Đạo Phật và Nhân Bản (*) Khải Chính Phạm Kim Thư I. Nhân Bản Một trong những nghĩa của nhân bản là cách nhìn nhận con người có giá trị cao quí hơn cả. Nhân bản lấy con người làm gốc cho mọi sinh hoạt đời sống. Đạo Phật là đạo hoằng dương tự do, dân chủ, và nhân quyền của chúng sinh. Điều này có nghĩa là đạo Phật tôn trọng nhân bản của con người. II. Đạo Phật Và Nhân Bản 1. Chuyển Mê Khải Ngộ Là Mục Đích để Xây Dựng Xã Hội Nhân Bản Tôn chỉ và mục đích thực tiễn của giáo lý nhà Phật là giải thoát con người khỏi mọi phiền não và đau khổ. Để đạt mục đích này, đạo Phật đã đề cao chúng sinh và phục vụ chúng sinh, tức con người, để giúp họ chuyển mê khải ngộ ngõ hầu giải thoát mọi khổ đau hầu có tâm bình hạnh trực. Nhờ có tâm bình hạnh trực mà chúng sinh mới sống an lạc thái hòa trong một xã hội không có hận thù tranh chấp và thoát khỏi mọi phiền não. Đó là xã hội nhân bản. Hơn nữa, có được tâm bình hạnh trực, con người mới phát huy được trí huệ bát nhã, điều cốt lõi để xây dựng xã hội nhân bản. Có được tâm bình hạnh trực, tự nhiên ta giác ngộ thành Phật. Nhà Phật đã dạy “tâm bình hà lao trì giới, hạnh trực hà dụng tu thiền.” Điều này có nghĩa là nếu có tâm bình thì ta không cần phải cố gắng “trì giới” mà vẫn giữ được lòng thanh tịnh và tránh được các điều cấm kỵ một cách tự nhiên. Tâm bình có nghĩa là tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sanh. Nếu có hạnh trực thì ta không cần phải “tu thiền” mà vẫn đạt tới trí huệ bát nhã. Hạnh trực có nghĩa là cách cư xử chánh đáng và không thiên lệch bên nào. Nhờ có tâm bình hạnh trực, con người mới có khả năng đoạn tuyệt tam độc (tham lam, tức giận, và ngu si), tứ tướng, và bát tà. a. Tứ tướng còn gọi là tứ chủng tướng, tức là bốn tướng của những kẻ chỉ biết những cái giả tạo mà không biết cái chân như thật tướng của mình và vạn vật. Tứ tướng này gồm có: - Nhân tướng (tướng người): phân biệt người và ta, khinh người, và cạnh tranh hơn thua cao thấp một cách bất chính. - Ngã tướng (tướng mình): phân biệt của ta của người, tự cao tự đại, chỉ biết có mình, cho mình là đạo đức hơn người, ích kỷ, đố kỵ, và ganh ghét. - Chúng sanh tướng (tướng chúng sanh): nhiễm lục thức, lục trần, lục dục, và thất tình. Ngoài ra, còn đắm chìm trong tham sân si và có tà kiến. - Thọ giả tướng (tướng thọ mạng dài hay ngắn): đắm mê vật chất và ham sống lâu đặng hưởng khoái lạc trần gian. Ngoài các nghĩa đã đề cập ở trên, tứ tướng còn bao gồm: - Bốn tướng khổ của loài người: sanh, lão, bệnh, và tử. Bốn tướng này làm cho mọi người đều phải chịu khổ sở. - Bốn tướng của sự biến chuyển tự nhiên trong vạn vật: sanh (sinh ra lớn lên), trụ (tồn tại), dị (dời đổi bất thường), và diệt (tiêu diệt).
- Bốn tướng chân chính của các vị tu hành: hành, trụ, tọa, và ngọa. Những nhà tu hành chân chính thì dù là khi đi, khi đứng, khi ngồi, hay khi nằm cũng đều nhiếp tâm và không để cho tâm tán loạn. b. Bát tà, theo nghĩa của nhà Phật, là tám điều tà vạy mà chúng sinh thường mắc phải, trái với bát chánh đạo. Đó là: tà kiến (hiểu biết không ngay chánh) , tà tư duy (suy nghĩ tưởng niệm không chánh đáng) , tà ngữ (nói năng bất chánh), tà nghiệp (không theo con đường ngay chánh để làm lụng và tạo nghiệp) , tà mạng (không theo con đường ngay chánh để mưu sinh), tà tinh tiến (thăng tiến theo con đường bất chánh), tà niệm (nhớ nghĩ bất chánh), và tà định (không biết định tâm theo đường chánh mà lại đưa tâm thần vào tà đạo). Có đoạn tuyệt với tam độc, tứ tướng, và bát tà, chúng sinh mới có cơ hội chuyển mê khải ngộ để có tâm bình hạnh trực và nhiên hậu mới tìm thấy đất Phật hay tịnh thổ (tịnh độ), tức là cõi Tây phương cực lạc hay Niết Bàn ở ngay tại thế gian này. Chúng ta có thể nói đây là một hình thức tuyệt mỹ của xã hội nhân bản. Việc giải thoát của nhà Phật nhằm giúp chúng sinh thấy rõ sự sai trái của mọi nhận thức thông thường, mọi cảm giác cũng như tình cảm trần tục, mọi lề lối tư tưởng hàng ngày, cũng như việc nhận ra bề trái của sự đời để vượt qua và vượt lên khỏi các sự mâu thuẫn của thị phi, thiện ác, vinh nhục, nội ngoại, và tâm vật. Có như thế, chúng sinh mới có thể đi vào thế giới quan, trong đó, các cặp mâu thuẫn trên không còn chỗ đứng, tức là không có mâu thuẫn nữa, và mọi người được giải thoát khỏi khổ đau và phiền não. Giải thoát không cần phải lìa cõi đời và không cần phải vào chốn sơn lâm hay tịnh xá để tu mà là chấp nhận và nhìn thẳng vào cuộc đời bằng trí huệ bát nhã để thông hiểu mọi lẽ và an nhiên tự tại mà sống. Giải thoát không những không phải lìa thế gian mà còn phát xuất tự thế gian. Hiện hữu vốn là thực tướng chân lý và thực tại nguyên trạng. Vì mê muội, tức vô minh, ta không vận dụng nổi trí huệ bát nhã để nhìn cho rõ hiện tượng nên chúng ta mới lấy cái giả làm cái chân mà thôi, và nhiên hậu tạo thành một xã hội thiếu tính nhân bản. Bằng luận lý biện chứng, ta ý thức được cái khổ và chiến thắng cái khổ bằng cách truy nguyên cái khổ để tự giải thoát. Luận lý biện chứng ấy là Tứ Diệu Đế. Đây là bốn chân lý mầu nhiệm, còn gọi là Tứ Thánh Đế, Tứ Đế, Tứ Chân Đế, và Tứ Thánh Thật. Tứ Diệu Đế gồm có: - Khổ Đế: Đời là bể khổ. Sinh, lão, bệnh, và tử là những cái khổ chính. Còn có những cái khổ khác như gần kẻ mà mình không muốn gần, xa người mình thương yêu hay những gì mình ưa thích, thiết tha ước vọng mà không được, được rồi cũng khổ vì sợ mất, được cái mình ghét lại càng khổ, bất mãn hay mất quân bình về ngũ uẩn gồm sắc (thân thể), thọ (cảm giác), tưởng (tư tưởng), hành (hành vi), và thức (ý thức) lại càng khổ hơn. - Tập Đế: Sự khổ vốn có nguyên nhân kết tập từ lâu. Nguyên nhân khổ là vô minh, tham, sân, si, và vọng động. Vì vô minh, tham, sân, si, và vọng động nên con người ham sống, thích vui sướng, và càng được lại càng ham nên sinh ra khổ vì
không bao giờ thấy đủ. Đây là nguồn gốc của sự khổ. Trong từ vọng động, chữ vọng có nghĩa là càn bậy, bậy bạ, và sai trái. - Diệt Đế: Muốn khỏi khổ não, ta phải có phương pháp để trừ sự khổ não. Phương pháp đó là ta phải hạ cái lòng tham xuống, dần dần bỏ nó đi, và cuối cùng phải cố loại trừ nó cho bằng được. Điều này có nghĩa là chúng ta phải trừ bỏ ái dục và những điều liên quan tới ái dục ra khỏi mình để thoát ly phiền não. - Đạo Đế: Con đường diệt khổ để giải thoát vĩnh viễn kiếp thân đau khổ của ta là con đường “Bát Chánh Đạo” (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định). Chính vì thế, đạo Phật được mệnh danh là Đạo giúp ta nhập thế để cứu thế và hoằng dương nhân bản. Đạo Phật là đạo của chân lý và tình thương. Chân lý và tình thương là hai yếu tố chính cấu tạo thành xã hội nhân bản. 2. Chân Lý Của Các Mối Liên Quan Giữa Các Sự Vạât Giúp Xây Dựng Xã Hội Nhân Bản Giáo lý của Phật trình bày rất rõ về chân lý của những mối liên quan giữa các sự vật hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày để giúp con người đạt được chính kiến và mở rộng cõi lòng để nhận thấy ánh sáng chân lý nhằm xây dựng một xã hội công bình và hạnh phúc, tức là xã hội nhân bản. Giáo lý nhà Phật rất hữu hiệu trong việc đào tạo con người toàn diện và giúp chúng sinh biết tôn trọng phẩm giá và nhân cách của tha nhân. Mối tương quan giữa các cá nhân trong một xã hội nhân bản được thể hiện bằng lòng từ bi hỷ xả. Từø là lòng thương yêu rộng lớn, ban vui, và cứu khốn phò nguy cùng khắp cả. Bi là lòng tôn trọng mạng sống và quyền sống, tức là đức hiếu sinh. Hỷ là lòng hoan hỉ, không oán giận hận thù ai. Xả là bố thí, rời bỏ, không chấp trước đièu, và hy sinh để xa lìa mọi phiền não hầu có được lòng tha thứ bao dung tất cả mọi người. Đạo Phật giải nghĩa các hiện tượng siêu hình, các sự kiện tâm linh, tình cảm, lý trí, và hành động một cách rất khoa học bằng thuyết Nhân Duyên và Thập Nhị Nhân Duyên. a. Nhân Duyên: Nhân là cái nguyên do chính phát sinh ra quả, chẳng hạn như hạt dưa sinh ra cây dưa. Duyên là những nguyên do hỗ trợ cho nhân, giúp cho nhân sinh quả, chẳng hạn như đất, nước, phân bón, khí hậu, ánh sáng, và công sức của người trong việc chăm nom săn sóc cây. Nhờ nhân duyên hòa hợp nhau mới sinh ra các pháp, tức là vạn vật. Chúng sinh và muôn vật đều không có tự tánh, chỉ nhờ có nhân duyên hòa hiệp mà in tuồng như có. Chỉ vì nhân duyên ly tán nên in tuồng như không. b. Thập Nhị Nhân Duyên: Phật giáo còn có thuyết Thập Nhị Nhân Duyên, tức là 12 nguyên nhân tương thuộc đã gây ra nghiệp luân hồi. Mười hai cái nhân duyên cứ xoay vần bắt đầu bằng mê muội (vô minh) từ đời trước gây ra nghiệp phiền não để gieo trồng (hành) chủng tử khổ nên mới bị quả nghiệp đầu thai (thức) sinh ra thân sắc (danh sắc) đủ cả lục căn (lục nhập). Rồi vì tai nghe mắt thấy mà có xúc cảm theo ngoại giới (xúc). Sau khi biết thương yêu say đắm và cố đeo đuổi cái ham muốn (ái) nên mới bị ham muốn nó trói buộc làm khổ ta. Vì ham muốn, ta mới cố lôi kéo điều
mình muốn về cho mình và hễ mình tha thiết lôi kéo nắm giữ, thụ hưởng, chiếm đoạt (thủ) nó thì mình càng làm tôi tớ cho nó. Vì tưởng rằng những cái mình có (hữu) là chắc là bền nên ta mới tham lam để gây phiền não, vướng vào đau khổ, và ngụp lặn trong luân hồi để phải chịu cảnh tái sinh (sanh), già đi (lão), và phải chết (tử). Luân hồi được quan niệm là cái ta chuyển từ kiếp này đến kiếp khác để gánh chịu phiền não hoặc hưởng phúc. Theo đạo Phật, cái ngã, tức là cái ta, là nguyên nhân chính gây ra những thứ hành vi và tư tưởng ích kỷ hẹp hòi. Chính vì thế nhà Phật mới chủ trương vô ngã. Nhờ thuyết Thập Nhị Nhân Duyên, ta có thể giải thích hoạt động của nghiệp lực để giúp chúng sinh hiểu nguồn gốc của khổ đau là do đâu mà có. Nguồn gốc đau khổ là do sự ngu tối u mê của con người mà nhà Phật gọi nó là vô minh. Vì vô minh, người ta mới đàn áp nhau, tranh quyền đoạt lợi, tạo hận thù chém giết lẫn nhau, nhiên hậu con người không còn có chút nhân quyền và nhân bản nào cả. Thuyết Thập Nhị Nhân Duyên có tác dụng bác bỏ các yếu tố thần quyền và đưa thần linh ngang hàng hay bình đẳng với con người, tức là nhân bản được tôn trọng. Thuyết Thập Nhị Nhân Duyên cũng phủ nhận cái điều gọi là thường trụ (lúc nào cũng như vậy) của các hiện tượng, đồng thời phủ nhận cả ngã chấp và pháp chấp. Vì có ngã chấp (chấp có mình và có thân ta), chúng sinh không hiểu là thân con người do tứ đại (đất, gió, nước, lửa) và ngũ uẩn (xác thịt, cảm giác, tư tưởng, hành vi, và ý thức) tạm thời hòa hợp mà có nên cứ coi trọng cái ngã, tức là cái ta. Do đó con người mới gặp nhiều phiền não, mê vọng, và đau khổ mà nhà Phật gọi là ngã chấp phiền não tướng. Có chấp ngã thì có khổ não. Vì có pháp chấp (chấp vạn vật có thật tánh), chúng sinh cứ tưởng rằng vạn vật là trường tồn. Thực ra, vạn vật đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh ra. Khi nhân duyên ly tán thì vạn vật biến mất. Tất cả đều là vô thường, khi có khi không, như ảo như hóa, và vốn không trường tồn. Có pháp chấp nên chúng sinh đi vào con đường lầm lạc. III. Những Điểm Chính Trong Giáo Lý Nhà Phật Liên Quan Đến Việc Xây Dựng Con Người Nhân Bản 1. Phật Tánh, Lõi Cốt Của Nhân Bản Phật đã dạy là mỗi chúng sinh đều có Phật tánh. Phật tử phải tu hành sao để biết được bổn tâm, thấy được bổn tánh thì sẽ thông hiểu mọi lẽ để giác ngộ, tức là kiến tánh thành Phật. Giáo lý của Phật đặt con người trước trách nhiệm của chính cuộc đời mình, hay dở là do mình tự tạo ra mà thôi. Bổn tánh của ta vốn thanh tịnh, ta chỉ cần giữ cho nó thanh tịnh là được. Muốn được như thế, ta phải nghiên cứu học đạo và áp dụng những điều mình đã biết vào mọi sinh hoạt trong đời sống. Đó là tu và hành vậy. Muốn tu hành, phải tự mình tình nguyện phát khởi, không thể trông cậy vào ai hay chịu dưới một áp lực nào. Chúng ta phải tự mình tịnh tâm, tự mình tu đạo, tự mình
nhận rõ thấy tánh Phật và tâm Phật nơi mình, tự mình độ rỗi cho mình và cho tha nhân, và tự mình giới răn lấy mình. Mọi người là những vị Phật trong tương lai. Đã vốn có Phật tánh và khả năng thành Phật, ta chỉ cần làm biểu lộ Phật tánh là thành Phật. Chúng sinh phải tự mình thắp đuốc lên mà đi, hãy tự tinh tiến để giải thoát, hãy quay lại với mình vì chính mình là Phật, cha mẹ mình khi còn sống cũng là Phật, và gia đình mình lại là nơi tu hành có tác dụng tốt đẹp nhất. Nói tóm lại Phật tánh chính là lõi cốt nhân bản của con người vậy. 2. Bình Đẳng, Nền Tảng Của Nhân Bản Muốn duy trì và phát huy nhân bản, con người phải thực hành được hạnh bình đẳng. Bình đẳng là tình trạng xã hội mà mọi người dân sống trong đó phải có nhân quyền, nghĩa là mọi người phải được tôn trọng và được đối đãi ngang nhau. Nhà Phật dạy chúng sinh phải thường hành bình đẳng đối với mọi người, tức là không phân biệt cao hạ, thâm hiểm, quí tiện, bần phú, nam nữ, và lão ấu. Ta nên có lòng từ bi để thương mọi người như nhau mà không phân biệt quen lạ, hay oán thân. Phật và Bồ Tát có trọn lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh và thương xót chúng sinh như nhau. Lòng từ bi một cách bình đẳng này được gọi là bình đẳng đại bi. Có tâm trí chánh giác đối với chúng sanh và vạn vật, lấy lý và trí phối hợp với nhau một cách bình đẳng, chúng ta đạt tới trình độ bình đẳng giác (tâm trí chánh giác của đức Như Lai). Cái tánh bình đẳng đối với vạn vật được gọi là chân như, tức là tánh Phật hay bình đẳng tánh. Khi đạt được lẽ bình đẳng, tức là không chấp ngã và không chấp pháp, chúng sinh mới có được bình đẳng tánh trí (tánh trí của người đắc lẽ bình đẳng). Bình đẳng cốt do ở tâm mà ra, không thể bắt buộc ai phải thi hành bình đẳng được. Muốn có tâm bình đẳng, ta phải phá trừ nhãn kiến nhị nguyên, tức là bỏ sự phân biệt tâm vật, hữu vô, nội ngoại, bỉ ngã, tâm trí, thiện ác, và sinh tử. Có như thế chúng sinh mới kiến tánh thành Phật và tự giác giác tha để xây dựng con người và xã hội nhân bản. Đây là pháp môn bình đẳng bất nhị của nhà Phật. Có tâm bình đẳng, con người mới trừ được vọng kiến và đạt được trí huệ bát nhã. Vọng kiến công nhận cái giả hữu là sự thật trong khi trí huệ bát nhã phủ định cái giả hữu là không thật. 3. Tu Tâm Dưỡng Tánh, Phương Tiện Xây Dựng Con Người và Xã Hội Nhân Bản Nhằm giúp con người sống xứng đáng với thiên chức là con người, tức là con người nhân bản, Phật dạy chúng sinh phải tu tâm dưỡng tính để tránh nô lệ vào cái hình hài giả tạo do tứ đại hợp thành (đất, hơi, nước, và lửa). Tâm có chân tâm và vọng tâm. Chân tâm là căn bản của Bồ Đề và Niết Bàn. Vọng tâm là căn bản của phiền não. Tu làm sao để đạt tới chân tâm và có được bát nhã trí hầu giúp mình thông suốt mọi sự. Có như thế, thì ta mới xa lìa được ái, thủ, và hữu, không còn vọng tâm, và nhiên hậu tránh được phiền não. Để đào tạo con người với đầy đủ ý nghĩa của nó, tức là con người nhân bản, giáo lý nhà Phật lấy lòng từ bi hỷ xả, trí bát nhã, và tâm bình đẳng vô nhị để xóa bỏ
mê tối khổ đau nhằm đạt đến đại bi, đại trí, và đại hùng. Sức mạnh của đạo Phật là ở điểm này. Hoa sen là sức mạnh tinh thần, tượng trưng cho Phật trong nghĩa gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Đại bi có nghĩa là lòng thương yêu sáng suốt, vị tha, và trải đều khắp cả. Muốn đạt được đại bi, ta phải tự nguyện hiến dâng và phục vụ cho công ích, không nên lợi dụng lòng tốt của người, trải tình thương đều khắp cả, và tránh xa phiền não hận thù, ganh ghét, tham lam, tự phụ, đố kỵ, và ích kỷ. Đại trí có nghĩa là tâm trí trong sáng mẫn tiệp, tức là bát nhã trí, hay trí sáng suốt tròn đầy. Muốn đạt tới đại trí, ta phải lấy giác ngộ viên mãn làm phương tiện chính, lấy giải thoát phiền não khổ đau làm mục tiêu tối thượng, và sau cùng, ta phải tìm hiểu sự vật một cách chính xác để chuyển hóa sự vật ấy. Đại Hùng là chỉ ý chí và hành động hợp tình hợp lý kèm theo tấm lòng nhiệt thành cùng khối óc sáng suốt và nghị lực quả cảm. Muốn đạt được đại hùng, ta thấy điều gì nên làm và cần làm, ta phải làm cho bằng được. 4. Tam Qui, Ngũ Giới, và Thập Thiện Chuyên Chở Nhân Bản Muốn vượt khỏi mọi khổ đau, không bị ai làm mình khổ hay mình không gây phiền não cho ai, mọi người phải dựa trên tinh thần nhân bản để đối đãi với nhau, tức là tinh thần bình đẳng, dân chủ, tự do, và tương kính. Để giúp chúng sinh vượt mọi khổ đau, nhà Phật khuyên chúng sinh nên tu theo tam qui, ngũ giới, và thập thiện. a.Tam qui là qui y Tam Bảo: Phật, Pháp, và Tăng. Phật ở đây là giác (giác ngộ), Pháp ở đây là chánh (chánh đáng), và Tăng ở đây là thanh tịnh, trong trẻo, lặng lẽ, và không bợn nhơ. Tam qui còn được gọi là vô tướng tam qui y hay qui y tự tánh Tam Bảo. Đó là qui y giác, qui y chánh, và qui y tịnh. - Qui y giác, chúng ta sẽ thoát khỏi mê muội, biết đủ (tri túc), và xa lìa được của cải cùng mọi sự quyến rũ một cách bất chánh trên đời. - Qui y chánh, chúng ta tránh được tà ý, không nảy sinh ý bất chánh, không tự cao tự đại, không tham lam luyến ái, và không bị ràng buộc hay câu nệ vào bất cứ điều gì. - Qui y tịnh, chúng ta không nhiễm khổ ải, sung sướng, thương yêu, hay mọi ham muốn trên đời. Lòng lúc nào cũng trong trẻo lặng lẽ, không bợn nhơ thế tục, và không bị xao xuyến dao động. b. Ngũ giới là 5 điều răn cấm của nhà Phật gồm không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói láo, và không uống rượu. Có giữ được ngũ giới, ta mới giải trừ vô minh, tức là thấy được Phật tánh của ta, lúc đó ta giải thoát mọi phiền não khổ đau, tức là sống trong tinh thần nhân bản. c. Thập thiện là mười điều thiện giúp chúng sinh có cuộc sống bình đẳng, tự do, và dân chủ, tức là cuộc sống nhân bản. Thập thiện gồm 3 điều thiện về hành động (thân), 4 điều thiện về lời nói (khẩu), và 3 điều thiện về tư tưởng ý nghĩ (ý). * Ba Điều Thiện về Hành Động (Thân). Ba điều thiện về hành động bao gồm: - Phóng sinh con người và vật ra khỏi lao lung và đau khổ. Giải thoát dân tộc bị áp bức. Giải trừ các chế độ bạo tàn khát máu vô luân, như chế độ Cộng Sản Việt Nam chẳng hạn, để cứu muôn dân khỏi cảnh đồ thán, tức là phóng sinh đồng loại vậy.
- Bố thí, giúp đỡ, san sẻ, che chở, và cưu mang những người hoạn nạn nghèo khó cũng như tạo sự cộng tác thương yêu đối với mọi người. - Cố gắng tiết chế mọi ham muốn về thị dục và tình dục để hưởng những lạc thú thanh tao siêu thoát về tinh thần và đạo lý. * Bốn Điều Thiện về Lời Nói (Khẩu) Bốn điều thiện về lời nói gồm: - Nói điều chân thật và nghĩ sao nói thế. - Lời nói ngay chánh để củng cố lòng tin. - Dùng lời dịu dàng, êm ái, và thành khẩn. - Nói lời hợp tình lý và có trước có sau. Tìm lời phân giải hợp lý để hòa giải, tạo thông cảm, và xây hòa khí yêu thương. * Ba Điều Thiện về Ý: Ba điều thiện về ý gồm: - Tiêu diệt ý tham lam để giữ cho lòng chánh trực. -Tránh tức giận (sân) để giữ thái độ cho hòa nhã, vui tươi, và khôn khéo vì giận mất khôn. - Không si mê để giữ cho trí sáng suốt. Khi tâm đối với vật mà động lòng tham sân si thì lòng tham phát khởi, bực tức nóng nảy sẽ sinh, và trở thành ngu độn. Muốn trừ tham sân si, ta phải cần tu các hạnh giới, định, và huệ. - Giới, tức là giới luật (ngũ giới), có nghĩa là diệt trừ lòng ham muốn vô độ. - Định, tức là thiền định, có nghĩa là chú tâm suy nghĩ tìm ra lý lẽ nhiệm màu để định tỉnh tinh thần, lục căn, và cảm xúc sao cho giữ được lòng không lay động hầu trừ sự nóng giận, bực tức, và căm hờn. - Huệ, tức trí huệ cùng nghĩa với bát nhã, có nghĩa là tâm ta thông hiểu và thấu triệt mọi lẽ để thành tựu đạo Bồ Đề, tức là giác ngộ được đạo lý, trở nên toàn giác và chánh giác, hầu tránh được ngu tối si mê và phiền não. Đó chính là nghĩa của câu: “Tâm cảnh câu thông, chiếu giám vi huệ.” Nếu ta tránh được điều ác mà làm mười điều thiện như đã trình bày trên thì mọi người sẽ có cuộc sống thường lạc và xã hội là cõi Niết Bàn ở thế gian, tức là xã hội nhân bản vậy. 5. Lục Độ: Phương Tiện Phát Huy Nhân Bản Lục Độ là sáu nền đại hạnh của Bồ Tát, tức là sáu phương thức giúp chúng sinh đáo bỉ ngạn hay chánh giác, tức là đến bờ bên kia, bờ chánh giác, chỗ thoát ly hẳn được phiền não ngu si và mê muội. Có đạt được chánh giác, con người mới sáng suốt hoàn toàn và không vướng vào đau khổ và phiền não. Được như thế, con người mới được hưởng cuộc sống đúng với nghĩa của nó, tức là cuộc sống nhân bản. Lục độ gồm bố thí ba la mật, trì giới ba la mật, nhẫn nhục ba la mật, tinh tấn ba la mật, thiền định ba la mật, và trí huệ ba la mật. Ba la mật là đại hạnh của Bồ Tát để giáo hoá chúng sinh đáo bỉ ngạn, tức là đến bờ giác. a. Bố thí ba la mật gồm có: tài thí, pháp thí, và vô úy thí. Chúng ta phải dùng bố thí để trừ tham lam keo kieät.
- Tài thí là đem tiền của hay những thứ mình có, kể cả tình thương, để bố thí cho tha nhân một cách kín đáo và khéo léo mà không cầu báo cũng như không cần ai biết đến việc bố thí của mình. - Pháp thí là bố thí bằng Pháp giáo. Đem pháp nhiệm mầu và tốt lành của Phật mà thuyết giảng cho người ta nghe. Đem lời nói an ủi người để soi sáng lòng người hầu giúp họ yên ổn cõi lòng. Đem gương từ bi hỉ xả để cảm hóa chúng sinh và dùng ngay tấm gương tận thiện của mình để giáo hóa thay vì nói suông. Nói và làm phải đi đôi với nhau. Không vì mục đích lập công, lập danh, ghi ân, tôn trọng, hay phụng thờ mà làm việc bố thí. Hãy giúp cho chúng sinh tỉnh ngộ bằng cách giảng cho họ hiểu 4 điều sau: *Vạn vật giai qui vô thường: Mọi vật đều về nơi vô thường và không có vật chi là trường tồn cả. * Sở hữu tất vi khổ độc: Những gì mình có đều là nguồn gốc của khổ não và độc hại. * Chư pháp giai vô ngã: Mọi vật đều là giả thể, tức là chẳng có cái thật thể, chúng chỉ do nhân duyên tạm hợp lại mà thành và khi nhân duyên ly tán sẽ biến mất. * Hữu hình tất chí không: Hễ vật chi có hình dạng đều có ngày hư hoại và trở về cảnh không. - Vô úy thí là hy sinh mình để làm việc bố thí. Điều này có nghĩa là chúng ta không sợ nguy hiểm đến tính mạng và không sợ cường quyền hay áp bức trong khi làm việc để cứu khốn phò nguy. Vô úy thí còn có nghĩa là chúng ta cung cấp cho toàn dân cái đức tánh không sợ sệt để giúp họ được sống yên ổn và bạo dạn. Vô úy thí là sự bố thí cao nhất trong tam thí. b. Nhẫn nhục ba la mật có nghĩa là nhường nhịn mọi điều khiêu khích bằng cách nhẫn nhục một cách tự nhiên. Đó là đức đại dũng và vô ngã vậy. Nhẫn nhục là không cho đâu là vinh hay nhục, giữ tâm thân bình thản, và không buồn giận hay oán thù ai. Dùng nhẫn nhục ba la mật để trừ nóng giận. c. Trì giới ba la mật có nghĩa là giữ giới luật một cách tự nhiên và vô cầu, không phải vì cầu phúc hay lấy danh mà trì giới. Tự tâm mình phát khởi việc trì giới. Giữ giới luật một cách tự nhiên và cũng không bó buộc ai phải giữ giới như mình. Dùng trì giới ba la mật để trừ tính gian tà và ác độc. Có giữ giới luật thì ta mới có lòng thanh tịnh để chú tâm (định) và sáng suốt (huệ) trong việc tu học. d. Tinh tấn ba la mật có nghĩa là tự mình chuyên cần siêng năng tinh tấn một cách tự nhiên để tu tập, không cần ai bắt buộc mình phải cố gắng hay siêng năng. Dùng tinh tấn ba la mật để trừ tính lười biếng, trễ nải, và biếng nhác. e. Thiền định ba la mật giúp ta chú tâm trí vào một việc hay một mối để nội tâm không xao xuyến hầu nhận ra gốc gác bản chất của sự vật. Dùng thiền định ba la mật để trừ tính tán loạn. Thiền định ba la mật là một cách thiền định tự nhiên ở bất cứ nơi nào và lúc nào mà không cần phải cố gắng. g. Trí huệ ba la mật là dùng trí sáng suốt chiếu soi vào vạn vật để hiểu thấu đáo. Dùng tri huệ ba la mật để trừ ngu si.
Điều căn bản của việc tu lục độ là mình phải tự độ lấy mình. Lấy chánh kiến trừ tà vạy, lấy bát nhã phá sự ngu si và mê muội, lấy chánh tâm độ lòng tà, và lấy từ thiện độ lòng độc ác. Có như thế ta mới đạt tới giác ngộ và chúng sinh mới có cuộc sống theo tinh thần nhân bản. 6. Củng Cố Tinh Thần Nhân Bản Bằng Vô Ngã, Vô Niệm, Vô Tướng, Vô Thường, và Vô Trụ (Vô Trước) -Vô ngã còn gọi là phi ngã, có nghĩa là không thật có người, không thật có mình, và không thật có chúng sanh. Đó chỉ là ngũ uẩn hay nhân duyên tạm thời hiệp lại mà thôi. Hiểu được như thế, ta không còn mê tối, buồn rầu, hay hờn giận nữa. Chúng sinh và mọi sự vật đều vô ngã, tức là không có thân thể thường tồn nhất định và không có thật. Biết được như thế ta sẽ dứt được mê muội, tham, sân, si, không còn tự cao tự đại, ngạo mạn, ích kỷ hại nhân, hay khinh khi tha nhân. -Vô niệm là trạng thái không còn ý niệm phân hai, tức là ý thức bằng cái tâm vô sai biệt. Không nhớ điều thiện ác hay chánh tà, không để tâm nhiễm điều bất chánh, không lẩn quẩn với thiện ác, vui buồn, và không lo điều lợi ích cho riêng mình để làm hại người. Không để tâm dính trết vào bất cứ việc gì, bỏ qua hết, và coi như không có việc gì xảy ra. Đức Phật đã dạy: “Tâm bất nhiễm trước thị vô niệm.” Sống trong bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, giống như bông sen vậy. Có như thế ta mới giúp ích cho gia đình và xã hội. -Vô tướng có nghĩa là không có tướng mạo và hình dạng trong nghĩa tâm không chấp cảnh, không nhìn thấy chúng sinh, và không dính với các pháp tuy rằng chúng sinh và các pháp vẫn có. Chúng sanh và vạn vật đều là vô tướng. Chúng sanh chỉ là tứ đại giả hợp mà thành. Tất cả mọi vật chỉ do nhân duyên giả hiệp mà nên. Muốn đạt tới tình trạng vô tướng, ta phải để tâm lìa khỏi trạng mạo từ trong cho đến ngoài, không dính mắc vào sắc tướng hay diện mạo bề ngoài để giữ cho lòng bình đẳng, không phân biệt, không thương không ghét, và lúc nào tâm ý cũng được an nhiên không dao động. Có như thế, ta tránh được khổ đau và phiền não. -Vô thường nghĩa là không coi mọi sự trên đời là vĩnh cửu. Nhờ đó mà ta tránh được nỗi thương tiếc, trìu mến, và phiền não khi phải xa lìa những gì mình có. - Vô trụ là không để ý đến sự lợi ích, oán ghét, thương yêu, và tốt xấu. Nhờ vậy ta mới không bị lẩn quẩn và trói buộc mình váo những điều đó, nhiên hậu không tạo phiền não cho mình và cho tha nhân. Có đạt đến trình trạng vô ngã, vô niệm, vô tướng, vô thường, vô trước, và vô trụ, chúng ta mới tránh được phiền não cho mình và cho tha nhân để thương yêu kính trọng nhau và nhiên hậu củng cố xã hội cũng như tinh thần nhân bản. Vô trụ cũng còn gọi là vô trước. Vô trước (trứ) là không để tâm tình quấn quít với sự vật, không dính mắc, không vướng phải, hay không chấp nhất việc gì. 7. Đức Thanh Khiết của Nhà Phật Giúp Chúng Sinh Thoát Được Vòng Danh Lợi Thấp Hèn để Xậy Dựng Xã Hội Nhân Bản Có thanh khiết, tức là tính trong sạch, người ta mới tránh được lòng tham. Nhờ đó ta mới tránh được mọi phiền não khổ đau cho mình và cho người, nhiên hậu, nhân bản mới được tôn trọng, củng cố và phát triển.
8. Bát Chánh Đạo Nhằm Xây Dựng Con Người Nhân Bản và Xã Hội Nhân Bản Nếu dùng bát chánh đạo để tu thân và cai trị xã hội, chúng ta chắc chắn sẽ giải quyết được các vấn đề cá nhân và xã hội. Bát chánh đạo gồm việc ngay chánh trong hiểu biết (chánh kiến), ngay chánh trong suy nghĩ tưởng niệm (chánh tư duy), ngay chánh trong lời nói (chánh ngữ), ngay chánh trong việc làm (chánh nghiệp), ngay chánh trong cách sinh sống và mưu sinh (chánh mạng), ngay chánh trong việc cầu tiến (chánh tinh tiến), ngay chánh trong ý niệm (chánh niệm), và ngay chánh trong việc đem hết tâm hồn vào đạo lý (chánh định). Có được bát chánh đạo, mọi người sẽ kính trọng nhau, không có áp bức và bóc lột, không có chuyên quyền độc đoán, nhân bản và nhân quyền được tôn trọng, nhiên hậu, xã hội mới tiến bộ để đưa con người lên địa vị cao cả và thoát mọi ràng buộc thấp hèn của vật chất và tranh chấp. Tất cả các phép tu của nhà Phật là nhằm tạo con người nhân bản để đạt tới Niết Bàn, tức là sống trong xã hội nhân bản vậy. IV. Hai Điều Căn Bản Trong Giáo Lý Nhà Phật Nhằm Xây Dựng Một Xã Hội Nhân Bản Như trên đã nói, đạo Phật là nền tảng tinh thần của một xã hội nhân bản nhằm giúp con người tiến bộ để tự mình giải thoát khỏi đau khổ và mê tối. Đạo Phật dùng tứ nhiếp pháp và lục hoà để giúp con người hóa giải mọi khổ ải phiền não hầu xây dựng một xã hội nhân bản. A. Tứ Nhiếp Pháp Nuôi Dưỡng và Củng Cố Xã Hội Nhân Bản Tứ nhiếp pháp là 4 phương pháp cư xử mà các chư vị Bồ Tát sử dụng để làm vừa lòng chúng sinh trong khi dạy đạo lý cho họ. Trong sinh hoạt tập thể của con người, chúng ta có thể dùng tứ nhiếp pháp để nuôi dưỡng xã hội nhân bản. Chữ nhiếp trong tứ nhiếp pháp có nghĩa là nuôi nấng.Tứ nhiếp pháp bao gồm: bố thí, ái ngữ, lợi hành, và đồng sự. 1. Dùng hạnh bố thí để tương trợ và cứu giúp tha nhân về vật chất cũng như tinh thần một cách vô vị lợi. 2. Dùng hạnh ái ngữ, tức là dùng lời nói thương yêu, để tạo sự chân thành hòa ái và hợp tình lý trong mọi sinh hoạt của xã hội. 3. Dùng hạnh lợi hành, tức là dùng hành động lợi ích có sức thu phục và hấp dẫn tâm của chúng sinh, để đem ích lợi cho tha nhân. 4. Dùng hạnh đồng sự, tức là cùng phục vụ, để đem hết tài khôn khéo vào việc phụng sự công ích. B. Lục Hòa Phát Huy Xã Hội Nhân Bản Lục Hòa là 6 phương pháp cư xử để tạo sự hòa đồng ái kính ở nơi tu hành của các sư ni. Đây chính là phương pháp hòa đồng và ái kính đối với tha nhân để phát huy xã hội nhân bản. Đức Phật dạy con người 6 điều hòa đồng ái kính (lục hòa) để giúp nhau tu hành và đạt tới Niết Bàn. Nếu đem lục hòa áp dụng vào xã hội, chúng ta sẽ phát huy được xã hội nhân bản. Sáu điều hòa đồng ái kính này bao gồm:
1. Thân hòa đồng trụ có nghĩa là cùng sinh sống thương yêu đùm bọc ở nơi tu hành, trong gia đình, cũng như ngoài xã hội, nhất là khi không đủ chỗ ở mà có nhiều người cùng sống chung. Sự từ hòa, kính nhường, và thương yêu bao bọc là những điều ta phải thực hành cho bằng được. Đây là lý tưởng của gia đình và xã hội nhân bản. 2. Khẩu hòa vô tranh có nghĩa là dùng lời nói khiêm cung hòa ái để tránh được sự tranh cãi chửi mắng nhau. Lời hòa ái và khiêm cung có tác dụng giúp cho nơi tu hành, gia đình, và xã hội có được không khí ấm cúng thanh bình. Đây cũng là mục đích của một xã hội nhân bản. 3. Ý hòa đồng duyệt có nghĩa là tâm ý hòa kính, tươi sáng, và vui vẻ. Khi có chuyện vui buồn, ta cùng chia sớt với nhau, an ủi nhau, và không làm mích lòng nhau. Đả thông ý tưởng để tinh lọc, ta sẽ cùng làm cho nhau vui vẻ thích thú. Đây là tính chất keo sơn gắn bó ở nơi tu hành, trong gia đình, và ngoài xã hội, xã hội nhân bản. 4. Kiến hòa đồng giải có nghĩa là trao đổi và tham khảo ý kiến hay với nhau để cùng nhau tu học. Khi kiến thức không giống nhau, kẻ hiểu người không, kẻ hơn người kém, những vị tu hành dễ sinh xích mích với nhau. Chính vì thế, khi đã cùng nhau chia xẻ kết quả của việc nghiên cứu Phật pháp và thi hành pháp giáo của Phật, các vị tu hành sẽ có kiến thức hòa hợp nhau trong việc tu tâm dưỡng tánh. Nếu đem kiến hòa đồng giải áp dụng vào trường đời thì đây là con đường tiến thủ để xây dựng một xã hội nhân bản. 5. Giới hòa đồng tu có nghĩa là các sư ni cùng nhau tu và giữ giới luật nhà Phật để đạt tới sự hòa thuận và ái kính nhau. Nếu đem áp dụng giới hòa đồng tu vào trường đời thì đây chính là kỷ luật tự giác trong một xã hội nhân bản. 6. Lợi hòa đồng quân có nghĩa là trong khi ở chung với nhau để tu học, nếu bá tánh có cúng dường những thứ gì thì các sư phải chung hưởng một cách hòa thuận và ái kính. Khi có lộc mà cùng chia sẻ cho nhau một cách đồng đều thì các Phật tử sẽ tránh được xích mích và mọi người sẽ thương yêu và kính trọng nhau hơn. Nếu đem lợi hòa đồng quân áp dụng vào trường đời thì đây là đạo đức trong một xã hội nhân bản. Để chúng sinh có được phép cư xử đẹp đẽ cùng niềm hòa đồng ái kính giữa con người với con người, tứ nhiếp pháp và lục hòa không những phải được áp dụng ở nơi tu hành như chùa chiền và thiền viện mà còn phải được áp dụng trong mọi hoàn cảnh sinh hoạt của con người tại gia đình, ở ngoài xã hội, và ở khắp mọi nơi trên thế giới. Nếu mỗi chùa áp dụng được tứ nhiếp pháp và lục hòa trong việc tu học và quản trị nhà chùa, các nhà sư và Phật tử sẽ tránh được cảnh kéo bè kết đảng, phe này phái kia, và đồng thời tránh được cảnh bất hòa hiềm khích giữa sư ni và Phật tử hay giữa các Phật tử với nhau. Tu để giác ngộ. Trước khi giác ngộ thành Phật, ta phải tu thành con người nhân bản trước đã. Nhân bản tức là Phật tánh và khi đã có Phật tánh tức là có mầm của nhân bản vậy.
V. Tổng Luận Đạo Phật là đạo hoằng dương tự do, dân chủ, và nhân quyền của chúng sinh. Điều này có nghĩa là đạo Phật tôn trọng nhân bản của con người. Đạo Phật xây dựng con người từ gốc trở lên. Giáo lý Phật lấy con người làm trung tâm điểm để giúp họ giải thoát khỏi khổ đau. Đức Phật đã hiến dâng trọn cuộc đời của ngài cho việc giải thoát đau khổ của cả nhân loại. Tôn chỉ của Phật giáo là giúp con người đạt đến trạng thái hết mê để giác ngộ, tức là chuyển mê khải ngộ. Phật không chủ trương tiêu diệt kẻ thù mà còn cần có họ để được nghe những lời chống đối hầu kềm hãm lòng tự ái, tự tôn, tự phụ, và giũa mài tài đức cho sắc bén hơn. Tinh thần dân chủ tự do cùng đức hiếu sinh của đạo Phật nổi bật nhất ở chỗ không những tôn trọng chúng sinh mà còn không muốn hại kẻ thù. Đạo Phật không có chủ trương dụ ai hay cưỡng ép ai vào đạo. Tất cả những cố chấp hẹp hòi và mê tín, nhất là ngã chấp hay ngã mạn, tức là lòng chấp nệ có mình, lòng tự cao tự đại khoe khoang, hay ỷ tài lấn ép người khác, v.v. đều trái với tinh thần nhà Phật. Tinh thần tự do, dân chủ, và nhân quyền nổi bật nhất trong giáo lý nhà Phật là ở chỗ đề cao con người và để họ có quyền quyết định và chọn lựa lấy tương lai và cuộc sống. Chính nhờ thế mà nhân bản được hoằng dương. Đạo Phật quan niệm rằng sự hiểu biết khách quan mới là điều quyết định để tu tâm dưỡng tính. Kiến tức là sự thấy quan trọng hơn tín, tức là lòng tin. Tin tức là chưa thấy. Tính nghi ngờ là điều cốt yếu để đi tới giác ngộ. Đức Phật dạy rằng nghi ngờ lớn thì giác ngộ lớn, nghi ngờ nhỏ thì giác ngộ nhỏ, chẳng nghi thì chẳng bao giờ giác ngộ. Đức Phật còn dạy rằng chúng sinh không nên tin vào giáo lý của ngài, chỉ khi nào hiểu thấu và biết chắc hãy tin. Điều quan trọng nhất trong việc tu hành là phá trừ chấp kiến để đi tới thấy, hiểu, và hành, nhiên hậu phát huy được nhân bản. Đạo Phật chủ trương bình đẳng. Phật coi chúng sinh ngang hàng với Phật khi ngài nói: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành.” Lục Tổ Huệ Năng đã giảng rất rõ về qui y tam bảo. Theo ngài, Phật, Pháp, và Tăng là vô tướng hay tự tánh chứ không có hình tượng như đức Phật, kinh Phật, hay tăng ni. Chính vì thế ngài đã gọi qui y tam bảo là vô tướng tam qui y hay qui y tự tánh tam bảo. Điều này có nghĩa là ta qui y Phật tánh ở nơi ta. Mỗi chúng sinh đều có Phật tánh. Thể hiện Phật tánh, ta sẽ thông suốt mọi lẽ và đạt tới giác ngộ. Cha mẹ còn sống là Phật như đã được diễn tả trong câu: “Phụ mẫu tại tiền như Phật tại thế.” Ta có lòng hiếu thảo với cha mẹ là tu đấy. Đây là điều căn bản mà con người phải thực hành để xây dựng một xã hội nhân bản. Có tu tâm dưỡng tánh, có hiếu thảo, ta mới trở thành người hữu ích cho nhân quần xã hội. Hiếu thảo là nền tảng mọi nết ăn ở trên đời. Chỉ những người có hiếu với cha mẹ mới trung với tổ quốc, nhân từ với tha nhân, và nhiên hậu, mới góp phần xây dựng một xã hội nhân bản tốt đẹp được. Cổ nhân có câu: “Thứ nhất thì tu tại gia,/ Thứ nhì tu chợ thứ ba tu chùa./ Tu đâu bằng tu tại gia,/ Thờ cha kính mẹ mới là chân tu.”
Phật giáo đã góp phần hết sức tích cực trong việc xây dựng con người, gia đình, xã hội, và nhân loại. Giáo lý nhà Phật bao gồm mọi khía cạnh để xây dựng con người và xã hội nhân bản. Đạo Phật thịnh, đất nước ta thịnh. Đạo Phật suy yếu, đất nước lâm nguy. Một bằng chứng cụ thể là đạo Phật rất thịnh và được coi là quốc giáo ở nước ta vào thời Tự Chủ Thời Đại, nhất là vào đời Lý và đời Trần (1010-1400), thời nước nhà rất hùng cường. Trong thời kỳ này, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã đại phá Nguyên binh, tức là quân Mông Cổ. Đạo quân này đã bách chiến bách thắng ở khắp nơi, từ Á sang Âu, nhưng chỉ bị Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh cho tan tành hai lần ở Việt Nam vào năm 1285 và 1287 mà thôi. Sau này vào thời Cộng Sản xâm lăng miền Bắc và thời ông Ngô Đình Diệm cai trị miền Nam từ hồi 1954, đạo Phật ở nước ta bắt đầu suy tàn, vừa phần bị Cộng Sản và chính quyền đương thời đàn áp, vừa phần vì chính nội bộ Phật giáo lủng củng do Cộng Sản xâm nhập lũng đoạn. Kết quả là đất nước mất trọn về tay quân xâm lăng Cộng Sản. Nhân dân cả nước lâm vào cảnh quốc phá gia vong, nhân phẩm không bằng hàng súc vật, và toàn dân mất hết tự do, dân chủ, và nhân quyền. Dĩ nhiên nhân bản không còn chỗ đứng. Bàn về nhân bản mà không đề cập đến giáo lý nhà Phật thì cả là một thiếu só lớn lao. Một người được gọi là trí thức hay hiểu biết mà có thêm chút kiến thức về Phật học thì vốn kiến thức của họ mới viên mãn và hữu dụng. Những chánh khách, các nhà xã hội, và những người nắm quyền cai trị quốc gia mà có vốn liếng về Phật học thì việc trị nước an dân của họ mới đem lại lợi ích cho toàn dân và mới có khả năng xây dựng được con người và xã hội nhân bản đúng với nghĩa của nó. Qua những chi tiết đã được trình bày, đạo Phật quả là đạo xây dựng và phát huy nhân bản. Nếu mọi người đều học hỏi nghiên cứu về giáo lý nhà Phật rồi đem những điều mình hiểu và thấy để áp dụng vào các sinh hoạt của cuộc sống, chúng ta chắc chắn tạo được một xã hội nhân bản, trong đó dĩ nhiên là bao gồm cả tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân quyền, dân quyền, hạnh phúc, và thanh bình mà nhà Phật gọi là đất Phật, Tây phương cực lạc, tịnh thổ, hay tịnh độ. Xã hội nhân bản quả là Niết Bàn tại thế gian vậy! Nói như vậy, tất nhiên trong chúng ta thế nào cũng có người đặt câu hỏi là: “Tại sao đạo Phật được truyền sang nước ta từ cuối thế kỷ thứ hai mà đến nay ta vẫn chưa thực hiện được xã hội nhân bản ở Việt Nam và ngay cả trên thế giới nữa?” Đây là câu hỏi rất xác đáng. Quả thật hiện nay các nước Tây phương vẫn chưa có được một xã hội nhân bản đúng với nghĩa của nó. Bề ngoài, chúng ta tưởng các nước Tây phương in tuồng như có xã hội nhân bản, nhưng đó chỉ là một thứ nhân bản giả hiệu, tức là nhân bản hình thức, dân chủ hình thức, tự do hình thức, nhân quyền hình thức, và dân quyền hình thức mà thôi. Lý do chính yếu là người dân ở các nước Tây phương vẫn bị áp bức bóc lột, và chính quyền vẫn do thiểu số nắm quyền độc tài chuyên chế, khôn khéo, và thủ đoạn ở mức tinh tế khiến ta không nhận thấy ngay mà thôi. Vì thiếu trí huệ bát nhã, ta không nhận thấy điều này mà tưởng các nước Tây phương in tuồng như có nhân bản.
Còn ở Việt Nam, từ trước đến nay, người ta chỉ giới hạn việc tu đạo Phật ở chùa và thiền viện. Đi đến chùa chỉ để cầu phúc cầu lộc. Một số đông sư ni lại lấy việc cầu siêu và lập đàn chay làm cách sống. Ngoài ra, một số Phật tử và tăng ni lại lợi dụng sinh hoạt Phật sự để trục lợi, chẳng hạn như quyên tiền Phật tử để xây chùa rồi đến khi báo cáo tài chánh lại nói là làm mất 2 sổ vàng và tiền mặt bị mất trộm. Những người tu Phật tuy có hiểu biết giáo lý mà không thực hành giáo lý, tức là việc tu và hành của họ không hợp nhất. Đấy là chưa kể những người đọc kinh Phật như con vẹt, họ đọc mà chẳng hiểu nghĩa là gì. Họ coi việc đi tu như là cách trốn tránh cõi đời hay là một mốt sinh hoạt để lấy tiếng với đời. Những người có vốn liếng về Phật pháp, trừ một thiếu số rất ít, không muốn hay nói đúng ra là không biết vận dụng những tinh yếu của giáo lý nhà Phật để áp dụng vào các sinh hoạt trong xã hội và việc giáo dục con em. Thậm chí, người ta còn có quan niệm là nhà chùa chỉ dành cho những người già, người có mặc cảm tội lỗi, cùng những người thất bại và chán đời đến đó để được an ủi, trốn tránh nợ đời, và nương nhờ cửa Phật cho tới khi chết mà thôi. Một số sư ni và phần đông Phật tử đã biến đạo Phật từ vô ngã sang hữu ngã, từ vô niệm sang hữu niệm, từ vô tướng sang hữu tướng, từ vô thường sang hữu thường, từ vô trụ sang hữu trụ, và từ bình đẳng sang bất bình đẳng. Một số những chùa mà chúng tôi chính mắt chứng kiến, ở hải ngoại cũng như ở trong nước, đã và đang ở trong tình trạng tranh chấp giữa các sư ni với nhau, giữa các Phật tử, và giữa các sư ni và Phật tử. Hiện trạng sinh hoạt Phật giáo như thế thì làm sao có thể xây dựng được xã hội nhân bản và tạo được cảnh niết bàn ngay tại thế gian này! Đã có người cho là chúng ta đang ở thời kỳ mạt pháp của đạo Phật. Thật là đau lòng khi nhìn thấy cảnh sư ni và Phật tử không áp dụng giáo pháp của đức Phật vào việc tu và hành. Cảnh chùa thì như thế! Không biết đến bao giờ người ta mới trông thấy việc đem giáo lý nhà Phật áp dụng vào đời để xây dựng một xã hội nhân bản? Họ đi tìm Phật mãi đâu đâu để tu nên muôn đời không thấy Phật. Họ đi tìm đất Phật ở thế giới khác nên muôn đời họ cũng không bao giờ thấy được. Một điều hết sức giản dị mà không mấy ai chịu làm là hãy tìm Phật ở nơi mình và tìm đất Phật ở ngay chỗ ta đang ở và ở ngay trong cuộc đời này. Đó là cách làm sáng tỏ Phật tánh ở nơi mình, tìm Phật ở tâm mình, ăn ở với cha mẹ cho có hiếu thảo, tức là tu tại gia. Cha mẹ mình là Phật, tâm mình là Phật, và Phật tại Tâm. Hãy minh tâm kiến tánh để dưỡng tánh tu tâm, ta là Phật đó. Việc gì phải đi tìm Phật ở nơi đâu. Nếu làm được như thế, ta sẽ thấy Phật và đất Phật ở ngay tại cõi đời này, và đó cũng là xã hội nhân bản vậy. ------------------------(*) Bài này được trích trong cuốn Kiến Văn, trang 318, của tác giả Khải Chính Phạm Kim Thư do Làng Văn xuất bản tại Toronto, Canada, 2001