KHÔI
TINH
魁星
魁星,又名魁星爺、大魁夫子、大魁星君,為 讀書士子的守護神。 魁星為北斗星的「璇璣杓」,即是北斗七星的 第一至第四顆星,這四星為魁,其余三星為杓。魁 星的形狀,完全是根據字形而來的,一個「鬼」, 踢著一個「斗」。 顧炎武《日知錄》里說「今人所奉魁星,不知 始于何年。以奎為文章之府,故立廟祀之,乃不能 像奎,而改奎為魁,又不能像魁,而之字形,為鬼 舉足而起其斗,不知奎為北方玄武七宿之一。」可 知明代已很流行。顧氏并說魁星實為「奎星」,因 為奎是「文章之府」。
古時候,人們興建了不少的魁星樓、魁星閣之 類的建筑,許多人對這「魁星」的來路不甚了解, 但一提起「五魁首」,則是人人皆聞,這是喝酒划 拳時常用的酒令。這「五魁首」就與「魁星」 有 關。 「五魁」,即「五經魁」、「五經魁首」。明 代以五經即詩、書、易、禮、春秋取士,每經所取 第一名叫「經魁」。「魁」為「首」意。鄉試中, 每科前五名必須分別是某一經的經魁,故稱「五經 魁」,簡稱「五魁」。而這「魁」字,則源于古人 的奎星崇拜。 奎星為二十八宿之一,是西方的白虎七宿的頭 一宿,共包括十六顆星,奎星被古人附會為主管文 運之神。所謂「奎主文章」。說它屈曲相鈞,似文 字之書。因「魁」與「奎」同音,并有「首」意, 所以代替了「奎」字,出現了「經魁」、「五魁」
等名目。古代,狀元又稱「魁甲」 ,解元又稱「魁 解」。 「魁」字后又被一引起人望文生義,加以曲 解。說什么「鬼搶斗」、一鬼之腳右圍如踢北斗, 從而魁星被形象化──其實就是鬼化。它被描繪為一 赤發藍面惡鬼,立于鰲頭上。一腳向后蹺起如大變 鉤,一手捧斗,另一手執筆,表示在用筆點定中試 者的名字,這就是「魁星點斗,獨占鰲頭」。這幅 尊容被讀書人視為神明,并以為高中之兆。 「獨占鰲頭」,是因皇宮大殿台階正中石板 上,雕有龍與鰲(大龜)。唐宋時,考中的進士要 站在台階下迎榜,為首的狀元則榮幸地站在大龜腦 袋上,故曰「獨占鰲頭」。學而優則仕,是封建時 代的金科玉律。魁星掌管著文人們的榮辱成敗,自 然非同小可。盡管它鬼里鬼氣,卻極受讀書人崇 拜,有些人在考試時,在座右貼上魁星像。有的還
在懷里揣上泥塑小魁星,以求神明保佑,文運亨 通。 古代讀書人,雖自稱為孔子的信徒,同時卻也 崇拜文昌等神。這種神一共可以湊成五位,五文昌 是指文昌帝君、文衡帝君(關公)孚佑帝君(呂洞 賓)、魁星和朱衣五位。自古以來,稱狀元及第為 「大魁天下」,因此,讀書士子都奉祀 魁星,冀求 科試及第的榮譽。古時習俗相沿,七夕晚上,讀書 士子置酒歡飲,稱為「魁星宴」。這一天據說是魁 星的生日。有所謂「魁星會」,由塾師領導弟子向 魁星設祭行禮,而造型看起來跳跳蹦蹦的魁星,也 就被稱為「魁星太子」了。祭拜魁星,據說還要以 一個狗頭做為祭品,因此就有「屬狗祭魁成底事」 的詩句。 根據民間的傳說,魁星爺在生前奇醜無比,不 但生了一張滿臉斑點的麻子臉,也是個跛腳的人, 當時有人作詩來取笑他:
“不揚何用飾鉛華, 縱使鉛華也莫遮; 娶得麻姑成兩美, 比來蜂室果無差。 鬚眉以外源留爪, 口算之旁雁踏沙; 莫是簷前貪午睡, 風吹額上落梅花。” *** “相君玉趾最離奇, 一步高來一步低; 款款行時身欲舞, 飄飄踱處足如囗。 只緣世路皆傾險,
累得芳蹤畫側欹; 莫笑腰枝常半折, 臨風搖曳亦多姿。”
雖然魁星爺奇醜無比,但他人醜志不窮,發奪 用功之下,居然高中科舉。皇帝當面殿試時,曾問 他的臉上為何生有許多斑點?答曰:「麻面滿天 星。」再問腳為何跛時,復答曰:「獨腳跳龍 門。」皇帝見其對答如流,就錄取他了。 另有傳說,魁星爺在生前雖然滿腹學問, 可是逢考必敗,於是悲憤得投河自盡,想不到被鰲 魚救起,昇上天而成了魁星。 古代時科舉放榜形式,乃是拆一名、唱一名和 填一名。方法是從第六名倒回來揭曉,一直填到最 後一名,再重頭開始宣佈前五名的高中者,這前五 名就叫作「五魁」,第一名的狀元叫「魁首」。
可見魁星與考試的關係是很密切的。古人傳說 侍奉魁星爺可以保佑書讀的好,又說可以高中狀 元。因此古代的讀書人大多以魁星作為守護神。不 少學子在自己的宗室廳堂里供奉魁星爺的塑像或畫 像,除了保佑自己的考運享通之外,也可以向人誇 耀自家是一個書香門第。 在民間的魁星塑像,右腳踩鰲頭,左腳跛起踢 星斗,右手握筆,左手執星斗,全身呈現扭曲的形 狀
KHÔI
TINH
*Khôi Tinh còn gọi là Khôi Tinh Gia, Đại Khôi Phu Tử, Đại Khôi Tinh Quân, là vị thần Thủ Hộ của học trò và người đi thi. Khôi Tinh là “mốc của kính thiên văn” (dựa vào mốc để phân định các sao khác) của chòm sao Bắc Đẩu. Từ sao thứ nhất đến sao thứ tư , gọi là “Khôi”. Ba sao còn lại gọi là “Thược” (cái chuôi, cái cán gáo). Hình trạng của Khôi 魁 gồm “một Quỉ 鬼 mang một cái Đẩu 斗(Đấu)”. *Cố Viêm Vũ trong quyển “Nhật Tri Lục”nói rằng :- “Người nay thờ phụng Khôi Tinh, nhưng biết khởi thủy của nó. Lúc đầu, người ta lấy “Khuê” để làm kho văn chương, nên lập miếu thờ (Khuê). Nhưng không thể diễn tả được hình
tượng của Khuê, nên phải sửa đổi lại thành Khôi. Mà Khôi thì cũng khó hình dung, nên theo “hình chữ” của nó diễn tả thành “thằng quỉ ôm cái đấu”. Như vậy đã mất đi cái nghĩa đúng của Khuê là một sao của bảy sao Huyền Vũ phương Bắc. Ý nầy được lưu hành rộng rãi vào thời Minh. Vậy nói Khôi Tinh thực ra là muốn nói Khuê Tinh, bởi vì Khuê mới thật là “kho chứa văn chương” vậy. *Thời xa xưa, người ta đã xây dựng rất nhiều “Khôi Tinh Lâu” (lầu văn), “Khôi Tinh Các” (gác văn). Nhiều người không nắm được nguồn gốc cảu Khôi Tinh, nên bày ra cái gọi là “Ngũ Khôi Thủ” (năm đề mục đầu), danh từ nầy dễ hiểu và phổ biến nhiều trong giới uống rượu, thường dùng nó làm “Tửu Lệnh” (thai đố vui để uống rượu). Ngũ Khôi Thủ có liên quan đến Khôi Tinh là vậy. *Ngũ Khôi là nói gọn của Ngũ Kinh Khôi hay Ngũ Kinh Khôi Thủ. Đời Minh cho Ngũ Kinh là :- các kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu, làm nền tảng cho việc học tập. Mỗi kinh như vậy, có quyển đầu gọi là “kinh khôi”. Từ đó “Khôi” có nghĩa là “đứng đầu / trước tiên”. Ngày trước, trong kỳ thi hương, lấy năm người đứng đầu xưng là “ngũ kinh khôi” hay nói gọn “ngũ khôi”. *Sao Khuê là một sao trong nhị thập bát tú, đứng đầu của chòm sao Bạch Hổ phương Tây. Sao Khuê được người xưa cho là thần chủ quản về văn chương, văn học. Nhân vì Khuê và Khôi đồng âm (âm của Trung Hoa) và cùng có nghĩa “đứng đầu” nên lần lần, từ Khôi được sử dụng nhiều hơn. Ví dụ, thời xưa gọi Trạng Nguyên là “Khôi Giáp”, gọi giải nguyên là “Khôi Giải”. *Về sau, người ta chỉ còn biết nhìn “hình chữ” mà đoán nghĩa. Từ hình dạng “quỉ ôm đấu” mà diễn giải đủ thứ. Cuối cùng sinh ra thành ngữ “Khôi tinh điểm đẩu, độc chiếm ngao đầu” (văn tài lổi lạc, xếp vào hạng nhất). Từ đó, giới đọc sách (sĩ tử, quan lại) tôn thờ Khôi Tinh làm thần minh. *Thành ngữ “độc chiếm ngao đầu” xuất phát là do trong hoàng cung, ở đại điện có một tấm đá lớn làm nền, trên có chạm hình rồng và con ngao (một loại rùa lớn). Thời Đường Tống, người thi đậu Tiến Sĩ đứng dưới thềm mà nhận bảng, người đầu gọi là Trạng Nguyên được vinh hạnh cho đứng chỗ “đầu con ngao”, do đó mới có thành ngữ “độc chiếm ngao đầu” như đã nói. *Xã hội xưa, tầng lớp “Sĩ” được xếp đứng đầu trong xã hội. Muốn thành “Sĩ” thì phải học cho giỏi, thi cho đậu mới được bổ làm quan, tức thành “Sĩ”. Đó là quan niệm được xem là “khuôn vàng thước ngọc” củ xã hội cũ.
Như vậy, Khôi Tinh chiếm giữ vị trí độc tôn trong lòng mọi “người đọc sách”, là tiêu biểu cho công danh sự nghiệp tương lai của họ. Cho nên, học trò ngày xưa đi thi phải treo hình tượng Khôi Tinh bên cạnh chỗ ngồi, thậm chí có người mang trong túi áo hình tượng thu nhỏ của Khôi Tinh, để được phù hộ độ trì, đạt kết quả tốt trong học tập. *Học trò ngày xưa được gọi là “đệ tử của Khổng Mạnh” và thờ phụng Thần Văn Xương. Văn Xương lại có đến năm vị , gọi là “Ngũ Văn Xương” :- Văn Xương Đế Quân, Văn Hành Đế Quân (Quan Công), Phù Hữu Đế Quân (Lữ Đồng Tân), Khôi Tinh và Châu , Y (Châu Công, Y Doãn). Từ xưa, người thi đậu Trạng Nguyên được xưng là “đại khôi thiên hạ” (đầu lớn của thiên hạ). Tất cả học trò đều phải thờ Khôi Tinh để cầu ban cho may mắn. Buổi chiều ngày mùng bảy tháng bảy (thất tịch), học trò tổ chức buổi tiệc liên hoan gọi là “Khôi Tinh Yến” (tiệc sao Khôi) , còn gọi là “sinh nhật của Khôi Tinh”. Trong buổi lễ “Khôi Tinh Hội”, ông thầy hướng dẫn cho học trò làm lễ tế bái Khôi Tinh. Họ rất khéo tay tạo ra một hình tượng “Khôi Tinh biết nhảy nhót”, gọi là “Thái Tử Khôi Tinh”. Điểm đặc biệt nhất trong lễ cúng nầy, là phải có một cái “Đầu chó” làm phẩm vật chính. Do đó mới có câu thơ châm biếm “Chúc cẩu tế Khôi thành để sự ?” (đem chó tế Khôi là việc chi ?). *Theo truyền thuyết, Khôi Tinh Gia lúc sinh tiền là một người có hình tướng xấu xí không ai sánh nổi :- hai má mọc đầy nốt ruồi nên gọi là “gò má hạt mè”, lại một chân bị què, phải đi khập khiễng, nên đương thời bị người làm thơ châm biếm như sau :“Bất dương hà dụng sức diên hoa , Túng sử diên hoa dã mạc già ; Thú đắc ma cô thành lưỡng mỹ , Tỉ lai phong thất quả vô soa . Tu mi dĩ ngoại nguyên lưu trảo , Khẩu toán chi bàng nhạn đạp sa ; Mạc thị thiềm tiền tham ngọ thuỵ , Phong xuy ngạch thượng lạc mai hoa .”
*Dịch:“Đâu cần son phấn điểm trang chi Đã sẵn “mặt hoa” khỏi tốn gì Rỗ mặt rán tìm cô xứng lứa, Tổ ong khỏi kiếm mấy ai bì Tu mi vượt trội : chân in bước Nhân thế nghị bàn : dấu nhạn đi Chẳng phải trước thềm say giấc điệp Hoa mai trên trán rụng vừa khi … *Và bài thứ hai :“ Tướng quân ngọc chỉ tối li kì , Nhất bộ cao lai nhất bộ đê ; Khoản khoản hành thời thân dục vũ , Phiêu phiêu độ xứ khẩu như vi . Chỉ duyên thế lộ giai khuynh hiểm , Luỵ đắc phương tung hoạ trắc y ; Mạc tiếu yêu chi thường bán chiết , Lâm phong dao duệ diệc đa ty . *Dịch:Khen anh gót ngọc quả li kì Bước thấp bước cao , đẹp hết chê Chầm chậm khắp nơi, thân tợ múa,
Tung tăng mọi chốn, bộ như phi Sợ e khó tránh đường đời hiểm Muốn ổn nên tìm dáng dấp nguy Chớ bảo thân ta như gãy khúc Gió tung lả lướt , dám khinh khi ! *Có thể nói Khôi Tinh rất xấu trai, có thể nói là “xấu hết chê !”. Nhưng vì thế, ông ta rán học dữ dội, chẳng kể ngày đêm, không màng vất vả. Đến khoa thi, lại đậu đầu. Nhà vua theo lệ cho vời ông đến trước điện ra mắt vua. Hoàng Đế hỏi, sao trên má khanh có nhiều nốt ruồi thế, Ông bình tỉnh đáp :- “Mặt mè sao đầy trời”. Lại hỏi sao chỉ có một chân, Ông đáp :-“Một cẳng nhảy cửa rồng” . Nhà vua thấy ông đối đáp bình tỉnh lưu loát, lại có khẩu khí nên cho đậu. *Lại có một truyền thuyết khác nói rằng, Khôi Tinh vốn là một học trò rất giỏi, nổi danh trong thiên hạ, nhưng chẳng hiểu sao lúc đi thi lại bị rớt, Ông phẫn chí nhảy xuống sông tự tử. May sao lại được con ngao linh cứu và đưa lên trời, Thượng Đế thương, phong cho làm Khôi Tinh. *Cách công bố kết quả thi cử ngày xưa là vừa xướng danh vừa treo bảng. Bắt đầu xướng từ chót là tên thứ sáu trước, lần lên đến tên thứ nhất. Lại tuyên bố năm tên đậu đầu gọi là “Ngũ Khôi”. Cuối cùng mới xướng và treo bảng Trạng Nguyên, gọi là “Khôi Thủ” *Như vậy, ta thấy Khôi Tinh có quan hệ mật thiết với thi cử. Người xưa tin rằng, thờ phụng Khôi Tinh sẽ được phù hộ may mắn trong thi cử, nếu đủ phước đức sẽ làm Trạng Nguyên. Nên người nào đi học cũng phải thờ Khôi Tinh làm “Thần Thủ Hộ”. Tất cả nhà thờ hoặc sảnh đường của người đi học đều có treo ảnh tượng của Khôi Tinh, ngoài việc mong Ngài phù hộ cho việc thi cử, còn cho người ngoài biết, nhà mình thuộc “dòng dõi thư hương”. *Hình tượng Khôi Tinh thờ trong dân gian phổ biến nhiều nhất là, một vị thần chân phải đạp lên đầu con ngao (một loại rùa lớn), chân trái què đá trúng ngôi sao, tay phải cầm bút, tay trái cầm ngôi sao, toàn thân hiện ra hình dáng rất uyển chuyển. *Nhược Thủy dịch (từ http://www.fushantang.com)