Docstoc

Văn tư tu - Sưu tầm: Tôn Văn Nhân. Địa chỉ: 195 Phúc Tân, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tel: 04. 3932 5074 - 0936 343 883

Document Sample
Văn tư tu - Sưu tầm: Tôn Văn Nhân. Địa chỉ: 195 Phúc Tân, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tel: 04. 3932 5074 - 0936 343 883 Powered By Docstoc
					Văn Tư Tu
MẤY LỜI CÙNG BẠN ĐỌC!
THÀNH THẬT XIN LỖI BẠN ĐỌC NHỮNG THIẾU XÓT SAU:

1. Lỗi chính tả và ngữ pháp. 2. Một số tên tác giả thiếu và chưa đúng. 3. Cách trình bày chưa phù hợp và không đẹp. 4. Mắc nhiều lỗi đánh máy…
RẤT MONG ĐƯỢC SỰ THÔNG CẢM, CHỈ BẢO VÀ THA THỨ CỦA BẠN ĐỌC.

Sƣu tầm từ Đông, Đinh Mão (1987), tại Hà nội. đến Hè, Đinh Sửu (1997), tại tp. Hồ Chí Minh. In lần đầu tại Hà nội, Xuân Quý Mùi (2003).

Người sưu tầm: Tôn Văn Nhân
Địa chỉ: số nhà 195 phố Phúc tân, q. Hoàn kiếm, Hà nội. Điện thoại: 04. 3932 5074 - 0936 343 883 - 0949 926 398.

1

* Triết thuyết nào cũng chỉ để cứu cái tệ của một thời thôi. Muốn đánh giá một triết thuyết thì phải đặt nó vào thời của nó, xem nó giải quyết đƣợc những vấn đề của thời đó không, có là một tiến bộ so với thời trƣớc, một nguồn cảm hứng cho các đời sau không. Và nếu sau mƣơi thế hệ, ngƣời ta thấy nó vẫn còn làm cho Đức Trí con ngƣời đƣợc nâng cao thì phải coi nó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi. (Khổng Tử) * Ta thuyết pháp trong khoảng bốn mƣơi chín năm mà chƣa từng nói một lời nào! …Kìa đệ tử hãy xem theo ngón tay ta mà thấy mặt trăng nhƣng nên nhớ: Ngón tay ta không phải là mặt trăng! Cũng nhƣ những lời ta giảng về Đạo. Các con có thể theo lời ta giảng mà tìm thấy Đạo. Nhƣng nên nhớ rằng: Lời giảng của ta không phải là Đạo… ( ? ? ? ) (Thích Ca Nhƣ Lai) *Lễ, là nhún nhƣờng, đem cái bản ngã của mình để sau kẻ khác, đâu phải vì giả dối du mị mƣu lợi cho mình. Lễ, là tránh cái đau khổ cho bản ngã kẻ khác bằng cách hy sinh bản ngã của mình. Lễ, là không chạm đến lòng tự ái của ai cả. Lễ, là che cái xấu, dấu cái dở và biểu dƣơng cái hay cái đẹp của ngƣời ta. Phải là một ngƣời không ích kỷ, diệt đƣợc bản ngã của mình rồi mới làm nổi việc ấy làm một cách thản nhiên, vô tƣ lợi. * Ân càng thâm thì oán càng sâu.
2

* Cƣời đùa là một nhu cầu của cuộc sống con ngƣời, nó làm ta tan đi những sự căng thẳng, làm sảng khoái tinh thần. Nó còn là một thứ vũ khí dùng để đẩy lui những thói hƣ tật xấu, đấu tranh những bất công xã hội, từ đó cổ vũ cho quan hệ, bình đẳng, thân thiện giữa mọi ngƣời với nhau. (C.C.C.T.N) * …Từ là lòng muốn điều tốt cho kẻ khác. Bi là thƣơng chúng sinh đau khổ. Hỷ là lòng vui khi thấy ngƣời khác đƣợc sung sƣớng. Xả là lòng buông bỏ mọi sự ràng buộc. * Vì hiểu rằng đời là khổ, là vô thƣờng, không có một bản ngã bất biến, thƣờng hằng nào nên ngƣời tu sĩ Phật giáo nỗ lực diệt khổ, không tạo cơ hội, hoàn cảnh cho cái khổ phát triển, ngƣời tu sĩ, xả bỏ, quên mình, thanh bần, từ, bi, hỷ, xả hiền hòa, bất hại hay bất bạo động. * Ngƣời nào khéo nhiếp sinh thì ăn uống điều độ, giảm bớt lo lắng, tiết chế thị dục, ngăn những cảm xúc quá mạnh, giữ gìn nguyên khí, ít nói năng, coi nhẹ sự thành công và thất bại, tránh ƣu tƣ và những trở ngại, trừ những vọng tƣởng, xa những hiếu ố, cho tai mắt đƣợc yên tĩnh mà chăm giữ nội tâm của mình. Không làm mệt tinh thần, không làm mệt hình hài, tinh thần và hình hài đã yên thì bệnh hoạn do đâu mà tới nữa? Cho nên khéo dƣỡng cái tính của mình thì đợi đói rồi mới ăn, ăn không quá no, đợi khát rồi mới uống, uống không quá nhiều. Ăn mỗi lần nên ít và cách xa nhau, đừng nên
3

nhiều mà gần nhau. Nên còn đói một chút sau bữa ăn và nên no một chút thôi trong khi đói. Vì no thì hại phổi mà đói thì hại khí. * Trời sinh muôn vật, loài ngƣời quý nhất, mà ta đƣợc làm ngƣời, đó là một điều đáng vui. Trong loài ngƣời, đàn ông quý hơn đàn bà, mà ta đƣợc làm đàn ông, đó là hai điều đáng vui. Ngƣời ta sinh ra có ngƣời đui què, có ngƣời non yểu, mà ta hoàn toàn khỏe mạnh nay đã chín mƣơi tuổi; thế là ba điều đáng vui. Còn cái nghèo là sự thƣờng của thế gian, cái chết là sự hết của đời ngƣời. Ta nay xử cảnh thƣờng, đợi lúc hết, thì có gì là lo buồn? (Vinh Khải Kỳ) Lời bàn: Cái sung sướng ở đời thực không biết lấy gì làm đo lường, không biết ở đâu mà tìm được. Ông vua sang giàu nhất bực, mà không biết sướng, người chăn dê, cái áo lót mình không có, mà lấy làm sung sướng, cũng như Vinh Khải Kỳ đây, chỉ được làm người, sinh làm đàn ông, không ốm đau bệnh tật, cũng đủ lấy làm sung sướng. Thế mới hay cái sướng không ở đâu xa, mà ở ngay trong mình, không ở sự giàu sang, mà ở trong tâm yên vui, hễ biết sung sướng thì được sung sướng, biết thỏa cái số phận mình, nói tóm, biết “tri túc” ấy là sung sướng đó. Chớ những kẻ tham lam không chừng, mê man quá độ, thì bao giờ biết sướng thân được! * Kẻ trông mong vào ngƣời thì không đƣợc chắc; kẻ nhờ cậy vào ngƣời thì không đƣợc lâu. (Hàn Thi Ngoại Truyện)
4

* Rƣợu chính nó không phải là một tội lỗi nhƣ sát sinh, trộm cƣớp, tà dâm, nhƣng nó có thể làm nhân cho các tội lỗi kia sinh ra. Khi uống rƣợu vào say sƣa, thì tội lỗi nào cũng có thể phạm đƣợc. (Phật Học Phổ Thông) * Ngƣời ôm lòng ái dục cũng nhƣ kẻ cầm đuốc đi ngƣợc gió, quyết bị nạn cháy tay. * Hễ không điều lợi khôn thành dại. Đã có đồng tiền dở cũng hay. Khôn khéo chẳng qua ba tấc lưỡi; Hẳn hoi không hết một bàn tay. (N.C.Trứ) * Xả đƣợc điều khó xả là vứt bỏ danh lợi, vật dục; nhẫn đƣợc điều khó nhẫn là gánh vác sự nghiệp của Nhƣ Lai và khổ nạn chúng sinh. (Học Phật Quần Nghi) * Ánh sáng dùng để soi nhà tối. Lẽ phải dùng để soi lòng ngƣời. *

MƢỜI ĐIỀU TÂM NIỆM!

1. Nghĩ đến thân thì đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sinh. 2. Ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu sa nổi dậy. 3. Cứu xét tâm tính thì đừng cầu không bị khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo. 4. Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chƣớng, vì không bị ma chƣớng thì chí
5

nguyện không kiên cƣờng. 5. Việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thƣờng kiêu ngạo. 6. Giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa. 7. Với ngƣời thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì đƣợc thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng. 8. Thi ân thì đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có ý mƣu đồ. 9. Thấy lợi thì đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động. 10. Oan ức thì không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân quả chƣa xả.
* Một ý nghĩ, một lời nói, một hành động tốt hay xấu chính đã mang theo nó cái mầm thƣởng phạt rồi. (P.H.P.T) * Đối với một đứa bé mới ra đời, khoa học chỉ lo cho chúng ăn uống, dinh dƣỡng đầy đủ mà thôi chứ không hiểu chúng cần một thứ yếu tố quan trọng đó là tình thƣơng. Khi thể xác đƣợc chăm sóc thế nào thì các thể khác cũng phải đƣợc chăm sóc y nhƣ vậy và món ăn cần thiết của các thể này là tình thƣơng. Thiếu tình thƣơng, đứa trẻ khó lòng sống sót vì nhu cầu tình cảm đôi lúc còn quan trọng hơn các nhu cầu khác. Tình
6

thƣơng là một yếu tố dinh dƣỡng cần thiết để trẻ em nảy nở tâm lý, tinh thần và chính cha mẹ không lo đủ nhu cầu này mà các đứa bé chậm lớn, thiếu phát triển. Các bệnh tâm lí, thần kinh đều trực tiếp phát nguồn từ đây. Lí do này cũng giản dị thôi, đứa bé hình dung vũ trụ theo lối cƣ xử của cha mẹ đối với nó. Tùy theo nó đƣợc yêu hay ghét mà cuộc đời hiện ra đáng ghét hay đáng yêu. Từ lúc sơ sinh, nó nhận đƣợc tiềm lực yêu thƣơng từ Đức Mẹ và nếu đƣợc yêu thƣơng, năng lực này sẽ phát động mạnh mẽ, nó sẽ trở thành một trung tâm ban rải tình thƣơng. Trái lại, nếu bị hắt hủi nó sé trở nên hung hãn vì mầm yêu thƣơng bị dập tắt rồi. Bổn phận làm cha mẹ là một điều vô cùng thiêng liêng, một trách nhiệm vô cùng quan trọng hơn là việc chỉ lo cho nó đủ ăn, đủ mặc. Tình thƣơng là một năng lực sáng tạo khiến ngƣời thƣơng và kẻ đƣợc thƣơng đều trở nên phong phú. Trên thế gian này, tình thƣơng là một thứ, ai cũng có thể cho mà không sợ phung phí. Một tình thƣơng chân chính có giá trị giao hòa, không gì có thể thay thế đƣợc. Nó không bao giờ gây hƣ hại mà chỉ tạo ảnh hƣởng tốt lành. Tình thƣơng là một sinh lực có thể chữa trị tất cả mọi bệnh tật và đây là điều khoa học cần chú trọng đến. (H.T.V.P.Đ) * Cái tường thấp hay mời kẻ trộm đến. (Thi Tử) * Tài tình xem lại xưa nay; Kiếp người may với chẳng may cũng nhiều.
7

Việc đời mây nổi nước triều; Tài bao nhiêu lụy bấy nhiêu hay gì. * Mục đích của Phật Pháp là giáo hóa ngƣời phàm tục biến mâu thuẫn thành hài hòa. Vì vậy Phật giáo có hai pháp môn không thay đổi là Trí Tụê và Từ Bi. Trí Tụê là lí tính, Từ Bi là cảm tính. Dùng Trí Tụê để chỉ đạo Từ Bi, vận dụng Từ Bi có thể giúp cho con ngƣời phàm tục, từ hỗn loạn trở thành có trật tự, từ mâu thuẫn trở thành hài hòa. Nếu tách rời tình cảm khỏi Trí Tụê của lí tính thì dễ buông lỏng, phóng túng dẫn đến hậu quả vừa hại mình, vừa hại ngƣời. * Năm canh anh chỉ ngủ ba; Còn hai canh nữa nghĩ xa nghĩ gần. * Ngƣời tham luyến sắc tài không chịu rời bỏ, cũng nhƣ đứa bé luyến tiếc một chút mật dính trên lƣỡi dao, thè lƣỡi liếm, phải bị cái họa đứt lƣỡi. * Dẫu sao bình đã vỡ rồi Lấy thân mà trả nợ đời cho xong. * Chỉ có sự khiêm tốn mới giúp ta học hỏi thêm những điều mới lạ. Các bạn hãy nhìn xem ly nƣớc đầy trên tay tôi đây, nếu tôi tiếp tục rót thêm thì nƣớc sẽ tràn ra ngoài. Trừ khi tôi đổ bớt nƣớc trong ly đi thì tôi mới rót thêm nƣớc vào đƣợc. Kiến thức cũng thế, chỉ khi ta khiêm tốn gạt bỏ thành kiến có sẵn ta mới tiếp tục nhận thêm những điều mới lạ. (H.T.V.P.Đ) * Trở ngại lớn nhất của những ngƣời luyện tâm, rèn chí là sự kiêu ngạo và óc chỉ chích. Với óc chỉ chích con ngƣời
8

công kích tất cả, họ sẵn sàng bôi nhọ mọi đức hạnh, tìm sự sai quấy ở khắp mọi ngƣời. Chúng ta cần có thái độ ngƣợc lại, tìm thấy điều thiện ở tất cả mọi ngƣời và nhìn thấy mọi sự đều có cái lí riêng của nó. Có thế họ mới giúp mình và ngƣời khác đƣợc. Trở ngại thứ hai là sự nông nổi, làm điều này chƣa xong đã nhảy sang việc khác. Sự kiên tâm bền chí là điều cần thiết để chủ trị tƣ tƣởng. Dĩ nhiên kiếp ngƣời ngắn ngủi không ai có thể trừ hết thói hƣ, tật xấu trong một kiếp, do đó việc tu hành cũng kéo dài trong nhiều kiếp sống. (H.T.V.P.Đ) * Lầm lỗi là một phần của đời sống mà chẳng ai tránh đƣợc. Chúng ta có thể hy vọng rằng không phải trả giá quá đắt và không còn vấp phải sai lầm cũ. (Lee Iacoca) * Cái gì cũng có một thời; Bao nhiêu máu đổ sau lời vua ban. Cái gì rồi cũng tiêu tan; Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ. Cái gì rồi cũng rụng rơi; Trái trong Vườn Cấm hoa nơi Địa Đàng. Chỉ còn mãi với thời gian; Tình yêu từ thuở Hồng Hoang dại khờ. * Phàm kẻ ở đời, lƣỡi búa bén nằm sẵn trong miệng, sở dĩ chém mình là do lời nói ác. * Tự trọng: Ngƣời ý khí, tài lực hơn ngƣời, không nƣơng tựa ai, không luồn lụy ai, tự mình mình đi, tự mình mình lại, tự mình quí mình, ai yêu cũng mừng, ai ghét không
9

giận, gọi là ngƣời tự trọng… Ta phải biết rằng tự trọng vốn hòa hợp với mọi ngƣời, vốn kính trọng ngƣời tiền bối, vốn giữ pháp luật, vốn trọng cƣơng thƣờng, có tài năng, có kiến thức, việc đã làm không sợ khó, chí đã định không hồ nghi, thấy giàu sang không náo nức, phải nghèo hèn không phàn nàn. (B.B.T.T.C) * Rỗi quen thành lười, lười quen thành bệnh. (N.T.G.H) * Ngƣời ta khổ bởi không có của, nhƣng kẻ có của nhiều vẫn cứ khổ, vì phải lo giữ gìn. Ngƣời không trộm cƣớp tức là đã âm thầm ban cho ngƣời khác sự an ổn rồi. (P.H.P.T) * Chúng ta có thể chia hình thái sinh hoạt và tâm thái sinh hoạt của loài ngƣời ra làm ba loại: - Loại thứ nhất đa số tuyệt đối là thuộc loại luyến thế, đối với bất cứ sự gì cũng đều không buông bỏ đƣợc: Tranh danh đoạt lợi, ăn uống trai gái, đắm say trong cuộc sống, khổ não suốt đời mà chẳng biết sinh từ đâu tới, chết sẽ đi đâu? Lúc đang sống thì khƣ khƣ chẳng buông tha, lúc sắp chết thì bịn rịn bỏ chẳng đƣợc, cho nên Phật gọi họ là những kẻ đáng xót thƣơng. - Loại thứ hai là loại ngƣời yếm thế. Họ hoặc là giận đời, ghét tục, hoặc tiếc rẻ có tài mà không gặp vận may; hoặc là tiêu cực, bi quan đối với sinh mệnh giữ một thái độ cam chịu chẳng biết xoay sở ra sao. Vì thế hạng ngƣời trƣớc sẽ biến thành những ngƣời diễu cợt cuộc đời, hoặc rút lui khỏi vũ đài xã hội mà sống cuộc sống ẩn dật; hạng ngƣời sau nếu chẳng tự sát mà chết thì
10

cũng trốn tránh hiện thực, uất ức mà chết. - Loại thứ ba là thuộc về loại ngƣời buông đƣợc ra, nhấc đƣợc lên. Họ nhìn thấy con ngƣời đau khổ, thế sự hiểm nguy, đem hoài bão xót trời thƣơng ngƣời ra mà cứu vớt chúng sinh thế gian ở trong vòng nƣớc sôi lửa bỏng, dù cho phải vƣợt núi băng ngàn thậm trí là khuôn mẫu của những bậc đƣợc ngƣời đời sau gọi là hiền giả và thánh nhân. Theo quan điểm Phật Giáo thì loại ngƣời thứ nhất có căn tính phàm phu, loại thứ hai giống nhƣ ngƣời có căn tính Tiểu Thừa; loại thứ ba giống nhƣ những ngƣời có căn tính Đại Thừa. (H.P.Q.N) * “Nhẫn” là nhịn, chịu đựng những cảnh trái mắt nghịch lòng. “Nhục” là điều sỉ nhục, làm xấu hổ, làm tổn thƣơng đến lòng tự ái của mình. * Nhẫn nhục Ba La Mật là nhẫn nhục đến chỗ cùng tột không còn ai có thể nhẫn nhục hơn thế nữa. * Thân nhẫn, khẩu nhẫn, ý nhẫn. Trong ba thứ nhẫn này. “Ý nhẫn” là khó nhất và quan trọng nhất. Có nhiều khi thân có thể chịu đựng đƣợc cực hình, nhƣng miệng vẫn lẩm bẩm nguyền rủa. Thêm một tầng nữa miệng tuy không thốt ra những lời phản đối nguyền rủa, nhƣng ý vẫn ngấm ngầm phản đối, và tức giận vẫn đốt cháy tim gan. Đến khi “Tâm Ý” cũng không ngấm ngầm nổi dậy phản đối, sự tức giận lắng xuống tận đáy lòng; đứng trƣớc mọi nghịch cảnh, lòng
11

vẫn phẳng lặng nhƣ không thì nhẫn nhục mới thật là hoàn toàn. … Nếu bên trong mà chƣa nhẫn đƣợc, thì thế nào giận dữ cũng có ngày xuất hiện ra trong lời nói và hành động. * Nhiều ngƣời có các tính xấu nhƣ ích kỷ, tham lam, hà tiện, đa nghi… Do đó, họ hành động không tốt với ngƣời khác. Đa số cho rằng đó là bản tính tự nhiên, không đổi đƣợc. Thật ra, nếu muốn ta có thể sửa đổi mọi tính tình. Nếu một cách tập luyện đúng làm bắp thịt nở nang thì sự kiểm soát thích nghi sẽ tạo các đức hạnh cần thiết. * Kẻ nào quan niệm sự tiến hóa một cách rõ ràng, chính xác sẽ ý thức đƣợc quyền lợi và hạnh phúc của mình. Muốn trở nên một bậc toàn thiện ta phải có đức hạnh và lòng can đảm. Ngƣời nào muốn cải thiện xã hội phải biết cải thiện mình trƣớc đã. Phải biết quên quyền lợi riêng để chú tâm vào phận sự chung. Phải hiểu rõ các cơ hội tiếp xúc với mọi ngƣời đều tạo cho ta cơ hội phụng sự. Phụng sự mọi ngƣời chính là phụng sự Thƣợng đế. (H.T.V.P.Đ) * Dù ngƣời ta muốn nói điều gì đi nữa, cũng chỉ có mỗi một động từ để làm cho điều đó hóa ra có sinh khí và mỗi một tính từ để tả nó. Cần phải kiếm đƣợc tiếng đó, động từ đó, tính từ đó và đừng lấy làm mãn ý khi kiếm đƣợc những tiếng tƣơng tự. * Ai phải là ta học. * Vậy muốn lí luận cho sáng suốt, phải bỏ hết thành kiến đi,
12

thu thập đủ các sự kiện rồi bình tâm xét từng sự kiện một trƣớc khi kết luận. Khi nghiên cứu một vấn đề ta đừng bỏ xót một phƣơng diện nào hết. Có khi chỉ vì quên không xét một phƣơng diện mà ta thất bại. Lại có khi ngƣời ta kết luận lầm vì dùng lầm tiếng. Sau cùng, ngƣời ta thƣờng dùng những sự kiện sai để kết luận. Sự kiện đã sai thì kết luận tất phải sai. * Quyết đoán cần cho ngƣời khôn, ngờ vực làm hại công việc. Đắn đo việc nhỏ thƣờng bỏ xót việc lớn. Trí ta biết rõ mà gan ta không dám làm, trăm sự tai vạ gây ra đều vì thế cả, bởi vậy mới có câu:
“Hùm thiêng lần lữa không bằng ong độc đốt liều! Kỳ ký xo ro không bằng ngựa hèn sấn bước! Tuy khôn bằng Thuấn, Vũ, ngậm miệng không nói, không bằng kẻ câm điếc lấy tay chỉ vẫy… Lời nói ấy của tôi, biết làm mới quý. Công là cái khó nên, mà dễ hỏng. Thời là thứ khó được, mà dễ mất. Thời ru! Thời ru! Qua mà không trở lại. Xin ngài xét rõ cho”. (Thuật xử thế…)

*Tử Lộ: “Ngƣời Trí là ngƣời làm thế nào để cho ngƣời ta biết mình. Ngƣời Nhân là ngƣời làm thế nào để cho ngƣời ta yêu mình”. Tử Lộ là ngƣời vụ ngoại, chỉ cần cho ngƣời ta biết mình yêu mình mà thôi.
13

Tử Cống: “Ngƣời Trí là ngƣời biết ngƣời. Ngƣời Nhân là ngƣời”. Tử Cống là ngƣời quên mình chỉ biết ngƣời. Nhan Hồi: “Ngƣời Trí là ngƣời tự biết mình. Ngƣời Nhân là ngƣời tự yêu mình”. Nhan Hồi học nhƣ thế mới là học vị kỷ, nghĩa là học để tự biết mình và yêu mình trƣớc, rồi mới suy rộng ra đến biết ngƣời, yêu ngƣời. Biết mình, yêu mình không phải là có lòng tƣ kỉ hẹp. Có biết mình, thì mới tu tỉnh đƣợc tâm thân, cải quá, thiên thiện mà nên ngƣời hay ngƣời khá. Có yêu mình, thì mới biết trọng tƣ cách của mình, quý phẩm giá của mình rồi mới ra đến thân nhân dân, ái vật. * Phàm làm nên giàu, mà có biết đem của thí chẩn cho ngƣời khốn cùng, thì mới là quí. Bằng không, thì chỉ làm tôi tớ đồng tiền, suốt đời canh giữ đồng tiền, chớ có ích gì. * Sợ hãi, nghi ngờ, lãnh đạm! Chúng có thể làm hại nhƣ ma quỉ thật. Ta có thể thắng chúng bằng can đảm, tin cậy và cao vọng. Đắc lực là thuốc hay nhất để chữa bệnh lãnh đạm và mỏi mệt tinh thần. * Loài ngƣời vốn có sẵn căn bản lƣời biếng; ở ngƣời đàn bà, căn bản ấy ít hơn ở đàn ông. Trong mấy trăm thế hệ đàn bà làm việc trong khi đàn ông lo săn bắn và đánh nhau. * TƢ ĐỨC VÀ CÔNG HẠNH
14

Đức hạnh con ngƣời, dẫu có nhiều thứ bậc nào, cũng không ngoài hai loại: Tƣ Đức và Công Hạnh - Tƣ Đức: là những đức tính ăn chặt về nhân cách riêng của từng cá nhân nhƣ: Nhẫn nại, can đảm, quả quyết, điềm đạm. - Công Hạnh: là những hạnh tốt của cá nhân đối với ngƣời chung quanh nhƣ: Cha mẹ, anh em, bà con, vợ chồng, bầu bạn và xa hơn nữa, với chủng tộc và nhân loại. * Điềm đạm là gì? Điềm đạm tức là cái tính “nhƣ nhƣ bất động” thản nhiên bình tĩnh, “không để cho ngoại vật động đến tâm của mình”. Ngƣời điềm đạm, tức là ngƣời làm đƣợc chủ cả tình dục và ý chí của mình. Nói một cách khác, ngƣời điềm đạm, tức là ngƣời “tự động” không “bị động” vì những vật không phục tùng mình nữa. * Muốn lên chỗ cao, phải khởi từ chỗ thấp. Muốn đƣợc một tinh thần bất uý, điềm đạm nhƣ các bậc thánh nhân, trƣớc hết phải biết nguyên nhân khiến lòng ta hay chao động, sợ sệt… Sợ, không phải là một chứng bệnh nan y, phải có chí và kiên tâm thì làm gì không đạt đựoc ý nguyện. * Kẻ sĩ mà còn quyến luyến những sự thuận tiện yên vui cho xác thịt thì tâm lụy, chí hèn, không đáng gọi là kẻ sĩ. (Lƣơng Khải Siêu)
15

* Không điềm tĩnh thì không bao giờ suy nghĩ sâu xa cho đƣợc, trƣớc khi hành động cho có kết quả mĩ mãn. Không điềm tĩnh, thì không thể có sự xét đoán đúng đắn đƣợc. Không điềm tĩnh, thì không thể xua đuổi đƣợc những dục vọng, những hứa hẹn, những hy vọng ảo huyền của bản ngã. Không điềm tĩnh, thì khó làm cho im lặng cái tiếng kêu van của vật dục, của tự đắc, nghĩa là của tấm lòng háo thắng và nhiệt hứng cấp thời nó xô đẩy ta vào những hành động phi lí, ngu khờ, lơ đễnh. * Ngƣời điềm đạm, tức là ngƣời tự chủ, ngƣời biết lấy ý thức mà kiểm soát, điều khiển những cử động vô ý thức của mình. Vậy bắt đầu phải kiểm soát, từ hành vi vụn vặt mà vô tâm của mình, để cho cái thần của mình thƣờng làm chủ đƣợc cái khí lực và cái thân thể của mình. Bấy lâu nay, ta vẫn hành động vô tâm, tha hồ cho dục vọng muốn làm gì thì làm. Có việc ta biết là phải nhƣng dục vọng ta không nghe, ta cũng tuân theo mà làm sai với cái quyết định trƣớc kia của ta. Ta đã vô tình cho nó làm chủ ta một lần. Một lần khác cũng thế… Và nhiều lần nhƣ vậy… Ta cũng tƣởng đó là một vài chuyện nhỏ, nên bỏ qua. Nhƣng mà không, sở dĩ nƣớc loạn nhà nguy thƣờng không phải là tại quy luật không nghiêm hay sao? Chuyện gì cũng dễ dãi, bỏ qua, tha thứ… dung túng, là làm mồi cho sự
16

nghịch loạn sau này. Cha dạy con mà không nghiêm, thầy dạy trò mà không nghiêm, vua xử tôi mà không nghiêm… là đã đi vào con đƣờng diệt vong của thế lực và trật tự rồi vậy. Tới khi hữu sự, vua bị lờn, cha bị khi, thầy bị khinh… còn đâu là kỉ luật, là uy thế của kẻ cầm quyền. Thần minh của ta đối với cơ thể của ta, cũng một thế. * Nếu thƣờng ngày, ta không quen tập luyện cho tạng phủ ta quen với kỉ luật, với sự tuân mệnh lệnh của thần minh, thì khi hữu sự, nó không nghe theo ta cái đó là lẽ cố nhiên. Con trong nhà, nó muốn gì đƣợc nấy, ta hồ làm gì thì làm, thì khi cần phải nghe theo mệnh lệnh của mình, nó không nghe, đó cũng không có gì là lạ nữa. * Đừng khinh thường việc nhỏ. Nhiều cái nhỏ mới ra cái lớn. * Trong các cử động, vô ý thức là hao tốn khí lực hơn hết, chỉ có sự thổ lộ chân tình là nên trừ khử trƣớc nhất. * Trong khi nói, đừng hấp tấp, vội vàng. Thủng thỉnh mà nói. Nói cho rõ ràng, quả quyết. Trong ngày, hãy kiểm soát và thu rút lời nói lại; đƣợc nhiều chừng nào hay chừng ấy… Một thánh nhân dẫu nói suốt đời, cũng vẫn còn là nói thiếu… Còn lắm kẻ, một ngày không nói một lời, mà hễ nói ra toàn là những lời vô ý nghĩa, hoặc đi gieo sự ngờ vực, sự tan rã, sự cừu thù giữa con ngƣời… Họ chính là kẻ nói rất nhiều. Cũng đừng sa vào thái quá. Nhiều kẻ tâm trí sâu hiểm, họ thấy hại cho kẻ khác, cũng vẫn làm thinh. Cái đó,
17

không phải họ thu thập khí lực, mà họ tiêu tán khí lực bằng sự giày vò của ghen ghét, giữa ác tâm… Ở ngoài thấy hòa hoãn nhƣng nơi trong là một sức phá hoại ghê gớm mà ta không dè. Cái không nói của ngƣời điềm đạm, không có ẩn một ác ý gì cả. * Nói nhiều, thƣờng là do nơi tấm lòng tự đắc nó xúi ta nhƣ thế. Ta kiếm đủ cơ hội, để tỏ cho chung quanh ta là giỏi là hay để thỏa mãn cái lòng tự đắc, hiếu danh của mình. * Bất kì là ở vào trƣờng hợp nào, đừng bao giờ để lộ ra vẻ nóng nảy, bực tức… Dẫu phải đứng trƣớc những khiêu khích thậm tệ, hãy giữ thái độ trầm tĩnh. Nên tự nhủ: “Nếu ta giận là ta mắc kế”. Bởi ta không vừa ý họ, nên họ muốn trả thù ta bằng cách làm cho ta bực tức, đau đớn… nhất định, ta không để cho ai lợi dụng và sai khiến ta nhƣ một con vật thụ động. * Những ngƣời thành đƣợc những việc vĩ đại, đều nhờ thắng đƣợc mình một cách mạnh mẽ. * Ta nên biết: hình thái của ngoại vật thƣờng làm cho tinh thần bên trong ta biến đổi. Cách ăn mặc, dáng đi đứng của ngƣời, khiến ta đối đãi với họ, có những cử chỉ nhƣ thế này hoặc nhƣ thế kia… Trời sẫm, khí lạnh bên ngoài làm cho tinh thần ta uể oải, buồn chán. Nhiều vật rờ đến, khiến cho ta khó chịu hay sợ sệt… Có ngƣời sợ da cóc, sâu, dế… một cách hết sức vô ý thức. Không phải đi tìm nó, nhƣng nếu phải gặp nó, thì hãy
18

trấn tĩnh lại, ngó ngay vào nó và đừng sợ nó nữa. Dùng lí luận mà thắng những cái cử động, vô ý thức đó. * Điềm tĩnh là một trạng thái của nội giới… Bởi ta điềm tĩnh nơi trong, nên bên ngoài dáng điệu cử chỉ mới thấy đƣợc vẻ im lặng. Cái đó là tinh thần ảnh hƣởng vật chất. Nhƣng vật chất cũng ảnh hƣởng lại tinh thần: những cử chỉ điềm đạm nếu khéo giữ gìn, cũng khiến đƣợc tâm hồn trầm tĩnh. * Vậy, với những ai muốn có một tâm hồn điềm đạm, hãy trƣớc hết giữ gìn kỉ cƣơng một thái độ trầm tĩnh, thì rồi sự sẽ đến, tràn ngập nơi lòng mình không sai vậy. * Ngƣời ta thƣờng để ý thấy rằng, trình độ con ngƣời càng cao bao nhiêu; thì những cử động vô ý thức của thiên tính càng giảm bấy nhiêu. * Sự biết ơn là điều cần nhất của kẻ có tình. * Chế ngự những dáng điệu cho có mực thƣớc, giữ gìn lời nói cho có khuôn sáo, ấy là thái độ của những tâm hồn cao thƣợng. * Tóm lại, bất kì là ở vào trƣờng hợp nào, nếu muốn trầm tĩnh, trƣớc hết hãy lo giữ gìn cho sắc mặt và dáng điệu, có một thái độ thản nhiên. Chắc chắn, ta sẽ thắng đƣợc mối cảm xúc nơi lòng và lần lần tâm hồn trở nên yên lặng. Trƣớc hết, ta phải nhất định gìn giữ kỉ cƣơng không cho mặt lộ vẻ kinh ngạc, hay bực bội vì những khó chịu do giác quan ta nhận thức. Có ai nhục mạ mình, hoặc làm phật lòng mình, hãy điềm nhiên đừng tỏ dấu khó chịu gì cả. Nếu cần phải trả
19

lời, hãy ung dung tƣơi tỉnh mà trả lời vắn tắt và thản nhiên, đừng cho sắc mặt biến đổi theo mối cảm của tâm tình. Bất kì là một sự vật nào, bất kì là một ngƣời nào hãy tập ngó ngay bằng mắt lạnh lùng quả quyết. Phản ứng nhƣ thế, lâu ngày rồi thì ta sẽ thấy, chung quanh ngƣời hay vật, không còn ảnh hƣởng gì đối với ta nhƣ xƣa nữa. Trì chí kiên tâm một ngày, một chút, đừng nản lòng đừng gián đoạn… Một ngày kia, không xa đây các bạn sẽ thấy đời mình thay đổi mới lạ. * Ngƣời lễ độ nhu nhã đúng mực là ngƣời khéo tự trị lấy những náo động nhất thời, những cử chỉ nóng nảy, những lời nói vụt chạc. Dẫu giận tức đến đâu, lễ độ buộc ta phải thản nhiên đừng tỏ vẻ thô lỗ cục cằn. Kẻ thô lỗ, bất kì là trong thái độ hay lời nói, là kẻ còn sống trong thiên tính của loài vật chƣa biết tự chủ. * Ngƣời băn khoăn lo lắng hậu vận của mình là ngƣời không tin nhân quả, nếu tin nhân quả thì có gì băn khoăn lo lắng? * Kẻ mắng ta, đánh ta là kẻ không tự chủ. Nếu ta mắng và đánh lại, ta sẽ là kẻ ngang hàng với ngƣời ấy sao? Đó là cái dũng của kẻ thất phu. * Danh dự thật, ở nơi chân giá trị của mình, không phải ở nơi lời khen tặng của con ngƣời. Cho nên ngƣời ta có khen chê, không vì đó mà giá trị của mình tăng lên hay giảm xuống. * Đừng ăn cho thỏa đói, đừng nói cho hả giận. (Ng.Ngữ Lào)
20

* Tự chủ đƣợc cái lòng tự tôn tự đại của mình mới là đại dũng đó. * Tạo cho mình một hoàn cảnh, một không khí đầy sức mạnh thiêng liêng, giúp cho mình rất nhiều, trong bƣớc đƣờng đầu trên con đƣờng siêu thoát. Bởi vậy, hãy tránh xa những bạn tác, những kẻ nhút nhát, rụt rè, những kẻ háo thắng, nóng nảy, hay nói, khoe khoang; trái lại, tìm mà làm bạn hay gần gũi với những kẻ điềm đạm, quả quyết, cử chỉ thuần hậu, ôn hòa. Lâu ngày, “Gần mực thì đen gần đèn thì sáng”. Nhất định xa lánh những bạn tác, có tính vụt chạc, lẳng lơ, náo động nhất thời lao chao hiếu khỉ. Nếu hoàn cảnh bắt buộc phải sống chung hay gần gũi với bọn ngƣời ấy thì hãy xem họ nhƣ cái gƣơng xấu phải giữ mình. * Văn hóa trong hành vi là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa xã hội loài ngƣời. Nhìn vào cách đi đứng, cách ngồi, để tay chân chúng ta có thể biết đƣợc ngƣời đó kính trọng hay coi thƣờng những ngƣời xung quanh. * Muốn làm nên việc lớn cần phải có những ngƣời trầm mặc: vui, buồn, mừng, giận không hề bao giờ lộ sắc. * Chỉ có cách cƣ xử mang tính kỉ luật mới đƣợc coi là đẹp. Một tác phong khỏe mạnh, uyển chuyển cộng với một thái độ nhiệt tình đúng mức sẽ là một phong cách tốt. Sự ẻo lả chỉ làm cho thân hình biến dạng và chứng tỏ sự mất cân đối của một con ngƣời. * Nuốt đƣợc cái cay đắng trong cái cay đắng mới làm
21

đƣợc hạng ngƣời trên loài ngƣời. * Những ngƣời trải qua tai họa thì thƣờng thấu nhẽ và giỏi việc. (Mạnh Tử) * Ngƣời lễ độ, theo tôi, là ngƣời không bao giờ vô lễ với ai cả, mặc dù ngƣời ta hết sức khiếm nhã với mình. * BỒ TÁT SỢ NHÂN CHÖNG SINH SỢ QUẢ Bồ Tát: Một chúng sinh đã giác ngộ và đang giúp cho những chúng sinh khác đƣợc giác ngộ nhƣ mình, thì gọi là Bồ Tát. Nhờ đã giác ngộ thấu suốt đƣợc lí nhân quả trong ba đời, nên chỉ sợ nhân mà không sợ quả. Chúng sinh là loại hữu tình có sinh, có tử, còn vô minh nên đi mãi trong vòng luân hồi. Vì chƣa giác ngộ, còn mê mờ không thông lí nhân quả nên chỉ sợ quả mà không sợ nhân. Vậy, kiểm lại trong chúng ta ai là ngƣời biết sợ nhân xấu, đó là ngƣời giác, là Bồ Tát, ai là kẻ sợ quả xấu, là kẻ mê, là chúng sinh. * Trí tụê nên nhƣ ngu độn, đời sống nên ẩn dật, xử thế nên nhu nhƣợc và tính tình nên phản giác. * Kẻ hùng hổ nào mà không bất đắc kỳ tử thì ta xin nhận ngƣời đó làm thầy. * Nắng là đẹp trời! Mưa là mát trời! Tai họa là thử thách! (Núi Điện -Rồng Đất - Trần Văn Minh) * Trƣớc bất kì một điều gì quan trọng, ai không biết đứng về phía nào thì sẽ không xứng đáng hành động ở bất kì đâu. (Gớt) * Người rất khéo thì như vụng.
22

Người nói giỏi thì như lắp bắp. Cử động thì thắng được lạnh. Nhưng yên tĩnh thì thắng được nóng. * Không tranh với ai nên không ai tranh được với mình. * Thiên hạ có đạo thì ngƣời ta dùng ngựa để kéo và lấy phân. Thiên hạ vô đạo thì ngƣời ta nuôi ngựa chiến ở ngoài thành. * Ngƣời xƣa coi Khổng tử là đấng vạn thế sƣ biểu (bậc thầy của muôn đời) nên thƣờng tôn xƣng là “Đức Khổng Tử”. Ngày nay Nho học không còn giữ vai trò chủ đạo, chúng ta bất tất phải thêm chữ Đức, chỉ cần gọi Khổng Tử bình đẳng với Bách Gia Chƣ Tử. * Sáo đói thì sáo ăn da; Phượng hoàng lúc đói cứt gà cũng ăn. * Tƣơng dục phế chi, tất cố hƣng chi. Hòng muốn phế đó, là làm cho hưng đó. * Dục ngộ biến nhi vô sƣơng hoành. Tu hƣớng thƣờng thời niệm niệm thủ đắc định. Dục lâm tử nhƣ vô tham luyến. Tu hƣớng sinh thời sự sự khán đắc khinh. Muốn cho gặp cơn nguy biến khỏi hốt hoảng; thì lúc bình thời tâm phải tĩnh định. Muốn cho lúc chết khỏi tham luyến; thì lúc sống phải xem thường mọi sự. * Chịu nhận sự thất bại tạm thời để đợi thời cơ thuận tiện. Không một kẻ nào vĩnh viễn chiếm đƣợc ƣu thế, mà cũng không có kẻ nào vĩnh viễn “u mê” bao giờ.
23

* Tuyệt vọng đƣa dẫn ngƣời ta đến tín ngƣỡng. (LêNin) * Phẩm tiên rơi đến tay hèn Hoài công nắng giữ mưa gìn với ai. (N.Du) * Tri mệnh để xem thƣờng mọi sự, coi vinh nhục cùng một rễ, tử sinh cùng một gốc. Vậy thì lo gì sống chết, sợ gì biến động. Tri mệnh chính là một triết lí nhân sinh rất cao. Tri mệnh cũng là một phƣơng pháp đấu tranh rất sát với thực tiễn vậy. * Con ngƣời sinh ra hấp thụ khí âm dƣơng, chịu ảnh hƣởng vận chuyển sinh khắc chế hóa mà thành số mệnh tƣớng cách khác nhau. Số mệnh tƣớng cách khác nhau sinh ra sống chết, giàu nghèo sang hèn, bĩ thái, cùng thông, thọ yểu thông qua thiên bẩm, cơ hội kết cục càng thêm muôn hình muôn vẻ. * Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống. Biết ở đây có nghĩa là tri mệnh. (Trạng Trình) * Tính ngƣời thật khó hiểu. Dung mạo bất nhất, hành động trăm ngàn lối. Kẻ trông hiền lành nhu thuận mà vô đạo, kẻ bề ngoài cung kính mà trong lòng trí trá vô lễ. Kẻ trông rất hùng dũng nhƣng lại rất sợ. Kẻ có vẻ thật tận lực mà rất bất trung. Tuy nhiên, biết ngƣời cũng có 7 cách: - Đem điều phải lẽ trái hỏi họ để biết chí hƣớng. - Lấy mƣu trí trị họ để trông thấy kiến thức. - Lấy lí luận dồn họ vào thế bí để biết biến thái. - Nói cho họ những nỗi khó khăn để xét đức dũng
24

- Cho họ uống rƣợu say để dò tâm tính. - Đƣa họ vào lợi lộc để biết tấm lòng liêm chính. - Hẹn công việc với họ để lo chữ tín. (Gia Cát Lƣợng) * Thói đời thường rất hay thay đổi: Việc chưa đến ai cũng nói giỏi; Việc đã đến ai ai cũng tránh khó; Việc đã xong ai ai cũng nhận công. (Nhân Sinh Tất Độc Thƣ) * Cái lƣời sinh đủ mọi nết xấu. (Tăng Quốc Phiên) * “Có mới nới cũ” thƣờng tình vẫn thế. Tân học mỗi ngày mỗi tiến, lỗi Cựu học phải lùi và có khi sợ rồi mai một mất. Nhƣng, Tân học mà hay, tất là Tân học có một nền tảng vững chắc. Nền tảng ấy tức là tinh hoa của Cựu học. Cựu học nƣớc nhà là một thứ học trải qua bao nhiêu đời, đã làm cho ông cha ta phù thực đƣợc cƣơng thƣờng, chấn chỉnh đƣợc phong hóa, bảo tồn đƣợc quốc thể, duy trì đƣợc thế đạo nhân tâm, thật không phải là một cái Học không có giá trị đáng khinh rẻ hay bỏ quên đƣợc. Vả chăng, “Tri kim, nhi bất tri cổ, vị tri manh cổ; tri cổ, nhi bất tri kim, vị tri lục trầm”. Ta đã biết truyện đời nay, ta lại cần phải học truyện đời xƣa, ta ôn lại việc đời xƣa mà ta rõ đƣợc việc đời nay, có nhƣ thế, thì cái học của ta mới không đến nỗi khiếm khuyết. Vì, tuy chia làm cổ kim, nhƣng chẳng qua cũng chỉ là buổi sớm, buổi chiều trong một ngày của trời đất, kẻ học giả mà câu nệ chấp nhất,
25

chỉ biết cổ không muốn biết kim, hay chỉ biết kim không muốn biết cổ, thì sao gọi là “bác cổ thông kim” đƣợc! Cựu học của ta là gì? Cựu học của ta tức là Hán - Học nghĩa là một cái học chung cho cả mấy dân tộc ở Á Đông đã chịu văn hóa của giống ngƣời Hán, tức là ngƣời Trung hoa, Cựu học không phải là chỉ có Tứ Thƣ, Ngũ Kinh, xƣa kia đa số quen dùng làm cái học cử nghiệp mà thôi. Ngoại giả, còn Bách Gia Chƣ Tử thật là man mác rộng nhƣ bể, học thuyết đủ mọi mặt, lí tƣởng rất sâu xa, muốn học cho tới nơi, phải mất bao công phu, thời giờ mới đƣợc. * Thông minh khó, hồ đồ cũng khó, do thông minh mà đạt đƣợc hồ đồ lại càng khó. * Cái lợi của sự độc thân là mỗi khi gặp một phụ nữ tuyệt đẹp, khỏi phải buồn rầu có một người đàn bà xấu ở nhà. (Paul leautaud) * … Ngƣời tu là ngƣời sống hòa thuận với mình và mọi ngƣời, sống an lạc với vạn vật trong vũ trụ, sống hòa hợp với thiên nhiên một cách ung dung tự tại. Đó là con đƣờng tu đúng đắn nhất theo sự hiểu biết của tôi. (H.T.V.P.Đ) * Kẻ nào còn phải lánh nơi thành thị mà vào núi ở một mình, thì kẻ đó còn là một kẻ sĩ tầm thƣờng. Bậc “đại ẩn sĩ” là ẩn sĩ giữa đô thị. Vì tự làm chủ đƣợc mình rồi, không sợ bị hoàn cảnh chi phối nữa. * Dónt be too smart. Đừng nên tinh ranh quá ~ Ngƣời đại trí thƣờng có vẻ nhƣ ngu.
26

* Người đánh xe giỏi không xông bừa tới trước. Người chiến đấu giỏi không giận dữ. Khéo thắng địch là không tranh với địch. Khéo dùng người là hạ mình ở dưới người. Đó là cái đức của sự không tranh. Đó là cái đức khéo của sự dùng người. Đó là hợp với chỗ cùng cực của Đạo Trời. * Lo nghĩ phiền não, dinh dƣỡng không dùng là các nguyên nhân chính của hầu hết các thứ bệnh. Phải dẹp bỏ, dứt sạch tất cả cho tâm hồn đƣợc thảnh thơi, thoải mái rồi mới có thể chữa trị đƣợc. * Bệnh tật là kết quả của những gì trái với thiên nhiên. Sống thuận theo thiên nhiên không thể có bệnh. Con ngƣời bẩm sinh đều khỏe; bệnh vì các thói quen, các lối sống không hợp tự nhiên rồi theo thời gian tiêm nhiễm vào cơ thể làm suy nhƣợc. Khi bệnh mới phát ra con ngƣời ỷ lại vào thuốc men, các phát minh khoa học. Tiếc thay, lối này chỉ có thể tạm thời cầm giữ bệnh tật cho nó không phát lên chứ không trừ tuyệt căn. Y khoa Tây phƣơng chỉ ngăn chặn bệnh tật không làm nguy đến tính mạng đƣợc một thời gian rồi sau đó cũng bó tay. Muốn trừ bệnh hoàn toàn chỉ có một cách duy nhất là cƣơng quyết trừ tuyệt gốc và ngƣời duy nhất có thể chữa đƣợc là “Chính mình mà thôi, ngoài ra không ai khác. Một khi bệnh nhân ý thức đƣợc điều này, nhất
27

định theo đuổi cách trị đến cùng thì hầu nhƣ bệnh gì cũng có thể chữa khỏi”. (H.T.V.P.Đ) * Nguyên lí bệnh tật nhƣ sau: Con ngƣời chìm đắm trong danh lợi, lo quanh nghĩ quẩn, tích trữ tài sản mà quên sự vô thƣờng ở đời. Họ chỉ thấy lợi nhỏ mà quên hại lớn. Lo làm giàu vật chất mà quên tu dƣỡng tinh thần vì thế thân thể suy đồi, tâm trí đảo điên, thần trí bất nhã lại thêm tửu sắc quá độ, hỉ nộ bất thƣờng, dinh dƣỡng coi thƣờng, bệnh tật do đó sinh ra. Khi bệnh còn nhẹ, ta không để ý chữa trị đến khi nó phát ra đe dọa trực tiếp vào đời sống, ta mới hoảng hốt tin tƣởng vào các phát minh khoa học chữa trị. Thuốc men chỉ tạm thời ngăn chặn khiến cho bệnh chậm tái phát, kéo dài thêm cuộc sống để ta đắm chìm trong dục vọng, phiền toái trong một thời gian nữa. Đến khi thuốc men trở nên vô hiệu, bệnh tái phát thật mạnh thì khoa học bó tay và con ngƣời chấp nhận sự phải đến sẽ đến và coi nhƣ đó là số mạng. Đây là một lầm lẫn rất lớn mà ít ai để ý. Nguyên nhân chính các bệnh là do sự bận rộn với đời sống hàng ngày, nếp sống càng tiện nghi thì họ càng hết sức lao tâm, lao lực để đạt tới cái tiện nghi hơn nữa. Thêm vào lòng tham lam muốn chiếm đoạt, đua tranh để thỏa mãn cái dục vọng nhất thời khiến cơ thể trở nên mất quân bình, phá hoại cơ quan thần kinh - Cơ quan này là đầu mối của mọi thứ bệnh, theo thời gian bệnh từ từ ngấm vào tạng phủ khiến con ngƣời ngày càng lệch lạc, sống ngƣợc với
28

thiên nhiên, mất đi sự an lạc sẵn có, nói một cách khác họ mất đi chính mình. (H.T.V.P.Đ) * Cái đạo lí nhẹ nhàng đó đạt tới một sự quân bình giữa động và tĩnh, tạo nên lí tƣởng của một hạng ngƣời không khinh danh mà cũng trọng sự ẩn dật, hoạt động một cách vừa phải mà làm biếng cũng vừa phải, không nghèo đến nỗi không trả nổi tiền mƣớn phố, không giàu đến nỗi có thể ở không mà ăn hoặc có thể luôn luôn giúp bạn bè một cách vừa ý đƣợc, chơi đàn nhƣng chỉ đủ để tiêu khiển hoặc để ngƣời thân nghe, chơi đồ cổ nhƣng chỉ thu thập ít món đủ để trang hoàng trên một cái tủ sách, đọc sách nhƣng không đọc nhiều quá, nghiên cứu nhƣng không thành một chuyên gia, viết văn nhƣng cứ hai bài thì nhà báo gửi trả lại một; tóm lại là lí tƣởng của một lối sống trung bình, một lối sống kiện toàn nhất mà ngƣời Trung hoa đã tìm ra đƣợc. (Sống đẹp) * Khổng Tử là một bậc thánh ở Đông phƣơng, ngƣời nƣớc Lỗ, tức là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông nƣớc Trung Hoa. Ngày Canh tý tháng 11 năm 21 đời vua Linh Vƣơng nhà Chu năm Canh tuất, chiếu theo Tây lịch, đúng vào năm 551 trƣớc Thiên Chúa giáng sinh, tại huyện Khúc Phụ, làng Xƣơng Bình, thuộc về nƣớc Lỗ, nhà ông Thúc Lƣơng Hột, bà Nhan Thị Trƣng Tại vừa sinh một ngƣời con trai thứ hai, đặt tên là Khổng Khƣu, tên chữ là Trọng Nê một vị Thánh sƣ của bao vạn năm dân tộc Đông phƣơng, chính
29

lúc bấy giờ oe oe ra khỏi lòng mẹ. Tới năm 3 tuổi đã khác hẳn những bé con thƣờng. Cách chơi bời chỉ có bày trở đậu sắp đặt lễ dung, đã tƣợng nhƣ ngƣời kẻ lớn. Rồi đó tuổi khá lớn, tài học đã khá nhiều, bắt đầu làm chức Uỷ lại, coi việc tính toán đo lƣờng rất công bình và rất chu đáo; làm quan Tƣ chức lại, coi việc chăn nuôi, trồng trỉa, các thức súc vật sinh sản rất phồn thịnh. Thánh nhân mới bắt đầu làm việc đời, mà cái gì cũng biểu hiện đƣợc tài năng xuất chúng nhƣ thế. Tuy nhiên, tài cán vẫn ƣu, trí khôn vẫn đầy đủ, mà cái tính hiếu học của ngài lại phi thƣờng cần mẫn. Một đời ngƣời của đức Khổng Tử không nhất định ai là thầy chuyên môn của mình, ai có một việc hơn mình tức là thầy mình: gặp Sƣ Tƣơng thời học đánh đàn, gặp Trành Hoằng thời học nghề âm nhạc; cho đến gặp ông Đàm Tử (vua nƣớc Đàm) thời học tiếng ngoại quốc. Lối học rộng thầy nhƣ các việc trên, thiệt không kể xiết. * Ngƣời quân tử có điều gì không biết thì đừng nói bậy. Nếu danh (hiệu) không chính (xác) thì lời nói không thuận lí (vì danh hiệu không phù hợp với thực tế); lời nói không thuận thì sự việc không thành; sự việc không thành thì lễ nhạc, chế độ không kiến lập đƣợc; lễ nhạc, chế độ không kiến lập đƣợc thì hình phạt không trúng; hình phạt không trúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu (không biết làm thế nào cho phải). Cho nên, ngƣời quân tử đã dùng cái danh thì tất phải nói ra đƣợc (nói phải thuận lí), đã nói điều gì thì tất phải làm đƣợc. Đối với lời nói, ngƣời quân tử
30

không thể cẩu thả đƣợc. TƢ CÁCH VÀ THÁI ĐỘ CỦA NGƢỜI QUÂN TỬ - Chỉ cầu ở mình, không cầu ở ngƣời. - Giữ vững chính nghĩa, không cố chấp điều tín nhỏ nhặt. - Giữ vững tƣ cách khi gặp hoạn nạn. - Lo không đạt đƣợc đạo chứ không lo nghèo. Ăn gạo xấu, uống nƣớc lã, mà thấy vui; chứ không chịu làm điều bất nghĩa để đƣợc giàu sang. - Thƣ thái mà không kiêu căng. - Không lo, không sợ, vì tự xét mình không có điều gì đáng xấu hổ; nghĩ vậy mà lúc nào cũng thản nhiên, vui vẻ. - Nếu có hận thì chỉ hận điều này: Chết mà không làm đƣợc điều gì để ngƣời khác biết tới mình, khen mình. - Thân với mọi ngƣời mà không kết đảng; hòa hợp với mọi ngƣời mà không a dua. - Có lỗi thì không ngại sửa ĐỨC CỦA NGƢỜI QUÂN TỬ - Có đức nhân - Giúp ngƣời làm việc thiện. Thành nhân chi mĩ. - Trọng nghĩa: Cứ hợp nghĩa thì làm, không nhất định phải nhƣ vầy mới đƣợc, không nhất định nhƣ kia là không đƣợc. - Lấy nghĩa làm gốc, theo lễ mà làm, nói năng khiêm tốn, nhờ thành tín mà nên việc. - Sửa mình thành ngƣời kính cẩn.
31

- Chất phác mà văn nhã, hai phần đều nhau, nếu chất phác quá thì quê mùa, văn nhã quá thì không thành thực, trọng hình thức quá. - Hƣớng lên cao mà mong đạt tới. TÀI NĂNG, KIẾN THỨC - Hiểu rộng, biết nhiều, làm đƣợc nhiều việc, chứ không phải nhƣ một đồ vật chỉ dùng đƣợc vào một việc (bất khí). - Có thể không biết những việc nhỏ nhặt, nhƣng có thể đƣơng đƣợc việc lớn. - Biết mệnh trời. + Tài trí đủ để trị dân mà không biết dùng nhân đức để giữ dân thì tất sẽ mất dân. + Tài trí đủ để trị dân, biết dùng nhân đức giữ dân mà đối đãi với dân không trang nghiêm, thì dân không kính. + Tài trí đủ để trị dân, biết dùng nhân đức giữ dân, lại biết trang nghiêm đối đãi với dân mà không biết dùng lễ cổ vũ dân thì chƣa thật hoàn toàn tốt. HÀNH VI NGÔN NGỮ - Thận trọng về lời nói, mau mắn về việc làm. - Làm trƣớc điều mình muốn nói rồi hãy nói sau. - Thẹn rằng nói nhiều mà làm ít. - Xét ngƣời thì “không vì lời nói của một ngƣời mà đề cử ngƣời đó (vì còn xét đức hạnh ra sao nữa), không vì phẩm hạnh xấu của ngƣời mà không nghe lời nói phải của ngƣời ta”. - Sai khiến ngƣời thì không trách bị cầu toàn.
32

- Phải xét nét 9 điều này: “1. Khi trông thì để ý thấy cho minh bạch; 2. Khi nghe thì lắng tai nghe cho rõ; 3. Sắc mặt thì giữ cho ôn hòa; 4. Diện mạo giữ cho đoan trang; 5. Nói thì giữ cho trung thực; 6. Làm thì giữ cho kính cẩn; 7. Có điều nghi hoặc thì hỏi han; 8. Khi giận thì nghĩ đến hậu quả tai hại sẽ xảy ra; 9. Thấy mối lợi thì nhớ đến điều nghĩa”. - Giữ mình thì khiêm cung, thờ vua thì kính cẩn, nuôi dân thì có ân hụê, sai dân thì hợp nghĩa (hợp tình hợp lí). - Chƣa biết đạo thờ ngƣời, sao biết đƣợc đạo thờ quỉ thần. Vi năng sự nhân, yên năng sự quỉ. - Sự sống còn chƣa biết, sao biết đƣợc sự chết. Vi tri sinh, yên tri tử. - Biết thì nói là biết, không thì nói là không biết. - Thái độ về quỉ thần, sống chết của Khổng tử y hệt thái độ của Phật Thích Ca. Kinh Majjhima Nikaya chép: “Có ngƣời hỏi Phật: - Một Đức Phật đã thành chính quả rồi, sau khi chết, có còn nữa hay không? Phật đáp: - Dù sao khi chết rồi, có còn Phật nữa hay không, không quan hệ gì. Chỉ có một điều rõ rệt là: có sinh, có tử và có
33

những nỗi đau khổ; ta chỉ dạy cho biết cái căn nguyên làm cho đau khổ và trỏ con đƣờng đi đến giải thoát… Ta không nói sau khi chết, Phật còn nữa hay không là bởi điều đó không quan hệ gì đến đạo ta dạy là đƣa đến chỗ tiêu diệt hết tình dục mà làm cho đƣợc yên vui, đến đƣợc Niết bàn”. (Khổng Tử) * Bƣớc vào con đƣờng đạo là tự sửa mình, thấy gì ác không làm, thấy gì thiện thì nhất định làm cho đến cùng. Luôn luôn tự giác, kiểm thảo lấy mình và quan sát, học hỏi không ngừng. Nếu các ông buôn bán, thấy có lợi các ông có dồn sức ra buôn bán nữa không? Dĩ nhiên là có, thì việc tu hành cũng thế, tại sao ta không lo cho nhu cầu tinh thần nhƣ ta đã lo cho vật chất? Tại sao ta cứ hứa hẹn nay mai sẽ sửa tính tu thân nhƣ ngƣời khất nợ vậy? Tu hành không phải việc chơi mà làm một cách cẩu thả đƣợc; đó là một quyết định quan trọng vô cùng. Đừng nghĩ cái áo có thể làm nên nhà tu, đừng nghĩ mình sẽ đƣợc một đấng nào giúp đỡ, đó là một sự hiểu lầm tai hại. Đa số các tín đồ đều mong chờ sự giúp đỡ của đấng mình tôn thờ. Họ cho rằng thuộc lòng các câu kinh, thi hành vài nghi lễ dâng cúng các phẩm vật là đã làm tròn bổn phận và sẽ đƣợc cứu rỗi. Nếu điều này đúng thì các bậc vua chúa đã lên thiên đƣờng hết cả vì họ dâng cúng nhiều hơn mọi ngƣời kia mà. Tu hành đòi hỏi sự tận tâm, tận lực cải thiện con ngƣời của mình để xứng đáng là con của Thƣợng đế chứ không phải dựa vào vài hình thức bên ngoài. Đa số tín đồ
34

coi việc tu nhƣ đi xe bus, muốn đến đâu chỉ việc mua vé rồi leo lên xe ngồi, ngắm cảnh vật hai bên đƣờng, ung dung cho tài xế lái. Khi đến nơi họ xuống xe không chút mệt nhọc gì hết. Tu hành chân chính là tự mình cất bƣớc. Thiên đƣờng không phải nơi mà ta có thể mua vé đến, cũng không thể mong dâng cúng vài thứ mà đƣợc các vị thần linh che chở. Giải thoát chỉ đến với sự tinh tấn riêng của từng ngƣời. Khi hiểu nhƣ thế ta cần lập tức lên đƣờng không chậm trễ. Hãy lấy niềm tin làm bạn đồng hành, tận dụng các cơ hội sẵn có để sửa mình hầu giải thoát cho chính mình. Con đƣờng tu có trăm nẻo đi, không nẻo nào giống nẻo nào nhƣng tất cả đều đƣa đến mục đích. Sự chọn lựa con đƣờng hoàn toàn do cá nhân, nhƣng họ cần suy ngẫm cẩn thận để khỏi lầm đƣờng, lạc nẻo. Tu hành chân chính dựa trên căn bản “tự biết mình”, vì trên đƣờng đạo không có vấn đề vinh hay nhục, mà chỉ có sự tiến bộ. Do đó, ngƣời tu phải dẹp bỏ tự ái, ngã mạn, mặc cảm, ngã lòng, không hổ thẹn để tinh tấn tiến bƣớc. Nếu sa ngã lại đứng dậy và tiếp tục, lúc nào cũng định hƣớng không để cho lầm đƣờng, lạc lối. Những kẻ tự cao, tự đại không chịu tu thân sửa mình thật đáng thƣơng vì họ giống nhƣ ngƣời bệnh sắp chết mà không chịu uống thuốc xả ly, dứt bỏ khỏi bệnh. (H.T.V.P.Đ) * Có siêng năng thì sự nghiệp mới to. (Thƣ Kinh)
35

* Tiếng ngƣời không cánh mà bay xa. Tình ngƣời không rễ mà bám chặt. * Trong khi hoạn nạn nhẫn nhục là một tính hay. * Con ngƣời là một linh hồn bất diệt, còn thể xác chỉ là một dụng cụ thô sơ, tạm thời. Ngƣời hiểu đạo là ngƣời ân cần lo lắng cho linh hồn hơn là cái xác thân tạm bợ. Chân lí này giúp cho ngƣời tu tránh các tội ác, các phiền não, vì đa số ngƣời đời đều lầm tƣởng mình là xác thân nên lo lắng, chiều chuộc nó đủ điều. Để cho xác thân đƣợc sung sƣớng họ đã không ngần ngại giết nhau, làm hại nhau, lừa bịp nhau, tóm lại tất cả những gì xấu xa, tội lỗi. Nếu ý thức đƣợc chân lí này thì ai lại còn vơ vét của cải, vật chất làm gì, vì các thứ đó đâu có ích lợi gì cho linh hồn. Ngƣời hiểu biết đƣờng đạo ý thức linh hồn là ta, là ngƣời làm chủ, còn xác thân chỉ là con ngựa để ta cƣỡi đi trên đƣờng. Ngƣời chƣa hiểu biết nhận mình làm con ngựa và cố gắng thỏa mãn nhu cầu của họ. Họ không ý thức mình là tay kị mã kiêu hùng bất diệt, mà cam chịu thân phận con vật yếu hèn chịu sự chi phối của thời gian và không gian. (H.T.V.P.Đ) * Dịp may khó đƣợc mà dễ mất. (Tề Thái Công) * Vấn đề của cải cũng thế, ta biết chúng chỉ là vật tạm bợ, vô thƣờng khi chết nào có mang theo đƣợc, nhƣng thực tế, hễ đâu có của cải là đó có tranh chấp lẫn nhau. Hãy nhìn đàn gà trong sân, chúng đang vui vẻ nô đùa nhƣng hễ có ném cho nắm thóc là có xô xát ngay. Hãy nhìn bầy
36

chó cùng cha, cùng mẹ âu yếm liếm nhau kia, nhƣng chủ ném cho cục xƣơng là cắn nhau tức thì. Loài ngƣời thông minh hơn loài vật nhƣng của cải, danh vọng, vật chất đã làm họ bất hòa có khác chi loài thú. (H.T.V.P.Đ) * Hãy thử hỏi con cóc đực: Đẹp là gì, cái đẹp tuyệt mỹ…! Nó sẽ trả lời cho bạn biết: Đó là con cóc cái của nó, với cặp mắt to và lồi trên cái đầu nhỏ bé, một cái miệng rộng và giẹp, một cái bụng vàng khè, một cái lƣng xám sậm… Hỏi các nhà triết học: Họ sẽ trả lời cho bạn toàn những lời lúng túng hồ đồ. (Voltaire) * Kẻ đại gian giống nhƣ ngƣời trung. Kẻ đại nịnh giống nhƣ ngƣời tín. * Số còn nặng nghiệp má đào Người dù muốn quyết trời nào đã cho. (N.Du) * Một nhà hiền triết nhận xét: - Hình nhƣ trí khôn đƣợc phân bổ công bằng hơn mọi thứ. - Từ đâu ngài đƣa ra kết luận nhƣ thế? - Vì không có ai than phiền rằng mình thiếu trí khôn cả. * Mariana trò chuyện với hồn của chồng mình: - Anh có hạnh phúc hơn hồi sống với em không? - Ơn trời, cũng khá hơn. - Thế bây giờ anh đang ở đâu? - Ở địa ngục em ạ! * Một ngƣời tiến cao là ngƣời đã chủ trị đƣợc xác thân, đặt nó dƣới sự kiểm soát của lí trí và linh hồn. Một ngƣời kém tiến hóa là ngƣời có nhiều thú tính, chỉ lo nghĩ tới các đòi
37

hỏi của thể xác nhƣ ăn uống, nghủ nghê, dục tính. Chính vì thế họ sẽ gặp nhiều đau khổ để học lấy sự chủ trị xác thân. Thế gian là một trƣờng học mà trong đó có yếu tố đau khổ. Sau khi chủ trị đƣợc xác thân là việc kiểm chế thể vía. Thể vía hay tƣ tƣởng là điều rất khó kiểm soát, chinh phục. Ta thấy nhiều ngƣời tuy đã kiểm soát hành động của xác thân nhƣng vẫn còn để tƣ tƣởng chạy lung tung nhƣ ngựa bất kham, không theo một đƣờng hƣớng nào nhất định. Sự định trí, bắt tƣ tƣởng phải theo một đƣờng lối suy nghĩ sẽ đƣa ta đến sự kiểm soát thể vía. Sau đó là sự kiểm soát thể trí, nghĩa là sử dụng trí tụê để suy nghĩ, phân biệt, phá tan các tà kiến, các màng che phủ vô minh. Định trí suy nghĩ là một việc, nhƣng suy nghĩ chân chính, đứng đắn lại là một việc khác. Chỉ khi nào cả ba thể xác, vía và trí hoàn toàn đƣợc kiểm soát thì ta sẽ hòa hợp với chân ngã. Từ đó, phàm nhân và chân nhân hòa hợp làm một và con ngƣời sẽ tiến đến một giai đoạn mới, trở nên một bậc chân tiên. Khi đó con ngƣời bƣớc vào một đời sống trƣờng cửu tinh thần; đời sống của đấng “Christ”. Đó là một đời sống huy hoàng, tốt đẹp vƣợt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta và không thể diễn tả bằng ngôn ngữ. (H.T.V.P.Đ) * Dĩ nhiên, tiến hóa là một định luật vũ trụ và rồi ai cũng đi trọn con đƣờng đó. Ta có thể làm ác, ích kỷ, đi ngƣợc dòng tiến hóa nhƣng làm thế ta chỉ làm chậm trễ sự tiến bộ của mình chứ không chặn đứng đƣợc dòng tiến hóa của nhân loại. Vấn đề đặt ra là thời gian con ngƣời có thể đi đến mục
38

đích trong thời gian ngắn nhất hoặc dài nhất. (H.T.V.P.Đ) * Tâm nên để cho vui mà hình thể nên để cho khó nhọc. Tâm: Tinh thần; Hình thể: Xác thịt. (Lâm Bô) * Tiếc thay, con ngƣời chỉ thích ai nói gì thuận ý mình, đúng với điều mình mong ƣớc, chứ không thích những điều “đúng sự thật”, không thích bị đánh thức. (H.T.V.P.Đ) * Kẻ không chịu sửa mình mà muốn có tiếng thơm để đời, thì khác nào mặt xấu mà muốn có cái hình đẹp ở trong gƣơng. (Nhan Thị Gia Huấn) * Cho ở xa để xem lòng trung. Cho ở gần để xem lòng kính. Giao làm nhiều việc để xem cái tài. Hỏi lúc vội vàng để xem cái trí. Hẹn cho ngặt ngày để xem cái tín. Ủy cho tiền bạc để xem cái liêm. Giao cho việc nguy biến để xem cái tốt. Cho đánh chén say sưa để xem cử chỉ. Cho ở chỗ phức tạp để xem thần sắc. (Trang Tử) * Ngƣời quân tử ghi nhớ rõ nhiều những câu nói hay, việc làm tốt của ngƣời đời trƣớc để nuôi cái đức tính của mình. (Dịch Kinh) * Chớ lo không đƣợc quan to, nên lo cái “Đức” của mình còn kém cỏi; chớ tủi không đƣợc lộc hậu, nên tủi cái “Trí” của mình còn hẹp hòi. (Trƣơng Thành Truyện) * Đào tiên đã bén tay phàm Thì vin cành quýt cho cam sự đời.
39

* … Ngƣời ta có ba thứ chết, tự mình làm cho mình chết, chứ không phải số mệnh đáng chết mà chết: - Ăn uống không có chừng mực, thức ngủ không có điều độ, làm lụng khó nhọc quá, lƣời biếng chơi bời quá, ngƣời nhƣ thế, thì phải chết vì bệnh tật. - Phận là ngƣời dƣới, mà xúc phạm ngƣời trên, lòng tham muốn không chừng, tính yêu cầu không chán, ngƣời nhƣ thế thì chết về hình pháp. - Mình ngu, mà kình địch ngƣời khôn, mình yếu mà cứ khing bỉ ngƣời mạnh; không biết lƣợng sức mình, mà cứ giận dữ làm liều, ngƣời nhƣ thế thì chết về binh đao. Ba thứ chết ấy, thực không phải là số mệnh, chỉ tự mình giết mình mà thôi. (Khổng Tử) * Người hiếu lắm, nuôi chí cha mẹ. Người hiếu vừa, nuôi thân thể cha mẹ.(Y Lâm) * Không nên cƣời rộng miệng, cũng không nên cƣời ruồi. Cƣời chân thành là cái cƣời tốt nhất. (P.L.S) * Ngựa què làm đổ xe; Đàn bà ác nghiệt làm tan nhà nát cửa. (Dịch Vĩ) * Không nói bậy chẳng bằng không làm bậy; không làm bậy chẳng bằng không nghĩ bậy. (Thiên Ung) * Ta có tai, mắt, ta nghe ta trông; ta có tâm tƣ ta suy, ta nghĩ; ta đối với ngƣời xƣa, có lúc ta kính nhƣ bạn, cũng có lúc ta kình địch không chịu. Ta theo lí, nhất quyết không làm tôi tớ cổ nhân. * Khí tƣợng nhƣ chim Phƣợng Hoàng liệng trên mây xanh
40

thì những lợi hại cỏn con không động đƣợc tâm nữa. NHẬP THẾ Con thƣờng hỏi làm sao ứng dụng Pháp vào đời sống hàng ngày để hài hòa với mọi ngƣời mà không mất Đạo Tâm. Con cố nghe kĩ và hành theo đây thì đƣợc an vui. Cuộc đời là nơi tranh danh đoạt lợi, nếu con thuận theo chiều quay đó thì trái đạo, là đau khổ; bằng quay ngƣợc lại thì khó đƣợc chấp nhận trong đời và va chạm lắm lúc còn mạnh hơn khi cùng ngƣời tranh đoạt; cũng đau khổ vô cùng. Nếu vậy, thì tu tại thế là không thể đƣợc ƣ? Chẳng phải không đƣợc. Nếu con tu phƣơng tiện, với ngƣời thế con dùng tâm không tranh mà ứng thế. Con làm việc buôn bán để sinh sống, đó là chính nghiệp. Những nghề nghiệp ấy, không đòi hỏi nơi con sự dối trá hay độc ác có chủ ý với đồng nghiệp mới phát đạt. Không tranh, con làm việc hết khả năng bằng tinh tấn. Không phải tâm muốn chội hơn ngƣời, mà tâm hƣớng đến sự toàn thiện, thì quả là phải đến. Đó là tự tại giữa đời. Tâm không tranh, con không cố ý muốn nổi bật hơn ngƣời về học vấn, về đạo đức, về nhan sắc, con bình thƣờng tu Trí hụê, tu Trì giới, tu Thiền định, nghi dung tề chỉnh, thì dù có đƣợc báo lành hơn ngƣời cũng chẳng bị ngƣời ghét. Tâm không tranh, con không tìm cách chứng minh là ngƣời sai và con đúng, thì không có oán đối. Ngƣời cầu đạo, mong đƣợc nghe khuyết điểm của mình *
41

trên du thuyết. Nhƣng với những kẻ chƣa sẵn sàng, lại khơi đến ngã của họ, thì khác gì đem ngọc ném xuống bùn; chỉ làm họ sinh thêm tà kiến. Đó là thuyết pháp trái thời, là vô minh. Chính mình vô minh, làm sao có thể đem ánh sáng cho ngƣời khác. Tâm không tranh, có gặp kẻ ác cũng chẳng khác gặp ngƣời lành; Vì con có mảy may tranh cãi với họ đâu. Với kẻ quá đối nghịch, con càng vững tâm tin tƣởng lời Phật thuyết có nghiệp báo trƣớc sau, thì sự không tranh ấy có nội lực của thế giới không tranh là Phật lực chuyển đổi hiện tƣợng hay bản chất của mầm mống bất thiện kia. Không tranh, thì gia đình hòa thuận, không có tƣớng phân biệt hơn kém, thiệt thòi. Siêng năng làm theo bổn phận, chính là tu Tinh tấn, tu Nhẫn nhịn, tu Trì giới, tu Trí hụê. Tóm lại: Để vào đời, con dùng tâm không tranh làm phƣơng tiện, con sẽ thắng thế gian. Con sẽ là ngƣời mạnh mẽ vƣợt lên trên cuộc đời và điều khiển cuộc đời theo tâm mình mà không rời Định, Hụê. * Từ phen đá biết tuổi vàng Tình càng thấm thía dạ càng ngẩn ngơ. * Thấy lợi xông vào, thấy hại lùi lại; Hay vơ vào mình, dở đùn cho ngƣời. Đó là thói thƣờng của kẻ tiểu nhân. * Thƣợng đế tạo ra Đàn Ông trƣớc; rồi mới lấy vẻ đẹp của hoa, tiếng hót của chim, màu sắc của cầu vồng, sự mềm
42

mại của gió, sự giảo hoạt của loài hồ, sự vô thƣờng của mƣa… tạo nên Đàn Bà; rồi cho làm vợ Đàn Ông. Đàn Ông mừng lắm, dắt Đàn Bà đi. Nhƣng ít lâu sau, đem trả lại Thƣợng Đế vì chịu Đàn Bà không nổi, Thƣợng Đế bằng lòng, thu Đàn Bà về. Ít lâu sau, Đàn Ông lại xin Thƣợng Đế trả lại, vì vắng Đàn Bà sống không nổi. Thƣợng Đế lại chiều lòng trả lại. Lần thứ ba, lại trả Thƣợng Đế, Thƣợng Đế cũng chịu. Lần thứ tƣ, lại xin lại, Thƣợng Đế cũng chịu nhƣng bảo: “ Từ nay vui khổ thì chịu lấy, đừng quấy rầy ta nữa. Lần này là lần cuối cùng đấy”. (Truyện cổ Ấn Độ) * Hại người để ích cho ta Ngày sau con cháu chắc là bị oan. * Muốn cho thân không có bệnh, trƣớc hết phải để cho tâm không có bệnh. (Tuân Sinh Tiên) * Thầy Tử Lộ vào hầu Khổng Tử, nói rằng: “Đội nặng đƣờng xa, thì tiện đâu nghỉ đấy không đợi chọn chỗ, rồi mới nghỉ. Nhà nghèo, cha mẹ già, thì con làm nên thế nào, hay thế ấy, không đợi có quyền cao, chức trọng mới chịu làm. Ngày trƣớc Do này, lúc song thân còn, cơm thƣờng dƣa muối, đƣờng xa trăm dặm, phải đội gạo để nuôi song thân. Lúc song thân mất làm quan ở nƣớc Sở, xe ngựa hàng trăm, lƣơng bổng hàng vạn, ăn những miếng ngon, mặc những của tốt, mỗi khi nhớ đến song thân, lại muốn dƣa muối, đầu đội gạo để nuôi song thân nhƣ trƣớc, thì không sao đƣợc nữa! Cha mẹ tuổi già như
43

bóng câu qua cửa sổ. Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, con muốn nuôi mà cha mẹ không còn sống”. Khổng Tử nói: “Do, nhà ngƣơi phụng sự song nhƣ thế là rất phải. Lúc ngƣời còn, thì hết lòng phụng dƣỡng, lúc ngƣời mất thì hết lòng thƣơng tiếc”. Lời bàn: Khi cha mẹ còn, hết lòng nuôi nấng, khi cha mẹ mất, hết lòng thương nhớ, đó thực là cái đạo hiếu của con đối với cha mẹ vậy! Làm trái lại hẳn như thế, là bất hiếu, mang một cái tội rất to! Làm trái lại một nửa như thế, nghĩa là lúc cha mẹ còn, thì thờ ơ chểnh mảng, lúc cha mẹ mất thì “mâm cao cỗ đầy, làm văn tế ruồi”, như thế cũng là bất hiếu. Cho nên người con có hiếu còn cha mẹ ngày nào, nên mừng ngày ấy, kiếp ăn ở cho trọn đạo, chớ để đến lúc cha mẹ mất rồi, có hối lại cũng không sao được nữa. Vì rằng, làm con mà còn được có cha mẹ để báo đáp là một việc sung sướng ở đời mà cũng là có duyên có phúc nữa. (C.H.T.H) * Thân ở trong muôn loài, tâm ở trên muôn loài. * Vì quyền lợi mà làm bạn với nhau thì khi quyền lợi hết ắt sẽ xa nhau. BỆNH KHỔ Con luôn bị dằn vặt vì thân bệnh từ lâu; mang theo ngƣời hành trang đau khổ của bệnh tật và trông chờ vô cùng ngày đƣợc giải thoát căn bệnh của mình. Còn chờ đợi gì? Phép lạ chăng? Một môn thần dƣợc đƣợc tình cờ *
44

mách bảo? Hay một thầy thuốc thƣợng thặng tài ba sẽ thay đổi mệnh đời con? Không, Mẹ có thể nói ngay rằng: Sự mong chờ ấy chính là môi trƣờng tạo bệnh; không thể mang lại sự lành mạnh mà con cầu. Con mong chờ ngày đƣợc thoát bệnh, sẽ làm việc này việc nọ, sẽ hạnh phúc, sẽ vui vẻ. Nếu ngày ấy không đến thì con không bao giờ đƣợc ngày vui trọn vẹn. Nếu ngày ấy đến, thì đau khổ đã qua của con đã trở thành thừa thãi. Đâu có lẽ, con đã khổ đau vì bệnh mà bệnh hết. Nên ngƣời có lí chí không hành sự nhƣ thế. Lại nữa, có gì đảm bảo đƣợc rằng: Khỏi chứng bệnh này con không vƣớng phải chứng bệnh khác. Nhƣ thế thì niềm vui đƣợc khỏi bệnh không hoàn toàn trọn vẹn. Phiền muộn, ƣu tƣ thì con không buồn thở, biếng ăn. Từ suy nhƣợc tinh thần, bệnh đã có môi trƣờng để sinh trƣởng. Thái quá trong một sinh hoạt nào đó cũng sinh bệnh. Có những thói quen gây nên bệnh tật, cũng nhƣ có những môi trƣờng sống tạo ngầm cho bệnh. Đó là thân nghiệp, đó là ý nghiệp khiến con phải vƣơng vào. Mà nghiệp là do tâm hỗn loạn tạo thành. Nhƣ thế, bệnh là do tâm, do hành tƣớng của tâm hun tập từ bao kiếp trƣớc để con mang thân bệnh ngày nay. Cho nên, bệnh là do con, mà hết bệnh cũng do con. Không vì thuốc hay thầy thuốc. Có những ngƣời thác vì một căn bệnh nhẹ, lại có ngƣời đƣợc chữa lành khỏi một căn bệnh hiểm nghèo. Đấy không phải là do tâm ƣ! Nếu bệnh chỉ thuần ở thân tƣớng,
45

thì theo qui luật vật chất; bệnh nhẹ không thể gây tử vong mà bệnh nặng chắc khó lành. Bấy nhiêu điều để nói rằng: thân bệnh là do tâm bệnh hiện thành. Tâm bệnh gì? Đó là do cuộc đời huyễn mộng thấy mình có thật, nên con có giận, ghét, buồn, thƣơng. Tâm hỗn loạn nhƣ thế, làm sao khí huyết điều hòa; không điều hòa ắt có bệnh. Vậy thì ở nơi giải thoát không thể có bệnh tật. Nhƣng vì sao, Đức Phật lại thị hiện có thân bệnh? Phật thị hiện có thân bệnh cũng không khác Phật thị hiện nhập niết bàn. Vì thị hiện có tƣớng nên thị hiện hoại tƣớng. Ở nơi có tƣớng hay hoại tƣớng Tâm Nhƣ Lai đồng bất động. Nên ở con bệnh khổ; nơi Đức Phật bệnh nào có khiến Ngƣời rời chính định, sinh khổ trí nhƣ con. Cho nên, nói Nhƣ Lai ở nơi vô thƣờng mà thoát sinh, lão, bệnh, tử là sự giải thoát ngay trong đời. Con phải hiểu rõ căn bệnh, để trị hết gốc bệnh. Gốc bệnh ở đâu? Nơi tâm con. Con có thấy bầu trời ngững ngày không mây và nắng dịu bao la xanh mƣớt một màu; tâm con không vẩn đục bởi tham, sân, si và trong sáng bao la nhƣ thế. Bệnh là dị tƣớng làm hỏng sự thuần khiết của tâm, nhƣ mây đen làm hỏng bầu trời quang đãng. Nhƣng ngoài bầu trời tƣơi đẹp ấy, còn có một bầu trời đẹp mãi bất diệt. Đó là bầu trời cõi không có thời gian. Niết bàn vƣợt ngoài tâm tƣởng và ý thức hành thiện. Nơi ấy, không đau khổ nào đến đƣợc. Và nơi ấy không phải cao hơn, không phải thấp hơn đau khổ;
46

không đến bên trong, không ở bên ngoài đau khổ. Con hãy an tâm về bệnh trạng của mình. Chƣa đƣợc giải thoát tất còn nghiệp chƣớng, chƣa giải thoát tất có bệnh, đó là lẽ tự nhiên. Vì trong bệnh khổ, chồng thêm nỗi khổ tâm về bệnh làm gì. Muốn mau khỏi bệnh phải tự quán tu tâm, là điều con thƣờng nghĩ chẳng liên quan đến bệnh tật của con. Chính sự điều phục tâm mình tấn tu là cách chữa bệnh hay nhất. Tấn tu trong khi bệnh thì nghiệp bệnh mau đƣợc hóa giải. Con hãy điều phục tâm mình khi có bệnh. Đó mới thật là niệm Đức Phật Dƣợc Sƣ. * Rượu là thứ thuốc độc nát ruột; Gái là con dao thép cắt xương. (Cổ Huấn) * Tâm không bình, khí không hòa thì nói hay lầm lỗi. (Hứa Hành) * NGẬP NGỪNG Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé! Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi lần, Tôi nói khẽ “gớm, làm sao nhớ thế” Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé! Em tôi ơi! Tình có nghĩa gì đâu… Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu. Thuở ân ái mong manh hơn nắng lụa Hoa bướm ngập ngừng, cỏ cây lần lữa. Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi,
47

Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi… Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé! Tôi sẽ trách, cố nhiên, nhưng rất nhẹ. Nếu trót đi, em hãy gắng quay về! Tình mất vui khi đã vẹn câu thề, Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở… Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ… (Hồ DZếch) * Đàn ông không thể sống với đàn bà đƣợc; mà không có Đàn bà thì cũng không thể sống đƣợc. (Oscar wilde) * “… Án Tử, ngƣời gầy thấp bé nhỏ làm đến tƣớng nƣớc Tề, danh tiếng lừng lẫy khắp thiên hạ, thế mà thiếp xem ông ấy vẫn có ý khiêm nhƣờng nhƣ chƣa bằng ai. Chớ nhƣ chàng cao lớn đẫy đà, chỉ mới làm đƣợc một tên đánh xe tầm thƣờng hèn hạ, thế mà thiếp xem chàng đã ra dáng lấy làm vinh hạnh tƣởng không ai bằng nữa. Nên thiếp xin bỏ chàng thiếp đi”. Án Tử tức là Án Anh, tên tự là Bình Trọng, người nước Tề về thời Xuân Thu, làm tướng ba đời vua Linh Công, Trang Công và Cảnh Công có tính cần kiệm, một bụng trung thành nổi tiếng thời bấy giờ. (C.H.T.H) * Hoan hô kẻ đã phụ tôi! Họ đã trả tôi lại cho tôi. (Herny de montheriant) * Điều dƣỡng cái khí lúc đang giận; đề phòng câu nói lúc sƣớng mồm; lƣu tâm sự lầm lúc bối rối; biết dùng đồng tiền lúc sẵn sàng. (Uông Thụ Chi) * Dân chủ là gì? Là anh đƣợc nói ngững gì anh muốn nói,
48

và làm những gì kẻ khác bảo phải làm. (Jules Valles) * Yên vui thư nhàn là thuốc độc, không nên quyến luyến ham mê. (Tả Truyện) * TÔN CHỈ VÀ MỤC ĐÍCH CỦA ĐẠO PHẬT. Đạo phật là đạo từ bi hỷ xả, cứu khổ, giải thoát, bình đẳng, giác ngộ, lợi ích an lạc cho chúng sinh (loài ngƣời là chính). - TỪ BI HỶ XẢ: Từ là hiền lành, bỏ các điều dữ, điều trái, ăn ở ngay thẳng nhân đức có nghĩa lí sáng suốt. Bi là thƣơng xót, sẵn lòng thƣơng ngƣời, làm các điều lành, điều phải, có lợi ích cho cả mình lẫn ngƣời bằng cách chính đáng tốt đẹp. Hỷ là vui mừng, thƣờng vui vẻ đối với tất cả mọi ngƣời; mình làm đƣợc điều gì tốt hay thấy ngƣời ta đƣợc cái gì có lợi ích tốt đẹp đều lấy làm vui mừng. Xả là dứt bỏ, dứt bỏ những cái không tốt, không đúng, không thích hợp, dù những cái đó sắp có, đang có hay đã có từ trƣớc, xét thấy cần nên dứt bỏ thì phải quyết định dứt bỏ nó đi. - CỨU KHỔ, GIẢI THOÁT: Cứu gỡ cả cho mình lẫn ngƣời cùng đƣợc giải thoát khỏi những sự khổ sở, thấy ngƣời ta bị uất ức những cái gì hay hoàn cảnh nào làm cho vƣớng mắc bó buộc khổ não, đều tìm cách cứu gỡ cho thoát khỏi, thoát khỏi từ cái nhỏ đến cái lớn, từ chỗ thấp đến chỗ cao, từ vật chất đến tinh thần. - BÌNH ĐẲNG GIÁC NGỘ: Cốt sao cho khỏi dốt nát mê lầm, hiểu đời hiểu đạo, hiểu mọi sự vật lí lẽ, hiểu những
49

cái cần phải hiểu biết khám phá nó ra, hiểu nhƣ những vị đã hiểu đúng, hiểu cao sâu. Coi mọi ngƣời nhƣ bản thân mình, học tập cho đƣợc, đều cùng giác ngộ, giải thoát ngày càng sáng suốt tiến lên. - LỢI ÍCH AN LẠC: Hàng ngày làm những việc có lợi ích yên vui cho cả mình lẫn ngƣời, giúp ích lẫn nhau, bỏ những điều trái, điều dở, điều vô ích, điều mê tín lạc hậu, làm những điều phải, điều hay, điều có ích, điều chính đáng sáng suốt, để cùng đƣợc hƣởng sự yên vui sung sƣớng, có ích cho cả đạo lẫn đời. Những điều cốt yếu nhƣ trên mà tùy sức mà cố gắng tiến hành. (Hòa thƣợng Kim Cƣơng Tử) * Nghe lời chê bai mà giận là làm ngòi cho ngƣời gièm pha; nghe câu khen ngợi mà mừng là làm mồi cho ngƣời nịnh hót. (Văn Trung Tử) * Kẻ chịu thiệt thường được ích, kẻ ích mình thường hay thiệt. (Thuyết Uyển) LUẬN VỀ TIỀN Cũng nhƣ mọi ngƣời không tu kia, con thƣờng bị tiền bạc chi phối tâm tƣởng, nên chẳng phải khi phát tâm tu là đã sạch mọi nghiệp. Đó mới chỉ là giai đoạn bắt đầu nhìn thấy tội của mình; bắt đầu hành trình về cõi vô sinh. Tiền bạc đồng nghĩa với địa vị, danh vọng và mọi thứ làm nên cuộc đời. Còn thấy cần tiền là còn thích mọi thứ ấy. Với tâm vọng động nhƣ thế, dù con có bố thí tiền cho *
50

kẻ khác cũng chẳng có lợi thật cho họ, cũng chẳng ích gì cho con. Con đi ngoài phố, chợt thấy một ngƣời hành khất bên vệ đƣờng, động lòng trắc ẩn con cúi xuống đặt một số tiền vào bàn tay chìa ra ấy, rồi bƣớc đi lòng thật nhẹ. Nhƣng con có biết đâu, con là nguyên nhân của bao nhiêu day dứt đổ thêm xuống ngƣời hành khất đó. Con thƣờng chỉ nhìn hành khất nhƣ những kẻ đã mất hết tình cảm của con ngƣời; chỉ có mối quan hệ xin nhận của bố thí với phần còn lại của nhân loại, trong đó có con. Nhƣng có thật con đã cho một cái gì đó cho ngƣời xin chƣa? Khi con đến với họ là mang theo tất cả ƣu đãi của số phận để chỉ cho có một ít tiền. Họ khổ biết nhƣờng nào, khi nhìn con áo quần sạch sẽ, tự do đi lại mọi nơi mà không ai xua đuổi, trái lại và còn có chốn trở về trong buổi tối. Con không muốn thấy sự thật này, vì điều đó khiến con bất nhẫn; không thể an nhiên thụ hƣởng. Rồi viện lí lẽ, mình cũng khổ dù ở hoàn cảnh xã hội nào. Và lấy nỗi khổ của con làm tấm khiên. Con đã có vũ khí tự vệ chống lại sự thông cảm với những hoàn cảnh cùng khổ ấy. Vì sao? Vì con sợ! Con không muốn nhớ sự bấp bênh của vật chất, không giám nghĩ có thể một ngày nào… thì làm sao có thể thấu rõ nghiệp quả của mình. Bố thí mà không có tâm xả, thì không phải là bố thí. Có tâm xả, dù không có gì để thí, vẫn hiện hạnh bố thí. Tiền bạc ở ngoài thì thành tƣớng, ở trong con thì là gì?
51

Là tâm chấp thụ, ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả tƣớng. Chấp huyễn là thật, là của mình, chấp có ngƣời khác ta, chấp có cuộc đời, có tƣớng số tốt xấu hay dở, chấp sự biến dịch của đất, nƣớc, gió, lửa có thật tính. Phật dạy: Chúng sinh giai hữu Phật tính, Phật cũng đồng nhất thể bình đẳng với chúng sinh. Phật tính không có số lƣợng, cao thấp, không có phân chia; nên không phải kẻ có ngƣời không, kẻ nhiều ngƣời ít. Bất cứ chúng sinh nào tu cũng quyết định sẽ thành Phật. Tức chân tính hiện lộ khắp Tam thiên, Đại thiên thế giới. Con không thấy chân tính của mình, không có thọ mạng ngắn ngủi xoay vần theo có không của vật chất hoại diệt từng thời; chuyên nắm bắt ảo giác mà tƣởng nhầm thật thế. Làm sao thật đƣợc, khi tiền bạc quyết định? Sự vui thích của con chỉ phụ thuộc vào phƣớc lành đã tạo đƣợc; phƣớc hết thì tiền tài cũng hết, và song song với việc lành đã tạo đƣợc, cũng có quả báo của việc lành không hay chƣa gây tạo đƣợc. Nên khi thọ hƣởng tiền tài cũng không hoàn toàn hạnh phúc. Đuổi theo ảo giác này, là sự hy sinh thiên thu cho những tờ giấy vô nghĩa, cho một giấc mộng chấp thọ giả. Nên tƣởng đến kiếp sống này, cố vun bón cho tròn đầy, cho ý thích ngũ dục, rồi bỏ thân lại kiếp sau cũng thế, chẳng lúc nào đƣợc ngơi nghỉ bình an và chẳng thể nào thoát đƣợc vòng luẩn quẩn của luân hồi quả báo… Con tƣởng rằng, những vật chất tiện nghi mà con thấy là có sao? Đó chỉ là những hạt bụi kết hợp thành vật thể theo
52

tâm của con. Tâm chấp ngã nhân thành tính ganh đua; hiện tƣợng xe cộ đẹp xấu, tốc độ nhanh chậm, cũng là địa ngục mà không biết. Chết chóc, đau khổ vì những miếng mồi này của vô minh không phải là ít. Hiện tƣợng áo quần đẹp xấu, đắt giá cũng gây đau khổ nhƣ địa ngục. Đồ dùng vặt vãnh cho chí đến quyền lực cao nhất cũng chỉ có đƣợc những hạt bụi chứ không có gì khác. Sự trọng vọng do đồng tiền mang đến không dành cho bản ngã của ngƣời nào mà dành cho tất cả bản ngã của mọi ngƣời nói chung. Bất cứ chúng sinh nào với những điều kiện vật chất nhƣ thế. Đó là nghiệp. Con đã thấy có những ngƣời chỉ vừa thoát kiếp súc sinh, nhân dáng chƣa thuần, bản tính cục súc hãy còn; do nghiệp báo đƣợc giàu sang, thì danh mà do vật chất mang đến có bền không? Có thật sẵn dành cho kẻ ấy không? Nếu có một giá trị nào đó? Tại sao tiền bạc ấy không trang trí cho bản ngã đó một tính tình, ngôn ngữ, tƣ cách, sắc thái dễ coi, dễ mến nhƣ tiền bạc của họ? Lại còn những cách tiêu xài sang trọng, đài các hay những đồ vật làm đẹp ngƣời có nó, thực chất là gì? Nếu có những tƣớng ấy, vẻ đẹp đẽ đài các mới xuất hiện thì vẻ đẹp là ở đồ vật chứ đâu ở chúng sinh? Đâu ở con ngƣời? Nhƣng không có lẽ vật vô thức lại làm sinh động loài hữu tình. Còn nếu vẻ thù thắng đã có sẵn trong thâm tâm, thì đâu cần nhờ vật bên ngoài mới hiện lộ. Nhƣ Lai còn không có tƣớng Phật để làm Phật. Tại sao con cứ cầu giả
53

tƣớng? Con cần tiền vì tiện nghi do tiền mang đến thì ít, mà chính ra vì muốn hơn ngƣời khác thì nhiều. Đó là ngã. Có ngã vì sợ cô đơn, sợ kẻ đồng loại đẩy mình ra ngoài vòng quay của họ. Sợ bị khinh thƣờng cũng chính là tƣớng của ngã. Thực chất của tiền chính là ngã. Thực chất của ngã là vô minh. Thực chất của vô minh là sợ hãi. Sự sợ hãi gây điên đảo vọng tƣởng, chính sợ hãi đƣa con ngƣời tìm cảm thông nơi kẻ khác; bằng phƣơng tiện này hay phƣơng tiện khác, mà phƣơng tiện dễ nhất là tiền tài. Đó cũng là yếu đuối nằm trong tính chúng sinh. Khắc phục đƣợc sự yếu đuối này, chính là sự tinh tấn. Tinh tấn tu thì sợ hãi tiêu tan, sự cô đơn không còn nghĩa cô đơn, mà trở thành tự tại, thì chính thân này là kho báu. Nên phƣơng tiện đó mà tu. Còn cần gì đến huyễn tƣởng sinh ra từ huyễn hoặc; là tiền tài sinh ra từ giả thân có thọ mạng ngắn ngủi. Cho nên, nghĩ nhƣ con vẫn thƣờng nghĩ: Không phải là tâm bố thí, muốn có tiền để làm phƣơng tiện bố thí. Tâm đã chẳng không thì có gì không là của mình mà gọi thí. Thí tiền cho ngƣời nghèo theo kiến của con là phân biệt bố thí, có gì là giải thoát, có gì là không. Phải nghĩ đến thí tài cho ngƣời giàu hơn con nữa kia, mới gọi là bình đẳng bố thí, mới thật không chấp vào tiền mà bố thí, không chấp bố thí mà hành bố thí. Đó chính là bố thí. Hiểu nhƣ thế thì thấy giàu nghèo chẳng qua do sự
54

phân biệt của từng ngƣời, không do một tiêu chuẩn bất di bất dịch. Thế thì kiến phân biệt của chúng sinh về giàu nghèo cũng không khỏi kiến chấp của mình. Nên tất cả kho báu mà con có thể tƣởng tƣợng đƣợc ở thế gian, thù thắng nhất ở thế gian tuyệt đối với mắt nhìn của con, cũng không thể nào sánh với các cõi Trời, huống chi các cõi Phật; là nơi không có tƣớng, nên sự hạn lƣợng không có. A - Di - Đà Phật quốc là nơi phƣớc báo của Đức A - Di - Đà Nhƣ lai hiện lộ thành tƣớng. Không phải vàng là vàng của thế gian uế tạp, vì là nhân, là kết quả của bao mối tranh, mà là tính của vàng tức sự tinh khiết, sự tuyệt đối viên mãn. Làm đẹp mắt ngƣời nhìn, vẫn không khiến tham, sân, si nổi dậy. Trái lại, càng thêm sinh kính mến công đức tu hành, tính thật của vàng ngọc hiện thành cung điện. Có một thứ vàng ngọc nào, không khiến tham, si nổi dậy. Đó cũng chính là vàng ngọc của Phật. Con đã thấy có ai dùng tiền xóa bỏ đƣợc địa ngục chƣa? Địa ngục, chính là những nỗi khổ tâm của từng ngƣời đó. Nhƣ con chẳng hạn. Có đồng tiền nào cột đƣợc mãi tuổi ba mƣơi lại với con không già theo năm tháng. Tất cả những xảo thuật, kĩ nghệ, phát minh cũng không thể mua, thay đổi đƣợc thời gian. Và con vẫn thƣờng nghĩ: Nếu có tiền nhiều, thì việc đã khác (mỗi khi có việc chẳng thuận lòng). Nghĩ nhƣ thế vì cho rằng, tiền có thể giải quyết mọi việc. Con đừng nên nghĩ thế. Việc gì xảy đến cho con, cũng đều do nghiệp của các tiền kiếp. Xấu, tốt
55

hãy khoan luận bàn trên tƣớng. Nhƣ một ngƣời bệnh ngặt nghèo không tiền thang thuốc, không thấy khổ đau của mình, là kết quả của các việc làm đời trƣớc; từ chỗ mạn ấy mà tu, cho chóng tiêu tan nghiệp quả. Lại than trách cái nghèo của mình. Cho rằng bệnh còn, vì không có tiền thì thật sai lầm. Nếu ngƣời ấy giàu có, nghiệp bệnh vẫn theo bằng cách biểu hiện một bệnh nan y, mà tiền nào cũng không thể mua đƣợc thuốc. Đừng quy cho tiền bạc một trách nhiệm, cũng nhƣ một lợi ích nào, vì bản thân nó chẳng có, muôn sự là do tâm. Rút lại, tiền cũng chỉ là ngũ uẩn, cũng là căn, cũng đắm theo các cảm giác của thân, để trị các mê đắm của nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, khẩu, ý ấy là thiền định. Không một cảm giác nào, có thể sánh với trạng thái tọa thiền nhập định. Tiền bạc chỉ mang đến sự vui thích hạn chế theo khả năng cảm nhận của các căn. Còn thiền định là một sự bùng vỡ, tuôn trào của hạnh phúc khôn nguôi, của an lạc. Thiền định mở từ khớp xƣơng, từ thớ thịt, từ lỗ chân lông, từ tạng phủ trong ngƣời, từ nơi bí mật nhất của não bộ. Tóm lại, từ tất cả những gì gọi là thân của con. Những cửa ngõ đƣa con vào bể cực tỉnh, cực lạc thân tâm không còn tƣớng. Thƣơng những ngƣời nghèo khó, không trụ tƣớng nghèo mà thƣơng; bố thí tiền cho kẻ khác, không trụ tƣớng bố thí, cũng không trụ vào tiền. Nhìn những ngƣời nghèo sinh thƣơng xót, là dùng tâm bất bình đẳng đối với chúng sinh. Con thƣơng ngƣời nghèo, sẽ sinh ghét ngƣời
56

giàu có. Và từ tâm mình bất bình đẳng, thấy mọi sự đều bất công. Không ít kẻ trách trời đất, thánh thần cho đến ta cũng vì thế. Con phải quan sát đúng nhƣ thật, thì mới có giải pháp hợp lí nhất mà giúp đỡ. Tất cả mọi chúng sinh đều khổ. Không nhìn tƣớng giàu nghèo, chỉ nhìn thấy nỗi khổ chung của chúng sinh mà bình đẳng thƣơng cảm. Cho nên, thí tiền cho ngƣời nghèo, vì họ cho đó là khổ và con cảm thƣơng tâm trạng khổ ấy. Chứ không phải cảnh nghèo là đáng thƣơng. Đó là sự thƣơng hại. Mà thƣơng hại, là một tình cảm rất giả dối; hạ phẩm giá của ngƣời ấy, nhƣ là một sinh vật thấp hơn con. Con nên biết, bốn mƣơi chín năm Thế tôn tại thế thuyết pháp, là bốn mƣơi chín năm không nhà, không vật thực độ thân tiên liệu cho ngày mai. Tƣớng ấy, thực có hay không thực có. Nếu có thực, sao gọi Nhƣ lai là thân phúc điền của chúng sinh. Vả lại, khi bố thí cũng không nơi đâu có thể trụ tâm, trụ tƣớng đƣợc mà tự cho mình bố thí cho kẻ khác. Tiền ấy khi ở trên tay con thì còn là của con, khi ở trên tay ngƣời kia thì là của họ; có gì còn là của con mà gọi thí. Nếu nói đã là, đã cho thì nói về quá khứ. Thế thì tiền ấy cũng có quá khứ không phải của con. Ngay khi cho cũng không nói là cho đƣợc, vì thời gian đâu có ngừng, “đang” chỉ có một nghĩa tƣơng đối. Nhƣ Phật thuyết: “Này Tỳ kheo, nơi chính ông bây giờ cũng đang sinh, đang già , đang chết”; chỉ rõ sự hoại diệt không ngừng của tƣớng thì làm sao con lại giám nói có bố thí cho ai. Ở nơi không trụ,
57

hành bố thí mới là chân bố thí. Việc kẻ khinh, ngƣời trọng mà con hay qui tội cho tiền là suy nghĩ sai lầm. Gặp kẻ khinh thƣờng vì chấp tiền thì con giận kẻ ấy, giận số phận, giận cả Mẹ, vì cầu mãi mà chƣa có tiền. Nhƣng khi bị cƣớp chú ý, bị mất trộm, bị gạt tiền thì con chỉ giận trộm cƣớp, không giận tiền của mình, biến con thành mồi của họ. Không có thì đòi hỏi, khi có và bị nguy hiểm vì tiền cũng không nhận thấy bản tính của tiền không tốt, không xấu là chấp trƣớc. Bản tính của tiền bạc cũng nhƣ vạn vật là không. Có một đời sống mà không tiền bạc, vàng ngọc châu báu nào giúp con đến đƣợc là đời sống vĩnh cửu của chân không vũ trụ; không ở trong thân, không ở nơi nhất định mà vẫn có thể phƣơng tiện hiện trong thân, hiện thành tƣớng. Một đời sống bao trùm cả vũ trụ đƣa con dạo chơi trong không gian, cho con đủ các hình tƣớng; ở ngoài tất cả suy luận của con. Con có mơ bay giữa các đám mây hay bay đến các vì sao, con vẫn thấy các bầu trời mà trên bằng thân con tạm có, với thân này dù có dùng thân lực của Mẹ mang con đặt giữa các đám mây, con cũng chỉ có cảm giác buốt lạnh và không nhìn thấy gì, vì mắt sẽ bị lóa thì làm sao con thích thú. Với thân này, mang con đến các vì sao con cũng chẳng thấy thích thú nào khác, ngoài cảm giác nóng lạnh, ngộp hay khó thở, hoặc có khắc phục đƣợc cũng không mang lại cho con thích thú, vì cảm quang của con không giống với các thế giới ấy. Một đôi mắt có thể cho con thấy
58

tất cả mọi sự diễn ra trên mặt đất, cùng lúc cho con thấy sự di chuyển của các vì sao. Một thân có thể đến với mọi loài, cảm theo cảm quang của loài nào cũng đƣợc, giúp con đi từ mặt đất đến nơi xa. Một thân thật to lớn, để con có thể bƣớc trên các vì sao nhƣ đi trên gạch lát đƣờng. Một thân vô bệnh trƣờng thọ. Thân nhƣ thế mới đem lại thích thú, khi thực hiện ngững giấc mơ. Và thân ấy, là thân vô tƣớng, đời sống thật ấy cho con một thân vô tƣớng; biến hóa không ngăn ngại, hành sự không ngăn ngại. Gọi là Pháp thân. Tiền không thể làm gì đƣợc, con hãy để sang bên. Hãy mau cầu thân vô tƣớng. Mau cầu nơi đâu? Trở lại bản tâm, dứt bặt mong cầu thì sẽ thắng. Con hãy làm theo. * Việc có dự trước thì làm mới nên. (Trung Dung) * Tuổi trẻ không gắng sức, Già cả những ngậm ngùi. (Cổ Thi) * LỜI CỦA THẦY TRẦN HY DI Xét tâm thấy ngay kẻ thiện ác. Nhìn hình có thể biết họa phúc. Ăn ở bất công con cháu vô lộc. Ngôn ngữ phản phúc sẽ chết vì phản phúc. Phổi bò ruột ngựa chẳng đáng anh hào. Tâm bình khí hòa con cháu tôn vinh. Tính chấp nhất, tài thiên lệnh thƣờng gặp đại họa. Vô tình bội bạc dễ bần cùng. Luôn luôn nhớ gốc đƣợc nhiều dịp may.
59

Trọng giàu khinh nghèo loại bất nhân. Kính già yêu trẻ tƣơng lai tốt đẹp. Hay nói liều khó có tuổi thọ. Vong ân, lại hay nhớ tiểu oán công danh nan thành. Đại phú đại quí không làm động tâm, phúc thọ vô cƣơng. Lừa dối lừa gạt, dù cho giàu sang cũng sớm tàn. Công bình chính trực, chết làm thần. Mê hoa luyến tửu, khổ vợ con. Chỉ biết lợi mình mà hại ngƣời, con cái bất hiếu. Ngu si, ăn nói cục cằn khinh bạc suốt đời làm công. Thông minh, ngôn ngữ văn nhã thƣờng dễ thông lọt. Trong lúc hoạn nạn, biết tự thủ, chịu đọc sách có thể là trụ thạch triều đình. Hà tiện, chịu khó sẽ tiểu phú tiểu quí, nếu có đởm lƣợc sa xỉ, hoang tàn có thể là kì nhân nếu tài ba lỗi lạc. Làm chậm mà chắc, không vội vàng ngƣời đáng tin cậy. Làm nhanh mà sáng suốt, ngƣời tài cao tảo phát. Tri túc và tự mãn là hai thái độ khác nhau; Một kiêu căng nên tai họa, một khiêm nhƣờng nên đắc phúc. Tài lớn với tài vặt không giống nhau. Một xông xáo hay thất bại, một ẩn trọng nên công thành. Quá cƣơng việc dễ thành, nhƣng dễ bị họa. Quá nhu mọi sự khó thành, nhƣng sống yên ổn. Ở chỗ vui mà sinh vẻ buồn, nhất sinh tân khổ. Lúc đang giận mà cƣời, là gian tà thủ đoạn.
60

Ƣa khoe tài khoe giỏi, lật đật đƣờng công danh. Thích chê bai luôn luôn bị ghét. Chỉ trách ngƣời mà không trách mình loại khó chơi. Công cho ngƣời, lỗi mình nhận mới là bạn tốt. Uốn ý mình cho đời đƣợc chu toàn, hậu vận hay. Cứ ý ta xông bừa bãi rồi sẽ gặp hung vong. Mặt dễ biến sắc, bạc phƣớc. Kiên trì, nhẫn nại hanh thông. Mừng giận vô lối nhất, sự vô thành. Chửi chê, không đâu tri giao đoạn tuyệt. Giúp ngƣời nghèo, đỡ ngƣời hoạn nạn tuy bây giờ nghèo nhƣng phúc ở trời giáng xuống. Cam chịu bị ngƣời lừa dối, có con hốt nhiên đại phát. Thƣờng nghĩ đến sự nhƣờng một bƣớc, cả đời an lạc. Hỉ nộ bất hình sắc, thành danh còn lập đại công. Tuy nhiên kẻ đại gian cũng hỉ nộ bất bình hƣ sắc. Bị kiếm đâm dao chém, bởi vì ngƣời quân tử quá cƣơng cƣờng và kẻ tiểu nhân tự đắc. Gieo mình xuống sông, thắt cổ tự ải bởi vì con trai. Tài kém hiểm nguy, con gái khí thịnh mà bị áp bức. Tại sao đoản triết thân vong? Tại nói điều bạc, làm điều bạc, lòng bội bạc sử sự bạc bẽo. Tại sao hung tai ác tử? Vì đã âm tƣ hành động lén lút. Tại sao về già không con nối dõi?
61

Vì tính tình quái dị cô độc. Tại sao thành niên chôn con? Vì tâm địa độc ác. Tại sao bị bệnh tật chết mau? Vì sắc dục không hƣ. Tại sao đƣợc bái tƣớng phong hầu? Vì hoài bão cái chí trùm thiên hạ. Tại sao đƣợc ở nhà ngọc cƣỡi ngựa vàng? Vì hành động thanh nhã, hình dung tú lệ. Tại sao chỉ làm anh quèn? Vì khí tƣợng tầm thƣờng, gan dạ nhỏ bé. Họa phúc chẳng qua chỉ bởi người gọi đến, Thiện báo ác báo như bóng theo hình, Trồng đậu nên đậu, trồng dưa thành dưa. (Trần Hy Di) * Tình yêu có những lí lẽ riêng mà lí trí không sao hiểu đƣợc. (Patscal) * Càng học càng hay, cũng nhƣ khát mà ra sông ra bể, uống nhiều thì đƣợc nhiều, uống ít thì đƣợc ít. (Thận Từ) * Người đi đêm tuy không là gian, nhưng không thể cấm chó không cắn được. (Chiến Quốc Sách) * Tật xấu là gì? Là những cái ƣa thích mà mình không đồng tình. (Jean Lorrain) * Gấm vóc mà xé rách từng mảnh; Không bằng vải thường mà còn nguyên. * Lúc giận, dệt thêu ngay hóa vẹo, Khi ƣa, tô vẽ méo nên tròn.
62

Ai hay lặn lội đo mồm cá, Mà biết vuông tròn uốn lƣỡi câu. * Ruồi chết vì mật ngọt. Đàn bà chết vì đàn ông khéo. Đàn ông chết vì đàn bà đẹp. Còn cha mẹ chết vì con bất hiếu. (E.Kaut) * Ngƣời đàn bà không trƣng diện Là ngƣời đƣợc đàn ông thích hơn cả. THỜI TRANG Nhu cầu hàng đầu của con ngƣời là ăn, mặc. Ở ngƣời tu thì nhu cầu ấy, chuyển thành luật nghi và sự hoằng hóa, là y bát. Con làm thế nào, để có đƣợc sự chuyển đổi ấy? Bao giờ con cũng bị cái mới lạ ấy thu hút, đó là vì tâm chƣa an trụ đƣợc vào chốn bình an. Nên bất cứ hành động nào bên ngoài cũng cuốn theo. Nếu không sớm định tâm, rồi từ đó đi tới đại định, không còn thấy tâm có định, con sẽ ra nhập số ngƣời kia sinh chờ mới lạ, nên tâm trạng lúc nào cũng bất an. Dù đang vui vẫn khổ, một nỗi khổ mơ hồ, đọng lại trong tiềm thức và bùng lên khi cuộc vui đã tàn. Vì điều mới lạ nhất vẫn còn ở phía trƣớc, cánh cửa ấy trì kéo chứ không mở. Một cánh cửa vào không gian của nội quán, dẫn con đi lên, tìm vui để chạy trốn, để quên nỗi khắc khoải nhuốm màu tuyệt vọng của một sinh linh tìm kiếm tuyệt đối, thƣờng hằng trong nẻo vô thƣờng. Con *
63

ngƣời thay đổi, tham gia mọi cái mới và một trong những giải khuây ấy là thời trang. Con thích ở trong đám đông, nên chú ý đến thời trang, đó cũng là một tƣớng của ngã đấy. Không ai vận y phục đẹp vào mà không có cái thích thú, dù chỉ nằm trong tiềm thức đƣợc kẻ khác chú ý. Chú ý đến, ắt có phê phán, sợ sự phê phán nên càng thuận theo sự phê phán, tức là đã vƣớng vào danh, sắc và đánh mất chính mình. Thời trang, không có ý nghĩa đơn thuần là y phục, đó còn có nghĩa sự ấu trĩ của tâm linh. Một ngƣời thật sự mang nỗi hoài nghi về nguồn gốc, thân phận của mình sẽ không thể nào có thời gian để tâm đến vấn đề nào khác, ngoài vấn đề lớn nhất của con ngƣời, là sự hiện hữu của mình. Cái chết của vạn vật hữu thể và phía sau cái chết quyết định giành cuộc sống hiện tại, để giải quyết những vấn đề ấy bằng thực nghiệm. Lời của ngƣời đã tự giải thoát khỏi những hoài nghi này là hành Pháp Phật mặc áo Tăng già. Nhƣ thế cái y, chính là cuộc đời giải thoát. Nói cách khác, đó là giới, là hụê và ngƣợc lại, thời trang hàm nghĩa vô thƣờng, phù du, nông nổi. Nên con thấy, những ngƣời say mê thời trang là những ngƣời chỉ biết tiêu chuẩn giá trị ở bộ trang phục, không còn biết một giá trị nào khác. Họ là những cái mắc áo đúng nghĩa. Mĩ, không nằm trong dục lạc, nên những y phục lấy sự dục lạc làm kim chỉ không đạt đến nghệ thuật, không phản ánh đƣợc trí tụê của một thời đại, một dân tộc
64

mà chỉ là những mảnh vụn của cả đại danh dục vọng. Những y phục lấy công đức làm vải, lấy từ bi làm kiểu cách, lấy trí tụê làm phƣơng tiện may thành. Hãy lấy những y phục ấy mà trang nghiêm thân tƣớng. Chính thế, mặc y phục chẳng vì xấu hổ, khoe khoang, chẳng vì thời tiết mà chỉ vì trang nghiêm thân tƣớng. Thân tƣớng đấy, chẳng phải xƣơng thịt, máu mủ mà gọi thân tƣớng. Đó là oai nghi, là vô dục, là vô ngã, là đồng thể tính với y phục. Thân không lìa không khác y, y cũng không lìa không khác thân. Đó là chẳng phải thân tƣớng, mà gọi thân tƣớng; chẳng phải y phục mà gọi y phục; chẳng nghĩ trang nghiêm, mà thật trang nghiêm. Và nhƣ thế, chính là đắc y thọ giới. Và nhƣ thế là chân thật đắc y. Cho nên, chất y là Pháp bảo, là dấu vết của Đức Phật tại thế gian. Tôn trọng chất y chính là tôn trong Phật. Đó không chỉ là vải vóc; đó là sự giải thoát hiện thành tƣớng. Con đừng nhƣ những ngƣời kia, trụ vào sự tu học của mình, phê phán những vị chất y, lo chất y trì bát của Phật. Chẳng nên nhìn lỗi ngƣời bằng đôi mắt của quan tòa, huống nữa là tỏ thái độ bất khiêm cung. Bất cứ ai còn vƣớng mắc, đều chịu báo lành của mình một lực phản hồi. Nếu con không tỏ thái độ, thì chẳng phải vì thế mà luật nhân quả không thấy lỗi lầm của họ, nên con vẫn cung kính chất y, vẫn phải cung kính các vị ấy. Nếu con là Tỳ kheo không mang y bát, có thể vì lòng trí, độ đƣợc vƣớng mắc của ngƣời phạm giới kia con hẵng
65

độ. Nếu con không phải là vị Đại bồ tát, mà pháp âm xua đƣợc vô minh, phiền não nghiệp chƣớng sầu dày, đem ngƣời phạm giới trở về nơi nẻo chính, thì con đừng luận đến tội của họ. Nếu vị hành đạo ấy, không thích hợp với con, con phải xa trong sự kính trọng. Tại sao, những ngƣời không tôn trọng chính pháp, là kẻ không tôn trọng chất y mà họ đang đắc. Con không thể vì họ không tự tôn trọng, mà sinh luật bất kính với Tăng già tƣợng trƣng bởi chất y đấy. Hơn nữa, y là giới, họ đã phạm giới, thì con đừng phạm theo. Là hành động không tôn kính y giới. Hành sự nhƣ thế mới đúng là Phật tử. Những ngƣời đắc y trong lòng, thân sắc phàm phu mà thật hành Phật đạo, vì hiếu nghĩa, môn pháp không tự tính mà bỏ tƣớng đắc y, mà bỏ tƣớng chúng sinh, để làm vạn điều lợi ích. Là Đạo sƣ mà không trụ tƣớng Đạo sƣ, là Bồ tát mà không trụ tƣớng bồ tát; thị hiện bệnh tật mà cứu khổ ngƣời khác, thị hiện xa hoa mà lòng lìa tiền bạc; tâm trí không rời kẻ khó nghèo. Những ngƣời vô tƣớng đắc y nhƣ thế, là những ngƣời thật hiểu nghĩa của y. Chỉ có mỗi việc nhỏ nhặt, là việc mặc, mà có thể phơi bày tất cả tâm tƣ, tình cảm, trí tuệ của con ngƣời nhƣ thế. Nên hãy cẩn thận trong việc mặc. Cẩn thận, không có nghĩa là trải chuốt, mà là con đang vận y phục với tâm nào hay không có ý niệm nào hết. Nếu đƣợc tâm không trụ, thì thật đã bỏ qua đƣợc tƣớng * Kẻ bị sỉ nhục, dùng sỉ nhục để báo thù, có khác gì
66

ngƣời sỉ nhục họ kia không? Chẳng qua là những kẻ cùng làm quấy nhƣ nhau, nhƣng kẻ trƣớc ngƣời sau mà thôi vậy. (Trtullien) * Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao Mặt tơ tưởng mặt lòng ngao ngán lòng Buồng văn hơi giá như đồng Trúc se ngọn thỏ tơ chùng phím loan. (N.Du) * Ngƣời quân tử cử động thận trọng, không sơ suất với ai; Dung mạo đoan trang, không thất sắc với ai; Ngôn ngữ cẩn thận, không xảy miệng với ai. Thất sắc: Kiêu ngạo khinh bạc mất vẻ tự nhiên. * Nói cho hay, làm cho phải, thế là tu thân. (Tố Nhƣ) * Muốn bỏ tính “lƣời” thì trƣớc hết đừng sáng dậy trƣa. Muốn bỏ thói “kiêu” thì trƣớc hết đừng nhẹ miệng chê cƣời thiên hạ. (T.Q.P) THẾ NÀO LÀ THÍCH HỢP - Hoa không thể không có bƣớm, núi không thể không có suối, đá không thể không có rêu, nƣớc không thể không có rong, cây lớn không thể không có dây leo, và ngƣời không thể không nghiền một thứ gì. - Thƣởng hoa nên ngồi với giai nhân, uống rƣợu ngắm trăng nên ngồi với khách tao nhã, ngắm tuyết nên chung với cao sĩ. - Đứng trên lầu mà ngắm núi, đứng trên thành mà ngắm tuyết, đứng trƣớc đèn mà ngắm trăng, ngồi trong thuyền *
67

mà ngắm mây, đứng dƣới trăng mà ngắm ngƣời đẹp, mỗi cảnh có mỗi tình. - Đá ở bên gốc mai nên cổ kính, đá ở dƣới gốc tùng nên thô, đá ở bên bụi trúc nên gầy, đá ở trong bồn nên đẹp. - Có núi xanh thì có nƣớc xanh, nƣớc mƣợn sắc của núi; có rƣợu ngon thì có thơ hay, thơ cũng mƣợn cái thần của rƣợu. - Gƣơng chẳng may mà gặp một ngƣời đàn bà xấu, nghiên mực chẳng may mà gặp tục tử, kiếm chẳng may mà gặp một viên tƣớng tầm thƣờng thì còn biết làm sao đƣợc nữa! BÀN VỀ HOA VÀ MỸ NHÂN - Hoa không nên thấy rụng, trăng không nên thấy chìm, mỹ nhân không nên thấy chết yểu. - Trồng hoa nên thấy hoa nở, đón trăng nên thấy trăng tròn, viết sách nên viết cho xong, mỹ nhân nên thấy vui vẻ, sung sƣớng, nếu không thì uổng công. - Ngắm đàn bà buổi sáng, nên đợi lúc phấn son xong. - Có những bộ mặt xấu mà dễ coi, có những bộ mặt không xấu mà khó coi; có những áng văn viết không thông mà khả ái, có những áng văn viết thông mà đọc rất chán. Điều đó, không dễ gì giảng cho hạng nông cạn hiểu đƣợc. - Lấy lòng yêu hoa mà yêu mỹ nhân thì tất có cái thú riêng; lấy lòng yêu mỹ nhân mà yêu hoa thì thêm cái thâm tình và thêm lòng nâng niu thƣơng tiếc. - Mỹ nhân hơn hoa chỗ biết nói; hoa hơn mỹ nhân chỗ
68

tỏa hƣơng. Nếu không đƣợc cả hai thì bỏ hƣơng mà lựa biết nói. - Thƣờng hoa đẹp thì không thơm, cánh nhiều tầng thì không thành trái Đƣợc hoàn toàn thực khó thay! Sen kiêm cả trăng? - Gọi là mỹ nhân thì mặt đẹp nhƣ hoa, tiếng nói nhƣ chim, tinh thần nhƣ trăng, vẻ nhƣ liễu, xƣơng nhƣ ngọc, da nhƣ băng tuyết, dáng nhƣ nƣớc thu, lòng nhƣ thơ, ta không còn chỗ nào chê cả. - Trong thiên hạ không có sách thì thôi, có thì phải đọc; không có rƣợu thì thôi, có thì phải uống; không có núi đẹp thì thôi, có thì phải tới chơi; không có hoa có trăng thì thôi, có thì phải thƣởng ngoạn; không có tài tử giai nhân thì thôi, có thì phải mến yêu thƣơng tiếc. - Ngƣời đàn bà xấu không cho gƣơng là thù địch vì nó là vật vô tri, nếu gƣơng mà hữu tri thì tất đã tan tành rồi. - Mua đƣợc một chậu hoa đẹp còn nâng niu thƣơng tiếc, huống là đối với một “đóa hoa biết nói”. - Không có thơ rƣợu thì sơn thủy cũng vô nghĩa; nếu không có đàn bà đẹp thì trăng hoa cũng vô ích. Tài tử mà lại đẹp, giai nhân mà lại biết làm văn đều là không thọ đƣợc. Không phải chỉ vì tạo vật đố kị, mà còn vì hạng ngƣời đó không phải bảo vật của một thời, mà là bảo vật của cổ kim vạn đại, cho nên tạo hóa không muốn cho lƣu lại lâu trên đời mà hóa nhàm. SƠN THỦY
69

- Vật mà dễ cảm lòng ngƣời, trên trời không gì bằng trăng, về nhạc không gì bằng đàn cầm, trong loài động vật không gì bằng chim quyên, trong loài thực vật không gì bằng liễu. - Vì trăng mà lo có mây, vì sách mà lo có mọt, vì hoa mà lo gió mƣa, vì tài tử giai nhân mà lo mệnh bạc; đó đều là tấm lòng Bồ tát cả. - Ngƣơi xƣa nói: “Nếu không có hoa, nguyệt, mỹ nhân thì xin đừng sinh ở thế giới này”. Tôi xin thêm một câu; “Nếu không có bút, mực, cờ, rƣợu thì không nên làm ngƣời”. - Nhân tuyết mà nhớ tới cao sĩ, nhân hoa mà nhớ tới mỹ nhân, nhân rƣợu mà nhớ tới hiệp khách, nhân trăng mà nhớ tới bạn quí, nhân sơn thủy mà nhớ tới những thƣ văn đắc ý. - Có cảnh sơn thủy trên đất, có cảnh sơn thủy trên tranh, có cảnh sơn thủy trong mộng và có cảnh sơn thủy trong lòng. Cảnh sơn thủy trên đất đẹp ở chỗ gò hang u tịch; cảnh sơn thủy trên tranh đẹp ở chỗ nét bút thấm thía; cảnh sơn thủy trong mộng đẹp ở chỗ cảnh tƣợng biến ảo; cảnh sơn thủy trong lòng đẹp ở chỗ mỗi vật đều dúng vị trí. - Măng tre là vật quí trong loài rau, quả vải là vật quí trong loài trái cây, cua là vật quí trong thủy tộc, rƣợu là vật quí trong sự ẩm thực, trăng là vật quí trên trời, Tây hồ là vật quí về sơn thủy, từ khúc là vật quí trong văn chƣơng. - Phải có duyên mới đƣợc du ngoạn thắng cảnh; nếu
70

duyên chƣa tới thì dù ở cách thắng cảnh chỉ vài chục dặm cũng không nhàn nhã mà đi đƣợc. - Hình ảnh trong gƣơng là những bức chân dung có màu; bóng dƣới trăng là những nét phác bằng mực; hình ảnh trong gƣơng là những bức họa rõ ràng từng nét, bóng dƣới trăng là những bức họa “một cốt” (không có xƣơng). Cảnh sơn thủy trên nƣớc là thiên văn trên đất. XUÂN THU - Xuân là lòng tự nhiên của trời, thu là tính tình thay đổi của trời. Ngƣời xƣa cho mùa Đông là “ba tháng dƣ” (hoặc ba tháng để nghỉ ngơi). Tôi cho rằng mùa Hè mới là ba tháng dƣ: Sáng sớm dậy là cái dƣ của đêm, đêm ngồi chơi là cái dƣ của ngày, ngủ trƣa là cái dƣ của sự thù ứng. Cổ thi có câu: “ Ta yêu mùa Hè ngày dài”, lời đó đúng. - Răn mình thì nên nhƣ cái khí (nghiêm khắc) mùa Thu; xử thế nên nhƣ cái khí (ôn hòa) mùa Xuân. - Thơ và văn đƣợc nhƣ cái khí mùa Thu thì là hay, từ và khúc mà đƣợc nhƣ cái khí mùa Xuân thì là hay. THANH ÂM - Mùa xuân nghe tiếng chim, mùa hè nghe triếng ve, mùa thu nghe tiếng trùng, mùa đông nghe tiếng tuyết, ban ngày nghe tiếng đánh cờ, dƣới trăng nghe tiếng tiêu, trong núi nghe tiếng tùng, bên nƣớc nghe tiếng sóng vỗ, nhƣ vậy sống không uổng. - Dƣới tùng nghe tiếng cầm, dƣới trăng nghe tiếng tiêu,
71

bên suối nghe tiếng thác đổ, trong núi nghe tiếng tụng kinh, mỗi tiếng có một cái thú riêng. - Mọi thứ tiếng đều nên nghe xa, duy có tiếng đàn cầm là xa gần đều đƣợc. Nƣớc có bốn thứ tiếng: tiếng thác, tiếng suối, tiếng ghềnh, tiếng ngòi rạch; gió có ba thứ tiếng: tiếng “sóng tùng”. Gió thổi trong tùng, nghe ào ào nhƣ tiếng sóng, tiếng lá thu, tiếng sóng ầm ầm; mƣa có hai thứ tiếng: tiếng thƣa rớt trên lá ngô đồng, lá sen, tiếng giọt gianh rớt trong thùng tre. MƢA - Mƣa có thể làm cho ngày ngắn đêm dài. - Mƣa xuân nhƣ chiếu vua ban ân, mƣa hè nhƣ chiếu vua xá tội, mƣa thu nhƣ tiếng điếu ngƣời chết. - Mùa xuân mƣa nên đọc sách, mùa hè mƣa nên đánh cờ, mùa thu mƣa nên lục đồ cất trong rƣơng, mùa đông mƣa nên uống rƣợu. - Tôi muốn viết thƣ gửi cho thần mƣa, xin rằng mùa xuân sau tiết Thƣơng nguyên hãy mƣa cho tới mƣời ngày trƣớc tiết Thanh minh (lúc đó ở Trung hoa đào bắt đầu nở), rồi sau Thanh minh mƣa cho tới tiết Cốc vũ (lúc đó ở Trung hoa là mùa trồng lúa); mùa hè thì cứ mỗi tháng, mƣa trƣớc ngày Thƣợng huyền và sau ngày Hạ huyền; mùa thu chỉ mƣa trong Thƣợng tuần và Hạ tuần, tháng bảy và tháng chín; còn ba tháng mùa đông thì xin đừng mƣa. GIÓ TRĂNG - Tiếc rằng trăng non mau lặn mà trăng khuyết (hạ tuần)
72

chậm lên. - Dƣới trăng nghe tiếng tụng kinh (hay chuông chùa) thì cái thú càng sâu xa; dƣới trăng mà bàn về kiếm thuật thì can đảm càng tăng; dƣới trăng mà bàn về thi thơ thì phong thái càng tĩnh; dƣới trăng mà đối diện mĩ nhân thì tình ý càng nồng. - Phép ngắm trăng: trăng tỏ nên ngẩng nhìn, trăng mờ nên cúi nhìn. - Gió xuân nhƣ rƣợu, gió hè nhƣ trà, gió thu nhƣ khói, gió đông nhƣ gừng, cải (cay: ý nói buốt). THÖ NHÀ VÀ BẠN BÈ - Trong thiên hạ, đƣợc một tri kỷ, có thể không ân hận rồi. - Ngƣời ta cho là bận rộn thì mình coi là thảnh thơi, có nhƣ vậy mới có thể bận rộn cái mà ngƣời ta cho là thảnh thơi. - Không có gì vui bằng nhàn, nhàn là không phải là không làm một việc gì. Có nhàn mới đọc đƣợc sách, mới đi coi đƣợc thắng cảnh, mới giao du đƣợc những bạn bè có ích, mới uống rƣợu đƣợc, mới viết sách đƣợc. Có cái vui nào lớn hơn vậy nữa. - Mây đƣợc mặt trời chiếu vào rồi mới thành ráng, suối treo vào đá rồi mới thành thác. Cũng là vật đó mà gửi vào một cái khác thì có tên khác. Cho nên cái đạo bạn bè rất đáng quí. - Nói chuyện với bạn uyên bác nhƣ đọc sách lạ, nói
73

chuyện với bạn phong nhã nhƣ đọc thi văn của danh nhân, nói chuyện với bạn nghiêm cẩn, đạo đức nhƣ đọc kinh truyện của thánh hiền, nói chuyện với bạn hoạt kê nhƣ đọc tiểu thuyết truyền kì. - Kẻ sĩ nên có bạn thân. Bạn thân bất tất phải thề sống chết có nhau. Thƣờng thì bạn thân là bạn cách xa nhau trăm ngàn dặm, vẫn có thể tin nhau, không nghe những lời ngƣời ta nói xấu về bạn. Việc nào nên làm, nên ngừng thì thay bạn mà mƣu tính quyết đoán; hoặc những lúc lợi hại, giúp bạn mà không cho bạn biết, cứ hết lòng vì bạn mà không lo rằng bạn có hiểu mình không. - Tìm tri kỉ trong chỗ bạn bè là việc dễ, tìm tri kỉ trong chỗ thê thiếp là việc khó, tìm tri kỉ trong chỗ vua tôi càng khó nhất. - Diễn đƣợc những ý ngƣời trƣớc chƣa diễn mới là sách lạ; nói đƣợc những điều khó nói về vợ con, mới là bạn thân. - Ở thôn quê, có đƣợc bạn tốt thì mới thích. Hạng nông dân và tiều phu chỉ nói chuyện đƣợc về lúa má, mƣa nắng, làm cho ta mau chán. Trong số bạn bè, ngƣời nào làm thơ đƣợc là quí nhất, rồi tới ngƣời nào nói chuyện đƣợc, rồi tới ngƣời nào ca hát đƣợc, sau cùng mới tới hạng ngƣời biết những trò chơi trong xã hội. SÁCH VÀ ĐỌC SÁCH - Tuổi trẻ đọc sách nhƣ nhìn trăng qua cái kẽ, lớn tuổi đọc sách nhƣ ngắm trăng ở ngoài sân, tuổi già đọc sách
74

nhƣ thƣởng trăng trên đài. Do từng trải nhiều hay ít mà sở đắc nhiều hay ít. - Có thể đọc những cuốn sách không có chữ (chẳng hạn cuốn sách ngoài đời) thì mới nói đƣợc những câu kinh nhân; có thể hiểu những điều giảng không đƣợc thì mới thấu đƣợc cái huyền vi của đạo Phật. - Văn chƣơng bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ. - Văn chƣơng là sơn thủy trên án thƣ, sơn thủy là văn chƣơng trên đất. - Thú nhất là đọc sách; đọc sử thì vui ít mà giận nhiều nhƣng chỗ giận đó cũng là chỗ vui. - Nên đọc kinh thƣ vào mùa đông, để tinh thần đƣợc chuyên nhất; nên đọc sử vào mùa hè vì ngày dài; nên đọc chƣ tử vào mùa thu vì có nhiều ý lạ; nên đọc chƣ tập vào mùa xuân vì thời tiết đổi mới. Chư tử: tức các triết gia thời cổ ngoài Khổng, Lão. Chư tập: tức sách của các nhà gần đây. - Văn nhân mà bàn về binh thƣ, phần nhiều là bàn luận trên giấy (nghĩa là trên lí thuyết); vũ tƣớng mà bàn về văn chƣơng, một nửa là nghe lỏm. - Ngƣời biết đọc sách thì cái gì cũng là sách; sơn thủy cũng là sách, cờ rƣợu cũng là sách, hoa nguyệt cũng là sách. Ngƣời biết đi coi phong cảnh thì cái gì cũng là sơn thủy, thơ rƣợu cũng là sơn thủy, hoa nguyệt cũng là sơn thủy. - Ngƣời xƣa muốn đọc sách mƣời năm, du ngoạn sơn
75

thủy mƣời năm, rồi mƣời năm kiểm điểm lại kinh nghiệm. Tôi nghĩ kiểm điểm chẳng cần tới mƣời năm, chỉ hai ba năm cũng đủ, còn đọc sách và du ngoạn sơn thủy thì gấp hai, gấp năm mƣời năm cũng chƣa mãn nguyện. Có lẽ “phải sống ba trăm năm” nhƣ Hoàng Cửu yên nói, may mới đủ chăng? - Cổ nhân nói: “Thơ có khổ rồi mới khéo” (Thi tất cùng nhi hậu công) vì có nhiều khốn khổ rồi giọng mới có nhiều cảm khái mà dễ có sở trƣờng. Còn hạng ngƣời phú quí đã không lo buồn về cảnh nghèo hèn, thì chỉ vận về phong vân tuyết lộ, thơ có gì mà hay? Muốn thay đổi đi thì chỉ có cách đi du lịch, để đƣợc thấy núi sông, phong thổ, sản vật, nhân tình, hoặc thấy cái khổ của dân chúng sau những cuộc binh đao, trong những năm mất mùa vì hạn, vì lụt rồi tả trong thơ. Thế là mƣợn cái cùng sầu của ngƣời để cung cấp cho sự ngâm vịnh của ta. Vậy thơ cũng bất tất phải khổ rồi mới khéo. BÀN CHUNG VỀ ĐỜI SỐNG - Một chữ “TÌNH” để duy trì thế giới; Một chữ “TÀI” để tô điểm càn khôn. - Thà bị tiểu nhân mắng chứ không muốn bị ngƣời quân tử khinh; thà bị giám khảo đui đánh hỏng chứ không muốn bị một học giả danh tiếng không biết tới. - Ngƣời nên giống một bài thơ, vật nên giống một bức họa. - Có những cảnh nhƣ rất u tĩnh mà thực ra thì tiêu điều, tức cảnh sƣơng mù, cảnh mƣa; có những tình cảnh nhƣ
76

rất nhã mà thực ra rất khó chịu, tức cảnh nghèo khổ, đau ốm; có những tiếng nghe rất phong tao mà thực ra thì thô bỉ, nhƣ tiếng rao bán hoa. - Cày ruộng, tôi làm không đƣợc, thôi thì tƣới vƣờn vậy; đốn củi, tôi làm không đƣợc, thôi thì nhổ cỏ vậy. - Tôi hận mƣời điều: một là sách dễ bị mối ăn; hai là mùa hè có nhiều muỗi; ba là sân thƣợng để ngắm trăng dễ rỉ nƣớc; bốn là lá cúc thƣờng héo; năm là tùng có nhiều kiến lớn; sáu là lá tre rụng trên đất nhiều quá; bảy là hoa quế và hoa sen mau tàn; tám là trong đám cỏ tiết thƣờng có rắn; chín là hoa trên các mắt cáo thƣờng có gai; mƣời là thịt nhím thƣơng độc. - Một ngƣời ngồi sau cửa sổ, vẽ lên mảnh giấy cửa sổ, ta đứng ngoài nhìn vào, thấy đẹp lạ. - Gặp đời thái bình, sinh ở một nơi có núi, có hồ mà quan chủ quận liêm khiết, cảnh nhà phong lƣu, cƣới vợ hiền, đẻ con thông minh, đời đƣợc nhƣ vậy tôi cho là toàn phúc. - Trong lòng mà có cảnh núi hang thì sống ở thành thị cũng nhƣ sống ở núi rừng; cảm hứng gửi vào mây khói thì Diêm Phù(1) cũng nhƣ Bồng Đảo. (1) Gốc là tiếng Phạn, trỏ Ấn độ. Ngƣời Trung hoa dùng tiếng đó để trỏ Trung hoa và các nƣớc phƣơng Đông. - Ở thành thị nên lấy tranh làm sơn thủy, lấy bồn cảnh làm vƣờn tƣợc, lấy sách làm bạn. - Đón danh sƣ về dạy con, vào danh sơn mà luyện cử
77

nghiệp, đều là những điều lầm lẫn. - Một nhà tu hành bất tất phải giới tửu mà phải giới tục, đàn bà bất tất phải hiểu văn nhƣng phải đẹp. - Nếu ngƣời thu thuế làm cho ta khó chịu thì đóng thuế sớm đi; muốn bàn đạo Phật với nhà sƣ thì phải thƣờng bố thí. - Cái gì cũng dễ quên, chỉ có lòng ham danh là khó quên. - Rƣợu có thể thay trà, trà không không thể thay rƣợu, thơ có thể thay văn, văn không thể thay thơ; khúc có thể thay từ, từ không thể thay khúc(2); trăng có thể thay đèn, đèn không thể thay trăng; bút có thể thay lời; lời không thể thay bút; ngƣời ở gái có thể thay ngƣời ở trai, ngƣời ở trai không thể thay ngƣời ở gái. (2) Từ là một thể thơ phổ vào đờn ca, thịnh ở đời Tống; Khúc là hí khúc; tức tuồng, thịnh ở đời Nguyên Minh. - Điều bất bình nhỏ trong lòng, uống rƣợu vào có thể tiêu đƣợc; điều bất bình lớn trong đời, không dùng gƣơm không thể dẹp đƣợc. - Ngƣời bận rộn nhiều thì vƣờn nên ở cạnh nhà; ngƣời nhàn nhã thì nhà và vƣờn có xa nhau cũng không hại. - Đau, có thể chịu đƣợc; ngứa, không thể chịu đƣợc; đắng, có thể chịu đƣợc; chua, không thể chịu đƣợc. - Hạc làm cho ta có vẻ nhàn, ngựa làm cho ta có vẻ anh hùng, lan làm cho ta có vẻ ẩn dật, tùng làm cho ta có vẻ cổ kính.
78

- Có cái vui sơn lâm ẩn dật mà không biết hƣởng là hạng tiều phu, hạng làm vƣờn và hạng thầy chùa. Có vƣờn tƣợc, thê thiếp mà không biết vui là bọn phú thƣơng và quan lớn. - Nghiên mực của ngƣời nhàn phải đẹp mà nghiên mực của ngƣời bận rộn công việc cũng cần phải đẹp. - Món ăn ngon mà nuốt cho mau hết, phong cảnh lạ mà đi chơi chỉ lƣớt qua, tình thâm mà diễn bằng những lời nông nổi, ngày đẹp mà xử theo thói kiêu sa; tất cả những hành động đó đều là trái ý trời. (Sống Đẹp - Trƣơng Trào) * Hay nóng giận, nản lòng là triệu chứng của một tâm hồn yếu đuối. (Plutarque) * Học cũng có ích nhƣ trồng cây; Mùa xuân đƣợc hoa, mùa thu đƣợc quả. (N.T.G.H) * BIỆT LI Con thƣờng hoài tƣởng về thời gian còn đi học, yêu mến và trân trọng vô cùng những ngày thơ mộng ấy. Có thật đó là những ngày hạnh phúc hay hào quang kỉ niệm đã biên đổi viên đá thành ảo ảnh kim cƣơng. Thật ra, những ngày cũ thƣờng gợi nhớ; trong mỗi ngƣời đều có niềm hoài cảm về quãng thời gian không còn trở lại. Những ngày không trở lại chính là cái chết của thời gian thì làm sao lại không buồn trƣớc cái chết của một ngƣời bạn đƣờng. Vì thế, mà kỉ niệm thƣờng làm buồn man mác. Con của những ngày qua đã mất. Đó là cái chết của sự sống thế gian, cái chết không phải chỉ đến trong một
79

cơn bạo bệnh, không phải đến trong một tai họa bất ngờ, cái chết không đến trong một lần duy nhất quyết định một kiếp ngƣời. Từng hơi thở trôi qua là lời giã từ của sự chết, chính là sự biệt li. Biệt li, sự chia rời vĩnh viễn, nỗi sợ hãi lớn nhất của con ngƣời và chính vì sợ hãi chia li mà con ngƣời thƣờng quí kỉ niệm. Kỉ niệm là những sở hữu không thể thay đổi, không còn có thể mất nữa, nên sống mãi trong trí hồi tƣởng. Đó cũng chính là nỗi bất an thƣờng trực ngăn con không cảm thấy hạnh phúc ngay trong lúc này khi phút này chƣa là kỉ niệm. Hãy nhớ đến ngày qua mà biết ngày nay là quí và hãy nhớ ngày qua mà không buồn vì hiện tại, dù mang tƣớng khổ hay tƣớng vui, hiện tại sẽ không còn nữa. Có chăng là những hồi tƣởng về hiện tại, hiện tại không dừng nên đừng trụ vào tƣớng khổ vui của giây phút. Chẳng nên chia rẽ thời gian; buồn li biệt là nỗi buồn đánh mất chính mình. Con đƣờng với hàng cây thân quen mà khi xa con buồn, là vì con xa hình ảnh của chính con trên đƣờng ấy. Nên thật ra buồn khi xa vắng ngƣời nào là buồn nhớ chính con, chính tình cảm đã gửi nơi ngƣời hay tình cảm ấy là buồn vì có ngã. Tƣớng gần gũi có bắt đầu, có chấm dứt, có sống chết khiến tâm xao động theo từng sống chết ấy mà gây đau khổ. Con phải biết rằng: chia li chỉ là một tƣớng khác của gần gũi, vì có ai xa ai thật sự; con chỉ thay đổi tƣớng gặp nhau. Mọi ngƣời đều đƣợc hình thành thân xác bởi đất, nƣớc, gió, lửa có bản ngã
80

đồng nhất vốn dĩ không xa cũng không gần. Chung thủy thì kiếp sống chết này có nghĩa gì đâu, sự chia li đâu là thật tƣớng. Không trụ tƣớng gần gũi mà ở gần nhau với mọi căn khiếm khuyết chẳng thấy, chẳng nghe, chẳng cầm nắm đƣợc thì gần gũi ấy có thật gần không? Cho nên biệt li là tâm khổ, chẳng phải có tƣớng khổ. Cảm quả biệt li là cảm quả báo khổ của nghiệp. Muốn thoát đau khổ này phải hiểu tƣớng biệt li, đúng nhƣ thật sự thay đổi của tƣớng là không, cũng lẽ tự nhiên là định luật của vật chất. Sự biến dịch ấy hiện là thƣờng hằng bất động của vô tƣớng của không. Ở nơi không tƣớng, không ngăn ngại mà ngƣời không xa, không khác, bỏ qua khoảng cách thời gian, thói quen, thì tƣớng gần gũi xa cách vẫn tận tình: sẽ không có khổ biệt li. Hãy tin và suy ngẫm con sẽ thấy tƣớng của biệt li. * Lấy oán báo oán, oan oán chập chồng. Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan. (Thích Ca) * Lặn xuống đáy biển, mà không biết sợ giao long, đó là cái Dũng của ngƣời chài lƣới. Vào rừng sâu mà không biết sợ hổ báo, đó là cái Dũng của ngƣời thợ săn. Thấy gƣơm bén mà không biết sợ, xem tử nhƣ sinh, ấy là cái Dũng của ngƣời liệt sĩ. Biết đƣợc chỗ cùng thông là Thời, Mạng và bất cứ ở vào hoàn cảnh nguy hiểm nào cũng không biết sợ, đó là cái Dũng của Thánh nhân. (Trang Tử)
81

* Không nên có cái gì dư. (Solon) * Tìm đƣợc sự yên ổn về vật chất đâu có ích gì, nếu khi nghĩ đến cái chết, cái khoảng mênh mông vô tận của trời đất mà trong lòng hãy còn run sợ. * Không tự do, đời chỉ là một guồng máy thôi. (Lacordairne) * Mình bị phải sự bất công của một kẻ dữ: Hãy tha thứ cho nó đi, để cho mình với nó khỏi phải làm hai kẻ dữ. (Saint Augustin) * CÔNG PHU DƢỠNG KHÍ - Vật chất và tinh thần, quan hệ với nhau rất mật thiết. Một thể chất bạc nhƣợc không bao giờ có đƣợc một tinh thần dũng mãnh. Cái đó, là một điều hết sức hiển nhiên. - Nguyên nhân làm cho ta hao tán khí lực, là sự náo động vô ích. Ta nên phân biệt cho kĩ náo động và hoạt động. Phàm muốn thi hành một điều gì, ta phải quan sát cử động ta, đừng cho nó có những phung phí vô ích. Sống phải hoạt động, nhƣng không nên náo động chút nào cả. Quay máy xe hơi là để chạy đi một chỗ nào nhất định… Tới nơi rồi, vô lí lại không tắt máy, để hao xăng vô ích. Để máy chạy vô ích trong lúc xe nghỉ, đó là náo động; - để máy chạy trong lúc xe đi, đó là hoạt động. ÁI DỤC Con thƣờng nghĩ ái dục là vấn đề đơn giản, là tình cảm giữa trai gái; ở ngƣời lập gia đình thì ái dục chính là ngoại *
82

tình; chỉ nghĩ đến ngƣời hôn phối và con cái thì đó không là ái dục. Nghĩ nhƣ thế thật quá ƣ sai lầm. Dục ái chính là vấn đề lớn nhất của sinh tử luân hồi. Giải thoát là giải quyết triệt để vấn đề ái dục. Nhƣ thế ái dục mang hình tƣớng nào và thực chất chính là gì? Dục là gì? Thân là dục ngã sinh ái. Khi con nghĩ rằng mình là ngƣời nữ đó là dục. Dục chính là sự phân biệt ra hai, một cái gì đồng thể. Không phải cứ nghĩ đến hành dâm mới gọi là dục. Vả lại dục là phân hai tức nảy sinh ra một cái khác nguyên bản, nên trong bất cứ hành sự, tƣ tƣởng nào có ý phân biệt ngã nhân thì đó là dục. Khi có ngã nhân, đây đó thì ái liền sinh và luân hồi chuyển bánh. Nhƣ thế thì dục sinh mọi độc, dục là nghiệp lớn sinh ra muôn nhân quả kết thành nghiệp mới. Dục tức là động của thức. Dục chính là động của tâm. Dục là thể của ái. Ái là tƣớng của dục. Từ ái mà nảy sinh yêu, ghét, thuận, nghịch mọi cảnh khổ trên thế gian, từ dục hình thành ngã hay nhân cách của một ngƣời. Yêu thích mình và nhân cách của mình là lẽ tự nhiên. Vì ái đâu tách rời khỏi dục nên nói tự yêu là có ghét. Thích màu này, màu này hợp với tôi đó chính là tiếng nói sâu thẳm của ái dục vọng lên trong từng niệm tƣởng. Yêu ngƣời là dục, yêu chính bản thân cũng là dục; yêu điều thiện ghét ác cũng còn vƣớng vào ái dục. Trong cảnh yêu ghét với tƣớng chấp nhận và không chấp nhận, mầm mống đấu tranh còn thì còn đau khổ. Tại sao con có thể yêu thích ngƣời này không thích
83

ngƣời khác ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên? Có thể nói rằng vì nhân quả tiền kiếp, nhƣng tự nguyên thủy nhân ban đầu sinh mọi nghiệp luân hồi, chính là ái dục. Có thân có ngã, bất cứ điều gì hợp với ngã thì đƣợc giữ lại thành sở thích thành thiên hƣớng, mà ngã thì có thể thay đổi yêu thích. Thích hành thiện cũng chƣa là thiện. Sở thích của con khi còn bé ngày nay thật khác nhau, nhƣ thế ngoại vật có thể thay đổi mà ái dục thì không. Hễ còn một hơi thở ra vào là còn thở hơi ái dục. Ái dục không chỉ đơn thuần tồn đọng trong quan hệ lứa đôi nam nữ mà cả trong những tình cảm tƣởng chừng nhƣ thiêng liêng nhất. Con có thể thấy ái dục trong những phóng tâm vô tình, trong những ràng buộc ngặt nghèo nhất cuộc đời. Ái là phóng ngã hƣớng về mục đích đến, có mục đích là có định hƣớng, có hệ lụy, có trông chờ, có phản hồi. Nhƣ thế thì ái là nguyên nhân đau khổ, vì ái tự khởi thủy đã có mầm mống bất toàn, nói cách khác; ái mang chất bất toàn. Muốn lìa ái dục phải quan sát tính của dục. Dục là động. Nếu không động thì đồng lúc với giả duyên. Chấm dứt tính dục hiện tiền đó chính là chân nhƣ, Nhƣ lai tính. Và từ nơi không động là Nhƣ lai tính hiệu động dụng, thì động ấy chính thật là từ bi. Con hãy thực hành li dục. * Khéo giữ gìn lời nói, nhƣ ngƣời ta “chăn tù” vậy. Phải lời nói của ta, là những tên tôi mọi, phải cầm cố nó cho kĩ càng. Thả nó ra, phải coi chừng: nó sẽ hại mình không phƣơng tránh đỡ. Tại nó mà kẻ nghịch của ta biết rõ cơ
84

mật của lòng ta, biết đƣợc nhƣợc điểm của bản tính ta và nhân đó, bắt ta làm tôi mọi cho họ. Nếu biết rõ chỗ yếu của ngƣời khác rồi, thì làm chủ lấy họ một cách rất dễ dàng. Bởi vậy, đừng tƣởng lầm: điềm tĩnh là một đức tính để xử việc lớn. Bất kì là một hành động nhỏ mọn nào trong đời mình, nhƣ lời nói vô tình, thốt ra trong đời khi mừng, giận, thƣơng, vui… cũng phải kiểm soát kĩ lƣỡng, đừng để nó làm cho mình mất sự điềm tĩnh đi. Điềm tĩnh trong từng việc nhỏ rất khó, khó hơn là trong lúc mình xử sự việc lớn. * Điều chỉnh đời mình theo thiên nhiên thời không bao giờ nghèo; điều chỉnh đời mình theo dƣ luận của con ngƣời, thời không bao giờ giàu. (Seueque) * Bị ngƣời ta nhục mà giận, là đem cái lỗi của ngƣời mà hành hạ báo thù mình.(Sivift) * Mỗi khi Socrate thấy trong lòng chao động, sự nóng giận muốn khởi lên, ông liền thay đổi sắc mặt cho tƣơi cƣời, giọng nói cho êm dịu; nhờ đó ông giữ đƣợc tâm hồn luôn luôn bình thản. (Plutarque) * TINH HOA CỦA TƢỚNG PHÁP - Tƣớng vô quyết pháp bất khả loạn ngôn. Không thể căn cứ vào một điểm để bảo là đẹp, cũng không thể vì nhất ác mà bảo rằng hung. Cần phải biết phép gia giảm thừa trừ. - Hoang đƣờng thất chí thần vô xá; bất đáo trung đồ tất yểu vong.
85

Người lúc nào cũng hoảng hốt, sợ hãi, buồn rầu là tinh thần đã mất nơi trú ngụ thì tính mạng chẳng còn bao lâu. - Sĩ hữu văn tài nhi phù cấp thiểu lộ khởi năng hƣởng phú quí chi nhân. Dù tài giỏi thông minh, nhưng tinh thần vội vã, nông nổi không phải là người được hưởng phú quí. - Cốt cách vi nhất thế chi vinh khô, Khí sắc định hành hành niên chi hƣu cữu. Cốt cách là tướng cả cuộc đời, Khí sắc là tướng từng năm tháng. - Khí trọc thần khô bất thị bần cùng chi hán. Khí đục tinh thần khô héo nhất định là kẻ bần cùng. - Lãnh tiếu vô tình tác sự cơ tâm nội trọng. Cười nhạt vô tình là người làm việc có mưu sâu và thận trọng. - Chuẩn đầu phong đại tâm vô độc; Diện nhục hoành sinh tính tất hung. Đầu mũi nở lớn, tâm địa thành thực; Thịt mặt ngang ngang tính thường hung. - Thiết diện kiếm mi binh quyền vạn lí. Mặt sắt mày lưỡi kiếm, binh quyền vạn dặm. - Long nhan phƣợng cảnh nữ nhân tất phối quân vƣơng. Mặt rộng đầu lớn, mũi, quyền tương đối. Mắt đẹp, cổ phượng dài mềm mại trắng, con gái sẽ lấy bậc quân vương.
86

- Yến hàm hổ đầu, nam tử đinh đăng tƣớng tƣớng. Hàm én, đầu hổ, con trai sẽ làm tướng. - Diện bì hƣ bạc hậu tam thập thọ nan tái kì. Da mặt hỏng hư, sau ba mươi yểu tử. - Diện nhƣ quất bì chung chủ bần bạc. Da mặt lỗ chỗ như da cam sành, da quít cuối cuộc đời sẽ nghèo khổ. - Nhãn bất khốc nhãn lệ uông uông, tâm bất ƣu sầu mi súc súc; tảo vô hình khức lão cô đơn. Mắt không khóc mà đầy lệ, lòng không lo mà mày chau, nếu không sớm hình khắc thì về già cũng cô đơn. - Kiên nga thanh khốc bất tiện khắc cô. Vai so, nói như khóc không hèn thì cũng cô độc. - Bần cùng đáo lão bất nhàn thô kì cốt cách. Nghèo khổ đến già vì cốt cách thô. - Diện bì thái cấp tuy cấu huyết trƣờng nhi thọ diệc khuy. Da mặt căng quá dù có nhân trung dài cũng không thọ. - Nhãn quang nhƣ thủy nam nữ đa dâm. Ánh mắt như nước lóng lánh, con trai con gái đa dâm. - Mi sƣớc nhƣ đao trận vong binh tử. Lông mày dựng có mi cốt gồ cao, người tính hung bạo sẽ chết về binh đao. - Nữ tử nhãn ác giá tất hình phu. Thanh sát diện hoành khuê phong độc túc. Con gái mặt ác, lấy chồng sát chồng.
87

Tiếng nói sát phạt, mặt ngang cô độc trong khuê phòng. - Thần bất cái sỉ vô sự chiêu hiềm. Môi không che được răng hay bị oán, bị ghét. - Hình dung tuấn nhã chung tác cao hiền. Cốt cách thanh kì tất tu quí hiển. Vẻ người tuấn nhã là kẻ cao hiền. Cốt cách thanh kì sẽ hiển đạt. - Cốt tuỳ quí sinh nhục tuỳ tài trƣởng. Lúc quí hiển cốt cách sẽ thay đổi Lúc nhiều tiền thịt sẽ nở lớn. - Diện đại tị tiểu nhất sinh thƣờng tự lịch nan tân. Mặt to mũi nhỏ cả đời nếm trải đau khổ. - Tị sƣu diện phì bán thế tiền tài chung hao tán. Mũi gày mặt mập nửa đời tiền bạc hư hao. - Quyết tử sinh chi kỳ tiên khán hình thần. Định cát hung chi triệu mạc đào khí sắc Xem sống hay chết phải trông hình thần. Định cát hung phải xem khí sắc. - Trọc nhƣ ngƣ mục tốc tử chi kỳ. Khí nhƣợc yên thần hung tai nhất chí. Mắt mờ đục đờ đẫn như mắt cá sắp chết. Thần khí như tro than sắp gặp tai hoạ. - Hình nhƣ thổ ngẫu thiên mệnh nan đào. Hình như tượng đất khó toàn thiên mạng. - Mao nhƣ duyên thiết vận khí chuân chuyên. Khí nhƣợc tƣờng vân tiền trình hanh thái.
88

Mặt như chì sắt vận lao khổ. Khí sắc như mây hồng tương lai rạng rỡ. - Hoàng khí thiểu nhi trệ khí trọng công danh lại hựu bất lai. Khí sắc vàng ít mà trệ khí lại nặng thì công danh đến đây rồi đi mất. - Thanh khí thiểu nhi kỷ khí đa phú quý chí chi hƣu chí. Khí sắc xanh ít, khí sắc hồng vàng nhiều, phú quí đã đến còn đến thêm. - Trệ trung hƣu minh ƣu nhi biến hỷ. Minh trung hữu trệ cát nhi phản hung. Trong sắc trệ có ẩn sắc sáng, lo đấy nhưng sắp vui. Trong sắc sáng có sắc trệ, tốt đấy nhưng sắp hung. - Hình dungcổ quái thạch trung hữu mĩ ngọc tàng. Hình tướng cổ quái nếu thần khí thanh tú là tướng ngọc ẩn trong đá. - Phục tê quán quán đỉnh nhất phẩm vƣơng hầu. Phụ cốt thiên sƣơng thiên quân dũng tƣớng. Sống mũi chạy đến giữa trán là nhất phẩm vương hầu. Trán nở đến thiên sương là dũng tướng trong đám ba quân. - Hình nhƣ chƣ tƣớng tử tất phân thi. Nhãn tự hổ tinh tính nghiêm mạc phạm. Hình như con heo lúc chết sẽ bị phân thây. Mắt như hổ, tính nghiêm chớ xúc phạm. - Tu hoàng tinh xích chung chủ hoang tử.
89

Sỉ lộ thần hân tu phòng dã tử. Râu vàng, mắt đỏ chết bất đắc. Răng lộ, môi cong phòng chết đường. - Khẩu phần bì sô vi nhân nhất thế cô đơn. Da quanh môi miệng nhăn nheo cả đời cô độc. - Thủ nhuyễn nhƣ miên nhàn thả hữu tiền. Trƣởng nhƣợc huyết hồng phú nhi đa lộc Bàn tay mềm như lụa nhàn mà có tiền. Lòng tay huyết hồng giàu thêm đa lộc. - Mi sinh nhị dốc nhất sinh trƣờng tự túc hoan ngu. Đuôi lông mày vểnh lên như hai cái sừng, người ưa hoa rượu nhất sinh bách lạc. - Thổ tinh bạc nhi sơn lâm trọng, trệ khí đa tai ách. Mũi nhỏ, râu ria nhiều là khí trệ gặp lắm tai ách. - Sắc thanh hoành ƣ chính diện hoán tác hành thi. Sắc hắc hoành ƣ nhĩ tiền danh vi đoạt mệnh. Sắc đen trước tai tính mệnh nguy. Sắc xanh nằm ngang trán là xác chết biết đi. - Thanh già khẩu, dốc Biển thƣớc nan y. Sắc xanh bám quanh miệng, Biển thước cũng không chữa được. - Bạch nhƣ khô cốt thân vong, hắc nhƣ thấp hôi thọ đoản. Người bệnh mặt trắng như xương khô hay đen như tro ướt đều sắp chết. - Bần nhi hằng nạn chỉ nhân mãn diện bi dung.
90

Nghèo còn gặp nhiều tai nạn, chỉ vì đầy mặt buồn so. - Thần quang mãn diện phú quí xứng tâm. Quỉ sắc kiến hình tham sầu độ nhật. Sắc mặt hồng vàng có quang, phú quí. Sắc mặt xanh đen là quỉ sắc lo nuồn. - Thoái trƣờng cƣớc sƣu đƣơng niên buôn tẩu bất đình. Đùi dài chân gầy, hiện tại bôn tẩu lao đao. - Thƣợng trọng hạ khinh mạt chủ linh đinh; Thƣợng khoát hạ tiệm chung vô kết quả. Trên nặng dưới nhẹ thân lớn chân nhỏ; Trên rộng dưới hẹp thân to chân nhọn lênh đênh không kết quả. - Nam nhi yếu tế nan chủ phúc tài. Nử tử kiên hàn cô hình tái giá. Con trai co nhỏ kém phúc kém tiền. Con gái vai so cô hình lấy hai ba chồng. - Đầu đại ngách đại chung chủ hình phu. Thanh thô cốt thô cách vi sƣơng phụ. Đầu to trán lớn sát chồng. Tiếng thô, cốt thô quả phụ. - Nhãn quang khẩu khoát tham dâm cầu thực chi nhân. Mắt sáng quắc phù quang, miệng rộng con gái tham ăn, tham dâm. - Bì phu hƣơng nhị nãi phú thất chi nữ nƣơng. Diện sắc đoan trang nghiêm tất hào môn chi đức phụ. Da dẻ mềm mại thơm tho là tiểu thư con nhà giàu. Sắc mặt nghiêm nghị đoan trang là đàn bà có đức con
91

dòng cháu giống. - Đầu tiểu phúc đại nhất sinh bất quá đa thực. Cốt thiểu nhục đa tam thập yểu năng khả quá. Đầu nhỏ bụng to loại tham ăn Xương ít thịt nhiều thường chết yểu. - Hình thanh thần trọc bất cửu bần cùng. Nhân tiểu thanh hồng định tu siêu việt. Hình trong mà tinh thần đục chẳng bao lâu sẽ bần cùng. Người bé tiếng nói lớn tài trí hơn người. - Thiếu phì khí đoản, nan quá tứ cửu chi kỳ. Lúc còn nhỏ đã mập phì, không sống quá 49 tuổi. - Cốt thô phát trọng hà tẳng thừa đắc nhất tiền. Xương khô tóc nặng bù xù tướng bần cùng. - Thể tế thân khinh ná đắc đình lƣu phiến ngoã. Người mỏng gió thổi bay, không chết yểu cũng nghèo hèn. - Cốt khinh thủ ngạch tất thị dung thƣờng. Người khẳng khiu mà tay lại thô chỉ làm đầy tớ. - Đắc ý trung diện mạo thê thảm tiên phú hậu bần. Tao quẫn xứ nha mạo ôn hòa tảo cùng vãn phát. Lúc đắc ý mặt mày buồn lo, trước giàu sau nghèo. Gặp khi quẫn mặt mũi ôn hòa, sớm nghèo sau phát đạt. - Nhĩ bạch ƣ diện chung vi trụ thạch chi thần. Tai trắng hơn mặt vị đáng đại thần.
92

- Tị môn hác táo mƣu sự nan thành. Cửa mũi đen thô làm việc gì cũng hỏng. - Quảng ngách tú mi văn chƣơng đạo sĩ. Trán rộng mày tú văn chương đạo sĩ. - Thủ thô cƣớc trọng tất thị di bà. Tị tiêm đầu đê chung vị thị thiếp. Tay thô chân nặng loại hàng rong. Mũi nhọn, trán thấp làm thị thiếp. - Nam tử đầu tiêm chung vô thành khí. Con trai đầu nhọn (đầu quả muỗm) chẳng ra gì. - Đầu đại vô giốc, phúc đại vô thác, bất thị nông phu thị đổ bác. Đầu to không góc cạnh, bụng lớn xô bồ, lớn bên trên không chảy xuống, tướng nông phu hay dân cờ bạc. - Cƣớc viên bối hậu phƣơng bảo ngọc đới triều y. Bàn chân đầy đặn, lưng dầy mới mong có đai ngọc, áo triều đình. - Phù lạc lộ cốt thân lạc tâm ƣu. Xương lộ, gân lộ thân vui lòng buồn. - Thƣợng mã đại hề hạ mã tiểu. Lúc ngồi thì to lớn, lúc đứng thì người nhỏ bé; lúc trên lưng ngựa thì người bề thế, lúc xuống ngựa thì người nhỏ
93

nhắn. Quí tướng. - Bất quí tự quí chung tú quí, bất bần tự chung tu bần. Chưa ở ngôi vị sang mà dáng dấp đã có vẻ sang sẽ được sang quí. Không nghèo mà thể thái có vẻ nghèo sẽ nghèo. - Duyên hà thọ mệnh bất trƣờng, nhân trung đoản tróc. Tại sao không có tuổi thọ? Vì nhân trung ngẵn co. - Mục nhuận nhi trƣờng chí khí quán kim cổ. Mắt nhuận mà dài chí khí lớn. - Sắc nhƣ thƣờng biến tất tắng đắng nhi danh cánh trì. Sắc mặt luôn luôn biến đổi, rất lận đận công danh. - Phì đầu đại đỗ bất vi hiển, thử nhân chỉ thị thƣờng lƣu bối. Đầu múp míp, bụng núng nính bọn người chuyên đi hầu hạ. - Tam tài ngũ nhạc cân bình mãn, tất định vinh hoa tác quân vƣơng. Bộ vị đều đặn đầy cao vinh hoa đến bậc quân vương. - Diện nhƣợc can khô định thị bần. Mặt khô là nghèo khổ. - Phì bất lộ nhục sƣu vô cốt, Phƣơng giác tƣ nhân thọ mệnh trƣờng.
94

Mập mà không lộ thịt, gầy mà không giơ xương thì mới thọ. - Cốt lộ tài vô thừa. Xương lộ tiền tài không bao giờ có dư. - Khẩu đại bất hợp nhân bần. Miệng lớn không thu lại được nghèo khổ. - Mi cao nhãn thâm nhân lang. Mi cốt gồ cao mắt sâu người độc địa. - Khí tróc ngôn ngữ bất tiếp, chỉ nhật tất kiến Diêm quân. Nói như bị đứt hơi, có thể thấy ngày gặp Diêm vương. - Áp bối nga hung ngã tử hàn nan. Lưng lõm như lưng vịt, ngực như ngực ngan ngỗng có thể chết đói. - Sƣu tƣ sƣu hề hàn tự hàn; hàn sƣu chi nhân bất nhân ban; sƣu hữu tinh thần chung tất đạt; hàn tuy hình thái định cô đan. Gầy và ốm yếu khác nhau; gầy mà tinh thần sáng rồi sẽ phát đạt; ốm yếu dù mặt đẹp cũng cô đơn - hàn ở đây có nghĩa là chán nản, vai so, buồn bã. - Lƣỡng biên quyền cốt cao xâm mãn; Phúc thọ câu toàn nhất thế vinh. Hai bên quyền cốt nổi chạy đến tóc mai thì phúc thọ và vinh hiển.
95

- Lão niên sắc nộn chiêu cô khổ. Về già mà sắc mặt trắng hồng như trẻ con là khổ sở cô đơn. - Mi yêu khúc hề bất yêu trực. Chân mày phải cong và gãy khúc chớ có thẳng chữ nhất. Nếu thẳng chữ nhất thì ngu, bướng và vô học. - Hàn tƣớng chi nhân kiên quá cảnh. Tướng hàn là vai so cổ rụt. - Cánh hữu thân thích đài bất xuất; chỉ nhân hình tự vũ trung kê. Tứ cố vô thân lưu lạc tha phương cô khổ; chỉ vì hình dáng như con gà dưới mưa. - Đại lƣợng chi nhân mi cao nhãn; nhãn mi tƣơng xứng bất ƣu bi. Người đại lượng mi ở trên cao; mi nhãn tương xứng không bị lo phiền. - Hiên môn khuyết hãm kỷ thứ tác tân lang. Hiên môn sâu lõm, mấy lần lấy vợ bỏ vợ. - Thanh âm tỉ lôi đình chi viễn chấn, nhãn mục nhƣ nhật nguyệt chi tƣơng vọng. Tiếng nói xa như sấm sét, ánh mắt như hai vầng nhật nguyệt, tướng của bậc lãnh tụ. - Nhãn nhƣợc can khô nhi bất tú, chung tác bạch y chi sĩ
96

Mắt khô không thanh tú, chỉ là kẻ sĩ áo vải chân trắng. - Thần tàng khoát thị, uy nghiêm nhi hữu lực, nghiễm nhiên nhân vọng nhƣ uý, thanh danh phiên dƣơng thiên hạ. Tinh thần ẩn tàng, nhìn rộng lớn và uy nghiêm người trông thấy phải sợ, tiếng tăm nổi khắp thiên hạ. - Nam dĩ cƣơng vi quí, nữ dĩ nhu vi thuận. Âm phản ƣ dƣơng phu tất tổn; Dƣơng phản ƣ âm phụ tất vong. Đàn ông phải cương cường, đàn bà phải nhu thuận. Đàn bà mà cứng rắn cương cường là âm phản dương tổn phu. Đàn ông mà uỷ mị ẻo lả là dương phản âm khắc thê. - Cực quí chi sắc dĩ lão tằm chi quang minh. Sắc quí như con tằm chín (sở dĩ lấy sắc con tằm chín, vì lúc chín, nó tự ăn lá dâu rồi sắc nổi lên khắp cơ thể, ví như khí nuôi sắc). - Hữu khí vô nhục thí nhƣ hàn tùng. Hữu nhục vô khí do nhƣ đố mộc. Chỉ có xương khí tốt mà không có thịt đắp cho cân, ví như cây tùng giữa trời lạnh. Chỉ có thịt đầy mà không cốt khí thì ví như khúc gỗ mọt. - Thân đại âm tiểu họa sở ẩn.
97

Thân lớn nói nhỏ họa ẩn bên trong. - Quí nhân chi tƣớng lập nhƣ tùng, tọa nhƣ cung, thực nhƣ hổ, ngọa nhƣ long. Tướng quí nhân đứng thẳng như cây tùng, ngồi như cái cung, ăn như hổ, nằm như rồng. - Quí nhân chi ngôn bất vọng phát. Không nói bừa bãi lếu láo là quí nhân. - Minh đạt giản ngôn thuận. Cƣơng chính giả ngôn lệ Giản tinh giản ngôn vĩ. Chấp trung giả ngôn tị. Hƣ cuồng giả ngôn phồn. Thao tấn giả ngôn vọng. Lỗ mãng giả ngôn thô. Ngu ngoạn giả ngôn độn. Âm độc giả ngôn nhi hàm tiếu. Người sáng suốt quán đạt nói nghe xuôi tai. Người cương chính nói nghe sắc cạnh. Người đơn giản ưa tĩnh nói nghe nhỏ nhẹ. Người chấp nhất nói thiên vị. Người hư cuồng nói nhiều. Người nóng ruột nói bậy bạ.
98

người lỗ mãng nói thô tục. Người ngu nói vớ vẩn. Người độc địa nói mà mỉm cười. - Văn quan thanh tú quải kim ngƣ nhi triều ngọc khuyết. Quan văn dáng dấp thanh tú, dễ thân cận với vua. - Vũ tƣớng cổ quái bội hổ phù nhi bái đan trì. Vũ tướng hình dung cổ quái thường lập đại công. - Tinh minh nhi chuyển, sử tâm trí biến tri cơ. Mắt sáng mà linh động người giỏi cơ mưu. - Khẩu tiểu thần hân, thực nam xung phúc. Miệng nhỏ môi cong ăn chẳng đủ no. - Văn hỉ bất hỉ vi kim quĩ chi hữu khuyết. Dƣờng ƣu bất ƣu duyên ngọc đƣờng chi chiều củng. Nghe tin mừng mà không mừng là tại bên trong còn thiếu thốn. Chuyện đáng lo buồn mà không lo buồn vẫn thản nhiên tương lai sáng sủa. - Nhĩ bạc nhƣ chỉ, hƣu vấn vinh hoa. Tai mỏng như giấy đừng đòi hỏi vinh hoa phú quí. - Thụy dị tỉnh nam bạch thủ cô đang. Dễ ngủ gọi mãi không tỉnh suốt đời tay trắng cô đơn. - Nam diện tự nữ, nữ tự nam.
99

Tâm trung hoài trƣớc đa dâm dục. Mặt con trai giống con gái, mặt con gái giống con trai toàn loại đa dâm dục. - Hồng nhuận tƣớng kiêm thu thủy sắc. Nam nhân văn học nữ đa tình. Nét mặt hồng nhuận vẻ như thu thuỷ. Con trai văn chương con gái đa tình. - Thiên địa nhƣợc hãm định cùng đồ. Trán hẹp, má hóp, cằm nhọn suốt đời đi làm công. - Hỉ nộ thần nhƣ nhất, cùng thông khí bất thù quí kiêm văn vũ. Giận hay mừng nét mặt không thay đổi, cùng hay thông tinh thần vẫn vậy, tướng quí kiêm cả văn võ. - Khí dinh bì nội bách nhật phƣơng thành. Khí sinh ở trong da, đủ trăm ngày sẽ phát ra sắc. - Khí túc sắc túc thần bất túc nan ngôn phú lộc. Khí đủ, sắc đủ, tinh thần không đủ lấy đâu ra phúc lộc. - Diện hữu bát kị: Đầu tiêm diện tiểu vi nhất kị. Quyền cao tị tiểu vi nhị kị. Nhãn đại nhãn tiểu vi tam kị. Nhãn đại khẩu tiểu vi tứ kị.
100

Khẩu vô thành quách vi ngũ kị. Khẩu quang nhƣ du vi lục kị. Diện nhƣ phó phấn vi thất kị. Diện nhƣ duyên thiết vi bát kị. Mặt có tám điều kị: Đầu nhọn mặt nhỏ là một. Quyền cao mũi nhỏ là hai. Mắt to mắt nhỏ là ba. Mắt to miệng nhỏ là bốn. Miệng không có góc cạnh là năm. Miệng như tráng dầu là sáu. Mặt như phát trấn là bảy. Mặt như sắt gỉ là tám. - Đa mƣu thiểu toại chi nhân. Phá quyền chi long cung hắc ám. Mưu thì nhiều thành việc thì ít; Bởi chưng quyền phá và dưới mắt hắc ám. - Diện thô thân tế an lạc nhất sinh. Diện tế thân thô bần hàn đáo lão. Mặt thô thân nhỏ nhắn suốt đời vui sướng. Mặt nhỏ thân thô nghèo hèn đến già. - Thân phì diện sƣu mệnh trƣơng tính hoãn.
101

Thân sƣu diện phì mệnh đoản tính cấp. Thân mập, mặt gầy, tính tình chậm thọ mạng dài. Thân gầy, mặt mập, tính táo cấp thọ mạng ngắn. - Sơn căn đoạn hề thả hƣ hoa; tổ nghiệp phiêu linh định phá gia. Gốc mũi dưới ấn đường lõm gãy, việc gì cũng chỉ là giả, tổ nghiệp điêu linh. - Uy hiển thể trọng công danh tất toại. Có oai, người nặng công danh toại ý. - Toát khẩu, tán mi nan vi đăng các thần liêu. Miệng dúm mày chau không thể làm quan. - Ô hô bần hàn phụ nữ vô phi hung đột diên cao. Đàn bà nghèo hèn, người nào cũng ngực ưỡn đít cong. - Dâm dật sƣơng kĩ nhất định diện tế thân thô. Gái điếm thường có tướng mặt nhỏ nhắn mà thân thể thô. - Thanh nhƣ hàn đàm thu nguyệt. Kì giả tùng hác kiều tủng. Cổ tự ta nga bàn thạch. Quái tự tiêu bích cô phong. Nhân năng hữu thử, phú quí long chung. Người thanh trông như mặt trăng chiếu trên hồ.
102

Người kì trông như cây tùng, như hốc núi. Người cổ trông như phiến đá lớn lâu đời. Người quái trông như vách núi treo leo. Thanh, kì, cổ, quái đều là tướng phú quý. - Tú nhƣợc thâm căn trực cán. Dị giả vũ long hồi phƣợng. Thuần nhƣ lƣơng kim mĩ ngọc. Trọng nhƣ Thái nhạc cao tung. Hữu nhất thử giả tƣớc lộc phi dung. Tú như cây tốt tươi rễ chắc thân thẳng. Dị (lạ) như rồng múa phượng bay. Thuần như vàng tốt ngọc đẹp. Trọng (nặng) như núi Thái sơn. Được một trong những cách trên là phú quí. - Thiên đình trƣờng bích nhi phƣơng. Tảo hữu đằng thăng. Trán đứng thẳng mà vuông vắn, tuổi trẻ đã nên danh phận. - Hiên môn đột khởi phụ nhân thiểu tiết. Hiên môn nổi u, đàn bà thiếu trinh khiết. - Cơ phụ tự lan tự hinh, phi phàm cốt cách. Da dẻ thơm tho là cốt cách phi phàm. - Khẩu nhãn tiểu nhi đoản thọ. Miệng nhỏ mắt nhỏ không sống lâu. - Ta thán tại khẩu, bình sinh nhất bất nhƣ nhàn.
103

Hay ta thán suốt đời vất vả. - Cổ nhi vô thần vị chi lộ. Lô nhi vô khí vị chi thô. Thanh nhi vô thần vị chi hàn. Hàn nhi vô khí vị chi vong. Quái nhi vô thần vị chi thô. Thô nhi vô khí vị chi khô. Kì nhi vô thần vị chi bạc. Bạc nhi vô khí vị chi nhƣợc. Tú nhi vô thần vị chi suy. Suy nhi vô khí vị chi hƣ. Di nhi vô thần vị chi sũ. Sũ nhi vô khí vị chi chuyết. Đoan nhi vô thần vị chi ảm. Ảm nhi vô khó vị chi bại. Bài quyết này cần phải thuộc để biện nhân các danh từ thường lặp đi lặp lại trong tướng học như thanh hàn, quái thô, bạc nhược, tú khô… - Khán nhân tƣớng cách hữu quí khí, hữu tam điểm quyết: Nhất yêu thích thanh âm. Nhị yêu khán thần thái. Tam yêu quan khí sắc. Thanh thanh tắc thần thanh. Xem quí khí có ba quyết điểm: Một là nghe tiếng nói. Hai là nhìn thần thái. Ba là trông khí sắc. Tiếng trong thì thần thanh.
104

- Thanh dục ƣởng nhi trƣờng. Thần dục tinh tuý nhi tàng. Khí dục thƣ hoãn nhi tĩnh. Nhƣợc phản thử giả phất quí dã Tiếng nói phải vang mà dài. Tinh thần phải sáng suốt mà tàng ẩn. Khí chất phải ung dung và tĩnh. Nếu ngược lại không phải là quí. - Dục xuyên khí nhân y; Tu sinh quí nhân thế. MUỐN MẶC ÁO CỦA NGƢỜI SANG, PHẢI CÓ MỘT HÌNH TƢỚNG QUÍ. * Sửa điều dở cho ai chớ nghiêm khắc quá, dạy điều hay cho ai, chớ cao xa quá. * Tự túc là đƣợc một thứ của quí vô giá: tự do. * BỒ TÁT GIỚI Tại sao con lại sợ chữ Bồ tát giới? Đó là sợ Bồ tát hay sợ giới? Nếu con sợ Bồ tát thì con sợ Từ Bi Hỉ Xả, sợ mở cửa lòng mình; cố giữ gìn tài sản đã mất hết tự bao giờ. Bồ Tát là hạ mình. Con sợ hạ mình sao? Bồ Tát là làm tôi của mọi ngƣời mà tâm thật bình an. Bồ Tát là thƣờng vui, đừng từ chối niềm vui ấy.
105

Bồ Tát là đôi mắt đẫm lệ mà nụ cƣời trên môi. Bồ Tát là trái tim nức nở nhịp khổ trần gian. Bồ Tát là đi qua cuộc đời mà không để lại vết tích của mình. Bồ Tát vui buồn theo cái vui buồn của tất cả chúng sinh. Bồ Tát là ôm tất cả vũ trụ vào lòng mà an ủi. Bồ Tát trông chúng sinh nhƣ ngƣời Mẹ trông con ngày đêm không chợp mắt. Chớ sợ Bồ Tát. Con đang vui hãy nghĩ đến Bồ Tát, Ngài sẽ khiến con thêm vui. Con đau khổ con hãy nghĩ đến Bồ Tát, Ngài sẽ mang nỗi khổ đau thế cho con. Con sợ hãi, con cô đơn, hãy cầu cứu các Ngài, Bồ Tát sẽ xua tan ảo ảnh đó. Tại sao khi thƣơng ngƣời này con lại ghét một ngƣời khác? Bồ Tát thƣơng con và kẻ thù của con đồng nhƣ nhau, không một ngƣời nào đáng bị bỏ rơi. Giới không phải để thọ. Giới là phát ra, không thể khác hơn thì thành giới. Sự vô lƣợng thì giới vô lƣợng. Giới là sức mạnh bên trong bẻ gãy mọi tƣớng để ra ngoài. Nên chẳng phải chỉ có năm, mƣời, hai trăm, ba trăm giới mà là
106

tâm địa giới. Nơi tâm là đất sinh trƣởng giới nhƣ mặt đất là nơi cây trái sinh trƣởng. Giới là buộc. Giới là hằng thể. Tội lỗi không nhân thì giới cũng không sinh. Tội lỗi không tƣớng thì giới cũng không tƣớng. Không có ý thức về tội thì chẳng nên sợ giới. Giới là chiếc cầu để qua sông, ngƣời đại lực giả sử không qua sông bằng cầu lại tự bơi qua mà vẫn đến, thì hành động ấy lại là giới, lại vẫn là qua cầu. Đại Bồ Tát thị hiện phá giới để độ kẻ cang cƣờng là nhƣ thế. Giới không thể đếm đƣợc, vì giới là Tâm. Tâm an thì giới nào mà chẳng thuận. Tâm bất an thì giới nào lại chẳng sợ. Bỏ cái chấp chƣớc vào cái tƣớng giới thì mới có giới. Thụ Bồ Tát Giới là thụ vô lƣợng công đức của chúng sinh để trang nghiêm cõi Phật. Thụ Bồ Tát Giới là thụ lĩnh pháp thân, thể tính bình đẳng biến khắp đại thiên thế giới bao trùm tất cả chúng sinh. Thụ Bồ Tát Giới là lĩnh thụ chiếc chìa khoá mở kho Pháp Bảo tha hồ lựa chọn và tiếp nhận tuỳ thích. Giới là định tâm. Khi con còn sợ hãi là sự phá giới còn rình rập. Không còn sợ hãi thì giới là những giọt cam lồ rót trên đƣờng đến giải thoát. Giả dụ trƣớc một hoàn cảnh, một con ngƣời khiến con sợ hãi, con liền niệm Phật. Tại sao niệm Phật lại đƣợc tiêu tan sợ hãi? Khi con
107

niệm Phật là con niệm giác tính của con và của kẻ ấy. Giác tính, Phật tính đó là viên dung. Đâu có ta và ngƣời, đâu có thời gian, đâu có không gian, đâu có phân cách, đâu có thù hằn, đâu có thể vô ngã hay tận diệt. Chính trong lúc ấy, không có nhân thì quả cũng không. Sợ hãi không có thì nguy hiểm cũng không đến. Nên chí thành niệm Phật đƣợc tiêu tan tai ách là thế. Niệm danh một vị Phật trong lúc nguy nan, đƣợc Phật phƣơng tiện trỏ cho thấy tính viên giác ngay lúc ấy, nên gọi là thí vô uý. Thấy Phật tính ấy thì muôn vạn sự thế gian có tƣớng nên hoại; chỉ là một trò đùa nghịch, chỉ đáng một nụ cƣời nhẹ mà thôi. Nhƣ thế, giữ điều gì là có giới? Không giữ điều gì là phá giới? Nhƣ lai dạo biển đại tịch diệt, là dạo chơi trong biển giới? Không thụ Bồ tát giới, thì giới ấy cũng đã có sẵn trong con, dù con có muốn thấy hay không. Con có thể nào chƣa bao giờ nhỏ một giọt nƣớc mắt trên thân phận mình; chƣa bao giờ khóc cho nỗi khổ của ngƣời mình thƣơng; chƣa bao giờ thấy kẻ mình ghét cũng không hoàn toàn hạnh phúc. Đau khổ không có tƣớng nhất định, thiên hình vạn trạng. Đau khổ không phân biệt loài, giới, tuổi tác, giới tính. Đau khổ đến với mọi chúng sinh, và nơi đâu có khổ đau thì nơi đó có Bồ tát. Không chấp chƣớc vào
108

tƣớng ngƣời thụ khổ, không qui định cho nỗi khổ một chủ thể thì bi tâm tràn lan khắp mọi nơi có tiếng kêu than, đó là bồ tát giới. Chúng sinh chấp ngã, thì tứ vô lƣợng tâm từ, bi, hỉ, xả có tƣớng ngã. Bồ tát không có ngã, thì tứ vô lƣợng tâm không bị ngăn che, tự tại nƣơng theo chỗ sở cầu của vô lƣợng chúng sinh trong quá khứ, hiện tại, vị lai mà hiện tƣớng. Bồ tát thị hiện vào nơi bất tịnh để độ kẻ tham dục, thì giới ở đâu? Giới chính là tâm trí vậy. Không nên chống lại đau khổ khi nó đến, mà hãy tiếp nhận bình thƣờng nhƣ tiếp một ngƣời thân. Con chống lại đau khổ là chống lại sức mạnh của nghiệp. Và không ai chống nổi nghiệp đâu. Chỉ có đối thoại với đau khổ mới hóa giải đƣợc nó. Đau khổ là mình, nhƣng mình không phải đau khổ. Thu nạp đƣợc đau khổ chỉ có lòng tứ vô lƣợng. Không nghĩ đến nỗi khổ của mình, cảm nỗi khổ của kẻ khác đó là bi tâm, các phƣơng tiện để biến sự cảm thƣơng thành lực nội tại là giới. Không có lực này thì thƣơng kẻ khác chỉ là thƣơng suông mà thôi. Không thể có lợi ích cho ai. Bấy nhiêu việc, theo sở nguyện mà thành tự tính phát điều thƣờng vui là hỷ, chẳng vì mình, cầu lợi cho chúng sinh hành trình theo Phật không mòn mỏi, không động mà vẫn động theo nỗi khổ chúng sinh là xả.
109

Có giới thì mới có thể định tâm, có định thì mới có huệ, tuy là ba nhƣng thực tính chính là không tức là một. Từ căn bản này thì sự tụ tập các pháp giải thoát mới không bị chƣớng ngại, nên con hãy xin thụ giới. * Kẻ có tài hơn người, tất có tình dục hơn người; Tài hơn người, tình dục hơn người, mà không có lòng đạo đức hơn người để tự trị lấy mình, thì lại là tôi tớ cho tình dục. (Lƣơng Khải Siêu) * Than van, khóc lóc, khẩn cầu, đều là khiếp nhƣợc. (A.de Viguy) * Tài trai nên đĩnh đạc đứng ở cõi đời. (Ngô Dụng Trai) * Tự do không bao giờ đi chung với yếu đuối. (Vauvenargues) * Sinh tử, tồn vong, cùng đạt, bần phú, kẻ hiền và ngƣời bất tiếu, khen chê, lạnh ấm, đó là cái biến của sự đời, cái hành vận của cái mạng. Nó tƣơng tiếp nhau, hết ngày tới đêm, hết sống tới chết, hết vinh tới nhục… ta không thể biết đƣợc nguyên nhân nó từ đâu. Những điều ấy, ta chớ nên bận đến mà làm gì, đừng bao giờ để cho nó chen vào phá hoại cái yên tĩnh của tâm hồn mình. Gìn giữ mãi sự yên tĩnh ấy nơi lòng, đừng để cho bất kì là vật gì chao động đƣợc dầu là sự vui sƣớng
110

cũng vậy. Đó là toàn đức… Bậc chân nhân không ham sống, không sợ chết. Sinh ra không mừng, chết đi không sợ. Thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi, không bận mắc vào đâu cả. Thuận theo đạo mà sống, nên ngƣời không cƣợng với trời… Tâm họ bao giờ cũng quả quyết, cử chỉ rất trầm lặng, gƣơng mặt đơn sơ, hạnh kiểm điều độ, tình cảm mực thƣớc. Gặp việc gì cũng làm, không gặp việc thì không làm, không tỏ tâm sự cho ai bất kì. Những kẻ chƣa đến bậc chân nhân thì thích bạn bè, thích tâm sự, muôn việc đắn đo lo sợ, không biết thản nhiên đối với những cuộc vinh hƣ, tiêu trƣởng trong đời, thƣờng lại đem thân mà tiêu huỷ trong cuộc săn tìm danh lợi. (Trang Tử) * Ngƣời sinh ở đời, không có một ít nghị luận hay một ít công nghiệp tốt, suốt ngàt chỉ ăn no, mặc ấm, mà không dụng tâm thì khác gì loài vật. (Tô Tử Do) Dụng tâm: Để bụng để chí làm việc. * Cách phán đoán về sự đời, hết sức quan hệ đến sự điềm tĩnh của ta. Ngƣời ta thƣờng tƣởng rằng: hoạ phúc, đều do ở ngoài mà đến. Cái đó lầm, và vì thế, ngƣời ta mới có lo sợ. Nếu quả nghèo là khổ mà giàu là sƣớng, thì những
111

ngƣời nghèo nhƣ Nhan Hồi, Socrate, đều là khổ hết hay sao, mà những bực phú hữu tứ hải nhƣ Tần Thuỷ Hoàng, Napoléon đều là sƣớng nhất ở đời sao? Nếu bảo con là nợ, vợ là oan gia, thời sao đối với Socrate, có ngƣời vợ hung dữ nhƣ thế, ông lại cho là một cái phúc đối với ông, vì nhờ đó ông điêu luyện đƣợc cái tính điềm đạm, thản nhiên đối với sự vật ở đời. Nếu những cái thiên hạ đồng cho là họa, nhƣ bần, tiện, bệnh, tử… đi lạc vào nhà các bậc đại hiền nhƣ Trang Tử hay Epictète… thì cũng không làm gì cho mấy ông ấy nao lòng… “Ngƣời ta thƣờng ví những sự nhỏ mọn không đâu, mà gây ra phiền não cho mình. Nếu ai cũng biết thản nhiên đối với sự vật, bình tâm mà xét thì sẽ thấy trăm việc đến cho mình, chín mƣơi việc không đáng bận lòng chút nào cả”. Làm cho ngƣời phiền muộn, không phải là tự ở sự vật, chính là ở cái cách ngƣời ta phán đoán về sự vật. Nhƣ cái chết có gì đáng sợ đâu, nếu đáng sợ thì ông Socrate đã sợ; nhƣng đáng sợ, là sự phán đoán rằng cái chết là đáng sợ. Nhƣ vậy thời mỗi khi ta buồn bực, bối rối, phiền não, ta đừng trách ai, chỉ trách ta, nghĩa là trách sự phán đoán của ta mà thôi”
112

Phải nhớ rằng: làm nhục cho mình, không phải là kẻ nó chửi mình, nó đánh mình, những là tự mình phán đoán cho rằng nó làm nhục mình. Có kẻ nào làm cho mình giận dữ thì phải biết rằng chính sự phán đoán của mình nó làm cho mình giận dữ đấy. Sự vật nhƣ mảnh gƣơng trong, nếu mình cƣời, thì nó trả cái cƣời lại cho mình, nếu mình khóc, nó trả cái khóc lại cho mình. Tôi thƣờng tự hỏi: “Ngƣời ta đánh ta, ta giận, là tại ngƣời hay tại ta làm cho ta giận?” Phần đông sẽ nói: “Vì ngƣời đánh ta nên ta giận. Nhƣng, nếu ta biết ngƣời đánh ta là ngƣời điên, ta có còn giận ngƣời ấy nữa không? Chắc hẳn là không, nếu ta là ngƣời biết xét. Trái lại, nếu ta biết ngƣời đánh ta là ngƣời tỉnh, thì ắt ta không khỏi phải nổi cơn giận dữ. Cũng một việc xảy đến cho ta, mà khi thì ta điềm tĩnh nhƣ thƣờng, khi ta lại bực tức nóng giận. Tại nơi đâu? Có phải là tại nơi sự phán đoán của ta chăng? Tôi không thấy tại nơi ngoại vật chỗ nào cả. (C.D.C.T.N) * Ngƣời ta ở đời, đối với ngƣời mà gặp phải kẻ dữ với mình một cách ngang ngƣợc, thì nên coi mình đi trong bụi rậm, vƣớng phải gai, chỉ nên thong thả đứng lại gỡ dần ra
113

thôi. Gai góc kia có biết gì mà đáng giận? Xử đƣợc nhƣ thế, thì tâm mình không phiền não mà bao nhiêu nỗi oán hận cũng tiêu tan… … Ta nên coi những sự ngang ngƣợc phạm đến ta nhƣ chiếc thuyền không, lỡ đâm phải ta, nhƣ cơn gió dữ tự lỡ tạt nhằm ta. Ta nghĩ cho cũng “có gì đáng giận”. (M.Tử) * Ngƣời nghĩa không dối mình, ngƣời liêm không lấy bậy. (Thiết Uyển) * Lâu nay đời vẫn làm đắm đuối loài ngƣời, cái “Chí” của ta là cái để đo thân ta, mà sóng gió không thể xiêu dạt vùi dập ta đƣợc. (Chúc Võ Công) * Biết ngƣời ta dối, không thèm nói ra mồm; phải ngƣời ta khinh, không thèm giận ra mặt nhƣ thế thì có ý vị vô cùng và thụ dụng vô cùng. (Súc Đức Lục) Ý vị: thuần nhị vui thú. thụ dụng: được hưởng chịu nhiều sự sung sướng về sau. * Không lo sao có đƣợc; không làm sao nên có. * Ngƣời điên đâu phải là ngƣời đã mất lí trí, ngƣời điên là ngƣời đã mất tất cả , trừ lí trí. (G.Kchesterton) * Chính vì quá dốt nát mới có cái giọng độc đoán. (La Bruyere) * Yên vui thư nhàn là thuốc độc Không nên quyến luyến ham mê. (Tả Truyện)
114

TUYỆT ĐỐI Đi tìm tuyệt đối đôi khi nhƣ thoáng bắt gặp rồi lại thất vọng. Con hoài nghi sự hiện hữu của thiện tính và từ đó mất tính Tâm. Con thử theo Mẹ tìm xem tuyệt ở nơi đâu? Một tình cảm tuyệt đối đến chết không phai có phải là một tình yêu tuyệt đối? Nhƣ thế là trọn vẹn nhƣng với ngƣời khác: kiếp này ngắn ngủi, họ muốn cùng nhau đi đến thiên thu hoặc kẻ kia chỉ mong hiện tại duy nhất đối với nhau là đủ, là tuyệt đối. trong tình yêu nam nữ tuyệt đối đã có nhiều tƣớng khác nhau. Trong những tình cảm khác nhƣ tình mẫu tử, hiếu đệ, tình bằng hữu, tình đồng đạo, tƣớng của tuyệt đối càng nhân lên thiên hình vạn trạng và ngƣời muốn đi tìm tuyệt đối trong tất cả các mối liên hệ, nhân duyên ở đời còn khó thực hiện ƣớc mơ tuyệt đối của mình. Trọn vẹn trong tình yêu nam nữ tất khó có thể trọn vẹn trong tình mẫu tử hay hiếu đệ, vì thời gian và không gian, vì thân tƣớng con mang không cho phép con vừa xả thân cho ngƣời này vừa có mặt nơi khác với ngƣời kia. Và ngƣời đi tìm tuyệt đối bỗng trở thành ngƣời phiêu lƣu nhất. Có những ngƣời đi tìm tuyệt đối bằng phƣơng pháp loại trừ. Tình yêu không phải là sự tuyệt đối, tình mẫu tử cũng đƣợc phân tích và loại trừ cùng nhiều điều khác nữa. *
115

Có ngƣời bi quan hơn cho điều ác là tuyệt đối, vì điều ác ngự trị thế gian còn điều thiện thì ở đâu đó ngoài trái đất. Thế thì tuyệt đối ra sao? Có tƣớng nào? Hay không hiện hữu? Con đang đứng trên mặt đất, bầu trời trên đầu, bên phải, bên trái cũng là phải trái của mọi ngƣời trên mặt đất, dù sứ nào. Cá sống trong nƣớc phía trên có lẽ đƣợc tả khác hơn và loài có cánh hình dung bầu trời và mặt đất khác con nhiều. Tất cả những cái nhìn này đều lấy tâm trái đất làm chuẩn. Giả dụ không lấy tâm trái đất làm chuẩn, con sẽ có cái nhìn khác hẳn. Đứng phía này quả đất có thể là đứng dƣới quả đất, hoặc cánh phải hoặc ở cánh trái quả đất. Nếu lấy một điểm nào đó trên mặt quả đất làm chuẩn mực chung, nhƣ thế những điều tƣởng nhƣ tuyệt đối cũng chỉ lấy theo tầm nhìn của loài ngƣời hay của những loài sống trên mặt quả đất. Đó là bản ngã của mỗi loài. Ở mỗi loài ngã càng biến tƣớng theo bản sắc của mình đến vô cùng. Vậy, muốn tìm thấy tuyệt đối chỉ có cách duy nhất là thoát khỏi bản ngã. Trong vô ngã sẽ thấy điều chân thật. Vì thế mà tuyệt đối thực sự hiện diện không chỉ ƣớc mơ; nhƣng để ngộ chân lí muôn đời bất biến con phải quên mình. Khi tất cả đã êm lắng, khi tất cả những xôn xao của tâm đã tan biến trong bình an, khi con
116

đã xả sự tìm kiếm tuyệt đối, khi con không còn gì là lúc con ngộ hình tƣớng thật của tuyệt đối. Tuyệt đối hay vĩnh cửu hay chân lí, dù con gọi bằng ngôn ngữ nào vẫn chỉ là một và tồn tại ngoài nghe thấy của ngã. Phật đã chứng minh Ngài không có bản ngã mà đại thể ở trong Ngài, nên con có thể tin lời Phật là tuyệt đối. Ví dụ nhƣ luật nhân quả thô thiển hay vi tế con có thể nghiệm thấy trong cuộc đời mình rằng, nhân quả hay luân hồi quả báo là có thật, vì nhân quả báo ứng là chân lí là không bao giờ sai chạy là tuyệt đối. Từ bi tâm bình đẳng thƣơng kẻ oán ngƣời thân nhƣ nhau là thứ tình cảm tuyệt đối mà hành theo sẽ chẳng bao giờ làm con khổ nhƣ tình yêu nam nữ. Tâm hỉ xả là con đƣờng càng đi con càng hạnh phúc. Bây giờ con hãy di tìm tuyệt đối. * Tình yêu không có mù, nó bị chứng viễn thị. Bằng cớ: nó nhận thấy rõ các tật xấu khi nó đi xa rồi. (Miguel Zamacois) * Nên đƣơng lúc có nghĩ đến lúc không; chớ đến lúc không, mới tƣởng lại có. * Chỗ mà ngƣời xƣa gọi là hào kiệt ắt phải có khí tiết hơn ngƣời. Nhƣng, nhân nghĩa có chỗ không thể nhịn đƣợc. Bởi
117

vậy, kẻ thất phu gặp nhục, tuốt gƣơm đứng dậy, vƣơn mình xốc đánh. Cái đó chƣa đủ gọi là dũng. Kẻ đại dũng trong thiên hạ, trái lại thình lình gặp những việc phi thƣờng cũng không kinh, vô cớ bị những điều ngang trái cũng không giận. Đó là nhờ chỗ hoài bão của họ rất lớn và chỗ lập chí của họ rất xa vậy… (Tô Đông Pha) * Cắn chặt răng để chịu thiệt, Đứng vững bƣớc để làm ngƣời. (Cổ Ngữ) * Ở đời có ba điều đáng tiếc: Một là hôm nay bỏ qua; hai là đời này chẳng học; ba là thân này lỡ hƣ. (Chu Hi) * Tạo hóa sinh con ngƣời có hai lỗ tai và một lỗ miệng, là để cho ta tập nghe nhiều hơn là nói. (Nabi Effendi) * Lửa bốc lê cao, nƣớc chảy xuống thấp, thế mà bao giờ lửa cũng thua nƣớc. * Cùng ngƣời ta, mà còn có ý so hơn, quản thiệt, thế là trong tâm vẫn còn cặn bã chƣa tiêu trừ hết. (Tiết Huyên) * Trong tất cả mọi ngày, ngày hỏng nhất là ngày mà ta không cƣời. (Chamfonrt) * Kẻ nhẫn nại quí hơn ngƣời dũng sĩ; kẻ làm chủ đƣợc tâm hồn mình quí hơn kẻ thâu thành cƣớp lũy. (A.Kempis) * NHÂN ĐẠO
118

Con thƣờng nghe nhân đạo, khi nói đến một ngƣời có hành động giúp kẻ hoạn nạn; giúp ngƣời hoạn nạn đó là Đạo làm ngƣời hay là Đạo của con ngƣời. Con ngƣời phải nghĩ đến nhau, đến cộng đồng loài ngƣời. Tức là tự con ngƣời đã có Đạo và sống hợp với Đạo của chính mình, là điều chƣa mấy ai thực hiện đƣợc. Tôn giáo chỉ là sự tìm kiếm bên ngoài trở lại với chính mình và tìm những qui luật để Đạo tồn tại đƣợc nơi mình, là chân chính thì hành Phật Đạo. Phải, vì điều thiện, từ bi là gì? Nếu không phải là nhân đạo! Cho nên, chẳng tìm Đạo mà thấy Đạo. Hay nói Phật ngự nơi tâm, chẳng cần tìm kiếm đâu xa cũng đúng. Con đừng nên nghĩ chỉ mến ngƣời lành và ghét kẻ ác. Mến ngƣời lành là trí, nhƣng thƣơng kẻ chẳng lành; không bỏ mặc họ với nhân quả đớn đau, đó là ngƣời có lòng nhân đạo. Con chƣa thƣơng đƣợc ngƣời, đã gây ác nhân và đang thọ ác báo, hay ngƣời đang tạo ác nghiệp cho bản thân. Con chƣa là ngƣời nhân đạo thì đừng nghĩ đến tâm lƣợng từ bi của Bồ tát. Chƣa nhân đạo, chƣa làm ngƣời thì chƣa thể tu tứ vô lƣợng tâm của Bồ tát. Từ Bi Hỉ Xả lúc này chỉ là ngôn từ hiệu đính cho một bản ngã hẹp hòi. Nhân đạo có nghĩa: làm điều tốt nhất cho một ngƣời mà
119

không hại đến những ngƣời khác. Tuỳ hoàn cảnh mỗi ngƣời, mà đòi hỏi tƣớng biểu lộ lòng nhân; nếu nói rằng tâm quyết định tƣớng của lòng nhân đạo. Vì thế, ở ngƣời này đòn roi làm tỉnh ngộ, ở ngƣời kia là sự cảm thông; hay một cộng đồng với bao nhiêu sinh mạng đƣợc xem trọng hơn chỉ ở một ngƣời (câu chuyện Đức Phật một thuở nọ trên sông). Để thực hiện lòng nhân nơi mình, trƣớc tiên con khoan hay chẳng bao giờ phê phán; làm phán quan khi chính con chƣa hết ngã, là uốn sự việc theo ý mình. Nên, tƣớng công bằng giai đoạn là nhân bất thiện trong trƣờng đoạn luân hồi, và phải nhớ: quả báo ác là điều tốt nhất làm ngƣời si tỉnh ngộ. Không nên hình dung đó là sự trừng phạt của thƣợng đế, hay của một đấng trí tôn nào. Vì con ngƣời tự có Đạo nơi mình, nên luật nhân quả nhân đạo hơn cả những luật lệ do con ngƣời đặt ra. Luật pháp, chỉ có quyền và chỉ xét sử trên tƣớng, mà luật nhân quả lại xét từ tâm. Từng ý nghĩ cũng có quả báo, nên chính xác vô cùng. Vì thế con đừng ghét ngƣời làm con đau khổ; họ sẽ có quả báo của hành động ấy, dù không đến từ con. Vả lại, nếu họ làm con buồn, mà vui lòng ngƣời khác, thì chƣa hẳn không tốt với con đã là bất nhân. Cũng chính vì dây chuyền nhân quả không dứt, khó phân
120

này, mà con đừng bao giờ nghĩ rằng mình đang làm điều tốt. Con chỉ nên nghĩ: tôi cố gắng làm điều mà, theo cái nhìn bây giờ, tôi cho là nhân đạo nhất. Ý thức rất rõ rằng: việc làm và ý tƣởng này chƣa hoàn toàn. Nhƣ thế, là đi trên con đƣờng vô ngã mà không hay biết. Con hãy cố gắng trở thành ngƣời nhân đạo. * Việc gì mà công chúng đang giận, thì chớ phạm đến; việc gì mà riêng mình ham muốn, thì khó làm nên. (Tử Sản) * Người hay ít nói; người nông nổi nhiều lời. (Dịch Kinh) * ĐỪNG NÓI SAI Nói thật, và chỉ biết nói thật mà thôi, là tập cho mình có một tinh thần bất uý. Trong đời, nhất thiết việc gì, phải tập tành nói cho đúng với sự thật. Washington, lúc còn trẻ, một hôm đẽo cây quí cha trồng. Lúc cha của ông đang hầm hầm giận dữ, ông vẫn có đủ can đảm thú tội của mình, không sợ hình phạt gì cả. Cha thấy con nhƣ thế, đổi giận làm vui, ôm con và nói: “Tất cả tài sản của cha không quí bằng cái tính ngay thật của con”. Thật vậy, cái tinh thần ấy làm cho ông sau này trở nên một bậc anh hùng cái thế. Ngƣời ta sở dĩ nói láo là vì sợ mà nói. Sợ oai quyền, sợ hình phạt, sợ thất lợi, sợ chê cƣời… Mỗi một khi ta thấy bị
121

hoàn cảnh lôi cuốn phải nói dối, hãy bình tâm suy nghĩ, tìm xem căn nguyên, ta sẽ thấy không ngoài những nguyên nhân đã nói trên. Nói dối, là tỏ ra mình bị kẻ khác dồn vào thế bị động. Nhiều khi nói dối lại đƣợc thiên hạ ban cho cái tên rất tốt đẹp là ngƣời nhã nhặn. Kì thật, là ngƣời nhút nhát, chỉ biết vì mình chớ không phải vì ngƣời. Nói sự thật thì mất lòng, thà nói vừa theo, có phải lợi đƣợc ngƣời ta ƣa mình không? Đó là dua nịnh, đó là con buôn. Ngƣời nhƣ thế là ngƣời mà ai ai cũng ƣa, nhƣng ai ai cũng ngờ… Còn cầu đến sự thƣơng yêu của ngƣời, là còn sợ chê bai, ngƣời nhƣ thế không phải là ngƣời điềm đạm đƣợc. Phải tập cái tính ƣa sự thật, ghét sự dối. Đừng có nói: “Một lần đâu phải thói quen”. Không! “Kẻ trộm một hột gà, sẽ trộm một con bò”. Nói dối một lần lƣơng tâm cắn rứt, nhƣng rồi bỏ qua. Nói dối nhiều lần sẽ dần dần thành thói quen, lƣơng tâm không cắn rứt nữa, ngƣời ta sẽ nói dối nhƣ ăn cơm bữa, không chút ái ngại gì cả. Ta phải thật nghiêm khắc với ta về vấn đền này. Ta phải xem lời nói ta nhƣ một lời viết ra ngoài mặt giấy, nhƣ một danh dự thiêng liêng bất khả xâm phạm. Thà là không nói gì hết. Mà hễ nói ra là đúng với sự thật. Không có một
122

quyền thế nào; không có một lợi danh nào bắt buộc ta phải nói sai với sự thật đƣợc cả. Không nói dƣ, mà nhất là không bao giờ nên nói sai với sự thật. Chỉ có đƣợc nhƣ thế, tinh thần ta mới đứng đƣợc vững vàng, không phải bị một lực lƣợng ngoại giới nào làm lay chuyển đƣợc. * Mỗi một khi ta nói dối, tinh thần ta giảm bớt dũng khí đi một ít. Càng nói dối chừng nào thì cái dũng khí của mình càng suy nhƣợc chừng ấy. Cho nên những kẻ ham nói dối là những ngƣời khiếp nhƣợc. Mỗi khi ta nói dối là mỗi khi ta nuôi dƣỡng cái tính hèn nhát của ta. Muốn tập tính ăn ngay nói thật, cần phải khởi từ hồi con ngƣời đang còn thơ ấu. Tập cho chúng nó biết sùng bái sự ngay thẳng cƣơng trực, và biết khinh bỉ sự dối trá dua bợ, biết đâu sau này trong đám trẻ con ấy lại không có ngƣời nhƣ Nhạc Chính Tử(1). Trái lại giáo dục ngày nay, chuộng sự hƣ trá hơn là ngay thật. Rủi đứa con có làm một lỗi gì, mình chịu thấy nó sợ mình mà nói dối, hơn là thấy nó can đảm nhận tội. Vì, họ cho nhƣ thế là đứa trẻ tỏ ra không biết sợ oai họ. Họ lại còn cho những sự dối láo là những cách khôn khéo ở đời. Đứa nào môi miệng lanh lợi là đứa khôn
123

ngoan sắc sảo. Về sau thế nào cũng đắc thắng trên trƣờng đời. Còn những đứa ăn ngay nói thẳng, thật thà ít nói cho là đứa ngu si đần độn không ra gì. Một xã hội nhƣ thế, thì làm gì có bậc đại dũng biết quí lời nói thật thà nhƣ Nhạc Chính Tử. (C.D.C.T.N) (1) Nước Lỗ có một cái đỉnh rất quí. Nước tề bắt phải đem dâng. Vua Lỗ tiếc lắm, cho làm một cái đỉnh giả đưa sang. Vua Tề bảo: “Phải có Nhạc Chính Tử đem đỉnh sang nói, ta mới tin”. Vua Lỗ cho gọi Nhạc Chính Tử đến bảo đi. Nhạc Chính Tử hỏi: “Sao không đưa cái đỉnh thật?”. Vua Lỗ nói: “Ta quí nó lắm”. Nhạc Chính Tử thưa: “Nhà vua quí cái đỉnh ấy thế nào, tôi quí cái đức “tín” của tôi cũng như thế”. Sau vua Lỗ phải đưa cái đỉnh thật. Nhạc Chính Tử mới chịu đi. (C.H.T.H) * Lời ngọt ngào trong tất cay đắng. (Thân Sinh) * Kẻ hay hiếu danh, việc làm thường giả dối. (Lã Khôn) * PHÁP THUẬT CAO CƢỜNG Ngày xƣa Phật cùng các đệ tử đi qua một khu rừng, vừa đến một mé sông… thấy có một đạo sĩ Du già ngồi ở cội cây… Phật hỏi: - Ông ở đây bao lâu và đã tu chứng đƣợc gì?
124

Đạo sĩ nói: - Tôi tu đã bốn mƣơi năm và đã có phép khinh thân, đi qua con sông mà không cần ghe xuồng gì cả! Nói xong đạo sĩ niệm chú, nhún mình bay là là trên mặt nƣớc và vƣợt qua sông nhẹ nhƣ chiếc lá… trƣớc những cặp mắt vô cùng thán phục của các đệ tử Phật. Phật mỉm cƣời, nói với đạo sĩ: - Tƣởng gì lạ lùng, chứ để đi qua con sông mà phải tốn công tu luyện đến bốn mƣơi năm, thật phí công uổng sức vô ích quá! Chỉ với đồng tiền nhỏ bé này, ngƣời đƣa đò sẽ đƣa chúng ta qua sông một cách dễ dàng. (Thiền Truyện) * Có đủ can đảm để nói sự thật, phải chăng là biểu hiện của một tấm lòng điềm đạm chí cực. Hay là nói một cách khác, chỉ có kẻ nào có đƣợc một tinh thần bất uý mới có thể có đủ can đảm nói sự thật mà thôi. (C.D.C.T.N) * Phàm lúc nguy cấp, chỉ nên trông cậy nhƣng điều của mình, không nên trông cậy những điều của ngƣời. (T.Q.P) * ĐỊA NGỤC Chính là hình bóng của đau khổ và địa ngục đã đƣơng nhiên trở thành một đối tƣợng ẩn dật trong trái tim, trí tuệ của Đức Địa Tạng Vƣơng Bồ Tát với thị nguyện vang lừng ba cõi:
125

“Địa ngục vị không thể bất thành Phật, chúng sinh độ thập phƣơng chính Bồ đề”. Địa ngục - Hôm nay, ta sẽ giảng cho con hiểu nhƣ thế nào là địa ngục. Khi một chúng sinh, trong giây phút nào đó chợt thấy mình có mặt ở cuộc đời, chợt nhìn lại mình trên hành trình sinh tử và bắt đầu băn khoăn về thân phận, thì cũng tự lúc ấy địa ngục là hình ảnh rõ ràng dần hiện trong trí thức. Đó là những ý niệm mơ hồ đậm nhạt về nỗi đau khổ chen lẫn trong chập chồng niệm tƣởng, trong biết bao ƣớc mơ về danh lợi hạnh phúc. Phải chăng ý thức con ngời tạo nên địa ngục? Hay tôi khổ, vì tôi cho rằng đời là bể khổ. Xa hơn nữa có phải chăng, ở thế giới bên kia các thảm cảnh dầu sôi lửa bỏng, chỉ là sản phẩm của sự tƣởng tƣợng, phóng đại và tại sao ở các cõi trời phi tƣởng, địa ngục vẫn theo đuổi chúng sinh nhƣ hình với bóng. Vậy thì địa ngục khởi đầu, kết thúc nơi đâu? Thật có hay không thật có? Hoặc do phủ nhận, xác nhận mà địa ngục tồn tại hay diệt vong. Con ơi! Dù cho con chƣa một lần nghĩ đến, địa ngục đã sừng sững nơi tâm tự bao giờ, âm ỉ trong những nỗi buồn không tên, thiêu đốt tâm hồn trong dục vọng vang động khôn nguôi, trong biết bao điều dang dở của mộng
126

đời và không chỉ thế, còn vây hãm lấy con ngay cả trong những niềm vui, vui tƣởng chừng nhƣ bất tận. Con đã từng nghe về các cõi trời, thọ mạng chúng sinh nơi ấy dài không kể xiết, hoan lạc chẳng lúc nào vơi. Nhƣng là gì, nếu không là địa ngục, khi nỗi lo âu về tƣơng lai bất ổn của niềm hoan lạc ấy vẫn thƣờng trực ẩn nấp trong lòng. Vì có thọ mạng dài nào mà không kết thúc. Nhƣ vậy địa ngục là biểu tƣợng của đau khổ. Nhƣng con hiểu địa ngục theo nghĩa nào? Nƣớc mắt ta không ngừng tuôn rơi, dù chỉ còn một sinh linh bị đọa đầy. Không có địa ngục nào đƣợc xem là nhẹ, không có khổ đau nào là không đáng kể, không một chúng sinh nào ở nơi bất kể cảnh giới nào mà không hít thở bầu không khí bất an, vô thƣờng. Vô lƣợng chúng sinh không thể chỉ hiểu là vô lƣợng sinh mệnh, mà còn phải hiểu là vô lƣợng sinh tử xảy ra trong một kiếp sống. Thế nên, khi nói một chúng sinh đƣợc thành Phật, vô lƣợng chúng sinh đƣợc giải thoát. Chính là nói về thật nghĩa bình đẳng. Địa ngục ở đâu? Ở nơi mà con trụ tâm, dù con trụ vào Niết bàn tối thƣợng; khi tâm con, dòng sinh hóa thƣờng hằng ngƣng đọng lại. Tâm ấy đã xa lìa tự tính của môn pháp, tâm ấy hóa thành chủ khách, mở đầu cho một chuỗi niệm tƣởng hƣ vọng đăng
127

đẳng liền nhau muôn kiếp sống. Trụ tâm là ngã, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của ngã. Chủ thể mà con tƣởng lầm là mình, chỉ là làn sƣơng khói vô minh che phủ chân tính. Khách thể mà con tƣởng lầm là khác mình, thật ra chỉ là muôn vàn ảo ảnh biến hiện trong màn vô minh ấy. Chủ thể và khách thể đoạn diệt, thâm trầm theo nghiệp quả. Từ đó, cái mà người ta gọi là định mệnh của con người, chính là định mệnh của nghiệp. Và nghiệp, là sản phẩm của trụ tâm, của tâm bất định, tâm phân biệt, nghiệp là ngã vậy; con còn luẩn quẩn mê lầm đó. Địa ngục hiện diện trong mỗi thân phận chúng sinh, dù khắt khe nhƣng rất công bằng. Cho nên hiểu định mệnh nhƣ ngƣời đời thƣờng hiểu là sai lầm vô cùng lớn. Từ đó nảy sinh hai thái độ, hoặc đối kháng đấu tranh để vƣợt qua số phận bằng tất cả sức lực bình sinh, mà thắng hay bại đều đắp đổi bằng mất mát của mình hay của kẻ khác. Đó là ác, đƣợc ngụy trang bằng ngôn từ hoa mĩ, đƣợc bào chữa bởi mọi điều nhân danh. Không ai không trách cuộc đời đã cƣớp đoạt của mình sự trong sáng ban sơ, nhƣng dòng đời vẫn tự nó luôn luôn tuôn chảy theo qui luật tự nhiên của vũ trụ. Mà vũ trụ là chí thiện. Đấu tranh, đối kháng nhƣ thế không thể là sinh tồn, mà là tự hủy, đó là chấp đoạn.
128

Hoặc xuôi tay theo định mệnh, nhƣ thể định mệnh là một thành luỹ nặng nề, kiên cố vây chặt thân phận bé nhỏ tối tăm của mình. Tôi sinh ra đời nhƣ thế, lìa đời cũng sẽ nhƣ thế, chẳng có gì đáng vui hay đáng buồn. Tôi và đau khổ chấp nhận nhau nhƣ một đôi bạn song hành. Nhƣng có thật đó là sự an ổn hay không? Đó là an ổn thua, vì không thể thắng. Đó là chấp nhận một kiếp sống lê thê, kiêu đời, chấp nhận chết vĩnh viễn; trong khi chết là điều không thể có. Cũng là ác, vì kẻ ấy đã phủ nhận sự hiện diện thiêng liêng của mình, đồng thời phủ nhận thế giới chung quanh. Đó là chấp thƣờng. Khác với thái độ của một ngƣời thức tỉnh. Không chấp nhận sự phi lí muôn thuở của thân phận mình trong luân hồi nghiệp quả. Giành tất cả nỗ lực cho một hành trình về phía mặt trời với giông tố tơi bời của nghiệp. Giành đời mình cho bao cuộc hóa sinh, để đi đến cuộc hóa sinh vĩ đại cuối cùng là: Giải thoát. Hai thái độ trên, do đó đều không ổn thỏa, đều là vong thân, đều là nền tảng của bao nền triết học hiện thời. Không có định mệnh, chỉ có định nghiệp, định nghiệp là ngã, ngã là huyễn mộng. Hiểu nhƣ thế, thay vì phải gian truân vô ích, vì nhân thế, con sẽ định hƣớng cuộc đời, xứng đáng với sự có mặt của mình. Không ai có
129

thể chạy trốn định nghiệp; làm sao có thể chạy trốn chính mình… Cũng không ai có thể phán xử hay đặt để cho ai một địa ngục, nếu tâm ngƣời đó chƣa sẵn sàng bƣớc vào. Lại càng không ai có thể cứu thoát cho ai. Cuối cùng, địa ngục cũng không là nơi giam giữ chúng sinh đời đời nhƣ nhiều ngƣời thƣờng nghĩ. Hình ảnh ma vƣơng, quỉ vƣơng canh giữ tội nhân cùng những khổ hình nơi mƣời hai cửa ngục, chính là sự phóng giọi biến hiện và trói buộc của nghiệp cảm. Mỗi ngƣời đều có một ngày Diêm chúa nơi tâm mà không tự biết. Đó là sự lên tiếng mãnh liệt của chân tính, sự phán xét sau cùng của trí thiện. Nhƣ xƣa kia, miếng cơm từ tay Bồ tát Mục Kiền Liên đến miệng Thanh Đề hóa thành viên sắt lửa. Nhƣng vào giây phút này đây, một Thanh Đề nào đó đang phải chịu khổ hình nặng hơn. Miếng cơm sẽ biến thành quả cầu gai lửa, không thể nhả ra mà phải nuốt vào, nuốt đến đâu cơn nóng bén nhọn chạy đến đó, quả cầu gai lửa lại hóa thành vô số quả cầu gai khác cào xé và thiêu đốt toàn thân. Khi cơn nóng tạm ngƣng, cơn đói khủng khiếp ấy lại dâng lên, khiến tội nhân lại đòi ăn cơm để chịu khổ hình tiếp tục. Nhƣng mà cơm từ đâu mà có? Cũng nhƣ các khổ hình kia? Cơm từ vọng thức, từ tham
130

lam, độc ác hóa thành. Điều đó cho con thấy nghiệp cảm của chúng sinh trong thời mạt thế sâu dày biết bao. Sao gọi là địa ngục vô dáng? Vì ngã vô dáng, vì niệm tƣởng mê vọng vô dáng. Khi Đức thế tôn thuyết về địa ngục, Ngài phƣơng tiện phân biệt các cảnh giới nơi ấy cùng các tội hình nặng nhẹ, cốt để chúng sinh biết ghê sợ tội lỗi nơi mình mà từng bƣớc hành thiện. Mục đích tối hậu của ngài là thị hiện nơi thế gian này, là khai thị hiện nghĩa rốt ráo của địa ngục, khai thị tri kiến giải thoát, giải quyết tận gốc rễ biển sợ hãi trong tâm tƣởng chúng sinh. Địa ngục là huyễn mộng, vì ngã huyễn mộng. Thật tính địa ngục là không. Liễu ngộ thật tính địa ngục là liễu ngộ niết bàn. Thân quán địa ngục là bắt đầu hành trình về cõi Phật, là hành thâm Bát Nhã Ba La Mật - Chính là nội quán. Niết bàn vô tƣớng nên địa ngục vô tƣớng. Niết bàn không xứ sở nên địa ngục không xứ xở. Lại nữa, vì sao khi con niệm địa ngục, địa ngục lại hiện tiền? Khi niệm niết bàn, niết bàn lại không hiện hữu? Vì niệm chính là ngã. Vô niệm là nơi niệm không trụ cũng không lìa vô ngã, phi ngã diệt cả ý niệm diệt. Ngã diệt tận, địa ngục liền diệt tận, đó là đại định. Không phải là tâm phân biệt thiện ác, mà là tâm trí thiện nơi con thể nhập vào đại dƣơng mênh mông đồng nhất thể bình đẳng với Chƣ Phật tận độ chúng sinh.
131

Khi ấy dù con sống nơi địa ngục tâm thƣờng lìa địa ngục, hiện tƣớng hòa cùng muôn khổ lụy của chúng sinh, tâm thƣờng lìa phiền não. Vì con không còn có ý lựa chọn cho mình một định nghiệp, nên không một định nghiệp nào trói buộc đƣợc con. Tâm thƣờng lìa địa ngục không trụ niết bàn, tâm vô trụ là đại niết bàn. Con hãy thân quán địa ngục, quán đến bao giờ, không còn thấy địa ngục, không còn ngƣời quán, không còn thấy quán và không quán. Khi ấy địa ngục trong con hóa hiện niết bàn. Khi ấy khổ đau không bến bờ, hạn lƣợng của chúng sinh nơi con hóa thành công đức vô lƣợng, vô biên đƣợc Chƣ Phật mƣời phƣơng đồng khen ngợi. Chính là đại nguyện của ta đã thành tựu vậy. * Nhịn điều người ta không nhịn được; dung điều người ta không dung được, chỉ có người nào kiến thức độ lượng hơn người, mới được như thế. (Trình Di) * Tô Đông Pha, một thi hào Trung quốc đời Tống, cũng là một nhà Phật học uyên bác, có một ngƣời bạn chí thân, sƣ Pháp Diễn. Am của Pháp Diễn ở bên tả ngạn sông Dƣơng tử, còn nhà của Tô Đông Pha ở bên hữu ngạn. Ngày kia Tô Đông Pha đến thăm bạn, nhƣng bạn đi vắng. Không có gì làm khi ngồi không, ông lấy giấy viết
132

lên mấy câu: “Tô Đông Pha con nhà Phật vĩ đại mà cả Thiên long bát bộ cũng không làm gì lay chuyển đƣợc một gang tay”. Viết xong bỏ đó ra về. Khi Pháp Diễn về, đọc mấy hàng chữ trên đây, bèn lấy bút ghi thêm: “Nói bậy! Những gì anh viết trên đây, chỉ không bằng cái rắm của ta!” Rồi cho gửi trả tờ giấy ấy cho Tô Đông Pha. Giận quá, Tô Đông Pha xuống thuyền, vƣợt qua sông to đến tìm Pháp Diễn. Gặp mặt, Tô vừa chụp tay, vừa quát to: - Anh là hạng ngƣời gì mà dám ăn nói với tôi nhƣ thế, tôi không phải là một Phật tử trung thành với Đạo Pháp sao? Anh biết tôi lâu rồi mà! Tại sao anh có thể mù quáng đến thế! Pháp Diễn nhìn bạn, mỉm cƣời, bình tĩnh đáp: - À! Thì ra là nhà đại thi hào Tô Đông Pha, ngƣời Phật tử vĩ đại đã thách cả Thiên long bát bộ không sao lay chuyển đƣợc một gang tay, vậy mà chỉ bị có một cái rắm nhẹ đã phải từ bên kia đại trƣờng giang bay tuốt đến đây, sao lại có chuyện lạ nhỉ! (Thiền Truyện) * Chớ xấu hổ có lỗi mà lại làm càn. (Thƣ Kinh) * HAI CÔ VỢ LẼ NGƢỜI NHÀ TRỌ Dƣơng Chu sang nƣớc Tống, đến ở trọ một nhà kia.
133

Ngƣời chủ nhà nọ, có hai ngƣời thiếp, một ngƣời đẹp, một ngƣời xấu. Dƣơng Chu thấy trong nhà ai cũng quí ngƣời thiếp xấu mà khinh ngƣời thiếp đẹp, lấy làm lạ, bèn hỏi dò thằng trẻ con trong nhà trọ, thì nó giả lời rằng: - Ngƣời thiếp đẹp tự lên là đẹp mà mất đẹp, tôi chẳng biết cái đẹp của họ nữa; ngƣời thiếp xấu tự biết mình xấu mà quên xấu, tôi chẳng biết cái xấu của họ nữa. Dƣơng Chu gọi học trò ra bảo: - Các con nhớ lấy câu ấy. Ngƣời ta giỏi mà bỏ đƣợc cái nết “tự cho mình là giỏi” thì đi đến đâu ai mà chẳng tôn trọng, chẳng thân yêu. (Trang Tử) Lời bàn: Đàn bà đẹp mà tự cậy mình lên đẹp, thì ngƣời ngoài chỉ thấy cái bộ khoe khoang đáng ghét chớ không thấy còn gì là vẻ đẹp đáng yêu nữa. Đàn bà xấu, tự thẹn mình là xấu, thì chỉ thấy cái nết dịu dàng đáng thƣơng, không còn thấy cái gì xẫu xí đáng ghét nữa. Đấy ngƣời đẹp mà bị khinh, ngƣời xấu mà đƣợc quí là tại thế. Ôi! đẹp chỉ vì lên đẹp mà mất đẹp, xấu chỉ vì biết xấu mà quên xấu, thế thì những ngƣời giỏi mà tính tự lên là giỏi, thì sinh thời nào, đi đến đâu cũng không mong thiên hạ kính yêu đƣợc. Vì nhƣ thế tức là kiêu, mà kiêu thì không ai chịu
134

đƣợc, sự khiêm nhã bao giờ cũng là hơn, vì thiên đạo, ích khiêm lƣu khiêm, quỉ thân phúc khiêm, nhân đạo hiếu khiêm, khiêm hay biết là nhƣờng nào! Dƣơng Chu lấy của chuyện ấy ra dạy học trò rất là phải lắm. * Nóng nảy muốn chóng thì việc không xong, ham mê lợi nhỏ thì hỏng việc lớn. * Chồng sợ cợ cố nhiên là ngu Nhưng vợ mà không biết sợ chồng, lại là hạng ngu quá. * Việc đời vì khó mà bỏ, mƣời việc độ một việc; vì lƣời mà bỏ, mƣời việc đến chín việc. (N.T.G.H) * Chăm thời tuy yếu cũng phải mạnh, Tuy ngu cũng phải sáng. (T.Q.P) * Việc làm nên trước mọi người, câu nói nên sau mọi người. * Bo bo cùng ngƣời, tranh nhau phải trái, nhƣ thế thì độ lƣợng mình cùng độ lƣợng ngƣời khác nhau đƣợc là bao nhiêu. (Lã khôn) * Vật trông qua biết ngay, thì kỳ trung không có gì cả. Kỳ trung: bên trong cái ấy. (T.Q.P) * Sa ngã xuống nƣớc, còn có thể bơi đƣợc; Đắm đuối với ai, không thể cứu đƣợc. * Lúc đáng nói mới nói thì nghe không chán. (Luận Ngữ) * Phải có nhẫn nại, công việc mới xong. (Thƣ Kinh)
135

Nhẫn nại: Chịu khổ, bền chí, không chán nản, không ngã lòng. * Chí ngƣời trƣợng phu, càng cùng càng phải kiên gan, càng già càng phải hăng hái. (Mã Viện) * Phú quí mà kiêu ngạo cố nhiên là không phải. Học thức mà kiêu ngạo cái hại cũng khá to. (Trình Hiệu) * Tiếng người không cánh mà bay xa. Tình người không rễ mà bám chặt. (Quân Tử) * Nghe lời chê bai mà giận là làm ngòi cho ngƣời ta gièm pha; nghe câu khen ngợi mà mừng, là làm mồi cho ngƣời ta nịnh hót. (Văn Trung Tử) * Lời nói đáng tin thì giọng không đẹp; Lời nói giọng đẹp thì không đáng tin. (Lão Tử) * Có lòng thành thật, mà không biết quyền biến cũng là một cách nguy vong. Quyền biến: tuỳ thời, tuỳ thế mà tạm dùng cơ mưu để cho được việc, hay tránh khỏi tai hoạ. Nguy vong: sự hiểm nghèo hay hại thân, hỏng việc. * Đƣơng khi vui chớ có nói nhiều. Đƣơng khi đắc ý chớ có thay đổi công việc. (Chu Hy) * Nói chuyện chớ có châm chọc để ngƣời ta buốt; nói đùa chớ có cạnh khóe để ngƣời ta đau. (Lục Lũng Kỳ)
136

* Ngƣời ta ngu đến đâu cũng dạy đƣợc; mà khôn đến đâu cũng phải học. (Trần Hoành Mƣu) * Người ta khác giống cầm thú, vì rằng có lễ. (Lễ Ký) * Việc tốt nhất ở thế gian, không gì bằng cứu ngƣời nguy cấp, thƣơng kẻ khốn cùng. * Thƣờng lo không đủ tự nhiên có thừa. (Ngụy Tế Thụy) * Yêu con sâu xa, thì phải bắt con cần lao mới đƣợc. Cần lao: Chăm chỉ làm ăn. (Luận Ngữ) * Ngƣời mà chịu khổ, ăn rau cho là ngon, thì việc gì làm chả nổi. (Uông Cách) * Tiết kiệm, chất phác, đều là đức tốt của người ta. (Trình Di) * Chăm chỉ là thuốc chữa “lƣời”, Cẩn thận là thuốc chữa “Kiêu”. (T.Q.P) * Ăn quả cây nào chớ bẻ cành cây ấy. (Hoài Nam Tử) * Thói thƣờng làm ăn, trƣớc thì chăm sau thì lƣời, cho nên công việc mƣời phần đƣợc chín mà vẫn hay hỏng. Ngƣời ta cũng vậy, thƣờng trƣớc hay sau dở; cho nên càng về sau càng cần mẫn trì thủ mới hay. (C.Q.Sách) * Tập quen khó nhọc là cốt để sau này gánh vác việc đời. (T.Q.Phiên) * Tự xử nghiêm trang mà việc làm giản dị. (Luận Ngữ)
137

* Không nên khinh ngƣời, Song nên biết khinh ngƣời dở, sự dở. (Lục Lũng Kỳ) * Kẻ khoe cái hay của mình là xấu, kẻ nhặt nhạnh cái hay của ngƣời làm của mình, lại càng xấu lắm nữa. (Lã Khôn) * Trung tín, cẩn thận, là cái nền thành ngƣời hay; hão huyền quỉ quyệt, là cái gốc thành ngƣời dở. (Tiềm Phu) * Người ta biết nhiều cũng là làm giàu. (Gia Ngữ) * Hay hỏi thì biết rộng, tự dụng thì hẹp hòi. (Thƣ Kinh) Tự dụng: tự cậy thông minh tài giỏi. * Ngƣời biết “Đạo” tất không khoe, ngƣời biết “Nghĩa” tất không tham, ngƣời biết “Đức” tất không thích tiếng tăm lừng lẫy. (Trƣơng Cửu Thành) * Vui nhất không gì bằng xem sách; Cần nhất không gì bằng dạy con. (Sử Điển) * Ít sắc dục để nuôi “tinh” Ít ngôn ngữ để nuôi “khí” Ít tư lự để nuôi “thần”. Tinh : tâm tính thiêng liêng trong thân người Khí : hơi thở ra vào Thần : tinh, khí trong thân người. * Ngƣời quân tử chỉ cốt suy nghĩ định liệu công việc của mình, lúc chƣa làm đƣợc vui rằng mình có ý đã định làm,
138

lúc đã làm đƣợc thì lại vui rằng mình có chí làm đƣợc việc. Thế cho nên ngƣời quân tử có cái vui thú suốt đời, không có cái lo sợ một ngày nào cả. Kẻ tiểu nhân thì không thế, lúc chƣa làm đƣợc việc thì lo sợ rằng không đƣợc. Lúc đã làm đƣợc việc thì lo sợ nhỡ hỏng mất. Thế cho nên kẻ tiểu nhân có cái lo sợ suốt đời, không có cái vui thú nào cả. (Khổng Tử) * Lời nói giản dị mà ý sâu xa, là lời nói hay. (Mạnh Tử) * Đối với kẻ tự hại thân, dầu nói cũng bằng thừa; đối với kẻ tự liều thân, dầu giúp cũng vô ích. (Gia Ngữ) * Hại còn gì to bằng không biết sửa lỗi; Nhục còn gì to bằng không biết xấu hổ. (Văn Trung Tử) * ÁM THỊ Ám thị là gì? Ám thị là dùng cách âm thầm mà chỉ thị để khiến ngƣời ta bất giác mà phải theo mình. Cái công dụng của nó ở thuật thôi miên nhƣ thế nào, ở đây không cần bàn đến, vì các bạn cũng đã thừa hiểu. Ngƣời bị ám thị là ngƣời đã mất tự chủ, chỉ làm theo kẻ khác làm, nói theo kẻ khác nói: mừng, giận, thƣơng vui cho đến tƣ tƣởng cũng theo chỉ thị của kẻ khác. Ngƣời điềm đạm, tức là ngƣời tự chủ, hết sức hữu tâm
139

trong các hành động hay tƣ tƣởng của mình, nhất định không để bị phải ám thị hay thôi miên vì một lẽ gì cả. Con ngƣời khi sống một mình ít bị sự ám thị hơn là khi sống giữa đô hội, quần đoàn. Hơn nữa, sống ở trong một thế hệ văn minh máy móc nhƣ ngày nay mà tránh cho khỏi bị ám thị thì thật là khó. Máy móc thịnh hành, con ngƣời ngày nay không gì là không dùng đến máy. Bởi vậy thể chất, tình cảm đến tinh thần ta cũng không có dịp dùng đến. Lâu ngày chúng thành vô dụng. Con ngƣời hết biết suy nghĩ. Theo tôi, muốn chống cự với ám thị chỉ có hai phƣơng pháp: 1. Trƣớc hết, phải dạy cho con ngƣời chỉ nên tin cậy nơi sức mình, và đừng bao giờ chịu sống nô lệ lấy những dẫn dụ, những kích thích của bên ngoài. Kẻ nào chỉ biết ỉ lại vào sự dẫn dụ của bên ngoài là tự hiến tâm hồn mình hoàn toàn cho sức mạnh của ám thị, bất kì là ám thị nào. Ai nói gì cũng nghe theo, phải trái nên hƣ gì cũng mặc. Phần đông sống không mục đích. Họ ghiền sách báo, ghiền radio, ghiền hát bóng, cũng nhƣ họ ghiền rƣợu hay á phiện vậy. Thiếu mấy món kích động ấy, họ thấy đời sống họ nhƣ thiếu thốn bất thƣờng.
140

Vậy, muốn dạy cho con ngƣời biết cậy lấy sức mạnh tinh thần của mình và chống cự với mọi sự quyến rũ bên ngoài đừng trở nên những kẻ ghiền báo chí, ghiền radio hay xinê một cách thái quá, phải làm cách nào? Trƣớc hết, phải tự tập tiêu khiển bằng sức mình, tự chế tạo lấy đồ vật, tự học một nghệ thuật, hoặc nghiên cứu về một môn học nào… Hãy tùy thích tập lấy một nghề thủ công nào, nhƣ nghề thợ mộc, thợ máy, thợ sơn… hay học đàn, học vẽ… chẳng hạn. 2. Phƣơng pháp thứ hai để chống cự với ám thị là thuật phân tích, phê bình những lối quảng cáo và tuyên truyền bất cứ là bằng món lợi khí nào: xinê, radio, báo chí hay quảng cáo. Điều trƣớc hết, là phải tập phân tích những tiếng thƣờng dùng của báo chí, của những nhà diễn thuyết, v.v… Thƣờng họ hay dùng những tiếng “trống rỗng” mà “kêu vang” v.v… Ta còn phải lo ngăn ngừa lối ám thị trên mặt giấy, bằng hình mà bọn con buôn vô liêm sỉ hay dùng để mê hoặc ngƣời nhƣ lối quảng cáo sử dụng phƣơng pháp liên hợp
141

một cách đột ngột ý tƣởng của mình muốn quyến rũ với một vật, hoặc một cái hình, hoặc một thứ văn tả cảnh rất hay để gợi cho ngƣời ta một hứng thú tuyệt điểm. Ví dụ, họ đem cái hình một ngƣời đàn bà rất đẹp, với một nƣớc ra bóng nhoáng, khêu gợi, sửa soạn đi tắm trong một cái phòng tắm bằng cẩm thạch màu hƣờng rất xinh xắn, trƣng dọn xa hoa cực điểm theo lối tân thời để làm quảng cáo cho một thứ xà bông. Hoặc muốn quảng cáo thuốc điếu, thì họ vẽ một bức tranh dạ hội, có nhiều ngƣời cực kì quan trọng, quần áo tuyệt “mốt” cùng nhau ngậm điếu thuốc phì phèo; hoặc đem hình một ngôi sao điện ảnh nào lộng lẫy, hay một chàng thanh niên đẹp trai, bảnh bao nào cũng đƣợc. Hoặc muốn quảng cáo cho một món thuốc bổ, thì họ vẽ một chàng lực sĩ đả hổ, hay bẻ gãy sừng trâu. v.v… Tôn chỉ của nhà quảng cáo, bất kì là thuộc loại nào cũng một thế, là tìm cách liên hợp cái món hàng của mình với những ý tƣởng mà phần đông con ngƣời cho là khoái trá hơn hết, nhƣ ý tƣởng dâm dật, mê ly, giàu sang, thế lực… Lối quảng cáo ấy rất đắc lực: ngƣời ta mua thuốc điếu ngày càng nhiều.
142

Những món hàng khéo quảng cáo nhất, là bán chạy nhất. Thậm chí đến văn chƣơng là một sản vật của tinh thần, thuộc về phần thiêng liêng cao trọng nhất, mà ngƣời ta cũng đem nó làm món hàng “làm tiền”, xúm nhau làm quảng cáo với những mánh khoé con buôn trăm phần trăm, thật là hèn hạ quá. Sứ mạng của văn chƣơng là phụng sự chân lí, mà lại hội hiệp đƣợc với sứ mạng của quảng cáo là nhồi sọ và lƣờng gạt, thật là trạng thái của một tinh thần khủng hoảng đến cực điểm. Cả những bậc vĩ nhân nhƣ StefanZweig, Keyserling, R.Rolland, Andres Gide cũng đều lên án cái thói “làm ô nhục văn hóa” ấy. Ngƣời ta dùng những lối văn rƣờm rà nghe rất kêu để khêu gợi, giới thiệu, quảng cáo, xu bợ, nịnh hót nhau, dẫn dụ ám thị độc giả mất cả sự phán đoán phê bình. Phân giải những ý tƣởng liên hiệp một cách đột ngột và vô lí ấy là một điều khẩn cấp, các tín đồ của điềm đạm phải chuyên tập hơn hết. Phải để ý đến cái chỗ quan hệ giữa lối quảng cáo với món hàng quảng cáo, phân tích nó ra mà so sánh phê bình… ta sẽ thấy: có liên quan chỗ nào giữa cái hình
143

ngƣời con gái đẹp điểm một nụ cƣời xinh xắn với cục phấn đánh răng không? Phấn đánh răng không phải làm cho mọi ngƣời đều có đƣợc một hàm răng đẹp nhƣ cô gái ấy và cũng chƣa chắc là nhờ phấn đó mà cô gái kia có một hàm răng đẹp. Đem bất kì lối quảng cáo nào để phân giải, ta sẽ thấy chỗ liên hợp của lối quảng cáo và món hàng không liên quan với nhau chỗ nào cả. Thế mà ngƣời ta chỉ thấy cách trình bày rất thỏa mãn lòng khoái trá là đủ, không để ý đến món hàng của mình nhƣ thế nào. Bởi vậy, cũng một món hàng mà trình bày khéo léo, dễ quyến rũ khách mua hơn là để tự nhiên không tô điểm. Gerard de Lacaze Duthiers nói rất chí lí: “Càng thấy làm quảng cáo chung quanh một ngƣời nào hay một vật nào, càng làm cho ta nghi ngờ chân giá trị của ngƣời hay vật. Đối với một quyển sách cũng vậy”. Đem cái thuật phân giải và phê bình đối với quảng cáo của con buôn, mà chuyển đi qua các lối quảng cáo khác, ta sẽ thấy bất kì là thuộc về giới nào đều cũng một thế. Phải tập quan sát, nghiên cứu mỗi sự vật theo cái giá thật của nó, đừng căn cứ theo quảng cáo của nó.
144

Tín đồ của điềm đạm phải nhất định, suốt đời mình, không bao giờ chịu để cho ai ám thị hay thôi miên, dẫu để chữa bệnh cũng vậy. Hơn nữa, nhất quyết không cho những sức mạnh âm u vô trách nhiệm của hoàn cảnh dẫn dụ mình, mê hoặc mình, sai sử mình, đến mất cả sự suy nghĩ, phán đoán của mình. Đây là công trình của trí dục mà tôi đã dành sẵn ở một nơi khác. * Cái xấu của mình, có thể tránh đƣợc, lại không tránh; cái xấu của ngƣời không thể tránh đƣợc, lại cố tránh; thật cũng nực cƣời. (Mare auréle) * Phong lưu là cạm trên đời: Hồng nhan đánh bả con người tài hoa. * Ngƣời phụ nữ đoan trang chỉ muốn sống với một ngƣời đàn ông, nhƣng họ vẫn muốn có nhiều ngƣời đàn ông ngƣỡng mộ họ. (A. Kác) * Tự mình khinh mình trƣớc, Ngƣời ngoài mới khinh mình sau. * CÁCH PHỤC LÕNG MÌNH Mình làm ngƣời sang trọng giàu có, thì chớ nên kiêu xa. Mình là bậc thông minh tài trí, thì chớ nên khinh ngạo. Mình có sức lực khỏe mạnh, thì chớ nên đè nén ngƣời. Mình ăn nói linh lợi, thì chớ nên dối trá ngƣời. Mình còn
145

kém, thì phải học, chƣa biết thì phải hỏi. Đối với làng nƣớc, thì phải giữ cái trật tự trên dƣới. Đối với ngƣời nhiều tuổi, thì phải giữ cái nghĩa con em. Đối với ngƣời bằng vai, thì phải giữ cái nghĩa bầu bạn. Đối với lũ trẻ thơ, thì phải dạy bảo khoan dung. Nhƣ vậy thì ai cũng yêu, ai cũng kính, không ai tranh giành với mình. Tâm địa rộng rãi thênh thang nhƣ trời đất, thì bao bọc đƣợc cả muôn loài. (Hàn Thi Ngoại Truyện) * Người đàn bà sẽ thiếu rất nhiều khi thiếu sắc đẹp. (A.Môravia) * Ngƣời phụ nữ đẹp là thiên đƣờng của cặp mắt và là địa ngục của tâm hồn. (Pơ Pê) * Người hay là thầy người dở, Người dở là kẻ giúp chí cho người hay. (LãoTử) * BIẾT LẼ NGƢỢC XUÔI Việc đời có lắm cái hình nhƣ ngƣợc, mà thật thì xuôi, có lắm cái hình thì nhƣ xuôi, mà thật lại ngƣợc. Ai biết rõ việc thật ngƣợc, xuôi thế nào, ngƣời ấy mới là ngƣời tinh đời. Phàm cái gì đã đến cùng cực thì tất nhiên phải quay trở lại; dài quá thì tất phải ngắn đi; ngắn quá thì tất lại dài dần ra. Đó là cái lẽ tự nhiên nhƣ thế. (Lã Thị Xuân Thu) * Ngƣời ta dùng lửa để thử vàng;
146

Dùng vàng để thử đàn bà; Dùng đàn bà để thử đàn ông. *
TƢỜNG ĐỔ

(H.Ban Zắc)

Nƣớc Tống có ngƣời nhà giàu. Một hôm trời mƣa, tƣờng nhà anh ta đổ. Đứa con nói: “Thƣa cha, không đắp ngay tƣờng lại, e có trộm vào”. Ngƣời láng giềng thấy tƣờng đổ, cũng nói: “Này bác, không đắp ngay tƣờng lại, ƣ có trộm vào”. Tƣờng chƣa kịp đắp, tối hôm ấy, nhà anh ta quả nhiên mất trộm thật. Anh ta khen là đứa con khôn ngoan biết trƣớc, mà ngờ ngƣời láng giềng là gian giảo làm sằng. Cũng một câu nói: Con nói, thì khen là tinh khôn, láng giềng nói, thì nghi là trộm cắp, bởi tại cớ làm sao? Tại con thì tình thân, cho nên không có bụng ngờ, láng giềng là tình sơ, cho nên sinh ra ngờ vực. Thế cho nên, phận sơ mà câu nói thân, thì thế nào cũng làm cho ngƣời nghe mình đem lòng nghi ngờ. (Hàn Phi Tử) * Họa phúc xoay vần, khó lòng biết đƣợc. Trong cái phúc, thƣờng khi có cái họa nấp sẵn ở đấy; trong cái họa, thƣờng khi lại có cái phúc nấp sẵn ở đấy. Cho nên, đối với sự họa phúc, ta không nên vội lấy việc chỉ có một thời mà quyết định cho là hay mãi, hay dở mãi đƣợc. Ta chỉ nên,
147

khi gặp phúc, thì thao thủ cẩn thận, đừng có kiêu xa phóng túng, may mà giữ đƣợc phúc lâu dài; khi gặp họa, thì tu tỉnh lấy thân, đừng có ngã lòng, đừng có oán trách, may mà qua đƣợc họa lại gặp đƣợc phúc chăng. * Bí quyết để có hạnh phúc trong hôn nhân là: Vợ chồng phải quyến rũ nhau suốt đời. * Đàn bà là kiệt tác của vũ trụ. (G.Let xinh) * Cha tuy từ với con, con tuy hiếu với cha, anh tuy yêu em, em tuy kính anh, bầy tôi trung với vua, nhƣng mỗi ngƣời vị tất đã là hay đƣợc đủ mọi vẻ. Nếu mình không chịu cầu ở mình, chỉ biết cầu những bậc ấy để đến nỗi thất đức, thì chẳng những không lợi gì mà lại còn hại đến mình nữa. Ta mong ngƣời, nhƣng ngƣời ai cũng có thân, không ai bỏ cái thân mình, để giúp cho ta, ta cậy ngƣời, nhƣng ngƣời cũng có lúc cùng, không thể suốt đời mà đỡ đần cho ta đƣợc. Vậy ta ở đời, chẳng nên chỉ biết mong cậy vào ngƣời. Ta phải biết tự chủ, tự lập, chớ có bỏ mình mà cầu ngƣời. * Nếu gọi giàu, kẻ không thiếu thốn gì cả, thì ngƣời giàu nhất chỉ có ngƣời quân tử thôi. (La Bruyere) Người quân tử là người không ham muốn gì cả. * Biết yêu kẻ đã xúc phạm mình, đó là hạnh của ngƣời quân tử.
148

* Ở đời, hễ có sinh thì có tử, có lợi tất có hại, có nên tất có hƣ. Muốn có lợi mà không có hại, có nên mà không có hƣ, có sinh mà không có tử, là ngƣời hết sức mê loạn. * Tình yêu muôn thuở là hạnh phúc, cho dù tình yêu đó thuộc về ai. (F.Saliapin) * HỎI ÔNG HƢ HƢ TỬ (Hƣ Hƣ Tử là một trong những tôn sƣ về tƣớng học cổ). Hỏi: Trời tạo sinh ra con người muôn vạn hình thái khác nhau từ tướng mạo đến tính tình, cái lí của tạo hóa có thể biết được chăng? Đáp: Ngƣời nào do khí thanh nhẹ sinh ra thì hiền quí, ngƣời nào do khí nặng đục sinh ra thì ngu độn. Có ngƣời xuất sinh từ trời đất hoặc dƣới mồ chui lên. Có ngƣời thuộc cõi thần tiên, cõi linh tinh, cõi tu hành, có ngƣời đội hình súc vật bởi kiếp luân hồi. Bà Khánh Đô giao hợp với Xích Long (Rồng đỏ) sinh ra vua Nghiêu. Ác Đăng thấy Cầu vồng mà đẻ ra vua Thuấn. Đại Nhiệm mộng gặp Trƣờng Nhân sinh ra Văn Vƣơng, bà Nhan Vi cảm Hắc Đế mà hoài thai Khổng Tử. Hỏi: Bởi nguyên nhân nào mà người thì quí như vẩy rồng, người thì lại hèn như lông trâu, lông ngựa? Đáp: Đất nhiều, vàng ngọc ít, cỏ bụi nhiều, gỗ quí ít, hiền
149

ngu, thọ yểu, phú quí bần tiện, nào khác gì cõi lí thiên nhiên. Hỏi: Sách Ma Y dạy: “Hữu tâm vô tướng, tướng tùy tâm sinh, hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm diệt”. Đó là do hành động của thiện ác mà ra. Xem tướng thiện ác thế nào? Đáp: Trƣớc xem khí sắc, sau nhìn vết và nốt ruồi; kẻ làm thiện từ thiên đình trở xuống ấn đƣờng, lệ đƣờng, đều có khí sắc vàng hồng sáng nhuận. Hỏi: Còn kẻ ác thì làm sao? Đáp: Trông thấy trệ khí tại thiên đình, phế khí ở lệ đƣờng, mắt phảng phất màu trắng đục, mặt xanh nhƣ tàu lá, mắt đen nhƣ bùn, mặt vàng nhƣ nghệ, mặt đỏ gay gắt. Nặng thì vận xấu tám năm, nhẹ ba năm. Hỏi: Tướng có biến không? Đáp: Tƣớng thƣờng biến theo tâm. Theo lời Quỉ Cốc Tử nói: “Hữu tâm vô tƣớng, tƣớng tùy tâm sinh, hữu tƣớng vô tâm, tƣớng tùy tâm diệt, hữu tâm hữu tƣớng, tƣớng bất tùy sinh, vô tâm vô tƣớng, tƣớng bất tùy diệt”. Giả nhƣ một ngƣời có tƣớng bần cùng, ngƣời ấy vốn thuộc ác loại nay hãy giác ngộ những lỗi lầm ngày trƣớc, lập tâm làm điều thiện có thể biến thành tƣớng no đủ. Thế là hữu tâm vô tƣớng, tƣớng tùy tâm sinh. Giả nhƣ một ngƣời có tƣớng phú quí mà hoang phí tác ác, tham lam,
150

tàn nhẫn, tƣớng sẽ biến thành hình thái bần cùng. Thế là hữu tƣớng vô tâm, tƣớng tùy tâm diệt. Giả nhƣ một ngƣời khốn khổ, vất vả, tự biết oan nghiệt tỉnh ngộ không làm điều ác, nhƣng vẫn còn khốn khổ là vì oan nghiệt quá nặng, tuy nhiên ác căn sẽ biến cải dần dần. Thế là hữu tâm hữu tƣớng, tƣớng bất tùy sinh. Giả nhƣ một ngƣời có tƣớng an lạc, phúc lộc mà lòng lang dạ thú, quỉ quyệt, dối trá nhƣng vẫn sống phú quí là bởi cái đức ông cha chƣa tuyệt, căn cốt còn cao, sau này nó sẽ báo ứng vào đời con cháu dần dần phúc thọ mất đi. Thế là vô tâm vô tƣớng, tƣớng bất tùy diệt. Hỏi: Hình như vậy cái biến của sắc thế nào? Đáp: Cốt cách răng lợi, tinh thần và tính tình dễ biến, vằn vện, nốt ruồi, da dẻ, râu tóc còn dễ biến hơn, không phải chỉ có khí sắc biến thôi đâu. Cốt cách biến thấy ngay trên đầu, trên trán, trƣớc khuyết hãm nay đầy đặn, trƣớc lép xẹp nay nở nang hoặc ngƣợc lại. Sống mũi đang bằng phẳng bỗng gồ lên thành khúc. Răng đang đều đặn bỗng rụng thành sơ lậu. Hình thể trƣớc kia ẻo lả nay cứng cáp. Cằm trƣớc không râu nay râu mọc ra. Mắt trƣớc sáng trong nay bây giờ bỗng mờ đục. Tính tình trƣớc kì quặc nay khoát đạt, trƣớc nóng nảy nay hòa thuận. Da dẻ trƣớc
151

nhuận mịn nay thô sáp. Tất cả đều là biến. Nếu ác mà biến thành tiện, mọi sự nhƣ ý, thiện mà biến ra ác, mọi việc tỏa bại. Hãy xem những ngƣời trong vòng công danh, hễ lúc nào rồng mây gặp hội tất thần khí sáng suốt, dung mạo oai nghiêm, bao nhiêu cái khí hàn toan đi đâu mất hết. Đó chẳng phải là biến ƣ? Hãy xem trong đám quan trƣờng, một sớm kia ngôi cao chức trọng thì nhƣ con hạc đứng giữa đàn gà, một chiều mất chức thì tuy cốt cách chƣa thay nhƣng dung mạo đã đổi. Hãy xem bao ngƣời dân dã, thƣơng nhân, đắc ý thì cốt khí lẫm lẫm, tinh thần bột bột, chí đắc ý mãn, xem nhƣ dƣới mắt chẳng còn ai. Đến khi thất chí bại nghiệp thì cốt khí rúm ró, tinh thần tịch mịch, đang mập thì trở nên gầy gò, đang trẻ thì già sọm, đang khoẻ khoắn bỗng yếu nhƣợc, đang cứng rắn thành èo uột. Đó chẳng phải là biến ƣ? Hỏi: Có trường hợp tự nhiên không chuyện gì mà tướng biến chăng? Đáp: Biến có nhiều loại. Bỗng nhiên biến, sau cơn ốm đau biến, do xứng tâm khoái ý mà biến, vì thất chí toái bại mà biến. Hỏi: Bậc thánh hiền ai không tận thiện, thế tại sao lại có
152

người yểu táng, ác tật, nghèo đói bỏ vợ? Văn Vương Tam Đại thiện, suốt đời lấy việc giáo hóa di phong làm vui, mà bị giam cầm ở Dữu Lí. Bá Di Thúc Tề liêm chính, đức hạnh mà bị chết đói. Khương Tử Nha giỏi giang thao lược mà ngồi câu mãi ở sông Vị. Cam La mười hai tuổi đã làm tướng suý rồi chết yểu. Lại có bọn trộm cướp cực ác, cực hung mà sống rất thọ. Tại sao? Đáp: Đó cũng là cái lí của tạo hóa, chớ quá câu nệ. Thánh hiền thì cũng không thoát khỏi cái lí ngũ hành. Đến trời đất kia còn mờ tỏ, băng hoại tài bồi huống chi ngƣời. Thánh hiền là tinh hoa nên dù chết nhƣ Bá Di Thúc Tề nhƣng danh nêu quốc sử, hồn phách thăng hoa khác với cái chết của lũ phàm tục. Hỏi: Tính tình con người muôn hình vạn trạng tại sao? Đáp: Tính tình do nguyên thần tạo ra, thanh, trọc, cao, hạ, thiện, ác ở bên trong thế nào hiện ra bên ngoài thế ấy. Hỏi: Thế nhân đa số tính tình vội vã cao ngạo. Tại sao? Đáp: Cao ngạo, vội vã là điều đại kị trong tƣớng cách. Đem tính vội vã, cao ngạo để trị quốc, trị gia, xử thế tiếp vật đều không nên. Vội vã thì họa càng đến nhanh. Cao ngạo tự thị bất hợp nhân tâm, giàu kiêu cái giàu, sang
153

vênh vác cái sang, tài thích khoe tài, nghèo tự cho mình chí lớn tất cả đều vô lối và vô ích. Ông Mạnh Tử nói: “Hãy kiên trì chí mình nhƣng đừng khí hung bạo. Nếu để bạo khí động cái hỏa tam muội, sẽ bốc lên đốt tạng phủ làm hại nguyên thần”. Hỏi: Học thức đỗ đạt có thể thấy được không? Đáp: Mi cao, nhĩ cao tủng, sống mũi phục tê chạy lên trán, tƣớng trạng nguyên. Mắt sáng sủa khí ôn hòa, thần thanh cao, tƣớng bảng nhãn. Tiến sĩ xem mi, cử nhân xem mắt câu đó sai, dù cho mi tốt nhƣng mắt đục làm sao đỗ tiến sĩ, dù mắt đẹp nhƣng mi thô làm sao đỗ cử nhân? Nên sửa lại là tiến sĩ thần đa tĩnh, đa uy, cử nhân đa tú thần vƣợng. Hỏi: Người kia ở địa vị công khanh, mà tại sao không có tướng quí? Đáp: Công khanh vị rồi, ít ngày sau tƣớng sẽ hiện lên. Tại vì ta chƣa phát hiện đƣợc ẩn tƣớng vậy. Phàm ngƣời nào sinh ra đầu to, trán rộng, cốt mạnh hơn nhục, thần sáng hơn hình, thân dài mặt dài, chân tay dài rõ là mộc hình. Mộc hình thƣờng không có cái uy bong ra bên ngoài làm ngƣời sợ nhƣng tinh thần tàng ẩn rất quí. Hỏi: Người kia tai quăn queo, luân cách phản thế mà quan
154

chức cao. Người này tai tốt, luân cách phân minh thế mà chỉ làm lái buôn. Tại sao? Đáp: Ngƣời hèn không có mắt quí, quí tƣớng không ở nơi tai. Nếu ngƣời kia trán rộng, mi sáng, quyền cao, bƣớc dài, mắt có thần uy, ngồi vững nhƣ đá, đứng nhẹ nhƣ mây, quan chức cao là đúng. Còn ngƣời này trán ám, thần đục, quyền thấp, tay thô, riêng nhờ cái mũi ngay ngắn thì làm lái buôn chứ sao. Hỏi: Cái tướng người kia không có cao lớn, không hiên ngang tại sao lại sớm đường công danh? Đáp: Tại ngƣời đó kiêm hình thổ cách, nhờ lí tƣơng sinh của ngũ hành. Các bộ vị cân xứng, trán thẳng, ấn đƣờng sáng, mi thanh mục tú, thần tĩnh khí hòa, tiếng nói ƣởng lƣợng. Tuy không có vẻ hùng vĩ nhƣng thƣờng là loại quyền cao chức trọng. Hỏi: Có người trước giàu sau nghèo, có người trước nghèo sau giàu. Tại sao? Đáp: Xem tƣớng giàu trƣớc hết phải đi tìm có tƣớng nghèo không? Nhiều tƣớng nghèo mà ít tƣớng giàu thì ngƣời ấy lúc đầu tiếng nói to lớn thanh cao càng về sau tiếng nói cứ nhỏ dần yếu ớt và thô đục, tinh thần trƣớc sáng sau mờ. Đó là tƣớng trƣớc giàu sau nghèo. Xem tƣớng nghèo
155

trƣớc hết phải đi tìm xem có tƣớng giàu không? Tƣớng nghèo ít mà tƣớng giàu nhiều thì ngƣời ấy lúc đầu tiếng nói yếu ớt sau càng to lớn thanh tao, tinh thần trƣớc mờ sau sáng. Đó là tƣớng trƣớc nghèo sau giàu. Hỏi: Có người nghèo rồi sau giàu, ít lâu sau lại trở về nghèo. Tại sao? Đáp: Ngƣời ấy vốn nhiều tƣớng bần khổ, nhờ một vận hoạch tài hoặc một số tiền phi nghĩa mà sắc khí tốt lên ở cung tài bạch. Nếu các bộ vị vận hạn chắc chắn có thể đƣợc năm năm hay tám năm. Hỏi: Nhà cự phú kia tướng mạo cao lớn, mập mạp có phải là cách thuỷ sinh mộc không? Đáp: Đúng vậy, nếu là tƣớng tốt còn phải ngồi nhƣ cây tùng, đứng nhƣ dây cung (thẳng), đi nhƣ gió nhẹ, nói nhƣ chuông đồng, lƣng gồ lên, bụng xệ xuống. Hỏi: Người kia thân hình đầy đặn, nhưng ngắn lùn, trán vát, bước dài bước ngắn, tiếng nói tầm thường. Tại sao giàu? Đáp: Thân hình đầy đặn là tƣớng giàu. Cao, lùn bất kể trán vát, bƣớc loạng quạng là tƣớng dƣ ăn dƣ mặc nhƣng hèn. Thêm nữa, nếu ngƣời ấy lùn mà lòng đôn hậu, lƣng to nhƣ rùa là thổ hình thành, tiếng nói oang oang là thổ âm
156

thành, tƣớng đại phú. Hỏi: Có người nọ làm chức Châu Mục, trông nhiều vẻ đàn bà. Thế là tướng gì? Đáp: Tƣớng nữ chuyển nam thân rất quí. Nhƣng đừng có hình tiện, đừng có ỏn ẻn nữ thanh mới thật quí. Nếu ỏn ẻn thân mình quá yếu ớt, thƣớt tha nữ đa nam thiểu là yểu tƣớng (Hoặc là đồng đực gian hoạt). Hỏi: Người kia tướng mạo khôi ngô, quần áo tề chỉnh trông đường đường trượng phu. Tại sao danh phận chẳng ra gì? Đáp: Tại vì ngƣời ấy có tƣớng ngũ trọc (năm thứ đục) là con tim ô trọc, mắt ô trọc, tai ô trọc, miệng ô trọc, tay ô trọc. - Con tim ngƣời ta gọi linh đài, nay gặp việc không biết làm, lâm sự bất quyết, lí không minh, tính không linh là tâm ô trọc. - Con mắt, cửa ngõ của tinh hoa thân thể, nhìn không rõ, nhận ngƣời không hay, thần bất linh là nhãn trọc. - Miệng phải có tài hùng biện, cao đàm khoát luận mà nay nói chẳng nên lời, đầu đuôi lộn xộn là khẩu trọc. - Tay có thể gảy đàn, viết chữ rồng bay phƣợng múa, nếu tay lúng túng vụng về là thử trọc. - Tai nghễnh ngãng, nghe gì quên nấy là nhĩ trọc.
157

Phạm vào tƣớng ngũ trọc thì thân thể khôi vĩ, quần áo chỉnh tề để làm gì! Hỏi: Tướng ngũ trọc hiện lên như thế nào? Đáp: Tóc mọc thấp lấp trán, lông mày đè vào mắt, hai mắt đục mờ, hai tai cửa nhỏ, ấn đƣờng bó hẹp, miệng nhỏ môi trắng, tóc rậm da sáp, mặt không thành quách. Hỏi: Người kia khá thông mẫn, tại sao đọc sách bất thành, mưu lợi chẳng được? Đáp: Mắt sáng, con ngƣơi linh hoạt là ngƣời thông mẫn nhƣng trán nhƣ quả trứng gà, tìm đâu ra danh. Cằm lẹm, mũi nhƣ mỏ vẹt, lấy đâu ra lợi. Tiếng nói nhƣ thanh la vỡ, suốt đời chạy ngƣợc chạy xuôi. Hỏi: Tướng đoản mệnh và trường mệnh ra sao? Đáp: Ngƣời tƣớng thọ bao giờ tinh thần cũng tàng tụ, có phong thái nhƣ cây tùng, cây bách cho nên sống lâu mà không sợ sƣơng tuyết. Ngƣời đoản mệnh thì thần tán, lộ, mảnh mai nhƣ hoa, nhƣ liễu dễ gãy không chịu đƣợc tuyết sƣơng. Đại ý nhƣ thế, còn phải coi tƣớng bộ vị nữa. Hỏi: Tiên sinh từng đoán người kia trước nghèo sau giàu. Nay tôi thấy rất đúng. Vậy tiên sinh căn cứ vào đâu? Đáp: Tƣớng pháp nói rằng: “Ăn nói lƣu lợi không bao giờ bị nguy khốn”. Ngƣời ấy đầu mũi nở nang, địa các (cằm
158

hàm) lớn rộng đầy đặn, tâm thuật chính trực, mắt trông tỏ tƣờng, tai nghe tỏ tƣờng, tâm hiểu tỏ tƣờng. Chỉ vì bộ vị thƣợng đình khí sắc còn hãm, phải đợi hành vận ngoài bốn mƣơi sang vận mũi thì phát. Hỏi: Ngƣời kia tƣớng mạo đầy phúc trạch, tính tình lại ôn tĩnh, lẽ ra thọ mới phải, tại sao lại yểu táng? Đáp: Ngƣời ấy đành rằng tƣớng phong mãn phúc trạch nhƣng tính tình ôn tĩnh không phải là chân tĩnh mà là vô thần, tƣớng pháp nói: “Ngồi lặng đi nhƣ thế gian này chẳng còn ai nhất định chết sớm”. Hỏi: Tiên sinh nói người kia hay bị ghét bỏ, tại sao? Đáp: Tại môi không che đƣợc răng, thái độ bất hòa nên dễ chiêu hiềm. Hỏi: Bọn nha môn công sai chốn phủ đường, có thành tướng hay không? Đáp: Có chứ. Phần lớn cổ dài, tay thon thƣờng là công chức bàn giấy. Tiếng lớn quyền nhọn, tay chân các ông lớn. Lƣỡng quyền ủng thũng, mặt vênh, ngực gồ, ƣa quát tháo, lấy râu làm uy là bọn vệ sĩ. Hỏi: Tiên sinh bảo người kia lúc về già tất phá bại, nay quả đúng thế. Tại sao? Đáp: Phàm những ai bộ phận trung đình dài, mũi nở
159

nang cao, lƣng dầy, mắt có thần nhƣng lúc đi đầu đâm đằng trƣớc, gót chân không đặt xuống đất, thế nào về già cũng bán hết ruộng vƣờn. Hỏi: Người kia mắt, tai, miệng, mũi đoan chính, ai cũng nói về sau sẽ phát đạt vượng tử, tiên sinh đoán cô bần, nay quả nhiên, xin tiên sinh cho biết tại sao? Đáp: Hình tốt mà tinh thần khuyết, lệ đƣờng thâm hãm, bƣớc đi lệch lạc nên cô bần. Hỏi: Người kia có sáu con trai, tiên sinh lại đoán lúc chết không có ai chông gậy, tại sao? Đáp: Vì nam nữ cung sâu hãm, miệng thổi lửa, luôn luôn mắt ƣớt lệ về già cô độc. Hỏi: Người kia tướng mạo hổ hình toàn, lẽ ra phải cự phú hưởng phúc lâu dài, tại sao suốt đời long đong? Đáp: Sách tƣớng có dạy “Thƣợng đoản hạ trƣờng hề nhất sinh tung tích phiêu bồng”. Bởi vì chân dài hơn thân mà ra vậy. Hỏi: Bọn tu hành, tăng lữ có thân phú quí, bần tiện hay không? Đáp: Sao lại không? Dù trong tăng đạo đi nữa cũng vẫn có phú quí, bần tiện. Sƣ mà mắt sáng, đầu tròn, tai cao, mũi nở tất ngƣời đời trọng vọng, của thập phƣơng dƣ
160

ăn dƣ dùng. Hỏi: Ở trong tiệm kia có kẻ tướng mạo khôi vĩ, tay đầy, mắt sáng thế mà phải đi làm cho người, tại sao? Đáp: Tại mũi nhỏ trán lệch, tay không có móng tay hoặc tay cụt ngủn, tai mọc thấp, thần khí đoản. Hỏi: Lưng mỏng, vai so có phải là tướng nghèo không? Đáp: Tƣớng nghèo rất nhiều chẳng cứ lƣng mỏng vai so. Nhƣng tƣớng nghèo mạt thì nhƣ con gà đứng trong mƣa? Hỏi: Tôi nghe nói tướng pháp dạy: mi thanh mục tú là tướng quí, lưng đầy đi như ngỗng là tướng giàu. Nhưng tôi lại thường thấy trong đám hạ lưu không ít người mi thanh mục tú, tại sao? Đáp: Mi thanh mục tú cần phải đi đôi với thần uy bộ vị tƣơng xứng. Nếu mi thanh mục tú mà thái độ nịnh bợ, hay nũng nịu thì chỉ là kẻ có đôi chút thông minh nhƣng hạ tiện. Hỏi: Bọn trộm cướp thường có hổ hình tướng, trong khi theo tướng pháp, hổ hình tướng là tương cực quí, tại sao? Đáp: Hổ hình tƣớng cũng có nhièu loại. kháo sơn hổ, toạ sơn hổ, xuyên sơn hổ, xuất sơn hổ và thất sơn hổ. Trộm cƣớp thuộc loại thất sơn hổ, ví nhƣ con hổ bị lùa khỏi núi. Hỏi: Hổ hình tướng phân ra nhiều loại . Vậy phượng hình, long hình, hạc hình cũng vậy ư?
161

Đáp: Phải. Mắt phƣợng có ba loại: Mắt đan phƣợng, mắt phƣợng ngủ, mắt phƣợng hót, đều chủ quí. Duy mắt phƣợng ngủ thƣờng là võ tƣớng xuất thân khi sau biến ra chức. Hình long có ba loại: phi long, du long và khốn long. Khốn long bao giờ cũng phát đạt rất muộn. Hình hạc cũng có ba loại: hạc đậu, hạc bay và hạc đi. Chỉ có hạc đi mới đại phú quí. Hỏi: Bọn hạ tiện có những kẻ môi hồng, răng trắng lúng đầy, co tròn, da dẻ mịn màng. Tướng tốt mà hạ tiện, tại sao? Đáp: Bọn đó nhờ dinh dƣỡng, nhờ ăn không ngồi rồi mới có những tƣớng ấy, thời gian ngắn ngủi nhƣ kiếp con thiêu thân, đáng kể gì. Cũng là một loại tiện tƣớng. Hỏi: Nói chung chung thì tiện tướng ra sao? Đáp: Hình đẹp hơn thần, thịt nhiều hơn xƣơng, dáng ẻo lả, thần bạc nhƣợc, ƣa đƣợc an ủi vỗ về. Hỏi: Tiên sinh đoán người kia bị vợ bỏ. Tại sao? Đáp: Xem ở hiên môn bộ vị (đuôi mắt ra thái dƣơng) có vệt chữ thập. Hỏi: Tướng người kia bộ vị bình ẩn, vì lẽ gì mà đi ăn mày? Đáp: Vì ngƣời ấy nói không thành tiếng, đôi mắt đục nhƣ mắt con cá, đen trắng không phân minh, xƣơng khô, hình cơ hàn cho nên đi ăn mày.
162

Hỏi: Người kia mũi nở cao, mi mục tú lệ, tinh thần thanh sáng, tiếng nói ưởng lượng, tướng mạo có thể gọi là đường đường. Thế mà chết yểu, tại sao? Đáp: Tại vì cốt bối, hãy xem cái lƣng ngƣời ấy xƣơng khô lộ, tƣớng mặt tốt mà tƣớng lƣng cô bần nên hƣ danh, vô thọ. Hoặc ngƣời thanh, tay thô rất xấu. Hỏi: Những người chết oan uổng tướng cách thế nào? Đáp: Những ngƣời ấy, mắt trắng nhiều hơn đen, ít hay nhiều nhìn xuống, môi cong hoặc mặt trông nhƣ khóc, hoặc tinh thần mông muội, nói trƣớc quên sau, đang nói điều nọ xọ ra điều kia, nói câu chuyện chẳng ra đâu vào đâu cả. Hỏi: Tiên sinh nói vì tinh thần hôn ám nên uổng tử. Vậy có người 60 tuổi đầu còn treo cổ tự sát là tại sao? Đáp: Ngƣời 60 tuổi còn treo cổ tự sát là vì mắt tứ bạch hoặc dƣới mắt có răn trông nhƣ cái lƣới, hoặc môi co. Hỏi: Người chết đuối tướng thế nào? Đáp: Có sắc khí chạy vào miệng. Hỏi: Sách nói tướng đi rất quan trọng, kẻ tiểu nhân thì thân nhẹ bước nặng, thế thân nặng bước nặng thì sao? Đáp: Chỉ có thân nhẹ bƣớc nặng là bần tiện thôi. Hỏi: Thế gian lắm kẻ giảo quyệt, làm đầy tớ thì ăn mặc bảnh bao hơn ông chủ, làm ông chủ lại mặc xềnh xoàng
163

để dấu của. Làm thế nào để nhận ra? Đáp: Không khó. Quí nhân tất đầu tròn, trán cao, tai cao, tinh thần thanh sáng, tiếng nói ƣởng lƣợng. Còn hình dáng tiểu nhân thì đầu nhọn, mắt đơ tai thấp, ngón tay thô, trán hẹp. Sách có câu: Muốn ăn đồ của ngƣời sang thì phải có tƣớng mạo ngƣời sang là vậy. Hỏi: Râu ria người kia cân xứng, tiên sinh bảo nên cạo đi là nghĩa làm sao? Đáp: Khi nào thần sắc kiển trệ thì nên cạo râu cho bớt hãm. Hỏi: Có thể biết thời vận qua tướng được không? Đáp: Mất hay đƣợc do ở khí sắc. Trông khí sắc có thể biết thời vận. … * Mặt trời đứng bóng thì xế, mặt trăng đã tròn thì khuyết; vật gì thịnh lắm thì suy. (Thái Trạch) * Vẻ đẹp không ở đôi má hồng của cô thiếu nữ mà ở con mắt của kẻ si tình. (E.Lant) * Nản lòng thối chí, không có gì đáng sợ hơn nữa: đó là sinh lực đến thời tàn tạ. * Phụ nữ và mặt trăng sáng bằng ánh sáng ngoài. (Ng.Ngữ Đức)
164

* Một thân thể không đau, một tâm hồn không loạn: Chân hạnh phúc của con ngƣời chỉ có bấy nhiêu thôi. (Epicure) * Con mắt lành thì vật gì cũng phải trông thấy đƣợc, chớ không thể nói: “Tôi chỉ trông thấy một sắc xanh thôi”, vì thế là con mắt mình đã hƣ rồi vậy. Cái tai lành, cái mũi lành cũng phải nghe đƣợc mọi tiếng, ngửi đƣợc mọi mùi. Tì vị tốt thì đồ ăn nào cũng phải tiêu đƣợc, nhƣ cái cối xay lúa, thứ nào cũng phải xay đƣợc. Vậy thời, cái óc thông minh bao giờ cũng phải sẵn sàng mà tiếp nhận lấy các sự vật xảy ra. Chớ cái óc, chỉ biết nguyện: “Ƣớc gì con cái ta đƣợc sống lâu”, hay là “Ƣớc gì cho việc gì ta làm cũng đƣợc thiên hạ khen”, thời có khác gì con mắt chỉ muốn nhìn sắc xanh, cái răng chỉ muốn nhai vật mềm mà thôi. (Mare aurele) * Tôi không thể vƣợt đƣợc Thƣợng đế, đàn bà là một thứ tôn giáo, một bàn thờ. (Michelet) * Ngƣời nào phiền não hay tức giận về việc gì, không khác con heo phải đem chọc huyết mà còn giãy giụa, kêu la. Ngƣời nào nằm trên giƣờng một mình mà lẩm nhẩm than cái nỗi phiền lụy ở đời cũng vậy. Phải biết rằng, duy kẻ có trí khôn biết lẽ phải, mới biết đem ý nguyện mà thuận theo những việc xảy ra. (Mare A)
165

* Sức mạnh không phải ở nơi sự phô trƣơng của sức bạo tàn, vì nó chỉ có phá hoại mà không tạo lập. Sức mạnh ở cái thuật khuất phục con ngƣời và giữ gìn họ ở trong sự khuất phục chớ không phải vì bị khủng khiếp mà chịu khuất phục. * Sức khoẻ, không phải là sức mạnh của gân cốt, mặc dầu sức mạnh của gân cốt là hiện tƣợng của sức khoẻ. Ta phải khéo phân biệt chỗ đó. Thật vậy, có nhiều ngƣời to lớn vạm vỡ, nhất thời có thể vác cả trăm cân, không thấy mệt, thế mà gặp chút nghịch cảnh là đủ thấy con ngƣời của họ rụng rời, chán nản… Họ nhát nhƣ cheo. Gân cốt họ to lớn mạnh dạn, nhƣng mà khí lực họ rất kém cỏi sa sút. Sức khoẻ ở nơi sự khéo tu dƣỡng khí lực, chớ không phải chỉ nói sự điêu luyện thân thể mà thôi. * Biết làm thinh quí hơn biết nói. * Khí lực là môi giới giữa thần minh và xác thịt. Khí lực không khác nào dầu xăng, thể chất nhƣ cái xe, còn thần minh nhƣ ngƣời cầm lái vậy. Không khí lực thì thân thể không bao giờ tuân lệnh nổi ý chí của thần minh. * Súc tích khí lực, ngoài những phƣơng pháp khí công để tăng gia nó, cũng có nhiều cách giữ gìn cho nó đừng tản mát vô ích.
166

Giữ gìn cho nó đừng tản mát, là phƣơng pháp tiêu cực; còn tập luyện khí công là phƣơng pháp tích cực. - Công phu dƣỡng khí. - Công Phu luyện khí. Một cái tiêu cực, một cái tích cực; một cái thuộc âm, một cái thuộc dƣơng, ta phải cho nó đi liền với nhau một cách điều hoà mới mong có đƣợc sự thăng bằng của sức khoẻ. Ở đây, tôi muốn các bạn, để ý đến công phu dƣỡng khí trƣớc hết, vì nhƣ các bạn đã biết, về phƣơng diện tiền bạc, nếu muốn giàu có, trƣớc phải lo cần kiệm, rồi sau mới lo làm tiền thêm. Về phƣơng diện súc tích khí lực cũng một thế. * Đàn bà chiếm một nửa nhân gian, đồng thời đàn bà cũng là nửa phần đời của đàn ông. Theo kinh thánh dạy của Kitô giáo thì thƣợng đế lấy chiếc xƣơng sƣờn cụt của ông Adam để tạo nên ngƣời đàn bà. Cái xƣơng cụt đó là điểm rất tế nhị của Thƣợng đế. Ngài không lấy xƣơng chân vì nhƣ vậy đàn bà sẽ bị chà đạp. Chiếc xƣơng sƣờn ở ngang thân vì nhƣ vậy đƣợc bình đẳng với đàn ông, chỉ ở dƣới một chút thôi dƣới bàn tay che chở và gần trái tim ngƣời đàn ông yêu quí. Đàn bà ảnh hƣởng lớn đến đấng mày râu. Nàng có thể cho hắn:
167

- Táng tâm điên cuồng. - Xông vào chỗ chết hoặc cho hắn khuynh gia bại sản. - Cung cúc tận tụy hoặc cho hắn thành thân trâu ngựa. - Quì mọp dƣới chân hoặc cho hắn triều khí bột bột, kiên cƣờng phấn đấu hoặc cho hắn công thành danh toại, hoặc cho hắn thân bại danh liệt. Sức mạnh của ảnh hƣởng đó làm thành một mê lộ vòng vèo bao bọc chung quanh đàn ông. * Tại sao khí lực và sức lực lại khác nhau? Khí lực ở dưới quyền thẩm sát của cái thần, mà sức lực thì ở dưới quyền kiểm tra của cái khí. * Ngƣời kia đã biết nuôi chí thì không nghĩ đến hình. (Tr.Tử) * NƢỚC THU “…Cùng ếch giếng không thể nói biển đặng, nó chỉ biết cái hang của nó mà thôi. Cùng con trùng mùa hạ không thể nói tuyết đặng, nó chỉ biết có cái mùa của nó mà thôi! Cùng bọn khúc sĩ không thể nói Đạo đặng, họ bị trói buộc trong giáo lí của họ. Nay ông ra khỏi lòng sông, thấy biển cả mà biết xấu hổ, vậy thì nói đại lí với ông đƣợc. Dƣới trời, nƣớc không đâu nhiều hơn biển. Đó là nơi muôn sông chảy về, không biết bao giờ thôi, mà không hề đầy; rồi nƣớc biển lại chảy vào các sông không biết bao
168

giờ ngƣng mà không hề vơi. Xuân, Thu chẳng biến đổi nó, mà thủy hạn nó cũng chẳng cần biết đến làm gì. Hơn rạch sông không biết lƣợng số nào mà kể, mà ta chƣa từng cậy đó là nhiều, là vì tự sánh với trời đất, âm dƣơng, thì ta có khác nào một viên đá nhỏ, một gốc cây gầy trong dãy núi to. Đã rằng là ít, sao thấy mình nhiều? Bốn biển ở trong trời đất phải chăng cũng chỉ là những hang nhỏ ở trong chầm lớn hay sao? Trung quốc nằm trong bốn biển cũng chẳng giống hạt lúa ở trong kho lớn hay sao? Vạn vật, lấy số muôn mà nói, thì ngƣời chỉ đƣợc số một mà thôi! Lấy chín châu, nơi lúa thóc sinh sản toàn xe thông hành, thì ngƣời cũng không qua số một. Vậy, ngƣời đối với vạn vật, khác nào một sợi lông trên mình ngựa. Chỗ liên hiệp của Ngũ Đế, chỗ tranh giành của Tam Hoàng, chỗ lo lắng của ngƣời Nhân, chỗ nhọc nhằn của kẻ Sĩ, rốt lại có gì! Bá Di từ ngôi, lấy đó làm danh; Trọng Ni nói ra, gọi đó là rộng. Những cái mà họ cho rằng nhiều đó thì có khác nào ngƣời trƣớc khi thấy biển, cho rằng nƣớc của mình là nhiều vậy”. Hà Bá nói: “Vậy, tôi cho trời đất là cực đại, mảy lông là cực tiểu, đƣợc không?”
169

Thần Bắc Hải nói: “Không đƣợc! Kìa nhƣ muôn vật biến hóa không cùng, thời gian đi mãi không dừng, số phận dời đổi không thƣờng, trƣớc sau liên tiếp không thôi. Ấy nên bậc đại trí xét việc xa gần, thấy nhỏ không cho là ít, thấy lớn không cho là nhiều, đó là biết đƣợc chỗ biến vô cùng. Luận qua kim cổ, thì việc đã qua không ƣu tƣ, việc đƣơng thời không bận lòng: đó là biết đƣợc chỗ không dừng của thời giờ. Xét việc lƣng vơi, thì đƣợc không vui, mất không buồn: đó là biết đƣợc chỗ không thƣờng của số phận. Thấy đặng nhƣ vậy thì sống không mừng, chết không lo: đó là biết đƣợc chỗ trƣớc sau liên tiếp không ngừng vậy. Chỗ biết của ngƣời không bằng chỗ họ không biết. Thuở sinh ra không bằng thuở chƣa sinh. Muốn lấy chố cực tiểu của mình mà cầu hiểu tận chỗ cực đại, là mê loạn, là ngu xuẩn. Nhƣ thế, làm sao biết đƣợc cái lông đủ để làm mẫu của cái cực tiểu, làm sao biết trời đất đủ để làm cái mẫu của cái cực đại?” Hà Bá hỏi: “Luận giả trong đời đều nói: một vật rất tinh thì vô hình; một vật thật lớn thì không thể bao gồm đƣợc. Có phải thực vậy không?”
170

Thần Bắc Hải nói: “Tự nhỏ mà xem lớn, làm sao thấy hết đƣợc! Tự lớn mà nhìn nhỏ, làm sao thấy rõ rệt đƣợc! Tinh, là cái nhỏ thật nhỏ, thật lớn là cái lớn rất lớn vậy. Cho nên, phƣơng tiện dùng phải khác nhau. Tinh và thô là để nói về những vật hữu hình; còn vật vô hình thì con số không phân chia đƣợc nữa. Không thể bao gồm đƣợc nữa, là vật vô cùng mà con số không hạn định đƣợc. Cái mà còn luận đƣợc, nói đƣợc, là cái thô của vật. Cái mà ý xét đƣợc, là cái tinh của vật. Nhƣng còn cái mà lời không thể luận, ý không thể xét, là bởi nó không tinh mà cũng không phải thô. Thế nên, bậc đại nhân hành động không gây hại cho ai mà cũng không ân hụê cho ai. Động không vì lợi, không coi kẻ canh cửa là hèn. Không vì tiền của mà tranh, cũng không lấy sự tự nhƣợng làm quí. Công việc thì không nhờ vả vào ai, cũng không khinh kẻ tham lam. Hạnh thì khác ngƣời thế tục nhƣng chẳng chuộng sự khác lạ, và làm theo đám đông. Tƣớc lộc của đời không đủ khuyến, hình phạt không đủ nhục, bởi họ phải trái không chỗ phân chia, lớn nhỏ không chỗ định. Nghe nói rằng: Ngƣời ở Đạo thì lặng lẽ, bậc chí đức thì không mong đặng gì cả, còn ngƣời đại nhân thì không có mình: họ đã hợp tất cả làm một”.
171

Hà Bá lại hỏi: “Nhờ đâu mà phân biệt đƣợc chỗ trong ngoài, chỗ quí tiện, chỗ lớn nhỏ của vật?”. Thần Bắc Hải nói: “Lấy con mắt Đạo mà xem, thì vật không có quí tiện. Lấy vật mà xem, thì vật có quí có tiện, vì bởi vật nào cũng tự xem là quí, nên khi sánh lại với vật khác, thƣờng cho đó là tiện. Lấy con mắt của thế tục mà xem thì phân quí tiện lại không phải ở nơi mình. Lấy con mắt sai biệt mà xem, thì nhân cái lớn của nó mà cho là lớn thì vạn vật không có cái gì là không lớn; nhân cái nhỏ của nó mà cho là nhỏ thì vạn vật không có cái gì là không nhỏ. Biết trời đất nhƣ hột thóc, biết mảy lông nhƣ hòn núi là biết rõ chỗ sai biệt rồi vậy. Lấy theo chỗ công ích mà xem, nhân cái có của nó mà cho là có thì vạn vật không gì là không có; nhân cái không của nó mà cho là không, thì vạn vật không gì là không không. Biết đông tây là nghịch nhau mà không có nhau không đƣợc, thì là biết phân định đƣợc sự công dụng. Lấy chỗ ƣa thích mà xem, nhân cái phải vậy của vật này mà cho nó là phải, thì vạn vật không gì là không phải; nhân cái không phải vậy của vật này mà cho nó là không phải, thì vạn vật không vật nào là không phải không. Biết
172

Nghiêu và Kiệt đều tự cho rằng mình là phải mà cho nhau là quấy, đó là rõ đƣợc cái cốt của sự ƣa thích rồi! Xƣa kia, Nghiêu Thuấn nhƣờng ngôi nhau mà làm vua, còn Chi và Khoái cũng nhƣờng nhau mà phải mất. Thang, Vũ tranh nhau mà đƣợc nƣớc! Bạch, Công tranh nhau mà phải chết. Do đó mà xem, trong lễ tranh nhƣợng, trong hành động của Nghiêu Kiệt, quí tiện tùy thời, chƣa lấy đâu làm mực thƣờng đƣợc. Cái lƣơng lê dùng phá thành, không dùng mà lấp hang đƣợc: khí cụ khác nhau. Kỳ, ký, hoa, lƣu một ngày chạy nghìn dặm mà không bắt chuột nhƣ mèo: tài năng khác nhau. Chim cú ban đêm mắt tỏ đến bắt rận đƣợc, mà ban ngày gò núi sờ sờ không thấy: tính khác nhau. Nên chi, muốn có phải mà không có quấy, muốn có trị mà không có loạn là chƣa rõ cái lí của trời đất, cái tình của vạn vật. Ấy là mơ trời mà không có đất, mơ âm mà không có dƣơng đó. Vậy mà cứ bàn mãi không thôi, thì rõ nếu không phải là ngu, thì là vu khống vậy! Đế vƣơng tranh nhƣợng, hễ sái thời nghịch tục thì gọi là soán, còn nhằm thời thuận tục, thì gọi là nghĩa. Hà thần này! Hãy lẳng lặng mà xét lại, sẽ thấy rõ đâu là cái gốc của quí tiện, của lớn nhỏ”. Hà Bá hỏi:
173

“Vậy thì tôi phải làm gì bây giờ, phải đừng làm gì bây giờ? Tôi phải từ, phải nhận, phải ƣa, phải bỏ cái gì, tôi phải làm sao đây?”. Thần Bắc Hải nói: “Lấy con mắt Đạo mà xem thì có gì là quí, là tiện, đó chỉ là chuyện phản phúc biến thiên đáp qua đổi lại, đừng bận lòng câu chấp đến. Lấy Đạo lớn mà xem thì có gì là ít, là nhiều, đó chỉ là chuyện cho ra lấy vào, cũng đừng phải bận lòng. Cùng với Đạo sai biệt, thì nghiêm trị nhƣ một quốc quân không tƣ đức, tự nhiên nhƣ tế thần xã mà đừng cầu phúc riêng tƣ. Lòng mênh mông nhƣ cái vô cùng của bốn phƣơng, không phân bờ cõi. Ôm chầm tất cả vạn vật, không thiên về phƣơng nào! Muôn vật đều là nhất tể, cho nên có gì đâu là dài ngắn. Đạo thì không sau, không trƣớc, vật thì có chết có sống, đừng trông cậy nó ở lúc thành tựu. Một vơi một đầy: không hình thức nào đứng vững mãi. Không ai thêm đƣợc tuổi, không ai chặn đƣợc thời. Khi tăng khi giảm khi đầy khi vơi nối tiếp nhau luôn: có sau ắt có trƣớc. Đó là lấy cái phƣơng của đại nghĩa mà nói, lấy cái lí của vạn vật mà luận. Mạng sống của vạn vật nhƣ ngựa chạy mau lẹ: không có cái động nào mà không có biến, không phút nào mà không dời đổi. Phải làm đi gì?
174

Phải không làm đi gì? Hãy để cho vạn vật tự nhiên mà tự hóa!” Hà Bá hỏi: “Sao gọi là Trời? Sao gọi là Ngƣời?” Thần Bắc Hải nói: “Ngựa Bò bốn cẳng, đó là Trời; ràng đầu Ngựa, xỏ mũi Bò, đó là Ngƣời. Bởi vậy mới nói: Đừng lấy Ngƣời giết Trời; đừng lấy nhân tạo mà giết mạng, đừng lấy sự đƣợc sự mất mà chết theo danh. Cẩn thận mà giữ gìn đừng làm mất, đó gọi là “Trở về cái Chân của mình”. (Trang Tử) *… Xƣa nay, đàn bà lấy chồng lúc trẻ cốt để nhờ cậy lúc già, lúc đẹp, lấy cốt để nhờ cậy lúc xấu. (Án Tử) * TƢ TƢỞNG CỦA LÃO TỬ 1. Cái đẹp mà đến thiên hạ đua nhau cho là đẹp là cái đẹp rất xấu. Cái hay mà thiên hạ mƣợn tiếng để làm hay, là cái hay rất dở. 2. Để thân lại sau, mà thân đƣợc ở trƣớc; gác thân ra ngoài mà thân vẫn còn mãi. Thế chẳng phải là bởi mình không có lòng riêng, cho nên mới đƣợc thỏa lòng riêng ƣ? 3. Tuy là cƣơng cƣờng nhƣng giữ tính mềm dẻo. Tuy là sáng sủa, nhƣng giữ cách ngu tối. Tuy là vinh hiển
175

nhƣng giữ lối tầm thƣờng. 4. Học cho rộng trí khôn thì một ngày một hay. Tìm nhẽ huyền bí, lâu hóa vẩn vơ, thì một ngày một dở. 5. Trộn lẫn cái hay của mình với đời để làm thân thiết; cùng chịu cái dở của đời với mình mà vẫn trong sạch. 6. Có ba điều quí báu: một là từ, hai là kiệm, ba là chẳng dám phạm vào việc bất tƣờng của thiên hạ. 7. Ta mà lo phiền, sợ hãi là vì ta có thân ta, đến khi ta đã không có thân ta, thì ta còn có lo phiền, sợ hãi gì nữa. (Lão Tử) Lời bàn: Ba câu trên là nói ngược lại cái thói đời, câu một cái ngược ấy là dở, câu hai và ba cái ngược ấy lợi cho mình, câu bốn nói cách học hành, câu năm nói cách xử thế, câu sáu nói các đức tính nên có, câu bảy nói sự lụy thân. Những câu này tuy mỗi câu nói một việc, nhưng tựu chung câu nào cũng hàm súc một cái tư tưởng vô danh, vô vi là cái tôn chỉ của Đạo Lão. Đạo của Lão Tử cốt ở vô vi. Muốn cho thành được vô vi, thì người ta trước hết phải vô dục, vô cầu, vô tranh, vô danh như những câu nói trong bài này. Khi đã được như thế, thì mỗi cảnh có một cái thú cho mình cái sướng cho người, loài người ở với nhau được hòa bình mà không
176

mấy khi xảy ra sự tàn hại lẫn nhau nữa. Quí thật, đến đem đức mà báo oán, thì còn oán nào mà chẳng tan. * Giận lên mà phát cơn điên; Ngƣời khôn hóa dại, ngƣời hiền hóa ngu. * Thói thƣờng ở đời, mình dở không ƣa ngƣời hay, mình lƣời không ƣa ngƣời chăm, mình trái không ƣa ngƣời phải, mình nghèo hèn không ƣa ngƣời giàu sang… Cho nên ngƣời với ngƣời thƣờng hay sinh sự. * Lòng ngƣời ta nham hiểm hơn núi sông, khó biết hơn là biết giời. Giời thì hàng năm còn có xuân, hạ, thu, đông, hàng ngày còn có buổi sáng buổi tối, ta do đấy mà biết đƣợc… (Trang tử) * THƠ VIẾT CHO BẠN Trong thiên hạ có hai cái khó: Lên giời khó, mà cầu cậy nhờ vả ngƣời càng khó hơn. Trong thiênnhạ có hai cái đắng: Hoàng liên đắng, mà nghèo kiết khốn cùng càng đắng hơn. Trong nhân gian có hai cái mỏng:
177

Giá(1) mùa xuân mỏng, mà thói đời càng mỏng hơn. Trong nhân gian có hai cái hiểm: Núi sông hiểm, mà lòng ngƣời càng hiểm hơn. Biết đƣợc cái khó, chịu đƣợc cái đắng, quen đƣợc cái mỏng, dò đƣợc cái hiểm mới có thể ở đời đƣợc. (Tiền Hạc Than) (1) Giá: váng mới đóng một lượt trên mặt nước, vô ý dẫm phải thì thực chết. Lời bàn: Biết được cái khó là người có chí tự lập không làm phiền ai; chịu được cái đắng là người có tâm kiên nhẫn cố làm nên việc; quen được cái mỏng là người có bụng đại độ bao dung được đời; dò được cái hiểm là người có trí tinh khôn thấu được nhân tình thế thái. Ở đời mà có được bốn điều ấy, thì giao thiệp với ai mà chẳng được, làm công việc gì mà chẳng nên. * Lúc lập trận thì nhƣ mƣa, nhƣ gió; Vào cuộc rồi làm chó chẳng sạch lông. * “… Việc làm của ngƣời quân tử: tĩnh để tu tỉnh lấy thân, kiệm để bồi dƣỡng lấy đức. Nếu không đạm bạc thì không thể nào sáng đƣợc cái chí. Nếu không ninh tĩnh thì không thể nào đi đến đƣợc xa. Lấy lí mà nói: muốn học cần phải tĩnh, có tài cần phải
178

học. Không học thì không rộng đƣợc tài; không tĩnh thì không thành đƣợc học. Lƣời biếng khinh mạn thì chẳng thể sửa đƣợc tính. Mỗi năm một tuổi, mỗi tuổi một kém, rồi thành ra con ngƣời khô héo, dài thở vắn than trong chỗ xó nhà, bấy giờ mới hối thì còn sao kịp nữa…” (Gia Cát Lƣợng) Lời bàn: Có những thói xấu như nông nổi, nóng nảy, thô thiển, khinh bạc, người thường còn hại vừa, người thông minh hại mới càng nặng. Hại nặng nghĩa là thiệt đời tài hoa như không, cho nên Gia Cát Lượng dạy con phải theo gương người quân tử ngay từ thuở còn ít tuổi cho thành thói quen. Quân tử dùng cách gì để tu thân, để dưỡng đức, để có tài năng, để thành học nghiệp, để rộng được tri thức, để gánh vác được công việc trọng đại ở đời. Ông nói tóm tắt mà rất phân minh. Câu “Một năm một tuổi…” lại càng thống thiết. Ý ông lại còn mong cho con làm thế nào để cho tư tưởng cùng ăn nhịp với thời đại mà một ngày một tiến bộ mãi lên, chớ đừng để tư tưởng cứ cùng theo tuổi lão đại mà cằn cỗi dần thì ươn, hèn lắm. Nói tóm: Ông chú ý mong con sao cho thành người đừng để sau hối mà nhỡ hóa ra con người sống thừa ở đời vậy.
179

* Ngƣời ta sở dĩ ham mê say đắm vào thanh sắc, danh, lợi hay liều lĩnh tàn nhẫn dám làm những điều gian ác, là thƣờng chỉ biết có cái sống ở trƣớc mắt, chớ không chịu nghĩ đến cái chết nó đến ngay sau lƣng. Cái chết vốn nhƣ con ma, ai cũng sợ, cũng ghét thật, nhƣng cái chết lại chính là ông thầy, chính là bài thuốc chữa khỏi đƣợc bao nhiêu cái thói tật xấu xa ở đời. Ngƣời ta mà đã để tâm ý nghĩ đến cái chết, thì tự khắc mất cả lòng tham, tan cả máu ghen, hóa hết cả mọi sự mê muội mà thành ra biết thƣơng ngƣời đời, thƣơng ngƣời đời thì mọi sự hay, dở, phải, trái ở đời không còn gì bận tâm đến, sống rất thƣ nhàn sung sƣớng và nhẹ nhàng vậy. * Ta nghe ngƣời giàu sang tiễn ngƣời thì dùng của cải, ngƣời nhân hậu tiễn ngƣời thì dùng lời nói. Ta tuy không đƣợc giàu sang, nhƣng mang tiếng là ngƣời nhân hậu, vậy xin tiễn ngƣời một nhời nói vậy. Này, phàm kẻ sĩ đời nay, những ngƣời thông minh, sâu sắc, xét nét mà có khi thiệt mạng đều là kẻ hay chê bai, nghị luận tâm sự ngƣời ta cả; những ngƣời biện bác rộng rãi xa xôi mà có khi khổ thân, đều là kẻ hay bới móc, phơi bày tội lỗi của ngƣời ta cả… (Lão Tử) * Khi có mối thiện nảy ra, thì kính giữ tấm lòng nhƣ ăn cho
180

no, nhƣ ôm đứa con đỏ đi trên mặt váng mùa xuân, nhƣ cầm viên ngọc bích quí muôn vàng đi men trên sƣờn núi cao nghìn trƣợng, chỉ sợ đánh rơi. Khi có mối bất thiện nảy ra, thì kính giữ tấm lòng nhƣ sợ thuốc độc đổ vào bát canh, nhƣ có rắn, có cọp chặn ngang đƣờng mà mong tránh đi, nhƣ có trộm cƣớp đến nhà, chỉ mong làm sao mà đánh nó cho kì đƣợc. (Dƣơng Minh Tử) * Khi lòng ngƣời bị thị dục và tham vọng chi phối, hành động bao giờ cũng đƣợc lí trí hợp lí hóa cả. * … LOẠN TỪ ĐÂU MÀ SINH RA? Sinh ra bởi không yêu nhau. - Con không hiếu với cha, tôi không trung với vua, thế là loạn đấy. Con chỉ yêu thân con, không yêu đến cha, cho nên làm thiệt cha để lợi mình, em chỉ yêu thân em, không yêu đến anh, cho nên làm thiệt anh để lợi mình; bầy tôi chỉ biết yêu thân mình mà không biết yêu vua để lợi mình. Thế là loạn đấy. Tuy đến cả cha mà cũng không thƣơng con, anh mà cũng không thƣơng em, vua mà cũng không thƣơng bầy tôi, thế cũng là loạn. Cha chỉ yêu thân cha, không yêu đến con, cho nên làm thiệt con, để mình đƣợc lợi; anh chỉ yêu
181

thân anh không yêu đến em, cho nên làm thiệt em, để mình anh đƣợc lợi; vua chỉ yêu thân vua, không yêu bầy tôi, cho nên làm thiệt bầy tôi để mình đƣợc lợi. Tại sao mà sinh ra những điều ấy? Có phải chỉ tại không yêu nhau cả thôi không? Đến cả quân trộm quân giặc cũng vậy. Thằng trộm chỉ biết yêu nhà mình không biết nhà ngƣời khác, thằng giặc chỉ biết yêu thân mình chẳng yêu thân ngƣời khác, cho nên sát hại thân ngƣời khác để lợi thân mình. Tại sao mà lại sinh ra nhƣ thế? Có phải chỉ tại không yêu nhau cả mà thôi không? Cho đến cả các quan khuynh loát nhau, các nƣớc chƣ hầu đánh lẫn nhau, cũng tại các quan chỉ biết yêu nhà mình, không yêu nhà khác cho nên hại nhà khác để lợi cho nhà mình, các nƣớc chỉ biết yêu nƣớc mình, không yêu nƣớc khác cho nên đánh nƣớc khác để lợi cho nƣớc mình. Ấy thiên hạ sinh ra loạn là bởi nhƣ thế cả. Nếu biết yêu nhau, thì còn ai nỡ hại ai, mà thiên hạ làm gì chẳng bình trị. (Mặc Tử) * Vợ chồng là bạn trăm năm đã phải duyên phải lứa lấy nhau từ lúc còn trẻ, kính yêu nhau thì đến lúc già ai lại có nỡ phụ nhau. Ngán thay thói đời giàu hay quên bạn, sang
182

hay phụ vợ. Lắm kẻ lúc còn hàn vi vợ nuôi cho ăn đi học, một mai đƣợc chút tiền của, chức tƣớc, đã phụ ngay vợ cũ mà đi kiếm vợ mới, hoặc kiếm vào chỗ giàu, hoặc kiếm vào chỗ sang, hoặc kiếm ngƣời trẻ tuổi xinh đẹp hơn. Những kẻ nhƣ thế dù viện lẽ gì tổng chi cũng là phụ bạc cả… * “Nhi nữ tình trƣờng, anh hùng khí đoản” Cái tình quyến luyến vợ con càng nồng nàn đầm ấm bao nhiêu, thì cái khí phách anh hùng càng cùn mằn kém cỏi bấy nhiêu. * Phải biết nhìn sự vật y nhƣ nó xảy ra, không nên nhìn nó theo lòng mong ƣớc của ta muốn cho nó phải xảy ra nhƣ thế nào. Phải tiếp đón nó nhƣ một tấm gƣơng trong; đừng để nó xen vào lòng ái ố, nghĩa là đừng có sự lựa chọn. Phàm có lựa chọn là có thiên kiến, ƣa cái này ghét cái kia ƣa cái mà mình cho là tốt, ghét cái mà mình cho là xấu. Thực sự có cái gì tự nó đáng yêu hay tự nó đáng ghét đâu! Hễ có tốt là đã có cái xấu, có cao là có thấp. Cho nên đeo đuổi theo cái tốt có khác nào tiến mãi về phía mặt mà ghét bỏ phía trái, và loanh quanh mãi trong vòng luẩn quẩn. Bài học đầu tiên của Thiền là giải thoát ta ra khỏi cái vòng luẩn quẩn đối đãi ấy; Thiền bảo với ta rằng, bất cứ sự lựa chọn nào cũng đều phi lí cả, đừng mong mỏi hão
183

huyền nhờ gạn lọc mãi cái tốt mà cuộc sống sẽ có thể đẹp đẽ hơn. Sự ƣa ghét làm cho ta nhìn đời rất là sai lạc. * Phần đông chúng ta thƣờng quan niệm hạnh phúc là một cái gì khó tìm thấy, khó đạt đƣợc và phải mua bằng giá rất đắt, nhất là phải có rất nhiều tiền và thế lực. Có kẻ còn cho hạnh phúc không có trên cõi đời này. Sao mà quan trọng thế? … Có cái sƣớng nào mà không nằm trên cái khổ. Sƣớng và khổ không bao giờ rời nhau. Muốn đƣợc sƣớng mà lánh khổ là việc làm vô lí. Vật chất là điều kiện của tinh thần, cho nên cái sƣớng tinh thần nào mà không lệ thuộc vào vật chất? Có đói, ăn mới ngon! Ai mà không biết… Thật vậy, từ bấy lâu nay, phải chăng phần đông chúng ta đã vô tình bỏ qua biết bao cơ hội để hƣởng hạnh phúc trong không biết bao nhiêu câu chuyện rất tầm thƣờng. Cái gọi là hạnh phúc, nào đâu phải ở những việc to tát vĩ đại mà chính ở trong những cái sung sƣớng nho nhỏ không đâu ấy! Kẻ nào có những thành kiến khinh thƣờng vật chất, muốn có đƣợc hạnh phúc thuần tuý tinh thần, khi đọc xong bài văn trên đây ắt không thể bật cƣời vì xƣa nay đã quá ngây thơ,

184

tƣởng tìm hạnh phúc phải tìm trên tận cung trăng, trong khi nó đang nằm trong lòng bàn tay mình. (C.C.C.T.N) * Ngƣời say rƣợu té xe, tuy mang tật mà không chết. Gân cốt thì giống với mọi ngƣời, mà bị hại thì sao khác với mọi ngƣời? Là vì nó giữ toàn đƣợc cái thần. Lên xe cũng không biết, té xe cung không hay! Tử, sinh, kinh, cụ không sao vào đƣợc trong lòng. Cho nên dù có chống lại với vật mà không biết sợ. Đó là kẻ đã hòa với rƣợu mà còn đƣợc thế, huống chi là kẻ đã hòa đƣợc với thiên nhiên. Thiên: Thiên nhiên, là tự nhiên, là Đạo. Hòa mình với Đạo là không còn thấy mình và vật khác nhau (tề đồng vật ngã). Ngƣời say rƣợu sống trong tâm trạng “hỗn độn” (tâm hƣ) không còn phân biệt nhĩ ngã, nội ngoại, thị phi, thiện ác nữa. Ví kẻ “hòa cùng Đạo” giống nhƣ kẻ “hòa cùng rƣợu” thật là khéo léo thâm viễn, nhƣng rất khó cho hạng thƣờng nhân chỉ hiểu theo văn tự mà chẳng biết “vong ngôn” (quên lời) nên đâm ra be bét cho giống ngƣời xƣa! Đó là lũ ngƣời say ngu độn của thế nhân… “… Hồ đồ, không biết mình, ai nữa”. Đó là cái say của bậc “Chí nhân vô kì, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh”
185

* Xƣa nay, phần đông chúng ta vẫn đinh ninh rằng: giàu sang và đạo đức không thể đi đôi với nhau, và giải thoát phải khởi đầu bằng sự từ bỏ, không để ngoại vật buộc ràng… … Ngƣời tự do là ngƣời ít nhu cầu nhất, những nhu cầu không tự nhiên. … Thế thƣờng, có hai cách để thoát khỏi nô lệ sự vật. Hoặc là từ bỏ nó; hoặc là chiếm đoạt nó để sai khiến nó. Nhƣng, phải coi chừng! 1. Còn sợ ngoại vật quyến rũ mà chốn tránh nó, từ bỏ nó, là còn bị ngoại vật ám ảnh và khu sử tâm hồn mình một cách nặng nề hơn. “Kẻ muốn làm thánh, dễ trở thành con thú”; càng bớt sự vật lòng tham càng tăng đối với những vật còn lại với mình “Tƣơng dục phế chi, tất cố hƣng chi” (hòng muốn ức chế nó càng làm nó hƣng khởi mạnh hơn) “Tổn” chi nhi “Ích”: càng bớt là càng thêm. Cọp đói dữ hơn cọp no. Cho nên không nên trách cứ, khinh khi những nhà đạo đức giả: họ muốn làm thánh nên bị con thú nó trả thù. Con ngƣời đâu phải là một vị thánh, cũng đâu phải là một con thú, mà là cả hai. 2. Chiếm đoạt ngoại vật để làm chủ nó, lại cũng phải coi chừng: không khéo đã chẳng những không làm chủ đƣợc
186

nó mà bị nó làm chủ thì nguy. Giàu, đâu phải có hại đến đạo đức; nghèo, cũng đâu phải có lợi cho đạo đức. Giàu hay nghèo là một vấn đề thuộc phẩm chứ không phải thuộc lƣợng. Ngƣời tự do là tự do, không phải nhờ giàu mới tự do, cũng không phải vì nghèo mà mất tự do. * … Trƣớc kia không có mà nay có, đâu phải dƣ; trƣớc kia có mà nay không, đâu phải thiếu. Vậy nên, hết ngày tới đêm, hoa nở lại tàn, xuân qua thu đến, vật cũ rồi mới; dƣới dòng nƣớc chảy mạnh tất có vực sâu, dƣới chân núi cao tất có hang thẳm. (Lƣu Bá Ôn) * Lời nói của ông là lời nói của những kẻ nay đã xƣơng tàn cốt rụi. Vả, ngƣời quân tử đắc thời thì đi xe, không đắc thời thì tay vịn nón lá mà đi chân. Ta nghe rằng: kẻ buôn giỏi khéo giữ của quí nhƣ không có gì, ngƣời quân tử đức hạnh, dung mạo dƣờng nhƣ kẻ ngu. Họ khác với cái kiêu khí và đa dục của ông, thái sắc và dâm chí ấy không ích gì cho thân ông cả. Tôi sở dĩ bảo cho ông biết có bấy nhiêu thôi. (Lão Tử) * Đời thái bình đâu cần đến tôi ngay, nhà yên ổn đâu cần đến con thảo. Quí tôi ngay con thảo, ắt là nƣớc nhà đang rối loạn, bất
187

hòa. Nhƣ cá trong nƣớc nếu biết quí nƣớc là vì có nạn thiếu nƣớc. Cũng không khác kẻ khao khát tự do là những kẻ đang mất tự do. Nguyên do của những điều bất nhân bất nghĩa đều ở chỗ dùng đến trí hụê mà sinh ra. Đạo mà chƣa mất, thiên hạ đâu cần dùng đến trí hụê để mà phân biệt thị phi, thiện ác, để mà tranh giành tốt xấu, vinh nhục với nhau. Đạo mà mất rồi, dục vọng mới sinh ra, mới có những sự đèo bòng tham muốn. Trí hụê đƣợc đem ra mà dùng để phụng sự cho dục vọng vô bờ bến của con ngƣời: đại loạn sinh ra là thế. Nhân nghĩa mà đƣợc đề cao là những lúc đời đầy dẫy những bất nhân, bất nghĩa. Nguyên nhân là vì thiên hạ đã mất Đạo. Chữ “Trí Hụê” đây, là trí phân biệt trong giới nhị nguyên, thƣờng gọi là lí trí. “Trí Hụê” cũng có nghĩa là trí mƣu, tính toán lợi hại. Lí trí không bao giờ hiểu đƣợc Đạo Một. * BẼ MẶT … Mà cái nghĩa “bẽ mặt” thì lại tùy ngƣời mà không giống nhau: anh phu xe ngồi bên đƣờng cởi trần bắt rận không sao, chứ ông rể nhà giàu mà ngồi bên đƣờng cởi trần bắt
188

rận thì “bẽ mặt”. Anh phu xe không phải là không có “mặt” có điều lúc đó anh không cho là “bẽ”, khi không bị vợ đá cho một cái quay lơ ra khóc, bấy giờ mới thấy là “bẽ mặt”. (…) Cái cơ hội “bẽ mặt”, hầu nhƣ trong giới “thƣợng lƣu” tƣơng đối nhiều hơn; nhƣng cũng không hẳn nhƣ vậy đâu: chẳng hạn anh phu xe ăn cắp một túi tiền bị ngƣời ta tóm đƣợc thì “bẽ mặt” mà ngƣời “thƣợng lƣu” vét một mẻ ngọc vàng châu báu, lại hình nhƣ không thấy tí gì là “bẽ mặt”, họ lại còn cái xuất dƣơng quan sát làm phƣơng thuốc hay để đổi cái “mặt” nữa kia. * Sự tƣơng quan giữa nam nữ tự nó không đủ, nó phải tạo ra con cái rồi mới hóa ra hoàn bị. Không một nền văn minh nào truất đƣợc cái quyền sinh sản của nam nữ. Tôi biết rằng ngày nay có nhiều ngƣời đàn ông đàn bà ở độc thân hoặc kết hôn với nhau mà vì lẽ này hay lẽ khác không chịu có con. Tôi cho rằng dù họ viện lí lẽ nào cũng mặc, hễ không sinh sản là họ phạm một tội lớn nhất đối với bản thân họ rồi. Nếu họ không sinh sản đƣợc vì cơ thể thì cơ thể của họ hƣ hỏng, có bệnh; nếu vì đời sống đắt đỏ, thì đời sống đó xấu xa; nếu vì mức sống cao quá thì mức sống đó bất hảo; nếu vì một chủ nghĩa cá nhân thì chủ nghĩa đó lầm lẫn; nếu vì cả một tổ chức xã hội thì
189

tổ chức đó tệ hại. Có thể rằng con ngƣời thế kỉ 21 sẽ thấy chân lí đó, khi khoa sinh vật học tiến bộ hơn. Tôi hoàn toàn tin rằng thế kỉ 21 sẽ là thế kỉ của sinh vật học, cũng nhƣ thế kỉ 19 là thế kỉ của tự nhiên học. Khi loài ngƣời hiểu mình hơn, nhận ra rằng chống với bản năng của mình chỉ là vô ích, thì sẽ trọng chân lí đó hơn. * Có ba hạng bạn bè ích lợi, và có ba hạng làm nguy hại. - Bạn ngay thẳng, bạn trung thực, bạn nghe nhiều học rộng là bạn ích lợi, - Bạn làm nhiều bộ tịch, bạn ƣa chiều chuộng, bạn gian xảo nịnh bợ là bạn nguy hại. * YÊU LÀ GÌ? … - Sinh viên Đại học kĩ thuật: Tình yêu là một cái bánh vẽ to đùng mà hai bên là hai đồng tác giả. - Sinh viên Đại học giao thông: Tình yêu là một cỗ xe đƣợc điều khiển bằng hai tài xế, một nữ, một nam. Ngƣời tài xế nữ lái chặng đầu, tài xế nam nhẫn nại ngồi sau. Sang chặng hôn nhân, họ cãi nhau và hoãn vị chỗ ngồi. - Sinh viên Đại học tài chính: Tình yêu là một quá trình chu chuyển tiền tệ. Tiền vận động từ túi thân nhân của ngƣời nam sang ngân quĩ của các cơ sở dịch vụ.
190

- Sinh viên Đại học sƣ phạm: Tình yêu là một “lớp học tình thƣơng” mà hai bên thay nhau làm thầy giáo. - Sinh viên đại học thuỷ lợi (khoa khí tƣợng - thuỷ văn): Tình yêu là một ngày thời tiết dở hơi. Sáng thì nắng chang chang, chiều thì mƣa tầm tã, lúc trăng lên có gió rất dịu dàng. - Sinh viên Đại học kinh tế quốc dân: Tình yêu là một loại hình công ty cổ phần. Vốn góp bằng tình cảm và các cổ đông có trách nhiệm hữu hạn mà thôi. - Sinh viên Đại học tổng hợp khoa triết: Tình yêu là phạm trù “bất khả tri” vì có “tri” cũng chẳng biết nó có hình thù gì. - Sinh viên Đại học luật: Tình yêu là lĩnh vực pháp luật còn bỏ trống và những ngƣời thi hành luật pháp cảm thấy bất lực vì biết rõ ràng họ xâm phạm đến thân thể của nhau mà không thể truy tố họ. * Tây Du Ký là một pho tiểu thuyết hoạt kê tài tình nhất của Trung hoa, trong đó xen lẫn một cách hồn nhiên những gì sâu sắc nhất mà cũng tầm thƣờng nhất, cao siêu nhất mà cũng ngu ngốc nhất. Bởi vậy nó đã thỏa mãn đƣợc mọi tầng lớp của con ngƣời trong xã hội, từ bậc đại trí đến hạng ngu đần nhất: già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà, con trai con gái không ai đọc đến mà không cƣời…
191

Tôn Ngộ Không là một con khỉ đá (thạch hầu) tƣợng trƣng bộ óc thông minh, tài năng quán thế và đầy ngạo ngễ của lí trí với tham vọng chinh phục tất cả ngoại vật không bao giờ biết dừng (ngày nay gọi là khoa học vạn năng chinh phục cả không gian và thời gian). Tam Tạng tƣợng trƣng tâm đạo, chất phác thật thà (đạo học). Cả hai đại diện Trí (Ngộ Không) và Tâm (Tam Tạng). Bát Giới, tƣợng trƣng thị dục vô bờ bến của thú tính nơi con ngƣời. Sa Tăng thật thà chất phác hơn, là sức chịu đựng nhẫn nại của phần thể xác. Cả bốn thầy trò là bốn yếu tố chính trong con ngƣời: bốn ngƣời kì thực là một. Thiếu một, tập đoàn này không sao đi đến Tây phƣơng cực lạc. Pascal ví ngƣời ta có hai phần: một ông thánh và một con thú. Phần thánh là Tam Tạng và Ngộ Không (tâm và trí). Thị dục là phần con thú trong ngƣời, đó là Bát Giới. Cho nên, dù là bậc thánh nhƣ Tam Tạng thƣờng cũng hay nghe lời thị dục hơn là lí trí. Tam Tạng thƣờng hay thiên vị Bát Giới hơn Ngộ Không. Bản tính loài ngƣời là vậy… * Hiếu là đức tính đứng đầu trong trăm nết. (Tăng Tử) * Quan trọng nhất, không phải những gì trong sách ấy nói với mình, mà là những gì trong sách ấy đã khêu gợi đƣợc nơi lòng mình.
192

*

LÀM CHA NÊN NHỚ

Trƣớc khi rầy con, xin bạn đọc bức thƣ sau của văn sĩ Livingstone Larnod. Bức thƣ đó ông viết cho con ông đƣợc dịch ra nhiều thứ tiếng, nhan đề là: “Làm cha nên nhớ…” Con ơi!... con ngủ, má đỏ kề trên tay, tóc mây dính trên má. Cha mới lén vào phòng con… Cha muốn thú tội với con: Lúc nãy trong khi cha đọc báo bên phòng sách, đợt sóng hối hận xâm chiếm tâm hồn cha. Cha đã hơi nghiêm khắc với con hôm nay. Sáng ngày, trong khi con sửa soạn sách vở đi học, cha đã rầy con vì con chỉ quyệt chiếc khăn ƣớt lên đầu mũi con thôi, cha đã mắng con vì giầy con không đánh bóng, cha đã la khi con liệng đồ chơi của con xuống đất. Trong lúc điểm tâm cha lại khiển trách con nữa. Con đánh đổ sữa, con nuốt vội mà không nhai, con tì khuỷu tay lên bàn, con phết nhiều bơ lên bánh quá… Khi ra đi, con quay lại và chào cha: “Thƣa cha, con đi!” Và cha đã cau mày: “Ngay ngƣời lên!” Buổi tối, vẫn điệu đó. Ở sở về, cha rình con ở ngoài đƣờng. Con chơi bi, đầu gối quì trong đất cát, bít tất rách hở cả thịt ra. Cha đã làm nhục con trƣớc bạn bè, vì bắt con đi trƣớc mặt cha cho tới nhà… “Bít tất đắt tiền, nếu mày có phải bỏ tiền ra mua, mày mới
193

tiếc của mà giữ gìn nó!” (Con thử tƣởng tƣợng, có ai, cha mà mắng con nhƣ vậy không?) Rồi con nhớ không? Tối đến, trong khi cha đọc sách, con rón rén vào phòng giấy cha, vẻ đau khổ lắm. Cha ngẩng lên, giọng bất bình hỏi: “Cái gì?” Con không trả lời chi hết, nhƣng trong một lúc xúc động không chống lại đƣợc, con chạy lại cha, bá cổ cha, ôm cha với tình sùng bái cảm động mà Trời Phật đã làm nảy nở trong lòng con, mà sự lạnh lùng của cha không làm cho héo đƣợc… Rồi thì con chạy lên cầu thang. Này con, chính lúc đó cuốn sách ở tay cha rớt xuống và một nỗi sợ ghê ghớm xâm chiếm cha. Cái thói hay chỉ trích, trách mắng đã làm cho cha thành nhƣ vậy đó, thành một ngƣời cha gắt gỏng. Cha đã phạt con vì con còn là con nít mà cha bắt con làm nhƣ ngƣời lớn. Không phải cha không thƣơng con đâu, nhƣng cha đã đòi hỏi ở tuổi thơ của con nhiều quá, cha đã xét con theo tuổi nhiều kinh nghiệm của cha. Mà tâm hồn con đại lƣợng, cao thƣợng, trung trực biết bao! Trái tim nhỏ của con mênh mông nhƣ bình minh ló sau rặng đồi. Chỉ một sự hăm hở tự nhiên lại hôn cha trƣớc khi đi ngủ, đủ chứng điều đó. Thôi, cha con mình quên hết những chuyện khác đi… Tối nay cha hối hận lắm, lại
194

ngồi nép bên giƣờng con. Cha biết nếu con có nghe đƣợc những lời cha thú với con đây thì con cũng chẳng hiểu chi. Nhƣng, ngày mai, con sẽ thấy, cha sẽ thật là một ngƣời cha; cha sẽ là ngƣời bạn của con, con cƣời cha sẽ cƣời, con khóc cha sẽ khóc. Nếu cha có muốn rầy con thì cha sẽ mím chặt môi, và sẽ lặp đi lặp lại, nhƣ trong kinh: - Con chỉ là một đứa nhỏ… một đứa nhỏ! Cha đã coi con nhƣ ngƣời lớn. Bây giờ nhìn con nằm trong giƣờng nhỏ của con, mỏi mệt, trơ trọi, cha biết rõ rằng con chỉ là một em bé. Mới hôm qua, con còn nằm trong tay mẹ, ngả đầu trên vai mẹ con… cha đã đòi hỏi con nhiều quá… nhiều quá lắm… * GIÁ TRỊ CỦA NỤ CƢỜI 1. Một nụ cƣời chẳng mất vốn mà lợi thật nhiều. 2. Một nụ cƣời không làm nghèo ngƣời phát nó nhƣng làm giàu ngƣời nhận nó. 3. Một nụ cƣời chỉ nở trong khoảnh khắc, nhƣng có khi cho ta nhớ tới suốt đời. 4. Kẻ phú quí tới bậc nào mà không có nó thì cũng vẫn còn nghèo; còn kẻ nghèo hèn tới đâu, mà sẵn có nó thì vẫn còn cái vốn vô tận.
195

5. Nụ cƣời gây hạnh phúc trong gia đình, nó là nguồn gốc những hảo ý trong thƣơng nghiệp và là dấu hiệu của tình bạn bè. 6. Nó bồi dƣỡng kẻ mệt nhọc, nó là hình ảnh bình minh cho kẻ ngã lòng, là nắng xuân cho kẻ buồn rầu, và là thuốc mầu nhiệm nhất của tạo hóa để chữa lo âu. 7. Nụ cƣời không thể mua đƣợc, không thể xin nhƣ khất thực đƣợc, không mƣợn đƣợc mà cũng không thể ăn cắp đƣợc. Ví ta khƣ khƣ giữ nó thì nó chẳng có giá trị gì, nhƣng nếu ta dùng nó một cách hào phóng thì giá trị nó vô cùng. 8. Cho nên khi bạn gặp một ngƣời mệt nhọc, không còn sức tƣơi cƣời với bạn đƣợc, thì bạn hãy mỉm cƣời với ngƣời đó đi. Vì ngƣời nào không còn lấy một nụ cƣời để tặng kẻ khác, ngƣời đó cần nhận một nụ cƣời hơn ai hết…
Vậy bạn muốn đƣợc thƣơng mến xin: Giữ nụ cƣời trên môi

* Đạo bất viễn nhân; nhân chi vi đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi đạo. Đạo không xa người, cái gì người ta coi là đạo mà lại xa người thì không phải là đạo. Nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân.
196

Người ta có thể làm cho đạo rộng lớn ra chứ đạo không làm cho người vĩ đại lên. * Ta không nên coi lòng yêu nhân loại là một học thuyết, một tín điều, một lòng tin do trí tụê mà có hoặc một đề mục biện luận có thể đem chứng cứ ra bênh vực đƣợc. Nếu lòng yêu nhân loại cần có lí lẽ bênh vực thì nó không còn là một lòng yêu chân chính nữa, vì lòng yêu chân chính thì phải hoàn toàn tự nhiên, tự nhiên đối với ta cũng nhƣ sự vỗ cánh tự nhiên đối với loài chim vậy; nó phải là một tình cảm phát thẳng từ tâm hồn ra, một tâm hồn tiếp xúc với tự nhiên. Một ngƣời thật yêu cây cối không thể nào độc ác với loài vật hoặc với đồng bào đƣợc. Trong một tâm hồn hoàn toàn lành mạnh, thì sự nhân ái là tự nhiên, không cần cầu viện tới một triết học hay một tôn giáo nào cả. * Trong các cách bố thí. - Pháp thí là hơn cả. Trong các chất vị. - Pháp vị là hơn cả. Trong các hỉ lạc. - Pháp hỉ là hơn cả. Ngƣời nào trừ hết mọi ái dục là vƣợt lên trên mọi khổ đau. * Hiếu là nguồn gốc của đức. * Chí là tƣớng của khí, khí là sức mạnh tạo nên sự sung túc trong thân thể con ngƣời. Chí đứng ngôi thứ nhất mà
197

khí là ngôi thứ hai. Vì thế cho nên chúng ta chẳng những giữ gìn cái chí mà cũng chớ nên làm mất cái khí. (Mạnh Tử) * Tu hành chân chính thật ra rất là giản đơn. Chỉ cần khiến cho mỗi hành vi lời nói và ý nghĩ của chúng ta đều đều dần dần trở thành chân chính; biến hành động thô bạo dễ phẫn nộ, thành hành động hết sức ôn hòa tốt đẹp; biến lời nói khó nghe thành lời nói dịu hiền dễ nghe; biến ý nghĩ không tốt đẹp thành ý nghĩ từ bi và siêu thoát. Qua sự chuyển hóa đó, chúng ta sẽ không ngừng hƣớng thƣợng và thăng hoa. Ngoài việc hƣớng thƣợng và thăng hoa, còn phải làm cho thân, miệng, ý không có vƣớng mắc (chấp chƣớc) vào một sự việc đặc biệt nhƣ là sinh hoạt, sinh mạng, thậm chí cả đến Phật Pháp cũng không chấp chƣớc.

198

PHẬT THÍCH CA Một đại trí của lịch sử nhân loại. Vĩ nhân tiền đạo yêu thƣơng nhân loại và triết gia thiên tài có một phẩm cách chính đại quang minh nhất. * LÃO TỬ Ông tổ triết học vô vi của dân tộc Bách Việt. Một trong những tƣ tƣởng gia và giáo chủ siêu quần bạt chúng. * KHỔNG TỬ Ông tổ triết học nhân bản của dân tộc Hán. Một trong những nhà tiền đạo tiền phong của nhân loại văn minh. *

199


				
DOCUMENT INFO
Description: Văn tư tu - Sưu tầm: Tôn Văn Nhân. Địa chỉ: 195 Phúc Tân, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tel: 093643883