng  ca  vui  chơi  trong  vòng  một tháng, cuộc trình diễn phải hủy bỏ. Trong thời  gian chờ đợi, chỉ trong vòng 10 ngày,  nhà thơ Vũ  Đình Liên đã viết xong vở kịch thơ Nàng My Ê và  đưa ra cho mọi người góp ý, chọn vai để diễn tập.  Vai nàng My Ê ­ vương phi nước Chiêm Thành ­  lại  giao  cho  nữ  sĩ  Trinh  Tiên,  mặc  dù  trước  đó 

chính  nữ  sĩ  đã  giới  thiệu  2  diễn  viên  người  Bắc  còn trẻ đẹp để ban  kịch  chọn thủ  vai  này,  nhưng  tác giả kịch bản và mọi người đều không đồng ý.  Vậy là nữ sĩ Trinh Tiên nhận vai My Ê trong lúc  đang  còn  cho  con  gái  mới 5 tháng tuổi bú. Đang  say  sưa  hào  hứng  tập  vở  kịch  này,  thì  đùng  một  cái có lệnh của Chính phủ gọi cả Sở Nhà đoan trở  về Bắc gấp, cả Ban kịch Tinh Hoa phải chia tay bè  bạn, giã từ vùng đất Quy Nhơn trong luyến tiếc...  Không ai ngờ được lần chia tay ấy lại kéo dài đến  30 năm đằng đẵng, bạn bè tứ tán  mỗi  người  một  phương,  mất  liên  lạc  nhau  cho  đến  khi  đất  nước  thống nhất. Cuối năm 1975, nhà thơ vũ Đình Liên  đã không quản đường xa từ Bắc vào Nam, lặn lội  thăm hỏi tìm kiếm và gặp được lại gia đình nữ sĩ  Trinh Tiên ở thành phố biển Nha Trang với nước  mắt  mừng  vui  khôn  xiết.  Trong  lần  trùng  phùng  tái  ngộ  này,  khi  được  nhắc  hỏi  về  vở  kịch  thơ  Nàng  My Ê,  nhà thơ  “Ông đồ” đã  cho biết:  “Tôi  soạn vở kịch ấy là vì nhân vật My Ê, mà nhân vật  My Ê là nhân vật được dựng lên cho dáng vóc của  Trinh Tiên, nhưng biền biệt tháng năm như thế thì  còn để làm  gì,  cho nên tôi đã thiêu  hủy  kịch bản  này  rồi!”.  Bảy  năm  sau,  nhân  Xuân  về  Tết  đến,  với đôi tay đã run run và đôi mắt đã mờ kém, nhà  thơ “Ông đồ” khai bút đầu Xuân bài thơ Bóng ông  Đồ lên một mảnh giấy cắt từ giấy lịch treo tường,  không quên dán thêm một dải giấy điều đỏ “đúng  điều  ông  đồ  của  hồn  xưa  phách  cũ”,  rồi  đề  tặng  gửi  vào  cho  hai  bạn  B.Đ.Ái  Mỹ  và  Trinh  Tiên  thay cho một thiệp chúc Tết năm Nhâm Tuất 1982  (trong  bút  tích  lưu  lại,  nhà  thơ  đã  viết  nhầm  là  Nhâm Tý 1982 ­ chú thích của người viết). Tháng  8 cùng năm,  nhà thơ Vũ Đình Liên trong  chuyến  Nam  du  lại  ghé  Nha  Trang  thăm  gia  đình  nữ  sĩ  Trinh Tiên lần thứ hai, ở lại chơi rất lâu cùng với  các con các cháu của vợ chồng nữ sĩ. Bút tích bài  thơ  Bóng  ông  Đồ  của  nhà  thơ  được  nữ  sĩ  Trinh  Tiên gìn giữ cẩn thận cùng với những thư từ và thi  phẩm chép tay khác của ông, như một bảo vật của  gia  đình  trong  nhiều  năm  qua.  Xin  giới  thiệu  lại  nguyên văn như sau:  Khai bút Xuân Nhâm Tý 1­1982  Thân  gửi  anh  chị  Ái  Mỹ  Trinh  Tiên  và  các  cháu  thân mến  Bóng ông Đồ  Mỗi năm hoa đào nở  Lại thấy bóng ông đồ  Bút nghiên và giấy đỏ  Ngồi đúng chỗ ngồi xưa  Ôi! Cái nghiệp nghiên bút  Tô điểm cho cuộc đời

3 

Cườngvăn ­  BẢN HỢP XƯỚNG “ÔNG ĐỒ” CỦA VŨ ĐÌNH LIÊN 

Người chết nghiệp không chết  Nơ tiền kiếp luân hồi  Trải trăm ngàn dâu bể  Giấy mực màu không thay  Chữ Nhân và chữ Nghĩa  Vẫn những nét thẳng ngay 

đó,  nhà  thơ  vẫn  thường  xuyên  viết  thư  thăm  hỏi  bạn  thơ,  các  cháu  khắp  nơi,  cho  đến  khi  thanh  thản ra đi về cõi xa xăm đầy ắp thi ca và nhạc du  dương réo rắt (18­1­1996) trong niềm thương tiếc  của  bạn  bè,  của  đông  đảo  học  trò  và  của  muôn  người yêu thơ bao thế hệ... *.  (Theo Tạp chí Kiến thức Ngày nay  và báo Người lao động Thứ bảy, 01­12­2007) 

Ông Đồ vẫn ngồi đấy  Khăn áo bạc màu dưa  Nhắc cho người qua thấy  Lẽ Nhân đạo, Thiên cơ  Cách Mạng là nhân nghĩa  Ông Đồ là thi thư  Chữ tuôn dòng Thiện Mỹ  Từ ngón tay ông Đồ.  ­ Chúc mừng năm mới ­  Vũ Đình Liên  Vậy  là  bài  thơ  Bóng  ông  Đồ  sáng  tác  vào  Xuân  Nhâm Tuất đến Xuân Bính Tuất hôm nay vừa tròn  hai con giáp, 24 năm rồi mà rất ít người được biết  đến...  Ngoài bút tích bài thơ  Bóng ông Đồ ra,  nữ  sĩ Trinh Tiên còn lưu giữ cẩn thận những bản chép  tay  các  bài  thơ  ngũ  ngôn  khác  của  nhà  thơ  Vũ  Đình Liên, như: Thêm bốn đêm ngày ở Nha Trang  viết  ngày  14­8­1988;  Cảm  tác  nhân  Ngày  Nhà  giáo và đón tuổi 75 viết vào tháng 11­1986; Cùng  Liên  Nam  đến  thăm  Quách  Tấn  viết  ngày  14­8­  1988; Mừng Tết Tân Mùi 1991 làm tặng cố họa sĩ  Bùi Xuân Phái nhân dịp kỷ niệm 5 năm Triển lãm  hội họa đầu tiên của họa sĩ trường phái tranh Phố  (22.12.1984  ­  22.12.1990);  bài  thất  ngôn  tứ  cú  Thắp hương bàn thờ bạn viết tặng B.Đ. Ái Mỹ và  cả một tập thơ Tình nghĩa chép tay gồm 23 bài thơ  ngắn được  viết  trong  khoảng  thời  gian  vào  thăm  Nha Trang lần thứ hai vào năm 1982...  Năm  1987,  trên  đường  vào  TPHCM  thăm  con  cháu trở về, “Ông đồ” lại ghé đến Nha Trang, thắp  nén  hương tưởng  nhớ đến  người  bạn B.Đ  Ái Mỹ  khi  ấy  qua  đời  đã  1  năm,  rồi  ở  lại  cả  tuần  lễ  để  chia sẻ nỗi buồn mất mát với gia đình nữ sĩ Trinh  Tiên,  như  một  người  anh,  người  bác  cùng  huyết  thống.  Năm  sau,  nhà  thơ  lại  dừng  chân  ở  Nha  Trang  trên  đường  vào  Nam,  ở  lại  bốn  ngày  đêm  (từ ngày 11 đến 14­8) để thăm hỏi các con của bạn  và  thi  sĩ  Quách  Tấn.  Năm  1992,  trước  khi  vào  TPHCM thăm con cháu, nhà thơ lại nặng lòng với  miền thùy dương cát trắng nên lại ghé đến một lần  nữa trong mấy ngày, lúc này sức khỏe của ông đã  suy  yếu nhiều,  đôi mắt đã rất kém.  Thời  gian sau  LỜI  BÌNH  BÀI  TƠ  ÔNG  ĐỒ  CỦA  NHÀ  THƠ  VŨ  QUẦN  PHƯƠNG  (Hà  Nội  18­5­2002)  Tên  thật được lấy làm bút danh, sinh ngày 12­11­1913,  quê  gốc  Hải  Dương,  mất  ngày  18­1­1996  tại  Hà  Nội,  Vũ Đình Liên là  một trong  những  người  mở  đầu và góp phần thắng lợi cho phong trào thơ mới  bằng  một bài thơ (chỉ  một thôi)  xuất sắc Ông đồ,  lần đầu in trên báo Tinh Hoa năm 1936. Trước và  sau  Ông  đồ,  ông  có  viết  một  số  bài  thơ  khác,  nhưng  chất  lượng  ở  khá  xa  Ông  đồ.  Đầu  năm  1941, trong một bức thư gửi Hoài Thanh, lúc Hoài  Thanh  làm  cuốn  Thi  nhân  Việt  Nam,  Vũ  Đình  Liên  viết  "Tôi  bao  giờ  cũng  có  cái  cảm  tưởng  là  không đạt được ý thơ của mình. Cũng vì không tin  thơ tôi có chút giá trị gì nên đã lâu tôi không làm  thơ  nữa".  Hoài  Thanh  nhận  xét  Vũ Đình  Liên  hạ  mình quá đáng,  nhưng ông cũng hiểu nỗi đau của  Vũ Đình Liên. Quả vậy, từ năm sáu chục năm nay,  nói  tới  Vũ  Đình  Liên  là  người  ta  nhớ  ngay  đến  Ông đồ và chỉ Ông đồ đã đủ tôn xưng một nhà thơ.  Từ kháng chiến chống Pháp cho đến khi tạ thế, Vũ  Đình Liên dồn sức lực vào công việc sư phạm: viết  giáo trình, dạy tiếng Pháp và dịch thơ, mà hầu như  chỉ  dịch  thơ  Bôđơle  (Beaudelaire,  nhà  thơ  Pháp).  Thỉnh thoảng có làm thơ, thơ như ghi chép chuyện  đời, như thù tạc với bạn bè, không mang đăng báo.  Vũ  Đình  Liên  lúc  sinh  thời vẫn tới  gặp  gỡ ở  Hội  nhà văn Việt Nam, nhưng ông đã là người thơ của  quá  khứ  rồi.  Hình  như  ông  không  đọc  và  không  trao  đổi  gì  về  thơ  đương  đại.  .  Với  Vũ  Đình  Liên,  thơ  là  chính  cuộc  đời  ông.  Nhiều  câu thơ trong bài  Ông đồ  như  vận  vào đời  ông.  Ông  cũng  ngơ  ngác  như  lạc  trong  cuộc  đời  hiện  đại.  Ông  yêu  thơ  đến  mức  không  dám  làm  thơ. Ông nổi tiếng mà không có tập thơ riêng. Bài  thơ Ông đồ là một thành tựu vừa như đột xuất vừa  là tất  yếu  của  chất tâm  hồn ông. Đột  xuất,  vì  vào  năm 1936 ấy, thơ Việt Nam đang ồn ào trong cách  tân  hình  thức  và  nồng  nhiệt  trong  nội  dung  tình  yêu thì Ông đồ rất bình đạm, hơi cổ điển trong thể  thơ năm  chữ, giản dị trong lời thơ, lại nói một đề  tài xưa cũ mà ai đọc một lần thì đọng lại cả đời nỗi  ám  ảnh,  xót  thương.  Ông  đồ,  người  theo  đòi  nghiên  bút  không  thành  danh,  phải  xoay  ra  bán  chữ nuôi thân, viết câu đối thuê trên vỉa hè Hà Nội  ngày năm hết Tết đến. Lúc câu đối đắt hàng, người

4 

Cườngvăn ­  BẢN HỢP XƯỚNG “ÔNG ĐỒ” CỦA VŨ ĐÌNH LIÊN 

đời trầm trồ ông đồ tốt chữ nghe cũng đã thảm, kẻ  sỹ mà phải bán chữ cực lắm, ấy thế mà bài thơ lại  dắt ta vào thời Nho mạt vận, đến chữ đem bán mà  không  còn  ai  mua.  Chưa  thấy  cảnh  bán  hàng  nào  thê  thảm  bằng  cảnh  ông  đồ  bán  chữ  không  đắt:  Ông  đồ  vẫn  ngồi  đấy  Qua  đường  không  ai  hay  Lá  vàng  rơi  trên  giấy  Ngoài  trời  mưa  bụi  bay  Hiện thực trong thơ Vũ Đình Liên là hiện thực của  nỗi  lòng.  Một  nỗi  lòng  hoài  cổ  thấm  thía,  sâu  thẳm, rất dễ tủi thân. Lúc ông đồ đắt hàng đâu có  thấy  gió  mưa.  Bây  giờ  hết  thời:  trời  thì  đầy  mưa  bụi, rồi gió thổi, lá bay. Lá vàng cuối đông rơi trên  mặt giấy, rơi và nằm lại đấy vì mặt giấy chưa được  dùng đến, chẳng có nhu cầu gì phải nhặt nó đi. Cái  lá  bất  động  trên  cái  chỗ  không  phải  của  nó  cho  thấy cả một dáng bó gối cũng bất động của ông đồ  ngồi  nhìn  mưa  bụi  bay.  Văn  tả  thật  ít  lời,  không  những  thấy  ông  đồ  mà  còn  thấy  cả  cái  tiêu  biểu  của xã hội qua  mắt ông đồ. Tác  giả  có  những  chi  tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là  gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ. Cách đối chiếu chi  tiết ở đoạn  này  với đoạn trên:  mực  với  mực,  giấy  với  giấy,  người  với  người,  càng  cho  ta  thấy  nỗi  thảng thốt xót xa của đổi thay sa sút. Hai câu hàm  súc  nhất  của  bài  là  hai  câu  kết:  Những  người  muôn  năm  cũ  Hồn  ở  đâu  bây  giờ?  Chúng  ta  đọc  được  ở  đây  số  phận  của  ông  đồ,  đúng hơn, số phận của một thời đại, và cả thái độ,  tình  cảm  của  lớp  người  tân  thời  khi  chợt  thức  những gì thuộc hồn xưa dân tộc. Mới có mấy năm  (từ lúc ông đồ đắt hàng đến lúc ông ế hàng rồi biến  mất)  mà  thời  ông  đồ  đã  thành  xa  lắc.  Chữ  muôn  năm cũ của câu trên dội xuống chữ bây giờ ở câu  dưới  rất  gợi  bâng  khuâng.  Dư  âm  câu  thơ  như  tiếng  thở  dài  ân  hận  khôn  nguôi. 

Khi nghe Stalin chết:  ... Ông Stalin ơi! ông Stalin  Trời ơi ông chết đất trời có hay,  ... Thương cha thương mẹ thương chồng  Thương mình thương một, thương ông thương  mười...!  b. Xuân Diệu ca ngợi:  Mỗi lần tranh đấu gay go,  Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm.  Nghe lời Bác dạy khuyên răn  Chúng con ước muốn theo chân của người.  Trong cải cách ruộng đất, hô hào đấu tố, Xuân  Diệu cao giọng:  Thắp đuốc cho sáng khắp đường  Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay  Lôi cổ bọn nó ra đây,  Bắt quì gục xuống, đọa dày chết thôi.  …………………… 

GHI CHÚ CỦA CƯỜNGVĂN:  1.  Dầu  sao  thì  thời  đại  cũ  đã  lùi  xa,  nhưng  cũng ít ai quay lưng lại với chính quá khứ  của mình một cách mạnh mẽ  bằng nhà thơ  Vũ  Đình  Liên  cùng  một  vài  văn  thi  sĩ  trước  Cách  mạng  khi  từ  bỏ  con  người  cũ  của mình để đi theo Cách mạng.  2.  Quá trình chuyển mình của Vũ Đình Liên  và  nhiều  nhà  văn  nhà  thơ  như  thế,  cũng  cho  thấy  sự  thay  đổi  trong  thế  giới  quan,  nhân  sinh  quan  sẽ  chi  phối  mạnh  mẽ  đến  sáng tác của nhà thơ.  3.  Một số ví dụ khác:  a. Tố Hữu Ca tụng Lenin:  ... Ông Lenin ở nước Nga,  Mà em lại thấy rất là Việt Nam...! 

Mở cửa nhìn Trăng ­ Trăng tái mặt  Khép phòng đốt Nến ­ Nến rơi châu

5 


								
To top