Docstoc

TAI LIEU MAY EVN

Document Sample
TAI LIEU MAY EVN Powered By Docstoc
					TỔNG QUÁT VỀ MẠNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG A. MẠNG GSM I. Tổng quan về mạng GSM : Chữ GSM được viết tắt từ (Global System for Mobile Communications) tuy nhiên nguyên thuỷ của nó là : Groupe Spécial Mobile. Đây là một trong những công nghệ về mạng điện thoại di động phổ biến nhất trên thế giới. Cho đến nay công nghệ này có gần 2 tỷ thuê bao sử dụng trên phạm vi 212 quốc gia và vùng lãnh thổ. Do nó hầu như có mặt khắp mọi nơi trên thế giới nên khi các nhà cung cấp dịch vụ thực hiện việc ký kết roaming với nhau nhờ đó mà thuê bao GSM có thể dễ dàng sử dụng máy điện thoại GSM của mình bất cứ nơi đâu. Mặt thuận lợi to lớn của công nghệ GSM là ngoài việc truyền âm thanh với chất lượng cao còn cho phép thuê bao sử dụng các cách giao tiếp khác rẻ tiền hơn đó là tin nhắn SMS. Ngoài ra để tạo thuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ thì công nghệ GSM được xây dựng trên cơ sở hệ thống mở nên nó dễ dàng kết nối các thiết bị khác nhau từ các nhà cung cấp thiết bị khác nhau. Nó cho phép nhà cung cấp dịch vụ đưa ra tính năng roaming cho thuê bao của mình với các mạng khác trên toàn thế giới. Và công nghệ GSM cũng phát triển thêm các tính năng truyền dữ liệu như GPRS và sau này truyền với tốc độ cao hơn họ sử dụng EGDE. GSMLogo.jpg Logo của công nghệ GSM. II. Lịch sử mạng GSM Vào đầu những năm 1980 tại châu Âu người ta phát triển một mạng điện thoại di động chỉ sử dụng trong một vài khu vực. Sau đó vào năm 1982 nó được chuẩn hoá bởi (CEPT : European Conference of Postal and Telecommunications Administrations) và tạo ra Groupe Spécial Mobile (GSM) với mục đích sử dụng chung cho toàn Châu Âu. Mạng điện thoại di động sử dụng công nghệ GSM được xây dựng và đưa vào sử dụng đầu tiên bởi nhà khai thác Radiolinja ở Finland. Vào năm 1989 công việc quản lý tiêu chuẩn và phát triển mạng GSM được chuyển cho viện viễn thong châu Âu (European Telecommunications Standards Institute (ETSI)), các tiêu chuẩn, đặc tính phase 1 của công nghệ GSM được công bố vào năm 1990. Đến cuối năm 1993 đã có hơn 1 triệu thuê bao sử dụng mạng GSM của 70 nhà cung cấp dịch vụ trên 48 quốc gia. III. Giao tiếp Radio GSM là mạng điện thoại di động do đó các máy điện thoại di động kết nối với mạng bằng cách tìm kiếm, kết nối với các cell gần nó nhất. Các mạng di động GSM hoạt động trên 4 băng tần. Hầu hết thì hoạt động ở băng 900Mhz và 1800Mhz. Vài nước ở Châu Mỹ thì sử dụng băng 850Mhz và 1900Mhz do băng 900Mhz và 1800Mhz ở nơi này đã bị sử dụng trước. Và cực kỳ hiếm có mạng nào sử dụng tần số 400Mhz hay 450Mhz chỉ có ở Scandinavia sử dụng do các băng tần khác đã bị cấp phát cho việc khác. Các mạng sử dụng băng tần 900Mhz thì đường uplink sử dụng tần số trong dãi 890-915 MHz và đường downlink sử dụng tần số trong dãi 935-960 MHz. Họ chia các băng tần này thành 124 kênh với độ rộng băng thông 25Mhz, mỗi kênh cách nhau 1 khoảng 200Khz. Sử dụng công nghệ phân chia theo thời gian TDM (Time division multiplexing ) để chia ra 8 kênh full rate hay 16 kênh haft rate . Có 8 khe thời gian gộp lại gọi thành một khung TDMA. Tốc độ truyền dữ liệu của một kênh là 270.833 kbit/s và khoảng thời gian của một khung là 4.615 m. Công suất phát của máy điện thoại được giới hạn tối đa là 2 watts đối với băng GSM 850/900Mhz và tối đa là 1 watts đối với băng GSM 1800/1900Mhz. Mạng GSM sử dụng 2 kiểu mã hoá âm thanh để nén tín hiệu âm thanh 3,1khz đó là mã hoá 6 và 13kbps gọi là Full rate (13kbps) và haft rate (6kbps). Để nén họ sử dụng hệ thống có tên là linear predictive coding (LPC). Vào năm 1997 thì họ cải tiến thêm cho mạng GSM là bộ mã GSM-EFR sử dụng full rate 12,2kbps. Có tất cả bốn kích thước cell site trong mạng GSM đó là macro, micro, pico và umbrella. Vùng phủ sóng của mỗi cell phụ thuộc nhiều vào môi trường. Macro cell được lắp trên cột cao hoặc trên các toà nhà cao tầng, micro cell lại được lắp ở các khu thành thị, khu dân cư, pico cell thì tầm phủ sóng chỉ khoảng vài chục mét trở lại nó thường được lắp để tiếp sóng trong nhà. Umbrella lắp bổ sung vào các vùng bị che khuất hay các vùng trống giữa các cell. Bán kính phủ sóng của một cell tuỳ thuộc vào độ cao của anten, độ lợi anten thường thì nó có thể từ vài trăm mét tới vài chục km. Trong thực tế thì khả năng phủ sóng xa nhất của một trạm GSM là 32km ( 22 dặm). Một số khu vực trong nhà mà các anten ngoài trời không thề phủ sóng tới như nhà ga, sân bay, siêu thị…thì người ta sẽ dùng các trạm Pico để chuyển tiếp sóng từ các anten ngoài trời vào. IV. Cấu trúc mạng Gsm_network.png

Cấu trúc chung một mạng GSM. Một mạng GSM để cung cấp đầy đủ các dịch vụ cho khách hang cho nên nó khá phức tạp vì vậy sau đây sẽ chia ra thành các phần như sau : - Trạm gốc và các phần điều khiển nó Base Station Subsystem (BSS). - Mạng và hệ thống chuyển mạch Network and Switching Subsystem (phần này gần giống với mạng điện thoại cố định). Đôi khi người ta còn gọi nó là mạng lõi (core network). - Phần mạng GPRS (GPRS core network) Phần này là một phần lắp thêm để cung cấp dịch vụ truy cập internet. - Và một số phần khác phục vụ việc cung cấp các dịch vụ cho mạng GSM như gọi, hay nhắn tin SMS… - Máy điện thoại - Mobile Equipment . - Thẻ SIM - Subscriber identity module (Sưu tầm từ internet)

TỔNG QUÁT VỀ MẠNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG
B. MẠNG CDMA CDMA (viết đầy đủ là Code Division Multiple Access) nghĩa là đa truy nhập (đa người dùng) phân chia theo mã. GSM phân phối tần số thành những kênh nhỏ, rồi chia sẻ thời gian các kênh ấy cho người sử dụng. Trong khi đó thuê bao của mạng di động CDMA chia sẻ cùng một giải tần chung. Mọi khách hàng có thể nói đồng thời và tín hiệu được phát đi trên cùng một giải tần. Các kênh thuê bao được tách biệt bằng cách sử dụng mã ngẫu nhiên. Các tín hiệu của nhiều thuê bao khác nhau sẽ được mã hoá bằng các mã ngẫu nhiên khác nhau, sau đó được trộn lẫn và phát đi trên cùng một giải tần chung và chỉ được phục hồi duy nhất ở thiết bị thuê bao (máy điện thoại di động) với mã ngẫu nhiên tương ứng. Áp dụng lý thuyết truyền thông trải phổ, CDMA đưa ra hàng loạt các ưu điểm mà nhiều công nghệ khác chưa thể đạt được. Ứng dụng Hiện nay ở Việt Nam có 7 nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động. Trong đó, S-Telecom (S-Fone), EVN Telecom sử dụng công nghệ CDMA, Mobifone, Vinaphone, GTel và Vietel sử dụng công nghệ GSM, Hà Nội Telecom(HT Mobile) chuyển từ công nghệ CDMA sang eGSM. Mạng sử dụng chuẩn GSM đang chiếm gần 50% số người dùng điện thoại di động trên toàn cầu. TDMA ngoài chuẩn GSM còn có một chuẩn khác nữa, hiện được sử dụng chủ yếu ở Mỹ Latin, Canada, Đông Á, Đông Âu. Còn công nghệ CDMA đang được sử dụng nhiều ở Mỹ, Hàn Quốc... Công nghệ đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA là công nghệ truyền sóng kỹ thuật số, cho phép một số người dùng truy nhập vào cùng một kênh tần số mà không bị kẹt bằng cách định vị những rãnh thời gian duy nhất cho mỗi người dùng trong mỗi kênh. Công nghệ này đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu ít tốn kém hơn CDMA. Còn công nghệ đa truy nhập phân chia theo mã CDMA là công nghệ trải phổ cho phép nhiều tần số được sử dụng đồng thời; mã hóa từng gói tín hiệu số bằng một mã khóa duy nhất và gửi đi. Bộ nhận CDMA chỉ biết nhận và giải mã. Công nghệ này có tính bảo mật tín hiệu cao hơn TDMA. Theo các chuyên gia CNTT Việt Nam, xét ở góc độ bảo mật thông tin, CDMA có tính năng ưu việt hơn. Ưu điểm Sử dụng bộ mã hóa ưu việt Nhờ hệ thống kích hoạt thoại, hiệu suất tái sử dụng tần số trải phổ cao và điều khiển năng lượng, nên nó cho phép quản lý số lượng thuê bao cao gấp 5-20 lần so với công nghệ GSM. Áp dụng kỹ thuật mã hóa thoại mới, CDMA nâng chất lượng thoại lên gần bằng với hệ thống điện thoại hữu tuyến. Chuyển giao mềm Đối với điện thoại di động, để đảm bảo tính di động, các trạm phát phải được đặt rải rác khắp nơi. Mỗi trạm sẽ phủ sóng một vùng nhất định và chịu trách nhiệm với các thuê bao trong vùng đó. Với CDMA, ở vùng chuyển giao, thuê bao có thể liên lạc với 2 hoặc 3 trạm thu phát cùng một lúc, do đó cuộc gọi không bị ngắt quãng, làm giảm đáng kể xác suất rớt cuộc gọi. Điều khiển công suất Một ưu điểm khác nữa của CDMA là nhờ sử dụng các thuật toán điều khiển nhanh và chính xác, thuê bao chỉ phát ở mức công suất vừa đủ để đảm bảo chất lượng tín hiệu, giúp tăng tuổi thọ của pin, thời gian chờ và đàm thoại. Máy điện thoại di động CDMA cũng có thể sử dụng pin nhỏ hơn, nên trọng lượng máy nhẹ, kích thước gọn và dễ sử dụng. Trong thông tin di động, thuê bao di động di chuyển khắp nơi với nhiều tốc độ khác nhau, vì thế tín hiệu phát ra có thể bị sụt giảm một cách ngẫu nhiên. Để bù cho sự sụt giảm này, hệ thống phải điều khiển cho thuê bao tăng mức công suất phát. Các hệ thống analog và GSM hiện nay có khả năng điều khiển chậm và đơn giản, thuê bao không thể thay đổi mức công suất đủ nhanh, do đó phải luôn luôn phát ở công suất cao hơn vài dB so với mức cần thiết. Tuy nhiên, để sử dụng mạng điện thoại di động CDMA, người dùng phải trang bị thiết bị đầu cuối phù hợp với công nghệ của mạng. Chi phí cho thiết bị đầu cuối CDMA hiện nay khoảng 200-1.000 USD tùy công năng của máy, trong tương lai giá sẽ thấp hơn. Trong vấn đề bảo mật, CDMA cung cấp chế độ bảo mật cao nhờ sử dụng tín hiệu trải băng phổ rộng. Các tín hiệu

băng rộng khó bị rò ra vì nó xuất hiện ở mức nhiễu, những người có ý định nghe trộm sẽ chỉ nghe được những tín hiệu vô nghĩa. Ngoài ra, với tốc độ truyền nhanh hơn các công nghệ hiện có, nhà cung cấp dịch vụ có thể triển khai nhiều tùy chọn dịch vụ như thoại, thoại và dữ liệu, fax, Internet... Không chỉ ứng dụng trong hệ thống thông tin di động, CDMA còn thích hợp sử dụng trong việc cung cấp dịch vụ điện thoại vô tuyến cố định với chất lượng ngang bằng với hệ thống hữu tuyến, nhờ áp dụng kỹ thuật mã hóa mới. Đặc biệt các hệ thống này có thể triển khai và mở rộng nhanh và chi phí hiện thấp hơn hầu hết các mạng hữu tuyến khác, vì đòi hỏi ít trạm thu phát. Tuy nhiên, những máy điện thoại di động đang sử dụng chuẩn GSM hiện nay không thể sử dụng chuẩn CDMA. Nếu tiếp tục phát triển GSM, hệ thống thông tin di động này sẽ phải phát triển lên WTDMA mới đáp ứng được nhu cầu truy cập di động các loại thông tin từ mạng Internet với tốc độ cao, thay vì với tốc độ 9.600 bit/giây như hiện nay, và so với tốc độ 144.000 bit/giây của CDMA.

CÔNG NGHỆ 3G
3G, hay 3-G, (viết tắt của third-generation technology) là công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh...). Trong số các dịch vụ của 3G, điện thoại video thường được miêu tả như là lá cờ đầu (ứng dụng hủy diệt). Giá tần số cho công nghệ 3G rất đắt tại nhiều nước, nơi mà các cuộc bán đầu giá tần số mang lại hàng tỷ euro cho các chính phủ. Bởi vì chi phí cho bản quyền về các tần số phải trang trải trong nhiều năm trước khi các thu nhập từ mạng 3G đem lại, nên một khối lượng đầu tư khổng lồ là cần thiết để xây dựng mạng 3G. Nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã rơi vào khó khăn về tài chính và điều này đã làm chậm trễ việc triển khai mạng 3G tại nhiều nước ngoại trừ Nhật Bản và Hàn Quốc, nơi yêu cầu về bản quyền tần số được bỏ qua do phát triển hạ tâng cơ sở IT quốc gia được đặt ưu tiên cao. Nước đầu tiên đưa 3G vào khai thác thương mại một cách rộng tãi là Nhật Bản. Năm 2005, khoảng 40% các thuê bao tại Nhật Bản là thuê bao 3G, mạng 2G đang dần biến mất tại Nhật Bản. Người ta cho rằng, vào năm 2006, việc chuyển đổi từ 2G sang 3G sẽ hoàn tất tại Nhật Bản và việc tiến lên thế hệ tiếp theo 3.5G với tốc độ truyền dữ liệu lên tới 3 Mbit/s là đang được thực hiện. Sự thành công của 3G tại Nhật Bản chỉ ra rằng điện thoại video không phải là "ứng dụng hủy diệt". Trong thực tế sử dụng điện thoại video thời gian thực chỉ chiểm một phần nhỏ trong số các dịch vụ của 3G. Mặt khác việc tải về tệp âm nhạc được người dùng sử dụng nhiều nhất. Thế hệ mạng di động mới (3G) không phải là mạng không dây IEEE 802.11. Các mạng này được ám chỉ cho các thiết bị cá nhân như PDA và điện thoại tế bào. Tiêu chuẩn 3G Công nghệ 3G được nhắc đến như là một chuẩn IMT-2000 của Tổ chức Viễn thông Thế giới (ITU). Lúc đầu 3G được dự kiến là một chuẩn thống nhất trên thế giới, nhưng trên thực tế, thế giới 3G đã bị chia thành 4 phần: UMTS (W-CDMA) UMTS (Universal Mobile Telecommunication System), dựa trên công nghệ truy cập vô tuyến W-CDMA, là giải pháp nói chung thích hợp với các nhà khai thác dịch vụ di động (Mobile network operator) sử dung GSM, tập trung chủ yếu ở châu Âu và một phần châu Á (trong đó có Việt Nam). UMTS được tiêu chuẩn hóa bởi tổ chức 3GPP, cũng là tổ chức chịu trách nhiệm định nghĩa chuẩn cho GSM, GPRS và EDGE. FOMA, thực hiện bởi công ty viễn thông NTT DoCoMo Nhật Bản năm 2001, được coi như là một dịch vụ thương mại 3G đầu tiên. Tuy nhiên, tuy là dựa trên công nghệ W-CDMA, công nghệ này vẫn không tương thích với UMTS (mặc dù có các bước tiếp hiện thời để thay đổi lại tình thế này). CDMA 2000 Một chuẩn 3G quan trọng khác là CDMA2000, là thế hệ kế tiếp của các chuẩn 2G CDMA và IS-95. Các đề xuất của CDMA2000 nằm bên ngoài khuôn khổ GSM tại Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc. CDMA2000 được quản lý bởi 3GPP2, là tổ chức độc lập với 3GPP. Có nhiều công nghệ truyền thông khác nhau được sử dụng trong CDMA2000 bao gồm 1xRTT, CDMA2000-1xEV-DO và 1xEV-DV. CDMA 2000 cung cấp tốc độ dữ liêu từ 144 kbit/s tới trên 3 Mbit/s. Chuẩn này đã được chấp nhận bởi ITU. Người ta cho rằng sự ra đời thành công nhất của mạng CDMA-2000 là tại KDDI của Nhận Bản, dưới thương hiệu AU với hơn 20 triệu thuê bao 3G. Kể từ năm 2003, KDDI đã nâng cấp từ mạng CDMA2000-1x lên mạng CDMA20001xEV-DO (EV-DO) với tốc độ dữ liệu tới 2.4 Mbit/s. Năm 2006, AU dự kiến nâng cấp mạng lên tốc độ Mbit/s. SK Telecom của Hàn Quốc đã đưa ra dịch vụ CDMA2000-1x đầu tiên năm 2000, và sau đó là mạng 1xEV-DO vào tháng 2 năm 2002 TD-SCDMA

Chuẩn được it biết đến hơn là TD-SCDMA đang được phát triển tại Trung Quốc bởi các công ty Datang và Siemens. Nó có thể được đưa vào hoạt động năm 2005. Sau đây là địa chỉ một diễn đàn chính thức của TD-SCDMA [1].Wireless 3G[2]. Wideband CDMA Hỗ trợ tốc độ giữa 384 kbit/s và 2 Mbit/s. Khi giao thức này được dùng trong một mạng diện rộng WAN, tốc độ tối đa là 384 kbit/s. Khi nó dùng trong một mạng cục bộ LAN, tốc độ tối đa là 1,8 Mbit/s. Chuẩn này cũng được công nhận bởi ITU Wikipedia

SỐ IMEI VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ
Tên tiếng anh của số IMEI là : International Mobile Equipment Identity Tạm dịch là Số nhận dạng thiết bị di động trên toàn thế giới. Số IMEI (International Mobile Equipment Identity) là một chuỗi số duy nhất được gán duy nhất cho mỗi máy GSM hay máy UMTS. Thường dãy số này được in trên tem máy nằm phía dưới Pin hay có thể bấm *#06# sẽ hiện ra trên màn hình. Số IMEI thường được sử dụng trong mạng GSM để nhận dạng sự hợp pháp của máy đầu cuối nhờ đó mạng có thể không cho các máy ăn cắp có thể gọi. Ví dụ nếu một máy điện thoại bị mất cắp, người chủ có thể gọi tới tổng đài yêu cầu tổng đài chặn máy điện thoại sử dụng số IMEI này. Do đó máy này sẽ không thể gọi được cho dù có thay thế SIM card khác. Không giống như số ESN trong mạng CDMA hay các mạng khác. Số IMEI chỉ dùng để nhận dạng thiết bị đầu cuối, nó không liên quan gì đến thuê bao. Vì trong mạng GSM thuê bao được nhận dạng bằng chuỗi số IMSI chuổi này chứa trong SIM. Tuy nhiên có nhiều mạng họ có thể kích hoạt chức năng vừa xác định IMSI vừa xác định bằng IMEI. Unlike the ESN of CDMA and other wireless networks, the IMEI is only used to identify the device, and has no permanent or semi-permanent relation to the subscriber. Instead, the subscriber is identified by transmission of an IMSI number, which is stored on a SIM card which can (in theory) be transferred to any handset. However, many network and security features are enabled by knowing the current device being used by a subscriber. Cấu trúc của số IMEI Số IMEI là một dãy số gồm 15 số nó chứa thông tin xuất xứ, Model và số serial của máy. Model và xuất xứ bao gồm 8 số trong phần đầu được hiểu là TAC (Type Allocation Code : Mã model và xuất xứ ).Các phần còn lại của số IMEI được định nghĩa bởi nhà sản xuất, và cuối cùng là số Luhn Check Digit số này không gửi đi tới mạng. Kể từ năm 2004 định dạng của số IMEI sẽ theo chuẩn sau : AABBBBBB-CCCCCC-D Trong đó : AA Là số Reporting Body Identifier, nó chỉ ra rằng nhóm GSMA thuộc nhóm nào xem bảng danh sách số Reporting Body Identifier ở phía dưới. BBBBBB Là phần còn lại của chuổi TAC CCCCCC Là số serial của từng máy do nhà sản xuất quy định D Là số cuối cùng được tạo ra từ các số trước theo luật Luhn check digit hoặc có thể là số 0 (or zero) Trước năm 2002 thì số IMEI có dạng như sau : AAAAAA-BB-CCCCCC-D (TAC – FAC – SNR – D ). Trong đó thì TAC có độ dài 6 số theo sau đó là 2 số cho biết máy được ráp ở đâu gọi là (FAC : Final Assembly Code) tùy theo đó nhà sản xuất sẽ ghi các số này để cho biết máy được ráp ở nước nào. Và sau cùng cũng là chuổi số serial của máy do nhà sản xuất quy định. Ví dụ 352099-00-176148-1 cho biết các thông số sau : TAC: 352099 nó được đưa ra bởi BABT và theo số 2099. FAC: 00 số này là thời điểm chờ chuyển từ số theo định dạng cũ sang số mới (vì sao là 00 sẽ được mô tả chi tiết sau). SNR: 176148 CD: 1 Có nghĩa là GSM Phase 2 hay cao hơn. Định dạng sẽ thay đổi bắt đầu từ 1 tháng 4 năm 2004 khi mà số FAC : Final Assembly Code chuyển từ định dạng cũ sang định dạng theo kiểu 8 số theo định dạng TAC : Type Allocation Code. Thì bắt đầu từ ngày một tháng một năm 2003 cho tới ngày đổi thoàn bộ số FAC sẽ là 00. Reporting Body Identifier Code Group/indication Origin 00 Test IMEI Nations with 2-digit CCs 01 PTCRB United States 02 - 09 Test IMEI Nations with 3-digit CCs 10 DECT devices

30 Iridium United States (satellite phones) 33 DGPT France 35 BABT United Kingdom 44 BABT United Kingdom 45 NTA Denmark 49 BZT / BAPT Germany 50 BZT ETS Germany 51 Cetecom ICT Germany 52 Cetecom Germany 53 TUV Germany 54 Phoenix Test Lab Germany Sau đây là đường dẫn hữu ích cho bạn - Phân tích 1 số IMEI xem thử thông tin của máy bạn như thế nào : http://www.numberingplans.com/?page=analysis&sub=imeinr Bạn truy cập vào và nhập số IMEI sau đó sẽ biết được thông tin của máy mình ví dụ : 357308-00-0140802 Information on IMEI 357308000140802 Mobile equipment brand / model O2 XDA mini GSM Implementation Phase 2/2+

CẤU TRÚC MÁY BB5
Sơ đồ khối cấu trúc chung của dòng máy BB5 như hình sau : This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 826x597.

Bao gồm các chip chính như sau : RETU TAHVO OMAP 1710 (còn gọi là Helen3). RAP 3G SDRAM NOR Flash NAND Flash Ngoài ra thêm một mớ linh tinh giống như các dòng máy trước. :arrow: CHIP TAHVO có tên đầy đủ là : Tahvo EM Asic có các khối chức năng : - Phần cung cấp nguồn chính cho toàn máy. - Mạch điều khiển sạc. - Mạch dịch mức áp và ổn áp cho phần USB/FBUS - Đo điện áp dòng cung cấp của pin. - Điều khiển hệ thống đèn LED chiếu sáng. - Mạch giao tiếp số (CBUS). :arrow: Chip RETU có tên đầy đủ là RETU EM ASIC có các khối chức năng như sau : - Mạch logic khởi động và điều khiển reset. - Mạch dò khi có sạc. - Đo điện áp pin. - Tạo xung dao động 32,768Khz với thạch anh gắn ngoài. - Chạy đồng hồ thực với bộ pin backup gắn ngoài. - Mạch giao tiếp SIM card. - Mã hóa âm thanh và khuếch đại âm thanh. - Bộ chuyển đổi A/D. - Mạch ổn áp. - Mạch rung. - Mạch giao tiếp số (CBUS). Chú ý: Trong Retu và trong Tahvo không có bất kỳ vùng mã hóa hay bảo mật gì hết do đó có thể thay thế qua lại thoải mái giữa các máy với nhau. :arrow: CPU chính của máy RAP 3G : Đây là một chip rất quan trọng và cũng là nỗi ám ảnh của anh em đó là con CPU chính hay còn gọi là con RAP 3G. Đây là con CPU ứng dụng công nghệ 3G nó được tích hợp luôn bộ nhớ RAM bên trong. Trong RAP 3G được tích hợp các phần sau : - Processor Subsystem (PSS) bao gồm CPU chính và các phần phụ trợ kèm theo. - Phần ngoại vi MCU được điều khiển bởi MCU. - Phần ngoại vi DSP được điều khiển bằng DSP. Điện áp chính của RAP 3G (1,40V) được cung cấp bởi Tahvo gọi là VCORE và các nguồn điện áp IO (1,8V) được lấy từ RETU gọi là VIO. Đặc biệt điện áp VCORE khi chạy ở chế độ sleep Mode thấp hơn 1,05v... Chú ý : Do trong flash có vùng bảo mật và có lưu các thông số của CPU do đó khi thay thế CPU và flash không đồng bộ bạn sẽ thấy có câu Invalid Sim card...Hay còn gọi là máy bị lock. :arrow: Con CPU thứ hai của máy OMAP hay còn gọi là Helen3 : Con CPU này mục đích là chạy các ứng dụng của máy nó do Texas Instrument sản xuất có tốc độ cực cao (220Mhz) tên đầy đủ của nó là OMAP 1710. Sơ đồ khối nó như sau : This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 621x492.

Chip này có thể xem là CPU ứng dụng của máy do nó chạy các ứng dụng và thực hiện việc điều khiển các phần phụ khác như camera, bàn phím, màn hình... Thực sự trong OMAP 1710 có ROM, SRAM 1 port và vài ô eFuse (cầu chì điện tử). Tuy nhiên trong các máy Nokia BB5 thì con OMAP này lại không có lưu thông số cũng như so sánh thông số với các thông số trong flash do đó có thể thay thế từ máy này qua máy khác mà không cần phải đồng bộ lại. bạn xem hình khối sau : This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 579x418.

:arrow: Bộ nhớ của máy bao gồm hai hệ thống bộ nhớ : 1. Nhóm bộ nhớ phục vụ cho RAP 3G bao gồm 1 con flash 64MB Nor flash và 1 con 64MB SDRAM. - SDRAM là bộ nhớ tạm động sử dụng để chạy các chương trình ISA SW. - NOR Flash chứa code của ISA SW và PMM cũng như các dữ liệu của CDSP SW. - Nguồn nuôi cho SDRAM sử dụng nguồn VDRAM 1,8V và nguồn VIO 1,8V cung cấp từ RETU, trong khi đó NOR flash sử dụng nguồn VIO 1,8V cho cả Core và I/O. 2. Bộ nhớ combo memory phục vụ cho chip Helen3 hay còn gọi là bộ nhớ ứng dụng nó bao gồm phần 256Mbit DDR và 256Mbit Flash. Phần DDR được xếp theo các ngăn xếp nằm trên phần NAND Flash .

LINH KIỆN ĐIỆN TỬ VÀ DỤNG CỤ CƠ BẢN TRONG ĐTDĐ
1. Điện trở : Là một linh kiện có khả năng hạn chế được dòng điện chạy qua nó Ký hiệu : R ( ) Đơn vị :  Công dụng : Hạn chế và giảm thế Ví dụ : Trong điện thoại R có thể làm tăng giảm độ sáng tối của Led Cách kiểm tra : + Màu đen bóng + Muốn xác định chính xác của R phải đối chiều với lược đồ máy 2. Tụ điện (C): Gồm 2 miếng kim loại đạt song song nhau, ở giữa là 1 chất cách điện. Đơn vị đo F (Farad) Đặc tính: Chỉ cho dòng điện xoay chiều đi qua Có 2 loại tụ điện: - Tụ không phân cực: Không phân biệt chiều lắp vào board - Tụ có phân cực: Phải lắp đúng cực đã được định sẵn Cách nhận biết: Những con nhỏ li ti màu vàng hoặc màu xám xanh Công dụng: Tụ dùng để giữ điện hoặc khi có dòng điện chạy qua thì nó sẽ lọc nguồn. Tụ có thể kiểm tra trên board mạch chạm hay không chạm. Không xác định được giá trị 3. Cuộn dây (L): Đơn vị đo H ( Henry) Cấu tạo: 1 cuộn dây dẫn quấn quanh lõi Đặc tính: - Đối với dòng điện 1 chiều thì cuộn dây không cản điện - Đối với dòng điện xoay chiều nếu có tần số càng cao thì cuộn dây cản điện càng nhiều Cách kiểm tra: Cuộn dây như dây dẫn nên khi dùng VOM chỉnh thang đo điện trở (). Nếu cuộn dây không đứt kết quả Ohm nhỏ Nếu cuộn dây đứt  kết quả Ohm lớn 4. Chất bán dẫn: 2 loại P và N Cấu tạo: khi pha vào nguyên chất một ít chất (là chất cách điện hay dẫn điện) thì ta được 2 loại bán dẫn khác nhau: - Bán dẫn dương (Loại P) - Bán dẫn âm (Loại N) Công dụng: Hai loại bán dẫn này dùng để chế tạo linh kiện điện tử và được gọi là linh kiện bán dẫn. 5. DIODE : Gồm 1 miếng bán dẫn loại P tiếp xúc 1 miếng bán dẫn loại N Ký hiệu: Công dụng: TảI dòng điện tử (+) sang (-) không cho phép đi ngược lạI Diode phát quang (Led): Là diode khi có dòng điện chạy qua nó sẽ phát sang. 6. TRANSISTOR: Gồm 3 miếng bán dẫn loại P và N ghép xen kẽ nhau Ký hiệu Transistor: V Để phân biệt ta chú ý đến mũi tên cực phát (E). Mũi tên chỉ vào là PNP; mũi tên chỉ vào là PNP; mũi tên chỉ ra là NPN Công dụng: - Khuyếch đại tín hiệu, làm cho tín hiệu lớn lên - Khóa đóng mở (xem Schematic 8310) 7. Cách đọc chân IC các loại a. Dạng IC “chân rệp” Căn cứ từ dấu chấm đọc ngược chiều kim đồng hồ b. Dạng IC “chân gián” 8. Đồng hồ đo (VOM)

a. Thường đo ohm () X1: giá trị nhỏ nhất (X1 X10k) Giá trị qui đổi 1000  = 1k 1000k  = 1 Giá trị cần đo R = giá trị đo được X giá trị thay đổi Để X1 (VOM) lên 10  = 10  Để X10 (VOM) lên 10  = 10 x 10 = 10k  Để X100(VOM) lên 10  = 10 x 100 = 1000k Chú ý: - Khi đo để bất ký ở thang đo X1, X10, X100 ta đều chỉnh về 0 - Khi đo giá trị của linh kiện ta nên tính trong khoảng từ 2  30 (vì đó là thang đo được chia đều và dễ tính giá trị) b. Thang đo thông mạch: Có 2 cách đo: - để thang đo tại Buzz đồng hồ phát ra tiếng kêu là tốt - để thang đo tại X1 khi đo kim đồng gồ sẽ lên bằng vị trí lúc chập 2 que đo với nhau là chính xác nhất. c. Thang đo DCV Đối với ĐTDĐ thang đo V: thường là chỉnh thang đo về 10V Dùng để đo áp của điện thoại, kích hoạt pin, đo pin… d. Thang đo ACV: Dùng để đo điện xoay chiều 9. Bộ nguồn cấp: Dùng để test (kiểm tra) nguồn, test sóng, kích pin,…

MỘT SỐ THUẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT
• IMEI : International Mobile Equipment Identity (Mã số nhận dạng tiêu chuẩn Quốc tế) • Cách xem số IMEI : *#06# • SIM : Subriber Identijication Module. ( Nhận dạng hòa mạng ) • Hiện nay có 3 băng tần 900 MHZ, 1800 MHZ,1900 MHZ dành cho mạng GSM (2 và 2,5G). Trong đó băng tần 900MHZ được sử dụng phổ biết ở VN. • Các mạng GSM ở VN: Vinaphone, Mobiphone, Viettel. • Mã Pin : Perasonal Identijication Number. (Mã số nhận dạng cá nhân) mục đích là bảo vệ sim Mã Pin mặc định : 1234 or 1111. Nếu nhập quá nhiều lần thì sẽ chuyển qua mã PUK  Liên hệ Tổng đài. • Mã PUK : Pin unlooking KKK (Mã khóa nhận dạng cá nhân). Mã PUK gồm 8 số. Chú ý: Mã Pin thì thay đổi được còn mã PUK thì không thay đổi được vì mã. PUK do Tổng đài quản lý. • CDMA : Thế hệ 3G (Code Division Mutiphe Access). Các mạng di động sử dụng hệ 3G: S-phone, Hanoitelecom, E-Mobile. • GSM : Thế hệ 2G : Global Sytem for Mobile Communication (Hệ thống giao tiếp toàn cầu của ĐTDĐ) • Thế hệ 2G chỉ truyền được âm thanh, không truyền được hình ảnh. • Thế hệ 3G truyền được âm thanh, truyền được hình ảnh. • Trong Schematic:  Đường GSM : Thường kí hiệu cho băng tần 900 MHZ.  Đườn DCS : Thường kí hiệu cho băng tần 1800, 1900 MHZ. g • Dualband : Băng tần kép (gồm 900 MHZ và 1800 MHZ) • Triband : 3 băng tần gồm (gồm 900,1800, 1900 MHZ) Trong tất cả ĐTDĐ có một số máy sử dụng 2 băng tần 900MHZ và 1800MHZ.Có một số máy dùng được luôn cả 3 băng tần (900MHZ, 1800MHZ, 1900MHZ) Re: MỘT SỐ THUẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT MỘT SỐ THUẬT NGỮ THÔNG DỤNG DÙNG TRONG SCHEMATIC BUZZER (BUZZ) : Chuông

VIBBRATOR (VIB) : Rung LCD (Liquid Crystal Display) : Màn hình KBD (Keyboard) : Bàn phím LCD-LED : Đèn màn hình KBD-LED : Đèn phím CNT (Control) : Điều khiểnKý Ký hiệu nối mass : , GND, , No supply : Không cung cấp điện Backup : Điện dự phòng Power off/ Power on : Ngắt điện / Mở điện On / Off : Tắt / Mở Reset (RST) : Khởi động lại Protection : Bảo vệ OSC (Occuslator) : Dao động D/C : Dòng điện 1 chiều VBB : Điện áp Charg : Sạc RX : Thu sóng TX : Phát sóng Supply Power Line : Nguồn dây ổn định RFCLK : Đường dao động IR (Infrared) : Hồng ngoại MCU (Micro Controller Unit) : Bộ vi xử lý PPM (Post Programmable Memory) : Bộ nhớ lập trình trước SW (Software) : Phần mêm HW (Hardware) : Phần cứng UEM (Universal Energy Management) : Xử lý bộ nguồn CS (Chip select) : Điểm để đo áp Chip

KHÁI QUÁT CÁC LINH KIỆN TRONG SƠ ĐỒ KHỐI NGUỒN
1. IC Nguồn : Có nhiệm vụ cấp nguồn cho các IC khác trên Board mạch 2. CPU : Là con IC xử lý trung tâm 3. Flash : IC bộ nhớ chương trình. Nó cho phép viết dữ liệu từ bên ngoài vào và lấy từ nó ra. Khi mất điện dữ liệu trong nó không mất đi. Ví dụ : Danh bạ được lưu trong bộ nhớ máy. 4. Ram : Là 1 IC bộ nhớ xử lý tín hiệu trung gian. Nó cho phép viết dữ liệu từ bên ngoài vào và lấy ra. Nhưng nếu mất điện dữ liệu trong nó cũng mất đi. Ví dụ : những cuộc gọi: nhỡ, gọi đến, gọi đi 5. Rom : IC bộ nhớ chương trình. Nó cho phép lấy dữ liệu từ trong nó ra, không cho phép viết dữ liệu vào. Ví dụ : Số IMEI 6. IC giao tiếp ngoại vi: Chỉ giao tiếp với các thiết bị bên ngoài Ví dụ : Chuông, rung, đèn hình, đèn phím 7. Dao động : cấp, dao động cho CPU  Điều kiện cần để máy bật nguồn: Các linh kiện (IC) phải có điện áp và dao động 13MHz  Điều kiện đủ: Là các IC phải còn tốt. Nếu vậy mà không có nguồn thì do Flash Flash thường hỏng do nhiều hợp: hỏng vật lý và hỏng chương trình.  Hỏng vật lý: là phải thay IC chứa Flash  Hỏng chương trình: là chương trình bị lỗi (có thể chạy lại là tốt)

PHÂN TÍCH MÁY 7610
NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG MẠCH NGUỒN MÁY 7610 Trong máy 7610, X131 là ổ BATT, điện áp dương của BATT chia làm 4 tuyến chính phục vụ cho việc cấp nguồn toàn máy. Chúng tôi lần lượt giới thiệu mạch của nó trong loạt bài phân tích mạch nguồn. Ở bài này chúng ta đề cập đến việc cấp nguồn của IC nguồn chính, cũng xin lưu ý các bạn là do sơ đồ qua rộng rất khó đọc chúng tôi không thể đưa

lên, mà đây lại là phân mạch rắc rối, mong các bạn tham khảo bằng sơ đồ của mình để dễ hiểu- đây là tình huống bất khả thi, mong các bạn thông cảm: Sau khi lắp “pin” và bật công tăc nguồn, (+) BATT được đưa vào IC nguồn chính D250 bằng 2 tuyến và chúng tôi vẽ giả định IC nguồn D250 thành 2 ngăn A và B để các bạn tiện theo dõi : Tuyến thứ nhất vào thẳng D250 trên các chân: -1- Vào U11-D250 → ổn áp cho ra VFLASH1-2,8 VDC tại V11 cung cấp nguồn cho Bluetooth tại K6D191, và làm điện áp tham khảo để bật tắt bộ giao tiếp ngoài nhờ R134. Nếu điện áp này mất, Bluetooth không hoạt động, việc điều khiển bật tắt loa mích trong khi cắm loa mích ngoài gặp khó khăn. -2- Vào T11-D250 →ổn áp cho ra VANA-2,8 VDC tại T10 và vòng về cấp vào 4 chân của D250 như sau: -3- Vào chân B17-D250 cung cấp cho kênh giải mã tín hiệu vào(RX) trong DSP. Mất điện áp này không nhận được cuộc gọi, mạng chập chờn, thậm chí mất hẳn mạng do không có tín hiệu “hồi tiếp” báo về IF. ..Vào chân E18-D250 cung cấp cho kênh mã hóa tín hiệu ra (TX) trong DSP. Mất điện áp này không gọi đi được. Sóng bị mất do không trộn được tín hiệu điều khiển và phân kênh phát. Cũng tại nhánh này người ta còn đưa về chíp xử lý tín hiệu MIC để cung ứng điện áp ra tại chân N3 cho MIC trong máy; ra tại N1 cung ứng cho MIC ngoài máy. …Vào chân P2-D250 cung cấp cho tầng khuếch đại trộn âm chất trong DSP. Mất điện áp này không gọi đi được, mặc dù đôi khi sóng vẫn có. …. Vào chân H1-D250 cung cấp cho tầng khuếch đại trước cuối âm tần, kết hợp với công suất âm tần được cấp áp trực tiếp từ BATT vào chân E2-E3 để đưa âm thanh đủ lớn ra loa, chuông. Mất điện áp này, toàn bộ loa, chuông không hoạt động. .Vào T14-D250→ổn áp cho ra VAUX2-2,8 VDC tại U14 cấp hỗ trợ cho tuyến giao tiếp ngoài tại chân 4-X132. .Vào T18-D250→ổn áp cho ra VCORE-1,5 VDC tại T17 đưa vào chân 7-X420 cấp cho CAMERA .Vào C1- D250→ổn áp cho ra VIO-1,8 VDC tại D3, và chia thành một tuyến nổi và 2 tuyến “ẩn”: .Tuyến “nổi” được đưa về khối LOGIC bao gồm CHIPSET; ngăn “điều mã liệu” trong D370 và các linh kiện có quan hệ trực tiếp với D370 như FLASH, DDRAM, LCD, USB, KEYBOARD…nếu tuyến này bị mất hiện tường đầu tiên là không duy trì được nguồn và nhiều sự cố kèm theo. .Tuyến “ẩn” thứ nhất nằm trong D250 vào chíp nguồn VSIM để tạo thành điện áp nuôi SIM ra tại chân C2 về chấu 1X310 .Tuyến “ẩn” thứ hai được vào A13-D250 cung cấp cho các chíp điều khiển mặc định và phần mềm sơ cấp, mã sơ cấp trong EEROM tích hợp chung trong D250 trong đó có ngăn điều mã IMEI, tách mã bảo mật cá nhân ... Nếu mất nguồn tuyến này, phần mềm “mồi” khởi động trong EEROM không được kích hoạt→không bật được máy. Tuyến thứ hai vào chân 4 và ra tại chân 1 bộ hạn dòng Z130 do N130 trực tiếp điều khiển bằng cơ chế điều rộng xung nhờ tín hiệu từ CPU đưa vào các chân A3-D3-B2. Nếu N130 bị hỏng, nguồn chỉ có thể tồn tại đến hết giai đoạn “bật mồi” cho dù bạn nối tắt Z130. Tại chân 1-Z130 tuyến này được chia ra 3 đường để vào D250: 1- Qua L220 lọc nhiễu và chia thành 2 đường : - Đường 1vào chân U16 cấp về bộ nhân áp tạo thành 4,75 vôn cung cấp nguồn VR1A cho bộ xử lý vòng khóa (PLL )để có VC tinh chỉnh VCO ra tại J2-N500. Nếu mất điện áp này, không có VC, VCO không hoạt động dẫn đến mất sóng mất mạng. - Đường 2 vào R16 ổn thành VR2-2,8 vôn ra tại R18 và được chia thành 2 tuyến : . Tuyến 1 vào chân C2-N500 cung cấp cho khối trộn đồng bộ sóng mang ra trước khi xử lý thành tần số trung bình. Nếu mất điện áp này, máy bị mất sóng. .. Tuyến 2 : - Qua L500; L501 vào F1-E1 cung ứng cho khối xử lý bù sửa méo quay pha tín hiệu phát GSM-TX; - Qua L502;L503 vào B1-A1 cung ứng cho khối xử lý bù sửa méo quay pha tín hiệu phát PCS-TX. Nếu mất điện áp này xuất hiện sóng ảo. 1- Qua L221 lọc nhiễu và chia thành 2 đường: - Đường 1 vào M18-D250 ổn thành VR5-2,8 vôn ra tại M16 đưa lên IF-N500 để chia thành 2 đường vào 2 khối chức năng :.Một vào K7- cung cấp cho khối phân tần thấp hỗ trợ bộ dò băng trong chế độ dò mạng. Nếu mất điện áp này, không dò được mạng, mà trước hết là những mạng có băng tần 850-900MHz; .Một vào H6 cung cấp cho khối chỉnh tinh điều tiết VC lên công suất cao tần (PAHF) đáp ứng nhanh công suất phát, loại trừ hiện tượng “lắng” sóng mỗi khi cần kết nối một “ô” (Cel) mới. Hoặc chuyển vùng BTS. Nếu mất điện áp này sóng tụt thấp và chập chờn ngay cả khi trong vùng có mật độ sóng đặc. - Đường 2 vào R17-D250 tạo thành điện áp VR6-2,8VDC ra tại chân P18 cung ứng vào K11-N500 cho các chíp công tắc bật↔tắt các tín hiệu vào↔ra (RX-TX) thông tuyến tín hiệu thoại trong N500. Nếu mất điện áp này, sóng mạng vẫn có nhưng không thể kết nối thoại được. Qua L222 lọc nhiễu được chia thành 3 đường:

- Đường 1 vào M17-D250 ổn thành VR3-2,8 vôn ra tại L8 lại được chia thành 3 đường và cấp về: - Một đường qua R516 cung ứng cho bộ khuếch đại biên và xử lý AFC trong G501, giúp 26 MHz cho ra tần số ổn định và đủ khỏe. Nếu mất điện áp này,G501 không hoạt động- hiện tượng đầu tiên và trước nhất là không duy trì nguồn toàn máy. - Một đường vào chân G1-VDIG cung cấp cho khối xử lý nâng tần và chia tần. Đặc biệt là khối xử lý nâng biên đạt 1,8 Vpp đưa về CPU tại chân H1. Mất điện áp này cũng tương tư như mất áp cấp cho G501. - Một đường vào chân 5-D191 xử lý xung CLK phù hợp với tốc độ dữ liệu vào Bluetooth. Mất nguồn này Bluetooth không hoạt động. - Đường 2 vào N16-D250 ổn thành VR4 ra tại N17 đưa vào N500 bằng 3 đường: 1- Chân D10 cung cấp nguồn cho bộ trộn sau cao tần và bộ sửa sai đồng bộ trước IF1 xử lý thành tần số quy ước trước khi đưa về DSP. 2- Chân L9 cung cấp nguồn cho bộ xử lý hạ tần thành IF2 đưa về DSP. 3- Chân A7 cấp cho bộ khuếch đại cuối để khuếch đại tín hiệu IF2 đủ lớn trước khi đưa tín hiệu về DSP. Nếu 1 trong 3 nguồn trên bị mất, mạng mất theo. - Đường 3 vào P17 ổn thành VR7-2,8 vôn ra tại N18 qua R500 cung cấp nguồn cho mạch khuếch đại tăng biên, bộ xử lý đổi pha VC cho VCO-G500 hoạt động đúng chuẩn. Nếu mất điện áp này, VCO không hoạt động, mất cả sóng và mạng. Trên hầu hết các tuyến nguồn thứ cấp người ta phải “cài” xung để điều chế sự tăng-giảm, bật-tắt cổng điều tiết. Bởi vậy nếu chỉ đo DC, cũng có nghĩa chúng ta chỉ tham khảo được một nửa thông số của nó. Nếu hệ thống nguồn đặt trong chế độ mặc định thì: Xung cài vào tuyến 1 có xuất xứ từ bộ dao động nhịp cơ sở 32,768 Khz. Xung cài vào tuyến 2 có xuất xứ từ bộ dao động nhịp chủ hệ thống 26 MHz. Và trong tất cả các quan hệ có ích, CPU đều phải dự liệu đúng và đủ cả 2 nội dung này thì nguồn mới tác dụng, hệ thống mới hoạt động.

CÁC TUYẾN NGUỒN THỤ ĐỘNG TRONG MÁY 7610
Tuyến thứ Ba cấp chờ về các tầng công suất lớn như : -1- Về bộ lọc nhiễu L700-C500-C501 cấp cho công suất phát N700- Nguồn này có thể tiêu hao tới gần 1W nếu máy ở vùng sóng yếu và luôn phụ thuộc mức điều tiết vào chân 22 và mức mở tại chân 2 do IF cung cấp -Nếu mất nguồn này máy không có sóng. -2- Về chân F2↔E3-D250 cung cấp cho cụm âm tần bao gồm : + Vào F2 cho công suất âm báo “gọi đến” để cuối cùng cho tín hiệu ra chuông và trích xuất điện áp ra công suất rung nếu khai thác chế độ rung. + Vào E3 cho khuếch đại trước cuối âm tần tuyến thoại để cuối cùng có âm thanh ra N607. Nếu mất nguồn chân nào, chức năng tương thích mất theo. Nếu nguồn này bị sụt, mạch điện tương ứng bị dò, nếu dò nặng dòng cấp bị tăng, CPU hiểu theo nghĩa đang có sự cố hệ thống và sẽ ra lệnh cắt nguồn. Nguồn này chỉ bật khi : Giai đoạn khởi động nguồn đã xong, vào chức năng khai thác có sử dụng âm thanh kể cả âm bàn phím, máy đang trong mô dạng bật âm và có cuộc gọi đến hoặc bật gọi đi, kiểm tra chức năng âm thanh, chuông… -3- Về chân 1 N607 cấp cho công suất ra loa. Mất nguồn này loa không nói. -4- Về X602-X603 cấp cho bộ rung. Nguồn này chỉ tiêu hao khi: Có tín hiệu gọi đến; vào chức năng kiểm rung Khi đó tại K-V601 điện áp ra lớn hơn 1,35 VDC từ chân T3-D250 cấp và được bồi xung nhờ V600. -5- Về A2-N130 cấp cho bộ xử lý điều rộng xung nhờ dữ liệu giám sát từ CPU vào các chân A3-D3-B3 đáp ứng dòng nguồn cấp phù hợp cho máy-Xung nhịp tại đây bị kiểm soát bằng 2 giai đoạn : Giai đoạn làm việc có tần số xung nhịp cao xuất xứ từ dao động nhịp chủ 26 MHz và do phần mềm hệ thống quản lý; giai đoạn chờ có tần số dao động nhịp thấp xuất xứ từ bộ dao động nhịp cơ sở 32,768 và được điều khiển mặc định khi: . Bật nguồn thành công; . Có cuộc gọi đến; . Tác động bàn phím để thay đổi hoặc khai thác 1 chức năng nào đó, kể cả chức năng báo thức, nhật ký …; . Khi cắm xạc và bộ xạc hoạt động tốt… -6- Cuối cùng là vào chân V14-D250 cung ứng cho bộ dò sai xác định định mức thúc dòng sạc tùy theo mức báo về vào chân T1-D250. Đường nguồn này chỉ hữu dụng khi mức BSI vào chân A2 còn ít nhất ~1VDC Tuyến thứ Tư cấp vào các IC nguồn thụ động. Đương nhiên hệ thống nguồn này đặt dưới sự điều hành thông qua các BUS điều khiển đưa vào A12-B12-C12-D250 và các BUS khai thác tiện ích vào các chân A14-B15-C14 do CPU đưa vào. Cụ thể như sau:

-1- Qua L400 lọc nhiễu, vào chân 1-D400 cung cấp cho dao động tạo nguồn 14,5VDC LED màn hình. Nguồn này chỉ có khi đã khởi động xong; tác động vào phím chức năng, có cuộc gọi đến, và nội dung cài đặt như báo thức , hẹn giờ, lịch là viêc→Khi đó tại cực B-V401 có điện áp ra >2,5Vôn từ T2-D250 cấp. -2-Về N233 ổn ra 2,5 vôn cung cấp cho khối chọn bật trong TFT màn hình, xung điều khiển mức bật xuất xứ từ nhịp hệ thống trong D370 và ra tại chân R13. Nếu nguồn này mất, không có hình ảnh trên màn hình. -3- Vào chân 1-N400 tạo điện áp cấp cho LED bàn phím, lệnh bật thông IC này ra tại P13-D250- điều kiện làm việc cũng giống như bật LED màn hình. Nếu mất điện áp này đèn LED bàn phím không sáng. -4- Qua tecmito Z230 để: A-Vào B3-N230 ổn thành 1.35vôn tại C1cấp cho các bộ dẫn thông (giống như các công tắc) điều hợp tín hiệu trong DSP. Nếu mất điện áp này, hệ thống chuyển mạch tín hiệu RX-TX giữa DSP và IF không hoạt động, không kết nối được mặc dù vẫn có sóng và mạng. B-Vào A3-N230 ổn thành 2,5vôn, ra tại A1 cấp về lõi 2-D370: -a- Vào C21, AA9 cấp cho bộ nhớ chứa nội dung các lệnh tác vụ từ phân mềm lõi nền chuyển giao sang. -b- Vào A2-R4 cấp cho các chíp nhớ chuyển thông dữ liệu từ ngăn dữ liệu lên. -c- Vào E21-J21-K20 cấp cho các chíp xử lý lệnh giống như các CPU đơn kênh. -d- Vào AA13-AA19-U21 cấp cho khối LOGIC bật tắt việc dẫn thông tín hiệu TX-RX trong DSP. -e- Vào N21 cấp cho chíp động bộ xung nhịp hoạt động theo cơ chế mạch vòng khóa. -f- Vào Y2-AA2 cung cấp cho bộ nhớ động (DDRAM) điều tiết dữ liệu phù hợp cấu hình hệ thống . Trên các đường nguồn này người ta đều đánh số thứ tự để tiện cho việc khảo sát hỏng hóc. L230 là cuộn cảm báo về duy trì các chuyển mạch trong N230. Lệnh bật thông N230 ra tại chân A4-D250 vào chân D2-N230. Trong chế độ chờ, lệnh này bật tắt theo quy ước để sẵn sàng tiếp nhận cuộc gọi đến. Xung nhịp điều tiết ra tại chân A6-D250 vào chân D1-N230 có tác dụng điều tiết nguồn tùy theo tác vụ của hệ thống đang làm việc gì, ở khối vào hay ra. Trong chế độ chờ, xung nhịp này được bật tắt theo quy ước để tiếp nhận cuộc gọi đến. -5- Vào A1-N310 ổn thành 1,8 vôn ra tại chân B1 cấp nguồn cho thẻ nhớ. Mất nguồn này, thẻ nhớ không hoạt động. Đặc điểm chung tuyến nguồn này trong máy NOKIA chính hãng là: - Tuyến mặc định luôn được duy trì ngay sau khi bật nguồn thành công với mức cấp không đổi. Trong chế độ chờ, nó được kiểm soát bằng nhịp thấp do CPU điều tiết từ xung nhịp cơ sở cho phù hợp với các chức năng thời gian biểu. Trong chế độ làm việc, nó được kiểm soát bằng xung nhịp cao, do CPU điều tiết từ bộ dao động nhịp chủ và được đồng bộ theo quy ước nội dung phần mềm hệ thống cho phù hợp với việc chống sụt áp - IC nguồn thụ động chỉ cấp nguồn ra khi và chỉ khi dữ liệu của SIM được soạn thảo thành công và tùy thuộc tác vụ khai thác. Có nghĩa đây là tuyến nguồn không thường xuyên, luôn bật tắt theo quy ước định sẵn và bởi vậy kèm theo mỗi đơn nguyên nguồn bao giờ cũng có ít nhất 1 đường lệnh kiểm soát. Và mọi sự cố của nó đều liên quan mật thiết với phần mềm hệ thống. Nói chung, hệ thống nguồn trong ĐTDĐ được quản lý cùng lúc trên nhiều đơn nguyên thuật toán mềm , hình thức thể hiện trên sơ đồ không theo thứ tự nên việc mô tả chi tiết cơ chế nguồn nào có trước, nguồn nào có sau rất dễ gây nhầm lẫn, nhất là với các bạn mới làm nghề, bởi vậy người thợ thường phải dùng thủ thuật để kiểm tra, và đây cũng là một việc không thể thực hiện được trên mạng, mặc dù chúng tôi đã thử nghiệm nhiều lần- mong các bạn thông cảm.

SƠ ĐỒ KHỐI CỦA MÁY THU VÀ PHÁT SÓNG
A. Sơ đồ máy thu b. Sơ đồ máy phát (ngược lại sơ đồ máy thu) Từ Mic  KĐ tín hiệu âm tần  Tín hiệu âm tần  Bộ trộn  KĐ tín hiệu trung tần  Tín hiệu trung tần  Bộ trộn KĐ tín hiệu cao tần  Tín hiệu cao tần  Ăngten

CÁC LINH KIỆN ĐIỆN TỬ CƠ BẢN TRONG ĐTDĐ
1. Điện trở : Là một linh kiện có khả năng hạn chế được dòng điện chạy qua nó Ký hiệu : R ( ) Đơn vị :  Công dụng : Hạn chế và giảm thế Ví dụ : Trong điện thoại R có thể làm tăng giảm độ sáng tối của Led Cách kiểm tra : + Màu đen bóng + Muốn xác định chính xác của R phải đối chiều với lược đồ máy 2. Tụ điện (C): Gồm 2 miếng kim loại đạt song song nhau, ở giữa là 1 chất cách điện. Đơn vị đo F (Farad) Đặc tính: Chỉ cho dòng điện xoay chiều đi qua

Có 2 loại tụ điện: - Tụ không phân cực: Không phân biệt chiều lắp vào board - Tụ có phân cực: Phải lắp đúng cực đã được định sẵn Cách nhận biết: Những con nhỏ li ti màu vàng hoặc màu xám xanh Công dụng: Tụ dùng để giữ điện hoặc khi có dòng điện chạy qua thì nó sẽ lọc nguồn. Tụ có thể kiểm tra trên board mạch chạm hay không chạm. Không xác định được giá trị 3. Cuộn dây (L): Đơn vị đo H ( Henry) Cấu tạo: 1 cuộn dây dẫn quấn quanh lõi Đặc tính: - Đối với dòng điện 1 chiều thì cuộn dây không cản điện - Đối với dòng điện xoay chiều nếu có tần số càng cao thì cuộn dây cản điện càng nhiều Cách kiểm tra: Cuộn dây như dây dẫn nên khi dùng VOM chỉnh thang đo điện trở (). Nếu cuộn dây không đứt  kết quả Ohm nhỏ Nếu cuộn dây đứt  kết quả Ohm lớn 4. Chất bán dẫn: 2 loại P và N Cấu tạo: khi pha vào nguyên chất một ít chất (là chất cách điện hay dẫn điện) thì ta được 2 loại bán dẫn khác nhau: - Bán dẫn dương (Loại P) - Bán dẫn âm (Loại N) Công dụng: Hai loại bán dẫn này dùng để chế tạo linh kiện điện tử và được gọi là linh kiện bán dẫn. 5. DIODE : Gồm 1 miếng bán dẫn loại P tiếp xúc 1 miếng bán dẫn loại N Ký hiệu: Công dụng: TảI dòng điện tử (+) sang (-) không cho phép đi ngược lạI Diode phát quang (Led): Là diode khi có dòng điện chạy qua nó sẽ phát sang. 6. TRANSISTOR: Gồm 3 miếng bán dẫn loại P và N ghép xen kẽ nhau Ký hiệu Transistor: V Để phân biệt ta chú ý đến mũi tên cực phát (E). Mũi tên chỉ vào là PNP; mũi tên chỉ vào là PNP; mũi tên chỉ ra là NPN Công dụng: - Khuyếch đại tín hiệu, làm cho tín hiệu lớn lên - Khóa đóng mở (xem Schematic 8310) 7. Cách đọc chân IC các loại” a. Dạng IC “chân rệp” Căn cứ từ dấu chấm đọc ngược chiều kim đồng hồ b. Dạng IC “chân gián” 8. Đồng hồ đo (VOM) a. Thường đo ohm () X1: giá trị nhỏ nhất (X1 X10k) Giá trị qui đổi 1000  = 1k 1000k  = 1 Giá trị cần đo R = giá trị đo được X giá trị thay đổi Để X1 (VOM) lên 10  = 10  Để X10 (VOM) lên 10  = 10 x 10 = 10k  Để X100(VOM) lên 10  = 10 x 100 = 1000k Chú ý: - Khi đo để bất ký ở thang đo X1, X10, X100 ta đều chỉnh về 0 - Khi đo giá trị của linh kiện ta nên tính trong khoảng từ 2  30 (vì đó là thang đo được chia đều và dễ tính giá trị) b. Thang đo thông mạch: Có 2 cách đo: - để thang đo tại Buzz đồng hồ phát ra tiếng kêu là tốt - để thang đo tại X1 khi đo kim đồng gồ sẽ lên bằng vị trí lúc chập 2 que đo với nhau là chính xác nhất. c. Thang đo DCV Đối với ĐTDĐ thang đo V: thường là chỉnh thang đo về 10V Dùng để đo áp của điện thoại, kích hoạt pin, đo pin… d. Thang đo ACV: Dùng để đo điện xoay chiều 9. Bộ nguồn cấp: Dùng để test (kiểm tra) nguồn, test sóng, kích pin,…

20 kinh nghiệm nhỏ của dân KT di động!!!
1. Tìm hiểu máy hư qua chủ máy Khi nhận sửa một máy hỏng, việc trước tiên bạn hãy khéo léo hỏi chủ máy để nhanh chóng xác định tình trạng của máy thông qua các câu hỏi như: Máy hư lúc nào? Nó có dấu hiệu gì khác thường? Có cho ai bung máy chưa? Máy có bị vô nước kg? Máy có bị rớt lần nào chưa? Máy có hao pin kg? trước đó sóng có mạnh kg? Tiếng nghe có lớn kg?... càng biết nhiều thông tin từ người dùng máy, bạn sẽ càng nhanh chóng xác định hư hỏng. 2. Quan sát trực tiếp trên máy Trước hết, bạn nên tìm Pan bằng mắt (dùng kính Lup) để xem kỹ các bộ phận của máy. Khi cầm trên tay 1 máy hỏng, bạn hãy quan sát và phát hiện các dấu hiệu bất thường của máy. Các vị trí cần chú ý là các chỗ ghép vỏ máy, các tiếp điểm kết nối với Pin, với thẻ SIM có bị ghỉ sét hay kg? Màn hình có bị vết đen hay kg? Có vết nức trên vỏ máy hay kg? Máy có bị vào nước hay kg? Xem các IC có bị thay thế chưa? Có mất linh kiện gì kg? Bảng mạch in nhiều lớp có bị cong kg? Các phím đồng có bị ố, sét kg? Có vết nứt trên board mạch in hay kg? 3. Dùng phép đo điện trở Bạn hãy đo Ohm trên máy tốt để lấy mẫu chuẩn tại các điểm khả nghi, ghi lại kết quả đo để sau đó đối chiếu với kết quả đo trên máy hư. Nếu số đo nhỏ hơn kết quả chuẩn, có lẽ mạch đã bị chạm, rỉ, dính. Nếu số đo lớn hơn kết quả chuẩn, có lẽ đã có chổ đứt, hở trên mạch. 4. Dùng phép đo điện áp Đo điện áp cũng là 1 phương pháp phát rất quan trọng để khảo sát tính bình thường hay bất thường của mạch điện. Trước hết, bạn hãy kiểm tra mức điện áp của mạch nguồn nuôi. Nếu mất áp, nguyên do có thể do chạm tải, do mất lệnh mở nguồn, đứt nguồn, hay do IC đóng mở đường nguồn. Đo áp trên chân IC, nếu thấy mất áp, trước hết phải kiểm tra các linh kiện xung quanh. Nếu thấy các linh kiện này đều bình thường, IC này có thể hỏng. Khi máy đang có tín hiệu, phải dùng Volt kế AC đủ nhạy để kiểm tra biên độ tín hiệu. Chú ý: Mức phân cực DC của các tần thường ít ảnh hưởng đến nhau. Sự khác thường mức DC cho biết vùng có linh kiện hỏng. Mức AC luôn có tính định hướng, nó có điểm xuất phát, lần lượt qua các linh kiện, các điểm trên mạch rồi sau cùng sẽ đến tải. Mất tín hiệu thường do các linh kiện AC như tụ liên lạc bị hở mạch, cuộn cảm bị chạm hay bị đứt… 5. Dùng phép đo dòng điện Dòng điện là một đại lượng rất quan trọng, nó phản ánh trạng thái làm việc của mạch điện một cách chính xác. Khi cấp điện cho máy với bộ nguồn DC ngoài (thay cho Pin), trên hộp nguồn thường có điện kế đo dòng. Bạn hãy làm quen với các động thái của dòng điện trên máy đo dòng để biết các trạng thái khởi động của máy có bình thường hay kg. Nếu máy bình thường, khi nhấn nút mở máy, ban đầu dòng tăng vài chục mA, rồi đột nhiên tăng lên rất lớn (khoảng 200mA), lúc này máy đang cho phát sóng về các trạm để xin kết nối với mạng. Khi kết nối xong, máy sẽ trở về trạng thái chờ, vào mode WatchDog, khi đó dòng nuôi máy trở về vài chục mA và thỉnh thoảng nhích lên để quét phím. Một máy ăn dòng quá lớn, trên 500mA, dấu hiệu này cho biết máy đã có linh kiện bị chạm như các tụ lọc bị chạm hoặc rỉ nặng. Các IC công suất bị chạm sẽ ăn dòng rất lớn. Bạn có thể cho cách ly các mạch điện để xác định vùng có chạm. Khi tháo 1 đường mạch ra mà dòng trở về mức thấp, như vậy đã xác định được vùng có chạm. Một máy ăn dòng quá nhỏ hay không ăn dòng, dấu hiệu này cho biết trong máy có chổ bị hở mạch. Trong các sơ đồ mạch điện của nhà sản xuất, người ta thường có ghi dòng tiêu thụ chảy trong các nhánh để bạn có thể kiểm tra sự hoạt động của mạch điện này. 6. Dùng phép đo đối chứng Khi bạn có trong tay 1 máy tốt và 1 máy hỏng của cùng 1 model, lúc đó bạn có thể dùng phép đo đối chứng để nhanh chóng tìm ra chỗ hư. Bạn có thể dùng phương pháp đo Ohm, đo Volt DC, Volt AC, đo dòng, đo dạng sóng… để đối chứng kết qủa của 2 máy. Nếu kg có 2 máy giống nhau, bạn đối chứng theo dữ liệu đã có trên sơ đồ mạch của máy. Đây là 1 phương pháp phát hiện hỏng hóc rất hiệu quả. 7. Dùng phép thay thử Một trong các cách sửa rất hay được dùng đó là cho “dọn nhà”, tức thay thế ngay các linh kiện nghi hư. 1 IC dùng trong máy này có thể được dùng cho nhiều máy khác, do vậy, khi nghi hư, bạn hãy tìm nó trong các máy khác và lấy ra cho thay thử. Tuy nhiên, trước khi thay thử, bạn nên đo Ohm để đối chứng.với IC tốt bạn đang có. Nếu không thấy sự khác nhau, điều này cho thấy chưa chắc IC bạn vừa tháo ra bị hư. 8. Dùng phép dò độ nóng

Với các máy có linh kiện bị chạm, ăn dòng lớn. Bạn có thể dùng cách dò độ nóng để nhanh chóng xác định vùng bị hư hay tìm được linh kiện hư. Bạn hãy cho cấp điện vào mạch, chờ 1 lúc, sau đó tắt nguồn và dùng tay dò chỗ nóng. Nếu nóng trên IC nguồn, kiểm tra tải. Nếu nóng trên IC công suất, có thể IC đã bị chạm. Chú ý: Nếu cấp nguồn lâu sẽ hại cho các IC khác. Vì vậy, nên giảm áp nguồn để dòng vào máy khoảng 200mA. Ở mức dòng này, bạn có thể yên tâm cấp nguồn thời gian đủ lâu để phát hiện chổ nóng mà không làm hư thêm các chổ khác. 9. Dùng phép đè và nhấn Với các máy hư hỏng có dấu hiệu chập chờn, do có những chổ tiếp xúc xấu. Khi đó, đè và nhấn là 1 cách để phát hiện linh kiện có tiếp điểm hỏng và chỉ cần gia cố các chân hàn cho tốt. Chú ý: Phải chọn đúng thế nhấn để không làm gãy board, làm cho máy hư hại năng hơn 10. Dùng phép ngắn mạch Khi bạn hiểu rõ cấu trúc máy và cần sửa chữa hiện tượng mất tín hiệu. Bạn có thể dùng cách bắt cầu cho ngắn mạch để tín hiệu đi qua đường nối tắt đến các phần khác. Dùng cách này sẽ nhanh chóng tìm ra vùng hư. Bạn cũng có thể dùng dây để đưa nguồn điện đến cấp cho vùng bị mất nguồn. 11. Dùng phép hở mạch Với các máy có dấu hiệu bị chạm, ăn dòng lớn, dùng phương pháp hở mạch để xác định vùng có linh kiện bị chạm. Nếu nghi có chạm mạch ở phần công suất PA, hãy tháo điện trở đặt trên đường nguồn DC cho hở mạch. Nếu dòng nuôi trở lại bình thường là đã xác định được vùng có linh kiện bị chạm. Nếu nghi có chạm ở mạch điện trên nắp màn hình, hãy rút dây kết nối giữa board mạch chính và mạch điện màn hình ra, nếu dòng nuôi trở về bình thường thì đã tìm ra chỗ chạm. Nếu nghi có chạm ở thẻ SIM, hãy cho làm hở mạch đường nguồn cấp cho thẻ SIM, nếu dòng nuôi trở về mức bình thường là đã xác định được chỗ chạm. 12. Dùng phép làm sạch Các máy điện thoại di động thường mang đi nhiều nơi, sau 1 thời gian dài sử dụng, máy bị bụi hoặc bị vào nước khiến nhiều chổ trong máy bị ten, rỉ sét. Do đó, khi nhận máy hỏng, trước hết bạn hãy vệ sinh cho máy. Nếu có thể, bạn cho rửa board với máng siêu âm. Các chỗ dễ bị ten, rỉ là tiếp điểm đặt ở phần dưới của máy, tiếp điểm với thẻ SIM, với nguồn Pin, với ống nói, ống nghe… 13. Dùng máy hiện sóng Khi có máy hiện sóng, bạn nên làm quen với các dạng tín hiệu trong máy. Sửa bằng cách dò tìm các tín hiệu trên board là 1 phương pháp chính thống và rất được ưa dùng. Các dạng tín hiệu thường gặp như: Xung dữ liệu trên đường truyền, xung nhịp đồng bộ, tín hiệu âm thoại ở các ống nói/ ống nghe, tín hiệu xung nhịp chính 13Mhz, tín hiệu xung đồng hồ 32768Hz, tín hiệu dao động ngoại sai LO, tín hiệu RF, tín hiệu IF. 14. Dùng cách dò tín hiệu Bạn có thể tự lắp ráp 1 mạch điện khuếch đại hay mạch tạo dao động từ những linh kiện được lấy ra trong các máy cũ để làm thiết bị truy tìm tín hiệu trên board. Ví dụ, dùng mạch khuyếch đại, bạn có thể xác định được có tín hiệu âm thoại hay kg, với mạch tạo dao động, bạn có thể dùng nó để cấp vào mạch, sau đó kiểm tra xem nó có đi qua được các tầng trong máy hay kg. 15. Dùng phần mềm để sửa máy Máy điện thoại di động vốn là 1 máy tính nhỏ, nên ngoài các linh kiện chuyên dùng tạo ra phần cứng, nó còn là 1 thiết bị hoạt động dựa trên phần mềm trong các bộ nhớ như FlashROM, EEPROM. Có nhiều máy do việc cấp điện không ổn định hoặc do khò quá nóng… đôi khi không do gì cả cũng có thể làm xuất hiện lỗi trong phần mềm. Lúc đó, máy sẽ không mở được điện, không kết nối được với mạng, hoạt động chập chờn. Khi nghi máy hỏng phần mềm, bạn nên Flash lại máy. Nghĩa là cho cài đặt lại phần mêm hệ thống đặt trong bộ nhớ flashROM. Trường hợp bạn có dây kết nối đúng loại, kết nối được phone với máy tính. Bạn hãy cho kiểm tra phần mềm trước, trước khi quyến định tìm hư hỏng phần cứng. Đó là biện pháp quen thuộc gọi là “Mềm trước cứng sau” 16. Dùng phép gia cố các mối hàn Rất nhiều máy do rớt, hay sau 1 thời gian dùng quá cơ động, nhiều điểm hàn sẽ bị hở khiến cho máy chết. Với loại hỏng này chỉ cần liệu pháp gia cố là trả máy về trạng thái hoạt động bình thường. 17. Dùng dây Jump Máy di động cần rất nhiều đường nối mạch và có những đường nằm ở lớp trong. Nếu các đường mạch ở lớp trong bị đứt, bạn phải dùng dây để jump thay thế các đường mạch bị đứt. Dây jump phải là dây đồng rất nhỏ (có thể lấy từ cuộn cảm của relay), bên ngoài có lớp cách điện. Sau khi jump, bạn phải đè dây xuống và dùng lớp sơn cách điện cố định các dây nối này. 18. Dùng phép giả dây anten Khi sửa chữa các điện thoại di động bị sóng quá mạnh hay qua yếu, bạn có thể dùng 1 đoạn dây nhỏ dùng làm anten. Anten có thể được hiểu là 1 mạch tải cao tần, nó có liên quan đến hoạt động của khối cao tần RF. Nếu đưa anten đúng vào khối RF, bạn có thể làm tăng mức sóng cho các máy yếu. Trường hợp máy bắt sóng quá mạnh dây anten thêm vào

cũng được dùng để làm giảm mức sóng. Anten đơn giản là 1 dây đồng dài khoảng 1cm, đặt đúng chỗ sẽ cải thiện được khả năng thu phát của máy. 19. Dùng phép điều chỉnh Trong điện thoại có rất nhiều khối điều chỉnh như: APC (Automatic Power Control), điều chỉnh mức công suất phát ở khối khuếch đại PA (RF Power Amplifier). Bạn có thể thay đổi trị số linh kiện các mạch này như: tăng giảm giá trị điện trở để thay đổi mức điện áp VAPC qua đó chỉnh lại công suất làm việc của khối khuếch đại PA. AFC (Automatic Frequency Control), điều chỉnh độ lệch tần cho tín hiệu 13Mhz. Bạn có thể thay đổi trị số linh kiện ở mạch này như tăng giảm các điện trở, các tụ ở mạch lọc thông thấp để thay đổi mức điện áp VAPC, qua đó, chỉnh lại mức độ ổn định tần số cho tín hiệu 13Mhz. Ở tầng khuếch đại LNA cũng có mạch điều chỉnh ổn định biên độ. Ở tầng khuếch đại đệm trước khi vào tầng giải mã tách sóng tín hiệu I/Q cũng có mạch hiệu chỉnh độ lợi. Bạn cũng có thể thay đổi trị số linh kiện để có được điều kiện làm việc tốt hơn cho máy.

20. Dùng phép phân tích để sửa máy
Đây là phương pháp tối ưu nhất. Để nắm được phương pháp này, trước hết bạn hãy quan sát để khoanh vùng, sau đó tìm sơ đồ mạch điện để xác định sơ đồ mạch cho từng vùng. Từ sơ đồ, bạn sẽ phân tích nguyên lý hoạt động của mạch điện, sau đó đo đạt để tìm chỗ hỏng. Làm được điều này, đòi hỏi người sửa phải vững kiến thức mạch điện tử, khi đó bạn sẽ không ngại đối diện với những hỏng hóc của bất kì đời máy nào. Nếu không, bạn chỉ biết 3 cách:” 1 - Thổi nóng gia cố chân hàn, 2- vệ sinh board mạch, 3- dọn nhà (hay thay thế các linh kiện nghi ngờ là hư). Keo gắn và phương pháp cạy keo IC gửi bởi ..::Didongclub::.. vào ngày Thứ 3 17 Tháng 6, 2008 7:40 pm Keo gắn và phương pháp cạy keo IC Vì sao nhà sản xuất phải đổ keo : - Một là tạo thành một màn chắn đề phòng các tác động điện trường do người sửa chữa vô ý chạm vào dễ gây “sốc” tĩnh điện làm hỏng MOSFET tập trung chủ yếu trong CPU và FLASH… - Hai là để chống hơi nước chui vào ngưng đọng trong gầm IC làm ngắn mạch dẫn gây rối loạn tín hiệu xoay chiều, làm ngắn mạch điện một chiều- nếu nhẹ thì máy bị treo, nặng thì bị chập, gây nguy hiểm cho các linh kiện lân cận. - Ba là tạo thành chất liên kết gắn chặt linh kiện với main giúp chúng không rung khi bị chấn động mạnh, nhờ vậy mà các mối hàn không bị bong gây sự cố hệ thống mạch. Tất nhiên đây chỉ là tác dụng thứ yếu. Như vậy người ta chỉ đổ keo phòng vệ cho những IC hoặc vùng nhạy cảm với trường tĩnh điện dễ gây rối loạn hệ thống , mà trong ĐTDĐ thì đầu mối của hệ thống điều khiển chính là CPU, bởi vậy người ta chỉ cần bảo an cho khu vực này là đủ an toàn. Nhược điểm của keo là dẫn nhiệt rất kém khi đã bão hòa, độ thẩm thấu cao nên bám dính chặt, tiết diện các mạch in lại nhỏ, lực bám bề mặt thấp nên keo dễ trở thành tác nhân làm đứt mạch, thậm chí nhiệt độ môi trường thay đổi làm keo dãn nở đột ngột cũng đủ lực làm các mạch in này bị đứt. Tùy hãng sản xuất người ta sử dụng các loại keo khác nhau và chúng đều là những hợp chất chống oxi hoá cao, thường là epoxi được hoá hợp bằng công thức ức chế bão hoà. Keo này khi còn mềm dẫn nhiệt tốt hơn, nhưng máy đã cũ thì nó vẫn bị “lão hoá”, trở nên “cứng” và bởi vậy chúng càng lì lợm hơn với nhiệt - khác với NOKIA, ngay từ khi xuất xưởng keo đã được bão hòa “cứng”. Riêng keo gắn trên MOTOROLA có gốc là Polime giống như keo “502” bán trên thị trường, có vẻ “dắn” nhưng lại dễ cạy hơn các loại trên . Trước khi quyết định “cạy keo” nhất thiết ta phải thám sát “độ” cứng của keo, nếu chúng đã cứng thì xác xuất rủi do rất cao:Ta dùng kim ấn nhẹ trên lớp keo, nếu thấy kim xuyên được vào trong keo thì keo còn mềm; ngược lại thì keo đã bị “già”. Ta phải thật cẩn thận vì đang phải đối mặt với rủi do cao. Hơn nữa hầu hết keo đổ trên điện thoại đều có cấu trúc mạng phân tử có tính hiệu ứng nhiệt - nhiệt tác dụng vào keo càng tăng; thời gian nhiệt tác dụng càng lâu- sau khi nguội nó càng cứng và càng “lì”- nếu chúng ta xử trí không đúng và nhanh trong lần đầu thì càng về sau càng khó khăn hơn. Vì sao ta phải “cạy” keo: - Một, keo là loại vật liệu tạo ra môi trường dẫn nhiệt chậm, khối lượng càng lớn dẫn nhiệt càng hạn chế, vậy phải làm cho môi trường này thay đổi để dẫn nhiệt tốt hơn bằng cách phải cạy bớt chúng ra để giảm bớt khối lượng, tạo điều kiện cho nhiệt tác động nhanh vào mối hàn trong gầm IC. Tránh được nguy cơ các linh kiện trong IC phải chịu lưu nhiệt lâu hơn làm cho cấu trúc bên trong IC bị”om”, sinh ra dò rỉ, thậm chí bị chập - Hai, do keo là chất bám dính chặt, nên phải phá vỡ cấu trúc của chúng để khi nhấc IC ra thì keo không còn đủ “lực” kéo đứt mạch in. Thực chất việc cạy keo là ta loại bớt khối lượng keo để tăng nhanh thời gian dẫn nhiệt vào chân IC, tránh nguy cơ IC bị chết và đứt mạch in.

Quá trình cạy keo phải diễn ra làm 2 bước: Bước1 là dùng mỏ hàn để “dọn” keo xung quanh IC : Đây là bước mở đầu quan trọng nếu bạn không chịu khó rèn luyện kỹ năng thì thường hay làm đứt mạch in ngay trong bước 1 này. Kỹ năng đó là phải định được lực tác động lên lớp keo: Nếu “dũi” quá mạnh mũi mỏ hàn sẽ “bập” vào mạch in làm đứt chúng; nếu quá nhẹ không đủ lực cho mũi mỏ hàn chui vào bên trong lớp keo, kết quả là không những không cạy được keo lên mà nhiệt mỏ hàn còn “tôi” cho keo cứng thêm. Để hạn chế rủi ro trên, trước hết ta phải chắc chắn mỏ hàn “dũi” keo đã được sửa “tù” đầu và tuyệt đối không có cạnh sắc. Nhiệt độ để mỏ hàn có thể làm “vỡ” keo thường phải cao hơn mức hàn bình thường. Trước khi thao tác nhất thiết phải gá main thật chắc chắn , chọn góc nghiêng mỏ hàn thích hợp, hành động phải chậm dãi và tự tin, đường “dũi” phải bám, tránh trơn trượt rất nguy hiểm. Dũi bỏ tuần tự từ ngoài vào trong từng “vòng” một cho keo “trồi” lên từng lớp mỏng, đủ để quan sát rõ mạch in thì dừng lại vệ sinh sạch vết cạy, quá trình cạy không được nóng vội tham “bóc” mảng lớn. Khi sát “gờ” IC thì dùng kim tạo rãnh hướng nhiệt (đã hướng dẫn trên lớp) và chuyển sang bước 2 là lấy IC ra khỏi main: Bạn dùng mỏ khò giảm nhiệt và gió tới mức đủ làm nóng già main ( thường tại điểm tiếp cận có nhiệt độ ~ 100 độ C ) vát đầu khò nghiêng xung quanh cạnh IC- Đây là giai đoạn khò ủ nhiệt, bạn không được khò trực tiếp lên “mặt” IC, cứ đảo đều khò như vậy cho đến khi cảm thấy IC nóng già thì bạn tăng nhiệt và gió lên bằng nhiệt độ khò thông dụng tiếp tục khò xung quanh IC đến khi cảm thấy keo “sủi” lên, đảo nhanh mỏ khò và khò tròn đều trên mặt – từ từ dùng “panh” nghiêng IC và lùa nhanh nhiệt vào gầm rồi lại từ từ “gắp” IC ra ngoài. Mọi sự thành bại là nằm trong thời điểm “từ từ” này, mọi sự nóng vội và thiếu tinh tế đều có thể làm đứt hàng loạt chân IC và mạch in dưới gầm, tất nhiên việc câu lại nó đều tiềm ẩn một loạt rủi ro kế tiếp và thường được kết thúc bằng hiện tượng không bật lên nguồn. Để tạo trạng thái thoải mái khi làm việc là một thủ pháp tâm lý mà bất cứ người thợ kỹ thuật nào cũng phải rèn luyện. Trước hết ta phải xác định được loại IC phải xử lý có bán sẵn trên thị trường không, tiếp đó ta phải đàm phán với khách hàng cùng chia sẻ rủi ro và đặc biệt là họ cảm nhận và thông cảm được với năng lực kỹ thuật của ta. Nếu mọi chuyên suông sẻ thì tự nó sẽ tạo cho ta nội tâm thoải mái, nếu ngược lại- phải dứt khoát từ chối sửa chữa. Hám lợi và sĩ diện trong trường hợp này thì chỉ làm tổn thương đến uy tín và kinh tế của chính ta. Cụ thể trong trường hợp trên, nếu đã mua được IC thì ta yên tâm và nếu có khò quá nhiệt, ta vẫn sẵn có IC để thay thế. Vấn đề còn lại là chọn giải pháp cạy, ở đây nên chọn giải pháp bảo toàn main, có nghĩa là khò thật nóng IC, đến mức keo hoá lỏng để dễ nhấc IC ra, tránh được tình trạng thiếc và keo bị”sống” kéo cả mạch in lên. Tuyệt đối tránh tâm lý vừa cạy vừa sợ. Vậy ta sợ những gì: - Sợ quá nhiệt và khò lâu, khò nhiều lần làm IC bị chết. - Sợ keo còn sống, gắp IC ra sẽ làm đứt mạch in. - Sợ nếu IC chết liệu có mà mua không. - Sợ nếu mạch in đứt thì có câu được không.. Và vân vân những cái sợ viển vông khác ám ảnh người thợ. Vậy thì ta phải đẩy tất cả các cái sợ này ra khỏi “tư duy” . Kinh nghiệm của tôi là: Ta càng sợ thì tay chân càng lóng ngóng càng gặp rủi ro cao-và phải rèn luyên thói quen “Sợ làm mắc nợ”- Muốn vậy chỉ có con đường duy nhất đúng là không ngừng rèn luyện kỹ năng để kiểm soát tốt hành vi bằng cảm nhận đúng. Và bởi vậy cách cạy keo an toàn nhất là không ngừng luyện bàn tay cho dẻo, luyện tư duy bền bỉ để có những thao tác chuẩn xác kịp thời khi lấy IC ra.


				
DOCUMENT INFO
Shared By:
Categories:
Tags:
Stats:
views:1011
posted:10/12/2008
language:Vietnamese
pages:18